PDA

View Full Version : Luc Mach Than Kiem 51&52


Trung Quốc
06-12-2002, 10:31 AM
Hồi 51 - Lục Mạch Thần Kiếm - Nguyên Tác: Kim Dung
Ðòi Báo Vật Nhà Sư Ðộng Thủ
A Tử xoa tay mạnh vào nhau rồi nhìn vào lòng bàn tay thì thấy hai bàn tay vẫn đẹp như ngọc không có chút vết tích gì, mà cũng không có dấu máu dơ bẩn chi hết. Nàng biết những gì mình nghe trộm ở nơi sư phụ về phép luyện công quả đúng rồi bất giác cả mừng. Nàng cầm đỉnh ngọc lên đổ xác con rết xuống đất rồi bon bon chạy ra ngoài điện không thèm để mắt ngó Du Thản Chi nữa, tựa hồ như người đó đã thành vật vô dụng như con rết vậy.



Du Thản Chi nhìn sau lưng A Tử đi khỏi rồi cởi áo ra, thì thấy quầng đen đã chạy tới nách đồng thời một cánh tay bị ngứa ngáy khó chịu.

Bệnh ngứa lan ra mau chóng chỉ trong chớp mắt, gã cảm thấy tựa hồ có đến hàng ngàn hàng vạn con kiến đang cắn rứt.


Du Thản Chi nhảy lên chồm chồm, đưa tay lên gãi. Nhưng không gãi còn khá, vì càng gãi bao nhiêu thì càng ngứa dữ dội thêmbấy nhiêu, dường như trong xương tủy và trong ruột gan đều có sâu bọ bò qua bò lại lúc nhúc.


Người bị đau còn chịu được chứ bị ngứa ngáy thì không thể nào chịu được, Du Thản Chi nhảy lên nhảy xuống la hét om sòm rồi rồi đập cái đầu sắt vào tường kêu binh binh.

Gã chỉ mong sao cho mình ngất đi không còn biết gì nữa để khỏi chịu đựng những cơn ngứa ngáy kì dị.


Du Thản Chi đập đầu một lúc nghe đánh tạch một tiếng, một vật trong bọc rơi xuống.

Ðó là gói giấy dầu tuột ra để lộ một cuốn sách giấy vàng, chính là cuốn sách chữ Phạn mà gã lượm được của Kiều Phong.


Du Thản Chi bị cơn ngứa ngáy hành hạ chẳng buồn lượm lên nữa.


Trong lúc vô tình gã trông thấy bìa sách lật ra trang đầu có vẽ một nhà sư người gầy như que củi.


Hình vẽ nhà sư này rất là kì dị , đầu luồn xuống dưới hai chân quặp lại, hai bàn tay thì nắm lấy hai chân.


Du Thản Chi đang ngứa ngáy khó chịu, chẳng còn lòng dạ nào để ý đến hình vẽ kì dị này.

Gã chồm lên nhảy xuống một hồi nữa thì cảm thấy cơn ngứa ngáy làm cho khó thở.

Gã nằm xuống đất xé hết quần áo rách tươm rồi lăn mình cho da thịt sát xuống mặt đất.

Gã gãi một hồi nữa đến trầy da chảy máu.


Trong lúc Du Thản Chi vừa lăn lộn vừa gãi tự nhiên đầu gã luồn vào giữa hai chân quặp lấy. Vì đầu gã có chụp lồng sắt thành lớn quá không ra được.


Gã đưa hai tay nắm chân định kéo rộng ra rồi hất đầu lên, song lúc này gã kiệt sức quá rồi, không nhúc nhích được nữa tạm dừng tay thở lên hồng hộc.


Ngẫu nhiên cuốn sách bày ra trước mắt kiểu hình vẽ nhà sư gầy trong cuốn sách giống như kiểu gã đang ngồi.

Trong lòng gã vừa kinh ngạc lại vừa buồn cười. Kì dị ở chỗ gã ngồi kiểu này tuy vẫn ngứa như cũ nhưng hơi thở nhẹ nhàng hơn. Vì vậy nên gã không muốn rút đầu ra khỏi chân mà cứ để nguyên vậy gục xuống đất.


Gã gục đầu như vậy thì hai mắt càng gần sách hơn. Gã nhìn lại ảnh nhà sư đột nhiên thấy người trong tranh vẽ có những sợi dây rất nhỏ. Vì sách cũ quá, màu giấy đã vàng khè và xám xịt, nên chẳng thấy gì.


Du Thản Chi cảm thấy tay mặt ngứa một cách kì lạ, mắt gã cũng ngẫu nhiên nhìn vào cánh tay phải nhà sư trong đồ hình, bỗng thấy từ cánh tay này có sợi dây nhỏ thông lên đến cổ họng rồi chuyền xuống trước ngực đi vòng vèo đưa ra hai vai rồi lên đến đỉnh đầu.


Du Thản Chi nhìn sợi dây nhỏ đó thì trong lòng tự nhiên cảm thấy tựa hồ như tay phải ngứa ghê gớm, có một luồng hơi ấm áp đi theo những đường như sợi dây, từ cổ họng xuống trước ngực rồi từ hai vai đến đỉnh đầu, dần dần biến mất.


Gã tiếp tục đưa luồng tư tưởng theo những đường chỉ trong đồ hình mấy lần và mỗi lần đều thấy một luồn khí ấm thông vào đầu óc, rồi cánh tay đang ngứa cũng bớt dần đi.


Du Thản Chi cảm thấy rất là kì lạ, gã chẳng hoài công suy xét nguyên do tại sao? Chỉ cho luồng tư tưởng tiếp diễn như vậy đến ba mươi mấy lượt. Cánh tay chỉ còn hơi ngứa gã làm thêm mười lần nữa thì từ cánh tay cho đến bàn tay không còn thấy gì nữa.

Bấy giờ gã mới rút đầu ra khỏi đôi chân.

Gã giơ bàn tay lên xem thì những quầng đen trên tay cũng đều biến mất.


Du Thản Chi đang mừng rỡ bỗng la lên:


- Chao ôi! Thôi hỏng rồi! Nọc rết kịch độc đã chuyền vào mình cả rồi.




Nhưng dù sau gã hết được cơn ngứa kì dị đã thấy đỡ khổ, còn những mối lo gì hãy bỏ đó. Gã lẩm bẩm:


- Việc đời kể ra cũng lạ, mình ngẫu nhiên đưa đến kiểu ngồi như hòa thượng này là nghĩa làm sao? Phải chăng đó là ý trời?




Thật ra hình vẽ trong sách là một diệu pháp để trút bỏ những mối ưu phiền trong lúc luyện công.


Du Thản Chi đang rất khổ sở đến cực độ biến diễn ra cách đó chứ không phải do sự ngẫu nhiên mà gặp.


Nên biết rằng "Vướng cổ thì ho, ăn no quá thì mửa." Ðó là tính cách tự nhiên của con người. Du Thản Chi đang lúc ngứa ngáy khổ sở thì gục đầu xuống cũng chỉ là một tập quán tự nhiên chẳng có gì lạ. Có điều cuốn sách rớt xuống lại tự nhiên mở ra đúng tranh đó thì quả là một sự ngẫu hợp... Còn bao là ý trời ban phước hay gieo họa thì còn khó mà biết được.


Du Thản Chi ngơ ngẩn một lúc, gã mệt quá lăn ra ngủ.




Sáng sớm hôm sau, gã vừa thức giấc mở chăn ra đã thấy A Tử lật đật đi vào điện.

Nàng thấy Du Thản Chi thân thể lõa lồ bộ dạng kì quái thì la lên một tiếng kinh ngạc rồi hỏi:


- Mi vẫn chưa chết ư?


Du Thản Chi giật mình rồi vội kéo chăn trùm lên che mình rồi đáp:


- Tiểu nhân chưa chết.


Rồi gã lẩm bẩm:


- Té ra nàng tưởng mình chết rồi!


A Tử nói:


- Mi chưa chết thì hay lắm! Mau mặc quần áo rồi theo ta đi bắt trùng độc.


Du Thản Chi vâng lời ngay.




A Tử ra ngoài rồi gã nói với tên quân Khất Ðan lấy cho một bộ áo.

Tên quân Khất Ðan này thấy gã hàng ngày đi theo A Tử, ngĩ rằng gã được quận chúa thương yêu, liền kiếm một bộ y phục lành lặn sạch sẽ cho gã thay.


Du Thản Chi theo A Tử ra khỏi cung như mấy hôm.

Nàng đem đỉnh ngọc đốt hương dẫn dụ trùng độc bắt về.

Sau cùng cũng chọn một con độc nhất cho ăn tiết gà, rồi cho hút máu Du Thản Chi để đem ra luyện công.


Du Thản Chi lại chiếu theo đồ hình trong sách để hóa giải độc.


Lần thứ hai là con nhện xanh hút máu gã.

Lần thứ ba là con bò cạp lớn.

Lần nào A Tử cũng chắc là gã cũng phải chết, thế mà gã vẫn không sao, nàng không khỏi đem lòng ngờ vực.


Cuộc bắt những trùng độc của A Tử tiếp diễn sau ba tháng thì bên ngoài thành Nam kinh trong vòng mười dặm, rắn rết độc mỗi ngày một ít đi, rồi chỉ còn những con không độc mấy, không hợp ý A Tử. Càng về sau hai người càng phải đi xa thêm.




Một hôm hai người ra ngoài thành phía tây hơn ba mươi dặm.

A Tử thắp hương liệu lên chờ hồi lâu mới thấy trong đám cỏ rậm có tiếng sột soạt.

A Tử hô lên:


- Cúi thấp xuống!


Du Thản Chi vội phục xuống, thoáng nghe những tiếng phì phì.

Trong tiếng kì dị này có lẫn mùi tanh hôi, khiến người phải buồn nôn. Du Thản Chi nín thở không nhúc nhích, bỗng thấy trong đám cỏ dại rẽ ra hai bên, một con trăn lớn, mình trắng chấm đen từ phía Tây đi qua phía Ðông.


Ðầu con trăn này hai mang bành ra hình tam giác. Trên đầu nhô lên một miếng thịt sù sì.


Ở phương Bắc vốn rất ít rắn rết.

Du Thản chi chưa thấy con trăn hình thù quái dị này bao giờ. Con trăn chạy đến bên đỉnh ngọc, rồi đi vòng quanh chiếc đỉnh. Nhưng thân nó dài hơn trượng, mình to bằng cánh tay thì làm thế nào chui vào trong đỉnh được? Nó ngửi thấy mùi thơm rồi nó cứ đập cái đầu vào đỉnh"cốp cốp."


A Tử không ngờ mùi hương lại dẫn dụ cả con vật lớn đến thế. Nàng kinh dị vô cùng chưa có ý định ra sao.

Nàng khẽ bò đến bên Du Thản Chi hỏi nhỏ vào tay gã:


- Làm thế nào bây giờ? Nếu để con trăn đập vỡ đỉnh ngọc thì hỏng bét!

Du Thản Chi vừa nghe tiếng oanh thỏ thẻ lại hơi ấm lọt vào tai là một chuyện suốt đời gã chưa được thấy bao giờ.

Gã lấy làm vinh hạnh vô cùng liền đáp:


- Không hề chi! Tiểu nhân ra đuổi nó đi!


Nói xong gã đứng dậy rào bước đến gần con trăn. Con trăn vừa nghe thấy tiếng động, lập tức ngẩn đầu lên, thè lưỡi đỏ hỏn ra phun phè phè, sắp nhảy chồm lại.


Du Thản chi thấy vậy sợ hãi chưa dám tiến lên, gã toan nhặt viên đá để toan ném nó, nhưng lại sợ làm vỡ đỉnh ngọc.


Gã còn đang phân vân chưa biết làm thế nào, bỗng thấy một luồng gió lạnh thổi vào mặt, khiến gã kinh hãi rùng mình cúi đầu xuống xem thì thấy từ góc Tây Bắc có một dây lửa cháy đi tới. Chỉ trong khoảnh khắc dây lửa cháy đến trước mặt.


Lúc gần đến thì nhìn rõ không phải là dây lửa mà trong bụi cỏ có vật gì bò lại. Làn cỏ xanh gặp phải vật đó trở thành cỏ khô vàng úa trông xa như lửa cháy. Khí lạnh ở dưới chân gã mỗi lúc một lạnh buốt thêm. Gã lùi lại mấy bước thì thấy vết cỏ khô vàng đi dần dần về phía đỉnh ngọc. Con vật đó là một con tằm.


Con tằm này trắng như ngọc có ẩn hiện sắc xanh khác với con tằm thường. Nó lớn hơn con tằm thường nhiều và giống như con giun. Mình nó trong suốt như thủy tinh.


Con trăn khí thế hung hãn ngẩng đầu lên vừa thấy con tằm này thì tựa hồ như sợ lắm. Nó rút đầu lại để dấu dưới mình.





Con tằm trong suốt bò mau lạ thường qua mình con trăn chẳng khác nào cục than hồng. Nó bò đến đâu xương sống con trăn cháy thành tro đến đó. Lúc bò lên đến đầu, con trăn bị xẻ đôi tựa như một lưỡi dao rạch dọc.


Con tằm chui vào túi nọc độc bên mang con trăn để hút nọc một lát là hết ráo. Mình con tằm chướng lớn lên gấp đôi.

Ðứng xa trông chẳng khác một bình thủy tinh bên trong đựng một thứ nước xanh xanh.


A Tử vừa mừng vừa sợ khẽ nói:


- Con tằm này ghê gớm quá. Quả là ông vua trong các loại nọc độc.


Du Thản Chi trong lòng hồi hộp nghĩ thầm:


Giả tỷ con tằm này mà hút máu mình thì còn chi là tánh mạng.


Con tằm đi một vòng quanh cái đỉnh ngọc, bò qua bò lại, nó đi tới đâu thành chết đến đấy. Nhưng tựa hồ như nó biết rằng nếu chui vào trong đỉnh tất là phải chết nên chỉ quyện vòng ngoài mà thôi.


Nó quyện đi quyện lại một lúc thì bỏ đi về hướng Tây Bắc.


A Tử la lên:


- Ta phải rượt theo nó cho mau!

Nàng lấy tấm khăn đoạn ra bọc đỉnh lại rồi lên ngựa chạy theo con tằm.

Du Thản Chi lết thếch chạy theo A Tử.


Con tằm tuy nhỏ, mà nó chạy rất lẹ, cũng may là nó để vết đen lại mới biết đường mà đuổi theo, nếu không thì đã mất hút ngay từ lúc đầu.


Hai người chạy theo một mạch chừng ba bốn dặm bỗng nghe phía trước có tiếng nước chảy róc rách, thì ra đã đến bờ suối, và không thấy dấu vết đâu nữa.

A Tử nhìn sang bờ suối bên kia, cũng không thấy vết con tằm bò lên, dĩ nhiên là nó lặn xuống suối rồi. Nàng bực mình dặm chân oán trách Du Thản Chi:


- Mi phải tìm kiếm kì được bắt nó đem về cho ta, không thì đừng vác mặt về ra mắt ta nữa.


Nói xong nàng xoay mình nhảy tót lên ngựa về thành Du Thản Chi rất đỗi hoang mang, đành theo dọc bờ suối đi về phía hạ lưu để tìm. Gã đi đến bảy tám dặm đường.




Lúc trời đã hoàng hôn, đột nhiên gã thấy giữa đám bụi rậm bờ bên kia có một vệt đen thì mừng rỡ vô cùng, gọi ầm lên:


- Cô nương! Cô nương! Tiểu nhân kiếm thấy nó rồi!


Nhưng A Tử đi xa từ lâu rồi.


Du Thản chi lội xuống suối qua bờ bên kia, cứ theo vệt đen mà đi. Vệt đen này theo sườn núi đến khu thung lũng trước mắt.


Du Thản chi trong lòng phấn khởi nên chạy rất nhanh. Gã ngẩng mặt nhìn lên đầu núi có một ngôi chùa, cách kiến trúc cực kì hùng vĩ.


Du Thản chi ngẩng đầu lên trông, trước cổng chùa có tấm biển đề năm chữ lớn "sắc kiến Mẫn Trung Tự" Gã chẳng còn lòng nào mà ngắm phong cảnh miếu điện, chỉ lủi thủi theo vệt đen bên sườn núi mà đi quanh co mấy chỗ ở phía sau.


Bỗng trong chùa có tiếng chuông, tiếng khánh, tiếng mõ và tiếng tụng kinh. Chư tăng đang bận khóa lễ, thanh âm nhộn nhịp dường như khá đông người.


Du Thản Chi từ khi trên đầu chụp lồng sắt, đã tự thẹn với hình thù kì dị của mình, không dám xuất hiện trước mặt mọi người. Gã sợ chư tăng trông thấy, liền men theo chân tường lầm lũi mà đi. Gã thấy vệt đen đi qua một khu bùn lầy rộng lớn rồi ra đến khu vườn rau.


Du Thản Chi mừng thầm chắc trong vườn không có người, gã chỉ cần con tằm đang ăn rau tại đó, thì bắt được ngay. Gã rảo bước đi về phía vườn rau.

Ðến chân dậu lập tức dừng bước, vì nghe trong vườn có tiếng người đang mắng nhiếc.

Gã nghe rõ:


- Mi không giữ kỉ luật, một mình bỏ đi rong chơi khiến cho lão sợ hết hồn nửa ngày trời chỉ lo mi đi rồi mất biền biệt không về nữa. Lão đem mi từ đỉnh núi Côn Luân đường xa muôn dặm tới đây, mà mi chẳng biết cái công trình khổ nhọc của lão đối với mi. Mi như vậy là mi tự hại bước tiến trình của mi đó, không còn ai thương mi nữa.





Nghe giọng người này ra chiều căm hận nhưng vẫn đầy vẻ thương yêu và kì vọng rất nhiều, chẳng khác gì lời cha mẹ dạy một đứa con bướng bỉnh hư đốn.


Du Thản Chi lẩm bẩm:


- Lão nói cái gì đem từ núi Côn Luân, đường xa muôn dặm tới đây xem chừng như lão là sư phụ hay là bộc tiền bối người nào đó, chứ không phải là phụ thân.


Du Thản Chi vừa nghĩ, vừa nép mình vào bên dậu để ngó trộm thì thấy lão đó là một vị hòa thượng.


Nhà sư này thấp lủn thủn mà béo chùn béo chụt, người tròn ủng như trái bóng. Chính ra đã là người tu hành tất nhiên đầu trọc, nhưng đặc biệt nhà sư vẫn để tóc dài, tay chân mặt mũi cũng đầy lông lá. Nhưng quần áo nhà sư mặc trên người rất là sạch sẽ, thật là chẳng nhuốm bụi trần.


Bỗng nhà sư trỏ tay xuống đất, vẻ mặt căm tức mắng nhiếc không ngớt miệng.


Du Thản chi nhìn theo tay nhà sư chỉ thì vừa kinh dị vừa mừng thầm.

Té ra nhà sư kia nào phải đang trách mắng ai đâu, mà chính đang thống mạ con tằm kì dị.


Tưởng nhà sư lùn cổ quái nhất là lão cất tiếng mắng nhiếc con tằm thì lại là một điều không thể tưởng tượng nổi.


Du Thản Chi thấy ở dưới đất con tằm đang chạy tới chạy lui dường như muốn tìm đường chạy thoát, nhưng tựa hồ như nó đụng đầu vào bức tường vô hình và lập tức rụt lại chuyển hướng.


Du Thản Chi chú ý nhìn thấy dưới đất có vạch một vòng tròn sắc vàng.

Con tằm tả xung hữu đột mà thủy chung không sao vượt khỏi cái vòng.

Bấy giờ gã mới tỉnh ngộ, lẩm bẩm một mình:


- À phải rồi! Nhà sư đã dùng một thứ thuốc để vẽ vòng tròn kia mà thuốc này lại kị với con tằm đó, khác nào rắn sợ hồng hoàng.


Nhà sư lùn nhiếc mắng một hồi rồi lấy trong bọc ra một vật gì cắn ăn ngấu nghiến, nhìn kĩ thì thấy cái đầu dê nướng chín rồi. Lão ăn một cách ngon lành. Lão móc trên đầu cột một bầu cũ kĩ và rách nhiều chỗ, mở nút ra, rồi ngửa cổ dốc bình vào miệng nuốt ừng ực một hồi.


Du Thản Chi ngửi thấy mùi thơm biết ngay bầu này đựng rượu ngon.

Gã lẩm bẩm:


- Té ra nhà sư này uống rượu ăn thịt. Xem chừng lão nuôi con tằm này và quý báu vô cùng! Mình biết làm thế nào để lấy cắp đây?


Du Thản Chi còn đang ngẫm nghĩ, chợt góc vườn bên kia có tiếng người gọi:


- Tam Tĩnh! Tam Tĩnh!

Nhà sư lùn nghe thấy giật mình hoảng hốt giấu vội cái đầu dê cùng bầu rượu vào đống rơm. Bên ngoài tiếng người kia lại gọi dồn:


- Tam Tĩnh! Tam Tĩnh! Ngươi ẩn vào đâu mà kín thế? Sao không lên cúng phật?


Nhà sư lùn vội nhắc cái cuốc chạy ra luống rau vừa cuốc vừa nói:


- Tôi còn xới rau mà! Phương trượng bảo phải ráng sức trồng rau, có được rảnh đâu mà cúng Phật?


Người kia đi lại gần.

Du Thản Chi ngó trộm thấy một nhà sư đứng tuổi vẻ mặt nghiêm trang tựa hồ như bao phủ một làn sương mờ lạnh lùng nói:


- Một ngày hai khóa cúng: sáng và chiều, ai cũng phải đông đủ. Ngươi lên dự khóa cúng xong rồi xuống xới rau.


Nhà sư thấp lùn pháp danh là Tam Tĩnh nói:


- Vâng.





Rồi bỏ cuốc theo nhà sư đứng tuổi đi ngay. Lão không dám ngoái đầu nhìn lại con tằm, tựa hồ như sợ nhà sư đứng tuổi kia phát giác.


Du Thản Chi chờ cho hai người kia đi ra rồi lắng tay nghe bốn bề vẳng lặng như tờ, gã lẩm bẩm:


- Trên chùa đang khóa cúng Phật, các nhà sư đều trên Tam Bảo, mình không đánh cắp con tằm thì biết đợi đến khi nào?


Gã liền từ chân giậu chui ra, thấy con tằm vẫn chạy lăng xăng không ngớt, bụng bảo dạ:


- Làm thế nào bắt được nó bây giờ?


Gã ngây người ra một lúc ngẫm nghĩ cách bắt con tằm, rồi chạy lại đống rơm, móc cái bầu ra, giơ lên lắc lắc, Gã thấy hãy còn đến nửa bầu rượu, gã uống liền mấy hơi, còn thừa dổ xuống vườn rau, gã từ từ để miệng bầu quay vào phía trong vòng tròn vẽ dưới đất.


Con tằm bò một lát đến miệng bầu quả nhiên chui lọt vào trong.


Du Thản Chi cả mừng bịt nút miệng bầu lại hai tay bưng bầu chui qua dậu ba chân bốn cẳng theo đường cũ chạy về.




Du Thản chi ra khỏi chùa Mẫn Trung mới được vài chục trượng thì cái bầu tiết ra khí lạnh tê người chẳng khác gì cầm một tảng băng.

Gã hết đổi bầu từ tay phải sang tay trái, rồi lại từ tay trái sang tay phải. Nhưng cái bầu lạnh thấu xương không thể nào cầm được.

Du Thản Chi để lên đầu đội thì càng lại không xong vì khí lạnh truyền qua cái lồng sắt thấu vào óc buốt không chịu nổi các mạch máu trong cơ thể hồ như đông lại không lưu thông được.


Du Thản Chi gặp tình trạng cấp bách nghĩ ra được một kế .

Gã cởi dây lưng ra buộc vào cổ bình rồi xách đi. Dây lưng không truyền khí lạnh mới cầm đi nhanh được. Hơi lạnh trong bầu chỉ tiết ra trong khoảnh khắc phía ngoài bầu một tầng sương lạnh đóng váng.


Du Thản Chi rảo nhanh về đến ngoại thành Nam Kinh thì trời đã khuya. Cổng thành đã đóng rồi gã đành phải ngủ ngoài một đêm.



Sáng sớm hôm sau gã mới vào cung Ðoan Phúc, trình A Tử là đã bắt được con tằm mang về.


A Tử nghe nói cả mừng, bỏ tằm vào trong lọ sành để nuôi.




Hồi đó đã sang tháng năm vào tiết đầu hạ khí trời ấm áp. Thế mà nuôi một con tằm bên trong điện phủ, khí lạnh trong điện mỗi lúc một lân cao chẳng mấy chốc mà bình trà chén nước đều đóng băng.


Ðêm hôm ấy Du Thản Chi ngủ tại đó, rét run lên bần bật suốt đêm không sao ngủ được.

Gã nghĩ lẩn thẩn: "Con tằm này thật là kì dị thiên hạ hiếm có. Giả tỷ cô nương cho nó hút máu mình dù chẳng bị nọc độc làm cho uổng mạng thì cũng chết cóng."


A Tử thấy con tằm phát ra khí lạnh kì dị thì biết con vật hạn hữu. Nàng tiếp tục đi bắt những rắn độc, trùng độc đem về cho đấu với con tằm. Con tằm chỉ quanh một vòng đi đủ làm cho con vật kia lạnh cóng rồi nó hút lấy chất nước trong mình con vật bị chết.


A Tử thử luôn mười mấy ngày như vậy, không còn giống trùng nào có thể chống cự được với con tằm nữa.



Một hôm A tử vào Thiên điện bảo Du Thản Chi:


- Bữa nay ta giết con tằm bóng rọng (trong suốt) kia. Mi thò tay vào trong lọ để cho nó hút máu!


Du Thản chi mấy hôm nay ban ngày lo sốt vó, ban đêm nằm mơ thấy toàn chuyện hãi hùng. Bây giờ gã thấy nàng chẳng chút rộng tình bắt mình phải hy sinh cho con tằm. Trong lòng gã siết nỗi thê lương! Cặp mắt đăm đăm nhìn A Tử nhưng gã không nói gì cũng không nhúc nhích.


A Tử ngồi xếp bằng tĩnh tâm vận nội công, hí hửng mừng thầm bụng bảo dạ:

- Ngẫu nhiên ta được vật dị bảo này về luyện Hoa Công Ðại Pháp. Sự thành tựu của ta biết đâu chẳng lợi hại hơn sư phụ ta?


Nàng giục Du Thản Chi:


- Mi thò tay vào trong lọ đi!


Du Thản Chi nước mắt tuôn rơi, quỳ xuống lạy A Tử nói:


- Cô nương ơi! Khi cô nương luyện xong độc chưởng thần công rồi, đừng quên kẻ tiểu nhân này đã chết vì cô nương. Tiểu nhân họ Du tên Thản Chi, chứ không phải là Thiết Sửu, Ðồng Sửu gì ráo!


A Tử tủm tỉm cười nói:

- Ðược rồi ngươi tên Du Thản Chi! Ta nhớ kĩ lắm! Mi đối với ta một dạ trung thành, ta coi ngươi là một đứa nô bộc trung nghĩa.

Du Thản Chi nghe A Tử khen mình gã, gã cảm thấy cõi thấy cõi lòng được an ủi rất nhiều trước khi nhắm mắt, gã dập đầu lạy hai lạy rồi nói:


- Ða tạ cô nương!


Nhưng ai mà chả có lòng ham sống sợ chết.

Du Thản Chi không muốn bó tay chịu chết gã nghĩ đến bữa trước bị rắn rết cắn, nhờ phép vận công của nhà sư trong đồ hình mà thoát chết, bữa nay gã lại đem cách đó ra thử.

Gã đứng vững hai chân, cuối mình luồn đầu qua hai chân rồi thò tay phải vào trong lọ, đồng thời tâm niệm một sợi chỉ vàng xâu trong người nhà sư vẽ trên hình đồ.


Ðột nhiên ngón trỏ thấy hơi ngứa ngáy, một luồn khí lạnh chui vào trong tâm.

Gã đã chuẩn bị từ trước, tâm tâm niệm niệm vào đường chỉ vàng, quả nhiên thấy luồng khí lạnh đi theo mạch lạc hẳn hòi, đúng như luồng sợi chỉ vàng mà hắn đang để tâm suy nghĩ. Luồng khí lạnh từ trong tâm ra ngón tay rồi lại về cánh tay... Sau cùng chuyền lên đỉnh đầu...


Luồng khí lạnh này nhỏ xíu nhưng lạnh vô cùng, Du Thản Chi phải nhẫn nại lắm mới chịu nổi!


A Tử thấy kiểu cách của Du Thản Chi vừa lấy làm lạ vừa buồn cười, nàng động tính hiếu kì lại gần coi thì thấy con tằm kia đang cắn chặt đầu ngón tay trỏ Du Thản chi. Mình con tằm trong suốt như thủy tinh, nàng trông thấy rõ một dây máu do miệng tằm hút vào, chạy qua mé tả, sang mé hữu, đưa ra miệng rồi trở về người Du Thản chi.


Từ đầu sắt cho đến quần áo cùng chân tay gã đều bao phủ một màn sương bạc.


A Tử lẩm bẩm gã này chết rồi! Trong mình người sống có một luồng nhiệt khi phát ra thì khi nào sương đóng thàng băng thì được.


Nàng lại thấy trong mình con tằm vẫn có máu chuyển động rõ ràng đó là chưa hút hết sức. Nàng định chờ cho nó no lăn rồi mới đập chết lấy huyết luyện công. Nàng để hết tâm trí chăm chú theo dõi cuộc diễn biến.

Ðột nhiên trên mình con tằm có một luồng nhiệt khí toát ra.


A Tử còn đang kinh hãi bỗng nghe"tạch"một tiếng, con tằm từ ngón tay Du Thản Chi rớt xuống.

Trong tay A Tử đã cầm sẵn một cây côn gỗ, liền đập xuống.


Con tằm này bản tính rất linh mẫn, chính ra khó lòng đánh trúng nó. Dè đâu nó rơi xuống đáy lọ rồi ngửa bụng lên, cựa quậy một lúc mà không sao trở mình lên được nên cây côn của A Tử vừa đánh xuống con vật đã nát nhừ.


A Tử cả mừng, A Tử vội mừng vội thò tay vào lọ lấy nước trấp dịch trong mình con tằm xoa vào hai bàn tay, rồi nhắm mắt vận công cho huyết dịch thấm vào tay. Nàng biết rằng con tằm này là vật chi bảo không phải một lúc mà tìm được ngay, nên nàng lấy nước đó sát hết lần này đến lần khác để luyện công, kì cho đến lúc khô kiệt mới thôi.


A Tử vất vả nửa ngày trời, bây giờ nàng mới duỗi chân đứng dậy vãn thấy Du Thản Chi đứng kiểu đó, và khắp người chỗ nào cũng phủ một làn sương đóng lại trắng xóa. Nàng lấy làm kinh dị, đưa tay sờ vào người gã thì thấy giá buốt vô cùng, phải co lại ngay. Quần áo gã cũng đều đóng băng cứng nhắc.


A Tử chẳng hiểu ra sao, ngơ ngác đứng nhìn gã hồi lâu mới bỏ đi.




Hôm sau A Tử đến thiên điện xem thấy Du Thản Chi vẫn đứng nguyên như cũ, băng giá đóng lạitrên người gã dày thêm một lớp nữa.


Nàng vừa kinh hãi vừa buồn cười cho gọi Thất Lý đến, sai y đem xác Du Thản Chi đem chôn.


Thất Lý dẫn mấy tên quân Khất Ðan khiêng xác Du Thản Chi bỏ vào xe ngựa.

A Tử dặn Thất Lý chôn cất cẩn thận. Nhưng gã Thất Lý chẳng buồn cất công đào lỗ chôn táng, ném xác Du Thản Chi xuống khe nước rồi trở về thành.


Không ngờ cái tính lười nhác của Thất Lý lại cứu được mạng sống của Du Thản Chi.


Nguyên ngón tay gã bị con tằm cắn, đáng lí ra phải dùng phép vận công trong Dịch cân kinh để giải độc.

Pho dịch cân kinh do thủ bút của Ðạt ma lão tổ để lại. Trong kinh này truyền cho những người có nội công tối cao theo phép mà làm.

Du Thản Chi sau khi bị con tằm hút máu, máu lại nhập về ngón tay vào huyết quản, đồng thời đem những tinh hoa của con vật độc nhất thiên hạ là con tằm giá lạnh kia đưa vào thân thể. Giả tỷ gã đã luyện hết toàn bộ pháp quyết trong Dịch Cân Kinh thì gã có thể đẩy chất độc ra ngoài. Nhưng gã chỉ nhìn theo tranh vẽ rồi theo phép hàng công, chất độc vào rồi không biết cách trụt ra chứa chất độc con tằm vào trong người.

Chất kịch độc này thuộc loại âm hàn, thêm vào đó những chất độc khác của con rết, nhện, rắn... đã chứa sẵn trong người gã.

Mấy chất độc chồng chất lên làm cho gã chết cứng.


Giả tỷ, Thất Lý đem xác gã chôn xuống đất thì mấy trăm năm sau xác lão vẫn cứng đơ, chưa chắc đã tiêu hóa được. Ðằng này xác gã hất xuống suối, từ từ chảy xuôi, chảy được chừng hai mươi dặm thì dòng nước đến chỗ quanh co và chật hẹp xác gã bị vướng đám lau sậy. Chẳng bao lâu nước quanh chỗ gã đóng lại thành băng trông tựa hồ xác gã đã đưa vào quan tài bằng thủy tinh.


Nước suối tiếp tục cọ sát không ngớt, làm cho khí lạnh trong người Du Thản Chi giảm xuống dần dần rồi sau cùng khối băng quanh người lão từ từ tan ra.


May mà đầu gã chụp lồng sắt, chất sắt mau nóng mà cũng mau lạnh. Vì thế nước bọc trong ngoài lồng sắt tan trước.


Du Thản Chi bị nước tràn vào miệng ho một lúc, đầu óc tỉnh táo lại. Gã từ lòng suối bò lên, toàn thân còn lại những mảnh băng chạm vào nhau lách cách.

Gã mơ màng như người đang nằm mộng tỉnh giấc.


Lúc người bắt đầu lạnh cứng, không phải gã chết tri giác. Có điều bị băng đóng chặt chung quanh không sao nhúc nhích được.





Du Thản Chi ngồi bờ suối nhớ lại, mình đối với A Tử hết dạ trung thành, nguyện đem thân nuôi trùng độc cho nàng luyện công. Thế mà mình chết rồi. A Tử tuyệt không một tiếng thở dài.


Gã bị băng đóng chung quanh người trông ra rất rõ. Gã thấy A Tử hớn hở tươi cười lấy huyết con tằm ra đổ trên bàn tay luyện công. Gã nhìn thấy A Tử ngoẹo cổ, nhìn xác mình, dường như cái chết của mình khiến nàng thú vị tuyệt không có chút gì là thương tiếc mình.


Gã tự nhủ: "con tằm kia đủ chất độc, nó đánh ngã bao nhiêu loại trùng độckhác. Cô nương lấy huyết dịch nó luyện vào bàn tay chắc là môn độc chưởng luyện xong rồi. Nếu mình về xem nàng...


Ðột nhiên người gã run bắn lên, gã lẩm bẩm:


- Cô nương mà thấy mặt mình, chắc đem mình ra thử độc chưởng, nếu độc chưởng luyện xong thì chỉ một chưởng thì mình toi mạng. Nếu chưa thành thì nàng bắt mình đi bắt trùng độc cho đến khi nào luyện xong độc chưởng, rồi bấy giờ lại thử chưởng thì mình cũng hết sống. Ðằng nào cũng chết, mình trở về đó làm cóc gì.


Gã đứng dậy nhảy lên mấy bước cho những hòn băng còn đọng ttrên người hay trong quần áo rơi hết ra rồi tự hỏi:


- Ta biết đi đâu bây giờ?


Còn đang phân vân bỗng nghe tiếng cười khanh khách như tiếng nhạc vàng thuận theo chiều gió đưa lại rồi thanh âm một thiếu nữ thỏ thẻ nó:


- Tỉ phu ơi! Lâu nay tỉ phu không đi chơi với tiểu Muội, bây giờ du ngoạn lâu thêm một chút không được sao?


Giọng nói trong trẻo ỏn thót này có lẫn cả phần cám dỗ không phải A Tử thì còn ai vào đây? Du Thản Chi cả kinh nghĩ:


- Làm sao cô nương ấy đến được đây? Dường như nàng đi với Kiều Ðại vương?


Tiếp theo là tiếng vó ngựa dồn dập, hai con ngựa từ đàng xa phóng tới. Du Thản Chi nhìn bốn phía không thấy chỗ nào ẩn lánh được, gã đành co rúm người lại, nằm phục đám cỏ rậm sau gốc cây, gã vừa cử động một cái thì Kiều Phong trông thấy ngọc cỏ phất phơ đằng xa, liền nói:


- A Tử trong đám cỏ rậm sau cây kia có con dã thú, chưa hiểu là chó sói hay hươu nai.


A Tử cười nói:


- Mắt tỉ phu tinh thật! Còn ở xa thế mà đã trông rõ.




Nói xong phóng ngựa lại gần, vẫn còn e con thú chạy trốn mất, khi hai người cách bụi cỏ vừa tầm mũi tên, bỗng nghe: "vèo" một mũi tên bắn ra, Du Thản Chi không dám nhúc nhích, đành gửi tính mạng cho số trời, may mà Kiều Phong cùng A Tử không trông thấy rõ, mũi tên say xít qua đầu, cắm vào gốc cây. Giả tỉ tên trúng vào lồng sắt thì dù gã không đến nỗi bị thương nhưng tên chạm vào bật ra tiếng vang, tất Du Thản Chi bị lộ tung tích.


Lại khéo làm sao trong đám cỏ này có hai con thỏ rừng.

Phát tên A Tử bắn tới, chúng kinh hãi phải chạy ra bon bon chạy trốn về phía trước.


A Tử cười nói:


- Chà chà! Phen này tỉ phu trông sai rồi! Chỉ có hai con thỏ làm gì có chó sói, với hươu nai?


Nói xong giục ngựa tiến lên. Véo véo!

Hai mũi tên bay ra, cặp thỏ trúng tên ngã quay.


A Tử ngồi trên ngựa nhặt lấy hai con thỏ thì bất thình lình bên kia bờ suối có tiếng người hỏi:


- Tiểu cô nương! Cô nương có thấy con hàn độc trùng của tôi đâu không?


A Tử ngẩn đầu lên thì thấy người gọi mình là một nhà sư hình dong cổ quái.

Nhà sư này thấp lủn thủn mà béo chùn béo chụt, người tròn ủng chẳng khác nào một quả bóng khổng lồ.





Du Thản Chi nấp trong đám cỏ rậm cũng trông rõ thì đúng là Tam Tĩnh hòa thượng ở sau vườn rau chùa Mẫn Trung. Con tằm kia được nhà sư này nuôi. Y gọi là Hán Ngọc trùng thì đúng là tên thực của con tằm.

Gã lẩm bẩm:


- Con tằm đó đã bị cô nương đập chết rồi. Nhà sư này hỏi lại đúng cô ta!


Bỗng thấy A Tử ngẩn người ra rồi cười khanh khách nằm phục xuống lưng ngựa không ngẩng lên nữa.


Tam Tĩnh nổi giận nói:


- Ta có con tằm trắng, hễ nó đi đến đâu là cây cỏ cháy đến đó. Mi có trông thấy không? Cớ sao lại cười?

A Tử nhìn Kiều Phong nói:


- Tỉ phu coi kìa! Quả bóng khổng lồ tròn ủng kia có đáng buồn cười không?


Kiều Phong nghiêm mặt nói:


- Tuồng con nít nói năng chẳng biết điều kính trọng, không được vô lễ với đại sư phụ.


Ông thấy Tam Tĩnh tướng mạo kì dị, tiếng nói sang sảng như tiếng chuông đồng, rõ ràng là một tay bản lãnh cao cường, lại nghe nhà sư đi tìm con Hàn Ngọc trùng chi chi thì biết ngay là không phải vật tầm thường.


A Tử nói:


- Ðại hòa thượng ơi! Hòa thượng nuôi con tằm đó ư?


Tam Tĩnh vội nói:


- Phải rồi! Phải rồi! Tôi đem nó từ núi Côn Luân đường xa muôn dặm tới đây. Cô nương đã nhìn thấy nó, xin làm ơn trỏ đường cho.


A Tử nói:


- Con tằm đó đi qua đâu thì có một vệt đen kéo theo phải không? Mình nó lạnh vô cùng nên bất luận cái gì xung quanh đều đóng lại thành băng, có đúng không?


Tam Tĩnh nói:


- Ðúng rồi! Ðúng rồi! Không sai một li nào hết.


A Tử cười nói:


- Hôm qua tôi thấy con tằm đó đánh nhau với con rết, và bị rết cắn chết rồi.


Tam Tĩnh tức giận nói:


- Thúi lắm quân chó đẻ! Con Hàn ngọc Trùng của ta là vua độc trong thiên hạ. Bất luận rắn độc hay trùng độc nào thấy nó cũng đều sỡ hãi không dám nhúc nhích, có lí đâu bị rắn cắn được?


A Tử thấy lão nói thô tục thì càng chọc tức thêm:


- Thầy chùa không tin thà thôi. Hôm qua tôi cũng thấy một con tằm lớn trong suốt như thủy tinh, thấy hình dạng cổ quái nên giẫm chết rồi! Tam Tĩnh nhảy chồm lên một cái đã xa hơn trượng trông chẳng khác chi quả bóng bật lên trên không.

Lão cất tiếng chửi:


- Tổ mẹ mười tám đời nhà ngươi! Con Hán Trùng Ngọc của ta linh hoạt như gió, nếu mi không có thuốc kị thì làm sao chế phục được nó. Mi chưa dẫm vào nó thì nó đã cắn ngươi toi mạng rồi.





A Tử thò tay vào bọc, lấy ra gói nhỏ. Nàng mở gói ra thì đúng là xác con tằm kì dị đó. Con tằm này bị côn gỗ đập chế huyết dịch phọt ra còn đọng đóng lại thành băng cứng đờ.


Nguyên A Tử biết xác con tằm này chắc còn có chỗ dùng được việc, nên gói lại đem theo.


Tam Tĩnh thấy con tằm quí của mình quả nhiên đã chết rồi. Sắc mặt lão nhợt nhạt như xác chết trôi. Người lảo đảo, đột nhiên lão nằm phục xuống đất khóc rống lên một hồi rồi bất thình lình đưa tay ra cướp lấy xác con tằm ôm vào lòng vừa khóc vừa nói:


- Con ơi! Ta trăm cay nghìn đắng đưa con từ núi Côn Luân đến đây. Con không nghe lời ta, một mình đi du ngoạn để con tiện tì kia dẫm chết!


Lão càng khóc càng thê thảm, sau nghẹn ngào khóc không ra tiếng nữa.


A Tử vỗ tay cả nói:


- Hay quá! Hay quá!


Kiều Phong là người hiểu rộng biết nhiều, ông chắc chắn nhà sư không để yên ông cầm cương ngựa toan đứng chắn trước người A Tử để hộ vệ cho nàng rồi hãy kiếm lời từ tạ nhà sư.

Nào ngờ Tam Tĩnh đại sư chưa dứt tiếng khóc đã nhảy vọt lên như quả bóng nhằm lao xuống A Tử.


Nhà sư nhảy cực kì mau lẹ, như Kiều Phong ngồi trên ngựa chưa chạy được đến A Tử thì lão đã nhảy bổ tới nơi.


Kiều Phong nghe tiếng gió cấp bách, vội la lên:


- Chớ đánh chết người!


Tay trái ông nắm lấy sau lưng A Tử nhấc bổng nàng lên ngồi trước mình.

Bỗng nghe tiếng binh một cái." Trái bóng thịt"Tam Tĩnh đụng vào con ngựa của A Tử. Con ngựa bị hất ra xa ngã kềnh xuống đất chết ngay lập tức.


A Tử sợ tái mặt không ngờ lão hòa thượng hình thù cổ quái mà uy mãnh đến thế.


Tam Tĩnh đụng vào làm chết con ngựa của A Tử rồi người bật lên như cái lò xo xoay sang A Tử.


Kiều Phong hích vào hai bên vế đùi cho ngựa nhảy tung lên để tránh nhưng Tam Tĩnh vọt lại quá nhanh mà ngựa nhảy chậm hơn.

Kiều Phong xem chừng nguy hiểm đến nơi.

Nhà sư chồm tới uy lực dũng mãnh ghê gớm. Nếu muốn chống lại phải phóng chưởng ra. Song ông lại nghĩ Rõ ràng A Tử có lỗi đạp chết con tằm quý của người ta. Bên mình đuối lí, chẳng lẽ cậy mạnh hiếp người.

Ông liền tay trái ôm lấy A Tử phi thân nhảy ra ngoài yên ngựa một quãng xa chừng hai trượng." Binh"một cái Tam Tĩnh đã nhảy xổ xuống con ngựa Kiều Phong.

Lần này lảo nhảy mạnh hơn, con ngựa bật văng đi đúng vào cây xuyên qua bụng, ruột gan cùng máu tươi chảy ra lênh láng.


Tam Tĩnh thản nhiên nhằm Kiều Phong cùng A Tử xông tới.

Kiều Phong rất lấy làm kinh dị, ông lẩm bẩm:


Thế võ của nhà sư đem thân mình để choảng và người quả là ít thấy. Nhưng lão cứ dùng tấm thân bằng da bằng thịt để nhảy xổ vào, gặp người cầm khí giới há chẳng uổng mạng?


Ông thấy nhà sư vẫn tiếp tục nhảy xổ vào mình.

Lần này ông không tránh nữa cất tiếng nói:


- Xin hòa thượng đừng bức bách tôi nữa, để tôi có lời nói lại với hòa thượng.


Tam Tĩnh chỉ cách ông không quá ba thước. Nhà sư nghe ông nói câu này đột ngột tung mình lên trên ba trượng xoay lốc ba vòng.


Kiều Phong ôm lấy A Tử lùi sau hai bước.

Tam Tĩnh lẹ làng hạ mình xuống. Vai lão vừa chạm đất, lập tức lão trào mình tiến đến chân Kiều Phong la lớn:


- Trả con tằm ta đây! Trả con tằm ta đây!


Thân pháp này so với địa đường quyền thường thấy trong các phái võ thật khác xa. hai chân lão co lên như quả bóng khổng lồ lă tròng trọc đến nơi.

Kiều Phong nghĩ thầm:


- Nhà sư này thật là kì cục. Ðánh nhau với người mà dùng thế này sao được. Ông nhảy sang bên hai bước. Vừa nhảy vừa liếc mắt xuống thấy phấn vàng rơi rụng đầy mặt đất.





Ông là người linh cơ mau lẹ, tuy chưa biết thứ phấn vàng này có điều chi lạ, nhưng rõ ràng không phải có từ trước, mà đúng là nhà sư trong lúc cử động tay chân đã rắc ra. Nếu mình dẫm vào e mắc bẫy. Ông quát ra một tiếng phóng chân đá ra, người nhảy vọt lên ôm A Tử nhảy theo, không chịu dẫm chân xuống phấn vàng.


Nguyên thứ phấn này là thứ phấn độc của Tam Tĩnh rắc ra. Nếu Kiều Phong dẫm phải, phấn bay tung lên thì ông cùng A Tử sẽ hít phải và lập tức toàn thân nhũn ra rồi để cho kẻ địch muốn băm vằm thế nào cũng được.


Tam Tĩnh ghê cho Kiều Phong rất linh cơ, lão thấy ông sắp mắc vào bẫy, thế mà đang lúc nguy nan ông lại nhảy vọt lên tránh khỏi. Lão đã nhảy bật lên như cái lò so nhằm Kiều Phong bổ tới. Lão chắc mẫm dù võ công Kiều Phong cao cường đến đâu nhưng tay ẵm một người nhảy lên một lần rồi, hẳn không thể nhảy lên cái thứ hai. Chỉ cốt sao cho hai người ngã lăn ra là xong. Trong mồm miệng lão đã để thuốc độc sẵn, còn đối phương nhất địng trúng độc.


Kiều Phong thấy nhà sư lại nhảy tới không tránh được nữa liền khẽ đưa chân trái đập vào trái bóng thịt , để mượn đà nhảy ra chỗ khác.


Tam Tĩnh dùng hết sức bình sinh nhảy lại, mà Kiều Phong đã hất trở về. Lúc toàn thân lão bị đá hất lên, khác nào như gốc cây từ trên không rớt xuống, lão không tự chủ được duỗi hai chân ra. Chân rớt xuống đất đá "binh"một tiếng, chẳng khác nào đóng cọc xuống đất. Ðầu gối không co lại được, sức nặng toàn thân đè xuống cái ống chân nhỏ bé kêu rắc rắc, hai ống chân đã bị gãy rồi.


Kiều Phong đạp vào người nhà sư, bản ý chỉ cốt lấy đà nhảy ra chỗ khác tránh chất độc. Ông không ngờ đến cách luyện nội công kì dị của nhà sư này. Nội lực không ăn ý với kinh mạch. Thân thể lúc ở trên không, lại không thành ý định của người.


Kiều Phong thấy hòa thượng gãy hai chân trong lòng rất ân hận, ông nói với nhà sư:


- Ðại sư đừng có nhúc nhích. Nằm yên đấy chờ tôi gọi người đến đưa đại sư về quý tự. Ðại sư ở chùa nào?


Tam Tĩnh nhịn đau hồi lâu rồi mới nói:


- Cha mi khắp thiên hạ đâu chả là nhà? Việc gì mi phải hỏi cha mi trụ trì chùa nào? Ta gãy chân thì tự biết điều trị. Mi còn giả vờ nói đãi lòng làm chi?


Kiều Phong nói:


- Nếu đại sư đã tự chữa được lấy cho mình thì còn gì hay bằng! Tại hạ họ Kiều tên Phong, đại sư muốn báo thù thì đến Nam Kinh tìm tại hạ.


Ðoạn ông quay sang A Tử:


- Chúng ta về thôi!


A Tử cũng nhìn Tam Tĩnh thè đầu lưỡi ra, lấy ngón tay chỉ vào má mà nói:


- Tại hạ họ Ðoàn tên Tử, đại sư muốn báo thù thì đến thành Nam Kinh tìm tại hạ!


Nói xong cầm tay Kiều Phong dắt đi.


Du Thản Chi nấp trong bụi rậm, ngó trộm tấn kịch vừa rồi, trong lòng kinh hãi. Gã thấy A Tử đi khỏi tuy cũng hơi yên tâm nhưng bâng khuân ngơ ngẩn như người mất hồn. Nhất là gã thấy A Tử nắm tay Kiều Phong ra chiều thân thiết thì trong lòng càng uất hận buồn rầu.


Bỗng gã nghe Tam Tĩnh kêu:


- Nước! Nước! Ta khát nước quá!


Du Thản Chi nghĩ thầm: "Con tằm đó là do ta bắt cắp về cho cô nương làm lụy đến nhà sư này, nay y lại gãy chân, mình thật áy náy quá."


Gã nghe lời nhà sư đòi uống nước liền từ trong bụi chui ra nói:


- Ðại sư chờ một chút tôi lấy nước cho.


Tam Tĩnh quay lại coi thấy gã mặt sắt hình thù quái dị thì giật nảy mình lên hỏi:

- Mi là người hay là quỷ sứ?


Du Thản Chi nhăn nhó cười không trả lời, gã nói:


- Tôi đi lấy nước đây!


Gã chạy ra suối gần đấy, hai tay vốc nước từ từ để vào miệng nhà sư.

Nhà sư uống nước rồi nói:


- Chưa đủ, còn khát lắm!


Du Thản Chi nói:


- Ðược rồi!


Ðoạn lại vốc nước nữa cho đại sư uống.

Nhà sư hết khát rồi, gã nói:


- Ðại sư không đi được, từ đây về chùa Mẫn Trung cũng không bao xa, ta cõng đại sư đi!


Tam Tĩnh trố mắt nhìn Du Thản Chi xem cử động, còn thì gã đã chụp cái lồng sắt không trông thấy rõ chân tướng.


- Sao mi biết ta là hòa thượng chùa Mẫn trung?


Du Thản Chi chột dạ nghĩ thầm: "Hỏng bét! Mình thò đuôi ra mất rồi!" Gã đành hàm hồ nói:


- Gần đây chỉ có một chùa Mẫn Trung là ngôi chùa lớn. Tại hạ nghĩ đai sư ở chùa đó.


Tam Tĩnh nói:


- À! Thằng này thông minh đấy! Ta không cần mi cõng. Ở vườn sau chùa Mẫn Trung ta có cái bầu đựng rượu thuốc trị thương rất linh nghiệm. Ta phiền mi tới đó đem ra đây cho ta.


Du Thản Chi lấy làm kì hỏi:


- Trong vườn rau còn có cái bầu nữa ư? Thế cái bầu kia...


Ba tiếng "cái bầu kia" vừa ra khỏi miệng, gã biết mình dại rồi nên im bặt không nói sao nữa.


Tam Tĩnh cũng nói:


- Ủa! Ta hồ đồ mất rồi! Cái bầu ấy không thấy nữa. Ta nhờ mi cõng ta về vậy.


Du Thản Chi nói:


- Ðược!


Từ chổ bờ suối đã trông thấy mái chùa Mấn Trung, bất quá cũng chừng hơn một dặm, Du Thản Chi cúi xuống cõng nhà sư rồi cất bước.


Gã mới đi được bảy tám bước, bỗng thấy mười đầu ngón tay nhà sư cứng như sắt chạm vào cổ mình mỗi lúc một nghẹt thở.





Du Thản Chi cả kinh, gã cố hết sức hất Tam Tĩnh xuống đất.

Nào ngờ hai chân nhà sư quặp lấy lưng gã.

Lúc hất nhà sư ra thì thấy lưng mình đau đớn kịch liệt.

Bỗng nghe Tam Tĩnh hỏi: Cái bầu rượu ta có phải thằng lõi này đánh cắp không? Thằng giặc non! Mi đã lấy trộm uống lại ăn cắp luôn cả bầu rượu nữa nghĩa làm sao?


Du Thản Chi đang bị nhà sư nắm giữ, đành cãi liều:


- Không phải! Tôi không lấy bầu rượu của đại sư đâu.


Tam Tĩnh nói:


- Mi vừa nghe ta nói trong vườn rau còn cái bầu rượu đã tỏ ra sửng sốt. Mi có tật giật mình. Cái bầu của ta không phải mi lấy cắp thì ai vào đây?


Du Thản Chi không thấy nhà sư đề cập đến con tằm thì nghĩ bụng:

- Lấy cắp cái bầu thì chẳng chi quan hệ.

Hơn nữa cũng không còn cách nào cãi được, gã đáp:


- Thôi được rồi! Nếu tại hạ có ăn cắp cái bầu của nhà sư thì để tại hạ về lấy trả là xong.


Tam Tĩnh cười ha hả rồi đột nhiên khóc rống lên, nghẹn ngào hỏi:


- Thằng giặc con này! Lúc mi ăn cắp cái bầu rượu của ta ngươi có thấy đứa con quý báu của ta là "Hàn Ngọc Trùng" không?


Du Thản Chi đáp:


- Không thấy! Tại hạ chỉ thấy ở dưới đất có vẽ một vòng tròn chứ không thấy gì hết.


Tam Tĩnh nói:


- Hỡi ôi! Nó không giữ bổn phận bỏ trốn đi bị người ta đánh chết rồi! Thằng giặc này đi về phía Ðông?


Du Thản Chi hỏi:


- Sao lại đi về phía Ðông?


Nhà sư hai tay bóp chặt cổ gã nói:


- Ta bảo ngươi đi về phía Ðông thì ngươi đi về phía đó. Sao còn hỏi lôi thôi?


Du Thản Chi bị Tam Tĩnh bóp cổ đau quá đành đi về hướng Ðông.


Nhà sư này tuy thấp lùn nhưng béo chụt nên người y nặng quá, Du Thản Chi chỉ đi được vài dặm là thở hồng hộc, gã phều phào nói:


- Tại hạ mệt quá không đi được nữa rồi, ngồi nghĩ chút xíu đi.


Tam Tĩnh tức mình nói:


- Ta bảo ngươi nghĩ đâu mà ngươi dám nghĩ? Ði mau! Ði mau!




Nhà sư vừa nói vừa kẹp hai chân vào người, tựa như người thúc vế vào lưng ngựa.


Du Thản Chi bị nhà sư thôi thúc không làm thế nào được, đành miễn cưỡng bước đi.


Lại đi thêm năm sáu dặm nữa, gã cất chan không nổi, người gã té nhào về phía trước, miệng sùi bọt giãi hồng hộc.


Tam Tĩnh hét:


- Ði mau! Ði mau!


Y vừa giục vừa đánh Du Thản Chi.


Du Thản Chi nói:


- Ðại sư có đánh chết tôi cũng không đi nổi nữa.


Tam Tĩnh nói:


- Ngươi không đi ta sẽ giết mi.


Vừa dứt lời thì phía sau có tiếng người gọi:


- Tam Tĩnh! Ngươi to gan thật! Dám trốn ra đây! Phương trượng truyền pháp chỉ sai chúng ta đi bắt ngươi về.


Du Thản Chi quay đầu nhìn lại thì thấy phía sau, trên đường lớn có hai nhà sư mặc áo bào xám chạuy như bay đến.

Người đi trước chính là nhà sư lớn tuổi mà gã đã gặp trong vườn rau lúc trước.


Tam Tĩnh kêu vang:


- Sư huynh ơi! Hai chân tiểu đệ bị kẻ địch đánh gãy rồi bây giờ không thể nào nhúc nhích được. Chờ cho tiểu đệ chữa xong rồi sẽ về chùa chịu tội với phương trượng.


Nhà sư đứng tuổi quát lên:


- Có người cõng ngươi trốn đến đây, thì có người cõng ngươi về chùa. Trời ơi! Người ngợm gì... mà kì quái như vậy?


Nhà sư thấy Du Thản Chi đội lồng sắt, bất giác la lên những tiếng kinh ngạc.


Còn nhà sư kia ít tuổi hơn, nói:


- Bắt luôn cả tên tà ma quỷ quái này về chùa.


Tam Tĩnh nói:


- Nếu hai vị sư huynh bắt buộc phải đưa tiểu đệ về chùa thì tiểu đệ xin tuân mệnh.


Rồi lão quát Du Thản Chi:


- Thằng giặc con này! Cõng ta theo hai vị sư huynh.

Du Thản Chi nói:


- Tôi đi không nổi nữa rồi, cần nghĩ một lúc đã.


Tam Tĩnh nói:


- Không được! Chúng ta cần phải về chùa Mẫn Trung trước trời tối.


Nhà sư đứng tuổi cũng nói:


- Phải rồi! Mau lên! Còn nghĩ gì nữa?


Nói xong liền tiện tay nhặt lấy một cành cây bên đường quật vào vai Du Thản Chi.


Du Thản Chi đau quá nghĩ thầm:

- Sao những nhà tu hành lại nóng nảy thế mà không nghe lời nói thật?

Gã đành gượng gạo đứng dậy cõng Tam Tĩnh, chân ngang đá chân xiêu, đi về lối cũ.


Hai nhà sư đi sau Du Thản Chi để canh chừng, thấy ống chân Tam Tĩnh quả bị gãy rồi, hai bàn chân lủng lẳng đưa qua đưa lại, nên chẳng cần quan tâm đề phòng.


Ngờ đâu bốn người đi đến khe núi, Tam Tĩnh đột nhiên ấn tay trái vào lưng Du Thản Chi, người y nhảy tung lên, nhắm nhà sư đứng tuổi xô lại!


Nhà sư này quát mắng:


- Mi muốn chết đó chăng?


Nhà sư không kịp rút giới đao phóng chưởng ra đánh Tam Tĩnh cũng phóng chưỏng dánh trúng vào hậu tâm nhà sư kia.


Hai chưởng giao nhau nổi lên một tiếng vang ghê rợn.


Nhà sư trẻ tuổi lùi lại một bước dùng cả song quyền đánh vào trước mặt Tam Tĩnh.


Tam Tĩnh để cánh tay trái lên cánh tay nhà sư để mượn đà người y tung lên cao tay phải phóng chưởng đánh trúng đầu nhà sư đứng tuổi.

Tiếp theo Tam Tĩnh lộn mình một vòng đã về đến trên lưng Du Thản Chi.


Du Thản Chi thấy trên lưng bỗng nhiên nhẹ bổng, thì ra Tam Tĩnh phi thân ra ngoài cự địch. Gã toan chạy trốn, nhưng chưa kịp rời khỏi chỗ cũ thì Tam Tĩnh đã bay trở về. Tay trái y nắm lấy cổ gã.


Du Thản Chi nhìn ra thấy hai nhà sư kia đầu gối nhũn ra, từ từ ngồi phệt xuống mặt nhăn nhó ra chiều đau đớn vô cùng!


Gã vừa sợ hãi vừa ngạc nhiên tự hỏi:

- Tam Tĩnh hòa thượng đánh đòn gì mà ghê gớm thế? Y mới phóng ra một chưởng mà xem chừng đối phương bị thương rất nặng!

Bỗng nghe hai nhà sư mới đến miệng thở hộc lên mình co rúm lại mình giãy dụa mấy cái rồi chết liền.


Tam Tĩnh giơ tay phải ra trước mặt Du Thản Chi ra chiều đắc ý nói:


- Mi trông rõ rồi chứ!


Du Thản Chi ngó bàn tay y thấy một ngón tay giữa đeo nhẫn. Trên mặt nhẫn chìa ra một mũi kim châm nhỏ xíu. Ðầu mũi kim châm hãy còn dính máu tươi.




Gã nghĩ một lúc rồi tỉnh ngộ ra lẩm bẩm:


- Té ra trong tay y có giấu ngầm một mũi kim châm. Mũi kim này bôi thuốc kịch độc nên hai chưởng phóng ra đánh chết luôn hai người.


Tam Tĩnh giơ mũi kim châm vào lỗ mắt Du Thản Chi hăm dọa nói:


- Mi mà không nghe lời ta, ta sẽ cho mi ăn một mũi.


Nói xong đưa hai tay trái ra nắm lấy hai xác chết nhấc bổng lên rồi quăng xuống khe núi.

Y bảo Du Thản Chi:


- Ði về hướng Ðông.


Du Thản Chi không dám cãi lời gã nghĩ đến thủ đoạn độc ác của nhà sư hổ mang vừa giết hai nhà sư kia, gã không khỏi sởn gai rùng mình.




Một luồng khí lực không biết từ đâu nhập vào chân gã làm cho gã run lẩy bẩy, nhưng bước chân rất mau hết cả mệt nhọc trông về hướng Ðông mà đi.


Lúc đó trờ xẩm tối, Du Thản Chi nghĩ bụng:

- Hai chân thằng cha này chưa nối được, chờ cho hắn ngủ say rồi mình sẽ có cơ hội chạy thoát.




Nào ngờ lúc trời tối, Tam Tĩnh bắt Du Thàn Chi đi vào bụi cỏ rồi bắt nằm xuống, y co người lại như trái bóng thịt ngồi chồm chồm lên cái lồng sắt đầu Du Thản Chi.


Một lúc sau thấy Tam Tĩnh ngáy pho pho thì ra y đã ngủ say.

Du Thản Chi nghẹt thở muốn chết, nhưng biết rằng mình chỉ khẽ động đậy một chút là Tam Tĩnh dậy ngay và mình sẽ ăn đòn.


Du Thản Chi bị"trái bóng thịt" đè lên cổ khổ sở vô cùng.

Nguyên cái lồng sắt này chụp vào đầu gã lúc còn nóng hổi, nên da đầu, da mặt gã đã dính vào lồng, không có cách nào gỡ ra được.


Tam Tĩnh ngồi trên cái lồng sắt, chỉ khẽ động đậy một cái là Du Thản Chi đau đớn vô cùng.




Sáng sớm hôm sau Tam Tĩnh lại giục Du Thản Chi cõng mình ra đi.


Tam Tĩnh xem chừng chân mình bị gãy chấp nối rồi thì năm sáu chục ngày mới đi lại bình thường.


Du Thản Chi cũng biết thế gã nghĩ đến cơ cực này càng rùng mình lẩm bẩm:


- Nếu suốt ngày, suốt đêm trong hai tháng trời mà lưng mình phải chịu đựng trái bóng thịt. dư hai trăm cân đè lên thì chịu sao nổi?




Giữa giờ ngọ hôm ấy hai người đến một thị trấn liền vào tiệm nghĩ chân ăn uống.


Du Thản Chi thấy có người đánh một đàn lừa ngựa đi qua liền nói:


- Sư phụ thuê một con lừa cưỡi há chẳng hay hơn và đi mau hơn là ngồi trên lưng tôi?


Tam Tĩnh quát mắng:


- Mi nói năng gì thế? Cưỡi ngựa cưỡi lừa làm sao tiện bằng ngồi trên lưng người? Con ngựa có đưa ta vào giường được không? Có cõng ta đi Kiều được không?


Du Thản Chi ngẫm nghĩ lời lão nói quả đúng nên không nói năng gì nữa.


Tam Tĩnh muốn gã có sức lực đi nhanh hơn, liền mua bánh cho gã ăn thật no.


Chiều hôm ấy đi về hướng Nam.

Trung Quốc
06-12-2002, 10:32 AM
Hồi 52 - Lục Mạch Thần Kiếm - Nguyên Tác: Kim Dung
Vu Oan Giá Họa Cho Người

Chiều hôm ấy đi rẽ về hướng Nam.

Trong khi đi đường, Tam Tĩnh thốt nhiên nói đến giáo lý nhà Phật, y bảo:


- Trời đất sinh ra muôn vật. Sang, hèn, họa, phúc đều do kiếp trước mà ra. Một người hai đời gây nên nghiệp chướng thì kiếp này phải hóa làm trâu ngựa để cho người cưỡi. Tỉ như Du Thản Chi dù chưa hóa làm trâu ngựa, nhưng cũng phải làm nô lệ cho người. Ðó cũng là kiếp trước nặng nợ, nên kiếp này phải trả. Nếu kiếp này có tích nhiều âm đức thì kiếp sau mới được hưởng phúc.


Du Thản Chi nghe y nói vậy nửa tin nửa ngờ, rồi gã tự hỏi:


- Thằng cha này vừa ra tay đã giết hai nhà sư, tàn nhẫn đến thế là cùng. Trong đời mi chắc đã giết bao nhiêu người nữa. Vậy mà mi còn dám mở miệng nói đến tích đức tu nhơn ư?


Nhưng gã đang bị trong vòng kiềm tỏa của Tam Tĩnh, nên trong bụng nghĩ như vậy mà không dám nói ra.




Hai người trông thấy về hướng Ðông Nam mà đi luôn mấy ngày.

Tiết trời đã ấm áp dần dần.


Du Thản Chi nghe Tam Tinh vừa đi đường vừa hỏi lối về Hà Tân thì trong bụng mừng thầm. Gã nghĩ bụng:

- Xuống bể càng hay, được ngồi thuyền, mình không phải làm trâu ngựa cho hắn nữa.

...........................................................................


- Tên tiểu tặc họ Du phải vào bón phân trong vườn rau để tư tâm hỏi đã làm nên tội lỗi.


Du Thản Chi ngơ ngác theo mấy nhà sư vào vườn rau bái kiến kiếm một nhà sư quản lý vườn này.


Nhà sư quản lý vườn pháp hiệu Duyên Căn hình thù bé nhỏ mà gầy khẳng gầy kheo, đã rụng mất hai chiếc răng cửa. Lúc y nói miệng để trống hốc. Y thấy Du Thản Chi đầu bịt lồng sắt hình thù quái gở lấy làm thích thú.

Lão ngồi trên ghế dài, nghếch chân lên, hỏi lai lịch Du Thản Chi.


Du Thản Chi nghĩ :

- Cha bác mình là những nhân vật có tên tuổi trong võ lâm, nếu bữa nay mình nói thật ra há chẳng làm nhục đến oai danh Du thị Song hùng và Tụ Hiền Trang ư?




Nghĩ vậy, gã chỉ khai mình là người tầm thường quê kệch, chẳng may bị quan binh Khất Ðan bắt đem đi, rồi bị hành hạ khổ sở.


Nhà sư này rất ưa chuyện trò, những chi tiết nhỏ nhặt lão cũng muốn hỏi chân tơ kẻ tóc quyết không để cho Du Thản Chi ăn nói hàm hồ. Nhưng Du Thản Chi quyết ý dấu nhẹm thân thế mình. Ngoài điều gã kể mình là thiếu niên nhà nông, gã không nói thêm gì nữa.


Nhà sư tra ngọn hỏi ngành mãi đến tối mịt mới xong, tính vừa ba giờ đồng hồ.


Nhà sư Duyên Căn hỏi đi hỏi lại hết lần này đến lần khác để kiếm lấy một chỗ sơ hở mà vặn Du Thản Chi.


Du Thản Chi tuy không phải là một gã thông minh lanh lợi, nếu gã nói dối bị lòi đuôi. Nhưng gã đem thân thế mình nói rút lại một cách vắn tắt.

Ðại khái những câu hỏi và câu trả lời như sau:


- Phụ thân ngươi làm gì?


- Chết rồi!


- Tại sao mà chết?


- Ốm!


- Ốm bệnh gì?


- Tôi không biết!


- Sao ngươi giúp đỡ Tam Tĩnh?


- Y bắt được tôi.


- Sao mi không trốn đi?


- Tôi không trốn thoát.




Ðến bữa cơm tối Duyên Căn bưng bát cơm lớn đến bên Du Thản Chi ngồi ăn để tiện vặn hỏi.

Sau khi không hỏi thêm được điều gì nữa, Duyên Căn mới bảo:


- Ngươi múc ra hai thùng nước phân bón rau. Chúng ta ở đây không thể lười nhác được đâu. Vừa rồi hhỏi chuyện mi mất hàng nửa ngày công việc đều bỏ bê.


Du Thản Chi đáp ngay:


- Vâng!


Gã không màng phân trần về vụ mất thì giờ này là do nhà sư hỏi vặn mà gã phải trả lời chứ đâu phải gã bày chuyện.


Du Thản Chi trong bụng đói meo, mình đầy thương tích, mà vẫn đi múc phân tưới rau ngay chứ không dám kêu ca gì hết.


Vườn rau chùa Thiếu Lâm rất rộng diện tích có đến hai trăm mẫu. Trong vườn này kể cả hạng thợ thường xuyên lẫn thợ làm xắp có đến ba bốn chục người và đều là tăng sĩ trong chùa.


Du Thản Chi mới đến, đầu lại đội cái lồng sắt, hình thù cổ quái, mọi người đều khinh miệt và thường đem gã ra làm trò cười. Những công việc nặng nhọc dơ dáy đều đổ lên đầu gã.


Du Thản Chi càng ngày càng suy nghĩ ít đi, quan niệm và phải trái về mừng giận thương vui. Gã cũmg mơ hồ không phân biệt được rõ ràng. Ai bảo gì gã cũng chịu.

Suốt ngày gã chỉ ngơ ngác bần thần. Họa hoằn trong lúc ngủ mê, gã mới mơ thấy A Tử.




Một hôm vào lúc hoàng hôn, Du Thản Chi bón tưới vườn rau xong thì thân thể mệt nhoài, chân tay ê nhức, gã chợt nge thấy tiếng đũa lách cách, gã liền đứng dậy xuống nhà ăn cơm, bỗng thấy tiếng Duyên Căn gọi:


- A Du! Mi cầm bát cơm này đưa sang căn phòng nhỏ bên rừng trúc cho một vị sư phụ ở đó dùng, vì y bịnh không qua đây được.


Thản Chi đáp:


- Vâng!


Ðoạn đón lấy bát cơm sang rừng trúc.



Rừng trúc này lớn lắm, gã đi một lúc mà vẫn chưa hết.

Gã nhìn vào trong đám lá cây rậm rạp thấy một căn nhà đá nhỏ, liền chạy đến trước cửa cất tiếng gọi:


- Sư phụ! Sư phụ! Cơm của sư phụ đây!


Trong nhà có giọng khàn khàn đáp lại.


Du Thản Chi đưa tay ra đẩy cửa.

Cánh cửa mở ra, gã bưng bát cơm lớn đi vào.

Gã thấy trên chiếc chiếu trải dưới đất có một người nằm quay mặt vào trong.


Trong nhà không có giường phản, bàn ghế chi hết.

Một cái bát sành đựng lưng bát nước lã đặt ngay trong một góc chiếu.


Du Thản Chi lại nói:

- Sư phụ! Tôi mang cơm lại cho sư phụ đây!


Người kia nói:


- Ta không đói, không ăn cơm được ngươi bưng về đi!


Tiếng nói phều phào không được rõ ràng và thủy chung vẫn không quay đầu ra.


Du Thản Chi vừa nghe y biểu không đói, không ăn cơm, liền bưng bát cơm về nhà ngay, báo cho Duyên Căn biết.


Trưa hôm sau, Duyên Căn lại kêu Du Thản Chi mang cơm đi, người kia vẫn không ăn.


Bốn ngày liền, Du Thản Chi mỗi ngày đưa cơm hai lần.

Người đó không lúc nào quay mình ra và thủy chung vẫn không ăn cơm.

Gã cũng mất tính hiếu kỳ nữa, mặc dù thấy việc khác thường, gã cũng chẳng buồn quan tâm.


Ðến trưa hôm thứ năm, Du Thản Chi theo thường lệ lại bưng cơm sang, người kia vẫn nhắc lại câu trước:


- Ta không đói, không ăn cơm, ngươi mang về đi.


Du Thản Chi vẫn bình thản lạt lẽo như thường đáp:


- Ðược rồi!


Ðoạn trở gót đi luôn.

Người này đột nhiên vùng dậy nắm lấy tay Du Thản Chi mắng:


- Mi là người không có lòng dạ chi hết...


Vừa nói mấy tiếng người đó la lên:


- Úi chao!


Vì thấy đầu gã đội cái lồng sắt, nên không khỏi giật mình kinh ngạc.


Du Thản Chi thấy nhà sư vừa gầy gò vừa đen đúa, mắt sâu mũi cao, không ra dáng một nhà sư Trung Nguyên. Trên mặt nhiều vết nhăn nheo mà không biết đã bao nhiêu tuổi.


Nhà sư hỏi:


- Ðầu ngươi chụp cái chi?


Du Thản Chi đáp:


- Cái lồng sắt.


Nhà sư lại hỏi:


- Ai chụp vào đầu ngươi?


- Người Khất Ðan.

Nhà sư hỏi:

- Sao mi không bỏ đi?


Du Thản Chi đáp:


- Bỏ không được.


Nhà sư nói:


- Bốn ngày liền ta không ăn cơm, ngươi chẳng hỏi gì đến đã đành sao cũng không kêu ai lại thăm ta một lần. Hoặc kêu thầy đến chữa bịnh cho ta, là nghĩa làm sao?


Nhà sư này tuy người Hồ bên Tây Vực song nói tiếng Hán rất lưu loát.


Du Thản Chi nói:


- Ông sống cũng thế chết cũng vậy, có liên quan gì đến tôi?


Nhà sư cả giận vươn tay ra nắm lấy vai Du Thản Chi.


Du Thản Chi thấy vai bị đau tựa hồ dao cắt, nhưng gã nhịn đau quen, chẳng cậy cựa mà cũng chẳng rên la, cứ thản nhiên như không.


Nhà sư rất lấy làm kỳ hỏi:


- Mi có thấy đau không?


Du Thản Chi lạnh lùng đáp:


- Ðau cũng thế mà không đau cũng vậy. Chả can hệ gì!


Nhà sư lại càng ngạc nhiên hỏi lại:


- Mi bảo không can hệ gì. Chẳng lẽ cái vai này không phải là vai mi? Ta vận thêm kình lực bóp nát vai mi ra nhé?


Nhà sư vừa nói vừa vặn kình lực mạnh bóp mạnh.


Du Thản Chi thấy đau vào đến tận tâm can, vai gã quả nhiên bị bóp nát.

Song người gã tuy đau mà tâm thần gã trơ như gỗ đá chẳng tranh biện mà cũng chẳng van xin.


Gã yên trí rằng trong lá số gã, thiên đình đã định sẵn xương vai gã bị bẻ nát, đành phải chịu.


Nhà sư thấy sức chịu đựng gã cương cường như vậy đâm ra bội phục nói:


- Giỏi lắm! Trong chùa Thiếu Lâm cả đến tên đầu bếp cũng tu luyện được đến mức độ này thì ghê thật! Thôi ngươi đi đi!


Du Thản Chi bưng bát cơm về, chưa ra khỏi rừng trúc thốt nhiên va phải nhà sư Duyên Căn đứng ở bên đường.


Duyên Căn âm thầm chạy đến bên gã cười lạt nói:


- A Du! Việc chùa Mẫn Trung nước Liêu đã phát giác ra rồi, ngươi đến viện Giới Luật đi!

Du Thản Chi nghe nói việc chùa Mẫn Trung bị phát giác thì nghĩ thầm:

- Ðây chắc là Tam Tĩnh đã điều tra ra vụ ta ăn cắp con tằm kỳ dị. Vụ này rắc rối ta. Thôi ta đành phó mặc trời.



Gã lẻo đẻo theo Duyên Căn về viện Giới Luật đã gặp nhà sư già.

Lúc này lại thấy nhà sư đó đứng trước cửa viện lạnh lùng nói:


- Du Thản Chi! Tam Tĩnh biểu những tội đại ác tại chùa Mẫn Trung đều do ngươi gây ra, có đúng thế không?


Du Thản Chi đáp:


- Ðúng thế! Chính tôi gây ra!


Nhà sư già nghe Du Thản Chi nhận tội nhận tội, không chối cải một câu nào thì lấy làm lạ hỏi, nói:


- Mi đã nhận tội, ta không làm khó dễ vói người làm chi nữa mà năm trăm roi đòn thị uy cũng miễn cho mi. Mi vào phòng sám hối để nghĩ kỹ lại coi, nếu còn điều gì không thật nói với ta.


Duyên Căn dẫn Du Thản Chi tới phía sau viện Giới Luật.

Nơi đây là một khoảng đất trống, đã bày sẵn bốn cái "cột đá"hình vuông.


Duyên Căn kéo một chiếc cột đá một cái cửa mở ra.

Chính mỗi một cột này là một căn nhà nhỏ xíu.

Duyên Căn đẩy cửa vào, bảo Du Thản Chi vào trong xong rồi đóng lại.


Tuy gọi là phòng sám hối nhưng thực ra không phải là một căn phòng mà chỉ một "chiếc quan tài" bằng đá để dựng lên.




Du Thản Chi vào rồi, đừng nói không thể ngồi xuống được, mà xoay mình cũng đã khó khăn.


Trên nóc nhà đã có đục hai lỗ thông hơi. Bốn mặt vách đá gần khít chạm vào người.


Du Thản Chi lẩm bẩm:

- Mình có việc gì suy nghĩ, làm tổ gì mà phải sám hối ?




Giữa lúc ấy, bỗng nghe tiếng người kêu thất thanh như lợn bò chọc tiết.


Tiếng kêu la do những lỗ nhỏ trên đỉnh thạch thất vọng ra và rõ ràng là tiếng Tam Tĩnh.

Du Thản Chi nghe lão thét lên:


- Không được! Không được! Người tôi làm sao vào lọt nhà sám hối?


Vị lão tăng Giới Luật nói:


- Lề luật của bản trì từ ngàn xưa lưu lại, sư sãi phạm tội nặng đều được vào nhà sám hối để xét mình cũng ăn năn. Người vào đi!


Tam Tĩnh vội nói:


- Người tôi to béo thế này làm sao vào lọt được?


Du Thản Chi tuy đang trong lúc hoạn nạn, nghe lão nói mấy câu này, mới nhớ ra Tam Tĩnh người béo chùn béo chụt mà tròn ủm như trái bóng thì không khỏi phì cười.


Bỗng nghe nhà sư già lạnh lùng giục:


- Các ngươi bỏ lão vào đi rồi đóng cửa lại!


Kế tiếp lại vẳng nghe mấy tiếng cựa quậy.

Tam Tĩnh kêu gọi ầm lên nhưng nhà sư già không khoan dung cho bạn đồng môn chút nào nhất định thi hành luật pháp một cách nghiêm chỉnh.

Tam Tĩnh kêu lên:


- Tôi sẽ bẩm bạch phương trượng . Ðại sư ngược đãi đồng môn một cách gắt gao. Người tôi to béo thế này làm sao nhét vào được phòng nhỏ này... Trời ơi! Không được!


Lão tăng giục ban chấp sự:


- Các ngươi ấn mạnh y vào! Gắng sức ấn thật mạnh!


Một nhà sư khác bỗng kêu lên:


- Thúi quá! Y vọt cả... ra rồi!


Lão tăng vẫn giục:


- Ðã nhét được quá nửa rồi, còn non nửa thôi mà! Ðẩy mạnh vào!


Vất vả hồi lâu rồi sau cùng cũng nhét được hết người nhà sư Tam Tĩnh béo chùn béo chụt tròn ủm như quả bóng vào căn nhà nhỏ hẹp.


Tam Tĩnh mất hết khí lực không còn hơi sức đâu tranh luận nữa. Lão nghẹn ngào trong khổ và khóc thút thít.


Du Thản Chi nghĩ thầm:


- Căn nhà đá chật hẹp này đến mình gầy nhỏm gầy nhom còn chẳng đủ chỗ xoay mình. Thế mà họ nhét đưọc "trái bóng thịt" vào kể cũng là kỳ công hạn hữu.


Ðột nhiên Tam Tĩnh la lên:


- Thả tôi ra! Thả tôi ra! Tôi xin nói hết không dám nói sai câu nào.


Nhà sư già nói:


- Người hãy nói trước đi rồi ta sẽ thả ra.


Tam Tĩnh nói:


- Tôi... Tôi ở chùa Mẫn Trung nước Liêu, ăn trộm ba mươi ba lạng bạc, mua rượu uống. Tôi mổ ba con chó và giam cầm nhà sư. bốn người tục... tôi đã... có người bạn gái ở nước Liêu... với đã đánh bạc...


Nhà sư già nói:


- Mi biểu những việc này đều do gã mặt sắt làm trò à?


Tam Tĩnh nói:


- Vâng! Vâng. Ðúng là gã làm cả. Tôi quên đó.


Nhà sư già nói :

- Người chưa suy nghĩ được kỹ càng. Người hãy ở lại trong buồng sám hối một ngày một đêm cho tâm hồn tỉnh táo để suy nghĩ lại.


Tam Tĩnh kêu to hơn nữa:


- Chỉ trong một giờ nữa là tôi đã bị chết ngộp rồi. Tôi xin thú nhận hết. Những vụ đó đều chính tay tôi làm cả.


Nhà sư già nói:


- Thế còn gã mặt sắt làm điều chi sai quấy?


Tam Tĩnh đáp:


- Gã.. gã ăn cắp cái bầu của tôi rồi gã uống trộm rượu nữa.


Nhà sư già hỏi:


- Còn gì nữa không?


Tam Tĩnh nói:


- Tôi.. Tôi không biết. Mau... mau thả tôi ra.


Nhà sư cười lạt nói:


- Ngươi vu oan giá họa cho người.


Rồi quay sang bảo mấy nhà sư chấp sự:


- Các vị thả gã mặt sắt ra!


Mấy vị chấp sự vâng lời mở cửa thạch thất kéo Du Thản Chi ra.


Du Thản Chi nhìn ra căn thạch thất ở bên cạnh thì thấy da thịt Tam Tĩnh lòi ra những kẻ hở nhà đá.

Giả tỷ phòng sám hối này là căn nhà vách gỗ thì đến bật tung.


Nhà sư nhìn Du Thản Chi hỏi:


- Những việc xảy ra ở nhà Mẫn Trung, Tam Tĩnh đã thú nhận cả rồi. Sao mi còn chưa nói rõ tâm tình.


Du Thản Chi đáp:


- Tôi không biết.


Nhà sư nói:


- Rút cuộc mi chưa làm việc gì sai quấy phải không?


Du Thản Chi đáp:


- Kiếp này tôi nhiều tai nạn, chắc là do kiếp trước gây nên tội nghiệp rất nhiều. Kiếp này tuy chưa làm điều sai quấy, nhưng kiếp trước phạm nhiều tội nặng.


Nhà sư nghe gã nói vậy rất vui lòng. Lão nghĩ lại vừa rồi nghi oan cho gã, bây giờ lão rất hối hận.


Nhà sư quay lại bảo Duyên Căn:


- Gã mặt sắt này bản tính thuần hậu nhà sư người Hồ kia mắc bệnh triền miên, ngươi bảo gã sang đó hầu hạ, đừng bắt gã làm việc trong vườn rau.


Duyên Căn nói:


- Vâng!


Tam Tĩnh kêu rầm lên:


- Không xong rồi! Mau buông thả tôi ra!


Tiếp theo là những tiếng "rắc rắc" không ngớt, tựa hồ như tiếng bắp rang.


Nguyên Tam Tĩnh bị nhét chặt quá, xương cốt cọ xát vào nhauphát ra tiếng.


Du Thản Chi nghĩ bụng:


- Xem chừng trong người Tam Tĩnh đã gẫy mất mấy dẻ xương sườn.


Bỗng thấy Tam Tĩnh lại kêu ầm lên:


- Tôi đã cung xưng hết rồi, sao còn chưa thả tôi ra? Ðại sư... nói vậy thì ra đại sư lừa gạt tôi hay sao?


Duyên Căn quay lại bảo Du Thản Chi:


- Mi mau lạy tạ tấm lòng từ bi của chấp pháp đại sư đã cho mi tới làm tại một nơi công việc nhẹ nhàng.


Du Thản Chi từ khi đến nước Liêu bị bao nhiêu nỗi khổ hành hạ, đâm ra mất hết thiện cảm với người ngoại quốc, bất luận là ai. Gã chẳng lấy việc để hầu hạ nhà sư người Hồ kia tên gọi là Ba La Tĩnh làm dễ chịu. Nhưng Duyên Căn đã bảo vậy thì gã cũng quỳ xuống đất lạy tạ.


Duyên Căn lại dẫn Du Thản Chi đến rừng trúc đưa vào phòng Ba La Tĩnh để giới thiệu.


Ba La Tinh vẫn nằm quay mặt vào tường.

Hai người vào phòng lão cũng mặc kệ, không quay ra mà cũng không hỏi han gì.


Ðến bữa ăn, Du Thản Chi lấy cơm đưa vào, thì Ba La Tinh cũng chỉ nói một câu cộc lốc:


- Không ăn cơm!


Lão cũng không thèm nhìn gã.




Sau hai ngày nữa, giọng nói Ba La Tinh tỏ ra rất suy yếu , tân khách trong chùa có người hay tin đến trước hỏi thăm. Sau khi người khách này về, đưa hơn mười vị lão tăng cùng đến thăm hỏi.


Du Thản Chi đứng bên thấy người khách giới thiệu với Ba La Tinh chức vị các lão tăng, nào Thủ Tòa La Hán Ðường, nào Phó tòa Viện Ðạt Ma, nào Thủ tòa Viện Giới Luật, toàn là những vị cao cả.


Gã nghĩ bụng:

- Lão sư người Hồ này chắc cũng là một nhân vật ghê gớm nên lão vừa thọ bệnh đã bao nhiêu nhân vật đầu nảo đến hỏi thăm.




Ba La Tinh bệnh luôn mấy ngày vẫn chưa bớt.

Ngẫu nhiên lão ăn được chút cháo nhưng vẫn chưa dậy được.

Suốt ngày nằm quay mặt vào tường. May mà tính lão ôn hòa không cáu kỉnh gì với Du Thản Chi cả.

Gã ở đây cũng chẳng có việc gì làm, nên suốt ngày nhàn rỗi, tịnh mịch.



Qua hai hôm nữa, vào khoảng nửa đêm, Ba La Tinh đột nhiên rên la ầm ĩ rồi la hét:


- Trời ơi! Nhức đầu! Tôi nhức đầu quá!


Du Thản Chi thắp đèn lên, thấy mặt lão đỏ bừng, gã đưa tay sờ vào trán lão thấy nóng bỏng.


Ba La Tinh vừa nhảy lên nhảy xuống vừa kêu:


- Chết! Ta chết đến nơi rồi! Ði kêu thầy đến chửa cho ta.


Du Thản Chi kinh hãi đáp:


- Vâng! Vâng!


Rồi không biết đi kiếm ai được, gã đành chạy vài vườn rau gọi Duyên Căn.




Duyên Căn đến viện Thanh Kiên mời một nhà sư biết thuốc sang chẩn mạch, vừa cho thuốc uống vừa làm phép châm cứu, vất vả mất nửa đê, mãi đến lúc trời sáng mớ yên lại.


Mấy lần lão lên cơn như vậy, các nhà sư chửa thuốc lắc đầu bảo nhau:


- Vị Hồ tăng này mắc phải thứ bệnh kỳ lạ bên Thiên Trúc, đất Trung Nguyên chưa gặp bao giờ, mình khó lòng chữa khỏi được.


Ba La Tinh càng ngày càng suy nhược.

Một hôm lão dậy đi tiểu, chân nhũn ra té nhào xuống đất. Ngã chúi về đằng trước đầu đập vào viên đá, trán thủng ra một lỗ, máu chảy ra rất nhiều.

Các lão tăng được tin đều đến hỏi thăm.

Bệnh tình nhà sư họ Hồ kéo dài hơn một tháng, mỗi ngày một trầm trọng thêm.




Một hôm Du Thản Chi bị cảm hàn, nửa đêm đau bụng, gã chạy ra rừng đi tiêu. Lúc đang buộc giải quần, dưới ánh trăng sáng, bất thình lình gã thấy một người từ dưới đất nhô lên cách chỗ gã đứng hơn môrt trượng.

Du Thản Chi hồn vía lên mây, suýt nữa gã thất thanh la lên.

Nhưng bóng đen náy chìa lên nửa người sau cùng toàn thân xuất hiện.

Rõ ràng là Ba La Tinh!


Ban ngày gã thấy Ba La Tinh thở hổn hển, muốn ngồi dậy uống chút nước thì xem ra cũng rất khó khăn. Thế mà lúc này lão biến thành con rồng thiêng cọp dữ, từ lòng đất chui lên được.

" Cách" một tiếng lão nhảy lên ngọn cây trúc nhanh như mèo!


Du Thản Chi rất lấy làm kỳ lẩm bẩm:


- Té ra bấy lâu lão này giả vờ mắc bệnh. Lão ở dưới đất chui lên làm gì và bây giờ lão đi đâu?


Bỗng thấy ngọn trúc khẽ lung lay, Ba La Tinh từ cây trúc này nhảy sang cây trúc khác cách đó chừng ba trượng. Ngọn trúc bật lên tiếng rất mạnh. Theo đà của nó Ba La Tinh nhảy được rất xa.


Lão nhảy đã lẹ làng lại nhanh như chớp , nếu Du Thản Chi chưa nhìn thấy lão từ trước thì nhất định không thể biết trên cây trúc có người mà chỉ cho là ngọn gió đêm lay động cành trúc dưới báng trăng tỏ mà thôi.


Du Thản Chi tiếp tục ngó những cành trúc lay động chao thẳng đường tiến về hướng tây bắc. Tuy gã đã lạnh nhạt thế sự, chẳng quan tâm một việc ggì nữa. Nhưng dù sao gã cũng còn trẻ người non dạ thì làm gì đã mất hết tính hiếu kỳ. gã chạy lại chỗ Ba La Tinh ở dưới đất chui lên để ngó xem thì thấy dưới đất có một lỗ tròn bên cạnh đặt một tấm ván. Trên mặt tấm ván có đất bùn và lá trúc, rõ ràng là lúc Ba La Tinh chui vào lỗ rồi sẽ kéo tấm ván đậy lên.


Rừng trúc này vốn ít người qua lại. Dù có người vào rừng mà dẫm chân lên tấm ván thì cũng lấy làm chi lạ.


Du Thản Chi tự hỏi:


- Ðường hầm này đi về đâu? Ta thử xuống xem sao?


Gã thò chân xuống đất chui vào trong hầm.

Không ngờ đường hầm rất ngắn, gã lần mò đi chưa được vài trượng, lại thấy đường đi dốc ngược lên.

Du Thản chi đi đến cuối đường chui ra thi không nhịn được phải phì cười, vì miệng hầm đằng này chính là chỗ Ba La Tinh trải chiếu lên.



Suốt ngày Ba La Tinh nằm trên chiếu này, nên không ai phát giác ra được.


Du Thản Chi tự hỏi:


- Thằng cha Ba La Tinh này thật là kỳ dị, không biết lão đi đâu?


Gã không nén nổi tính hiếu kỳ, lại chạy vào rừng trúc, theo đường Ba La Tinh chạy đi.

Gã biết mong manh rằng lão sư họ Hồ này khéo giả vờ giả vịt ốm đâu bệnh hoạn, tất cả là có cuộc âm mưu rất lớn. Nếu mình đi theo dõi để phát giác ra việc bí mật cuà lão. Lão mà biết ra thì tính mạng của mình đi đời.




Nghĩ vậy lão len lỏi cẩn thận và ở tận đằng xa nhìn thấy Ba La Tinh đang đứng trên một cây trúc, gã liền nằm rạp xuống bụi cỏ rậm, bò đi từng bước.

Gã bò còn cách cây trúc đó còn hơn một trượng thì dừng lại không dám tiến bước.


Du Thản Chi đứng chờ hồi lâu, đưa mắt nhìn ra phía trời Tây một áng mây trôi lảng bảng bay lại, che ánh trăng tỏ, bốn bề tối đen và phẳng lặng như tờ.

Bỗng nghe tiếng gió thổi rào rạt, cánh trúc kia hạ xuống rồi lại bật lên.

Ba La Tinh lượn đà bay vọt ra, nhảy vào giữa đám cây rậm rạp phía trước.


Du Thản Chi thấy lão khinh công cao cường như vậy phải lắc đầu lè lưỡi.

Gã đâm ra sợ quá không dám đi nữa, quay về phòng mình nghĩ.


Trong khoảng thời gian uống cạn tuần trà, Du Thản Chi nghe trong phòng Ba La Tinh có tiếng sột soạt, lão biết rằng lão đã về thì lẩm bẩm:


- Thật là một phen hú hồn! May mà mình về ngay, nếu mình chần chờ thêm một lát nữa tất bị lão khám phá ra.




Sáng hôm sau, Du Thản Chi dậy sớm thấy Ba La Tinh nằm quay mặt vào vách giả vờ bệnh thế cực kỳ nghiêm trọng.

Gã không nói gì cầm cây cuốc ra rừng đào măng.

Gã đi thẳng vào chỗ đám cây rậm rạp mà Ba La Tinh đêm qua đã nhảy vào đó.


Du Thản Chi vừa đi được vài trượng, bỗng thấy sau vòm cây một nhà sư đi ra, lớn tiếng hỏi:


- Mi đến Tàng Kinh Lâu làm gì?

Du Thản Chi đáp:


- Tôi... Tôi đào măng trúc.


Nhà sư vẩy tay nói:


- Ði, đi mau! Mi không có pháp điệp của phương trượng, không được tới gần Tàng Kinh Lâu.


Du Thản Chi nói:


- Vâng, vâng!


Rồi quay vào rừng trúc đào măng.

Gã nghĩ bụng:

- Té ra trong bụi rậm này là Tàng Kinh Lâu, nếu không có pháp điệp của phương trượng thì không thể đến gần. Ðêm qua Ba La Tinh lẻn vào Tàng Kinh Lâu, chẳng lẽ lão đến đây lấy trộm kinh sách về coi? Nhưng lão đã là hoà thượng thì xem kinh sách là việc rất hợp lý. Nam Mô A Di Ðà Phật! Nam Mô A Di Ðà Phật không biết phật có gì mà cất kỹ thế?


Du Thản Chi đã điều tra ra việc Ba La Tinh giả vờ lâm trọng bệnh đào đường hầm để đi lén vào Tàng Kinh Lâu mà htôi. Gã chẳng buồn để tâm đên việc đó nữa, gã đào được một đống măng thật to đem về vườn rau giao cho Duyên Căn.


Duyên Căn Khen rằng:


- Thằng nhỏ này giỏi lắm, làm việc gì cũng chăm chỉ tận tâm. Thật không uổng công ta đề bạt mi lên với đại sư chấp pháp. Mi đem măng xuống giao cho nhà bếp.


Du Thản Chi vâng lời khuân măng xuống bếp.


Trong bếp một nồi canh rau bốc hơi ngùn ngụt, chú tiểu múc một bát canh cho gã ăn, rồi lại múc thêm bát nữa đem về cho Ba La Tinh.



Du Thản Chi bưng bát canh rau về phòng Ba La Tinh vẫn một giọng cộc lốc:


- Không ăn!


Nhưng rồi ngửi thấy mùi bát canh thơm ngon, lão thèm quá bảo:


- Ðược lắm! Ngươi đưa ta thử một miếng xem.


Lão xoay tay ra đón lấy bát canh giả vờ không ngồi dậy được, mặt vẫn quay vào tường nằm húp canh.


Du Thản Chi để ý trông thấy có bóng cuốn sách ánh vào trong bát nước canh. Trong sách toàn chữ ngọng ngoẹo rất kỳ dị.


Gã sực nhớ ra điều gì liền lẩm bẩm:


- Ðây là thứ văn tự ngoại quốc giống kiểu chữ ở trong cuốn sách ta lượm được. Thì ra Ba La Tinh hằng ngày quay mặt vào tường là để xem lén những sách cổ quái này! Chà chà! Nửa đêm lão lén vào Tàng Kinh Lâu cốt là lấy những thứ sách nước ngoài này về coi.




Trước kia Du Thản Chi đã bị hành hạ, nên gã không quan tâm đến sự vật bên ngoài nữa. Mấy bữa nay gã ở chùa Thiếu Lâm không bị ngược đãi, nên gã thấy Ba La Tinh có những hành động kỳ bí mới lại nổi tánh hiếu kỳ.


Nhưng bây gờ thấy Ba La Tinh có những hành động đó, bất quá là để kiếm sách ngoại quốc về đọc, thì nghĩ bụng:

- Làm hòa thượng đương nhiên phải xem kinh. Lão hòa thượng nước ngoài thì phải đọc kinh nước ngoài, cái đó chẳng có chi lạ. Có điều người ngoại quốc tính ưa làm những sự kỳ bí không muốn hỏi mượn mà thờ.


Nghĩ vậy từ đó gã không để ý đến hành động của Ba La Tinh nữa.




Lại hơn một tháng nữa trôi qua. một hôm vào khoảng nữa đêm Du Thản Chi đang ngủ say, đột nhiêu thấy ánh đèn sáng trưng.


Gã mở bừng mắt ra thì ánh sáng này từ phòng Ba La Tinh phát ra rồi lọt qua khe vách ván lọt ra ngoài.

Ánh sáng bữa nay so với những ngáy trước sáng chói gấp mười.


Du Thản Chi lấy làm kỳ dị, gãnghiêng người nhòm qua khe cửa vào trong.


Vừa nhòm vào, gã giật mình kinh hãi vì trong phòng này có năm nhà sư gia đang ngồi xếp bằng. vị nào cũng mặc áo cà sa đai hồng nhắm mắt nhập định.


Trong năm vị lão tăng này thì có ba vị bữa trước đến hỏi thăm bịnh tình Ba La Tinh, gã biết mặt rồi. Ba nhà sư này đều lả những vị cao tăng bản tự giử chức phận rất trọng đại.


Năm vị cao tăng ngồi xung quanh chiếu.

Chiếu đã lật lên thì cái hầm lộ ra Ba La Tinh hiện không ở đây.


Du Thản Chi chắc là hiện giờ lão đang đi lấy trộm sách. Ðây là lần đầu hành vi của lão bị phát giác, rồi bị bắt nữa cũng chưa biết chừng.


Lúc Du Thản Chi để ý nhìn lại năm vị lão tăng thì ai cũng để tay phải lên trước ngực nhưng không phải để lần tràng hạt, mà xoay lòng bàn tay hướng vào đúng cửa hầm do Ba La Tinh đã đào ra.


Gã đối với vị Hồ tăng này tuy không có tình nghĩa gì nhưng từ lúc được phái đến hầu hạ lão, gã không bị hành hạ đánh đập nữa, nên chỉ mong được hầu lão lâu dài cho đỡ thân mà thôi. Bây giờ gã thấy xảy ra vụ này, trong lòng không khỏi băn khoăn và ngấm ngầm lo cho lão.


Ðột nhiên năm vị lão tăng đồng thời phất tay áo một cái đèn đuốc trong nhà bị luồng chưởng phong thổi tắt đi, tối sầm lại, nhưng rồi ngọn lửa lại bùng sáng lên ngay.


Du Thản Chi hoa mắt lên, nhìn lại thì thấy trong nhà thêm một người nữa chính là Ba La Tinh ở dưới đường hầm chui lên.


Vị Hồ tăng tay cầm ba quyển sách vừa nhìn thấy năm vị lão tăng ngồi giữ canh miệng hầm bất giác giật mình đánh thót một cái.


Năm lão tăng đồng thanh cất tiếng niệm:

- A Di Ðà Phật!


Tay phải từ từ vươn ra, năm tay áo nhà tu mầu đỏ phồng lên khác nào năm cái buồm nhỏ.


Ba La Tinh nhào đi một cái, lộn đầu xuống giơ chân lên.

Hai chân nhà sư ngoáy tít mỗi lúc một nhanh trông thành hình tròn như một trái banh.


Năm vị lão hòa thượng đồng thanh quát lên:


- Ái chà!


Năm chưởng nhất tề phóng ra đánh "binh" một tiếng vang lên không khí bị đè ép quá nặng khiến cho Du Thản Chi không thở được phải ngất đi.


Gã mê man hồi lâu, rồi bên tai văng vẳng ngghe tiếng niệm phật. Gã lần lần tỉnh lại định thần, mở mắt nhìn qua khe vách ván thì thấy Ba La Tinh cũng ngồi xếp bằng tuớng mạo rất nghiêm trang.


Năm vị lão hòa thượng ngồi xung quanh nhà sư người Hồ.

Cả sáu vị đang niệm kinh.


Du Thản Chi nghe không hiểu câu nào, song tựa hồ hai bên đã hòa giải xong.


Sáu vị sư tụng kinh hồi lâu rồi năm vị lão tăng đứng dậy chắp tay.

Nhà sư già nhỏ bé gầy gò lên tiếng:


- Ba LaTinh sư huynh! Từ đây sắp tới sư huynh cứ việc đi vào Tàng Kinh Lâu và muốn đọc sách gì tùy ý, bất tất phải lén vào trộm nữa.


Ba La Tinh ngẩng đầu lên, vẻ mặt nghi ngờ, ngây ngây người ra một lúc rồi hỏi:


- Trong một thời gian bao nhiêu?


Nhà sư gầy đáp:


- Vĩnh viễn không kỳ hạn nào, tức là cho đến ngày sư huynh viên tịch thì thôi.


Ba La Tinh hỏi:


- Ý các vị muốn bức bách ta phải tự thiêu chăng?


Nhà sư già đáp:


- A Di Ðà Phật! Sao sư huynh lại nói thế? Sư huuynh từ bên Thiên Trúc là một thượng quốc đến đây chiếu cố tới Trung Thổ chúng tôi. Chúng tôi một lòng thành kính còn chưa đủ, khi nào dám vô lễ?


Ba La Tinh hỏi:


- Chúng ta đều là đệ tử nhà Phật, bất luận việc gì xin nói rõ ra. Trong Tàng Kinh quí tự đây có đầy đủ cả kinh bên tệ quốc.


Mấy trăm năm nay, tệ quốc trãi qua bao nhiêu cuộc chiến tranh loạn lạc, kinh sách mât mát rất nhiều, vì thế mà phải qua bên quý quốc để tìm kiếm. Cửa Phật là cửa từ bi quảng đại, cớ sao tự lại hẹp hòi như vậy?


Nhà sư gầy đáp:


- A Di Ðà Phật! Nếu sư huynh tìm những loại kinh điển cứu nhân độ thế của nhà Phật thì tệ tự quyết không dám giữ làm bí mật. Trước kia tệ tự đã lấy ờ bên Thượng quốc, bây giờ trả về Thượng quốc thì đó là một việc hợp tình hợp lý. Có điều sư huynh lại muốn lấy coi những sách bí mật về võ học của riêng bản tự nên chúng tôi dám để sư huynh tự tiện mà thôi. Những kinh sách về võ học tuy nguồn gốc cũng xuất phát từ thượng quốc, song mấy trăm năm nay những bậc cao tăng bên tệ tự đã chỉnh đốn lại và tăng bổ rất nhiều. Vậy đúng lý ra sư huynh chẳng nên lấy xem.



Ba La Tinh nói:


- Ðại sư vừa biểu từ nay sắp tới cho bần tăng được tự do ra vào Tàng Kinh lâu và tự ý muốn xem kinh sách gì cũng được sao bây giờ lại đổi giọng?


Nhà sư gầy nói:


- Không dám! Ðó là bản ý của tệ tự.


Ba La Tinh nói:


- Các vị đừng nói quanh quẩn nữa, muốn xử trí với bần tăng cách nào xin nói toạc ra.


Nhà sư gầy nói:


- Bên tệ tự suốt từ trên xuống đều kính ngưỡng Phật pháp cao thâm của sư huynh, có ý muốn mời sư huynh ở lại Trung Nguyên giúp tệ tự phổ biến nghĩa Phật, tế độ chúng sinh.


Ba La Tinh run người lên, mặt xám ngắt:


- Ðại sư... Ðại sư nói vậy là có ý... định giữ luôn bản tăng ở đây, vĩnh viễn không cho cho trở về cố hương nữa phải không?


Nhà sư gầy nói:


- Ðối với các vị đại đức bên thượng quốc, tệ tự đâu dám vô lễ? Chỉ thành khẩn xin người lưu lại mong rằng sư huynh ưng thuận lời thỉnh cầu đó.


Nói xong cúi đầu chắp tay thi lễ rồi đi ra.


Bốn nhà sư kia cũng theo gót ra luôn.

Ba La Tinh dàu dàu nét mặt. Biết rằng mấy nhà sư nọ nói vậy là cố ý giam giữ mình suốt đời ở Thiếu Lâm, rồi tha hồ muốn xem bao nhiêu kinh sách thì xem, nhưng không được về Thiên Trúc. Thế thì dù có đọc hết kinh sách trong Tàng Kinh Lâu chùa Thiếu lâm, bao nhiêu bí lục có đọc trơn làu làu, cũng chẳng ích gì.


Lão nghị vậy tức mình lẩm bẩm luôn mồn:


- Giả dối! Thật là quân giả dối! Rõ ràng giam cầm mình ở đây mà mở miệng vẫn nói nhân nghĩa là khẩn cầu mình lưu lại và xin mình đừng phụ lời khẩn cầu đó. Thế là họ đẩy mình vào đất không có lối thoát. Lão càng nghĩ càng bực tức khó chịu, bất giác vung tay lên đánh đầu cồm cộp.


Sở dĩ Ba La Tinh giả vờ mắc trọng bệnh là để đánh lừa các sãi chùa Thiếu Lâm không để ý đề phòng lão cho tiện việc lão lén vào tàng kinh xem sách trộm. Lão vốn là người có trí nhớ khác thường nên vâng lệnh sư phư đến chùa Thiếu Lâm để xem kinh sách. Theo mệnh lệnh của sư phụ thì lão phải học thuộc kỹ rồi về Thiên Trúc đọc lại cho người ghi chép. Không ngờ lúc lão lấy trộm kinh sách để lộ hành tích thành hỏng việc.


Ít lâu nay Ba La Tinh suốt ngày quay mặt vào tường đọc kinh khổ công ghi nhớ đã thuộc được hơn ba mươi bộ, nào ngờ sơ hở một chút đến nỗi cơ mưu bại lộ, bị các nhà sư chùa Thiếu Lâm khám phá ra. Mấy nhà sư này không làm khó dễ gì cho lão, dò xét biết được dụng ý của lão thì không cho lão về nước mà thôi.


Ba La Tinh buồn rầu vô hạn.

Suốt đêm hôm ấy từ chập tối cho đến sáng lão hết thở ngắn than dài thở ngắn lại gắt gỏng Du Thản Chi khiến gã băn khoăn lo lắng.




Qua mấy ngày như vậy, Ba La Tinh quả nhiên phát bệnh thực sự thỉnh thoảng mắt lão trợn ngược lên đăm đăm nhìn về phí trời Tây.

Du Thản Chi trông thấy mà phát khiếp.




Một hôm Du Thản Chi đưa cơm cho Ba La Tinh.


Lão giơ tay ra cầm lấy nắm cơm toan bỏ vào miệng ăn.

Ðột nhiên mặt lão thoáng lộ vẻ vui tươi lẩm bẩm một mình:


- Ðược rồi! Ðược rồi!


Lão ăn vội ăn vàng cho xong rồi nắm lấy tay Du Thản Chi nói:

- Ta dạy ngươi một đoạn sách, rồi ngươi nhớ đọc lại nhé. Nhưng ngươi phải nhớ kỹ rằng đừng tiết lộ cho những nhà sư trong chúa này biết, ngươi làm được chứ?


Du Thản Chi không hiểu ý lão hỏi lại:


- Ðoạn sách gì?


Ba La Tinh nói:


- Ngươi phải hứa hẹn với ta là quyết giữ kín không nói với ai.


Du Thản Chi từ khi ở nước Liêu bị hành hạ cực kỳ khổ sở, sau ai bảo làm sao, y nghe vậy, không hề dám trái ý ai cả.

Bây giờ La Tinh nói vậy, gã gật đầu đáp ngay:


- Sư phụ đã dặn thế, tiểu nhân quyết không dám nói với ai.


Ba La Tinh trầm ngâm một lát rồi nói:


- Còn môt việc nữa là mỗi ngày ta đánh ngươi một trận, đánh cho thịt đổ máu rơi. Ðó là khổ nhục kế khiến người ngoài trông thấy khỏi nghi ngờ ta đồng tình với ngươi. Ngươi đừng tiết lộ với ai nghe.


Du Thản Chi ngần ngừ một lát rồi hỏi lại:


- Tiểu nhân không làm điều gì lầm lỡ sao sư phụ lại đánh đòn?


Ba La Tinh mắt toé hào quang hung dữ nói:


- Mi không nghe ta thì liệu hồn đó!


Lão giơ bàn tay đập xuống đánh "binh" một cái, những mảnh gạch run bắn lên tung toé, vết bàn tay lão in sâu vào viên gạch.

Lão nói:


- Mi quay đầu lại đây cho ta đánh chưởng!


Du Thản Chi cả kinh nói:


- Ðầu tiểu nhân không chịu nổi ba chưởng. Sư phụ... sư phụ có đánh tiểu nhân thì đánh vào mé bên môi.


Ba La Tinh bật cười nói:


- Thôi! Ðây mi nên nhớ lấy! " Hi la cáp tát đắc, ngỏa tư nặc đặc lãng ba, khứ thần, ấn địa, thản lập thốc Tây loại Tư loại Tư nặc sám mả mi phi sâm, đáo ni sơn phu nhi..."


Lão đọc một đoạn dài rồi giục:


- Nào! Mi đọc thử lại ta nghe!


Du Thản Chi nghe tiếng ngoại quốc chẳng hiểu câu gì, không nhớ được nửa chữ.

Gã há hốc miệng ra đọc:


- Hi... Hi... Hi...


Gã chỉ đọc được chữ "hi" rồi không đọc xuống dưới được nữa.



Ba La Tinh cả giận đưa tay đẩy ngực gã một cái.


Du Thản Chi ngã ngửa người ra va vào tường đánh "binh" một cái. Gã đau quá suýt ngất đi.


Ba La Tinh vừa giận vừa càu nhàu:


- Thằng lỏi con! Ta dạy mi chẳng nhớ được chữ gì, mi không chịu để ý mà nghe phải không?


Du Thản Chi xoa lưng nói:


- Tiểu nhân... Tiểu nhân không hiểu sư phụ nói gì , chỉ thấy lí la lí lô con sao hiểu được?


Ba La Tinh suy nghĩ rồi nói:


- Ừ mi nói cũng có lý! Mi không hiểu ta nói gì tất nhiên mi không thể nhớ được, vậy bây giờ ta dạy mi.


Nói xong lão đập tan đống đất khô rãi lên lên mặt đất, rồi lão lấy ngón tay vạch ba chữ ngòng ngoào, nói:


- A Bối nhỉ! Mi đọc đi! A Bối nhỉ, A Bối nhỉ...


Du Thản Chi đọc theo lão:


- A Bối nhỉ! A Bối nhỉ.


Ba La Tinh cả mừng lại dạy gã thêm ba chữ nữa.


Du Thản Chi đọc xong hỏi:


- Thế thì nghĩa gì?


Ba La Tinh nói:


- Ðó là những chữ cái không có nghĩa gì hết. Mi đọc nữa đi.


Lão lại dạy ba chữ cái khác. Nhưng lúc quay lại hỏi ba chữ đầu "a Bối nhỉ" thì Du Thản Chi quên sạch mất rồi.

Ba La Tinh tức quá lão xách ngược Du Thản chi lắc đi lắc lại, thiếu điều gã phải hộc cơm ra, lão càu nhàu nói:


- Ta gặp phải thằng ngu xuẩn này thật là vô phước mất rồi. Mi dốt nát thế này ba mươi sáu bộ kinh sách thì đến đời kiếp nào cho xong?


"Uỳnh" một tiếng, lão xách Du Thản Chi liệng ra ngoài cửa.


Du Thản Chi nằm sóng sượt dưới đất thi gan không dậy nữa.


Ba La Tinh tưởng mình liệng gã chết rồi, sợ quá bồng y vào trong nhà, tìm lời ngon ngọt dỗ dành gã hồi lâu, rồi lại bắt đầu dạy gã nhận mặt chữ.


Du Thản Chi sợ Ba La Tinh đánh đập phải cố công ghi nhớ.

Nhưng chữ Phạn nước Thiên Trúc có chữ như con nòng nọc, có chữ giống con giun.

Tóm lại chẳng có lề lối văn tự nào hết.


Du Thản Chi học chữ trên lại quên chữ dưới, chữ cuối lại quên chữ đầu.

Thành ra một thầy trò hai người cùng kêu khổ om sòm.