WLP
10-03-2006, 12:33 PM
Saturday, September 30, 2006
LỜI GIỚI THIỆU: Trong buổi ra mắt sách Bách Việt Tiên Hiền Chí - Lĩnh Nam Di Thư tại Thư Viện Việt Nam ngày 10 Tháng Chín vừa qua, có các bài phát biểu, góp ý, điểm sách. Chúng tôi hân hạnh giới thiệu phần góp ý của ông Hoàng Ðình Khuê, chuyên gia Hán-Nôm và Nhật Ngữ. Ông Hoàng Ðình Khuê cũng là cựu sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa, xuất thân từ khóa 16 trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
Thưa quý vị, tôi sẽ không trình bày về sử gia Âu Ðại Nhậm, soạn giả của bộ sách này. Tôi cũng không nói về dịch giả là Giáo Sư Trần Lam Giang và tôi cũng không nói về nội dung của bộ sách mặc dù tôi rất mê phần chú thích vô cùng công phu của dịch giả, chính phần nầy đã ngốn của dịch giả hết 10 năm trời. Tôi chỉ xin bàn về “Tại sao dân tộc Việt Nam chúng ta vẫn là TA, không hề bị đồng hóa bởi ngoại bang.”
Ðọc trong phần giới thiệu và lời mở đầu của bộ sách, chúng ta có thể hiểu được tâm tư của dịch giả. Giáo Sư Trần Lam Giang đánh giá bộ sách này rất quan trọng đối với dân tộc VN, nhất là trong giai đoạn dân tộc ta đang chống lại cuộc xâm lăng văn hóa từ nhiều phía.
Giáo Sư Trần Lam Giang cũng như chúng ta tuy sống xa quê hương nhưng vẫn nghĩ đến đất nước. Chúng ta đau lòng khi thấy đất nước chưa thoát khỏi cảnh nghèo đói, xã hội càng ngày càng băng hoại với thảm cảnh “vợ Việt chồng ngoại,” các bé gái tuổi từ 12 đến 15 bị bán qua Trung Quốc và Kampuchea để làm nô lệ tình dục, các bé trai thất học lang thang bụi đời, nhưng đau lòng hơn là nền giáo dục xuống dốc: Nào chuyện thi cử gian lận, mua bán bằng cấp, nào chuyện báo chí trong nước thống kê sinh viên, học sinh ngày nay kém hiểu biết về lịch sử VN, thậm chí không thuộc cả địa danh và tên của các danh nhân.
Ngoài những mất mát tinh thần, chúng ta còn chịu tủi nhục vì không giữ được những gia tài quí báu mà cha ông đã giành được và giữ được, để rồi ngày 30 Tháng Mười Hai 1999 tại Hà Nội, một hiệp ước về biên giới trên đất liền đã được ký kết giữa Nguyễn Mạnh Cầm và Ðường Gia Truyền, kết quả chúng ta đã mất ải Nam Quan và 10 ngàn cây số vuông mặt biển (8% của 123,700 km vuông diện tích vịnh Bắc Việt).
Hiện nay đang có một chiến dịch làm sai lạc lịch sử VN và một phong trào xoa dịu lòng thù hận phương Bắc của lớp trẻ trong nước, do cán bộ văn hóa Trung quốc chủ trương. Nhà cầm quyền CSVN đã quên rằng lịch sử hơn 5,000 năm đã cho thấy kẻ thù phương Bắc lúc nào cũng sẵn sàng xâm chiếm nước ta. Ðừng ngây thơ nghe những lời mị dân giả dối của kẻ thù, không có một quốc gia nào tốt bụng thật sự giúp chúng ta, chẳng qua vì quyền lợi của nước họ mà thôi.
* Kẻ thù phương Bắc luôn rêu rao dân tộc VN chúng ta man di mọi rợ.
- SAI. Chính họ mới mọi rợ man di.
* Kẻ thù phương Bắc luôn tự hào là văn minh nhất thế giới, đã đồng hóa dân tộc ta.
- SAI. Chính chúng ta đã đồng hóa họ và giúp họ xây dựng một nền văn minh mà ngày nay gọi là “văn minh Trung Hoa.”
Chúng tôi sẽ chứng minh hai điểm sai này:
1- Ai man di mọi rợ?
a- Xét trên phương diện tâm lý dân tộc: Bất kỳ một nước nào dù lớn hay nhỏ đều coi các nước khác không cùng sắc tộc là rừng rú dã man.
Bên Âu Châu, ngày xưa Ðế Quốc La Mã tự coi mình là văn minh nhất thế giới nên xem những giống dân chung quanh như Ostrogoths, Wisigoths, Francs, Slaves đều là Barbares tức là mọi rợ.
Qua Á Châu, người Trung Hoa tự xem mình là văn minh của nhân loại, dân tộc họ là trung tâm vũ trụ nên mới gọi là Trung Quốc và nước của họ đẹp như gấm như hoa nên gọi là Trung Hoa. Họ coi các nước chung quanh là man di mọi rợ.
Phương Bắc họ gọi các nước Mông Cổ, Liêu, Kim là Bắc Ðịch.
Phía Nam họ gọi Việt Nam và Xiêm La là Nam Man.
Phía Ðông họ gọi Cao Ly, Nhật Bổn là Ðông Di.
Phía Tây họ gọi các nước Thổ Phồn, Hồi Hột là Tây Nhung, thậm chí còn gọi là Khuyển Nhung nữa.
Sau này tiếp xúc với Tây Phương bị thua mấy lần qua các cuộc chiến tranh nha phiến họ không biết gọi là gì, thấy người Tây Phương da trắng, họ mới gọi là Bạch Quỉ cho hả tức.
b- Trên phương diện nhân chủng học: Từ hơn cả chục thế kỷ biết bao tài liệu sử sách viết về lịch sử Trung Hoa và Việt Nam, một số sử gia Trung Hoa và thế giới có cái nhìn sai lệch về lịch sử VN, và với thời gian, cái SAI đã thành cái TẬT, muốn sửa đổi là cả một vấn đề.
Cho nên chúng ta phải thận trọng, dùng lý luận dựa trên căn bản nghiệm chứng lấy ra từ các tài liệu có giá trị để chứng minh.
Ðã có nhiều thuyết nói về thủy tổ dân Việt nhưng cho đến nay vẫn chưa có thuyết nào hoàn chỉnh.
Mới đây các sử gia phương Tây với phương tiện mới trong công tác khảo cổ cùng với công cuộc nghiên cứu về di cốt (đặc biệt xương sọ) thì Việt tộc chúng ta có từ đời Thần Nông (3217-3077 trước Tây lịch) chứ không phải là từ đời Nghiêu-Thuấn (2357 trước Tây lịch).
Sau này một số học giả như Vernon, Wilhelm Solheim II căn cứ trên chứng nghiệm khảo cổ bằng phương pháp Carbon 14 (C14) cho biết nền nông nghiệp đầu tiên của nhân loại là nền văn minh Hòa Bình (Bắc Việt). Các dụng cụ bằng đá tìm được ở Úc Châu cũng xuất phát từ nền văn minh Hòa Bình, và hai nền văn minh nổi tiếng của Trung Hoa là Yang Shao (Ngưỡng Thiều) và Lung Shan (Long Sơn) cũng xuất phát từ văn minh Hòa Bình.
Còn tên Giao Chỉ cũng được xác nhận từ lâu. Căn cứ vào cổ sử Tàu thì chữ Giao Chỉ được ghi trong sử Tàu từ đời Thần Nông. Ðối chiếu với Sử Ký của Tư Mã Thiên là bộ sử có giá trị nhất Trung Hoa thì Chuyên Húc (2514 trước Tây Lịch - cháu nội vua Hoàng Ðế) đã có nước Giao Chỉ giáp ranh với nước Trung Hoa. Ngoài ra trong cổ sử Tàu, tên Việt Thường cũng được nhắc tới vào cuối đời nhà Chu. Cũng theo Sử Ký Tư Mã Thiên, nước Việt Thường có lần thông sứ với Chu Thành Vương và cống hiến chim bạch trĩ. Không biết có sự liên hệ nào giữa Giao Chỉ và Việt Thường, chỉ biết khi Việt Thường xuất hiện thì Giao Chỉ biến mất. Một số sử gia cho rằng Giao Chỉ và Việt Thường là một.
Như vậy Việt Tộc đã chuyên về săn bắn, lưới cá và làm nghề nông, biết đẽo đá để làm nông cụ, tên, giáo mác, v.và rồi đi đến giai đoạn đồ đồng, dùng kim loại đúc đao, kiếm. Theo nhóm khảo cổ của Wilheim Solheim II, Ðại Học Hawaii, từ năm 1963 đã áp dụng phương pháp Carbon 14 thì tuổi đồ đồng của nền văn minh Hòa Bình là 3,500 trước Tây Lịch, lâu đời hơn đồ đồng Ấn Ðộ 500 năm và trước đồ đồng Trung Hoa 1,000 năm.
Gần đây đọc báo thấy các nhà khảo cổ đã tìm được rất nhiều trống đồng và chiêng đồng ở địa bàn nước Việt với hình ảnh chạm khắc ở trình độ nghệ thuật khá cao, điển hình là trống đồng Ngọc Lũ hiện giữ ở Quốc gia Bảo tàng Hà Nội.
Trong Hậu Hán Thư của Phạm Việp, người Tàu cũng thừa nhận trống đồng thuộc Việt Tộc vì dân tộc này đã có nền văn minh và luật lệ qui cũ, chính Mã Viện đã lấy trống đồng Lạc Việt ở đất Giao Chỉ đúc tượng đồng hình ngựa. “Viện hiếu kị, thiện biệt danh mã, ư Giao Chỉ đắc Lạc Việt đồng cổ, nãi chú vi mã thức” (Mã viện thích cởi ngựa, có biệt tài phân biệt ngựa tốt, lấy trống đồng Lạc Việt ở Giao Chỉ đúc tượng hình ngựa).
Trong bài khảo luận về văn hóa Ðông Dương (Les Civilisations de l'Indochine), nhà Khảo Cổ G. Còedes cho rằng dân tộc Việt Nam có những phong tục gia đình thờ cúng ông bà và thờ các Thần Ðình ở trong làng hoàn toàn khác hẳn với phong tục người Tàu. Việt Tộc đã có nếp sống gia tộc theo chế độ phong kiến và phụ hệ.
Trong khi đó thì người phương Bắc còn sống theo bộ lạc với đời sống du mục ăn lông ở lổ, nay đây mai đó, lấy hang hốc làm nhà, lấy lưng ngựa làm phương tiện di chuyển; sống như bầy thú không biết đạo lý, chỉ giải quyết theo thú tính giữa con đực và con cái và sau này thành tập quán dâm loạn.
c- Trên tài liệu sách vở
1- KINH THI: Kinh là bộ sử do hiền nhân viết ra. Kinh Thi là một tấm gương cho người đời soi chung. Khổng Tử lấy việc nhân đức mà tu thân, lấy việc xằng bậy mà xa lánh.
Khổng Tử nói: “Bất Kinh Thi, vô nhĩ ngôn.” Trong Kinh Thi, thiên Chu Nam và Thiệu Nam, Khổng Tử đã xác nhận nền văn hiến rực rỡ của giống Việt, biết coi trọng luân thường đạo lý; trong khi người du mục phương Bắc hung bạo sống lang chạ dâm bôn.
Khổng Tử đã nêu lên những chuyện dâm loạn ở nước Vệ và Tề:
- Vệ Tuyên công lấy nàng Tuyên Khương là vợ của con mình tên Công Tử Cấp.
- Công Tử Ngoạn phạm thượng thông dâm với Tuyên Khương là mẹ của em mình, vua Huệ Tông.
- Tề Tương Công thông dâm với em gái là Văn Khương và giết chồng là Lỗ Hoàn Công.
- Mẹ lấy con chồng: Di Khương dâm dật lấy sắc đẹp mê hoặc con chồng là Tuyên Công khiến cho Tuyên Công phạm thượng dâm bôn.
2- KINH XUÂN THU: Ðây là bộ sử nước Lỗ do Khổng Tử người nước Lỗ (551-479 trước Tây Lịch) ghi chép những việc quan trọng xảy ra hàng năm từ đời Chu Bình Vương đến Chu Kinh Vương (242 năm).
Khổng Tử đã dùng bút pháp để khen chê, phân biệt kẻ thiện người ác hết sức minh bạch và đanh thép nên bọn loạn thần tặc tử rất sợ.
“Khổng Tử tác Xuân Thu, nhi loạn thần tặc tử cụ.”
Cũng trong Kinh Xuân Thu, Khổng Tử nêu lên những chuyện sai trái để người đời xa lánh: Vua thông dâm vợ người, vua giết trung thần, giết con và ngược lại con giết vua cha, thần dân giết vua...
- Tề Ý Công lấy vợ của Diêm Chức, sau bị Diêm Chức giết.
- Vua Trần Linh Công thông dâm góa phụ là Há Cơ, Tiết Dã khuyên bị giết. Sau này con Há Cơ là Há Trưng Thư giết Trần Linh Công.
- Lý Khắc giết hai vua là Hề Tề và Trác Tử để đưa Huệ Công lên ngôi. Sau Huệ Công giết Lý Khắc.
- Con giết vua cha: Trịnh Tử công và Trịnh Tứ Gia giết vua cha là Trịnh Linh Công.
- Vua Thiên Vương giết em là Ninh Phụ.
Qua dẫn chứng nhất là hai bộ Kinh của Khổng Tử, rõ ràng người phương Bắc còn man di mọi rợ.
2- Ai đồng hóa ai?
Trong tất cả sách vở do người Tàu biên soạn, lúc nào họ cũng tự hào về nước Trung Hoa vĩ đại, tự hào về người Trung Quốc tài giỏi, tự hào có tứ đại phát minh, trong đó phát minh ra giấy viết là góp phần quan trọng cho nền văn minh nhân loại. Nhưng sự thật không phải đúng như vậy.
Sau này trong “Tứ Khố Toàn Thư,” kho tàng lưu giữ sách vở của nhà Minh và nhà Thanh, một số sử liệu được tìm thấy đã làm sáng tỏ những công trình đóng góp quan trọng vào nền văn minh thế giới, phần lớn là do công của người Bách Việt.
Bộ Bách Việt Tiên Hiền Chí là điển hình. Nói có sách, mách có chứng, sử gia Âu Ðại Nhậm đã xác nhận vua Ðại Vũ nhà Hạ (được vua Thuấn truyền ngôi, 2205 trước T.L.) là người Việt nổi tiếng là “Vua Vũ trị thủy.”
Các khai quốc công thần nhà Hán như Hàn Tín, Mai Thừa, Anh Bố, Văn Ông, Tiêu Hà, Tào Tham đều là người Việt và tiếp theo 106 tiên hiền Bách Việt, tài cao đức rộng đã có công giúp các triều đại Trung Quốc tạo nên nền văn minh cho nhân loại.
Trước khi đề cập đến một số vị tiên hiền tiêu biểu, chúng tôi xin phép nhắc sơ các vị tiền nhân ông cha của chúng ta đã có công lập nước và giữ nước:
- Hai Bà Trưng: Hai Bà là người đầu tiên làm cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, đánh đuổi Tô Ðịnh và Mã Viện. Ðây là hai bậc nữ lưu anh hùng mà thế giới phải tuyên dương, nhưng tiếc thay không mấy người nước ngoài biết đến. Nếu đem so sánh với Jeanne D'Arc, nữ anh hùng của nước Pháp và của thế giới vào thế kỷ 15, đã có công đánh quân Anh, giải cứu thành Orléans trong cuộc Bách Niên Chiến Tranh (La Guerre de Cent ans) thì chiến công của Hai Bà xứng đáng gấp bội.
- Ngô Quyền.
- Lý Thường Kiệt.
- Hưng Ðạo Vương.
- Lê Lợi.
- Nguyễn Trãi với Bình Ngô Ðại Cáo.
- Quang Trung Nguyễn Huệ.
- Mạc Ðỉnh Chi được vua Tàu phong “Lưỡng Quốc Trạng Nguyên.”
- Hồ Nguyên Trừng: Con cả của Hồ Quí Li cắp bí quyết làm súng của nhà Trần, đúc súng thần sang, được vua Minh phong làm 2 bộ trưởng quốc phòng và xây dựng mặc dù lúc đó cha là Hồ Quí Ly bị đày làm lính thú ở Quảng Tây.
- Lý Ông Trọng: Người Bách Việt, được vua Tần Thủy Hoàng phong làm tư lệnh hiệu úy tức là đô trưởng. Ông người cao lớn, sức mạnh phi thường, có tài thao lược nên quân các nước sát ranh giới Tàu rất sợ. Vì lẽ đó khi ông chết, người Tàu đúc tượng đồng của ông trấn giữ biên cương. Quân các nước láng giềng sợ oai ông mà không dám tấn công.
- Nguyễn An: Người Việt, thanh khiết, giỏi tính toán, có biệt tài về kiến trúc.
Sách Kinh Kỳ Ký Thắng đời Minh ca ngợi biệt tài của Nguyễn An trong việc kiến trúc cung điện hoàng đế ở Bắc Kinh. Trong bộ sử The Cambridge History of China, phần sử nhà Minh có ghi nhiều chi tiết về xây cất thành Bắc Kinh và chú thích Nguyễn An mất năm 1453 (thọ 72 tuổi).
Một số sử sách khác còn cho biết Nguyễn An sinh năm 1381, kiến trúc sư đời Trần Thuận tông bị sứ Tàu bắt đem về thiến làm hoạn quan. Tổng Kiến Trúc Sư Nguyễn An chỉ huy lực lượng cả trăm ngàn công nhân, thực hiện công trình xây cất suốt 17 năm. Quí vị đã từng du lịch Trung Quốc, đều biết công trường Thiên An Môn, đi sâu vô là Tử Cấm Thành với Hoàng Thành và Ðại Nội... Ðại Nội gồm 4 cửa: Ngọ môn là cửa chánh ở phía Nam, Thần Vũ môn ở phía Bắc, Ðông Hòa môn và Tây Hòa môn ở hai phía. Ðại Nội được chia làm 2 phía, Nam là Triều Ngoại, Bắc là Nội Ðình. Triều ngoài có 3 điện rất lớn nhất Thái Hòa, Trung Hòa và Bảo Hòa...
Trở lại với Bách Việt Tiên Hiền Chí, với một số hiền nhân tiêu biểu:
1- Sử Lộc (trang 75): Giỏi đào kinh biết tính mực nước cao thấp như kinh Panama.
Sử Lộc người Việt gởi rễ thành Hàm Dương được Tần Thủy Hoàng dùng làm sử quán quận (thanh tra quận). Khi Tần Thủy Hoàng sai hiệu úy Ðồ Thư dẫn 50 vạn quân tiến đánh Bách Việt, Sử Lộc được giao kinh ngòi vận chuyển quân lương. Sử Lộc đã nghĩ ra cách đắp đập đá, ngăn chặn nước sông chảy ngược lên. Thuyền vào ngăn nào thì đóng cửa sông lại, nước tràn vào nâng thuyền lên cao. Mở ngăn kế tiếp thuyền lại sang ngăn kế... 2,000 năm sau cũng theo cách này, người Mỹ đào kinh Panama thông từ Ðại Tây Dương qua Thái Bình Dương.
2- Thái Luân: (trang 153) Biệt tài rèn bí kiếm và phát minh giấy. Thái Luân sanh ở Quế Dương cuối đời Ðông Hán, thông minh hơn người, học rộng tài cao, tính tình đôn hậu. Ðược phong làm thượng phương lệnh, giao trọng trách rèn bí kiếm được coi là kiếm thần rất sắc bén. Ngoài ra Thái Luân còn có tài làm ra giấy để viết. Chính Thái Luân là người đầu tiên làm ra giấy trên thế giới. Vốn ngày xưa không có giấy phải viết trên thẻ tre hay lụa; thẻ tre thì nặng, lụa thì đắt tiền nên Thái Luân dùng cỏ cây, vải gai, vải rách, lưới rách nát, v.v... để làm giấy.
Trước tiên cắt vỏ cây, vải gai... thành từng mảnh vụn, ngâm lâu trong nước, giã thành dung dịch nhuyễn, trải thành lớp mỏng trên chiếu, phơi khô dưới ánh sáng mặt trời như vậy làm thành giấy, người đời cảm phục ông gọi là “Thái Hầu Chỉ.” Sau này sáng chế được truyền sang Ấn Ðộ, lan rộng qua vùng Trung Á tới Á Rập. Năm 793, Iraq có xưởng làm giấy và từ đó lan ra Ai Cập năm 900. Năm 1100 truyền đến Maroc và các xứ Phi Châu. Năm 1150 người Á Rập vượt biển qua Tây Ban Nha. Ðến năm 1189 xưởng giấy đầu tiên được dựng lên ở Pháp và lan ra khắp thế giới.
3. Bao Hàm (trang 175): Vị danh sư của vua
Bao Hàm quê ở Cối Kê, tài cao học rộng. Ðời vua Quang Võ Ðông Hán được vời vào cung dạy hoàng thái tử học. Vua phong làm Giám Nghị Ðại Phu, Hàm Thị Trung Hữu Trung Lang Tướng (chức quan trong triều được quyền dùng lời ngay thẳng can ngăn và sửa chữa lỗi lầm của vua). Vua rất trọng, mỗi lần vào yết kiến, vua đều đỡ dậy mời ngồi ghế. Vua xem ông là bậc minh sư, thấy ông sống thanh bần vua thường ban lụa và thóc gạo. Ông lại chia hết cho các học trò nghèo.
Chúng ta còn gặp nhiều vị tiên hiền khác như Ðặng Mật, Sỹ Nhiếp, Ðào Diên, Trưởng Phường, Chiêu Mãnh, v.v... đều là người Bách Việt.
Xét qua Bách Việt Tiên Hiền Chí ta thấy dân tộc Bách Việt đã có nhiều nhân tài, trí óc thông minh, đạo đức hơn người đã có công góp phần xây dựng nền văn hóa vĩ đại của Trung Hoa mà cũng là của thế giới.
Cũng qua Bách Việt Tiên Hiền Chí, càng chứng minh tại sao dân tộc ta bị 1,000 năm nô lệ giặc Tầu mà chúng ta không bị đồng hóa và trải qua hơn 80 năm bị đô hộ bởi giặc Pháp mà chúng ta vẫn là TA, bởi vì chúng ta đã có một nền văn hóa riêng biệt từ ngàn xưa mang đặc thù truyền thống Việt Nam.
Thái Sử công có viết: “Việt tuy gọi làm man di, nhưng tiên khởi đã có đại công đức với muôn dân vậy.” Còn đức Khổng Tử nhận xét: “Ðộ lượng bao dung, ôn hòa giáo hóa, không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của phương Nam, người quân tử ở đấy. Mặc giáp cưỡi ngựa, xông pha giáo mác đến chết không chán, đó là sức mạnh của phương Bắc, kẻ cường bạo ở đấy.”
Kính thưa quý vị, với tầm quan trọng và giá trị của bộ sách, nhất là tài phiên dịch và chú thích của Giáo Sư Trần Lam Giang, quý vị hãy phổ biến đến con em chúng ta để các cháu tìm hiểu về nguồn gốc Việt Tộc và hãnh diện mình là người Việt. Chúng tôi có ước vọng các cháu sẽ chuyển ngữ sang tiếng Anh để các thế hệ sau sống ở hải ngoại và cả thế giới biết được sự thật về lịch sử Bách Việt hầu làm sáng tỏ và phản bác những luận điệu sai lạc của người phương Bắc.
Xin cám ơn quí vị.
HOÀNG ÐÌNH KHUÊ GHI THÊM: Ðây là bộ sách có in cả nguyên tác để đối chứng, so sánh (vì nói có sách, mách có chứng), chuyên dịch sang Việt Ngữ và quan trọng hơn hết là phần chú thích. Chú thích của bộ sách này, dịch giả và nhóm học giả trong Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Hóa Việt Nam (thuộc Thư Viện/Bảo Tàng Viện VN) đã mất đến 10 năm trời để hoàn thành. Ðây là bộ sách rất đáng được mọi người trân quý, tìm đọc, lưu lại trong nhà. Sách đã được bán tại Thư Viện tại địa chỉ 10872 Westminster Ave #214, Garden Grove, CA 92843. Tel (714) 638-8448 (mở cửa từ 12 giờ trưa đến 6 giờ chiều mỗi ngày). Ở xa vui lòng gởi về Nhân Ái Foundation, PO Box 2051, Westminster, CA 92684, USA. Giá mỗi cuốn $35.00.
LỜI GIỚI THIỆU: Trong buổi ra mắt sách Bách Việt Tiên Hiền Chí - Lĩnh Nam Di Thư tại Thư Viện Việt Nam ngày 10 Tháng Chín vừa qua, có các bài phát biểu, góp ý, điểm sách. Chúng tôi hân hạnh giới thiệu phần góp ý của ông Hoàng Ðình Khuê, chuyên gia Hán-Nôm và Nhật Ngữ. Ông Hoàng Ðình Khuê cũng là cựu sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa, xuất thân từ khóa 16 trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
Thưa quý vị, tôi sẽ không trình bày về sử gia Âu Ðại Nhậm, soạn giả của bộ sách này. Tôi cũng không nói về dịch giả là Giáo Sư Trần Lam Giang và tôi cũng không nói về nội dung của bộ sách mặc dù tôi rất mê phần chú thích vô cùng công phu của dịch giả, chính phần nầy đã ngốn của dịch giả hết 10 năm trời. Tôi chỉ xin bàn về “Tại sao dân tộc Việt Nam chúng ta vẫn là TA, không hề bị đồng hóa bởi ngoại bang.”
Ðọc trong phần giới thiệu và lời mở đầu của bộ sách, chúng ta có thể hiểu được tâm tư của dịch giả. Giáo Sư Trần Lam Giang đánh giá bộ sách này rất quan trọng đối với dân tộc VN, nhất là trong giai đoạn dân tộc ta đang chống lại cuộc xâm lăng văn hóa từ nhiều phía.
Giáo Sư Trần Lam Giang cũng như chúng ta tuy sống xa quê hương nhưng vẫn nghĩ đến đất nước. Chúng ta đau lòng khi thấy đất nước chưa thoát khỏi cảnh nghèo đói, xã hội càng ngày càng băng hoại với thảm cảnh “vợ Việt chồng ngoại,” các bé gái tuổi từ 12 đến 15 bị bán qua Trung Quốc và Kampuchea để làm nô lệ tình dục, các bé trai thất học lang thang bụi đời, nhưng đau lòng hơn là nền giáo dục xuống dốc: Nào chuyện thi cử gian lận, mua bán bằng cấp, nào chuyện báo chí trong nước thống kê sinh viên, học sinh ngày nay kém hiểu biết về lịch sử VN, thậm chí không thuộc cả địa danh và tên của các danh nhân.
Ngoài những mất mát tinh thần, chúng ta còn chịu tủi nhục vì không giữ được những gia tài quí báu mà cha ông đã giành được và giữ được, để rồi ngày 30 Tháng Mười Hai 1999 tại Hà Nội, một hiệp ước về biên giới trên đất liền đã được ký kết giữa Nguyễn Mạnh Cầm và Ðường Gia Truyền, kết quả chúng ta đã mất ải Nam Quan và 10 ngàn cây số vuông mặt biển (8% của 123,700 km vuông diện tích vịnh Bắc Việt).
Hiện nay đang có một chiến dịch làm sai lạc lịch sử VN và một phong trào xoa dịu lòng thù hận phương Bắc của lớp trẻ trong nước, do cán bộ văn hóa Trung quốc chủ trương. Nhà cầm quyền CSVN đã quên rằng lịch sử hơn 5,000 năm đã cho thấy kẻ thù phương Bắc lúc nào cũng sẵn sàng xâm chiếm nước ta. Ðừng ngây thơ nghe những lời mị dân giả dối của kẻ thù, không có một quốc gia nào tốt bụng thật sự giúp chúng ta, chẳng qua vì quyền lợi của nước họ mà thôi.
* Kẻ thù phương Bắc luôn rêu rao dân tộc VN chúng ta man di mọi rợ.
- SAI. Chính họ mới mọi rợ man di.
* Kẻ thù phương Bắc luôn tự hào là văn minh nhất thế giới, đã đồng hóa dân tộc ta.
- SAI. Chính chúng ta đã đồng hóa họ và giúp họ xây dựng một nền văn minh mà ngày nay gọi là “văn minh Trung Hoa.”
Chúng tôi sẽ chứng minh hai điểm sai này:
1- Ai man di mọi rợ?
a- Xét trên phương diện tâm lý dân tộc: Bất kỳ một nước nào dù lớn hay nhỏ đều coi các nước khác không cùng sắc tộc là rừng rú dã man.
Bên Âu Châu, ngày xưa Ðế Quốc La Mã tự coi mình là văn minh nhất thế giới nên xem những giống dân chung quanh như Ostrogoths, Wisigoths, Francs, Slaves đều là Barbares tức là mọi rợ.
Qua Á Châu, người Trung Hoa tự xem mình là văn minh của nhân loại, dân tộc họ là trung tâm vũ trụ nên mới gọi là Trung Quốc và nước của họ đẹp như gấm như hoa nên gọi là Trung Hoa. Họ coi các nước chung quanh là man di mọi rợ.
Phương Bắc họ gọi các nước Mông Cổ, Liêu, Kim là Bắc Ðịch.
Phía Nam họ gọi Việt Nam và Xiêm La là Nam Man.
Phía Ðông họ gọi Cao Ly, Nhật Bổn là Ðông Di.
Phía Tây họ gọi các nước Thổ Phồn, Hồi Hột là Tây Nhung, thậm chí còn gọi là Khuyển Nhung nữa.
Sau này tiếp xúc với Tây Phương bị thua mấy lần qua các cuộc chiến tranh nha phiến họ không biết gọi là gì, thấy người Tây Phương da trắng, họ mới gọi là Bạch Quỉ cho hả tức.
b- Trên phương diện nhân chủng học: Từ hơn cả chục thế kỷ biết bao tài liệu sử sách viết về lịch sử Trung Hoa và Việt Nam, một số sử gia Trung Hoa và thế giới có cái nhìn sai lệch về lịch sử VN, và với thời gian, cái SAI đã thành cái TẬT, muốn sửa đổi là cả một vấn đề.
Cho nên chúng ta phải thận trọng, dùng lý luận dựa trên căn bản nghiệm chứng lấy ra từ các tài liệu có giá trị để chứng minh.
Ðã có nhiều thuyết nói về thủy tổ dân Việt nhưng cho đến nay vẫn chưa có thuyết nào hoàn chỉnh.
Mới đây các sử gia phương Tây với phương tiện mới trong công tác khảo cổ cùng với công cuộc nghiên cứu về di cốt (đặc biệt xương sọ) thì Việt tộc chúng ta có từ đời Thần Nông (3217-3077 trước Tây lịch) chứ không phải là từ đời Nghiêu-Thuấn (2357 trước Tây lịch).
Sau này một số học giả như Vernon, Wilhelm Solheim II căn cứ trên chứng nghiệm khảo cổ bằng phương pháp Carbon 14 (C14) cho biết nền nông nghiệp đầu tiên của nhân loại là nền văn minh Hòa Bình (Bắc Việt). Các dụng cụ bằng đá tìm được ở Úc Châu cũng xuất phát từ nền văn minh Hòa Bình, và hai nền văn minh nổi tiếng của Trung Hoa là Yang Shao (Ngưỡng Thiều) và Lung Shan (Long Sơn) cũng xuất phát từ văn minh Hòa Bình.
Còn tên Giao Chỉ cũng được xác nhận từ lâu. Căn cứ vào cổ sử Tàu thì chữ Giao Chỉ được ghi trong sử Tàu từ đời Thần Nông. Ðối chiếu với Sử Ký của Tư Mã Thiên là bộ sử có giá trị nhất Trung Hoa thì Chuyên Húc (2514 trước Tây Lịch - cháu nội vua Hoàng Ðế) đã có nước Giao Chỉ giáp ranh với nước Trung Hoa. Ngoài ra trong cổ sử Tàu, tên Việt Thường cũng được nhắc tới vào cuối đời nhà Chu. Cũng theo Sử Ký Tư Mã Thiên, nước Việt Thường có lần thông sứ với Chu Thành Vương và cống hiến chim bạch trĩ. Không biết có sự liên hệ nào giữa Giao Chỉ và Việt Thường, chỉ biết khi Việt Thường xuất hiện thì Giao Chỉ biến mất. Một số sử gia cho rằng Giao Chỉ và Việt Thường là một.
Như vậy Việt Tộc đã chuyên về săn bắn, lưới cá và làm nghề nông, biết đẽo đá để làm nông cụ, tên, giáo mác, v.và rồi đi đến giai đoạn đồ đồng, dùng kim loại đúc đao, kiếm. Theo nhóm khảo cổ của Wilheim Solheim II, Ðại Học Hawaii, từ năm 1963 đã áp dụng phương pháp Carbon 14 thì tuổi đồ đồng của nền văn minh Hòa Bình là 3,500 trước Tây Lịch, lâu đời hơn đồ đồng Ấn Ðộ 500 năm và trước đồ đồng Trung Hoa 1,000 năm.
Gần đây đọc báo thấy các nhà khảo cổ đã tìm được rất nhiều trống đồng và chiêng đồng ở địa bàn nước Việt với hình ảnh chạm khắc ở trình độ nghệ thuật khá cao, điển hình là trống đồng Ngọc Lũ hiện giữ ở Quốc gia Bảo tàng Hà Nội.
Trong Hậu Hán Thư của Phạm Việp, người Tàu cũng thừa nhận trống đồng thuộc Việt Tộc vì dân tộc này đã có nền văn minh và luật lệ qui cũ, chính Mã Viện đã lấy trống đồng Lạc Việt ở đất Giao Chỉ đúc tượng đồng hình ngựa. “Viện hiếu kị, thiện biệt danh mã, ư Giao Chỉ đắc Lạc Việt đồng cổ, nãi chú vi mã thức” (Mã viện thích cởi ngựa, có biệt tài phân biệt ngựa tốt, lấy trống đồng Lạc Việt ở Giao Chỉ đúc tượng hình ngựa).
Trong bài khảo luận về văn hóa Ðông Dương (Les Civilisations de l'Indochine), nhà Khảo Cổ G. Còedes cho rằng dân tộc Việt Nam có những phong tục gia đình thờ cúng ông bà và thờ các Thần Ðình ở trong làng hoàn toàn khác hẳn với phong tục người Tàu. Việt Tộc đã có nếp sống gia tộc theo chế độ phong kiến và phụ hệ.
Trong khi đó thì người phương Bắc còn sống theo bộ lạc với đời sống du mục ăn lông ở lổ, nay đây mai đó, lấy hang hốc làm nhà, lấy lưng ngựa làm phương tiện di chuyển; sống như bầy thú không biết đạo lý, chỉ giải quyết theo thú tính giữa con đực và con cái và sau này thành tập quán dâm loạn.
c- Trên tài liệu sách vở
1- KINH THI: Kinh là bộ sử do hiền nhân viết ra. Kinh Thi là một tấm gương cho người đời soi chung. Khổng Tử lấy việc nhân đức mà tu thân, lấy việc xằng bậy mà xa lánh.
Khổng Tử nói: “Bất Kinh Thi, vô nhĩ ngôn.” Trong Kinh Thi, thiên Chu Nam và Thiệu Nam, Khổng Tử đã xác nhận nền văn hiến rực rỡ của giống Việt, biết coi trọng luân thường đạo lý; trong khi người du mục phương Bắc hung bạo sống lang chạ dâm bôn.
Khổng Tử đã nêu lên những chuyện dâm loạn ở nước Vệ và Tề:
- Vệ Tuyên công lấy nàng Tuyên Khương là vợ của con mình tên Công Tử Cấp.
- Công Tử Ngoạn phạm thượng thông dâm với Tuyên Khương là mẹ của em mình, vua Huệ Tông.
- Tề Tương Công thông dâm với em gái là Văn Khương và giết chồng là Lỗ Hoàn Công.
- Mẹ lấy con chồng: Di Khương dâm dật lấy sắc đẹp mê hoặc con chồng là Tuyên Công khiến cho Tuyên Công phạm thượng dâm bôn.
2- KINH XUÂN THU: Ðây là bộ sử nước Lỗ do Khổng Tử người nước Lỗ (551-479 trước Tây Lịch) ghi chép những việc quan trọng xảy ra hàng năm từ đời Chu Bình Vương đến Chu Kinh Vương (242 năm).
Khổng Tử đã dùng bút pháp để khen chê, phân biệt kẻ thiện người ác hết sức minh bạch và đanh thép nên bọn loạn thần tặc tử rất sợ.
“Khổng Tử tác Xuân Thu, nhi loạn thần tặc tử cụ.”
Cũng trong Kinh Xuân Thu, Khổng Tử nêu lên những chuyện sai trái để người đời xa lánh: Vua thông dâm vợ người, vua giết trung thần, giết con và ngược lại con giết vua cha, thần dân giết vua...
- Tề Ý Công lấy vợ của Diêm Chức, sau bị Diêm Chức giết.
- Vua Trần Linh Công thông dâm góa phụ là Há Cơ, Tiết Dã khuyên bị giết. Sau này con Há Cơ là Há Trưng Thư giết Trần Linh Công.
- Lý Khắc giết hai vua là Hề Tề và Trác Tử để đưa Huệ Công lên ngôi. Sau Huệ Công giết Lý Khắc.
- Con giết vua cha: Trịnh Tử công và Trịnh Tứ Gia giết vua cha là Trịnh Linh Công.
- Vua Thiên Vương giết em là Ninh Phụ.
Qua dẫn chứng nhất là hai bộ Kinh của Khổng Tử, rõ ràng người phương Bắc còn man di mọi rợ.
2- Ai đồng hóa ai?
Trong tất cả sách vở do người Tàu biên soạn, lúc nào họ cũng tự hào về nước Trung Hoa vĩ đại, tự hào về người Trung Quốc tài giỏi, tự hào có tứ đại phát minh, trong đó phát minh ra giấy viết là góp phần quan trọng cho nền văn minh nhân loại. Nhưng sự thật không phải đúng như vậy.
Sau này trong “Tứ Khố Toàn Thư,” kho tàng lưu giữ sách vở của nhà Minh và nhà Thanh, một số sử liệu được tìm thấy đã làm sáng tỏ những công trình đóng góp quan trọng vào nền văn minh thế giới, phần lớn là do công của người Bách Việt.
Bộ Bách Việt Tiên Hiền Chí là điển hình. Nói có sách, mách có chứng, sử gia Âu Ðại Nhậm đã xác nhận vua Ðại Vũ nhà Hạ (được vua Thuấn truyền ngôi, 2205 trước T.L.) là người Việt nổi tiếng là “Vua Vũ trị thủy.”
Các khai quốc công thần nhà Hán như Hàn Tín, Mai Thừa, Anh Bố, Văn Ông, Tiêu Hà, Tào Tham đều là người Việt và tiếp theo 106 tiên hiền Bách Việt, tài cao đức rộng đã có công giúp các triều đại Trung Quốc tạo nên nền văn minh cho nhân loại.
Trước khi đề cập đến một số vị tiên hiền tiêu biểu, chúng tôi xin phép nhắc sơ các vị tiền nhân ông cha của chúng ta đã có công lập nước và giữ nước:
- Hai Bà Trưng: Hai Bà là người đầu tiên làm cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, đánh đuổi Tô Ðịnh và Mã Viện. Ðây là hai bậc nữ lưu anh hùng mà thế giới phải tuyên dương, nhưng tiếc thay không mấy người nước ngoài biết đến. Nếu đem so sánh với Jeanne D'Arc, nữ anh hùng của nước Pháp và của thế giới vào thế kỷ 15, đã có công đánh quân Anh, giải cứu thành Orléans trong cuộc Bách Niên Chiến Tranh (La Guerre de Cent ans) thì chiến công của Hai Bà xứng đáng gấp bội.
- Ngô Quyền.
- Lý Thường Kiệt.
- Hưng Ðạo Vương.
- Lê Lợi.
- Nguyễn Trãi với Bình Ngô Ðại Cáo.
- Quang Trung Nguyễn Huệ.
- Mạc Ðỉnh Chi được vua Tàu phong “Lưỡng Quốc Trạng Nguyên.”
- Hồ Nguyên Trừng: Con cả của Hồ Quí Li cắp bí quyết làm súng của nhà Trần, đúc súng thần sang, được vua Minh phong làm 2 bộ trưởng quốc phòng và xây dựng mặc dù lúc đó cha là Hồ Quí Ly bị đày làm lính thú ở Quảng Tây.
- Lý Ông Trọng: Người Bách Việt, được vua Tần Thủy Hoàng phong làm tư lệnh hiệu úy tức là đô trưởng. Ông người cao lớn, sức mạnh phi thường, có tài thao lược nên quân các nước sát ranh giới Tàu rất sợ. Vì lẽ đó khi ông chết, người Tàu đúc tượng đồng của ông trấn giữ biên cương. Quân các nước láng giềng sợ oai ông mà không dám tấn công.
- Nguyễn An: Người Việt, thanh khiết, giỏi tính toán, có biệt tài về kiến trúc.
Sách Kinh Kỳ Ký Thắng đời Minh ca ngợi biệt tài của Nguyễn An trong việc kiến trúc cung điện hoàng đế ở Bắc Kinh. Trong bộ sử The Cambridge History of China, phần sử nhà Minh có ghi nhiều chi tiết về xây cất thành Bắc Kinh và chú thích Nguyễn An mất năm 1453 (thọ 72 tuổi).
Một số sử sách khác còn cho biết Nguyễn An sinh năm 1381, kiến trúc sư đời Trần Thuận tông bị sứ Tàu bắt đem về thiến làm hoạn quan. Tổng Kiến Trúc Sư Nguyễn An chỉ huy lực lượng cả trăm ngàn công nhân, thực hiện công trình xây cất suốt 17 năm. Quí vị đã từng du lịch Trung Quốc, đều biết công trường Thiên An Môn, đi sâu vô là Tử Cấm Thành với Hoàng Thành và Ðại Nội... Ðại Nội gồm 4 cửa: Ngọ môn là cửa chánh ở phía Nam, Thần Vũ môn ở phía Bắc, Ðông Hòa môn và Tây Hòa môn ở hai phía. Ðại Nội được chia làm 2 phía, Nam là Triều Ngoại, Bắc là Nội Ðình. Triều ngoài có 3 điện rất lớn nhất Thái Hòa, Trung Hòa và Bảo Hòa...
Trở lại với Bách Việt Tiên Hiền Chí, với một số hiền nhân tiêu biểu:
1- Sử Lộc (trang 75): Giỏi đào kinh biết tính mực nước cao thấp như kinh Panama.
Sử Lộc người Việt gởi rễ thành Hàm Dương được Tần Thủy Hoàng dùng làm sử quán quận (thanh tra quận). Khi Tần Thủy Hoàng sai hiệu úy Ðồ Thư dẫn 50 vạn quân tiến đánh Bách Việt, Sử Lộc được giao kinh ngòi vận chuyển quân lương. Sử Lộc đã nghĩ ra cách đắp đập đá, ngăn chặn nước sông chảy ngược lên. Thuyền vào ngăn nào thì đóng cửa sông lại, nước tràn vào nâng thuyền lên cao. Mở ngăn kế tiếp thuyền lại sang ngăn kế... 2,000 năm sau cũng theo cách này, người Mỹ đào kinh Panama thông từ Ðại Tây Dương qua Thái Bình Dương.
2- Thái Luân: (trang 153) Biệt tài rèn bí kiếm và phát minh giấy. Thái Luân sanh ở Quế Dương cuối đời Ðông Hán, thông minh hơn người, học rộng tài cao, tính tình đôn hậu. Ðược phong làm thượng phương lệnh, giao trọng trách rèn bí kiếm được coi là kiếm thần rất sắc bén. Ngoài ra Thái Luân còn có tài làm ra giấy để viết. Chính Thái Luân là người đầu tiên làm ra giấy trên thế giới. Vốn ngày xưa không có giấy phải viết trên thẻ tre hay lụa; thẻ tre thì nặng, lụa thì đắt tiền nên Thái Luân dùng cỏ cây, vải gai, vải rách, lưới rách nát, v.v... để làm giấy.
Trước tiên cắt vỏ cây, vải gai... thành từng mảnh vụn, ngâm lâu trong nước, giã thành dung dịch nhuyễn, trải thành lớp mỏng trên chiếu, phơi khô dưới ánh sáng mặt trời như vậy làm thành giấy, người đời cảm phục ông gọi là “Thái Hầu Chỉ.” Sau này sáng chế được truyền sang Ấn Ðộ, lan rộng qua vùng Trung Á tới Á Rập. Năm 793, Iraq có xưởng làm giấy và từ đó lan ra Ai Cập năm 900. Năm 1100 truyền đến Maroc và các xứ Phi Châu. Năm 1150 người Á Rập vượt biển qua Tây Ban Nha. Ðến năm 1189 xưởng giấy đầu tiên được dựng lên ở Pháp và lan ra khắp thế giới.
3. Bao Hàm (trang 175): Vị danh sư của vua
Bao Hàm quê ở Cối Kê, tài cao học rộng. Ðời vua Quang Võ Ðông Hán được vời vào cung dạy hoàng thái tử học. Vua phong làm Giám Nghị Ðại Phu, Hàm Thị Trung Hữu Trung Lang Tướng (chức quan trong triều được quyền dùng lời ngay thẳng can ngăn và sửa chữa lỗi lầm của vua). Vua rất trọng, mỗi lần vào yết kiến, vua đều đỡ dậy mời ngồi ghế. Vua xem ông là bậc minh sư, thấy ông sống thanh bần vua thường ban lụa và thóc gạo. Ông lại chia hết cho các học trò nghèo.
Chúng ta còn gặp nhiều vị tiên hiền khác như Ðặng Mật, Sỹ Nhiếp, Ðào Diên, Trưởng Phường, Chiêu Mãnh, v.v... đều là người Bách Việt.
Xét qua Bách Việt Tiên Hiền Chí ta thấy dân tộc Bách Việt đã có nhiều nhân tài, trí óc thông minh, đạo đức hơn người đã có công góp phần xây dựng nền văn hóa vĩ đại của Trung Hoa mà cũng là của thế giới.
Cũng qua Bách Việt Tiên Hiền Chí, càng chứng minh tại sao dân tộc ta bị 1,000 năm nô lệ giặc Tầu mà chúng ta không bị đồng hóa và trải qua hơn 80 năm bị đô hộ bởi giặc Pháp mà chúng ta vẫn là TA, bởi vì chúng ta đã có một nền văn hóa riêng biệt từ ngàn xưa mang đặc thù truyền thống Việt Nam.
Thái Sử công có viết: “Việt tuy gọi làm man di, nhưng tiên khởi đã có đại công đức với muôn dân vậy.” Còn đức Khổng Tử nhận xét: “Ðộ lượng bao dung, ôn hòa giáo hóa, không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của phương Nam, người quân tử ở đấy. Mặc giáp cưỡi ngựa, xông pha giáo mác đến chết không chán, đó là sức mạnh của phương Bắc, kẻ cường bạo ở đấy.”
Kính thưa quý vị, với tầm quan trọng và giá trị của bộ sách, nhất là tài phiên dịch và chú thích của Giáo Sư Trần Lam Giang, quý vị hãy phổ biến đến con em chúng ta để các cháu tìm hiểu về nguồn gốc Việt Tộc và hãnh diện mình là người Việt. Chúng tôi có ước vọng các cháu sẽ chuyển ngữ sang tiếng Anh để các thế hệ sau sống ở hải ngoại và cả thế giới biết được sự thật về lịch sử Bách Việt hầu làm sáng tỏ và phản bác những luận điệu sai lạc của người phương Bắc.
Xin cám ơn quí vị.
HOÀNG ÐÌNH KHUÊ GHI THÊM: Ðây là bộ sách có in cả nguyên tác để đối chứng, so sánh (vì nói có sách, mách có chứng), chuyên dịch sang Việt Ngữ và quan trọng hơn hết là phần chú thích. Chú thích của bộ sách này, dịch giả và nhóm học giả trong Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Hóa Việt Nam (thuộc Thư Viện/Bảo Tàng Viện VN) đã mất đến 10 năm trời để hoàn thành. Ðây là bộ sách rất đáng được mọi người trân quý, tìm đọc, lưu lại trong nhà. Sách đã được bán tại Thư Viện tại địa chỉ 10872 Westminster Ave #214, Garden Grove, CA 92843. Tel (714) 638-8448 (mở cửa từ 12 giờ trưa đến 6 giờ chiều mỗi ngày). Ở xa vui lòng gởi về Nhân Ái Foundation, PO Box 2051, Westminster, CA 92684, USA. Giá mỗi cuốn $35.00.