Bravo21
02-13-2006, 02:24 AM
Hãy Vững Tin Vào Lịch Sử
Tham luận Trần Trung Ðạo
Trước những dấu hiệu cho thấy các phong trào phản kháng trẻ từ trong nước đang bắt đầu chuyển động mạnh, cụ thể qua các bản tin Thao Thức, sự chống đối của sinh viên trường Văn Lang v.v. chủ đề tuổi trẻ Việt Nam trước lịch sử lại một lần nữa được nhắc đến khá nhiều trên báo chí cũng như trong các buổi thảo luận tại hải ngoại.
Ai cũng biết tuổi trẻ là tương lai. Khi nói về tuổi trẻ, chúng ta thường nói đến tuổi của sức sống tràn đầy, tuổi của khai phóng và sáng tạo. Khi nhận xét về tuổi trẻ, chúng ta thường nghĩ đến những mặt tích cực và lạc quan.
Có rất nhiều đánh giá khác nhau về tuổi trẻ Việt Nam, trong cũng như ngoài nước trong suốt 23 năm qua. Nhìn chung đó là những đánh giá không mấy tích cực.
Với tuổi trẻ trong nước, chúng tôi xin trích dẫn 2 quan điểm, từ một người cầm bút và từ một thanh niên. Nhà văn miền Bắc Dương Thu Hương nhận định như sau đây về tuổi trẻ trong nước "tuổi trẻ không còn lý tưởng, họ đang lao vào cuộc sống thác loạn và xem đó như là cách trả thù cho những thế hệ cha ông đã lừa gạt họ." Lý tưởng mà nhà văn Dương Thu Hương muốn nói có lẽ là lý tưởng Cộng Sản hơn là lý tưởng Quốc Gia Dân Tộc và tuổi trẻ mà nhà văn Dương Thu Hương muốn nói đây là tuổi trẻ miền Bắc, thế hệ đã bị đảng nhử bằng chiếc bánh vẻ độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất để rồi bị đẩy vào vũng lầy chiến tranh, nghèo đói, tham nhủng, thối nát.
Đối với tuổi trẻ sinh ra và lớn lên ở miền Nam, Nhà báo quen thuộc về các vấn đề Việt Nam, ông Andrew Lam của tờ San Jose Mercury trong số ra ngày 25, tháng 5 năm 1998 trích lời của một thanh niên tên là Tuấn tuyên bố với ông ta, trong thời gian ông đến Việt Nam làm phóng sự "Chúng tôi bị lừa gạt. Trước đây, tôi biết chủ nghĩa Cộng Sản là sai khi tôi phải học thuộc lòng lý thuyết Mác nhưng không biết tại sao mình phải học. Khi Việt Nam mở cửa, tôi có được dịp xem ti-vi, đọc báo và qua đó tôi ý thức rằng những quốc gia khác giàu có biết bao nhiêu, phim ảnh của họ làm đẹp biết bao nhiêu, con người họ cũng đẹp đẻ biết bao nhiêu. Nhìn lại Việt Nam, tôi cảm thấy buồn. Đừng nói chi là Mỹ, ngay cả Thái Lan, Đại Hàn, Mã Lai cũng hơn Việt Nam quá xa. Việt Nam không có gì để nói, để khoe khoang và giới thiệu. Việt Nam chỉ là một quốc gia bị lãng quên trong nghèo đói."
Từ hai nhận xét trên, chúng ta thấy rằng tuổi trẻ hai miền đều bất mản chế độ. Tuy nhiên, dù bất mản, tuổi trẻ Việt Nam trong nước, từ Bắc đến Nam, đã có những thái độ và phản ứng tiêu cực trước những áp bức chính trị và những bất công xã hội. Thay vì đứng lên đạp đổ chính quyền Cộng Sản, thay vì biểu tình xuống đường chống đối, họ đã sống trong lãng quên bằng những cuộc đua xe gắn máy bạt mạng, bằng cuộc sống buông thả, sa đọa, trụy lạc. Cho đến nay, sau 23 năm, ngoài trừ vài phong trào nhỏ, tuổi trẻ trong nước đã không hay ít nhất chưa cho chúng ta thấy họ sẽ là lực lượng chủ động trong nỗ lực đưa dân tộc Việt Nam thoát ra khỏi xích xiềng Cộng Sản, đưa dân tộc Việt Nam ra khỏi nghèo nàn lạc hậu.
Còn tại hải ngoại thì sao? Chúng tôi thiết nghĩ không cần phải dẫn chứng từ sách vở nào hay từ nhân vật nào khác. Chúng ta phải thẳng thắng thừa nhận rằng, cho đến nay, tuổi trẻ hải ngoại chưa phải là lực lượng chủ động trong các sinh hoạt chính trị, đấu tranh vì tự do, vì dân chủ và nhân quyền của dân tộc Việt Nam. Một số rất ít anh chị tạm gọi là tương đối còn trẻ đang có những hoạt động liên hệ trực tiếp đến cộng đồng người Việt, có thể đếm trên đầu ngón tay. Nói chung các phong trào và tổ chức trẻ, có tổ chức chặt chẻ và hoạt động năng nổ tại hải ngoại kể ra thì nghe nhiều nhưng thực tế còn quá ít so với lực lượng đông đảo của khối chuyên gia trẻ, thanh niên, sinh viên Việt Nam tại hải ngoại. Hoạt động của các cá nhân và phong trào trẻ cũng chưa đáp ứng một phần dù rất nhỏ so với nhu cầu của cộng đồng người Việt cũng như lịch sử dân tộc đang đặt ra cho thế hệ họ.
Có hàng chục lý do đã cầm chân tuổi trẻ. Trong nước, chính sách giáo dục ngu dân của Cộng Sản đã tác hại trầm trọng đến ý thức dân tộc của tuổi trẻ. Người Cộng Sản cứ mỗi khi há miệng là nói đến những cụm từ đầy cảm tính như "dân tộc", "tổ quốc", "đất nước" nhưng chính sách giáo dục của họ lại phản dân tộc nhất. Trong khi ở hải ngoại, tuổi trẻ lại không có cơ hội và thời gian để học hỏi văn hóa Việt, bâng khuâng với câu hỏi "tôi là ai ?"
Trong giới hạn của vài chục phút nói chuyện, chúng tôi không thể đưa ra và phân tích tất cả, dĩ nhiên là rất nhiều, những lý do chính dẫn đến sự xa cách giữa lịch sử và tuổi trẻ trong đó bao gồm những yếu tố xung đột trong gia đình và giữa các thế hệ, yếu tố môi trường và giáo dục, yếu tố chính trị v.v.. Chúng tôi chỉ nhân cơ hội nầy để nhắc đến một lý do, thoạt trông rất bình thường nhưng ít ai đặt nặng đúng mức, đó là lý do tuổi trẻ Việt Nam không thuộc sử Việt Nam.
Tuổi trẻ ngày nay ít gần gủi với lịch sử, ít gắn bó với lịch sử, không thấy hết được tính kế tục của lịch sử, chưa thấy rõ được vai trò của chính mình trong giai đoạn hiện nay và trách nhiệm của chúng ta đối với dòng lịch sử đang chảy vào tương lai dân tộc. Chúng tôi tin rằng không phải các cô chúc sinh viên Việt Nam nào lớn lên tại hải ngoại cũng biết Tôn Thất Đạm, Lương Ngọc Quyến, Ký Con, Phạm Hồng Thái là ai.
Việc không thuộc sử dẫn đến câu hỏi "tôi là ai". Không thuộc sử Việt Nam dẩn việc thiếu niềm tin vào sức sống và sự trường tồn của giòng giống Việt Nam. Không thuộc sử sẽ dẫn đến những cái nhìn thiển cận về tương lai đất nước. Lo những cái không đáng lo, sợ những điều không đáng sợ. Không lo những cái đáng lo, không sợ những điều đáng sợ. Do đó trước khi nói đến chuyện làm lịch sử, trước khi nói đến chuyện dời non lấp bể, đội đá vá trời, xin các bạn hãy trở lại làm một công việc căn bản nhất và đơn giản nhất là ngồi xuống và cùng nhau học sử Việt Nam.
Trong những ngày nầy, chúng ta thường nghe đến những cụm từ "nỗi đau của dân tộc Việt Nam", "căn bịnh Việt Nam", "cuộc chiến tranh Việt Nam", "tính tự ti mặc cảm Việt Nam" nhưng rất ít khi nghe "niềm tự hào Việt Nam". Trong một diễn văn đọc tại Hội Nghị Nhân Quyền tại Mạc Tư Khoa vào năm 1992, một cô gái Việt Nam, làm cả hội trường xúc động khi cô nói lên tấm lòng của một người con gái Việt Nam mong có một ngày được nhận mình là người Việt Nam mà không mặc cảm. Đó cũng là tâm trạng chung và rất thực tế của nhiều người và nhiều thế hệ, nhất là các thế hệ trẻ, khi đứng trước cảnh lầm than của xứ sở. Tâm trạng đó không phải là sai về mặt kinh tế nhưng khi nhìn từ góc độ văn hóa và lịch sử, đó là một tâm trạng bi quan và tiêu cực. Tại sao phải mơ có một ngày nào đó mới dám thừa nhận là người Việt Nam mà không phải từ lâu hay ngay bây giờ.
Chẳng lẻ vì Cộng Sản đang cưỡng chiếm quê hương chúng ta nên chúng ta không thể tự nhận mình là người Việt Nam hay sao? chẳng lẽ vì Việt Nam là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới nên chúng ta không dám nhận mình là người Việt Nam hay sao? Chẳng lẻ chúng ta đang lưu vong trên đất khách quê người nên chúng ta cho rằng mình là những người vô tổ quốc hay sao ?
Việt Nam, dù đang trong lòng giặt chiếm, tội lỗi làm cho đất nước Việt Nam lầm than, điêu đứng là tội lỗi của Cộng Sản, nhưng trong tim của mỗi người Việt, giải giang sơn gấm vóc kia bao giờ cũng là đất nước của người Việt Nam.
Tổ quốc Việt Nam dù trước mắt còn nằm trong tay Cộng Sản nhưng tổ quốc kia muôn đời cũng là tổ quốc Việt Nam, tổ quốc của các chú bác, của anh chị, của các em và cũng của tôi. Nhìn vào lịch sử không phải chỉ nhìn vào hoàn cảnh chúng ta đang sống mà thôi nhưng còn nhìn lại hàng nghìn năm trước và nhìn xa vào hàng nghìn năm sau.
Trong suốt 23 năm qua, chúng ta đang nỗ lực đấu tranh giành lại đất nước, giành lại tự do dân chủ từ tay những người Cộng Sản độc tài. Cuộc chiến đấu dù còn khó khăn, hành trình đi đến tự do còn nhiều thử thách nhưng không phải vì thế mà chúng ta quên đi mình là người Việt Nam. Không phải vì thế mà chúng ta không hảnh diện mình là người Việt Nam. Chúng ta nên luôn hảnh diện là người Việt Nam trong bất cứ hoàn cảnh lịch sử nào, tại bất cứ nơi nào và trong bất cứ thời điểm nào, trong vinh quang cũng như khi tủi nhục, của ngày xưa và ngay cả của hôm nay. Chúng ta hãy vững tin vào lịch sử dân tộc. Niềm tin đó là sức mạnh quyết định trong cuộc đấu tranh sinh tử giữa ý thức dân tộc dân chủ và ý thức hệ Cộng Sản dộc tài.
Chúng ta không may mắn sinh ra trong một gia đình nghèo và sống dưới căn nhà dột nát nhưng không phải vì thế mà chúng ta cảm thấy nhục nhả, cảm thấy mặc cảm. Chúng ta, trái lại, luôn hảnh diện với gia phong và huyết thống của mình.
Nếu các bạn cho rằng gia phong huyết thống không đổi được chén cơm, không may được chiếc áo, điều đó không đúng. Gia phong và huyết thống là gì? Gia phong huyết thống của đại gia đình Việt Nam là màu da chúng ta đang có, là chiếc áo dài các em đang mặc, là tiếng nói mà các em đang gọi nhau, là ca dao, là truyện Kiều, là lá trầu trái cau, là nụ cười của trẻ thơ và cả tiếng khóc đau lòng của mẹ. Gia phong huyết thống không những nuôi lớn chúng ta mà còn trao cho chúng ta cả cuộc đời và tương lai tươi sáng. Gia phong và huyết thống mà chúng ta đang có hôm nay đã tích lủy và kế thừa từ nhiều nghìn năm trước, là tổng hợp bao tinh hoa của nhiều thế hệ Việt Nam đi trước. Chúng ta nên học lịch sử để hiểu, để biết ơn được làm một người Việt Nam. Chúng ta nên hiểu rằng nếu Trưng Trắc và Trưng Nhị không nhảy xuống Hát Giang tuẩn tiết thì chúng ta không có một con người và văn hóa như ngày hôm nay. Nếu Trần Bình Trọng không chịu làm quỷ nước Nam nhưng lại thích làm Vương đất Bắc thì chúng ta không còn tồn tại đến ngày hôm nay. Nếu Nguyễn Tri Phương không nhịn đói chịu đau mà chết thì chúng ta không có ngày hôm nay.
Nếu Nguyễn Thái Học và mười hai đồng chí không ngẫng cao đầu nhìm máy chém và hô Việt Nam Vạn Tuê thì chúng ta không có ngày hôm nay. Nếu chúng ta không hiểu không cảm nhận những cái hay cái đẹp cái tinh hoa của dân tộc từ trong ý thức thì dù có đứng ngay trên gò Đống Đa cũng không biết nắm đất kia có ý nghĩa gì hay có đi ngay giữa lòng Hà Nội không hiểu thành phố mang ý nghĩa lịch sử gì. Sự cảm nhận lịch sử hay ý thức về nguồn phải bắt đầu từ trong tâm hồn, từ khát vọng sâu xa của một người dân Việt chứ không phải với tâm trạng của một khách du lịch trước cái hay cái lạ.
Lịch sử là vũ khí, là hành trang căn bản trong hành trình tranh đấu cho tự do dân chủ, cũng như để xây dựng đất nước sau nầy. Lịch sử là niềm tin. Niềm tin không thể mua bán. Niềm tin không thể nghe theo. Niềm tin không thể giả dối. Mỗi chúng ta phải tạo dựng niềm tin cho chính mình bằng suy nghĩ và cảm nhận của cá nhân mình. Những người nhắm mắt làm theo, nhắm mắt đi theo không bao giờ đi trọn con đường được. Họ chỉ có thể đi trên những đoạn đường bằng phẳng không gai góc nhưng nhưng một khi có đường ghềnh thác hiểm nguy họ sẽ là những người đầu tiên vấp té và bỏ cuộc. Niềm tin là tự nguyện. Không ai cho chúng ta vay mượn niềm tin cả. Lịch sử cho thấy mọi sự vay mượn đều dẫn đến lệ thuộc. Lệ thuộc vật chất thì còn có thể thoát ra nhưng lệ thuộc niềm tin, lệ thuộc tinh thần sẽ dẩn đến nô lệ, vong thân, rất khó mà thoát ra được.
Tại sao Phạm Hồng Thái phải nhảy xuống sông Châu Giang tự tử ? tại sao các tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng phải tự sát ? không phải vì các vị đó sợ hãi, không phải vì các vị đó chỉ biết căm thù, cũng không phải chỉ vì các vị đó can đảm hơn người khác nhưng quan trọng nhất, bởi vì các vị đó đã có một niềm tin quá lớn vào sự trường tồn của dân tộc, niềm tin đó lớn hơn cả mạng sống của chính họ. Muốn xây dựng niềm tin không có cách gì hay hơn là học sử.
Ngày mùng 6 tháng 6 năm 1285, Thượng Tướng Quân Trần Quang Khải đem đại binh từ Nghệ An ra giải phóng Thăng Long từ tay giặt. Trong đêm liên hoan mừng chiến thắng, đứng giữa kinh thành điêu tàn đổ nát dưới bàn chân giặc Nguyên tàn bạo, Thượng Tướng đã cảm khái bài thơ tứ tuyệt:
Đạt sáo Chương Dương Độ
Cầm hồ Hàm Tử Quan
Thái Bình tu nổ lực
Vạn cổ thử giang san
Chương Dương đoạt giáo giặt
Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức
Non nước đó nghìa thu
Câu "Non nước đó nghìn thu" phản ảnh niềm tin mảnh liệt của ngài vào tưong lai đất nước.
Học sử không phải chỉ học những trang hào hùng Phá Tống Bình Chiêm, Đại Phá Quân Thanh hay những áng văng chương hào hùng như Bình Ngô Đại Cáo, Hịch Tướng Sĩ v.v. nhưng còn học những thất bại của tổ tiên cha ông chúng ta. Nếu đọc sử, chúng ta sẽ thấy rằng dòng lịch sử Việt Nam là một quá trình chiến đấu không ngừng nghỉ để giữ lấy mảnh đất nhỏ nhoi nhuộm đầy mồ hôi xương máu của tổ tiên. Quá trình đó đã hun đúc trong mỗi người Việt Nam một đăc tính dân tộc bảo thủ quyêt liệt. Nếu đọc sử chúng ta sẽ thấy đặc tính bảo thủ đó không phải chỉ có ở vua Tự Đức, vua Minh Mạng nhưng đặc tính chống ngoại bang, sợ mất nước là một đặc tính dân tộc được kế thừa từ nhiều ngàn năm trước. Đặc tính dân tộc bảo thủ quyết liệt đó nếu xử dụng đúng sẽ là vũ khí quyết định để bảo vệ đất nước. Đặc tính đó đã từng giúp vua tôi Nhà Trần ba lần đại phá quân Nguyên, đặc tính đó đã từng giúp Nguyễn Huệ trong năm ngày đánh tan 20 vạn quân Thanh. Đặc tính đó giúp cho dân tộc Việt Nam tồn tại sau một ngàn năm Bắc thuộc, một trăm năm dưới ách Thực Dân.
Đảng Cộng Sản Việt Nam, đã lợi dụng lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Thực Dân, để rồi cuối cùng chiếm lấy đất nước, áp đặt ý thức hệ vong bản lên trên đầu trên cổ nhân dân Việt Nam, xích hóa cả dân tộc Việt Nam chúng ta. Câu khẩu hiệu "yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội" mà các em thường học trong trường trung học hay đại học CS khi còn ở trong nước là câu tuyên truyền láo khoét và mâu thuẩn bởi vì Dân Tộc và Cộng Sản không thể cùng tồn tại và hệ ý thức Dân Tộc và hệ ý thức Cộng Sản là hai hệ ý thức mâu thuẩn có tính chất phủ định lẫn nhau.
Khi nói đến đặc tính bảo thủ của lòng yêu nước không có nghĩa tôi ca ngợi lòng yêu nước cực đoan hay bảo vệ cho chính sách bế môn toả cảng và chính sách đối nội sai lầm của các vua nhà Nguyễn nhưng lịch sử là lịch sử. Chúng ta học sử để từ đó rút ra những bài học quý giá làm nền tảng xây dựng đất nước trong tương lai trong một tinh thần dân tộc nhân bản và khai phóng chứ không phải chỉ để đổ tội cho tiền nhân.
Nói lên những điều tiêu cực không có nghĩa là tôi bi quan về tuổi trẻ. Nói những điều tiêu cực không có nghĩa là tôi đánh giá thấp vai trò của tuổi trẻ hay phủ nhận các đóng góp của tuổi trẻ trong sinh hoạt cộng đồng hay trong các nỗ lực đấu tranh vì dân sinh dân chủ cho đồng bào trong nước. Chúng tôi chỉ mong các bạn trẻ nhìn vào vấn đề từ thực tế, tìm hiểu và giải quyết vấn đề từ căn bản cũng như biết mình là ai, đang đứng đâu và nên làm gì trước những khổ đau đang đè lên sinh mệnh dân tộc.
Mỗi thế hệ có một nhiệm vụ phải hoàn thành. Nhưng dù không hoàn thành vẫn phải nhường lại con đường cho các thế hệ trẻ tiến lên.
Các thế hệ trẻ dù muốn hay không muốn cũng phải nhận lảnh trách nhiệm của mình trước lịch sử. Đất nước Việt Nam là của các thế hệ trẻ. Tương lai Việt Nam có được vinh quang hay phải tiếp tục chịu đựng lầm than tủi nhục cũng là từ hành động của các thế hệ trẻ. Đứng trước giai đoạn đầy bóng tối của đất nước hiện nay, nhiệm vụ của các các thế hệ trẻ đã trở thành một thử thách lớn lao. Để đi hết con đường khó khăn trước mắt mỗi người phải tự thắp sáng niềm tin dân tộc trong lòng mình. Mỗi người chúng ta phải tự xây dựng cho mình một ý thức Dân Tộc vững chắc nhằm chống lại mọi ý thức hệ vong bản, phi dân tộc khác. Ý thức Dân Tộc đó không phải tìm đâu xa lạ, tìm đâu khác hơn là trong sử sách Việt Nam. Tôi mong rằng tại đây và ngay bây giờ, các bạn trẻ Việt Nam tại hải ngoại hãy cùng nhau Về Thăm Lịch Sử:
Anh sẽ đưa em về thăm Hà Nội
Cả đời anh chưa được một lần qua
Mộng Hồ Gươm vằng vặc bóng trăng tà
Sâu thăm thẳm như lòng anh nhớ nước
Những chiếc cọc Bạch Ðằng Giang thuở trước
Hãy chờ tôi đừng vội cuốn ra khơi
Những rong rêu thành quách của muôn đời
Xin cố đứng dù trời đang nổi gió
Ta sẽ tới thăm khu Trường Giảng Võ
Tìm chiếc nỏ thần lưu lạc của Thục Vương
Ðâu Mỵ Châu lông ngỗng trắng ven đường
Ðâu Trọng Thủy tìm người thương muôn dặm
Ta sẽ ghé bến Bình Than một bận
Nơi ngày xưa ai bóp nát quả cam vàng
Trần Khánh Dư xuôi ngược chiếc thuyền than
Trần Thủ Ðộ đầu chưa rơi xuống đất
Em sẽ nhớ bao nhiêu người đã khuất
Nhớ Chương Dương mơ Vạn Kiếp Thiên Trường
Có phải nơi nầy Trần Bình Trọng đầu rơi
Thà làm quỉ hơn làm vương đất bắc
Ta sẽ đợi bên bờ sông Thiên Mạc
Nhìn xa xa lửa dậy đất Thăng Long
Hưng Ðạo Vương vung kiếm chỉ vào sông
Dẫu thịt nát thây phơi ngoài nội cỏ
Em sẽ thấy gò Ðống Ða còn đó
Nấm mồ hoang của hàng vạn quân Thanh
Vua Quang Trung oai dũng tiến vào thành
Chiếc áo ngự còn vương mùi khói súng
Ta sẽ đến Lam Sơn tìm dấu chứng
Nơi ngày xưa Nguyễn Trãi hiến Bình Ngô
Rừng Chí Linh ai giả mặc long bào
Ðể được chết thay vua và thay nước
Anh sẽ đưa em đi dọc bờ sông Hát
Nơi nào đây Trưng Trắc đã trầm thân
Vẫn thấy lòng đau dù đã mấy nghìn năm
Vẫn tha thiết như nhớ người chị cả
Anh sẽ đưa em về qua Hưng Hóa
Ghé Phong Châu quì trước điện Vua Hùng
Dẫu lạc loài nơi cuối bể đầu non
Hồn con vẫn là hồn muôn năm cũ
Mỗi chiếc lá như còn nghe hơi thở
Mỗi cành cây như có một linh hồn
Ta sẽ về sống lại một lần thôi
Em sẽ khóc như chưa hề được khóc
Ta sẽ viếng đường Cổ Ngư bóng mát
Những chuyện tình đẹp nhất khởi từ đây
Nắng dịu dàng soi mặt nước Hồ Tây
Xin một chút hong khô màu mắt biếc
Ôi Lịch sử, một vầng trăng diễm tuyệt
Sáng trong anh nét đẹp của muôn đời.
Trần Trung Đạo
Tham luận Trần Trung Ðạo
Trước những dấu hiệu cho thấy các phong trào phản kháng trẻ từ trong nước đang bắt đầu chuyển động mạnh, cụ thể qua các bản tin Thao Thức, sự chống đối của sinh viên trường Văn Lang v.v. chủ đề tuổi trẻ Việt Nam trước lịch sử lại một lần nữa được nhắc đến khá nhiều trên báo chí cũng như trong các buổi thảo luận tại hải ngoại.
Ai cũng biết tuổi trẻ là tương lai. Khi nói về tuổi trẻ, chúng ta thường nói đến tuổi của sức sống tràn đầy, tuổi của khai phóng và sáng tạo. Khi nhận xét về tuổi trẻ, chúng ta thường nghĩ đến những mặt tích cực và lạc quan.
Có rất nhiều đánh giá khác nhau về tuổi trẻ Việt Nam, trong cũng như ngoài nước trong suốt 23 năm qua. Nhìn chung đó là những đánh giá không mấy tích cực.
Với tuổi trẻ trong nước, chúng tôi xin trích dẫn 2 quan điểm, từ một người cầm bút và từ một thanh niên. Nhà văn miền Bắc Dương Thu Hương nhận định như sau đây về tuổi trẻ trong nước "tuổi trẻ không còn lý tưởng, họ đang lao vào cuộc sống thác loạn và xem đó như là cách trả thù cho những thế hệ cha ông đã lừa gạt họ." Lý tưởng mà nhà văn Dương Thu Hương muốn nói có lẽ là lý tưởng Cộng Sản hơn là lý tưởng Quốc Gia Dân Tộc và tuổi trẻ mà nhà văn Dương Thu Hương muốn nói đây là tuổi trẻ miền Bắc, thế hệ đã bị đảng nhử bằng chiếc bánh vẻ độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất để rồi bị đẩy vào vũng lầy chiến tranh, nghèo đói, tham nhủng, thối nát.
Đối với tuổi trẻ sinh ra và lớn lên ở miền Nam, Nhà báo quen thuộc về các vấn đề Việt Nam, ông Andrew Lam của tờ San Jose Mercury trong số ra ngày 25, tháng 5 năm 1998 trích lời của một thanh niên tên là Tuấn tuyên bố với ông ta, trong thời gian ông đến Việt Nam làm phóng sự "Chúng tôi bị lừa gạt. Trước đây, tôi biết chủ nghĩa Cộng Sản là sai khi tôi phải học thuộc lòng lý thuyết Mác nhưng không biết tại sao mình phải học. Khi Việt Nam mở cửa, tôi có được dịp xem ti-vi, đọc báo và qua đó tôi ý thức rằng những quốc gia khác giàu có biết bao nhiêu, phim ảnh của họ làm đẹp biết bao nhiêu, con người họ cũng đẹp đẻ biết bao nhiêu. Nhìn lại Việt Nam, tôi cảm thấy buồn. Đừng nói chi là Mỹ, ngay cả Thái Lan, Đại Hàn, Mã Lai cũng hơn Việt Nam quá xa. Việt Nam không có gì để nói, để khoe khoang và giới thiệu. Việt Nam chỉ là một quốc gia bị lãng quên trong nghèo đói."
Từ hai nhận xét trên, chúng ta thấy rằng tuổi trẻ hai miền đều bất mản chế độ. Tuy nhiên, dù bất mản, tuổi trẻ Việt Nam trong nước, từ Bắc đến Nam, đã có những thái độ và phản ứng tiêu cực trước những áp bức chính trị và những bất công xã hội. Thay vì đứng lên đạp đổ chính quyền Cộng Sản, thay vì biểu tình xuống đường chống đối, họ đã sống trong lãng quên bằng những cuộc đua xe gắn máy bạt mạng, bằng cuộc sống buông thả, sa đọa, trụy lạc. Cho đến nay, sau 23 năm, ngoài trừ vài phong trào nhỏ, tuổi trẻ trong nước đã không hay ít nhất chưa cho chúng ta thấy họ sẽ là lực lượng chủ động trong nỗ lực đưa dân tộc Việt Nam thoát ra khỏi xích xiềng Cộng Sản, đưa dân tộc Việt Nam ra khỏi nghèo nàn lạc hậu.
Còn tại hải ngoại thì sao? Chúng tôi thiết nghĩ không cần phải dẫn chứng từ sách vở nào hay từ nhân vật nào khác. Chúng ta phải thẳng thắng thừa nhận rằng, cho đến nay, tuổi trẻ hải ngoại chưa phải là lực lượng chủ động trong các sinh hoạt chính trị, đấu tranh vì tự do, vì dân chủ và nhân quyền của dân tộc Việt Nam. Một số rất ít anh chị tạm gọi là tương đối còn trẻ đang có những hoạt động liên hệ trực tiếp đến cộng đồng người Việt, có thể đếm trên đầu ngón tay. Nói chung các phong trào và tổ chức trẻ, có tổ chức chặt chẻ và hoạt động năng nổ tại hải ngoại kể ra thì nghe nhiều nhưng thực tế còn quá ít so với lực lượng đông đảo của khối chuyên gia trẻ, thanh niên, sinh viên Việt Nam tại hải ngoại. Hoạt động của các cá nhân và phong trào trẻ cũng chưa đáp ứng một phần dù rất nhỏ so với nhu cầu của cộng đồng người Việt cũng như lịch sử dân tộc đang đặt ra cho thế hệ họ.
Có hàng chục lý do đã cầm chân tuổi trẻ. Trong nước, chính sách giáo dục ngu dân của Cộng Sản đã tác hại trầm trọng đến ý thức dân tộc của tuổi trẻ. Người Cộng Sản cứ mỗi khi há miệng là nói đến những cụm từ đầy cảm tính như "dân tộc", "tổ quốc", "đất nước" nhưng chính sách giáo dục của họ lại phản dân tộc nhất. Trong khi ở hải ngoại, tuổi trẻ lại không có cơ hội và thời gian để học hỏi văn hóa Việt, bâng khuâng với câu hỏi "tôi là ai ?"
Trong giới hạn của vài chục phút nói chuyện, chúng tôi không thể đưa ra và phân tích tất cả, dĩ nhiên là rất nhiều, những lý do chính dẫn đến sự xa cách giữa lịch sử và tuổi trẻ trong đó bao gồm những yếu tố xung đột trong gia đình và giữa các thế hệ, yếu tố môi trường và giáo dục, yếu tố chính trị v.v.. Chúng tôi chỉ nhân cơ hội nầy để nhắc đến một lý do, thoạt trông rất bình thường nhưng ít ai đặt nặng đúng mức, đó là lý do tuổi trẻ Việt Nam không thuộc sử Việt Nam.
Tuổi trẻ ngày nay ít gần gủi với lịch sử, ít gắn bó với lịch sử, không thấy hết được tính kế tục của lịch sử, chưa thấy rõ được vai trò của chính mình trong giai đoạn hiện nay và trách nhiệm của chúng ta đối với dòng lịch sử đang chảy vào tương lai dân tộc. Chúng tôi tin rằng không phải các cô chúc sinh viên Việt Nam nào lớn lên tại hải ngoại cũng biết Tôn Thất Đạm, Lương Ngọc Quyến, Ký Con, Phạm Hồng Thái là ai.
Việc không thuộc sử dẫn đến câu hỏi "tôi là ai". Không thuộc sử Việt Nam dẩn việc thiếu niềm tin vào sức sống và sự trường tồn của giòng giống Việt Nam. Không thuộc sử sẽ dẫn đến những cái nhìn thiển cận về tương lai đất nước. Lo những cái không đáng lo, sợ những điều không đáng sợ. Không lo những cái đáng lo, không sợ những điều đáng sợ. Do đó trước khi nói đến chuyện làm lịch sử, trước khi nói đến chuyện dời non lấp bể, đội đá vá trời, xin các bạn hãy trở lại làm một công việc căn bản nhất và đơn giản nhất là ngồi xuống và cùng nhau học sử Việt Nam.
Trong những ngày nầy, chúng ta thường nghe đến những cụm từ "nỗi đau của dân tộc Việt Nam", "căn bịnh Việt Nam", "cuộc chiến tranh Việt Nam", "tính tự ti mặc cảm Việt Nam" nhưng rất ít khi nghe "niềm tự hào Việt Nam". Trong một diễn văn đọc tại Hội Nghị Nhân Quyền tại Mạc Tư Khoa vào năm 1992, một cô gái Việt Nam, làm cả hội trường xúc động khi cô nói lên tấm lòng của một người con gái Việt Nam mong có một ngày được nhận mình là người Việt Nam mà không mặc cảm. Đó cũng là tâm trạng chung và rất thực tế của nhiều người và nhiều thế hệ, nhất là các thế hệ trẻ, khi đứng trước cảnh lầm than của xứ sở. Tâm trạng đó không phải là sai về mặt kinh tế nhưng khi nhìn từ góc độ văn hóa và lịch sử, đó là một tâm trạng bi quan và tiêu cực. Tại sao phải mơ có một ngày nào đó mới dám thừa nhận là người Việt Nam mà không phải từ lâu hay ngay bây giờ.
Chẳng lẻ vì Cộng Sản đang cưỡng chiếm quê hương chúng ta nên chúng ta không thể tự nhận mình là người Việt Nam hay sao? chẳng lẽ vì Việt Nam là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới nên chúng ta không dám nhận mình là người Việt Nam hay sao? Chẳng lẻ chúng ta đang lưu vong trên đất khách quê người nên chúng ta cho rằng mình là những người vô tổ quốc hay sao ?
Việt Nam, dù đang trong lòng giặt chiếm, tội lỗi làm cho đất nước Việt Nam lầm than, điêu đứng là tội lỗi của Cộng Sản, nhưng trong tim của mỗi người Việt, giải giang sơn gấm vóc kia bao giờ cũng là đất nước của người Việt Nam.
Tổ quốc Việt Nam dù trước mắt còn nằm trong tay Cộng Sản nhưng tổ quốc kia muôn đời cũng là tổ quốc Việt Nam, tổ quốc của các chú bác, của anh chị, của các em và cũng của tôi. Nhìn vào lịch sử không phải chỉ nhìn vào hoàn cảnh chúng ta đang sống mà thôi nhưng còn nhìn lại hàng nghìn năm trước và nhìn xa vào hàng nghìn năm sau.
Trong suốt 23 năm qua, chúng ta đang nỗ lực đấu tranh giành lại đất nước, giành lại tự do dân chủ từ tay những người Cộng Sản độc tài. Cuộc chiến đấu dù còn khó khăn, hành trình đi đến tự do còn nhiều thử thách nhưng không phải vì thế mà chúng ta quên đi mình là người Việt Nam. Không phải vì thế mà chúng ta không hảnh diện mình là người Việt Nam. Chúng ta nên luôn hảnh diện là người Việt Nam trong bất cứ hoàn cảnh lịch sử nào, tại bất cứ nơi nào và trong bất cứ thời điểm nào, trong vinh quang cũng như khi tủi nhục, của ngày xưa và ngay cả của hôm nay. Chúng ta hãy vững tin vào lịch sử dân tộc. Niềm tin đó là sức mạnh quyết định trong cuộc đấu tranh sinh tử giữa ý thức dân tộc dân chủ và ý thức hệ Cộng Sản dộc tài.
Chúng ta không may mắn sinh ra trong một gia đình nghèo và sống dưới căn nhà dột nát nhưng không phải vì thế mà chúng ta cảm thấy nhục nhả, cảm thấy mặc cảm. Chúng ta, trái lại, luôn hảnh diện với gia phong và huyết thống của mình.
Nếu các bạn cho rằng gia phong huyết thống không đổi được chén cơm, không may được chiếc áo, điều đó không đúng. Gia phong và huyết thống là gì? Gia phong huyết thống của đại gia đình Việt Nam là màu da chúng ta đang có, là chiếc áo dài các em đang mặc, là tiếng nói mà các em đang gọi nhau, là ca dao, là truyện Kiều, là lá trầu trái cau, là nụ cười của trẻ thơ và cả tiếng khóc đau lòng của mẹ. Gia phong huyết thống không những nuôi lớn chúng ta mà còn trao cho chúng ta cả cuộc đời và tương lai tươi sáng. Gia phong và huyết thống mà chúng ta đang có hôm nay đã tích lủy và kế thừa từ nhiều nghìn năm trước, là tổng hợp bao tinh hoa của nhiều thế hệ Việt Nam đi trước. Chúng ta nên học lịch sử để hiểu, để biết ơn được làm một người Việt Nam. Chúng ta nên hiểu rằng nếu Trưng Trắc và Trưng Nhị không nhảy xuống Hát Giang tuẩn tiết thì chúng ta không có một con người và văn hóa như ngày hôm nay. Nếu Trần Bình Trọng không chịu làm quỷ nước Nam nhưng lại thích làm Vương đất Bắc thì chúng ta không còn tồn tại đến ngày hôm nay. Nếu Nguyễn Tri Phương không nhịn đói chịu đau mà chết thì chúng ta không có ngày hôm nay.
Nếu Nguyễn Thái Học và mười hai đồng chí không ngẫng cao đầu nhìm máy chém và hô Việt Nam Vạn Tuê thì chúng ta không có ngày hôm nay. Nếu chúng ta không hiểu không cảm nhận những cái hay cái đẹp cái tinh hoa của dân tộc từ trong ý thức thì dù có đứng ngay trên gò Đống Đa cũng không biết nắm đất kia có ý nghĩa gì hay có đi ngay giữa lòng Hà Nội không hiểu thành phố mang ý nghĩa lịch sử gì. Sự cảm nhận lịch sử hay ý thức về nguồn phải bắt đầu từ trong tâm hồn, từ khát vọng sâu xa của một người dân Việt chứ không phải với tâm trạng của một khách du lịch trước cái hay cái lạ.
Lịch sử là vũ khí, là hành trang căn bản trong hành trình tranh đấu cho tự do dân chủ, cũng như để xây dựng đất nước sau nầy. Lịch sử là niềm tin. Niềm tin không thể mua bán. Niềm tin không thể nghe theo. Niềm tin không thể giả dối. Mỗi chúng ta phải tạo dựng niềm tin cho chính mình bằng suy nghĩ và cảm nhận của cá nhân mình. Những người nhắm mắt làm theo, nhắm mắt đi theo không bao giờ đi trọn con đường được. Họ chỉ có thể đi trên những đoạn đường bằng phẳng không gai góc nhưng nhưng một khi có đường ghềnh thác hiểm nguy họ sẽ là những người đầu tiên vấp té và bỏ cuộc. Niềm tin là tự nguyện. Không ai cho chúng ta vay mượn niềm tin cả. Lịch sử cho thấy mọi sự vay mượn đều dẫn đến lệ thuộc. Lệ thuộc vật chất thì còn có thể thoát ra nhưng lệ thuộc niềm tin, lệ thuộc tinh thần sẽ dẩn đến nô lệ, vong thân, rất khó mà thoát ra được.
Tại sao Phạm Hồng Thái phải nhảy xuống sông Châu Giang tự tử ? tại sao các tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng phải tự sát ? không phải vì các vị đó sợ hãi, không phải vì các vị đó chỉ biết căm thù, cũng không phải chỉ vì các vị đó can đảm hơn người khác nhưng quan trọng nhất, bởi vì các vị đó đã có một niềm tin quá lớn vào sự trường tồn của dân tộc, niềm tin đó lớn hơn cả mạng sống của chính họ. Muốn xây dựng niềm tin không có cách gì hay hơn là học sử.
Ngày mùng 6 tháng 6 năm 1285, Thượng Tướng Quân Trần Quang Khải đem đại binh từ Nghệ An ra giải phóng Thăng Long từ tay giặt. Trong đêm liên hoan mừng chiến thắng, đứng giữa kinh thành điêu tàn đổ nát dưới bàn chân giặc Nguyên tàn bạo, Thượng Tướng đã cảm khái bài thơ tứ tuyệt:
Đạt sáo Chương Dương Độ
Cầm hồ Hàm Tử Quan
Thái Bình tu nổ lực
Vạn cổ thử giang san
Chương Dương đoạt giáo giặt
Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức
Non nước đó nghìa thu
Câu "Non nước đó nghìn thu" phản ảnh niềm tin mảnh liệt của ngài vào tưong lai đất nước.
Học sử không phải chỉ học những trang hào hùng Phá Tống Bình Chiêm, Đại Phá Quân Thanh hay những áng văng chương hào hùng như Bình Ngô Đại Cáo, Hịch Tướng Sĩ v.v. nhưng còn học những thất bại của tổ tiên cha ông chúng ta. Nếu đọc sử, chúng ta sẽ thấy rằng dòng lịch sử Việt Nam là một quá trình chiến đấu không ngừng nghỉ để giữ lấy mảnh đất nhỏ nhoi nhuộm đầy mồ hôi xương máu của tổ tiên. Quá trình đó đã hun đúc trong mỗi người Việt Nam một đăc tính dân tộc bảo thủ quyêt liệt. Nếu đọc sử chúng ta sẽ thấy đặc tính bảo thủ đó không phải chỉ có ở vua Tự Đức, vua Minh Mạng nhưng đặc tính chống ngoại bang, sợ mất nước là một đặc tính dân tộc được kế thừa từ nhiều ngàn năm trước. Đặc tính dân tộc bảo thủ quyết liệt đó nếu xử dụng đúng sẽ là vũ khí quyết định để bảo vệ đất nước. Đặc tính đó đã từng giúp vua tôi Nhà Trần ba lần đại phá quân Nguyên, đặc tính đó đã từng giúp Nguyễn Huệ trong năm ngày đánh tan 20 vạn quân Thanh. Đặc tính đó giúp cho dân tộc Việt Nam tồn tại sau một ngàn năm Bắc thuộc, một trăm năm dưới ách Thực Dân.
Đảng Cộng Sản Việt Nam, đã lợi dụng lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Thực Dân, để rồi cuối cùng chiếm lấy đất nước, áp đặt ý thức hệ vong bản lên trên đầu trên cổ nhân dân Việt Nam, xích hóa cả dân tộc Việt Nam chúng ta. Câu khẩu hiệu "yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội" mà các em thường học trong trường trung học hay đại học CS khi còn ở trong nước là câu tuyên truyền láo khoét và mâu thuẩn bởi vì Dân Tộc và Cộng Sản không thể cùng tồn tại và hệ ý thức Dân Tộc và hệ ý thức Cộng Sản là hai hệ ý thức mâu thuẩn có tính chất phủ định lẫn nhau.
Khi nói đến đặc tính bảo thủ của lòng yêu nước không có nghĩa tôi ca ngợi lòng yêu nước cực đoan hay bảo vệ cho chính sách bế môn toả cảng và chính sách đối nội sai lầm của các vua nhà Nguyễn nhưng lịch sử là lịch sử. Chúng ta học sử để từ đó rút ra những bài học quý giá làm nền tảng xây dựng đất nước trong tương lai trong một tinh thần dân tộc nhân bản và khai phóng chứ không phải chỉ để đổ tội cho tiền nhân.
Nói lên những điều tiêu cực không có nghĩa là tôi bi quan về tuổi trẻ. Nói những điều tiêu cực không có nghĩa là tôi đánh giá thấp vai trò của tuổi trẻ hay phủ nhận các đóng góp của tuổi trẻ trong sinh hoạt cộng đồng hay trong các nỗ lực đấu tranh vì dân sinh dân chủ cho đồng bào trong nước. Chúng tôi chỉ mong các bạn trẻ nhìn vào vấn đề từ thực tế, tìm hiểu và giải quyết vấn đề từ căn bản cũng như biết mình là ai, đang đứng đâu và nên làm gì trước những khổ đau đang đè lên sinh mệnh dân tộc.
Mỗi thế hệ có một nhiệm vụ phải hoàn thành. Nhưng dù không hoàn thành vẫn phải nhường lại con đường cho các thế hệ trẻ tiến lên.
Các thế hệ trẻ dù muốn hay không muốn cũng phải nhận lảnh trách nhiệm của mình trước lịch sử. Đất nước Việt Nam là của các thế hệ trẻ. Tương lai Việt Nam có được vinh quang hay phải tiếp tục chịu đựng lầm than tủi nhục cũng là từ hành động của các thế hệ trẻ. Đứng trước giai đoạn đầy bóng tối của đất nước hiện nay, nhiệm vụ của các các thế hệ trẻ đã trở thành một thử thách lớn lao. Để đi hết con đường khó khăn trước mắt mỗi người phải tự thắp sáng niềm tin dân tộc trong lòng mình. Mỗi người chúng ta phải tự xây dựng cho mình một ý thức Dân Tộc vững chắc nhằm chống lại mọi ý thức hệ vong bản, phi dân tộc khác. Ý thức Dân Tộc đó không phải tìm đâu xa lạ, tìm đâu khác hơn là trong sử sách Việt Nam. Tôi mong rằng tại đây và ngay bây giờ, các bạn trẻ Việt Nam tại hải ngoại hãy cùng nhau Về Thăm Lịch Sử:
Anh sẽ đưa em về thăm Hà Nội
Cả đời anh chưa được một lần qua
Mộng Hồ Gươm vằng vặc bóng trăng tà
Sâu thăm thẳm như lòng anh nhớ nước
Những chiếc cọc Bạch Ðằng Giang thuở trước
Hãy chờ tôi đừng vội cuốn ra khơi
Những rong rêu thành quách của muôn đời
Xin cố đứng dù trời đang nổi gió
Ta sẽ tới thăm khu Trường Giảng Võ
Tìm chiếc nỏ thần lưu lạc của Thục Vương
Ðâu Mỵ Châu lông ngỗng trắng ven đường
Ðâu Trọng Thủy tìm người thương muôn dặm
Ta sẽ ghé bến Bình Than một bận
Nơi ngày xưa ai bóp nát quả cam vàng
Trần Khánh Dư xuôi ngược chiếc thuyền than
Trần Thủ Ðộ đầu chưa rơi xuống đất
Em sẽ nhớ bao nhiêu người đã khuất
Nhớ Chương Dương mơ Vạn Kiếp Thiên Trường
Có phải nơi nầy Trần Bình Trọng đầu rơi
Thà làm quỉ hơn làm vương đất bắc
Ta sẽ đợi bên bờ sông Thiên Mạc
Nhìn xa xa lửa dậy đất Thăng Long
Hưng Ðạo Vương vung kiếm chỉ vào sông
Dẫu thịt nát thây phơi ngoài nội cỏ
Em sẽ thấy gò Ðống Ða còn đó
Nấm mồ hoang của hàng vạn quân Thanh
Vua Quang Trung oai dũng tiến vào thành
Chiếc áo ngự còn vương mùi khói súng
Ta sẽ đến Lam Sơn tìm dấu chứng
Nơi ngày xưa Nguyễn Trãi hiến Bình Ngô
Rừng Chí Linh ai giả mặc long bào
Ðể được chết thay vua và thay nước
Anh sẽ đưa em đi dọc bờ sông Hát
Nơi nào đây Trưng Trắc đã trầm thân
Vẫn thấy lòng đau dù đã mấy nghìn năm
Vẫn tha thiết như nhớ người chị cả
Anh sẽ đưa em về qua Hưng Hóa
Ghé Phong Châu quì trước điện Vua Hùng
Dẫu lạc loài nơi cuối bể đầu non
Hồn con vẫn là hồn muôn năm cũ
Mỗi chiếc lá như còn nghe hơi thở
Mỗi cành cây như có một linh hồn
Ta sẽ về sống lại một lần thôi
Em sẽ khóc như chưa hề được khóc
Ta sẽ viếng đường Cổ Ngư bóng mát
Những chuyện tình đẹp nhất khởi từ đây
Nắng dịu dàng soi mặt nước Hồ Tây
Xin một chút hong khô màu mắt biếc
Ôi Lịch sử, một vầng trăng diễm tuyệt
Sáng trong anh nét đẹp của muôn đời.
Trần Trung Đạo