PDA

View Full Version : Những Khinh Binh Bất Tử Của Dân Tộc Việt


Bravo21
10-01-2006, 03:52 AM
NHỮNG KHINH BINH BẤT TỬ CỦA DÂN TỘC VIỆT

Dân chủ & Việt Nam 2005 - Phần 1, Phụ lục

Huỳnh Việt Lang

Sau khi chính phủ ông Dương Văn Minh sụp đổ 30/04/1975, con đường đấu tranh võ trang chống độc tài cộng sản cũng ra đời. Những người yêu nước lại tập hợp đội ngũ, lớp rút vào rừng núi lớp sinh hoạt trong nhân dân, hình thành nên 1.182 tổ chức cứu quốc trải dài từ sông Bến Hải đến tận mũi Cà Mau.

Do kinh nghiệm đấu tranh chưa đủ, Mặt trận quốc gia giải phóng Việt Nam bị bại lộ vào tháng 02/1976. Các ông Nguyễn Văn Viên, Hà Tùng Linh, Nguyễn Văn Vàng, Vũ Ngọc Bảo cùng hàng ngàn người khác bị bắt ở khắp 12 tỉnh, thành phố.

Mặc cho các bản án tử hình giăng khắp chốn, dòng máu yêu nước vẫn cuồn cuộn chảy trong trái tim người miền Nam. Lực lượng dân quân Kiệm Tân và Đặc khu rừng Sác xuất hiện ở Đồng Nai; Mặt trận quốc gia liên kết ở Bến Tre. Không khuất phục bộ máy kềm kẹp tàn khốc của chế độ, các tổ chức yêu nước vẫn mạnh dạn ra đời tại nhiều địa phương khác như:

- Mặt trận phục quốc Trị Thiên ở Quảng Trị, Huế, Thừa Thiên;

- Việt Nam dân tộc cách mạng đảng ra đời cùng những hoạt động của các tổ chức khác như Việt Quốc do ông Ngô Sáu lãnh đạo, Mặt trận Duy Hòa với ông Nguyễn Văn Quyền ở Quảng Nam, Đà Nẵng.

- Tam Quốc phục quốc liên minh Đông A ở Phú Khánh…

Cùng là người Việt máu đỏ da vàng, người Việt hải ngoại đâu nỡ quay lưng trước những nỗi đau chua xót của đồng bào mình trong nước. Nhiều anh em đã kết thành đội ngũ trong Mặt trận thống nhất các lực lượng yêu nước giải phóng Việt Nam do hai ông Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh lãnh đạo. Trong 4 năm ròng rã (1981 – 1984), 148 anh hùng đã quay về Tổ Quốc cùng 300 tấn vũ khí và phương tiện chiến tranh. Phối hợp hành động chung, số người tham gia kháng chiến trong nước lên đến 1.169 người; thuộc nhiều tổ chức khác nhau tại các tỉnh Minh Hải, Cà Mau, Kiên Giang, Tây Ninh, Đồng Nai, Sông Bé và vùng rừng Sác Nam Bộ.

Sang cuối năm 1985 đến 1990, Mặt trận Quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam do cựu phó đề đốc Hoàng Cơ Minh lãnh đạo đã lần lượt thực hiện 03 chiến dịch Đồng Tiến (với ý nghĩa “Đồng lòng sát cánh bên nhau, quyết chí Tiến về giải phóng quê hương Việt Nam thoát khỏi ách nạn thống trị của Cộng Sản!”). Không thể có cuộc kháng chiến giả ở những người chết thực. Dẫu không thành công, song ý nghĩa của các chiến dịch cứu nước của bà con hải ngoại là nguồn động viên vô giá đối với đồng bào trong nước.

Song song trong khoảng thời gian này, vào cuối năm 1986, Lực lượng phục quốc nội biên Việt Nam do ông Trương Văn Lân lãnh đạo bị phá vỡ, 252 người yêu nước bị sa vào tay giặc. Lực lượng này đã phát triển cơ sở ở 79 phường xã, 34 quận huyện thuộc 12 tỉnh, thành phố phía Nam; xây dựng 35 khung trung đoàn, 23 khung tiểu đoàn, 40 khung đại đội. Khung chính quyền dân sự của Chính phủ lâm thời cộng hòa phục quốc Việt Nam đã được thành lập ở mật khu M và căn cứ Cây Gáo (Đồng Nai) (1).

Miền Bắc kể từ năm 1945, miền Nam kể từ năm 1975 không hề có tự do và hạnh phúc, cho nên độc lập chỉ tồn tại như một cái bánh vẽ. Con đường đi tới tự do và dân chủ thực sự tuy đầy chông gai nhưng không hề làm nản lòng những trái tim ái quốc. Sang thập niên 1990, đáp ứng những nhu cầu của lịch sử, xu hướng đấu tranh nhân quyền và dân chủ ở Việt Nam đã từng bước thay thế hình thức đấu tranh võ trang. Sang năm 1992, Phong trào thống nhất dân tộc và xây dựng dân chủ do ông Nguyễn Đình Huy lãnh đạo đã tạo được những ảnh hưởng vang dội toàn miền Trung và miền Nam. Tổ chức được hệ thống cơ sở ở 15 tỉnh, thành phố trong nước, cùng 4 văn phòng đại diện ở Hoa Kỳ, Úc, Canada và Anh (2). Với quy mô sâu rộng trên, Phong trào thống nhất dân tộc và xây dựng dân chủ đã khiến cho chính quyền độc tài phải lắm phen khốn đốn.

Để có một cái nhìn tổng quan hơn về thực trạng tranh đấu trong nước, ta có thể xét qua một vài chủ điểm tiêu biểu như:

- Về đảng phái: người miền Trung có quyền tự hào về cuộc khởi nghĩa năm Mậu Ngọ (1978) do các ông Phan Ngọc Lương, Phạm Lự và Tống Châu Khang - đảng viên Đại Việt Cách mạng đảng lãnh đạo. Riêng tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế có hàng ngàn người bị bắt để điều tra cùng 8 án tử hình, 7 án chung thân và vài chục án từ 3 đến 20 tù ở. Bên cạnh, vượt qua những khốn khó thời cuộc, Việt Nam Quốc dân đảng vẫn nỗ lực hoạt động. Sau 1975, Việt Nam Quốc dân đảng từng tập trung được 200 đảng viên tham gia từ Trung vào Nam.

- Về địa phương: miền Đông Nam bộ với khu vực Đồng Nai lần lượt có 210 tổ chức yêu nước ra đời, với hơn 7.000 người tham gia. Các lực lượng này từng tổ chức được 62 cụm toán vũ trang, 95 mật khu căn cứ.

Ngoài ra, người Sài gòn có quyền tự hào là một những địa bàn tiên phong trên mặt trận chống độc tài toàn trị. Ngay trong năm 1975, Lực lượng thống hợp liên bang Đông Dương ra đời với hơn 100 thành viên. Phong trào đấu tranh võ trang với các tổ chức tiêu biểu như Liên đảng cách mạng Việt Nam với thủ lĩnh Hoàng Việt Cường cùng chiến dịch Đông Xuân, Liên minh hùng Đại Việt, Đoàn thanh niên chí thiện, Liên minh quang phục Việt Nam… Ngoài ra ngay tại Sài gòn còn có các tổ chức đấu tranh theo xu hướng bất bạo động như trước năm 2002 có ông Lê Kim Hùng cùng 38 người khác trong tổ chức Chính phủ cách mạng Việt Nam tự do; sau này có nhân sự của Đảng nhân dân hành động cũng xuất hiện.

Hơn 30 năm qua, người Sài gòn không bao giờ chấp nhận bị khuất phục, bị bẻ gãy. Đã có 2.000 con dân Sài thành tham gia trong hơn 300 tổ chức yêu nước, đồng thời cũng chuẩn bị được hàng tấn vũ khí, đạn dược và thuốc nổ (3). Các văn bản hành chánh, chính sách bạo tàn kia không thể xóa nhòa được địa danh Sài gòn khỏi tâm tư các hậu duệ của những người tiên phong đi mở đất phương Nam.

Nhìn chung, lịch sử tranh đấu chống độc tài toàn trị trong suốt 30 năm được ghi bằng xương máu của đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước, là niềm vinh quang đáng tự hào cho những ai còn nhận mình là con Rồng cháu Tiên trong khắp cõi nhân gian này. Hiện nay, nhu cầu hoàn thiện lý thuyết xây dựng tổ chức đấu tranh ngày càng trở nên bức thiết. Công tác kiểm điểm lại quá khứ để rút tỉa những kinh nghiệm cho hiện tại và tương lai là quan trọng.

Khái quát, có nhiều phương cách phân tích lịch sử chống độc tài ở Việt Nam. Có thể:

- Theo hình thức đấu tranh: bạo động và bất bạo động;

- Theo tiến trình thời gian: trước và sau cột mốc hệ thống XHCN Liên Xô và Đông Âu sụp đổ;

- Theo nguồn gốc nhân sự xuất thân: hai bên bờ vỹ tuyến 17;

- Theo địa bàn hoạt động: các tỉnh thành khắp Bắc, Trung và Nam;

- Theo mô hình hoạt động: tổ chức, phong trào, đảng phái chính trị, tôn giáo;

- Theo hệ tư tưởng chính kiến và băng tần chính trị: Dân chủ xã hội (social democracy), Dân tuý, Khuynh tả - hữu, Trung dung...

Tất nhiên, việc tập hợp thông tin và nhận định về các phong trào, tổ chức yêu nước Việt Nam sau mốc 1975 cần phải được nghiên cứu một cách cẩn trọng. Hoàn toàn không nên trình bày qua quýt trong vài trang giấy, phán quyết theo cảm tính. Kẻo có chỗ vọng ngôn, e có việc lạm bàn - bất xứng với tầm vóc cuộc đấu tranh can trường, anh dũng của dân Việt ta. Một khi sự thực vẫn còn đó, càng không nên làm đau đớn nhau bằng chữ nghĩa hoặc những đòn đánh dưới thắt lưng. Những người hoạt động yêu nước thuộc nhiều phe nhóm khác nhau, hệ tư tưởng mô hình chính trị tương lai cũng chẳng giống nhau. Xuất phát từ thực tiễn đặc thù nước ta, những khái niệm thuộc phạm trù chính trị nghị trường như “bất đồng chính kiến” hay “đối lập” sẽ không phản ánh đúng được vai trò của những người tranh đấu tại Việt Nam. Trong khi đó, điểm gặp nhau giữa các chính kiến tranh đấu ở Việt Nam trong 30 năm qua và hôm nay là:

- Không lặp lại những gì đã diễn ra hôm qua,

- Chống độc tài chuyên chế,

- Xây dựng một xã hội mới tự do, công bằng và nhân bản.

Với những quy phạm dẫn đạo trên, họ là những người cách mạng dân chủ.

Trời chẳng phụ lòng người, con đường tranh đấu cho một Việt Nam dân chủ, tự do và nhân quyền tuy không ít lần bị dìm sâu trong máu lửa đã gần đi đến đích. Trong trận chiến khốc liệt chống độc tài hôm nay, những người yêu nước kia không hổ thẹn trong lúc thực thi nhiệm vụ khinh binh của dân tộc Việt. Mong lắm thay, một mai nước nhà thực sự dân chủ, việc biên soạn giai đoạn lịch sử này là một trong những công trình cần phải làm ngay của một Hội đồng khoa học cấp quốc gia. Bên cạnh những người còn sống sót trở về từ các ngục tù chính trị; có những anh hùng ra trận mà không bao giờ trở về nữa, họ cũng có những người thân ngóng đợi tại một nơi nào đó trên trái đất này... Họ đã đền nợ nước ngạo nghễ bên cột trường bắn, rũ gục trong gông xiềng lao ngục, hiên ngang với súng trong tay. Họ đã làm những việc mà những người đang sống và chửi họ không làm được – nên hình ảnh họ luôn bất tử trong tâm khảm các thế hệ mai ngày.



Nhân mùa Vu lan 2005, những khinh binh bất tử ấy rất đáng được gióng chuông triệu linh, xướng văn tưởng niệm trong nghi thức cử hành một đại lễ cầu siêu.

Sài gòn, ngày 28/08/2005
Huỳnh Việt Lang

(Nhằm đảm bảo tuyệt đối an toàn cho phong trào cùng việc thượng tôn tính lương thiện trí thức, toàn bộ các thông tin chi tiết mà tôi (- Huỳnh Việt Lang) xử dụng trong bài viết này là từ các nguồn được bạch hóa của nhà nước cộng sản Việt Nam hoặc đã đăng công khai trên mạng điện toán).

Chú thích:

1/ Bài “Công an nhân dân trong công cuộc xây dựng (…) 1975 - 1986” trong website Đài Tiếng nói Việt Nam – VOV.
2/ http://www.pttndt.org/tailieu/vuanpt5.htm.
3/ Bài “Lực lượng an ninh công an TP….” trên website báo Công an TP. ngày 13/08/2005.

hoainiem
10-01-2006, 09:06 AM
Sang cuối năm 1985 đến 1990, Mặt trận Quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam do cựu phó đề đốc Hoàng Cơ Minh lãnh đạo đã lần lượt thực hiện 03 chiến dịch Đồng Tiến (với ý nghĩa “Đồng lòng sát cánh bên nhau, quyết chí Tiến về giải phóng quê hương Việt Nam thoát khỏi ách nạn thống trị của Cộng Sản!”). Không thể có cuộc kháng chiến giả ở những người chết thực. Dẫu không thành công, song ý nghĩa của các chiến dịch cứu nước của bà con hải ngoại là nguồn động viên vô giá đối với đồng bào trong nước.


Hoàng Cơ Minh, một vị anh hùng bất tử

Nguyễn Ngọc Đức


Có những người chết, nhưng lại trở thành bất tử. Vì khi sống, cuộc đời của những người này là một chuỗi dài đấu tranh oanh liệt. Và khi chết, họ cũng để lại cho hậu thế những bài học được nhắc nhở trong sự ngưỡng mộ đời đời.

Tháng 8, cách đây 19 năm, một vị anh hùng dân tộc đã vĩnh viễn ra đi và cái chết của ông trở thành bất tử. Đêm 27 tháng 8 năm 1987, Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh đã tự sát cùng với một số chiến hữu của ông tại Nam Lào, sau khi thất bại trong nỗ lực xâm nhập Việt Nam nhằm mưu tìm một sự thay đổi tốt đẹp hơn cho đất nước. Sự dấn thân và cái chết của Tướng Hoàng Cơ Minh cũng như của những chiến hữu của ông đều là những tấm gương bất khuất.

Sau năm 1975, thế giới coi như vấn đề Việt Nam đã được giải quyết và nhiều lắm thì tìm cách cứu giúp những người tỵ nạn liều chết ra đi tìm tự do. Trên quê hương, một chế độ cai trị bằng bạo lực và bưng bít đã được thiết lập một cách chặt chẽ. Tại hải ngoại, người Việt tỵ nạn vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn để có thể ổn định được cuộc sống. Trong bối cảnh đó, nhiều người chọn lựa thái độ quên đi quá khứ, cố gắng hội nhập vào đời sống mới, để có một tương lai mới trên xứ người. Nhưng cũng có những người vẫn khoắc khoải niềm đau dân tộc, không chấp nhận bỏ cuộc và vẫn tiếp tục chiến đấu.

Trong số này có phó đề đốc Hoàng Cơ Minh, một vị tướng nổi tiếng là trong sạch và dũng cảm của quân đội Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975. Sau khi miền Nam thất thủ, ông sang tỵ nạn tại Hoa Kỳ và đã chấp nhận sống bằng bất cứ nghề gì, để có thể dành hết thời giờ và tâm trí cho mưu đồ phục quốc. Tại vùng Hoa Thịnh Đốn, nơi ông tạm cư, nhiều người còn ghi đậm trong ký ức hình ảnh một vị tướng sẵn sàng đi làm thợ sơn, sửa nhà, cắt cỏ,... để có ít tiền di chuyển đó đây hầu gặp gỡ những người đồng chí hướng. Đối với ông, mối quan tâm duy nhất là tổ quốc và với mối quan tâm này, ông đã cùng với một số chiến hữu thành lập Lực Lượng Quân Dân Việt Nam. Đến đầu thập niên 80, Lực Lượng này đã được giải thể để cùng với một số tổ chức khác hình thành Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam và ông đã được đề cử vào trách vụ Chủ Tịch.

Cũng vào đầu thập niên 80, quyết định chọn lựa con đường trở về nước chiến đấu là một chọn lựa đầy thử thách và nguy hiểm. Vì muốn trở về, chỉ có một cách là băng rừng, vượt núi từ những nước lân cận để xâm nhập Việt Nam. Tuy nhiên, ở vào thời điểm đó, những người thật sự muốn tranh đấu để thay đổi vận mệnh của đất nước không có một sự lựa chọn nào khác, nếu muốn trở về để chiến đấu ngay trong lòng dân tộc. Tướng Hoàng Cơ Minh và một số chiến hữu của ông đã chọn lựa con đường này. Ngay sau khi thành lập Mặt Trận, ông đã dồn nỗ lực xây dựng những chiến khu tại vùng Đông Dương và đến tháng 7/1987, ông đã quyết định dẫn một đoàn kháng chiến quân băng qua lãnh thổ Lào để xâm nhập Việt Nam.

Nhưng điều không may là đoàn kháng chiến quân của tướng Hoàng Cơ Minh đã bị chận đánh ở biên giới Lào - Việt. Sau nhiều ngày cầm cự, tướng Hoàng Cơ Minh và các chiến hữu của ông đã chọn con đường tự sát để không bị rơi vào tay kẻ thù.

Xưa, ông Nguyễn Thái Học lên đoạn đầu đài sau khi thất bại trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Nhưng tấm gương anh hùng của ông đã thúc dục bao nhiêu thế hệ Việt Nam dấn thân cho tổ quốc và bài học Yên Bái góp phần cho sự thành công lớn của cả dân tộc Việt Nam trong cuộc tranh đấu giành độc lập.

Nay, ông Hoàng Cơ Minh nằm xuống khi cuộc tranh đấu giành lại tự do và dân chủ cho Việt Nam vẫn còn đang dang dở. Sự hy sinh của ông chắc chắn cũng đang góp phần cho sự thành công lớn của cả dân tộc Việt Nam trong tương lai.

Vì ông đã để lại cho vạn đời sau một ý chí can trường của những con người quyết tâm dẹp bỏ ách độc tài đang đè nặng trên quê hương để mang lại tương lai tươi sáng cho dân tộc, qua lời kêu gọi: "Vì tương lai của dân tộc, vì tương lai của đất nước, vì tương lai của con em chúng ta, vì tương lai của chính chúng ta, vì tương lai của toàn thể Việt Nam yêu dấu, chúng ta hãy can đảm vùng lên, vai bên vai, cánh sát cánh, cương quyết lật độ bạo quyền Việt cộng để cứu nước và xây dựng đất nước".

Vì lòng yêu nước của ông mãi mãi là tấm gương soi cho những người con yêu nước Việt, qua sự khẳng định: "Đường chúng ta đi chỉ có hai cái đích. Cả hai cái đích đều vô cùng vinh quang và ý nghĩa. Một là giải phóng Tổ Quốc Việt Nam. Hai là được anh dũng hy sinh cho đại cuộc giải phóng Tổ Quốc Việt Nam".

Vì ý chí của ông vẫn tiếp tục soi sáng con đường đấu tranh đưa đến ngày vinh quang của tổ quốc, khi ông tiêu liệu "Cuộc đấu tranh lịch sử này sẽ vô cùng gian lao, khó khăn và dai dẳng, nhưng chiến thắng này cũng sẽ vô cùng to lớn. Đây là trận chiến cuối cùng để mãi mãi chấm dứt chiến tranh, chấm dứt khổ đau, chấm dứt bất công trên quê hương yêu dấu". Và cũng qua tiên liệu này, ông đã thành lập Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng, hay còn gọi là đảng Việt Tân, để có một tổ chức chặt chẽ, gắn bó, với những chương trình hành động dài hạn nhằm đạt đuợc mục tiêu sau cùng là chấm dứt chế độ độc tài và canh tân lại đất nước.

Ngày nay, 19 năm sau ngày tướng Hoàng Cơ Minh nằm xuống, những chiến hữu của ông và nhiều người Việt Nam yêu nước khác vẫn tiếp tục theo đuổi con đường của ông vạch ra. Rồi mai đây, khi đất nước thật sự không còn khổ đau và bất công, chúng ta sẽ thấy hình ảnh uy linh của tướng Hoàng Cơ Minh, của vô số anh hùng bất tử, ẩn hiện theo bóng cờ vàng của tổ quốc.