PDA

View Full Version : Tết con Chó - Tản mạn đôi chuyện vui buồn


dangia
01-22-2006, 08:55 PM
Tết con Chó - Tản mạn đôi chuyện vui buồn

Vương Văn Quang



Một triệu tám trăm ngàn đô-la Mỹ là bao nhiêu tiền mình? Lẩn thẩn nghĩ và tôi liền rút chiếc điện thoại di động ra để sử dụng chức năng máy tính. Màn hình hiện lên dòng chữ: “Ngoài phạm vi”. Tôi bèn tính nhẩm, nhưng bất lực. Đành lọ mọ lấy giấy, bút mà nhân lên theo cách thủ công. Kết quả là con số mà phải đọc mãi mới ra. Hai-mươi-tám-tỷ-tám-trăm-triệu đồng Việt Nam.

Con số này một người làm công ăn lương loại trung bình ở những thành phố lớn, như Hà Nội, Sài Gòn …, làm bao nhiêu lâu thì có? Sẵn giấy bút, lại tiếp tục lọ mọ tính toán. Kết quả: nếu như tính mức thu nhập trung bình người làm công ăn lương ở những thành phố lớn (chứ tỉnh nhỏ hay nông thôn thì quên đi, nhé!) là khoảng hai triệu đồng Việt Nam, thì người đó phải lao động trong 1200 năm, mà là lao động từ lúc lọt lòng mẹ cho tới khi chết, và nhớ là chỉ làm ra cất đi chứ tuyệt đối không được tiêu pha gì đấy nhá.

Tất nhiên, đây chỉ là những phép tính và so sánh rất lẩm cẩm, cho vui mà thôi. Vậy cái con số một triệu tám đô Mỹ mà tôi mất công nghĩ ngợi tính toán kia nó là số tiền của cơ quan hay tổ chức nào? Đầu tư từ nguồn vốn nào? Vào công trình gì? Chẳng to tát quan trọng thế đâu, nó chỉ là món tiền mà ông tổng giám đốc của một ban quản lí dự án nào đó thuộc bộ Giao thông – Vận tải, quăng vào mấy trận cá độ đá banh thôi mà.

Báo chí những ngày cuối năm này đưa tin, nhưng hình như dư luận xã hội không mấy giật mình, bởi những chuyện như thế này có vẻ như không còn quá giật gân ở Việt Nam. Bản thân tôi cũng không lấy gì làm ngạc nhiên (cơ chế này, xã hội này, con người này, không có những chuyện đó mới là lạ), nhưng tôi chợt liên tưởng tới việc một số cầu thủ bóng đá trong đội tuyển U-23 Việt Nam tham gia cá độ, và số tiền còm các chàng trai trẻ này thu lợi từ bán độ. Thật quá nhỏ nhoi. Nhưng tại sao báo chí lại làm ồn ã, dư luận căm phẫn kích động hàng tháng nay chưa nguội như vậy [1]? Có thể lý giải, rằng người mọi người đã đặt niềm tin vào các cầu thủ, và khi niềm tin của họ bị phản bội, họ sẽ phẫn nộ? Không hẳn. Cách lý giải này, có thể đúng, nhưng chưa đủ. Nếu đủ, cần bổ sung, ở Việt Nam chỉ được phẫn nộ khi được phép. Thực tế cho thấy, rất nhiều vụ việc bị dìm đi, ngay cả khi ban đầu báo chí có đưa tin, nhưng sau đó, “quyền lực thứ nhất” chỉ đạo stop là cái “quyền lực thứ tư” ở Việt Nam câm như hến liền [2]. Và dư luận xã hội có muốn thì cũng chả có điều kiện mà phẫn với chả nộ. Cùng để ý nhé, rồi xem cái vụ ông “tổng” kia sẽ được báo chí mổ xẻ phanh phui tới đâu. Tôi thì đoán, nó sẽ chẳng đi xa hơn vụ Lương Quốc Dũng.


Cây mai giá 650 triệu đồng
Cây mai thế (dạng bon-sai) giá sáu-trăm-năm-mươi-triệu, là tin mà một số báo trong nước trong những ngày giáp Tết con Chó, hoan hỉ đưa tin. Ừ, quả là đẹp thật. Sáu trăm năm mươi triệu mà không đẹp thì có … họa điên! (Logic này tuyệt đối đúng trong bối cảnh xã hội chỉ còn một thước đo giá trị duy nhất: Tiền). Nhưng liệu có mấy ai chịu nghĩ, cây mai này phục vụ ai, ai đủ tiền chơi nó? Còn ai vào đây ngoài những ông “tổng” kia. Công bằng mà nói, từ khi cơ cấu kinh tế có nhúc nhích thay đổi, cũng có những người bằng tài năng mà làm giầu một cách chân chính đáng tự hào; nhưng tôi dám cá (lại cá độ) mười ăn một, rằng không có ai giầu có một cách chân chính ở Việt Nam lại động rồ bỏ ra ngần ấy tiền chỉ để chơi hoa mấy ngày Tết. Tiêu tiền kiểu ấy, nếu không là lợi dụng quyền chức tham nhũng thì cũng là thứ dựa vào những thế lực kia để bán buôn, làm ăn bất hợp pháp, kiểu mafia.

Khi viết những dòng này, thì của đáng tội, tôi chưa biết cây mai “sáu trăm năm chục triệu” kia đã bán chưa và bán cho ai, nhưng tôi biết chắc, giờ phút này khối người đã sắm sửa những chậu mai giá vài ba, dăm bẩy chục triệu. Nhưng cũng theo sự hiểu biết của tôi (và tôi tin chắc vào sự hiểu biết của mình trong trường hợp này), trong số những người chơi những cây mai cỡ “thường thường bậc trung” đó, chưa có người nào là chủ doanh nghiệp tư nhân và làm ăn hoàn toàn “sạch”.

Vài năm gần đây, thú chơi đào thế, mai bon-sai đã trở nên khá phổ biến trong tầng lớp thượng lưu thành thị; đó là hiện tượng lành mạnh, nếu sự giầu có này là lành mạnh. Nếu không thế, nó chỉ là thú chơi lố bịch của một lớp trọc phú, trưởng giả mà thôi.

Nói tới hoa, lại nhớ về một Hà Nội thời “tiền chiến”, tức là trước 1954. Qua những tản văn xuất sắc của nhà văn Vũ Bằng, ta có thể thấy, người Hà Nội phần nào có lý khi tự nhận mình là thanh lịch. Cách ăn, cách mặc, cách chơi …v.v, trong đó có chơi hoa ngày Tết . Có thể kể ra đây, thú chơi hoa Thủy Tiên (Ăn Tết Thủy Tiên – Vũ Bằng), thú đi chợ hoa Hàng Lược (Hàng Lược giờ đi bộ xuống lòng đường còn chả có chỗ chen chân, nói gì chợ hoa chợ hoét), thú chọn đào bên Nhật Tân (Hỡi ôi, Nhật Tân, Quảng Bá, Nghi Tàm, giờ biệt thự chóp củ hành, khách sạn mi-ni phục vụ “hoa người”, mọc lên hết đất rồi còn đâu cho đào với chả quất) … v.v, nhiều lắm, nhiều cách ăn cách chơi, tao nhã có, cầu kì có, nhưng không thấy cách chơi nào đặt nặng giá trị tiền bạc như bây giờ. Có lẽ, vì khi đó phần lớn mọi người cả giầu lẫn nghèo đều làm ra tiền bằng mồ hôi nước mắt chăng?


Đào Trung Quốc trên vỉa hè Sài Gòn
Tôi không sinh ra ở miền Nam, nên không biết xưa kia, người Sài Gòn (miền Nam) chơi hoa thế nào, nhưng bây giờ thì, cũng như Hà Nội, thật là …buồn . Ngoài những trọc phú chơi những chậu mai vài chục triệu đã nói bên trên, thì người bình dân chơi gì? Ở những khu dân cư truyền thống (nhà riêng, trong hẻm, diện tích nhỏ) nhà nào cầu kì thì làm vài cành đào… Trung Quốc vẫn bán ở bất cứ đâu, hoặc đôi chậu cúc vạn thọ mà xe ba gác đạp bán tận nhà. Ở những khu chung cư thì … lôi chậu hoa ni-lon ra rửa cho sạch bụi cũng xong. Không ai có thì giờ và kiên nhẫn để chăm chút gọt giò Thủy Tiên, hay xuống vườn chọn từng bông ưng ý. Cái sự chơi bời giờ đây cũng trở nên thực dụng đến thô thiển. Trong nhà thì thế, còn ngoài phố thì sao? Ở những con phố chính, những ngày này bắt đầu rợp những đèn và hoa. Đèn thì dễ rồi, cứ chăng lên và cắm điện là xong; nhưng còn hoa? Mới chỉ vài hôm trước chỗ đó còn là dải phân cách bằng bê-tông cơ mà? Mùa xuân tới hoa chen nhau đua nở chăng? Quên đi nhé, người ta có sáng kiến rất độc, trồng hoa vào chậu hoặc giỏ, rồi mang ra những địa điểm được chọn và xếp ra, muốn hình thù gì cũng có. Thế là “thành phố muôn sắc hoa”. Nghĩ mà đau khi biết rằng Việt Nam ta, một nước nông nghiệp (theo lí mà suy thì nông nghiệp tức là phải nhiều cây xanh, nhiều hoa hoét chứ nhỉ?) nhưng tính theo tỉ lệ dân, lại có diện tích cây xanh thấp nhất thế giới.

Bên trên, tôi có nhắc tới “hoa người”, vậy nhân dịp “xuân về muôn hoa khoe sắc thắm”, tưởng cũng nên tò mò một chút về thứ hoa đặc biệt (và “liên tục phát triển” trong những năm gần đây) này. Cũng cần nói ngay, tôi sẽ chỉ tìm hiểu loại hoa “hàng chợ”, là thứ bình dân, kiểu như đào, mai Trung Quốc chứ không/chưa có ý định tìm hiểu loại hoa trong nhà kính, tức là trong các quán bia ôm cao cấp, quán tắm hơi mat-xa cấp cao; hay trong cuốn sổ điện thoại nào đó của các Tú Bà hiện đại, kiểu mai sáu-trăm-năm-chục-triệu.

Trước đây, nói tới “chợ hoa” này, thì người Sài Gòn thường nghĩ ngay về khu vực Huyền Trân Công Chúa (phía sau tòa soạn báo Công An TP HCM), hoặc trước cửa công viên Tao Đàn, đường Xô Viết – Nghệ Tĩnh; còn người Hà Nội thì nghĩ về “chợ” trên mạn Hồ Tây, hoặc hồ Thiền Quang. Bây giờ thì không hẳn như vậy. Chẳng ai chấp nhận cảnh “họp chợ” công khai và tấp nập như thế giữa lòng Thủ đô hay thành phố mang tên Bác. Bây giờ chợ tản mát đi khắp nơi, quận nào cũng có vài cái “chợ” kiểu này. Ừ thì chợ bình thường có “chợ cóc”, “chợ chồm hổm”; vậy dại gì chợ chị em ta không phát huy mô hình này? Nó mang đầy đủ mọi ưu thế của những “chợ cóc” bình thường: rẻ, tiện lợi, dễ dàng di chuyển khi có lực lượng truy bắt. Ngay gần chỗ tôi ở, khoảng ba năm nay, cũng xuất hiện một cái chợ như thế (cuối con đường Đào Duy Anh lối đi tắt sang sân bay Tân Sân Nhất, và di động lác đác trong khu vực công viên Gia Định – Q. Phú Nhuận), có nàng đi bộ, có nàng lượn lờ vòng vòng quanh “chợ” bằng xe đạp hoặc xe gắn máy (nghe nói các nàng đi thuê). Tôi rủ một anh bạn đi thăm thú cái “chợ cóc” này.

Không đông vui tấp nập như các chợ bình thường ngày giáp Tết, chợ “hoa người” có vẻ đìu hiu. Sau vài cú vòng xe, chúng tôi tiến lại gần một “bông hoa”. Nàng nhoẻn miệng cười – không biết nên viết, rằng đây là nụ cười kiểu gì – không chờ chúng tôi hỏi, nàng nói (giọng Bắc Kỳ nhà quê chiêm trũng. Cũng chỉ là ngẫu nhiên thôi, chứ đội ngũ này giờ rất “liên hợp quốc”, tỉnh, thành, vùng, miền, nào cũng có): “Dù đôi tám chục. Dù một năm chục. Bao phòng”. Thấy chúng tôi mắt vẫn láo liên, nàng nói tiếp: “Gía thế là hạ lắm rồi, gần Tết ít người đi chơi nên mới thế, chứ bình thường là bẩy chục, dù một”. Tôi hỏi: “Sao Tết lại ít khách?”. “Thì Tết nhất người ta lo về quê, lo sắm sửa, lo bao nhiêu việc khác nữa. Vừa thiếu tiền vừa thiếu thời gian mà”. Tôi hỏi tiếp: “Dù đôi và dù một là thế nào”. Nàng liếc xéo (khá dễ thương): “Thì các ông đi hai người đấy thôi”. Thấy chúng tôi rút thuốc ra hút, không nói gì, nàng dò xét: “Các anh chơi được bao nhiêu?”. Tôi đưa nàng hai chục nghìn, bảo rằng biếu nàng và chỉ muốn được chụp hình. Nàng nhẩy cẫng lên, gạt cái máy hình, thái độ rặt Bin Laden: “Thôi biến mẹ các ông đi cho tôi nhờ. Xúi quá”. Đi một quãng, quay lại nhìn, tôi thấy nàng đang bật hộp quẹt gí vào … háng.

Như vậy, giá “dù đơn” ở “chợ cóc” là bẩy chục nghìn ngày thường, và năm chục ngày giáp Tết có bao luôn phòng. Theo một số thông tin trên các báo, thì giá này vẫn thuộc hàng “trung lưu”, vì giá thật bèo để phục vụ loại khách như mấy anh giai đứng ở chợ người Giảng Võ chẳng hạn, là tương đương tô phở Hòa (Sài Gòn), tức là từ hai chục tới hai lăm nghìn đồng … một phát.

Cùng là “hoa” nhưng rõ ràng, “hoa người” không phải là nhu cầu của thị trường trong những ngày giáp Tết. Tôi chợt chạnh lòng khi nhớ lại truyện ngắn “Người ngựa, ngựa người” của nhà văn Nguyễn Công Hoan. Nhưng đó chỉ là “hoa” ở thị trường bình dân thôi nhá, còn khu vực quí tộc tôi chẳng muốn bàn (giá chót ở thị trường này là 500 nghìn một “bông”, “tầu nhanh”. Còn hàng sang nữa thì …vô giá. Có thể tương đương với cây mai sáu-trăm-năm-chục-triệu. Mà cũng có thể hơn), vì bàn sẽ vừa buồn vừa …ấm ức. Nghe nói, thị trường này cuối năm, giáp Tết hoạt động vẫn sôi nổi chẳng kém ngày thường, có khi còn sôi động hơn, vì các đại gia mafia, các quan lớn cần dùng “hoa” để “xả xui” cuối năm mà. Không biết, nếu Nguyễn Công Hoan còn sống, liệu ông có viết về “làng hoa” và khách “chơi hoa” quí tộc không? Và ông sẽ có câu chuyện với tiêu đề thế nào? (Dựa theo văn phong và cách nhìn của nhà văn này, tôi đồ rằng, rất có thể tên truyện ngắn đó là …[2] )

Dịp Tết là lúc mà nhiều mặt hàng ở Việt Nam vào mùa “sale off”, như quần áo, đồ dùng gia đình …; ngược lại, cũng nhiều mặt hàng lợi dụng cơ hội để tăng giá vô tội vạ, như rượu Tây (để biếu xén), bia, thực phẩm …v.v. Nhưng chẳng có mặt hàng nào như món “hoa người”, vừa hạ giá đìu hiu, lại vừa rộn ràng nâng giá.

Năm 1994 tôi có dịp sang Trung Quốc, khi đó nước này đã có lệnh cấm đốt pháo [3]. Trong một bữa tiệc nhà hàng tại một huyện nọ, tôi chứng kiến một đám cưới; và họ đốt pháo thì thật khủng khiếp (Ôi, nhắc tới pháo, tôi nhớ nôn nao, nhớ cồn cào cái không khí đêm giao thừa! Nhang trầm và khói pháo, đó là Tết). Băng pháo không tính bằng mét như ta, mà tính bằng “bành”[4] (một “bành” có đường kính 1m, băng pháo cuộn lại có đường kính một mét là một “bành”. Tôi nhớ khi đó, ở Việt Nam, tết nhất, cưới xin đốt cỡ 2, 3 mét pháo là ghê lắm rồi). Chứng kiến cảnh đốt pháo đó cùng chúng tôi có ông chủ tịch huyện (là chủ bữa tiệc ấy- huyện này thuộc tỉnh Triết Giang, tôi không nhớ tên), ông ta rất khoái chí và tỏ ra tự hào khi chúng tôi tỏ vẻ thán phục. Như vậy, có thể thấy, mặc dù có lệnh cấm đốt pháo từ Trung ương, nhưng người Trung Quốc không hề chấp hành triệt để lệnh này. Tại các tỉnh, huyện nhỏ, thậm chí những thành phố không thuộc Trung ương, người ta vẫn đốt. Và do đó, ngành sản xuất pháo của họ vẫn duy trì. Bằng chứng là những ngày cuối năm nay, báo chí trong nước có đưa tin về những vụ bắt pháo lậu, mà nguồn hàng thì 100% là từ Trung Quốc. Rất có thể, trong tương lai gần, nhà nước ta sẽ gỡ bỏ lệnh cấm pháo (vì ta luôn theo đuôi người “anh hai”[5] này mà. Chẳng phải lệnh cấm pháo là bắt chước Trung Quốc đó sao?); lúc đó dân Việt ta sẽ tha hồ mà đốt pháo Tầu. Người dân miền Bắc (và cả nước?) chắc hẳn chưa quên làng pháo Bình Đà nổi tiếng một thời; khi nhà nước cấm pháo, họ bị mất cân bằng cuộc sống trong nhiều năm, bởi bỏ đi một nghề có tính gia truyền hàng trăm năm đâu phải chuyện chơi. Làng nghề là một nét văn hóa, phá thì dễ mà xây thì khó. Bằng chứng là những cuộc phát động khôi phục làng nghề trong những năm gần đây nó nhem nhuốc lôi thôi thế nào. Chỉ thương cho dân làng Bình Đà, nghề nghiệp từ đời ông tằng tổ phút chốc vứt đi cho những đồng nghiệp bên Tầu hưởng lợi, chỉ vì những quyết định bốc đồng, ngớ ngẩn!

Chẳng phải đặt vấn đề hoài (niệm, cảm, cổ) như Tưởng Năng Tiến chân nhân, mà rõ ràng, ngày Tết, với người Việt là khoảnh khắc thời gian người ta thường nhớ về những điều tốt đẹp trong quá khứ và hy vọng, chờ đợi những điều tốt đẹp trong tương lai. Trong hai vế vừa nêu, dường như vế thứ nhất (hoài niệm) luôn hiện diện rất rõ nét trong tâm thức người Việt, nhất là những người già. Có lẽ chính tâm thức này phản ánh và lí giải tục thờ cúng tổ tiên của người Việt?

Không phải là ngoại lệ, Tết đến gần, tôi cũng thường dành chút thời gian mà trầm tư mặc tưởng, ngẫm sự đời, sự người, sự mình. Nhưng lạ một điều, dù chưa già nhưng tôi luôn tơ tưởng theo kiểu rất ông cụ: “Ôi, bao giờ cho tới ngày xưa!”. Và cái tơ tưởng kia của tôi không phải không có lí của nó, cứ nhìn hiện tại mà xem …, cái hiện tại này có điều gì, dù là rất nhỏ, để tôi hy vọng ở tương lai?

Nói vậy thôi, chứ tôi vẫn luôn hy vọng, nhất là vào thời khắc cuối năm này.

Sài Gòn - Ngày ông Táo về trời, 23 tháng Chạp 2006

-------------
Ghi chú:

[1] Tôi hiểu và chia sẻ nỗi bức xúc của mọi người, nhưng tôi không hiểu và đặc biệt khó chịu với thái độ của báo chí “mậu dịch”, khi họ hùa vào lên án các cầu thủ này (thậm chí, họ nâng quan điểm, coi những cầu thủ này là … bán nước) mà không hề trăn trở để lí giải tại sao các cầu thủ kia có thể làm những việc dại dột đến vậy. Họ có biết rằng, những cậu trai mới lớn (dưới 23 tuổi) kia đa phần đều thất học? (Văn Quyến là một đứa trẻ trâu, được phát hiện khi mới 11, 12 tuổi, và từ đó chỉ biết có đá bóng). Trong khi đó, xã hội đầy rẫy những kẻ lớn đầu, học hành bằng cấp đầy đủ, nắm quyền cao chức trọng, chúng sẵn sàng bán bất cứ thứ gì miễn là được giá, vậy thì trách cái gì mấy đứa trẻ con ít học bán độ?
[2] Tôi đoán rằng, tên truyện ngắn đó sẽ là: “Địt mẹ đời”.
[3] Trung Quốc chính thức cấm đốt pháo trước Việt Nam 1 năm.
[4] “Thuật ngữ” này tôi nhớ không chính xác lắm.
[5] Bác Hồ gọi Liên Xô là “Anh cả”. Trung Quốc là “Anh hai

dangia
01-29-2006, 06:40 PM
Năm Bính Tuất nói chuyện Chó và Luật Pháp

LS Lê Đình Hồ
25.01.2006

Các cụ thường nói, "Chó là con vật trung thành không bao giờ biết phản bội." Điều này cũng dễ hiểu, vì chúng ta thường nghe các cụ dạy, "Ăn cây nào thì rào cây đó." Chó cũng vậy, chúng luôn luôn trung thành với người chăm sóc và lo lắng cho chúng.

Nói như vậy sẽ có người cho rằng, trong đời mình nhiều lúc mình cũng nuôi nấng giúp đỡ nhiều người nhưng họ không chịu trung thành, mà cứ làm phản thì phải nói sao đây? Xin mở một ngoặc đơn nhỏ ở đây để lưu ý những ai có ý tưởng đó. Chúng tôi xin thưa, ý tưởng đó xem ra khá bất công, vì nếu cứ nuôi hoặc cứ chăm sóc rồi buộc người ta phải trung thành với mình thì điều đó xem ra không được công bằng lắm, vì con người có đủ trí tuệ, chứ đâu phải như mấy chú cẩu đâu mà cứ được chăm sóc là buộc phải trung thành, bằng ngược lại thì lên án nào là lòng lang dạ thú, nào là không biết điều, nào là ăn ngập đầu rồi làm phản, nào là cứu vật vật trả ơn cứu nhơn nhơn trả oán... Xin đóng ngoặc đơn lại đây để khỏi làm mất lòng bàng quan thiên hạ.

Thực ra, dường như bất cứ ai trong chúng ta cũng đã một lần trong đời từng nuôi hoặc chăm sóc cho một chú cẩu, hoặc do sở thích hoặc do hoàn cảnh bắt buộc mà phải chăm sóc, chẳng hạn như trong trường hợp khi ông, bà hoặc cha mẹ nuôi chó mà quý cụ vắng nhà thì chúng ta phải chăm sóc.

Tại Việt Nam, nuôi chó là một điều cần thiết vì chúng không những chỉ biết giữ nhà mà còn là con vật dùng để thu vén những cơm thừa canh cặn. Nhưng thú nuôi chó theo phương cách của đa số người Việt dường như không còn thích hợp khi đến định cư tại nước ngoài, vì luật lệ ở đây đòi hỏi quá nhiều điều kiện cần phải thỏa mãn trước khi được quyền nuôi chúng trong nhà, nào là đăng ký, nào là chủng ngừa, nào là phải có "dây dẫn chó" (leash) khi dắt chúng đi ngoài đường phố, và đối với một vài loại chó, khi dẫn chúng đến những nơi công cộng, phải khóa mõm theo đúng tiêu chuẩn pháp định. Thậm chí một vài loại chó còn bị luật pháp bắt buộc phải thiến trước khi được phép nuôi tại gia. Những điều này đã làm nản lòng những người Việt yêu mến súc vật khi đặt chân định cư tại nước ngoài.

Những năm đầu khi đặt chân đến tỵ nạn tại nước ngoài, đa số người Việt còn phải làm lụng vất vả, vì thế chưa ai dám nghĩ đến nhu cầu nuôi chó. Nhưng dần dần khi đời sống ổn định thì một số gia đình người Việt bắt đầu nuôi chó theo đúng phương thức do luật pháp quy định. Đây là một thú tiêu khiển mất khá nhiều thì giờ và tiền bạc.

Luật lệ liên hệ đến việc nuôi gia súc thường do quốc hội tiểu bang soạn thảo. Các đạo luật này của tiểu bang thường quy định đầy đủ chi tiết về việc nuôi gia súc, hoặc ủy quyền cho các hội đồng thành phố đặt ra các quy định cho phép cư dân địa phương được quyền nuôi những loại gia súc phù hợp với môi sinh, hoặc điều kiện sinh hoạt của địa phương.

Tại Úc, một vài thành phố cấm cư dân nuôi các loại chó như pit bulls và pit bull crosses. Một vài thành phố khác lại cho phép cư dân của họ nuôi loại chó pit bull nhưng buộc chủ nhân phải "thiến" (desex) trước khi được phép nuôi loại chó này.

Nếu hội đồng thành phố liệt kê chó của quý vị là loại "chó nguy hiểm" (dangerous dog) thì quý vị phải thực hiện một số điều kiện cần thiết trước khi quý vị được nuôi loại chó đó, chẳng hạn như quý vị phải treo bảng nhỏ trước cổng báo cho công chúng biết chó của quý vị là loại chó nguy hiểm, hoặc quý vị phải làm "rào cản theo quy định" (specified enclosure), hoặc quý vị phải "khóa mõm chó lại khi dẫn chó ra nơi công cộng" (muzzling of the dog when in a public place), hoặc phải trả tiền đăng ký hàng năm cao hơn thường lệ.

Chủ nhân của các loại chó nguy hiểm, hoặc chó bị tuyên bố là chó nguy hiểm phải đóng bảo hiểm trị giá $300,000 để dự phòng việc bồi thường thiệt hại trong trường hợp chó cắn hoặc tấn công người hoặc thú vật.

Có thể chó của quý vị không phải là loại chó nguy hiểm, tuy nhiên nếu chó của quý vị cắn hoặc tấn công gây thương tích cho người hoặc cho thú vật, hoặc rượt người hoặc thú vật, thì hội đồng thành phố có thể xếp loại hoặc tuyên bố chó của quý vị là chó nguy hiểm, và quý vị sẽ bị buộc phải làm theo đúng các điều kiện quy định đối với các loại chó nguy hiểm như vừa được liệt kê ở trên.

Nếu chó của quý vị cắn và gây thương tích cho người hoặc thú vật thì quý vị là người phải chịu trách nhiệm về việc tranh tụng dân sự, và chính quý vị là người phải trả tiền bồi thường nếu tòa xét rằng cần phải trả tiền bồi thường cho nạn nhân.

Nếu quý vị nuôi chó và không chịu tuân thủ theo luật lệ do hội đồng thành phố đặt ra, chẳng hạn như để chó chạy rông nơi công cộng, không làm rào cản chó, hoặc để chó sủa gây quá nhiều phiền toái cho hàng xóm, thì quý vị có thể bị phạt tiền. Số tiền phạt tùy theo sự quy định của từng thành phố, thường là từ $300 đến $400.

Hiện nay luật lệ tại Úc vẫn chưa thống nhất về hình phạt đối với chủ nhân của những chú cẩu tấn công hoặc cắn gây thương tích cho người khác, đặc biệt là trong trường hợp các chú cẩu tấn công hoặc cắn làm chết người.

Hiện nay có một số đề nghị được đưa ra để yêu cầu thay đổi luật lệ của tiểu bang nhằm quy định hình phạt đối với chủ nhân của các chú cẩu. Nếu dự thảo luật này được quốc hội của tiểu bang thông qua thì các chủ nhân có thể bị kết buộc về "tội vô tình ngộ sát [tội vô ý giết người]" (involuntary manslaughter) nếu để chó cắn hoặc tấn công gây tử thương. Đây là một "trọng tội" (felony) và hình phạt được áp dụng có thể lên đến 10 năm tù ở và phạt tiền lên đến $2,500. Chủ nhân có thể bị phạt nặng hơn nếu chú cẩu đó trước đây đã bị liệt kê hoặc bị tuyên bố là thuộc loại "chó nguy hiểm" (dangerous dog).

Để quý vị có một ý niệm khái quát về sự khác biệt giữa hình phạt cùng tiền bồi thường thiệt hại được luật pháp quy định tại Úc và tại Hoa Kỳ về phương diện hình sự cũng như về phương diện dân sự, chúng tôi xin đề cập đến các khía cạnh pháp lý trong vụ People of the State of California v. Marjorie Koller & Robert Noel. Vụ kiện này thường được gọi tắt là The Diane Whipple Case, vì Diane Whipple là tên của nạn nhân bị chó cắn chết.

I. VỀ PHƯƠNG DIỆN HÌNH SỰ

Vào tháng 3 năm 2002, bồi thẩm đoàn đã kết tội Marjorie Knoller về "tội giết người cấp hai" (second degree murder) vì chú cẩu của bà đã cắn chết người hàng xóm, Diane Whipple 33 tuổi. Tuy nhiên, "vị thẩm phán tọa xử" (trial judge) đã bác bỏ việc kết tội sát nhân mà bồi thẩm đoàn đã kết buộc cho bà Knoller. [Ghi chú: Tại Hoa Kỳ, luật lệ của vài tiểu bang cho phép vị chánh án tọa xử có quyền không căn cứ vào phán quyết của bồi thẩm đoàn, nếu xét thấy phán quyết của bồi thẩm đoàn là phi lý].

Vào ngày 5 tháng 5 năm 2005, "Tòa Kháng án đã áp đặt lại sự kết tội này" (The Court of Appeal reinstated it). Vào ngày 26 tháng 7 năm 2005, "Tối Cao Pháp Viện bang California đã đồng ý cứu xét để đảo nghịch lại quyết định của Tòa Kháng án" (the California Supreme Court agreed to consider reversing the Court of Appeal).

Bà Knoller và chồng của bà là ông Robert Noel đã bị kết "tội vô tình ngộ sát [tội vô ý giết người] và làm chủ loài thú nguy hại" (involuntary manslaughter and owing a mischievous animal).

Họ đã bị xử mỗi người 4 năm tù ở. Mặc dầu đang chống án, nhưng họ đã thụ hình xong bản án của họ. Noel đã được phóng thích vào tháng 9 năm 2003, và Knoller vào tháng Giêng năm 2004. Họ thuộc diện phóng thích có điều kiện, mặc dầu knoller còn dính dáng đến vụ kháng án tại tối cao pháp viện vì ngoài sự kết buộc cùng tội với chồng, bà còn bị kết tội "giết người cấp hai" (second degree murder).

Sau đây chúng tôi xin điểm sơ qua một vài chi tiết đáng lưu ý của vụ kiện.

Các con chó cắn chết cô Whipple thuộc loại Presa Canario. Đây là loại chó thuần chủng được gây giống để chiến đấu, tấn công và một số chó thuộc loại này được dùng để chăn giữ súc vật tại quần đảo Canary thuộc Tây Ban Nha.

Vào khoảng thập niên 1950 giống chó này dường như bị tiệt chủng và đã được gây giống trở lại khi người ta cho lai tạo với giống mastiff và các giống khác. Năm 1990, giống chó này được đưa vào Hoa Kỳ, hiện giờ có trên 1,000 con tại Mỹ. Loại chó này có giá trị như là loại chó dùng để giữ nhà và bảo vệ gia đình.

Chồng của Bà Knoller là ông Robert Edward Noel, hành nghề luật sư. Vào lúc xét xử ông Noel đã khai rằng các con chó này chưa bao giờ tấn công và đã thấy nạn nhân nhiều lần trước đây mà không có hành động tấn công nạn nhân. Ông cho biết là có các bà cụ tuổi ngoài 80 muốn đến để vuốt ve chúng. Ông còn cho biết là các con chó này luôn luôn tỏ ra rất thân thiện với người. Ông đã bị phạt 4 năm tù ở và đã thụ hình một phần của bản án, sau đó ông được phóng thích có điều kiện vào tháng 9 năm 2003 vì ông đã giữ gìn tánh hạnh tốt và đã làm một số công việc trong nhà tù. Đơn xin kháng án của ông không được chấp nhận, và hiện nay ông không còn được quyền để kháng án nữa.

Bà Marjorie F. Knoller, cũng là một luật sư và là vợ của ông Noel. Bà là người kiểm soát 2 con chó này. "Một trong những chi tiết bất thường nhất của vụ bị vồ đến chết này là bà Knoller thú nhận, đã có mặt suốt trong thời gian chó cắn xé nạn nhân" (One of the most unusual details of this death-by-mauling is that knoller admitted being present during it).

Bà đã bị kết tội cùng với chồng bà như đã nói ở trên, ngoài ra bà còn bị kết thêm "tội giết người cấp hai" (second degree murder). Bà cũng bị kết án 4 năm tù ở, và đã được phóng thích có điều kiện vào tháng 1 năm 2004. Đơn kháng án của bà lên Tối Cao Pháp Viện California hiện đang chờ để được cứu xét.

Nhiều nhân chứng của công tố viện được triệu thỉnh để đưa ra bằng chứng nhằm hỗ trợ cho sự cáo buộc trong vụ xét xử này, trong đó có lời khai của ông Skip Cooley. Ông Cooley đã khai rằng:

(1) "Một ngày nọ, một trong 2 con chó đã bất thình lình lao vào tấn công ông khi ông đi ra khỏi thang máy" (One of the dogs had lunged at him one day as he was getting out of the elevator).
(2) "Ông đã nộp đơn than phiền với vị quản lý chung cư là các con chó đó đã làm ồn ào suốt đêm vì sủa và dùng móng vuốt của chúng cào sột soạt trên sàn gỗ" (He had lodged a complaint with the apartment manager that the dogs were making noise during the night with barking and scraping of claws on bare wood floors).
(3) "Có một lần ông ta thấy các bị cáo đuổi các con chó xuống đường" (He once saw the defendants chasing the dogs down the street).
(4) "Các con chó ngoan ngoãn khi ông ta đi một mình, nhưng khi đi cùng với vợ của ông, thì các con chó đã 'gầm gừ' [chú ý] bà ta" (The dogs were docile when he was alone but when Cooley's wife was with him, the dogs became 'attentive' toward her).

Phía các bị cáo cũng đã triệu thỉnh một số nhân chứng để biện bạch chống lại tội trạng mà công tố viện đã cáo buộc họ. Trong số các nhân chứng của bị cáo có ông Lefty Prongos. Ông này đã khai như sau: "Không bao giờ có vấn đề với các con chó này và rằng ngay cả việc ông ta đã dùng tay để cho chúng ăn thịt và đã đưa vợ của ông đến gặp chúng" (The dogs were never a problem and that he even fed them meat with his hand and brought his wife to see them).

Ông Darrell Sichel, một thân chủ của các bị cáo, đã khai rằng: "Ông đã viếng thăm các bị cáo tại căn hộ của họ nhiều lần và rằng các con chó rất thân thiện, và ngay cả việc ông đã yêu cầu là liệu Noel có thể kiếm cho ông một con chó thuộc loại này để canh chừng nông trại của ông không và Noel đã hứa là sẽ sắp xếp việc đó" (he visited the defendants in their apartment several times and that the dogs were very friendly, and that he even asked Noel if he could get a dog of this type to guard his ranch and Noel offered to arrange it).

Cuối cùng, như quý vị đã biết là cả Knoller lẫn Noel đã bị 4 năm tù ở về "tội vô tình ngộ sát [tội vô ý giết người] và làm chủ loài thú nguy hại" (involuntary manslaughter and owing a mischievous animal).

II. VỀ PHƯƠNG DIỆN DÂN SỰ

Như đã trình bày ở trên về phương diện hình sự, giờ đây chúng ta thử lược sơ qua về việc khiếu kiện đòi bồi thường về trách nhiệm dân sự của vấn đề.

A. Trên lý thuyết có 3 phương cách để đòi Noel và Knoller bồi thường:

(1) Tại California, chủ nhân của các chú cẩu phải chịu "trách nhiệm nghiêm ngặt" (strict liability) về việc chó cắn người bị thương, ngoại trừ trường hợp nạn nhân là người "đã trêu chọc" (provoked) chó hoặc nạn nhân là "người xâm phạm tài sản, đất đai" (trespasser). Trong vụ này Noel và vợ của ông ta là Bà Knoller tự cho mình là các "tín thác viên, người được ủy thác để quản lý" (trustees) của hai con chó đã cắn chết cô Diane Whipple. Đây là ý định của họ nhằm tự bảo vệ để tránh khỏi "vụ khiếu kiện về trách nhiệm dân sự" (a civil lawsuit) với lý do rằng họ không phải là chủ nhân của 2 con chó này.

[Ghi chú: strict liability (trách nhiệm nghiêm ngặt): Theo luật về trách nhiệm dân sự, thuật từ được dùng để chỉ trách nhiệm về sự sai trái mà trách nhiệm này buộc phải chịu mà không cần chứng minh sự bất cẩn hoặc lầm lỗi. Ví dụ; nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm về tất cả những sự hà tì và thiệt hại gây ra bởi các sản phẩm của đương sự mà không cần phải xem xét đến mức độ của sự cẩn trọng mà đương sự đã hành xử. (In the law of torts, the term used to refer to liability for a wrong that is imposed without the need to prove negligence or fault. For example; a producer is liable for all the defects and injuries caused by his or her products regardless of the degree of care that he or she exercised)].

(2) "Noel và Knoller cũng là đối tượng của các lý do tranh tụng khác" (Noel and Knoller were subject to other causes of action). Một trong những lý do đó là một hoặc cả hai bị cáo đã bất cẩn trong việc quản lý các con chó này.

(3) Một phương thức khác để đòi Noel và Knoller bồi hoàn theo "án lệ" (common law) là "trách nhiệm nghiêm ngặt" do bởi việc nuôi giữ loại "chó có các khuynh hướng nguy hiểm" (a dog that has the dangerous propensities). Nói cách khác, nếu Noel và Knoller biết được rằng loại chó Presa Canarios có khuynh hướng nguy hiểm có thể tấn công hoặc cắn chết người, thì một hoặc cả hai bị đơn có thể bị quy "trách nhiệm nghiêm ngặt" về tất cả những hậu quả đã gây ra.

B. Phương cách đòi các bị đơn khác bồi hoàn: Trong các vụ tranh tụng liên hệ đến chó cắn gây thương tích hoặc chết người, các bị đơn trong các vụ tranh tụng này bao gồm không những chỉ các chủ nhân hoặc các người chăm sóc chó, mà còn gồm luôn chủ nhà và người quản lý tài sản nơi mà các chú cẩu này cư ngụ, "những người có trách nhiệm về việc lai tạo giống" (breeders), "những người huấn luyện chó" (dog trainers), và có thể gồm nhiều người khác. "Nền tảng pháp lý cho tất cả sự khiếu kiện đó là sự bất cẩn" (The legal basis for all such claims is negligence).

Để có thể quy trách nhiệm, thì phải chứng minh rằng chủ nhà cũng như những người quản lý tài sản phải biết được rằng các chú cẩu đó trước đây đã từng cắn người khác hoặc có khuynh hướng nguy hiểm cắn người.

C. Khiếu kiện về cái chết do sự sai trái của người khác: Vì cô Diane Whipple đã chết, vụ kiện về cái chết do sự sai trái của người khác gây ra, không thể do cô ta đứng đơn khiếu kiện được nữa, mà phải do người được ủy thác trong di chúc của cô ta. Nếu cô Diane Whipple không để lai di chúc thì người thừa kế pháp định sẽ được quyền nộp đơn khiếu kiện đòi bồi thường đối với người sai trái đã gây ra cái chết này.

Trong vụ này Sharon Smith và Edythe Pamela Whipple-Kelly đã nộp đơn khiếu kiện đòi Noel và Knoller, cùng chủ nhân và người quản lý khu chung cư nơi các chú cẩu này cư ngụ để đòi họ bồi thường. Các đơn khiếu kiện này đã được giải quyết bồi thường ổn thỏa mà không qua thủ tục tranh tụng tại tòa. Số tiền bồi thường đã được giữ kín không tiết lộ cho công chúng biết.

Trong các vụ khiếu kiện đòi bồi thường theo loại này, trị giá được căn cứ vào giá trị về mạng sống của người chết cũng như thanh danh cùng sự giàu có của những người bị kiện. Vì thế, không thể căn cứ vào bất cứ nguyên tắc cố định nào trong việc đòi bồi thường đối với trường hợp liên hệ đến những cái chết do sự sai trái gây ra, vì chúng còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác trong đó có sự quan hệ giữa nạn nhân, người khiếu kiện và người bị khiếu kiện.

III. KẾT LUẬN

Như trên đã trình bày quý vị có thể thấy được rằng việc nuôi chó là một trò tiêu khiển đòi hỏi người nuôi các chú cẩu phải bỏ ra nhiều công phu, thì giờ và tiền bạc để chăm sóc và làm đúng theo những quy định được đòi hỏi bởi pháp luật. Nhưng bù vào đó, họ sẽ tận hưởng được những giây phút an lạc và hạnh phúc mà các chú cẩu đã mang lại cho họ mà không thể dùng tiền bạc để mua được.

Thỉnh thoảng có những trường hợp như trường hợp của ông bà Noel và Knoller trong vụ kiện vừa nêu trên, là đã tốn công, tốn của nuôi dưỡng mấy chú cẩu, cuối cùng mấy chú thì bị bắn chết theo lệnh của tòa, còn bản thân của chủ nhân thì phải vào tù ra khám, tiêu tán sự nghiệp tài sản.

Nhưng có ai trong chúng ta dám đoan chắc rằng hai con chó loại Presa Canario này đã phản bội ông Noel và bà Knoller? Biết đâu rằng đây là một hình thức đền ơn của các chú cẩu, vì như chúng ta đã biết chó là loài thông minh, có những linh tính đặc biệt, nên chúng có thể đã linh cảm và thấy trước được tai vạ chết người sẽ xảy ra cho ông bà chủ, nên chúng đã bàn nhau và đã hy sinh mạng sống của chúng để cứu người đã từng nuôi dưỡng chúng trong bao năm qua? Kết quả, việc ngồi tù của ông bà chủ cũng là phương cách để ông bà chủ tránh những tai nạn chết người. Rồi đây biết đâu, bà Knoller có thể thắng kiện và đòi được một số tiền bồi hoàn cho việc bà bị kết án oan và ngồi tù oan thì sao?!

Có nhiều độc giả đọc chuyện này sẽ cho rằng đúng là "Phước bất trùng lai, họa vô đơn chí". Nhưng nếu hiểu được, trong cái rủi có cái may, trong cái may có cái rủi, giống như chuyện "Tái ông thất mã", thì có lẽ chúng ta cũng sẽ không quá bi quan khi chẳng may gặp chuyện rủi ro; và cũng sẽ không quá đắc chí khi gặp chuyện may mắn.

Kính chúc quý vị và gia đình một năm mới thân tâm thật an lạc.