PDA

View Full Version : Phạm Duy còn đó hay đã chết?


dangia
10-04-2006, 03:56 PM
Phạm Duy còn đó hay đã chết?

Nguyễn Văn Lục

Mới đây, tôi đọc đâu đó một bài báo với nhan đề: Phạm Duy đã chết. Tôi giật mình. Nhưng chợt nhận ra ngay, đó chỉ là một lối viết. Lối viết đó cũng đã được Nguyễn Trọng Văn dùng trong bài nói truyện tại trường Đại Học Văn Khoa Sàigòn vào ngày 6/6/1971, do phong trào Tự Trị Đại Học tổ chức. Đề tài với nhan đề: Phạm Duy đã chết như thế nào?

Bài nói truyện hẳn gây được tiếng vang trong giới văn học miền Nam lúc bấy giờ. Bởi vì ít nhạc sĩ nào có thể so bì được với Phạm Duy? Cùng lắm trừ một người. Chọn Phạm Duy mà không chọn ai khác là một chọn lựa có chủ đích của anh Nguyễn Trọng Văn: đánh vào cái thành trì tiêu biểu của giới trí thức thành thị, miền Nam, người nghệ sĩ được quần chúng ưa chuộng, đồng thời tước đi cái ảo tưởng của một ý thức hệ trong chiến tranh sắp đến hồi chung cuộc.

1. Phạm Duy đã chết vì phản bội lại kháng chiến?

• Phạm Duy chối bỏ kháng chiến

Nguyễn Trọng Văn đã nghĩ như thế và đã viết để chứng minh điều ấy. Nguyễn Trọng Văn cho rằng đã có rất nhiều thanh niên theo kháng chiến và sau đó đã rời bỏ kháng chiến. Anh viết: “Trí thức theo Cách Mạng và bỏ cách mạng không phải là điều khó hiểu, trách Phạm Duy như vậy có lẽ quá khắt khe. Điều mà Nguyễn Trọng Văn lên án Phạm Duy không phải ở chỗ từ bỏ kháng chiến mà chối bỏ và hơn thế xoá bỏ kháng chiến. Xoá bỏ bằng cách thay đổi lời ca trong các bài nhạc làm trong thời kỳ kháng chiến. Phạm Duy hầu như đã sửa toàn bộ các lời ca có dính dáng đến kháng chiến. Bài hát vì thế mất hết ý nghĩa lịch sử và chiến đấu tính, chỉ còn là những bản nhạc lại cái, đồng cô bóng cậu.” (1)

Và Nguyễn Trọng Văn kết luận: “Phạm Duy kháng chiến ca của dân tộc đã chết. Điều bi đát không phải bông hoa Phạm Duy chỉ nở một lần, điều bi đát là bông hoa đó đã tự chọn cái chết như vậy.”

Về điểm này, có thể Nguyễn Trọng Văn nói không sai, Phạm Duy không những sửa một lần mà sửa hai ba lần những bài ca của ông. Và tùy thời, tùy lúc mà ông đã sửa. Điều đó nhiều lúc làm tôi không thể không liên tưởng đến một thái độ xu thời hay một thứ chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa thực dụng với một nhạy bén chính trị. Sự nhạy bén chính trị đó đáp ứng bằng những sáng tác hợp thời cơ? Từ đó đặt ra vấn đề sáng tác là nguồn cảm hứng đích thực hay chỉ là một nhu cầu đòi hỏi cấp thời của một tình thế? Tại sao ở thời điểm đó có kháng chiến ca, tình ca, đạo ca, tâm ca, tục ca? Đó cũng là những trăn trở của tôi khi tìm hiểu về Phạm Duy?


Ảnh: ordway.org
--------------------------------------------------------------------------------

Và người ta đã chẳng ngại ngùng gì nói đến một thứ trí thức for rent? Hơn ai hết Phạm Duy hiểu thâm ý của lời mỉa mai này.

Chẳng hạn Nguyễn Trọng Văn đưa trường hợp bản nhạc Quê Nghèo trước đây ca ngợi tình quân dân đoàn kết chiến đấu nay trở thành câu chuyện tình bông lơn, tán tỉnh nhau.

Lời cũ:
Bao giờ anh lấy được đồn Tây hỡi anh
Để em gánh nước cho người chiến binh

Nay đổi ra:

Bao giờ em trở lại vườn dâu hỡi em
Để cho anh bắc gỗ xây nhịp cầu bước sang

Đến vườn dâu mà cũng phải bắc gỗ xây nhịp cầu thì kể cũng lạ. Có ép ý, ép lời không?

Trong Bài hát Tiếng sông Lô, cũng cùng một cách thay đổi như trên:

Lời cũ:
Quân cướp tham ô ngày nao đã chết không ngờ

Nay đổi ra:
Trăng nước mông mênh, thuyền trôi trên sóng đa tình …

Và sau này ở Hải ngoại, một lần nữa, như tôi tìm đọc thấy trong Ngàn Lời Ca của Phạm Duy, ông lại đổi thành như sau:

Quân cướp đi xa, về đây ta sống chan hoà


Hoàng hôn trên sông Lô
Nguồn: vinhphuctrade.gov.vn
--------------------------------------------------------------------------------

Nguyễn Trọng Văn cũng đã hết lời ca ngợi tiếng Sông Lô nói lên tất cả cái khí thế hào hùng, mưu trí và óc sáng tạo tuyệt vời của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp, nay trở thành lời tâm sự của nghệ sĩ đa tình tìm kiếm hạnh phúc trên dòng sông sâu.

Nguyễn Trọng Văn thất vọng là phải.

Lời cũ:
Hỡi anh vệ quốc cầm súng ngang tàng Thuyền tôi đợi bến Tuyên Quang
Nửa đêm trông ánh trăng vàng (tôi) nhớ anh (…)
Lời mới:

Hỡi ai đi kiếm hạnh phúc trên đời
Mà chưa tìm thấy an vui
Lặng nghe tôi gửi đôi lời gió trăng …

Nhưng trong Ngàn Lời Ca, Phạm Duy lại thay đổi bằng cách giữ lại nguyên văn lời cũ như sau:

Hỡi anh vệ quốc cầm súng ngang tàng
Thuyền tôi đậu bến Tuyên Quang
Nửa đêm trông ánh trăng vàng (tôi) nhớ anh
(Ngàn lời ca, trang 35).

Sự thay đổi như thế thật là tắc trách lắm. Nguyễn Trọng Văn cũng có lý phần nào.

Nhưng cũng nên hiểu rằng vào năm 1971, khi Nguyễn Trọng Văn viết cuốn Phạm Duy đã chết như thế nào thì lúc đó Phạm Duy chưa viết hồi ký. Nếu anh Văn có dịp đọc hồi ký rồi thì cũng có thể có cái nhìn khác về Phạm Duy?

Và có thể vì có cơ hội đọc lại Hồi ký Phạm Duy mà tôi thấy cần phải nhìn lại quan điểm phê phán của Nguyễn Trọng Văn, một người bạn học cùng lớp đã gần nửa thế kỷ mà tôi vẫn trân trọng và quý mến.

Trong hồi ký 1, ông Phạm Duy viết như thế này về hoàn cảnh sáng tác của chiến dịch sông Lô. “Nhưng trong đám nhạc sĩ chúng tôi, lập tức có ngay những tuyệt phẩm như bài Lô Giang của Lương NgọcTrác, rồi Trường ca Sông Lô của Văn Cao, Du kích sông Lô của Đỗ Nhuận và Tiếng Hát sông Lô của Phạm Duy.” Điều đó cho thấy việc sáng tác nằm sẵn trong chiến dịch tuyên truyền nên mới có trường hợp bốn nhạc sĩ cùng sáng tác về một đề tài.

Bốn nhạc sĩ cùng sáng tác về một đề tài như một thứ đơn đặt hàng thì có phí phạm không?

Phạm Duy viết tiếp, “Nói về cả một chiến dịch thì chẳng những thắng lợi sông Lô chỉ là những chiến công cục bộ, bởi vì vào lúc khởi đầu của chiến dịch Léa, gọng kìm lớn ở miền Đông là Bắc Kạn và Lạng Sơn vẫn còn rất manh… Những người phục vụ cho Cục chính trị như chúng tôi được khuyến khích để làm cho chiến thắng Sông Lô trở thành một chiến công vô cùng rực rỡ. Bây giờ nếu có ai tò mò – như tôi – đi tìm đọc những tài liệu của Pháp viết về chiến tranh Đông Dương, sẽ chẳng thấy một dòng chữ nào cho cái được gọi là Lô Giang của Lương Ngọc tức Luơng Ngọc Trác. Bài này duyên dáng, mặn mà vô cùng” (2)

Hoá ra đó chỉ là sản phẩm tuyên truyền, mà giá trị nghệ thuật chỉ là phụ, không đáng kể. Mặc dầu vậy, đó là những bài hát quen thuộc và nổi tiếng của ông trong thời kỳ kháng chiến.

Cho nên, không lạ gì khi cần, Phạm Duy đã không nề hà thay đổi tùy tiện tùy theo nhu cầu thực tiễn. Điều đó không khác gì Tố Hữu làm thơ ca ngợi chiến trận Điện Biên. Trong một bài trả lời phỏng vấn của Trần Đăng Khoa, Tố Hữu đã nói huỵch tẹt ra là ông đã viết phịa, không hề ra mặt trận.

Phạm Duy có thể viết phịa, sáng tác phịa về trận đánh trên Sông Lô. Tố Hữu cũng làm thơ phịa. Đã gọi là sáng tác phịa thì việc thay dổi lời ca còn có gì được gọi là phản bội nữa? Phải chăng anh Nguyễn Trọng Văn đã quá lý tưởng hoá những ý hướng sáng tác thuần túy nghệ thuật của Phạm Duy và cũng vì thế lời kết án có thêm trọng lượng?

Thật ra theo tôi hiểu, Nguyễn Trọng Văn đã không biết được trong hoàn cảnh nào mà Phạm Duy đã sáng tác bản nhạc Tiếng hát Sông Lô, cho nên những suy đoán thuận lý của anh đã không chuẩn xác?

Phạm Duy không phản bội kháng chiến mà ngược lại

Anh Nguyễn Trọng Văn đã tự chọn cho mình một góc đứng nào đó để phê phán Phạm Duy.

Và đã có chổ anh kết luận: “Hiện nay, Phạm Duy có thể là người nghệ sĩ có tài, nhưng không phải là đứa con yêu của dân tộc, ông là đứa con hoang.” (3)

Cho nên, đối với anh, dinh tê có lẽ đã là một phản bội mà đáng nhẽ phải gọi đúng tên là bọn Việt gian. Nhưng đối với Phạm Duy, đó còn hơn là một phản bội, vì đã sửa lại lời ca trong các bài hát của chính mình. Nhưng người ta vẫn có thể đặt ngược lại là: ai phản bội ai? Nếu hành vi bỏ không theo kháng chiến là một phản bội thì thái độ ly khai với kháng chiến có thể được hiểu là thái độ tố cáo sự bội phản của kháng chiến không? Nghĩa là chính kháng chiến Việt Minh là một phản bội? Và vì thế đã có một số không ít những thanh niên đã đi theo kháng chiến, đã thất vọng và đã dinh tê? Dinh tê có thể gián tiếp tố cáo một sự bội phản đối với những người đã trót đi theo kháng chiến?

Trong giới văn nghệ sĩ ở Sài Gòn, đã có nhiều người cũng đã từng đi theo kháng chiến và đã bỏ kháng chiến. Võ Phiến ở Bình Định cũng bỏ kháng chiến về với phía Quốc Gia, Bình Nguyên Lộc trong Nam cũng vậy. Rồi cũng trong Nam có Lê Thương với bản nhạc Bà Tư bán hàng có bốn người con. Hoà Bình 48, Đốt hay không Đốt, Trần Văn Trạch với Cái đồng hồ, Chuyến xe lửa mùng Năm và Nguyễn Đức Quỳnh với Người Việt đáng yêu. Và tên Hoàng Trọng Miên với vở kịch Dưới Bóng Thánh Giá? Đoàn Văn Cừu thì sau nắm đài phát thanh Sàigòn.

Và có ai nghĩ rằng, theo Phạm Duy, Hoàng Thi Thơ từng làm việc ở toà báo Cứu Quốc và điều khiển một ban Văn nghệ lưu dộng? Cũng không ai nhắc tới Mai Thảo, Tạ Tỵ. Có ai nghĩ rằng Minh Đức Hoài Trinh, thời con gái, mê theo tiếng gọi cụ Hồ vào Thanh Hoá, gặp tướng Nguyễn Sơn, rồi cũng ra Phát Diệm, bị cha mẹ bắt về để lấy Phan Văn Giáo?


Gia đình Vũ Ngọc Nhạ lúc xuống tàu di cư tại Hải Phòng tháng 12-1955.
Nguồn/Ảnh: avsnonline.net
--------------------------------------------------------------------------------

Chưa kể những gương mặt chính trị nổi bật thời Đệ nhất Cộng Hoà đã từng đi theo kháng chiến như quý ông luật sư Trần Chánh Thành (bộ trưởng thông tin thời TT Ngô đình Diệm), Lê Khải Trạch, Đinh Sinh Pài, người đã từng hoạt động với tướng Nguyễn Sơn và Đặng Thái Mai trong khu 4. Hoàng Văn Chí cũng từ khu bốn ra, tác giả cuốn sách nổi tiếng Trăm hoa đua nở trên đất Bắc. Cuốn sách cho thấy chính thể Hà Nội đàn áp và trù dập giới văn nghệ sĩ như thế nào. (4)

Với sự chứng dẫn một số những nhân vật tên tuổi đã từng tham gia và hoạt động cho kháng chiến, trở về cộng tác với chính quyền Quốc Gia, tôi nghĩ rằng, việc gán cho Phạm Duy phản bội kháng chiến của anh Nguyễn Trọng Văn khó có cơ đứng vững được.

Nhận xét một số thực tế sau đây càng cho thấy, sau khi chiến tranh Việt–Pháp bùng nổ, có đến hằng triệu người phải sơ tán theo chính sách tiêu khổ kháng chiến với cảnh vườn không nhà trống. Nhất là kể từ Thanh Hoá trở vào phía Nam, nhiều vùng chỉ còn là đổ nát và hoang tàn. Và cũng hàng triệu những dân chúng các vùng ấy đã hồi cư.

Chuyện đó được coi là bình thường trong chiến tranh.

Nhưng đặc biệt, có rất nhiều dân chúng, trí thức, thành phần đảng phải, chính trị gia đã sơ tán về vùng trái đệm Phát Diệm, còn gọi là an toàn khu. Có rất nhiều người đã rời bỏ kháng chiến hoặc chạy trốn Pháp về đây. Có tất cả khoảng 60 ngàn người đủ thành phần đã tụ tập về Phát Diệm.

60 ngàn người tụ hội về đây đều là để chờ thời, để nghe ngóng tình hình và nhất là chờ cơ hội Dinh Tê. Dinh tê, danh từ lần đầu tiên được xử dụng từ chữ rentrer. Chữ dinh tê là để chỉ việc bỏ khu vực kháng chiến để về Hà Nội. Phạm Duy cùng lắm cũng nằm trong số những người này.

Họ từ Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh ra, tức là bỏ khu tư, bỏ kháng chiến. Và Phạm Duy cũng nằm trong trường hợp này.

Nhưng phần đông họ từ Hà Nội, từ Chợ Đại, Cống Thần ở Hà Đông vào (có thể là đi buôn), hoặc từ Hải Phòng đến bằng đường biển qua cửa Cồn Thoi, cửa ngõ vào Phát Diệm. Hoặc từ Nam Định Bùi Chu, qua ngã đường sông như Yên Mô–Nho Quan hoặc Cầu Lim–Gia Viễn.

Đó là những người chạy trốn Pháp.

Phát Diệm trở thành vùng an toàn phi chiến –ít ra người ta có cảm tưởng như thế– vùng trái đệm giữa vùng tề và kháng chiến, giáp ranh với liên khu 4 gồm Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh trải dài xuống tận khu Bình Trị Thiên Nam Ngãi.

Để chứng tỏ Phát Diệm là nơi tạm trú cho những người trốn chạy cả hai phía Tổng bộ (danh xưng gọi tổ chức của GM Lê Hữu Từ) đà bắt được một mật lệnh, ngày 9/7/1947 của Việt Minh có câu: “dù có mất cả một đại đội cũng không được đụng đến Phát Diệm.”(5)

Đó là về phía Việt Minh đối với Phát Diệm.

Việt Minh có hai cái lợi để không đụng độ trực tiếp với Phát Diệm.

Thứ nhất, vì Phát Diệm là hậu cần cung cấp tất cả thuốc tây, dụng cụ, máy móc, đá lửa, xăng dầu và đôi khi ngay cả súng ống từ bên Tàu. Đó là nguồn cung cấp sống còn cho khu 4 của kháng chiến. Đường buôn lậu đi từ Hải Phòng, dùng thuyền buồm xuôi Phát Diệm, đến cửa Cồn Thoi, rồi từ đó xuôi Thanh Hoá, vào khu tư.

Thứ hai, về mặt quân sự, Phát Diệm như cái hàng rào che chắn để bảo vệ an toàn khu tư trở vào. Chừng nào Phát Diệm còn có hai cái lợi thế như thế thì Việt Minh còn để yên. (6)

1951, Phạm Duy giã từ kháng chiến. Có những gịot nước mắt nhớ tiếc dĩ vãng và cũng có giọt nước mắt vui mừng vì nhìn thấy cái cái đồn bót phía Quốc Gia. Vui mừng vì biết rằng nay mình được giải thoát.

Nếu những người này sau đó dinh tê về Hà Nội, ta sẽ gọi họ là ai? Họ có khác gì với Phạm Duy không? Thật không dễ để xếp loại họ.

Không lẽ chỉ vì đổi vài lời ca mà kẻ thì trở thành bội phản và kẻ khác không?

Mặc dầu giải pháp double jeu đi đến thất bại, có một điều không thể phủ nhận được là Phát Diệm là nơi trú ẩn an toàn cho những người kháng chiến cũ, cho trí thức và nhất là cho người của đảng phái. Không có Phát Diệm, nhiều nhân vật đã có thể bị giam cầm, thủ tiêu và biến mất trên chốn dân gian này rồi. Làm gì còn những Ngô Đình Nhu, Phạm Đình Viêm, Phạm Đình Chương, Bùi Diễm, Trần Văn Chương, Nguyễn Tường Tam, Hoàng Bá Vĩnh. Và giả dụ họ bị Việt Minh thủ tiêu? Chính trường miền Nam đã hẳn là khác?

Và họ là ai trong số 60 ngàn dân tị nạn ở Phát Diệm? Họ thuộc đủ thành phần Có người của Quốc Dân đảng, Duy Dân, Dân Tộc, Việt Quốc, Việt Cách, Xã hội, nhóm Bảo Hoàng nhất là Đại Việt. Họ là những Lê Quang Luật, Trần Văn Chương, Ngô Đình Nhu, Nguyễn Tường Tam (sau trốn sang Tàu) Bùi Diễm, con cụ Bùi Kỷ, Nghiêm Xuân Hồng, Lý Đông A, Tạ Văn Nho. Trẻ hơn có Hoàng Bá Vinh, còn gọi là Già Vinh, Trịnh Lâm, Minh Đức Hoài Trinh, Trịnh Lâm, Nguyễn Phương Thiệp, Trần Kim Tuyến... Đặc biệt có Phạm Duy, Thái Hằng, Thái Thanh, Nguyễn Đức Quỳnh, Phạm Đình Sỹ và Kiều Hạnh, Phạm Đình Viêm đi theo kháng chiến, rồi cũng bỏ, từ chợ Neo kéo về Phát Diệm tìm đường dinh tê.


Đọc hồi ký do chính Phạm Duy viết, không có chỗ nào là bằng cớ cho thấy ông gắn bó hay có ý gia nhập đảng Cộng sản? Ở hồi ký, chương 21, Phạm Duy viết, “ ... cho tới tôi, Phạm Duy, những người bị kết tội là “phản bội” nhưng xét ra cũng là những người có công trong việc phát huy văn hóa Việt Nam. À ra đã tới lúc có sự gạn đục khơi trong ― chữ trong bài báo ― rồi đó! Cũng tốt thôi! Dù tôi tự thấy mình có bao giờ xin vào một đảng nào đâu mà được gọi là phản đảng? Tôi có bao giờ là tay sai trung thành của một chính phủ nào mà bảo tôi là phản bội?” khi đề cập đến một bài báo nhan đề Công và “Tội” trong tờ Đoàn Kết ở Paris (1987–88?). Và vì thế, việc ông dinh tê là chuyện bình thường như hàng ngàn, hàng vạn người khác.

–Thứ nhất, có thể chỉ là lý do kinh tế. Đi theo cách mạng là đói. Đói cho mình và đói cho cả nhà. Đó là trường hợp 3 anh em trai bên vợ Phạm Duy. Tác giả viết: “Chúng tôi có khoảng một tháng trời để nhìn thấy chung quanh mình có khá nhiều gia đình đã dinh tê. Găp được những gia đình bạn như gia đình Nguyễn Giao (bố vợ Hoàng Thi Thơ), gia đình Đỗ Xuân Hợp, gia đình Đoàn Châu Mậu là có ngay những vụ bàn bạc về việc rentrer, vào thành hay rester, ở lại? Ở lại, rester thì không còn tiền để mua gạo mà ăn. Chưa dám nói thịt cá đâu. Nhất là không có tiền mua thuốc men để chống đỡ với các thần bệnh tật . Trong lòng day dứt vì chuyện “ai làm cho ai phụ tình ai”?(7)

–Thứ hai, theo Phạm Duy, Trung ương muốn khai tử bài Bên Cầu Biên Giới của tác giả qua trung gian nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát nên ông nổi giận và: “Tôi thấy cách mạng bắt đầu lẩm cẩm khi kết án bài Vọng cổ trong cái Đại Hội mà tôi vừa tham dự.” Và sau khi được gặp bác Hồ, Phạm Duy đã không có một ấn tượng tốt đẹp gì về con người ấy và sau đó đi gặp nhạc sĩ Khoát: “Tôi tới gặp anh Khoát ngay và trả lời dứt khoát là tôi xin trở về Thanh Hoá. Tôi rất cảm ơn mọi người, xin được không nhận bất cứ một thứ ân huệ nào cả. Nhưng khi vợ chồng tôi tới chào người lãnh đạo văn nghệ của cả nước thì Tố Hữu tặng vợ chồng tôi một số tiền. Tôi nhận ngay vì đó là tiền lương và vãng phí.”(8)

Cuộc chia tay kháng chiến đơn giản chỉ có vậy.

–Thứ ba, Phạm Duy đâu phải loại người ngu ngơ khờ khạo. Trong buổi tham dự Đại Hội Văn Hoá tổ chức tại trường Cao Đẳng, có chủ tịch Hồ Chí Minh đọc diễn văn, ông viết: “tôi cũng rất sung sướng được nhìn thấy những thần tượng văn nghệ của tôi. Nhưng tôi lấy làm lạ, tự hỏi thầm tại sao nhóm Tự Lực Văn Đoàn lại vắng mặt? Câu hỏi lớn đấy nhé. Sau đó còn thấy sự chống đối của Nguyễn Đức Quỳnh. “Khi Xuân Diệu bắt đầu bằng câu nói: Thưa các đồng chí. Nguyễn Đức Quỳnh đứng dậy nói: “Tôi không phải là đồng chí của các anh.” Xuân Diệu có vẻ hơi lúng túng rồi trả lời: “Chúng tôi không cần những đồng chí như anh.”

Tôi cũng thấy được sự tranh chấp bạo động như vụ bắt cóc rồi giết nhau ở phố Ôn Như Hầu hay là vụ Việt Minh tiêu diệt các đảng phái ở các tỉnh. Khi ở trong Nam, tôi đã thấy các đảng phái như Cao Đài, Hoà Hảo, Đại Việt dự định bắt Trần Văn Giầu và nhóm Việt Minh. Nhưng Dương Văn Giáo ngăn cản để giữ tình đoàn kết. Sau này, chính Dương Văn Giáo bị Việt Minh giết.

Vì thế, tôi không có ý muốn trở thành một cán bộ Việt Minh ở Hà Nội.” (9)

Kể như đã rõ ràng, đi theo kháng chiến, nhưng thấy Việt Minh phản bội lại những người yêu nước khác, như giết người của đảng phái. Phạm Duy đã có thể thất vọng về kháng chiến và vì thế dinh tê là điều khó có thể chê trách được.

Và giả dụ rằng, cái đám dinh tê sau này thắng trận thì chữ phản bội còn có ý nghĩa gì? Cuối cùng, kẻ thắng là kẻ tự mang chính nghĩa về phía mình, nói sao chả được.

–Thứ tư: Xét đến số lượng các bản nhạc Phạm Duy làm trong thời kỳ kháng chiến, xét đủ loại từ nhạc hùng, nhạc tình, quân ca kháng chiến đến dân ca kháng chiến trên dưới gần 50 bài, tôi nhận ra những bài nào có danh từ dính dáng trực tiếp đến Việt Minh như cụ Hồ, đồn Tây, Vệ Quốc Quân thì ông đã đổi lời.

Có bao nhiêu bản như thế? Thực sự không có bao nhiêu. Chỉ có vài bài tất cả theo cách lý giải của tôi. Chắc là không hơn. Nguyễn Trọng Văn đã khám phá ra điều này cũng đã là hay lắm. Nhưng chưa đủ yếu tố thuyết phục độc giả nghĩ rằng Phạm Duy là kẻ phản bội.

Hơn nữa, giá trị một bản nhạc hay là chính ở cái hồn của bản nhạc ấy thì vẫn được giữ nguyên. Có cụ Hồ hay không có cụ Hồ, tự nó bản nhạc vẫn hay. Nhạc kháng chiến của Phạm Duy là hay, là thấm thía, là chia sẻ thì vẫn được người nghe tán thưởng.


Ảnh: phusa.free.fr
--------------------------------------------------------------------------------

Cũng đừng quên một điều, khi nghe một bản nhạc hay, người nghe đễ cái cảm quan nghệ thuật lấn lướt những tiểu tiết thay đổi từ mà Nguyễn Trọng Văn nêu ra. Theo tôi, trừ tên Hồ Chí Minh cần phải đổi. Những từ như giặc Pháp, đồn tây, anh vệ quốc quân, không đổi cũng không sao. Bằng chứng, ở miền Nam, chúng ta vẫn nghe nhạc Văn Cao, vẫn đọc văn Nguyễn Tuân thời tiền chiến có sao đâu? Nguyễn Văn Trung có lần viết rằng sau 1975, tại Vũng Tàu, loa phóng thanh oang oang bài Anh Quốc ơi, Anh Quốc ơi của Phạm Duy? Thật là buồn cười, nhưng hiểu được. Bài đó có thể hay và người ta chẳng cần biết anh Quốc là anh nào nữa?

Kết luận cho thấy phải chê ngược Phạm Duy đáng nhẽ không nên đổi từ thì ông đã đổi. Nguyễn Trọng Văn ngầm phê phán thái độ trở cờ, bỏ kháng chiến của Phạm Duy, thì những người khác lại thấy sự trở cờ đó là bình thường.

Khác nhau là chúng ta đứng ở vị thế nào để nhìn vấn đề, để phê phán?

gaucon
10-04-2006, 04:36 PM
hmm, lại Phạm Duy, 1 con người tầm thường có gì đáng nhắc đến mà sao cứ nhắc mãi

vài bản nhạc tình hát trên môi, tác giả của nó đáng kính thì nhớ, còn không thì chả nhớ làm gì, tốt hơn hết là chôn nó xuống mồ :cigar:

seanguyen
10-04-2006, 07:33 PM
Cũng cùng thời với nhạc sĩ Xuân Tiên và bao nhạc sĩ lão thành khác, người ta ôn tồn, từ tốn, tế nhị và khiêm nhường trong khi bố Phạm Duy phách lối, huyên hoang, tự kiêu, ta đây quá.

KaaBOOM
10-04-2006, 08:27 PM
Lý do PhamDuy đi về VN là tận dụng các giàn nhạc giao hưởng Saigon - Hà Nội để phát hành những bản nhạc của ông một cách rầm rộ mà không tốn kém . Chỉ trong vòng 1 năm nữa là ông ta lại mò về lại Mỹ cho xem, khi những nhạc phẩm để đời của ông được tái phát hành mà thôi .

tbbt
10-05-2006, 10:40 AM
Cũng cùng thời với nhạc sĩ Xuân Tiên và bao nhạc sĩ lão thành khác, người ta ôn tồn, từ tốn, tế nhị và khiêm nhường trong khi bố Phạm Duy phách lối, huyên hoang, tự kiêu, ta đây quá.

Quá đúng :cheer: tui đang coi dvd "Phạm Duy ngày trở về" cho ý cò sau.

ChiLaMuaThuRoi
10-05-2006, 01:26 PM
Quá đúng :cheer: tui đang coi dvd "Phạm Duy ngày trở về" cho ý cò sau.

vậy dk mở thread cho tbbt dzô ý kò há ? :D

dangia
10-06-2006, 12:28 PM
Phạm Duy còn đó hay đã chết? (Kết)


2. Phạm Duy chết ở một nơi nào khác?

Tài vay mượn hay cảm hứng của người nghệ sĩ?


Ảnh: autim.net
--------------------------------------------------------------------------------

Mỗi bản nhạc của ông là một tổng hợp hay một cộng lại những văn ảnh, những âm thanh, âm điệu, những ca từ rút ra từ các bài thơ, hoặc rút tỉa từ các câu hò, điệu hát của dân ca ba miền, ngay cả những điệu hát của người dân miền sơn cước, từ các vần điệu đã có sẵn, các văn ảnh quen thuộc như con trâu, cái cày, đồng lúa xanh, người mẹ quê. Chính nhờ sự pha trộn, thu nhặt đó mà nhạc Phạm Duy rất gần gũi, ăn khách và được đón nhận một cách nồng nhiệt.

Chẳng hạn, trong bài Tiếng Hát trên Sông Lô, theo như sự nhìn nhận của ông, ông đã cảm hứng và vay mượn từ hai câu thơ Đường quen thuộc:

Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn (1)

Hai câu thơ Đường trên vảng vất trong bài tiếng sông Lô của Phạm Duy đã trở thành: Thuyền tôi buông lái như xưa, hoặc Thuyền tôi đậu bến Tuyên Quang và nhất là Thuyền tôi đậu bến Đoan Hùng. Bình minh nghe tiếng chim mừng líu lo.

Trong mấy câu trên, người ta thấy từ vần điệu, âm thanh bằng trắc bổng trầm sao giống nhau thế? Thật là tài, cái tài bắt chước và nhái lại của Phạm Duy.

Giữa: Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn và Bình minh nghe tiếng chim mừng líu lo sao mà sít sao thế! Giống mà không giống. Nửa đêm đổi ra thành bình minh. Tiếng chuông chùa đổi ra tiếng chim mừng. Thật là tài, cái tài bắt chước và nhái lại của Phạm Duy.

Cũng theo Phạm Duy, 10 bài tâm ca, 10 bài đạo ca ít ra bắt nguồn từ con số 10 của Mười điều tâm niệm của Hoàng Đạo. Sự liên hệ ý tưởng (associations des idées) đó đã trở thành nguồn cảm hứng âm nhạc bắt đầu từ con số 10. Tại sao không 13 hay 35 mà lại 10?

Và từ dấu mốc này, tôi dám đặt câu hỏi nghi vấn, không phải về nhạc tính, mà về một số từ rất rất Trịnh Công Sơn, một số ý hướng rất Trịnh Công Sơn như các từ Gia tài, tuổi nọ tuổi kia vv.. Uớc mơ (thơ Nhất Hạnh), để lại và những ý hướng về cái chết, về chiến tranh, về trẻ thơ vv.. trong các bài Tâm Ca, Đạo ca của Phạm Duy.

Lẽ dĩ nhiên, Phạm Duy không bao giờ nhìn nhận có một ảnh hưởng như thế trên sự nghiệp sáng tác của ông. Và chắc hẳn những bản nhạc đó đã bắt nguồn từ những cảm hứng tâm linh, từ những khát vọng sâu thẳm của cõi người hay thân phận người xuất phát từ những tình trạng bi kịch của đất nước. Chính từ những chỗ ấy đánh động tâm tư, khơi dậy những thao thức của tâm hồn nghệ sĩ và từ đó sản sinh ra những dòng nhạc khá là tuyệt vời.

Người nghe nhạc khi thưởng thức nhạc Phạm Duy, đôi khi bắt gặp những âm hưởng quen thuộc đã bắt gặp ở đâu đó rồi hoặc bắt gặp một con chữ nào đó v.v… Có thể một cách vô tình và vô thức, Phạm Duy có cùng những cảm thức, cùng những rung động đã nhập vào ông. Nhất là trong những bản nhạc phản chiến, những bài tâm ca và đạo ca. Chữ nghĩa ấy vào tay Phạm Duy trở thành một con chữ sống động, hiện sinh, như thể có một linh hồn. Vốn nguyên liệu ròng đã có, Phạm Duy chuyển tải tài tình cái vốn đó thành vốn của mình một cách chẳng kém tài hoa.

Thôi thì cứ cho rằng tài hoa bắt gặp tài hoa. Nhưng trong nghệ thuật văn chương hay âm nhạc thì trước sau thiên tài hay không vẫn là ở chỗ sáng tạo, chỗ khởi đầu. Ớ chỗ này, bất cứ ai cũng phải nhìn nhận rằng Trịnh Công Sơn sáng tạo ra ngôn ngữ, thổi vào chữ nghĩa một sự sống, một linh hồn.
Hơn bất cứ ai hết, Trịnh Công Sơn cùng một lúc sáng tạo ra ngôn từ và dòng nhạc quyện vào nhau, gắn bó tuyệt vời. Đó là một thứ phù thủy trong ngôn ngữ: thổi vào đó một sự sống.

Trong khi đó, phần lớn âm nhạc của Phạm Duy là vay mượn thơ văn của các thi sĩ khác.

Công của ông là phổ nhạc. Phần kia là của các nhà thơ. Về điểm này, tôi cũng đặt câu hỏi phần vinh danh mà ông được thụ hưởng thì trong đó có bao nhiêu phần đóng góp âm thầm của các nhà thơ được chia sẻ cái vinh danh đó? Chỗ nào cho Nguyễn Bính, Nhất Hạnh, Phạm Thiên Thư, Linh Phương, Ngô Đình Vận, Hữu Loan, Lê thị Ý, Phạm Lê Phan, Phạm Văn Bính, Hoa Đất Nắng, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu, Thế Lữ, Hàn Mạc Tử, Bích Khê, Đỗ Quý Toàn, Nguyễn Tất Nhiên, Thanh Hữu, Du Tử Lê, Cung Trầm Tưởng, Hoài Trinh, Hồng Nam tức Hô Hán Sơn, Guillaume Apolinnaire. Và người chỉ còn có cái bị thằng ăn mày như Bùi Giáng cũng bị mượn đỡ bài Gái lội qua khe cho những bài Tục ca của Phạm Duy.


Kết luận về phần này thì chúng ta phải thừa nhận rằng vay mượn và cảm hứng đưa đến những bản nhạc để lại cho đời đến như Phạm Duy thì kể là kỳ tài.

Kể là có một không hai.

Nhưng tôi nhận ra một điều thấy cần được nói ra và có thể nhiều người cũng biết như thế. Có nhiều bài do chính ông viết lời như bài Đêm xuân, tại Chợ Neo, Thanh Hóa ghi lại mối tình với Thái Hằng. Hay bài Cành hoa trắng, Thanh Hóa, 1950 hay bài Gánh lúa, rất nổi tiếng, trước khi dinh tê. Điều đó không có gì để nói nữa.

Có bài mượn lời từ thi sĩ ngoại quốc, như Mùa thu chết mượn thơ của thi sĩ Guillaume Apollinaire ông cũng cẩn thận ghi bên dưới như: theo thơ Guillaume Apollinaire, Sàigòn 1970.

Xem lại những bài ông trích đăng lại trong Ngàn lời ca của ông: bài Nhân danh, ghi theo thơ Tâm Hằng, bài Bi Hài kịch, theo thơ Thái Luân, Đi vào Quê Hương, theo thơ Hoa Đất Nắng (Cả ba bài này đều ít ai biết tới), Kỷ vật cho em thơ Linh Phương, Khi tôi về, Khi tôi về, theo thơ Kim Tuấn, Tưởng như còn người yêu, thơ Lê thị Ý, Áo anh sứt chỉ đường tà, thơ Hữu Loan. Tôi ước mơ, thơ Nhất Hạnh, bài Để lại cho em, một câu thơ của Nguyễn Đắc Xuân…

Trừ vài trường hợp hoạ hiếm, những trường hợp khác thì không được ghi đầy đủ. Và đấy chỉ là ghi lại trong Ngàn lời ca của Phạm Duy sau này như một loại sách sử âm nhạc. Nhưng tôi không đủ điều kiện để tìm hiểu xem, khi được ấn hành thành bản nhạc, được in ấn hồi trước 1975, được bán ở các vỉa hè Sàigòn, tên các thi sĩ được Phạm Duy phổ nhạc có được ông trân trọng ghi đầy đủ trên các bản nhạc hay không? Ở Hải ngoại thì tôi được biết có một số bản nhạc được in lại có ghi đầy đủ tên thi sĩ và tên nhạc sĩ, nhưng điều đó có chắc rằng, toàn thể các bản nhạc của Phạm Duy in ấn trước 1975 đều có đề tên các thi sĩ?

Việc phổ nhạc thơ là một hiện tượng phổ biến trong sinh hoạt văn hóa miền Nam trước 1975. Trong một bài phỏng vấn Du Tử Lê của Cỏ Ngư trên Talawas, ngày 5/5/06, Du Tử Lê cho biết có hơn 300 bài thơ của ông đã được phổ nhạc mà theo ông: “Đó là chưa kể có những nhạc sĩ lấy thơ của tôi, không chỉ là cái ý, mà cả câu thơ, nhiều câu thơ làm thành ca khúc mà không hề đề cập đến tên tôi, dù chỉ là hàng chữ “ý thơ” thôi cũng không có. Thậm chí, có báo chí nêu đích danh bài thơ ấy, bản nhạc ấy, nhạc sĩ ấy. Nhưng người nhạc sĩ này vẫn lờ đi…”

Riêng trường hợp Phạm Duy, Du Tử Lê có tiết lộ Phạm Duy có phổ nhạc bài thơ“Kiếp sau, xin giữ lại đời cho nhau” vào năm 1967 gì đó. Rất tiếc, dù đã tìm kỹ, tôi cũng không tìm thấy bài hát này. (2)

Nhưng điều tôi có thể chắc chắn là trong Ngàn lời ca, hầu như Phạm Duy đã không nêu tên các thi sĩ, tác giả các lời ca của bản nhạc. Ông có cố tình quên tên họ không? Trong khi đó, ông ghi rất kỹ thời gian sáng tác một bản nhạc? Chính vì thế này đã xảy ra trường hợp nhà thơ Hữu Loan bày tỏ công khai nỗi bực dọc ấy. Có một trường hợp mà tôi biết khá rõ về bốn bài thơ của Nguyễn Tất Nhiên, một thi sĩ trẻ ở Biên Hoà. Đó là những bàiThà là giọt mưa, Hai năm tình lận đận, Cô Bắc Kỳ nho nhỏ, Hãy yêu chàng và Vái trời. 5 bài thơ này đã là nguyên do có sự kiện tụng giữa nhà thơ và Phạm Duy. Về phần Nguyễn Tất Nhiên, dĩ nhiên, cậu thanh niên chưa quá 20 tuổi phải hãnh diện vì thơ được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc. Về phía Phạm Duy chắc cũng hiểu cái tình huống như thế nên ông nói: “Thơ được Phạm Duy phổ nhạc là may phúc lắm rồi.” Cho đến lúc bản nhạc được thương mại hóa thì Nguyễn Tất Nhiên đòi tiền. Kể từ đó về sau, Phạm Duy không lấy thơ Nguyễn Tất Nhiên phổ nhạc nữa.

Tôi đã thử tìm trong Ngàn lời ca để xem ông có ghi lại năm bài nhạc, có thơ của thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên không? Tôi đã không tìm thấy bài nào trong năm bài ấy.

Chỉ được nhắc tới trong phần mục lục thôi. Phải chăng, do cái giận một thằng nhóc con muốn đòi tiền và kiện ông mà Phạm Duy đã cố tình bỏ quên Nguyễn Tất Nhiên? Thật ra cái tính của Nhiên là thế. Sau này, khi gửi các bài thơ của thi sĩ trên tập san Hợp Lưu, anh cũng có thói quen đòi chủ bút Khánh Trường phải trả tiền nhuận bút. Ai viết cho Hợp Lưu nghe chuyện đó cũng phải bật cười. Chủ bút Khánh Trường đã trả tiền nhuận bút vì thương bạn. Bởi vi, tờ báo ai đã cộng tác viết bài đều biết tập san nghèo quá, ai dám nghĩ đến tiền nhuận bút. Nhận được một số báo mỗi kỳ đã là một niềm vui rồi vì tờ báo quá đẹp, trang nhã, bài viết có chất lượng. Cầm số báo Hợp Lưu như cầm một cuốn sách. Và theo anh Khánh Trường, Nguyễn Tất Nhiên là người duy nhất trong số các tác giả viết bài cho Hợp Lưu được trả tiền nhuận bút.

Nhưng được biết đến lúc nhà thơ này từ giã cõi đời thì Phạm Duy cũng nằm trong số những người đến tiễn đưa anh về thế giới bên kia.

Phạm Duy đã kể lại trong Ngàn lời ca về người bạn tình của ông, Alice, con gái của một người tình cũ của ông ở Phan Thiết là Hélène. Alice đã làm đến 300 bài thơ tặng ông và đã là nguồn cảm hứng cho Phạm Duy viết phổ nhạc. Khởi đầu là Thương tình ca với những giai điệu:

Dìu nhau đi trên phố vắng
Dìu nhau đi trong ánh sáng
Dắt hồn về giấc mơ vàng
Dìu nhau đi chung một niềm Thương

Và tiếp nối là Ngày đó chúng mình, Đừng xa nhau, Kiếp nào có yêu nhau (Thơ của Hoài Trinh). Bài này của Hoài Trinh có in lại trong một băng nhạc ở Hải ngoại, thấy có đền tên tác giả là Hoài Trinh.

Tôi không thấy ông đề tên Alice trong những bản nhạc tình có thể nói là tuyệt vời ấy trong Ngàn lời ca. Thật là đáng tiếc!

Nhân tiện đây, phải nói rằng nhạc tình của Phạm Duy quả là tuyệt vời. Đầy cảm tính (sentimental)! Và chỉ có một người sau này có thể qua mặt ông là Trịnh Công Sơn với nhạc tình đầy não tính (cérébral) (Chữ của Phạm Duy). Và có những người trẻ tuổi đã chẳng ngại ngùng viết:“Với tôi, chiều sâu của Phạm Duy là chiều sâu của vực thẳm không đáy, đỉnh cao là đỉnh cao của ngọn trời và kích thước thứ ba là chiều ngang của không gian vô tận.”

Xin trích dẫn một đôi câu nữa để chúng ta cùng say sưa ngậm ngùi:

Ngày đó có bơ vơ lạc về trời
Tình trên mây xa khơi có áo dài khăn cưới
Ngày đó có kêu lên gọi hồn người
Trùng dương ơi, Có xót xa cũng hoài mà thôi
Và để nghe Thái Thanh nức nở một lần nữa thơ của Hoài Trinh, phổ nhạc là của Phạm Duy:

Đừng nhìn em nữa anh ơi..
Kiếp nào có yêu nhau, thì xin tìm đến mai sau…

Alice đã không có một chỗ đứng đáng nhẽ phải có, đáng nhẽ phải dành cho cô. Không thể quên như thế được.

Nhưng dưới mắt Phạm Duy: Phổ nhạc là chắp cánh cho thơ bay cao. Vì thế, họ bị bỏ quên cũng thật là dễ hiểu, vì ai đã chắp cánh cho họ?

Những người đó ít hay nhiều cũng làm nên vóc dáng Phạm Duy. Có thể, nhờ nhạc sĩ mà bài thơ đi xa hơn nữa. Nhưng dù muốn, dù không vẫn là mượn thơ của thi sĩ. Họ đã chẳng có một vị trí xứng đáng trong gia tài âm nhạc của họ Phạm. So ra, những người tình của Trịnh Công Sơn may mắn hơn nhiều, vinh dự hơn nhiều, đi vào những thiên tình sử của một nhạc sĩ tài hoa có một không hai. Những Diễm.. và cuối cùng đến Hồng Nhung.

Hãy khoan nói đến chuyện tiền bạc. Hãy trả lại lẽ công bằng về cái thẩm quyền tinh thần, về những sản phẩm trí tuệ ấy.

Tôi vẫn cảm thấy tức anh ách khi viết những dòng này, nghĩ tới Alice, Huy Cận trong Ngậm ngùi và bao nhiêu thi sĩ khác.

Phải chăng chính ở điểm này mà Nguyễn Trọng Văn nên dùng bút để giết chết Phạm Duy?

3. Phạm Duy của nhiều khuôn mặt

Ngay từ hồi trước 1975, tôi đã nghĩ rằng Phạm Duy là người bất nhất, tham lam, chụp giựt, tính cơ hội trong những sáng tác nhạc của ông. Các chủ đề sáng tác của ông, mặc dầu trải dài suốt hành trình nhân thế của ông, bám sát vào những biến cố của thời cuộc, của đất nước cho thấy nó quá đa dạng, trái khóay, thiếu cân xứng, thiếu liên tục nhất quán. Nghe những bản nhạc ấy, nhiều khi không khỏi ngỡ ngàng, thấy lạ, thấy kỳ dị và cảm giác quan trọng là thấy có gì đó không ổn. Có thể gọi đó là một thứ sincérité instantannée, thành thật nhất thời cảm hứng nhất thời, xung động nhất thời (émotion primaire)

Cảm hứng nhất thời đó cũng giống như một thanh niên lãng tử, ham vui, chóng chán. Khó có cái gì đọng lại, kết tinh, có chiều sâu, có âm hưởng. Đó là thứ nhà văn không có style, nhạc sĩ không có nét nhạc, thiếu cá tính, hoạ sĩ thiếu gam màu.


Con đường nhỏ- Tranh Bùi Xuân Phái 1985. Nguồn/Ảnh: iapone.org
--------------------------------------------------------------------------------

Đối với một người như Trịnh Công Sơn, ta chỉ cần nghe một điệu nhạc, bắt ngay được cái hồn tính của điệu nhạc ấy và biết ngay là Trịnh Công Sơn. Nó có một cái duy nhất, cái độc đáo, cái làm nên thế giới âm nhạc ấy. Cũng vậy, xem tranh phố cổ của Bùi Xuân Phái quen thuộc, lướt qua cũng nhận ra gam mầu trong tranh rất xanh nhạt, xám nhẹ, gợi nét buồn với hình ảnh những căn nhà, trống vắng, trơ chọi. Hoạ sĩ nổi danh với hai chữ phố phái, một đặc sủng trong tranh Bùi Xuân Phái cũng nhờ ở chỗ có cái đồng nhất thể, cái thể tính của tranh vẽ phố cổ của ông. Trông là biết, là nhìn nhận ra tác giả.

Phạm Duy trái lại đưa người nghe nhạc ông từ thái cực này đến thái cực khác, hay dở lẫn lộn, pha chế, rửng mỡ, thô tục, thanh cao, ngậm ngùi, thiết tha, xót xa, rẻ tiền, vay mượn lung tung, chắp vá tùy tiện.

Có vẻ trong sáng tác, lúc nào ông cũng tham lam, muốn thay đổi, muốn cái lạ, cái mới theo cái kiểu tiện đâu hay đấy, theo cái kiểu có tiền thì làm. Đôi khi không khỏi làm người nghe khó chịu và bực dọc.
Sáng tác nhiều nhất so với các nhạc sĩ khác. Nhưng dở cũng không ít.

Giai đoạn kháng chiến ca

Dành cho giai đoạn này, ông có trên dưới 50 bài. Nhưng chỉ độ 10 bài nay còn được nhắc nhở tới. Bài phổ nhạc đầu tiên Cô hái mơ, phổ thơ Nguyễn Bính, 1942. Cũng là hay, nhưng khó có thể so bì với Con thuyền không bến của Đặng Thế Phong và Buồn tàn thu của Văn Cao. Mà Đặng Thế Phong sáng tác nhiều nhặn gì cho cam? Nhạc của Đặng Thế Phong dù ít, nhưng bài nào cũng hay. Ít mà tuyệt vời. Những bản nhạc hùng của Phạm Duy trong thời kỳ kháng chiến thì may mắn còn được quân đội VNCH xử dụng như các bản quân hành như Xuất Quân, Nào bao hùng binh tiến lên, Chiến sĩ vô danh, Đường về quê, Khởi hành …

Trong số đó, vài ba bài dân ca kháng chiến thật hay và ngậm ngùi như Nhớ người thương binh, Ru con, và Nương chiều. Đó là những bài ca với những hình ảnh quen thuộc như mẹ già, con thơ, vợ hiền và được nhiêu người ưa thích.

Ít ra, trong giai đoạn này, người ta còn nhận ra được tính thuần nhất trong chiều hướng sáng tác của người nghệ sĩ. Mặc dầy vậy, nhiều bài nay không một ai biết đến nữa vì tính tham lam, viết dễ của tác giả như các bài Quân y ca, Thiếu sinh quân, Ngọn trào quay súng, Một viên đạn là một quân thù. Đoàn quân văn hóa.

Tham lam. Đó là cái dở nhất của Phạm Duy. Đó là cái giá phải trả dành cho những bản nhạc bị bỏ quên mà cũng dành cho chính tác giả. Có đến ¾ những bản nhạc của Phạm Duy sau này đã không ai biết đến nữa.

Giai đoạn 20 năm miền Nam

Đây là một thời gian dài đánh dấu sự thành công của Phạm Duy. Thành công của ông bắt đầu với ban hợp ca Thăng Long trên đài Pháp Á, từ 1951, tới 1955, thời ông Diệm đổi là Đài phát thanh Quốc Gia, với những tên tuổi như Hoài Trung (Phạm Đình Viêm) Hoài Bắc (Phạm Đình Chương), Phạm Duy, Thái Hằng và Thái Thanh (Băng Thanh), và với những bài ca khá tuyệt vời như Tình hoài hương, Tôi yêu tiếng nước tôi (1953).

Ban hợp ca Thăng Long


Ban hợp ca Thăng Long (1952) - Thái Hằng, Hoài Trung, Hoài Bắc (nhạc sĩ Phạm Đình Chương), Thái Thanh.
Nguồn/Ảnh: khanhly.net
--------------------------------------------------------------------------------


Ban Hợp ca Thăng Long nổi như cồn. Có thể so sánh nó giống như Sáng Tạo trong văn học với Mai Thảo. Nhạc với Phạm Duy, với ban hợp ca Thăng Long. Văn với Mai Thảo với tạp chí Sáng Tạo. Cả hai là những đặc sản miền Bắc mang vào như trái cây đầu mùa ở miền Nam lúc ấy.
Những bản tình ca tuyệt vời cũng hầu hết được sáng tác trong giai đoạn này đã đưa ông lên cao, cao thật cao.

Trường ca Con đường cái quan

Cạnh đó là Hai bản Trường ca: Con đường cái quan và Mẹ Việt Nam. Hai trường ca này làm nên vóc dáng Phạm Duy. Bản trường ca nói đến người lữ khách lên đường, đi từ Bắc vô Nam.
Về nội dung, nó nói lên được tình tự dân tộc, tấm lòng yêu quê hương đất nước mỗi lần tác giả dừng chân tại mỗi miền. Những câu hò, câu ví của dân ca ba miền được nhắc nhở đến với những địa danh như Thăng Long, Tháp rùa, ải Chi Lăng, Phố Kỳ lừa. Tạ Tỵ đã nhận xét: “Suốt chuyến đi, xuyên nửa quê hương, Duy đã xúc động và nhận diện được chân dung quê hương qua tri giác tinh tế của một nghệ sĩ đã gần 40 tuổi đời” (3)

Nhưng về hình thức, theo dõi toàn bộ bài hát thì thấy mệt, chán, dài lê thê, cóp nhặt âm hưởng của từng vùng. Nó là một thứ lắp ráp chưa khéo. Tách ra từng đoạn, từng phần thì có phần hay. Những phần đoạn hay thường được giới thanh niên hát trong các sinh hoạt giới trẻ và nhất là trong những đoàn du ca của giới sinh viên học sinh.

Phần tôi, tôi không thích mà có thể nhiều người cũng không thích. Đã thế, ông sử dụng các câu hò, câu ví như thể là chính ông sáng tác. Không lạ gì, nhiều người đã đồng hóa Phạm Duy vào dân ca đó như thể là của chính ông sáng tác.

Nhạc sĩ Lê Thương khi trả lời Vũ Bằng đã nói: “Những bài như Con đường cái quan hơi dài quá, điệp ý nhiều, có nhiều đọan lại tham lời, tham ý quá, chẳng khác người mới làm văn không chịu lựa chọn những ý đặc biệt, những tư tưởng độc đáo để diễn tả, trái lại ý nào cũng thích, tư tưởng nào cũng ham, nhất nhất thu cả vào bài văn của mình, làm cho độc giả coi mà mệt, do đó sinh ra ngán ngẩm.” (4)

Và một tiếng nói nữa của Trần Văn Khê nhận xét về hai bài hát về miền Nam Cửu Long Giang và Nhờ gió đưa về như sau: "Tôi nghĩ có lẽ Phạm Duy cho rằng miền Nam chịu ảnh hưởng Âu Châu rất nặng nề là khi đến miền Nam người lữ khách đi thời xưa đàn ngày nay, đàn mà nhạc Việt ảnh hưởng Âu Châu rất nhiều, nên hai bài hành khúc, không còn dân tộc tính của nhạc Việt nữa. Riêng đối với tôi, những câu nhạc nửa Âu, nửa Á, nửa Mỹ, nửa Việt Nam làm tôi tiếc người nhạc sĩ sáng tác hai phần đầu, người nhạc sĩ đã đem dân ca lên một mức khá cao để rồi phụ bạc dân ca trong phần chót nhạc phẩm." (5)

Dân ca, Tâm ca, Đạo ca, Tục ca …

Dân ca có nghĩa là gia tài chung của mọi người, không ai là tác giả, hay chỉ là vô danh. Vậy mà Phạm Duy đã mượn ý, mượn lời, rồi coi như của mình. Nhiều người như các quý ông Nguyễn Hữu Ba, Trần Văn Khê đã có nhận xét rõ ràng về vấn đề này và yêu cầu ông sửa lại. Riêng Nguyễn Trọng Văn, thẳng thừng và khó tính hơn coi như một thứ ăn cắp không hơn, không kém. Nguyễn Trọng Văn đã nhận xét khá nặng nề như sau: “Ngoài thái độ lấy gia tài chung của dân tộc làm gia tài riêng của mình, lấy vinh dự của dân tộc làm bậc thang cho riêng mình, việc sử dụng trường ca cũng bị chỉ trích.” (6)

Khó có thể chấp nhận được tính nhập nhằng của ông. Ông đã nhập nhằng không để tên các bài phổ nhạc của các thi sĩ. Bậy lắm! Không thể làm thế được. Đề thêm tên tác giả, bản nhạc có thể vì thế mà mất giá trị đâu?

Nay lại nhập nhằng trong dân ca?

Trong việc sáng tác, ông không chỉ đa dạng về thể lọai, còn đa dạng về đề tài. Phong phú, nhưng trùng lập. Mâu thuẫn và không hợp lý. Các đề tài trong nhạc của Phạm Duy được ông thay đổi như chong chóng, nhảy từ lãnh vực này sang lãnh vực khác. Mỗi lần thay đổi thì ông lại giải thích thế này, thế nọ. Nhưng nghe không lọt tai tý nào.

Nó có vẻ tùy tiện, tùy cơ hội đưa đến. Nó không phải là những điều ông ấp ủ, xuất phát từ tim óc. Ít lắm, ông cũng phải trung thành với chính mình, trung thành với những điều ông ấp ủ. Vì không thể ấp ủ nhiều thứ cùng một lúc được. Vừa mong chấm dứt chiên tranh, vừa phản chiến, vừa hiếu chiến?

Vào năm 1965 ông bắt đầu viết tâm ca. Ở thời điểm đó, viết tâm ca là có thể hiểu được, vì đúng thời điểm, có vẻ thời thượng nữa. Mức độ gia tăng chiến tranh đến chóng mặt với sự tham dự trực tiếp của người Mỹ vào miền Nam. Tâm trạng chán ghét chiến tranh, mỏi mệt, thiếu chính nghĩa đã mỗi ngày một rõ mặt. Những người thanh niên trẻ như Trịnh Công Sơn đã góp mặt và đã để lại những dấu ấn rõ nét qua những văn ảnh về bom đạn, xác người, quê hương rách nát.

Phạm Duy đóng góp bằng 10 bài Tâm ca, phổ thơ Nhất Hạnh. Trong 10 bài Tâm ca, có hai bài thật tiêu biểu như Tôi ước mơ, Gịot mưa trên lá. Theo Phạm Duy, bài Tôi ước mơ, ông chỉ làm trong 15 phút va toàn bộ 10 bài soạn trong một tuần. Những bài thơ đó thể hiện được tình tự nhân loại, con người với những khát vọng, những ao ước ra khỏi cuộc chiến tranh này. Tình con người, tình tự nhân loại thấm nhuần tư tưởng triết học, tôn giáo như hòa trộn vào nhau.

Nhưng tôi có cảm tưởng, ông đã không chuyên chở nổi thơ Nhất Hạnh. Âm nhạc Phạm Duy chưa tới. Thơ ở tầm cao mà nhạc không với tới. Người hát là giọng ca Thái Thanh, tuyệt vời trong Nghìn Trùng xa cách lại tỏ ra khiên cưỡng đối với những bài tâm ca này. Giọng hát đanh quá, chát chúa, sắc quá khi lên cao giết chết cái hồn tính trong Giọt mưa trên lá. Nhạc không tới, giọng ca không thích hợp đã tự hủy tâm ca của ông và dĩ nhiên thơ của Nhất Hạnh nữa. 10 bài tâm ca này, nay mấy bài còn được nghe ai hát nữa?

Cũng có một số phản ứng của vài trí thức khuynh tả thời đó, Lý Chánh Trung, trên Bách Khoa gọi Tâm ca là ảo tưởng, vì tiếng hát to (trong tâm ca số 2) không thể nào to hơn súng nổ bên bờ ruộng già. Nguyễn Văn Trung thì cho “Tâm ca là mê hoặc vì không thay thế được tư tưởng chính trị để dẫn tới một tranh đấu chính trị.” (7)

Không nói tới vấn đề Phạm Duy chỉ sáng tác trong 15 phút. Đó là việc của ông. Nhưng chính bản thân người nghệ sĩ chưa trang bị đủ cái Spiritualité, để đi vào cái hồn, cái linh thiêng hòa nhập giữa tâm tình tôn giáo và chất nghệ sĩ? Ông thiếu một cái gì đó, dung tục mà chưa thóat tục. Vì vậy có một khoảng cách chưa quyện vào nhau giữa nhạc và thơ như trong trường hợp Trịnh Công Sơn. Mặc dầu Phạm Duy tự tin rằng: Tôi đã nói hộ thi sĩ. Và tôi xin ghi lại đây lời giới thiệu của nhà Lá Bối khi cho in tập nhạc: “Tuy nhiên Lá Bối ghi nhận rằng những bài Tâm ca được trình bày trong đây, tuy cũng xuất phát từ trái tim, tuy cũng là ngôn ngữ khóc cười theo mệnh nước, vẫn còn mang một sắc thái đặc biệt: Đó là tính cách tâm linh nội hướng và ý hướng điều hợp”(8)

Khi Thích Nhất Hạnh nói tới khát vọng hòa bình, nói tới ước mơ thì người tu sĩ, thi sĩ ấy gửi gắm trong đó một sức mạnh tâm linh, một khát vọng tôn giáo, một nguyện cầu cho việc giải quyết cuộc chiến tranh ấy. Đem cái sức mạnh tâm linh ấy đến như một giải pháp vĩnh viễn cho con người chẳng những xóa bỏ hận thù mà còn có thể xích lại gần nhau như anh em. Ảo tưởng hay ước mơ? Đã gọi là ước mơ thì ai có thể cấm ông được? Quyền ước mơ là quyền tối thượng trong những tình huống thật sự bi kịch đối với một nghệ sĩ? Thường sự phê phán là dựa trên thực tế cuộc đời mà ước mơ thì lại thuộc một thế giới đi ra khỏi cuộc đời hay ở trên cuộc đời? Vậy thì sự phê phán có tỏ ra thích hợp không?

Thiếu cái chiều kích tâm linh trong việc phổ nhạc thơ Nhất Hạnh thì Phạm Duy khó có hy vọng thành công.

Nhưng ngay cùng năm đó, 1965, người ta thấy Phạm Duy sản xuất hàng loạt những bản nhạc nghịch chiều, trái cựa như chửi cha nhau. Thoạt đầu với Huyền sử ca một người mang tên Quốc. Một cách gián tiếp tôn vinh những người hùng trong chiến tranh, thần tượng hóa cái chết của phi công Phạm Phú Quốc và tiếp theo đó một lô hàng sản xuất như mì ăn liền mang nhãn hiệu: Cung khúc Võ Đại Tôn, Mùa xuân máu đỏ, Bài ca tử sĩ cho người quê tôi. Còn tệ hơn nữa, cũng chính năm đó, một lô sản phẩm có tên: Một hai ba, chúng ta là lính cả làng, Thi đua biện luận, Nông thôn quật khởi, Tay súng tay cày, Khoác áo màu đen, Nhân danh…

Chẳng hạn bài Nhân danh có những câu như:

Vì gia đình, tôi phải giết, phải giết
Giết mười người, giết mười người
Vì xóm làng, tôi phải giết, phải giết
Giết ngàn người, giết ngàn người

Tôi không có ý nói rằng không nên đề cao phi công Phạm Phú Quốc cũng như những bài thuộc xây dựng nông thôn của ông. Nhưng không thể cùng một lúc khát vọng hòa bình, ngồi lại với nhau, sau đó lại đòi giết, giết một người, giết ngàn người. Và kết thúc vào năm 1972 với chiến ca mùa hè 1972.

Tháng 3-1966

Chống chiến tranh, phản chiến, khát vọng hòa bình. Đó là những gì có thể tìm thấy trong tâm ca. Vậy mà cũng chính con người ấy, nghệ sĩ ấy, vào tháng 3-1966, được bộ Ngọai giao Mỹ mời viếng thăm Hoa Kỳ. Sau đó vào năm 1970, một lần nữa, ông được gửi sang Mỹ để “giải độc” dư luận Mỹ thường chống chiến tranh. Thật là trái khoáy và trớ trêu quá.

Chuyến đi Mỹ này thật khó nghĩ quá. Đã vậy, bài hát tủ mà ông thường hát cho Mỹ nó nghe lại là bài Giọt mưa trên lá, vì có lời bằng anh văn.

Có đến ba bốn Phạm Duy trong những câu chuyện này.

Vỉa hè ca

Sang đến năm 1968, ông sáng tác những nhạc phẩm có tên là vỉa hè ca, gợi hứng từ Chanson du pavé của Pháp. Vỉa hè ca gồm có các bài như Sức mấy mà buồn, Nghèo mà không ham, Ô kê salem, Ô kê nước mắm.

Tục ca

Thấy như chưa đủ dose, ông dấn thêm bước nữa, sản xuất “tục ca” để văng tục vào cái xã hội ông đang sống. Đã có 10 bài tâm ca thì tại sao không có 10 bài tục ca. Thế là 10 bài tục ca ra đời với những tên rất là tục như: Khỉ đột, Tình hôi, Nhìn L^`…, Em Đ.. Cầm cu… Trong bấy nhiều bài, tôi đọc bài Nhìn Lồn, tôi viết cho đủ chữ là "tục tĩu quá". Đã viết tục đuợc như thế mà còn ngại ngùng chi mà không viết đầy đủ chữ. Trẻ con nhìn lồn phụ nữ ngồi đi cầu, nhìn đủ thứ: lồn non, lồn non, hay lớn con, mập mạp, lồn mềm.. Lồn tròn hoặc lồn móm mém … rồi cuối cùng có đứa nhìn phải đúng lồn mẹ nó. Tôi gọi là tục tĩu quá cũng không quá đáng. Lại một lần nữa, ông thú nhận viết tục ca là do ảnh hưởng Phạm Duy Tốn, nhất là nhạc sĩ Georges Brassens. Ông hay bắt chước quá. Và cầm nhầm nữa. Mấy bài tục ca này phần âm nhạc thế nào thì tôi không biết, nhưng phần lời ca thì thỏai mái và gratuit quá, chẳng để làm gì. Thật sự không biết để làm gì? Từ nhìn lồn sang đạo ca thì không biết phải nói thế nào.

Đạo ca

Đến năm 1971, sáng tác của Phạm Duy rẽ sang một khúc quặt mới với sự gặp gỡ Phạm Thiên Thư, tức Thiền sư Tuệ Không. Phải nói rằng không gặp Phạm Thiên Thư thì không bao giờ Phạm Duy có ý tưởng viết đạo ca. Sau khi đã đi qua một hành trình sáng tác từ Tâm ca, Tâm phẫn ca, Vỉa hè ca, Tục ca, Chiến ca và nay thì bay lên chín từng không của Đạo ca.

Ở đây, đó là một bước nhảy vào điều mà ông gọi là Đạo ca. Điều gì đã khiến ông thay đổi như thế? Khó hiểu mà cũng dễ hiểu. Chỉ là cái duyên gặp gỡ với Phạm Thiên Thư mà sinh ra cớ sự.
Đầu tiên, Phạm Thiên Thư đưa ông bài thơ: Ngày xưa Hoàng Thị. Thế là có bài Anh tan trường về. Thật dề thương! Ai cũng thích và ai cũng hát. Nhất là trong những buổi họp mặt đông người.

Sau đó, Phạm Duy khoác áo thiền sư.

Khi đạo ca ra đời, ông cũng nhận được một số lời khen của bạn bè như họa sĩ Nguyễn Gia Trí, G.E Gauthier, và như thường lệ có họa sĩ Tạ Tỵ. Những khái niệm hóa thân, đại vũ trụ, đồng nhất thể, mười phương thế giới là một, hòa vào đạo, vào vũ trụ vv…. Tự nhiên, bỗng chốc ông được thừa hưởng hết những tinh hoa, cốt lõi cao diệu ấy, đạt tới chỗ siêu thóat mà chẳng tốn đồng xu cắc bạc nào.

Những lời khen trên có chỗ sai là người ta chỉ biết có ông, tưởng ông là người có những tư tưởng cao diệu mà không lý gì đến Phạm Thiên Thư cả.

Nhưng không sao, kẻ đã bỏ đời mà đi, thong dong đạo cốt theo tiếng chuông “Cam Lộ” như Phạm Thiên Thư thì còn xá gì ba tiếng thị phi. Ông cứ an tâm mà vơ hết về mình đi.

Nhưng Nguyễn Trọng Văn, một lần nữa đứng ở quan điểm con người dấn thân, nhập cuộc chỉ thấy ở đó một thái độ thoát ly, chạy trốn: "Những tư tưởng thoát ly của Đạo ca quả thực là một thái độ chạy trốn …Những tư tưởng thoát ly của Đạo ca quả thực là một cái gì mỉa mai, lạc lõng nếu không phải là một cái gì ru ngủ …Đạo ca không phải một thăng hóa, trái lại là một thái hóa so với tâm ca.., Đạo ca là một nối dài của tình ca, tục ca.. khi những thứ này không đủ sức giúp người thành thị thoát ly khỏi hoàn cảnh đau khổ trước mắt." (9)

Tôi không nghĩ như Nguyễn Trọng Văn, Đạo ca vẫn có chỗ của nó trong thời chiến. Chính ở những tình huống bi kịch đối đầu từng giây phút với cái chết, với khổ đau, Đạo ca là con đường tối ưu dần đưa con người ra khỏi chốn lưu đầy.

Và lúc nào, con người dù hạnh phúc hay khổ đau, thì khát vọng về một thế giới bên trên vẫn là một khát vọng khôn nguôi.

Khát vọng tôn gíáo là một khát vọng bản thể, khát vọng vĩnh hằng.

Sau 1975 tại Hải ngoại

Trước khi chấm dứt hành trình sáng tác của Phạm Duy, chúng ta không quên: Bày chim bỏ xứ mà đến nay tôi chỉ được một lần nghe hát. Hình như số phận của nó cũng giống như số phận một số nhà văn sáng tác sau 1975 ở hải ngọai?

Trong thời kỳ này, từ 1978 về sau , ông sáng tác và phổ nhạc tất cả gần 100 bài hát. Nhưng hầu như không mấy ai biết đến những bài này. Trong đó, tôi đặc biệt để ý đến thơ Cao Tần và thơ Nguyễn Chí Thiện, lọai thơ được coi là Chống Cộng mạnh mẽ nhất đã được ông phổ nhạc. Cạnh đó là những bản nhạc do ông phóng tác như Học Tập cải tạo, Phụ nữ Sàigòn, Độc Lập Tự Do. (Độc lập là mất Cam Ranh, Tự do là bán dân mình cho Nga , No là cơm độn bo bo, ấm là quần rách để thò Bác ra.) Chống Cộng quá đi ấy chứ.

Chỉ có thể nói, đó là Phạm Duy muôn mặt.


Ảnh: vietnamthoinay.com
--------------------------------------------------------------------------------

Chẳng ai còn biết tới những bài này nữa? Nó bỏ xứ mà bơ vơ lạc lõng nơi quê người, như chính thân phận bày chim bỏ xứ? Về già, về lại Việt Nam, một lần nữa, tôi lại được hân hạnh nghe ông trình bày sáng tác mới nhất của ông liên quan đến tác phẩm truyện Kiều. Tôi nghe mà không thấy thích thú gì.

Bữa đó ra về, tôi tự nhủ lòng là Phạm Duy đã hết rồi.
Cuối cùng thì cũng phải nhìn nhận với nhau rằng, có rất nhiều bất cập trong cuộc đời sáng tác của ông. Nhiều bản nhạc của ông cũng như cuộc đời của chính ông, số phận của nó sẽ không còn được ai biết tới.

Nhưng ông cũng đã để lại một số bài tình ca được coi là bất hủ, cũng như một số bài được gọi là dân ca thời kháng chiến khó có thể quên, cộng thêm những bản nhạc hùng, vui tươi dành cho giới trẻ hay du ca: Mẹ Việt Nam, Việt Nam, Việt Nam, Tôi yêu tiếng nước tôi, Em tan trường về… Kể chi hết được.

Một nhận xét nhỏ đây là lần thư hai, tôi đọc hồi ký của ông. Ông không có một lời phỉ báng bất cứ ai, nhất là giới nhạc sĩ. Dĩ nhiên không kể những lời giải thích rất tùy tiện, khá huyênh hoang, rất chủ quan về lý do tại sao sáng tác cái này cái kia.

Cũng trong bài này, tôi không nói tới những mối tình lớn nhỏ của ông. Một phần vì là đời tư của ông, một phần còn có cái gì để nói nữa, vì tự ông đã kể hết ra rồi trong hồi ký. Ai nói thêm nữa là thừa.
Thứ hai, chuyện ông chọn về VN ở tuổi trên 80 là một chọn lựa cá nhân chẳng nên nói tới làm gì. Tìm về VN ở tuổi đời như thế nên được rộng lượng hiểu là chuẩn bị cho một cuộc hành trình về bên kia thế giới như một giấc mơ hoài hương và chẳng nên đem những dấu ấn chính trị để phê phán ông làm gì? Và nếu hiểu con người Phạm Duy thì thấy rõ rằng, ông là người theo chủ nghĩa thực dụng, bất chấp những tiêu chuẩn giá trị người đời thường mang ra dùng để phê phán ông.
Cũng ở đây, tôi nhận ra rằng anh Nguyễn Trọng Văn cũng như bất cứ ai phê phán ông thì đã vấp phải sai lầm là đã đánh giá quá cao về ông, về vai trò người nghệ sĩ, đòi hỏi ở ông những điều ông không có được. Trước sau, ông chỉ là một người theo chủ nghĩa duy lợi, duy thực tiễn, chủ nghĩa cơ hội trong bất cứ tình huống nào.


Chân dung Phạm Duy, tranh sơn mài của Hồ Thành Đức 1995
Nguồn: kicon.com
--------------------------------------------------------------------------------

Sau bài nói chuyện của Nguyễn Trọng Văn tại Đại Học Văn Khoa thì bạn bè có đưa ra nhận xét như sau: “Cậu làm như vậy là cho ông ấy đội mồ đứng dậy, chính cậu tác tượng cho ông ta, chứ đâu phải khai tử ông ấy. Hoặc: “Tư cách của Phạm Duy mà cậu lôi ông vào giảng đường Văn Khoa để nói tức là cậu biến ông ấy thành bất tử rồi, vinh hạnh cho Phạm Duy quá còn gì. Đáng lý phải nói bên cạnh đống rác hay cầu tiêu mới phải.” (10)

Những phát biểu bên lề như thế và một số nhận xét coi ông như một gái điếm đều là những nhận xét xúc phạm đến ông một cách bất công. Thật không nên.

Bài viết này có khen, có chê và cũng nhằm trả lại công đạo cho ông một phần.

Và vì thế câu hỏi ở đầu bài viết sẽ được trả lời là Phạm Duy còn đó và không thể chết, dù muốn dù không, dù thế nào đi nữa, ông cùng với Trịnh Công Sơn là những nhạc sĩ tài ba nhất của miền Nam Việt Nam Công Hòa trước 1975.

Giết ông thì Ta ở với ai?