KaaBOOM
03-03-2006, 09:32 PM
Việt Nam quê hương mến yêu ?
Huynh Kim Khánh
Nhiềungười trong chúng ta chắc vẫn chưa quên được tâm trạng của một thuyền nhân khi rời bỏ quê hương. Cái cảm giác lo lắng, sợ sệt, bồi hồi của “kẻ phản quốc”. Lo lắng vì những chiếc “tắc-xi” (1) có đưa bạn lên “cá lớn” (2) không? Hay đây lại là một vụ lừa gạt mà bạn chỉ là một con số thống kê trên vài trăm ngàn. Sợ sệt vì công an địa phương, công an biên phòng có thể bắt bạn bất cứ lúc nào. Bồi hồi là tâm trạng của người vượt biển, vượt biên. Quê hương chìm khuất trong bóng đêm, không hẹn ngày trở lại. Có thể bạn và tôi đã khóc. Khi đọc được những dòng nầy dĩ nhiên bạn không là kẻ phản quốc nữa, mà là khúc ruột ngàn dặm của quê hương. Trong chúng ta có người tự nguyện trốn chạy khỏi nơi chôn nhau, cắt rốn. Có người được chính quyền Hà Nội mời ra khỏi nước, nhưng không mời trở lại. Có người ra đi đoàn tụ gia đình, hoặc định cư theo quy chế của chính quyền. Có người được đi công tác, du học nước ngoài, rồi cũng bị cấm về lại quê hương vì họ đã học những điều mà chính quyền Hà Nội không có trong chương trình đào tạo, nhưng đây chỉ là thiểu số trong hơn 3 triệu dân Việt ly hương.
Những năm tháng gần đây, người Việt hải ngoại đổ xô nhau về nước khi chính quyền Hà Nội đã mở rộng cửa hơn trước. Trừ những “anh chị” dám lên tiếng dạy đời chế độ và là thành phần “nguy hiểm cho an ninh quốc gia” thì không được “Welcome”. Nếu bạn muốn biết định nghĩa của nhóm từ “nguy hiểm cho an ninh quốc gia” thì xin liên lạc với nhà cầm quyền Hà Nội. Trong khuôn khổ bài nầy tôi xin gởi đến bạn đọc vài tản mạn của người Việt khi nói đến việc về lại Việt Nam.
Tôi chỉ về thăm lại Việt Nam khi …
Ông Trần Đình Khuê là cựu đại uý, quận trưởng cảnh sát của chính quyền miền Nam trước năm 1975. Ông trốn trại cải tạo năm 1985, đi vượt biên và đến Hoa Kỳ năm 1989, hiện sống tại phía Nam thành phố Philadelphia. Khác với nhiều người bạn vong niên, người quen, và thân nhân, ông Khuê tuyên bố một câu xanh dờn, “Tao không bao giờ về Việt Nam nếu còn cộng sản”. Thoạt đầu, nhiều người nghĩ ông qúa khích, sợ sệt, là gà mái, có người nói ông thù dai. Bà vợ ông Khuê nhiều lúc còn châm chọc vì cho rằng ông có thành kiến và bảo thủ. Còn ông Khuê thì sao ?
Từ ngày đến Mỹ, ông Khuê đi làm hai việc để nuôi người con trai đi đại học. Vài năm sau khi đến Hoa Kỳ, ông bảo lãnh toàn bộ gia đình từ Việt Nam sang chung sống. Ông Khuê có đời sống gia đình gương mẫu. Các con của ông (ba trai một gái) và bà vợ đi về Việt Nam thường xuyên. Bạn bè cùng binh nghiệp, bạn cùng trại tỵ nạn khuyên ông về một chuyến thăm lại quê hương, ông Khuê vẫn không thay đổi ý kiến.
“Tôi không về, không phải vì tôi sợ chính quyền Việt Nam. Người ta về hà rầm có sao đâu, các ông tướng tá của chế độ trước như Nguyễn Cao Kỳ, và cả mấy ông hô hào chống cộng cũng về thường xuyên. Tôi chỉ là một sĩ quan tầm thường không “có nhiều nợ máu với nhân dân” nên không có gì phải sợ. Tôi không về không phải là tôi cố tình quên đi quê hương dân tộc. Tha phương ai không nhớ về quê cũ, nhớ ông bà tổ tiên, mảnh đất vườn rau. Nhưng thà chịu nhớ, tôi viết thư, gọi điện thoại, nhờ quay phim, gởi ảnh sang xem cho vơi nhung nhớ, chứ về là không.
Ngay cả cái không khí ở Việt Nam là thấy thiếu tự do rồi. Người ta phải bịt mũi, bịt mồm, nói không dám nói, cười không dám cười. Sợ nói bậy, cười bậy, hay cười chấm biếm đường lối chính sách của chính quyền thì mang hoạ vào thân. Đọc báo chí trong và ngoài nước, thấy tham nhũng độc tài từ 30 năm qua chỉ có tăng chứ không giảm. 99% người tôi quen biết về Việt Nam đều phải hối lộ nhân viên hải quan, thiệt vô lý. Mất tự do từ cửa khẩu; người ta có cảm giác như đi thămmột nhà tù khổng lồ, mà khách thăm viếng lúc nào cũng bị canh chừng. Tôi không về Việt Nam là không muốn mất đi một giây phút tự do nào của tôi, chỉ có thế thôi. Ngày trước, tôi đánh đổi mạng sống với đại dương để được tự do, nay về Việt Nam dù là trong vài ngày, vài tuần, vài tháng, thấy phải luồn cúi, hạ mình, xin xỏ với bọn người “đầy tớ nhân dân” tôi chịu không được. Có lẽ tôi không có kiên nhẫn hay hạ mình, hạ giọng được thì phải chịu thôi. Ngày trước, khi còn bị tù cải tạo, chịu sỉ nhục hành hạ, đành chịu, nay vì tình gia quyến phải chịu kiếp khom lưng cúi cổ thiệt khó chịu qúa. Tôi hy vọng bà con bên nhà hiểu, nhưng chắc gì họ thông cảm.
Tôi sẽ về thăm khi nước Việt Nam có tự do thật sự, hết độc đảng, và nhất là không còn cảnh nô lệ thời nay. Hay ít nhất khi Việt Nam có được tự do nhân quyền, tự do báo chí, và tự do ngôn luận. Còn bây giờ ai thích vui thì về, thấy nhu cầu thì về thăm quê hương. Tôi mường tượng xã hội Việt Nam ngày nay như một cái túi khổng lồ chứa 83 triệu người đồng bào, công an giữ cửa, chính quyền đi gieo tai hoạ, bắt bớ đồng bào, tôi không thấy hứng thú về dù là để thăm chơi cho bõ bao nhiêu năm xa cách.
Đi về, qua lại thường xuyên
Nguyễn Tuấn Minh là người làm thương mại, thường xuyên đi về Việt Nam. Đối với anh vấn nạn của đất nước có gì mới đâu mà nói. Nói hoài mà không làm được gì mới chán. Ở bầu thì tròn, ống thì dài. Xã hội Việt Nam sao ta cứ vậy, theo lệ làng phép nước là xong. Nếu kiếm được chút tiền, với cuộc sống đế vương tại quê hương thì còn gì bằng. Anh Minh có vài tiệm dụng cụ làm nghề “Nail” (móng tay) ở vùng Philadelphia nói toạc móng heo. Theo anh thì kiểu nào anh cũng chơi được miễn thấy thích.
“Nhiều người nguyên tắc qúa thì không làm thương mại được. Đồng đô la ở Việt Nam có giá, nếu làm ăn thua lỗ, trở lại Mỹ đi cày vài năm rồi về làm tiếp. Nhưng có điều người bên nầy (nước ngoài), không hiểu hoặc không (muốn) hiểu là người trong nước không thích lắng nghe ai hết, họ chỉ nghe “mấy ông tổng thống chết” (đô la có in hình các cố tổng thống Hoa Kỳ) mà thôi. Nếu muốn thay đổi phương pháp và cách làm việc ở Việt Nam thì chắc phải còn chờ lâu lắm.
Nếu ai thích hoàn cảnh sinh hoạt ở Việt Nam và gia nhập được môi trường thì về sinh sống. Kinh nghiệm hơn 10 năm đầu tư ở Việt Nam của tôi, lợi nhuận thật qúa khiêm nhường nếu không muốn nói là chẳng có bao nhiêu. Di chuyển, mất mát, dịch vụ, tiền biết điều, chi phí xã giao, và nhiều thứ khác nữa. Tất cả đều cần tiền. Người trong nước có tâm lý chung là: Việt Kiều là giàu, phải chi cho họ xài. Thiệt chán. Khi nào bị làm khó dễ tôi biết “điều” với chính quyền là xong, họ cũng rất biết “điều” với tôi. Hơn nữa, ở Việt Nam nói tiếng mình thì thích hơn, tạo công việc cho bà con và được tôn trọng thì cũng đáng để chịu cực, mệt mà vui. Một kiểng hai quê cũng không dễ! Còn phàn nàn chính quyền, đòi hỏi nầy nọ thì miễn bàn. Nếu anh muốn yêu sách thì ở nước ngoài hợp lý hơn.”
Chỉ vậy mà thôi, một nền đạo đức thoái hoá
Cô Vũ T. Giang trở lại vùng Mount Laurel, tiểu bang New Jersey sau hai năm về Việt Nam sinh sống và lập nghiệp. Tốt nghiệp trường dược tại Temple University năm 2001. Đang làm việc tại CVS Pharmacy, cô Giang cùng bốn con nhỏ, theo chồng về Việt Nam góp phần xây dựng quê hương. Chồng cô Giang, là một giám đốc điều hành thuộc ban thống kê tài sản của công ty bảo hiểm xuất xứ từ Canda. Bây giờ, đối với cô Giang, “Quê hương không còn là chùm khế ngọt” và câu “Quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người” không cảm động day dức bồi hồi như trước nữa. Điều gì đã đổi thay ?
“Anh ạ, điều đáng nói nhất ở Việt Nam hiện nay là nhiều sự giả tạo và đểu. Một bài học dài hai năm đổi bằng tài sản và hạnh phúc gia đình thì thật là đắt. Ở Việt Nam bây giờ cái gì cũng là mốt. Đạo đức đã thoái hoá theo chiều hướng sinh hoạt xã hội. Ở đây (hải ngoại), bà con tha thiết kêu gọi duy trì bản sắc văn hoá dân tộc. Chúa ơi (xin lỗi anh nghe), cái bản sắc dân tộc lai căng thì có. Tôi không nói đến chính trị vì tôi không biết, nhưng tôi biết một điều, cái đạo đức “có tiền mua tiên cũng được” ngày càng tác quái ở Việt Nam. Đi đâu cũng cần tiền, làm gì cũng phải “bồi dưỡng”, và tiền hoa hồng đến chóng mặt.
Một điều tôi rõ hơn hết về sự thay đổi ở Việt Nam hiện nay là quan điểm và cách sống của phụ nữ. Con gái thuần phong mỹ tục ở thành phố mang tên Bác bây giờ hình như không còn nữa. Nhiều cô ở vùng tỉnh đến thành phố kiếm sống và đang theo mốt thịnh hành hiện nay: Lấy chồng nước ngoài, cập bồ với người nước ngoài, làm lẽ, làm sinh viên nhảy dù, và các dịch vụ khác không mấy lành mạnh như, bia ôm, ngủ trưa ôm, vân vân và vân vân. Ban ngày thì vắng vẻ, nhưng về đêm dọc theo những công viên, quán ăn, khách sạn và nơi giải trí các cô còn non choẹt, trong tuổi từ 18 – 21, cứ ăn mặc nghèo nàn (thiếu vải che thân) đi mời gọi khách vào cuộc vui.
Tôi có người quen, thố lộ rằng nếu không đi nhảy dù thì làm sao có tiền học đại học. Chi phí cao, tiền học phí cao, không có việc làm, nên đành theo mốt. Chuyện nầy không mới mẻ gì, nhưng bây giờ tại thành phố mang tên Bác là chuyện cơm bữa. Sau giờ học các cô chờ điện thoại của người “sponsor” (bảo trợ), có khi là một bác người nước ngoài (bất kể quốc tịch), Việt Kiều, gọi đi chơi, đi giải trí qua đêm. Khi người tình, chồng hờ đã đi xa thì các cô thay phiên nhau đi nhảy dù, làm người tình của bất cứ ai. Một điều đáng buồn là nhiều cô tại thành phố bây giờ không còn nghĩ đến giá trị đạo đức nữa. Cô Nicky Nguyễn (20) nói: “Chồng (chung) của em già thiệt (65), nhưng miễn ảnh thương em là okay. Bả (vợ chính thức) có biết cũng chẳng làm gì được em, bả có công việc ở Mỹ để lo. Tới chừng ảnh về Mỹ, hoặc tới khi em ra trường thì chia tay. Bạn bè em ai cũng vậy, không cách nầy thì tìm cách khác để kiếm tiền. Đây là mốt, hơi đâu mà ngại.” Từ hoàn cảnh rồi sang tự ứng biến, vàng thau lẫn lộn.
Đa số các sinh viên đại học tôi biết ít nhiều gì cũng có “đi đêm”. Trừ các cô con nhà khá giàu, con của cán bộ chính cao cấp, hoặc có thân nhân nước ngoài. Nếu không, thì phải ôm gói về quê hay nhảy dù kiếm sống. Bản sắc dân tộc như các anh nói, hay thuần phong mỹ tục của văn hoá Việt Nam phải vào viện bảo tàng mà kiếm hoặc tìm trên sách vở. Điều đáng xấu hổ (vì tôi cũng là người phụ nữ Việt), là nhiều cô bây giờ chẳng có chút tự trọng, nhiều lúc còn trơ trẽn nữa. Họ chẳng quý trọng thân thể thì kệ họ, đằng nầy chẳng biết gì đến thể diện văn hoá dân tộc. Thí dụ, gặp khách nước ngoài bất kể là ai, thì xáp vào tán tỉnh. Đi liên hoan hội họp ở đâu cũng thấy các bà mệnh phụ phu nhân trên dưới 20 đi bên cạnh các đấng phu quân ngoài lục tuần.”Đây là điều thay đổi nhiều nhất ở Việt Nam. Nguyên nhân từ đâu thì tôi xin phép “no comment”. "
Tâm trạng day dứt chờ mong ngày về lại quê hương âm ỉ trong lòng người Việt xa quê. Dù có thể có nhiều người đã qúa quen với cuộc sống nước ngoài, chẳng mấy ai tha thiết đến quê xưa, hoặc không mong đợi gì nơi mảnh đất khô cằn với nhiều kỷ niệm đau buồn, nhưng nó vẫn là quê hương.
US is great, but it is not home,
Vietnam is home, but not ours no more!
Nước Mỹ tuyệt vời, nhưng chẳng là quê hương,
Việt Nam là quê, nhưng không phải của chúng ta!
Tâm thức về nguồn qua thực trạng của quê hương gợi cho ta nhiều ý nghĩ miên man? Từ bỏ qúa khứ cội nguồn, hay kiếm tìm bản sắc dân tộc. Về thăm quê rồi lại thờ ơ, ra đi thầm lặng. Hay ở lại mảnh đất nhọc nhằn nhiều vấn nạn, nhiều bắt bớ, giam cầm thiếu tự do, để cùng thấu hiểu nổi khổ đau của dân tộc. Quê còn lại gì trong bạn và tôi sau bao nhiêu tháng ngày vắng mặt. Quê hương có còn là niềm yêu mến trong lòng của bạn và tôi không? Bao giờ bạn sẽ về lại Việt Nam cho tôi gởi nỗi nhung nhớ của kẻ xa quê. Khi bạn từ giã quê nhà, đừng quên mang theo tâm sự và nỗi niềm ao ước của hơn 80 triệu đồng bào bên ấy. Nếu đang ở tại quê nghèo xin bạn trân trọng và giữ gìn bản sắc đạo đức truyền thống dân tộc. Hãy quý trọng tài nguyên đất nước và con người vì quê hương Việt Nam là của tất cả chúng ta.
Copyright © 2006 DCVOnline
Chú thích:
1. Tắc-xi: Xuồng nhỏ dùng để di chuyển ở sông miền Tây, những người đi vượt biên gọi bằng tên riêng và cần phải có tắc-xi và người dẫn đường ra “cá lớn” .
2. Cá lớn: Là thuyền, ghe lớn đậu ngoài bãi biển hoặc bến để dùng đi vượt biển (từ lóng).
:Z:
-----------------------------------
Source (http://www.cva646566.com/quehuong.htm)
Huynh Kim Khánh
Nhiềungười trong chúng ta chắc vẫn chưa quên được tâm trạng của một thuyền nhân khi rời bỏ quê hương. Cái cảm giác lo lắng, sợ sệt, bồi hồi của “kẻ phản quốc”. Lo lắng vì những chiếc “tắc-xi” (1) có đưa bạn lên “cá lớn” (2) không? Hay đây lại là một vụ lừa gạt mà bạn chỉ là một con số thống kê trên vài trăm ngàn. Sợ sệt vì công an địa phương, công an biên phòng có thể bắt bạn bất cứ lúc nào. Bồi hồi là tâm trạng của người vượt biển, vượt biên. Quê hương chìm khuất trong bóng đêm, không hẹn ngày trở lại. Có thể bạn và tôi đã khóc. Khi đọc được những dòng nầy dĩ nhiên bạn không là kẻ phản quốc nữa, mà là khúc ruột ngàn dặm của quê hương. Trong chúng ta có người tự nguyện trốn chạy khỏi nơi chôn nhau, cắt rốn. Có người được chính quyền Hà Nội mời ra khỏi nước, nhưng không mời trở lại. Có người ra đi đoàn tụ gia đình, hoặc định cư theo quy chế của chính quyền. Có người được đi công tác, du học nước ngoài, rồi cũng bị cấm về lại quê hương vì họ đã học những điều mà chính quyền Hà Nội không có trong chương trình đào tạo, nhưng đây chỉ là thiểu số trong hơn 3 triệu dân Việt ly hương.
Những năm tháng gần đây, người Việt hải ngoại đổ xô nhau về nước khi chính quyền Hà Nội đã mở rộng cửa hơn trước. Trừ những “anh chị” dám lên tiếng dạy đời chế độ và là thành phần “nguy hiểm cho an ninh quốc gia” thì không được “Welcome”. Nếu bạn muốn biết định nghĩa của nhóm từ “nguy hiểm cho an ninh quốc gia” thì xin liên lạc với nhà cầm quyền Hà Nội. Trong khuôn khổ bài nầy tôi xin gởi đến bạn đọc vài tản mạn của người Việt khi nói đến việc về lại Việt Nam.
Tôi chỉ về thăm lại Việt Nam khi …
Ông Trần Đình Khuê là cựu đại uý, quận trưởng cảnh sát của chính quyền miền Nam trước năm 1975. Ông trốn trại cải tạo năm 1985, đi vượt biên và đến Hoa Kỳ năm 1989, hiện sống tại phía Nam thành phố Philadelphia. Khác với nhiều người bạn vong niên, người quen, và thân nhân, ông Khuê tuyên bố một câu xanh dờn, “Tao không bao giờ về Việt Nam nếu còn cộng sản”. Thoạt đầu, nhiều người nghĩ ông qúa khích, sợ sệt, là gà mái, có người nói ông thù dai. Bà vợ ông Khuê nhiều lúc còn châm chọc vì cho rằng ông có thành kiến và bảo thủ. Còn ông Khuê thì sao ?
Từ ngày đến Mỹ, ông Khuê đi làm hai việc để nuôi người con trai đi đại học. Vài năm sau khi đến Hoa Kỳ, ông bảo lãnh toàn bộ gia đình từ Việt Nam sang chung sống. Ông Khuê có đời sống gia đình gương mẫu. Các con của ông (ba trai một gái) và bà vợ đi về Việt Nam thường xuyên. Bạn bè cùng binh nghiệp, bạn cùng trại tỵ nạn khuyên ông về một chuyến thăm lại quê hương, ông Khuê vẫn không thay đổi ý kiến.
“Tôi không về, không phải vì tôi sợ chính quyền Việt Nam. Người ta về hà rầm có sao đâu, các ông tướng tá của chế độ trước như Nguyễn Cao Kỳ, và cả mấy ông hô hào chống cộng cũng về thường xuyên. Tôi chỉ là một sĩ quan tầm thường không “có nhiều nợ máu với nhân dân” nên không có gì phải sợ. Tôi không về không phải là tôi cố tình quên đi quê hương dân tộc. Tha phương ai không nhớ về quê cũ, nhớ ông bà tổ tiên, mảnh đất vườn rau. Nhưng thà chịu nhớ, tôi viết thư, gọi điện thoại, nhờ quay phim, gởi ảnh sang xem cho vơi nhung nhớ, chứ về là không.
Ngay cả cái không khí ở Việt Nam là thấy thiếu tự do rồi. Người ta phải bịt mũi, bịt mồm, nói không dám nói, cười không dám cười. Sợ nói bậy, cười bậy, hay cười chấm biếm đường lối chính sách của chính quyền thì mang hoạ vào thân. Đọc báo chí trong và ngoài nước, thấy tham nhũng độc tài từ 30 năm qua chỉ có tăng chứ không giảm. 99% người tôi quen biết về Việt Nam đều phải hối lộ nhân viên hải quan, thiệt vô lý. Mất tự do từ cửa khẩu; người ta có cảm giác như đi thămmột nhà tù khổng lồ, mà khách thăm viếng lúc nào cũng bị canh chừng. Tôi không về Việt Nam là không muốn mất đi một giây phút tự do nào của tôi, chỉ có thế thôi. Ngày trước, tôi đánh đổi mạng sống với đại dương để được tự do, nay về Việt Nam dù là trong vài ngày, vài tuần, vài tháng, thấy phải luồn cúi, hạ mình, xin xỏ với bọn người “đầy tớ nhân dân” tôi chịu không được. Có lẽ tôi không có kiên nhẫn hay hạ mình, hạ giọng được thì phải chịu thôi. Ngày trước, khi còn bị tù cải tạo, chịu sỉ nhục hành hạ, đành chịu, nay vì tình gia quyến phải chịu kiếp khom lưng cúi cổ thiệt khó chịu qúa. Tôi hy vọng bà con bên nhà hiểu, nhưng chắc gì họ thông cảm.
Tôi sẽ về thăm khi nước Việt Nam có tự do thật sự, hết độc đảng, và nhất là không còn cảnh nô lệ thời nay. Hay ít nhất khi Việt Nam có được tự do nhân quyền, tự do báo chí, và tự do ngôn luận. Còn bây giờ ai thích vui thì về, thấy nhu cầu thì về thăm quê hương. Tôi mường tượng xã hội Việt Nam ngày nay như một cái túi khổng lồ chứa 83 triệu người đồng bào, công an giữ cửa, chính quyền đi gieo tai hoạ, bắt bớ đồng bào, tôi không thấy hứng thú về dù là để thăm chơi cho bõ bao nhiêu năm xa cách.
Đi về, qua lại thường xuyên
Nguyễn Tuấn Minh là người làm thương mại, thường xuyên đi về Việt Nam. Đối với anh vấn nạn của đất nước có gì mới đâu mà nói. Nói hoài mà không làm được gì mới chán. Ở bầu thì tròn, ống thì dài. Xã hội Việt Nam sao ta cứ vậy, theo lệ làng phép nước là xong. Nếu kiếm được chút tiền, với cuộc sống đế vương tại quê hương thì còn gì bằng. Anh Minh có vài tiệm dụng cụ làm nghề “Nail” (móng tay) ở vùng Philadelphia nói toạc móng heo. Theo anh thì kiểu nào anh cũng chơi được miễn thấy thích.
“Nhiều người nguyên tắc qúa thì không làm thương mại được. Đồng đô la ở Việt Nam có giá, nếu làm ăn thua lỗ, trở lại Mỹ đi cày vài năm rồi về làm tiếp. Nhưng có điều người bên nầy (nước ngoài), không hiểu hoặc không (muốn) hiểu là người trong nước không thích lắng nghe ai hết, họ chỉ nghe “mấy ông tổng thống chết” (đô la có in hình các cố tổng thống Hoa Kỳ) mà thôi. Nếu muốn thay đổi phương pháp và cách làm việc ở Việt Nam thì chắc phải còn chờ lâu lắm.
Nếu ai thích hoàn cảnh sinh hoạt ở Việt Nam và gia nhập được môi trường thì về sinh sống. Kinh nghiệm hơn 10 năm đầu tư ở Việt Nam của tôi, lợi nhuận thật qúa khiêm nhường nếu không muốn nói là chẳng có bao nhiêu. Di chuyển, mất mát, dịch vụ, tiền biết điều, chi phí xã giao, và nhiều thứ khác nữa. Tất cả đều cần tiền. Người trong nước có tâm lý chung là: Việt Kiều là giàu, phải chi cho họ xài. Thiệt chán. Khi nào bị làm khó dễ tôi biết “điều” với chính quyền là xong, họ cũng rất biết “điều” với tôi. Hơn nữa, ở Việt Nam nói tiếng mình thì thích hơn, tạo công việc cho bà con và được tôn trọng thì cũng đáng để chịu cực, mệt mà vui. Một kiểng hai quê cũng không dễ! Còn phàn nàn chính quyền, đòi hỏi nầy nọ thì miễn bàn. Nếu anh muốn yêu sách thì ở nước ngoài hợp lý hơn.”
Chỉ vậy mà thôi, một nền đạo đức thoái hoá
Cô Vũ T. Giang trở lại vùng Mount Laurel, tiểu bang New Jersey sau hai năm về Việt Nam sinh sống và lập nghiệp. Tốt nghiệp trường dược tại Temple University năm 2001. Đang làm việc tại CVS Pharmacy, cô Giang cùng bốn con nhỏ, theo chồng về Việt Nam góp phần xây dựng quê hương. Chồng cô Giang, là một giám đốc điều hành thuộc ban thống kê tài sản của công ty bảo hiểm xuất xứ từ Canda. Bây giờ, đối với cô Giang, “Quê hương không còn là chùm khế ngọt” và câu “Quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người” không cảm động day dức bồi hồi như trước nữa. Điều gì đã đổi thay ?
“Anh ạ, điều đáng nói nhất ở Việt Nam hiện nay là nhiều sự giả tạo và đểu. Một bài học dài hai năm đổi bằng tài sản và hạnh phúc gia đình thì thật là đắt. Ở Việt Nam bây giờ cái gì cũng là mốt. Đạo đức đã thoái hoá theo chiều hướng sinh hoạt xã hội. Ở đây (hải ngoại), bà con tha thiết kêu gọi duy trì bản sắc văn hoá dân tộc. Chúa ơi (xin lỗi anh nghe), cái bản sắc dân tộc lai căng thì có. Tôi không nói đến chính trị vì tôi không biết, nhưng tôi biết một điều, cái đạo đức “có tiền mua tiên cũng được” ngày càng tác quái ở Việt Nam. Đi đâu cũng cần tiền, làm gì cũng phải “bồi dưỡng”, và tiền hoa hồng đến chóng mặt.
Một điều tôi rõ hơn hết về sự thay đổi ở Việt Nam hiện nay là quan điểm và cách sống của phụ nữ. Con gái thuần phong mỹ tục ở thành phố mang tên Bác bây giờ hình như không còn nữa. Nhiều cô ở vùng tỉnh đến thành phố kiếm sống và đang theo mốt thịnh hành hiện nay: Lấy chồng nước ngoài, cập bồ với người nước ngoài, làm lẽ, làm sinh viên nhảy dù, và các dịch vụ khác không mấy lành mạnh như, bia ôm, ngủ trưa ôm, vân vân và vân vân. Ban ngày thì vắng vẻ, nhưng về đêm dọc theo những công viên, quán ăn, khách sạn và nơi giải trí các cô còn non choẹt, trong tuổi từ 18 – 21, cứ ăn mặc nghèo nàn (thiếu vải che thân) đi mời gọi khách vào cuộc vui.
Tôi có người quen, thố lộ rằng nếu không đi nhảy dù thì làm sao có tiền học đại học. Chi phí cao, tiền học phí cao, không có việc làm, nên đành theo mốt. Chuyện nầy không mới mẻ gì, nhưng bây giờ tại thành phố mang tên Bác là chuyện cơm bữa. Sau giờ học các cô chờ điện thoại của người “sponsor” (bảo trợ), có khi là một bác người nước ngoài (bất kể quốc tịch), Việt Kiều, gọi đi chơi, đi giải trí qua đêm. Khi người tình, chồng hờ đã đi xa thì các cô thay phiên nhau đi nhảy dù, làm người tình của bất cứ ai. Một điều đáng buồn là nhiều cô tại thành phố bây giờ không còn nghĩ đến giá trị đạo đức nữa. Cô Nicky Nguyễn (20) nói: “Chồng (chung) của em già thiệt (65), nhưng miễn ảnh thương em là okay. Bả (vợ chính thức) có biết cũng chẳng làm gì được em, bả có công việc ở Mỹ để lo. Tới chừng ảnh về Mỹ, hoặc tới khi em ra trường thì chia tay. Bạn bè em ai cũng vậy, không cách nầy thì tìm cách khác để kiếm tiền. Đây là mốt, hơi đâu mà ngại.” Từ hoàn cảnh rồi sang tự ứng biến, vàng thau lẫn lộn.
Đa số các sinh viên đại học tôi biết ít nhiều gì cũng có “đi đêm”. Trừ các cô con nhà khá giàu, con của cán bộ chính cao cấp, hoặc có thân nhân nước ngoài. Nếu không, thì phải ôm gói về quê hay nhảy dù kiếm sống. Bản sắc dân tộc như các anh nói, hay thuần phong mỹ tục của văn hoá Việt Nam phải vào viện bảo tàng mà kiếm hoặc tìm trên sách vở. Điều đáng xấu hổ (vì tôi cũng là người phụ nữ Việt), là nhiều cô bây giờ chẳng có chút tự trọng, nhiều lúc còn trơ trẽn nữa. Họ chẳng quý trọng thân thể thì kệ họ, đằng nầy chẳng biết gì đến thể diện văn hoá dân tộc. Thí dụ, gặp khách nước ngoài bất kể là ai, thì xáp vào tán tỉnh. Đi liên hoan hội họp ở đâu cũng thấy các bà mệnh phụ phu nhân trên dưới 20 đi bên cạnh các đấng phu quân ngoài lục tuần.”Đây là điều thay đổi nhiều nhất ở Việt Nam. Nguyên nhân từ đâu thì tôi xin phép “no comment”. "
Tâm trạng day dứt chờ mong ngày về lại quê hương âm ỉ trong lòng người Việt xa quê. Dù có thể có nhiều người đã qúa quen với cuộc sống nước ngoài, chẳng mấy ai tha thiết đến quê xưa, hoặc không mong đợi gì nơi mảnh đất khô cằn với nhiều kỷ niệm đau buồn, nhưng nó vẫn là quê hương.
US is great, but it is not home,
Vietnam is home, but not ours no more!
Nước Mỹ tuyệt vời, nhưng chẳng là quê hương,
Việt Nam là quê, nhưng không phải của chúng ta!
Tâm thức về nguồn qua thực trạng của quê hương gợi cho ta nhiều ý nghĩ miên man? Từ bỏ qúa khứ cội nguồn, hay kiếm tìm bản sắc dân tộc. Về thăm quê rồi lại thờ ơ, ra đi thầm lặng. Hay ở lại mảnh đất nhọc nhằn nhiều vấn nạn, nhiều bắt bớ, giam cầm thiếu tự do, để cùng thấu hiểu nổi khổ đau của dân tộc. Quê còn lại gì trong bạn và tôi sau bao nhiêu tháng ngày vắng mặt. Quê hương có còn là niềm yêu mến trong lòng của bạn và tôi không? Bao giờ bạn sẽ về lại Việt Nam cho tôi gởi nỗi nhung nhớ của kẻ xa quê. Khi bạn từ giã quê nhà, đừng quên mang theo tâm sự và nỗi niềm ao ước của hơn 80 triệu đồng bào bên ấy. Nếu đang ở tại quê nghèo xin bạn trân trọng và giữ gìn bản sắc đạo đức truyền thống dân tộc. Hãy quý trọng tài nguyên đất nước và con người vì quê hương Việt Nam là của tất cả chúng ta.
Copyright © 2006 DCVOnline
Chú thích:
1. Tắc-xi: Xuồng nhỏ dùng để di chuyển ở sông miền Tây, những người đi vượt biên gọi bằng tên riêng và cần phải có tắc-xi và người dẫn đường ra “cá lớn” .
2. Cá lớn: Là thuyền, ghe lớn đậu ngoài bãi biển hoặc bến để dùng đi vượt biển (từ lóng).
:Z:
-----------------------------------
Source (http://www.cva646566.com/quehuong.htm)