PDA

View Full Version : Luc Mach Than Kiem 53&54


Trung Quốc
06-12-2002, 10:33 AM
Hồi 53 - Lục Mạch Thần Kiếm - Nguyên Tác: Kim Dung
Phép Luyện Dịch Chân Kinh
Ba La Tinh điên tiết lên là đánh Du Thản Chi liền. Lão có nghĩ đâu rằng việc nhận chữ đọc sách có liên quan đến tính tình và khiếu thông minh thiên phó của con người, há phải cứ ép uổng mà làm được.


Ba La Tinh tuy dữ đòn đánh Du Thản Chi, song gã càng mê muội lại càng không nhớ những chữ cái Phạn văn mà lão đang dạy gã.




Việc đời hễ có chí là thành tựu, tuy Du Thản Chi dốt nát tối tăm, song gã cố gắng hơn nữa tháng liền cũng thuộc được hết những mẫu tự Phạn văn.

Ba La Tinh tiếp tục dạy Du Thản Chí đọc từng chữ từng câu.


Phạn văn là một thứ văn tự khó học vào bậc nhất trên thế gian. Văn tự Tây phương phần nhiều chia thành chữ đơn chữ kép. Về Phạn văn ngoài chữ đơn chữ kép ra lại còn song số. Cứ xem một điểm này, đại khái sẽ suy luận ra nhiều điểm khó khăn khác, bao nhiêu chỗ quanh co. biến hoá, cực kỳ phức tạp. Ðến ngay những bậc thông minh tài trí phi thường phải ít ra là một năm hay nữa năm mới phân biệt rành rẽ được cách đọc chữ Phạn.




Du Thản Chi tư chất đã tầm thường lại bị Ba La Tinh thôi thúc cho mau thành tựu. Ðúng là "Dục tốc bất đạt." Thầy không biết cách dạy trò, trò không biết cách học, thành ra việc học chỉ lờ mờ không thấu đáo.


Du Thản Chi suốt ngày bị thành sầu vây hãm, ngoài cái đau đớn về xác thịt, thêm vào tinh thần bị khủng bố. Gã khổ sở về việc học kinh sách Phạn văn.

Nữa đêm nhiều lúc gã tỉnh giấc, gã nghĩ lại thời kỳ còn ở nước Liêu, bất quá chỉ phải ăn đòn, chịu thảm hình về xác thịt mà thôi. Trong đầu óc còn được tự do hơn nhiều. Huống chi thỉnh thoảng lại được thấy mặt A Tử. Cái tươi cười hay cái cáu giận của nàng cũng khiến cho bao nhiêu cái khổ não cả thiên hạ đổ xuống sông xuống biển hết. Gã thấy hiện giờ đầu óc mình bị lão Ba La Tinh nhét đầy những ma kha bắt la nhược "rồi" ban nhược ba yết đề gì vào, so với thân thể bị khổ hình còn tệ hại hơn nhiều.

Lắm lúc gã toan xuống than thở với Duyên Căn, nhưng gã chưa nói câu gì, y thấy gã mình đầy thương tích dường như cũng ra chiều đắc ý.


Du Thản Chi có lần ấp úng kể lể sự tình, nhưng Duyên Căn chẳng thèm để ý hỏi rõ đầu đuôi đã mắng át đi:


- Thằng giặc non! Mi sợ đánh ư? Mi nên nhớ rằng người trên mi bảo mình làm gì thì dù khổ sở đến đâu cũng ráng mà chịu. Ðức Phật Tổ đã dạy rằng: "Ta không vào địa ngục thì còn ai chịu vào?" Ðức Phật vào địa ngục còn không lùi bước mi mới bị đánh một đập mà đã không chịu được ư? Ngày trước Ðức Phật Tổ xả thân để nuôi chim ưng, xả thân cho cọp cắn. Ngài có tinh thần đại nhân đại nghĩa như vậy, sao mi không học lấy?


Du Thản Chi mỗi lần mở miệng than phiền với Duyên Căn là lại được nghe lão thống mạ thêm một hồi.

Sau gã không dám nói gì với lão nữa. Gã đành để cho số phận mình phải học chữ Phạn. Người ta thường nói: "Phúc đáo tâm linh." Có lẽ gã đến thời vận khá!




Tối hôm đó gã cởi áo đi ngủ, sờ vào bọc thấy cuốn sách của mình bọc giấy dầu.

Ðột nhiên gã nghĩ bụng:

- Văn tự trong sách này dường như cũng giống thứ văn tự mà sư phụ đương dạy mình.


Nghĩ vậy gã liền giở sách ra coi, nhận được hai chữ nhất cũng đọc là nhất, và một chữ tam cũng đọc là tam. Thế rồi bắt đầu gả thấy hứng thú trong việc tìm hiểu sách của mình. Gã tự nhủ: Trong sách nói gì mình không hiểu, nhưng nếu mình biết Phạn văn thì sẽ đọc được hết. Dù sao cuốn sách này cũng là bậc cao nhân cứu mạng cho mình. Ngày nọ trong thành Nam Kinh, A Tử cô nương bắt mình đem huyết nuôi trùng độc, nhờ sách này mà biết phép hóa nạn. Như vậy thì phương pháp trong này rất hữu dụng.




Từ lúc Du Thản Chi phát giác ra chuyện này gã không lấy việc học tập Phạn văn là một cực hình nữa, gã cố ghi câu sách cùng những lời thầy dạy, bởi gã cũng hy vọng một ngày kia sẽ đọc được cuốn sách trong bọc mình. Gã có linh cảm rằng cuốn sách đó ghi chép những đặc biệt, không thể cho Ba La Tinh hay biết được. Chỉ những lúc gã đi ngủ mới trùm chăn rồi hé ra xem lén một chút.


Những lúc gã coi văn tự trong sách, đồng thời gã coi cả hình người vẽ bên cạnh và dĩ nhiên gã không quên soi kỹ những đường chỉ vàng trong đồ hình, rồi gã dùng ý tưởng bắt đầu luyện công.







Du Thản Chi có ngờ đâu cuốn sách kinh này là Dịch Cân Kinh của Ðạt Ma Lão Tổ, vị thủy tổ chùa Thiếu Lâm viết ra. Cuốn kinh này là một bảo điển tối cao về võ học. Gã vô tình gã theo kinh sách mà tu luyện.


Kể ra thì tại chùa Thiếu Lâm từ mấy trăm năm nay không thiếu gì các vị cao tăng tu luyện Dịch Cân Linh, song tổn phí bao nhiêu ngày hằng mệt nhọc mà vẫn không được việc gì đặc sắc, nên các nhà sư cho là kinh này không linh nghiệm. Ðến ngày bị A châu lấy cắp đi, các vị cao tăng chùa Thiếu Lâm tuy có đem lòng căm giận, nhưng vẫn không cho là môt việc quan hệ. Họ có biết đâu rằng sở dĩ những bậc cao tăng tu luyện không thành hiệu quả là vì chưa khám phá ra được hai chữ trước ý. Nếu càng để ý mong mỏi cho công lực chóng tiến bộ thì lại càng không thu lượm được kết quả cao.


Các vị cao tăng chùa Thiếu Lâm cố tình luyện Dịch Cân Kinh mà chẳng ăn thua gì, còn Du Thản Chi thì trong lúc vô tình gặp nạn mà tu luyện thành hiệu quả.

Thật là:


Cố ý hoa hoa ủ rũ,


Vô tình tiếp liễu, liễu xanh om.




Trong đám tăng lữ chùa Thiếu Lâm hơn một trăm năm trước đây có vị thần tăng. Vị này xuất gia từ thuở nhỏ. Người có tính điên khùng. sư phụ nhà sư này cố tâm luyện Dịch Cân Kinh mà không thành giận quá ngồi viên tịch. Nhà sư vô tình lượm được cuốn kinh ở bên mình sư phụ mình, cười ha hả rồi bắt đầu luyện và sau thành một tay cao thủ phi thường. Nhưng cũng chỉ được một đời, võ công nhà sư đến cao cường thế mà đến lúc ngưồi viên tịch, thủy chung vẫn không nói ra được vì lẽ gì mà thành công. Mọi người chẳng ai hiểu đó là hiệu quả "Dịch Cân Kinh."


Du Thản chi vô tình luyện, gã không biết công lực mình mỗi ngày một tiến bộ, thì ra gã đi đúng con đường của nhà sư điên ngày trước.

Phạn văn rất khó học vì cách biến hóa phức tạp vô cùng.


Một hôm Ba La Tinh dạy Du Thản Chi đọc câu: Na la phạt đại đề" rồi lão cắt nghĩa:


- Có một cô gái tên là Na Phạt. Còn chữ "phạt đại đề" nghĩa là đang nói. Thế là chữ "Lạp" biến thành chữ "La"


Du Thản Chi nhớ kỹ rồi, một lúc sau, Ba La Tinh lại dạy câu: "Na Lạp Hách ba da đề" nghĩa là cô Na Lạp đang nấu cơm. Trong từ ngữ "ba da đề"có thanh âm Ba đứng trước nên chữ na Lạp đổi thành Na Lạp Hách.


Tiếp theo lão dạy đến câu: "Na Lạp Tự đế tư đặc cáp đề" nghĩa là cô Na Lạp đứng đó. Từ ngữ" Ðế tư đặc cáp đề", đứng đầu có âm "đế" nên chữ "Na Lạp" biến thành "Na Lạp Tư."


Du Thản Chi dương đôi mắt thao láo ra mà nghe đến co gân đút thịt vẫn ù ù cạc cạc.

Gã lẩm bẩm:

- Người Trung quốc nói vắn tắt và rõ ràng bằng một chữ "tram" (nghĩa là đúng) là đủ mà người Hồ bên Tâu Vực lại đọc thôi một tràng dài: "Ðề tư mạc cáp đề" gì gì không biết. Thế rồi một cô gái tên là "Na Lạp." Lúc cổ nói ra lại phải đổi thành "Na La", lúc cổ nấu cơm lại thành "Na Lạp Tư." Chà chà! Có cát tên cổ mà lúc nói lúc thổi cơm, lúc đứng lên đều biến đi. Không biết lúc cô ăn, đi ngủ, cô đi đường, cô mắng người, thì danh tự của cô còn biến ra gì gì nữa? ... Phạn văn đã khó nhọc như vậy thì tài trí Du Thản Chi không có cách nào hiểu được văn tự Dịch Cân Kinh?

Gã đành cứ đến tối luyện công theo sợi chỉ vàng xây trên hình người trong bản đồ.

Ban đầu gã chỉ là chơi, nhưng gã luyện được hơn nửa tháng, bất giác gã thấy luồng hơi mát mẽ theo lõi sợi chỉ vàng trong đồ hình mà đi vào thân thể gã. Luồng hơi này đi đến đâu thì các cơ thể trong người gã cực kỳ khoan khoái dễ chịu. Gã chẳng cần hiểu luồng hơi mát chu du lưu trong thân thể có lợi hại gì cho mình? Gã chỉ thấy khoan khoái dễ chịu là gã cứ luyện đều. Luồng hơi mát mẻ về sau đi quen đường, gã không cần xem sách, có cũng tự nhiên đi đúng đường không lầm lỡ.

Từ đó cả những lúc ăn cơm, lúc đi đường, lúc làm công việc hay đọc sách gã cũng vận động luồng hơi không ngớt.


Giả tỉ Du Thản Chi có tài thông minh để đọc sách như Ðoàn Dự, như Vương Ngọc Yến thì pho Dịch Cân Kinh này gã lại không luyện được đến chỗ thành tựu. Vì khi hiểu được ý nghĩa Phạn văn biết cách tu luyện tâm pháp vào hạng võ công cùng thượng thặng, điểm nào cũng để ý cũng cố gắng học đến chỗ tinh vi thì không khỏi phạm vào hai chữ trước ý. Môn này tuy làm cho thân thể người thêm phần cường kiện đẩy lùi được bệnh hoạn, song đối với những người đã có cõ công hạng thượng thặng thì không bổ ích gì.


Cuốn Dịch Cân Kinh này Kiều Phong đánh rớt. Du Thản Chi lượm được. Nhưng nếu Kiều Phong không để thất lạc, rồi ông học thêm chữ Phạn, luyện tập theo đúng phương pháp thì ông có là người khoáng đạt sáng suốt đến đâu, cũng không khỏi đem lòng mong mỏi cho công lực mình một ngày tinh tiến. Nếu luyện Dịch Cân Kinh theo lối đó thì chỉ tốn công vô ích mà thôi. Xem thế đủ biết lẽ cùng thông, họa, phúc, đều do cơ duyên quyết định, chớ không phải cưỡng cầu mà được.




Có luồng hơi mát không vận hành trong người Du Thản Chi theo đường lối trong đồ hình, thế là gã bỏ không luyện nữa.

Mà thật là kỳ quái! Có khi gã để cách mươi ngày hay nửa tháng mới luyện lại luồng hơi vẫn chạy thông đông không vấp váp.



Trong các môn võ học, bất luận môn gì cũng theo đà luyện tập mà tiến bộ thêm. Dù người cần mẩn đến đâu cũng khó có thể luyện qua sáu giờ trong một ngày, chỉ có môn "Dịch Cân Kinh" là không phải vận nội công, cũng không cần chú ý mà có thể vận hành không ngớt được. Nên dù lúc đang ngủ, công lực cũng tăng tiến.




Ðông tàn, Xuân lại Hạ qua, Thu tới, được hơn một năm.

Du Thản Chi ban đầu môn học Phạn văn cho hiểu nghĩa sách, nhưng càng học càng thấy khó. Gã muốn xem chừng muốn học cho thông nghĩa sách thì dù cặm cụi suốt đời cũng không thành công, nên gã bỏ ý niệm đó.


Ba La Tinh, cũng đâm ra chán nản, sau tức mình quá lão đánh đập Du Thản Chi luôn mấy ngày chứ không dạy chữ.

Du Thản Chi lặng lẽ chịu đòn, nhưng gã cảm thấy lão càng đánh nhiều cũng chẳng thấy gì, chỉ thấy hơi ngứa mà không đau đớn. Gã cho là Ba La Tinh đánh chịu đòn, chứ có hiểu đâu rằng công lực mình mỗi ngày mỗi tiến bộ và đã đến lúc tự bảo vệ được cho mình.




Một hôm xế chiều, Ba La Tinh dạy kinh sách một lúc, nhưng Du Thản Chi chẳng hiểu gì ráo. Lão tức quá phóng cả quyền cước hầm hầm đánh gã một hồi.

Nhưng lúc gã chạy rồi thì lão lại tự thương thân mình nét mặt buồn rầu vô hạn. Lão nghĩ mình bị quần tăng chùa Thiếu Lâm giam cầm không cho về cố hương. Lão toan dạy Phạn văn, Du Thản Chi để gã học thuộc kinh sách rồi cho gã về Thiên Trúc đọc lại thế thì mình dù có phải vì theo mệnh lệnh sư phụ mà xương táng quê người cũng đã góp được phần công đức với bản phái, là làm cho những kinh sách bị thất lạc trở về đất cu. Song gã mặt sắt ngu như trâu dốt như bò, cố dạy hơn một năm mà chưa thuộc nổi mười trang. Thế thì đến đời kiếp nào thì gã mới thuộc hết được ba mươi mấy pho kinh, chắc là đến lúc mình chết cũng chưa xong.


Lão bị thương rồi khóc rống lên một hồi thì đột nhiên tự đằng xa có khúc tiêu vọng lại thoang thoảng lọt vào tai lão.


Hiện nay nội công Du Thản Chi đã tiến đến mực mắt tinh, tai thính nên gã thoáng nghe tiếng sáo lọt vào tai. Chùa Thiếu Lâm phòng viện rộng lớn, sư sãi tu hành thanh tĩnh, cấm tiệt tiếng tơ tiếng trúc. Trong vòng mấy dặm, trước nay không nghe thấy tiếng âm nhạc bao giờ, vậy thì tiếng sáo này ở đâu mà ra?

Du Thản Chi không hiểu nhạc luật, song gã nghe rõ tiếng sáo lúc nhát gừng, lúc liên tục khi lên bổng khi xuống trầm, thanh âm cực kì quái dị.

Gã còn đang ngơ ngẩn kinh ngạc, bỗng nghe bên kia vách ngăn trong phòng Ba La Tinh, cũng nổi lên ba hồi sáo lanh lảnh. Gã liền ghé mắt vào kẽ vách để nhìn sang thì thấy Ba La Tinh tay cầm ống sáo ngắn để lên môi đang thổi. Nhưng lão chỉ thổi ba hồi rồi hạ xuống đút vào bọc vẻ mặt tươi cười hớn hở, vùi đầu vào xuống ngủ.

Từ ngày Du Thản Chi đến ở với Ba La Tinh, chưa bao giờ lão thấy gã hí hửng như bữa nay thì tự hỏi:


- Mấy tiếng sáo vừa rồi hẳn là điều gì quan trọng? Phải chăng lão có đồng bạn ở bên Thiên Trúc qua đây đã tiếp ứng cho lão? Mấy tiếng sáo này Ba La Tinh và Du Thản Chi dĩ nhiên đã nghe thấy rồi, vậy chắc trong chùa Thiếu Lâm cũng có mấy vị cao tăng nghe rõ. Quả nhiên chưởng môn phương trượng truyền pháp dụ ra cho các nơi phải gia tâm phòng bị để cản trở địch nhân xông vào chùa Thiếu Lâm đồng thời phải coi chừng Ba La Tinh, đừng để cho lão trốn thoát.


Ngờ đâu nửa tháng trời, tuyệt không có sự gì xảy ra, mà cũng không có động tĩnh nào khác lạ.


Việc đề phòng tại chùa Thiếu Lâm dần dần trở lại sơ thoáng trễ tràng.

Một đêm kia, giữa lúc canh khuya Du Thản Chi đang ngủ say bất thình lình bỗng nghe có tiếng"chí chí"rất khẽ. Một là hiện nay nội công gã tinh tiến, hai là gã thích chơi rắn rết từ thuở nhỏ, nên vừa nge tiếng rắn độc phì phì là gã biết ngay.

Gã ngồi nhỏm dậy lắng tai nghe thì phát giác ra rằng"chí chí"đó ngay ở phòng bên.


Du Thản Chi toan lên tiếng đánh thức Ba La Tinh phải đề phòng có rắn độc bò đến.


Gã chưa kịp mở miệng thì lại nghe mấy tiếng sáo vu vi giống hệt những tiếng mà Ba La Tinh đã thổi trước đây trên nửa tháng.


Du Thản Chi động tánh hiếu kì, lại ghé mắt qua khe vách ván. Thì eo ôi! Ðầy phòng Ba La Tinh toàn là rắn độc cỡ có đến mấy ngàn con. Con nào cũng cất đầu lên ngất ngưỡng nhìn Ba La Tinh, dường như muốn nhảy xổ vào.


Du Thản Chi lẩm bẩm:

- Chí nguy! Thật là chí nguy! Tìm cách nào mà cứu được lão bây giờ?


Gã định thần nhìn thì thây đàn rắn dừng lại xung quanh Ba La Tinh còn cách ngoài ba thước, mặc dầu những con bên ngoài bò đẩy những con trong cũng chỉ đứng lại trước cái vòng tròn vô hình không xê xịch tiến thêm một tấc nào nữa.


Du Thản Chi nhớ lại bữa trước nhà sư Tam Tĩnh dùng thuốc kỵ vạch vòng tròn để ngăn ngừa con tằm kỳ dị không dám tiến qua, gã chắc rằng Ba La Tinh cũng dùng được vật gì khắc chế các loài rắn độc như Tam Tĩnh đã kiềm chế con tằm kỳ dị kia.


Nghĩ vậy, Du Thản Chi cảm thấy trong lòng ổn định được một chút. Gã chỉ còn chưa hiểu rõ một vấn đề:


- Tại sao bao nhiêu rắn độc ùn ùn kéo về đây?


Bỗng thấy Ba La Tinh cầm ống sáo đưa lên miệng thổi.

Nhưng lần này lão thổi một khúc nhạc rất du dương rất êm ái lọt tai.


Trong mấy ngàn con rắn độc này, bỗng có hai con sắc vàng lắc lư theo nhịp của tiếng sáo. Còn ngoài ra cả đàn rắn: xanh có, đen có, sặc sở có, thì chỉ ngếch đầu lên mà nhìn, chứ không nhúc nhích, nên hai con sắc vàng lắc lư cái đầu theo nhịp nhạc trông càng rõ rệt.


Tiếng sáo của Ba La Tinh mỗi lúc một lên cao, mấy con rắn đi lượn vòng vèo ra ngoài nhá chơi, rồi hơn chục con khác cũng theo ra.


Bất thình lình ngoài cửa có tiếng người kinh hải, la lên:


- Rắn độc! Trời ơi! Rắn độc kéo đến đông quá!


Lại có tiếng người khác nói tiếp:


- Vị Hồ tăng bên Thiên Trúc không chừng bị rắn độc cắn chết rồi? Không hiểu tại sao rắn về nhiều thế?


Một người nữa lại nói:


- Hãy khoan đừng nhhốn nháo! Ðể coi cho rõ rồi sẽ báo.


Du Thản Chi biết ngay đây là những nhà sư chùa Thiếu Lâm đến để canh chừng Ba La Tinh.


Ba la Tinh thổi sáo mỗi lúc một lên cao.

Ðàn rắn độc trong phòng mổi lúc ra ngoài một đông, dường như lũ rắn không chịu nổi tiếng sáo bổng và réo rắt, chúng tới tấp chạy đi. Số đông cất đầu lên rất cao, chỉ còn khúc đuôi ở dưới đất chống lấy cái mình ngất ngểu múa lên.


Ba La Tinh thổi sáo một hồi nữa thì dường như hết hơi.


Ðàn rắn độc trong nhà tranh nhau chạy ra.

Bốn nhà sư đứng ngoài cửa la lối om sòm.

- Lạ quá! Suốt đời tôi chưa bao giờ thấy nhiều rắn như bữa nay!


Có vị nói:


- Phải chăng vị hòa thượng Thiên Trúc này nguyên là xà linh xuất thế?


Có vị nói:


- Ta phải mau mau về bảo với Huyền Nạn sư bá!


Hai con rắn vàng sau bò lại rất nhanh khiến cho Du Thản Chi trông thấy phải hoa mắt.

Ðột nhiên đánh"bịch"một tiếng, một con rắn vàng không chống nỗi nữa, ngã lăn ra nằm dãy. Tiếp theo con rắn vàng kia cũng ngã xuống.


Ba La Tinh vương tay ra nắm lấy một con. Lão lấy một miếng vải dày phủ lên đầu nó lật ngửa con rắn lên sờ soạn một lúc rồi lấy lưỡi dao con rạch vào dụng rắn một đường dài chừng nữa tấc. Ðoạn lão nắn đi nắn lại mấy cái rút ra một cái ống dài chừng ba tấc tựa hồ như một khúc ruột non.


Ba La Tinh người run run bốc ra. bên ngoài có một cuộn tròn nhỏ xíu.

Lão mở ra thì là một mảnh giấy rất mỏng có viết chữ nhỏ dày chi chít.


Du Thản Chi rất lấy làm kỳ, tự hỏi:


- Tại sao trong bụng rắn lại có chữ?


Gã ngưng thần coi kỹ lại thì thấy trên chữ trên mãnh giấy này ngoằn ngoèo theo lối chữ Phạn nước Thiên Trúc. Bấy giờ gã mới tỉnh ngộ, lẩm bẩm một mình:


- Phải rồi! Con rắn này là của đồng bọn lão ta cho đến để đưa tin.


Du Thản Chi còn đang ngẫm nghĩ thì thấy Ba La Tinh lại theo cách trước mổ bụng con rắn vàng thứ hai và lấy ra khúc nữa trong cũng có một mảnh giấy.

Lão mở mảnh giấy ra xem.


Du Thản Chi chú ý nhìn trộm thì văn tự trong mảnh giấy này giống hệt mảnh giấy trước.


Ba La Tinh đưa mắt đọc chữ trên mảnh giấy một lượt rồi để sang một bên.


Du Thản Chi lẩm bẩm:


- Ðối phương hành động cực kỳ chu đáo, họ sợ một con rắn đọc dọc đường có thể xảy ra chuyện bất ngờ nên dùng hai con rắn đem tin. Thư tín trong bụng hai con rắn cũng chỉ coi là một.


Bỗng thấy Ba La Tinh lật dưới chiếu lên lấy ra một mảnh giấy mỏng dùng hòn than nhỏ viết mấy hàng chữ rất nhanh rồi cũng cuốn lại cho vào khúc ruột giả ấy nhét vào bụng rắn.

Lão lại xé một mảnh áo buộc vết thương lại cho hai con rắn.

Ðoạn lão mở cửa liệng một con vào đống cỏ rậm. lão toan thả nốt con rắn thứ hai thì đột nhiên đánh"binh"một tiếng ván cửa bị chưởng phong đánh bật ra.

Ðèn lửa trong nhà bị luồng gió tạt đi.

Giữa lúc này trong phòng xuất hiện thêm bốn vị lão tăng.


Nhà sư đứng đầu bên tã phóng chưởng ra trên không vù vù mấy tiếng nhằm đánh vào tay phải Ba La Tinh.


Ba La Tinh cảm thấy tay phải bị tê nhức. Con rắn cầm trong tay này đánh rơi xuống đất.


Nhà sư đầu mé hữu đưa ngón tay ra lách cách mấy tiếng con rắn nhảy lên một cái.

Sau mấy tiếng bật ngón tay, đầu rắn sưng húp lên huyết nhục nhão ra, liền chết tại chỗ.


Du Thản Chi cả kinh nghĩ thầm:


- Thần công vị lão hòa thượng này đến thế là cùng! Bật tay trên không mà đánh chết được con rắn.


Bỗng thấy nhà sư vừa đánh chết con rắn lên tiếng:

- Vị thần phải nể cây da. Tệ tự kính ngưỡng Ðức Phật Tổ nên sư huynh phạm lỗi lớn là lén vào Tàng Kinh Lâu lấy trộm sách cũng bỏ đi không cứu xét. Tệ tự chỉ lưu sư huynh lại để trọn kiếp tu hành. Thế mà sư huynh gọi rắn rết về nơi cửa Phật là chỗ thanh tịnh làm gì? Như vậy há phải hành động của bậc chân tu!


Ba La Tinh chỉ nhắm mắt chắp tay nhưng không nói gì.


Một vị lão tăng khác nói:


- Con rắn này tất có điều chi kỳ lạ. Tam Thông! Ngươi lượm con rắn đó đem ra ngoài xem xét lại coi. Tại sao mình nó lại quấn băng vải.


Ba La Tinh nghe nói vậy biết rằng cơ mưu của mình đã bị bại lộ, liền phóng chưởng ra nhằm đánh vào con rắn.


Một vị lão tăng đứng ngoài cửa, phất tay áo thầy tu một cái, một luồng kình phong phát ra vù vù cản luồng chưởng phong của Ba La Tinh lại.

Ðồng thời đèn lửa trong phòng tắt phụt. Bụi bặm cùng vôi vữa trên nóc nhà rơi xuống lả tả.


Một nhà sư đứng tuổi ở ngoài cửa chính là Tam Thông cúi xuống lượm con rắn chết lên rồi lui ra ngoài.


Bốn vị lão tăng đồng thời cất tiếng niện:


- Nam mô Phật tổ cứu độ chúng sinh!


Ðồng thời phất tay áo một cái, luồng chưởng phong nổi lên cực mạnh, tấm ván cửa bật ra rồi bay đi rất xa lâu lắm mới rớt xuống.


Bốn nhà sư cũng băng mình ra cửa cùng môt lúc, không có kẻ trước người sau.


Kể ra khuôn cửa này chỉ rộng đủ chỗ cho hai nhà sư sóng vai ấy ra.

Ấy thế mà cả bốn vị vừa né lách coi như một phiến liền bay ra lọt mới kỳ.


Du Thản Chi đứng ở phòng bên thấy thế không khỏi sinh hồn động phách, lẩm bẩm:


- Trên thế gian sao lại có hạng võ công ghê gớm đến thế? Kẻ đại cừu của ta là Kiều Phong tự xưng "Thiên hạ vô địch" nhưng đem so với mấy vị cao tăng này chưa chắc thấm vào đâu?


Thật ra bốn vị lão tăng này tuy công lực thâm hậu nhưng so với Kiều Phong một tay thần võ, hãy còn kém xa.

Kể về võ công thì hiện giờ Du Thản Chi cũng đã hơn bốn vị lão tăng nầy rồi. Có điều gã không tự biết mà thôi.


Ba La Tinh thấy bốn nhà sư ra khỏi rồi, ván cửa cũng rời ra.

Những trận gió thu thổi ào ào vào phòng càng tăng thêm vẻ tiêu điều.


Lão nghĩ tới con hoàng xà đã vào tay đối phương, lại chùa Thiếu Lâm thế nào chả có người hiểu Phạn văn và những điều bí mật của mình tất bị họ khám phá. Thế là giấc mộng trở về Thiên Trúc lại tan ra bọt nước.


Lão càng nghĩ càng buồn rầu, rồi đột nhiên nằm phục xuống khóc rống lên.


Du Thản Chi thấy Ba La Tinh khóc lóc cực kỳ thống thiết, trong lòng bất nhẫn lên tiếng an ủi lão:


- Sư phụ! Mới có một con rắn bị họ đánh chết, còn con kia trốn thoát rồi cũng đủ đưa tin đi, hà tất sư phụ phải đau lòng như vậy?


Ba La Tinh nghe lão nói thế, ngừng bật tiếng khóc, bảo:


- Ngươi... Ngươi ra đây!


Du Thản Chi đứng dậy chạy ra phòng lão nói:


- Tiểu nhân đi tìm những tấm ván cửa lấp lại đã!

Ba La Tinh nói:


- Khoan đã! Sao ngươi biết ta còn một con rắn nữa trốn thoát?


Du Thản Chi đáp:


- Tiểu nhân nhìn rõ cả sư phụ nhét một miếng giấy vào bụng nó.


Ba La Tinh đáp:


- Hừ! Không phải tâm ta độc ác với ngươi, nhưng ngươi đã phát giác ra điều bí mật của ta. Vậy ta dung ngươi thế nào được?




Nói xong đột nhiên lão đứng phắt dậy nhảy xổ tới sau lưng Du Thản Chi, giơ hai tay ra bóp chặt cổ gã.


Du Thản Chi bị Ba La Tinh nghẹn cổ muốn hô hoán lên, nhưng không kêu ra tiếng được.

Gã thấy bốn ngón tay lão cứng như sắt mội lúc một ghịt chặt thêm.


Gã bị người đè nén ngược đãi quen rồi, không nghĩ gì đến ra tay kháng cự.

Trong lòng gã những muốn năn nỉ:


- Sư phụ ơi! Xin sư phụ nới tay! Tiểu nhân không dám đưa việc hoàng xà đó nói với ai đâu?


Mà không sao nói ra được.


Ba La Tinh không sao nghe tiếng gã lầm bầm mà dù cho lão có nghe thấy chăng nữa, cũng không chịu dung tha.


Du Thản Chi vừa đau đớn vừa sợ hải quá, quỳ mọp ngay xuống nhưng Ba La Tinh chỉ mỗi lúc một rít chặt tay thêm.


Du Thản Chi thấy tối tăm mặt mũi, nghĩ thầm:


- Phen này ta đành chịu chết rồi!


Bỗng nghe phía sau có người hắng giọng rồi lên tiếng nói:


- Ba La Tinh thấy có hai nhà sư Thiếu lâm đến nơi, đành phải buông Du Thản Chi, giọng xẳng hỏi:


- Các ngươi đến đây có việc chi?


Một nhà sư Thiếu Lâm lùi lại một bước, nấp vào sau nhà sư kia rồi mở mảnh giấy đọc mấy câu li la li lô, đoạn nói tiếp:


- Bức thư gởi cho đại sư đại ý nói: đến đêm trăng tròn sau người sẽ đến chùa để đón đại sư. Ha ha! Ðáng tiếc, thật là đáng tiếc.


Ba La Tinh hỏi:


- Tiếc cái gì?


Nhà sư kia nói:


- Ðáng tiếc không giữ được kín đáo. Phong bì này bị bần tăng khám phá ra được.





Ba La Tinh cáu tiết nói:


- Bọn Hòa Thượng Trung Nguyên các ngươi đều là phường vong ân bội nghĩa. Các ngươi đã qua bên Thiên Trúc lấy kinh về rồi giữ làm của mình. Ta đây bất quá mượn xem lại chỉ vì các kinh này cũng chỉ của Thiên Trúc mà ra. Các ngươi uống nước mà không biết nhớ nguồn. Sao không nghĩ đến chỗ những king sách vì đâu mà có?


Nhà sư kia đáp:


- Nếu sư huynh chỉ coi kinh cũ của Thiên Trúc thì chúng tôi quyết không ngăn trở làm gì. Ðừng nói sư huynh lấy ra đọc, mà có bản sao lại thì chùa Thiếu Lâm chúng tôi cũng xin làm giúp để hoàn thành công đức là đã giữ được những pho kinh cũ quy hoàn bên Thiên Trúc. Nhưng sư huynh lại xem trộm những bí lục về võ học của các vị cao tăng bao nhiêu đời của chùa Thiếu Lâm soạn ra. Như thế thì không thể được.


Ba La Tinh tức giận nói:


- Ta đọc là đọc những kinh sách bằng chữ Phạn của nước Thiên Trúc bọn sư sãi Trung Nguyên các ngươi làm gì có kinh sách bằng chữ Phạn?


Nhà sư kia đáp:


- Ấy chính chỗ đó mới là kỳ dị...


Du Thản Chi nghe hai bên tranh biện, cũng đem lòng suy luận xem ai phải ai trái.

Gã lẩm bẩm:


- Kể ra thì chùa Thiếu Lâm đối xử với nhà sư Thiên Trúc không có gì quá đáng, chỉ giữ lão không cho rời khỏi chùa này mà thôi. Nhưng biết đâu canh khuya tịch mịch, lão không giết mình. Nếu bây giờ không trốn đi, e rằng khó lòng toàn mạng.


Nghĩ vậy gã rảo bước ra khỏi rừng trúc, quanh qua vườn rau, gã nhìn không thấy ai liền co giò chạy tuốt. Gã chạy mỗi lúc một mau thoáng cái đã qua hai ngọn núi. Gã cảm thấy nhẹ nhàng gặp những tảng đá lớn, gã chỉ khoa chân một cái nhảy qua, hay gặp khe lạch, gã chỉ đề thí là nhảy sang bờ bên kia như không?


Du Thản Chi cắm cổ chạy một lèo. Khi ngoảng đầu lại coi thấy chùa Thiếu Lâm ẩn hiện trong đám rừng cây và cách đã xa rồi.

Gã dừng bước lại, trong lòng rất lấy làm quái dị tự hỏi:

- Sao mình chạy được nhiều đường đất đến thế mà không chút mệt nhọc? Sao mình chạy bước lại mau lẹ khác thường? Hay là... có ma đưa lối quỷ đem đường?


Du Thản Chi đang ngẫm nghĩ, bỗng thấy những ngọn khói cuồn cuộn bốc lên trên không ở phía sau chùa, thì khinh sợ lẩm bẩm:


- Chà chà! Trong chùa đang nấu cơm. Lát nữa Ba La Tinh bảo mình đi lấy cơm, lão không thấy tất lên tiếng gọi và bọn thầy chùa tất đuổi theo mình.


Nghĩ tình cảnh bị bắt về chùa, chắc chết mất mạng, gã lại co dò chạy tuốt.

Lần này gã hoang mang quá không phân biệt đường lối cứ nhằm vào đám rừng hoang rậm rạp mà chạy dài, với ý nghĩ xa chùa Thiếu Lâm được chừng nào hay chừng nấy.


Du Thản Chi chạy hồi lâu, quay đầu nhìn lại phía chùa Thiếu Lâm thì thấy rừng núi trùng điệp, không còn thấy mái chùa đâu nữa, gã đã hơi yên dạ. Nhưng gã vẫn chưa hết băn khoăn, lủi vào trong bụi cỏ rậm để nghe ngóng bốn mặt xem có động tịnh gì không.


Trong hang động chim hót líu lo, trùng kêu rộn rã. Giữa cảnh hoang vu u tịch, về góc Tây bắc, đột nhiên có hồi sáo thổi vọng lại.

Du Thản Chi giật mình đánh thót một cái, vì tiếng sáo này giống hệt tiếng sáo Ba La Tinh thổi hôm trước để gọi rắn độc về.

Gã toan đứng dậy chạy trốn mà không hiểu tại sao chân mình tựa hồ đóng đinh xuống đất không sao nhúc nhích được.

Gã lại càng hoảng hốt la thêm "Có ma! Có ma!."


Thực ra chỉ vì gã khiếp sợ quá và cặp giò nhủn ra.

Tiếng sáo mỗi lúc một gần, Du Thản Chi ngồi trong cỏ rậm dương mắt lên nhìn thì thấy trên sườn núi mé Tây Bắc có hơn mười nhà sư người Hồ, mình mặc áo vàng để lộ tay trái ra ngoài.

Người nào mặt cũng đen thui, rõ ràng cùng một chủng tộc với Ba La Tinh.

Bọn Hồ tăng này chạy đến đầu mé núi tả thì xếp bằng ngồi xuống, cứ bốn người một chỗ, cả thảy mười sáu người.

Trung Quốc
06-12-2002, 10:34 AM
Hồi 54 - Lục Mạch Thần Kiếm - Nguyên Tác: Kim Dung
Cuộc tỉ thí nội công giữa hai phái Tinh Tú và Hồ tăng
Du Thản Chi rất lấy làm kỳ nghĩ thầm:

- Chốn này hoang sơn tịch mịch, tứ phía không người, mười sáu nhà sư người Hồ giở trò yêu ngoa quỷ quái gì đây? Chẳng lẽ họ đến tìm mình?


Sự thực tuy không phải thế, nhưng gã như con chim phải tên sợ cây cung, gã nấp vào trong bụi cỏ rậm, không dám nhúc nhích.


Bỗng thấy mười sáu vị Hồ tăng ngồi xuống rồi miệng đọc lâm râm. Lúc đầu thanh âm nhỏ như tiếng muỗi vo ve, rồi dần dần một lúc một cao giọng.


Du Thản Chi thấy họ niệm những gì "Mầu ni ha ma hống" dường như là những câu thần chú tiếng Phạn. Mỗi khi gã nghe những từ ngữ đoạn văn là y như nhức đầu, bọn Hồ tăng này lại tụng niệm thanh âm vang dội, cả mười sáu người cùng một giọng giống nhau lúc khoan lúc nhặt, khi ngắn khi dài.


Cả mười sáu người tụng niệm rất đều nhau, khác nào do miệng một người phát ra thanh âm.


Lúc tiếng tụng niệm lên cao đến cùng cực thì góc Ðông Bắc vọng lại mấy tiếng u ú khác nào tiếng quỷ hú lúc canh ba, thanh âm này tuy nhỏ bé mà người nghe không khỏi ớn da gà. Thanh âm vừa vọng đến thì tiếng tụng niệm mười sáu gã Hồ tăng lập tức rối loạn, song chỉ một lát lại đồng đều như trước.


Tiếng u ú như quỷ hồn vang lên hai lượt thì thanh âm tụng niệm Phạn ngữ của Hồ tăng cũng bị nhốn nháo hai lần.


Du Thản Chi để ý nhìn vẻ mặt mười sáu vị Hồ tăng thì thấy có người ra chiều phẫn nộ, có người lộ vẻ kinh hoàng.

Bây giờ mười sáu người này chia làm chia làm hai toán: một toán tám người tụng niệm tiếng Phạn, còn một toán nữa lại tụng niệm lối khác.

Ðồng thời thanh âm bên kia cũng phân làm hai loại rú lên hai thứ tiếng"ú ú""toe toe" khác nhau.

Thanh âm bọn Hồ tăng lại hỗn loạn rồi chia làm bốn tốp, tụng niệm bốn loại thần chú khác nhau.


Du Thản Chi dường như đã đoán ra bảy tám phần. gã tự hỏi:


- Bọn chống đối đám Hồ tăng là ai?


Rồi gã tự trả lời:


- Ðương nhiên là các nhà sư chùa Thiếu Lâm. Chắc hẳn bọn Hồ tăng này đến tiếp viện đón Ba La Tinh về nước và một đằng các nhà ư chùa Thiếu Lâm nhất định giữ lại không buông tha.


Gã suy nghĩ một lát rồi biết mình đoán lầm một phần.

Từ góc Ðông Bắc một toán người từ từ đi đến.

Giữa đám người này có một lão già thân thể cao to lớn vạm vỡ, so với người xung quanh cao hơn nửa cái đầu.

Lão này chúm môi huýt sáo. Mỗi lần huýt sáo lạinphát ra tiếng "vú" như quỷ gào.




Tám người này đều mặc áo đơm bằng vải gai màu vàng và mỗi người đều cầm một cây cương trượng vừa dài vừa lớn.

Ðặc biệt là trong tay lão già cầm một cây quạt lông. Sắc mặt hồng hào tươi đẹp như người còn ít tuổi. Ðầu tóc lão bạc phơ. Dưới cằm ba thước rau bạc. Trông lão khác nào như một vị tiên đồng nhan hạt phát trong tranh vẽ.


Toán người này đi lại còn cách bọn Hồ tăng vài trượng thì dừng bước.

Lão già chúm môi huýt sáo phát ra mấy tiếng rùng rợn.

Bọn Hồ tăng không chống nổi, ba người công lực kém nhất ngã lăn ra trước.


Lão già khẽ phe phẩy quạt lông lại huýt sáo mấy hồi nữa, lão dùng quạt lông quạt một cái tiếng sáo phóng ra xa.

Bốn Hồ tăng khác ngồi đối diện với lão lại ngã lăn ra.


Tình trạng này khiến cho các nhà sư người Hồ tụng niệm Phạn chú hoảng loạn cả lên.


Còn chín lão Hồ tăng gắng gượng chống chọi, đồng thời lộn đầu xuống giơ chân lên, xoay tít người.


Du Thản Chi đã nhìn thấy Ba La Tinh hôm trước đây dùng thân pháp này để kháng cự các nhà sư chùa Thiếu Lâm.


Gã biết rằng đây là một thế võ oai lực rất mạnh của bọn Hồ tăng.


Lão già phe kia lộ vẻ mỉm cười nhằm đúng chỗ sơ hở của đối phương lại huýt sáo "toe toe" lên một tiếng.

Bên Hồ tăng có người té theo, có người nghiêng mình đi tránh được, chỉ lảo đảo mấy cái rồi đứng vững lại.

Tiếng huýt sáo của lão già chẳng khác gì một thứ ám khí hũu chất vô hình lợi hại.


Trong khoảng thời gian chừng hơn cháy hết tuần hương, chín lão Hồ tăng lại có bốn lão ngã xuống.


Bọn người tùy tùng lão già phe kia thi nhau tán tụng lão.


Nào là:


- Công lực sư phụ thật chấn động cổ kim. Bọn Hồ tăng kia chống đối với phái ta phỏng khác gì lùa đom đóm tranh sáng với ánh mặt trời.


Nào là:


- Ðối phương tựa hồ châu chấu đá voi, không biết tự lượng sức mình. Buồn cười quá!


Nào là:


- Sư phụ giởn chơi mà đẩy được bọn yêu ma quỷ quái vào đất chết, khác nào nhổ cỏ khô bẻ cành mục. bọn đồ nhi chẳng những chưa từng mắt thấy mà cũng chưa từng được nghe ai nói đến bao giờ.


Nào là:


- Ðây là một kỳ công vỉ tích không tiền khoáng hậu. Nếu không có sư phụ thì bọn Hồ tăng bên Thiên Trúc này coi Ðông thổ không còn có ai, mà bọn họ hoành hành không còn úy kỵ gì nữa. Nào là; - Có điều đáng tiếc là những nhân sĩ của các phái võ Trung Nguyên chưa được chứng kiến cuộc này, nên dù có kể lại họ nghe thì những người hũ hậu đó chưa chắc đã tin là sự thực.


Bọn đồ đệ xúm vào tán tụng sư phụ chẳng hiểu câu gì.

Nhưng lão già vẫn chúm môi huýt sáo.

Tiếng sáo nhọn như mũi tên bắn ra tuyệt không để làm cho lời ca tụng làm trở ngại.


Tình thế đã rõ rệt! Lão già chỉ thổi mấy hơi nữa là mười sáu lão Hồ Tăng đều bị chế phục, thốt nhiên đến nỗi lên mấy tiếng sáo lanh lãnh do một người trong đám Hồ Tăng thổi lên.


Du Thản Chi chú ý nhìn ra thấy một người trong năm vị Hồ Tăng đứng lộn ngược, đưa ống sáo lên miệng gắng sức thổi. Còn bốn nhà sư kia bày thành hàng chữ nhất xoay chuyển rất mau như đèn kéo quân để hộ vệ cho lão đứng giữa thổi sáo và ngăn ngừa cho tiếng sáo huýt bên địch không xâm nhập.


Du Thản Chi hỏi:

- Y thổi ống sáo làm chi vậy?


Bỗng thấy trong đám cỏ rậm bên cạnh mình có tiếng phì phì. Một con rắn ngũ sắc chiếu ra, Du Thản Chi biết con rắn này cực độc. Gã còn biết rõ rằng dù người có sợ rắn, mà thực ra thì bất luận là rắn độc, hay ác thú vẫn sợ người hơn là người sợ chúng. Miễn là người đừng trêu cho nó tức giận thì không bao giờ nó nhảy vào cắn người.


Nghĩ vậy gã nằm im thin thít trong đống cỏ không dám nhút nhích.

Gã nhìn thấy con rắn độc này đứng thẳng đầu lên ngất ngưởng đi về phía lão già.


Trước khi con rắn chưa ra khỏi bụi rậm, bọn đệ tử đứng bên lão già đã sợ hãi, có kẻ la:


- Rắn độc! Rắn độc!


Tên khác la:


- Chao ôi! Nguy rồi!


Tên khác gọi:


- Sư phụ ơi! Bọn rắn độc dường như xông lại phía chúng ta.


Du Thản Chi ngước mắt nhìn ra ngoài thì thấy mười mấy con rắn đủ cỡ bốn mặt xông vào lão già cùng bọn đệ tử. Bọn này lại kêu loạn lên. Nào là:


- Ðáng tiếc là chiếc Bích Ngọc Vương Ðỉnh kỵ rắn lại không có ở đây!


Nào là:

- Con tiện tỳ A Tử! Phen này bắt được nó thì phải phanh thây làm muôn đoạn!


Nào là:


- Nói lắm vô ích, đánh mau đi, đánh mau đi?


Nào là:


- A Tử không ăn cắp đỉnh ngọc đem đi thì... chao ôi! Nguy rồi!


Du Thản Chi nghe bọn này đề cập đến A Tử, ban đầu gã còn cho là người khác. Sau gã nghe thấy một người nói đến A Tử và đề cập đến đỉnh ngọc là vật chi bảo để chế khắc rắn độc thì trống ngực gã đánh thình thình.

Gã lẩm bẩm:


- Ðúng là bọn chúng nói tới cô nương rồi. Chẳng lẽ cái đỉnh ngọc đó cô nương đã lấy trộm của bọn chúng đem đi.


Bọn đệ tử giơ cương trượng lên nhắm vào chỗ lũ rắn độc bò đến đập xuống.

Chỉ có lão già thần sắc vẫn thản nhiên và chúm chím môi huýt sáo nhắm đối phương tấn công.


Bọn Hồ Tăng đứng đối diện thấy tiếng sáo huýt không ngớt, bốn lão Hồ tăng kia lại càng hồi hộp.


Du Thản Chi nghĩ bụng:

- Khu vực này bát ngát thì mấy con rắn độc kia chỉ một lúc là bị bọn họ dùng cương trượng đánh chết hết, chứ làm cóc gì được?


Nhưng đàn rắn đến mỗi lúc mỗi nhiều.


Chỉ trong khoảnh khắc xung quanh bọn người này đã có đến hàng mấy trăm con tụ tập. Trong đám này lại có đến ba bốn con trăn lớn.


Mấy con rắn lại gần đến nơi hất khúc đuôi lên trước quấn chặt lấy hai tên đồ đệ tiếp theo lại hai tên nữa bị trăn quấn. Kể ra thì khi bọn này vừa thấy rắn mà co giò trốn chạy thì đàn rắn thế nào đuổi kịp được. Nhưng khốn nổi sư phụ còn đang nghinh địch, khi nào đồ đệ dám bỏ đi. Chúng đánh múa tít binh khi 1đập xuống ầm ầm. Họ đập một lúc chết được tám chín chục con, nhưng cũng đến bảy tám tên phải bị rắn cắn bị thương.





Mấy con trăn thực là lợi hại, da to thịt dầy, bị cương trượng đánh mà nó vẫn còn đi được như không việc gì. Khi nó đã quấn được thì mỗi lúc một chặt thêm không không chịu buông tha.


Tiếng sáo thổi mỗi lúc một gay gắt thêm thì đồng thời giống trăn lớn cũng đến nhiều.

Trong khoảng thời gian chừng ăn xong bửa cơm đã thấy gần hai mươi con bò lại.


Lão già thấy tình thế nguy cấp toan bỏ chạy, không ngờ bị hai con rắn nhỏ bất thình lình nhảy chồm lên cắn vào mặt.


Lão giận quá quát lên một tiếng:


- Gớm thật! Rồi vung quạt lông đánh mạnh ra. hai con rắn nhỏ bị đánh rớt xuống, đột nhiên lão lại thấy một vật nhũn ở gót chân. Lão biết là nguy rồi, liền nhảy vọt lên cao. Bỗng nghe mấy tiếng sáo lanh lảnh, bốn con trăn đồng thời tung khẩu đuôi lên quấn đuôi vào người lão.


Lão già còn đang lơ lửng trên không phóng hai chưởng ra đánh "binh binh."

Lập tức hai con trăn ở trước mặt và bên tả bị hất ra, chúng loạng choạng rồi bắn ra hai trượng.


Giữa lúc ấy hai con trăn lớn khác lại tung khấu đuôi đánh tới.

Trong lúc nguy cấp lão vận kinh lực đoạn đánh ra một chưởng. Chưởng phong cực kỳ mãnh liệt đánh đập nát đầu con trăn. Lúc này lão mãi vận kình lực để chống cự với những con trăn lớn, miệng không huýt sáo được.


Bốn vị Hồ Tăng nhân lúc rãnh tay đều lấy ống sáo ngắn ra thổi lên.


Lúc năm ống sáo cùng lên tiếng thì đàn rắn độc ào ào kéo đến như nước thủy triều. Tuy lão già đã đánh chết được ba bốn con trăn lớn. Nhưng sau lưng cùng trên đùi lại bị hai con khác quấn chặt.


Lão già hết sức bình sinh quát lên một tiếng khiến cho con trăn trên lưng lão bị đứt làm hai đoạn. Máu tươi đã chảy đỏ lòm khắp mình mẩy.


Giống trăn thực là dai sức, tuy nó bị đứt rồi mà không chết ngay. Nó nhịn đau vặn thật mạnh khiến cho xương cốt lão cơ hồ muốn gãy.

Lão già hết sức kháng cự thì lại có hai con trăn lớn khác nhảy lại quấn lấy lão, đồng thời quấn cả hai tay, khiến cho lão không còn cách nào kháng cự được.


Du Thản Chi ở trong đám cỏ rậm ngó thấy tình cảnh kinh hồn động phách này, cũng sợ tán hồn, dường như nghẹt thở.


Bọn Hồ Tăng thấy mọi người bên địch bị rắn trăn cuốn chặt chỉ còn tiếng rên rĩ nhiếc mắng mà không còn kháng cự được, nên hô không thổi sáo nữa. Bọn họ lại cất đầu lên hạ chân xuống đứng dậy.


Lão Hồ tăng thổi sáo trước tiên, đầy mặt râu quặp, rõ ràng là thủ lĩnh bọn họ, lão tiến lại mấy bước dỏng dạc hỏi:


- Tinh Tú Lão Quái! Bọn ngươi và bọn ta đều đến Trung Nguyên, hai bên không can thiệp gì đến nhau, sao ngươi lại bắt con rắn lớn của ta nuôi đem mổ bụng?




Nguyên lão già mặt mũi hồng hào đầu tóc bạc phơ phảng phất như tiên ông kia chính là Tinh Tú Lão Quái tên gọi Ðinh Xuân Thu mà các nhân sĩ trong võ lâm ở Trung Nguyên đều biết tiếng và ghét cay ghét đắng vì môn phái lão chuyên về tà thuật.


Nhân vì chiếc Bích Ngọc Vương Ðỉnh một trong ba vật lớn của phái Tinh Tú, bị nữ đệ tử là A Tử ăn cắp đem đi mất. Ðinh Xuân thu đã phái bọn đệ tử chu du lùng bắt. Thậm chí cả đại đệ tử phái này là Trích Tinh Tử cũng ra đi tầm nã, song lần nào cũng đưa tin về toàn những điều bất lợi cho bản phái mà vẫn chưa lấy lại được Ðỉnh Ngọc.


Sau cùng nghe tin A Tử nương tựa vào thế lực bang chúa Cái Bang là Kiều Phong che chở cho. Trích Tinh Tử bị đánh đập thảm thương thập tử nhất sinh.


Tinh Tú Lão Quái Ðinh Xuân Thu được tin này vừa kinh hải vừa căm hận. Lão biết Cái Bang là một Bang lớn nhất trong các phái võ Trung Nguyê, khó mà đối chọi được nên lão phải thân hành Ðông du một chuyến. Chuyến đi này của lão mục đích thứ nhất là giật lại chiếc Bích Ngọc Vương Ðỉnh. Còn việc tìm Kiều Phong để trả hận và bắt A Tử trị tội thì lão chỉ liệt vào hạng quan hệ tầm thường.


Dọc đường, lão muốn yên phận giữ mình, không có ý gây sự với ai.


Việc luyện "Hoá công đại pháp" của phái này là thời thượng phải kiếm chất độc ở các giống rắn rết tẩm lòng bàn tay cho thấm vào cơ thể. chỉ trong vòng bảy ngày mà không có chất độc mới tẩm vào thì chẳng nhhững công lực bị giảm sút mà những chất độc tích trữ mấy chục năm trời, không được chất độc mới thấm vào khắc chế bớt đi, lại bắt đầu bộc phát dần dần sinh ra tai họa ghê gớm không biết đâu mà lường.


Năm nay một vị trưởng lão trong bản phái đã luyện xong Hóa công đại pháp rồi phạm tội bị sư phụ bắt không cần hành tội chỉ đem giam vào nhà thạch thất, khiến cho trưởng lão đó không có cách nào bắt được trùng độc để tiếp tục lấy nọc độc mới tẩm vào mình. Kết quả lão này bị chất độc trong mình lên cơn cực kỳ khổ sở vì da thịt trong toàn thân bị nát nhừ.


Lão không thể nào chịu lâu được, rên rĩ kêu gào hơn bốn mươi ngày mới chết.


Tinh Tú Lão Quái tuy đã là một tay độc ác vô cùng nhưng nghĩ tới thảm cảnh này không khỏi phát ớn và hổ thẹn.





Bích Ngọc Vương Ðỉnh có tính chất thiên nhiên tiết ra một luồng hơi đặc biệt, mỗi khi đốt hương liệu lên thì chỉ trong khoảnh khắc là dẫn dư rắn rết độc bò về. Trong phạm vi mười dặm, không còn thứ trùng độc nào đã ngửi thấy mùi hương mà chống lại nổi, không tìm đến.


Ðinh Xuân Thu có chiếc Ðỉnh Ngọc trong tay nên việc bắt trùng độc không tốn một chút hơi sức nào mà phép Hóa công đại pháp càng luyện càng thâm.


Luyện phép "Hóa công đại pháp" khác gì người tập uống rượu. Ðã uống được rồi thì mỗi ngày uống nhiều thêm không thể nào bớt đi được.


Chất độc tong người càng ngày càng đầy dẩy có đụng độ với kẻ địch bên ngoài, chất độc trong mình mới bài tiết ra được chút ít vào người bên địch. Nhưng phái Tinh Tú ở vào một khu đảo hẻo lánh bờ biển tinh Tú. Trong phạm vi mấy dặm bất luận người phái võ nào cũng không dám bén mảng đến để cho người phái Tinh Tú có chỗ tiết độc.


Cứ trong bảy ngày lại phải một lần bôi chất độc mới vào. Chất độc chỉ có phần mỗi ngày một tăng gia chứ không bao giờ giảm sút. Hết ngày này sang ngày khác năm này qua năm khác, thì chất độc chứa chất trong cgười phải đấn mức độ nghê hồn.


A Tử mưu mô ghê gớm. một hôm nàng chờ sư phụ bắt trùng độc xong rồi, liền từ giã đi Ðông du.


Ðến lúc Tinh Tú Lão Quái phát giác ra nàng ăn cắp chiếc đỉnh ngọc mang theo thì đã qua bảy ngày và A Tử đã trốn đi xa rồi. Nàng theo những con đường nhỏ hẹp mà đi, nên biệc truy nã rất khó. Bọn sư huynh nàng tuy võ công hơn nàng, nhưng mưu cơ đều kém xa nàng. Nàng dùng cách hư trương thanh thế dương Ðông kích Tây (nhắm bên đông mà đánh bên tây) liên tiếp bày ra bao nhiêu ngụy kế để trốn tránh.


Tinh Tú Lão Quái ở vào khu đất ẩm thấp trong hang núi tối tăm rất có nhiều rắn độc và trùng độc. Tuy lão mất đỉnh ngọc, nhưng việc bắt trùng độc rắn độc để tiếp tục luyện công cũng không khó khăn gì. Có điều sẵn đỉnh ngọc trong mình thì việc bắt rắn dễ hơn và mỗi lần bắt được những thứ trùng độc ghê gớm hơn, hiếm có hơn, kỳ dị hơn. Bây giờ thì bắt được thứ nào dùng thứ ấy không được như ý mình.


Lại còn một điều nữa khiến cho lão quan tâm hơn là lỡ ra bọn cao thủ Trung Nguyên khám phá ra lai lịch chiếc đỉnh ngọc thì bất luận là ai họ cũng đập tan đỉnh ngọc tức khắc. vì thế ngày nào chưa lấy đỉnh nhọc về là lão chưa yên tâm ngày ấy. Thực ra lão chẳng muốn xuống Trung Nguyên chút nào song biết bao nhiêu đệ tử đi tìm mà vẫn không được việc. Cân nhắc đường lợi hại lão đành mạo hiểm một phen.


Ðinh Xuân Thu đi đến giới tỉnh Thiểm Tây thì gặp bọn đồ đệ trong môn phái. Ðại đệ tử là Trích Tinh Tử bị mất hết võ công và đã bị bọn sư đệ đánh đập nhừ tử rồi ngược đãi đến nổi không còn hình người nữa. Nhị đệ tử là gã mũi sư tử chiếm chức vị đại sư huynh.


Bọn đệ tử thấy sư phụ thân hành ra đi thì vừa kinh ngạc vừa sợ hãi. Bọn chúng đều nghĩ rằng vì không hoàn thành được sứ mệnh của sư phụ giao phó và sẽ bị một phen trách phạt cực kỳ thảm khốc khó lòng chịu nổi.


May mà Tinh Tú Lão Quái đang gặp lúc cần người, tạm gác chuyện trách phạt lại, cho chúng đối tội lập công.


Mọi người lên đường nghe ngóng tin tức Cái Bang. Một là bọn chúng bộ dạng kỳ dị cách nói năng và hành động lại càng làm cho người ta ghê tởm chán ghét, không ai muốn nói rõ biết. Hai là Kiều Phong đã sang nước Liêu làm đến Nam Viện Ðại Vương trong võ lâm ít người biết đến, nên khó lòng dò được tin xác thực. Ngay đến việc tổng đà Cái Bang dời đi đâu chúng cũng không điều tra được.


Ðinh Xuân Thu trong lòng nóng nảy, nghĩ thầm:


- Phái Thiếu Lâm được các phái võ Trung Nguyên rất trọng vọng. Bất luận một cử động nào trong võ lâm Trung Nguyên đều không thể qua mắt các vị cao tăng chùa Thiếu lâm được. Chi bằng mình đến chùa Thiếu lâm không gây thù oán với phái này, mình không đến đấy để họ dọ thám mà xin vào ra mắt đàng hoàng để hỏi thăm tin tức thì hẳn Huyền Từ phương trượng chùa Thiếu Lâm cũng nể mặt mình đôi chút.


Nghĩ vậy lão dẫn bọn đệ tử đi về phía núi Thiết Thất Tỉnh Hà Nam. Trong khi đi đường đoàn người này đã thấy chất độc trong mình rục rịch lên cơn. Họ liền bắt rắn độc để lấy nọc bôi vào.


Tinh Tú Lão Quái Ðinh Xuân Thu dẫn đoàn đệ tử vào địa giới tỉnh Hà Nam.

Một hôm đang đi đường, đột nhiên thấy hằng hà sa số rắn độc bò ra, lão mừng quá, lập tức sai đồ đệ bắt thật nhiều để lấy nọc độc đổ gan bàn tay. Việc này rất bổ ích và rất cần thiết cho phép "Hóa công đại pháp" của lão.


Tuy lão biết rằng rắn độc kéo thành đoàn thế này là một điều kỳ lạ không phải tầm thường, nhưng lão đã là người tài nghệ cao siêu lại gan dạ hơn đời. Lão làm một vị chưởng môn trên bờ biển Tinh Tú chẳng khác gì ông vua con. Quyền sinh sát trong tay tha hồ mà làm mưa làm gió, nên lão chẳng thèm quan tâm điều gì. Dè đâu đàn rắn này lại có chủ.


Nguyên phái Hồ Tăng bên nước Thiên Trúc sai Ba La Tinh đến chùa Thiếu Lâm để lấy trộm kinh sách, lâu ngày không thấy tin tức gì nên cho mười sáu nhà sư đến tiếp ứng.


Kể ra thì những vị Hồ Tăng Thiên Trúc này võ công chẳng cao cường gì lắm, nhưng họ có một tuyệt kỳ bí mật là dùng tiếng sáo để sai khiến rắn rết.


Bọn Hồ Tăng từ nước Thiên Trúc trèo đèo lội suối, vừa đi vừa thổi sáo dẫn dắt rắn độc xuống Trung Nguyên. Ðường sá xa xôi diệu vợi, hãy tính trong mười dặm mới có một con rắn độc theo ra cũng đã nhiều lắm rồi. Ðương nhiên là dọc đường chẳng may cũng có một số lớn không chịu nổi đường xa hoặc khơng chống lại được thủy thổ nóng lạnh từng nơi, đã chết đến quá nửa. Thế mà khi tới địa giới tỉnh Hà Nam hãy còn lại một con số ghê người, nhất là mấy chục con trăn lớn dài đến mấy trượng. Những con số này đã từ mấy khu rừng rậm bên nước Thiên Trúc dẫn đến thật là giống vật hiếm thấy ở Trung Nguyên.


Bọn Hồ Tăng này tự biết rằng nếu trông cậy vào nhân số cùng võ công thì quyết không tài nào địch nổi bọn tăng sĩ chùa Thiếu lâm vừa mạnh vừa đông. Huống chi phái Thiếu Lâm lại là lãnh tựu phái võï Trung Nguyên, chẳng chống thì chầy, những tay hào kiệt các phái sẽ kéo đến viện trợ. Nếu tranh đấu đường hoàng thì nhất định sẽ bị đại bại. Nhưng đột nhiên đuổi hàng vạn con rắn độc ồ ạt kéo vào chùa Thiếu Lâm đánh một cách chớp nhoáng khiến họ trở tay không kịp thì tuy chẳng đánh đổ được môn phái này, nhưng việc cứu Ba La Tinh và cướp ít kinh sách đem về cũng không thể làm được.


Bọn Hồ Tăng ngày nghĩ đêm đi để dân cư dọc đường khỏi kinh hãi khi thấy rắn rết. Vào đến địa giới tỉnh Hà Nam chưa bao lâu thì phát giác ra rằng có nhiều rắn độc bị giết.


Sau cuộc điều tra cặn kẽ, bọn Hồ Tăng biết là Tinh Tú Lão Quái đã hạ thủ giết rắn của mình.





Tinh Tú Hải cũng cách Thiên Trúc không xa mấy oai danh cũng hành vi độc ác của Tinh Tú Lão Quái, bọn nhân sĩ võ lâm nước Thiên Trúc đều biết tiếng.


Bọn Hồ Tăng bản tâm không muốn sinh sự với bọn Tinh Tú làm gì. Nhưng Lão Quái càng ngày càng tệ hại, chuyên tìm những con rắn kịch độc để giết khiến cho uy lực của đàn rắn giảm đi rất nhiều. Bọn Hồ Tăng không nhẫn nại được nữa, rồi hai bên đi đến chỗ căm thù nhau gây nên một trường kịch đấu.


Bọn Hồ Tăng dĩ nhiên trông cậy vào đàn rắn độc để thủ thắng Tinh Tú Lão Quái Ðinh Xuân Thu tiếng tăm lừng lẫy bị trăn quấn chặt không nhúc nhích được.


Bọn Hồ Tăng hỏi Ðinh Xuân Thu vì lẽ gì giết rắn thì lão trả lời:


- Rắn độc chuyên hại người và súc vật, bất luận là ai trông thấy cũng có quyền tiêu diệt. Ta biết đâu được là những rắn đó của các ngươi nuôi dưỡng.


Một nhà sư Thiên Trúc nói:


- Bần tăng đã từng đưa thư đến xin các hạ đừng giết những con rắn gia súc này của bần tăng nữa, thế mà các hạ không đếm xỉa đến là nghĩa làm sao?


Ðinh Xuân Thu nói:


- Ðinh mỗ từ thuở nhỏ đến giờ chỉ có hỏi vặn người thì được chứ chưa từng thấy ai dám chất vấn người bao giờ. Ngay chính sư phụ ta ngày nọ buông lời trách mắng ta, ta cũng hạ thủ giết ngay. Bọn ngươi là mấy tên thầy chùa thối tha từ nước ngoài đến đây mà dám giở lý với ta.


Nhà sư Thiên Trúc thấy con trăn to quấn chặt khiến cho Tinh Tú Lão Quái không còn sức kháng cự mà lão nói năng vẫn giữ thói ngạo mạn thì biết rằng phen nầy kết oán đã sâu. Nếu còn tha mạng là để một mối đại họa vô cùng trọng đại, liền tìm lời mạt sát:


- Ðai danh Tinh Tú Lão Quái khét tiếng gầm trời ai ngờ chỉ có danh hão mà thôi, không đối phó nổi với vài con rắn nhỏ xíu.


Ðinh Xuân Thu tủm tỉm cười nói:


- Vì lão phu sơ ý một chút mà bị khốn vào tay mấy đứa súc sinh. Nếu bữa nay ta có hồn về chín suối cũng chẳng qua là số mệnh mà thôi.


Lão chưa dứt lời, thốt nhiên một tên đồ đệ phái Tinh Tú cũng bị trăn quấn kêu lên:


- Ðại sư phụ ơi! Nếu đại sư phụ buông tha tiểu nhân ra thì có nhiều điều rât bổ ích cho đại sư phụ:


Tiểu nhân rất nhiều ngụy kế đại sư phụ dù đề phòng đến đâu cũng không siết được. Ðại sư phụ chỉ sơ tâm một chút là mắc vào cạm bẫy ngay lập tức.


Nhà sư Thiên Trúc lạnh lùng hỏi:


- Tha mi ra thì được lời gì? Gã kia đáp:


- Phái Tinh Tú có ba báu vật gọi là Tinh Tú tam bảo. Tiểu nhân sẽ lấy ra dâng cho đại sư phụ. Nếu đại sư phụ đem tiểu nhân cùng tất cả bạn đồng môn đây giết hết vĩnh viễn không bao giờ đại sư phụ lấy được Tinh Tú bảo nữa.


Du Thản Chi núp trong đám có rậm ngoảnh đầu nhìn ra thì thấy người nói câu vừa rồi là một Ðại Hán thân hính cao lớn tuy hắn con trăn to lớn quấn chặt ma thân hình vẫn tráng kiện, khí vũ vẫn hiên ngang. Gì không ngờ con người như vậy lại hèn mạt đến thế chỉ vì ham sống sợ chết mà muối mặt đi bán đứng sư phụ bao giờ?


Lại một tê đệ tử khác la lên:


- Ðại sư phụ! Ðại sư phụ! Trong tam bảo thì một vật đã bị người lấy cắp đi mất rồi. Ðại sư phụbuông tha tiểu nhân ra hay hơn và chỉ có mình tiểu nhân là kẻhết dạ trung thành với đại sư phụ. Tiểu nhân quyết không lừa dối.


Một lát sau bọn đệ tử phái Tinh Túthi nhau kêu lên.


Có kẻ nói:

- Ðại sư phụ! Ðại sư phụ tha mạng cho tiểu nhân là hay hơn hết, bọn chúng không hết lòng trung thành với đại sư phụ đâu. Chỉ mình tiểu nhân là đến chết cũng không thay đổi lòng dạ quyết vì đại sư phụ ra sức.


Có kẻ nói:


- Tiểu nhân biết rất nhiều tuyệt kỹ bí truyền của phái Tinh Tú sẽ nói cho đại sư phụ biết, không dấu một tí gì.


Co kẻ nói:


- Người bản phái đến Trung Nguyên là có cuộc mưu đồ lớn lao và liên quan không ít đến nước Thiên Trúc. Các đại sư phụ có muốn biết không?


Có kẻ nói:


- Trên bờ biển Tinh Tú có chôn dấu rất nhiều vàng bạc châu báu tiểu nhân biết hết mọi chổ.


Bọn này vì cầu may để tránh cái chết mà nịnh hót đủ điều. Kẻ thì đem lọi nhử mồi, kẻ thì lay chuyển tính hiếu kỳ của đối phương. Có kẻ lại công nhiên nói nhũng chuyện hoang đường.


Mấy tên đệ tử bị rắn độc cắn bị thương, hoặc trăn quấn chặt chỉ còn hơi thở phập phù. Gã nào cũng chỉ sợ mình bị bỏ rơi, nên liên tiếp tranh nhau năn nỉ van lơn.


Bọn nhà sư nước Thiên Trúc, không ngờ những đệ tử phái Tinh Tú lại khốn nạn đến thế được nên đem lòng khinh bỉ. Có lão động tính hiếu kỳ lại gần để nghe ngóng.


Lão Hồ tăng trưởng toán lạnh lùng hỏi:


- Bọn mi đối với sư phụ chẳng còn hết dạ trung thành, thì nói chi đến chuyện trung thành với người chưa quen biết nữa? các ngươi nói vậy chỉ tổ làm trò cười cho bọn ta mà thôi.


Tên đệ tử phái Tinh Tú nói:


- Không phải thế! Tinh Tú Lão Quái võ công kém cỏi. Tiểu nhân theo lão chẳng ăn thua gì, vậy giữ lòng với lão cũng vô ích. Còn đại sư phụ võ công lùng lẫy khắp thiên hạ, đâo đức văn chương cũng khiến cho ai nấy đều phải kính ngưỡng. Tinh Tú Lão Quái bì với đại sư phụ thế nào được?


Một tên nói:


- Phải rồi! đại sư phụ mà thu dụng bọn đệ tử phái Tinh Tú là khiến cho các phái võ Tây Vực cũng như ở Trung Nguyên đều chấn động. Họ sẽ khâm phục các vị cao tăng nước Thiên Trúc không biết đến đâu mà nói.


Một tên nói:


- Cao tăng thôi ư? Sao người còn gọi cao tăng? Hai chữ "cao tăng" không đủ để ca tụng các vị đại sư phụ đây, mà phải kêu bằng "Thánh tăng", "Thân tăng" mới đúng! Giảtỉ tiểu nhân là người đi chu du liệt quốc thì sẽ hết sức tuyên dương đức oai của đại sư phụ để danh vọng của các vị "Thánh tăng" nước Thiên Trúc khét tiếng khắp thiên hạ.


Một tên nói:


- Chà! Tiếng tăm cácvị "Thánh tăng" nước Tây Trúc đã lẩy lừng khắp thiên hạ ai là không biết? Hà tất phải đến ngươi đi khua chuông gõ trống.


Một tên nói:


- Ðại sư phụ! Ðại sư phụ là"Thánh tăng "là" Phật sống"tiểu nhân lả kẻ tuyên bố trước tiên. Còn những gã kia chỉ biết bắt chước chứ ăn thua gì?


Nhà sư trưởng toán chau đôi mày nói:


- Bọn mi toàn là hạng hèn hạ, tiểu nhân, ton hót lắm làm cho người ta rác hại.





Rồi quay sang hỏi Ðinh Xuân Thu:


- Tinh Tú Lão Quái! Tư cách bọn này đê hèn đến thế sao mà ngươi cũng thu dụng được? Thật toàn đồ vô liêm sỉ thì chúng còn làm nên trò trống gì? Thôi ta hóa kiếp cho ngươi trước rồi cho bọn chúng đi theo luôn. Hỡi ơi! Bần tăng lại phạm sát giới rồi đây!


Nói xong phất tay áo một cái phóng chưởng lực ra đánh Ðinh Xuân Thu.


Nhà sư thấy Ðinh Xuân Thu đang phải gắng gượng chống với rắn quấn vào mình chân tay không cử động được thì chưởng thế mãnh liệt của mình chẳng đánh chết cũng làm cho lão bị thương.


Ngờ đâu lúc chưởng lực đánh ra. Ðinh Xuân Thu vẫn thản nhiên như không, mà hai chân nhà sư này lại nhũn ra, ngã lăn xuống đất co rúm lại thành một đống lù lù, lăn lộn mấy cái rồi không nhúc nhích được nữa.


Bọn Hồ tăng cả kinh kêu gọi:


- Sư huynh! Sư huynh!


Hai lão giơ tay ra nâng dậy, nhưng vừa sờ vào mình nhà sư kia thì mặt mũi tối tăm, không đứng vững, cũng té xuống luôn.


Ba nhà sư khác đứng bên vội đưa tay ra nâng dậy. Nhưng vừa chạm vào áo cà sa thì cả ba người lại lăn ra. Mới trong chốc lát đã có sáu nhà sư té xỉu.


Các Hồ tăng khác thấy tình thế bất lợi đều hồn vía lên mây đứng thộn mặt ra, không dám thò tay nâng đỡ nữa, sợ cũng bị ngã như đồng bọn.


Một nhà sư nổi giận quát lên:


- Tinh Tú Lão Quái kia! Ngươi lộng hành tà phát, hãy nếm chưởng lực của ta đây!


Nói xong đánh ra một chưởng.


Ðinh Xuân Thu cười ha hả, dường như chưởng lực chạm vào người lão lại bật trở ra, khiến nhà sư này há hốc miệng ra rồi lập tức ngã lăn đùng.


Còn chín Hồ tăng nữa cũng bị tiếng quát của Ðinh Xuân Thu làm chấn động. Bọn này dùng tiếng Thiên Trúc lí lố bàn với nhau một hồi rồi đồng thanh quát lên một tiếng thật to phất tay áo một cái. Chín ngọn phi đao đồng thời phát ra ánh sáng xanh lè nhằm Ðinh Xuân Thu phóng tới.


Ðinh Xuân Thu lại quát một tiếng thật to, lắc đầu ba cái, tóc bạc phất phơ bay ra, tựa những cây nhuyễn tiên ngắn chạm vào phi đào kêu lên leng keng mấy tiếng. Chín ngọn phi đao đều bị đánh rớt xuống. Chín vị Hồ tăng chân tay co quắp không kịp kêu lên một tiếng lăn ra chết liền.


Du Thản Chi nấp trong đám cỏ rậm, mũi ngửi thấy một luồng hơi tanh tưởi vô cùng xông vào mặt đau quá, nước mắt giàn giụa.

Bốn bề trở lại yên tĩnh.

Mười sáu vị Hồ tăng đều co rúm lại trông chẳng khác gì những trái bóng tròn và rõ ràng chết hết cả.

Gã hoảng hồn không biết Ðinh Xuân Thu dừng thứ võ công gì mà chỉ một cử động đã đánh chết được hết địch.


Những con trăn lớn cùng rắn độc sau khi quấn chặt mọi người phái Tinh Tú rồi không nghe thấy các nhà sư thổi sáo thôi thúc nên chưa cắn chết người.


Mười sáu nhà sư Tây Vực lăn ra chết rồi, những con trăn không biết báo thù cho chủ, chúng chỉ quấn chặt thầy trò Ðinh Xuân Thu, chờ lệnh một lúc.

Một lúc lâu không thấy có tiếng động song những con rắn này là vật vô tri vô giác, vẫn giữ nguyên trạng thái chờ đợi.


Qua một thời gian khá lâu, rắn không công kích người, mà người bị rắn quấn chặt cũng không dám nhúc nhích, sợ chúng nổi hung lên cắn cho thì mất mạng.


Yên lặng hồi lâu, bọn đệ tử Tinh Tú thấy các nhà sư Thiên Trúc chắc chắn chết cả rồi đã hết nỗi lo về bọn này.

Một tên cất tiếng nói trước:


- Sư phụ ôi! Thần công sư phụ đã đến mức thiên hạ vô địch. Giữa lúc cười nói chỉ giơ tay một cái mà mười sáu tên thầy chùa độc ác man rợ đều bị giết sạch...


Tên này chưa dứt lời tên khác đã nóingay:


- Sư phụ! Sư phụ đừng nghe giọng lưỡi thối tha của hắn. Chính hắn vừa ca tụng bọn sư mô rợ Hồ nào "Thánh tăng" nào "thần tăng" nào "Phật sống."





Lại một tên đệ tử khác nói:


- Bọn đệ tử theo đòi sư phụ đã bấy nhiêu năm, còn lạ gì tài năng nghiêng trời lệch đất của sư phụ. Vừa rồi mấy tên thầy chùa man rợ Hồ nói nhăng nói cuội, toàn những lời bịp bợm.


Bỗng có tiếng khóc rống lên:


- Sư phụ hỡi! Sư phụ ơi! đệ tử thật là ngu ngốc:


Chỉ vì tham sống sợ chết mà đầu hàng kẻ thù. Bây giờ hối cũng chẳng kịp nữa. Ðệ tử đành chịu để rắn độc cắn chết, không dám xin sư phụ tha mạng nữa!


Gã này chỉ nói mấy câu đó, bọn đệ tử lập tức tỉnh ngộ .


Tinh Tú Lão Quái rất ghét những kẻ nào lẻo mép mồm miệng, để che lấp tội lỗi:


Chỉ những kẻ tự thố trách mình lầm lỡ đánh chết, đem hết bao nhiêu tội lỗi đổ lên đầu mình thì họa may sư phụ nhhiêu dung cho chăng.


Nghĩ vậy chúng lại tranh nhau kể tội bất lương của mình. Dù phải phân thây muôn đoạn cũng không oán hối; khiến cho Du Thản Chi nằm trong đám cõ cũng phải nhức đầu chói tai.


Bọn đệ tử lãi nhãi, thủy chung Ðinh Xuân Thu vẫn không đếm xỉa đến.

Lão ngấm ngầm vặn kình lực ba lần, định làm cho những con trăn quấn mình phải đứt tung.


Ðinh Xuân Thu vận hết nội lực phóng r a mà chúng chỉ duỗi mình đi một chút chứ không sao cả. Lão biết rằng muốn thoát tai ách này thật khó vô cùng.


Người lão bị con trăn lớn quấn chặt. Những con trăn này trong rừng rậm khí hậu viêm nhiệt nước Tây Trúc. Mình nó cứng rắn vô cùng, thứ gì đập cũng phải bật trở lại.


Ðinh Xuân Thu trãi qua mấy chục năm tu luyện, chất độc trong người lão không biết đâu mà kể. Vì thế mà lão Hồ tăng trưởng toán, vừa phóng chưởng đánh lão đã thúc đẩy chất độc ra ngoài da. Chưởng đối phương đánh tới, lão vận động thần công đem chất độc phóng theo chưởng lực đối phương,


Bọn Hồ tăng sỡ dĩ chết ngay lập tức là do chất đọc truyền nhiễm vào người chứ không phải do tà thuật gì hết.


Da trăn đã dày cứng lại trơn tuột, chất độc trong mình Ðinh Xuân Thu khhông thể thấm vào cơ thể chúng được, lão đành chịu thua.


Lão đang bực mình chưa thoát khỏi mấy con trăn. Bên tai nghe những lời khả ố của bọn đệ tử gã liền nói móc:

- Chúng ta bị rắn độc làm cho khốn đốn. Ai nghĩ ra cách lừa bịp được đàn rắn thì ta sẽ tha mạng cho. Các ngươi còn lạ gì tính khí ta nữa? Kẻ nào được việc cho ta, ta mới không giết. Còn các ngươi chỉ trẻm mép tìm lời xảo trá nói nhăng nói cuội phỏng có ích gì!


Lão vừa dứt lời, bọn đệ tử lâp tức câm mồm.


Hồi lâu mới có một tên lên tiếng:

- Bây giờ chỉ còn cách dùng lửa nóng đốt mình những con trăn lớn này lập tức chúng phải bỏ chạy.


Ðinh Xuân Thu mắng:


- Mẹ kiếp! Thằng này nói thúi lắm! Chỗ này là nơi hoang dã tịch mịch làm gì có thôn trang có nhà ở, làm gì có ai đi lại? Dù có người phải đi qua quãng đường này, nhưng họ thấy nhiều rắn độc thế này tất nhiên hốt hoảng chạy trốn, lấy đâu ra lửa để đốt rắn?


Sau đó những tên đệ tử khác lại đua nhau đứ ra ý kiến, song đều không thể thực hiện được. Bọn này sỡ dĩ nhao lên, chẳng qua tất để lal61y lòng sư phụ ra chuyện ta đây thực lòng thực dạ với thầy, và cố gắng bày mưu tính kế.


Lại một giờ trôi qua, một tên đệ tử bị rắn xiết chặt quá nghẹt thở. Trong lúc mê man, gã thò miệng cắn con trăn một miếng. Trăn bị đau quay lại cắn vào cổ gã, gã chỉ kịp kêu lên một tiếng rồi chết ngay tức khắc.


Ðinh Xuân Thu trong lòng nóng nảy vô cùng, giả tỉ lão bị địch thân vây hãm khốn đốn thì chỉ trong vài giờ là lão nghĩ được mưu kế xảo nguyệt để lừa bịp đối phương đặng thoát thân, nhưng đối với đàn rắn vô tri vô thức này thì dù có mưu kế tuyệt diệu đến đâu cũng chẳng thua gì. Lão sợ những con trăn đến lúc đói quá sẽ đớp thịt mình mà nuốt.


Ðiều lão lo âu quả nhiên xuất hiện một con trăn lớn đã lâu không nghe thấy tiếng sáo, bụng đói như bào, nó hà miệng to tướng hớp vào người tên đệ tử mà nó đang quấn chặt.

Gã này la hoảng:


- Sư phụ cứu đệ tử với! Sư phụ cứu đệ tử với!

Vừa dứt lời thì cặp giò gã đã bị con trăn nuốt vào miêng rồi. Tấm thân gã không còn tự chủ được nữa, rồi từng khúc một bị nuốt vào bụng trăn. Miệng gã hét cho đến phút cuối cùng.


Hàm răng giống rắn trăn đều bình móc câu. Bất luận giống động vật nào bị nó cắn cũng chỉ dần dần đẩy vào bụng chứ không thể nào thoát ra được. Gã đệ tử phái Tinh Tú bị trăn ngoạm chân nuốt vào bụng rồi dần dần nó nuốt đến lưng, đến ngực. Lúc hắn chưa chết, hắn lớn tiếng kêu rú lên cực kỳ thãm thiết, làm chất động cả một vùng bao la bát ngàn.




Một tên đệ tử thấy Tinh Tú Lão Quái cũng đành chịu bó tay, bất giác lửa giận bốc lên ngùn ngụt, mở miệng thống mạ sư phụ, đổ cho lão làm liên lụy mình. Vì trước kia, hắn đang chăn cừu ở bờ biển Tinh Tú làm kế sinh nhai thị bị lão kiếm lời đường mật, dụ gã vào làm môn hạ phái Tinh Tú. Bữa nay hắn bị chết thảm dưới miệng rắn độc, hắn quyết định chết xuống âm ty sẽ làm cáo trạng kiện thầy trước Diêm Vương.


Một tên bắt đầu mở miệng chửi, những tên kia lập tức không chịu kém nhao nhao cả lên thhống mạ sư phụ theo.


Bọn đồ đệ ngày thường bị Tinh Tú Lão Quái độc ác ngược đãi cực kỳ tàn nhẫn, ai nấy đều căm hận trong lòng mà không dám nói ra miệng. Bữa nay thầy trò đều chết đến nơi chúng đều thóa mạ cho sướng miệng để hả tấm lòng căm tức bấy lâu nay.


Hai tên đệ tử vì lớn tiếng thoáng mạ, mình hắn cử động mạnh khiến cho con trăn đang quấn hắn một miếng.

Hắn lớn tiếng kêu la:


- Úi chao ôi! ai cứu tôi với! Ai cứu tôi với!


Du Thản Chi nghe tiếng kêu cứu, không nhẫn nại được nữa, đang nằm trong bụi cỏ, đứng phắt dậy nói:


- Ta đi phóng hỏa đốt rắn để cứu các ngươi đây!


Gã ôm cỏ khô chất vào thành đống.


Bọn người phái Tinh Tú bất thình lình thấy gã bịt mặt xuất hiện hình thù cổ quái, đều sợ hãi giật nẩy mình lên. Nhưng nghe hắn nói tự nguyện phóng hỏa đốt rắn cứu mình thì khác nào đã xuống đến quỷ môn quan còn được nhìn thấy đường về, liền nhao nhao lên thi nhau ngỏ lời cảm tạ.


Bọn người này có bản lĩnh cao siêu về thóa mạ người, thì tài tán tụng nịnh hót cũng phi thường.


Suốt đời Du Thản Chi chưa từng được ai kêu mình nào là "Ðại anh hùng" "Ðại hào kiệt" nào là "Nhân Nghĩa sỉ" naò là "Hảo hán nhất đời" chẳng thiếu chi danh từ cao đẹp.


Ðại phàm con người ai nghe người tán tụng mình mà không nức lòng hả dạ.


Du Thản Chi thấy bọn này nâng mình lên mây xanh thì trong lòng cũng cảm thấy khoan khoái vô cùng, nếu hắn chẳng quản gì mạo hiểm, cố chi cứu mạng cho chúng.


Gã lấy đá lửa bên mình ra, quẹt lửa lên châm vào đống cỏ khô. Nhưng lúc nhìn thấy những con trăn dữ tợn, nhiều không biết đến đâu mà kể, cũng đâm ra sợ hãi vô cùng. Gã chớ câu chọc ong, ong đốt mình trêu chọc đám rắn nàythì liên lụy ngay đến mình.


Gã suy nghĩ một lát rồi lượm cành cây khô chất đống lên đốt một đống lửa thật to để ngăn trở cho rắn khỏi đến cắn mình trước, rồi mới nhặt một cành cây đang cháy sắn liệng vào con trăn gần nhất, đoạn chạy mau về phía đống lửa ẩn nấp để chờ. hễ thấy rắn bò lại phía mình là lập tức xa chạy cao bay, chẳng thèm làm "đại anh hùng", "đại hiệp sĩ" gì nữa.


Dè đâu giống trăn quả nhiên rất sợ lửa. Lửa mới nóng đến bên mình, lập tức nó buông ngay tên đệ tử phái Tinh Tú ra rồi chui vào đống cỏ rậm.


Du Thản Chi thấy phép hỏa công của mình rất hiệu nghiệm.

Giữa những tiếng hoan hô nhiệt liệt của bọn đệ tử phái Tinh Tú, gã chặt từng cành cây đang cháy liệng vào đống rắn.

Ðàn rắn tới tấp bò cả.

Cả đến những con trăn dài hàng mấy trượng cũng không chịu nổi lửa nóng bỏ chạy ào ào.


Chỉ trong khoảnh khắc, hàng mấy trăm con trăn lớn cùng rắn độc chạy tản đi hết sạch sành sanh, gã lại nghe bọn đệ tử phái Tinh Tú đổi giọng nịnh thầy.


Có kẻ nói:


- Sư phụ mắt thấy xa hàng muôn dặm, thần cơ diệu đoán khôn lường. Quả nhiên phép hỏa công của sư phụ vô cùng linh nghiệm.


Có kẻ nói:


- Sư phụ hồng phúc tày trời, gặp dữ hóa lành. Ðây toàn là trông cậy vào lối chỉ huy của sư phụ mới thoát nạn. Sư phụ thay người phóng hỏa cứu mạng kiến ruồi cho bọn đệ tử chúng tôi.


Bao nhiêu lời tán tụng hoàn toàn hướng về Tinh Tú Lão Quái, còn công lao đốt lửa đuổi rắn của Du Thản Chi thì chẳng ai thèm đếm xỉa đến nửa.


- Bọn mi vừa thóa mạ sư phụ xong, bây giờ lại hết lời tán tụng là nghĩa làm sao?


Du Thản Chi nghe bọn chúng nói vừa ngơ ngác vừa lấy làm lạ rủa thầm:


Gã có biết đâu rằng bọn này sau khi thoát nạn rắn, thì tính mạng chúng lại ở trong tay Tinh Tú Lão Quái. Nếu không nịnh hót cho lão vừa lòng thì lão chỉ giơ tay lên một cái là rồi đời. Còn công cứu mạng Du Thản Chi đến đây là sổ toẹt, chúng coi gã như người đi đường mà thôi.


Ðinh Xuân Thu vẫy tay gọi Du Thản Chi, bảo:


- Thiết đầu tiểu tử! Ngươi lại đây! Tên ngươi là gì?


Du Thản Chi bị người khinh rẽ lấn át quen rồi nên dù thấy đối phương vô lễ cũng không cho là kẻ ngổ ngược.


Gã đáp:


- Tôi là Du Thản Chi.


Nói xong tiến lại mấy bước.