giatugiatu
02-05-2006, 04:17 PM
Source = __http://www.nationalistvietnameseforum.com/Nationalist%20Vietnamese%20Forum/Pages/Article%2080.htm
__http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=4747&rb=0302#nr1nr1
Ðinh Việt Nhân
Bách Việt và Asean trên vùng định mệnh
1. Dẫn nhập
Tựa đề của bài tiểu luận này lấy từ loạt bài “Trăm Việt trên vùng định mệnh”(TVTVĐM) của học giả Phạm Việt Châu (PVC). Loạt bài TVTVĐM xuất hiện lần đầu trên tạp chí Bách Khoa từ năm 1969 đến năm 1974. [1] Viết trong thời kỳ sôi động nhất của cuộc chiến Việt Nam, tư tưởng của học giả PVC là một viễn kiến chính trị vượt không gian và thời gian. Những biến chuyển kinh tế, chính trị gần đây trên trường quốc tế, nhất là các tranh chấp tại biển Đông, lại càng làm tăng giá trị cảnh cáo của viễn kiến đó.
Các ý chính trong sách TVTVĐM có thể tóm lược như sau. Thứ nhất, các quốc gia Đông Nam Á (ĐNÁ) có chung nguồn gốc Bách Việt. Nói rõ hơn, tổ tiên dân ĐNÁ ngày nay là bộ tộc Bách Việt, đã nam thiên xuống Việt Nam, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, Căm Bốt, Miến Điện, Thái Lan, Lào, v.v..., theo nhiều đợt khác nhau trong quá khứ. Thứ hai, các hậu duệ của bộ tộc Bách Việt đã đi tới đoạn đường chót của cuộc hành trình lịch sử, không còn nơi nào, chỗ nào để mà thiên di xa hơn nữa, trong khi áp lực truyền kiếp từ phương Bắc vẫn tiếp tục đè nặng xuống. Thứ ba, các quốc gia ĐNÁ chỉ có thể xây dựng được một thế đứng độc lập bằng cách triệt tiêu các ý hướng dựa vào các đế quốc mới. Các nước ĐNÁ cần quần tụ trong bình đẳng, hỗ tương, vừa giữ được thế tự lập đơn vị, vừa tạo ra sức mạnh tập thể. [2]
Đọc kỹ hơn, TVTVĐM có rất nhiều dữ kiện cập nhật (vào thời điểm đó) và tài liệu quý báu cho ngành Việt học, đặc biệt là Việt cổ học. Với tinh thần khoa học, khách quan, với lối suy nghĩ tiến bộ và với niềm tự hào dân tộc, học giả PVC đã đánh giá đúng đắn những thành quả văn minh Bách Việt nói chung, và Lạc Việt nói riêng. Ông viết:
“Cho nên, những người viết sử hôm nay, nếu thành thật với mình với người tất không thể nào phủ nhận được công trình xây dựng nền văn minh chói lọi và cổ nhất Đông-Nam-Á của bộ tộc Lạc-Việt.” [3]
Mấy năm gần đây, ngành Việt cổ học đã trở nên khá phát triển trong cộng đồng người Việt tại hải ngoại. Ngoài các tạp chí chuyên đề như Tư Tưởng, một số bài nghiên cứu khá nghiêm túc đã bắt đầu xuất hiện khá thường xuyên trên rất nhiều tạp chí tiếng Việt nước ngoài (thí dụ như Diễn Đàn, Hợp Lưu, KhoaHoc&ĐoiSong, talawas, Thế Kỷ 21, Thời Đại Mới, v.v...). Các công trình biên khảo gần đây, tiêu biểu nhất là Tìm về nguồn gốc văn minh Việt Nam, [4] đều góp phần, không ít thì nhiều, trong việc phát huy ý kiến trên.
Mùng 5 tháng 5 năm 2005 vừa qua là ngày giỗ 30 năm của học giả PVC. Đây là một dịp tốt để chúng ta cùng nhìn lại, đánh giá và triển khai tư tưởng TVTVĐM. Với khả năng và hiểu biết hạn hẹp của mình, người viết xin giới hạn trong đề tài Bách Việt và Hiệp hội các quốc gia ĐNÁ (ASEAN), tức là một góc cạnh lớn (nhưng không phải là góc cạnh duy nhất) của TVTVĐM. Vì nội dung bài viết ra ngoài phạm vi nghiên cứu chuyên môn của mình, người viết sẽ không tránh khỏi ít nhiều sai lạc và thiếu sót. Vì thế, kính xin bạn đọc bốn phương vui lòng lượng thứ và bổ túc, để chúng ta cùng nhau góp ý cho đề tài quan trọng này.
Bố cục của các phần còn lại trong bài như sau. Phần 2 phác họa vài nét đại cương về lịch sử bộ tộc Bách Việt. Phần 3 thảo luận nguồn gốc và văn minh Bách Việt dựa trên các khám phá khoa học hiện đại. Phần này cho thấy Việt tộc đã có những đóng góp rất đáng kể vào văn minh nhân loại. Phần 4 bàn về sự tương quan giữa Việt tộc và Hán tộc. Thái độ chủ quan, mập mờ, che dấu sự thật của người Hán đã góp phần không nhỏ vào niềm tự ti dân tộc của nhiều người Việt ngày nay. Phần 5 phân tích ASEAN như một ý chí và hình thức nối kết của Bách Việt trong thế kỷ 20-21, đúng như ý nguyện của học giả PVC lúc sinh thời.
2. Vài nét về lịch sử Bách Việt
Bách Việt là tiếng của người Hán dùng để chỉ tập hợp các sắc dân chủng Việt (phần lớn cư ngụ tại miền nam sông Dương Tử) mà người Hoa Hán gặp gỡ và tranh đấu khi họ bành trướng từ Hoa Bắc xuống Hoa Nam. Lãnh thổ của bộ tộc Bách Việt, theo huyền sử, là nước Xích Quỷ [5] dưới quyền vua Kinh Dương, bắc giáp Hồ Nam, nam giáp Chiêm Thành, tây giáp Tứ Xuyên, đông giáp biển Đông. Vào thời Xuân Thu Chiến Quốc khoảng thế kỷ thứ ba trước Tây Lịch (TTL), sử sách ghi nhận các nước Hồ Việt (ở Hồ Nam), U Việt (ở Triết Giang), Mân Việt (ở Phúc Kiến), Đông Việt (ở Giang Tây), Nam Việt (ở Quảng Đông), Âu Việt (ở Quý Châu & Quảng Tây), Điền Việt (ở Vân Nam), Lạc Việt (bắc Việt Nam), Chiêm Việt (đảo Hải Nam), v.v... [6] Các nước này nằm kế tiếp nhau từ miền nam sông Dương Tử, qua lưu vực sông Hồng, xuống tận bình nguyên sông Mã. Đó là chưa kể những tổ hợp người Việt sống rải rác miền tây nam Trung Quốc chưa tổ chức thành quốc gia, có khi còn gọi là dân Bách Bộc. [7] Nhưng cũng có nhà nghiên cứu lại cho rằng Bách Bộc hay Bộc Việt là tiếng người Hoa Hán dùng để chỉ chủng tộc Việt ở phía bắc sông Dương Tử. [8]
Sau khi nhà Tần thống nhất được miền bắc Trung Quốc và một số lãnh thổ miền nam sông Dương Tử, các nước Việt nhỏ dần dần bị suy sụp, chỉ có Mân Việt, Đông Việt và Nam Việt nhà Triệu (bao gồm Nam Việt, Âu Việt, Lạc Việt ) là còn tự trị. [9] Sang đến thế kỷ thứ nhất TTL, các nước này cũng bị nhà Hán thôn tính nốt, tuy rằng các tổ hợp Bách Việt vẫn sống rải rác khắp miền nam Trung Quốc. Trải qua thăng trầm của hai ngàn năm lịch sử, phần lớn lãnh thổ Bách Việt đã bị sát nhập vào bản đồ Trung Quốc và rất nhiều văn minh Bách Việt dần dần bị đồng hóa vào văn minh Trung Quốc.
Đến đây, người viết xin nhấn mạnh ba điểm. Thứ nhất, trong TVTVĐM, học giả PVC có vẻ hàm ý lãnh thổ sinh hoạt của bộ tộc Bách Việt giới hạn vào miền nam sông Dương Tử. Thật ra, các công trình nghiên cứu khảo cổ và nhân chủng học gần đây cho thấy người Bách Việt đã vượt sông Dương Tử rất lâu trước khi văn minh Trung Quốc bắt đầu thành hình. [10] Gần hơn nữa, trong thời Xuân Thu Chiến Quốc, người Bách Việt sống rải rác trong các vùng Hoa Bắc, điển hình là nước Sở (ban đầu, gồm Hồ Bắc ngày nay), nước Tề (Sơn Đông), nước Tấn (Sơn Tây-Hà Bắc), v.v... [11]
Thứ hai, vì chỉ có nước Việt Nam vẫn còn dùng chữ Việt trong quốc hiệu, có người ngộ nhận cho rằng người Bách Việt đã bị đồng hóa vào văn minh Trung Quốc, ngoại trừ người Việt Nam. Thật ra, như học giả PVC đã nhấn mạnh ngay từ đầu, tất cả các quốc gia ĐNÁ như Miến Điện, Thái Lan, Lào, Việt Nam, Căm Bốt, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, v.v..., đều do hậu duệ của đại chủng Bách Việt thành lập tại những thời điểm khác nhau. Theo học giả, Thái Lan có thể xem là một nước có nguồn gốc gần gũi với Việt Nam hơn cả. [12] Người Thái chính là bộ tộc Lý thuộc nhóm Âu Việt ở Quảng Tây trong nước Nam Việt nhà Triệu cũ. Sau khi Nam Việt nhà Triệu bị nhà Hán thôn tính, người Thái bỏ nước di cư, lập ra nước Nam Chiếu (Đại Lý). Đến thế kỷ 13, Đại Lý bị quân Mông Cổ phá vỡ hoàn toàn. Chính trong dịp này, người Thái lại nam thiên và hội tụ với các sắc dân Thái địa phương, sáng lập ra các vương quốc hùng mạnh, tiền thân của nước Thái Lan và Lào ngày nay. Điểm đáng chú ý là người Đại Lý đã đóng góp xương máu vào cuộc khởi nghĩa chống Hán của Hai Bà Trưng, cũng như đã hai lần chiếm lại thủ phủ Đại La (Hà Nội) từ nhà Đường vào thế kỷ thứ 9.
Thứ ba, học giả PVC cũng không quên nhắc đến hai vương quốc cổ, Chiêm Thành và Phù Nam. [13] Theo học giả, người Chàm đã trở về với khối gia đình Lạc Việt, [14] còn người Phù Nam đã hòa vào tộc Mon-Khmer. Tuy ngày nay Chiêm Thành và Phù Nam không còn chỗ đứng riêng trong tập thể ĐNÁ, hai nước này đã đóng vai trò rất quan trọng trong thời kỳ đầu Tây lịch. Chiêm Thành và Phù Nam từng là gạch nối giữa tổ hợp đã suy sụp (Nam Việt nhà Triệu) và các tổ hợp đang hình thành ở lục địa cũng như hải đảo, cho dòng giống Bách Việt còn mãi mãi nối tiếp.
3. Nguồn gốc và văn minh Bách Việt
Các học giả ngày nay vẫn chưa hoàn toàn nhất trí về cội nguồn bộ tộc Bách Việt, nhất là vấn đề “nam thiên” hay “bắc tiến”. Các giả thuyết nam thiên phần lớn dựa trên cổ sử, nhất là cổ sử Trung Quốc. Như phần 4 sẽ trình bày, cổ sử Trung Quốc về Bách Việt chỉ có thể tin được phần nào. Các giả thuyết sau này, dựa trên các chứng cớ nghiên cứu đa ngành, có xu hướng làm đảo lộn các giả thuyết cũ, và do đó chưa được tất cả các nhà khoa học hoàn toàn chấp nhận. Các nghiên cứu di truyền học gần đây, tuy chưa minh xác hoàn toàn nguồn gốc người Bách Việt, nhưng đã làm sáng tỏ phần nào liên hệ giữa người Bách Việt và người Hoa Bắc.
Theo TVTVĐM, cuộc nam thiên của người Bách Việt có thể tạm chia làm bốn thời kỳ: [15]
Đợt 1: vào giữa thiên niên kỷ thứ ba đến cuối thiên niên kỷ thứ hai TTL và bao gồm các sắc dân cựu Malay, tân Malay và Lạc Việt. Đợt nam thiên này lập ra các nước Việt Nam, Mã Lai, Nam Dương và Phi Luật Tân.
Đợt 2: vào đầu thiên niên kỷ thứ nhất đến giữa thế kỷ thứ ba TTL và bao gồm các nhóm Mon và Khmer. Đợt nam thiên này lập ra các vương quốc Draravati và Chân Lạp, và cuối cùng là Căm Bốt ngày nay.
Đợt 3: vào cuối thế kỷ thứ ba đến cuối thế kỷ thứ bảy và bao gồm bộ tộc Miến (trong đó có dân Pyu). Đợt nam thiên này cuối cùng lập ra Miến Điện.
Đợt 4: đợt di cư ào ạt của người Thái vào thế kỷ thứ 13 và các đợt nhỏ kế sau, như đã bàn bên trên. Các đợt nam thiên này sau cùng lập thành Thái Lan và Lào.
Gần đây, nhà nghiên cứu Nguyên Nguyên chỉ đích danh nước Sở là cái nôi nước Thái Lan và Viêt Nam ngày nay. [16] Theo ông, chủng Âu (người Thái cổ) chính là thành phần cư dân chủ lực của nước Sở vào thời Xuân Thu Chiến Quốc. Vì lý do thiên tai mất mùa và chiến tranh loạn lạc, cư dân nước Sở đã di tản hàng khối xuống phương nam, đến tận bình nguyên sông Hồng, từ thế kỷ thứ tám đến thế kỷ thứ ba TTL. Như vậy, truyền thuyết Âu Cơ–Lạc Long Quân có thể giải mã là sự cố gắng hợp chủng không thành công của hai chủng Âu và Lạc (người Việt cổ) trước áp lực bành trướng của người Hoa Bắc.
Ngẫm cho cùng, hai thuyết nói trên chỉ là sự triển khai và làm tinh tế các giả thuyết nam thiên của các nhà sử học thời Pháp thuộc như Aurousseau, Chavannes, Madrolle, v.v... [17] Thuyết nam thiên của học giả PVC phù hợp với huyền sử bốn ngàn năm văn hiến của người Việt Nam, trong khi thuyết nam thiên của tác giả Nguyên Nguyên tương ứng với quan điểm chủ đạo ngày nay, cho rằng nhà nước Việt Nam chỉ ra đời trong thiên niên kỷ thứ nhất TTL. [18] Nhưng cả hai thuyết này đều giới hạn trong vòng một hai thiên niên kỷ TTL. Đây là một mốc thời gian quá trễ so với quá trình hình thành văn minh Bách Việt. Câu hỏi cần đặt ra là người Bách Việt nói chung và người nước Sở nói riêng từ đâu mà ra?
Nếu dùng mốc thời gian xa xưa hơn hai thiên niên kỷ TTL, các nhà khoa học lại kiếm thấy rất nhiều chứng cớ trái ngược với thuyết nam thiên. Các công trình nghiên cứu khảo cổ, nhân chủng, hình thái, ngôn ngữ và di truyền học từ thập niên 1960 đến nay có xu hướng cho rằng người Bắc Á chuyển hóa từ người Nam Á ra. [19] Cụ thể hơn, tổ tiên người Bách Việt đã đi từ nam lên bắc và đóng góp rất nhiều cho nhân chủng người Hoa Hán ngày nay. Đi xa hơn hết là giả thuyết của bác sĩ Oppenheimer. [20] Ông cho rằng ĐNÁ là cái nôi của nền văn minh nhân loại. Trận đại hồng thủy cách đây khoảng 8000 năm làm chìm đắm thềm lục địa Sunda, khiến các cư dân ĐNÁ phải di tản đi các vùng đất khác. Họ chính là những người gây dựng lên nền văn minh đồ đá mới tại Trung Quốc, Ấn Độ, Lưỡng Hà Châu, Ai Cập, và phía đông Địa Trung Hải.
Các học giả Việt Nam phản ứng như thế nào trước các khám phá nói trên? Trong phạm vi nhỏ hẹp của bài tiểu luận này, người viết xin tập trung vào một vài giả thuyết tiêu biểu. Chúng ta có thể bắt đầu bằng Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam (NGMLDTVN), một công trình khảo cứu công phu của nhà ngữ học Tô Văn Tuấn, tức là nhà văn Bình Nguyên Lộc. [21] Theo ông, chủng Indonesian/Malay đã bắc tiến trong hai lần di dân chính trong quá khứ: đợt 1 cách đây khoảng 5000 năm và đợt 2 cách đây chừng 2500 năm. Người Việt Nam cổ (mà ông gọi là Mã Lai đợt 1) đã từ miền nam tiến lên làm chủ miền bắc Trung Quốc, nhưng sau bị giống dân phía bắc đẩy lùi trở xuống. NGMLDTVN và TVTVĐM có một điểm chung lớn, đó là nguồn gốc Indonesian/Malay của người Bách Việt.
Gần đây, tác giả Nguyễn Quang Trọng nhấn mạnh trở lại yếu tố nam thiên trong nguồn gốc bộ tộc Bách Việt. [22] Ông cho rằng người hiện đại thiên di từ châu Phi về phía ĐNÁ, tất cả thuộc chủng Nam Cổ (Australoid) (da đen, tóc quăn, mũi to). Khi gặp biển Đông, một nhóm tràn lên miền bắc Đông Á, đến tận Mông Cổ. Họ thay đổi dần nhân dạng vì lý do môi trường, và lai giống với chủng Altaic thiên di từ Tây Á cách đây khoảng 15000 năm, trở thành dân Bắc Mông (da trắng vàng, tóc thẳng, mắt nhỏ). Dân Bắc Mông ngày càng bành trướng về phía Nam, hợp chủng với giống Nam Cổ tại giữa Trung Quốc ngày nay và tạo thành dân Nam Mông (da ngăm đen, tóc dợn sóng). Chủng Nam Mông này chính là tổ tiên của dân Bách Việt, và cả những người tại các hải đảo Thái Bình Dương.
Ngược với giả thuyết tân nam thiên là giả thuyết tân bắc tiến của tác giả Cung Đình Thanh. [23] Thuyết này nhấn mạnh vào hiện tượng biển tiến để giải thích phương hướng thiên di của người Bách Việt. Theo ông, người hiện đại di cư từ châu Phi đến Ðông Nam Á, tiếp cận biển Đông, một phần đi thẳng ra các hải đảo Thái Bình Dương và châu Úc, phần còn lại trụ tại ĐNÁ. Phần ở lại ĐNÁ, có thể là lưu vực sông Hồng, vì hội đủ điều kiện nên đột biến di truyền, đổi từ giống hắc chủng (da ngăm đen, tóc dợn sóng) ra giống hoàng chủng (da vàng, tóc thẳng). Đây là tổ tiên dân Bách Việt, chủ nhân của nền văn minh Hòa Bình. [24] Những người này đã dần dần tiến lên miền bắc, tức là Trung Quốc ngày nay, theo hai ngã (đông và tây) khi nước biển dâng lên lần cuối từ khoảng 18000 đến 7000 năm trước đây. Giả thuyết tân bắc tiến tương đối phù hợp với các nghiên cứu đa ngành gần đây, tuy rằng đâu là trung tâm văn hóa người Bách Việt cổ và phương cách đột biến từ hắc chủng ra hoàng chủng vẫn chỉ là những phỏng đoán.
Tóm lại, dựa trên các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học quốc tế, chúng ta có thể kết luận rằng người Bách Việt:
- là hậu duệ của người hiện đại đầu tiên trong vùng Đông Á (với di chỉ xương hóa thạch kiếm thấy tại Quảng Tây, ước lượng 60000–70000 tuổi). [25]
- sử dụng tiếng nói Austric, một trong bảy ngành tiếng nói cũ nhất của thế giới. Đây là loại tiếng nói đã thành hình và được sử dụng trong quá trình định cư đầu tiên của người hiện đại, trước khi văn minh nông nghiệp ra đời. [26]
- tràn lên miền bắc, hợp chủng với người hiện đại đến từ ngã Bắc và Trung Á và tạo thành người Bắc Á (tiêu biểu là Hán tộc).
- khai sinh kỹ thuật cấy lúa gạo ruộng nước (di chỉ tìm thấy tại Hemudu, nam Trung Quốc, Ban Kao, bắc Thái Lan, Sakai, bán đảo Mã Lai), mở đầu cho nếp sống định canh định cư và văn minh Hòa Bình vào khoảng 10000 đến 15000 năm trước đây. [27]
- phát minh kỹ thuật đồ đồng (tìm thấy tại Ban Chiang, Non Nok Tha, bắc Thái Lan và Phùng Nguyên), tương ứng với sự thành hình của các nhóm Bách Việt cách đây trên dưới 4000, 5000 năm. [28]
Theo các nhà khảo cổ và sử học, một số đặc trưng của văn minh Bách Việt gồm có: [29]
* trồng lúa nước;
* dùng trai, sò và các động vật lưỡng tính làm thực phẩm;
* cắt tóc ngắn và xăm mình;
* mặc quần ngắn, váy ngắn và đội khăn;
* cất nhà sàn;
* văn hóa biển và sông nước (đóng tàu dài, đua thuyền, giỏi dùng thuyền bè và hải chiến);
* đúc trống đồng;
* sản xuất đồ gốm và sứ theo dạng hình học;
* làm đồ sơn mài;
* thờ cúng ông bà;
* tín ngưỡng vật tổ, đặc biệt đối với chim, rắn;
* hội mùa xuân và thu cho trai gái vui chơi để tự do lựa vợ kén chồng;
* mai táng theo thế bó gối.
4. Việt tộc và Hán tộc
Trong bài này, Việt tộc có nghĩa là hậu duệ của người Bách Việt. Như vậy, Việt tộc ngày nay bao gồm một số lớn người Hoa Nam và gần như toàn thể dân ĐNÁ. Trong khi đó, Hán tộc là một danh từ không có nghĩa rõ ràng. Tổ tiên người Hán là dân du mục, với văn hóa chăn nuôi, hỏa canh. Họ di cư đến miền tây bắc Trung Quốc từ phía Trung Á. Lúc ban đầu, họ sống trên những cánh đồng cỏ Cam Túc, Thiểm Tây, v.v..., và lập ra nền văn minh Hoa Hạ dẫn đến các triều đại Thương và Châu. Đến thời nhà Tần và Hán, người Hán dần dần thôn tính các nước người Việt chung quanh, mở đầu cho nền văn minh đa sắc tộc Trung Quốc. [30] Trong thời kỳ phong kiến, người Hán thường dùng các danh từ có ý miệt thị như Đông Di và Nam Man để chỉ người Bách Việt. [31] Nhưng đột nhiên đến đầu thế kỷ 20, khi Tôn Dật Tiên khai sinh ý niệm Trung Hoa Dân Quốc với năm chủng tộc Hán, Mãn, Mông, Tạng, Hồi, thì Việt tộc chính thức biến mất trong bản đồ sắc tộc Trung Quốc.
Ý nghĩa của chủ thuyết Trung Quốc ngũ chủng là gì? Vì Việt tộc tại Trung Quốc không thể nào tuyệt chủng, cách suy diễn hợp lý duy nhất là người Hán và Việt đã hợp nhất thành một chủng tộc, do đó người Hoa gốc Việt tại Hoa Nam ngày nay được hoàn toàn xem như người Hán. Lối suy luận này cũng hàm ý lịch sử là giống người Bách Việt man di mọi rợ ghi trong cổ sử đã được người Hán khai hóa, và đến đầu thế kỷ 20, quá trình Hán hóa coi như hoàn toàn. Tóm lại, thuyết ngũ chủng chẳng qua chỉ là một cách tiếp tục che dấu khéo léo những đóng góp to lớn của người Bách Việt vào huyết thống và văn hóa Trung Quốc.
Những đóng góp đó là gì? Như trình bày ở phần trên, người Bách Việt đã mang văn minh trồng trọt, làm đồ gốm và thuyền bè lên miền bắc, do đó góp phần rất đáng kể cho sự bành trướng dân số, lãnh thổ và văn minh của Hán tộc. Về kim loại, rất có thể người Bách Việt đã truyền kỹ thuật đúc sắt cho người Hán. Theo các nhà nghiên cứu trong ngành luyện kim và khảo cổ, kỹ thuật luyện sắt tại Trung Quốc bắt nguồn từ hai ngã độc lập nhau:
* từ nước Ngô (Bách Việt) vào đầu thế kỷ thứ năm hay cuối thế kỷ thứ sáu TTL; và
* từ dân du mục Scythian (miền nam nước Nga) qua ngã Tây Bá Lợi Á vào khoảng thế kỷ thứ tám TTL.
Các nhà kim loại học đề xuất rằng sự phát triển dụng cụ và võ khí bằng sắt tại Trung Quốc bắt nguồn từ miền nam là chính yếu. [32] Từ nước Ngô, đồ sắt truyền qua nước Sở trong vòng một thế kỷ và các nước chư hầu nhà Châu một thế kỷ sau đó. Lí do tại sao kỹ thuật sắt của người du mục miền tây bắc không nhanh chóng truyền xuống đồng bằng Trung thổ vẫn còn là một nghi vấn của lịch sử.
Về tiếng nói, có nhiều bằng cớ cho thấy, cùng với sự tiếp thu nền văn minh nông nghiệp lúa nước của người Bách Việt, người Hán đã thu nhập tiếng Việt vào trong vốn từ vựng của mình. Ngày nay, chúng ta vẫn có thể tìm thấy trong Hán ngữ những từ gốc Việt như Nữ Oa, Thần Nông, Ðế Nghiêu, Ðế Thuấn, v.v... Ngay cả trong Kinh Thi, một bộ sách quan trọng vào bậc nhất đối với người Hán, cũng có khá nhiều thí dụ ảnh hưởng cách nói của người Việt. [33] Theo một số tác giả, trước thời Hoàng Đế, người Bách Việt đã sử dụng chữ Hỏa tự và chữ Khoa đẩu. Khi phát minh ra chữ vuông, người Hán đã dùng chữ vuông ký tự những chữ Việt đó, rồi đương nhiên coi là tiếng Hán, chữ Hán. [34] Về văn chương, người Hán đã tiếp thu Sở Từ, một lối thơ gieo vần của dân Sở, mà người Hán cho là loại thi ca cổ đại hay nhất. [35] Về tư tưởng thì không những Đạo Lão có nguồn gốc Bách Việt, mà một vài nhà nghiên cứu, thí dụ như triết gia Kim Định, còn đòi lại Kinh Thi, Kinh Dịch, Kinh Thư, v.v..., cho người Việt.
Nói tóm lại, Trung Quốc có thể xem là một thí dụ của Hiệp Chủng Quốc lâu đời nhất. Là một nền văn minh đa văn hóa, Trung Quốc có khả năng tiếp thu và phát triển các kỹ thuật đến từ mọi hướng. Người Hán rất tài tình trong việc thu lượm, vay mượn, cưỡng chiếm, chế biến và tổng hợp các thành tựu văn hóa và kỹ thuật của các sắc dân chung quanh, đặc biệt là dân Bách Việt. Vì là kẻ thống trị, người Hán có động cơ coi thường, che dấu, xóa bỏ văn minh của các giống dân bị trị với mục đích đề cao vai trò khai hóa của mình. Dùng chữ viết thống nhất như là một võ khí vô địch, người Hán đã rất thành công trong việc thi hành các chính sách này. Trong suốt một ngàn năm Bắc thuộc, người Hoa Hán đã cố tình tìm cách tiêu hủy văn minh Lạc Việt, nghiêm trọng nhất là trong thời kỳ nhà Hán và nhà Minh.
Vì thế, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy cổ sử Trung Quốc viết về người Bách Việt với giọng điệu miệt thị và đầy rẫy những sai lạc. Những sai lầm này một phần do lối suy nghĩ tự tôn Hoa Hán bá chủ, một phần do thiếu hiểu biết tìm tòi, và một phần lớn là cố tình bóp méo sự thật. Tác phẩm xuyên tạc người Bách Việt nhất có lẽ là Hậu Hán thư (HHT) của Phạm Việp. Dựa trên HHT, sử gia Trần Trọng Kim viết rằng người Việt học nghề trồng lúa từ Thái thú Nhâm Diên thời Đông Hán (đầu thế kỷ thứ nhất), trong khi thật ra người Việt đã sản xuất và tiêu thụ gạo nhiều ngàn năm trước. [36] HHT cũng cho rằng nguời Bách Việt chưa biết mặc quần áo, trong khi một khai quật khảo cổ tại Bắc Giang cho thấy cách đây 3400 năm, người Việt đã biết dệt vải làm áo. [37]
Cho đến tương đối gần đây, người Hán vẫn tự mãn, vẫn cho mình là trung tâm văn hóa loài người. Khi tìm ra xương người đứng thẳng (homo erectus) hóa thạch tại Châu Khải Điếm, Bắc Kinh, trong thập niên 1920, các nhà nhân chủng học Trung Quốc vội vàng lập thuyết cho rằng người Hán là thủy tổ các sắc dân vùng ĐNÁ. Niềm tin chủ quan sai lầm đó vẫn còn tồn tại trong một số nhà khoa học Trung Quốc cho đến đầu thập niên 1990. [38] Năm 1986, các nhà khảo cổ tìm thấy di tích đồ đồng kỹ thuật cao Sanxingdui của nền văn minh Shu (Thục) tại Tứ Xuyên. Trung Quốc đã gán cho đồ đồng này niên đại 1200 năm TTL mà nhiều nhà khảo cổ Tây Phương cho rằng trẻ hơn tuổi thật rất nhiều. Lý do là vì người Trung Quốc rất hãnh diện về đồ đồng nhà Thương, mà đồ đồng nhà Thương mới chỉ có độ 1300 năm TTL. [39] Mặt khác, một số học giả Trung Quốc lại tranh chấp chủ quyền trống đồng với các học giả Việt Nam, mặc dù ai cũng công nhận trống đồng là sản phẩm văn hóa và kỹ thuật độc đáo của người Bách Việt. [40]
Sau một ngàn năm Bắc thuộc, hấp thụ không biết bao nhiêu tư tưởng, văn hóa và kỹ thuật dán nhãn hiệu Hoa Hán (mặc dù một phần rất lớn có nguồn gốc Bách Việt), người Việt khó tránh khỏi ít nhiều mặc cảm tự ti dân tộc đối với người Hán. Mặc cảm tự ti đó dẫn đến tinh thần vọng ngoại, cái gì của Tàu cũng lâu đời, cũng thật, cũng tốt, còn cái gì của ta cũng bắt chước, cũng giả, cũng xấu. Trong giới học giả Việt Nam, điều đó nhiều khi lại còn thê thảm hơn. Niềm tin giáo điều vào các cổ sử, kinh điển của người Hán, cùng sự thiếu hiểu biết về văn minh Bách Việt đã góp phần không nhỏ vào thái độ tự ti vọng ngoại của một số nhà trí thức khoa bảng gốc Việt. Người viết đã từng nghe một nhà văn hóa hải ngoại tuyên bố rằng: “cái gì hay của mình, đều là chớp của Tàu cả”.
Rất may là các công trình nghiên cứu khách quan, nghiêm túc của các nhà khoa học quốc tế thời nay đã giúp soi sáng phần nào các đóng góp to lớn của bộ tộc Bách Việt. Ngày trước, các bậc học giả Việt Nam tiền bối có thể viết sai vì thiếu dữ kiện, không có điều kiện nghiên cứu hay ỷ lại vào các tài liệu chủ quan, thiếu chính xác của Trung Quốc. Nhưng với các phát kiến ngày nay, các lỗi lầm đó không thể tha thứ được. Đã đến lúc chúng ta phải mạnh dạn sửa đổi các sách vở cũ cho phù hợp với bước tiến của khoa học, và phải biết đến và tuyên dương các thành quả của các bậc tiền nhân Bách Việt.
Chúng ta cần làm chuyện đó vì nhiều lý do. Thứ nhất, tìm hiểu về nguồn gốc mình để biết người biết ta, để giữ vững bản sắc mình trong cơn lốc toàn cầu hóa và cách mạng kỹ thuật thông tin, và để góp phần vào kho tàng văn minh nhân loại. Thứ nhì, có hiểu biết những thành tựu huy hoàng của tổ tiên, người Việt Nam mới nhận thức sự kém cỏi của dân mình, nước mình trong nhiều thế kỷ qua. May ra nhờ đó sẽ nảy sinh ra tinh thần đoàn kết Đại Việt, xóa bỏ mọi tỵ hiềm để cùng nhau xây dựng một nước Việt Nam tân tiến, giàu có và công bằng trong tinh thần Cổ Việt. Thứ ba, tìm hiểu về nguốn gốc mình để thấy sự gần gũi, gắn bó của các sắc dân láng giềng ĐNÁ, một hình thức Bách Việt nới rộng. Cụ thể hơn nữa là sự hoàn toàn từ bỏ thành kiến khinh rẻ các anh em Bách Việt ít nguời như người Mường, Mán, Chàm, Thượng, v.v...
5. ASEAN và Trung Quốc
Trong TVTVĐM, học giả PVC đã nhấn mạnh đến ý chí và nỗ lực kết khối của các quốc gia ĐNÁ. Ý chí liên kết đó bắt đầu bằng ý thức Maphilindo, do các nhà cách mạng người Phi Luật Tân như José Rizal và Apolinario Mabini chủ xướng vào cuối thế kỷ 19, khi gần như tất cả khu vực ĐNÁ còn đắm chìm trong vòng đô hộ phương Tây. Ý thức này nhắm tới việc thành hình một tổ hợp dân Malay gồm có Nam Dương, Mã Lai và Phi Luật Tân. Vào cuối thập niên 1930, Manuel Quézon, tổng thống nước Phi tự trị dưới quyền bảo hộ của Mỹ, đã đề cập đến một liên bang, bao gồm không những khu vực hải đảo mà còn tất cả các quốc gia ĐNÁ lục địa. Có thể nói đây là đề xuất kết khối đầu tiên của các quốc gia có nguồn gốc Bách Việt.
Trong khu vực ĐNÁ lục địa, tiếng gọi liên kết được cất lên trước hết tại Thái Lan năm 1939 và sau đó tại Việt Nam năm 1943. [41] Tuy hình thức liên kết Malphilindo giới hạn và Malphilindo nới rộng đã không thành, một phần lớn vì ảnh hưởng của các cường lực bên ngoài, ý thức Malphilindo đã, đang và sẽ làm bó đuốc lý tưởng soi đường cho nỗ lực kết hợp của hậu duệ người Bách Việt. Trong phần cuối chương 17 của TVTVĐM, học giả PVC có nhắc tới ASEAN, được thành lập qua tuyên ngôn Băng Cốc năm 1967. [42] Vào lúc đầu, các quốc gia thành viên ASEAN vẫn còn giữ khuynh hướng vọng ngoại. Vì thế, học giả PVC đã kết thúc TVTVĐM với niềm hy vọng xen lẫn sự hoài nghi về tương lai liên kết của các nước ĐNÁ.
May thay, niềm hy vọng của học giả PVC đã tiến gần đến hiện thực. Sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt, vương quốc Brunei (1984), Việt Nam (1995), Lào (1997), Miến Điện (1997) và Căm Bốt (1999) dần dần chính thức tham gia ASEAN. Như vậy, một thế kỷ sau khi chủ nghĩa Malphilindo ra đời, các quốc gia ĐNÁ đã thành công trong việt thành lập một hình thức kết khối ổn định trong tinh thần tương quan bình đẳng. Tất cả các quốc gia thành viên của ASEAN đều có nguồn gốc Bách Việt. Ngay cả Singapore, tuy dân chúng chính thức nói tiếng phổ thông, nhưng phần lớn dân cư người Hoa đều có nguồn gốc Bách Việt như Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, v.v...
Như TVTVĐM đã trình bày, dân chúng các nước ĐNÁ, dù muốn dù không, đã đi đến vùng định mệnh, không thể còn đi đâu nữa cả. Cách giải quyết duy nhất là tìm một phương cách hữu hiệu để giúp nhau cùng phát triển và đề kháng áp lực bắc phương truyền kiếp. Ngày nay, với khoảng 500 triệu dân, 4,5 triệu kilo mét vuông và tổng sản lượng gộp chung $737 tỷ Mỹ kim, [43] ASEAN là một tổ chức ổn định và tương đối có thực lực để giao tiếp và đối kháng, nếu cần, với Trung Quốc. Ngay từ đầu, Trung Quốc đã xem ASEAN như một địch thủ đáng kể. Bắc Kinh đã mở hẳn một chiến dịch phỉ báng ASEAN và nhất là Nam Dương. [44] Nhưng, như học giả PVC đã phân tích, bất kỳ sự kết khối nào của ĐNÁ cũng chỉ có hại hơn là có lợi cho Hoa lục, cho nên sự chống đối của Bắc Kinh cũng là chuyện dễ hiểu.
Con rồng Trung Quốc, qua hơn một thế kỷ ngủ quên, đang tỉnh giấc và vươn lên với tốc độ rất nhanh. Các diễn tiến chính trị, kinh tế, ngoại giao, quân sự, biên giới, v.v..., gần đây cho thấy áp lực phương bắc là một vấn đề nghiêm trọng cho toàn cõi ĐNÁ trong nhiều thế hệ sắp tới. Tuy đây chỉ là sự tái diễn của lịch sử, nhưng các áp lực tương lai sẽ phức tạp và tế nhị hơn các cuộc xâm lăng thuần túy quân sự ngày trước. Một vài khía cạnh của vấn đề này sẽ được triển khai dưới đây.
Trước hết, chúng ta cần xác nhận là các nhà lãnh đạo Trung Quốc trong thâm tâm vẫn giữ chủ trương bành trướng lãnh thổ lãnh hải, đặc biệt đối với Việt Nam mà họ cho là một phần của Trung Quốc, tạm mất vào tay người Pháp trong khi Trung Quốc bị suy yếu. Về thực tế, ngoài việc dùng võ lực lấn chiếm một số đất đai dọc theo biên giới miền bắc của nước ta, Trung Quốc còn chiếm đóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa. Gần đây, chính quyền Trung Quốc còn ép chính quyền Việt Nam ký kết một hiệp định biên giới rất bất lợi cho Việt Nam, nhất là về phương diện lãnh hải.
Đối với biển Đông, Trung Quốc đã chính thức tự xác nhận chủ quyền của họ xuống tận quần đảo Nam Dương từ năm 1992. [45] Nhưng chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc không chỉ giới hạn vào biển Đông. Việc Trung Quốc tìm cách liên kết với các quốc gia Tây Hồi (Pakistan), Tích Lan và Miến Điện trong vài năm qua làm nhiều nhà quan sát e ngại rằng Trung Quốc đang tìm cách khống chế vùng Ấn Độ Dương. [46] Như vậy ý đồ của Trung Quốc trong đoản kỳ là thách thức vai trò lãnh đạo thế giới của siêu cường Hoa Kỳ, mà bước đầu là tạo ảnh hưởng toàn diện trong khu vực ĐNÁ, nhất là tại biển Đông. Bằng cớ đơn giản nhất là, theo tính toán của Mỹ, Trung Quốc đã bỏ 9% tổng sản lượng vào chi phí quân sự trong năm 1993. [47] Nếu quả thật như thế, Việt Nam lại một lần nữa đóng vai trò lá chắn cho toàn vùng ĐNÁ đối kháng sự bành trướng của Trung Quốc.
Chính sách tiêu biểu nhất của một đế quốc bất cứ thời nào là chia để trị. Tuy có chung nguồn gốc Bách Việt, các quốc gia thành viên ASEAN khác biệt khá nhiều về văn hóa, tôn giáo và mức độ phát triển, do đó dễ bị chính sách chia để trị của Trung Quốc ảnh hưởng. Lấy thí dụ, trong vấn đề tranh chấp biển Đông, Trung Quốc đã đồng ý giải quyết vấn đề trong tinh thần công pháp quốc tế chứ không còn khăng khăng đòi nói chuyện riêng với từng nước tranh chấp như trước. Tuy nhiên, trong thực tế, Trung Quốc vẫn dùng mối lợi khai thác kinh tế để nhử từng quốc gia ASEAN như Việt Nam hay Phi Luật Tân ký kết các hiệp ước song phương với họ.
Chính sách thứ hai của các tân đế quốc là mập mờ bất nhất. Có khi Trung Quốc dùng chiêu bài hợp tác kinh tế để gây ảnh hưởng với ASEAN (mặc dù thật ra nền kinh tế Trung Quốc có tính cách cạnh tranh hơn là bổ sung cho nền kinh tế của khối ASEAN). Một thí dụ mới nhất là tuyên ngôn Bắc Kinh về hợp tác phát triển tin học giữa Trung Quốc và ASEAN ký ngày 12/5/2005. [48] Nhưng có khi Trung Quốc lại đưa ra những quyết định đơn phương rất nguy hại cho các quốc gia ĐNÁ lục địa, chẳng hạn như chương trình xây đập trên thượng nguồn sông Cửu Long. Tuy bị các nhà môi trường học quốc tế chỉ trích rất nhiều, Trung Quốc đã từ chối thương thuyết với các quốc gia chịu ảnh hưởng xấu như Miến Điện, Thái Lan, Lào, Căm Bốt và Việt Nam. Khi cần thiết, Trung Quốc cũng rất sẵn sàng dùng các biện pháp quân sự để đàn áp các quốc gia ĐNÁ, như lịch sử gần đây chứng minh.
Để hợp tác hay đối phó hữu hiệu với Trung Quốc, các quốc gia thành viên khối ASEAN phải thật sự đoàn kết nội bộ trên căn bản “tình anh em Bách Việt ruột thịt”, tức là phải tránh đối thoại và ký kết các hiệp ước song phương với Trung Quốc càng nhiều càng tốt. Đài Loan, với nguồn gốc Mân Việt, [49] có thể là một thành viên tương lai của khối ASEAN nới rộng. Về mặt đối ngoại, ASEAN phải khéo léo dùng các thế lực của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nga và Ấn Độ để dung hòa ảnh hưởng Trung Quốc. Hoa Kỳ, Nhật Bản và Nga là những thế lực cũ và có nhiều quyền lợi trực tiếp hay gián tiếp trong khu vực ĐNÁ. Ấn Độ với dân số cao và mức độ tăng trưởng kinh tế hiện nay sẽ là một thế lực mới, có khả năng ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc tại Ấn Độ Dương. Phần lớn những điểm này đều đã hàm chứa trong viễn kiến TVTVĐM của học giả PVC hơn 30 năm trước.
© 2005 talawas
[1]Học giả Phạm Việt Châu tên thật là Phạm Đức Lợi, một sĩ quan cấp tá trong Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Gần đây, các con của học giả đã sưu tầm các bài này và in thành sách (xem Phạm Việt Châu, Trăm Việt trên vùng định mệnh, North Falls House, Minneapolis, 1997).
[2]Xem cước chú 1, Phần Dẫn Nhập (trang 18) và Chương 18 (trang 290).
[3]Xem cước chú 1, trang 39.
[4]Cung Đình Thanh, Tìm về nguồn gốc văn minh Việt Nam dưới ánh sáng mới của khoa học, Nhà xuất bản Tư Tưởng, Sydney, 2003.
[5]Xích Quỷ là một từ do người Hán đặt ra và có nghĩa là giống rợ da mầu đỏ. Xem Nguyên Nguyên, “Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương (3): Nước Xích Quỷ”, __http://www.aihuucongchanh.com/ahccahcc.html
[6]Các danh từ Hồ Việt, U Việt, Mân Việt, Đông Việt, Nam Việt, Âu Việt, Lạc Việt lấy ra từ cước chú 1, trang 25. Danh từ Điền Việt lấy từ cước chú 5. Từ Chiêm Việt do người viết đặt ra dựa trên các dẫn chứng lịch sử về sự liên hệ giữa người Chàm và người đảo Hải Nam (xem Bình Nguyên Lộc, Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam, Lá Bối, Sài Gòn, 1971, NXB Xuân Thu tái bản tại Hoa Kỳ).
[7]Cao Thế Dung, “Mấy nét về cuội nguồn văn minh văn hóa Việt Nam”, Tư Tưởng số 4 năm 1999, trang 7-12.
[8]Nguyên Nguyên, “Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương (2): Nước Sở cái nôi của dân Việt”, __http://www.aihuucongchanh.com/ahccahcc.html
[9]Xem cước chú 1, trang 26.
[10]Xem cước chú 4, trang 218(9.
[11]Xem Nguyên Nguyên, “Truyền thuyết Âu Cơ và dư âm Bách Việt trong tiếng Việt(1): Ảnh hưởng chủng Thái” __http://www.aihuucongchanh.com/ahccahcc.html Tác giả Nguyên Nguyên lấy tài liệu từ Di Cosmo,N., Ancient China and its Enemies – The Rise of Nomadic Power in East Asian History, Cambridge University Press, 2004.
[12]Xem cước chú 1, trang 32–3.
[13]Xem cước chú 1, trang 42.
[14]Theo nhà văn Bình Nguyên Lộc thì người Chàm và người đảo Hải Nam ngày xưa có liên hệ chặt chẽ, xem cước chú 6.
[15]Xem cước chú 1, trang 27–33.
[16]Xem cước chú 8.
[17]Xem Taylor, K., The Birth of Vietnam, University of California Press, 1983.
[18]Xem Lịch sử Việt Nam, tập 1, NXB Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội, 1985, trang 164. Trong cước chú 5, tác giả Nguyên Nguyên cũng hàm ý cho rằng văn hiến và lập quốc đi đôi với nhau. Ông đề nghị chúng ta “rút lại còn đúng 3000 năm văn hiến” và “chịu mất 1000 năm văn hiến, một thứ văn hiến ‘ảo’, trống không”. Theo người viết, đây là một đề nghị cực đoan vì văn hiến và lập quốc là hai vấn đề khác biệt nhau.
[19]Tiêu biểu nhất là các tác giả Needham, Solheim II, Gorman, Jettmar, Higham, Turner, Hanihara, Nichols, Ballinger, Chu, Oppenheimer, v.v... Các công trình này đã được tóm lược trong cước chú 4 và Trần Nam Bình, “Vài nhận xét về nguồn gốc người Việt”, Tư Tưởng số 22, trang 18-22.
[20]Oppenheimer, S., Eden in the East: The Drowned Continent of Southeast Asia, Phoenix, London, 1999.
[21]Xem cước chú 14.
[22]Xem Nguyễn Quang Trọng, “Về nguồn gốc dân tộc Việt Nam và Địa đàng phương Đông của Oppenheimer”, Hợp Lưu số 64, tháng tư 2002, trang 24(52.
[23]Giả thuyết này xuất hiện lần đầu trên Tập san Tư Tưởng trong những năm 1999 và 2000. Loạt bài này sau đó được in thành sách (xem cước chú 4).
[24]Hiểu theo nghĩa chuyên môn khảo cổ, văn hóa Hòa Bình bao gồm một vùng đất rộng lớn trong ĐNÁ.
[25]Xem Brown, P., “The first modern East Asians?: Another look at Upper Cave 101, Liujang and Minatogawa” 1 trong Omoto, K. (chủ biên), Interdisciplinary Perspectives on the Origins of the Japanese, International Research Center for Japanese Studies, Kyoto, 1999, trang 105(30.
[26]Xem Renfrew, C, “Language families as evidence of human dispersals” trong Brenner, S. và K. Hanihara (chủ biên), The Origin and Past of Modern Humans as Viewed from DNA, World Scientific, Singapore, 1995, trang 285(306.
[27]Xem cước chú 22. Theo tác giả Cung Đình Thanh thì những chứng cớ trồng lúa đầu tiên tại Bắc Việt hoặc chưa tìm thấy, hoặc đã đắm chìm dưới nước trong lần biển tiến cuối cùng.
[28]Xem cước chú 4 và “History of Thailand & Southeast Asia”, __http://www.guidetothailand.com/thailand-history/beginning.htm
[29]Xem cước chú 4, trang 182(3.
[30]Theo một số học giả, huyền thoại Hoàng Đế đánh ‘giặc’ Xuy Vưu mô tả trận chiến quy mô đầu tiên giữa Hán tộc và Việt tộc.
[31]Ngay cả nhà Nguyên Mông Cổ cũng xếp người Hoa Nam (Nam Nhân) vào hạng chót của đẳng cấp xã hội, dưới cả đĩ điếm và ăn mày (xem Nguyễn Duy Chính, “Chiến lược mặt biển của Trung Quốc và vấn đề biển Đông”, __http://www.vietkiem.com, trang 6, 2002).
[32]Wagner, D.B., “The earliest use of iron in China”, trong Young, S.M. và nhiều tác giả (chủ biên), Metals in Antiquity, Archaeopress, Oxford, 1999, trang 1(9.
[33]Hà Văn Thùy, “Việt mượn Hán hay Hán mượn Việt?”, talawas, 9/4/2005.
[34]Xem cước chú 31.
[35]Xem cước chú 4, trang 417.
[36]Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Quyển 1, Trung Tâm Học Liệu, Sài Gòn, 1971, trang 38.
[37]Xem cước chú 4, trang 510.
[38]Thay vì thuyết Một nguồn, một số nhà khoa học Trung Quốc ủng hộ thuyết Liên tục Đa địa phương trong việc giải thích sự xuất hiện người hiện đại tại châu Á. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu di truyền học đã bác bỏ thuyết Liên tục Đa địa phương.
[39]Nguyễn Quang Trọng, “Về văn minh cổ và nguồn gốc dân tộc Việt Nam – Trả lời nhóm Tư Tưởng”, Hợp Lưu số 66, tháng 8/9, 2002, trang 46(59.
[40]Các học giả Trung Quốc cho rằng trống đồng bắt nguồn từ Vân Nam hay Quảng Tây, trong khi các học giả Việt Nam chủ trương trống đồng phát xuất từ Bắc Việt. Xem cước chú 4, chương 7.
[41]Xem cước chú 1, trang .269.
[42]Ban đầu gồm có Nam Dương, Phi Luật Tân, Mã Lai, Thái Lan và Singapore.
[43]Xem Association of South East Asia Nations, __http://www.aseansec.org/64.htm
[44]Xem cước chú 1, trang 286.
[45]Xem Vũ Quang Việt, “Khu vực Thái Bình Dương đầy biến động trong thế kỷ 21: Cạnh tranh, hợp tác hay đối đầu?”, __http://www.hoithao.viet-studies.org/1998_VQViet.pdf, trang 16, 1998.
[46]Xem cước chú 31, trang 45.
[47]Xem cước chú 45, trang 16.
[48]Xem ASEAN and China Establish ICT Cooperative Partnership for Common Development, __http://www.aseansec.org/home.htm
[49]Xem Nguyễn Đức Hiệp, “Đài Loan và cuội nguồn Bách Việt”, Tư Tưởng số 22 năm 2003, trang 24–5.
giatugiatu
02-05-2006, 11:20 PM
Nguồn gốc và ý nghĩa của cái tên "Việt"
Lê Văn Ẩn
Bạn và tôi là người Việt, chúng ta là con dân nước Việt. Cái tên "Việt" đã có từ lâu đời, ấy
thế mà khi hỏi đến nguồn gốc và ý nghĩa của nó, ít có ai hiểu nó là gì! Tại sao là Việt? Nó
mang ý nghĩa gì? Thỉnh thoảng trên báo chí chúng ta thấy có nhiều học giả tìm cách giải
thích, nhưng rất tiếc sự giải thích đó đều mang một ý nghĩa không mấy tốt đẹp. Hôm nay
bạn và tôi thử tìm hiểu, phân tích để hiểu xem vì lý do gì tiền nhân của chúng ta lại lấy cái
tên "Việt" đặt cho dân tộc mình.
Đầu tiên cái tên Việt đó được viết bằng một loại chữ mà ngày nay ít ai nhắc tới, đó là chữ
Nho. Chúng ta có chữ viết; các cụ ngày xưa viết chữ Nho, sau đó là chữ Nôm; đến khi
người Pháp đến đô hộ đất nước chúng ta, họ đưa vào một lối chữ viết với mẫu tự La-tinh
và gọi đó là chữ Quốc Ngữ. Chữ Quốc Ngữ dần dần thay thế chữ Nho và Nôm. Sau đó tất
cả các sách vỡ, văn kiện đều được in bằng chữ Quốc Ngữ.Ngày nay ít ai buồn nghĩ đến
chữ Nho và Nôm của ngày trước; nếu có ai tình cờ nhắc lại thì bị coi là cổ hủ, lỗi thời. Từ
đó với thời gian hai loại chữ trên đều bị rơi vào quên lãng. Sự mất mát của chữ Nho và
chữ Nôm mang một ảnh hưởng rất tai hại mà ít ai nghĩ tới.
Thông thường bạn và tôi không thấy sự tai hại đó, mãi cho đến một ngày có người hỏi
chúng ta, anh là người Việt, vậy chữ "Việt" đó mang ý nghĩa gì? Cái gốc của chữ "Việt" đó
từ đâu mà ra? Bây giờ bạn và tôi đem chữ Quốc ngữ ra cắt nghĩa cái nguồn gốc chữ
"Việt" ư? Chữ Quốc ngữ không thể giải thích nguồn gốc của chữ "Việt"! Quay lại chữ Nho
và chữ Nôm ư? Còn mấy người biết được chữ Nho và Nôm, và có chắc họ còn nhớ cái
nguồn gốc của chữ đó không!
Một hôm, ông Bùi Tuấn Dũng, một người bạn thân của tôi, mang đến cho tôi một số bài
báo giải thích về nguồn gốc của chữ "Việt". Tôi rất mừng và vội đăng lên đây để bạn và
tôi cùng tìm hiểu nguồn gốc dân tộc mình qua danh xưng là Việt. Dưới đây là những đoạn
trích từ các bài báo vừa kể:
1. Ông Phạm Cao Dương có viết bài "Việt Nam hay Đại Nam" (Một vấn đề liên hệ tới
quốc hiệu nước ta) đăng trong tờ Chiêu Dương. Ông viết như sau: "... Chữ Việt trong
danh xưng Việt Nam đã không được viết là Việt chỉ hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây mà là
Việt có nghĩa là vượt, một chữ mà các bậc lão thành cho là có nghĩa xấu vì nó hợp với chữ
Tẩu có nghĩa là chạy và chữ Tuất chỉ một chi trong 12 chi tượng trưng cho chó". Cuối
cùng nếu mê tín, dị đoan mà nói, một quốc gia mà mang tên những vượt và chạy do
người ngoài đặt cho như vậy thì khó mà sống trong hòa bình, ổn định và đoàn kết xây
dựng được.
2. Ông Phan Hưng Nhơn có viết bài "Nhận thức về một số suy luận mới về sử liệu
Việt Nam" đăng trong tờ Viên Giác số 135 tháng 6 năm 2003 (xuất bản ở Đức). Ở trang
135 ông viết như sau: "... Đối với những bộ lạc sống vùng Nam man mà họ không mấy
biết và cho rằng những bộ lạc nầy có lối sống hỗn độn. Nên người nhà Chu dùng từ Việt,
có nghĩa là Vượt để gọi những dân tộc người ở vùng Nam man này mà họ cho "có lối sống
Vượt ra ngoài vòng lễ giáo của nhà Chu". Như thế danh xưng Việt người thời nhà Chu
dùng đầu tiên và chỉ có nghĩa đơn giản như vậy. Sau đó ở trang 137 ông lại viết tiếp: "...
Vì vậy từ thời thượng cổ cho đến cận đại, dân tộc mà ngày nay bị gọi là Việt Nam này
không bao giờ chịu nhận mình là người Việt và từ xưa cho đến nay luôn luôn tự xưng
mình là dân Nam, nước mình là nước Nam (cho đến năm 1945).
3. Ông Hoàng Văn Chí có viết bài "Nguồn gốc dân tộc" (đây là bài Tham Luận)
đăng trong tờ Chiêu Dương. Ông viết như sau: "... Chữ Việt có nghĩa là vượt qua, như việt
quyền là vượt quá quyền hạn, việt ngục là vượt ngục. Người Hán dùng chữ Việt để chỉ
những sắc tộc ở phía Nam sông Dương Tử, mà họ coi là thấp kém ví chẳng khác người
Thượng hiện nay, họ không định cư ở một nơi để canh tác nông nghiệp. Cứ ở mỗi nơi vài
năm, phá rừng làm rẫy, rồi hễ đất hết màu mỡ, lại vượt sông, vượt núi, di chuyển tới một
khu rừng khác.
Vì có nhiều sắc tộc Việt quá nên người Hán gọi hằm-bà-lằng tất cả là Bách Việt. Sau đó
ông lại viết tiếp như sau: "... Rồi người Việt-nam được gọi tắt là Người Việt, làm cho nhiều
người ngộ nhận chúng ta là một trong các sắc tộc Bách Việt bên Tàu. Đáng lẽ nên gọi là
Người Nam. Chữ Nam đối chọi với chữ Bắc. Ta là Nam, Tàu là Bắc.
4. Ông Trần Hữu Lễ có viết trong tờ Viên Giác số 122, tháng 4 năm 2001 (xuất bản
ở Đức) dưới đề mục "một bọc trăm con". Ông có nhận xét như sau: ... Họ (Cao Biền) viết
chữ Việt gồm hai bộ Tuất và Tẩu. Tuất là chó. Tẩu là chạy, với nghĩa xách mé, như một
lời chửi rủa... Có một chữ Việt khác gồm các bộ Phiệt (gần giống âm Việt), Quynh (miền
đất ở xa ngoài cõi), Mễ (lúa gạo), Khảo (khéo léo). Rồi ông giải thích như sau: một miền
đất ở xa ngoài nước Tàu chuyên nghề trồng lúa một cách tinh xảo. Phải chăng đấy là ý
người xưa. Chữ Việt này nhìn giống như một trái cây, có cuống, có quả, có nhiều hạt. Có
quả có nhân, có nhân có quả... Ngoài phần phân tích chữ Việt, bài viết "Một bọc trăm
con" của ông viết rất đầy đủ ý nghĩa.
5. Ông Huy Việt Trần Văn Hợi có viết bài "Chữ Việt" đăng trong tờ Tư Tưởng như
sau: "... Nếu ta tách chữ Việt bộ Tẩu ra thì ta có một bên là chữ Tẩu là chạy, và một bên
chữ Tuất là chó. Đó là họ muốn ghi chiến thắng của họ là đánh đuổi dân ta chạy về
Phương Nam như đuổi chó vậy".
Trong năm học giả ở trên thì có ba người cho chữ "Việt" gồm bộ Tẩu và chữ Tuất, rồi chú
thích là chó chạy; còn hai người gọi Việt là vượt và cho đó là một cái tên thấp kém, sống
vượt ngoài vòng lễ giáo, rồi đề nghị đừng gọi là người Việt mà nên gọi là người Nam!
Nếu bạn và tôi không biết chữ Nho và chữ Nôm, thì chúng ta nên tin ai và bỏ ai đây? Họ
đúng hay sai, thật khó mà biết được vì tất cả đều phân tích giống nhau! Vậy tổ tiên chúng
ta không biết cái tên đó xấu hay sao mà lại chọn cái tên như vậy? Chúng tôi tin tưởng
rằng tổ tiên của chúng ta phải có lý do chính đáng để chọn cái tên "Việt", tuy nhiên đám
con cháu không chịu tìm hiểu cặn kẽ rõ ràng rồi quay lại hiểu lầm tiền nhân!
Với khả năng hạn hẹp và thô thiển, tôi cố gắng tìm lại nguồn gốc qua sự phân tích, dẫn
chứng về chữ Việt. Biển học thì mênh mông mà sự hiểu biết của mình thì quá hạn hẹp,
nếu tôi có gì sơ xuất hay sai sót thì xin các bậc cao minh chỉ bảo để tôi có dịp học hỏi
thêm.
Đầu tiên, chữ Việt được viết bằng chữ Nho. Chữ đó viết bằng hai cách:
Việt và Việt
Trước tiên để hiểu chữ Việt trên mang ý nghĩa gì, chúng ta thử tìm qua tự điển.
1. TÌM CHỮ VIỆT QUA TỰ ĐIỂN
Việt đây là chữ Việt đi với bộ Mễ . Muốn tìm chữ Việt này bạn lấy cuốn tự điển chữ Nho,
hay cuốn tự điển Hán-Việt hoặc tự điển của Trung Hoa, lật tới bộ Mễ (là bộ thứ 119 trong
số 214 bộ). Bộ Mễ theo cách viết gồm có sáu (6) nét hợp thành, hãy tra ở phần các bộ có
sáu nét thì tìm ra bộ Mễ, sau đó tìm trong bộ Mễ ở phần 6 nét thì thấy chữ Việt nầy. Vì nó
nằm ở bộ Mễ cho nên người ta nói chữ Việt bộ Mể là mang ý nghĩa như vậy.
Việt đây là Chữ Việt bộ Tẩu (là bộ thứ 156 trong 214 bộ), bạn cũng làm giống như trên,
tìm đến bộ Tẩu (bộ 7 nét), rồi tìm đến phần năm nét của bộ tẩu thì thấy chữ Việt nầy.
Sau khi tra tự điển tìm ra chữ Việt rồi, nay bạn và tôi thử tìm coi trong tự điển chữ Nho và
tự điển Hán-Việt người ta giải thích thế nào về chữ Việt đó. Ở đây chúng tôi lấy tự điển
Thiều Chửu để làm ví dụ.
2. GIẢI THÍCH CHỮ VIỆT QUA TỰ ĐIỂN
A. Việt , chữ Việt bộ Tẩu được giải thích như sau (Tự điển Thiều Chửu trang 655):
1. Qua, vượt qua
2. Rơi đổ
3. Nước Việt, đất Việt
4. Giống Việt: ngày xưa các giống Việt như Ư-Việt thì ở Triết Giang; Mân-Việt thì ở
Phúc Kiến; Dương-Việt thì ở Giang Tây; Nam-Việt thì ở Quảng Đông; Lạc-Việt thì ở nước
ta, đều là Bách Việt cả.
5. Một âm là Hoạt: cái lỗ dưới đàn sắt.
B. Việt , chữ Việt bộ Mễ được giải thích như sau (tự điển Thiều Chửu trang 474):
• Nước Việt, đất Việt, cùng nghĩa như chữ Việt . Tĩnh Quảng Đông, Quảng Tây
nguyên trước là đất của Bách Việt nên người Tàu gọi hai tỉnh ấy là tỉnh Việt.
• Bèn, tiếng mở đầu (phát ngữ), như Việt hữu là bèn có.
Nếu bạn và tôi không biết chữ Nho, có cố gắng mà tìm hiểu nguồn gốc, thì cùng lắm chỉ
tìm được lối giải thích như trên. Trong tự điển chữ Nho, hay tự điển Hán-Việt hoặc tự điển
thông dụng của Trung Hoa, người ta chỉ giải thích như vậy, chứ không có cuốn tự điển
nào phân tích cái gốc của chữ Việt cả! Vì không có sự phân tích chữ gốc từ tự điển, cho
nên mọi người phân tích mỗi kiểu khác nhau, từ đó chúng ta không biết tin ai bỏ ai!
Bây giờ bạn và tôi thử phân tích coi chữ Việt đó như thế nào.
3. PHẦN PHÂN TÍCH CHỮ VIỆT
A. CHỮ VIỆT ĐI VỚI BỘ TẨU
Trong các bài báo đăng trích ở trên thì phần lớn giải thích chữ "Việt" đi với bộ Tẩu và chữ
Tuất; tuy nhiên có một vị cho rằng đi với bộ Tuất và bộ Tẩu, ông không gọi chữ Tuất mà
lại gọi là bộ Tuất. Để tránh hiểu lầm, chúng tôi xin thưa rằng không có bộ Tuất mà chỉ có
chữ Tuất . Trong 214 bộ, không có bộ Tuất. Muốn tìm chữ Tuất, ta phải tìm bộ Qua (là
bộ thứ 62 của 214 bộ), chữ Tuất là thuộc 2 nét của bộ Qua (tự điển Thiều Chửu trang
219). Ở đây có sự nhận định không rõ ràng giữa chữ và bộ. Cuốn tự điển Khang Hi lập
thành vào năm 1716 sau Tây Lịch, gồm có khoảng bốn chục ngàn chữ, nhưng chỉ có 214
bộ.Vì số chữ quá nhiều, nên người xưa dùng bộ để xấp các chữ vào từng loại cho có thứ
tự và để dể tìm, ví dụ tôi muốn viết chữ đó có liên quan với nước, thì tôi viết nó đi kèm với
bộ Thủy ; tôi muốn viết chữ đó liên quan đến cây thì tôi viết kèm với bô Mộc , hay nói
một cách khác là nếu tôi muốn tìm một chữ trong tự điển chữ Nho hay tự điển Hán-Việt
thì việc trước tiên là phải biết chữ đó nằm ở bộ nào. Ở phần sau trong phần cấu tạo chữ
Nho, chúng tôi sẽ giải thích vai trò của chữ và bộ khi họp lại với nhau.
Các học giả ở trên nói rằng Chữ Việt gồm bộ Tẩu và chữ Tuất. Bạn và tôi thữ tìm hiểu chữ
Tuất coi nó ra sao.
Chữ Tuất , (xin xem tự điển Thiều Chửu trang 219), nếu chúng ta nhìn kỹ chữ Tuất
chúng ta thấy bên trái có cái gạch ngang.
Vậy ngày xưa người ta viết chữ Tuất như thế nào và giải thích ra sao? Chữ Tuất ngày xưa
viết là có nghĩa là một cái qua có một nét khuyết xuống và một đường gạch ngang bên
trái; đường gạch ngang tượng trưng cho vết chém, hay vết thương mà người chiến sĩ gây
cho kẻ thù của mình, từ đó nghĩa xưa của chữ Tuất là tấn công, gây thương tích, sát hại.
Tôi xin nhắc lại cái qua là một loại binh khí ngày xưa. Sau nầy người ta mới đặt chữ Tuất
là chi Tuất, là một chi trong mười hai chi. Như vậy chữ Tuất với ý nghĩa ban đầu không
dính dấp gì với chó cả!
Bây giờ xin bạn hãy coi lại cách viết của chữ Việt đi với bộ Tẩu
Việt
Chữ Việt bao gồm bộ Tẩu và chữ
Bây giờ bạn hãy nhìn chữ Tuất
Tuất
Bạn hãy coi chữ Tuất và chữ có giống nhau không?
Chắc chắn là không giống nhau rồi. Chữ Tuất có một nét gạch ngang bên trái, còn chữ
có một nét móc lên ở bên trái. Bạn sẽ hỏi tôi chữ đọc làm sao? Chữ nầy đọc là Việt. Các
học giả ở trên nhìn lộn chữ Tuất với chữ Việt ! Cái chữ trong chữ Việt bộ tẩu không
phải là chữ Tuất mà là chữ Việt!
Vậy bạn sẽ hỏi rằng chữ Việt nầy ngày xưa chữ gốc của nó như thế nào và giải thích
làm sao? Chữ Việt , ngày xưa viết là và được giải thích như sau: Hình một cái qua có cái
móc ở phía sau.
Như vậy trong chữ Việt có bộ Tẩu đi với chữ Việt chứ không phải bộ Tẩu đi với chữ Tuất!
Bây giờ bạn và tôi lại thắc mắc là tại sao đọc là Việt? Trước khi bàn đến cách đọc, tôi xin
nói phớt qua về cách cấu tạo của chữ Nho.
B. CÁCH CẤU TẠO CHỮ NHO
Chữ Nho được chia ra làm hai đại loại:
• Loại Văn là những hình thể đơn giản.
• Loại Tự là những chữ hợp lại hay còn gọi là hợp tự.
Các cụ nhà Nho chúng ta thường hay gọi là Văn Tự.
Loại Văn được chia làm hai loại:
• Tượng hình
• Chỉ sự
Loại Tự cũng được chia làm hai loại:
• Hội ý
• Hình thanh
Ngoài bốn loại: Tượng hình, chỉ sự, hội ý và hình thanh, thuộc về Văn Tự, chúng ta còn có
thêm hai loại nữa, đó là:
• Giả tá
• Chuyển chú
Tóm lại:
• Văn Tự gồm 4 loại: Tượng hình, chỉ sự, hội ý và hình thanh
• Lục thư gồm 6 loại: Tương hình, chỉ sụ, hội ý, hình thanh, giả tá và chuyển Chú.
Giải Thích Từng Loại
1a. TƯỢNG HÌNH
Ðây là những hình vẽ thô sơ để chỉ một vật gì hay một giống loại gì.
Ví dụ:
Ngày xưa vẽ Ngày nay viết
môn: cái cửa
Thủy: nước
Nhật: mặt trời
2a. CHỈ SỰ
Ðây là những hình thể để nói lên một ý nghĩa nào đó. Tuy còn là hình vẽ những chữ đã
bất đầu mang một ý nghĩa trừu tượng.
Ví dụ:
Ngày xưa vẽ Ngày nay viết
thượng: ở trên
3a. HỘI Ý
Mỗi chữ đều mang ý nghĩa của nó. Hội ý là do hai chữ hoặc nhiều chữ hợp lại để ra một ý
nghĩa khác.
Ví dụ: Chữ Chiêm. Chữ nầy gồm hai bộ hợp lại thành một chữ. Ở trên là bộ Bốc và ở
dưới là bộ Khẩu . Bốc có nghĩa là bói, và Khẩu là cái miệng, hai bộ nầy nhập lại thành
chữ Chiêm có nghĩa là xem coi điều gì để biết xấu tốt.
4a. HÌNH THANH
Chữ Hình Thanh là do sự họp lại của một hoặc nhiều chữ.
Chữ Hình Thanh gồm hai phần:
• Một phần là bộ để chỉ ý (nghĩa của chữ)
• Một phần là âm để nói lên cách đọc của chữ.
Ví dụ:
+ =
Bộ âm
Chỉ ý Chỉ âm
Bộ thảo chữ tảo Thảo
(cách đọc của chữ
lấy từ âm tảo mà ra)
5a. CHUYỂN CHÚ
Là một loại chữ được dùng rộng hơn ý nghĩa ban đầu của nó. Chữ đó mang nghĩa chính,
ngoài ra nó đẻ thêm một nghĩa phụ nữa.
Ví dụ:
nhạc là một nhạc khí để tạo ra sự vui tươi
nhạc chuyển âm đọc là Lạc là vui, thích
chuyển thêm một âm nữa đọc là nhạo là yêu, thích.(xin coi tự điển Thiều Chửu
trang 310)
6a. GIẢ TÁ
Ðây là một sự vay mượn do lầm lẫn hoặc thiếu sót mà ra, bất nguồn từ:
• Do sự chép sai lấy từ chữ gốc
• Mượn chữ trùng âm hoặc chữ đồng âm để thay thế phần chữ không có trong
chữ viết, mà chỉ có trong lời nói mà thôi.
Ví dụ: đậu là một cái thố để đựng thịt cúng thần, cùng âm với chữ hạt Ðậu, nên cũng
được dùng để chỉ hạt đậu.
C. CHỮ VIỆT THUỘC LOẠI NÀO?
Trong 6 loại của cách cấu tạo chữ Nho kể trên, thì chữ Việt nằm trong loại Hình Thanh tức
là một bên chỉ ý và một bên chỉ âm. Ðể dẫn chứng bạn lấy quyển CHỮ NHO TỰ HỌC của
Ðào Mộng Nam, Giảng Sư Viện Ðại Học Huế, ở trang 110 có viết như sau: cách cấu tạo
chữ Nho, phần 3: Chỉ âm - Chỉ ý: Lấy hai chữ vẽ hình hay gom ý có sẵn ghép lại rồi dùng
một chữ để chỉ âm, một chữ để chỉ ý:
Ví dụ:
cửu: chỉ âm ửu - ừu,
người: chỉ ý. Con người khác con vật ở điểm biết thù hằn nhau.
đọc là cừu (lấy từ âm ửu của chữ cửu) có nghĩa là thù hằn.
Bây giờ áp dụng chữ “Việt" vào:
Các học giả ở các bài báo ở trên cho rằng chữ Việt gồm bộ Tẩu đi với chữ Tuất ;
chúng tôi cho rằng bộ Tẩu đi với chữ Việt . Bây giờ chúng ta hãy xem cách đọc:
Chữ Việt gồm bộ Tẩu và chữ Tuất
Việt Tuất: chỉ âm: âm ở đây là T, âm tờ,
tẩu: chỉ ý
Trong tự điển không có bộ Tẩu đi với chữ Tuất, nên không đọc được!
Chữ Việt gồm bộ Tẩu và chữ Việt
Việt Việt: chỉ âm
tẩu: chỉ ý
đọc là Việt
Bạn thử so sánh coi, nếu lấy âm T, Tờ của chữ Tuất thì làm sao mà đọc ra Việt được! Nó
phải âm Việt thì mới đọc ra Việt được. Ðể rõ ràng hơn tôi xin đưa ra hai ví dụ trong đó có
chữ Tuất đi với một bộ khác và chữ Việt đi với một bộ khác như sau:
1. Chữ Tuất: chỉ âm: âm ở đây là T, âm tờ
bộ bối: chỉ ý
Vậy thì đọc như thế nào? Thưa đọc là Tặc (xin xem tự điển Thiều Chửu trang 648).
2. Chữ Việt: chỉ âm
bộ Kim: chỉ ý
Vậy thì đọc làm sao? Thưa đọc là Việt (xin xem tự điển Thiều Chửu trang 711) có nghĩa là
cái búa lớn mà ta thường gọi là Phủ Việt.
Vậy có hai điểm chính ở đây. Các học giả ở trên đã chẳng những nhìn lộn chữ Việt ra chữ
Tuất, và cũng chẳng soát lại coi cái âm đọc như thế nà o để coi mình nói đúng hay sai. Ðể
rõ ràng dể hiểu hơn chúng ta hãy coi cách cấu tạo chữ mới như thế nào trong chữ Nho.
Cách Cấu Tạo Chữ Mới Trong Chữ Nho
Ở đây tôi xin được nói phớt qua một chút để thấy ngày xưa người ta làm thế nào để cấu
tạo một chữ mới trong chữ Nho, tuy nhiên những điều viết sau đây không phải là một
điều cố định vì nó còn có những trường hợp ngoại lệ. Ðể dể hiểu tôi xin lấy chữ Nghệ làm
ví dụ:
nghệ hung hung hung
Ví dụ người xưa bắt đầu bằng chữ Nghệ (tự điển Thiều Chửu trang 7). Bây giờ muốn
tạo một chữ mới lấy gốc từ chữ Nghệ này thì họ làm sao? Họ lấy chữ Nghệ nầy viết kèm
với một bộ khác,ví dụ bộ Khảm thì ra chữ Hung (tự điển Thiều Chửu tr.48). Từ chữ
Hung nầy muốn tạo thêm một chữ mới khác thì họ làm sao? Họ lại viết kèm nó với một bộ
khác, ví dụ bộ bộ Bao thì nó ra chữ Hung . Rồi họ lại cứ tiếp tục lấy chữ Hung có bộ
bao đó viết kèm với một bộ mới, ví dụ bộ Tâm thì ra chữ Hung (xem tự điển Thiều Chửu
tr. 204). Rồi cứ như thế mà tạo ra một chữ mới
Ðối với chữ Việt cũng thế; đầu tiên nó là chữ Việt , xong để tạo ra một chữ mới người
ta mới nhập nó với bộ Tẩu và đọc với âm Việt.
D. BỘ TẨU
Mặc dầu đã giải thích chữ Tuất và chữ Việt rồi, nhưng bạn vẫn còn thắc mắc rằng
nếu chữ Việt này đủ để đọc là Việt thì thêm bộ Tẩu vào làm gì?
Tôi xin nhắc lại trong chữ “Việt“ gồm bộ Tẩu và chữ Việt . Chữ Việt đây chỉ là cái
âm có nghĩa là cách đọc, cách phát cái âm ra như thế nào mà thôi. Còn tấ t cả ý nghĩa gói
ghém lại nằm ở bộ Tẩu là cái phần chỉ ý và đó là phần chính. Vậy tổ tiên chúng ta muốn
nói cái gì khi viết bộ Tẩu vào với âm Việt . Ðó là đều mà bạn và tôi phải tìm hiểu đến.
Ở trên tôi có giải thích chữ Việt , chữ xưa viết là là hình một cái qua có cái móc
phía sau; mà cái qua là một loại binh khí ngày xưa vậy nó phải có liên quan gì với bộ Tẩu.
Bộ Tẩu : Ðầu tiên chúng ta thử tìm xem trong các tự điển cắc nghĩa thế nào về bộ tẩu
nầy.
• Tự điển Hán-Việt của Thiều Chửu: Tẩu: 1. Chạy. 2. Trốn.
• Tự điển Hán-Việt Từ Nguyên của Bửu Kế: Tẩu: bộ Tẩu¨« bảy nét: chạy.
• Tự điển Ðại Nam Quốc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của: Tẩu: chạy.
• Tự điển chữ Nôm của Vũ văn Kính: Tẩu: tẩu thoát, bôn tẩu.
• Hán-Việt từ điển của Nguyễn Văn Khôn: Tẩu: chạy, trốn, đi, về.
• Tự điển Trung Hoa: A New Practical Chinese-English dictionary do Công Ty Viễn
Ðông xuất bản: zoêu: 1. to walk có nghĩa là đi; to go on foot tức là đi bộ. 2. to run tức
là chạy.
• Tự điển Trung Hoa: A Chinese-English dictionary do Viện Ngoại Ngữ của Bắc
Kinh xuất bản: zoêu: 1. walk, go có nghĩa là đi. 2. run có nghĩa là chạy
Các tự điển Việt, phần lớn đều dịch là chạy, chỉ có ông Nguyễn văn Khôn dịch là đi, chạy.
Tự điển Trung Hoa thì nghĩa thứ nhất là đi, và nghĩa thứ nhì là chạy. Các tự điển Việt và
Trung Hoa không có cắt nghĩa chữ gốc của bộ tẩu. Vậy Tẩu , chữ gốc của nó viết như
thế nào và giải thích làm sao?
Chữ đầu tiên vẽ một người quơ hai cánh tay của họ, với bộ túc (nghĩa là chân) ở dưới, từ
đó mang ý nghĩa là đi. Nhưng sau đó chữ thành hình một người đi hơi nghiêng về phía
trước, có ý nói lên một ý chí cương quyết và bước đi có vẽ nhanh nhẹn, đây là bước quân
đi hay còn gọi là bước quân hành, chứ không phải là lối đi bình thường. Vậy bộ Tẩu và kế
bên có cái qua là binh khí có nghĩa là người đó chẳng những đi và mà còn cầm vũ khí. Ðó
là hình ảnh người chiến sĩ bước đi tay cầm cái qua. Một người đi bình thường thì không có
cầm binh khí. Chữ Việt là cái qua mà đi với bộ Tẩu có ý nói là người chiến sĩ cầm vũ khí, đi
từng đoàn và đi với một ý chí cương quyết để ra trận. Ðây là thời gian mà các nước Việt
phía Nam tiến lên đánh chiếm phía Bắc. Cái ý nghĩa sâu xa của chữ Tẩu là như vậy. Nếu
chúng ta chỉ lấy chữ Việt chỉ là binh khí mà thôi, thì tự nó không đủ để giải thích cái gì
cả!
Chữ Tẩu mang ý nghĩa chạy là do sau nầy người ta đưa vào chứ chứ gốc không có nghĩa
là chạy.
Tóm lại, Chữ “Việt“ có bộ Tẩu và chữ kế bên đọc là Việt có nghĩa là người chiến sĩ cầm vũ
khí là cái qua, đi trong cương quyết, đi từng đoàn theo thế quân hành để ra trận. Vậy chữ
Việt không dính dấp gì với chó chạy cả!
E. CHỮ VIỆT ÐI VỚI BỘ MỄ
Trong số năm học giả trên, có người giải thích chữ Việt đi với bộ Mễ là một bản đồ
đất đai của người Việt ở từ khi mới lập quốc.
Người khác thì lại phân tích rằng chữ Việt gồm các bộ Phiệt (gần giống âm Việt),
Quynh (miền đất ở xa ngoài cõi), Mễ (lúa gạo), Khảo (khéo léo). Rồi ông giải thích như
sau: một miền đất ở xa ngoài nước Tàu chuyên nghề trồng lú a một cách tinh xảo; Chữ
Việt này nhìn giống như một trái cây, có cuống, có quả, có nhiều hạt.
Mỗi người giải thích theo mỗi ý. Bạn và tôi thữ tìm xem coi chữ Việt bộ Mễ này có nghĩa gì.
Ðầu tiên chữ Việt gồm có bộ Mễ . Vậy bộ Mễ ngày xưa chữ gốc của nó là gì?
Hình 1 Hình 2
Chữ từ xưa đến nay
Ðầu tiên người xưa vẽ chín hạt gạo tượng trưng cho bộ Mễ . Con số chín đây có nghĩa là
nhiều, sung túc, đầy đủ. Xem hình 1, cây lúa có rất nhiều hạt. Sau đó hạt lúa văng đi bốn
hướng; họ gạch chứ thập tượng trưng cho bốn hướng. Hình 2, khi người ta đập lúa thì
hạt lúa văng đi tứ (bốn) hướng. Bỗ Mễ ngày nay viết đổi khác hơn chữ lúc ban đầu.
Chúng ta đã có lúa gạo tức là bộ Mễ, vậy thì cái chữ mà bọc bộ Mễ là chữ gì? Ðể dễ nhận
thức tôi xin đưa ra một ví dụ: chữ Hướng , chữ bộc bộ khẩu cũng viết giống như chữ
bọc bộ Mễ . Chữ Hướng , đầu tiên viết là , người xưa giải thích là cái cửa sổ (hình
tròn), nằm dưới cái mái nhà , là cái hướng để cho gió lọt vào. Bây giờ chúng ta nhìn lại
chữ Việt , cái chữ bọc bộ Mễ đó là cái mái nhà, có nghĩa là gạo được trữ dưới mái nhà
hay còn gọi là trữ trong kho.
Kế tiếp chữ ở dưới bộ Mễ là cái gì? Bạn hãy coi hình ở dưới.
Người xưa lấy một khúc cây, ráp một cái lưỡi bằng đá vào để làm cái cày để cày đất. Rồi
người ta đứng lên trên cái cày đó để làm sức nặng và đàng trước có súc vật kéo. Bạn và
tôi nên nhớ là người Việt ngày xưa nổi tiếng về nghề trồng lúa. Vậy chúng ta thấy có sự
liên hệ giữa ba chữ với nhau trong chữ Việt ; bộ Mễ là lúa, gạo, được trữ dưới mái nhà
tức là trữ trong kho, và để tạo ra lúa gạo thì cái cày là một dụng cụ nông nghiệp.
F. Ý NGHĨA CỦA HAI CHỮ VIỆT: Việt và Việt
Tại sao tiền nhân của chúng ta lại dùng tới hai chữ Việt để đặt cái tên Việt? Thông thường
người ta chỉ cần một chữ là đủ rồi. Chúng ta thấy trong hai chữ, mỗi chữ Việt đều mang
một ý nghĩa khác nhau.
• ChữViệt đi với bộ Mễ thì có mang một dụng cụ nông nghiệp là cái cày để nói lên
trong thời bình người Việt trồng lúa để sinh sống.
• Còn một chữ Việt có kèm theo một vũ khí tức là cái qua đi với bộ Tẩu có ý nói
là trong thời chiến người Việt, từng đoàn cầm vũ khí ra đi để chống giặc và giữ nước. Vậy
Tổ tiên chúng ta muốn dạy điều gì cho chúng ta ở đây trong danh xưng là Việt ?
• Với chữ Việt đi với bộ Mễ, tổ tiên chúng ta muốn nói rằng vào thời bình người
Việt chúng ta phải lo làm lụng nuôi sống gia đình, lo cho đất nước giàu mạnh; ngày xưa
đất nước của chúng ta là một nước nông nghiệp nên nghề nông là nghề chánh. Ngoài ra
chữ Việt nầy đồng thời cũng nói lên đức tính siêng năng cần cù của người dân Việt.
• Với chữ Việt đi với bộ Tẩu có nghĩa là khi gặp thời chiến thì phải cùng ra đi,
cầm vũ khí đứng ra chống giặc để giữ nước. Tổ tiên của chúng ta khi đặt một cái tên gì,
hay để lại một câu chuyện gì, đều có kèm theo một ý nghĩa rất sâu sắc trong đó. Như vậy
tổ tiên của chúng ta có ý dạy cho dân ta phải biết trách nhiệm và bổn phận của mình đối
với đất nước và dân tộc: thời bình thì phải làm gì, và thời chiến thì phải như thế nào đối
với đất nước.
Cái lỗi ở đây là tại chúng ta không tìm hiểu cho rõ ràng và cặn kẽ cái ý nghĩa của tên
“Việt“, rồi quay lại hiểu lầm tiền nhân. Bây giờ bạn và tôi mới nhận thấy cái ý nghĩa sâu
sắc của tiền nhân khi đặt cái tên Việt cho dân tộc mình.
Tuy rằng đã hiểu ý nghĩa của chữ “Việt“, nhưng bạn và tôi vẫn còn thắc mắc. Bạn sẽ nói
rằng anh nói tiền nhân lấy cái qua đặt vào với tên “Việt“, nhưng làm sao dám chắc rằng
cái qua đó là của người Việt? Cái khí cụ đó có chắc là của người Việt hay không hay là lấy
từ một chổ nào khác đem lại? Mà nếu nó là của người Việt thì nó ra sao? Hình dáng như
thế nào?
G. CHỨNG MINH BẰNG KHẢO CỔ
Khi một nhà khảo cổ đào tìm được một đồ vật, họ phải xác định cái đồ vật đó tìm được ở
đâu, vào thời gian nào, địa điểm chổ nào, vùng nào và cái đồ vật đó hình thức ra làm sao,
có sự liên quan gì đến các đồ vật mà ông tìm thấy được ở nơi khác không v.v... Vậy muốn
nói cái qua là của Việt thì việc trước tiên là xác định vùng đất nào là của tổ tiên người Việt.
Để làm việc này, bạn và tôi phải trở lại xem truyền thuyết họ Hồng Bàng.
Trong Việt Nam Sử Lược quyển một, cụ Trần Trọng Kim có viết lại như sau: Họ Hồng
Bàng. Cứ theo tục truyền thì vua Đế-minh cháu ba đời vua Thần nông, đi tuần thú
phương nam đến núi Ngũ-lĩnh gặp một nàng tiên, lấy nhau, đẻ ra người con tên là Lộc
Tục. Sau Đế-minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế-nghi làm vua phương bắc, và
phong cho Lộc Tục làm vua phương nam, xưng là Kinh-Dương vương, Quốc hiệu là Xích
Quỷ.
Bờ cỏi nước Xích Quỷ bấy giờ phía bắc giáp Động-đình hồ, phía Nam giáp nước Hồ Tôn
(Chiêm Thành), phía tây giáp Ba-Thục (Tứ-xuyên), phía đông giáp bể Nam-hải.
Kinh-Dương vương làm vua nước Xích Quỷ và lấy con gái Động-đình quân là Long nữ đẻ
ra Sùng Lãm nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy Âu -cơ là con
gái của Đế Lai, sanh được một trăm người con trai.
Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên do Nhượng Tống dịch, ông Ngô Sĩ Liên gọi
trăm người con trai đó là tổ của Bách Việt tức là trăm giống Việt.
Bây giờ bạn và tôi hãy xem lại Kinh Điển, coi lại Kinh Thư, xem phần Hạ Thư chương Vũ
Cống , phần thượng , có để cập đến việc vua Vũ dựng ra 9 châu gồm có:
1. Kí châu,
2. Ung Châu,
3. Duyện Châu,
4. Thanh Châu,
5. Từ châu,
6. Dự châu,
7. Lương châu,
8. Kinh châu,
9. Dương châu.
Trong truyền thuyết, khi Lộc Tục làm vua thì xưng là Kinh-Dương Vương tức là ông làm
vua cai trị hai châu: châu Kinh và châu Dương. Châu Kinh và châu Dương được xem là
miền Nam của Trung Hoa ngày nay, bao gồm Hồ Bắc, Hồ Nam dọc theo sông Dương Tử,
ra tới biển Đông và kéo xuống phía Nam. Nước của ông bao gồm từ Hồ Bắc, Hồ nam cho
tới nước Chiêm Thành. Con ông là Lạc Long Quân xuất thân từ Hồ Động Đình vì Lộc Tục
lấy Long Nữ, người gốc gác ở Hồ Động Đình. Hồ Động Đình bao gồm Hồ Bắc (tức là phía
Bắc của Hồ Động Đình) và Hồ Nam (tức là phía Nam của Hồ Động Đình).
Các nhà khảo cổ đã tìm được trong các mộ đào được ở Trường Sa (thuộc Hồ Nam) một số
những cái qua, xin coi hình phía dưới (hình 1).
Hình 1 Hình 2
Riêng vào tháng hai năm 1971, các nhà khảo cổ có tìm được tại phía đông của Trường Sa
thuộc vùng Hồ Nam, địa điểm tên là Liu-ch'êng-ch'iao một cái qua còn nguyên vẹn (hình
2). Điểm đặc biệt hơn nữa là trong quyển "Cultural Frontiers in Ancient East Asia" của
William Watson có viết về những đồ vật đào lên tại tỉnh Hồ Nam rằng các nhà khảo cổ có
tìm được cũng tại Hồ Nam một cái qua có khắc tên một vị vua tên là Nhược Ngao. Sao khi
tra cứu trong Sử Ký Tư Mã Thiên và Xuân Thu Tả Truyện thì vị vua có hiệu là Nhược Ngao
là vị vua Hùng thứ 14 tên thật là Hùng Nghi hiệu Nhược Ngao cai trị vào năm 789 trước
Tây Lịch. Đây là vị vua Hùng thú 14 trong 18 vị Hùng vương, mà chúng ta thường gọi là
18 đời Hùng vương. Những chi tiết về cái qua nầy tôi có viết trong bài "Chứng tích Hùng
Vương" lấy bút hiệu là An sơn, đăng trong tờ Hoài Bão.
Xuân Thu
và Tả Truyện Sử ký
Tư Mã Thiên Tên vua
và hiệu Số
thứ tự Năm
cai trị
Nghi viết Nhược Ngao
Hùng Nghi dã hiệu
Nhược Ngao Hùng Nghi
hiệu
Nhược Ngao 14 789 tr. TL
Vậy vùng Kinh-Dương bao gồm Hồ Nam, Hồ Bắc và cả phía Nam từ vùng sông Dương Tử
trở xuống, các nhà khảo cổ đã tìm được những cái qua và đặt biệt là có một cái qua có
khắc tên vị vua Hùng thứ 14 là một trong 18 đời Hùng Vương của dân Việt. Như vậy cái
qua là của tổ tiên người Việt.
Nhưng mà bạn và tôi vẫn còn thắc mắc là tại sao và vì lý do gì mà chế ra cái qua? Có bao
nhiêu loại binh khí khác, thế sao lại chọn cái qua trong chữ "Việt". Cái qua có tác dụng gì?
H. TÁC DỤNG CỦA CÁI QUA
Trước khi nói về tác dụng của cái qua, tôi xin nói qua một chút về Hồ Động Đình. Ngày
xưa cả vùng sông Dương Tử bao gồm Hồ Bắc, Hồ Nam, An-Huy... có một cái hồ rất lớn,
đó là hồ Vân Mộng. Hồ Động Đình là một phần còn lại của hồ Vân Mộng. Sau khi hồ Vân
Mộng khô mất đi thì còn lại Hồ Động Đình và một số những hồ nhỏ khác. Tuy nhiên điểm
đặc biệt là cái vùng của hồ Vân Mộng ngày xưa, thì trở nên những vùng đầm lầy, và có
những bụi cây cỏ mọc rất cao (có thể lên tới bốn năm thước), làm lấp cả lối đi; những bụi
cây nầy mang tên là cây kinh, từ đó người ta mới gọi vùng đó là vùng Kinh tức là vùng có
cây kinh mọc. Vậy Châu Kinh có nghĩa từ vùng Kinh đó mà ra. Vùng phía Nam bao gồm
Hồ Nam, Hồ Bắc và dọc theo vùng sông Dương Tử là vùng đầm lầy. Quân vùng phía Bắc,
phần lớn là giống dân du mục nên chuyên môn dùng ngựa. Khi họ đưa quân xuống tấn
công phía Nam thì gặp phải vùng đầm lầy. Vậy cái qua có tác dụng gì? Hãy nhìn hình cái
qua ở dưới:
Cái qua, tác dụng của nó là phía trước dùng để đâm tới, chém ngang; phía sau là để móc
lại. Khi ngựa của quân Bắc xuống bị mắc lầy, thì cái qua móc chân ngựa quỵ xuống và
đâm tới người lính trên ngựa; cái qua có hai điểm lợi là vừa móc vừa đâm. Cái qua có lợi
điểm là tấn công từ xa, có cây qua dài trên một thước, nhưng cũng có cây dài khoảng ba
thước. Cây kiếm là dùng cận chiến, còn cây qua là để tấn công từ phía xa, tấn công cả
người lẫn ngựa. Chính cái qua nầy đã chận đứng được quân xâm lược nhờ vào tài biết lợi
dụng địa thế thiên nhiên của tiền nhân chúng ta. Vì đó trong các loại vũ khí, tiền nhân
của chúng ta không chọn vũ khí nào khác, mà lấy cái qua đặt trong tên chữ Việt .
Bây giờ bạn và tôi mới thấy rằng tiền nhân của chúng ta có suy nghĩ vững chắc khi đặt cái
tên Việt, chớ không phải là không có suy tính.
Bạn sẽ nói rằng, tôi biết tin ai bây giờ! Anh nói là cái tên Việt do tiền nhân của chúng ta
đặt ra, nhưng các học giả ở trên viết đăng trong các tờ báo, cho rằng tên Việt là do nhà
Chu và nhà Hán đặt ra, vậy thì làm sao xác định được? Một lần nữa bạn và tôi thử tìm
hiểu coi ai đặt cái tên Việt nầy ra.
I. TÊN VIỆT CÓ PHẢI DO NHÀ CHU HAY NHÀ HÁN ĐẶT RA KHÔNG?
Vì nhà Chu và nhàHán nằm trong phần lịch sử nên muốn chứng minh điều nầy thì dù
muốn dù không chúng ta phải tra cứu cổ thư.
Khi nhắc đến chuyện xa xưa của sử Trung Hoa, người ta nhắc đến thời ông Bàn Cổ, sau
đó là Tam Hoàng có Thiên Hoàng, Nhân Hoàng, Địa Hoàng; kế tiếp đến Ngũ Long, Hữu
Sào, Toại Nhân; rồi đến Thần Nông, Phục Hi, Nữ Oa; sau đó là Hoàng Đế, xong đến
Nghiêu, Thuấn và Vũ. Người Việt chúng ta dựa theo truyền thuyết Họ Hồng Bàng, cho
chúng ta thuộc dòng dõi Thần Nông. Người Tàu thì nhận họ là con cháu của Hoàng Đế.
Từ Bàn Cổ cho tới thời Nghiêu, Thuấn các sử gia Trung Hoa rất ít chú ý đến, họ chỉ chú ý
từ đời nhà Hạ do vua Vũ lập ra, qua đời Thương, đời Chu rồi Tần và Hán kể về sau, vì
những triều đại nầy có thể chứng minh qua khảo cổ, và tài liệu cổ thư cũng đã dồi dào.
Thông thường khi bạn coi một cuốn sử Trung Hoa, bạn sẽ thấy họ đưa ra một niên biểu
như sau (trích từ The Chinese exhibition do The People's Republic of China xuất bản
1977):
Niên biểu các triều đại của Trung Hoa
Nhà Hạ 2100 - 1600 tr. TL
(trước Tây Lịch)
Nhà Thương 1600 - 1100 tr. TL
Tây Chu 1100 - 771 tr. TL (đến 771
tr. TL thì nhà Chu dời đô về
Lạc-Dương, và đây là thời
Đông Chu)
Thời Xuân Thu 770 - 476 tr.TL
Thời Chiến Quốc 475 - 221 tr. TL
Tần 221 - 207 tr. TL
Tây Hán 206 tr. TL - 24 sau TL
Đông Hán 25 sau TL - 220 sau TL
Ở đây tôi chú ý đến đời nhà Thương và nhà Chu với hai lý do: thứ nhất là họ có những
bằng chứng xác định qua cổ thư và khảo cổ, thứ hai là họ có trước đời nhà Hán rất xa.
J. CHỨNG MINH QUA CỔ THƯ
a. Nhà Thương
Tài liệu về nhà Thương thì rất nhiều. Kinh Thư, Sử Ký Tư Mã Thiên và bộ Trúc Thư Kỉ
Niên đều có viết về nhà Thương. Theo bộ Trúc Thư Kỉ Niên thì Thành Thang lập ra nhà
Thương, đầu tiên đóng ở đất Bạc. Đến thời Bàn Canh là vị vua thứ 19 thì dời qua Ân và có
lẽ từ đó đổi tên nhàThương thành nhà Ân. Đến thời Vũ Đinh là vị vua thứ 22, lấy hiệu là
Cao Tôn, thì một biến cố quan trọng xẩy ra; bộ Trúc Thư ghi như sau:
Tam thập nhị niên, phạt Quỷ Phương, thứ vu Kinh
Năm thứ 32, đem quân đánh Quỷ Phương và đóng quân tại Kinh
Trong truyền thuyết của chúng ta có nói Lộc Tục làm vua phương nam, xưng là
Kinh-Dương vương, Quốc hiệu là Xích Quỷ. Chữ Xích có nghĩa là chỉ đường Xích đạo, Quỷ
ở đây là Sao Quỷ tượng trưng cho phương Nam. Khi vua Vũ Đinh nhà Ân đóng quân tại
Kinh, tức là vùng Kinh thuộc châu Kinh. Thời điểm đó thì Sao Quỷ nằm tại vùng châu
Kinh, cho nên Quỷ Phương tượng trưng cho dân của vùng châu Kinh, mà châu Kinh là
của Việt nên người Việt chúng ta mới có truyền thuyết PHÙ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG chống
giặc Ân. Chống giặc Ân tức là chống quân của Ân Cao Tôn từ phía Bắc kéo xuống.
Ngoài tài liệu cổ thư, nhà Thương còn để lại một tài liệu rất là quý giá. Đó là những chữ
khắc trên xương và yếm rùa còn được gọi là "Sấm Ngữ" (Oracle bones), mà các nhà khảo
cổ đã đào được rất nhiều tại An-Dương. Các Sấm Ngữ còn cho chúng ta biết rằng có sự
liên lạc giữa nhà Thương và dân ở miền Nam Trung Hoa và đặc biệt là dân ở vùng sông
Dương Tử tức là vùng của người Việt ngày xưa. Ông Tsuen-Hsuin Tsien, tác giả quyển
"Written on Bamboo and Silk" (Viết trên tre và Lụa) do The University of Chicago Press xuất
bản 1962,có viết như sau: "The oracle inscriptions also contain such divinations as "there
will be tortoises presented from the south" or no tortoises will be presented from the
south", có nghĩa là các lời khắc của sấm ngữ còn chứa đựng những câu chiêm đoán như
"sẽ có rùa mang đến từ miền Nam" hay "không có rùa được mang tới từ miền Nam". Ông
cho biết các câu như thế được lập đi lập lại khoảng 500 lần trên sấm ngữ. Ông còn cho
biết là theo cổ thư thì rùa được mang tới từ vùng sông Dương Tử. Như thế ngày xưa đã
có sự hiểu biết nhau và trao đổi giao dịch giữa nhà Thương và dân Việt.
Ngoài ra ông William Meacham, một nhà khảo cổ học, có viết một bài với tựa đề "Defining
the Hundred Yue" (Định nghĩa Bách Việt) đăng trong tờ Hongkong Archaeological Society.
Ông viết như sau: "The term Yue occurs fairly frequently in the oracle bone writings of the
late Shang dynasty, ca 1200 BC" có nghĩa là danh từ "Việt" thường hay xuất hiện trên sấm
ngữ vào cuối đời nhà Thương khoảng 1200 trước Tây Lịch. Ông William Meacham có liên
lạc với ông Lefeuvre, cũng là một đồng nghiệp với ông, khi viết bài nầy, thì ông Lefeuvre
có xác định với ông William là có một câu của sấm ngữ nhắc đến "vùng đất của Việt", đây
là lời ông William Meacham viết: "Lefeuvre notes one inscription mentioning" the land of
Yue".
Vậy cái tên Việt đã xuất hiện trên sấm ngữ vào thời nhà Thương. Nhà Thương xuất hiện
trước thời nhà Chu, và tên "Việt" có khắc rõ ràng trên "sấm ngữ" (trên xương và yếm
rùa); vậy thì làm sao có thể nói là nhà Chu đặt tên Việt cho người Việt được?
Nhà Thương xuất hiện vào 1600 tr. TL, có nơi cho là khoảng 1500 tr.TL và nhà Hán xuất
hiện vào khoảng 206 tr. TL, như thế tên "Việt" xuất hiện vào khoảng trên 1000 năm trước
nhà Hán, thế thì làm sao có thể nói rằng nhà Hán đặt tên Việt cho người Việt được, lấy kẻ
sanh sau mà bảo đặt tên cho người sanh trước thì nghe làm sao thông được!
b. Nhà Chu hay còn gọi là Nhà Châu
Khi đến phần nhà Chu thì Bộ Trúc Thư Kĩ Niên có viết như sau:
Trước khi dịch hai câu trên thì tôi xin có một đôi lời giải thích:
• Đại Vương đây có nghĩa là ông nội của Xương.
• Xương là tên khi còn nhỏ chưa làm vua, khi làm vua rồi thì xưng hiệu là Vũ
Vương. Khi xưng là Vũ Vương thì mới thành lập ra nhà Chu.
• Quý Lịch là cha của Xương, tức là cha của Vũ Vương.
• Thái Bá là anh lớn của Quý Lịch tức là bác của Xương.
Đại vương viết ngô thế đương hữu hưng dã kỳ tại Xương hồ.
Đại vương nói thế hệ của ta mà hưng là nhờ ở tại Xương
(có nghĩa là ông nội nói rằng gia đình của ông mà lên là nhờ ở Xương
là đứa cháu của ông)
Quý Lịch chi huynh viết Thái Bá tri thiên mệnh tại Xương thích Việt.
Theo lời nói anh của Quý Lịch là Thái Bá, đoán biết mệnh trời
nằm ở tại Xương nên bỏ đi qua Việt.
Câu này có nghĩa là khi Xương mới sanh, còn nhỏ, chưa làm vua, chưa thành lập nhà
Chu; nhà Chu chỉ được thành lập khi Xương lên ngôi lấy hiệu là Vũ Vương, còn trước đó
chỉ là một bộ lạc thông thường, trú đóng tại miền Tây Bắc của Trung Hoa mà thôi. Vậy mà
bác của Xương là Thái Bá đã biết nước Việt, khi Xương còn nhỏ, có nghĩa là nước Việt, hay
nói đúng hơn là tên "Việt" đã được biết đến trước khi có nhà Chu.
Vậy mà một học giả ở trên viết rằng người nhà Chu dùng từ Việt, có nghĩa là Vượt để gọi
những dân tộc người ở vùng Nam man có lối sống hỗn độn mà họ cho "có lối sống Vượt
ra ngoài vòng lễ giáo của nhà Chu".
Câu hỏi được đặt ra ở đây là tại sao bao nhiêu bộ lạc khác lại không đi qua, mà lại đi qua
Việt? Ông Thái Bá có thể sai, nhưng cha của ông là người biết rộng, làm sao có thể để con
đi vào chổ chết vì theo học giả ở trên nói là dân vùng Nam man (tức là dân Việt) sống
ngoài vùng lễ giáo và có lối sống hổn độn! Họ có thể giết con ông bất cứ lúc nào! Vậy việc
ông Thái Bá đi qua Việt, có phải là lúc đó tên Việt đã có một ảnh hưởng quá lớn không,
hay là vì tiếng vang của cái tên Việt nên ai cũng tìm tới. Thời đời nhà Thương, nhà Chu là
thời nhiểu nhương, loạn lạc, người ta muốn tìm một nơi tá túc thì phải coi nước mà mình
tìm đến đó như thế nào, có đủ khả năng để bảo vệ mình không?
Vậy tên "Việt" đã xuất hiện trước thời nhà Chu và đồng thời cũng có trước nhà Hán rất
lâu, vậy thì làm sao quả quyết là nhà Chu hay nhà Hán đặt tên Việt cho người Việt được?
Sử Trung Hoa còn rất nhiều nghi vấn cần phải đặt lại sau nầy.Bạn muốn tìm nguồn gốc
của dân Việt ư? Bạn phải tìm tài liệu viết trước đời Tần và Hán, vì hai triều đại nầy đã sửa
đổi tất cả sử liệu viết trên đất Trung Hoa theo ý họ rồi!
K. PHẢI HẢNH DIỆN XƯNG MÌNH LÀ VIỆT
Trong số năm học giả ở trên thì có hai học giả cảm thấy xẩu hổ khi xưng mình là Việt, và
đề nghị xưng mình là người Nam!
Sau khi tìm hiểu nguồn gốc chữ "Việt" tôi không thấy có gì là xấu hổ cả! Tổ tiên của
chúng ta đã có suy nghĩ rất kỹ khi đặt tên "Việt" cho dân tộc mình. Tên "Việt" đã được ghi
rõ ràng qua kinh điển và qua bằng chứng của khảo cổ trên những chữ khắc trên xương
và yếm rùa mà chúng ta gọi là sấm ngữ.
Khi nghiên cứu lại tiền sử của dân Việt, chúng ta sẽ đi từ ngạc nhiên nầy đến ngạc nhiên
khác, vì người ta viết không trúng về người Việt rất nhiều. Trong mỗi chặn sử của Trung
Hoa, đều có sự hiện diện của tiền nhân người Việt. Những di tích của người Việt còn để lại
trên đất Trung Hoa, những ảnh hưởng của người Việt còn tìm thấy qua khảo cổ, nhân
chủng học, ngôn ngữ học vv... ở trên đất Trung Hoa. Các học giả Trung Hoa đã đề xướng
"Chủ Thuyết Trung Nguyên" để tìm cách loại cái ảnh hưởng của tiền nhân người Việt ra
khỏi sử Trung Hoa, nhưng họ đã không làm được chuyện đó, vì lý do đơn giản là họ
không thể gạt bỏ Kinh Điển và những cổ thư mà khảo cổ đào được.
Đừng bao giờ nói như một học giả ở trên viết:... "Từ thời thượng cổ cho đến cận đại, dân
tộc mà ngày nay bị gọi là Việt Nam này không bao giờ chịu nhận mình là người Việt". Cái
lỗi ở đây là tại chúng ta không tìm hiểu cho cận kẽ, rõ ràng rồi tuyên bố không muốn
xưng mình là Việt, chứ tiền nhân của chúng ta vẫn gọi họ là người Việt. Cổ thư, kinh điển
đều ghi là Việt, là người Việt, bạn và tôi đâu có bịa những chuyện đó ra đâu.
Trước khi kết thúc tôi xin tóm tắt lại như sau:
1. Nói chữ Việt gồm bộ Tẩu với chữ Tuất là sai. Chữ Việt đúng là gồm bộ Tẩu và
chữ Việt. Có hai cái sai: thứ nhất là sai chữ. Các học giả trên đọc lộn chữ Việt ra chữ Tuất
. Cái sai thứ hai là các học giả trên không kiểm soát lại cái âm khi đọc để biết mình nói có
đúng hay không.
2. Không có ai, kể cả nhà Thương hay nhà Chu hoặc nhà Hán, đặt tên Việt cho
người Việt. Tên Việt là do chính tổ tiên của người Việt đặt cho dân Việt, bằng chứng từ
kinh điển và khảo cổ có cho biết là tên Việt đã có từ lâu đời.
3. Chữ Việt có hai nghĩa. Chữ Việt bộ Mễ là để nói, thời bình người Việt làm nghề
nông sanh sống, lúa gạo trữ trong kho. Chữ Việt bộ Tẩu là để nói, thời chiến người Việt
cầm vũ khí đi chống xâm lăng để giữ nước.
Chữ Việt mà người ta lầm tưởng là chó chạy, đã giải thích trật từ lâu lắm rồi, không phải
đợi tới các học giả trên viết ra mới biết là sai. Các học giả trên viết bài với tấm lòng yêu
nước, nhưng chỉ lập lại cái trật của những người đi trước mà thôi.Thật ra, tôi lấy năm tài
liệu nầy để làm cái cớ mà đính chính và giải thích chữ "Việt", chứ không có ý chỉ trích ai.
Tôi xin cám ơn năm học giả trên đã cho tôi cơ hội, giải thích lại phần nào nguồn gốc của
người Việt. Nếu trong sự giải thích nầy có đều gì xúc phạm đến năm học giả trên, xin
miển thứ.
Trước khi kết thúc tôi xin lập lại câu nói của cụ Trần Trọng Kim ghi trong Việt Nam Sử
Lược: "Người trong nước có thông hiểu những sự tích nước mình mới có lòng yêu nước,
yêu nhà, mới biết cố gắng học hành, hết sức làm lụng, để vun đắp thêm vào cái nền
xã-hội của tiên-tổ đã xây dựng nên mà để lại cho mình". Tôi hy vọng bài viết nầy gíúp cho
bạn và tôi biết được một đôi chút sự-tích nước mình để cho khỏi tủi quốc hồn, tôi chỉ có
ước mơ đơn giản vậy thôi.
Lê Văn Ẩn
ÁNH SÁNG MỚI TRÊN MỘT QUÁ KHỨ LÃNG QUÊN
Nguyên tác “New Light on a Forgotten Past”
của Tíến Sĩ WILHELM G SOLHEIM II
Giáo Sư Nhân Chủng Học Đại Học Hawaii
National Geographic, Vol. 139, No. 3
Tháng 3 năm 1971
Người dịch: HOÀNG-HOA-NHÂN-KIỆT
Lời người dịch: Khi chúng tôi còn lớp nhì, lớp nhất bậc tiểu học, thầy chúng tôi là một
người cách mạng, người đã từng lưu lạc qua Trung-Hoa, đã kể cho chúng tôi một câu
chuyện rất lý thú. Từ ngày đó cho đến nay đã gần 50 năm, không lúc nào chúng tôi quên
được. Câu chuyện như sau: Khi cách mạng dân quốc của Trung-Hoa chưa thành công,
lãnh tụ Tôn-Dật-Tiên qua cầu viện nước Nhật, tại đây Tôn-Dật-Tiên có gặp ngài
Khuyển-Dưỡng-Nghị (một chính khách Nhật cũng là một nhà mạnh thường quân của cách
mạng Việt-Nam), trong câu chuyện hàn huyên, khi đề cập tới Việt-Nam, Tôn-Dật-Tiên đã
bĩu môi chê dân tộc Việt-Nam, họ Tôn nói với ngài Khuyển-Dưỡng-Nghị như sau:
“Dân An-Nam là một dân tộc nô lệ, trước họ nô lệ chúng tôi, nay họ nô lệ người Pháp, họ
là một dân tộc có đầu óc nô lệ làm sao giúp họ độc lập được”
Ngài Khuyển-Dưỡng-Nghị đã cắt lời Tôn-Dật-Tiên như sau:
“Tôi xin được phép ngắt lời ngài ở đây, ngài đã có những nhận xét không đúng về dân tộc
đó(dân tộc Việt-Nam: lời người dịch), bây giờ họ thua người Pháp vì họ không có khí giới
tối tân chống lại người Pháp, mai sau khi họ có khí giới tối tân họ sẽ đánh bại người Pháp
(lời tiên đoán này đúng với chiến thắng Điện-Biên-Phủ sau này). Ngài nên nhớ rằng dân
tộc Lạc Việt này là một chi duy nhất còn lại của Bách Việt đã chống lại sự đồng hóa của
người Trung-Hoa giữ nền độc lập của tổ tiên họ trong khi các chi Việt khác như Mân Việt
đã bị đồng hóa cả ngàn năm”
Khi nghe tới đây, Tôn-Dật-Tiên đỏ bừng mặt xin lỗi ngài Khuyển-Dưỡng-Nghị và xin cáo
lui. Tôn-Dật-Tiên xấu hổ vì Tôn-Dật-Tiên là người Quảng Đông (Mân Việt).
Trong thập niên qua ( thập niên 1960 : lời người dịch), thế giới quay sự chú ý về miền
Đông Nam Á nhưng sự chú ý này chỉ dồn về cuộc chiến Việt-Nam. Những ảnh hưởng
nặng nề của những biến cố quân sự đã làm lu mờ những khám phá đáng ngạc nhiên về
thời cổ sử của vùng này cũng như các dân tộc sống ở đó.
Nhưng trong trường kỳ, những khám phá này, chính yếu là những khám phá mới về
khảo cổ, sẽ ảnh hưởng hơn cả cuộc chiến hay kết cuộc của cuộc chiến về đường lối
chúng ta (người Tây phương: ghi chú của người dịch) suy nghĩ về vùng Đông-Nam-Á, về
các dân tộc sống trong vùng này, cảm nghĩ của các dân tộc bản địa về chinh họ.
Ngay cả địa vị người Tây phương và vị trí của trong cuộc tiến hóa của nền văn minh thế
giới sẽ bị ảnh hưởng một cách trầm trọng. Những dấu hiệu mạnh mẽ và rõ ràng đang kết
tụ cho thấy những giai đoạn đầu tiên để hướng về văn minh bắt đầu từ vùng Đông Nam
Á.
Người hoàn tất tiền sử mang các đầu mối như bình gốm cổ 5000 năm từ NON NOK THA
trong miền đông bắc Thái-Lan và các nhà truy tầm khảo cổ đi tìm câu trả lời cho câu hỏi,
“Nơi nào nền văn minh bắt đầu?”. Tiến sĩ SOLHEIM II (hình trên) được những nhà tiền sử
học đặt danh hiệu là ÔNG ĐÔNG NAM Á đặt giả thuyết cách mạng trên những trang giấy
này cho rằng những người ĐÔNG NAM Á có thể là những người đầu tiên làm ra đồ gốm,
mài và đánh bóng những dụng cụ bằng đá, trồng lúa, và đúc đồng.
NƠI NÀO LÀ NƠI ĐẦU TIÊN LOÀI NGƯỜI TRỒNG TRỌT CÂY TRÁI VÀ ĐÚC ĐỒNG?
Các sử gia Âu Mỹ thường lập luận rằng nền văn minh nhân loại đã bắt rễ từ vùng bán
nguyệt Cận Đông hay trên những vùng đồi phụ cận của miền này. Ở đó, từ lâu chúng ta
tin rằng con người nguyên thủy đã phát triển canh nông và học cách làm đồ gốm, đồ
đồng. Khoa khảo cổ đã hổ trợ niềm tin này một phần vì các nhà khảo cổ đã đào xới, khai
quật nhiều nhất vùng bán nguyệt Cận Đông mầu mỡ này. Tuy nhiên, những khám phá
bây giờ ở trong miền Đông Nam Á đang buộc chúng ta phải khảo nghiệm lại các truyền
thống này. Các vật liệu được khai quật và phân tích trong năm năm qua đã cho thấy rằng
con người sống ở vùng Đông Nam Á đã trồng cây, làm đồ gốm, đúc đồng trước tiên trên
thế giới, trước tất cả cá vùng khác trên trái đất này.
Những chứng cớ đến từ những địa điểm khảo cổ trong vùng đông bắc và tây bắc
Thái-Lan, với những tiếp trợ từ những khai quật ở Đài-Loan, Bắc và Nam Việt-Nam, các
khu vực khác ở Thái-Lan, Mã-Lai, Philippine, và ngay cả từ miền Bắc Australia cho thấy
các vật liệu được khám phá và khảo nghiệm bằng carbon 14 cho thấy rằng những di tích
của những dân tộc mà tổ tiên họ đã trồng cây, chế tạo đồ đá, đồ gốm hàng ngàn năm
trước các dân tộc sống ở vùng Cận Đông, Ấn-Độ, và Trung-Hoa.
Trong một địa điểm khai quật ở bắc Thái-Lan, các nhà khảo cổ đã tìm thấy đồng được đúc
trong những khuôn đôi vào khoảng từ 2300 năm đến hơn 3000 năm trước tây lịch. Đây là
bằng chứng cụ thể cho thấy công việc đúc đồng này đã có trước cả Trung-Hoa hay
Ấn-Độ, cũng như trước cả các đồ đồng đúc ở miền Cận Đông mãi tới bây các chuyên gia
vẫn còn tin là nơi luyện kim đồng đầu tiên trên thế giới.
Có người nêu ra lý do hỏi rằng nếu sự việc này quá quan trọng như vậy tại sao vai trò của
vùng Đông Nam Á cùng các dân tộc trong vùng trong thời tiền sử không được biết đến
cho tới bây giờ. Có vài lời giải thích về việc này nhưng lý do chính rất đơn giàn là rất ít
cuộc khảo cứu về khảo cổ được hoàn tất trước năm 1950. Ngay cả bây giờ công việc khảo
cổ mới tiến hành một cách sơ lược. Các viên chức thuộc địa đã không đặt ưu tịên cao về
các khảo cứu của thời tiền sử ở vùng này chỉ có một số ít người nghiên cứu về công việc
khảo cổ được huấn luyện về nghề nghiệp cẩn thận. Không một phúc trình toàn bộ nào về
các địa điểm khai quật được chấp nhận theo tiêu chuẩn hiện đại được xuất bản trước năm
1950. Thứ nữa là những điều các nhà khảo cổ tìm ra đã được diễn dịch trên một giả
thuyết là sự phát triển văn hóa được đông tiến và nam tiến.
Các nhà chuyên môn này đã nêu ra lý thuyết cho rằng nền văn minh nhân loại bắt đầu
trong vùng Cận Đông lan ra vùng Nhĩ Hà, Ai-Cập và sau đó là Hy-Lạp và La-Mã. Nền văn
minh cũng di chuyển đông tiến tới Ấn-Độ và Trung-Hoa. Đông Nam Á thì quá xa điểm khởi
thủy do đó chỉ tiếp nhận nền văn minh sau các vùng trên.
Các người Âu châu tìm ra các nền văn hóa cao ở Ấn-Độ và Trung-Hoa, do đó khi họ tìm ra
các kiến trúc và lối sống của các quốc gia trên và miền Đông Nam Á giống nhau, người Âu
châu cho rằng Ấn-Độ và Trung-Hoa ảnh hưởng vùng này. Ngay cả tên họ đặt cho vùng là
Ấn –Trung cũng phản ảnh lại thái độ của họ.
NHỮNG DI DÂN VÀ “NHỮNG ĐỢT SÓNG VĂN HÓA”
Trong mụcđích tìm về thời tiền sử ở Đông Nam Á, chúng tôi (tiến sĩ SOLHEIM II) cho rằng
văn minh Đông Nam Á phải được trải rộng ra tới những khu vực có các nền văn hóa liên
hệ. Từ ngữ tiền sử Đông Nam Á mà tôi (tiến sĩ SOLHEIM II) sử dụng chứa đựng hai phần.
Phần thứ nhất hay là phần đất chính Đông Nam Á được trải dài từ rặng núi Tần-Lĩnh phía
bắc sông Hoàng-Hà của Trung-Hoa cho tới Singapore và từ miền Đông hải tây tiến tới
Miến-Điện vào tận Asssam của Ấn-Độ. Phần khác được gọi là quần đảo Đông Nam Á đánh
một vòng cung từ quần đảo Andaman ở miền nam Miến-Điện trải dài tới Đài-Loan bao
gồm Indonesia và Philippine.
Nhà nhân chủng học người Áo ROBERT HEINE-GELDERN xuất bản đại cương truyền
thống về thời tiền sử ở Đông Nam Á vào năm 1932. Ông ta đã đề xướng một loạt những
đợt sóng văn hóa có nghĩa là những làn sóng người di cư đã đem tới Đông Nam Á những
chủng tộc chính đã được tìm thấy ngày nay ở khu vực này.
Ông ROBERT HEINE-GELDERN cũng cho rằng đợt di dân quan trọng nhất là đợt di dân
của những người đã chế ra một dụng cụ hình chữ nhật được gọi là cái rìu. Những người
di dân trong đợt sóng này đã đến từ miền bắc Trung-Hoa di cư xuống Đông Nam Á và lan
xuống miền Sumatra, Java, Borneo, Philppines, Đài-Loan và Nhật-Bản.
Sau đó ông ROBERT HEINE-GELDERN đã giải quyết về sự du nhập đồ đồng vào Đông
Nam Á như sau: ông ta giả thuyết cho rằng đồ đồng nguyên thủy ở Đông Nam Á được du
nhập từ Đông Âu khoảng 1000 năm trước tây lịch do những di dân. Ông ROBERT
HEINE-GELDERN tin rằng những di dân trong đợt di dân này di chuyển vào phía đông và
phía nam vào Trung-Hoa vào thời Tây Châu (khoảng từ năm 1122 – năm 771 trước tây
lịch). Những di dân này đã đem đi với họ không những chỉ có các kiến thức về chế tạo
đồng, họ còn đem tới nghệ thuật kỷ hà mới với các đường thẳng, đường xoắn ốc, tam
giác cùng hình người và thú vật.
Nghệ thuật này đã được ứng dụng trong toàn vùng Đông Nam Á được cả hai ông
ROBERT HEINE-GELDERN và BERNHARD KARLGREN (môt học giả Thuỵ-Điển) gọi là nền
văn hóa ĐÔNG SƠN theo tên Đông Sơn, một địa điểm ở miền bắc Việt-Nam, phía nam
Hà-Nội, nơi mà các trống đồng lớn cùng các cổ vật khác được tìm thấy. Hai ông
HEINE-GELDERN và KARKGREN đều cho rằng người dân Đông Sơn đã đem đồng và nghệ
thuật trạm trổ kỷ hà vào Đông Nam Á.
Hình trống đồng ĐÔNG-SƠN được chế tạo từ thế kỷ thứ ba hay sớm hơn tại ĐÔNG-SƠN,
phía nam HÀ-NỘI, bắc VIỆT-NAM.
Phần lớn thời tiền sử được tái tạo theo truyền thống đó nhưng có một đôi điều đã không
phù hợp với truyền thống này. Thí dụ như một số nhà thực vật học nghiên cứu về nguồn
gốc thuần hóa của cây cỏ đã đề xướng là Đông Nam Á là một trung tâm thuần hóa cây cỏ
rất sớm.
Năm 1952, nhà địa chất học CARL SAWER đã đi một bước xa hơn. Ông CARL SAWER đã
đưa ra giả thuyết là cây cỏ đầu tiên trên thế giới được thuần hóa ở Đông Nam Á. Ông
SAWER đã phỏng đoán rằng cây cỏ được thuần hóa được mang tới do những người sống
trong nền văn hóa trước thời kỳ văn hóa Đông Sơn xa. Những người dân sống trong trong
một nền văn hóa nguyên thủy được biết đến như là nền văn hóa HÒA-BÌNH nhưng các
nhà khảo cổ thời đó đã không chấp nhận lý thuyết này của ông CARL SAWER.
NHỮNG ĐẬP NƯỚC ĐÃ THÊM VÀO MỘT YẾU TỐ KHẨN CẤP
Khoảng những năm 1920, bà MADELEINE COLANI, một nhà thực học Pháp sau trở thành
nhà nghiên cứu Cổ Sinh Vật Học và cuối cùng trở thành nhà Khảo Cổ là người đầu tiên đặt
ra sự hiện hữu của nền văn hóa HÒA BÌNH. Bà COLANI căn cứ trên những khai quật của
những hầm và động đá ở những địa điểm trong miền Bắc Việt-Nam, những hầm và hang
đá này được tìm thấy trước tiên ở ngôi làng trong tỉnh Hòa-Bình.
Những cổ vật tiêu biểu trong những địa điểm này bao gồm những dụng cụ bằng đá hình
bầu dục, hình tròn, hay hình tam giác được mài dũa một bên, một bên để nguyên. Những
đá mài xinh sắn được tìm thấy ở phần lớn các địa điểm khai quật cùng với nhiều vụn đá.
Những tầng trên của của các hầm và động đá thường để giữ các đồ gốm và một ít dụng
cụ bằng đá khác với đầu để sử dụng thì sắc bén. Xương thú vât và một số lượng lớn vỏ sò
cũng hiện diện.
Các nhà khảo cổ nghĩ rằng đồ gốm cùng với các dụng cụ của nền văn hóa HÒA-BÌNH xuất
hiện ngẫu nhiên và do những người có một nền văn hóa cao hơn sống gần đó chế tạo có
thể là những nông dân đã di cư từ miền bắc xuống. Các nhà khảo cổ cũng nghĩ rằng
những dụng cụ đá mài được học từ người bên ngoài. Nhưng không có địa điểm nào của
những nông dân phía bắc được tìm thấy.
Năm 1963, tôi (tiến sĩ SOLHEIM II) đã tổ chức một đoàn liên hợp khảo cổ cấp thời phối
hợp giữa BỘ NGHỆ THUẬT THÁI-LAN và ĐẠI HỌC HAWAII để làm công việc cứu vớt khảo
cổ ở những khu vực sẽ bị lụt do công việc xây dựng những đập nước mới trên sông CỬU
LONG và những chi nhánh của sông này. Chúng tôi (tiến sĩ SOLHEIM II) phải bắt đầu làm
việc trong miền bắc THÁI-LAN, nơi những đập nước đầu tiên được xây dựng.
Không có một hệ thống khảo cứu về thời tiền sử ở vùng này được HÒAn tất. Tôi (tiến sĩ
SOLHEIM II) cảm thấy cần khẩn cấp bắt đầu hàng loạt khai quật trước khi vùng này chìm
ngập dưới nước.
NHỮNG NGẠC NHIÊN ĐẾN TỪ MỘT GÒ ĐẤT KHÔNG ĐÁNG QUAN TÂM
Trong mùa khảo cứu dã ngoại đầu tiên chúng tôi (tiến sĩ SOLHEIM II) đã xác định vị trí
của hơn hai mươi địa điểm, trong mùa thứ hai đoàn đã khai quật một vài nơi của các địa
điểm này trong khi thử nghiệm các nơi khác; trong năm 1965-1966, chúng tôi (tiến sĩ
SOLHEIM II) đã làm một cuộc khai quật chính ở NON NOK THA. Trong lúc thử nghiệm với
đồng vị phóng xạ carbon-14 để xác định thời gian của các cổ vật hiện ra vài vấn đề,
chúng đã đề xướng một cách mạnh mẽ là có dấu hiệu của sự liên tục về đời sống của con
người (với vài sự ngắt quãng) đi ngược về thời gian trước năm 3500 trước tây lịch.
NON NOK THA là một gò đất rộng khoảng sáu mẫu Anh (acre) nhô lên các ruộng lúa bao
quanh khoảng sáu bộ Anh (foot). Trong khi làm việc tại đó, chúng tôi (tiến sĩ SOLHEIM II)
sống ở làng BAN NA DI, cách gò đất khoảng một hai trăm mét.
Chúng tôi (tiến sĩ SOLHEIM II) làm việc bốn tháng tại nơi khai quật đầu tiên. Ông
HAMILTON PARKER thuộc đại học OTAGO, nước TÂN-TÂY-LAN chịu trách nhiệm trong
năm đầu tiên. DONN BAYARD, một sinh viên học trò của tiến sĩ SOLHEIM II, trở lại NON
NOK THA trong năm 1968 để làm cuộc khai quật thứ hai cho luận án tiến sĩ của ông ta. Từ
đó hai đại học OTAGO và HAWAII đã liên tục yểm trợ cho công việc của đoàn liên hợp
khảo cổ như một chương tình liên kết phối hợp với bộ NGHỆ THUẬT THÁI-LAN.
Những kết quả của các cuộc khai quật cho tới bây giờ (năm 1971: lời người dịch) đi vào
năm thứ 7 đã làm kinh ngạc nhưng mới chỉ mở ra một cách chậm chạp khi những phân
tích của chúng tôi tìm ra từ phòng thí nghiệm ở HONOLULU. Ngay khi chúng tôi (tiến sĩ
SOLHEIM II) bắt đầu nhận kết quả đồng vị phóng xạ CARBON-14 định vị thời gian, chúng
tôi bắt đầu nhận thức rằng địa điểm này là một địa điểm thực sự mở ra một cuộc cách
mạng của ngành khảo cổ.
Trong một mảnh gốm vỡ vụn nhỏ hơn 1 inch vuông, chúng tôi đã tìm ra dấu vết của vỏ
trấu. Từ thử nghiệm phóng xạ đồng vị CARBON ở một mức trên mảnh gốm này, chúng tôi
(tiến sĩ SOLHEIMM II) được biết rằng hạt gạo này có niên đại ít nhất là 3500 năm trước tây
lịch. Điều này chứng tỏ rằng lúa gạo đã được trồng tại đây trước cả Trung-Hoa hay
Ấn-Độ, nơi một vài nhà khảo cổ cho rằng là nơi thuần hóa lúa gạo đầu tiên, cả ngàn năm.
Từ CARBON phóng xạ đồng vị của than liên hệ, chúng tôi (Tiến sĩ SOLHEIMM II) biết rằng
những rìu đồng đúc trong những khuôn đôi bằng sa thạch được làm ra ở NON NOK THA
sớm hơn 2300 năm trước tây lịch có thể là 3000 năm trước tây lịch. Đây là hơn 500 năm
trước kỹ thuật đúc đồng ở Ấn-Độ, và 1000 năm trước khi đồng được biết đến ở
Trung-Hoa. Địa điểm này cũng chứng tỏ là lâu đời hơn những địa điểm ở Cận Đông vẫn
được coi là nơi chế tác đồng đầu tiên.
Khuôn chữ nhật mà chúng tôi (tiến sĩ SOLHEIM II) tìm thấy ở NON NOK THA đều theo cặp
đôi, chỉ rõ ràng chúng được đặt chung với nhau ở nơi chúng tôi (tiến sĩ SOLHEIM II) tìm ra
chứ không phải bị thất lạc hay vứt bỏ. Quan tâm toàn thể khu vực và những lò nấu kim
loại bị hư hỏng và những cục đồng nhỏ vương vãi chúng tôi (đoàn tiến sĩ SOLHEIM II)
không còn nghi ngờ gì nữa chúng tôi đã khai quật một khu vực đúc đồng, hay chính xác
hơn một nhà máy làm rìu cổ.
Những phần của gia súc được chôn chung với những mộ cổ xưa ở NON NOK THA. Những
phần này đã được nhận ra như gia súc tương tự như loái bò có u. Điều này chứng tỏ
những gia súc đã được thuần hóa sớm ở Đông Á Châu.
CHESTER GORMAN, một sinh viên của tôi ở trường đại học HAWAII, là người xác định vị trí
của NON NOK THA bằng cách tìm ra những mảnh gốm đã bị soi mòn trên gò đất. Năm
1965, anh ta trở lại Thái-Lan cho luận án tiến sĩ của anh ta. CHESTER GORMAN muốn thử
nghiệm lại giả thuyết do CARL SAWER và các nhà khảo cổ khác cho rằng người dân thuộc
nền văn hóa HÒA-BÌNH đã thuần hóa cây cỏ. Anh ta đã khám phá ra HẦM TINH THẦN
(SPIRIT CAVE) ở xa về phía bắc biên giới Thái-Lan và Miến-Điện, tại đây CHESTER
GORMAN đã tìm ra được những gì anh ta muốn tìm.
HẦM CỦA THẦN CHẾT LÀM VỮNG CHÃI CÁC NIÊN HIỆU
HẦM TINH THẦN (SPIRIT CAVE) trồi lên cao bên cạnh lớp đá vôi nhìn xuống dòng suối
chẩy vào sông SALWEEN ở Miến-Điện. Hầm này được dùng như một hầm mộ do đó được
mang tên là hầm mộ.
Khi khai quật sàn của hầm mộ, CHESTER GORMAN đã tìm thấy những phần còn lại của
cây cỏ hóa than bao gồm hai hạt đậu Hòa-Lan, củ năng (water chestnut), hột ớt, nhũng
đoạn dây bầu bí và dưa chuột tất cả những vật này kết hợp với những dụng cụ bằng đá
đặc trưng của người dân có nền văn hóa HÒA –BÌNH.
Các mảnh xương của thú vật được cắt ra từng miếng nhỏ không thấy dấu vết cháy chứng
tỏ rằng thịt đã được nấu chín tại đây chứ không phải nướng trên ngọn lửa, thịt được sào
trong những đồ vật bằng tre xanh vẫn thấy dùng ở Đông Nam Á ngày nay.
Một loạt khảo nghiệm bằng đồng vị phóng xạ Carbon 14 cho thấy các vật liệu tìm ra ở đây
có niên hiệu từ khoảng 6000 năm cho tới 9700 năm trước tây lịch. Vẫn còn những cổ vật
xưa hơn nằm trong những lớp đất đào sâu hơn chưa xác định được thời gian. Vào khoảng
6600 năm trước tây lịch, các cổ vật này đã được đưa vào địa điểm này. Những cổ vật này
bao gồm đồ gốm hoàn chỉnh, sắc xảo và được đánh dấu bằng những sợi dệt trong tiến
trình chế tạo, cùng những dụng cụ bằng đá hình chữ nhật được đánh bóng và những
lưỡi dao nhỏ. Các dụng cụ và cây cỏ được thuần hóa thuộc nền văn hóa Hòa-Bình được
tiếp tục khám phá ra gần đây.
Chúng tôi (Tiến Sĩ SOLHEIM II) quan tâm đến những khám phá tại hầm TINH THẦN
(SPIRIT CAVE) ít nhất như là bước khởi đầu để bổ sung cho giả thuyết của CARL SAWER,
những cuộc thám hiểm khác đang thêm những chứng cớ của một sự trải rộng và phức
tạp của nền văn hóa HÒA-BÌNH. Ông U AUNG THAW, giám đốc cơ quan khảo cổ
Miến-Điện đã khai quật trong năm 1969 một địa điểm đáng lưu ý thuộc nền văn hóa
HÒA-BÌNH tại những hầm mộ PADAH-LIN ở phía đông Miến-Điện. Địa điểm này chứa
đựng nhiều vật khác trong đó có nhiều họa phẩm. Đây là địa điểm xa nhất về hướng tây
thuộc nền văn hóa HÒA-BÌNH được báo cáo.
Những cuộc khai quật ở Đài-Loan do một đoàn thám hiểm hỗn hợp của ĐẠI HỌC QUỐC
GIA ĐÀI LOAN và ĐẠI HỌC YALE dưới sự hướng dẫn của giáo sư KWANG-CHIH-CHANG
thuộc ĐẠI HỌC YALE đã tìm ra một nền văn hóa với những hình dây và những đồ gốm sắc
bén, dụng cụ bằng đá đánh bóng, và những phiến đá mỏng được đánh bóng đã xuất
hiện từ lâu khoảng 2500 năm trước tây lịch.
Hình nắp bình đựng tro người chết bằng đồng trong thế kỷ thứ hai trước tây lịch từ
Vân-Nam, Trung-Hoa diễn tả dân làng trong một buổi lễ giết người tế thần.
VẤN ĐỀ KHÓ GIẢI QUYẾT ĐƯỢC SẮP XẾP PHÙ HỢP VỚI NHAU
Tôi (Tiến Sĩ SOLHEIM II) đã tóm tắt ý kiến về những cuộc khai quật mới cùng những niên
hiệu tại đây và các nơi khác, tôi đã không chú ý tới việc nghiên cứu sự tái thiết thời tiền sử
ở Đông Nam Á, trong một ngày nào đó có lẽ hai việc này cũng quan trọng ngang nhau.
Trong một số bài viết được xuất bản, tôi (Tiến Sĩ SOLHEIM II) đã bắt đầu về việc này.
Hầu hết những ý kiến đó, tôi (Tiến Sĩ SOLHEIM II) đề xướng ra như là giả thuyết hay
phỏng đoán. Những giả thuyết hoặc phỏng đoán này cần được khảo cứu nhiều thêm để
chấp nhận hay bác bỏ.
Trong số những giả thuyết này:
• Tôi (Tiến Sĩ SOLHEIM II) đồng ý với SAWER là những người dân thuộc nền văn
hóa HÒA-BÌNH là những người đầu tiên trên thế giới đã thuần hóa cây cỏ ở một nơi nào
đó trong vùng Đông Nam Á. Việc này cũng chẳng làm tôi (Tiến Sĩ SOLHEIM II) ngạc nhiên
nếu sự thuần hóa này bắt đầu sớm nhất khoảng 15000 năm trước tây lịch.
Tôi (Tiến Sĩ SOLHEIM II) đề nghị những dụng cụ bằng đá được tìm thấy ở miền bắc
Australia được đo bằng phóng xạ đồng vị Carbon 14 có niên hiệu khoảng 20000 năm trước
tây lịch thuộc về nền văn hóa HÒA-BÌNH nguyên thủy.
• Trong khi những niên hiệu sớm nhất của những đồ gốm này được biết tới ở Nhật
vào khoảng 10000 năm trước tây lịch, tôi (Tiến Sĩ SOLHEIM II) kỳ vọng rằng khi nhiều địa
điểm với những đồ gốm chạm trổ hình dây được xác định niên hiệu, chúng ta sẽ tìm ra
những người này đã làm ra những loại đồ gốm chắc chắn trước 10000 năm trước tây lịch,
và có thể họ đã phát minh ra cách làm đồ gốm.
• Truyền thống tái tạo thời tiền sử cua Đông Nam Á cho rằng các di dân từ miền
Bắc đem những phát triển quan trọng về kỹ thuật đến vùng Đông Nam Á. Thay vào đó tôi
(Tiến Sĩ SOLHEIM II) đề nghị nền văn hóa của kỷ nguyên thứ nhất tân thạch khí (sau thời
đồ đá) ở bắc Trung-Hoa được biết đến như là nền văn hóa Yangshao thoát thai từ một
nền văn hóa phụ thuộc văn hóa HÒA-BÌNH di chuyển lên phía bắc từ phía bắc của Đông
Nam Á vào khoảng thiên niên kỷ thứ 6 hoặc thứ 7 trước tây lịch.
• Tôi (Tiến Sĩ SOLHEIM II) đề nghị nền văn hóa sau đó được gọi là văn hóa
Lungshan. Đã được phát triển từ nam Trung-Hoa và di chuyển về hướng bắc thay vì đã
được giả thuyết là nền văn hóa này lớn mạnh từ văn hóa Yangshao và bùng nổ về hướng
đông và đông nam. Cả hai nền văn hóa này đều thóat thai từ văn hóa HÒA-BÌNH.
• Thuyền làm bằng thân cây có thể được sử dụng trên sông ngòi Đông Nam Á
trước Thiên niên kỷ thứ năm. Có thể không lâu trước 4000 trước tây lịch cây cân bằng
được phát minh ở Đông Nam Á thêm vào sự cân bằng cần thiết để đi biển. Tôi (Tiến Sĩ
SOLHEIM II) tin rằng phong trào đi khỏi khu vực bằng thuyền bắt đầu khoảng 4000 năm
trước tây lịch dẫn đến các cuộc du hành ngẫu nhiên từ Đông Nam Á tới Đài-Loan và
Nhật-Bản, đem tới Nhật kỹ thuật trồng khoai môn và các hoa mầu khác.
• Vào một khoảng thời gian nào đó trong thiên niên kỷ thứ ba trước tây lịch,
những cư dân Đông Nam Á, bấy giờ là những chuyên viên sử dụng thuyền bè, đã đi tới
những đảo ở Indonesia và Philippines. Họ đã đem cả một nghệ thuật kỷ hà gồm những
đường soắn ốc, hình tam giác, hình chữ nhật trong những kiểu mẫu được dùng trạm trổ
trong đồ gốm, đồ gỗ, hình xâm, quần áo bằng vỏ cây, và sau đó là vải dệt. Những mỹ
thuật kỷ hà này được tìm thấy ở trên các đồ đồng ĐÔNG-SƠN và đã được giả thuyết là tới
từ Đông Âu.
• Người dân Đông Nam Á cũng di chuyển về phía tây tới Madagascar khoảng 2000
năm về trước. Điều này xuất hiện như là một cống hiến quan trọng của họ trong sự thuần
hóa cây cỏ cho nền kinh tế Đông Phi Châu.
• Cũng khoảng thời gian này, sự liên lạc giữa Việt-Nam và Địa Trung Hải bắt đầu
có thể bằng đường biển như là kết quả của phát triên giao thương. Một vài đồ đồng khác
thường được tìm thấy ở ĐÔNG SƠN đã được giả thuyết có nguồn gốc Địa Trung Hải.
QUÁ KHỨ CÓ THỂ GIÚP THẮP SÁNG HIỆN TẠI
Cách tái kiến trúc thời tiền sử Đông Nam Á được tôi (Tiến Sĩ SOLHEIM II) trình bày ở đây
căn cứ trên dữ kiện từ một ít địa điểm khai quật và một sự giải thích lại dữ kiện cũ. Nhiều
sự diễn giải khác có thể có được. Nhiều khai quật phong phú, nhiều niên hiệu phong phú
ở các địa điểm khai quật đều cần thiết cho thấy nếu đây là cái sườn của công việc tổng
quát căn bản này cho được gần hơn với sự tái kiến trúc của HEINE-GELDERN thời tiền sử
ở Đông Nam Á. Burma và Assam tuyệt nhiên không được biết đến trong tiền sử, tôi (Tiến
Sĩ SOLHEIM II) nghi ngờ chúng là một phần quan trọng của thời tiền sử Đông Nam Á.
Hầu hết những điều cần thiết là nhiều chi tiết hơn về những khu vực nhỏ có những đặc
tính riêng biệt. Tăng cường sự khảo sát trong những khu vực nhỏ bằng cách hợp tác việc
phát triển văn hóa địa phương và sự chấp nhận tiến hóa môi sinh tìm xem cách sống của
người dân phù hợp với sườn của thời tiền sử. Sau cùng, đây là người dân chúng ta (Tiến
Sĩ SOLHEIM II và đoàn thám hiểm cua ông) muốn tìm hiểu, và điều thăm dò này có thể
giúp chúng ta vài sự thông suốt trong sự phản ứng giữa những người dân Đông Nam Á
với nhau và với những đổi thay của họ trong vùng Đông Nam Á.
HOÀNG-HOA-NHÂN-KIỆT
Dịch xong lần đầu năm 1995, sửa chữa và hoàn tất ngày 24 tháng 4 năm 2002
• Ánh Sáng Mới Trên Một Quá Khứ Lãng Quên * H.H. Nhân Kiệt
• New light On a Forgotton Past * Wilhelm G. Solheim II, Ph.D.
Tìm lại cội nguồn tổ tiên,
cội nguồn văn hoá
Hà Văn Thùy
Trong hoàn cảnh toàn cầu hóa và hội nhập ngày nay, trước nguy cơ bị xâm lăng văn hóa,
thấy trên các phương tiện truyền thông đại chúng và cả những chỉ thị nghị quyết nói
nhiều đến cụm từ bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Nhưng không hiểu sao có cảm tưởng
là, người ta càng nói nhiều thì sự việc càng rối tung rối mù lên, đến nỗi chẳng ai hiểu văn
hóa dân tộc là gì! Từ đó mà biết bao việc làm tùy tiện lộn xộn, cái đáng bỏ thì giữ, cái
đáng giữ lại bỏ... ruột bỏ ra da ôm lấy... cười ra nước mắt!
Thiết tưởng sở dĩ có chuyện trống đánh xuôi kèn thổi ngược như vậy chính bởi vì chưa có
được sự thống nhất trong hai nhận thức cơ bản: 1/ Dân tộc Việt Nam là ai? 2/ Văn hóa
Việt Nam là gì?
Không phải là nhà nghiên cứu lịch sử nhưng là người có trách nhiệm với văn hóa dân tộc,
tôi xin thử bàn về hai vấn đề trọng đại này. Rất mong quý vị cao minh chỉ giáo.
Cội nguồn tổ tiên
Xin không nói tới cái thời bọn học trò thò lò mũi tụi tôi học trong sách sử ký: Tổ tiên ta là
người Gô-loa vì nó quá khôi hài. Chỉ xin nhắc lại quan điểm của Trường Viễn Ðông bác cổ
(E.F.E.O) phổ biến vào những năm 20 thế kỷ trước được công bố trong Tập san của
trường (B.E.F.E.O) mà tiêu biểu là của học giả Pháp, ông H. Mansuy: “Người Hòa Bình có
mặt trên đất nước Việt Nam vào khoảng từ 5000 đến 3000 năm TCN... coi như chưa biết
gì về nông nghiệp và chăn nuôi, không biết gì về gốm...” “Ðá mài đã có vào thời Bắc Sơn,
nhưng ít được sử dụng.” Và: “Nghệ thuật đá mài có vai trò rất tiêu biểu cho văn hóa
Austro Asiatique, được dùng nhiều ở miền Trung Ðông Dương. Người ta đã cho là những
rìu mài này được nhập cảng từ Tây Tạng, Giang Nam bên Tàu, vì chúng cũng có ở Hoa
Nam, Ấn Ðộ, Nhật Bản, Ðại Hàn...” Những dụng cụ đá mài hình dĩa là của văn hóa Úc từ
Tàu truyền xuống...” Cách nhìn ấy của những bậc thầy khai hóa đã dẫn tới nhận định
sau: “Văn minh Việt Nam hoàn toàn từ lưu vực sông Dương Tử di chuyển xuống vào thế
kỷ thứ IV TCN. Dân mới đến định cư tại Bắc Việt hiện thời đã mang theo một thứ văn hóa
lai Tàu để rồi dần dần trở nên mô thức bản xứ.(!)” [1]
Ý tưởng trên lại được củng cố bằng giả thuyết khoa học từng thống trị cho đến tận hôm
nay:
“Khoảng 500.000 năm trước, loài người từ châu Phi thiên di tới vùng Trung Ðông. Từ đây
một nhánh rẽ hướng Tây thành người da trắng châu Âu. Nhánh tới vùng cao nguyên
Thiên Sơn thành người da vàng châu Á. Nhánh này chia làm hai: một bộ phận vượt lên
phía Bắc sông Hoàng Hà thành tộc người Mông Cổ. Một bộ phận rẽ sang Ðông chiếm lĩnh
phần đất từ sông Hoàng Hà tới sông Dương Tử thành người Việt. Người Mông Cổ du mục
vượt sông Hoàng chiếm đất và xua đuổi người Việt nông nghiệp chạy xuống phía Nam.
Trong quá trình hàng vạn năm như thế, người Việt lai với người Hán và tới thế kỷ thứ IV
TCN thì bộ phận này tràn vào vùng đất ngày nay có tên là Việt Nam!” [2]
Những điều giáo huấn như vậy của “người thầy khai hóa” đã dần dần ăn sâu vào tiềm
thức của lớp trí thức khoa bảng Việt và rồi đến lượt mình, họ truyền giảng cho người dân
những tín điều như thế! Kim Ðịnh là một thí dụ. Ông là người có kiến thức uyên bác cùng
những suy nghĩ táo bạo mới mẻ, từng là thần tượng của học sinh sinh viên miền Nam
những năm 70 thế kỷ trước. Nhưng trong cuốn Việt lý tố nguyên ông viết:
“Văn minh cổ thạch ở Hòa Bình: gồm những đồ đá có đục lỗ (một điểm chưa hề thấy nơi
khác) thuộc giống người Mêlanê cùng giống người Mã Lai sống vào lối 12.000-10.000
Tr.dl. Ðây là thời đang chuyển mình từ cựu thạch (đồ đá rất thô) sang tân thạch...” [3]
“Cách đây lối dăm mười ngàn năm có một nhóm dân từ Tây Bắc tiến dần xuống phía
Ðông Nam và lan tỏa khắp nước Tàu. Trong đoàn người mênh mông đó có từng người
chỗ này, từng gia tộc chỗ kia ở những thời khác nhau, vì những lý do rất phức tạp (loạn
lạc đói kém) tiến mãi xuống miền Cổ Việt và trải qua thời gian dài từng nhiều ngàn năm
đã lập ra một nước mà ngày nay ta gọi là Việt Nam.” [4]
Quan niệm sai lầm đó đã bao trùm khoa học lịch sử nước ta suốt thế kỷ XX. Nguyên nhân
của sai lầm này chủ yếu do người trí thức Việt quá tin “sách dạy” của người thầy đầu tiên
nên không chịu cập nhật những kiến thức mới.
Năm 1932, tức là 40 năm trước khi học giả Kim Ðịnh viết những dòng trên thì khảo cổ học
thế giới đã đánh giá lại về Văn hóa Hòa Bình: tuổi của Hòa Bình không phải 10-12.000
năm mà lên đến 16.000 năm TCN và là trung tâm nông nghiệp và công nghiệp đá sớm
nhất thế giới!
Phát hiện khảo cổ này có ý nghĩa rất lớn về lý luận và thực tiễn. Nó đặt ra hai câu hỏi:
• Con người tiền sử đã đến Việt Nam (Sơn Vi 30.000 năm TCN và Hòa Bình 16.000
năm TCN) bằng con đường nào?
• Con người hiện đại đang sống trên đất nước Việt Nam có quan hệ gì với chủ
nhân Văn hóa Sơn Vi, Hòa Bình?
Theo Gs Nguyễn Ðình Khoa: “Thời đại Ðá mới, cư dân trên lãnh thổ Việt Nam thuộc hai
đại chủng Australoid và Mongoloid cùng với các loại hình hỗn chủng giữa chúng cộng cư
với nhau, trong đó Indonesien và Melanesien là hai thành phần chủ yếu... Sang thời đại
Ðồng- Sắt, người Mongoloid đã là thành phần chủ thể trong khối cư dân Việt Nam, người
Australoid mất dần đi trên đất nước này, hoặc do thiên cư hoặc do đồng hóa.” [5]
Nhận định này có hàm ý cho rằng: vào thời đại Ðồng-Sắt, một bộ phận lớn người
Mongoloid từ phía Bắc tràn xuống khiến cho yếu tố Mongoloid chiếm ưu thế trong cộng
đồng dân cư Việt Nam. Và vì thế quan hệ giữa người Việt hiện đại với chủ nhân Văn hóa
Hòa Bình chưa được xác quyết!
Như vậy là cho đến tận hôm nay chúng ta vẫn chưa trả lời được hai câu hỏi cơ bản
NGƯỜI VIỆT NAM LÀ AI? TỪ ÐÂU ÐẾN?(!) Không biết cội nguồn xuất xứ làm sao biết gốc
gác tổ tiên, làm sao biết bản sắc văn hóa? Dường như nghìn năm qua cả dân tộc mò mẫm
trong đêm tối của nghi ngờ mặc cảm về cội nguồn?!
Những năm gần đây, nhờ phát triển của công nghệ gene nên bài toán tìm về cội nguồn
của một số tộc người được giải theo phương pháp di truyền học. Có lẽ hăng hái hơn cả
trong việc này là người Hán. Nhiều trường đại học lớn ở Bắc Kinh, Thượng Hải kết hợp với
đồng nghiệp người Hán của họ tại những đại học danh tiếng ở Mỹ làm việc trong chương
trình nghiên cứu lớn “Chinese Human Genetic Diversity Project” (Dự án tính đa dạng di
truyền của người Hán). Dự án này đưa lại những kết quả khả quan.
1. Năm 1998, Gs Chu và đồng nghiệp thuộc Ðại học Texas phân tích từ 15-30 mẫu
micriosatellites (mtDNA) để thử nghiệm sự khác biệt di truyền trong 24 nhóm người Hán, 4
nhóm Ðông Nam Á, 2 nhóm thổ dân Mỹ, 1 nhóm thổ dân Úc, 1 nhóm thuộc New Guinea
và 4 nhóm da trắng Caucase.
Kết quả phân tích cho thấy:
o Các sắc dân Ðông Nam Á tập hợp thành một nhóm di truyền.
o Nhóm dân có đặc tính di truyền gần gũi với dân Ðông Nam Á là thổ dân Mỹ sau
đó là người Úc và New Guinea.
o Ðặc điểm di truyền của người Hán miền Bắc không giống người Hán phương
Nam.
Từ đó Gs Chu và đồng nghiệp đưa ra mô hình: Các dân tộc Bắc Á được tiến hóa từ Ðông
Nam Á và kết luận: Tổ tiên các nhóm dân Ðông Á ngày nay có nguồn gốc từ Ðông Nam Á.
Kết luận này cũng cho rằng, tổ tiên của những người nói tiếng Altaic ở phía Bắc Trung
Quốc cũng từ Ðông Nam Á lên chứ không phải từ ngả Trung Á sang. [6]
Tuy nhiên, nghiên cứu của Gs Chu có điểm yếu là chỉ dựa vào mtDNA, một nhân tố di
truyền rất mẫn cảm nên không bền vững, dễ bị đột biến có thể dẫn đến kết quả sai lạc.
2. Khắc phục nhược điểm trên, một nhóm nghiên cứu khác dựa trên nhiễm sắc thể
Y (Y- chromosome) để khảo sát nhóm người Hán ở 22 tỉnh Trung Quốc, 3 nhóm dân Ðông
Bắc Á, 5 nhóm Ðông Nam Á (Campuchia, Thái Lan, Mã Lai, Batak, Java) và một số nhóm
ngoài châu Á.
Kết quả nghiên cứu ghi nhận: mức độ biến thiên đa hình thái (polymorphic variation)
trong nhóm Ðông Nam Á cao hơn Ðông Bắc Á.
Phân tích di truyền quần thể (population genetics) đã đưa đến kết luận: Con người di cư
từ châu Phi sang Ðông Nam Á khoảng 60.000 năm trước và sau đó di chuyển lên Bắc Á,
Siberia. Các nhóm dân Polynesian (Ða đảo) cũng có nguồn gốc từ Ðông Nam Á. [7]
3. Một nghiên cứu khác dùng 5 gene trong nhiễm sắc thể Y để khảo sát 2 nhóm
dân Bắc Á (Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, Mông Cổ) và Nam Á (Indonesia, Philippine, Thái
Lan, Việt Nam) cho thấy người Việt gần với nhóm dân Bắc Á (nhất là Hàn quốc) hơn là các
nhóm Nam Á. [8]
4. Trong một nghiên cứu dùng mtDNA, Ballinger cho thấy chỉ số đa dạng sinh học
(F-value) ở người Việt cao nhất trong các sắc dân Ðông Nam Á. Từ đây ông đưa ra kết
luận: Người châu Á có nguồn gốc từ dân Mông Cổ phương Nam. [9]
5. Nhà khoa học người Mỹ gốc Hán Lý Huỳnh (Li Jin) của Trường Ðại học Tổng hợp
Texas tại thành phố Houston qua công trình khảo sát nhân tố microsatellites lặp lại liên tục
trong chuỗi xoắn DNA của 43 nhóm người Hán phân bố khắp châu Á đã đưa ra kết luận:
o Khoảng 100.000 năm trước, Homo Sapiens (con người khôn ngoan) từ châu Phi
thiên di tới Trung Ðông. Từ Trung Ðông một nhóm rẽ sang phía Ðông đi qua Pakistan, Ấn
Ðộ rồi men theo bờ biển Nam Á. Nhóm người này đến Ðông Nam Á vào khoảng 60 đến
70.000 năm trước. Họ nghỉ ngơi ở đây khoảng 10.000 năm rồi một bộ phận đi tiếp lên phía
Bắc tới Trung Hoa. Từ đây một bộ phận lên cao hơn nữa tới Siberia, băng qua eo biển
Bering tới Alasca vào châu Mỹ, thành người thổ dân châu Mỹ. [10]
6. Hai công trình của Peter Savolainen và Jenifer A. Leonard cùng đồng nghiệp phân tích
xương chó cổ tìm được ở Mexico, Perou, Bolivia... cho thấy rằng các loài chó được đưa vào
châu Mỹ trước thời Columbus đều bắt đầu từ giống chó Âu-Á. Tổ tiên chó nhà là chó sói
Ðông Nam Á bởi vì phân tích DNA cho thấy chỉ số đa dạng di truyền trong các loài chó
Ðông Nam Á cao hơn nhiều so với loài chó ở châu Âu. Ðó có thể là từ con chó rừng duy
nhất được thuần hóa cách nay 15.000 năm. [11]
Kết luận này càng khẳng định ý kiến từ lâu của C. Darwin trong cuốn Nguồn gốc các loài
(Origin of species): Tất cả các giống gà nuôi trên thế giới đều có nguồn gốc từ gà rừng
Ðông Nam Á.
6. Trong cuốn sách “Địa đàng ở phương Ðông” (Eden in the East) bác sĩ Stephen
Oppenheimer từ những bằng chứng thuyết phục, cho rằng 8000 năm trước, do hồng
thủy, cư dân sống ở Ðông Nam Á di cư lên phía trên tạo nên đồ đá mới ở Trung Quốc.
[12]
Tổng hợp những công trình nghiên cứu trên, đưa ta đến nhận định sau:
1. Khoảng 100.000 trước, con người khôn ngoan Homo Sapiens từ châu Phi thiên di
tới Trung Ðông. Từ đây một nhánh rẽ về hướng Ðông qua Pakistan, Ấn Ðộ rồi men theo
bờ biển Nam Á đến lục địa Ðông Nam Á vào khoảng 70-60.000 năm. Nghỉ lại ở đây khoảng
10.000 năm sau đó hậu duệ của họ đi lên phía Bắc, tới Trung Quốc, đến Siberia rồi vượt
eo Bering đặt chân sang châu Mỹ khoảng 30.000 năm trước. Cũng từ Ðông Nam Á, một
nhánh đến Úc 50.000 năm trước và đến New Guinea 40.000 năm trước.
2. Hiện tượng người Việt gần với dân Bắc Á, nhất là Hàn Quốc (nghiên cứu 3) là lẽ
tự nhiên vì rằng cộng đồng Bách Việt sau khi khai phá lục địa Trung Hoa đã tràn ra biển
đến Nhật, Hàn Quốc. Người Nhật người Hàn hiện đại là hậu duệ của người U Việt trong
dòng Bách Việt. Với người Hàn còn có yếu tố lịch sử nữa: vào cuối thời Lý (thế kỷ XIII) Lý
Long Tường dẫn một đoàn di dân hoàng tộc khoảng 500 người sang tỵ nạn ở Hàn Quốc.
Ðoàn di dân này bổ sung nguồn gene Việt vào dòng máu Hàn.
3. Kết luận Người Châu Á có nguồn gốc người Mông Cổ phía Nam của Ballinger là
có cơ sở: Người tiền sử đến Ðông Nam Á gồm hai đại chủng: Monggoloid và Austroloid. Có
thể một nhóm người Mongoloid đi lên phía Bắc theo con đường Ba Thục rồi định cư ở Tây
Bắc Trung Quốc thành chủng Mongoloid phương Bắc. Người Hán là một nhánh của chủng
tộc Mông Cổ này. Có thể muộn hơn ít nhiều, người Việt thuộc chủng Indonesien – sản
phẩm của hòa huyết giữa hai đại chủng Mongoloid và Australoid và là chủ nhân của Văn
hóa Sơn Vi, Hòa Bình đi lên khai phá lục địa Trung Hoa. Khoảng 2500 năm TCN người Hán
tràn xuống xâm lấn, dồn người Bách Việt trở về Nam. Trong khoảng thời gian nhiều nghìn
năm này có sự hòa huyết của người Hán dòng Mông Cổ phía Bắc với người Việt và các sắc
dân Ðông Nam Á khác nên yếu tố Mongoloid trong dân cư phía Nam tăng lên. Khi người
Việt trở lại Việt Nam, yếu tố Mongoloid trở nên ưu thế, yếu tố Australoid bị thu hẹp. Còn ở
mạn nam sông Trường Giang do người Bách Việt đông mà người Hán Mông phía Bắc ít
nên trong cuộc hòa huyết giữa hai tộc người, người Hán phía Bắc bị người Indonesien
đồng hóa trở thành sắc dân Mông Cổ phương Nam, trong máu có ít nhiều yếu tố
Australoid. Ðó là lý do làm cho gene của người Hán phương Bắc không giống với người
Hán phương Nam.
4. Kết luận của nghiên cứu số 2: biến thiên đa hình thái (polymorphic variation) của
người Nam Á cao hơn Bắc Á và nghiên cứu số 4: Chỉ số đa dạng sinh học (F-value) của
người Việt cao nhất trong nhóm dân Ðông Nam Á . Hai kết luận này cho thấy người Việt là
cư dân lâu đời nhất ở Ðông Nam Á cũng có nghĩa là lâu đời nhất ở Ðông Á.
5. Nghiên cứu số 6 nói về chó cũng là nói về người bởi những vật nuôi đó không
thể tự mình làm những hành trình vạn dặm như vậy. Chúng nằm trong tài sản của con
người trong bước thiên di. Ðiều này cũng thêm bằng chứng cho thấy người Ðông Nam Á
đã tới châu Mỹ ít nhất là15.000 năm trước.
* * *
Bằng chứng Di truyền học là đáng tin cậy, giúp cho chúng ta soi sáng những thành quả
đã có về tiền sử Ðông Nam Á. Nhưng để có bức tranh toàn cảnh của thời kỳ này cũng cần
sự tưởng tượng thông qua những giả thuyết.
S. Oppenheimer trong cuốn Địa đàng ở phương Ðông cho rằng, 60-70.000 năm trước, khi
người tiền sử đặt chân tới Ðông Nam Á thì lúc này đang trong thời kỳ biển thoái. Mực
nước biển thấp hơn hiện nay đến 130 m. Người ta có thể đi bộ tới châu Úc và những hòn
đảo ngoài khơi. Ðất liền Việt Nam kéo tới tận đảo Hải Nam. Ông gọi vùng đất ven biển Bắc
Bộ cùng đồng bằng sông Hồng là Lục địa Nanhailand. Người tiền sử đã quần tụ ở lục địa
này để đánh cá, hái lượm, săn bắt, chế tác gốm. Do khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm, cây cối
cũng như động vật sinh sản nhanh nên nguồn thức ăn dồi dào. Con người dễ dàng thuần
hóa thực, động vật và rất sớm sáng tạo nền văn minh nông nghiệp.
Khoảng 30.000 năm trước, từ đây có một bộ phận tiến vào vùng trung du phía Tây trở
thành chủ nhân Văn hóa Sơn Vi ở Sơ kỳ đồ đá mới.
Từ 18.000 năm trước, nước biển bắt đầu dâng, mỗi năm 1 cm. Dân cư Nanhailand buộc
phải di chuyển lên vùng đất cao phía Tây, làm nên Văn hóa Hòa Bình ở thời kỳ Ðồ đá giữa
có tuổi từ 18000 đến 7000 năm.
Khoảng 8000 năm TCN, do Ðại hồng thủy, nước dâng tới tận Việt Trì, Lục địa Nanhailand
bị nhấn chìm, tạo nên đợt di cư lớn của người Việt cổ lên vùng phía Tây và vùng Nam
sông Dương Tử.
Nanhailand có thể là trung tâm phát triển nông nghiệp và đồ gốm sớm nhất thế giới.
Nhưng tiếc rằng khi bị nhấn chìm, lục địa này không để lại dấu tích gì mà chỉ còn Sơn Vi,
Hòa Bình vừa muộn hơn vừa không phải là điển hình trung tâm. Chính vì vậy tại Hòa Bình
thiếu những bằng chứng khảo cổ cho thấy nền nông nghiệp phát triển sớm như nó phải
có là gốm cổ và hạt thóc.
Một giả thuyết khác có thể dọi chút ít ánh sáng vào tiền sử Ðông Nam Á là nghiên cứu của
Buckminster Fuller, một nhà địa lý kiêm toán học. Ông cho rằng, có thể tìm ra nguồn gốc
các nền văn minh căn cứ vào tỷ lệ thuận giữa trình độ văn hóa, di dân và mật độ nhân số.
Từ lý thuyết đó, ông lập bản đồ Dynaxion world Maps ( bản đồ động thái thế giới). Từ bản
đồ của mình, B. Fuller kết luận: duyên hải Ðông và Ðông Nam Á chỉ chiếm 5% diện tích
thế giới nhưng có tới 54% nhân loại đang sống. Từ tính toán của ông, người ta suy ra,
vào thiên niên kỷ IV-III TCN, người Việt có thể chiếm 15-20% dân số thế giới. [13]
Cố nhiên những trình bày trên chỉ là giả thuyết. Nhưng ít nhiều nó cũng cho ta cái nhìn
bao quát hơn về tiền sử vùng đất này.
Sau khi ngắm bức tranh toàn cảnh mang tính mơ mộng, ta trở lại với thực tại khoa học.
Trong những nền văn hóa từng có mặt trên đất Việt Nam, Văn hóa Hòa Bình có vị trí đặc
biệt, được khoa học khảo cổ thế giới xác nhận là trung tâm nông nghiệp và công nghiệp
đá cổ nhất thế giới. Trước đây thế giới cho rằng trung tâm nông nghiệp cổ nhất là ở
Lưỡng Hà có tuổi C14 là 7000 năm. Nhưng khi phát hiện ra 10.000 năm tuổi của động
thực vật được thuần dưỡng tại Hòa Bình thì thế giới chấn động và tâm phục khẩu phục
thừa nhận vai trò mở đầu của Văn hóa Hòa Bình. Năm 1932, Hội nghị Khảo cổ học quốc tế
về tiền sử Viễn Ðông xác nhận: “Văn hóa Hòa Bình là trung tâm phát minh nông nghiệp
và sản xuất nông nghiệp cùng chăn nuôi gia súc đầu tiên trên thế giới. Trung tâm nông
nghiệp Hòa Bình có trước vùng Lưỡng Hà 3000 năm.” [14]
Một phẩm chất nổi trội của Văn hóa Hòa Bình là kỹ thuật chế tác đá cuội. Ðá cuội là loại
đá cực rắn, nên việc ghè mài chúng rất khó khăn nhưng lại cần thiết cho việc chế tạo
những dụng cụ khác như cầy, cuốc, thuổng... bằng đá, một thứ “máy cái” như thường
nói sau này. Người Hòa Bình là cư dân dẫn đầu thế giới phát minh ra kỹ thuật này và sản
phẩm của Hòa Bình được xuất khẩu đi nhiều nơi. Hòa Bình còn là nơi sớm nhất trên thế
giới biết thuần dưỡng cây trồng và vật nuôi. Từ đây, lần đầu tiên trên thế giới cây lúa
nước và khoai sọ ra đời.
Học giả Hoa Kỳ W.G. Solheim II, Jorhman, Trương Quang Trực (Trung Quốc) và học giả
Nga N. Vavilow thừa nhận: “Ðông Nam Á mà chủ đạo là Việt Nam đã có một nền văn hóa
tiền sử phát triển rất sớm, tiên tiến và nhanh chóng, sáng tạo và sống động chưa từng
thấy ở nơi nào trên thế giới.” [15]
Học giả Hoa Kỳ C. Sawer viết trong cuốn Ðồng quê: “Ðúng là nông nghiệp đã tiến triển
qua hai giai đoạn mà giai đoạn đầu là Văn hóa Hòa Bình. Lúa nước đã được trồng cùng
lúc với khoai sọ.” [16]
Dường như thấy chưa đủ, ông viết tiếp trong cuốn Cội nguồn nông nghiệp và sự phát
tán: Tôi đã chứng minh Ðông Nam Á là cái nôi của nền nông nghiệp cổ nhất. Và tôi cũng
chứng minh rằng văn hóa nông nghiệp có nguồn gốc gắn liền với đánh cá bằng lưới ở xứ
này. Tôi cũng chứng minh rằng những động vật gia súc xưa nhất bắt nguồn từ Ðông
Nam Á, và đây là trung tâm quan trọng của thế giới về kỹ thuật trồng trọt và thuần dưỡng
cây trồng bằng cách tái sinh sản thực vật.” [17]
Và đây là ý kiến của ông W. G. Solheim II viết từ năm 1967:
“Tôi cho rằng khi chúng ta nghiên cứu lại nhiều cứ liệu ở lục địa Ðông Nam Á, chúng ta
hoàn toàn có thể phát hiện ra rằng việc thuần dưỡng cây trồng đầu tiên trên thế giới đã
được dân cư Hòa Bình (Việt Nam) thực hiện trong khoảng 10.000 năm TCN...”
“Rằng Văn hóa Hòa Bình là văn hóa bản địa không hề chịu ảnh hưởng của bên ngoài, đưa
tới Văn hóa Bắc Sơn.”
"Rằng miền Bắc và miền Trung lục địa Ðông Nam Á có những nền văn hóa tịến bộ mà
trong đó đã có sự phát triển của dụng cụ đá mài nhẵn đầu tiên của châu Á, nếu không
nói là đầu tiên của thế giới và gốm đã được phát minh...”
“Rằng không chỉ là sự thuần hóa thực vật đầu tiên như ông Sawer đã gợi ý và chứng
minh mà thôi, mà còn đi xa hơn, nơi đây đã cung cấp tư tưởng về nông nghiệp cho
phương Tây. Và sau này một số cây đã được truyền đến Ấn Ðộ và châu Phi. Và Ðông Nam
Á còn tiếp tục là một khu vực tiên tiến ở Viễn Ðông cho đến khi Trung Quốc thay thế xung
lực này vào nửa đầu thiên niên kỷ thứ 2 TCN, tức khoảng 1500 năm TCN.” [18]
Bốn năm sau, tháng 3/1971 nhà khoa học này từ những khảo sát ở Thái Lan lại viết trong
tạp chí National Geographic dưới nhan đề Ánh sáng mới dọi vào quá khứ bị lãng quên:
“Tôi nghĩ rằng những đồ đá sắc cạnh có sớm nhất tìm thấy ở miền Bắc châu Úc 20.000
năm TCN có nguồn gốc thuộc Hòa Bình.”
“Thuyết cho rằng tiền sử Ðông Nam Á đã di chuyển từ phương Bắc xuống, mang theo
những tiến triển quan trọng về nghệ thuật. Tôi thấy rằng văn hóa Sơ kỳ đá mới
(Proto-Neolithic) phía Bắc Trung Hoa gọi là Văn minh Yangshao (Ngưỡng Thiều) đã do
trình độ thấp Văn hóa Hòa Bình phát triển lên từ miền Bắc Nam Á vào khoảng kỷ nguyên
thứ VI hay V TCN.”
“Tôi cho rằng, văn hóa sau này được gọi là Lungshan (Long Sơn) mà người ta xưa nay vẫn
cho là nó xuất phát ở Yangshao phía Bắc Trung Hoa rồi mới bành trướng sang phía Ðông
và Ðông Nam, thì thực ra cả hai nền văn hóa ấy đều phát triển từ căn bản Hòa Bình.”
“Việc dùng thuyền độc mộc có lẽ đã được sử dụng trên các dòng sông nhỏ ở Ðông Nam Á
từ lâu, trước kỷ nguyên thứ V TCN. Tôi tin rằng việc di chuyển bằng thuyền ra ngoài biển
bắt đầu khoảng 4000 năm TCN, tình cờ đã đi đến Ðài Loan và Nhật Bản đem theo nghề
trồng khoai sọ và có lẽ các hoa màu khác.”
“Dân tộc Ðông Nam Á cũng đã di chuyển sang phía tây, đạt tới Madagascar có lẽ vào
khoảng 2000 năm TCN. Có lẽ họ đã cống hiến một số cây thuần dưỡng cho nền kinh tế
miền Ðông châu Phi.”
“Vào khoảng thời gian ấy có sự tiếp xúc đầu tiên giữa Việt Nam và Ðịa Trung Hải có lẽ qua
đường biển. Một số đồ đồng ít thông dụng xác chứng nguồn gốc Ðịa Trung Hải cũng đã
tìm thấy ở địa điểm Ðông Sơn.” [19]
Những nghiên cứu trên của các nhà khoa học trung thực mở cho thế giới và chúng ta
cách nhìn hoàn toàn mới về tiền sử của dân tộc Việt.
Những địa tầng văn hóa trên đất Việt Nam là liên tục. Chủ nhân của Văn hóa Hòa Bình là
hai chủng Australoid và Melanesoid. Tiếp theo Văn hóa Hòa Bình là văn hóa Bắc Sơn mà
chủ nhân thuộc về nhóm Indonesien và Melanesoid có tuổi từ 8000 đến 6000 năm TCN.
Sau cùng là văn hóa Ðông Sơn kéo dài từ khoảng năm 800 đến 111 TCN. Ðây là thời kỳ
phát triển rực rỡ của đồ đồng mà tiêu biểu là linh khí của người Việt: trống đồng. Trống
đồng tìm thấy trên địa bàn rộng lớn gồm lục địa Ðông Nam Á, từ Tứ Xuyên cho đến
MaLacca. Theo giáo sư Trung Quốc Lân Thuần Thanh thì “Bắt đầu khởi đúc trống đồng là
ở Trung Quốc Bách Việt mà Hoa Trung là địa khu từ xa xưa của dân Bách Việt. Trống
đồng nhiều nhất ở huyện Hưng Văn tỉnh Tứ Xuyên, còn ở bán đảo Ðông Dương thì trống
đồng Lạc Việt ở miền Bắc và miền Trung là có tiếng hơn cả. F. Heger gọi trống đồng Lạc
Việt thuộc hạng thứ nhất.” [20] Theo học giả Trung Quốc này thì khởi đúc trống đồng là ở
Trung Quốc Bách Việt. Ðiều đó chỉ đúng một nửa: Trống đồng ở Trung Nguyên do người
Việt đúc. Nhưng khởi đúc thì phải từ Ðông Sơn. Trống Ðông Sơn có trước trống Hưng Văn
mà phẩm chất vượt trội.
Theo hành trình gene và Khảo cổ học, chúng ta đã tìm ra con đường thiên di của tổ tiên:
Khoảng 40.000 năm TCN, tổ tiên người Việt từ Bắc Việt Nam cùng một số sắc dân Ðông
Nam Á khác đã lên sống trên lục địa Trung Hoa và tạo thành cư dân Trung Quốc cho đến
hôm nay. Ðấy là phát hiện mang tính cách mạng thay đổi hẳn quan niệm cũ: người Việt
phát nguyên từ Tây Bắc Trung Quốc thiên di về phía Ðông Nam.
Ðến đây lại nảy sinh vấn đề mới: giải thích ra sao cuộc tranh chấp giữa người Hán và
người Việt diễn ra hàng nghìn năm?
Giả định tình huống sau:
1. Khoảng 40.000 năm TCN, sau thời kỳ băng hà, khí hậu phía Bắc ấm dần lên, một
nhóm người Mongoloid sống bằng săn bắt hái lượm từ Ðông Nam Á di cư lên phía Bắc.
Theo dấu con mồi, họ đi vào vùng Ba Thục rồi tiến lên phía Tây Bắc Trung Quốc tạo thành
tộc người Mông Cổ phương Bắc. Việc tìm thấy xương người hiện đại tại Hoa lục 40.000
năm trước đã minh chứng điều này.
2. Cùng thời gian trên, nhiều nhóm người từ Ðông Nam Á mà số đông là người Việt
sinh ra do hòa huyết giữa người Mongoloid và Australoid thành chủng Indonesien đi lên
phía Bắc theo đường ven biển. Phương thức sống của những nhóm người này lúc đầu là
săn bắt hái lượm sau đó chuyển dần sang nông nghiệp. Việc thiên di diễn ra chậm chạp
nhưng liên tục thành nhiều đợt. Khoảng 30.000 năm trước, người Việt tới Siberia, vượt eo
biển Bering và chinh phục châu Mỹ. Bằng chứng là ngoài nguồn gene, họ đã mang theo
những con chó con gà được thuần dưỡng từ Hòa Bình. Những quan sát xã hội học ở sắc
dân Caduveo sống tại Tây Bắc Canada cho thấy ở họ có nhiều yếu tố giống người Trung
Hoa cổ đại như vai trò quan trọng của phụ nữ, hay là việc chú ý đến sự quân bình giữa
các nguyên lý khác nhau (Levi-Strauss –Tristes tropicques tr 196. Dẫn theo Kim Ðịnh - Cơ
cấu Việt Nho SG 1972 tr. 22), cũng như dân mạn Nam Trung Quốc lại có những nét giống
kỳ lạ với một vài sắc dân bên Mỹ (Tristes tropicques tr. 267). Người Trung Hoa cổ đại, dân
mạn Nam Trung Quốc là ai nếu không phải người Việt cổ đã mang theo văn minh Việt đến
vùng đất mới?
3. Khoảng 8.000 năm TCN, do Ðại hồng thủy, biển dâng tới tận Việt Trì, có một đợt
di cư ồ ạt từ ven biển lên phương Bắc và vùng đất cao phía Tây. Nhiều lớp người đến
Trung Hoa tập trung quanh vùng Thái Sơn rồi mở rộng ra tới lưu vực sông Hoàng Hà.
Người Việt khai thác vùng đất này theo hướng nông nghiệp tạo nên nền văn minh nông
nghiệp phát triển. Do sống trên địa bàn rộng và thời gian dài, nhóm người Việt này đã
phân hóa thành nhiều tộc Việt khác nhau, được sử sách gọi là Bách Việt. Khoảng 6000
năm TCN người Bách Việt làm nên văn minh Ngưỡng Thiều và sau đó Long Sơn (Việc tìm
thấy xương của người Mongoloid phương Nam tại các di chỉ trên chứng minh điều này.)
4. Khoảng 2500 năm TCN nhóm người Hán từ Tây Bắc tràn qua sông Hoàng Hà
xâm lấn đất của người Việt. Do ưu thế về sức mạnh võ trang của người du mục, người
Hán chiến thắng người Việt nông nghiệp và mở rộng vùng phân bố của mình. Thời kỳ này
được sử Trung Hoa gọi là Hoàng đế chiến Si Vưu. Trong khoảng 2000 năm trở lại đây, sự
bành trướng của người Hán trở nên mãnh liệt nhất, xảy ra ba đợt sóng tràn xuống phía
Nam, biến người Hán thành nhóm sắc tộc đông nhất thế giới [21] . Vốn người Mông Cổ
phương Bắc khả năng sinh sản thấp (như hiện nay còn thấy). Do hòa huyết với người Việt
đã tạo ra người Hán Mongoloid phương Nam có khả năng sinh sản cao, hơn hẳn người
Hán phương Bắc. Chính yếu tố này làm tăng nhanh dân số Trung Quốc.
Kết quả của tranh chấp Hán-Việt là phần lớn dân Bách Việt sống ở Trung Quốc bị Hán
hóa, duy nhất dân Lạc Việt trở về lại Việt Nam bảo tồn được bản sắc Việt. Tuy nhiên trong
quá trình này xảy ra sự hòa huyết với người Hán nên yếu tố Mongoloid vốn có trong máu
tăng lên.
Một câu hỏi khác được đặt ra: tổ tiên ta sống trên miền đất ấy như thế nào? Ðể giải câu
hỏi này, chúng ta dựa vào nguồn tư liệu khác: thư tịch cổ Trung Hoa.
Từ thư tịch Trung Hoa, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng tiền sử người Việt chia làm 3 thời
kỳ sau:
1. Thời kỳ Thái Sơn: còn gọi thời kỳ Tam hoàng gồm: Toại Nhân là vị vua phát minh
ra lửa, gọi là Thiên hoàng; Phục Hy là Nhân hoàng dậy cách chăn nuôi và làm ra bát quái
cùng vợ là Nữ Oa coi về thời tiết. Vua cuối cùng là Thần Nông dạy dân trồng lúa nên gọi
Ðịa hoàng. Sử Tàu ghi Thần nông truyền được 8 đời, kéo dài 530 năm. Thời kỳ này luôn
xảy ra chiến tranh với Hán tộc của Hoàng đế. Trong quyển Kỳ môn độn giáp đại toàn thư
có câu hát:Tích nhật Hoàng đế chiến Si Vưu, Trác Lộc kinh kim vị nhược hưu. (Ngày xưa
Hoàng đế đánh Si Vưu, cuộc chiến ở Trác Lộc đến nay còn chưa dứt – dẫn theo Kim
Ðịnh). Sử Tàu ghi trận Trác Lộc nổ ra vào năm 2500 TCN, Si Vưu là tên xấu mà người Hán
đặt cho Ðế Lai. Trong trận này Ðế Lai bị giết, Hiên Viên thắng, được tôn làm Hoàng đế.
Như vậy, dòng họ Thần Nông bắt đầu vào khoảng 3000 năm TCN.
2. Thời kỳ Ngũ Lĩnh: Cháu nội của Thần Nông là Ðế Minh sinh ra Ðế Nghi và Lộc
Tục. Ðế Nghi làm vua miền lưu vực sông Hoàng Hà còn Lộc Tục làm vua nước Xích Quỷ
phía nam sông Dương Tử, xưng là Kinh Dương vương. Ðế Nghi sinh Ðế Lai thay cha làm
vua phương Bắc. Lộc Tục sinh Sùng Lãm làm vua phương Nam, xưng là Lạc Long quân.
Ðế Lai liên minh với nước Xích Quỷ để chống Hán tộc, gả con gái là Âu Cơ cho Lạc Long
quân. Trong trận Trác Lộc, Ðế Lai tử trận. Bề tôi của ông theo Âu Cơ chạy xuống nước
Xích Quỷ. Lạc Long quân đem quân chạy ra biển. Thời kỳ này người Việt tập trung quanh
vùng Ngũ Lĩnh.
3. Thời kỳ Phong Châu: Lạc Long quân chạy ra biển, đi xuống phía Nam lập nước
Văn Lang tại vùng Phú Thọ ngày nay. [22]
Cho đến nay, toàn bộ hiểu biết về cội nguồn dân tộc Việt mới dừng lại ở đó.
Phải thừa nhận, việc chia tiền sử người Việt thành ba thời kỳ như trên là xác đáng. Ðó là
công lao của nhiều thế hệ sử gia Việt Nam đã chắt lọc ra từ huyền sử và thư tịch Trung
Hoa. Ðiều này giúp cho người Việt phần nào biết được nguồn cội tương đối gần của mình.
Tuy nhiên quan niệm trên cũng là hệ quả của cách nhìn nhận sai lầm truyền thống là tổ
tiên người Việt từ cao nguyên Thiên Sơn di chuyển về phía Ðông Nam vì vậy không chỉ
thiếu sót mà còn sai lạc. Sai lạc ở chỗ:
• Ðất phát tích của người Việt vốn từ miền Bắc Việt Nam, bị đẩy lên tận lưu vực
Hoàng Hà.
• Thời gian lịch sử của người Việt từ 60-70.000 năm rút lại còn 5-6000 năm.
Quan niệm lịch sử như thế cắt đứt quan hệ huyết thống của người Việt hiện đại với tổ tiên
hàng vạn năm trước và đương nhiên truất quyền thừa kế về mặt huyết thống của chúng
ta với văn hóa tiền sử: Sơn Vi, Hòa Bình, Bắc Sơn... Vì vậy trong tâm lý chung, chúng ta
chỉ dám nhận là người thừa kế về mặt lãnh thổ của những văn hóa tiền sử!
Trong khi đó, theo phát hiện mới thì:
• Tổ tiên người Việt phát tích từ miền Trung và miền Bắc Việt Nam, là cháu con
những người tiền sử từ Trung Ðông thiên cư theo bờ biển Nam Á đến Ðông Nam Á.
• Thời gian lịch sử của người Việt đứng chân trên đất Việt từ 60-70.000 năm trước.
Con đường thiên di lên phía Bắc ban đầu rồi sau đó trở về nguồn cho phép ta giải thích vì
sao trong máu người Việt yếu tố Mongoloid đậm lên: do hỗn huyết với tộc người Hán trong
thời gian ở lưu vực sông Hoàng Hà và Dương Tử.
Phát hiện mới cho phép chúng ta khẳng định:
Khoảng 40.000 năm trước, người Việt từ Việt Nam đi lên phía Bắc, tràn qua lục địa Trung
Hoa. Thời gian này không được nhắc tới trong huyền sử. Chỉ khoảng 5000 năm TCN tổ
tiên người Việt mới xuất hiện trong huyền sử với Toại Nhân, Phục Hy... cùng địa danh Thái
Sơn. Thái Sơn là trung tâm quần tụ của người Việt thời kỳ Bắc tiến, trước đây vẫn được coi
là đất phát tích của người Việt. Từ 2500 năm TCN, do cuộc đụng độ với Hán tộc, tiền sử
của người Việt lần đầu tiên được ghi lại bằng văn tự. Ðây cũng là thời kỳ người Việt bỏ
chạy khỏi Thái Sơn để lui xuống tụ cư tại vùng Ngũ Lĩnh. Tiếp đó do Hán tộc săn đuổi rốt
ráo hơn, người Việt từ Ngũ Lĩnh trở về Phong Châu. Khi Lạc Long quân đem quân dân Việt
đổ bộ vào Nghệ Tĩnh xây dựng thời đại Châu Phong là tổ tiên ta trở lại nơi phát tích của
mình, nhận vai trò người thừa kế hợp pháp cả về huyết thống cả về lãnh thổ của tổ tiên
người Việt. Một dòng lịch sử truyền nối liên tục không đứt quãng. Phát hiện này làm thay
đổi hoàn toàn quan niệm của chúng ta về cội nguồn và lịch sử dân tộc.
Trên đây là những nét lớn, có tính khái quát. Ði vào cụ thể, ta điểm qua vài chứng cứ
bằng văn tự như sau:
Theo cuốn sử sớm nhất của Trung Quốc là Sử ký thì chủng tộc Việt Nam bắt nguồn từ
nhà Hạ (2205-1770 TCN). Câu Tiễn (505- 465 TCN) vua nước Việt là hậu duệ của vua Hạ
Vũ. Nước Sở của Khuất Nguyên cũng là dòng Việt bởi vậy Khuất Nguyên mới ai oán tiếc
thương dòng giống Việt trong Sở Từ: Răng đen mình trổ dọc ngang. Xăm mình, cắt tóc
ngắn, nhuộm răng đen là đặc điểm của người Việt thời đó.
Trước đây, chúng ta mang mặc cảm là đám Tàu lai bị xua đuổi, liều chết chạy về Nam
theo bản năng sinh tồn nên vẫn cho mình là kẻ nhập cư trên đất đai người khác, nhất là
khi phát hiện ra trong huyết quản đậm phần máu Mongoloid. Trước những nền văn hóa
rực rỡ Hòa Bình, Bắc Sơn của người tiền sử, chúng ta cũng tự hào nhưng là niềm tự hào
vay mượn bởi mặc cảm của kẻ khác chủng tộc, không liên hệ gì đến chủ nhân của những
nền văn hóa đó!
Rồi chúng ta phát hiện ra rằng: tổ tiên ta từ đất nước Việt Nam đã mang gươm (rìu đá) đi
mở cõi khai thác mở mang đất nước Trung Hoa, tại đây xuất hiện vị tổ gần hơn là Thần
Nông vùng Thái Sơn từng giáo dân nghệ ngũ cốc. Tổ tiên đã mở đất, đã chiến đấu kiên
cường với kẻ xâm lấn rồi khi không thể ở lại được đã trở về mái nhà xưa. Chính những hậu
duệ đi xa trở về này do phải tiếp xúc, đối đầu với nền văn minh du mục, với kẻ địch mạnh
đã trở nên mạnh mẽ và khôn ngoan hơn. Ðiều khôn ngoan nhất mà các vua Hùng đem
đến cho người Việt phương Nam là tổ chức nhà nước. Chính nhà nước dù còn lỏng lẻo
này đã làm thay đổi về chất trong quan hệ của cộng đồng Việt: từ quan hệ bộ tộc chuyển
sang quan hệ quốc gia. Quan hệ này giúp các vua Hùng sáng tạo nên văn minh Ðông
Sơn rực rỡ và có được sức mạnh trong đấu tranh với kẻ thù.
Tới đây, tự nhiên nảy sinh câu hỏi: Vì sao cũng thời gian đó, số dân Bách Việt tăng nhanh,
phạm vi phân bố mở rộng ra mênh mông, trong khi người Mông Cổ số dân tăng không
đáng kể và chỉ loanh quanh mạn Bắc sông Hoàng Hà? (Bằng chứng xã hội học cũng như
di truyền không cho thấy người Mongoloid phương Bắc có mặt ở châu Mỹ).
Có thể lý giải điều này bằng 3 nguyên nhân: khí hậu, thổ nhưỡng, phương thức sống và
di truyền:
1. Khí hậu lạnh không tạo thuận lợi cho sinh sản. Dân số tăng chậm không đòi hỏi
mở rộng vùng phân bố.
2. Phương thức sống du mục nên người Mông sống bám vào đồng cỏ cao nguyên,
không có khả năng chinh phục miền đất ẩm thấp mạn Nam sông Hoàng.
3. Người Mông phương Bắc mang gen từ tổ tiên Mongoloid thiên di lên rất sớm nên
không kịp hòa huyết với chủng người khác, trong bộ gene tương đối thuần của họ mang
khả năng sinh sản thấp?
Từ đó có thể rút ra kết luận: việc xuống phía Nam hòa huyết với người Bách Việt mang
dòng máu Indonesien và trồng lúa nước mở ra vận hội lớn đối với người Hán, chẳng
những đã cứu họ thoát khỏi tình trạng sinh sản thấp như người Mông Cổ đồng chủng mà
còn cho họ hưởng nền văn minh nông nghiệp phát triển rực rỡ. Chính hai nhân tố này tạo
nên dân số đông đúc cùng văn hóa ưu tú của dân tộc Trung Hoa hiện đại.
Như vậy là một cách ngắn gọn, tôi đã trình bày một phần về CỘI NGUỒN TỔ TIÊN. Sở dĩ
chỉ dám nói một phần vì còn một câu hỏi vô cùng bức xúc chưa được trả lời: NHÀ TRIỆU
CÓ VAI TRÒ GÌ TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC VIỆT?
Từ khi giành lại quyền tự chủ, các triều đại Việt đều đề cao vai trò lịch sử của Triệu Ðà.
Nhà Trần phong ông là Khai thiên thế đạo thánh vũ thần triết hoàng đế. [23] Ðại Việt sử
ký toàn thư ghi: “Họ Triệu nhân lúc nhà Tần suy loạn, giết trưởng lại nhà Tần, chiếm giữ
đất Lĩnh Nam xưng đế, đòi ngang với nhà Hán, hưởng nước truyền ngôi 100 năm mới
mất, cũng là bậc vua anh hùng.” Sử gia Lê Văn Hưu nói: “Thế mới biết, người giỏi trị
nước không cứ đất rộng hay hẹp, người Hoa hay Di, chỉ xem ở đức mà thôi. Triệu Vũ đế
khai thác đất Việt ta mà tự làm đế trong nước, đối ngang với nhà Hán, gửi thư xưng là
“lão phu”, mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước ta, công ấy có thể nói là to lắm vậy.”
Trong An Nam chí lược, Lê Tắc viết: “Triệu Ðà làm vua Nam Việt, mới lấy thi lễ giáo hóa
nhân dân một ít.” Ðiều này chứng tỏ Triệu Ðà là người mang sự học đến nước ta từ trước
chứ không phải Sĩ Nhiếp. Ðến nhà Lê, trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi viết: Trải
Triệu, Ðinh, Lý, Trần nối đời dựng nước. Như vậy, Nguyễn Trãi thừa nhận Triệu Ðà là ông
vua đầu tiên của nước ta từ thời có sử.
Hàng ngàn năm, chính sử Việt Nam ghi nhận vai trò lịch sử lớn lao của nhà Triệu. Ðến thế
kỷ XVIII, Ngô Thì Sĩ (1726-1780) trong Việt sử tiêu án viết: “Nước ta bị nội thuộc vào nước
Tàu từ đời Hán đến Ðường, truy nguyên thủ họa chả Triệu Ðà thì còn ai nữa? Huống chi
Triệu Ðà chia nước ta làm quận huyện, duy chỉ biết biên số thổ địa, thu thuế má, cung
cấp ngọc bích cho nhà Hán, đầy túi tham của Lục Giả thôi. Ðến như việc xướng ra cơ
nghiệp đế vương trước tiên, tán tụng Triệu Ðà có công to, Lê Văn Hưu sáng lập ra sử
chép như thế, Ngô Sĩ Liên theo cách chép hẹp hòi ấy, không biết thay đổi, đến như bài
Tổng luận sử của Lê Tung, thơ vịnh sử của Ðặng Minh Khiêm thay nhau mà tán tụng, cho
Triệu Ðà là bậc thánh đế của nước ta. Qua hàng nghìn năm mà không ai cải chính lại vì
thế mà tôi phải biện bạch kỹ càng.” [24]
Cho đến nay, trong giới sử học, việc đánh giá Triệu Ðà vẫn có hai luồng ý kiến ngược
nhau. Là kẻ ngoại đạo không dám lạm bàn, tôi chỉ xin lục ra một số tư liệu lịch sử hầu bạn
đọc tham khảo.
Trong Sử ký, Tư Mã Thiên viết: “Vua Nam Việt họ Triệu tên là Ðà, người huyện Chân
Ðịnh, trước làm quan úy. Bấy giờ nhà Tần đã chiếm cả thiên hạ, cướp lấy đất Dương Việt,
đặt ra các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận để đưa những người bị đày đến ở lẫn
với người Việt. Như thế đã mười ba năm. Khi nhà Tần bị tiêu diệt, Ðà lập tức đánh chiếm
lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ vương. Ðà bèn tự tôn làm “ Nam
Việt Vũ đế”, đem quân đánh các ấp ở biên giới quận Trường Sa. Ðà nhân đó dùng uy lực
uy hiếp biên giới, đem của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc để bắt họ lệ thuộc
mình. Ðất đai của Ðà chiều ngang có hơn vạn đặm, Ðà bèn đi xe mui lụa màu vàng, cắm
cờ tả đạo, mệnh gọi là chế”, chẳng kém gì Trung Quốc.” “Ðến thời Hiếu Cảnh, Ðà vẫn
xưng thần, sai người vào chầu. Nhưng trong nước Nam Việt thì vẫn trộm xưng danh hiệu
“đế” như cũ; còn khi sai sứ sang thiên tử thì xưng “vương”, triều kiến thỉnh mệnh như các
chư hầu.” [25]
Triệu Ðà làm vua 70 năm (từ 207 đến 137 TCN), tiếp đó cháu chắt ông truyền 4 đời trị vì
27 năm nữa, đến năm 111 TCN nước Nam Việt vào tay nhà Hán. Nhà Triệu kéo dài được
97 năm.
Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Ðôn ghi: “Ðem số hộ khẩu chép ở sách Hán chí mà so thì
nước ta được ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, hơn 20 huyện, đời Hán số hộ cộng
là 143.743 nhà, số khẩu cộng là 981.827 người. Thông tính cả hai tỉnh ấy (Quảng Ðông,
Quảng Tây) ở đời Hán số hộ chỉ là 71.805 nhà, khẩu chỉ là 389.672 người. Như thế nước ta
ở đời Hán thì số hộ gấp đôi mà số khẩu gần gấp ba.” [26]
Như vậy, vào năm 220 TCN, nhà Tần chiếm đất của người Việt ở phía Nam sông Dương
Tử, và đưa những tội nhân người Hán đến ở chung với người Việt để thực hiện ý đồ lấn
đất. Do nhà Tần sụp đổ, thiên hạ đại loạn tạo cơ hội cho Triệu Ðà cát cứ. Tuy xưng vương
ở Phiên Ngung nhưng số dân của Triệu ít. Trong khi đó ở phía Nam, nước Âu Lạc của An
Dương vương khá mạnh, số dân gần gấp 3 số dân của Triệu. Bên cạnh Âu Lạc còn có các
nước Mân Việt, Tây Âu Lạc luôn tranh chấp. Nước Âu Lạc tuy lớn nhất trong khu vực
nhưng cũng quá nhỏ so với nhà nước phương Bắc. Nếu nhà Tần không sụp đổ đúng thời
điểm đó, có nhiều khả năng tằm ăn dâu, nhà Tần sẽ thôn tính đất Nam Việt. Một khả
năng khác: trong cuộc chinh phạt Nam Việt trị tội Triệu Ðà xưng đế, nếu tướng Lâm Lư
hầu thắng, nhà Hán chiếm Nam Việt ngay lúc đó, có phần chắc Nam Việt cũng bị đồng
hóa như các dòng Bách Việt khác. Khả năng thứ ba: nếu Triệu Ðà theo nhà Hán, sau khi
thôn tính Âu Lạc, sáp nhập Nam Việt vào Hán thì có phần chắc là Nam Việt bị xóa sổ trên
bản đồ!
Nhìn vào thực tế nước Âu Lạc của Thục Phán, ta thấy, Tục Pắn (tên Việt của Thục Phán)
là người Ba Thục thuộc nhóm Âu Việt trốn chạy nhà Tần đến nương nhờ Lạc Việt, đã
chiếm ngôi của vua Hùng, lập nên Âu Lạc. Ban đầu Thục Phán bị xem là kẻ thoán đoạt
cướp ngôi nên bị người Lạc Việt chống lại (sự tích xây Loa Thành bị đổ). Nhưng rồi sau do
chính sách cai trị khôn ngoan, nhất là sau hai lần đánh thắng quân Tần, đã được nhân
dân tín nhiệm. Về cuối đời do mất cảnh giác nên bị Triệu Ðà dùng mưu thôn tính. Ðúng là
Triệu Ðà dùng thủ đoạn chiếm nước Âu Lạc nhưng ý nghĩa của sự kiện lịch sử này cần
phải bàn. Thời đó, sự liên kết trong mỗi quốc gia còn lỏng lẻo và biên giới từng quốc gia
chưa ổn định, đang trong xu hướng sáp nhập tập trung thành những quốc gia đủ mạnh
để tồn tại. Việc thôn tính các nước Sở, Ngô, Việt... để thành nước Tần không phải hành
động xâm lược mà là công lớn thống nhất đất nước. Tương tự vậy, việc Triệu Ðà chiếm Âu
Lạc cũng không thể coi là cuộc xâm lược mà là hành động thống nhất những nhóm,
những tiểu quốc người Việt lại thành một nước Việt lớn hơn, ngăn chặn hành động thôn
tính của kẻ mạnh ở phương Bắc. Ðiều quan trọng là họ Triệu đã duy trì được nước Nam
Việt thống nhất trong gần một thế kỷ, vừa xây dựng trong hòa bình vừa kiên cường chống
ngoại xâm. Chính điều này đã tạo nên và củng cố tinh thần quốc gia của người Việt. Ðây
là di sản quý báu nhất họ Triệu để lại cho người Việt. Chính gần một thế kỷ tồn tại của
quốc gia Nam Việt giúp cho người Lạc Việt không bị người Hán đồng hóa và sau này có
dịp lại vùng lên trong khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Nếu không có may mắn một trăm năm
Nam Việt ấy, dám chắc người Hán sẽ diệt tiểu quốc của Triệu Ðà sau đó thôn tính Âu Lạc,
tộc Lạc Việt đã bị mất hút trong lịch sử như những dòng Việt anh em khác!
Các sử gia như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên... đã nhìn nhận công bằng và Nguyễn Trãi đánh
giá họ Triệu một cách chuẩn mực. Sử gia Ngô Thì Sĩ khi viết: “Triệu Ðà chia nước ta làm
quận huyện, duy chỉ biết biên số thổ địa, thu thuế má, cung cấp ngọc bích cho nhà Hán,
đầy túi tham của Lục Giả” đã tỏ ra bất cập. So với một quốc gia còn trong tình trạng
nguyên thủy với những lạc hầu lạc tướng cai quản từng bộ lạc thì một quốc gia có quận
huyện, biên số thổ địa là bước nhảy vọt về tổ chức hành chính, về khoa học quản lý xã
hội. Còn nói “thu thuế má cung cấp ngọc bích cho nhà Hán” cũng không đúng. Suốt 70
năm Triệu Ðà làm vua, quan hệ Việt Hán khá lỏng lẻo. Biết Triệu xưng đế mà nhà Hán
đành chịu, không những thế còn phải lấy lòng bằng cách giữ gìn mồ mả tổ tiên của Triệu,
cho thân nhân Triệu làm quan (Sử ký). Trong mối quan hệ như vậy, cống phẩm của Triệu
Ðà chỉ có nghĩa tượng trưng để xác nhận sự thần phục trên danh nghĩa nên không thể
làm đầy túi tham của Lục Giả, không thể so sánh với việc cống người vàng thời Trần-Lê
sau này. Rõ ràng, chứng lý đưa ra để kết tội Triệu Ðà là không thuyết phục. Nhưng vì sao
Ngô Thì Sĩ lại có cái nhìn việc thiếu chuẩn mực như vậy? Chỉ có thể là, với tinh thần dân
tộc hẹp hòi, ông không chịu một ông vua người Hán tộc! Trong lịch sử thế giới, một người
nước này làm vua nước khác không hiếm. Ngay bên chúng ta, tới cuối thế kỷ XVIII, vua
nước Xiêm là một người Trung Quốc tên là Trịnh Quốc Anh từng kéo quân sang đánh Hà
Tiên. Còn với chúng ta thì đúng Triệu Ðà là người Hán nhưng dân Nam Việt lúc đó hầu
hết là người Việt, vì vậy không thể phủ nhận việc ông là vị vua đầu tiên của nước Nam
Việt, ông vua khai sáng của Việt Nam chúng ta. Mặt khác, vợ ông là Trình thị người Ðường
Thâm Giao Chỉ nên con ông, Trọng Thủy ít nhất có nửa phần máu Việt, còn cháu ông là
Triệu Hồ có một phần máu Việt, đến Anh Tề, phần máu Việt cao hơn. Họ Triệu chẳng
những có công khai sáng Nam Việt mà ngày càng gắn bó bằng tâm hồn bằng máu huyết
với Tổ quốc mới của mình!
Trong khi viết những dòng này, rất may mắn tôi tìm trên mạng một thông tin bổ ích:
Năm 1983, trong khi đào móng dựng nhà, người ta phát hiện được tại đồi Ngung thành
Quảng Châu, kinh đô cũ Phiên Ngung thời Triệu lăng mộ của Nam Việt Triệu Văn vương
Triệu Hồ. Năm 1988 Bảo tàng Nam Việt vương được xây dựng trên địa điểm đó, gồm có
lăng mộ còn giữ một phần xương hàm nhà vua cùng khoảng 1000 hiện vật khác, trong đó
có quả ấn Nam đế hành tỷ bằng vàng. Như vậy ở thời làm chủ Nam Việt, Triệu Văn vương
vẫn xưng đế! Hiện vật này phủ nhận Sử Ký: khi lên thay Ðà, Hồ dấu ấn đế đi. Cũng phải
nói rằng, dù có là nhà sử học vĩ đại thì Tư Mã Thiên vẫn là người kỳ thị chủng tộc. Không
chỉ ở chi tiết trên mà còn ở cách gọi: dù viết thành liệt truyện thì ông vẫn gọi Triệu Ðà là
Nam Việt úy Ðà. Một danh xưng không thỏa đáng: chức úy chỉ do Nhâm Ngao làm chiếu
giả phong cho, còn chức huyện lệnh mới là danh chính ngôn thuận. Vậy tại sao lại dùng
cái danh không chính này để gọi nhân vật lịch sử mà không dùng danh khác, nhất là
danh vương, đế của một triều đại lừng lững kéo dài một trăm năm? Cũng một điều vô lý
nữa: tên bảo tàng được gọi là Tây Hán Nam Việt vương mộ bác vật quán (!)Tại sao lại gán
gép vô lối vậy? Hai nhà nước hai cương thổ khác nhau sao lại gộp làm một? Một sự xuyên
tạc trắng trợn lịch sử! [27]
Một câu hỏi cần phải trả lời gấp: Triệu Ðà ông là ai? Người Tàu không nhận ông là Tàu vì
ông là Nam Việt hiệu úy. Còn với người Việt ông bị coi là giặc Tầu xâm lược! Vậy ông là
ai?!
Ruột bỏ ra da ôm lấy từng là nỗi đau của bao người. Mồ cha không khóc lại khóc đống
mối từng là bi kịch của không ít gia đình, dòng họ... Nhưng vì những lầm lẫn mà chối bỏ
người sáng lập ra quốc gia, chối bỏ cả thời đại quan trọng trong lịch sử lại là nỗi đau nỗi
nhục của cả một dân tộc! Ðã đến lúc vụ án Triệu Ðà -Trọng Thuỷ phải được tính lại.
Cội nguồn văn hoá
Trong khi trình bày vấn đề cội nguồn tổ tiên, tôi đã phần nào nói tới cội nguồn văn hóa.
Ðấy là những nền văn hóa Sơn Vi, Hòa Bình, Bắc Sơn, Ðông Sơn... tổ tiên ta đã làm ra
trên đất Việt Nam. Một vấn đề cần làm rõ: trong khoảng thời gian hàng vạn năm sống ở
Trung Nguyên, người Việt đã sáng tạo ra những gì? Không làm ra những kỳ tích như Hòa
Bình, Bắc Sơn nhưng những người Việt xa quê này không ngừng sáng tạo: thuần hóa gia
súc, trồng lúa nước, làm ra đồ gốm, trong đó có cái chõ Tam biên (để đồ xôi) rất đặc
trưng rồi đúc trống đồng, đúc Cửu đỉnh. Người Việt ở đây cũng kết thằng tức bện dây làm
lưới đánh cá... Cùng với những văn hóa vật thể ấy, trong hàng vạn năm duy trì một xã hội
nông nghiệp ổn định, người Việt phương Bắc cũng sáng tạo nên nền văn hóa phi vật thể
phong phú. Ðó là những kinh nghiệm về thời tiết về cây trồng mà bà Nữ Oa là bậc thầy có
tài đội đá vá trời (cách nói hình tượng của việc quan sát nắm vững thời tiết), những kinh
nghiệm về đối xử với thiên nhiên, với hàng xóm láng giềng. Từ những vết chân chim in
trên phù sa, cha ông ta làm ra chữ viết: chữ kết nút, chữ hình con nòng nọc (chữ Khoa
đẩu), chữ hình ngọn lửa (Hỏa tự), dùng mu rùa bói toán... Hoài niệm về thời Nghiêu
Thuấn mà có lúc chúng ta cười giễu các cụ say giấc mơ Tàu thì thực ra lại chính là hồi
quang của lối sống Việt tận nguồn: thế giới đại đồng, con người hòa thuận với thiên
nhiên, sống với nhau nhân ái, dân chủ.
Khi tràn xuống Trung Nguyên, người Hán du mục bắt gặp một cuộc sống mới cùng nền
văn hóa mới. Khi kẻ xâm lấn tràn tới, thành phần quý tộc tinh hoa của các bộ tộc Việt bỏ
chạy về Nam, một bộ phận bất hợp tác thì vào rừng lẩn trốn thành người thiểu số còn đại
đa số dân Việt thích ứng với cuộc sống mới. Cuộc săn đuổi và trốn chạy diễn ra dài dài
trong lịch sử, kể đến nhiều nghìn năm. Trong thời gian dằng dặc ấy, chữ Việt ban đầu
được viết với bộ Mễ (lúa gạo – chỉ dân trồng lúa nước) bị kẻ chiến thắng đổi thành chữ
Việt với bộ Tẩu (vượt – chỉ người Việt chạy vượt qua sông Dương Tử). Trong khi đó người
Việt ở lại sống chung với quân xâm lược được gọi là Miêu. Do số dân quá ít, khi đối mặt với
kẻ chiến bại đông đảo, kẻ chiến thắng Hán tộc đã áp dụng thái độ ứng xử khôn ngoan với
tộc người Miêu này. Khác với người Aryen du mục khi chinh phục Ấn Ðộ đã áp chế người
bản địa Dravidiens bằng chế độ nô lệ hà khắc để lại những di họa đến bây giờ, người du
mục Hán tộc giữ vai trò lãnh đạo và chuyển sang làm thương nghiệp, công nghiệp còn để
cho người Miêu Việt làm công việc nặng nhọc là trồng trọt, chăn nuôi và đi lính. Lúc đầu
choáng ngợp trước cuộc sống sung túc và văn hóa khác lạ của dân nông nghiệp, người
du mục không chú ý lắm đến các vị thần, đến tín ngưỡng bản địa. Nhưng rất nhanh
chóng, cộng đồng dân cư bản địa quá đông đúc đã đồng hóa kẻ xâm lăng, cả về huyết
thống cả về văn hóa. Giai cấp lãnh đạo Hán tộc từ bỏ vật tổ truyền thống là con cọp trắng
để nhận vật tổ của người Miêu Việt là con rồng làm vật tổ của mình, nhận những ông vua
thời Tam hoàng, không chỉ nhân vật chính thống Hoàng đế mà cả Phục Hy, Thần Nông
làm tổ. Tiến một bước nữa, những trí thức Hán tộc kết hợp cùng trí thức Miêu Việt tiến
hành ghi chép những điều hay lẽ phải trong cộng đồng nông nghiệp Việt tộc để chế tác
kinh điển. Những kinh, thư đã ra đời như vậy. Trong Luận ngữ, Khổng tử nói: “Ngô thuật
nhi bất trước" (Ta chỉ ghi lại mà không sáng tác). Ðó là lời trung thực, nói lên đúng thực
chất những gì ngài đã làm. Kinh Thi bắt đầu từ sự sưu tầm ghi chép những câu ca tồn tại
từ lâu trong dân gian. Về nguồn gốc Kinh Dịch, người ta thường nói truyền thuyết con
long mã sông Hà dâng đồ, con rùa sông Lạc dâng thư nhưng thực ra đó là những kinh
nghiệm bói toán đã có từ lâu trong cộng đồng Việt miền lúa nước sông Hà sông Lạc mà trí
thức Hán tộc thâu lượm, nhuận sắc nâng cao lên... Rồi Kinh Lễ cũng là sưu tầm chọn lọc
những điều lễ nghĩa trong thiên hạ người Việt... Việc này làm nên nền văn minh cổ Trung
Hoa. Như vậy, trong văn hóa Trung Hoa, sự đóng góp của Việt tộc nông nghiệp là phần
chủ đạo, phần hồn phần cốt. Nhìn về thực chất, bên trong nền văn minh được đóng gói
dán nhãn Trung Quốc chế tạo ấy lại là sản phẩm của Việt tộc.
Ý tưởng về nhân tố Việt là chủ đạo trong văn hóa Trung Hoa hơn 30 năm trước đã được
học giả Kim Ðịnh nhiệt tâm trình bày trong loạt sách Triết lý An Vi như Việt lý tố nguyên,
Dịch kinh linh thể, Cơ cấu Việt Nho... của ông. Do lúc đó chưa biết con đường Bắc tiến
của người Hòa Bình nên ông phải chứng minh khá vất vả về sự tồn tại của văn hóa Việt
trên địa bàn Trung Nguyên. Khi bổ sung vào ý tưởng của ông phát kiến di truyền học hiện
đại là con đường thiên di lên phía Bắc của người Việt cổ thì mọi chuyện trở nên hiển
nhiên: người Việt phương Nam từng thiên cư lên, sống hàng vạn năm trên lưu vực Hoàng
Hà thì cố nhiên họ là chủ nhân của những địa tầng văn hóa như Ngưỡng Thiều, Long Sơn
hiện hữu nơi đó!
Những người Việt sống ở Trung Quốc làm nên phần cốt lõi của văn hóa Trung Hoa. Vậy
còn người Việt tại miền Ngũ Lĩnh, Giao Chỉ để lại thành tựu riêng gì? Các sách cổ Trung
Quốc như Giao Châu ký, Ngô lục địa lý chí, Nam phương thảo mộc trạng... đều ghi chép:
“Dân Lạc Việt trồng lúa mà ăn, dùng lá trà làm thức uống.” “Họ biết uống nước bằng lỗ
mũi” “Nuôi tằm mà dệt vải” “Dùng đất sét đào sâu trong đất, thái mỏng, phơi khô làm
thức ăn quý để đi hỏi vợ” “Dùng đá màu làm men gốm” “Dùng mu rùa mà bói việc tương
lai” “Họ dùng một khúc tre dài chừng hơn một thước, một đầu có trụ cao làm tay cầm, có
dây buộc vào trụ nối lại đàng kia làm đàn gọi là độc huyền cầm” “Họ đem tính tình các
con vật mà so sánh với người, rồi họ truyền tụng rằng, ngày thứ nhất trời sinh con chuột,
ngày thứ hai sinh con trâu, ngày thứ ba sinh con cọp (truyện thần thoại của người Dao,
gốc tích của 12 con giáp). Họ biết tìm hiểu các thức ăn nóng mát (thuyết âm dương) để trị
bệnh, dùng kim đâm vào da thịt lấy máu để trị bệnh, lấy đá hơ nóng áp vào da thịt để trị
bệnh.” Khi một môn đệ đi đến đất Việt, xin Ðức Khổng tử chỉ dạy, Ngài nói: “Người Bách
Việt miền Nam có lối sống, tiếng nói, phong tục, tập quán, thức ăn uống riêng”; “dân
Bách Việt chuyên làm ruộng lúa mà ăn, không như chúng ta trồng kê và lúa mì. Họ uống
nước bằng thứ lá cây hái trong rừng gọi là trà.” Sách Hậu Hán thư quyển 14 viết “Dân
Giao Chỉ biết nhiều nghề thủ công, luyện đúc đồng và sắt...” Sách Cổ kim đồ thư chép:
“Mã Viện tâu vua, Giao Chỉ ép mía làm đường phèn: Giao Chỉ có cây mía ngọt. Ðem ép lấy
nước rồi làm đường phèn.” “Giao chỉ làm giấy mật hương: bằng lá và vỏ cây mật hương
(cây dó) trồng ở Giao Chỉ, giấy mềm, dai, thơm, ngâm nước không bở không nát.” [28]
Chúng ta biết, người Hán có gốc từ Mông Cổ du mục nên nhà làm theo hình tròn gọi là
lều. Trong khi đó người Việt làm nhà sàn hình chữ nhật bằng tranh tre, có mái cong mà
mô hình còn thấy trong mộ táng thuộc Văn hóa Ðông Sơn 2000 năm TCN. Khi định cư ở
Trung Nguyên, dân Hán đã theo mô thức nhà của người Việt.
Khi tìm thấy một số gạch có hoa văn, nhiều học giả Pháp cho đó là hàng nhập về để lát
bàn thờ nhưng thực ra đó là gạch lát nền nhà của người Việt thời Lý Trần tìm thấy tại nhà
của Hưng Ðạo vương ở Vạn Kiếp và nay càng thấy nhiều trong khi khai quật Hoàng thành
Thăng Long. Một thí dụ khá khôi hài là hơn 50 năm trước, khi Bảo tàng Istambul Thổ Nhĩ
Kỳ trưng bày chiếc bình gốm Hoa Lam cổ( được bảo hiểm 1.000.000 USD) người Tàu và
người Nhật đến xem có phải của họ không. Nhưng khi thấy ghi trên bình Thái Hòa bát
niên... Bùi Thị Hi bút (niên hiệu Lê Thánh tông) người Tàu bèn nói: “Của một ông thầy
Tàu qua rồi làm chơi” (!) Ðến khi phát hiện ra lò gốm men lam Chu Ðậu (Hải Dương) thế
kỷ XV với rất nhiều hiện vật thì các “thầy” đành chào... thua một người đàn bà Việt Nam!
Lều Mông Cổ Nhà người Việt Bình men lam Chu Ðậu
(Hình của Ts Nguyễn Thị Thanh)
Từ nhận thức trên, có thể rút ra hai kết luận:
1. Ít nhất từ 30.000 năm TCN, sau thời kỳ băng hà, người Bách Việt là chủ nhân
miền đất ngày nay có tên là Trung Quốc. Cùng với việc biến cải nơi đây thành vùng nông
nghiệp lúa nước, người Bách Việt đã xây dựng nền văn hóa vật thể và phi vật thể độc
đáo.
2. Nếu văn hóa Việt ở Trung Nguyên đạt được những thành tựu như vậy thì điều
chắc chắn là văn hóa Việt tộc ở đất tổ, ở nơi gốc phát tích sẽ rực rỡ hơn. Cho dù bị hủy
hoại không ít trong thời kỳ Bắc thuộc, nhất là ảnh hưởng suy đồi của Hán Nho, Tống Nho
nhưng do sức sống nội tại, văn hóa tận nguồn đó vẫn được người dân Việt lưu giữ bảo
tồn. Vấn đề của chúng ta là chọn lọc giữa những yếu tố lai tạp để tìm ra tinh hoa văn hóa
cội nguồn của dân tộc. Trong việc này, tinh thần Việt nho giúp chúng ta như một định
hướng.
Tới đây, một vấn đề cần làm rõ là đánh giá vai trò người Hán đối với sự phát triển của khu
vực.
Vượt sông Hoàng Hà xuống phía Nam, tiếp thu mảnh đất rộng mênh mông, phì nhiêu với
cư dân đông đúc và nông nghiệp, đồ đá đồ đồng phát triển, Hán tộc trong vai trò lãnh
đạo đã thực thi một chính sách khôn ngoan là nương theo nền nếp của người Việt, tổ
chức xã hội cộng đồng dân chủ mà sau này lịch sử gọi là thời hoàng kim. Ðặc điểm cơ bản
của thời kỳ này là con người sống thân ái với nhau và hài hòa với thiên nhiên. Do nghề
nông phát triển, lương thực dồi dào, xã hội có sự phân công ra nhiều ngành nghề khác
nhau: nông, công, thương. Sau đó tầng lớp sĩ ra đời và ngày càng có vai trò lớn hơn trong
xã hội. Chữ viết Hỏa tự, chữ Khoa đẩu của người Việt dần được thay thế và chữ vuông
tượng hình ra đời. Từ đây, những kinh nghiệm trong dân gian được tổng kết thành kinh
điển, trước hết là Kinh Thi rồi Kinh Dịch... Sự việc như vậy diễn ra trong vòng 1500 năm
TCN. Trên cở văn hóa Việt bản địa, người Hán đã bổ sung vào đó tinh túy của Hán tộc để
đưa văn minh Trung Quốc lên thời kỳ phát triển rực rỡ. Văn hóa Trung Hoa là đứa con lai
tốt đẹp giữa văn hóa Việt nông nghiệp và Hán du mục. Học giả W. G. Solheim II đã nhận
xét:
“Ðông Nam Á còn tiếp tục là một khu vực tiên tiến ở Viễn Ðông cho đến khi Trung Quốc
thay thế xung lực này vào nửa đầu thiên niên kỷ thứ 2 TCN, tức khoảng 1500 năm TCN.”
(bđd).
Theo tôi, đấy là nhận xét thỏa đáng.
Chúng ta, người Lạc Việt, chủng người Bách Việt duy nhất do sự may mắn của số phận
thoát khỏi qúa trình Hán hóa, có được cương thổ riêng, giữ được tiếng nói và huyết thống
riêng. Trong khi tự hào về những thành tựu vĩ đại của tổ tiên trong quá khứ thì chúng ta
cũng cảm ơn người Hán biết tôn trọng văn hóa của Bách Việt bản địa đồng thờ phát triển
lên tầm cao mới. Nhờ đó nhiều yếu tố Việt của văn hóa tiền sử được bảo tồn, nâng cao, là
thành quả văn hóa mà hai dân tộc chung hưởng hôm nay.
Biết được cội nguồn tổ tiên và cội nguồn văn hóa, chúng ta nắm được chiếc chìa khóa
thần giải đáp rất nhiều vấn đề văn hóa nhân sinh từng làm đau đầu nhiều thế hệ Việt. Do
thời gian quá lâu, người Việt không thể nhớ tổ gốc cũng như đất gốc phát tích của mình là
Bắc Bộ Việt Nam mà chỉ có thể nhớ trong hoài niệm vị tổ xa là Toại Nhân làm ra lửa, sau
đó là Phục Hy, Thần Nông và núi Thái sông Nguồn trở thành hoài niệm ám ảnh trong tâm
linh những thế hệ Việt chạy về Nam... Cũng vậy, ta cắt nghĩa vì sao trên đất nước ta lại có
nhiều địa danh “Tàu”? Chính bởi vì khi khai phá lưu vực Hoàng Hà, cha ông chúng ta đã
đặt cho đất ấy những tên như Hà Ðông, Hà Tây, Hà Nam, Hà Nội... Khi trở về Nam, các vị
nhớ tới đất cũ mà đặt tên cho những nơi vừa khai phá. Không phải vay mượn mà cha ông
ta lấy lại bản quyền của mình. Không chỉ thế, đó còn là tình cảm là tâm linh tưởng nhớ cội
nguồn! Cũng từ cái chìa khóa thần ấy, ta dễ dàng giải thích vì sao người Việt luôn chống
Tàu nhưng lại học hỏi và tôn trọng văn hóa Trung Hoa? Bởi lẽ cha ông ta minh triết: biết
phân biệt giặc Tàu xâm lược với “văn hóa Tàu” vốn là văn hóa gốc của mình!
Một cách ứng xử văn hoá
Sau hàng ngàn năm lội ngược thời gian tìm cội nguồn tổ tiên, cội nguồn văn hóa dân tộc,
có lẽ hôm nay nhờ thành tựu mới của khoa học nhân loại, chúng ta đã có lời đáp rõ ràng,
thuyết phục. Với nhận thức mới về nguồn cội thiết tưởng chúng ta cần có lối ứng xử văn
hóa mới:
1. Chúng ta có quyền tự hào chính đáng về tổ tiên đã làm nên những nền văn hóa
rực rỡ trên đất Việt. Tổ tiên ta cũng là chủ nhân ông thứ nhất khai phá đất nước Trung
Hoa và sáng tạo nên văn minh Việt tộc trên vùng đất mênh mông này. Người Việt có chủ
quyền chính đáng với nền văn minh gốc Việt ấy.
2. Về mặt huyết thống, từ bản đồ gene con người, chúng ta thấy mình càng gần
gũi với các tộc người anh em sống trên đất nước. Không chỉ cùng tổ tiên với người Kinh
mà các tộc người anh em lại là hậu duệ của tổ tiên bám trụ lâu dài trên đất nước và sáng
tạo những nền văn hóa mà hôm nay chúng ta tự hào. Ðối với các tộc người anh em
chúng ta cần một thái độ biết ơn và trân trọng. Ðối với người Hán trên lục địa Trung Hoa,
ta thấy họ cũng là bà con của ta vì trong mỗi người ít nhiều đều có một phần dòng máu
của tổ tiên ta từ thuở xa xưa.
3. Hàng ngàn năm bên cạnh một cường quốc khổng lồ với nền văn hóa vĩ đại, cha
ông ta luôn mang mặc cảm một quốc gia nhược tiểu, một dân tộc không có văn hóa gốc.
Với nhận thức mới về nguồn cội, chúng ta tự giải phóng khỏi sự cầm tù của mặc cảm
truyền kiếp đó, lấy lại niềm tự hào chính đáng: Dân tộc Lạc Việt là người duy nhất trong
hệ Bách Việt còn tồn tại và kế tục sự nghiệp của một tổ tiên vĩ đại. Chính tổ tiên ta là
người chủ đạo sáng tạo nên nền văn hóa rực rỡ mang tên văn minh Trung Hoa. Với nhận
thức mới về cội nguồn, chúng ta mạnh dạn nhận lại văn minh Trung Hoa là của mình.
Ðấy là của chung mà ông bà ít nhất có phần hùn 51%. Việc sử dụng văn minh Trung Hoa
trước đây vẫn bị coi là vọng ngoại là vay mượn thì từ nay ta sử dụng với tư cách chủ nhân
có tác quyền hợp pháp.
4. Từ nhận thức về cội nguồn tổ tiên, cội nguồn văn hóa, chúng ta xác định bản
sắc văn hóa Việt nam: là truyền thống sống hòa đồng với thiên nhiên, tương thân tương ái
với đồng loại, là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín... Có nghĩa là những yếu tố tốt đẹp nhất của Nho
giáo- phần tinh hoa của văn hóa Việt tộc được tổng kết trong những kinh điển Nho giáo
thời kỳ đầu. Học giả Kim Ðịnh gọi phần văn hóa Việt tộc này là Việt nho. Tôi cho rằng đó là
tên gọi xác đáng cần được tiếp thu. Việt nho là văn hóa Việt khi chưa bị tầng lớp thống trị
Hán tộc làm cho tha hóa trở thành Hán nho và Tống nho – công cụ đàn áp nhân dân, thủ
tiêu dân chủ. Trong khi Nho giáo Trung Hoa bị suy đồi thì những yếu tố Việt nho vẫn tồn
tại trong cộng đồng người Việt Nam như một truyền thống văn hóa tốt đẹp. Ðáng tiếc là
do nhận thức chưa đúng về nguồn cội nên chúng ta ngộ nhận cho tất cả đều là của Tàu
nên chối bỏ. Cần khẳng định đó là văn hóa đặc hữu của người Việt và lấy làm tiêu chí để
gạn bỏ yếu tố Hán và Tống nho bị xảm vào văn hóa Việt do chủ trương đồng hóa của kẻ
xâm lược phương Bắc.
5. Cho dù hôm nay đang đối mặt với những khó khăn chồng chất nhưng từ cội
nguồn tổ tiên cội nguồn văn hóa chúng ta có lý do để tin tưởng rằng dân tộc ta sẽ có một
tương lai xán lạn. Việc của chúng ta là mỗi người trong khả năng của mình ngay từ bây
giờ ra sức xây dựng tương lai đó!
Tôi hình dung ra, có thể cái tương lai phía trước chúng ta chính là thời Nghiêu Thuấn: con
người thân thiện với thiên nhiên, sống với nhau hòa đồng thân ái, dân chủ, trên cơ sở
nhân, nghĩa, lễ, trí, tín... Phải chăng chính đó là lý tưởng phương Ðông mà phương Tây
đương tìm đến?
* * *
Lời cảm ơn: Người viết chân thành cảm ơn các tác giả có sách tham khảo trong bài viết
này. Ðặc biệt cảm ơn những tác giả người Việt ở nước ngoài: Ts Nguyễn Thị Thanh, GsTs.
Nguyễn Văn Tuấn, các ông Cung Ðình Thanh, Nguyễn Ðức Hiệp, Nguyễn Quang Trọng.
Ông Hoài Thanh báo Đại chúng đã cung cấp những tài liệu quý. Cảm ơn bạn tôi, Ðỗ Thái
Nguyên và Gs Ranjan Deka gửi cho tư liệu mới nhất. Chính trí tuệ và thịnh tình của các vị
đã soi sáng và động viên tôi hoàn thành bài viết. Một lần nữa xin chân thành cảm ơn.
Cuối năm Giáp Thân
Hà Văn Thùy
Tham Khảo:
[1] Ts Nguyễn Thị Thanh: Việt Nam trung tâm nông nghiệp
lúa nước và công nghiệp đá xưa nhất thế giới.
ViêtCatholic 30.9. 2001.
[2] Vương Ðồng Linh: Trung quốc dân tộc học và Chu Cốc
Thành: Trung Quốc thông sử. Dẫn theo Kim Ðịnh:
Cơ cấu Việt Nho. Sài Gòn, 1973, tr.244-245.
[3] Kim Ðịnh: Việt lý tố nguyên. An Tiêm.
Sài Gòn, 1970. tr. 16.
[4] Sđd, tr. 24.
[5] Nguyễn Ðình Khoa: Nhân chủng học Ðông Nam Á.
ÐH &THCN. Hà Nội, 1983, tr. 106.
[6] J. Y. Chu và đồng nghiệp: Genetic Relationship of
Population in China. Proc. Natl. Acad. Sci. USA 1998
số 95, tr. 11763-11768.
[7] Bing Su & đồng nghiệp: Y-chromosome Evidence For a Northward Migration of Modern
Human into Eastern Asia During the Last Ice Age. American Jurnal of Human Genetics
1999; 65; 1718-1724. Nhiễm sắc thể Y chỉ có ở con đực, bền vững và chứa nhiều thông
tin di truyền hơn mtDNA. Qua Y-chromosome có thể truy tìm “dấu vết di cư” của nhóm
dân, từ đó ước đoán được tuổi của tổ tiên. Mức độ biến thiên đa hình thái (polymorphic
variation) là chỉ tiêu di truyền quan trọng đánh giá độ đa dạng sinh học của nhóm dân: tổ
tiên có mức đa dạng sinh học lớn hơn con cháu.(theo Gs Nguyễn Văn Tuấn Tìm về nguồn
gốc dân tộc Việt Nam qua di truyền học. Giaodiem.com)
[8] W. Kim & đồng nghiệp: Y-chromosomal DNA Variation in East Asia Populations and its
Potential for Inferring the Peopling of Korea. Journal of Human Genetic. 2000. số 45, tr.
76-83.
[9] S.W. Ballinger và đồng nghiệp: Southeast Asian Mitochondrial DNA Analysis Reveals
Genetic Continuity of Ancient Mongoloid Migration. Genetic 1992 số 130, tr. 139-45.
[10] Jin Li: Ngày 29.9.1998 Li Jin thông báo một tin chấn động giới khoa học tại
Washinton: “Công trình của chúng tôi cho thấy con người hiện đại trước hết đã đến Ðông
Nam Á sau đó đi lên Bắc Trung Hoa.” “Từ Trung Ðông men theo bờ Ấn Ðộ Dương, ngang
qua Ấn Ðộ đến Ðông Nam Á. Sau đó họ đi lên Bắc Trung Hoa, Siberia và cuối cùng là
châu Mỹ.” (“Our work shows that modern humans first came to Southeast Asia and then
move late to Northern China.” “...from Middle East, following the Indian Ocean coatline
across India to Southeast Asia. Later, they moved northern China, Siberia and eventually
the Americas”) Los Angeles Times, 29.9.1998.
[11] Peter Savolainen, Ya ping Zhang... Genetic Evidence for an East Asia Origin of
Dometic Dogs. Science Nov 22 2002; Jenifer A. Leonard, Robert K. Wayne ... Ancient DNA
Eviden for Old World Origin of New World Dogs. Science Nov 22 2002. (Dẫn theo Nguyễn
Văn Tuấn: Năm Mùi nói chuyện dê. Giao Ðiểm Xuân 2003)
[12] Stephen Oppenheimer: Eden in the East: The Drowned Continent of Southeast Asia-
Nxb Phoenix London 1998. Là bác sĩ nhi khoa sống 20 năm trên các đảo ngoài khơi Ðông
Nam Á, ông rất yêu vùng này, để công nghiên cứu và có những phát hiện quan trọng về
lịch sử, văn hóa, dân tộc học... Công trình của ông được đánh giá cao.
[13] Vũ Hữu San: Vịnh Bắc Việt, tái bản 2004. Tripod.com
[14] Encyclope’dia d’Archeologie.
[15] Nguyễn Thị Thanh bđd.
[16] Nguyễn Thị Thanh bđd.
[17] C. Sawer: Agricultural Origins and Dispersals.
New York 1952
[18] W.G Solheim II: Southeast Asia and the West –
Ðông Nam Á và phương Tây- Science 157
[19] Wilheim G. Solheim H. Ph. D: New Light on Forgotten Past.
National Geographic Vol 1339 n 3 tháng 3 năm 1971.
[20] Nguyễn Ðăng Thục: 4000 năm văn hiến. Hoadam.net
[21] Bowen, Hui Li, Daru Lu và đồng nghiệp: Genetic
Evidence Supports Demic Diffusion of Han Culture.
Nature /vol 431/ 16 September 2004
[22] Kim Ðịnh: Sđd, tr. 62-63
[23] Ðại Việt sử ký toàn thư.
[24] Ngô Thì Sỹ: Việt sử tiêu án. Văn sử tái bản năm
1991. Bản điện tử Lê Bắc, tr 10.
[25] Sử ký Tư Mã Thiên, Nxb Văn học H.1988, tr.743.
[26] Phủ Biên tạp lục, Nxb KHXH. H. 1977 tr. 31
[27] Trương Quang-Daichung.com- Connecticut 4/2003
[28] Nguyễn Thị Thanh, Bđd.
Ý Nghĩa Quốc Hiệu Lạc Việt
G.S. Vũ Thế Ngọc
Với các tài liệu Cổ Nhân học, Nhân Chủng học và Khảo Cổ học được phát hiện trong hai
thập niên qua, thêm vào những nghiên cứu của các ngành khoa học khác từ Dân Tộc
học, Ngôn Ngữ học cho đến các ngành Kim Loại học, Địa Chất học ... ngày nay người ta
đã có thể mang thời đại Hùng Vương vào chính sử. Thành ra phạm vi của bài viết này chỉ
hết sức khiêm nhượng như là một chú thích nhỏ của một luận văn lịch sử về thời dựng
nước đầu tiên của Việt tộc.
Bài viết cũng không có những phát kiến nào mới lạ hơn là bổ xung và tổng kết những đề
nghị, luận cứ của các học giả đi trước. Tuy nhiên nó cũng có một hy vọng là để chấm dứt
những bài "sưu khảo" chỉ lập lại những ý kiến của Maspero, Lê Dư, Lê Chí Thiệp ... cách
đây hơn nửa thế kỷ, hoặc tệ hơn nữa là các bài viết ca tụng mơ hồ cái gọi là "chim lạc".
Từ Ngữ Hán Việt: Hầm Bẫy Các Học Giả
Một thời báo chí Sài Gòn đã chế diễu một ngài tổng bộ trưởng của Việt Nam Cộng Hòa khi
ông ta nhầm Nhật Nhĩ Man (chữ Hán cũ phiên âm để chỉ nước Đức: Germany, German) là
nước Nhật (Japan). Nhưng nhiều người không biết là chính "trò chơi" tương tự đã là hầm
bẫy biết bao học giả Việt Nam và ngoại quốc trong vấn đề nghiên cứu lịch sử, văn hóa
Việt Nam. Bởi vì lý do duy nhất là tất cả tài liệu lịch sử của chúng ta đều viết bằng Hán
văn, và một số không nhỏ các danh từ về nhân, vật, địa danh, danh xưng ... chỉ là chữ
"ký âm" mà các vị không biết, chỉ chạy theo nghĩa tự Hán Việt.
"Lạc" Theo Nghĩa Tự Hán Việt
Trở lại với các tài liệu viết về cổ sử Việt Nam, ta thử tìm hiểu khi viết về Lạc Việt, lạc điền,
lạc hầu, lạc tướng ... người ta viết chữ "Lạc" như thế nào và với ý nghĩa gì.
Đầu tiên, Hán Thư (khoảng thế kỷ thứ nhất) dùng chữ Lạc (mã + các), sẽ gọi là "Lạc bộ
Mã", để viết chữ Lạc Việt. Thủy Kinh Chú của Lịch Đại Nguyên (đầu thế kỷ 6) là tài liệu cổ
nhất có viết nhiều về sử Việt, có dẫn sách Giao Châu Ngoại Vực Ký (sách viết vào thế kỷ
thứ tư, đã mất), thì viết là Lạc (các + chuy), sẽ gọi là "Lạc bộ Chuy".
Đặc biệt chỉ riêng có các sử gia Việt Nam là viết chữ Lạc (trãi + các), sẽ gọi là "Lạc bộ
Trãi", như trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên đời nhà Lê (thế kỷ 15) (1)
"Lạc bộ Mã", sách Tống Bản Quảng Vận đời nhà Tống cho nghĩa là "Ngựa trắng, bờm
đen" (2), sách nghiên cứu về Ngữ Nguyên học của Bernhard Karlgren cũng cho nghĩa
"Ngựa trắng, bờm đen" (3), Karlgren với L. Wieger còn cho một nghĩa khác là con lạc đà
(4).
"Lạc bộ Chuy", sách Quảng Vận chú nghĩa là chim Kỵ Kỳ. Chim Kỵ Kỳ (5) thì theo tự điển
Từ Hải chính là chim cú mèo (otus sunia japonicus) (6), sách của Karlgren cũng chú nghĩa
là một loại chim (7) cũng như sách của Wieger (8).
Riêng về chữ "Lạc bộ Trãi", chỉ riêng có sử gia Việt là dùng. Chữ này phải đọc là Mạch
(âm Quan Thoại là Mỏ) chỉ một dân tộc (rợ) phương Bắc Trung Quốc, hoặc là Hạc (âm
Quan Thoại là Hao) nghĩa là một loài chồn, badger, da dùng làm áo. Chúng ta sẽ hiểu tại
sao chỉ có sử gia Việt dùng chữ này ở đoạn sau.
Với tất cả những nghĩa đó, ta thấy ngay không có nghĩa nào để chỉ dân tộc Lạc Việt, Lạc
điền, Lạc tướng cho xuôi. Vì không thể nào người ta lấy tên chim cú mèo, vốn được coi
như loài chim quái gở, (vì thế sau này người ta còn thay chữ "Lạc bộ Chuy" là cú mèo,
thành "Lạc bộ Mã" trong các nhân danh, địa danh Trung Quốc). Trong tiếng việt còn có
các thành ngữ xấu như: Mắt cú vọ, cú dòm nhà bệnh, cú kêu ra ma, cú đói ăn con v.v....
Nếu nói là vật tổ, thì từ trống đồng đến thần thoại chẳng thấy có nhắc gì đến cú mèo cả.
Về nghĩa "Ngựa trắng bờm đen" thì cũng tương tự, hơn thế nữa, bọn trí thức phong kiến
Trung Quốc, với đầu óc hẹp hòi, tự tôn và thực dân đã luôn luôn dùng những chữ bộ
khuyển (chó) để chỉ những dân tộc láng giềng (Duẫn, Qua, Dao, Lào, Đồng). Chính vì
không thích chữ "chó ngựa" như vậy, các sử gia Việt mới dùng chữ "Lạc bộ Trãi" để thay
thế (9). Vì vậy tại sao ta thấy chỉ có sử gia Việt Nam mới dùng chữ "Lạc bộ Trãi", và cố
tình "phiên thiết" sai như vậy, để chỉ rõ đây chỉ là chữ ký âm.
"Lạc" Là Từ Tố Tiếng Việt
Một hai học giả đã thấy được sự bất ổn khi truy nghĩa tự Lạc theo Hán văn. Người đi xa
nhất là Nguyễn Kim Thản và Vương Lộc trong bài "Thử Tìm Nguồn Gốc Ngữ Nghĩa của Từ
Tố "Lạc" (10).
Như đã dẫn, sách Thủy Kinh Chú dẫn lại sách Giao Châu Ngoại Vực Ký là sách cổ nhất viết
về sử nước ta viết như sau:
"Thời xưa khi Giao Chỉ chưa có quận huyện, thì đất đai có Lạc Điền, ruộng ấy là ruộng
(cầy cấy) theo con nước thủy triềụ Dân khai khẩn ruộng ấy mà ăn nên gọi là Lạc Dân. Có
Lạc Vương, Lạc Hầu làm chủ các quận huyện. Ở huyện phần đông có Lạc Tướng. Lạc
Tướng có ấn bằng đồng, (đeo) giải (vải mầu) xanh. Về sau con vua Thục đem ba vạn lính
đánh Lạc Vương Lạc Hầu, thu phục các Lạc Tướng. Con vua Thục nhân đó xưng là An
Dương Vương" (11)
Khi thấy tất cả nghĩa Hán Việt của từ Lạc đều không thỏa mãn ý của chữ Lạc trong đoạn
văn trên, thì người ta đồng ý ngay là từ "Lạc" phải là từ tố tiếng Việt. Vậy tiếng cổ "Lạc" có
nghĩa là gì?
Nguyễn Kim Thản đã rất sáng mà đặt giả thuyết đó là chữ có nghĩa "nước". Tuy nhiên về
chứng cớ, ông chỉ tìm được có một từ là "rạc" trong nước rạc (nước ròng), cạn rặc (cạn
hết) (12). (Cũng nên biết chữ Rạc (nôm) dùng chữ Hán là "Lạc bộ Thủy" để ký âm).
Thành ra phần phê bình của ông thì hợp lý, nhưng ông chưa chứng minh được giả thuyết
mà ông vừa "thấy" được. Phần sau đây chúng tôi xin trình bầy để minh chứng rõ ràng
"Lạc" đúng là "Nước".
"Lạc" là "Nước"
Ta hãy nhìn vào bảng tiếng chỉ "nước của các dân tộc được coi là đồng chủng (?) sau
đây:
BẢNG 1: Việt (hiện dùng): Nước - Mạ: Đa - Churu: Đạ - Koho: Đa - Nup: Đa - Muong: Đa
- Bana: Đák - Sơ Đăng: Đák - Cua: Đaák - Xi Tiêng: Đaác - Mường: Rác - Việt (tiếng địa
phương bắc Trung Bộ): Nác
(Nên nhớ vùng "tiếng địa phương bắc Trung Bộ" vẫn được các nhà ngữ học coi là nơi duy
nhất còn giữ được nhiều tiếng cổ Việt)
Như vậy ta thấy rõ rệt Nác, hay Đák chính là cổ âm của từ "Nước".
Nay chỉ còn mấu chốt giải thích từ âm tự "Nác" biến thành "Nước". Chúng ta sẽ chứng
minh có sự biến đổ từ âm "A" thành "Ươ" như Nguyễn Kim Thản đề nghị (13), ta có thể
theo dõi các bảng so sánh sau đây:
BẢNG 2:
a) So sánh tiếng địa phương bắc Trung Bộ (cổ hơn) với tiếng địa phương Bắc Bộ: Nác -
Nước, Náng - Nướng
b) Tiếng Mường (được xem là gần với cổ Việt) so với tiếng Việt hiện đại: Rác - Nước, Lái -
Lưới
Đặc biệt là tiếng Việt hiện nay ta còn thấy rất nhiều tiếng tương đương đang được dùng
lẫn cho nhau:
BẢNG 3:
Bang / Bương (Bương ra)
Chàng / Chường (anh chường)
Đàng / Đường (đường đi)
Đang / Đương (đương cai)
Nàng / Nường (nõn nường)
Nhạt / Nhược (nhường nhược)
Nập / Nượp ( đi nượp nượp)
Rám / Rướm (rướm nắng)
Rán / Rướn (rướn cổ)
Tan / Tương (rách tương)
Đặc biệt hơn nữa là những từ Hán Việt âm "A" cũng thường được "nôm hóa" bằng "Ươ"
BẢNG 4:
Khang / Khương (an khương)
Lạng / Lượng (một lượng)
Lang / Lương (lương đống)
Phang / Phương (phương hướng)
Phan / Phướn (cây phướn)
Phạt / Phược (thọ phược)
Thang / Thương (vua Thương)
Không những các âm "A" biến đổi với âm "Ươ" như trên, mà phụ âm L/N/R còn cũng có
thể thay đổi lẫn nhaụ Thí dụ xem bảng 5. Nên nhớ R, Đ, N, L đều là âm Răng Nướu
(Dental Alveolar) chỉ khác nhau ở độ cong lưỡi.
BẢNG 5:
Nác - Lạc - Rác
Năm - Lăm (mười) - Rằm (mười)
Nơi - Lơi - Rơi
Nép - Lép - Rẹp
Nung - Lung (lay) - Rung
Nỉ (non) - Lí (nhí) - Rỉ (rê)
Nêu - Lêu (...!) - Rêu
Ắt chúng ta còn biết một số lớn người không phát được âm L (ông Nái Nợn ...) Đặc biệt là
tất cả dân Việt vùng biển Bắc Bộ đều phát âm L thành N.
Theo luật Ngữ học thì âm nào càng dễ đọc và được đại đa số người ta phát âm được thì
càng cổ hơn. (Đó cũng là trường hợp đại đa số dân Việt Bắc Bộ không phát được âm TR
(vì âm đó không có trong Việt Ngữ, là sự ký âm sai của các giáo sĩ ngoại quốc). Như vậy
âm "N" chắc chắng phải có trước âm L.
Tuy nhiên cũng cần nên biết về Ngữ Âm học lịch sử từ nguyên học (Etymology) thì người
ta chỉ chú trọng đến từ căn (root) còn các phụ âm đầu (prefix), phụ âm cuối (suffix) thì
rất biến đổi theo thời gian và không gian. Cũng như chỉ chú ý đến Âm Tố (Phoneme) chứ
không chú ý đến các ký hiệu ký âm.
Nhưng còn chữ Lạc nếu chỉ là ký âm thì người Trung Quốc đọc như thế nào ? Điều quan
trọng là phải biết họ phát âm ở thời cổ như thế nào?
Thật may mắn, công trình nghiên cứu về cổ âm Hán đã được nhà Trung Hoa học nổi
tiếng Karlgren nghiên cứu. Tra từ điển của ông ta thấy cổ âm hán đọc cả ba chữ Lạc (bộ
mã, bộ chuy, bộ thủy) đều được đọc là "Lak" (14). (Ngày nay người Bắc kinh đọc là Lo).
Khi nghiên cứu các bản văn Phạn ngữ ký âm bằng Hán tự, phát hiện được ở động Đôn
Hoàng, chúng tôi đã kiểm chứng lại sự chính xác của Karlgren (15).
Thành ra chữ Lạc Điền chỉ là Ruộng Nước, chữ Lạc là chữ ký âm chẳng khác nào chữ Dã
Thụ là cây Dừa (Dà là chữ ký âm của Dừa), Ba La Mật Thụ là cây B'La Mít (cây mít), Phù là
Bìu (trầu) v.v...
Nhưng ruộng nước là ruộng gì? Có gì đặc biệt ở đó? Phải nên biết Hán tộc bắc phương,
đất tổ là phía bắc Hoàng Hà chỉ biết trồng lúa mì (ruộng khô). Phương nam mới là nơi
trưởng sinh ra phương pháp trồng lúa gạo (ruộng nước).
Muốn trồng được lúa gạo, con người phải đạt được trình độ văn minh cao hơn hết thẩy so
với các hoạt động kinh tế nông nghiệp khác, vì họ phải biết tính toán được chu kỳ thiên
văn, điều thủy .... bên cạnh các kỹ thuật như làm ra được lưỡi cầy và thuần phục được
trâu (15b) (là giống vật duy nhất để cấy được ruộng nước, vốn là một con thú hoang dữ
tợn và to lớn) v.v....
Vì vậy dân tộc đầu tiên làm chủ được ruộng nước, ắt phải kiêu hãnh lắm (so với tình trạng
thời đó, thì còn hơn là các nước Âu châu trong thời gian "cách mạng kinh tế" của thế kỷ
19 nhiều). Thế mà dân Lạc Việt lại là dân tộc đầu tiên trên thế giới biết đến nó, cuộc khai
quật của Wilheim G. Solheim, thuộc đại học Hawaii lại cho thấy sau khi thử phóng xa C-14,
mẫu lúa của người Hòa Bình, cho niên đại là khoảng 3500 trước Tây Lịch, sớm hơn ở Ấn
Độ và Trung Quốc khoảng 1000 năm, nơi mà người ta vẫn cho là quê hương của loại lúa
trồng này (16). Solheim còn tin là nếu tiếp tục tìm kiếm người ta có thể tìm được mẫu lúa,
chứng tỏ là người Lạc Việt đã biết trồng lúa hơn bốn ngàn năm trước Tây lịch (17). Cũng
nên nhắc ở đây là qua các cuộc đào tìm này người ta đã minh chứng một số chứng liệu cụ
thể khác như nền văn hóa Hòa Bình biết đến kim loại sớm nhất thế giới, biết làm đồ gốm
sớm nhất thế giới .... (18). Nhà địa chất học Hoa Kỳ Carl Sauer từ năm 1952 cũng đã đặt
giả thuyết chính người Hòa Bình biết đến nông nghiệp sớm hơn hết, giả thuyết này cho
đến năm 1966 thì được các giáo sư của các đại học Otago (Tân Tây Lan), Hawaii (Hoa Kỳ)
chứng minh bằng các mẫu đậu với niên đại cho bởi phóng xạ C-14 là 10 ngàn năm trước
Tây lịch (19). Cuối cùng Solheim đặt giả thuyết nền văn hóa Hòa Bình, ở Bắc Việt Nam có
thể đã là gốc mẹ của nền văn hóa Lưỡng Thiều Trung Quốc (nơi phát tích ra văn hóa
Trung Quốc) (20).
Trở lại với từ tố "Lạc", như vậy chúng ta đã đi qua được các chặng đường:
1. Minh chứng "Lạc" là Nước, cổ âm của tiếng Việt và cổ Hán cũng trùng hợp như
vậy (21).
2. Dân Lạc Việt bản địa là chủ nhân đầu tiên trên thế giới biết về nghề làm "ruộng
nước" (lúa gạo) và rất hãnh diện khi nhận mình là "Lạc dân" (không thể hiểu là "người
nước" (22) như Nguyễn Kim Thản viết, mà nên hiểu là "người có ruộng nước", "người làm
chủ ruộng lúa", "người biết làm nghề nông", giống như là "Engineer, Actor, Artist,
Administrator ... Mặc dù không ai phủ nhận là nền văn hóa của chúng ta cho đến hiện
nay vẫn đặt cơ sở trên nền kinh tế thuộc về "nước" (nói theo kiểu Hydraulic Society), yếu
tố "sông nước" không thể tách rời khỏi văn hóa Việt: Long Quân ... theo cha xuống biển
... người trong một nước .... như tác giả đã viết). Vậy thì để trả lời câu hỏi là Hùng Vương
hay Lạc Vương của các cụ đặt ra từ trước 1945, ta trả lời thế nào?
KẾT LUẬN:
Lạc Vương là Hùng Vương.
Không có vấn đề viết nhầm.
Kết luận ta có thể thoải mái mà hiểu rằng từ Lạc trong Lạc Việt, Lạc Điền, Lạc Tướng ...
dù viết theo "Lạc bộ Chuy", "Lạc bộ Mã" hay "Lạc bộ Trãi", đều chỉ là chữ ký âm, và ngày
nay với chữ quốc ngữ, vô tình vấn đề đã được giải quyết: chúng ta chỉ còn một chữ Lạc.
Để tìm hiểu Lạc có nghĩa là gì hy vọng bài này đã giải quyết được câu hỏi đó. Nhưng trở
lại câu hỏi, vậy thì là Hùng Vương hay Lạc Vương? Chúng tôi đề nghị lời giải đáp như sau:
Trước hết về thư tịch, sách cổ hơn hết là Giao Châu Ngoại Vực Ký (thế kỷ thứ 4) do sách
Thủy Kinh Chú (thế kỷ thứ 6) dẫn lại (xem phần trên) thì đều viết là Lạc (Lạc Vương, Lạc
Điền, Lạc Tướng ... ) Trái lại sách Nam Việt Chí (thế kỷ thứ 5) do sách Sơ Học Ký (thế kỷ
thứ 7) dẫn lại thì đều viết là Hùng (Hùng Vương, Hùng Điền ....)
Riêng sách sử chúng ta viết về sau, nhưng đặc biệt là tất cả đều viết là Lạc (xem phần
trên), trừ danh từ duy nhất là Hùng Vương, thì viết chữ Hùng (xem các sách Lĩnh Nam
Chích Quái, Việt Điện U Linh, Việt Sử Lược, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, v.v....)
Sử gia Ngô Sĩ Liên còn cho biết: (trước là) Lạc Tướng sau lầm ra Hùng Tướng (Lạc Tướng
hậu ngọa vi Hùng Tướng) (23)
Trước đệ nhị thế chiến H. Maspero đọc Hán Thư cho thấy trước thế kỷ thứ 5 sách Trung
Quốc chỉ dùng từ ngữ Lạc Vương và từ ngữ Hùng Vương chỉ thấy xuất hiện từ sau Nam
Việt Chí (thế kỷ thứ 5) nên chủ trương chỉ có Lạc Vương, sở dĩ có từ Hùng Vương vì viết
nhầm chữ Lạc (các + chuy) thành chữ Hùng (quang + chuy). Đó có lẽ cũng là lý của Ngô
Sĩ Liên (24).
Lê Dư và hầu hết các học giả Việt Nam sau này, đều chủ trương Hùng Vương bởi các lẽ:
1. Lạc Vương là chữ do người Trung Quốc dùng để ghi tên Vua nước Lạc, chữ
Hùng Vương mới là tên hiệu của tổ nước Việt.
2. Chữ Lạc trong từ Lạc Việt viết với bộ trãi, và bộ mã thì không thể lầm với chữ
Hùng được.
3. Tất cả trong dã sử, truyền thuyết Việt ... qua đến các di tích lịch sử đều viết
hoặc mang danh hiệu Hùng Vương (xem các truyện Nhất Dạ Trạch, Đổng Thiên Vương,
Lý Ông Trọng ... các địa danh Đền Hùng, Núi Hùng ....)
Cuộc tranh luận cho đến nay chưa xong ... cho đến hôm nay.
Chúng tôi mới được một giáo sư đồng nghiệp giới thiệu cho biết cuốn sách mang tên là
Thuyết Văn Thông Huấn Định Thanh của Chu Tuấn Thanh thì cho thấy chữ Lạc bộ Chuy
có thể được thay thế bằng chữ Hùng (quang + chuy): chứng cớ tên Lạc Đào nhân vật
trong sách Hán Thư, phần cổ kim nhân biểu (Lạc Đào là bạn vua Thuấn) đã được Thi Hiệu
(mưu sĩ của tể tướng đời Tần là Thương Ưởng), tác giả Thi Tử Thập Nhị Thiên đổi tên là
Hùng Đào.
Tóm lại, chúng tôi đã trình bày ý nghĩa của từ Lạc chỉ có nghĩa là Nước. Vì nhu cầu ghi
chú, sử sách cả ta lẫn Trung Quốc bắt buộc phải dùng Hán tự để ghi chép. Riêng người
Việt chúng ta thích dùng chữ Lạc bộ Trãi vì ghét nghĩa đen của hai chữ Lạc kia: (Ngựa
trắng bờm đen, cú vọ). Việc này chỉ xẩy ra khi ta tiếp xúc với Hán tộc và biết dùng Hán tự.
Tuy nhiên theo nghĩa đen thì cả chữ Lạc đều chẳng tốt đẹp gì. Còn chữ Hùng thì thật là
tốt đẹp hơn (đực, trống, mạnh) như trong các từ anh hùng, hùng tráng, hùng hồn, hùng
dũng .... Vậy thì khi biết được Hán tự, có thể chẳng cần biết đến chữ nọ thay được chữ
kia, dân Lạc Việt cũng đã tự động tôn xưng vị lãnh đạo là Hùng Vương rồi. Thế mà tiền lệ
Hùng Đạo đã có từ ba trăm năm trước tây lịch, thì đương nhiên dân Lạc Việt phải gọi vị
quốc tổ mình là Hùng Vương thì càng đúng. Cho nên mãi đến sau này mọi truyện thần
thoại hay địa danh dân đều kính trọng mà gọi là Hùng Vương, hội đền Hùng v.v.... Tóm
lại, Hùng là chữ khác của chữ Lạc, là danh từ Lạc dân tôn xưng Vua của mình, không thể
có chuyện viết lầm như H. Maspero hay Ngô Sĩ Liên đã viết.
Riêng về các từ khác, Lạc điền, Lạc tướng, Lạc hầu .... thì hoặc vì tôn trọng vị lãnh tụ nên
ông Lạc hầu chẳng dám nhận người ta gọi mình là Hùng hầu, hoặc vì Hùng điền thì đi
quá xa nghĩa nguyên thủy là ruộng nước ... nên dân Việt vẫn tiếp tục dùng Lạc điền, Lạc
hầu .... Cho nên đến tận ngày nay chúng ta vẫn chỉ dùng chữ Hùng Vương, còn tất cả
đều là Lạc hết: Lạc hầu, Lạc tướng, ruộng lạc ....
Riêng về quyển sách Nam Việt Chí của Thẩm Hoài Viễn, thì ngày nay không còn, đâu đó
chỉ là những đoạn được chép lại trong Sơ Học Ký (thế kỷ thứ 7), trong Thái Bình Hoàn Vũ
Ký của Nhạc Sử đời Tống (thế kỷ thứ 10) mà có lẽ đoản văn được nhiều người dẫn đi dẫn
lại "Giao Chỉ có ruộng, người ta gọi ruộng ấy là Hùng Điền, dân ấy là Hùng Dân, quân
trưởng là Hùng Vương, hữu ty là Hùng Hầu, đất đai chia cho các Hùng Tướng". Xem thì
thật giống đoạn dẫn ở Thủy Kinh Chú (đã dẫn ở phần trên). Có điểm khác là Nam Việt Chí
thì toàn dùng chữ Hùng.
Điều này cũng dễ giải thích, hoặc là ông không còn biết từ tố "Lạc" là Nước, và theo lối
thay chữ của Thi Hiệu, ông dùng Hùng thay cho chữ Lạc có nghĩa đen không tốt đẹp gì vì
lý do thanh nhã, lịch sự (chắc ông phải có cảm tình gì lắm mới để tâm huyết mà viết
quyển Nam Việt Chí kia). Sử cũng nói rằng ông đã từng sống ở Giao Chỉ thì ắt ông cũng
biết về lý do người Lạc Việt gọi ông tổ họ là Hùng Vương. Trái lại tác giả Thủy Kinh Chú và
Giao Châu Ngoại Vực Ký là quan lại của Trung Quốc, một quốc gia phong kiến đang đô hộ
dân Việt, ắt họ dùng "Lạc bộ Mã" với nghĩa đen là "Ngựa trắng bờm đen" thì cũng đúng là
"sách lược khai hóa man di" lắm vậy.
Vũ Thế Ngọc
vBulletin® v3.8.4, Copyright ©2000-2010, Jelsoft Enterprises Ltd.