PDA

View Full Version : Thiên Long Bát Bộ 26-30


Trung Quốc
06-07-2002, 09:58 AM
Hồi 26 Ngàn năm một thuở

Sáu đường bạch tuyến đó lại tới trước mặt bọn Thiên Nhân cách chừng ba
thước tức khắc ngừng lại không chuyển động nữa. Mọi người thấy thế đều
kinh dị. Vì dùng nội công để thúc đẩy luồng khói trắng đi là việc bình
thường nhưng làm thế nào cho luồng hơi lờ lững, vô định ngưng đọng, đứng
nguyên một chỗ trên không là một việc rất khó. Thiên Tham đưa thẳng
ngón tay út bên trái lên, tức thời một đường kiếm khí từ trong huyệt "thiếu
xung" bắn ra, nhằm đâm vào luồng khói trắng ở trước mặt. Luồng khói
trắng lập tức bị đẩy hất ngược trở lại với tốc độ rất mau nhằm vào người
Cưu Ma Trí. Luồng khói còn cách lão chừng hai xích, lão phải tăng gia nội
lực vào thế hoả diệm đao để chặn đứng.

Cưu Ma Trí gật đầu lẩm bẩm:

- Người ta bảo môn Lục mạch thần kiếm có thế "thiếu xung kiếm" quả
nhiên không sai.

Hai bên dùng nội lực dằng co vài hiệp nữa, Thiên Tham đại sư nhận thấy
nếu mình cứ ngồi lỳ một chỗ thì khó lòng phát huy được uy lực trong kiếm
pháp, liền đứng dậy tiến lên ba bước, đi chênh chếch về phía bên trái.
Luồng nội lực đó tức khắc từ phía bên trái tấn công chéo sang mé bên phải.
Cưu Ma Trí liền đa tay trái ra dùng chưởng lực để chặn đón. Thiên Quan
chĩa thẳng ngón tay giữa lên để phóng "trung xung kiếm" đâm thẳng về phía
trước.

Cưu Ma Trí la lên:

- Phải lắm! Quả có "trung xung kiếm pháp" thật.

Mình lão đánh với hai người mà chưa hề nao núng.

Đoàn Dự ngồi trước mặt Khô Vinh đại sư, ghé cổ nghiêng đầu, chăm chú
theo dõi cuộc đấu kiếm lớn lao, nghìn năm chưa có một lần trong võ lâm.
Tuy chàng chưa hiểu võ nghệ, song chàng cũng hiểu rõ cuộc đấu kiếm bằng
nội lực của mấy vị cao tăng đây đem so sánh với những cuộc đấu bằng
gươm đao thực sự cầm trong tay còn nguy hiểm và khốc liệt hơn nhiều.

May nhờ có sáu nén hương của Cưu Ma Trí thắp lên, Đoàn Dự mới căn cứ
vào những luồng khói trắng phất phơ bay đi bay lại để nhận định những
đường kiếm thế đao của ba người. Sau khi xem được tới mười mấy hiệp
Đoàn Dự chợt nghĩ ra lẩm bẩm:

- à đúng rồi! Trung xung kiếm pháp của Thiên Quan đại sư giống hệt nét vẽ
trong đồ hình.

Đoàn Dự khẽ mở đồ hình về "trung xung kiếm" xem lại và đối chiếu những
luồng khói trắng đi quanh quẩn với những đường kiếm trong đồ phổ lập tức
nhận ra ngay, không còn điểm nào nan giải cả. Đoàn Dự say sưa theo dõi
cảm thấy hứng thú vô cùng. Khi xem đến Thiếu Trạch kiếm pháp của Thiên
Tham cũng vậy, chẳng qua mỗi kiếm pháp có một đặc sắc riêng. Trung
xung kiếm thì phép phóng ra thu về phải rộng lớn, khí thế rất là hùng mạnh.
Thiếu trạch kiếm thì đường qua lại vun vút, biến hoá thật tinh vi. Thiên
Nhân phương trượng thấy cả hai sư huynh và sư đệ liên hiệp động thủ mà
vẫn chưa chiếm được mảy may ưu thế, trong bụng thầm nghĩ: "về kiếm pháp
bọn ta luyện cha được thuần thục, đường kiếm không đánh được lâu. Cần
phải dùng chiến thuật đánh mau và đánh mạnh. Vậy sáu người phải sớm
đồng thời xuất thủ là hơn. Đại Luân Minh Vương là tay thông minh tuyệt
đỉnh, lão vẫn để ý xem kiếm pháp của Thiên Quan và Thiên Tham chứ chưa
đưa toàn lực ra công thủ. Thiên Nhân nghĩ vậy liền hô:

- Hai sự đệ Thiên Tướng và Thiên Trần! Chúng ta nhất tề động thủ.

Vừa dứt tiếng Thiên Nhân đã phóng ngón tay trỏ để phát huy "thương
dương kiếm", theo liền với "thiếu xung kiếm" của Thiên Tướng và "quan
xung kiếm" của Bảo Định Đế. Ba đường kiếm khí đồng thời nhằm đánh vào
ba đường khói trắng.

Đoàn Dự bắt đầu nhìn "thiếu xung kiếm" rồi đến "quan xung kiếm",
"thương dương kiếm" cùng một lúc. Chàng nhận thấy cả mấy thế kiếm đem
đối chiếu với quyển đồ hình tuy cũng hiểu được nhưng thấy rối loạn, không
ra mạch lạc nào nên không nhớ được. Đoàn Dự đang chú ý nhìn nhận về
"thiếu xung kiếm" trên đồ hình chợt thấy một ngón tay gầy đét thò ra viết
lên trên quyển đồ hoạ: "học riêng biệt từng thế kiếm một", thuộc rồi sẽ học
sang thế khác!". Chàng hiểu ngay là Khô Vinh đại sư chỉ điểm cho mình
biết cách học liền quay đầu lại, mỉm cười tỏ ý tạ ơn. Không ngờ Đoàn Dự
vừa nhìn lên, chàng bỗng cả kinh thất sắc vì khuôn mặt Khô Vinh đặc biệt
kỳ dị: nửa mặt bên trái hồng hào tươi nhuận, da thịt đầy đặn mũi mĩm như
đứa trẻ nít, còn nửa mặt bên phải thì ngược lại: chỉ có làn da vàng héo bọc
ngoài xương, những đầu xương gồ lên, trông như nửa cái đầu lâu người
chết. Đoàn Dự sợ quá trông ngực đánh hơn trống làng, không dám nhìn lâu
và cũng không dám nghĩ tới, mặc dầu chàng biết rõ đó là kết quả của công
phu luyện "khô thuyền" mà nhà sư đã đạt được. Cái khuôn mặt nửa tươi, nửa
héo trông rất khó coi và đáng sợ, khiến ai đã nhìn thấy cũng không thể bình
tĩnh được. Khô Vinh đại sư lại đưa ngón tay viết thêm: "Dịp may đừng bỏ
lỡ, chú ý xem kiếm pháp". Đoàn Dự gật đầu chú ý xem "quan xung kiếm
pháp" của bá phụ rồi lại lần lượt xem đến hai kiếm pháp "thiếu xung" và
"thương dương". Trong năm ngón tay của con người thì ngón vô danh vụng
về nhất và ngón trỏ là nhanh nhẹn hơn. Vì thế nên kiếm pháp "quan xung"
thủ thắng ở điểm vụng về chất phác mà kiếm pháp "thương dương" thủ
thắng ở điểm xảo diệu, linh hoạt, biến hoá khôn lường. Hai kiếm pháp
"thiếu xung" và "thiếu trạch" đều phóng ra bằng ngón tay út, song một bên
tay phải, một bên tay trái nên kiếm pháp cũng khác nhau ở chỗ khéo hoặc
vụng, mau hay chậm. Tuy nhiên vụng mà vẫn được việc, chậm mà không
giảm uy lực chỉ cần phân biệt ở phương pháp sử dụng: đánh bất ngờ hay
đánh thẳng thắn mà thôi. Đoàn Dự lúc đầu chỉ là do tính hiếu kỳ thúc đẩy,
nhìn đường khói trắng bay đi bay lại, đem đối chiếu với những đường vẽ
trong đồ hình, chẳng qua cũng coi như một trò chơi đánh đố, mỗi lần đường
kiếm diễn biến là một lần suy nghĩ cho ra. Nhưng từ lúc được nghe lời chỉ
điểm "dịp may đừng bỏ lỡ" của Khô Vinh, Đoàn Dự mới chuyên tâm, nhất
trí nhận xét. Đoàn Dự vừa học xong được ba thế kiếm thì Thiên Tham và
Thiên Quan lại sử dụng kiếm pháp đến lần thứ hai. Lần này Đoàn Dự không
cần xem đồ hình nữa, chỉ để mắt nhìn đương khói trắng và đem những
đường kiếm đã thuộc lòng ra đối chứng. Chàng nhận ra rằng những nét vẽ
trong đồ hình chỉ là những đường chết mà những đường khói trắng đi đi lại
lại một cách linh động, biến hoá vô cùng, có phần phong phú phiền phức
hơn nhiều. Đoàn Dự theo dõi một hồi thì Thiên Nhân, Thiên Tướng và Bảo
Định Đế lại sử dụng xong một lượt kiếm pháp nữa. Thiên Tướng bật ngón
tay út một cái, sử dụng đường kiếm lần thứ hai theo thế "phân hoa phất
liễu". Đoạn tiếp đến Thiên Nhân và Bảo Định Đế cũng sử dụng lại hai kiếm
pháp vừa đánh xong.

Cưu Ma Trí khẽ gật đầu rồi đột nhiên những tiếng "vu vu" phát ra, huy thế
hoả diệm đao mạnh lên gấp bội, đẩy lui tất cả nội lực kiếm khí của năm
người trở lại. Lúc đầu Cưu Ma Trí chỉ giữ thế thủ, cốt để xem xét đủ các thế
đánh trong Lục mạch thần kiếm rồi mới phản kích. Đang thế thủ đổi sang
thế công, năm luồng khói trắng bay lợn tung hoành, linh hoạt vô song, còn
luồng thứ sáu vẫn ngưng lại ở phía sau Khô Vinh đại sư cách chừng ba bốn
thước, đứng im tăm tắp, không chuyển động chút nào. Khô Vinh đại sư để ý
nhận xét cho thấu triệt tình hình địch thủ, xem Cưu Ma Trí duy trì tình trạng
"năm ngả công một ngả đừng" này được đến bao giờ. Quả nhiên Cưu Ma
Trí không kéo dài tình trạng đó được nữa vì muốn giữ cho luồng khói trắng
thứ sáu đứng yên một chỗ như thế hao tốn rất nhiều sức lực. Lão phải di
động cho nó tiến dần từng bước một, thẳng đến sau gáy Khô Vinh đại sư.

Đoàn Dự hốt hoảng la lên:

- Đại sư phụ ơi! Đường khói trắng của địch đã tập công tới nơi!

Khô Vinh gật đầu và mở tới chỗ "thiếu thương kiếm" trong quyển đồ hoạ
đưa cho Đoàn Dự xem.

Đoàn Dự thâm cảm mỹ ý của Khô Vinh, để hết tinh thần vào nhận xét đồ
hình, thấy kiếm pháp "thiếu thương" này giống như một bức tranh thuỷ mạc,
tuy chỉ dọc ngang xiên chếch sơ sài nhưng sức đánh mãnh liệt như phong ba
bão táp, đá lở trời long. Đoàn Dự tuy mắt xem kiếm phổ nhưng vẫn để ý tới
luồng khói trắng tiến lại sau gáy Khô Vinh. Chàng vừa quay đầu lại thấy
luồng khói trắng chỉ còn cách độ ba bốn tấc là tới nơi, hoảng hốt kêu:

- Đại sư phụ! Hãy coi chừng!

Khô Vinh đại sư đưa tay về đằng sau đồng thời búng mạnh hai ngón tay cái,
tức thời hai luồng kiếm khí vù vù phát ra nhằm đánh vào hai điểm trước
ngực bên phải và vai bên trái Cưu Ma Trí. Khô Vinh đại sư không cần
chống đỡ thế công của đối phương mà lại phóng ra hai đạo "kỳ binh" đánh
gấp vào địch thủ, vì đại sư tin chắc là Cưu Ma Trí kìm hãm nội lực "hoả
diệm đao" cho tiến một cách từ từ thì dù có đả thương được mình cũng còn
phải mất giây lát nữa, nếu mình dùng lối đánh "hậu phát, tiên đáo" thì đối
phương không kịp trở tay.

Cưu Ma Trí cũng không phải tay vừa, liệu lượng rất chu đáo, đã dự bị sẵn
một đường chưởng lực phòng hờ trước ngực để kịp thời ứng phó với miếng
đánh hiểm độc bất thần của đối phương. Tuy nhiên lão mới nghĩ tới một thế
công ác liệt của "thiếu dương kiếm" thôi chứ chưa nghĩ tới Khô Vinh lại
đồng thời xuất phát luôn hai đường kiếm khí đánh vào hai chỗ khác nhau.
Cưu Ma Trí giơ tay phát động đường chưởng lực đã phục sẵn để chống đỡ
với một đường kiếm khí của đối phương đâm vào trước ngực bên phải và
tiếp liền nhún chân bên phải vội lùi lại phía sau. Song dù lão có mau lẹ mấy
chăng nữa vẫn không lẹ bằng kiếm khí. Bỗng nghe "xoẹt" một tiếng nhe
nhẹ, vai áo thầy tu của Cưu Ma Trí đã bị rách một miếng và máu tươi ròng
ròng chảy ra. Hai ngón tay Khô Vinh quay tròn một vòng, kiếm khí rút trở
lại, sáu nén hương của Cu Ma Trí đều bị đứt tày giữa quãng.

Bọn Thiên Nhân, Bảo Định Đế đều thu kiếm khí về ngừng chiến. Trong tay
ai nấy đều đẫm mồ hôi và đến bây giờ họ mới yên lòng.

Cưu Ma Trí rảo bước tiến vào trong nhà nói:

- Thiền Công của Khô Vinh đại sư thật là siêu việt, tiểu tăng đây rất lấy làm
bội phục. Còn về Lục mạch thần kiếm nguyên chỉ có hư danh mà thôi.

Thiên Nhân phương trượng hỏi:

- Thế nào Minh Vương lại bảo là chỉ có hư danh? Bần tăng cần phải lãnh
giáo mới được.

Cưu Ma Trí đáp:

- Năm xưa Mộ Dung tiên sinh ngưỡng mộ Lục mạch thần kiếm là ngưỡng
mộ về kiếm pháp chứ không phải ngưỡng mộ về kiếm trận. Một toà kiếm
trận này của Thiên Long tự, cố nhiên là uy lực lớn lắm. Song xét cho cùng
chỉ ngang hàng với "La hán kiếm trận" của phái Thiếu Lâm, hoặc "hỗn độn
kiếm trận" của phái Côn Luân mà thôi, dường như chưa phải là một kiếm
pháp vô song.

Cưu Ma Trí nói kiếm trận chứ không phải là kiếm pháp là có ngụ ý chỉ
trách đối phơng về điểm sáu người nhất tề tham chiến, bày thành thế trận
chứ đâu phải một người sử dụng cả Lục mạch thần kiếm như một mình lão
sử dụng "hoả diệm đao".

Thiên Nhân thấy Cưu Ma Trí nói có lý chưa tìm được câu trả lời thì Thiên
Tham đã cười lạt, hỏi lại:

- Bất luận kiếm pháp hay kiếm trận gì gì đi nữa nhưng cuộc tỷ đao luận
kiếm vừa đây thì Minh Vương được hay chùa Thiên Long chúng tôi được?

Cưu Ma Trí không trả lời, nhắm mắt trầm tư một lát chừng uống cạn chén
trà rồi mở to mắt ra đáp:

-Trận đấu thứ nhất thì quý tự hơi chiếm được ưu thế nhưng trận đấu thứ hai
đây thì tiểu tăng sẽ nắm chắc phần thắng.

Thiên Nhân kinh ngạc hỏi:

- Minh Vương lại muốn liều một trận thứ hai nữa ?

Cưu Ma Trí đáp:

- Đại trượng phu đã nói thì phải giữ lời, tôi đã hứa với Mộ Dung tiên sinh
đâu có thể ngại khó mà rút lui được?

Thiên Nhân hỏi tiếp:

- Nhưng sao Minh Vương biết đã nắm chắc phần thắng?

Cưu Ma Trí hơi nhếch mép cười đáp:

- Các vị đều là những bậc đại sư võ học uyên thâm, chẳng lẽ lại không suy
đoán ra hay sao? Xin hãy tiếp chiến đã!

Nói dứt lời hai bàn tay lão từ từ đẩy ra phía ngoài. Bên Khô Vinh, Thiên
Nhân, Bảo Định Đế sáu người đều cảm thấy hai luồng kình lực phân tách ra
và tập trung vào nhiều chỗ khác nhau. Bọn Thiên Nhân đều nhận thấy
không thể dùng kiếm pháp "Lục mạch thần kiếm" mà chống đỡ kịp nên ai
cũng đánh luôn hai chưởng một lúc để chống với hai luồng chưởng lực của
đối phương. Riêng Khô Vinh đại sư vẫn dùng hai ngón tay cái búng mạnh
ra, dùng thiếu dương kiếm để tiếp chiến với nội lực của địch thủ.

Cưu Ma Trí sau khi đẩy hai luồng chưởng lực ra lại thu về ngay nói:

- Xin lỗi!

Thiên Nhân, Bảo Định Đế và đồng bọn đưa mắt nhìn nhau và cũng hiểu
ngầm rằng chưởng lực của đối phương có thể chia tách ra làm mấy đường
cùng một lúc. Thiếu dương song kiếm của Khô Vinh sư thúc nếu có chia ra
hai đường đánh ập lại, lão vẫn đủ sức chống đỡ. Chúng ta cần phải bỏ kiếm
dùng chưởng, vì Lục mạch thần kiếm hiển nhiên thấy không kịp "hoả diệm
đao" của lão rồi. Giữa lúc mọi người đương suy tính, chợt thấy trước mặt
Khô Vinh đại sư khói bốc lên ngùn ngụt, một luồng khói đen tách ra làm
bốn nhằm bay về phía Cưu Ma Trí tập công.

Từ lúc vào đến giờ Cưu Ma Trí vẫn thấy lão hoà thượng ngồi quay mặt vào
vách, không lúc nào ngoảnh mặt ra, trong bụng lão lúc nào cũng nơm nớp e
ngại. Bây giờ thốt nhiên thấy những luồng khói đen tấn công, không hiểu
đối phương dụng ý ra sao. Lão vẫn dùng hoả diệm đao chia ra làm bốn
đường chống đỡ. Cưu Ma Trí hiện giờ chỉ giữ thế thủ, chứ chưa thể khởi
công, một mặt phòng bị bọn Thiên Nhân đánh ập tới, một mặt cần bình tĩnh
để coi tình hình biến chuyển, xem Khô Vinh còn có đòn gì ác hại hơn đánh
tiếp chăng? thấy luồng khói đen mỗi lúc một dày đặc, thế công rất là lợi hại
Cưu Ma Trí rất đỗi ngạc nhiên, tự hỏi: người ta đã có câu: "Ma không qua
ngọ, gió không qua mùi". Không hiểu đối phương sao lại dùng toàn lực ra
đánh thì phỏng được mấy hơi? Khô Vinh là một vị cao tăng như thế lẽ nào
không nghĩ đến? Y dùng thủ đoạn hấp tấp cứng rắn như thế để ứng địch tất
phải có quỷ kế gì đây. Vì nghĩ thế nên Cưu Ma Trí chỉ giữ môn hộ vững
vàng để tâm linh sáng suốt nhận định tình thế và tuỳ cơ ứng biến.

Chừng uống cạn tuần trà, thì bốn luồng khói đen đó đột nhiên mỗi luồng
chia ra làm hai, hai lại chia ra bốn, cộng lại tất cả thành mười sáu luồng vây
bọc bốn bên tám mặt, tiến ập vào đánh Cưu Ma Trí. Cưu Ma Trí vẫn bình
tĩnh cho là cung mạnh đã đến cuối tầm, không còn gì đáng kể nữa. Lão liền
sử dụng hoả diệm đao và cũng chia ra thành nhiều đạo để ngăn chặn các lực
đạo của đối phương. Hai lực đạo vừa chạm nhau thì 16 tia khói đen của Khô
Vinh thốt nhiên tản ra bốn phía, chỉ trong tích tắc hơi khói toả ra mờ mịt
khắp trong nhà. Cu Ma Trí vẫn điềm nhiên không hề nao núng, phát động
chân lực tới mức độ cực mạnh, phòng giữ khắp toàn thân. Được một lát lớp
khói lạt dần. Trong lớp khói lạt lờ mờ thấy bọn Thiên Nhân cả thảy năm
hoà thượng đều quỳ dưới đất coi vẻ rất trang nghiêm. Đặc biệt là Thiên
Quan và Thiên Tham, hai mắt đầy vẻ bi phẫn. Cưu Ma Trí không khỏi ngạc
nhiên trước tình thế ly kỳ, song chỉ thoáng một cái là lão hiểu ngay và nói
thầm một mình: "Hỏng rồi! Khô Vinh biết rõ không chống cự nổi nên đem
quyển đồ hoạ Lục mạch thần kiếm đốt đi". Khô Vinh đại sư không muốn để
Lục mạch thần kiếm lọt vào tay Cưu Ma Trí nên một mặt dùng nội lực Nhất
Dương Chỉ đốt cháy hết cho thật mau mọi trang trong quyển đồ hoạ, một
mặt thúc đẩy những luồng khói đen đến tập kích cho lão phải ra sức chống
đỡ. Tới khi khói lạt thì sách đã cháy hết rồi. Bọn Thiên Nhân đều là những
bậc cao thủ nghiên cứu về Nhất Dương Chỉ nên vừa nhìn thấy luồng khói
đen đã hiểu rõ nguyên do nghĩ bụng: "đây là sư thúc đã quyết tâm cam bề
ngọc nát còn hơn yên phận ngói lành nên đã đem bảo vật trấn tự huỷ đi chứ
nhất định không chịu để lọt vào tay kẻ địch".

Thế là từ đây đã gây nên mối thâm cừu giữa Thiên Long tự cùng Đại Luân
Minh Vương, khó mà gỡ ra được nữa.

Cưu Ma Trí vừa kinh ngạc vừa phẫn nộ, lão vốn tự phụ là người có mưu trí
mà hôm nay hai lần liên tiếp bị bại dưới tay Khô Vinh đại sư. Quyển đồ
hình Lục mạch thần kiếm đã bị thiêu huỷ hoàn toàn. Thế là chuyến đi này
chẳng những không thu hoạch được chút gì còn kết thêm mối thâm cừu.
Cưu Ma Trí đứng dậy, chắp tay nói:

- Khô Vinh đại sư hà tất phải nóng tính như thế? Thà rằng gẫy nát không
chịu cong queo kể cũng cao thượng đấy. Vì tiểu tăng mà đại sư huỷ mất bảo
kinh của quý tự, trong lòng tiểu tăng có điều áy náy. Nhưng xét cho cùng
quyển kinh này không phải sức một người nào luyện được, thế thì huỷ đi
hay không cũng thế mà thôi. Tiểu tăng xin cáo biệt.

Cưu Ma Trí xoay người đi một chút, không đợi Thiên Nhân và Khô Vinh trả
lời, bất thình lình đưa tay ra nắm chặt mạch đạo ở cổ tay phải Bảo Định Đế
rồi nói tiếp:

- Quốc vương tôi lâu nay vẫn ngưỡng mộ phong độ hoàng đế, ao ước được
gặp một lần, xin mời bệ hạ khuất giá tới Thổ Phồn để quốc vương tôi được
dịp thừa tiếp.

Sự biến diễn bất ngờ, mọi người đều giật mình. Cưu Ma Trí hành động một
cách quá đột ngột. Bảo Định Đế dù là bậc võ công cao cường nhưng không
kịp phòng bị, hơn nữa thủ pháp bắt người của Cưu Ma Trí rất là kỳ dị. Bảo
Định Đế vừa bị nắm chặt cổ tay, vội vàng vận động nội lực, thúc đẩy chân
khí ra huyệt đạo, liên tiếp chuyển đẩy tới bảy tám lần mà vẫn không sao gỡ
tay ra được. Những bậc cao thủ tỷ thí với nhau, chỉ lỡ một nước là người
ngoài khó bề cứu gỡ. Bảo Định Đế đã bị địch thủ chế ngự được yếu huyệt
rồi tức là tính mạng ở trong tay đối phương, bất cứ giờ phút nào lão bắt chết
cũng phải chết. Bọn Thiên Nhân đều biết Cưu Ma Trí hành động như vậy là
quá đê hèn, mất hết danh sự một bậc cao thủ tuyệt đỉnh song chỉ căm
phẫn ngấm ngầm chứ không có cách gì cứu gỡ được.

Khô Vinh đại sư cười nói:

- Đoàn Chính Minh trước đây là Bảo Định Đế, hiện giờ đã thoái vị đi tu
pháp danh Thiên Trần. Quốc vương Thổ Phồn đã có ý thỉnh mời Thiên Trần
cứ đi cũng được.

Bảo Định Đế không sao được nên cũng gượng đáp:

- Xin vâng.

Bảo Định Đế biết rõ dụng ý của Khô Vinh thiền sư. Cưu Ma Trí thấy mình
là một vị quốc vương mà lão bắt được mới coi là một hoá phẩm trân kỳ.
Đằng này mình đã thoái vị đi tu, bất quá là một hoà thượng ở chùa Thiên
Long, lão bắt được cũng chẳng có gì kỳ lạ. Chưa biết chừng vì thế mà lão
thả ra cũng nên.

Sử dụng Lục mạch thần kiếm dù chỉ là một thế trong lục kiếm cũng phải là
tay cao thủ bậc nhất, tinh thần cả võ lực lẫn nội công mới mong đạt được
kết quả. Những tay cao thủ hạng này đều biết nhau cả. Nhất là những bậc
danh gia họ Đoàn, cả tăng lẫn tục ở nước Đại Lý hay chùa Thiên Long đối
với Cưu Ma Trí thì chẳng những về diện mạo và niên kỷ lão đã dò hỏi tận
tường mà cả về tính khí cùng bản lãnh từng người lão cũng biết rõ đến chín
phần mười. Cưu Ma Trí còn thông tỏ ngõ ngách trong chùa Thiên Long,
ngoài Khô Vinh đại sư ra các vị cao thủ cùng hàng pháp danh đệm chữ
Thiên chỉ có bốn người. Bây giờ thốt nhiên xuất hiện thêm một vị Thiên
Trần nữa mà nội lực võ công cũng tương đương với bốn vị hoà thượng kia,
dung mạo oai nghiêm, khí sắc đầy vẻ phú quý vinh hoa thì làm gì mà lão
chẳng nhận ra ngay là Bảo Định Đế. Vừa nghe Khô Vinh đại sư nói Bảo
Định Đế đã thoái vị đi tu Cưu Ma Trí sực nhớ ra lâu nay vẫn nghe các bậc
đế vương họ Đoàn nước Đại Lý khi cao tuổi rồi thường thoái vị, xuất gia thì
đối với việc Bảo Định Đế thốt nhiên vào tu tại chùa Thiên Long cũng chẳng
lấy gì làm lạ. Chỉ có rằng một vị Hoàng đế xuất gia đi tu tất có toàn quốc cử
hành diễn lễ rất trọng thể: thết sư, lễ Phật, tu lý chùa chiền cho nổi đình
đám mấy hôm. Có lý nào nhà Vua lại xuất gia một cách không trống không
kèn? Cu Ma Trí nghĩ vậy liền đáp:

- Bảo Định Đế xuất gia hay không xuất gia cũng được, dù sao cũng xin mời
người sang chơi Thổ Phồn một chuyến để triều kiến quốc vương bên bần
tăng.

Lão vừa nói vừa dắt Bảo Định Đế ra ngoài. Thiên Nhân liền lên tiếng:

- Hãy khoan!

Đoạn cùng với Thiên Quan nhảy ra, đứng chắn trước cửa.

Cưu Ma Trí nói:

- Tiểu tăng quyết không có ý gia hại Bảo Định hoàng thượng nhưng nếu các
vị bức bách tiểu tăng quá thì tiểu tăng cũng không thể bảo toàn được đâu.

Lão vừa nói vừa vờ đưa tay trái đánh dứ vào hậu tâm Bảo Định Đế. Bọn
Thiên Nhân trong lúc giao thủ với Cưu Ma Trí vừa rồi đã hiểu rõ chưởng lực
"hoả diệm đao" của lão lợi hại thế nào rồi. Bảo Định Đế hiện bị lão nắm
chặt mạch đạo rồi thì lão muốn giết hay làm gì thì làm nhà Vua không còn
sức phản kháng được nữa. Nếu mọi người hợp lực tấn công phần thì e ném
chuột tất vỡ đồ phần e chưa chắc nắm được phần thắng.

Cưu Ma Trí nói tiếp:

- Tiểu tăng mất công đi lại vất vả, rất hổ thẹn cùng người bạn đã khuất, may
mà mời được Bảo Định hoàng đế cùng về mới khỏi mang tiếng là một
chuyến đi không về rồi. Xin tránh đường cho tôi đi chứ!

Bọn Thiên Nhân do dự đứng đờ người suy nghĩ: Bảo Định Đế là một vị
quốc vương nước Đại Lý, không lẽ để cho địch nhân bắt đem đi? nhưng
chưa biết đối phó bằng cách nào đánh tháo cho được.

Cưu Ma Trí lại nói lớn:

- Tôi vốn nghe đại danh các vị cao tăng chùa Thiên Long, không ngờ đối
với một việc nhỏ mọn thế này mà cũng bịn rịn, bắt chước thói đàn bà con
nít.

Đoàn Dự thấy bá phụ bị bắt rất buồn bực. Lúc mới đầu chàng vẫn tưởng võ
công của bá phụ cao cường tới bực nào, có sợ gì Cưu Ma Trí? Chẳng qua
người phải tạm thời nhẫn nại, chờ cơ hội đến là người có thể tự thoát thân
được ngay. Không ngờ mỗi lúc một thấy nguy nan. Giọng nói và nét mặt
Cưu Ma Trí đầy vẻ kiêu ngạo, thần sắc Thiên Nhân, Thiên Quan và mọi
người đều lộ vẻ buồn phiền phẫn nộ mà không làm sao được. Tới lúc Cưu
Ma Trí cầm tay Bảo Định Đế lôi đi, chạy ra ngoài cửa, Đoàn Dự hoảng hốt
không kịp nghĩ ngợi gì nữa, chàng la ầm lên:

- ối! Mi buông bá phụ ta ra!

Đoàn Dự vừa la vừa đứng phắt dậy chạy theo. Cưu Ma Trí ngay lúc mới vào
đã thấy một người ngồi trước mặt Khô Vinh đại sư nhưng vẫn chưa suy
đoán người đó là ai và cũng không hiểu Khô Vinh bảo gã ngồi đó có dụng ý
gì. Bây giờ thấy Đoàn Dự đứng dậy đuổi theo, liền động tính hiếu kỳ quay
lại hỏi:

- Tôn giá là ai?

Đoàn Dự đáp:

- Mi đừng hỏi ta là ai vội! Hãy buông bá phụ ta ra trước đã rồi sẽ nói
chuyện sau!

Nói xong Đoàn Dự đưa tay ra nắm lấy cổ tay Bảo Định Đế. Bảo Định Đế lật
bàn tay lại, nắm lấy tay Đoàn Dự nói:

- Dự nhi! Cháu không phải bận lòng vì ta nữa! mau mau về giục phụ thân
cháu lên ngôi Đại Bảo, nắm lấy việc triều chính. Còn ta bây giờ đã thành
một vị lão tăng mây ngàn hạc nội, không đáng quan tâm nữa.

Bàn tay Bảo Định Đế vừa chạm vào tay Đoàn Dự người bỗng giật thót lên
một cái và cảm thấy hấp lực của Chu cáp thần công hút mạnh. Cưu Ma Trí
cũng đồng thời cảm thấy chân lực trong mình cứ cuồn cuộn tiết ra ngoài.
Song công lực của lão rèn luyện còn cao cường hơn Bảo Định Đế nhiều.
Lão ngờ là Bảo Định Đế vận dụng công phu kỳ lạ để hút lấy nội lực của
mình, lão liền ngưng tụ nội lực, định tranh đoạt cùng chân khí của Bảo Định
Đế. Bảo Định Đế sở dĩ bị Cưu Ma Trí chế ngự được là do trong lúc bất ngờ
không đề phòng, bị đối phương đột nhiên dùng kỹ thuật tiểu nhân nắm được
mà thôi, còn về nội lực võ công trong bản thân chưa bị hao tổn mảy may.
Bỗng nhiên nhà Vua cảm thấy hai tay đồng thời có một mãnh lực giằng co
liền dùng ngay phương pháp tá lực đả lực dẫn hai luồng nội lực cho gặp
nhau ở một chỗ để hai bên kháng cự lẫn nhau. Bảo Định Đế lợi dụng lúc đó
chỉ khẽ vẫy tay một cái đã thoát khỏi sự trói buộc của Cưu Ma Trí một cách
dễ dàng, đem Đoàn Dự cùng nhảy lùi lại và thầm tự nhủ: "Kể cũng đáng hổ
thẹn, hôm nay mình phải nhờ đến Dự nhi cứu cho mới thoát được".

Cưu Ma Trí kinh hoảng vô cùng nghĩ thầm: "trong võ lâm lại mới xuất hiện
một vị cao thủ thế mà sao mình không hay biết gì hết? Người này tuổi còn
nhỏ, mới độ hai mươi trở lại mà sao bản lĩnh cao cường đến thế?".

Thấy Đoàn Dự gọi Bảo Định Đế bằng bá phụ Cưu Ma Trí trong lòng nghi
hoặc tự hỏi: "Quái lạ! Sao ta chưa hề nghe nói tới trong đám con em họ
Đoàn nước Đại Lý có một nhân vật đặc sắc như thế bao giờ?". Cưu Ma Trí
dở thủ đoạn thầm lén, nắm giữ được mạch đạo Bảo Định Đế một cách dễ
dàng, tưởng thành công đến nơi mà lại sẩy. Lão không ngờ một gã thanh
niên xen ngang vào phá đám, khiến lão căm giận, không thể nào nhịn được.
Vẫn ra vẻ bình tĩnh, lão gật đầu lên giọng nói mát:

- Tiểu tăng vẫn tưởng họ Đoàn nước Đại Lý xa nay chỉ chuyên về võ học
tổ truyền, không theo những môn tạp nham không ngờ các bậc hiền tài hậu
bối lại đi kết giao cả với Tinh tú Hải lão nhân để khảo luyện các kỳ môn võ
học như môn "hoá công đại pháp" chẳng hạn. Thế thì lạ thật, quả là lạ thật!

Cưu Ma Trí tuy là người uyên bác hiểu rộng vẫn lầm tưởng "chu cáp thần
công" của Đoàn Dự là môn "hoá công đại pháp". Có điều lão còn biết tự
trọng, không buông lời nói phũ phàng đả kích ai. Vì thế nên "Tinh Tú Hải
lão ma" lão gọi đổi ra "Tinh Tú Hải lão nhân". Nhân vĩ võ lâm đều gọi "hoá
công đại pháp" là yêu công hay tà thuật lão lại gọi tránh đi là kỳ môn võ
học. Lão không dùng chữ đệ tử lão ma mà chỉ dùng chữ kết giao đủ biết lão
là người rất tế nhị. Tuy lão cũng ngộ nhận như Thạch Thanh Tử song biết
lựa lời thanh lịch, không như Thạch Thanh Tử hỏi một cách sống sượng,
bốp chát.

Bảo Định Đế cũng cười lạt nói móc:

- Lâu nay bần tăng vẫn ngưỡng mộ Đại Luân Minh Vương là bậc đại trí tuệ,
kiến thức sâu xa, thế mà sao cũng ăn nói hồ đồ đến thế? Tinh Tú lão ma
làm nhiều điều phi nghĩa, con cháu họ Đoàn khi nào lại có liên lạc với hắn?

Cu Ma Trí đã hơi chột dạ, Đoàn Dự lại nói tiếp:

- Mi là khách ở xa tới, chùa Thiên Long ta tiếp đãi trọng thể, thế mà mi cả
gan dám xúc phạm đến bá phụ ta. Chẳng qua chúng ta thấy mi cũng là đệ tử
nhà Phật nên mọi việc đều nhân nhượng, thì trái lại mi lại càng ngang ngược
thêm. Những người đã xuất gia có ai lại như mi? Chẳng biết giữ thanh quy
một chút nào hết.

Mọi người thấy Đoàn Dự lấy đại nghĩa trách mắng Cu Ma Trí cũng hả dạ,
đồng thời để hết tinh thần giới bị, sợ Cưu Ma Trí cáu tiết lên lại gia hại
Đoàn Dự một cách đột nhiên. Song lão sắc mặt vẫn điềm nhiên và nhã nhặn
nói:

- Hôm nay được biết thêm một bậc cao hiền, còn hân hạnh nào bằng? xin
đừng tiếc công chỉ giáo cho mấy hiệp, khiến tiểu tăng được thêm phần tiến
ích.

Đoàn Dự thản nhiên đáp:

- Ta không hiểu võ công và cũng chưa học võ bao giờ.

Cưu Ma Trí cười khành khạch đáp:

- Thật là cao minh! Cao minh! Thôi tiểu tăng xin cáo biệt vậy!

Lão vừa nghiêng người đi một chút đã phất tay áo đồng thời vươn bàn tay
ra, lập tức bốn đường "hoả diệm đao" phát xuất nhằm đánh vào Đoàn Dự.

Đoàn Dự hoàn toàn không hiểu cách chống đỡ môn võ công thượng thặng
này, chợt thấy những đòn ác liệt tập công tới chàng vẫn ù ù cạc cạc đứng ỳ
ra. Bảo Định Đế và Thiên Tham đồng thời đánh luôn hai ngón tay ra để
ngăn chặn bốn đường "hoả diệm đao". Bỗng thấy Cưu Ma Trí thân hình
rung động không ngừng, chính là lúc lão tăng cường nội kình đến cực độ để
xung kích. Thiên Tướng "oẹ" một tiếng, hộc máu tươi ra. Bấy giờ Đoàn Dự
mới biết Cưu Ma Trí lại dùng cách đánh lén lút, liền nổi cơn thịnh nộ, chỉ
vào mặt Cưu Ma Trí mắng:

- Gã phiên tăng kia! Mi thật là dã man vô lý.

Đoàn Dự vừa mắng vừa đưa ngón tay trỏ dùng sức phóng mạnh ra, tâm khí
giao thông, tự nhiên sử dụng thành thế "phương dương kiếm" với một nội
lực hùng hậu vô song.

Đoàn Dự lúc trước ngồi trước mặt Khô Vinh đại sư để xem đồ hình và các
vận dụng Lục mạch thần kiếm. Sau khi nhận xét và ghi nhớ tỏ tường bây giờ
đem sử dụng thí nghiệm một ngón đầu tiên không ngờ lại ám hợp đúng như
trong kiếm phổ. Sức nội kình phóng ra mãnh liệt, nghe kêu "vo vo" nhằm
đâm thẳng vào Cưu Ma Trí, đấy chính là đòn "kim châm độ kiếp".

Cưu Ma Trí không thể tưởng tượng được nội lực của Đoàn Dự lại ghê gớm
đến thế. Đòn "kim châm độ kiếp" này lúc phóng ra tuyệt ở chỗ vụng mà
khéo, trơn mà rít hợp với yếu quyết của kiếm pháp thượng thừa. Cưu Ma Trí
hốt hoảng, vội vàng dùng chưởng lực đẩy mạnh "hoả diệm đao" để chống
đỡ.

Đoàn Dự ra tay chẳng những làm cho Cưu Ma Trí phải kinh dị mà ngay đến
Khô Vinh cùng bọn Thiên Nhân cũng cho là một sự không bao giờ nghĩ tới.
Nhất là Bảo Định Đế và chính Đoàn Dự lại càng lấy làm quái lạ. Đoàn Dự
tự nghĩ: "sao mình ngẫu nhiên đánh ra một chỉ mà Cưu Ma Trí lại phải để
hết tâm thần ra chống đỡ như thế? Rồi chàng lại tự trả lời: phải rồi, phải rồi,
chắc là mình xuất chỉ đúng cách thức nên lão cho là mình biết sử dụng Lục
mạch thần kiếm. Ha ha! đã thế ta phải cho lão hoảng vía một phen". Chàng
liền quát lớn:

- Thế "thương dương kiếm" có chi đáng kể? Để ta sử dụng mấy đường
"trung xung kiếm" cho mi coi!

Nói xong chàng đưa ngón tay giữa ra điểm. Song chỉ pháp tuy đúng nhưng
kình lực không vận dụng tiếp theo được, thành ra chỉ là đường đánh hư
không, mà chẳng có mảy may hiệu lực.

Cưu Ma Trí lúc mới thấy Đoàn Dự điểm ngón tay giữa đã sắp sẵn các thế để
tiếp chiến, không ngờ đối phơng đánh không thấy một chút kình lực nhưng
lão vẫn còn nghi hoặc cho là đối phương dùng lối hư hư thực thực mà sẽ có
đường đánh lợi hại tiếp theo. Dợi tới khi Đoàn Dự sử dụng đường thứ hai
vẫn rỗng tuếch như trước, lúc đó Cưu Ma Trí mới mừng thầm nghĩ bụng: "ta
vẫn nói ở trên đời này làm gì có người sử dụng được "thương dương kiếm"
mà kiêm được cả "trung xung kiếm" nữa? quả nhiên thằng lỏi này hư trương
thanh thế để chộ người. Đã thế thì ta cho nó một phen bở vía chơi".

Cưu Ma Trí là người rất tự phụ, mà đã tự phụ tất sinh lòng đố kỵ. Chuyến
này lão đến chùa Thiên Long bị thất thế luôn mấy lần. Lão nghĩ nếu không
làm cho tỏ mặt một phen thì oai danh Đại Luân Minh Vương bị tổn thương
nhiều lắm. Tức thì lão đưa tay trái đánh liên tiếp hai chưởng, hướng cả về
hai bên tả hữu, dùng kình lực để phong toả đường cứu viện của Bảo Định
Đế và mọi người. Tiếp theo lão dùng thế "bạch hồng quán nhật" trong đao
pháp "hoả diệm đao" chém thẳng vào vai bên phải Đoàn Dự. Lão dùng
đường đao tinh diệu này cốt chém cho Đoàn Dự cụt cánh tay phải.

Bảo Định Đế, Thiên Nhân và Thiên Tham đồng thanh la lên:

- Phải cận thận đấy!

Rồi mọi người đều đa ngón tay ra điểm về phía Cưu Ma Trí. Ba người xuất
chiến đều là những đòn trong võ công thượng thừa, bắt buộc đối phương
phải thu chiêu về để tự cứu. Nào ngờ Cưu Ma Trí đã vận dụng nội kình để
phòng giữ tất cả các chỗ yết huyệt trong toàn thân rồi nên lão không cần thu
đao về, cứ nhằm thẳng Đoàn Dự bổ xuống. Đoàn Dự nghe tiếng bá phụ biết
ngay là nguy đến nơi rồi, chàng vội đưa hai tay đồng thời đánh luôn hai chỉ.
Trong lúc kinh hoảng, chân khí tự nhiên xuất phát, "thiếu trạch kiếm" bên
tay phải, "thiếu xung kiếm" bên tay trái, hai kiếm đồng thời xông ra đón
"hoả diệm đao". Dư thế vẫn còn phát ra những tiếng "vo vo", phản kích lại
Cưu Ma Trí. Cưu Ma Trí hốt hoảng không kịp suy nghĩ gì hết, vội dừng tay
trái phát động kình lực để chặn đòn. Đoàn Dự sau khi phóng mấy thế kiếm,
trong lòng đã hơi hiểu rõ cách sử dụng kiếm khí. Trước hết phải có một ý
niệm, rồi mới vận chân khí ra ngón tay, có thế chân khí mới xuất phát ra
được. Song chàng vẫn không hiểu tại sao phải làm như vậy. Đoàn Dự khẽ
búng ngón tay giữa, lại sử dụng "trung xung kiếm pháp". Chỉ trong chớp
mắt, sáu đường kiếm ở trong quyển đồ hình mà chàng vừa được xem qua
trong lúc ngồi trước mặt Khô Vinh đại sưu lần lượt hiển hiện ra trước mặt
chàng một cách rất rõ ràng. Mười đầu ngón tay cứ liên tiếp bật ra, qua
đường này tiếp đến đường khác, tự nhiên thấy kiếm pháp nhập diệu, tựa hồ
một nghệ sỹ tài cao tay vẫn gẩy đàn mà mắt vẫn nhìn chim nhạn bay qua.
Cưu Ma Trí lại càng kinh hoảng, luôn luôn tiếp vận nội lực để chống đỡ với
Lục mạch thần kiếm. Trong căn nhà lúc này chỉ thấy kiếm khí dọc ngang,
gươm đao bay lợn, xung kích chen lấn nhau tựa hồ sấm vang gió rít. Giao
đấu được một lúc, Cưu Ma Trí nhận thấy đối phương kình lực mỗi lúc một
mạnh, kiếm pháp cũng biến hoá khôn lường, tuy từng lúc từng chỗ nó tự
sáng tác ra những điểm mới lạ khiến cho người không biết đâu mà mò. Cưu
Ma Trí mỗi lúc một thêm kinh hoảng và hối hận, lão nghĩ thầm: "không ngờ
trong chùa Thiên Long lại có bậc cao thủ còn nhỏ tuổi như thế. Hôm nay
Cưu Ma Trí này chính là tự mình đi chuốc lấy cái nhục vào thân". Đột nhiên
nghe "vu vu vu". Cưu Ma Trí đánh liền ba đao và nói:

- Hãy ngừng tay!

Đoàn Dự tuy học được Lục mạch thần kiếm song chưa thể phát động chân
khí hay thu về theo ý mình được. Vừa nghe đối phương kêu ngừng tay,
chàng luýnh quýnh không biết cách thu nội lực về, đành đưa ngón tay chỉ
thẳng lên nóc nhà đồng thời bụng nghĩ: "thôi ta cũng không nên phát kình
lực ra nữa, để xem y nói gì đã".

Cưu Ma Trí quả thông minh hơn người, nhìn Đoàn Dự có vẻ lờ ngờ, đồng
thời lúc thu điểm chân khí chân tay luống cuống, trông rõ dáng điệu người
kém võ công. Lão chợt nảy ra một ý nghĩ, tức thời nhảy lên một bước giơ
tay đấm thẳng một quyền vào mặt Đoàn Dự. Đoàn Dự nhờ duyên cơ đưa
tới, tuy có học được môn võ rất cao thâm Lục mạch thần kiếm nhưng ngoài
ra về các môn quyền cước binh khí thông thường khác chàng hoàn toàn
không hiểu tý gì. Đoàn Dự đưa cánh tay lên đỡ đường quyền của đối
phương một cách rất ngượng ngịu. Cưu Ma Trí liền lật bàn tay phải túm
ngay "thần phong huyệt" ở trước ngực chàng. Tức khắc người chàng mềm
nhũn, chân tay không cử động được nữa.

Cưu Ma Trí tuy đã khám phá được nhược điểm trong võ học của Đoàn Dự
nhưng cũng không ngờ bắt được chàng một cách quá dễ dàng như thế. Lão
vẫn còn sợ chàng giả vờ ngớ ngẩn mà dùng quỷ kế gì khác chăng nên lúc
nắm được "thần phong huyệt" rồi lão đưa ngón tay điểm luôn thêm ba đại
huyệt: "đản trung", "đại thôi" và "kinh môn". Người đã bị điểm những đại
huyệt đó rồi, quyết không thể nào còn phản kháng lại được nữa. Song đồng
thời Cưu Ma Trí cảm thấy chân lực trong mình luôn luôn theo bàn tay phải
tiết ra ngoài. Lão vội vàng đưa bàn tay trái nắm chặt lấy tay phải của mình,
lùi lại ba bước rồi nói:

- Vị tiểu thí chủ này trong bụng đã nhớ hết đồ hình về Lục mạch thần kiếm.
Quyển đồ hình đã bị Khô Vinh đại sư đốt cháy rồi...

Lúc Cưu Ma Trí cất tiếng nói thì lại không giữ được chân khí khỏi bị tiết ra
ngoài nên y vội vội vàng vàng nói vắn tắt:

- Tiểu thí chủ đây là quyển đồ hình sống... đem gã đốt sống trước mồ Mộ
Dung tiên sinh, cũng như là đốt quyển đồ hình vậy...

Cưu Ma Trí sợ phe Khô Vinh đại sư nhận thấy nhược điểm của mình trong
lúc nói năng mà xúm lại tấn công chăng, lão liền giơ tay trái đánh luôn ra
năm đường đao, nhằm về phía trước. Bóng lão thoáng chuyển động một cái
đã rút lui ra khỏi cửa mầu ni đường. Bọn Bảo Định Đế, Thiên Quan, Thiên
Nhân rượt theo để cướp người lại đều bị sức ngũ đao liên hoàn vây bọc,
ngăn giữ không có cách nào tiến lên đơực. Cưu Ma Trí cầm Đoàn Dự quăng
cho chín tên hán tử đợi ở ngoài cửa rồi quát giục:

- Các người rút cho mau!

Hai tên hán tử đồng thời đưa tay đón lấy Đoàn Dự, rồi đi xuyên qua rừng
cây, chạy rẽ đi lối khác chứ không theo đường cái. Cưu Ma Trí sau khi trao
Đoàn Dự cho người khác, chân khí không bị tiết ra nữa. Lão lại huy động
"hoả diệm đao" chém tới tấp vào cửa mầu ni đường.

Bọn Bảo Định Đế đều dùng phép Nhất Dương Chỉ xung kích nhưng vẫn
không sao phá vỡ được vòng vây bằng lỡi đao vô hình của đối phương. Cưu
Ma Trí nghe thấy tiếng vó ngựa dồn dập, biết là thủ hạ đã đem Đoàn Dự lên
đường về bắc rồi. Lão đắc ý cười một tràng dài nói:

- Đốt mất quyển đồ hình chết, lại được quyển đồ hình sống. Mộ Dung tiên
sinh lại có bạn ở dưới suối vàng sẽ khỏi phải tịch mịch.

Đoạn lão dùng tay phải đánh chéo lại một chưởng. Nghe tiếng kêu rắc rắc.
Hai cây cột ở toà mầu ni đường đã bị "hoả diệm đao" chém gẫy rồi. Lão phi
thân thoảng như một làn khói, thoắt đã biệt dạng, không biết đi về phương
hướng nào. Bảo Định Đế và mọi người đều dùng kinh công tuyệt đỉnh đuổi
theo, nhằm thẳng về phía bắc.

Đoàn Dự bị Cưu Ma Trí điểm các huyệt đạo, không cử động gì được nữa,
chàng bị gác ngang lưng ngựa, mặt cúi sấp xuống, chỉ nhìn thấy mặt đất
như chạy lùi về phía sau. Vó ngựa chạy như bay, miệng mũi đầy cát bụi, tai
nghe những tên hán tử nói líu lo toàn tiếng Phiên, chẳng hiểu là chúng nói
gì. Đoàn Dự đếm được bốn mươi chân ngựa, biết là cả bọn chúng đi có
mười người. Đi được chừng hơn mười dặm, tới khúc đường rẽ, chàng thấy
Cưu Ma Trí nói líu lo mấy câu rồi năm con ngựa đi về bên trái, còn Cưu Ma
Trí và một tên áp giải chàng cùng ba người nữa đi rẽ về bên phải. Lại đi
chừng hai dặm nữa thì tới chỗ rẽ thứ hai năm người này lại đi ra làm hai
ngả. Đoàn Dự biết Cưu Ma Trí sở dĩ chia ra đi mấy ngả như thế là chủ ý
đánh lạc hướng, khiến cho truy binh không biết đâu mà đuổi theo. Lại đi
một hồi nữa, Cưu Ma Trí xuống ngựa, lấy một đoạn dây da, buộc ngang
lưng Đoàn Dự, tay trái lão xách ngang người chàng đi về phía rặng núi còn
hai tên hán tử đi rẽ về phía tây. Đoàn Dự ngấm ngầm xuýt xoa và tự nghĩ:
"dù bá phụ có phái một đoàn thiết giáp kỵ binh, đuổi theo không ngừng
bước, bất quá cũng chỉ bắt hết được chín tên tuỳ tùng là cùng, không thể
nào cứu được mình về. Cưu Ma Trí xách một người bên tay mà lão đi nhẹ
như không, mỗi lúc đi một mau hơn. Đi như thế chừng độ ba giờ mà toàn
xuyên qua rừng qua núi. Mặt trời đã ngả về phía tây, ánh nắng rọi từ bên
trái tới Đoàn Dự biết là Cưu Ma Trí đem mình về hướng bắc. Đến lúc gần
tối, Cưu Ma Trí gác Đoàn Dự lên một cành cây rồi lấy dây da trói vào. Lão
chẳng nói câu gì hết, thậm chí chẳng thèm nhìn đến nữa, chỉ đặt lên trên
lưng chàng mấy cái bánh khô rồi đưa ngón tay giải một huyệt đạo cổ tay
trái cho chàng để có thể lấy được bánh mà ăn. Đoàn Dự duỗi tay trái ra,
định vận khí để sử dụng "thiếu trạch kiếm" để đánh lão nhưng chàng có biết
đâu sau khi các đại huyệt trong người bị điểm rồi thì toàn thân chân khí bị
phong toả nên ngón tay chàng hí hoáy mãi mà không có chút nội lực nào
phát ra hết. Hai ngày liền Cưu Ma Trí vẫn xách Đoàn Dự đi về phía bắc.
Mấy lần chàng gợi chuyện, hỏi lão sao lại bắt chàng và đem chàng về bắc
để làm gì Cưu Ma Trí vẫn làm thinh không trả lời. Đi mãi tới mười ngày, đã
ra khỏi địa giới nước Đại Lý, Đoàn Dự nhận thấy Cưu Ma Trí lại xoay
hướng đi về phía đông bắc nhưng vẫn tránh không đi đường lớn, cứ đi tắt
qua những cánh rừng hoang núi rậm. Chàng để ý nhìn nhận thấy địa thế mỗi
lúc một bằng phẳng, núi dần dần ít đi mà sông ngòi lại nhiều ra. Trong một
ngày phải đi qua mấy lần đò. Cưu Ma Trí xách Đoàn Dự đi đường như vậy
cũng làm cho người qua đường phải kinh khủng. Về sau hễ ra cửa là gặp
người đi lại rồi song cũng không có ai hỏi han gì. Đoàn Dự lòng phẫn uất,
chàng nhớ lại lúc bị cô em Mộc Uyển Thanh bắt, tuy ngày nào cũng bị đánh
vùi đánh dập kể có đau thật nhưng không đến nỗi buồn bực như lần này. Lại
đi hơn mười ngày nữa, Đoàn Dự nghe thấy tiếng người nói thanh nhã dịu
dàng thì nghĩ bụng: "chắc đây là địa giới Giang Nam rồi, nếu lão đem mình
đi tế sống Mộ Dung tiên sinh thì chỉ một ngày nữa là tới nơi. Lão Phiên
tăng này võ công lợi hại như thế, ngay phe bá phụ mình sáu người hợp lại
mà còn không ngăn nổi lão. Bây giờ mình đã lọt vào tay lão rồi, chỉ có cách
để mặc lão muốn giết thì giết, muốn mổ thì mổ chứ chẳng còn hi vọng gì
nữa. ý chí ngang bướng đã chớm nở, chàng không thèm lo nghĩ gì hết ngẩng
đầu lên ngắm phong cảnh. Tiết trời đang độ tháng ba, ngõ hạnh đầy hoa,
ven hồ rủ liễu, gió xuân phơi phới thổi nhẹ bên mình khiến cho người chàng
nh say sa ngây ngất. Đoàn Dự bị Cưu Ma Trí xách đi hơn một tháng, khổ
cũng quen rồi, bây giờ thấy thắng cảnh ngày xuân phong quang như vậy,
bất giác trong lòng sảng khoái, buột miệng ngâm:

Trường Giang từng đợt sóng dồi

Ngẩn ngơ bờ liễu lôi thôi mấy hàng

Bốn bề xa vắng thôn trang

Phất phơ hoa hạnh, ánh dương tà tà.

Hết Hồi 26 ....

Trung Quốc
06-07-2002, 10:05 AM
Hồi 27 Cái mũi thần tình

Cưu Ma Trí nghe Đoàn Dự ngâm thơ, cười lạt nói:

- Chết đến gáy mà mi vẫn còn khoái lắm nhỉ. Vài bữa nữa rồi xuống âm
cung mà ngâm thơ vịnh phú với Diêm Vương.

Đoàn Dự cười nói:

- Thiên hạ ai là người không chết? Mi sống thêm mấy năm nữa có hơn ai
được cái gì không?

Cưu Ma Trí không nói nữa, quay ra hỏi thăm những người qua đường Tham
Hợp trang ở đâu. Lão hỏi đến bảy tám người mà chẳng ai biết. Sau có ông
già bảo:

- Thành Cô Tô không có đâu là Tham Hợp trang cả. Có lẽ hoà thượng nghe
lầm chăng?

Cưu Ma Trí lại hỏi:

- Lão trượng có biết đại trang chúa người họ Mộ Dung ở đâu không?

Ông già đáp:

- Trong thành Tô Châu này chỉ có họ Cố, họ Lục, họ Trương, họ Chu, họ
Văn... làm gì có đại trang chúa cùng Mộ Dung? Tôi chưa thấy ai nói đến
cả.

Cưu Ma Trí chưa biết tìm cách nào để hỏi cho ra địa chỉ Mộ Dung tiên sinh,
chợt nghe tiếng một người đang đi trên còn đường nhỏ về phía tây nói: tôi
nghe nói họ Mộ Dung ngụ ở ngoài thành, đi về phía tây chừng 30 dặm, chỗ
đó gọi là Yến Tử ổ. Chúng ta tới đó xem sao?

Rồi lại có tiếng người khác gạt đi:

- Thôi! Đây đã đến địa đầu rồi. Ta phải cẩn thận mới được.

Hai người nói rất khẽ, Đoàn Dự không nghe thấy chi cả Cưu Ma Trí vì tuyệt
giỏi nội công mới nghe rõ. Lão nghĩ thầm: phải chăng hai người này chủ
tâm nói cho ta nghe tiếng?

Cưu Ma Trí đưa mắt nhìn về phía vừa phát ra tiếng nói thì thấy một người
khí vụ hiên ngang, vận đồ tang phục còn một người thấp lủn thủn và gầy
đét, trông chẳng khác chi ác quỷ hung thần. Cưu Ma Trí biết ngay người đó
có võ công đáng kể. Lão còn đang suy nghĩ có nên cùng bọn này bắt
chuyện không bỗng Đoàn Dự lên tiếng gọi to:

- Hoắc tiên sinh! Hoắc tiên sinh đi đâu đấy?

Nguyên người thấp lủn thủn, hình dung cổ quái đó chính là Kim Toán bàn
Thôi Bách Kế và sư điệt ông là Truy hồn thủ Quá Ngạn Chi. Hai người sau
khi từ biệt Trấn Nam Vương phủ nước Đại Lý ra đi, quyết tâm báo thù cho
Kha Bách Tuế. Mặc dầu họ biết rõ khó có thể địch lại nhà Mộ Dung, mối
thù không đội trời chung vị tất đã trả được nhưng là những người nghĩa
dũng, họ can đảm tìm đến Cô Tô. Công việc đầu tiên của hai người là thám
thính họ Mộ Dung ngụ tại Yến Tử ổ, đang đi trên đường thì gặp Cưu Ma Trí
cùng Đoàn Dự. Thôi Bách Kế chợt nghe tiếng Đoàn Dự gọi rất đỗi ngạc
nhiên nhảy ngay đến trước mặt Cưu Ma Trí hỏi:

- Tiểu Vương gia đó ? Ô kìa đại hoà thượng! Xin buông ngay công tử
xuống cho! Hoà thượng có biết công tử là ai đó không?

Thực ra Cưu Ma Trí chẳng coi hai người vào đâu nhưng lão nghĩ rằng từ lúc
chưa đến Trung Nguyên mình đã biết khó lòng tìm ra chỗ ở của Mộ Dung
tiên sinh. Nay có bọn này dẫn lối cho kể cũng là một dịp may cho mình bèn
buông Đoàn Dự xuống, để chàng đứng vững rồi giải các huyệt đạo ở hai
chân chàng, đoạn quay lại bảo hai người:

- Tôi cũng đến chỗ Mộ Dung tiên sinh đây. Phiền hai vị dẫn đường cho!

Thôi Bách Kế tuy là người lịch duyệt giang hồ, biết nhiều hiểu rộng mà
chưa đoán ra lai lịch nhà sư này, bèn hỏi:

- Xin hỏi đại sư chúng tôi xưng hô với đại sư thế nào cho phải? sao đại sư
lại làm khó dễ với tiểu Vương gia họ Đoàn như vậy? Đại sư lên phủ Mộ
Dung có việc gì?

Cưu Ma Trí đáp lộc cộc:

- Bất tất phải hỏi nhiều, tới nơi sẽ biết!

Thôi Bách Kế lại hỏi:

- Phải chăng đại sư là chỗ bạn thân với nhà Mộ Dung?

Cưu Ma Trí đáp:

- Phải! Mộ Dung tiên sinh ở Tham Hợp trang, không biết đi về ngả nào?
Hoắc tiên sinh có biết thì chỉ dùm cho!

Lão thấy Đoàn Dự gọi Thôi Bách Kế là Hoắc tiên sinh cũng tưởng y là
Hoắc thật mặc dầu lão trí mưu hơn người nhưng cũng chưa hiểu lý do.

Thôi Bách Kế bóp trán suy nghĩ rồi hỏi Đoàn Dự:

- Tiểu vương gia! Bây giờ Tiểu Vương gia tính sao đây?

Câu hỏi này khiến cho Đoàn Dự phải chưng hửng. Chàng nghĩ thầm: "Cưu
Ma Trí võ công ghê gớm, trên đời này sợ không ai địch nổi. Bọn Thôi, Quá
tất nhiên so với lão không thấm vào đâu. Nếu hai người này lại cố ý cứu
mình thì chẳng những không ăn thua gì mà chết uổng hai mạng". Nghĩ vậy
chàng dùng lời cảnh cáo để bọn họ biết đường cao chạy xa bay là hơn chàng
nói:

- Vị đại sư đây một mình mà đánh bại bá phụ tôi cùng năm tay cao thủ nước
Đại Lý, bắt tôi đem đến đây. Nguyên đại sư là bạn cố tri với Mộ Dung tiên
sinh, nay đại sư đưa tôi đến hoả thiêu trước mồ Mộ Dung tiên sinh để tế
vong hồn người bạn quá cố. Tôi tưởng hai vị không có dính líu gì đến nhà
Mộ Dung thì nên chỉ đường cho đại sư rồi về đi là hơn.

Thôi Bách Kế cùng Quá Ngạn Chi nghe lão đại sư này đánh bại Bảo Định
Đế cùng bọn cao thủ nước Đại Lý quả nhiên chột dạ, khi nghe lão là bạn
với bọn Mộ Dung thì lại càng khiếp sợ. Thôi Bách Kế tuy mặt mũi xấu xa,
hình dung cổ quái nhưng có nghĩa khí hào hiệp nghĩ thầm: "mình đã ẩn thân
tại phủ Trấn Nam Vương mười mấy năm trời chưa từng báo đáp ơn sâu.
Nay tiểu vương gia gặp nạn có lý đâu mình tự thủ bàng quan được? Hơn nữa
mình đã tìm vào Cô Tô thì cái mạng này coi có cũng như không, bất luận
chết dưới lưỡi đao của kẻ địch hay chết bới tay người khác cũng thế thôi".
Nghĩ vậy Thôi liền thò tay vào bọc lấy ra một cái bàn tính bằng hoàng kim
sáng rực, giơ cao lên, lắc cho nó kêu loảng xoảng rồi bảo Cưu Ma Trí:

- Này này đại hoà thượng! Đại hoà thượng là bạn thân với Mộ Dung tiên
sinh thì tiểu vương gia đây cũng là hảo hữu của tôi, đại hoà thượng nên
buông tha tiểu vương gia ra!

Thôi Bách Kế chưa nói dứt câu Cưu Ma Trí đã vươn tay ra giựt được cây
nhuyễn tiên của Quá Ngạn Chi đang cầm, rồi thuận tay lão quăng nhuyễn
tiên quấn lấy bàn tính ở trong tay Thôi Bách Kế. Hai binh khí chạm vào
nhau, rời khỏi tay người cầm, bay tung ra rớt xuống hồ. Ai nấy đều nhìn
thấy cặp khí giới quý báu này sắp chìm xuống đáy hồ. Không ngờ đà kình
lực Cưu Ma Trí xử khéo làm sao, một đầu cây nhuyễn tiên văng lại, mắc
vào một cành liễu trên mặt hồ.

Quá Ngạn Chi ngoại hiệu là "truy hồn thủ" ra tay cực kỳ mau lẹ, sử dụng
cây nhuyễn tiên lại là một môn tuyệt kỹ của chàng vậy mà chưa đánh xong
một đòn đã bị Cưu Ma Trí giật rời khỏi tay. Mấy cử động của Cưu Ma Trí:
nào xích lại gần, nào vươn tay giật roi nhuyễn tiên, nào vẫy roi cuốn lấy bàn
tính, nào lui về chỗ cũ lẹ đến nỗi cả Thôi Bách Kế lẫn Quá Ngạn Chi hai
người cũng không trông rõ nữa.

Cưu Ma Trí chắp hai tay để trước ngực, nét mặt vẫn thản nhiên như không
có chuyện gì xảy ra nói:

- Phiền đại giá hai vị dẫn đường cho!

Thôi, Quá hai người ngơ ngác nhìn nhau, không biết làm thế nào. Cưu Ma
Trí lại nói tiếp:

- Nếu hai vị không dẫn đường thì xin chỉ nẻo cho biết Yến Tử ổ, Tham Hợp
trang đi về ngả nào, đường lối ra sao, để tiểu tăng tự đi đến nơi cũng được.

Thôi, Quá hai người thấy võ công lão vô cùng lợi hại mà vẻ mặt lại khiêm
tôn, ôn hoà là thế muốn trở mặt không được mà không trở mặt không xong.
Giữa lúc ấy bỗng nghe có tiếng rạt rào, trên mặt hồ nước biếc một con
thuyền nhỏ đang rẽ nước lướt tới. Trên thuyền một thiếu nữ áo xanh cầm
đôi mái chèo khuấy nước cho thuyền chạy, miệng cô đang ca khúc "Hạm
thiều hương". Giọng hát dịu dàng không có vẻ lả lơi khiến người nghe cũng
cảm thấy nỗi vui mừng.

Đoàn Dự ở nước Đại Lý từng đọc văn chương thơ phú của cổ nhân, tán tụng
phong cảnh nhân vật Giang Nam. Nay chàng được nghe khúc hát này tâm
hồn bất giác say sa như lạc vào cõi mộng. Quên mình đang đứng trước
hoàn cảnh hiểm nghèo quay ra nhìn thiếu nữ. Tay nàng nhỏ nhắn, nước da
trắng mịn ánh xuống hồ nước xanh biếc và trong leo lẻo.

Thôi Bách Kế và Quá Ngạn Chi tuy đứng trước mặt kẻ địch ghê gớm cũng
không khỏi đưa mắt nhìn cô gái mấy lần. Chỉ mình Cưu Ma Trí là tựa hồ
như không trông thấy hay không nghe thấy gì mà thôi. Lão nói:

- Nếu hai vị không chịu chỉ Tham Hợp trang cho thì tiểu tăng xin cáo từ.

Lúc đó thiếu nữ đã chèo thuyền đến gần bờ. Nàng nghe Cưu Ma Trí nói vậy
liền cất tiếng:

- Chẳng hay đại hoà thượng đến Tham Hợp trang có việc gì?

Giọng nàng cực kỳ thanh tao êm ái khiến ai nghe cũng lọt tai. Thiếu nữ mới
chừng 15, 16 tuổi, nét mặt ôn nhu, con người thanh tú. Đoàn Dự nghĩ thầm:
"các cô gái ở Giang Nam có tiếng là xinh đẹp tưởng cũng đến thế này mà
thôi".

Cưu Ma Trí hỏi:

- Tiểu tăng muốn đến Tham Hợp trang. Tiểu nương tử có thể trỏ đường lối
cho tiểu tăng được không?

Thiếu nữ mỉm cười hỏi lại:

- Cái tên Tham Hợp trang người ngoài không ai biết đến. Đại sư nghe đâu
mà biết?

Cưu Ma Trí đáp:

- Tiểu tăng là bạn phương xa với Mộ Dung tiên sinh. Hôm nay đến tế mộ
tiên sinh cho vẹn lời ước năm xưa.

Thiếu nữ trầm ngâm rồi nói:

- Nếu vậy không may cho đại sư rồi! Hôm kia Mộ Dung công tử mới ra đi.
Giả tỷ đại sư đến đây trước ba hôm thì được gặp.

Cưu Ma Trí nói:

- Tiểu tăng thật vô duyên cùng công tử nghĩ cũng đáng buồn. Song tiểu tăng
từ nước Thổ Phồn, đường xa muôn dặm, lặn lội về đến Trung Nguyên chỉ
mong được tới trước mồ Mộ Dung tiên sinh lạy một lạy cho chọn nghĩa xưa.

Thiếu nữ nói:

- Nếu đại sư đã là chỗ giao hữu cùng Mộ Dung tiên sinh thì xin mời đại sư
hãy vào dùng trà để cháu sẽ vào báo trang nên chăng?

Cưu Ma Trí hỏi lại:

- Tiểu nương tử là người thế nào trong phủ công tử? Xưng hô sao cho phải
phép?

Thiếu nữ mỉm cười đáp:

- Cháu là kẻ nữ tỳ chầu chực công tử trong cung đàn tiếng sáo tên gọi A
Bích. Xin đại sư miễn khách sáo và đừng kêu bằng đại nương tử tiểu nương
tử chi hết. Cứ gọi thẳng tên A Bích cho tiện.

Đoạn nàng tiếp:

- Từ đây vào Yến tử ổ toàn là đường thuỷ. Quý vị có muốn vào thì xuống
thuyền để tiểu nữ chở đi.

Cưu Ma Trí cám ơn rồi nắm tay Đoàn Dự nhẹ nhàng nhảy xuống thuyền,
thuyền chỉ đầm xuống một chút chứ không tròng trành.

A Bích nhìn Cưu Ma Trí và Đoàn Dự mỉm cười tựa hồ thán phục võ công
của hai người.

Quá Ngạn Chi khẽ hỏi Thôi Bách Kế:

- Sư thúc tính sao bây giờ?

Hai người cốt tìm đến nhà Mộ Dung để báo thù nhnưg chưa tới nơi đã xẩy
ra mấy vụ rùng rợn vẫn còn nơm nớp lo âu.

A Bích tươi cười nói:

- Hai vị đã đến Tô Châu nếu không có việc gì gấp xin mời vào tệ xá xơi
nước. Cái thuyền này tuy nhỏ nhưng hai vị xuống nữa cũng được.

Nàng vừa nói vừa ghé thuyền vào bên cây liễu, giơ bàn tay xinh xắn ra với
lấy cây bàn tính, tiện tay nàng gẩy bàn tính lách cách.

Đoàn Dự nghe vui tai buột miệng nói:

- Cô gẩy khúc thái tang tử phải không?

A Bích mỉm cười nói:

- Công tử tinh thông âm nhạc gẩy chơi một khúc đi!

Đoàn Dự thấy nàng ăn nói tự nhiên, tính tình khả ái cười đáp:

- Tôi không biết gẩy đàn bằng bàn tính.

Rồi chàng quay lại bảo Thôi Bách Kế:

- Hoắc tiên sinh! Cái bàn tính của tiên sinh mà cô nương đây gẩy nghe cũng
vui tai đấy chứ?

Thôi Bách Kế cười hềnh hệch đáp:

- Quả vậy! Hay lắm! Cô nương thực là người tao nhã. Cái đồ vật phàm tục
dùng làm sinh kế vào tay cô nương cũng thành ra nhạc khí được.

- Trời ơi! ghê quá! Của tiên sinh đấy ? Bàn tính gì mà đẹp quá vậy? Chắc
tiên sinh giàu có lắm, cái bàn tính cũng đúc bằng vàng ruột. Tôi xin trả tiên
sinh đây!

Nàng vừa nói vừa cầm bàn tính giơ lên. Thôi Bách Kế đứng trên bờ không
với tới, lẹ làng nhảy xuống thuyền, đưa tay ra với lấy bàn tính rồi quay đầu
lại trừng mắt nhìn Cưu Ma Trí một cái. Cưu Ma Trí thuỷ chung vẫn giữ bộ
mặt tươi cười vui vẻ, tuyệt không lộ vẻ gì tức giận cả. A Bích lại đưa tay trái
ra lượm cây nhuyễn tiên, năm ngón tay nàng cũng bật cũng gõ vào cây roi
thành những âm thanh trong trẻo vang dội như kiểu gẩy đàn tỳ bà. Thì ra cả
đến những binh khí của các bậc anh hùng hào kiệt vào tay nàng cũng thành
nhạc khí cả.

Đoàn Dự lại reo lên:

- Tuyệt diệu! Thật là tuyệt diệu! Cô nương gảy khúc nữa đi!

A Bích trông lên Quá Ngạn Chi hỏi:

- Cây nhuyễn tiên của tiên sinh phải không? tôi đem ra nghịch thực vô lễ
quá. Tiên sinh xuống thuyền đi rồi tôi hái cho tiên sinh mấy trái hồng lăng.

Quá Ngạn Chi nóng lòng báo cừu cho sư phụ chàng căm thù cả bè lũ nhà
Mộ Dung thấu xương nhưng thấy cô bé này xinh tươi, chất phác không có
vẻ gì là nham hiểm độc ác nên chàng tuy giận đầy ruột mà không dám phát
cáu. Chàng nghĩ thầm: "thị dẫn ta về nhà là có chuyện không hay đây. Thôi
được, nếp tẻ gì không cần, ta hãy vào giết mấy đứa cho hả giận đã". Nghĩ
vậy chàng gật đầu bước xuống thuyền.

A Bích trịnh trọng quấn cây nhuyễn tiên lại đưa cho Quá Ngạn Chi. Đoạn
thả mái chèo xuống nước, quay thuyền bơi về hướng tây.

Thôi Bách Kế và Quá Ngạn Chi đưa mắt nhìn nhau mấy lần. Hai người cùng
nghĩ bụng: "nay mình vào hang cọp, chưa biết sống chết ra sao. Bọn Mộ
Dung thủ đoạn ác độc vô cùng. Cô bé này xem ra tuy không phải là hạng
đóng kịch giả hiệu nhưng biết đâu chẳng là kế kiêu binh của chúng để mình
phóng tâm không đề phòng cho chúng dễ bề hạ thủ?". Thuyền đi vòng vèo
vài khúc quanh thì đến cái hồ lớn rộng bát ngát, mông mênh những nước
cùng trời. Quá Ngạn Chi chột dạ nghĩ thầm: "cái hồ này có lẽ là Thái Hồ
đây. Mình cùng Thôi sư thúc đều không quen bơi lội, thuyền chỉ lật đi một
cái thời mình đành làm mồi cho cá, còn đâu nữa mà báo cừu cho sư phụ?".
Thôi Bách Kế cũng tưởng đến chỗ đó tự nhủ: "giả tỷ mình cầm mái chèo
trong tay thì ả này có muốn lật thuyền cũng không phải dễ", liền nói:

- Cô nương! cô để tôi bơi thuyền đỡ một lúc. Cô cứ chỉ đường cho tôi là
được.

A Bích cười nói:

- Trời ơi! cháu đâu dám thế? Công tử mà biết ra sẽ trách phạt cháu về tội
khinh mạn tân khách.

Thôi Bách Kế thấy nàng không chịu lại càng ra dạ ngờ vực bèn xoay chiều:

- Thật ra không dám giấu gì cô nương. Xin cô nương cho chúng tôi nghe
thêm vài khúc đàn nhuyễn tiên tuyệt kỹ nữa.

A Bích cười nói:

- Tiên sinh dạy quá lời.

Thôi Bách Kế lấy cây nhuyễn tiên trong tay Quá Ngạn Chi đưa cho A Bích
miệng bảo nàng gẩy đàn, tay đưa ra đón lấy mái chèo.

A Bích nói:

- Tiên sinh cho tôi mượn cả cái bàn tính nữa.

Thôi Bách Kế ngấm ngầm nghĩ bụng: "ả thu cả khí giới của bọn mình, hay
là có âm mưu gì đâỷ". Nghĩ vậy thì nghĩ chứ không có cách nào từ chối
đành cầm bàn tính đưa cho nàng.

A Bích đặt bàn tính xuống tấm ván gỗ đầu thuyền ngay trước mặt. Tay trái
nàng giữ lấy chuôi nhuyễn tiên, chân phải dậm lên một đầu cho cây roi
dựng thẳng lên, năm ngón tay phải vừa bật vừa vê đi vuốt lại, cây nhuyễn
tiên phát ra tiếng leng keng, tuy không trong trẻo vang dội bằng tiếng đàn tỳ
bà nhưng nghe cũng thành nhạc điệu giòn dã, du dương. Năm ngón tay A
Bích vừa lần gẩy nhuyễn tiên vừa gẩy xen lẫn tiếng bàn tính kêu lách cách
tựa hồ tiếng sắt tiếng vàng chen nhau nghe càng thêm thú vị. Giữa lúc đó
đôi chim én lượn qua đầu thuyền, bay về hướng tây. Đoàn Dự nghĩ bụng:
chỗ Mộ Dung ở gọi là Yến Tử ổ chắc có nhiều chim én. Bỗng nghe A Bích
cất tiếng hát. Đoàn Dự nghe giọng hát du dương mà lòng những bâng
khuâng như say như tỉnh. Chàng lẩm bẩm một mình: "nếu mình suốt đời ở
tận nơi đèo heo hút gió thì làm sao nghe được những khúc tiên nhạc này?
Công tử Mộ Dung có những ả nữ tỳ tài tình thế này tất không phải hạng tầm
thường". A Bích ca hát một hồi rồi đưa trả bàn tính cùng nhuyễn tiên cho
Thôi, Quá và cười nói:

- Đàn hát kém quá, chỉ tổ làm trò cười cho quý khách. Xin Hoắc tiên sinh
quay mũi thuyền về mé tả, sắp đến nhà rồi.

Thôi Bách Kế lái mũi thuyền theo tay nàng trỏ, đi vào lạch nước đầy sen
mọc. Nếu không có A Bích trỏ nẻo thì không ai ngờ giữa chỗ lá sen chi chít
lại là lối thuyền đi. Thôi Bách Kế chèo một lúc nữa A Bích lại trỏ tay bảo:

- Đi vào nẻo trong kia!

Quãng này trên mặt nước toàn một giống hồng lăng. Nước biếc lá xanh,
phong cảnh tuyệt đẹp. A Bích đưa tay ra hái ít trái hồng lăng đa cho mọi
người. Đoàn Dự tuy hai tay đã cử động được nhưng từ sau khi bị điểm huyệt
không còn mảy may khí lực nào nữa, vỏ trái hồng lăng hơi rắn một chút mà
chàng không sao bóc được.

A Bích cười nói:

- Công tử không phải là người Giang Nam, không biết bóc vỏ hồng lăng, để
cháu bóc cho.

Nàng bóc luôn mấy trái đặt vào tay Đoàn Dự. Nhân cùng thịt trái này trắng
bóng và tinh khiết. Đoàn Dự cầm bỏ vào miệng ăn, vừa ngọt vừa thơm,
chàng cười bảo A Bích:

- Mùi vị của trái thuý hồng lăng này cũng ngon ngọt như khúc hát của cô
nương.

A Bích hai má ửng hồng cười nói:

- Đa tạ công tử. Đem điệu hát ví với trái hồng lăng, nay cháu mới nghe thấy
công tử nói là một.

Chưa đi hết lạch hồng lăng, A Bích lại trỏ tay cho thuyền đi ra ngả có lau
sậy rậm rạp. Đến khu này cả Cưu Ma Trí cũng phải lưu tâm nhớ lấy nẻo đi,
để đề phòng lúc về biết lối mà ra. Vì chỉ trông thấy toàn một mầu lá lau, lá
lăng, lá giao, lá sen rất khó phân biệt đường đi. Hơn nữa chỉ một cơn gió là
các thứ hoa trên mặt nước này bay qua, lướt lại, mất hết dấu vết, dù có nhận
xét kỹ càng nhưng thoáng cái cucï diện lại biến đổi khác đi. Cưu Ma Trí, Thôi
Bách Kế, Quá Ngạn Chi ba người đều để ý nhìn nhận phương pháp tìm nẻo
đi của A Bích, xem nàng lấy gì làm mục tiêu nhưng chỉ thấy nàng cứ điềm
nhiên hái trái hồng lăng mà chẳng cần để ý gì đến đường đi. Thuyền đến
chỗ quanh, chỗ rẽ là nàng thuận miệng chỉ bảo, tựa hồ những lối dọc ngang
trên mặt hồ nàng đã thuộc lòng, không cần để ý nhìn nhận nữa. Thuyền đi
ngang rẽ dọc không biết bao nhiêu chỗ vào khoảng giờ mùi thì xa xa giữa
rặng liễu xanh om lộ ra một mái nhà.

A Bích nói:

- Đến nơi rồi, hôm nay cháu làm nhọc sức Hoắc tiên sinh bơi thuyền đến
quá nửa ngày.

Nàng thấy Đoàn Dự gọi Thôi Bách Kế là Hoắc tiên sinh cũng tưởng ông ta
họ Hoắc. Thôi Bách Kế miệng cười méo mó đáp:

- Cứ được ăn hồng lăng, lại được nghe thanh ca, dù có phải bơi thuyền hàng
năm cũng không biết mỏi.

A Bích vỗ tay cười nói:

- Tiên sinh muốn ăn hồng lăng cùng nghe hát thì khó gì? Cứ ở cùng tụi trên
hồ này không ra nữa là được.

Thôi Bách Kế nghe A Bích nói: "cứ ở trên hồ này, không ra nữa" bất giác
thất kinh, đưa mắt nhìn hồi lâu thì chỉ thấy lúc nào nàng cũng tươi cười dễ
dãi, tuyệt không lộ vẻ con người tâm cơ xảo trá. Tuy nhiên Thôi vẫn không
vững dạ chút nào.

A Bích đón lấy mái chèo, gạt thuyền vào dưới bóng liễu, đến chỗ có cành
cây tùng rủ xuống mặt nước. Nàng vừa buộc thuyền vào cành cây xong,
chợt nghe tiếng một con chim nhỏ hót líu lo, giọng hót rất trong trẻo và
vang dội. A Bích cũng bắt chước giọng chim gáy lên vài tiếng rồi quay lại
bảo mọi người:

- Xin mời quý vị lên bờ.

Mọi người lên bờ trông vào thấy lưa thưa có bốn năm căn nhà nhỏ, dựng
trên một cái đảo nhỏ hay cái bán đảo thì đúng hơn. Các phòng ốc tuy bé
nhỏ nhưng rất sáng sủa, xinh xắn.

Cưu Ma Trí hỏi:

- Phải chăng đây là Tham Hợp trang trong yến tử ổ?

A Bích lắc đầu đáp:

- Không phải! chỗ này công tử dựng lên cho cháu ở, chật hẹp, quê mùa
không đáng để tiếp khách. Đại sư bảo vào tế mồ Mộ Dung tiên sinh, tôi đâu
dám tác chủ, chẳng qua thỉnh quý vị vào đây ngồi chờ, để cháu nói cho A
Châu tỷ nương hay.

Cưu Ma Trí có vẻ không bằng lòng, nét mặt lầm lỳ. Cưu Ma Trí là một vị
hộ quốc pháp vưng nước Thổ Phồn, địa vị cao sang là thế. Phi chỉ quốc
vương nước Thổ Phồn đem lòng kính trọng, mà sang đến triều đình nước
Đại Tống hay các nước Đại Lý, Liêu Quốc các vị vua chúa cũng tiếp đãi lão
vào hàng thượng khách. Huống chi lão là bạn cố tri với Mộ Dung tiên sinh,
vì tình nghĩa mà thân hành đến tế mộ. Công tử Mộ Dung vắng nhà không
biết đã đành còn những người ở nhà cũng không mời lão vào đại sảnh, tiếp
đãi long trọng, lại để cho con thị tỳ đưa vào nhà riêng, thực là đáng giận.
Nhưng lão thấy A Bích luôn miệng tươi cười, tuyệt không tỏ vẻ khinh mạn
thì nghĩ rằng: "Nó là con ăn con ở, có hiểu gì đâu mà mình đem đặt nó vào
địa vị người có kiến thức?". Nghĩ vậy lão trở lại nét mặt ôn hoà vui tươi.

Thôi Bách Kế hỏi:

- A Châu tỷ nương là ai?

A Bích cười đáp bằng một giọng ngây thơ:

- A Châu tỷ nương là A Châu tỷ nương! vì chị A Châu lớn hơn cháu một
tháng nên cháu kêu bằng A Châu tỷ nương chứ biết sao được? Ai bảo chị
lớn hơn cháu một tháng làm gì? Như tiên sinh thì cần gì phải gọi A Châu là
tỷ nương? nhưng nếu cứ gọi A Châu tỷ nương thì chị ta cũng khoái lắm.

Nàng nói liến láu một hồi, giọng nói trong trẻo như người tấu nhạc rồi dẫn
bốn người vào trong nhà. Đoàn Dự nhìn lên thấy trên cửa căn nhà nhỏ có
tấm biển viết hai chữ "cầm vân", nét chữ rất tốt. A Bích mời mọi người ngồi
chơi. Một lát có gã con trai bưng trà và bánh điểm tâm ra. Đoàn Dự vừa
cầm chén trà thì một mùi thơm ngát đưa lên mũi. Chàng thấy nước trà màu
xanh lạt, cánh trà mầu xanh biếc, nhỏ như hạt châu, trên mặt lá có lông nhỏ
li ti. Thứ trà này chàng chưa thấy bao giờ. Chàng vừa nhấp thử một hớp,
miệng đượm mùi thơm, lưỡi dơm dớp vị ngọt. Cưu Ma Trí và Thôi Bách Kế
thấy lá trà kỳ dị không dám uống. (Nguyên thứ trà này là đặc sản ở miền
phụ cận Thái Hồ, đời sau gọi là trà Bích La Xuân. Bấy giờ về đời Bắc Tống,
chưa có cái tên thanh nhã nàỵ) Cưu Ma Trí ở khu Tây Vực và cư trú tại
miền rừng núi nước Thổ Phồn, chỉ quen uống trà sắc đen, vị chát, giờ thấy
thứ trà sắc xanh biếc, có lông ngờ là có chất độc.

Bốn thứ điểm tâm là mứt mai côi, bánh dẻo phục linh, bánh nướng Phi Thuỷ
và bột ngó sen. Thứ nào cũng chế rất công phu, tựa hồ như làm để bày cho
đẹp chứ không phải để ăn. Đoàn Dự khen nức nở rồi hỏi:

- Những món điểm tâm coi đẹp thế này mà bỏ vào miệng ăn đi thì uổng quá
phải không cô nương?

A Bích nói:

- Mời công tử dùng đi! Trong nhà hãy còn.

Đoàn Dự ăn đến đâu lại trầm trồ khen ngợi đến đó. Cưu Ma Trí và Thôi
Bách Kế cùng Quá Ngạn Chi không dám ăn. Đoàn Dự thấy vậy trong lòng
sinh nghi tự hỏi: "Cưu Ma Trí tự xưng là bạn thân với Mộ Dung tiên sinh
vậy mà sao chỗ nào lão cũng gia tâm đề phòng? Nhà Mộ Dung đối đãi với
lão tựa hồ không có vẻ trịnh trọng là nghĩa gì?

Cưu Ma Trí thật là người rất nhẫn nại, lão đợi đến nửa ngày chờ sau khi
Đoàn Dự đã uống trà và ăn điểm tâm đủ thứ mới cất tiếng giục A Bích:

- Bây giờ xin cô nương đi mời A Châu cô nương đến cho!

A Bích cười đáp:

- Trại chị A Châu ở cách đây xa tới bốn chín đường thuỷ, bữa nay đi không
kịp mất rồi. Mời bốn vị hãy ở lại đây một đêm, sáng sớm mai cháu sẽ đưa
quý vị sang "thính hương tiểu trúc".

Thôi Bách Kế hỏi:

- Bốn chín đường thuỷ là nghĩa làm sao?

A Bích đáp:

- Một chín là 9 dặm, hai chín là 18 dặm, bốn chín là 36 dặm.

Nguyên một giải Giang Nam tính lộ trình từng 9 dặm một.

Cưu Ma Trí lại nói:

- Giá biết thế này thì cô nương đưa chúng tôi đến thẳng Thính hương tiểu
trúc có phải hay hơn không?

A Bích cười đáp:

- Cháu ở đây một mình không có ai trò chuyện, buồn chết đi được. Chẳng
mấy khi có quý khách đến chơi, thế nào cũng lưu quý vị ở lại đây một hôm.

Từ hồi nào tới giờ Quá Ngạn Chi chỉ ngồi lầm lỳ không nói câu gì, đột
nhiên đứng phắt dậy, quát hỏi:

- Thân nhân nhà Mộ Dung trú ngụ nơi đâu? Quá Ngạn Chi này đến Tham
Hợp trang không phải để ăn cơm, uống nước cũng không phải để gẫu
chuyện giải buồn cho ai đâu nhé. Ta đến để giết người báo thù, để đổ máu
cùng gây án mạng. Quá mỗ đã vào trong này, cô nương đi bảo chúng hay,
ta đây là đệ tử Kha Bách Tuế phái Tung Sơn đến đòi món nợ máu của sư
phụ ta.

Nói xong cầm cây nhuyễn tiên đập mạnh làm cho chiếc kỷ trà gỗ đàn hương
cùng cái ghế bằng thứ trúc Tương Phi gẫy ra từng mảnh.

A Bích không sợ hãi mà cũng không tức giận nàng nói:

- Các vị anh hùng hào kiệt đến chơi với Mộ Dung công tử mỗi tháng mấy
lần, cũng đã nhiều vị hùng hùng hổ hổ như Quá đại gia đây...

Nàng chưa dứt lời, chợt thấy một lão già nhỏ bé thấp lủn thủn, đầu tóc bạc
phơ chống gậy từ hậu đường đi ra hỏi:

- A Bích! Ai làm gì mà ầm lên thế?

Thôi Bách Kế đang ngồi ghế cũng nhảy vọt ra, đứng bên Quá Ngạn Chi
quát hỏi:

- Sư huynh ta là Kha Bách Tuế bị ai sát hại? Nói mau!

Đoàn Dự thấy lão già lưng còng, mặt mũi dăn deo chừng tám chín chục tuổi
nói ấp úng trong cổ họng:

- Kha Bách Tuế, Kha Bách Tuế ? đã thọ đến Bách Tuế thì chết là đáng đời
rồi còn gì?

Từ lúc Quá Ngạn Chi đến Tô Châu, tưởng đến thẳng nhà Mộ Dung chém
giết để báo thù cho ân sư nào ngờ gặp phải Cưu Ma Trí đoạt khí giới, mất
hết nhuệ khí, đang bực mình thì lại gặp A Bích, một cô gái rất hiền hoà khả
ái, bao nhiêu thù oán không phát tiết vào đâu được nên giờ vừa nghe lão già
ăn nói ỡm ờ, vô lễ liền vung roi nhằm hậu tâm lão quất xuống. Chàng sợ
Cưu Ma Trí ra tay can thiệp nên thấy Cưu ngồi đầu đằng tây liền giơ roi về
phía đông quất tới. Nào ngờ Cưu Ma Trí vươn tay ra, bàn tay lão tựa hồ có
đá nam châm, lão ngồi xa mà chụp được nhuyễn tiên nói:

- Quá đại hiệp! Chúng ta là khách phương xa đến, lấy lời lẽ dàn xếp với
nhau là hơn, hà tất phải dùng đến võ lực?

Đoạn lão cuộn cây nhuyễn tiên lại, trao trả cho Quá Ngạn Chi. Quá Ngạn
Chi thẹn mặt đỏ bừng, đón lấy roi thì tức mình mà không đón lấy cũng
không tiện. Sau cùng nghĩ bụng: "mình đến đây cốt để báo thù là việc lớn,
hãy tạm nhẫn nhục trong nhất thời rồi sẽ liệu sau". Nghĩ vậy chàng đưa tay
ra đón lấy cây roi.

Cưu Ma Trí hỏi lão già:

- Tôn tính đại danh thí chủ là gì? Là người thân thích hay bạn hữu với Mộ
Dung tiên sinh?

Lão già toét miệng ra cười đáp:

- Già này là lão bộc của công tử Mộ Dung, làm gì có tôn tánh đại danh? Già
nghe nói đại sư là bạn thân với cố chủ nhận, vậy người có điều chi dạy bảo?

Cưu Ma Trí nói:

- Bần tăng cần gặp Mộ Dung công tử để trình bày.

Lão già đáp:

- Thế thì không may rồi! Công tử tôi mới ra đi hôm kia, không chừng một
hai ngày nữa mới về.

Cưu Ma Trí lại hỏi:

- Công tử đi chơi đâu?

Lão già nghiêng đầu, nghẹo cổ, đưa ngón tay lên gõ trán rồi nói:

- Tôi tuổi già lẫn lộn, không nhớ được rành mạch, dường như công tử sang
Tây Hạ hay Liêu Quốc gì đó, mà không chừng còn qua Thổ Phồn, Đại Lý
cũng nên.

Cưu Ma Trí hứ một tiếng, tỏ vẻ không bằng lòng vì lão già ấm ớ, chỉ trừ có
Đại Tống là không còn bốn nước thuộc hạt lão nói hết. Cưu lại biết rõ lão
già này giả bộ ngớ ngẩn liền nói tiếp:

- Đã vậy thì bần tăng không thể chờ công tử được, nhờ quản gia đưa bần
tăng đến tế mồ Mộ Dung tiên sinh cho tận tình cố nhân.

Lão già khua tay rối lên nói:

- Việc này tôi không thể tác chủ được đâu, tôi cũng không phải là quản gia,
quản giếc chi cả.

Cu Ma Trí lại hỏi:

- Vậy ai là quản gia tôn phủ? Xin mời ra đây nói chuyện?

Lão già gật đầu luôn mấy cái nói:

- Được thế thì được lắm! Tôi xin mời quản gia đến.

Lão trở gót người run lẩy bẩy đi ra, vừa đi vừa càu nhàu: "Cha này đáo để
thật! Trên đời chẳng có việc ác nào là lão từ, lại giả bộ thầy tu. Mình đã
ngần này tuổi đầu còn lạ gì trò hề mà lão toan bịp cả mình nữa mới đáng
ghét".

Đoàn Dự nghe lão nói bật lên tiếng cười khanh khách. A Bích vội quay sang
nói với Cưu Ma Trí:

- Xin đại sư phụ đừng giận, Hoàng lão bá có tính lẩn thẩn lại phải cái tật là
tự cho mình thông minh hiểu đời, ai cũng chê bai.

Thôi Bách Kế kéo áo Quá Ngạn Chi ra một chỗ khẽ bảo:

- Cái thằng trọc tự xưng là bạn với Mộ Dung tiên sinh kia, sao nhà này
không thấy ai tiếp đãi y một cách trọng vọng? Hiền điệt đừng có xung khắc
với lão, phải để ý xem sao rồi sẽ liệu.

Quá Ngạn Chi vâng lời về lại chỗ ngồi. Nhưng cái ghế dành cho chàng đã bị
đập gẫy nát rồi, thành ra phải đứng. A Bích vội bê cái ghế nàng đang ngồi
lại, tươi cười nói:

- Mời Quá đại gia ngồi đây.

Quá Ngạn Chi gật đầu, chàng tự nhủ: "giả tỷ mình vào đây, có giết hết cả
nhà Mộ Dung, cũng nên tha cho con nhỏ này".

Từ lúc lão bộc họ Hoàng ra nhà khách, Đoàn Dự cảm thấy trong lòng thắc
mắc, hình như có điều chi lệch lạc, không ăn nhập với nhau trong hoàn cảnh
chỗ này mà chàng nghĩ mãi không ra. Chàng hết nhìn cái phòng khách nhỏ
bé cùng đồ cần thiết trong nhà, lại nhìn mấy bức hoạ treo trên vách, các
khóm hoa ngoài sân rồi chàng lại nhìn A Bích, Cưu Ma Trí, Thôi Bách Kế,
Quá Ngạn Chi mà không sao tìm ra cái trạng thái mỗi lúc chàng càng cảm
thấy kỳ dị hơn. Đoàn Dự còn đang nghĩ ngợi phân vân, bỗng nghe thấy
tiếng chân người rồi từ trong nhà đi ra một ông già trạc ngoại ngũ tuần,
người ốm o, nước da vàng vọt, dưới cằm có một túm râu ngắn nh râu dê
nhưng vẻ mặt tinh lanh mẫn cán, cách phục sức rõ ra một tên quản gia trong
phủ Mộ Dung.

Gã gầy nhom quay mặt về phía Cưu Ma Trí cùng mọi người thi lễ nói:

- Tiểu nhân là Tôn Tam xin bái kiến liệt vị. Thưa đại sư phụ! Nay người có
thịnh ý đến tế mồ Mộ Dung lão gia chúng tôi cảm kích vô cùng. Song công
tử chúng tôi vắng nhà, không ai đáp lễ sao cho phải đạo kính khách. Vậy
chờ công tử về, tiểu nhân sẽ đem thịnh ý của đại sư phụ trình lại công tử là
đủ...

Gã vừa nói đến đây thì mũi Đoàn Dự bỗng thoáng ngửi thấy một mùi hương
thoang thoảng, chàng chợt nghĩ ra điều gì tự hỏi: "chẳng lẽ lại thế ?".

Nguyên lúc nãy người lão bộc họ Hoàng đến, Đoàn Dự cũng đã ngửi thấy
một mùi hương u nhã. Mùi hương này cũng phảng phất như mùi hương
trong người Mộc Uyển Thanh tiết ra. Tuy có chỗ khác nhau thật song lại
vẫn là mùi hương của thiếu nữ. Thoạt tiên thì chàng cho là mùi hương ở
mình A Bích tiết ra nên không để ý. Thế rồi sau khi lão bộc ra khỏi nhà
khách, mùi hương đó tự nhiên đi đâu mất. Đoàn Dự sở dĩ thắc mắc mãi là ở
điểm này: có lý đâu một ông già tám chín chục tuổi đầu lại còn tiết ra một
mùi hương của cô gái mười tám đôi mư. Bây giờ gã gầy nhom tự xưng là
Tôn Tam này vừa vào, chàng lại ngửi thấy mùi hương ban nãy. Trong bụng
suy nghĩ lung lắm, bao nhiêu câu hỏi xoay lộn trong óc: phải chăng phía
sau nhà khách có thứ kỳ hoa, dị thảo gì nên mỗi khi người ở nhà trong đi ra
lại quyện lấy mùi hương này đi theo, khiến người ngửi phải mê mẩn tâm
thần? Nếu không đúng thế thì cả lão bộc già nua kia lẫn quản gia gầy nhom
này đều do một thiếu nữ đóng vai. Mùi hương tuy làm cho Đoàn Dự sinh
nghi nhưng nó rất đạm bạc, nó rất vi tế, phải là cái mũi đặc biệt của Đoàn
Dự mới ngửi thấy còn Cưu Ma Trí, Thôi Bách Kế và Quá Ngạn Chi thì
không hay biết gì hết. Sở dĩ Đoàn Dự có được cái mũi thần tình như thế là
vì chàng đã bị giam cầm trong thạch thất với Mộc Uyển Thanh. Trải qua
một thời gian cực kỳ nguy hiểm mũi chàng quen thuộc với mùi hương của
nàng. Có thể nói là chàng đã khắc xương ghi dạ cái mùi hương thiếu nữ tiết
ra. Đối với cái mũi của chàng, mùi hương này mạnh hơn cả cái thơm của gỗ
đàn hương hay của bách hoa.

Đoàn Dự tuy nghi Tôn Tam là thiếu nữ hoá trang, song chàng ngó lui, ngó
tới mà không sao khám phá ra được. Gã Tôn Tam cũng rất thần tình, từ
tướng mạo cho đến cử chỉ, nói năng hoàn toàn ra vẻ đàn ông, không có kẽ
hở mảy may nào để lộ chân tướng. Sau chàng chợt nghĩ ra: Gái giả trai
muốn giỏi đến đâu thì giỏi cũng không thể nào giả ra được cái bìu cổ họng.
Thế rồi chàng cứ nhè chỗ cổ họng Tôn Tam để khám phá... Nhưng gã đã
khôn ngoan để chùm râu dê rủ xuống che khuất cái bìu đi, không sao mà
nhìn thấy được. Chàng liền đứng dậy, giả vờ xem những chữ treo trên vách,
rồi lại gần bên Tôn Tam, ghé mắt trông vào chỗ bìu cổ, quả cổ phẳng lỳ
không có tật nổi lên, rồi thì chàng lại nhìn xuống thấy bộ ngực gồ lên. Tuy
chưa chắc đã là ngực đàn bà nhưng đã trông nét mặt gầy đét của gã đàn ông
thì quyết nhiên ngực không thể đầy thế được. Đoàn Dự khám phá ra điều bí
mật này, chẳng lấy làm thú vị, lẩm bẩm: vai trò vẫn còn dài, chưa hết. Thử
xem cô ả diễn xuất ra sao?

Bỗng thấy Cưu Ma Trí thở dài nói với Tôn Tam:

- Bần tăng gặp quý chủ nhân hồi ở bên Thiên Trúc có bàn đến võ nghệ rồi
cùng nhau ý hợp tâm đầu, kết bạn tâm giao. Ai ngờ trời chẳng cho thọ, để
mình kẻ phàm phu tục tử này sống trộm ở đời, còn quý chủ nhân vội về thế
giới cực lạc. Bần tăng lặn lội từ nước Thổ Phồn xuống đến Trung Nguyên
chẳng qua vì tình bạn hữu thâm trọng, cốt sao được lạy trước mộ một lạy
còn có người đáp lễ hay không phỏng có chi là quan hệ? Phiền quản gia dẫn
bần tăng đến nơi là được.

Tôn Tam chau mày ra chiều suy nghĩ, gã ngập ngừng:

- Việc này... việc này...

Cưu Ma Trí ngắt lời:

- Nếu có điều chi nan giải, xin nói rõ cho biết!

Tôn Tam nói:

- Đại sư phụ là chỗ thâm giao với lão gia tiểu nhân, hẳn biết rõ tính người
lúc sanh thời. Lão gia tiểu nhân ghét cay, ghét đắng bất luận là ai đến thăm
người. Người thường bảo: những bọn đến đây chẳng là hạng tới sinh sự báo
thù thì lại là kẻ đến tầm sư học nghệ, dưới nữa là phường đến vay mượn,
hoặc thừa cơ đục nước buông câu, nhân lúc lộn xộn chẳng dắt trộm cừu
cũng khuân đồ vật. Người còn nói: đám sư mõ đến lại càng khó chịu... Chết
rồi... khó nói quá...

Gã nói đến đây tựa hồ như người buột miệng lỡ lời xúc phạm đến Cưu Ma
Trí, vội giơ tay lên bịt miệng. Những cử chỉ càng rõ ra vẻ một thiếu nữ, mắt
tròn xinh xinh và con ngươi đen láy. Tuy gã vội chớp mắt, rủ lông mày
xuống che đi nhưng làm sao dấu nổi Đoàn Dự đang lưu tâm dò xét. Chàng
thấy nàng bại lộ cơ quan, bất giác cả mừng lẩm bẩm: Gã Tôn Tam phi chỉ
là đàn bà mà còn là một vị nữ lang đang độ xuân xanh. Chàng liếc nhìn A
Bích thì khoé hạnh cô này đang nở một nụ cười ranh mãnh. Chàng không
còn nghi ngờ gì nữa, nghĩ thầm: "Cả gã Tôn Tam này cho chí lão già họ
Hoàng lúc nãy chỉ là một người, chưa biết chừng chính là A Châu tỷ
nương".

Cu Ma Trí vẫn giữ một bộ mặt từ bi than rằng:

- Người đời gian trá thì nhiều mà thật thà thì ít, Mộ Dung tiên sinh không
muốn giao kết với người phàm tục là phải lắm.

Tôn Tam nói:

- Quả vậy! Lão gia tiểu nhân có di ngôn rằng bất luận kẻ nào đến xin viếng
mồ quét mả, nhất thiết không cho vào. Thậm chí người còn bảo: mấy thằng
cha trọc, đa số không phải vì hảo tâm mà đến, chúng chỉ có ý muốn quật
mả ta lên mà thôi. Trời ơi! Đại sư phụ đừng phiền, lão gia tiểu nhân thoá
mạ thằng trọc là thoá mạ người ta kia, không phải có ý mạt sát sư phụ đâu.

Đoàn Dự nghe nói phải cười thầm: ai đời lại trước mặt nhà sư mà thoá mạ
thằng trọc bao giờ? Rồi chàng lại nghĩ: lão Cưu Ma Trí này bị người thoá
mạ đến thế mà y vẫn bình tĩnh được, tuyệt không lộ vẻ cáu giận chút nào.
Lão là con người đại gian đại ác phi thờng mới giữ được thái độ này.

Cưu Ma Trí nói:

- Quý chủ nhân di ngôn lại mấy câu đó rất có lý. Vì hồi sinh thời ông uy
danh lừng lẫy khắp thiên hạ, do đó mà dễ kết mối thâm cừu rất nhiều. Còn
sống họ không làm gì được nên ông chết rồi tất họ cố tình tìm đến động
chạm vào di thể ông để trả thù đó là một điều dĩ nhiên.

Hết Hồi 27 ....

Trung Quốc
06-07-2002, 10:08 AM
Hồi 28 Cái mũi thần tình

Tôn Tam đáp:

- Muốn động đến di thể lão gia tiểu nhân ? Ha ha! Cái đó thì đừng hòng.

Cưu MaTrí nói:

- Tôi với Mộ Dung tiên sinh vốn là chỗ tri giao, nên tôi chỉ cốt đến viếng
mộ thôi, ngoài ra không có ý gì khác, quản gia bất tất phải đa nghi?

Tôn Tam vẫn cương quyết đáp:

- Thực ra việc này tiểu nhân không thể tự chủ được. Nếu làm trái với lời di
ngôn của lão gia, khi công tử về tra hỏi ra sẽ đánh tiểu nhân gãy cẳng mất.
Thôi để tiểu nhân hỏi ý kiến lão thái thái xem sao, rồi sẽ trả lời.

Cưu Ma Trí hỏi:

- Lão thái thái là ai?

Tôn Tam đáp:

- Là thúc mẫu lão gia tiểu nhân. Các bạn hữu của lão gia mỗi khi tới đây
vào chào lão thái thái đều phải cúi đầu lạy. Khi công tử vắng nhà thì mọi
việc đều phải lĩnh ý lão thái thái.

Cưu Ma Trí nói:

- Như thế càng hay! Nhờ quản gia vào bẩm với lão thái thái là có Cưu Ma
Trí ở nước Thổ Phồn tới thăm.

Tôn Tam đáp:

- Ông khách khí quá, chúng tôi không dám.

Khi Tôn Tam quay vào nhà trong rồi, Đoàn Dự ngẫm nghĩ: "cô gái này thật
là tinh quái. Không hiểu cô ta trêu cợt Cưu Ma Trí với dụng ý gì?". Được
một lúc văng vẳng có tiếng hoàn hội leng keng, một bà già từ trong nội
đường đi ra, người chưa tới mà mùi hương đã thoang thoảng đưa vào mũi
Đoàn Dự. Đoàn Dự không nhịn cười được. Lần này chàng nhận rõ đó là một
thiếu nữ hoá trang thành bà lão, mình mặc áo đoạn màu da đồng, cổ tay đeo
vòng ngọc, cách phục sức rất sang trọng, trên má có nhiều vết nhăn, mặt
mũi kèm nhèm, tựa hồ như không trông rõ gì hết. Đoàn Dự trong bụng
không khỏi khen thầm: cô bé này hoá trang giỏi tuyệt, trá hình ai ra người
ấy, khó mà khám phá ra được. Tài nhất là chỉ trong khoảnh khắc nàng đã
cải trang xong, chân tay mau lẹ đến cực điểm.

Bà già tay chống gậy, người run lẩy bẩy tiến ra tới nhà ngoài liền hỏi:

- A Bích! Bạn của lão gia mi đã tới đấy ? Sao không thấy bái kiến ta?

Mụ nghiêng đầu nhìn bên đông lại nghẹo cổ ngó bên tây, hai mắt như bị
quáng loà, không nhận ra người nào ở chỗ nào. A Bích quay sang Cưu Ma
Trí, khoa tay làm hiệu và khẽ nói:

- Hoà thượng mau mau dập đầu bái kiến đi! lão thái thái mà vừa lòng thì
muốn yêu cầu việc gì cũng được hết.

Bà già nghiêng đầu, đưa bàn tay lên, kéo vành tai lại tựa hồ để nghe cho rõ
rồi lớn tiếng hỏi:

- Con ranh con! Mi nói cái gì vậy? Người ta đã cúi đầu lạy chưa?

Cưu Ma Trí bèn lên tiếng:

- Lão phu nhân mạnh giỏi! Tiểu tăng xin thi lễ.

Đoạn chắp tay xá dài, kình lực từ hai bàn tay phát ra, đập xuống thềm gạch
kêu "binh binh" nghe tựa như là tiếng dập đầu xuống đất lạy.

Thôi Bách Kế và Quá Ngạn Chi đưa mắt nhìn nhau và phập phòng lo sợ: lão
sư này nội lực mạnh đến thế, e rằng khó lòng đấu nổi với lão được một đòn.

Bà già gật gù thủng thẳng nói:

- Ngán cho cái thế giới này! Kẻ gian trá thì nhiều, người thực thà thì ít.
Ngay một việc cúi đầu lạy còn có đứa tồi tệ, dở tuồng ranh mãnh giả dối,
rành rành nó không sụp lạy mà nó làm trò cho dưới đất phát ra tiếng kêu tựa
hồ như tiếng đập đầu xuống thềm. Nó khinh ta không nhìn thấy gì mà! Để
xem ta có khen nó ngoan, nó giỏi, sụp đầu lạy vang lên những tiếng "bốp
bốp".

Đoàn Dự không nhịn được, phì ra một tiếng cười lí nhí.

Bà già từ từ quay đầu lại hỏi:

- A Bích! Đứa nào hư hỗn, vô ý thế hử?

Bà vừa nói vừa đưa tay lên bưng mũi. A Bích bật cười nói:

- Thưa lão thái thái! không phải cái trò bất lịch sự đâu. Đoàn công tử phì ra
tiếng cười trong cổ họng đấy ạ.

Bà già làm bộ nghễnh ngãng, nghe không ra hỏi lại:

- "Đoạn" gì? Làm sao mà đoạn? Cái gì đứt đoạn?

A Bích đáp:

- Không phải đoạn. Người ta họ Đoàn, công tử họ Đoàn.

Bà già gật đầu nói tiếp:

- Chà! Công tử gì mà lắm thế? Mi nhớ công tử của mi lắm nhỉ!

A Bích đỏ mặt đáp:

- Lão phu nhân cũng mong nhớ công tử hoài đấy thôi.

Bà già lại hỏi:

- Mi... mi nói cái gì? Công tử muốn ăn dưa hấu ?

A Bích bĩu môi cười đáp:

- Vâng! công tử muốn ăn dưa hấu, đồng thời muốn ăn cả anh đào nữa.

Đoàn Dự nghe hai người nói nói cười cười mà câu nào cũng có thêm nghĩa
bóng nữa. Càng nghe càng thấy rõ người giả dạng bà già này đúng là một cô
gái khác cải trang. Bà già đó quay sang hỏi Đoàn Dự:

- Thằng lỏi này! Sao thấy lão thái thái lại không cúi đầu lạy?

Đoàn Dự nói lảng sang chuyện khác:

- Lão thái thái! tại hạ có câu chuyện riêng muốn thưa cùng lão thái thái
nhưng cần phải giữ kín, không thể để cho người thứ hai nghe được.

Bà già quay đầu lại hỏi:

- Mi bảo sao?

Đoàn Dự ghé tai nói nhỏ với bà lão:

- Tại hạ có một đứa cháu gái tên gọi A Châu dặn bảo: Y có câu chuyện
khẩn yếu cần trình lão thái thái trong phủ Mộ Dung.

Bà già đó lắc đầu lia lịa đáp:

- Không được nói nhảm, nói láo.

Đoàn Dự mỉm cười nói tiếp:

- Con cháu A Châu quả là đứa hay nói nhảm, nói láo, lại ưa hoá trang, chơi
cái trò con khỉ con hươu, nay giả dạng đàn ông, mai lại giả dạng đàn bà, nó
còn biết cả nghề đóng kịch nữa. Mỗi khi tôi bắt được đánh cho bết đít mà
vẫn không chừa.

Bà già này chính là A Châu, một ả nha hoàn khác trong phủ Mộ Dung hoá
trang. Thuật hoá trang của nàng khéo nhất trần gian, chẳng những về dung
mạo, mà về ngôn ngữ, cử chỉ, giọng nói điệu cười nhất nhất giống như in.
Có thể nói không sơ hở chút nào để người khám phá ra được. Chả thế mà
thông minh giảo quyệt như Cưu Ma Trí, lão luyện giang hồ như Thôi Bách
Kế cũng đều tin là thực chứ không mảy may nghi ngờ. Ai ngờ Đoàn Dự lại
phát giác ra được chân tướng của nàng nhờ ở cái mùi hương thoang thoảng
êm dịu từ trong người nàng tiết ra mà nàng vô phương che dấu. Nghe Đoàn
Dự nói A Châu giật mình. Song nàng trấn tĩnh được ngay không hề thay đổi
sắc mặt vẫn giữ bộ dạng già nua, mắt mờ tai điếc, nàng nói bóng với Đoàn
Dự:

- ừ thằng nhỏ tinh khôn lắm, thực là một đứa thông minh tuyệt trần. Trên
đời này ta chưa thấy đứa nhỏ nào tinh khôn được thế. Mi phải khôn ngoan
giữ mồm giữ miệng, bà thương yêu đặc biệt nghe!

Đoàn Dự nghe lời nàng biết nàng có ý khuyên chàng đừng tiết lộ hành tông
của nàng, để nàng đối phó với thằng giặc Cưu Ma Trí. Chính chàng cũng
cần nàng giúp sức để thoát hiểm thế thì nàng đối với chàng là bạn chứ
không phải là thù nên chàng đáp:

- Xin lão thái thái cứ yên tâm! Tại hạ đã tới tôn phủ thì nhất thiết mọi điều
đều tuỳ ở nơi lão thái thái xếp đặt.

A Châu a đóng kịch, nàng nói tiếp:

- Mi có biết nghe lời ta mới là đứa trẻ ngoan ngoãn. Trước hết hãy cúi đầu
lạy ta ba lạy đi đã! Ta sẽ nhất quyết không để thiệt cho mi đâu.

Đoàn Dự ngẩn người ra và tự nghĩ: "ta đường đường là một vị thế tử con
Trấn Nam Vương ở nước Đại Lý, lẽ nào lại lạy một ả nữ tỳ?".

A Châu thấy Đoàn Dự có vẻ lúng túng, nàng cười khà khà nói tiếp:

- Có kẻ chết đến sau gáy mà còn tự cao, tự đại. Thằng nhỏ ngoan! Ta bảo
mi, mi hãy lạy lão nương mấy lạy đi nào!

Đoàn Dự quay đầu sang bên chợt thấy A Bích nhếch mép tủm tỉm cười ranh
mãnh liếc mắt nhìn chàng, nước da trắng mịn như nhân trái hồng lăng mới
bóc vỏ, ở bên mép có một nốt ruồi nhỏ lại càng tăng thêm vẻ kiều mỵ khiến
lòng chàng rung động, cất tiếng hỏi:

- A Bích tỷ nương! nghe nói trong tôn phủ còn có chị A Châu tỷ nương,
nàng có mỹ miều nhuần nhã như tỷ nương không?

A Bích mỉm cười đáp:

- Trời ơi! Tôi xấu như ma lem có chi đáng kể? Chị A Châu mà nghe thấy
công tử hỏi thế tất giận lắm đó. Tôi đâu dám bì với chị A Châu, chị còn
tuấn tú gấp mười tôi.

Đoàn Dự hỏi lại:

- Quả vậy ?

A Bích đáp:

- Tôi nói dối công tử làm gì?

Đoàn Dự lắc đầu hoài nghi:

- Đẹp gấp mười chị? Trên đời này làm gì có người như vậy? Trừ phi là... là
nàng tiên ở trong thạch động kia thôi, còn người thì đẹp xuýt soát như chị
cũng đã là hiếm có lắm rồi.

A Bích hai má ửng hồng có vẻ thẹn thùng, nàng nói:

- Lão thái thái bảo anh cúi đầu lạy chứ ai bảo anh tán róc lấy lòng tôi.

Đoàn Dự lại hỏi:

- Lão phu nhân lúc đương thì chắc cũng là một vị tuyệt sắc giai nhân
nghiêng nước, nghiêng thành đấy nhỉ. Nói thực ra, lão thái thái đối với tôi
tốt hay không chưa biết nhưng Đoàn Dự này vẫn chưa có một ấn tượng gì ở
trong lòng. Có điều cúi lạy một vị tuyệt thế giai nhân thì tôi rất cam tâm.

Nói xong quỳ gối xuống liền và nghĩ thầm: "Ta đã lạy thì phải dập đầu cho
thật kêu. Trước mình lạy pho ngọc tượng trong động hàng nghìn lạy còn
được thì nay có lạy người đẹp đất Giang Nam ba lạy đã ăn thua gì?". Thế
rồi chàng dập đầu xuống đất kêu "kịch kịch kịch" ba tiếng. A Châu rất hài
lòng nghĩ thầm: "Đoàn công tử biết rõ ta là một đứa nha hoàn mà công
nhiên chịu cúi đầu lạy, thật là hiếm có". Nàng khen:

- Thằng nhỏ ngoan lắm! Tốt lắm! Tiếc rằng ta không đem tiền kiến diện...
để thưởng cho mi.

A Bích nói xen vào:

- Lão thái thái đừng quên là được rồi. Lần sau sẽ bù cho ngươi ta cũng thế.

A Châu đưa mắt nguýt A Bích rồi quay sang nói với Thôi Bách Kế và Quá
Ngạn Chi:

- Còn hai vị khách này tại sao không cúi đầu lạy, làm lễ bái kiến ta?

Quá Ngạn Chi hứ một tiếng và hỏi một cách sống sượng:

- Mụ có biết võ nghệ hay không?

A Châu ra vẻ nghễnh ngãng chưa nghe rõ, hỏi lại:

- Ngươi bảo sao?

Quá Ngạn Chi nhắc lại:

- Ta hỏi mụ có biết võ nghệ không? nếu là người võ công cao cường thì Quá
Ngạn Chi này tình nguyện lãnh cái chết ở dưới tay Mộ Dung lão thái thái,
còn nếu không phải là nhân vật trong võ lâm thì ta bất tất nhiều lời với mụ
làm gì?

A Châu vờ nhãng tai nghe "võ công cao cường" ra "ngô công bách cước"
nàng lắc đầu đánh trống lảng:

- Ngươi bảo "ngô công bách cước" chi chi đó, ta xem chừng ngươi say mất
rồi. Con rết trăm chân thì đâu mà chẳng có nó cắn người đau lắm đấy.

A Châu lại quay sang hỏi Cưu Ma Trí:

- Còn đại hoà thượng! Nghe nói mi muốn quật mả Mộ Dung tiên sinh lên,
định lấy trộm bảo bối phải không?

Cưu Ma Trí tuy không ngờ mụ là thiếu nữ hoá trang nhưng cũng biết là mụ
giả điếc, giả ngây, quyết không phải là một bà già đã đến mức lẫn lộn nhưthế nên lão vẫn dè dặt và nghĩ thầm trong bụng: "Mộ Dung tiên sinh đã giỏi như thế thì bậc tiền bối tiên sinh tất nhiên không phải hạng bản lãnh tầm
thường". Lão liền vờ như không nghe rõ hai chữ "quật mả" bèn đáp:

- Tiểu tăng cùng Mộ Dung tiên sinh là chỗ bạn tri giao, được nghe tin buồn
tiên sinh tạ thế nên lặn lội từ nước Thổ Phồn đến đây với mục đích duy nhất
là kính bái trước linh vị Mộ Dung tiên sinh mà thôi. Tiểu tăng có một điều
ước hẹn với tiên sinh từ lúc sinh tiền là lấy được quyển đồ hoạ Lục Mạch
Thần Kiếm đưa cho tiên sinh xem. Lời ước đó không thực hành được, tiểu
tăng rất lấy làm hổ thẹn.

A Châu nghe đến chữ "Lục Mạch Thần Kiếm" không khỏi giật mình, nàng
cũng biết đó là một môn võ công siêu việt, gần đây chính nàng cũng được
nghe công tử nhắc tới. A Châu và A Bích đưa mắt nhìn nhau và đều biết là
Cưu Ma Trí đã nói vào chính đề rồi. A Châu hỏi:

- Lấy được quyển đồ hoạ "Lục Mạch Thần Kiếm" thì sao? Mà không lấy
được thì làm gì?

Cưu Ma Trí đáp:

- Năm xưa tiên sinh cùng ước hẹn với tiểu tăng: nếu tiểu tăng lấy được
quyển đồ họa Lục Mạch Thần Kiếm đưa cho tiên sinh xem mấy ngày thì
tiên sinh sẽ cho tiểu tăng đến xem mấy quyển thiên thư tại Lang hoàn thuỷ
các trong quý tự.

A Châu thất kinh nghĩ bụng: "lão sư này biết cả đến cái tên Lang hoàn thuỷ
các, có lẽ lão nói thực cũng chưa biết chừng". Tức thời nàng giả vờ nghễnh
ngãng nghe "lang hoàn thuỷ các" ra "đường cao thuỷ giáo" liền hỏi lại:

- Ngươi muốn ăn bánh ngọt, canh gà ? Cái đó dễ lắm nhưng ngươi đã xuất
gia làm sao ăn được món mặn?

Cưu Ma Trí quay sang bảo A Bích:

- Lão thái thái đây không hiểu là lẫn lộn thực hay giả vờ. Tôi có nghe những
tay cao thủ các phái võ Trung Nguyên đương tụ họp tại Thiếu Lâm tự để
thương nghị đối phó với nhà Mộ Dung ở Cô Tô đây. Tiểu tăng nghĩ tình hữu
nghị với Mộ Dung tiên sinh, cũng muốn đem chút tài mọn để giúp một tay.
Song xem thái độ lão thái thái thế này là cự tuyệt cả đến người ở xa hàng
mấy ngàn dặm há chẳng khiến cho bạn hữu phải bào tâm ru?

A Châu vẫn một giọng ỡm ờ:

- Sao? Nhà sư lạnh bụng à? A Bích đâu mau đi lấy một tô cháo tiết gà tiết
vịt nóng để đại sư ăn cho ấm ruột gan lại.

A Bích nhịn cười đáp:

- Đại sư phụ có ăn mặn được đâu?

A Châu đưa tay lên gõ nhẹ vào trán nói:

- Phải đó, phải đó! Nhà sư không ăn mặn được, thế thì đừng dùng gà vịt thật
mà dùng gà vịt chay vậy!

A Bích hỏi:

- Thưa lão thái thái! Gà chay thì làm gì có tiết?

A Châu phều phào:

- ừ nhỉ! Thế ra mình lẩn thẩn thực biết làm thế nào bây giờ?

Hai nàng đối thoại, kẻ tung người hứng, toàn là chuyện bịa đặt. Người ở Tô
Châu ai cũng mồm miệng bẻo lẻo, nói năng hoạt bát. Đời sau nơi đây kỹ
thuật ca kịch nổi tiếng với thiên hạ cũng do tập quán này mà ra. Hai ả nha
hoàn này bình nhật vẫn trơ tráo cười đùa quen rồi, cái lối đùa dai của chúng
khiến cho Cưu Ma Trí bực mình mà không làm gì được. Cưu Ma Trí đi Cô
Tô chuyến này cốt gặp Mộ Dung công tử để thương lượng một công cuộc to
tát. Nào ngờ không gặp được người chủ mà lại gặp toàn những người ngoài
cuộc xen vào chẳng hiểu tâm địa họ ra sao? Cách đón tiếp hữu ý hay vô
tình, hư hư thực thực, khiến cho lão không biết đối phó thế nào cho phải.
Đại Luân Minh Vương Cưu Ma Trí cũng là một nhân vật ghê gớm, sau một
lúc suy nghĩ lão đã đoán chắc cả ba người: lão thái thái, Tôn Tam và Hoàng
lão bộc đều có ý thoái thác, không muốn cho y xem sách trong lang hoàn
thuỷ các. Lão quyết định: bất chấp đối phương bày mưu lập kế thoái thác
bằng cách nào đi chăng nữa lão cũng nói thẳng vào đề ngay rồi sau hoặc đối
xử bằng cách nhân nhượng hay là phải cương quyết dùng võ lực, cũng cần
hiểu rõ để liệu chiều đối phó.

Cưu Ma Trí ôn tồn nói:

- Quyển đồ họa Lục Mạch Thần Kiếm tiểu tăng đã mang theo đây nên mới
dám cả gan muốn vào xem sách trong lang hoàn thuỷ các của quý phủ.

A Bích đáp:

- Mộ Dung tiên sinh đã qua đời, hoà thượng nói sao chúng tôi hay vậy chứ
khẩu thuyết vô bằng biết đâu mà tin. Hơn nữa giả tỷ đại sư có mang đồ hình
tới đây chúng tôi cũng không ai xem được. Thế thì trước kia hai bên có lời
giao ước với nhau thế nào bây giờ cũng không còn hiệu lực nữa.

A Châu hỏi xen vào:

- Quyển đồ hoạ gì vậy? ở đâu đưa ta coi trước xem thật hay giả?

Cưu Ma Trí chỉ Đoàn Dự đáp:

- Đoàn công tử đây đã thuộc lòng quyển đồ hoạ đó nên tôi có đem chàng đi
theo cũng như mang quyển đồ hoạ đó vậy.

A Bích mỉm cười nói:

- Tôi cứ tưởng có quyển đồ hoạ đó thật, té ra đại sư nói đùa.

Cưu Ma Trí nói tiếp:

- Tôi đâu dám nói đùa? Nguyên quyển đồ hoạ chính đã bị Khô Vinh đại sư
chùa Thiên Long nước Đại Lý đốt mất rồi. Cũng may mà Đoàn công tử còn
nhớ được rành mạch cả, vậy công tử đây tức là quyển đồ hoạ sống đó.

A Bích nói:

- Đoàn công tử nhớ được thì việc đó thuộc về việc riêng Đoàn công tử mà
người được vào lang hoàn thuỷ các xem sách cũng sẽ phải là Đoàn công tử,
có can dự gì đến đại sư?

Cưu Ma Trí đáp:

- Tiểu tăng muốn được thực hiện lời ước ngày trước, đem Đoàn công tử đốt
trước mộ phần Mộ Dung tiên sinh.

Mọi người nghe nói đều thất kinh, nhìn nét mặt Cưu Ma Trí vẫn thản nhiên
chứ không có vẻ gì là lão nói đùa cả.

A Bích hỏi:

- Đại sư phụ nói đùa hẳn. Đường đường là một con người chứ có phải mớ
củi đâu mà muốn đốt lúc nào thì đốt?

Cưu Ma Trí đáp:

- Tiểu tăng mà định đốt y thì tin chắc rằng y không thể chống cự lại được.

A Bích nhếch mép cười nói tiếp:

- Thế mà đại sư phụ bảo Đoàn công tử thuộc lòng cả quyển đồ hoạ Lục
Mạch Thần Kiếm! Điều đó hoàn toàn bịa đặt. Tôi nghe nói "Lục Mạch
Thần Kiếm" lợi hại vô cùng, nếu Đoàn công tử biết kiếm pháp đó thì khi
nào lại chịu khuất phục dưới bàn tay đại sư?

Cưu Ma Trí gật đầu đáp:

- Điều đó cũng có lý nhưng cô nương mới biết có một mà chưa biết hai.
Đoàn công tử đã bị tiểu tăng điểm huyệt nên kình lực trong người không thể
vận dụng được, vì thế mà y phải chịu khuất phục.

A Châu vẫn lắc đầu lia lịa nói:

- Ta không thể tin ngươi được. Ngươi hãy giải các huyệt đạo cho công tử,
để chàng sử dụng Lục Mạch Thần Kiếm cho ta xem đã. Chứ ta thấy chín
mươi phần trăm là ngươi nói dối.

Cưu Ma Trí gật đầu đáp:

- Được rồi! Để tiểu tăng thử cho lão thái thái coi.

A Bích và A Châu rất có cảm tình với Đoàn Dự. Nghe Cưu Ma Trí nói đã
điểm huyệt chàng, hai nàng tìm cách bịp lão để lão chịu giải huyệt đạo cho
chàng. Không ngờ hai nàng vừa nói, Cưu Ma Trí đã đưa bàn tay vỗ hờ trên
các chỗ huyệt đạo ở lưng, trước ngực và vế đùi Đoàn Dự mấy cái. Lập tức
Đoàn Dự đã cảm thấy những mạch máu trong các huyệt đạo lưu thông được
ngay chứ không còn bế tắc nữa. Chàng chỉ hơi vận khí một chút đã thấy nội
lực chuyển động dễ dàng như không. Chàng lại thử chiêu theo phương pháp
vận khí trong "trung xung kiếm pháp" vận nội lực ra huyệt trung xung ở
ngón tay giữa bên phải, tức khắc cảm thấy ngón tay giữa nóng ran, chàng
biết chỉ duỗi ngón tay ra là một đường kiếm khí đã phóng theo liền.

Cưu Ma Trí nói:

- Đoàn công tử! Mộ Dung lão thái thái không tin rằng công tử đã luyện
được Lục Mạch Thần Kiếm, xin công tử như tôi đây để chém đứt một cành
trên cây quế kia xuống.

Lão nói xong vận động chân lực vào bàn tay, rồi giơ tay chém một đường
theo pháp hoả diệm đao. Bỗng nghe rắc một tiếng, một cành quế rất lớn ở
trên cây giữa sân đã không gió mà gãy và chỗ gãy tầy như dùng dao kiếm
sắc bén chém đứt vậy.

Thôi Bách Kế và Quá Ngạn Chi bất giác đều kêu lên một tiếng "úi chà". Hai
người tuy biết võ công Cưu Ma Trí rất ghê gớm từ lâu, khó lòng mà địch nổi
lão được, song chỉ cho là loại có tà thuật về bàng môn tả đạo mà thôi. Bây
giờ thấy lão dùng chưởng lực chặt đứt một cành cây to như thế mới biết nội
lực lão thâm hậu đến cực điểm trên đời ít người bì kịp.

Đoàn Dự lắc đầu đáp:

- Tôi không hiểu một chút võ công nào hết và cũng chẳng biết gì về Lục
Mạch Thần Kiếm hay Bát mạch thần đao nào cả. Một cành quế hoa đẹp đẽ
như thế của người ta, sao ngươi lại chặt đi?

Cưu Ma Trí nói:

- Công tử quá khiêm làm gì thế? võ nghệ công tử vào bậc nhất trong các vị
cao thủ họ Đoàn nước Đại Lý. Hiện nay ngoại trừ Mộ Dung công tử và tại
hạ ra thì ít ai địch nổi công tử. Trong phủ Cô Tô Mộ Dung đây là một kho
tàng về võ học, công tử hãy thi thố vài đường để lão thái thái chỉ điểm thêm
cho! Đó là một điều rất hay chứ sao?

Đoàn Dự giận dỗi đáp:

- Suốt dọc đường ngươi đối với ta vô lễ như thế nào, đem ta cắp ngang, xách
dọc, rút xuôi, kéo ngược, lôi ta đến Giang Nam này thế tức là ta đã bị khuất
nhục dưới võ công của ngươi mà đành bó tay không làm sao được. Chính ta
không muốn nói gì với ngươi nữa. Nhưng ta thấy nơi đây phong cảnh hữu
tình, lại có người đẹp như tiên, những sự oán hờn chứa chất trong lòng ta đã
tiêu tan hết. Thế là thôi, sự liên quan giữa chúng ta từ đây cắt đứt, không ai
nói đến ai nữa.

A Châu và A Bích thấy cái dáng điệu đồ gàn của Đoàn Dự cũng đã buồn
cười lại nghe thấy chàng nói tán dương mình bất giác trong lòng cũng cảm
thấy hứng thú.

Cưu Ma Trí lại nói:

- Công tử không chịu diễn thử Lục Mạch Thần Kiếm, tức là cố ý để tỏ ra lời
tôi nói bịa đặt chứ gì?

Đoàn Dự đáp:

- Chính ngươi vẫn quen mở mồm bịa chuyện, nếu thực có ước hẹn với Mộ
Dung tiên sinh thì sao ngươi không đến Đại Lý lấy kiếm kinh sớm đi mà lại
đợi Mộ Dung tiên sinh quy tiên rồi, không còn người đối chứng mới đến
phủ Mộ Dung nói thiên hô bách sát? theo chỗ ta nhận xét thì ngươi có ý
hâm mộ võ công cao siêu của nhà Mộ Dung đây rồi bịa chuyện ra, đánh lừa
lão thái thái cho ngươi vào tàng thư các, xem trộm hộ kinh kiếm pháp để
xưng hùng với thiên hạ. Cưu Ma Trí ngươi thử nghĩ coi! Người ta đã là nhân
vật lừng danh trong võ lâm chẳng lẽ lại không hiểu rõ cái mánh khoé bịp
bợm của ngươi hay sao? Nếu ngươi dùng những lời hoa mỹ xảo trá mà đánh
lừa lấy cắp được bí quyết võ công của nhà Mộ Dung thì những kẻ lừa bịp
thiên hạ này thiếu gì? Còn đâu đến lần ngươi nữa mà hòng?

Cưu Ma Trí lắc đầu cải chính:

- Đoàn công tử! Sự suy đoán của công tử sai rồi. Tiểu tăng và Mộ Dung tiên
sinh tuy đính ước với nhau đã lâu, song vì tiểu tăng còn phải đóng cửa luyện
môn "hoả diệm đao" trong chín năm chưa thành, không ra khỏi ngõ. Vì thế
mà chưa đến nước Đại Lý. Giả tỷ tiểu tăng chưa thấu đáo được môn "hoả
diệm đao" thì lần này không yên thân mà ra khỏi chùa Thiên Long được
nữa...

Đoàn Dự ngắt lời:

- Đại hòa thượng! Ngươi đã có tham danh lại đủ quyền vị võ công cao
cường đến thế, ung dung là một vị hộ pháp quốc vương nước Thổ Phồn. Cứ
ở yên trong cái địa vị đó há chẳng vinh dự rồi sao? Hà tất còn xuống Giang
Nam đánh lừa người ta? Ta khuyên ngươi nên quay về sớm đi là hơn!

Cưu Ma Trí nói:

- Nếu quả công tử không chịu diễn Lục Mạch Thần Kiếm thì đừng trách
tiểu tăng vô lễ.

Đoàn Dự đáp:

- Ngươi đã vô lễ nhiều rồi, chẳng lẽ lại còn cách nào vô lễ hơn thế nữa? Chỉ
còn cách chém ta một đao giết đi là cùng chứ gì?

Cưu Ma Trí lại hỏi vắn tắt:

- Bây giờ công tử có theo lời tiểu tăng hay không?

Đoàn Dự thủng thẳng đáp:

- Thế hử! Rất có thể...

Cư Ma Trí hớn hở nói:

- Thế thì xin diễn thử mấy đường thần kiếm!

Đoàn Dự hỏi lại:

- Thần kiếm à? Mi có kiếm không? cho mượn một thanh coi!

Cưu Ma Trí trong lòng có vẻ bực bội đáp:

- Công tử chủ ý định làm nhục bần tăng! hãy coi đao pháp đây!

Nói xong lão giơ tay trái lên, tức thời một luồng kinh phong từ trong tay
phát ra nhằm đánh thẳng vào mặt Đoàn Dự.

Đoàn Dự đã có chủ ý từ trước, tự biết võ công mình không kịp đối phương,
có giao đấu hay không giao đấu kết quả cũng nh ưnhau mà thôi. Lão đã
muốn bắt buộc chàng phải chứng minh là có biết sử dụng Lục Mạch Thần
Kiếm cho mọi người hay, đã thế chàng làm ngược hẳn lại ý định của Cưu
Ma Trí. Chàng thấy đao của lão chém tới, cứ để mặc, chẳng đánh lại mà
cũng chẳng thèm chống đỡ.

Cư Ma Trí kinh hoảng vì lão chưcó ý định dùng kình lực giết chàng ngay
bây giờ. Lão vội đưa bàn tay hất ngực lên, một luồng gió lạnh vèo qua, xén
đứt hẳn một mớ tóc trên đầu chàng. Thôi Bách Kế và Quá Ngạn Chi nhìn
nhau hoảng vía. A Châu và A Bích cũng đều tái mặt.

Cưu Ma Trí tiu nghỉu nói:

- Thế nào công tử đành chịu chết chứ không chịu ra tay sao?

Đoàn Dự đã sớm gạt sự sống chết ra ngoài tâm trí rồi nên chàng khanh
khách cười đáp:

- Đại hoà thượng đủ cả: tham, sân, ái, dục, si mà còn công nhiên nhận làm
một vị cao tăng cửa Phật thì ra chỉ có hư danh thôi.

Cưu Ma Trí đột nhiên đánh luôn vào A Bích một chưởng và nói:

- Dùng lời tử tế không xong thì trước hết ta phải giết một con bé trong phủ
Mộ Dung cho biết tay.

Bị đánh bất thình lình A Bích thất kinh vội nghiêng người né tránh khỏi
đường đao. Bỗng nghe thấy "sầm" một tiếng, chiếc ghế ở sau nàng đã bị
kình lực đụng phải gãy vụn ra. Cưu Ma Trí lại giơ tay phải đánh luôn đao
thứ hai. A Bích nằm phục xuống, lăn đi một vòng. Tuy nàng mau lẹ nhưng
cũng sợ hãi rụng rời. Cưu Ma Trí quát to lên một tiếng rồi phóng ra đường
đao thứ ba chém tới. A Bích sợ tái mặt. Tuy nàng chân tay lanh lẹ nhưng
đối với sức nội kình vô hình vô ảnh nàng không biết đánh đỡ cách nào cho
đúng. A Châu đối với A Bích như tình ruột thịt. Thấy bạn bị nguy nàng
không kịp suy nghĩ gì hết liền giơ gậy lên nhằm đánh thẳng vào sau lưng
Cưu Ma Trí. Lúc A Châu đứng nói chuyện hay là lúc từ từ cất bước đi trông
giống hệt như một bà già bảy tám mươi không sai một mảy may nào nhưng
lúc này vì sự nguy cấp đành liều mạng thì thân pháp nàng lại cực kỳ mau lẹ.
Cưu Ma Trí thoáng nhìn đã khám phá ra ngay, lão mỉm cười nói:

- ồ thiên hạ lại có bà già 17, 18 tuổi, nàng định lừa bịp hoà thượng này đến
bao giờ?

Nói xong lão đánh trả lại luôn một chưởng. Chiếc gậy trúc của A Châu bị
gãy làm ba đoạn. Đồng thời lão lại phóng luôn một đao nhằm chém bổ vào
A Bích.

Trong lúc hoảng hốt A Bích quờ tay vớ liều một cái bàn, nghiêng mặt bàn
ra đỡ. Bỗng nghe "chát chát" mấy tiếng, chiếc mặt bàn bằng gỗ tử đàn đã bị
gãy vụn, chỉ còn trơ lại hai chân trong tay A Bích.

Đoàn Dự thấy A Bích lưng tựa vào vách, không còn đất lùi mà Cưu Ma Trí
lại đánh tiếp luôn chưởng nữa. Lúc đó Đoàn Dự chỉ nghĩ đến việc cứu người
là khẩn cấp chứ không kịp suy tính ra mình không phải là địch thủ của Cưu
Ma Trí, chàng liền duỗi ngón tay giữa ra một cái, luồng kình lực từ huyệt
trung xung bắn vụt ra kèm những tiếng kêu "vo vo". Đó chính là trung xung
kiếm pháp.

Kỳ thực Cưu Ma Trí đâu có định giết A Bích, bất quá lão chỉ cần bức bách
Đoàn Dự phải ra tay. Không thế thì lão đã sử dụng những thế thần diệu
trong "hỏa diệm đao" là A Bích hết đường né tránh. Cưu Ma Trí thấy Đoàn
Dự quả nhiên trúng kế, lão lại trở tay đánh luôn A Châu một chưởng. Luồng
chưởng lực phát ra làm cho A Châu lảo đảo cả người, vai áo rách toạc, A
Châu kinh hoảng rú lên. Đoàn Dự lại tức khắc sử dụng "thiếu mạch kiếm" ở
bên tay trái để chặn đón hoả diệm đao ở tay trái Cưu Ma Trí. Hai đao của
Cưu Ma Trí đều bị Lục Mạch Thần Kiếm của Đoàn Dự chặn đón, chàng đã
bảo vệ cho hai nàng A Châu, A Bích thoát khỏi cơn nguy hiểm. Cưu Ma Trí
vừa muốn biểu dương bản lĩnh của mình vừa muốn cho mọi người thấy
Đoàn Dự biết sử dụng Lục Mạch Thần Kiếm nên cố ý phát huy kình lực cho
thật mạnh, những tiếng gió phát ra "vu vu" không ngớt. Đoàn Dự nhờ có
chu cáp thần công đã thu hút được bao nhiêu nội lực của mấy tay đại cao
thủ vào trong người nên lúc này nếu so về nội lực thì Đoàn Dự có phần
mạnh hơn Cưu Ma Trí. Song khốn nỗi chàng không hiểu một tý võ công nào
ngoài mấy thế kiếm mà chàng học được ở chùa Thiên Long. Chàng chỉ nhớ
một cách bất di bất dịch mấy đường trong Lục Mạch Thần Kiếm theo đúng
chiêu thức của nó chứ không biết biến hoá để ứng dụng. Cưu Ma Trí đem
chàng ra để đùa giỡn với chưởng lực. Nội lực hai bên xung đột, sức mạnh
phát ra làm cho tường vách và cửa sổ chung quanh nhà vỡ nát thành nhiều lỗ
thủng.

Cưu Ma Trí vừa đấu vừa khen:

- Lục Mạch Thần Kiếm quả nhiên lợi hại, trách nào năm xưa Mộ Dung tiên
sinh đã đem lòng hâm mộ.

Thôi Bách Kế cũng rất lấy làm kinh ngạc, lão lẩm bẩm: "trước mình vẫn
tưởng Đoàn Dự võ công tầm thường, nào ngờ lại có bản lãnh đến thế? họ
Đoàn nước Đại Lý đúng là danh bất hư truyền. Cũng may mà mình khi ở
phủ Trấn Nam Vương chưa làm việc gì xằng bậy nếu không thì chắc đã bị
họ Đoàn tống cổ đi rồi". Thôi Bách Kế nghĩ lại, mồ hôi toát ra lạnh toát cả
người.

Hai người giao đấu một hồi lâu, kỳ thực thì hiểm nào Cưu Ma Trí cũng có
thể đẩy Đoàn Dự vào tử địa được. Có điều lão cố ý kéo dài cuộc đấu để đùa
giỡn và phô trương tài năng. Sau lão hiểu rằng kiếm pháp Đoàn Dự quả có
chỗ độc đáo nhưng không hiểu sao chàng lại không biết phát huy ra chẳng
khác gì một đứa trẻ lên ba mà trong tay lại có gia tài hàng triệu nhưng
không biết tiêu xài. Rồi lão đâm ra khinh thị. Đánh vài hiệp nữa, thốt nhiên
Cưu Ma Trí lại nghĩ khác "nếu cứ giằng dai mãi, lỡ ra đối phơng chỉ tâm
linh lĩnh hội được yếu quyết võ công, thêm vào nội lực kiếm pháp hai môn
sở trường riêng của chàng chẳng hoá ra trở thành một kẻ kình địch vô cùng
lợi hại ?".

Đoàn Dự cũng biết là giờ phút này sự sống chết của chàng hoàn toàn đặt
trong tay Cưu Ma Trí, chàng gọi:

- A Châu! A Bích! Hai vị tỷ nương chạy đi mau lên! Không thì không kịp
đâu.

A Châu hỏi:

- Đoàn công tử! Tại sao công tử lại cứu chị em chúng tôi?

Đoàn Dự đáp:

- Vì tôi ghét tên hoà thượng này ỷ mình võ công cao cường, hoành hành bá
đạo, khinh khi người chung quanh. Đáng tiếc tôi không hiểu về võ công,
khó lòng địch lại lão. Các chị chạy mau đi thôi!

Cưu Ma Trí mỉm cười nói:

- Chạy cũng không thoát đâu!

Vừa nói dứt lời, Cưu Ma Trí đưa ngón tay trỏ bên trái nhằm điểm huyệt của
Đoàn Dự. Đoàn Dự kêu rú lên toan né tránh nhưng đã muộn. Ba yếu huyệt
của chàng đã bị Cưu Ma Trí điểm trúng, tức thời hai chân bị tê bại, té nhào
xuống đất. Chàng gọi ầm lên:

- A Châu, A Bích! Chạy mau đi! Chạy mau đi!

Cưu Ma Trí bật cười nói:

- Chết đến cổ họng, thân không giữ nổi lại còn thương hoa tiếc ngọc.

Đoạn lão ung dung lại chỗ ngồi nói với A Châu:

- Cô nương cũng bất tất phải dở trò quỷ quái làm gì nữa. Ai là người làm
chủ mọi việc trong phủ này? Đoàn công tử đã thuộc lòng cả quyển đồ hoạ
Lục Mạch Thần Kiếm. Có điều hắn không hiểu võ công nên khó mà sử
dụng được đó thôi. Ngày mai tôi sẽ đem hắn ra đốt trước mồ Mộ Dung tiên
sinh, nếu tiên sinh dưới suối vàng có linh thiêng, chắc cũng chứng dám lòng
thành cho ngưbạn già đã không phụ lời ước năm xa.

A Châu cũng hiểu rằng hiện tình trong toà "cẩm vận tinh xá" này không có
ai đối thủ nổi với Cưu Ma Trí. Nàng chau đôi mày liễu gượng cười nói:

- Được rồi! Lời lão hòa thượng nói chúng tôi có thể tin được. Phần mộ của
lão gia tôi cách đây chừng một ngày đường thuỷ. Hôm nay thì trời đã tối
rồi, sáng sớm mai chị em chúng tôi xin thân hành dẫn hòa thượng cùng
Đoàn công tử đi tảo mộ. Xin bốn vị hãy nghỉ ngơi một chút để đợi dùng
cơm chiều.

Nói dứt lời A Châu đứng dậy kéo tay A Bích cùng đi vào trong nhà. Đoàn
Dự nhìn theo bóng hai nàng nhăn nhó cười.

Sau độ nửa giờ thì thấy một tên hầu trai ra nói:

- Hai cô nương có lời mời bốn vị qua nhà "thính vũ" dùng cơm chiều.

Cưu Ma Trí cám ơn rồi dắt tay Đoàn Dự đi theo tên hầu trai. Quanh co theo
một con đừng nhỏ rải toàn đá sỏi lớn bằng quả trứng ngan một vòng, qua
mấy chỗ núi đá, cây hoa ra bờ hồ. Dưới một gốc liễu có buộc chiếc thuyền
nhỏ. Tên hầu chỉ một căn nhà nho nhỏ ở giữa hồ, bốn mặt đều có cửa sổ
nói:

- Nhà "thính vũ" kia rồi.

Tên hầu mời bốn người xuống thuyền rồi từ từ chèo ra. Khi tới gần thấy toà
nhà này làm toàn bằng cây thông, để cả vỏ trông thực trang nhã và đượm vẻ
thiên nhiên. Đoàn Dự vừa bước lên bờ đã thấy A Bích đứng đó đón khách.
Nàng mặc áo dài màu xanh lạt, má thoa một lần phấn mỏng. Đứng tựa bên
nàng là một vị nữ lang mặc áo hồng tuổi chừng 15, 16 nhìn Đoàn Dự tựa
như cời mà không phải cười, nét mặt đầy vẻ khôn ngoan lanh lợi. A Bích
thì khuôn mặt trái xoan trông rất thanh nhã và tươi đẹp, còn nữ lang kia
khuôn mặt tròn hai mắt linh động, mỗi người có một vẻ kiều diễm riêng để
làm rung cảm lòng người.

Đoàn Dự tới gần ngửi thấy một mùi hương phảng phất êm dịu và quen quen,
chàng mỉm cười hỏi:

- A Châu tỷ nương! cô là một vị nữ lang xinh đẹp như vậy mà giả trang làm
đàn bà lại giống đến thế? thật là tài tình.

Nữ lang này chính là A Châu. Nàng liếc mắt mỉm cười hỏi Đoàn Dự:

- Công tử bấy giờ phải cúi đầu lạy tôi ba lạy chắc bực mình lắm phải
không?

Đoàn Dự lắc đầu ngoay ngoảy đáp:

- Ba lạy đó rất có ý nghĩa. Có điều tôi đoán không được trúng lắm thôi.

A Châu hỏi:

- Công tử đoán thế nào mà không trúng?

Đoàn Dự đáp:

- Trước tôi đã đoán cô nương và cô A Bích cũng như nhau, đều là mỹ nhân
hiếm có ở đời. Tôi đinh ninh là hai cô chẳng khác nhau mấy, nào ngờ tới
khi gặp mặt thì cô này... cô này...

A Châu cướp lời:

- Phải chăng tôi còn kém A Bích xa?

Đồng thời A Bích cũng chen vào:

- Công tử thấy chị ấy đẹp gấp mười tôi, nhìn thấy phải giật mình chứ gì?

Đoàn Dự lắc đầu đáp:

- Trật hết, tôi cảm thấy cái tài tình của ông tạo hoá thực là khiến cho người
ta phục sát đất. Ông đã dốc tâm trí ra tạo nên một trang tuyệt sắc giai nhân
là A Bích cô nương, tưởng rằng bao nhiêu linh tú ở Giang Nam đã dùng hết
nhẵn rồi nào ngờ ông lại còn tạo thêm được một vị A Châu tỷ nương nữa.
Hai dung mạo khác nhau nhưg mỗi người đều có một vẻ đẹp ưa nhìn riêng,
tôi nghĩ mãi mà chưa tìm được câu nào để tỏ được cái vẻ diễm lệ của hai cô.

A Châu cười nói:

- Chà công tử thật là mồm mép trơn như mỡ, đã tán dương một tràng dài lại
còn bảo là không tìm được một câu nào để mô tả.

A Bích chậm rãi mời:

- Bốn vị giá lâm nơi hoang dã này không có gì đặc biệt để thết các vị, hãy
xin các vị dùng ly rượu nhạt và dùng mấy thứ món ăn ở địa phương Giang
Nam.

Đoàn nàng mời bốn người vào tiệc. Nàng và A Châu ngồi bồi tiếp ở ghế
đầu. Đoàn Dự thấy bát chén toàn bằng đồ sứ rất mỹ thuật và tinh xảo trong
bụng đã khen thầm. Ngoài các món xào nấu: tôm, cá, thịt còn bao nhiêu
hoa quả, bánh trái, trông đã đẹp mắt lại có mùi hương ngào ngạt.

Đoàn Dự tán dương:

- Có non sông gấm vóc mới nảy ra những bậc tuyệt thế giai nhân, có những
nhân vật tuyệt thế, tất có thông minh tài tử đặc biệt để chế tạo những món
ăn mỹ vị thanh cao.

A Châu hỏi:

- Công tử thử đoán xem các món ăn đây tôi làm hay A Bích làm?

Đoàn Dự đáp:

- Các món ăn mầu sắc rực rỡ mùi hương nồng nàn là của cô nương làm, còn
những món mầu sắc đạm nhạt, mùi vị thanh tân là cô A Bích làm.

A Châu vỗ tay cười đùa nói:

- Không ngờ thầy đồ gàn đoán đúng thế. A Bích cô bảo thưởng cho thầy cái
gì đây.

A Bích tủm tỉm cười đáp:

- Đoàn công tử sai bảo điều gì chúng ta sẽ hết sức tuân theo. Làm gì mà
thưởng mới chả thưởng, chúng ta chỉ là người phục dịch cho công tử.

A Châu hừ một tiếng và nói:

- Hễ cô mở miệng là nói bênh người ta rồi. Trách nào ai ai cũng bảo cô tốt,
còn tôi chẳng ra gì.

Đoàn Dự mỉm cời:

- Một cô thuỳ mị ôn hoà, một cô hoạt bát lanh lợi mỗi cô một vẻ riêng. A
Bích cô nương! lúc ngồi thuyền tôi có được nghe cô nương gẩy một khúc
đàn bằng cây nhuyễn tiên, dư âm hãy còn văng vẳng bên tai. Vậy dám cả
gan xin cô nương cho nghe một khúc bằng nhạc khí thực. Được thế thì dù
ngày mai có bị Cưu Ma Trí đốt thành tro cũng không uổng một đời.

A Bích nhẹ nhàng đứng dậy nói:

- Công tử không hiềm nhơ tai tôi xin hiến cái nghề mọn vụng về để vui lòng
quý khách.

Nói xong liền chạy vào phía sau bình phong lấy một cây dao cầm. Cây đàn
này ngắn hơn cây thất huyền cầm một thước mà có những chín dây, các dây
mầu sắc khác nhau. A Bích ngồi ngay ngắn trên chiếc cẩm đàn, để cây cửu
huyền cầm trước mặt và quay sang nói với Cưu Ma Trí:

- Xin đại s phụ chỉ giáo thêm cho!

Cưu Ma Trí đáp:

- Không dám.

Cưu Ma Trí băn khoăn, không hiểu sao nàng lại yêu cầu mình chỉ giáo?
Chẳng hay nàng có dụng ý gì?

A Bích hai tay trắng muốt như ngọc, hai ngón tay búp măng bên trái lần nhẹ
trên dây đàn, tay phải vừa bật vừa gảy, tiếng đàn tình tang nổi lên.

Đoàn Dự tuy không hiểu gì về võ công nhưng về các môn cầm kỳ thi hoạ
chàng rất thông thạo, vừa nghe qua mấy tiếng chàng đã hiểu ngay là chín
sợi dây đàn này chế tạo bằng chín thứ chất liệu khác nhau như thép đồng và
tơ chẳng hạn, cương thì rất cương mà nhu cũng rất nhu.

A Bích vừa dạo mấy cung, tiếng đàn trầm xuống dần dần, mỗi lúc một nhu
hòa. Bốn người ngồi nghe đều cảm thấy mí mắt nặng chĩu xuống, mơ màng
như người buồn ngủ.

Thôi Bách Kế thông hiểu nhiều về các loại quỷ mỵ trên chốn giang hồ nên
ngay từ lúc mới bắt đầu vào Mộ Dung trang đã nhất nhất đề phòng. Y vừa
nhắm mắt muốn ngủ nhưưng thốt nhiên kinh hoàng nghĩ thầm: "không xong
rồi! Con ranh này chắc nó ám toán gì chúng ta đây!". Rồi y gọi lớn:

- Quá hiền điệt! Những thủ đoạn gian hiểm trên chốn giang hồ thực đủ điều
kỳ dị! Hiền điệt phải lưu ý cẩn thận đó.

Quá Ngạn Chi gật đầu và trả lời một cách hàm hồ:

- Đúng thế! chúng ta phải sáng suốt mà nhận định.

Nói chưa dứt lời thì lại tiếp luôn một cái ngáp dài. Cái ngáp này tựa hồ có
sức truyền nhiễm, rồi cả Thôi Bách Kế, Đoàn Dự cũng ngáp theo. Tiếng
đàn lại càng dịu dàng réo rắt, bốn bề im lặng như tờ, mọi người đều cảm
thấy mệt mỏi, chỉ muốn nằm vật ra ngủ liền. Đột nhiên nghe "tưng" một
tiếng nhè nhẹ. Đoàn Dự đột nhiên cảm thấy trong miệng nóng ran rồi huyệt
"thiên trì" ở khuỷu tay thông chuyển được ngay. Đoàn Dự vừa mừng vừa sợ
nhưng chàng vẫn cho là lúc Cưu Ma Trí điểm huyệt chàng lão chưa dùng
toàn lực nên hiệu lực không được lâu, tới lúc này là nó tự giải đấy thôi. Nào
ngờ A Bích gẩy một lúc nữa lại bật lên một tiếng "tưng" thì huyệt "phách
hộ" sau lưng chàng cũng thông chuyển được. Đoàn Dự ngầm vận nội lực thử
xem thế nào thì thấy nội khí nửa người phía trên đã lưu thông được như
thường, không còn trở ngại gì nữa. Bấy giờ chàng mới biết là tiếng đàn của
A Bích cũng cảm ứng với nội khí người ta, nó công nhiên có năng lực giải
được huyệt đạo. Một lúc nữa hai huyệt đạo ở hai đùi cũng theo tiếng đàn mà
giải được hết. Đoàn Dự đưa mắt nhìn A Bích và trong lòng vô cùng cảm
kích. Thấy A Bích đang ngưng thần chuyển khí, hai tay lựa nắn giây đàn.
Một bên thì Thôi Bách Kế cùng Quá Ngạn Chi đang say ngủ ngáy pho pho,
một bên thì Cưu Ma Trí đang chắp tay ngồi, dường như lão đang vận kình
lực để chống lại với tiếng đàn của A Bích. Đoàn Dự nhìn chừng uống xong
chén trà thì thấy trên trán nàng rơm rớm mồ hôi, chỗ mái tóc có làn khói
nhè nhẹ bốc lên. Cưu Ma Trí hình lộ vẻ mỉm cười, đôi mắt vẫn sáng rực.
Đoàn Dự có vẻ băn khoăn lo rằng tiếng đàn của A Bích nếu không lung lạc
được Cưu Ma Trí thì e rằng trái lại nàng sẽ bị lão đả thương mất. Thế thì
mình đối phó thế nào để cứu được nàng? giữa lúc đó bỗng lại nghe A Châu
cất tiếng hát:

Gió heo sông Dịch lạnh lùng

Ra đi tráng sĩ còn mong đâu về?

Tiếng đàn rất là mềm mại mà ý nghĩa trong lời ca thì lại thẳng thắn hiên
ngang, hai đằng không ăn nhịp với nhau. Đoàn Dự lắng nghe cảm thấy có
điều quái dị.

Hết Hồi 28 ....

Trung Quốc
06-07-2002, 10:15 AM
Hồi 29 Mạn Đà sơn trang

A Châu hát đi hát lại ba lần câu:

Gió heo sông Dịch lạnh lùng

Ra đi tráng sĩ còn mong đâu về?

Đoàn Dự nhìn đoá hoa nhỏ cài bên món tóc mai nàng lúc nào cũng động
rung rinh, đôi môi tươi thắm biến thành lợt lạt, chàng sực nhớ ra lẩm bẩm
một mình: "Phải rồi! A Châu sở dĩ hát đi hát lại hai câu thơ này là nhủ ta
làm cái việc Kinh Kha hành thích Tần Thuỷ Hoàng. Nội lực A Bích không
thể địch nổi lão hòa thượng này, nếu cứ miễn cưỡng chống chọi hoài thì e
rằng nàng tất bị nội thương nguy kịch". Nghĩ vậy chàng ngấm ngầm ôn lại
các thế Lục Mạch Thần Kiếm. Chàng thử vận động khí lực ra thì đã thấy
thông đồng lu loát, không bị vấp váp ngăn trở chỗ nào. Chàng đọc sách
thánh hiền từ thuở nhỏ, lại thêm thấm nhuần kinh Phật, chí khí không khỏi
có đôi phần ngạo nghễ. Chàng nghĩ rằng: "các bậc đại trượng phu làm việc
phải cho quang minh lỗi lạc, thừa cơ người ta không phòng bị để đánh lén là
hành động đê hèn. Trong lòng đang còn phân vân chưa quyết, bỗng nghe
đánh "binh" một cái, một sợi dây đàn của A Bích đứt, nàng rùng mình một
cái. A Châu cũng im bặt tiếng hát, đôi đũa cầm trong tay toan ném vào Cưu
Ma Trí, thì lại "bục" một tiếng, một sợi dây đàn nữa đứt.

Thôi Bách Kế cùng Quá Ngạn Chi rú lên những tiếng kinh hồn. Đoàn Dự
thấy tình thế cực kỳ cấp bách, miệng lẩm bẩm: "vì việc cứu người ta đành
phải tòng quyền hành động đê hèn một chút vậy". Chàng vươn tay phải lên,
hai luồng kình lực ở ngón tay trỏ phóng ra nhằm Cưu Ma Trí đâm tới nhanh
như chớp. Đó là hai thế kiếm khí "thương dương" và "trung xung".

Giả tỷ Cưu Ma Trí đang công nhiên đấu kiếm cùng Đoàn Dự thì dù những
thế kiếm cấp bách hơn nữa lão cũng chống dễ như chơi. Nhưng lão yên trí
rằng huyệt đạo chàng mới bị phong toả, chưa làm gì được nên lão đem hết
nội lực ra đấu với tiếng đàn của A Bích. Giữa lúc lão chiếm được ưu thế,
những tưởng dùng tiếng đàn phản kích làm cho tâm thần A Bích phải mê
loạn, rồi quay sang hạ chốt A Châu là xong. Lão tuyệt nhiên không ngờ tới
chuyện Đoàn Dự phóng kiếm khí ra đâm mình. Lão kêu rú lên một tiếng,
người bắn tung đi. Đồng thời dây đàn A Bích đứt luôn năm sợi. Những tia
máu đỏ phun ra như tới, đó là lưỡi thần kiếm do Đoàn Dự phóng ra đã đâm
trúng vai bên phải Cưu Ma Trí.

A Bích tay trái kéo A Châu, tay phải níu Đoàn Dự nhảy vọt ra. Ba người
nhảy qua cửa sổ ra ngoài, rơi đúng vào con thuyền nhỏ. A Châu đưa tay ra
dúi đầu Đoàn Dự thấp xuống, rồi cầm luôn lấy mái chèo bơi thuyền đi.
Đoàn Dự bỗng nghe thấy thùm một tiếng rất lớn, chiếc thuyền tung lên rồi
lại hạ xuống, chẳng khác gì đang đi ngoài biển cả sóng to. Nước hồ bắn lên
tung toé, khắp mình mẩy ướt đẫm. Chàng quay đầu nhìn lại thấy Cưu Ma
Trí đứng trên bờ, đang lấy bàn đá, ghế đá ném xuống không ngớt. Cũng
may A Châu đã chèo thuyền ra xa một chút và Cưu Ma Trí đã bị trúng kiếm
khí bị trọng thương, kình lực kém đi nên liệng không tới thuyền.

A Châu thấy hoà thượng sức khoẻ như thần, nàng sợ hãi vô cùng khấn thầm:
"cầu trời cho lão đừng đuổi kịp". Nàng bơi thuyền xa thêm vài chục trượng
nữa, nhìn lại thấy Cưu Ma Trí không đuổi kịp nữa rồi. A Bích thở phì phì
nói:

- Đoàn công tử ơi! Nhờ công tử mà nay tôi được thoát nạn nếu không thì đã
chết về tay lão hoà thượng này rồi.

Đoàn Dự nói:

- Đáng lý tôi phải tạ ơn cô mới đúng. Lão hoà thượng này nói sao là làm
được vậy, lẽ ra tôi bị lão đem đi đốt sống rồi.

A Châu vội gạt đi:

- Hãy khoan nói đến chuyện cô tạ ơn cậu, cậu tạ ơn cô đã! Việc trốn sao
cho thoát khỏi tay lão trọc còn gấp hơn nhiều.

Giữa lúc ấy Đoàn Dự nghe có tiếng mái chèo bơi nước đang đuổi theo,
chàng giật mình la lên:

- Trời ơi! Lão sư đang đuổi theo chúng ta rồi.

A Bích đã mệt nhoài, không thể lấy ngay lại sức lực trong chốc lát được.
Nàng tựa vào mạn thuyền nói:

- A Châu tỷ nương! bọn ta đến tạm lánh tại trang Lục đại gia.

A Châu có vẻ bực tức đáp cộc lốc:

- Đành là thế vậy.

Rồi nàng lại tiếp:

- Thật là bực mình. Lục đại gia thường cười chị em mình võ công chẳng ra
gì. Bây giờ gặp kẻ đại địch túng thế phải vào ẩn trong nhà y, chắc rồi y cười
mình suốt đời.

Từ khi Đoàn Dự tăng nhiều nội lực trong người, chàng rất thính tai. Nghe rõ
tiếng mái chèo bơi mỗi lúc một lại gần thêm liền cầm lấy một mái chèo để
phụ A Châu bơi thuyền cho lẹ hơn. Thuyền thêm một mái chèo nên lại cách
xa chiếc thuyền đuổi theo hơn được ít nữa.

Đoàn Dự nói:

- Bản lãnh lão sư này ghê gớm lắm. Hai vị tỷ nương còn nhỏ tuổi thế này
thua lão cũng chẳng có gì là nhục.

Bỗng nghe có tiếng gọi từ đằng xa vọng lại:

- A Châu, A Bích hai cô bơi thuyền trở lại mau! bần tăng đã là bạn với công
tử Mộ Dung có lý đâu lại làm khó dễ các cô?

Đúng là tiếng Cưu Ma Trí. Mấy câu nói cực kỳ êm dịu thân mật, khiến
người nghe bất giác không tự chủ được nữa, khó mà chống cự lại, quả nhiên
muốn theo ý lão.

A Châu giật mình nói:

- Lão gọi chúng ta trở lại, tất không gia hại đâu.

Đoạn nàng dừng chèo không bơi nữa, trong lòng dường như có vẻ xao
xuyến.

A Bích cũng nói:

- Vậy chúng ta quay lại quách.

Đoàn Dự vì nội lực rất mạnh nên giọng nói Cưu Ma Trí không mê hoặc nổi
vội nói:

- Lão bịp đấy! Tin thế nào được?

Lại thấy Cưu Ma Trí tiếp tục gọi bằng một giọng rất hòa hoãn rất êm tai:

- Hai vị cô nương ơi! Công tử nhà các cô đã về tới, cần gặp các cô ngay, các
cô mau mau bơi thuyền trở lại.

A Châu nói:

- Vâng!

Rồi bơi thuyền quay đầu lại. Đoàn Dự nghĩ thầm: "nếu quả công tử Mộ
Dung trở về thì chính y lên tiếng gọi A Châu, A Bích hà tất phải mượn lão
sư gọi hộ? Đúng là lão giở phép thu hồn phách cực kỳ lợi hại ra đây. Chàng
liền nghĩ được một kế, vội xé mảnh áo đút nút lỗ tai A Châu, A Bích lại.

A Châu định thần được ngay thất thanh la lên:

- Trời ơi! Chết cha!

A Bích cũng tỉnh táo lại nói:

- Lão sư này biết cả phép thu hồn phách người ta. Ta bị lão lung lạc mất rồi.

A Châu ra sức chèo thuyền nói:

- Đoàn công tử! Chèo cho mau! chèo cho mau!

Hai người chèo thuyền thẳng vào chỗ dầy đặc hồng lăng. Hồi lâu bên tai
không còn vẳng nghe thấy tiếng Cưu Ma Trí gọi nữa. Bấy giờ Đoàn Dự mới
ra hiệu cho hai người móc nút để trong tai ra.

A Châu vỗ ngực thở một hơi dài rồi hỏi:

- Bây giờ tính sao đây?

A Bích đáp:

- A Châu tỷ nương! chúng ta đi đến Khiếu Thiên thôn. Giả tỷ lão hoà
thượng có theo tới đó, Lục đại gia quyết không chịu thua sẽ cùng lão chơi
nhau đến cùng.

A Châu nói:

- Không được đâu! Lục đại gia tuy võ nghệ cao cường nhưng không có
khiếu thông linh quỷ quái bằng Cưu Ma Trí. Thế thì thà rằng cứ lênh đênh
trên mặt hồ này, đói bóc hồng lăng hoặc móc ngó sen lên mà ăn, dù có ở
đây mười ngày hoặc nửa tháng cũng chẳng hề gì.

A Bích mỉm cười nói:

- Tỷ nương tính thế nào cũng đưược, song chưa biết ý Đoàn công tử ra sao?

Đoàn Dự vỗ tay cười nói:

- Hồ này phong cảnh đẹp, lại có hai vị tỷ nương làm bạn ở đây ngao du
mươi ngày, thật sướng hơn tiên.

A Bích cũng trề môi ra cười nói:

- ở đây đi về phía đông nam có đến hàng ngàn hải cảng, hàng trăm vũng
vịnh, chi lu, sông nhỏ cũng nhiều. Trừ bọn chài lưới địa phơng ra, không
ai tìm được đường lối. Bọn ta đi vào chỗ trăm khúc quanh co trong hồ này,
quyết nhiên nhà sư kia không thể đuổi tới nơi được.

Đoàn Dự đang lúc cao hứng, ra sức bơi thuyền. Mỗi khi đến chỗ rẽ thì hai
nàng lại bàn tính một hồi rồi mới ấn định nẻo đi. Chèo thuyền đi một hồi
lâu, Đoàn Dự thoang thoảng ngửi thấy một mùi hoa thơm đặc biệt khác lạ.
Lúc mới ngửi thì thấy đầu óc choáng váng nhng lát sau thì trong người lại
khoan khoái dễ chịu. Thuyền càng tiến lên thì mùi hoa thơm lại càng sực
nức.

Đoàn Dự hỏi:

- Hai vị tỷ nương có biết mùi hoa gì đó chăng?

A Bích khẽ đáp:

- Công tử đừng hỏi nữa! bọn ta phải mau mau rời khỏi nơi này!

Đoàn Dự thấy giọng nói của nàng đầy vẻ sợ hãi, rất lấy làm kỳ. A Châu
cũng nói nhỏ bảo A Bích:

- Chúng ta lầm đường mất rồi. Mi bảo rẽ qua bên trái là đúng. Ta lại bảo rẽ
qua mé phải mới chết chứ. A Bích mi đã biết rõ, sao còn đi nghe ta?

A Bích đáp:

- Bấy giờ em cũng không dám chắc lắm. Cứ tởng tỷ nương biết đích hơn,
nên mới nghe theo.

Lúc này A Bích tinh thần đã hồi phục, đón lấy mái chèo ở trong tay A
Châu, quay thuyền và gắng sức bơi theo lối cũ trở ra.

Đoàn Dự nghe hai người đối đáp, đoán là trong mùi hoa thơm này tất có
điều gì nguy hiểm, chàng toan hỏi lại thì A Châu trông chàng vẫy tay ra
hiệu bảo đừng hỏi nữa. Trời đã tối mịt, Đoàn Dự trông không rõ nét mặt hai
người nhng cũng biết tình thế rất nghiêm trọng chẳng kém gì lúc Cưu Ma
Trí đuổi theo.

A Châu ghé miệng vào tận tai Đoàn Dự nói thầm:

- Bây giờ tôi lớn tiếng nói chuyện với A Bích, công tử chớ có nói xen vào,
phải nằm yên!

Đoàn Dự gật đầu, đưa mái chèo cho nàng rồi nằm xuống lòng thuyền. Đêm
hôm ấy trời đầy sao lấp lánh, Đoàn Dự cảm thấy có điều chi kỳ dị mà
không nói ra được, bỗng nghe A Châu lên tiếng:

- A Bích muội nương! Chỗ này rất khó nhận đường đi, em phải cẩn thận kẻo
lạc lối nghe.

A Bích đáp:

- Vâng! lão sư ấy đuổi bọn mình để hãm hại, mình phải chạy trốn. Giả tỷ
mà mình lạc đường, người ta còn bảo mình chịu mệnh công tử cố ý đến đây
rắc rối mới khổ chứ.

Hai người nói chuyện sang sảng, tựa hồ để cho người ngoài nghe rõ. Nhưng
Đoàn Dự nghển lên mạn thuyền trông ra thì bốn mặt chỉ thấy toàn lá hồng
lăng bát ngát. Ngoài tiếng thuyền chạm vào lá hồng lăng, tuyệt không thấy
động tĩnh gì nữa. Mùi hoa thơm mỗi lúc một ngào ngạt thêm. So với mai côi
thì mùi thơm không nồng nàn bằng nhưng so với hoa quế thì nó lại kém bề
êm dịu. Thật là một mùi hương khó tả.

Thốt nhiên A Bích cất giọng hát. Nàng hát bài Nguyễn lang quy. Nàng mới
hát được vài câu nghe giọng đã run run, phải ngừng một chút cho định thần
rồi mới hát tiếp. Tiếng hát mỗi lúc một lên cao vòi vọi nhưng không giấu
nổi nỗi phập phồng lo sợ.

Đoàn Dự ghé lại gần A Châu khẽ hỏi:

- Phải chăng lão sư đó đuổi gần tới nơi?

A Châu vội đư bàn tay bịt miệng chàng, ra hiệu cho đừng lên tiếng. Nàng
nghiêng đầu lắng tai nghe, bốn bề vẫn im lặng như tờ. Bấy giờ mới ghé
miệng sát vào tai Đoàn Dự nói thầm:

- Chúng ta lầm đường mất rồi. Gặp người này còn ghê gớm hơn cả lão sư
ban nãy.

Đoàn Dự nghĩ thầm: "Người ta có câu: tránh nơi sóng cả, ngã nơi Tuần
Vường là đúng lắm". Rồi chàng lại nghĩ: "có lẽ hai nàng chưa biết kỹ bản
lãnh lợi hại của Cưu Ma Trí đó thôi. Trên đời làm gì còn có người ghê gớm
hơn lão? Huống chi đây lại ở cạnh nách sào huyệt nhà Mộ Dung. Khi nào y
còn để cho ai ăn ngon ngủ yên được?".

A Bích ca xong khúc hát, không nói gì nữa, lặng lẽ nhìn lên trời, tìm sao
bắc đẩu, nhận định phương hướng rồi cùng A Châu ra sức chèo thuyền..
Đoàn Dự ngoảnh nhìn bốn phía, chỉ thấy mênh mông những nước cùng trời.
Tuyệt không có một con thuyền, một cái nhà, không thấy đâu là bờ bến hay
một bóng người nào cả, đến một con chim cũng không có. Vậy mà không
biết làm sao hai nàng lại sợ hãi đến thế?

Con thuyền nhỏ đi bồng bềnh trên mặt nước được quãng dài nữa thì đến chỗ
hai dòng sông giao nhau. A Châu và A Bích lại thương lượng một hồi và tìm
nhận lối đi khi gặp chỗ rẽ. Chàng cũng chẳng hiểu hai nàng lấy gì làm tiêu
chuẩn, chỉ biết hai nàng đã bơi thuyền nửa ngày, nửa đêm, có vẻ mệt nhoài,
thở lên hồng hộc. Đoàn Dự xem chừng A Châu đã kiệt lực rồi, liền đón lấy
mái chèo bơi thuyền đỡ nàng một lúc. Hồi lâu bỗng A Bích kêu lên:

- A Châu tỷ nương ơi! chúng ta... sao chúng ta... lại quay về chỗ cũ rồi?

Đoàn Dự quả nhiên lại ngửi thấy mùi hoa thơm lúc nãy. Thì ra đêm khuya
trời tối hai nàng không nhận ra lối đi, chèo quanh quẩn tựa hồ đi theo một
lối vòng tròn khổng lồ, bây giờ lại quay về chỗ ban đầu. Trời đã gần sáng,
nét mặt A Bích trở nên bơ phờ, ủ rũ. Đột nhiên nàng buông mái chèo
xuống, đưa tay lên bưng mặt khóc hu hu.

A Châu ôm nàng vào lòng an ủi:

- Không phải là chúng ta cố ý đến đây, chờ gặp Vương phu nhân rồi sẽ bày
tỏ chân tình, em đừng sợ gì cả.

Tuy nàng tự cường để vỗ về A Bích mà tiếng nói nàng cũng run run, tpr ra
nàng đang trải qua một trận bão lòng kinh hãi.

Giữa lúc ấy, trên không về phía tây nổi lên vài tiếng chim kêu quang quác.
Một con chim rất lớn bay tới, toàn thân lông trắng như tuyết, cao lênh
khênh như con hạc nhưng không phải hạc. Dường như là một giống thủy
điểu. Con bạch điểu này nhằm chỗ thuyền dừng quyện một vòng trên không
rồi từ từ bay về góc tây bắc.

A Châu nhặt mái chèo lên thở dài nói:

- Không đi không xong rồi! Chúng ta đành tới đó rồi muốn ra sao thì ra.

Nàng bơi thuyền hướng theo con bạch điểu mà đi.

Đoàn Dự hỏi:

- Có phải con chim đó là sứ giả dẫn đường đó chăng?

A Bích đáp:

- Đoàn công tử! Công tử là người xa đến, chưa biết quy củ nơi đây. Lúc vào
đến Mạn đà sơn, phu nhân bảo làm sao công tử phải nghe vậy, chớ có
kháng cự mà khốn.

Đoàn Dự hỏi:

- Tại sao vậy? Chẳng lẽ chủ nhân trại này lại dã man đến mức không phân
biệt phải trái nữa hay sao? Bọn mình lạc đường vào đây thì xin cho ra, chứ
làm gì nên tội?

A Bích quầng mắt đỏ hoe đáp:

- Đoàn công tử không biết. Còn có nhiều chuyện rắc rối bên trong, không
thể một lúc mà nói hết ra được. Người ta sở dĩ không cho ai giở lý sự cũng
là có cớ. Rút cục chỉ tại lão sư đó mà ra. Nếu lão không đuổi gấp quá thì
làm gì đến nỗi mình hoang mang mà đi lầm vào đây?

A Châu vốn tính hoạt bát cười nói:

- Người lành tự nhiên có thiên tướng bảo hộ. Giả tỷ chỉ có hai chị em mình
tới đây tất là hỏng bét nhưng có Đoàn công tử đây là người lành may ra
chúng ta thoát nạn cũng chưa biết chừng.

A Bích buồn rầu đáp:

- Em thì lại lo thay cho Đoàn công tử. Vương phu nhân thấy có đàn ông đến
Mạn đà sơn trang, chắc người sẽ sai chặt chân khoét mắt. Phu nhân nói sao
làm vậy. A Châu tỷ nơưng ơi! mình đưa công tử đến đây để chàng phải vạ
lây.

Nói đến đó, nàng úp hai bàn tay lên mặt, nước mắt tràn qua kẽ ngón tay, rớt
xuống từng giọt.

A Châu nói:

- Biết đâu phu nhân chẳng tự nhiên đại phát từ bi hoặc Đoàn công tử khéo
biện bạch, lay chuyển được tấm lòng sắt đá của người mà tha cả ba chúng ta
cũng nên.

Đoàn Dự hỏi:

- Vương phu nhân là người thế nào?

A Bích đưa mắt nhìn A Châu toan nói lại thôi. A Châu vỗ tay vài cái rồi
nhớn nhác ngó quanh, không thấy ai bấy giờ mới nói:

- Vương phu nhân đây, về võ công không biết đến đâu mà lường được.
Khắp các nhân vật trong võ lâm đều chịu người là đệ nhất. Ngay đến công
tử chúng tôi, bản tính không chịu phục ai mà chỉ bội phục có mình phu
nhân thôi.

Nàng vừa nói vừa lắc đầu lè lỡi, lộ ra nhiều vẻ kinh dị. Đoàn Dự rất lấy
làm kỳ tự hỏi: "bọn mình nói chuyện trong thuyền, bốn bề chẳng có một ai.
Chẳng lẽ bà Vương phu nhân nào đó có phép thần thông nghe được cả ?".
Bỗng thấy con bạch điểu lúc nãy lại trở về, liệng quanh cái thuyền một
vòng. Chim bay nhanh, thuyền bơi châm, nó bay đi bay lại như vậy để chờ.
Thuyền cứ trông hút bóng chim bơi theo chừng nửa giờ, qua mấy chỗ vũng
biển. Đoàn Dự nghĩ thầm: "con chim kia bay trên không nên nhận đường lối
dễ hơn. Đằng này bơi thuyền dưới nước, giữa cái hồ mênh mông, dù bản
lãnh giỏi đến đâu cũng khó lòng giữ cho khỏi lạc đường".

Thuyền đi đến trước một hàng đăng ken bằng tre chẻ ra vót sẵn. Người
Giang Nam thường cắm đăng ngang sông, hồ để nuôi cá, bắt giải. Nước vẫn
lưu thông nhưng cá và giải vướng đăng không chui ra được. Thuyền lại sát
đăng, tưởng bị chặn lối đi, không ngờ đầu thuyền vừa chạm vào đăng, đăng
chìm ngay xuống nước, để hở lối cho thuyền đi qua. Thì ra trên các hàng
đăng này có đặt cơ quan tự động mở ra đóng lại được. Qua mấy tầng đăng
như vậy thì đến rặng liễu buông rủ xuống nước. Hết rặng liễu, xa xa nhìn
thấy trên bờ hồ hoa lá rực rỡ như hoa trà, ánh xuống nước đỏ rực một vùng.

Đoàn Dự buột miệng khẽ reo lên một tiếng: "ô kìa". A Châu vội hỏi:

- Chi vậy?

Đoàn Dự chỉ vào bụm cây hoa đáp:

- Đây là cây sơn trà ở nước Đại Lý chúng tôi đó. Làm sao ở Thái Hồ cũng
trồng được thứ điền trà này nhỉ?

Nên biết rằng thứ sơn trà sản xuất ở Vân Nam có danh tiếng hơn cả nên
người ta mệnh danh là điền trà.

A Châu nói:

- Có đúng thế không? tôi tưởng sơn trà nước Đại Lý không bằng được sơn
trà ở Cô Tô chúng tôi đây. Chỗ này là Mạn đà sơn trang, mạn đà la đứng
vào bậc nhất thiên hạ, sơn trà nước Đại Lý của công tử bằng thế nào được?

Đoàn Dự cho lời bình luận của A Châu là sai. Chàng nghĩ rằng: "nhân vật ở
Giang Nam kể ra cũng làm cho người ta phải ngây ngất thật. Nước Đại Lý
có nhiều thứ thua kém nhưng mà bảo sơn trà nước Đại Lý thua trà Giang
Nam thì nhất định không chịu". Chàng thấy A Châu đưa mắt ra hiệu biết
rằng gần đến sơn trang rồi. âu là cứ buông xuôi câu chuyện cho êm.

A Châu chèo thuyền lại buộc vào gốc một khóm sơn trà, dừng chân đứng
nhìn một hồi. Trên bờ toàn hoa trà đỏ trắng lẫn lộn, không có nhà cửa
phòng ốc chi hết.

Đoàn Dự sinh trưởng ở nước Đại Lý, mặc dầu sơn trà đối với chàng chẳng
có chi là lạ nhưng cũng theo chiều tấm tắc khen ngợi cho qua, trong lòng
thầm nghĩ: "sơn trà ở đây tuy nhiều thật, song giai phẩm này đã lấy chi làm
quý?".

A Châu kéo ghệch thuyền vào bờ rồi cất tiếng thong thả mềm mỏng nói:

- Tiểu tỳ là A Châu, A Bích ở Tham Hợp trang bên Yến Tử ổ bị kẻ địch
đuổi đánh, lầm đường lạc vào nới cấm địa quý trang đây, tội đáng muôn
thác. Xin Vương phu nhân mở lượng hải hà bỏ qua đi cho! Bọn tiểu tỳ cảm
kích vô cùng.

A Châu dứt lời, trong rừng hoa chưa thấy tiếng người đáp lại, nàng lại tiếp:

- Cùng đi với bọn tiểu tỳ còn có Đoàn quân là một người khách phương xa
đến. Đoàn quân chưa từng quen biết công tử bon tiểu tỳ và quả tình không
dính líu mảy may gì đến vụ này cả.

A Bích cũng nói:

- Đoàn công tử đến Cô Tô với mục đích tìm chủ nhân bọn tiểu tỳ để rửa
hận, vô tình lạc vào quý trang.

Đoàn Dự nghĩ thầm: "xem giọng lưỡi hai cô này đều bảo ta là kẻ thù của
công tử Mộ Dung chứ không phải bạn thì đủ hiểu rằng giữa chủ nhân khu
vực này cùng công tử Mộ Dung có mối bất hoà. Dường như cứ ai là kẻ địch
của công tử Mộ Dung thì không đến nỗi họ bị làm khó dễ". Lát sau thấy có
tiếng chân bước sột soạt trong rừng hoa rồi một ả tiểu hoàn áo xanh đi ra,
trong tay cầm một bó hoa. ả này lớn hơn A Châu, A Bích chừng một vài
tuổi, vừa chạy ra bờ hồ vừa cười nói:

- A Châu, A Bích! Các cô này to gan thật! Dám lẻn đến đây dòm ngó
chuyện gì? Phu nhân ta xuống lệnh phải rạch ngang, rạch dọc cái bộ mặt
đẹp tựa như hoa ngọc của các cô ra đó.

A Châu trông nét mặt ả đã vững tâm đưuợc phần nào, tươi cười hỏi:

- U Thảo tỷ nưng đấy ? Phu nhân vắng nhà phải không?

U thảo cười đáp:

- Phu nhân còn bảo hai cô còn dắt cả chàng trai nào đó đến Mạn đà sơn
trang vậy phải chặt hai chân gã đi!

Nàng chưa dứt lời đã toét miệng ra cười. A Bích vỗ bụng nói:

- U thảo tỷ nương! có phải chị hăm doạ chúng tôi đó không?

A Châu cười nói:

- A Bích đừng sợ! Cô ta doạ đấy! Phu nhân mà ở nhà thì đời nào cô ả dám
cười cượt như vậy? U thảo em ơi! Phu nhân đi đâu vậy?

U Thảo cười nói:

- Lêu lêu! Cô bao nhiêu tuổi mà đòi làm chị ta? Con lỏi này giỏi đoán đó,
phu nhân quả không ở nhà.

Rồi ả lại thở dài nói:

- A Châu, A Bích hai em! Mấy khi hai em qua tới đây, ta muốn lưu hai em
ở chơi bên này một vài ngày.

A Bích cũng nói:

- Em cũng muốn được đón tiếp chị! U thảo tỷ nương ơi! Bữa nào chị sang
chơi bên em? Em thức ròng rã ba ngày ba đêm để tiếp chuyện chị được
không?

Bỗng lại nghe tiếng chân bước trên lá cây lạo xạo, một đứa tiểu hoàn nữa đi
tới, cười hì hì nói:

- A Châu, A Bích! cô nương muốn mời các chị vào xơi nước.

A Châu nói:

- Hoàng Ly đó hả? Em về trình cô nương qua bên nhà chơi, công tử đi vắng
rồi. Bữa nay chúng ta đi lầm đường thế nào lại lạc vào quý phủ. Cô nương
cho uống trà, chúng tôi xin có lời đa tạ cô nương nhé!

Hoàng Ly nói:

- Không được đâu! Cô nương cho gọi hai chị, hai chị không chịu vào thì
đừng hòng được "bạch y sứ giả" đưa chị ra khỏi nơi đây.

A Châu cùng A Bích đưa mắt nhìn nhau ra chiều khó nghĩ, A Bích nói:

- Hoàng Ly tỷ nương! chị thật là người thông minh. Cô nương đã cho gọi
chị em chúng tôi, chúng tôi đâu dám trái lệnh? Chỉ sợ lần chần phu nhân về
đến nhà thì nguy quá.

U Thảo nói:

- Phu nhân đi chơi xa, mới đi hôm qua, đâu có về ngay mà ngại? Các chị
còn chưa hiểu tâm sự cô nương hay sao?

A Châu đáp:

- Vâng! A Bích! Thôi chị em chúng mình cũng đành mạo hiểm vào đi!

Hai người kéo thuyền lên bờ. A Bích bảo Đoàn Dự:

- Đoàn công tử! Xin công tử hãy đứng đây chờ chúng tôi một lúc. Chúng tôi
vào ra mắt chủ nhân xong ra ngay.

Đoàn Dự đáp:

- Được rồi! Các cô đi lẹ lên.

Bốn cô nha hoàn dắt tay nhau cười cười nói nói đi vào rừng hoa. Đoàn Dự
ngồi thuyền chờ lâu, nóng ruột đứng dậy lên bờ nhòm ngó rừng mạn đà la
xem có giống hoa gì khác lạ không? nhưng đây chỉ toàn sơn trà không có
thứ hoa cỏ gì khác nữa. Cả những thứ hoa rất thường về mùa xuân mọc khắp
nơi như: Khiên Ngu, Oản đậu, Du Thái mà đây cũng không có. Sơn trà thì
nhiều thật nhưng toàn những thứ bình thường, không có loại nào quý cả.
Chàng đang ngắm xem bỗng ngửi thấy một mùi hoa thơm phảng phất. Mùi
thơm này đượm không ra đượm, lạt không ra lạt, thật khó tả cho ra. Đúng là
mùi hương chàng đã ngửi thấy đêm hôm trước, lúc ngồi thuyền. Chàng tự
hỏi: "ở đây không có hoa cỏ gì khác ngoài sơn trà, chẳng lẽ trên đời lại có
thứ sơn trà mùi hương kỳ dị thế nàỷ". Chàng nổi tính hiếu kỳ, lần theo phía
phát ra mùi thơm mà đi, đi chừng vài chục trượng thấy sơn trà có thêm
nhiều loại khác, thỉnh thoảng cũng được vài khóm quý. Chàng đang đi tự
nhiên mùi thơm kỳ dị đó biến mất tăm. Chàng đi khắp mọi ngả để kiếm mà
tuyệt không ngửi thấy mùi hương đó nữa, chàng lẩm bẩm: "ta trở về chỗ
thuyền đậu thôi! Kẻo A Châu, A Bích trở ra không thấy mình lại nóng
ruột". Đoàn Dự trở gót đi đợc mấy bước, bỗng kêu lên: "Thôi hỏng rồi". Vì
mải để tâm vào chuyện đi kiếm thứ hoa kỳ dị chàng không nhớ lối ra. Chưa
biết tìm cách nào để trở về chỗ cũ chàng nghĩ thầm: "thôi đành ra tới bờ hồ
sẽ hay, bất luận là chỗ nào". Thế rồi chàng cứ đi bừa, đi càng lâu thì thấy
mình càng lạc lõng. Bất thình lình Đoàn Dự nghe thấy có tiếng người nói,
rõ ràng là tiếng A Châu, chàng cả mừng nghĩ bụng: "ta hãy đợi nàng ở đây
một lát, chờ cho nàng nói chuyện xong với người nào đó rồi sẽ kêu nàng
cùng về. Bỗng thấy A Châu nói:

- Công tử vẫn được mạnh, ăn uống điều hoà. Trong hai tháng nay công tử
luyện môn đả cẩu bổng pháp của Cái Bang. ý chừng người muốn tỷ thí với
các nhân vật nơi đó.

Đoàn Dự nghĩ thầm: "A Châu đang nói chuyện về Mộ Dung công tử với ai
đây. Mình chẳng nên đi sau nghe trộm, phải đi xa ra một chút kẻo họ bảo
mình không biết lễ". Giữa lúc đó bỗng thấy tiếng một cô gái thở dài. Tiếng
thở dài này lọt vào tai Đoàn Dự làm cho chàng bất giác toàn thân run bần
bật, trái tim nhảy loạn lên, hai má nóng bừng bừng. Chàng tự hỏi thầm: "sao
trên đời này lại có tiếng người thở dài nghe êm tai đến thế?". Rồi một giọng
u buồn cất tiếng hỏi:

- Chuyến này chàng ra đi có nói là đi đâu không?

Đoàn Dự mới nghe tiếng thiếu nữ thở dài lòng đã xúc động, giờ lại nghe
thêm mấy câu này nữa toàn thân chàng máu như sôi lên sùng sục. Trong
lòng vừa cay đắng vừa đau khổ, phần vì ngưỡng mộ, phần vì ghen tuông nói
sao cho hết? Chàng lẩm bẩm: "rõ ràng nàng hỏi chuyện công tử Mộ Dung.
Nàng đối với gã thân thiết là thế! nhớ mong là thế! công tử Mộ Dung thật là
người có diễm phúc.

Lại nghe tiếng A Châu đáp:

- Lúc công tử ra đi có nói là đến Lạc Dương. Lữ đại ca cùng Bao tiên sinh
hai người đi theo công tử. Xin cô nương cứ yên lòng không có điều chi đáng
ngại.

Thiếu nữ hỏi:

- Các ngươi có coi công tử luyện môn "đả cẩu bổng pháp" chưa? Có thấy
chỗ nào khó khăn hoặc chậm chạp không?

A Bích đáp:

- Bổng pháp này công tử đã luyện thành thục lắm rồi, từ đầu chí cuối công
tử phát động tựa hồ mây bay nước chảy...

Đột nhiên thiếu nữ "hứ" lên một tiếng rồi nói tiếp:

- Thế là hỏng rồi! Có phải... chàng sử môn này mau lẹ lắm không?

A Bích đáp:

- Vâng! vậy mà có chỗ chưa được hay sao?

Thiếu nữ nói:

- Dĩ nhiên là hỏng rồi. Phép "Đả cẩu bổng pháp" có hai thế: thế chiền thì
càng chậm càng hay, thế thiểu thì lúc nhanh lúc chậm. Nếu chỉ một chiều
đánh mau thì không phát huy được chỗ tinh vi mầu nhiệm của phép này.
Vậy các ngươi... các ngươi có cách nào đưa tin được đến chỗ công tử
không?

A Châu tặc lưỡi đáp:

- Bọn tiểu tỳ không biết công tử đến đâu trước? Và hiện giờ họp mặt cùng
các bậc trưởng lão ở Cái Bang chưa? Thưa cô nương! vậy ra phép "Đả cẩu
bổng pháp" mà sử dụng thật mau, có chỗ không ổn hay sao?

Thiếu nữ đáp:

- Dĩ nhiên không ổn rồi, còn có... chỗ gì nữa. Sao lúc chàng... chàng ra đi,
không đến đây gặp ta?

Thiếu nữ vừa nói vừa dậm chân ra chiều nóng nẩy, áy náy... Đoàn Dự nghe
xong rất lấy làm kỳ, nghĩ thầm: "ta tưởng khắp thiên hạ, ai cũng kính sợ nhà
Mộ Dung ở Cô Tô, thế thì còn ai bì với nhà này được mà sao nghe cô nương
đây nói thì dường như công tử Mộ Dung còn phải nhờ cô này truyền dạy võ
nghệ cho. Chẳng lẽ một cô thiếu nữ nhỏ tuổi này lại có bản lãnh đến thế kia
?

Lại thấy thiếu nữ bước lui bước, tới tựa hồ chưa tìm ra được kế gì, rồi nàng
lẩm bẩm: "trước mình đã bảo chàng học bộ pháp đó nhưng chàng không
chịu, giả tỷ mà chàng biết phép Lăng Ba Vi Bộ ..."

Đoàn Dự nghe đến bốn chữ Lăng Ba Vi Bộ bất giác kêu lên một tiếng "A
ha". Chàng tự biết mình lỡ lời đa tay lên bịt miệng thì đã không kịp mất
rồi. Thiếu nữ quát hỏi:

- Ai đó?

Đoàn Dự biết rằng không thể giấu diếm được nữa liền đằng hắng lên vài
tiếng rồi đáp:

- Tại hạ là Đoàn Dự đang ngắm xem rừng trà báu của quý trang, đột ngột
tới đây, xin người tha tội cho!

Thiếu nữ nói khẽ bảo A Châu:

- A Châu! Phải chăng đây là cậu cùng đi với ngươi?

A Châu vội đáp:

- Thưa phải! gã này chỉ là anh đồ gàn, cô nương bất tất phải nói đến gã làm
gì. Ta đi ra ngả khác quách.

Thiếu nữ nói:

- Hãy khoan! Ngưi hãy chờ ta viết thư nói rõ mọi điều cốt yếu về phép sử
môn "đả cẩu bổng pháp" để các ngươi liệu cách đưa đến cho công tử.

A Châu tỏ vẻ ngần ngại đáp:

- Cái đó... phu nhân đã bảo rồi mà...

Thiếu nữ giật giọng hỏi:

- Sao bọn ngưi chỉ biết vâng lời phu nhân? Không chịu nghe ta phải
không?

Nghe câu nói có vẻ hằn học A Châu vội đáp:

- Xin cô nương đừng lộ cho phu nhân biết. Lẽ nào tiểu tỳ lại không tuân
lệnh, huống chi lại là việc lợi cho công tử.

Thiếu nữ nói:

- Hai người theo ta về phòng lấy thư nghe.

A Châu đáp:

- Vâng!

Từ lúc Đoàn Dự thấy thiếu nữ thở dài rồi sau càng nghe nàng nói càng mê
đặc. Giờ thấy nàng toan trở gót về phòng chàng nghĩ bụng: "để cho nàng đi
e rằng không còn dịp nào được gặp mặt nữa thì thật là điều hối tiếc suốt đời.
Ta đành một liều ba bảy cũng liều, tìm cách ngăn trở để nhìn cho thấy mặt
rồi muốn tội tình hay trách mắng gì cũng chịu". Nghĩ vậy chàng bèn lớn
tiếng gọi:

- A Bích cô nương ở lại đây với tôi được không?

Chàng vừa gọi vừa rảo bước đi ra. Thiếu nữ thấy chàng sấn sổ bước tới vội
la lên một tiếng "ô hay" rồi quay đi. Đoàn Dự ở trong bụi cây bưước ra, chỉ
thấy một vị nữ lang mặc áo tơ trắng đang nhìn lên những bông hoa, vẻ
người mềm mại, tóc dài bỏ xuống sau lưng, dùng dây tràng buộc cho gọn.
Đoàn Dự mới trông thấy bóng dáng sau lưng nàng, cốt cách đã ra vẻ thần
tiên, bên mình dường nh có khói mây bao bọc, chứ không ra tuồng khách
tục. Chàng liền vái dài nói:

- Tại hạ Đoàn Dự xin bái kiến cô nương.

Nữ lang dậm chân trái xuống đất gắt:

- A Châu! Các ngươi thật là rắc rối! Ta có chạm mặt với nam giới bên ngoài
bao giờ đâu?

Nói rồi đi thẳng về phía trước. Qua mấy khúc quanh người nàng đã che
khuất vào trong bụi hoa mất rồi. A Bích nhìn Đoàn Dự mỉm cười nói:

- Đoàn công tử! Cô nương này rất khó tính khó nết. Chúng ta chuồn đi thôi.

A Châu cũng mỉm cười nói:

- May nhờ có Đoàn công tử đến giải vây cho không thì thế nào cũng bị
Vương cô nương bắt đưa thư, gửi thiếp rất là phiền phức, có khi nguy hiểm
đến tính mạng chị em tôi nữa.

Đoàn Dự lật đật chạy ra bị nữ lang nói mấy câu làm chàng cụt hứng, tưởng
còn bị A Châu, A Bích oán ghét nữa là khác nào ngờ lại được hai nàng cảm
ơn, thật là một điều không bao giờ nghĩ đến.

Lúc đó ba người đã ra đến chỗ thuyền đậu, A Châu cầm lấy mái chèo toan
bơi thuyền đi thì A Bích nói:

- A Châu tỷ nương! chị em mình không có "bạch y sứ giả" dẫn đường, dễ gì
mà mà biết lối ra? đành là phải ngồi đây chờ cô nương viết xong thư. Chúng
ta bị tình thế bắt buộc dù phu nhân có biết ra cũng không trách chúng ta
được.

A Châu thở dài nói:

- Cái ông sư đó thật là tai hại, nghĩ đến lúc nào lại bực ông ta lúc ấy.

Chưa dứt lời, bất thình lình nổi lên một tiếng hú từ đằng xa đưa lại như tiếng
rồng gấm nghe choáng cả tai.

A Châu, A Bích đều cả kinh thất sắc. Đoàn Dự cũng giật mình lẩm bẩm:

- Tiếng gầm này nghe quen tai. à thôi! chết rồi! Có lẽ là đồ đệ ta, Nam Hải
Ngạc Thần sắp tới. Hừ nhưng quyết không phải lão.

Nguyên lúc buổi đầu Đoàn Dự gặp Nam Hải Ngạc Thần đã nghe tiếng hú
này. Nhng lúc Nam Hải Ngạc Thần đã đến bên chàng mà chàng vẫn còn
nghe tiếng hú râm ran, rồi Nam Hải Ngạc Thần nghe tiếng hú đó hốt hoảng
chạy theo.

Bình nhật đã đành A Bích lúc nào cũng có vẻ mặt lo lắng đáng thương
nhưng A Châu vốn là người hoạt bát lanh lẹ mà lúc đó chân tay cũng luống
cuống, ra chiều sợ hãi vô cùng. A Bích khẽ gọi:

- Đoàn công tử ơi! phu nhân về tới nơi rồi! Bọn ta đành sống thác mặc trời.
Công tử càng tỏ ra vô lễ ngạo ngược với chị em chúng tôi chừng nào càng
được việc chừng ấy.

Đoàn Dự từ khi bỏ Vương phủ lén đi đến nay đã trải bao phen thập tử nhất
sinh, đã bao lần gặp nguy hiểm gian nan, chàng nghĩ thầm: "người ta sống
chết có số, nếu số phải chết thì dù muốn tránh cũng chẳng được nào thì tội
gì mà tỏ ra con người không biết điều đối với hai nàng nhu mì khả ái nàỷ".
Chàng liền mỉm cười nhìn hai nàng nói:

- Thà rằng giữ lễ mà chịu chết còn hơn vô lễ để níu lấy cái sống. Này A
Châu cô nương ơi! cô bảo tôi là đồ gàn thì quả tôi có cái tính gàn dở của kẻ
nhai văn nhấm chữ.

A Châu cũng nhìn chàng thở dài mà kêu trời.

Lúc này trên mặt hồ đã xuất hiện một con thuyền, lướt tới như bay, chớp
mắt đã đến gần tới nơi. Chiếc khoái thuyền này chạm hình đầu rồng, miệng
há hốc ra, trông mà gớm khiếp. Thuyền vừa cập bến, Đoàn Dự bất giác la
lên một tiếng "trời ơi". Nguyên trên sừng rồng chạm đầu thuyền có treo ba
cái đầu lâu lủng lẳng vừa mới chặt ở đâu về, hãy còn đầm đìa những máu,
khiến ai trông thấy cũng phải ghê rợn, không dám nhìn lâu. Những răng
trong miệng rồng nhô ra cũng dính đầy máu tươi.

A Châu khẽ nói:

- Chắc Vương phu nhân giữa đường gặp giặc nên mới về sớm thế này.
Chúng mình thật là xúi quẩy.

Thuyền rồng vừa sắp vào bờ A Châu, A Bích đã đứng dậy khép nép cúi đầu,
vẻ mặt cực kỳ nghiêm cẩn. A Bích nhìn Đoàn Dự luôn luôn ra hiệu cho
chàng đứng dậy. Đoàn Dự chỉ mỉm cười lắc đầu nói:

- Bao giờ phu nhân bước ra đầu thuyền lên tiếng, tôi sẽ đứng lên để tỏ lòng
kính cẩn là được rồi. Ai lại đường đường nam tử trượng phu mà phải khúm
núm bao giờ?

Bỗng thấy tiếng một người đàn bà từ trong thuyền vọng ra:

- Gã trai kia! Mi to gan thật! Sao dám thiện tiện đến Mạn đà sơn trang làm
chi, mi lại không biết bất luận gã đàn ông nào đã vào đây đều bị chặt chân
?

Giọng nói rất oai nghiêm, trong trẻo, ai cũng nghe rõ.

Đoàn Dự đáp:

- Tại hạ là Đoàn Dự, lầm đường lạc vào bảo trang, thực không có ý đường
đột chút nào, xin nghiêng mình tạ lỗi.

Người đàn bà "hừ" một tiếng rồi không nói nữa. Thuyền áp mạn xong, hai ả
tỳ nữ áo xanh ở trong chui ra, một ả phi thân lên sừng rồng, loáng một cái
đã nhấc ba chiếc đầu lâu nhảy xuống rất lẹ làng.

Đoàn Dự thấy hai ả cùng đeo trường kiếm lẩm bẩm: "thị nữ còn lợi hại thế
này thì bà chủ chắc là ghê gớm lắm. Mình cũng chỉ có mỗi cái thủ cấp, cắt
thì cắt phứt đi cho xong". Chàng nghĩ tới câu: "đến chết là cùng", rồi trong
bụng thản nhiên như không.

Người đàn bà lại cất tiếng gọi:

- A Châu, A Bích, hai con nhãi kia cũng đến đó hả? Cái thằng lỏi Mộ Dung
Phục điều hay không học, chỉ chuyên dở cái trò yêu quái.

A Bích thưa:

- Khai bẩm phu nhân! Tiểu tỳ bị kẻ địch đuổi đánh, đêm khuya trời tối đã
lầm đường, vô tình lạc vào đây. Công tử tiểu tỳ ra đi rồi. Việc tiểu tỳ lạc
đến đây, công tử quả không biết tý gì.

Nàng không tỏ vẻ nơm nớp lo sợ thì ra con người ta đã đến cùng đường tự
nhiên đâm liều, nàng cứ thẳng thắn biện bạch.

Tiếng ngọc đeo loảng xoảng vang lên, trong thuyền thị nữ áo xanh xếp hàng
đôi đi ra, lưng đeo trường kiếm, lưỡi kiếm sáng loáng, ánh kiếm lập loè tựa
hoa bay. Bọn này tám đôi, cộng cả hai ả ra trước nữa là mời tám người.
Sau cùng là một vị nữ lang ăn mặc ra kiểu khách cung phi. Đoàn Dự vừa
nhìn thấy tướng mạo nữ lang, không thể nhịn được, bất giác la lên một tiếng
kinh dị, líu cả lưỡi lại, miệng há hốc ra tựa hồ như lạc vào cõi mộng.
Nguyên vị nữ lang này mình mặc áo dài bằng lụa trắng, từ y phục cho đến
đồ trang sức hệt như pho ngọc tượng trong thạch động bên nước Đại Lý. Có
điều nữ lang này tuy đẹp như vậy nhưng đã đứng tuổi trạc độ tứ tuần còn
pho tượng kia là một thiếu nữ chừng 18, 19 tuổi. Đoàn Dự nhìn kỹ lại thì vị
nữ lang này chỉ khác pho tượng ở chỗ nhiều tuổi hơn nên vẻ mặt dầy dạn
phong trần, còn ngoài ra không khác tý gì, càng nhìn lâu lại càng giống hệt,
khác nào bà này là chị mà pho tượng kia là em.

A Châu, A Bích thấy Đoàn Dự cứ giương mắt nhìn phu nhân trừng trừng có
vẻ cực kỳ vô lễ, trong lòng đều ngấm ngầm kinh sợ, luôn luôn giơ tay ra
hiệu nhắc chàng đừng nhìn nữa. Nhưng mắt chàng tựa hồ dán chặt vào mặt phu nhân.

Hết Hồi 29 ....

Trung Quốc
06-07-2002, 10:19 AM
Hồi 30 Chơi hoa đã dễ mấy người biết hoa


Vương phu nhân nói:

- Gã này vô lễ. Trước hết chặt chân gã rồi sẽ móc mắt và cắt lưỡi gã đi.

Một ả thị nữ cao lớn, nước da ngăm ngăm khom lưng đáp:

- Xin vâng!

Đoàn Dự lo thầm: "họ làm thế này thì giết mình đi còn hơn". Đằng này họ
chặt chân, móc mắt, cắt lưỡi, sống không sống được, chết chẳng chết cho,
cái đó mới thực khổ cho mình". Đến bây giờ chàng quả thấy trong lòng sợ
hãi. chàng quay đầu lại nhìn A Châu, A Bích một lần nữa thì thấy hai mặt
xám như gà cắt tiết, người đứng đờ ra như tượng gỗ.

Phu nhân lên bờ rồi, hai tên thị nữ áo xanh ở thuyền ra sau rốt, trong tay
đều cầm đầu dây lôi một chàng thanh niên mi thanh, mục tú, có vẻ là con
nhà giàu sang và một người nữa, ngoại hiệu là Nộ Giang Vương Tần
Nguyên Tôn. Lúc Tần đến vây đánh Mộc Uyển Thanh thì oai phong là thế
mà bây giờ bị trói chặt, lão cúi gầm mặt xuống chẳng khác gì cái xác không
hồn hay như cá nằm trên thớt tuỳ người muốn băm vằm mổ xẻ gì thì làm.

Đoàn Dự rất lấy làm kỳ tự hỏi: "ông này ở Vân Nam sao cũng bị Vương
phu nhân bắt về đâỷ".

Bỗng nghe Vương phu nhân quay sang hỏi Tần Nguyên Tôn:

- Rõ ràng mi là người nước Đại Lý, làm sao không chịu nhận đi?

Tần Nguyên Tôn đáp:

- Tôi ở Vân Nam, quê quán tôi không thuộc về nước Đại Lý.

Vương phu nhân lại hỏi:

- Nhà ngươi cách nước Đại Lý bao xa?

Tần Nguyên Tôn đáp:

- Hơn bốn trăm dặm.

Vương phu nhân nói:

- Chưa đầy năm trăm dặm, thế cũng là người Đại Lý rồi. Đem y chôn sống
dưới gốc Mạn đà la để bón cho cây.

Tần Nguyên Tôn kêu lên:

- Nhưng tôi phạm tội gì mới được chứ? Nếu không nói rõ thì chết cũng
không nhắm mắt.

Vương phu nhân cười lạt đáp:

- Cứ là người Đại Lý hoặc người họ Đoàn mà gặp ta là ta chôn sống, chỉ có
thế thôi. Tuy ngươi không phải ở Đại Lý, nhưng là người lân cận nước Đại
Lý thì cũng thi hành như nhau.

Đoàn Dự lẩm bẩm: à ra mụ này nói có vẻ châm chọc mình. Ta chẳng cần
chờ mụ hỏi, cứ nhận trước đi cho rồi. Nghĩ vậy chàng lớn tiếng nói:

- Ta là người nước Đại Lý, lại chính trong họ Đoàn. Ngươi muốn chôn sống
ta thì hạ thủ ngay đi!

Vương phu nhân lạnh lùng nói:

- Ngươi đã báo danh rồi. Tên là Đoàn Dự chứ gì? được lắm! Người họ Đoàn
nước Đại Lý đâu có được chết dễ dàng thế?

Phu nhân vẫy tay một cái, tên thị nữ kéo Tần Nguyên Tôn đi. Nhưng Tần
vừa bị điểm huyệt vừa bị trọng thương, không sao kháng cự được, lão kêu to
lên:

- Thế gian sao lại có cái luật lệ kỳ dị như vậy? Mấy trăm vạn nhân dân nước
Đại Lý liệu có giết hết được không?

Lão kêu gào thế nào cũng mặc, thị nữ lôi tuột lão đi vào rừng trà mỗi lúc
một xa, tiếng la cũng nhỏ dần. Phu nhân nghiêng đầu đi một chút nhìn
chàng thanh niên mày thanh, mắt sáng hỏi:

- Mi có điều chi muốn nói nữa chăng?

Chàng thanh niên vội quỳ rạp xuống đất, dập đầu lạy luôn mấy cái nói:

- Gia phụ làm quan tại triều, dưới gối chỉ có mình tôi là con. Xin phu nhân
tha mạng cho. Dù phu nhân muốn điều chi, gia phụ cũng nhất định vâng
theo.

Vương phu nhân lạnh lùng đáp:

- Cha mi làm quan lớn trong triều, lẽ nào ta không biết? Ngươi muốn sống
cũng chẳng khó gì. Chỉ có điều hôm nay mi phải về nhà giết vợ con đi, rồi
sáng mai đem đủ sáu lễ cưới Miêu thị là người đã có tư tình với mi. Mi có
bằng lòng không?

Chàng thanh niên đáp:

- Về việc đang tay... chém giết vợ con, tôi không dám làm. Còn việc cho
mối lái và cưới xin đàng hoàng để lấy Miêu thị thì song thân tôi nhất định
không chịu. Không phải là tôi...

Chàng chưa dứt lời phu nhân đã ra lệnh:

- Đem gã chôn sống đi!

Tên thị nữ dắt chàng lúc nãy chỉ "vâng" một tiếng rồi kéo chàng đi.

Chàng thanh niên sợ run bắn người vội nói:

- Tôi... tôi xin tuân mệnh.

Vương phu nhân nói:

- Tiểu Thuý! Mi áp giải gã về thành Cô Tô và chính mắt mi phải nhìn thấy
rõ gã ra tay giết vợ, cùng Miêu cô nương thành thân rồi hãy về đây phục
mệnh.

Tiểu Thuý vâng lời, lôi chàng bỏ xuống chiếc thuyền nhỏ Đoàn Dự đang
ngồi. Chàng thanh niên miệng vẫn năn nỉ:

- Xin phu nhân mở lượng từ bi, phu nhân không có thù oán gì với vợ tôi, lại
không quen biết Miêu cô nương. Tôi cũng chưa từng quen biết phu nhân, hà
tất phu nhân bắt tôi giết vợ để lấy người khác làm chi? Từ nay tôi không
dám làm điều gì để đắc tội với phu nhân.

Vương phu nhân nói:

- Mi đã có vợ con, sao còn đi dùng lời ngon ngọt để chàng màng với các cô
gái khác? Ta không biết thì thôi, một khi đã biết ra ta đều xử theo đường lối
này. Vả mi có phải mới phạm một lần này mà thôi đâu? Còn oán hận gì
nữa? Tiểu Thuý vụ này là vụ thứ mấy rồi hả?

Tiểu Thuý đáp:

- Những chỗ tiểu tỳ quen biết như những vụ xảy ra ở Đan Dương, Vô Tích,
Gia Hưng cả thảy bảy vụ. Còn những vụ nào nữa thì phu nhân hỏi Tiểu Lan,
Tiểu Thi sẽ rõ.

Chàng công tử nghe mà bủn rủn cả người, luôn miệng kêu than.

Tiểu Thuý buông mái chèo, bơi thuyền đi luôn.

Đoàn Dự thấy Vương phu nhân hành động cực kỳ khốc liệt, không đếm xỉa
đến lý lẽ thì miệng há hốc ra, mắt mở trừng trừng như người sắp nổi cơn
điên. Trong lòng chàng vẫn quanh quẩn với ý nghĩ: "sao lại có con người vô
lý đến như thế?". Bất giác chàng buột miệng la lên:

- Có lý nào thế được? Có lý nào thế được?

Phu nhân "hừ" một tiếng rồi nói tiếp:

- Mi còn hỏi việc thiên hạ có lý nào thế được ? Này này ta bảo còn nhiều
việc hơn thế nữa là khác.

Đoàn Dự vừa thất vọng lại vừa khó chịu. Chàng nhớ lại bữa trước chàng vào
thạch động gần sông Thương Lan, thấy pho tượng thần tiên mà chàng xiết
bao ngưỡng mộ, bây giờ chàng thấy Vương phu nhân tướng mạo giống pho
ngọc tượng như đúc mà hành vi chẳng khác gì yêu ma quỷ quái.

Đoàn Dự đang cúi đầu lầm lỳ chán nản thì bốn con nữ tỳ chui vào thuyền bê
ra bốn chậu hoa. Chàng vừa trông thấy, tự nhiên tinh thần lại thấy phấn
khởi. Nguyên bốn chậu hoa này đều là những thứ sơn trà rất hiếm. Khắp
thiên hạ đều ca tụng sơn trà Đại Lý là quý hơn hết. Trong phủ Trấn Nam
Vương không biết bao nhiêu là sơn trà có danh tiếng thì bốn chậu trà này
cũng đứng vào hàng nhất trong phủ. Từ thuở nhỏ Đoàn Dự xem trà đã quen.
Lúc rồi chàng thường ngồi nghe thợ làm trà bàn tán phê bình về tính chất
cùng ưu liệt điểm của từng thứ trà. Chàng không học tập nghề trồng trà
nhưng trong lòng cũng thuộc như cháo, khác nào con nhà nông phân biệt
lúa má hay con cháu ngư ông sành sỏi về các loại cá tôm? Lúc trước chàng
đã đi lại mấy dặm để ngắm xem rừng trà mà chưa thấy có một gốc trà nào
vào hàng giai phẩm, trong lòng chàng đã nghĩ đến cái tên "mạn đà sơn
trang" đặt cho khu trại này thật uổng.

Bỗng nghe Vương phu nhân gọi:

- Tiểu Trà! Bốn chậu trà "mãn nguyệt" này khó kiếm lắm đấy! Mi phải
trông nom chăm chút nghe!

ả thị nữ tên gọi Tiểu Trà đáp:

- Vâng!

Đoàn Dự nghe giọng hách dịch kiêu điệu thì hề hề cười lạt. Vương phu
nhân không thèm nói gì đến chàng lại dặn tiếp:

- Đi trên mặt hồ gió to, bốn chậu trà để luôn trong thuyền mấy ngày, thiếu
ánh mặt trời chiếu vào, mi phải đem ra phơi nắng và gia công bón vào.

Tiểu Trà lại "vâng" một tiếng.

Bây giờ thì Đoàn Dự lớn tiếng cười ha hả. Vương phu nhân nghe tiếng cười
có vẻ hỗn xược hỏi:

- Mi cười gì?

Đoàn Dự đáp:

- Ta buồn cười cho mi đã chẳng biết tý gì về sơn trà lại ưa trồng trà. Những
thứ trà quý thế kia lọt vào tay ngươi thật là uổng, chẳng khác gì chim cú đậu
cành mai.

Vương phu nhân nổi giận nói:

- Mi bảo ta không hiểu sơn trà, dễ thường cái ngữ mi hiểu được chăng?

Rồi dường như phu nhân sực nhớ ra điều gì lẩm bẩm: ừ mà gã này là con
cháu họ Đoàn nước Đại Lý, không chừng gã hiểu sơn trà cũng nên. Nghĩ
vậy thì nghĩ nhưưng phu nhân vẫn ra vẻ kiêu kỳ:

- Mi không nghe nói bản trang đây xưng danh "mạn đà sơn trang" hay sao?
Và không thấy khắp sơn dã trà mạn đà chỗ nào cũng tốt như rừng đấy ?

Đoàn Dự cười lạt đáp bằng giọng khinh khỉnh:

- Tuồng chi rừng mạn đà của ngươi chẳng khác chi giống người vai u thịt
bắp, vứt đâu mà chẳng to chẳng lớn? Ta nói là nói bốn chậu chà này này,
nếu ngươi trồng được nó tươi tốt thì ta quyết không phải người họ Đoàn.

Vương phu nhân vốn rất ưa hoa trà, không kể tốn phí, đi tìm khắp nơi để
mua giống quý nhưng cứ đem về Mạn đà sơn trang trồng thì các thứ trà
hiếm có chỉ được một năm hay dăm bảy tháng rồi sinh bệnh mà chết. Phu
nhân thường buồn phiền về những vụ này. Giờ thấy Đoàn Dự nói vậy,
không giận mà lại mừng thầm, tiến lại hai bước hỏi:

- Bốn chậu trà này có gì đặc biệt? Muốn trồng cho tươi tốt phải làm thế
nào?

Đoàn Dự nói:

- Nếu ngươi muốn thỉnh giáo thì phải có đủ lễ nghi, còn người muốn làm
oai làm phước thì chặt chân ta trước rồi hỏi cũng chưa muộn mà.

Vương phu nhân tức mình nói:

- Mi muốn chặt chân phỏng có khó gì? Tiểu Thi đâu! Mi đem chặt chân trái
gã đi nghe!

ả nữ tỳ tên gọi Tiểu Thi "vâng" một tiếng rồi chống kiếm bước ra.

A Bích vội la lên:

- Thưa phu nhân! Không nên chặt chân Đoàn quân. Cậu là người rất quật
cường, thà chết chứ không chịu nói đâu.

Thực ra Vương phu nhân cũng chỉ hăm doạ chàng mà thôi, liền giơ tay trái
lên, Tiểu Thi vội dừng bước.

Đoàn Dự cười nói:

- Sao không chặt hai chân ta để chôn bên gốc bốn khóm bạch trà này để bón
cho tốt? Bốn khóm trà này quý vô cùng, hoa nó lớn bằng miệng bát chậu.
Ha ha thật là thứ trà rất đẹp, rất quý.

Trong lòng Vương phu nhân chỉ mong có thứ trà quý nhưng nghe giọng lưỡi
chàng toàn là bướng bỉnh, phu nhân không biết nói thế nào, ngẫm nghĩ hồi
lâu rồi bảo:

- Mi chỉ toàn nói ba hoa. Ta hỏi mi: bốn chậu bạch trà của ta quý thì quý ở
chỗ nào? Mi nói cho ta nghe thử! Nếu đúng ta sẽ theo lễ đối đãi với mi cũng
chưa muộn.

Đoàn Dự đáp:

- Vương phu nhân! Ngươi bảo bốn chậu bạch trà này tên là "mãn nguyệt" là
láo toét. Một thứ tên gọi "Hồng trang tố lý", một thứ là "trảo phá mỹ nhân
kiểm"...

Phu nhân lấy làm lạ ngắt lời:

- "Trảo phá mỹ nhân kiểm"? tên trà gì mà kỳ thế? Vậy chậu trà nào có tên
thế?

Đoàn Dự nói:

- Ngươi muốn thỉnh giáo ta thì phải theo đúng lễ ta mới chỉ bảo cho.

Vương phu nhân không biết làm thế nào nhưng thấy mình vô tình lấy được
mấy khóm trà có những tên đặc biệt trong lòng hớn hở vui mừng liền mỉm
cười nói:

- Hay lắm! Tiểu Thi đâu! Mi bảo nhà bếp sửa tiệc tại lầu Vân Cẩm để ta
khoản đãi Đoàn tiên sinh nghe!

Tiểu Thi vâng dạ đi ngay. A Châu, A Bích chỉ nhìn nhau. Hai nàng thấy
Đoàn Dự chẳng những không chết lại còn được Vương phu nhân tiếp đãi
vào hạng thượng tân thì khác nào như mơ mộng.

Phu nhân quay lại dặn ả thị nữ cầm ba cái đầu lâu:

- Mi đem ba cái thủ cấp này chôn xuống bên khóm hoa hồng trước lâu
Hồng Hà.

Thị nữ vâng lệnh đi ngay, Vương phu nhân quay lại nói với Đoàn Dự:

- Nào xin mời Đoàn công tử lên đây!

Đoàn Dự đáp:

- Vãn sinh mạo muội! Xin hiền chủ nhân thứ lỗi.

Vương phu nhân nói:

- Đại hiền giá lâm khác nào rồng đến nhà tôm?

Hai người vừa đối đáp những câu khách sáo vừa đi rất ung dung, khác hẳn
lúc nãy, tính mạng Đoàn công tử dường như ngàn cân treo đầu sợi tóc. A
Châu, A Bích theo sau. Hai người biết tính Vương phu nhân hốt hỷ hốt nộ,
nói cười đấy rồi trở mặt ngay đấy nên trong lòng vẫn phập phồng lo sợ.

Vương phu nhân dẫn Đoàn Dự đi qua một chiếc cầu đá, theo con đường
chật hẹp đến trước một toà lầu nhỏ. Đoàn Dự ngẩng đầu lên trông thấy dưới
mái hiên có treo tấm biển đề ba chữ vàng: "Vân Cẩm lâu". Bốn mặt toà lầu
này trồng toàn hoa trà. Những bông trà ở đây đem so với trà bên Đại Lý chỉ
đáng đứng vào hàng thứ ba, thứ tư trở xuống. Đình tạ, lầu các cực kỳ lịch sự
mà cỏ hoa lại tầm thường nên mất cả vẻ tương xứng.

Vương phu nhân lộ vẻ đắc ý hỏi Đoàn Dự:

- Đoàn công tử! Bên quý quốc nhiều trà thật nhưng có lẽ còn thua bên này.

Đoàn Dự gật đầu đáp:

- Vâng! bên Đại Lý quả không trồng những thứ trà này.

Vương phu nhân lại càng tự đắc hỏi:

- Vậy ?

Đoàn Dự đáp:

- Vì bên nước tôi từ kẻ dân dã, ngu phu tục tử cũng rất sành về các loại trà.
Họ cho trồng những thứ trà tạp nham này làm cảnh chơi sẽ làm mất cả
phẩm giá con người.

Vương phu nhân tức thời biến sắc hỏi:

- Công tử nói sao? Những trà của ta đây là những thứ không ra gì? Thế thì
công tử khinh người quá!

Đoàn Dự đáp:

- Phu nhân không tin tôi thì đó là quyền của người.

Chàng vừa nói vừa chỉ một khóm hoa trà có vân ngũ sắc trước lầu nói tiếp:

- Tỷ như khóm trà này phu nhân cho là quý lắm! Chà cái lan can bên cạnh
mới thực là đẹp. Chàng tấm tắc khen cái giàn hoa đẹp còn chính cây hoa lại
không đếm xỉa gì đến, có khác gì người bình phẩm chữ viết chỉ khen mực
đen bóng mà không đả động đến nét chữ. Khóm hoa trà này có bông hồng,
bông trắng, bông tía, bông vàng rất là sặc sỡ, trước nay Vơng phu nhân
vẫn cho là quý báu lắm giờ xem Đoàn Dự có ý mỉa mai thì tỏ vẻ không
bằng lòng.

Đoàn Dự hỏi:

- Thưa phu nhân! Miệt Giang Nam gọi tên thứ hoa này là gì?

Vương phu nhân đáp:

- ở đây không có tên riêng, chỉ gọi là ngũ sắc trà hoa.

Đoàn Dự nói:

- Bên Đại Lý chúng tôi gọi nó là "lạc đệ tú tài".

Vương phu nhân bĩu môi nói:

- Tên gì mà khó nghe thế? Chẳng qua là công tử muốn đặt ra vậy thôi.
Khóm hoa này đủ mầu mỹ lệ đường hoàng, có vẻ gì gọi là cậu tú hỏng thi
đâu?

Đoàn Dự nói:

- Phu nhân thử đếm coi! Khóm trà đó có bao nhiêu kiểu hoa khác nhau?

Vương phu nhân đáp:

- Ta đã đếm rồi! ít ra cũng có đến 15, 16 thứ.

Đoàn Dự nói:

- Cả thảy có 17 thứ mới đúng. Bên Đại Lý tôi có thứ trà kêu bằng "thập bát
học sĩ". Đó là thứ quý nhất thiên hạ. Cả khóm có 18 bông mà mầu sắc
không bông nào giống bông nào: hồng thì toàn hồng, tía cũng toàn tía, chứ
không hỗn tạp. Về hình dạng cũng khác nhau, mỗi bông có một vẻ đẹp
riêng. Cả 18 bông nở cùng một lúc, tàn tạ cũng trong một giờ. Phu nhân đã
được xem chưa?

Vương phu nhân lắc đầu đáp:

- Thiên hạ có thứ trà quý thế kia ? Tôi chưa từng nghe thấy ai nói đến.

Đoàn Dự lại nói tiếp:

- Sau hạng "thập bát học sĩ", còn có những thứ kém đi từng bậc một, tỷ như
"bát tiên quý hải", một gốc sinh ra tám bông hoa khác nhau, "thất tiên nữ"
có bảy bông, "phong trần tam hiệp" có ba bông, "nhị kiều" có hai bông một
trắng một hồng. Tất cả các bông hoa phải thuần một sắc, nếu hoa hồng có
pha mầu trắng, hoặc hoa trắng có pha sắc tía đều là hạng kém.

Vương phu nhân vừa nghe vừa gật đầu. Đoàn Dự lại nói tiếp:

- Riêng về thứ "phong trần tam hiệp" lại chia ra làm hai: hạng chánh và
hạng phó. Trong ba bông thì bông tía phải lớn hơn hết tợng trưng cho Cầu
nhiêm Khánh, bông trắng thứ nhì tượng trưng cho Lý Tĩnh, bông hồng đẹp
và nhỏ nhất tượng trưng cho Hồng phất Nữ. Nếu bông hồng lớn hơn hai
bông kia là hạng phó, như thế là giá trị kém đi nhiều.

Vương phu nhân ngồi nghe ra chiều thú vị, than rằng:

- Ngay hạng phó tôi cũng chưa được thấy qua chứ đừng nói đến hạng chánh.

Đoàn Dự lại trỏ thứ trà bông ngũ sắc phê bình:

- Luận về tư cách loại này so với "thập bát học sĩ" thì còn thiếu một bông,
ngoài ra các mầu sắc lại còn bác tạp, không được thuần nhất, bông to bông
nhỏ, hay nở sớm, nở muộn không đều phỏng có khác chi bì phấn với vôi? tỷ
như sĩ tử văn bài kém cả phân điểm, lẽ tất nhiên thi rớt nên mới có cái tên
"Lạc đệ tú tài".

Vương phu nhân nghe có lý thích quá, bật cười nói:

- Kể ra đúng đấy. Nhưng cái tên có vẻ mỉa mai khinh bạc.

Vương phu nhân nghe tới đây biết Đoàn Dự rất sành sỏi về sơn trà đem lòng
tín phục. Phu nhân dẫn chàng lên lầu "cẩm vân", chẳng mấy chốc đã thấy
gia nhân bày tiệc rượu. Các món ăn của A Bích mời chàng thì lấy sự đơn
giản tinh khiết, khéo tay khéo chân làm sở trường còn tiệc của Vương phu
nhân lại chú trọng về những món ăn trân tu làm sang. Nhưng Đoàn Dự đã
sinh trưởng ở nơi Đế Vương đài các nên thứ gì chàng cũng coi là thường,
chàng có vẻ thích những món ăn của A Bích hơn.

A Châu, A Bích được các tỳ nữ bồi tiếp và ăn uống riêng biệt ở chỗ khác.
Vương phu nhân đối với Đoàn Dự rất mực cung kính. Bà ngồi chỗ dưới để
bồi tiếp chàng. Rượu đã ba tuần Vương phu nhân hỏi:

- Vừa rồi công tử cho nghe những lời bình phẩm xác đáng về các thứ trà tôi
rất đồng ý, còn bốn chậu trà tôi mới lấy về đây thì những thợ trồng hoa ở
đất Cô Tô này kêu bằng trà "mãn nguyệt" mà công tử lại bảo một chậu là
"Hồng trang tố lý", một chậu "mỹ nhân trảo phá kiếm", vậy có những điểm
nào để phân biệt? Xin công tử nói rõ cho biết!

Đoàn Dự nói:

- Chậu hoa trắng mà lớn có vân đen nho nhỏ mới kêu là "mãn nguyệt"
những vân đen đó tượng trưng các cành quế ở cung trăng. Chậu hoa cánh
trắng mà có vân hồng gọi là "hồng trang tố lý". Cánh trắng mà có điểm một
tia đỏ nhỏ như sợi tơ là "mỹ nhân trảo phá kiếm". Thứ giống như "mỹ nhân
trảo phá kiếm" nhưng cánh có nhiều tia hồng thì gọi là "ỷ lan kiều". Phu
nhân thử nghĩ coi: đã là mỹ nhân thì phải thuần nhã ôn nhu, trên má lỡ tay
cào toạc ra một dây máu thì chả hại gì nhưng khắp mặt sây xát, tỏ ra đã bao
phen cùng người xô xát thì còn đâu là vẻ mỹ nhân?

Vương phu nhân đang chăm chú nghe, thốt nhiên sa sầm nét mặt quát lên:

- Quân này to gan thật! Mi dám mạt sát ta ?

Đoàn Dự cả kinh:

- Khi nào tôi dám thế? Tôi có mạo phạm phu nhân ở chỗ nào đâu?

Vương phu nhân hỏi:

- Ngươi nghe ai sai khiến đến đây nói hươu nói vượn để nhục mạ ta? Ai bảo
mi đàn bà học võ công là mất vẻ mỹ miều? Nhuần nhã ôn nhu thì đã hơn ai?

Đoàn Dự giật mình đáp:

- Vãn sinh nói đây chỉ là theo lẽ thông thường. Thiếu gì đàn bà con gái giỏi
võ mà vẫn kiều diễm đoan trang?

Không ngờ câu nói này đã làm cho Vương phu nhân chối tai hơn. Bà hỏi
vặn:

- Ta có đoan trang hay không?

Đoàn Dự đáp:

- Đoan trang hay không thì phu nhân tự biết, vãn sinh đâu dám nói càn. Đại
khái những việc như bắt người ta giết vợ để đi lấy vợ khác người đoan trang
không làm.

Chàng nổi cơn bực tức nên mấy câu sau chàng không kiêng nể gì nữa.
Vương phu nhân khẽ đập tay ba cái, ba ả thị nữ vội chạy lên lầu, bỏ thõng
tay đứng chờ lệnh. Vương phu nhân nói:

- Bọn mi dẫn tên này đi tưới hoa.

Bọn thị nữ vâng lời. Phu nhân quay lại bảo Đoàn Dự:

- Ngươi đã ở nước Đại Lý, lại là người họ Đoàn đáng chết lắm nhưng hiểu
biết tính chất các loại trà vậy ta hãy tạm để tội chết lại, phạt ngươi phải
trông nom bón tưới những khóm trà ở xung quanh trang, nhất là bốn chậu
trà mới lấy về, lại càng phải trông nom cẩn thận. Ta bảo cho ngươi biết
trước nếu trong bốn khóm trà này mà ngươi để chết một khóm sẽ bị chặt
một tay, chết hai khóm sẽ bị chặt hai tay, chết hết bốn khóm thì chân tay sẽ
bị chặt hết đó.

Đoàn Dự cười nói:

- Còn trường hợp bốn khóm trà sống cả thì sao?

Vương phu nhân đáp:

- Nếu bốn khóm trồng được tơi tốt cả thì ngươi phải kiếm những giai phẩm
như "thập bát học sĩ", "bát tiên quá hải", "Thất tiên nữ", "nhị kiều" mỗi thứ
mấy cây, không kiếm được cho ta sẽ bị móc mắt.

Đoàn Dự nói:

- Thế thì mụ giết quách ta đi còn hơn. Hôm nay chặt tay, ngày mai móc
mắt, ta chịu sao nổi?

Vương phu nhân quát mắng:

- Tên này giỏi thật, trước mặt ta mà dám buông lời càn rỡ! Chúng bay lôi cổ
nó đi!

Ba ả thị nữ chạy lại, hai ả túm đằng trước, còn một ả phía sau đẩy đi. Ba ả
này đều có võ, Đoàn Dự không thể kháng cự lại được đành để bọn thị nữ
kéo xuống lầu, đưa đến một chỗ trong vườn hoa. Một ả đa cho chàng cái
xuổng xới đất, một ả lấy cho chàng cái bình tưới và bảo chàng:

- Ngươi đã nghe rõ lời phu nhân dặn bảo. Thôi chịu khó ở đây trồng cây
tưới hoa để bảo toàn sinh mạng. Thế là đại phước lắm đó. Những chàng trai
đã đặt chân lên Mạn đà sơn trang chưa có ai sống mà trở về đấy nhé.

Một ả nữa nói:

- Ngươi chỉ biết việc ở đây trồng tỉa sơn trà, đừng len lỏi vào các nơi cấm
địa mà nguy đó! Nếu không nghe lời ta tức là tự đi tìm lấy cái chết không ai
cứu được đâu.

Ba ả thị nữ dặn dò cẩn thận rồi mới bỏ đi. Đoàn Dự đứng thừ người ra,
chàng lâm vào tình trạng khóc dở mếu dở. Tại nước Đại Lý chàng ở vào địa
vị thế tử, phụ thân chàng là Trấn Nam Vương, một ngày kia lên kế vị Bảo
Định Đế, thì tự nhiên chàng lên bậc Hoàng thái tử, có ngờ đâu bị người bắt
đem xuống Giang Nam định đốt, định giết, toan chặt chân tay, móc mắt.
Rồi bây giờ bị người bắt ép làm kẻ trồng cây tưới hoa. Tuy nhiên tính chàng
bình dị vui vẻ, lúc ở nhà tại hoàng cung cũng như ở Vương phủ thường nhật
chàng vẫn xem thợ sửa hoa cắt cỏ, xới đất bón cây rồi cùng bọn thợ cười
cười nói nói. Chàng đang ở địa vị công tử vương tôn, giờ phải xuống làm
nghề hạ tiện nhưng may chàng vốn tính linh lợi vui tươi nên dù gặp nghịch
cảnh đầy đoạ chàng có âu sầu chăng nữa cũng chỉ được một lúc rồi lại cao
hứng như thường. Chàng lại khai thác nguồn hứng thú ở ngay cái việc hiện
tại đang đẩy vô mình. Chàng lý luận: lúc ta vào thạch động đã hạ bái thần
tiên tỷ nương nhận làm thầy. Nay Vương phu nhân tướng mạo giống thần
tiên tỷ nương, bất quá phu nhân nhiều tuổi hơn mà thôi, thế thì ta thờ phu
nhân làm sư phụ cũng được chứ sao? Sư phụ đã ra mệnh lệnh, đạo làm đệ tử
là phải vì thầy xuất lực có chi quá đáng? huống chi trồng hoa là công việc
thanh nhã của bọn văn nhân so với việc khai thương múa đao học võ thì
trồng hoa còn cao thượng hơn nhiều. Thoát khỏi tay Cưu Ma Trí định đem
mình đốt sống trước mộ Mộ Dung tiên sinh để được ra đây làm cái việc
trồng hoa khoái lạc này là vinh hạnh lắm rồi. Chỉ đáng tiếc có một điều là
các loại trà hoa kém cỏi này mà phải dùng đến vương tử nước Đại Lý ra tay
trồng tỉa kể cũng hơi phí. Lý luận hồi lâu lòng chàng khoan khoái, miệng
bật lên khúc hát vang lừng, vác xuổng cất bước. Chàng tự nhủ thầm: "Vương
phu nhân giao cho ta cái trọng trách phải trồng cho đặng sống bốn bồn bạch
trà này phải lắm! Trà này cũng vào hạng có tên tuổi rồi đây, phải được tay
văn nhã như mình trồng mới thành thân". Đoàn Dự vừa đi vừa ngắm phong
cảnh đột nhiên chàng cười ha hả nghĩ bụng: "Vương phu nhân kể ra cũng
kỳ, chẳng hiểu mảy may gì về sơn trà mà lại ưa trà hoa, chỗ nào cũng trồng
trà, rồi lại đặt tên cho trang trại của mình là Mạn đà sơn trang, nghe ra có
vẻ hay ho lắm. Phu nhân có biết đâu rằng trà ưa khí âm chứ không hợp với
khí dương. Trồng trà vào nơi giải nắng thì chẳng chết cũng chột, khó lòng
tơi tốt được, vun bón thế nào cũng vô ích. Biết bao nhiêu thứ trà quý để
phu nhân làm hỏng hết. Đáng tiếc, đáng tiếc!". Chàng tránh những lối nắng
chang chang tìm vào những nơi rậm rạp âm u, đi quanh hết hòn núi nhỏ
bỗng nghe tiếng suối khe róc rách, bên tả toàn là trúc mọc xanh rì, bốn bề
tịch mịch, mặt trời không chiếu vào đến nơi, đúng là khu âm trái núi.
Vương phu nhân thấy nơi này đất cớm cho là không thể trồng hoa được nên
tuyệt không có một gốc trà nào. Đoàn Dự cả mừng lẩm bẩm: "chỗ này trồng
trà tuyệt diệu". Đoạn chàng rảo bước quay về chỗ cũ bưng hai chuyến, bốn
chậu trà đến đó. Chàng khoét lỗ bên cạnh khóm trúc, ghè cho vỡ chậu sành
rồi đặt cả bầu xuống. Tuy chàng chưa làm qua công việc trồng tỉa nhưng đã
được xem nhiều, cứ theo cách thức mà làm cho được chu đáo. Hồi lâu
chàng trồng xong cả bốn khóm bạch trà ngay cạnh rặng trúc: đầu bên trái là
khóm "Trảo phá mỹ nhân kiểm", đầu bên hữu hai khóm "hồng trang tố lý"
và "mãn nguyệt", còn khóm "ỷ lan kiều" thì trồng chênh chếch mé sau khối
đá lớn bên bờ suối cho hợp với câu:

E thẹn ôm đàn che nửa mặt

Ai kêu ai gọi cũng mần thinh

Đoàn Dự rất đắc ý đã trồng khóm "ỷ lan kiều" vào nơi nửa kín nửa hở cho
hợp cảnh và tăng thêm vẻ đẹp.

Người Trung Quốc từng đem hoa ví với mỹ nhân, việc trồng hoa cũng như
việc trang điểm cho mỹ nhân.

Đoàn Dự xuất thân tại chốn hoàng cung, đọc thi thư từ thuở nhỏ, cách thức
trồng cây cỏ cũng hơn người một bậc. Trồng xong bốn khóm hoa chàng
xuống suối rửa sạch chân tay ngồi sau phiến đá lớn ngắm nghía khóm "ỷ lan
kiều" lấy làm khoái chí. Bỗng nghe có tiếng chân bước sột soạt, hai thiếu nữ
ngang qua, một cô nói:

- Chỗ này tịch mịch, không có ai qua lại...

Đoàn Dự thoáng nghe đã giật nảy mình vì chàng nhận ra vị nữ lang mặc áo
trắng lúc trước. Đoàn Dự nín hơi, không dám ho he một tiếng, nghĩ bụng:
"nàng đã bảo không nhìn mặt chàng trai nào không có liên quan gì tới nàng.
Ta chỉ cần nghe nàng nói mấy câu phỏng có khác gì được nghe giọng ca
nhạc của tiên nương, cũng đã phúc lắm rồi. Nhất quyết ta phải cố giữ cho
nàng không trông thấy mình mới được. Chàng chỉ ngấp nghe nhìn chênh
chếch chứ không dám nhìn thẳng mặt. Chàng vừa nghiêng đầu nghẹo cổ
nhìn trộm vừa sợ đụng chạm phát ra tiếng làm kinh động nữ lang.

Nữ lang tiếp tục nói chuyện với thị tỳ:

- Tiểu Thi! Mi được tin gì về chàng?

Đoàn Dự nghe hỏi bất giác chua xót trong lòng. Chàng biết rằng tiếng
"chàng" mà nữ lang gọi đó là chỉ công tử Mộ Dung. Chàng đã nghe Vương
phu nhân gọi gã bằng tên là Mộ Dung Phục mà thôi. Chàng lại thấy nữ lang
hỏi vặn thị tỳ về tin tức công tử Mộ Dung có vẻ thiết tha mong nhớ. Chàng
nghĩ thầm: "Giả tỷ cô nương này đối với mình tha thiết như vậy thì dù mình
có phải chết ngay tức khắc cũng rất vui lòng. Nực cười Đoàn Dự là một gã
si tình lạ lùng. Nào chàng đã được nhìn rõ mặt nữ lang áo trắng đâu, chẳng
biết nàng đẹp hay xấu, chẳng hiểu tên họ nàng là gì, chẳng rõ nàng hiền
lành hay hung dữ tính tình nàng tốt hay xấu. Từ lúc Đoàn Dự mới nghe
tiếng nữ lang áo trắng nói vài câu ngoài bờ hồ ban nãy chàng đã nặng tình
rồi. Giả tỷ chàng có vì nàng mà phải hy sinh tính mạng cũng không ăn năn
hối hận chút nào. Tại sao chàng đã nẩy ra tâm ý như vậy chính chàng cũng
không hiểu nữa. Chàng thấy nàng bất cứ lúc nào hay chỗ nào cũng chỉ bàn
tới việc công tử Mộ Dung thì chàng hoặc ngưỡng mộ nàng hoặc tự thương
cho mình.

Nghe thiếu nữ hỏi, Tiểu Thi ấp úng hồi lâu, dường như sợ không dám nói
thẳng. Nữ lang giục:

- Mi nói mau đi! không bao giờ ta quên lòng tốt của mi.

Tiểu Thư vẫn ngần ngừ:

- Cháu sợ... cháu chỉ sợ... phu nhân trách phạt.

Nữ lang tức mình hăm doạ:

- Con này điên hả? Mi cứ nói cho ta hay. Dĩ nhiên là ta không kể với phu
nhân đâu. Nếu mi không nói ta hỏi Tiểu Trà, Tiểu Thuý sẽ biết, sau phu
nhân có hỏi đến ta sẽ đổ cho mi mách ta đó!

Tiểu Thi hốt hoảng hỏi lại:

- Tiểu thư! Sao tiểu thư... lại chực đổ oan cho cháu?

Nữ lang cười đáp:

- Có gì là lạ? Kẻ nào làm tâm phúc cho ta dĩ nhiên ta phải nâng đỡ và hộ vệ
nó. Đứa nào không chịu nghe lời ta thì ta đổ tội cho chứ sao?

Tiểu Thi ngẫm nghĩ hồi lâu rồi đáp:

- Thôi cháu đành nói rõ cho cô nương nghe. Cô nương phải giữ tuyệt đối bí
mật, chớ để cho câu chuyện tiết lộ ra ngoài.

Nữ lang nói:

- Ta xem mi không muốn nói cứ ấp úng hoài. Ta chỉ tin ngươi được phần
nào thôi. Giả tỷ mi đừng giấu ta câu nào thì ta quyết với mi rằng vĩnh viễn
mi không bị phu nhân quở trách.

Tiểu Thi thở dài nói:

- Biểu thiếu gia đến chùa Thiếu Lâm đó.

Nữ lang giật giọng hỏi:

- Mi bảo chàng đến chùa Thiếu Lâm ? Sao A Châu A Bích lại nói chàng
đến Cái Bang ở Lạc Dương kia mà?

Đoàn Dự tự hỏi: "Biểu thiếu gia nghĩa là gì? à thôi phải rồi! Công tử Mộ
Dung là biểu huynh cô nương đây, hai người là anh em họ với nhau".

Tiểu Thi nói:

- Hôm vừa rồi, phu nhân ra đi giữa đường gặp Phong tứ gia bên yến tử ổ nói
cho biết là người đi chùa Thiếu Lâm bên Tung Sơn để tiếp ứng cho biểu
thiếu gia.

Nữ lang hỏi:

- Chàng đi chùa Thiếu Lâm có việc gì?

Tiểu Thi đáp:

- Phong tứ gia kể rằng biểu thiếu gia đưa tin về có rất nhiều phái võ đến
chùa Thiếu Lâm, mở cuộc anh hùng đại hội gì đó để đối phó với nhà Mộ
Dung mà thiếu gia chưa biết rõ có những ai. Cháu lại nghe nói bên yến tử ổ
còn có nhiều người đi tiếp ứng.

Nữ lang lại hỏi:

- Phu nhân đã được tin như vậy sao lại quay về? Không đi giúp biểu thiếu
gia?

Tiểu Thi đáp:

- Điều đó cháu cũng không hiểu. Dường nh phu nhân không ưa biểu thiếu
gia.

Nữ lang hậm hực nói:

- Hừ! ưa hay không ưa là một chuyện. Dù sao thiếu gia cũng là người trong
nhà. Để thiếu gia mất mặt với người ngoài thì mình vẻ vang lắm hay sao?

Tiểu Thi nói:

- Đúng thế!

Nữ lang tức mình hỏi:

- Đúng cái gì?

Tiểu Thi run sợ đáp:

- Đúng là... chẳng vẻ vang gì.

Nữ lang chạy đi chạy lại bên rặng trúc xanh để lo mưu tính kế. Chợt trông
ba khóm bạch trà Đoàn Dự mới trồng, mảnh chậu đập ra còn bỏ đó, nàng
ngạc nhiên hỏi:

- Ai trồng trà ở đây thế này?

Đoàn Dự vội vàng từ sau phiến đá lớn chạy vụt ra vái dài sát đất nói:

- Tiểu sinh vâng mệnh phu nhân, đang trồng trà tại đây, không ngờ lại gặp
tiểu thư.

Tuy vái dài tỏ ra rất cung kính nhưng mắt chàng cứ chằm chặp nhìn thẳng
vào mặt nữ lang. Vì chàng sợ lại phải nghe nàng nói một câu dứt khoát như
lần trước: "ta không nhìn bất cứ gã trai nào không có liên can gì đến ta" rồi
trở gót đi thẳng thì lại lỡ mất cơ hội. Đoàn Dự vừa nhìn thấy mặt nữ lang đã
tai ù mắt hoa, hai đầu gối nhũn ra không tự chủ được nữa, quỳ mọp xuống
đất, nếu không miễn cưỡng chống lại thì đến cái đầu cũng đập xuống đất
mà lạy. Miệng chàng lắp bắp nói luôn:

- Thần tiên nương tử ơi! tôi nhớ nương tử muốn chết đi được.

Nguyên tướng mạo nữ lang áo trắng này giống hệt pho tượng ngọc trong
thạch động bên nước Đại Lý. Vương phu nhân cũng đã giống pho tượng này
nhưng cao tuổi hơn còn nữ lang áo trắng có khác là chỉ ở bộ áo mặc ngoài
mà thôi. Từ mặt mũi, tai mắt, mồm miệng cho chí tầm vóc, chân tay cùng
màu da đố ai tìm được chỗ nào khác. Thực là pho tượng ngọc tái sinh. Đoàn
Dự như người đang lạc vào cõi mộng. Chàng đã trải không biết mấy ngàn
mấy trăm lần tưởng nhớ đến pho ngọc tượng. Lúc này chính mắt chàng nhìn
thấy người thật mà chàng chẳng hiểu ở nơi nao ở trần gian hay thượng giới.

Nữ lang thấy cử động cùng cách xưng hô của Đoàn Dự cho là chàng mắc
bệnh điên cuồng vừa khẽ hỏi vừa lùi lại hai bước:

- Ngươi... ngươi...?

Đoàn Dự đứng dậy nói:

- Hôm đó ở trong thạch động tôi được bái kiến tiên dung thần tiên nương tử,
đã mừng cho mình phúc duyên rất lớn, không ngờ ngày nay lại thấy dung
nhan nương tử thì ra trên đời này quả có tiên tử không sai.

Nữ lang quay lại hỏi Tiểu Thi:

- Gã nói chi đó? Gã là ai vậy?

Tiểu Thi nói:

- Gã là một anh đồ gàn đến với A Châu, A Bích. Gã nói nhăng nói cuội thế
nào mà phu nhân tin lời mới nực cười.

Nữ lang quay ra hỏi Đoàn Dự:

- Tên đồ gàn kia! Ta vừa nói chuyện với thị nữ đây ngươi có nghe thấy
không?

Đoàn Dự cười đáp:

- Tôi họ Đoàn tên Dự, người nước Đại Lý, không phải là đồ gàn đâu. Vừa
rồi thần tiên nương tử nói chuyện với chị Tiểu Thi đây vô tình tôi đã nghe rõ
cả. Xin thần tiên nương tử cùng chị Tiểu Thi cứ yên lòng, tiểu sinh nhất
quyết không tiết lộ một câu nào cho ai biết cả và xin bảo đảm cho chị Tiểu
Thi không bị phu nhân quở trách vì tôi.

Nữ lang sa sầm nét mặt hỏi:

- Ngươi xưng hô lăng nhăng như vậy còn cãi không phải đồ gàn. Ngươi thấy
ta từ lúc nào?

Đoàn Dự hỏi lại:

- Tôi không xưng hô bằng thần tiên nương tử thì xưng hô thế nào cho phải
nhẽ?

Nữ lang đáp:

- Ta họ Vương, ngươi cứ gọi ta bằng Vương cô nương là được rồi.

Đoàn Dự lắc đầu quầy quậy nói:

- Không được! Không được! Khắp thiên hạ cô nương họ Vương kể có hàng
ngàn hàng vạn còn cô nương đây là nhân vật thần tiên, phi phàm mà cũng
chỉ gọi bằng Vương cô nương như người thường thế nào được? Bây giờ biết
xưng hô cách nào đây? ấy thế mà khó đấy! Gọi vắn tắt là Vương tiên tử
chăng? cũng không được! Nhà Đại Tống rồi các nước Đại Lý, Liêu Quốc,
Thổ Phồn nước nào chẳng có công chúa nhưng bì với cô nương thế nào
được?

Nữ lang nghe Đoàn Dự nói tràng giang đại hải, toàn những câu gàn gàn dở
dở. Dù thấy gã tán dương sắc đẹp mình một cách quá lố chăng nữa nhưng
trong lòng nàng vẫn cảm thấy vui vui, nàng mỉm cười nói:

- Dù sao thì ta cũng cho ngươi là tốt phúc vì chưa bị mẫu thân ta chặt chân.

Đoàn Dự lại nói:

- Thần tiên nương tử cùng lệnh đường phu nhân tướng mạo giống nhau
nhưng tính tình thực khác xa nhau. Phu nhân động một tý là giết người, có
điều không xứng đáng với thể chất thần tiên...

Nữ lang nhíu đôi lông mày ngắt lời:

- Thôi ngươi tiếp tục trồng hoa đi! đừng đứng đây bẻm mép nữa. Bọn ta có
việc phải bàn.

Nàng nói câu đó với vẻ mặt coi Đoàn Dự như một tên thợ trồng hoa không
hơn không kém. Đoàn Dự không lấy làm tủi nhục về thái độ kiêu căng của
nàng. Chàng chỉ mong được cùng nàng nói câu nào hay câu ấy, nhìn phút
nào hay phút ấy. Chàng tính kế: "muốn cho nàng bắt chuyện thì không gì
bằng việc đề cập đến công tử Mộ Dung. Bụng dạ nàng để cả vào gã, ngoài
ra nàng không thiết một việc gì hết". Nghĩ vậy chàng liền nói:

- Các anh hùng thiên hạ hội họp cùng phái Tung Sơn và phái Thiếu Lâm
thương nghị việc đả phá nhà Mộ Dung. Nhân vật các phái dĩ nhiên không
phải là ít, công tử Mộ Dung cô thân, dấn mình vào nơi hiểm địa, thật là
đáng lo ngại.

Quả nhiên nữ lang giật mình. Đoàn Dự không dám nhìn thẳng vào mặt
nàng, chàng nghĩ thầm: "nàng vì cái thằng khốn kiếp Mộ Dung Phục mà
phải băn khoăn trong dạ. Ta xem dường như nàng muốn sa luỵ là khác. Tà
áo trắng nàng vẫn lay động, rồi bằng một giọng êm dịu như tiếng tiêu nàng
hỏi:

- Ngươi có biết tình hình chùa Thiếu Lâm ra sao không? nói cho ta nghe.

Đoàn Dự thấy nàng nhỏ nhẹ cầu khẩn mình cầm lòng không đậu muốn đem
hết tất cả những điều mình hay biết nói cho nàng nghe. Song chàng nghĩ lại:
"nếu có điều gì mình đem dốc ra hết, nàng nghe xong rồi lại giục mình đi
trồng trà thì mình tìm đâu ra đề tài để hòng được nói nữa với nàng, thế mới
khó chứ! Chi bằng mình phải tìm cách kéo dài câu chuyện, mỗi ngày cho ra
một mẩu để ngày ngày nàng phải đến tìm mình hỏi chuyện. Hễ tìm đến
mình không được tất phải nóng ruột khó chịu. Nghĩ vậy chàng đằng hắng
rồi bắt đầu vào chuyện:

- Về võ công tôi chẳng biết tý gì cả. Cả những thế võ tầm thường như "kim
kê độc lập", "hắc hổ thâu tâm" gì gì đi nữa tôi cũng không hay nhưng trong
nhà tôi có anh bạn họ Chu, tên gọi Chu Đan Thần, ngoại hiệu là "nghiên
sinh". Trông bề ngoài anh ta cũng chỉ là gã văn nhược thư sinh như tôi này
thôi, hay gọi là tên đồ gàn cũng được. Hà hà thế mà võ công anh ta đáo để
lắm. Một hôm anh ta cầm cái quạt quay ngược đầu lại đánh "chát" một
tiếng, cán quạt trúng vào bả vai một gã đại hán, thế mà gã này người co rúm
lại, chẳng khác gì một đống đất lù lù, không sao nhúc nhích được nữa.

Nữ lang nói:

- ừ đó là đòn thứ 38 để đánh vào huyệt đạo trong phép "thanh lương phiến,
trở đầu quạt đánh xéo vào huyệt "kiên trinh", vậy thì Chu tiên sinh là đệ tử
dưới trướng Tam Nhân Quán, một chi nhánh phái Côn Luân đó. Võ công
phái này dùng bút cũng lợi hại như dùng quạt thôi. Ngươi nói vào cốt
chuyện đi đừng nói về võ công với ta nữa.

Giả tỷ mà Chu Đan Thần được nghe chuyện nàng nói tất phải phục sát đất
và không những nàng gọi rõ tên cúng cơm thế võ mà thôi, nàng còn nói rõ
ràng cả lai lịch tông chỉ người dạy môn đó nữa. Không những Chu Đan
Thần đến ngay những nhà võ học uyên thâm tỷ như bá phụ Đoàn Dự là
Đoàn Chính Minh, phụ thân chàng là Đoàn Chính Thuần, cũng phải giật
mình tự hỏi: "cô nương nhỏ tuổi này mà sao kiến thức về võ học đã sâu rộng
đến thế?". Nhng đối với anh chàng Đoàn Dự chẳng biết tý võ công nào nên
mấy lời phác hoạ nàng nói vừa rồi chỉ thoáng qua tai chàng mà thôi. Giả tỷ
câu chuyện này đưa ra ngoài tất làm chấn động giang hồ, thành một đề tài
sốt dẻo và trọng đại bậc nhất đối với các phái võ.

Hết Hồi 30 ....