PDA

View Full Version : Bách Việt Tiên Hiền Chí


WLP
10-03-2006, 12:33 PM
Saturday, September 30, 2006
LỜI GIỚI THIỆU: Trong buổi ra mắt sách Bách Việt Tiên Hiền Chí - Lĩnh Nam Di Thư tại Thư Viện Việt Nam ngày 10 Tháng Chín vừa qua, có các bài phát biểu, góp ý, điểm sách. Chúng tôi hân hạnh giới thiệu phần góp ý của ông Hoàng Ðình Khuê, chuyên gia Hán-Nôm và Nhật Ngữ. Ông Hoàng Ðình Khuê cũng là cựu sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa, xuất thân từ khóa 16 trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.

Thưa quý vị, tôi sẽ không trình bày về sử gia Âu Ðại Nhậm, soạn giả của bộ sách này. Tôi cũng không nói về dịch giả là Giáo Sư Trần Lam Giang và tôi cũng không nói về nội dung của bộ sách mặc dù tôi rất mê phần chú thích vô cùng công phu của dịch giả, chính phần nầy đã ngốn của dịch giả hết 10 năm trời. Tôi chỉ xin bàn về “Tại sao dân tộc Việt Nam chúng ta vẫn là TA, không hề bị đồng hóa bởi ngoại bang.”

Ðọc trong phần giới thiệu và lời mở đầu của bộ sách, chúng ta có thể hiểu được tâm tư của dịch giả. Giáo Sư Trần Lam Giang đánh giá bộ sách này rất quan trọng đối với dân tộc VN, nhất là trong giai đoạn dân tộc ta đang chống lại cuộc xâm lăng văn hóa từ nhiều phía.

Giáo Sư Trần Lam Giang cũng như chúng ta tuy sống xa quê hương nhưng vẫn nghĩ đến đất nước. Chúng ta đau lòng khi thấy đất nước chưa thoát khỏi cảnh nghèo đói, xã hội càng ngày càng băng hoại với thảm cảnh “vợ Việt chồng ngoại,” các bé gái tuổi từ 12 đến 15 bị bán qua Trung Quốc và Kampuchea để làm nô lệ tình dục, các bé trai thất học lang thang bụi đời, nhưng đau lòng hơn là nền giáo dục xuống dốc: Nào chuyện thi cử gian lận, mua bán bằng cấp, nào chuyện báo chí trong nước thống kê sinh viên, học sinh ngày nay kém hiểu biết về lịch sử VN, thậm chí không thuộc cả địa danh và tên của các danh nhân.

Ngoài những mất mát tinh thần, chúng ta còn chịu tủi nhục vì không giữ được những gia tài quí báu mà cha ông đã giành được và giữ được, để rồi ngày 30 Tháng Mười Hai 1999 tại Hà Nội, một hiệp ước về biên giới trên đất liền đã được ký kết giữa Nguyễn Mạnh Cầm và Ðường Gia Truyền, kết quả chúng ta đã mất ải Nam Quan và 10 ngàn cây số vuông mặt biển (8% của 123,700 km vuông diện tích vịnh Bắc Việt).

Hiện nay đang có một chiến dịch làm sai lạc lịch sử VN và một phong trào xoa dịu lòng thù hận phương Bắc của lớp trẻ trong nước, do cán bộ văn hóa Trung quốc chủ trương. Nhà cầm quyền CSVN đã quên rằng lịch sử hơn 5,000 năm đã cho thấy kẻ thù phương Bắc lúc nào cũng sẵn sàng xâm chiếm nước ta. Ðừng ngây thơ nghe những lời mị dân giả dối của kẻ thù, không có một quốc gia nào tốt bụng thật sự giúp chúng ta, chẳng qua vì quyền lợi của nước họ mà thôi.

* Kẻ thù phương Bắc luôn rêu rao dân tộc VN chúng ta man di mọi rợ.

- SAI. Chính họ mới mọi rợ man di.

* Kẻ thù phương Bắc luôn tự hào là văn minh nhất thế giới, đã đồng hóa dân tộc ta.

- SAI. Chính chúng ta đã đồng hóa họ và giúp họ xây dựng một nền văn minh mà ngày nay gọi là “văn minh Trung Hoa.”

Chúng tôi sẽ chứng minh hai điểm sai này:

1- Ai man di mọi rợ?

a- Xét trên phương diện tâm lý dân tộc: Bất kỳ một nước nào dù lớn hay nhỏ đều coi các nước khác không cùng sắc tộc là rừng rú dã man.

Bên Âu Châu, ngày xưa Ðế Quốc La Mã tự coi mình là văn minh nhất thế giới nên xem những giống dân chung quanh như Ostrogoths, Wisigoths, Francs, Slaves đều là Barbares tức là mọi rợ.

Qua Á Châu, người Trung Hoa tự xem mình là văn minh của nhân loại, dân tộc họ là trung tâm vũ trụ nên mới gọi là Trung Quốc và nước của họ đẹp như gấm như hoa nên gọi là Trung Hoa. Họ coi các nước chung quanh là man di mọi rợ.

Phương Bắc họ gọi các nước Mông Cổ, Liêu, Kim là Bắc Ðịch.

Phía Nam họ gọi Việt Nam và Xiêm La là Nam Man.

Phía Ðông họ gọi Cao Ly, Nhật Bổn là Ðông Di.

Phía Tây họ gọi các nước Thổ Phồn, Hồi Hột là Tây Nhung, thậm chí còn gọi là Khuyển Nhung nữa.

Sau này tiếp xúc với Tây Phương bị thua mấy lần qua các cuộc chiến tranh nha phiến họ không biết gọi là gì, thấy người Tây Phương da trắng, họ mới gọi là Bạch Quỉ cho hả tức.

b- Trên phương diện nhân chủng học: Từ hơn cả chục thế kỷ biết bao tài liệu sử sách viết về lịch sử Trung Hoa và Việt Nam, một số sử gia Trung Hoa và thế giới có cái nhìn sai lệch về lịch sử VN, và với thời gian, cái SAI đã thành cái TẬT, muốn sửa đổi là cả một vấn đề.

Cho nên chúng ta phải thận trọng, dùng lý luận dựa trên căn bản nghiệm chứng lấy ra từ các tài liệu có giá trị để chứng minh.

Ðã có nhiều thuyết nói về thủy tổ dân Việt nhưng cho đến nay vẫn chưa có thuyết nào hoàn chỉnh.

Mới đây các sử gia phương Tây với phương tiện mới trong công tác khảo cổ cùng với công cuộc nghiên cứu về di cốt (đặc biệt xương sọ) thì Việt tộc chúng ta có từ đời Thần Nông (3217-3077 trước Tây lịch) chứ không phải là từ đời Nghiêu-Thuấn (2357 trước Tây lịch).

Sau này một số học giả như Vernon, Wilhelm Solheim II căn cứ trên chứng nghiệm khảo cổ bằng phương pháp Carbon 14 (C14) cho biết nền nông nghiệp đầu tiên của nhân loại là nền văn minh Hòa Bình (Bắc Việt). Các dụng cụ bằng đá tìm được ở Úc Châu cũng xuất phát từ nền văn minh Hòa Bình, và hai nền văn minh nổi tiếng của Trung Hoa là Yang Shao (Ngưỡng Thiều) và Lung Shan (Long Sơn) cũng xuất phát từ văn minh Hòa Bình.

Còn tên Giao Chỉ cũng được xác nhận từ lâu. Căn cứ vào cổ sử Tàu thì chữ Giao Chỉ được ghi trong sử Tàu từ đời Thần Nông. Ðối chiếu với Sử Ký của Tư Mã Thiên là bộ sử có giá trị nhất Trung Hoa thì Chuyên Húc (2514 trước Tây Lịch - cháu nội vua Hoàng Ðế) đã có nước Giao Chỉ giáp ranh với nước Trung Hoa. Ngoài ra trong cổ sử Tàu, tên Việt Thường cũng được nhắc tới vào cuối đời nhà Chu. Cũng theo Sử Ký Tư Mã Thiên, nước Việt Thường có lần thông sứ với Chu Thành Vương và cống hiến chim bạch trĩ. Không biết có sự liên hệ nào giữa Giao Chỉ và Việt Thường, chỉ biết khi Việt Thường xuất hiện thì Giao Chỉ biến mất. Một số sử gia cho rằng Giao Chỉ và Việt Thường là một.

Như vậy Việt Tộc đã chuyên về săn bắn, lưới cá và làm nghề nông, biết đẽo đá để làm nông cụ, tên, giáo mác, v.và rồi đi đến giai đoạn đồ đồng, dùng kim loại đúc đao, kiếm. Theo nhóm khảo cổ của Wilheim Solheim II, Ðại Học Hawaii, từ năm 1963 đã áp dụng phương pháp Carbon 14 thì tuổi đồ đồng của nền văn minh Hòa Bình là 3,500 trước Tây Lịch, lâu đời hơn đồ đồng Ấn Ðộ 500 năm và trước đồ đồng Trung Hoa 1,000 năm.

Gần đây đọc báo thấy các nhà khảo cổ đã tìm được rất nhiều trống đồng và chiêng đồng ở địa bàn nước Việt với hình ảnh chạm khắc ở trình độ nghệ thuật khá cao, điển hình là trống đồng Ngọc Lũ hiện giữ ở Quốc gia Bảo tàng Hà Nội.

Trong Hậu Hán Thư của Phạm Việp, người Tàu cũng thừa nhận trống đồng thuộc Việt Tộc vì dân tộc này đã có nền văn minh và luật lệ qui cũ, chính Mã Viện đã lấy trống đồng Lạc Việt ở đất Giao Chỉ đúc tượng đồng hình ngựa. “Viện hiếu kị, thiện biệt danh mã, ư Giao Chỉ đắc Lạc Việt đồng cổ, nãi chú vi mã thức” (Mã viện thích cởi ngựa, có biệt tài phân biệt ngựa tốt, lấy trống đồng Lạc Việt ở Giao Chỉ đúc tượng hình ngựa).

Trong bài khảo luận về văn hóa Ðông Dương (Les Civilisations de l'Indochine), nhà Khảo Cổ G. Còedes cho rằng dân tộc Việt Nam có những phong tục gia đình thờ cúng ông bà và thờ các Thần Ðình ở trong làng hoàn toàn khác hẳn với phong tục người Tàu. Việt Tộc đã có nếp sống gia tộc theo chế độ phong kiến và phụ hệ.

Trong khi đó thì người phương Bắc còn sống theo bộ lạc với đời sống du mục ăn lông ở lổ, nay đây mai đó, lấy hang hốc làm nhà, lấy lưng ngựa làm phương tiện di chuyển; sống như bầy thú không biết đạo lý, chỉ giải quyết theo thú tính giữa con đực và con cái và sau này thành tập quán dâm loạn.

c- Trên tài liệu sách vở

1- KINH THI: Kinh là bộ sử do hiền nhân viết ra. Kinh Thi là một tấm gương cho người đời soi chung. Khổng Tử lấy việc nhân đức mà tu thân, lấy việc xằng bậy mà xa lánh.

Khổng Tử nói: “Bất Kinh Thi, vô nhĩ ngôn.” Trong Kinh Thi, thiên Chu Nam và Thiệu Nam, Khổng Tử đã xác nhận nền văn hiến rực rỡ của giống Việt, biết coi trọng luân thường đạo lý; trong khi người du mục phương Bắc hung bạo sống lang chạ dâm bôn.

Khổng Tử đã nêu lên những chuyện dâm loạn ở nước Vệ và Tề:

- Vệ Tuyên công lấy nàng Tuyên Khương là vợ của con mình tên Công Tử Cấp.

- Công Tử Ngoạn phạm thượng thông dâm với Tuyên Khương là mẹ của em mình, vua Huệ Tông.

- Tề Tương Công thông dâm với em gái là Văn Khương và giết chồng là Lỗ Hoàn Công.

- Mẹ lấy con chồng: Di Khương dâm dật lấy sắc đẹp mê hoặc con chồng là Tuyên Công khiến cho Tuyên Công phạm thượng dâm bôn.

2- KINH XUÂN THU: Ðây là bộ sử nước Lỗ do Khổng Tử người nước Lỗ (551-479 trước Tây Lịch) ghi chép những việc quan trọng xảy ra hàng năm từ đời Chu Bình Vương đến Chu Kinh Vương (242 năm).

Khổng Tử đã dùng bút pháp để khen chê, phân biệt kẻ thiện người ác hết sức minh bạch và đanh thép nên bọn loạn thần tặc tử rất sợ.

“Khổng Tử tác Xuân Thu, nhi loạn thần tặc tử cụ.”

Cũng trong Kinh Xuân Thu, Khổng Tử nêu lên những chuyện sai trái để người đời xa lánh: Vua thông dâm vợ người, vua giết trung thần, giết con và ngược lại con giết vua cha, thần dân giết vua...

- Tề Ý Công lấy vợ của Diêm Chức, sau bị Diêm Chức giết.

- Vua Trần Linh Công thông dâm góa phụ là Há Cơ, Tiết Dã khuyên bị giết. Sau này con Há Cơ là Há Trưng Thư giết Trần Linh Công.

- Lý Khắc giết hai vua là Hề Tề và Trác Tử để đưa Huệ Công lên ngôi. Sau Huệ Công giết Lý Khắc.

- Con giết vua cha: Trịnh Tử công và Trịnh Tứ Gia giết vua cha là Trịnh Linh Công.

- Vua Thiên Vương giết em là Ninh Phụ.

Qua dẫn chứng nhất là hai bộ Kinh của Khổng Tử, rõ ràng người phương Bắc còn man di mọi rợ.

2- Ai đồng hóa ai?

Trong tất cả sách vở do người Tàu biên soạn, lúc nào họ cũng tự hào về nước Trung Hoa vĩ đại, tự hào về người Trung Quốc tài giỏi, tự hào có tứ đại phát minh, trong đó phát minh ra giấy viết là góp phần quan trọng cho nền văn minh nhân loại. Nhưng sự thật không phải đúng như vậy.

Sau này trong “Tứ Khố Toàn Thư,” kho tàng lưu giữ sách vở của nhà Minh và nhà Thanh, một số sử liệu được tìm thấy đã làm sáng tỏ những công trình đóng góp quan trọng vào nền văn minh thế giới, phần lớn là do công của người Bách Việt.

Bộ Bách Việt Tiên Hiền Chí là điển hình. Nói có sách, mách có chứng, sử gia Âu Ðại Nhậm đã xác nhận vua Ðại Vũ nhà Hạ (được vua Thuấn truyền ngôi, 2205 trước T.L.) là người Việt nổi tiếng là “Vua Vũ trị thủy.”

Các khai quốc công thần nhà Hán như Hàn Tín, Mai Thừa, Anh Bố, Văn Ông, Tiêu Hà, Tào Tham đều là người Việt và tiếp theo 106 tiên hiền Bách Việt, tài cao đức rộng đã có công giúp các triều đại Trung Quốc tạo nên nền văn minh cho nhân loại.

Trước khi đề cập đến một số vị tiên hiền tiêu biểu, chúng tôi xin phép nhắc sơ các vị tiền nhân ông cha của chúng ta đã có công lập nước và giữ nước:

- Hai Bà Trưng: Hai Bà là người đầu tiên làm cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, đánh đuổi Tô Ðịnh và Mã Viện. Ðây là hai bậc nữ lưu anh hùng mà thế giới phải tuyên dương, nhưng tiếc thay không mấy người nước ngoài biết đến. Nếu đem so sánh với Jeanne D'Arc, nữ anh hùng của nước Pháp và của thế giới vào thế kỷ 15, đã có công đánh quân Anh, giải cứu thành Orléans trong cuộc Bách Niên Chiến Tranh (La Guerre de Cent ans) thì chiến công của Hai Bà xứng đáng gấp bội.

- Ngô Quyền.

- Lý Thường Kiệt.

- Hưng Ðạo Vương.

- Lê Lợi.

- Nguyễn Trãi với Bình Ngô Ðại Cáo.

- Quang Trung Nguyễn Huệ.

- Mạc Ðỉnh Chi được vua Tàu phong “Lưỡng Quốc Trạng Nguyên.”

- Hồ Nguyên Trừng: Con cả của Hồ Quí Li cắp bí quyết làm súng của nhà Trần, đúc súng thần sang, được vua Minh phong làm 2 bộ trưởng quốc phòng và xây dựng mặc dù lúc đó cha là Hồ Quí Ly bị đày làm lính thú ở Quảng Tây.

- Lý Ông Trọng: Người Bách Việt, được vua Tần Thủy Hoàng phong làm tư lệnh hiệu úy tức là đô trưởng. Ông người cao lớn, sức mạnh phi thường, có tài thao lược nên quân các nước sát ranh giới Tàu rất sợ. Vì lẽ đó khi ông chết, người Tàu đúc tượng đồng của ông trấn giữ biên cương. Quân các nước láng giềng sợ oai ông mà không dám tấn công.

- Nguyễn An: Người Việt, thanh khiết, giỏi tính toán, có biệt tài về kiến trúc.

Sách Kinh Kỳ Ký Thắng đời Minh ca ngợi biệt tài của Nguyễn An trong việc kiến trúc cung điện hoàng đế ở Bắc Kinh. Trong bộ sử The Cambridge History of China, phần sử nhà Minh có ghi nhiều chi tiết về xây cất thành Bắc Kinh và chú thích Nguyễn An mất năm 1453 (thọ 72 tuổi).

Một số sử sách khác còn cho biết Nguyễn An sinh năm 1381, kiến trúc sư đời Trần Thuận tông bị sứ Tàu bắt đem về thiến làm hoạn quan. Tổng Kiến Trúc Sư Nguyễn An chỉ huy lực lượng cả trăm ngàn công nhân, thực hiện công trình xây cất suốt 17 năm. Quí vị đã từng du lịch Trung Quốc, đều biết công trường Thiên An Môn, đi sâu vô là Tử Cấm Thành với Hoàng Thành và Ðại Nội... Ðại Nội gồm 4 cửa: Ngọ môn là cửa chánh ở phía Nam, Thần Vũ môn ở phía Bắc, Ðông Hòa môn và Tây Hòa môn ở hai phía. Ðại Nội được chia làm 2 phía, Nam là Triều Ngoại, Bắc là Nội Ðình. Triều ngoài có 3 điện rất lớn nhất Thái Hòa, Trung Hòa và Bảo Hòa...

Trở lại với Bách Việt Tiên Hiền Chí, với một số hiền nhân tiêu biểu:

1- Sử Lộc (trang 75): Giỏi đào kinh biết tính mực nước cao thấp như kinh Panama.

Sử Lộc người Việt gởi rễ thành Hàm Dương được Tần Thủy Hoàng dùng làm sử quán quận (thanh tra quận). Khi Tần Thủy Hoàng sai hiệu úy Ðồ Thư dẫn 50 vạn quân tiến đánh Bách Việt, Sử Lộc được giao kinh ngòi vận chuyển quân lương. Sử Lộc đã nghĩ ra cách đắp đập đá, ngăn chặn nước sông chảy ngược lên. Thuyền vào ngăn nào thì đóng cửa sông lại, nước tràn vào nâng thuyền lên cao. Mở ngăn kế tiếp thuyền lại sang ngăn kế... 2,000 năm sau cũng theo cách này, người Mỹ đào kinh Panama thông từ Ðại Tây Dương qua Thái Bình Dương.

2- Thái Luân: (trang 153) Biệt tài rèn bí kiếm và phát minh giấy. Thái Luân sanh ở Quế Dương cuối đời Ðông Hán, thông minh hơn người, học rộng tài cao, tính tình đôn hậu. Ðược phong làm thượng phương lệnh, giao trọng trách rèn bí kiếm được coi là kiếm thần rất sắc bén. Ngoài ra Thái Luân còn có tài làm ra giấy để viết. Chính Thái Luân là người đầu tiên làm ra giấy trên thế giới. Vốn ngày xưa không có giấy phải viết trên thẻ tre hay lụa; thẻ tre thì nặng, lụa thì đắt tiền nên Thái Luân dùng cỏ cây, vải gai, vải rách, lưới rách nát, v.v... để làm giấy.

Trước tiên cắt vỏ cây, vải gai... thành từng mảnh vụn, ngâm lâu trong nước, giã thành dung dịch nhuyễn, trải thành lớp mỏng trên chiếu, phơi khô dưới ánh sáng mặt trời như vậy làm thành giấy, người đời cảm phục ông gọi là “Thái Hầu Chỉ.” Sau này sáng chế được truyền sang Ấn Ðộ, lan rộng qua vùng Trung Á tới Á Rập. Năm 793, Iraq có xưởng làm giấy và từ đó lan ra Ai Cập năm 900. Năm 1100 truyền đến Maroc và các xứ Phi Châu. Năm 1150 người Á Rập vượt biển qua Tây Ban Nha. Ðến năm 1189 xưởng giấy đầu tiên được dựng lên ở Pháp và lan ra khắp thế giới.

3. Bao Hàm (trang 175): Vị danh sư của vua

Bao Hàm quê ở Cối Kê, tài cao học rộng. Ðời vua Quang Võ Ðông Hán được vời vào cung dạy hoàng thái tử học. Vua phong làm Giám Nghị Ðại Phu, Hàm Thị Trung Hữu Trung Lang Tướng (chức quan trong triều được quyền dùng lời ngay thẳng can ngăn và sửa chữa lỗi lầm của vua). Vua rất trọng, mỗi lần vào yết kiến, vua đều đỡ dậy mời ngồi ghế. Vua xem ông là bậc minh sư, thấy ông sống thanh bần vua thường ban lụa và thóc gạo. Ông lại chia hết cho các học trò nghèo.

Chúng ta còn gặp nhiều vị tiên hiền khác như Ðặng Mật, Sỹ Nhiếp, Ðào Diên, Trưởng Phường, Chiêu Mãnh, v.v... đều là người Bách Việt.

Xét qua Bách Việt Tiên Hiền Chí ta thấy dân tộc Bách Việt đã có nhiều nhân tài, trí óc thông minh, đạo đức hơn người đã có công góp phần xây dựng nền văn hóa vĩ đại của Trung Hoa mà cũng là của thế giới.

Cũng qua Bách Việt Tiên Hiền Chí, càng chứng minh tại sao dân tộc ta bị 1,000 năm nô lệ giặc Tầu mà chúng ta không bị đồng hóa và trải qua hơn 80 năm bị đô hộ bởi giặc Pháp mà chúng ta vẫn là TA, bởi vì chúng ta đã có một nền văn hóa riêng biệt từ ngàn xưa mang đặc thù truyền thống Việt Nam.

Thái Sử công có viết: “Việt tuy gọi làm man di, nhưng tiên khởi đã có đại công đức với muôn dân vậy.” Còn đức Khổng Tử nhận xét: “Ðộ lượng bao dung, ôn hòa giáo hóa, không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của phương Nam, người quân tử ở đấy. Mặc giáp cưỡi ngựa, xông pha giáo mác đến chết không chán, đó là sức mạnh của phương Bắc, kẻ cường bạo ở đấy.”

Kính thưa quý vị, với tầm quan trọng và giá trị của bộ sách, nhất là tài phiên dịch và chú thích của Giáo Sư Trần Lam Giang, quý vị hãy phổ biến đến con em chúng ta để các cháu tìm hiểu về nguồn gốc Việt Tộc và hãnh diện mình là người Việt. Chúng tôi có ước vọng các cháu sẽ chuyển ngữ sang tiếng Anh để các thế hệ sau sống ở hải ngoại và cả thế giới biết được sự thật về lịch sử Bách Việt hầu làm sáng tỏ và phản bác những luận điệu sai lạc của người phương Bắc.

Xin cám ơn quí vị.

HOÀNG ÐÌNH KHUÊ GHI THÊM: Ðây là bộ sách có in cả nguyên tác để đối chứng, so sánh (vì nói có sách, mách có chứng), chuyên dịch sang Việt Ngữ và quan trọng hơn hết là phần chú thích. Chú thích của bộ sách này, dịch giả và nhóm học giả trong Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Hóa Việt Nam (thuộc Thư Viện/Bảo Tàng Viện VN) đã mất đến 10 năm trời để hoàn thành. Ðây là bộ sách rất đáng được mọi người trân quý, tìm đọc, lưu lại trong nhà. Sách đã được bán tại Thư Viện tại địa chỉ 10872 Westminster Ave #214, Garden Grove, CA 92843. Tel (714) 638-8448 (mở cửa từ 12 giờ trưa đến 6 giờ chiều mỗi ngày). Ở xa vui lòng gởi về Nhân Ái Foundation, PO Box 2051, Westminster, CA 92684, USA. Giá mỗi cuốn $35.00.

WLP
07-13-2007, 12:31 AM
Bách Việt Tiên Hiền Chí

Nguyên tác: Âu Đại Nhậm
Người dịch: Trần Lam Giang

Giới Thiệu

"Bách Việt Tiên Hiền Chí" là một tác phẩm quan trọng cho những ai muốn tìm hiểu về nguồn gốc của chủng tộc Bách Việt ngày xưa.


Theo bộ đại từ điển Từ Hải Hợp đính, gọi tắt là Từ Hải, viết bằng lối chữ phồn thể, xuất bản tháng 3 năm 1947 (tái bản tháng 2 năm 2003) thì:


"Bách Việt (chữ Việt bộ Tẩu), tên của chủng tộc, cũng viết là Bách Việt (chữ Việt bộ Mễ). Theo sách Thông Khảo Dư Địa Khảo Cổ Nam Việt: Từ Ngũ Lĩnh về phía Nam, cùng thời với Đường, Ngu, Tam Đại, là nước của Man Di, ấy là đất của Bách Việt."

Từ Hải còn ghi chú thêm: "Từ Giao Chỉ đến Cối Kê, bảy, tám nghìn dặm, Bách Việt sống lẫn lộn với các dân tộc khác, nhưng luôn luông giữ cá tính của dân tộc(Bách Việt tạp cư, các hữu chủng tính).


Xem như vậy, Bách Việt , từ núi Ngũ lĩnh đổ xuống phương Nam, vừa là nước, vừa là sắc dân, sự hiện diện đã được ghi nhận, từ thời thượng cổ Đường ( vua Nghiêu), Ngu ( vua Thuấn), Tam Đại ( Hạ, Thương, Chu). Và, người Bách Việt có cá tính riêng và luôn luôn giữ cá tính nầy. Đúng với sự khẳng định của Nguyễn Trãi, trong bài Bình Ngô Đại Cáo:


Sơn xuyên chi phong vực ký thù
Nam Bắc chi phong tục diệc dị
(Sơn hà cương vực đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Trần Trọng Kim - Bùi Kỷ dịch)

"Bách Việt Tiên Hiền Chí", như tựa đề, là một công trình sưu tập, nghiên cứu, ghi lại một cách công phu hành trạng, công nghiệp, ngôn từ, tư tưởng của các danh nhân người Bách Việt , trải qua nhiều triều đại của Trung Hoa. Những danh nhân này, với phong cách cao quý, tài năng vượt bực, tư tưởng cao siêu, đã là thành phần nồng cốt xây dựng nên nền văn minh, mà ngày nay, thế giới gọi là văn minh Trung Hoa.
Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Hóa Việt Nam đã sưu tập được hai bộ "Bách Việt Tiên Hiền Chí".


Một bản in năm Tân Mão (1831), đời Thanh, chữ lớn, khắc đẹp, nơi tên tác giả đề là Thuận Đức Âu Đại Nhậm (ông Âu Đại Nhậm, người ở Thuận Đức).
Bản thứ hai, in vào năm Dân Quốc thứ hai mươi sáu (1936), chữ nhỏ, bản khắc có nhiều chữ không rõ, nơi tên tác giả đề là Minh Thuận Đức Âu Đại Nhậm Trinh Bá soạn (soạn bởi ông Âu Đại Nhậm, tự là Trinh Bá, người ở Thuận Đức, đời nhà Minh).


Như vậy, tác giả của sách là Âu Đại Nhậm.

Theo Tứ Khố Toàn Thư Tổng Mục Đề Yếu, Âu Đại Nhậm, tên chữ là Trinh Bá, người huyện Thuận Đức, tỉnh Quảng Đông, làm quan đời Gia Tĩnh, triều Minh, đã từng giữ những chức vụ huấn đạo Giang Tô, đổi làm học chánh Quang Châu, rồi về triều làm bác sĩ Quốc Tử Giám, chúc vụ sau cùng của ông là hộ bộ lang trung ở Nam Kinh.


Phần lớn cuộc đời làm quan của ông là ở đất Bách Việt cũ, nên ông có nhiều cơ hội tìm hiểu, sưu tập những chứng tích về tiên hiền Bách Việt.


Vả chăng, Âu Đại Nhậm, gốc tích từ Thuận Đức, Quãng Đông, cũng là người thuộc gốc Bách Việt.


Thuận Đức là một huyện thuộc Quảng Đông, phía Đông Nam huyện Nam Hải, gần giáp Giang Tây, chạy ra tới biển. Tên huyện được đạt thời nhà Minh, tiếp tục giữ dưới thời nhà Thanh. Đến đời vua Quang Tự nhà Thanh, Thuận Đức được mở rộng thành một hải cảng lớn, nỗi tiếng là nơi sản xuất và xuất cảng tơ, lụa, vân, sa...
(Xin đừng lầm với phủ Thuận Đức thuộc tỉnh Trực lệ. Phủ nầy được lập vào đời nhà Tống, vào thời Kim, Nguyên đổi thành bộ, đến đời Minh đổi lại là phủ. Nhà Thanh vẫn giữ nguyên theo nhà Minh. Đến thời Dân Quốc, tên Thuận Đức bị bãi bỏ.


Như vậy, bộ "Bách Việt Tiên Hiền Chí" được viết bởi một người gốc Bách Việt, từng làm quan nhiều năm ở đất Bách Việt cũ, viết về tiên hiền Bách Việt. Tóm tắt, đây là bộ sách của người Bách Việt viết về tiền nhân Bách Việt.


Nhận thấy tầm quan trọng của bộ "Bách Việt Tiên Hiền Chí", đối với dân tộc Việt Nam (là một trong Bách Việt), nhất là trong giai đoạn nầy, giai đoạn mà Việt tộc đang phải chống chọi với những cuộc xâm lăng văn hóa từ nhiều phía, Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Hóa Việt Nam đã đề nghị giáo sư Trần Lam Giang phiên dịch bộ sách nầy ra Việt ngữ và giáo sư đã mau mắn nhận lời, coi đây là một công tác mà anh em giao phó, để giúp cho các thế hệ trẻ có thêm tài liệu xác tín khi tìm hiểu về quá khứ của dân tộc.

Người xưa có câu "chu tầm chu, mã tầm mã", nghĩa là "những người sống trên thuyền thì tìm đến và sống với những người sống trên thuyền; giống dân sống trên lưng ngựa thì tìm đến và sống với giống dân sống trên lưng ngựa." Câu nầy phân biệt rõ rang sự khác nhau giữa hai chủng tộc, Việt ở phương Nam và Tàu ở phương Bắc; giữa giống dân sống định cư, làm ruộng trên vùng sông nước và giống dân sống du mục trên lưng ngựa, khác nhau từ nếp sống, phong tục tập quán đến văn hóa.


Trong Kinh Thi, với thiên Chu Nam và Thiệu Nam, Khổng Tử đã ca tụng nền văn minh rực rỡ của phương Nam và vị vạn thế sư biểu của Bắc tộc đã học hỏi rất nhiều ở nền văn minh nầy, đem áp dụng và đặt ra những quy luật xã hội cho các giống dân phương Bắc...


Trong kinh Xuân Thu, Khổng Tử đã ghi lại bao nhiêu trường hợp cha giết con, cha cướp vợ của con, con cướp vợ của cha, anh em dâm loạn với nhau, bề tôi giết chúa, trong giới vua chúa quý tộc Trung Hoa. Điều nầy, chứng tỏ rằng, trong khi Bách Việt ở phương Nam đã đi vào đời sống nề nếp của văn minh nông nghiệp, thì Bắc tộc Trung Hoa vẫn còn dã man với nếp sống du mục.


Khổng Tử đã đem những gì nghiên cứu, sưu tập, học hỏi của nền văn minh Bách Việt phương Nam, đạt để thành những quy luật, trật tự xã hội cho phương Bắc. Bởi vậy, ông mới xác định công việc của ông là "thuật nhi bất tác"


Trải qua các triều đại Tần, Hán, Đường, Tống, Bắc tộc Trung Hoa đã xâm lăng, thôn tính được đất đai Bách Việt, nhưng ngược lại đã bị nền văn minh Bách Việt đồng hóa.


Hởi ơi, Bách Việt ngày nay còn lại những dòng tộc nào? Có còn chăng là Việt Văn Lang trên mảnh đất hình chữ S ven bờ Đông Hải. Lịch sử của Việt Văn Lang là chống chọi triền miên với các cuộc xâm lược của Bắc tộc, để gìn giữ nền độc lập, tự chủ cho mảnh đất cuối cùng của Bách Việt ở cõi trời Nam.


Ngày nay, người Đài Loan xác định nguồn gốc Bách Việt của họ, gồm Điền Việt từ Vân Nam, Việt Đông từ Quảng Đông, Quảng Tây và Mân Việt từ Phúc Kiến, Chiết Giang, với mục đích muốn tuyên bố độc lập cho đảo quốc nầy.


Cũng ngày nay, do các công trình khảo cổ, nghiên cứu chủng tộc, người ta xác định dân tộc Nhật Bổn vốn phát xuất từ Việt Đông.


Việt Văn Lang không cần xác định gì hết về nguồn gốc, vì từ ngàn xưa, vẫn vững chân trên lãnh thổ của mình. Chẳng những vậy, Việt Văn Lang còn "cầm búa đi khai phá phương Nam" (đúng theo ý chí của tiền nhân khi dung bộ "tẩu" viết nên chữ Việt), để mở rộng cơ đồ xuống tận mũi Cà Mau...


Đọc "Bách Việt Tiên Hiền Chí" để hiểu rõ sự khác biệt giữa văn hóa Bách Việt và văn hóa Bắc tộc Trung Hoa; để phân biệt đâu là văn minh Bách Việt trong nền văn minh mà thế giới ngày nay gọi là văn minh Trung Hoa.


Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Hóa Việt Nam trân trọng giới thiệu tác phẩm nầy.

http://hodovietnam.vn/images/stories/tintuc/bach_viet.jpg
Trên tường bên trong lăng Triệu Mạt ở Quảng Châu là nhiều tranh vẽ hoặc khắc trên đá thể hiện văn minh của thời Bách Việt vốn vẫn còn ảnh hưởng qua ngôn ngữ và văn hoá người Quảng Đông. Người Quảng Châu vẫn dùng từ 'Việt' rất nhiều, nhưng chữ Việt đây theo bộ Mễ, không phải Tẩu, dù có thể trước đây được dùng qua lại.

WLP
07-13-2007, 08:39 PM
Lời Nói Đầu

Bách Việt Tiên Hiền Chí là một pho sách hiếm hoi thuộc Lĩnh Nam Di Thư còn sót lại đến nay, do sử gia Âu Đại Nhậm biên soạn, tự viết lời tựa, đề ngày Đông Chí tháng 11 năm Gia Tĩnh thứ 33 (1554), triều đại nhà Minh. Soạn giả đã ngiêm cẩn dùng các sách sử đáng tin cậy làm tài liệu để tham khảo và tu chính, lại thận trọng ghi rõ tên các sách ấy, khiến cho tác phẩm của ông xứng đáng là một nguồn sử liệu trân quý.

Về soạn giả, sách Tứ Khố Toàn Thư Tổng Mục Đề Yếu ghi: “Âu Đại Nhậm tự là Trinh Bá, người huyện Thuận Đức tỉnh Quảng Đông. Năm Nhâm Tuất niên hiệu Gia Tĩnh(1562) được phong làm Từ Giang đô huấn đạo, đổi làm Quang Châu học chính, lại đổi làm bác sĩ ở trường Quốc Tử Giám, làm quan đến chức Nam Kinh hộ bộ lang trung”

Cũng theo Tư Khố Toàn Thư Tổng Mục Đề Yếu, pho Bách Việt Tiên Hiền Chí bốn quyển, viết về 120 vị tiên hiền của chủng tộc Bách Việt.

Qua lời bạt của Bách Việt Tiên Hiền Chí, do Văn Tự Hoan Ngu Thất ấn hành, được biết sử quán triều Minh coi pho sách này là tài liệu lịch sử chính xác, đã khắc và in nguyên văn tòan bộ bản thảo, đóng chung vào Nghệ Văn Chí, làm tài liệu cho các sử gia tra cứu và trích dẫn, cất giữ ở Tứ Khố Toàn Thư. Do đóm, được lưu truyền tuyệt ít trong học giới.

Năm Càng Long thứ 37 (1772), nhà vua xuống chiếu mở Tứ Khố Toàn Thư của nhà Minh. Bách Việt Tiên Hiền Chí được tìm thấy không trọn vẹn. Nhiều chữ, nhiều đoạn đã bị nát mất.

Năm Đạo Quang thứ 11 (1831) nhà sách Văn Tự Hoan Ngu Thất khắc in y nguyên bản còn sót lại gồm 106 vị tiên hiền. Những phần bị nát mất được khắc in ra chữ “khuyết”, không tự ý bổ túc. Bản in này có lời bạt của học giả Ngũ Nguyên Vy, đề ngày bát tịch mùa thu năm Tân Mão (Rằm tháng 8 năm Tân Mão – 1831)

Năm Hàn Phong thứ 10 (1860) liên quân Anh Pháp Tiến vào Bắc Kinh, đốt phá tan hoang. Số phận Bách Việt Tiên Hiền Chí thêm một lần điêu đứng.

Năm Trung Hoa Dân Quốc thứ 26 (1936), tháng 12, Thưong Vụ Ấn Thư Quán ở Thượng Hải in lại bản mà Văn Tự Hoan Ngu Thất đã ấn hành, chỉ thêm một chữ và sửa một chữ:

1. Thêm chữ Minh.
Về soạn giả, ấn bản của Văn Tự Hoan Ngu Thất ghi là: “ Thuận Đức Âu Đại Nhậm Trinh Bá soạn”. Nghĩa là: Âu Đại Nhậm tự là Trinh Bá, người huyện Thuận Đức biên soạn.

Ấn bản của Thương Vụ Ấn Thư Quán ghi là: Minh Thuận Đức Âu Đại Nhậm Trinh Bá Soạn. Nghĩa là: Âu Đại Nhậm tự là Trinh Bá người huyện Thuận Đức nhà Minh biên soạn.

2. Sửa chữ “Mẫu” thành chữ “Vô”.
Về tiên hiền thứ 18, quyển 2, ấn bản của Văn Tự Hoan Ngu Thất in là “Kỳ Mẫu Tuấn”. Ấn bản của Thương Vụ Ấn Thư Quán in là “Kỳ Vô Tuấn”.

Ban Tu Thư của Thư Viện Việt Nam, thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Hóa Việt Nam có bản chụp cả hai ấn bản trên.

Nội dung tác phẩm, soạn giả viết minh bạch về thời đại, thân thế, sự nghiệp, quê quán, đặt biệt ghi lại đạo sống cùng cách xử thế tiếp vật của các hiền giả đời xưa thuộc chủng tộc Bách Việt, khiến cho đời sau thấy rõ được nền văn hóa đạo đức tạo nên văn minh nhân bản cao quý của giống nòi Việt vốn do tâm hồn, tim óc của tiền nhân Việt chung đúc thành. Triết đạo sinh tồn của giống nòi Việt trong tương quan với vũ trụ van vật, trong giao tế với nhân loại, là một nền triết đạo độc lập sang tạo, không vay mượn không học theo bất cứ ngoại tộc nào.

Với tấm lòng bao dung khai phóng, không kiêu căng kỳ thị đóng của độc tôn. Việt tộc đã ân cần tiếp đón những giá trị chính đáng đến từ phương trời xa lạ, xếp vào chỗ ngồi đúng vị, theo lễ của xã hội định cư nông nghiệp.

Dòng lịch sử phương Đông cho thấy Tàu luôn luôn dựa vào bạo lực, núp dưới khẩu hiệu “Tứ hải giai huynh đệ”, không bỏ lỡ cơ hội nào để có thể xâm chiếm các nước láng giềng, chiếm cả văn hóa bản xứ, mưu đồ đen tối đồng hóa diệt chủng.

Từ thời Xuân Thu xa xưa, đức vạn thế sư biểu đã nhận định qua lời giảng cho thầy Tử Lộ về sức mạnh, có ghi ở sách Trung Dung: “Độ lượng bao dung, ôn hòa giáo hóa, không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của phương Nam. Người quân tử ở đấy. Mặc giáp cưởi ngựa, xông pha giáo mác, đến chết không chán, đó là sức mạnh của phương Bắc. Kẻ cường bạo ở đấy.”

Thái sử công đời Hán va Tư Mã Thiên cũng nhận định: “Việt tuy gọi là man di, nhưng tiên khởi đã có đại công đức với muôn dân vậy.” (Vua Đại Vũ nhà Hạ, người quê Cối Kê, cắt tóc ngắn, xâm mình, trị nạn hồng thủy).

Sử gia Âu Đại Nhậm, qua Bách Việt Tiên Hiền Chí, cho thấy minh bạch bằng sử kiện thành văn:
1. Văn minh Việt là nguồn gốc của nền văn minh nông nghiệp, tồn trữ định cư ỏ phương Đông.
2. Xã hội Việt là xã hội nông nghiệp định cư đầu tiên ở phương Đông.
3. Tiền nhân Việt mở nền văn minh kim loại đầu tiên ỏ phương Đông.
4. Tiền nhân Việt khai sang kỹ thuật làm giấy để viết chữ đầu tiên phương Đông, và cũng là đầu tiên của nhân loại, công lao cực lớn đối với văn học thành văn.
5. Tiền nhân Việt, sau nạn phần thư khanh nho của nhà Tần, đã góp công cực lớn chấn hưng và phát huy nho học chính thống, diễn giảng Dịch Lý, làm nền tảng cho hậu nho nương tựa, học hỏi.
6. Qua bài phàm lệ, được biết các nhân kiệt đã phò Bái công dựng cơ đồ nhà Hán như Tiêu Hà, Hàn Tín, Tào Tham, Anh Bố, Văn Ông, Thiệu Bình là người Việt.

Ban Tu Thư của Thư Viện Việt Nam, thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Hóa Việt Nam, nhận thấy Bách Việt Tiên Hiền Chí là một pho sách giá trị lớn về lịch sử cũng như văn hóa sử, chưa được quảng bá trong học giới nước ta. Đặc biệt, chưa từng được chuyển dịch và ấn hành. Tội được giao phó trách nhiệm dịch.

Nhận trách nhiệm, tôi đã chú tâm dịch đúng nghĩa, ít nệ về văn chương, cẩn trọng tra cứu để viết phần chú thích.

Trân trọng gửi đến độc giả.
Trần Lam Giang

Chú Thích:


-Tứ Khố Toàn Thư: 4 kho tàng trữ sách của Minh triều. Sách được chia thành bốn bộ: kinh, sử, tử, tập.
Bộ Kinh gồm các sách do thánh hiền viết và tất cả những sách luận giảng tư tưởng của thánh hiền.
Bộ Sử gồm tất cả những sách viết về lịch sử, dã sử, truyện ký, địa lý.
Bộ Tử gồm các trước tác của bách gia chư tử, tất cả các trước tác về học thuyết của bách gia chư tử, tất cả những sách viết về khoa học kỹ thuật như nông, y, thiên văn, lịch pháp, toán pháp.
Bộ Tập gồm tất cả các sách viết về văn học và nghệ thuật như văn, thơ, nhạc, họa các loại.

Năm Càn Long thứ 37(1772), vua Càn Long xuống chiếu. mở 4 kho sách của Nhà Minh, đem tất cả những sách giữ cẩn mật ra, lại kêu gọi mọi người trong nước gom sách cho triều đình. Nhà vua lại khiến các học sỹ trong triều tuyển chọn lựa lọc, hủy bỏ các sách bất lợi cho Thanh triều. Sau mười năm (1782), giữ lại 3.460 loại sách gồm 79.339 quyển, cũng chia thành 4 bộ kinh, sử, tử, tập và cũng gọi là Tứ Khố Toàn Thư. Tứ Khố Toàn Thư của nhà Thanh được sao thành 7 bộ, giữ ở 7 nơi.

-Tứ Khố Toàn Thư Tổng Mục Đề Yếu: Trong khi tuyển lựa sách, các học sỹ phải tóm lược ý tưởng từng pho sách, viết thành pho Tứ Khố Toàn Thư Tổng Mục Đề Yếu, tức là mục lục của Tứ Khố, gồm tên các sách, tóm tắt nội dung sách và nhân thân tác giả. Pho này cũng được sao thành 7 pho.
Tháng 10 năm 1983 Tứ Khố Toàn Thư Tổng Mục Đề Yếu được Đài Loan Thương Vụ Ấn Thư Quán ấn hành lần thứ nhất ở Đài Loan. Tháng 2 năm 2001, ấn hành lần thứ hai.

-Nghệ Văn Chí: Sử gia Ban Cố thời Đông Hán là người đầu tiên soạn thành bộ Nghệ Văn Chí. Ông gom các tài liệu lịch sử do các sử gia ghi chép cùng các sách liên hệ đến lịch sử thành một pho, phân loại, đánh lại số mục lục rõ ràng để các sử gia tiện việc tra cứu, trích dẫn. Pho sử liệu này ông đặt tên là Nghệ Văn Chí.

Về phương pháp soạn Nghệ Văn Chí, Ban Cố đã y theo phép soạn pho Thất Lược của Lưu Hâm. Ban Cố chia Nghệ Văn Chí thành từng phần: Kinh, Sử, Bách Gia Chư Tử. Ông lại phân biệt Nho, Đạo, Âm Dương Gia. Tổng cộng thành 22 loại.
Sử gia đời sau, nếu phỏng theo Ban Cố mà biên soạn, tác phẩm cũng được gọi là Nghệ Văn Chí. Thí dụ như Đường Thư, Tống Sử, Minh Sử, cũng gọi là Nghệ Văn Chí. Các pho Tùy Thư, Cựu Đường Thư, không phỏng theo phương pháp của Ban Cố, gọi là Kinh Tịch Chí.
Về các sự kiện lịch sử bị các sử gia bỏ sót, đời sau viết bổ túc, cũng được gọi là Nghệ Văn Chí. Chẳng hạn như Diêu Chấn Tông viết bổ túc Hậu Hán Thư và Tam Quốc Chí, gọi là Hậu Hán Thư Nghệ Văn Chí và Tam Quốc Nghệ Văn Chí. Hầu khang lại viết bổ túc cho hai pho trên, gọi là Bổ Hậu Hán Thư Nghệ Văn Chí và Bổ Tam Quốc Nghệ Văn Chí.

-Thất Lược: Tên sách. Hán Thư Nghệ Văn Chí ghi: “Thời vua Thành Đế xuống chiếu khiến Lưu Hướng khảo sát, xếp loại Kinh, Truyện, Chư Tử và Thơ Phú. Hướng soạn ra chương mục, tóm lược ý tưởng để tâu lên vua. Hướng chết, con là Lưu Hâm gom tất cả các sách, viết tóm tắt thành pho Thất Lược (7 quyển tóm tắt): Tập Lược, Lục Nghệ Lược, Chư Tử Lược, Thi Phú Lược, Bình Thư Lược, Thuật Số Lược và Phương Kỳ Lược.”
Tùy Thư Kinh Dịch Chí cũng ghi: “ Thất Lược gồm 7 quyển do Lưu Hâm biên soạn.”

-Thuận Đức: Hai địa danh ở Trung Hoa.
1. Phủ Thuận Đức, thuộc tỉnh Trực Lệ, do nhà Kim đặt. Nhà Nguyên đổi thành lộ Thuận Đức. Nhà Minh đổi lại làm phủ. Nhà Thanh dùng theo nhà Minh. Thời Dân Quốc bỏ địa danh này.
2. Huyện Thuận Đức thuộc phủ Quảng Châu tỉnh Quảng Đông, do nhà Minh đặt, còn lại đến nay.
Pho Bách Việt Tiên Hiền Chí do Thương Vụ Ấn Thư Quán ấn hành, về soạn giả ghi là “Minh Thuận Đức Âu Đại Nhậm Trinh Bá soạn”, nhằm nhấn mạnh soạn giả người ở huyện Thuận Đức do nhà Minh đặt ỏ tỉnh Quảng Đông.

-Kỳ Mẫu Tuấn và Kỳ Vô Tuấn: Theo Khang Hy tự điển, Từ Hải Hợp Đính, Từ Hải Tân Biên, Từ Nguyên, Kỳ Mẫu là tên một họ, cũng gọi là Kỳ Vô.

WLP
07-13-2007, 08:42 PM
Mục Lục

Quyển I

1. Tự Đề Tựa Bách Việt Tiên Hiền Chí: 1 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan1.jpg), 2 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10001.jpg), 3 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10002.jpg), 4 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10003.jpg), 5 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10004.jpg), 6 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10005.jpg), 7 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10006.jpg), 8 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10007.jpg), 9 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10008.jpg), 10 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10009.jpg), 11 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10010.jpg), 12 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10011.jpg), 13 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10012.jpg), 14 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10013.jpg), 15 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10014.jpg)
2. Âu Dã Tử: 1 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10015.jpg), 2 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10016.jpg), 3 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10017.jpg), 4 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10018.jpg),
3. Thù Vô Dư và Âu Dương: 1 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10019.jpg), 2 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10020.jpg),
4. Đại Phu Chủng: 1 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10021.jpg), 2 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10022.jpg), 3 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10023.jpg), 4 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10024.jpg), 5 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10025.jpg),
5. Kế Nghê: 1 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10026.jpg), 2 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10027.jpg), 3 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10028.jpg), 4 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10029.jpg), 5 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10030.jpg),
6. Phạm Lãi: 1 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10031.jpg), 2 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10032.jpg), 3 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10033.jpg), 4 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10034.jpg),
7. Tiết Chúc: 1 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10035.jpg), 2 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10036.jpg), 3 (http://i42.photobucket.com/albums/e316/wlp01/BachVietTienHienChi/Scan10037.jpg),
8. Trần Âm
9. Chư Kê Dĩnh
10. Cao Cố
11. Sử Lộc
12. Mai Nguyên
13. Công Sư Ngung
14. Trương Mãi
15. Trịnh Nghiêm
16. Hà Di
17. Tất Thủ
18. Đô Kê
19. Nghiêm Trợ
20. Chu Mãi Thần
21. Đặng Mật
22. Tôn báo
23. Ngô Bá
24. Trịnh Cát
25. Hà Đan
26. Mai Phúc

Quyển II

1. Nghiêm Quang
2. Trần Nguyên
3. Trầm Phong
4. Cố Phụng
5. Trần Hiêu
6. Trịnh Hoành
7. Thái Luân
8. Vương Sung
9. Dương Phu
10. Trương Trọng
11. Dương Phù
12. Dưỡng Phấn
13. Bao Hàm
14. Đặng Thịnh
15. Chung Ly Ý
16. Hứa Kinh
17. Chiêu Mãnh
18. Kỳ Mẫu Tuấn
19. Trần Lâm
20. Lý Tiến
21. Long Khâu Trường

Quyển III

1. Từ Hủ
2. Đạm Đài Kính Bá
3. Lưu Hy
4. Mạnh Thường
5. Hoàng Xương
6. Bành Tu
7. Ngụy Lãng
8. Từ Trung
9. Thân Sóc
10. Trương Vũ
11. Lục Tục
12. Đái Tựu
13. Đường Trân
14. Chu Tuấn
15. Tạ Di Ngô
16. Hạ Thuần
17. Đổng Chính
18. Sơ Nguyên
19. Triệu Diệp
20. Hàn Thuyết

Quyển IV

1. La Uy
2. Đường Tụng
3. Đốn Kỳ
4. Đinh Mật
5. Nhan Ô
6. Phất Phiếm
7. Từ Trĩ
8. Quách Thương
9. Diêu Tuấn
10. Đổng Phụng
11. Ngu Quốc
12. Đổng Ảm
13. Hoàng Hào
14. Đinh Mậu
15. Doãn Nha
16. Từ Đăng
17. Thịnh Hiến
18. Trầm Du
19. Diêu Văn Thức
20. Ngô Đãng
21. Hành Nghị
22. Sỹ Nhiếp
23. Ngu Phiên
24. Lý Tổ Nhân
25. Vương Phạm
26. Hoàng Thư
27. Đào Diên
28. Trương Phường
29. Diêu Thành Phụ
30. Hoàng Cung
31. Tẩy Kinh
32. Nghiễm Khiêm Chi
33. Liêu Xung
34. Phùng Dung
35. Vi Thiên Đạo
36. Mạc Tuyên Khanh
37. Dương Hoàn