PDA

View Full Version : Tiếng Việt Tuyệt Vời


WLP
10-05-2006, 04:49 PM
Giới Thiệu Sách: TIẾNG VIỆT TUYỆT VỜI của Ðỗ Quang Vinh

Nguyên Nguyên

Cách đây vài năm, người viết tình cờ mượn được tại một thư viện địa phương quyển Tiếng Việt Tuyệt Vời của Ðỗ Quang Vinh, ấn bản đầu 1994 tại Toronto – Canada. Ðọc qua quyển Tiếng Việt Tuyệt Vời người viết cảm thấy mình khám phá ra một cái gì mới lạ về chính tiếng mẹ đẻ, và thêm ngưỡng mộ khi đọc phần phụ trương, bài thơ thất ngôn bát cú đọc xuôi đọc ngược do ông sáng tác. Rồi thời gian trôi qua mau. Mới đây khi truy cập mạng internet, nhân đọc bài điểm sách của Khải Chính Phạm Kim Thư giới thiệu cuốn “Bút Thuật của Nguyễn Du trong Ðoạn Trường Tân Thanh” do Ðỗ Quang Vinh tự xuất bản, người viết tìm vào trang nhà của tác giả:

www.geocities.com/doquangvinhvenguon

mới có thêm được quyển:

“Tiếng Việt Tuyệt Vời” ấn bản lần thứ hai, năm 2000. [1]

Có nhiều “tăng bổ” trong lần in thứ hai, chính yếu gồm:

- Thơ đọc xuôi đọc ngược, theo Ðường luật và lục bát độc vận liên hoàn thuận nghịch độc;

- Khi nào viết I ngắn, viết Y dài (Chương 6)

- Tiếng Việt với triết lý âm dương và Ðạo Sống Thái Hoà (Chương 8).



Ấn-tượng mạnh mẽ nhất vẫn là cái lối làm thơ “đọc xuôi đọc ngược” của tác giả, không phải chỉ là thơ Ðường luật như lần trước, mà còn đặc biệt thơ lục bát đọc xuôi đọc ngược liên hoàn, lần đầu tiên được đề xuất trên văn đàn Việt-Nam. Lối thơ đọc ngược đọc xuôi này do tác giả sáng tác từng xuất hiện trong tập thơ Về Nguồn do Ðỗ Quang Vinh tự xuất bản (1999). Xin trích dẫn sau đây:



1- VỌNG XUÂN THANH BÌNH



Ðông tàn, đã thắm rộ đào, mai,

Tết chúc mừng: vinh, phúc, lộc, tài.

Sông núi rộn reo hò chốn chốn,

Thị-thành vang hát xướng nơi nơi.

Mong chờ, vẫn biển ngàn ngăn cách,

Ðợi ngóng, hàng năm tháng miệt mài.

Lòng héo úa thêm chồng chất tuổi,

Nông, sâu, đục nước chuyện cùng ai?



Ðọc ngược, sinh ra một bài thơ khác, vẫn giữ tính thơ:



Ai cùng chuyện nước đục, sâu, nông?

Tuổi chất chồng thêm héo úa lòng.

Mài miệt tháng năm hằng ngóng đợi,

Cách ngăn ngàn biển vẫn chờ mong:

Nơi nơi xướng hát vang thành thị,

Chốn chốn hò reo rộn núi sông,

Tài, lộc, phúc, vinh, mừng chúc Tết,

Mai, đào rộ thắm, đả tàn Ðông.



2. VỌNG CỐ HƯƠNG

[lục bát độc vận liên hoàn thuận nghịch độc )



(2 câu đầu đọc xuôi, 2 câu kế tiếp đọc ngược)



Chang chang nắng nhuộm nương đồng,

Mông mênh vàng thắm núi sông buôn làng.

Ðồng nương nhuộm nắng chang chang,

Làng buôn sông núi thắm vàng mênh mông.



Trông vời tổ quốc Tiên Rồng

Bồng bềnh mong nhớ nặng lòng sao đong?

Rồng Tiên quốc tổ, vời trông,

Ðong sao lòng nặng nhớ mong bềnh bồng



(liên hoàn, đọc trở lại liên tiếp)

Chang chang nắng nhuộm nương đồng,

v…v… (trang 33)



Cũng vẫn lối thơ đọc xuôi đọc ngược, sau này trong bài “Hồn Nước Trong Thơ Việt” đăng ở tạp chí Ðịnh Hướng Paris số 28 và 29 mùa đông 2001, tác giả lại đề xuất thêm một khám phá mới là thơ song thất lục bát đọc xuôi đọc ngược liên hoàn. Ðiều này đã làm tăng sức thuyết phục “Tiếng Việt” quả thật “Tuyệt Vời.”



Ðiểm sáng chói nhất của “Tiếng Việt Tuyệt Vời” ấn bản 2000, có lẽ la` lối bố cục chặt chẽ của quyển sách. Với chủ yếu chứng minh tại sao tiếng Việt lại tuyệt vời, và tuyệt vời ở chỗ nào. Tựu trung quyển sách có 8 chương, cộng với phần Kết Luận, Phụ Lục và Tài Liệu Trích Dẫn. Dẫn chứng gần như ở mỗi trang là những câu ca dao, thành ngữ, lối chơi chữ, nói lái, những thứ tiếng đôi, tiếng kép, . . . . Luôn cả những câu nói châm biếm xuất hiện từ chốn dân gian. Kể cả những câu thường dùng ở Sàigòn trong những năm cuối thập kỷ 1970.



Chương 1 trước hết phân tích thật kỹ tính chất cơ bản của cấu trúc đơn âm. Ðơn âm hay chỗ nào và đóng góp vào “tuyệt vời” ra sao. Ngoài ở cấu trúc đơn âm, tuyệt vời của tiếng Việt nằm ở chỗ ai học cũng được! Một loại ngôn ngữ rất dễ học, không ép buộc người xử dụng phải uyển chuyển thay đổi giống đực giống cái, hay chia động từ và giới từ như tiếng Pháp, tiếng Ðức, tiếng Nga, cổ ngữ La-tinh, v.v.



Nhưng dễ không có nghĩa không phức tạp, không độc sáng, và không giàu ngữ tính. Qua nhiều thí dụ viện dẫn, người đọc có thể thấy ngay muốn dịch hết một lô các từ chỉ trạng thái, người dịch chắc phải cùng một lúc Hàn Lâm Viện Học Sĩ tại Việt Nam và cũng một nhà thông thái về ngôn ngữ học tại một quốc gia khác. Thí dụ làm thế nào để dịch tất cả các lối nói sau đây ra tiếng Anh, dùng để tả lối ngồi - ngồi ghép thêm với một số thuộc từ: ngồi xổm, ngồi bó gối, ngồi duỗi chân, ngồi xếp bằng tròn, ngồi chống nạnh, ngồi bắt chân chữ ngũ (ngồi bắt chéo), ngồi vắt vẻo, ngồi nghễu nghện, ngồi ngất ngểu, ngồi nhấp nhổm, ngồi bảnh choẹ, ngồi một đống, . . . (trang 83, Chương 3).



Chương 2 và Chương 3 nhắc nhở chúng ta tiếng Việt giàu ý tứ, súc tích, và giàu từ. Giàu ý tứ nhờ ở tính cách đa dạng của tiếng Việt qua việc vay mượn nhiều từ ngữ ở kho tàng Hán Việt. Rồi ở lối tượng thanh tượng hình, gợi cảm. Thí dụ, cũng cùng một mô tả trạng thái hoặc hình dung “Cao”, tiếng Việt có: Giọng hát cao vút. Tiếng sáo vi-vu. Núi cao vòi vọi. Tháp vươn chót vót. Nỗi buồn rười rượi. Niềm yêu da diết, v.v. Rồi nước mưa: Mưa lộp độp trên mái ngói, lẹt đẹt trên sân gạch, gõ lùng tùng vào mái tôn, rỏ tí tách dưới mái hiên, rơi long tong vào bể nước, chảy ồ ồ từ cống rãnh tuôn ra, đổ ào ào như thác lũ.



Giàu tứ ở chỗ các tiếng được tạo nên bởi cảm xúc, như ca dao:
Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa như ngồi đống than



Ở chỗ nhiều từ mang đồng âm dị nghĩa, một lời nhưng hai nghĩa.

Gái Ðồ Sơn sơn đồ ngắm Ðồ Sơn
Trai Hòn Lớn lớn hòn giữ Hòn Lớn [2]



Cũng ở chỗ tuỳ theo giọng nói, tuy cùng một từ:

Họ giàu họ nghinh hôn giá thú

Hai đứa mình nghèo dụ dỗ nhau đi (Ca dao)

So sánh với:

Họ là những anh hùng không tên tuổi

Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông (Ðằng Phương)



“Họ” trong hai trường hợp trên thường mang phát âm khác nhau. “Họ” trong ca dao mang ý coi thường khinh thị, nhưng trong hai câu thơ sau mang ý kính phục.[3]



Theo tác giả những biểu từ khả xúc không những là nhớ tính tiếng tượng thanh, tượng hình, gợi cảm, như vừa đề cập, mà còn là nhờ vận dụng cách phát âm và sử dụng dấu giọng để hình thành. Chẳng hạn trong đoạn văn phân tích thật thấu đáo câu thơ sau đây, tác giả đã cho người đọc thấy tại sao nó hay, hay đến thế nào, và hay như thế nào?

“Những luồng run rẩy rung rinh lá”

Những biểu từ “run rẩy, rung rinh” hết sức gợi hình do cách xử dụng phụ âm và mẫu âm. Phụ âm R bắt phải cong và rung đầu lưỡi cho ta hình dung ngay ra dao động của lá cây, hình như cũng đang chia sẻ cái giá rét mà run lẩy bẩy. Âm “un, ây” trong động từ “run rẩy” được thêm dấu trắc-thanh (dấu hỏi) có giọng đọc mạnh và khắc khổ hơn cho ta nhìn thấy lá cây chợt rung động mạnh khi luồng gió ùa tới len lỏi qua cành cây kẻ lá. Rồi từ âm “ung” sang âm “inh”, môi đang chúm lại, chợt khẻ mở dài sang hai bên mép, phát âm nhịp nhàng như cử động nhịp nhàng của nhánh lá dập dềnh lên xuống. Những phân tích về tác động của cách phát âm, của dấu giọng còn được tác giả trình bày nhiều, nhiều nữa. Nói chung, cấu trúc của những biểu từ, tượng thanh, rất thông thường gợi hình được bởi lối sử dụng đắc cách các phụ âm và mẫu âm thích hợp, bắt vận dụng thích nghi lưỡi và môi miệng, cũng như gieo “nốt” nhạc cho từ. (trang 39-40).



Theo sự phân tích tỉ mỉ của tác giả, tiếng Việt so với rất nhiều ngôn ngữ rất giàu từ. Ðầu tiên phải kể đên cách xưng hô: Cụ, ông, bà, anh, chị, mày, mi, . . . Sau đó cùng một thứ động tác, tiếng Việt có rất nhiều cách diễn tả. Mang cùng nghĩa với động từ porter trong tiếng Pháp, tiếng Việt có: mang, bưng, bồng, vác, đem, cắp, gánh [4]. Thể phủ định gồm: Không, Khôn (khôn lường), chẳng, chả (em chả dám đâu),. . .



Giàu từ còn ở chỗ tiếng Việt bởi lợi điểm đơn âm có rất nhiều kiểu “nói lái”. Thí dụ: thủ tục “đầu tiên” mang nghĩa “tiền đâu”, “chà đồ nhôm = chôm đồ nhà”,. . . Và ở chỗ mỗi địa phương thường có một số phương ngữ khác nhau, . . .



Chương thứ 4, tác giả phân tích “sự việc” tiếng Việt không ngừng sáng tạo. Nhưng lối sáng tạo rất độc sáng, khác rất xa những sinh ngữ khác. Ðây chính là điểm tuyệt vời mang đầy tính đặc trưng tiếng Việt. Thí dụ, bằng lối thay đổi dấu: xinh xỉnh là xinh, bé tỉ tì ti. Hay bằng lối điệp ngữ mang ý nghĩa khác: Đo đỏ = hơi đỏ. Vòng ngọc màu xanh xanh = xanh hơi nhạt. Hoặc theo lối kết hợp từ: an-vui, loanh quanh, luẩn quẩn, cảm nghĩ= rung cảm và suy nghĩ, tạo dựng= tạo lập + xây dựng.



Chương thứ 5 viết về tính cách duyên dáng của tiếng Việt. Từ những lối nói bóng bảy, xỏ xiên, cay độc, đến lối dí dỏm mang đầy tính cười đùa. Tác giả cũng phân tích trong Chương này phát âm mang đầy nhạc tính của tiếng Việt do ở tính trầm bổng uyển chuyển của các dấu và đặc tính của đơn âm. Ðể chứng minh tính nhạc là một nét đặc thù của tiếng Việt, tác giả minh họa thang âm tiếng Việt đối chiếu với khuôn dang của dòng nhạc.



Chương 6 là một Chương khá dài phân tích Âm và Thanh trong tiếng Việt. Chương này dùng nền tảng khoa Ngữ Học để phân tích các tương quan giữa nguyên âm, mẫu âm và phụ âm. Rồi dẫn đên việc phân tích rất nghiêm túc vấn đề: Khi nào dùng I-ngắn – khi nào dùng Y-dài. Phân biệt giữa C và Q. Ðây chính là một trong những cái “đinh” của quyển sách. Mặc dù xử dụng nhiều ngôn từ của ngành Ngữ Học, nhưng khác với những bài viết của nhiều nhà ngữ học, lời văn của Chương 6 này rất đơn giản và dễ hiểu. Một vài sưu tầm về khác biệt trong lối phát âm theo địa phương cũng được trình bày trong Chương này. Ông cũng phân tích một cách thuận lý khi phân biệt mẫu âm chính gốc với mẫu âm biến dạng thay vì một số người quen gọi vần xuôi vần ngược, và rất tỉ mỉ khi mô tả những điểm phát âm với cách vận dụng môi miệng răng lưỡi.



Chương 7 và Chương 8 dành ở phía cuối nhìn tiếng Việt từ một góc cạnh lịch sử và triết học. Chương 7: Tiếng Việt và Vận Mệnh Quốc Gia. Chương 8: Tiếng Việt với Triết Lý Âm Dương và Ðạo Sống Thái Hoà. (Chương 8 được bổ túc trong ấn bản lần thứ 2). Hai chương này đã chứng minh trên góc nhìn “vĩ mô” tại sao tiếng Việt tuyệt vời như vậy. Chương 7 cho thấy tiếng Việt vẫn giữ vẹn bản sắc của nguồn cội dân tộc Việt Nam. Ðó là nguồn cội Mã Lai và Ða Ðảo, khác biệt với Hán tộc ở Bắc phương. Chương 8 có lẽ sáng chói nhất với giải thuyết tiếng Việt phản ảnh đầy đủ triết lý Âm Dương và Ðạo sống Thái Hoà của dân Lạc Việt. Tác giả kết nối những hình vẽ biểu hiệu cho Triết Việt trên những trống đồng Ðông Sơn, trong cổ thư, đến tính chất Âm Dương trong tiếng Việt.



Những gì có thể biểu tượng cho triết lý Âm Dương trong tiếng Việt?

Theo giáo sư Ðỗ Quang Vinh, “cơ cấu song hành” trong những điểm đặc trưng sau đây của ngôn từ tiếng Việt chính là biểu tượng triết lý Âm Dương của dân Lạc Việt:

(i) Lối nói đối xứng: Bề ngoài thơn thớt nói cười / Mà trong nham hiểm giết người không dao (Kiều).

Trong ngữ vựng ta có: lòng người đen-bạc / biết đường lui tới
Trong thành ngữ: nói trước quên sau / than dài thở vắn

Trong tục ngữ, ca dao: Thương nhau lắm, cắn nhau đau / Hòn đất ném đi, hòn chì ném lại.

(ii) Lối cấu trúc song trùng:

Theo lối lập lại: Ðêm sao đêm tối mãi mò-mò (Trần Tế Xương)

Buồn trông nội cỏ rầu rầu

Chân mây mặt đất một mầu xanh xanh (Kiều)

Theo lối kết hợp: lung-lay, lăn lộn, quá quắt, ôm ấp, viết lách, hiền lành, .v.v.

Theo lối ghép tiếng đệm: hay ho, rác rưởi, rải rác, gồ ghề, ngỡ ngàng, tan tành

Ðơn giản hoá cụm từ thành còn 2 từ: một trăm ba mươi => trăm ba



Về mặt ngữ pháp, triết lý Âm Dương được thể hiện qua các loại từ, như phân biệt tĩnh với động, như phân biệt giống đực giống cái nhưng không có trung tính, như cấu trúc lưỡng âm của tiếng Việt.



Nguyên lý Âm Dương và đạo sống Thái hoà của Việt tộc còn được quyển sách diễn giải, trong Chương 8, qua những điểm đặc thù của ca dao Việt Nam, của tiến trình thuận lý tự nhiên, của phân tán nhị nguyên phối hợp với huyền đồng nhất thể, v.v.



Nhìn chung, “Tiếng Việt Tuyệt Vời” của Gs Ðỗ Quang Vinh là một quyển sách với lối hành văn giản dị trong sáng nhưng không kém phần uyển chuyển thanh tú. Những thí dụ viện dẫn trong bài tự chúng cũng là một nguồn tài liệu tham khảo hiếm có về ngữ ngôn tiếng Việt với những đặc tính tuyệt vời. Ðối với một hai chương cần sử dụng ngữ học, có lẽ không như những quyển sách hoặc bài viết của những nhà ngữ học uyên bác, quyển sách lần đầu tiên đã trình bày vấn đề cho người đọc thuộc mọi giới có thể đọc và hiểu được dễ dàng.



Tuyệt vời của “Tiếng Việt Tuyệt Vời” là ở chỗ đó..


Ghi Chú

[1] Bởi các sách của Gs Ðỗ Quang Vinh không có bày bán ở các tiệm sách, nên đối với những quý vị ít dịp truy cập internet, xin ghi lại địa chỉ tác giả:

Do Quang Vinh
5405 Kinglet Av.
Mississauga, Ontario, L5V 2C8, Canada
Tel: (905) 814-8708
e-mail: vinhdo33@yahoo.com

[2] Các câu đối này có lẽ là cội nguồn của các câu hiện đại, không được thanh:

Gái Củ Chi chỉ . . . hỏi Củ Chi.

Trai Ðà Lạt lạc đà rời Ðà Lạt

[3] Xin góp ý: Ngôn ngữ nào cũng vậy, nhưng nhấn mạnh ở chỗ tiếng Việt không thua tiếng nào hết ở phương diện này. Tùy theo cách nhấn mạnh phát âm, một từ có thể mang dụng ý hoặc ý nghĩa khác. Thí dụ trong tiếng Anh độc sáng nhất có lẽ ở câu nói rất giản đơn: I had it. Nếu phát âm HAD theo kiểu vui, thoả mãn, “I had it” có thể mang nghĩa: Tôi đạt được rồi, tôi có chiếc xe đẹp đó rồi, tôi được thị thực xuất ngoại rồi, tôi mua được vé máy bay đi Hạ Uy Di, . . . Nhưng nếu đọc nhanh HAD và HAD__ IT liền nhau, I had it hoàn toàn mang ý nghĩa BAD LUCK! thiếu may mắn. I had_it có thể mang nghĩa: Tôi bị phá sản rồi. Ðào nhí đã bỏ tôi rồi. Một nhân viên trụ cột của hãng tôi đã từ chức. Tôi bị thua lỗ vì cổ phiếu Dot.Com bị sụt giá dữ dội.

[4] Cũng giống như ghi chú [2]: sinh ngữ nào cũng vậy. Cũng cùng một ý nhưng rất nhiều từ khác nhau được dùng diễn tả ý đó. Thí dụ “porter” tiếng Tây, tiếng Anh là “to carry”. Tra một quyển tự điển Thesaurus ta sẽ thấy những động từ đồng nghĩa hoặc tương đương với “to carry” gồm có: to bear, to bring, to haul, to transport, to convey, to move, to send, to pass, to cart, to take, v.v.

http://www.dunglac.net/nguyennguyen/TiengViet.htm

WLP
10-06-2006, 02:12 PM
22 tháng 06 năm 2006

Thi hào Nguyễn Du ra đời trong hậu bán thế kỷ 18. Tôi thường tự hỏi có phải trong thời điểm ấy Thượng Đế đã „nổi hứng“ rộng lượng và công bình mà ban cho nhân loại những thiên tài văn chương xuất chúng chăng? Như Goethe sinh năm 1749 tại Đức Quốc, Nguyễn Du sinh năm 1765 tại đất nước chúng ta, Chateaubriand sinh năm 1768 tại Pháp Quốc, và Wordsworth sinh năm 1770 tại Anh Quốc. Goethe, đệ nhất văn hào dân tộc Đức, năm mới 25 tuổi đã viết cuốn truyện tình bi đát mang tên DIE LEIDEN DES JUNGEN WERTHERS (Những nỗi ưu sầu của chàng trai trẻ Werther) để nói về mối ưu sầu thực sự của chính ông: Goethe đã gặp và yêu say đắm trong tuyệt vọng một phụ nữ đã đính hôn với người khác. Câu chuyện lãng mạn và bi thảm ấy khiến ông lẫy lừng danh tiếng khắp Âu Châu và cũng làm cho một vài giai nhân đa sầu đa cảm đang thất tình giống người trong truyện nhảy xuống hồ tự tử mà trong tay còn nắm chặt cuốn tiểu thuyết kia! Chateaubriand có thể được coi là nhà văn tiên khởi của trào lưu văn chương lãng mạn nước Pháp qua cuốn tiểu thuyết ATALA, một câu chuyện vừa buồn vừa mãnh liệt đam mê trong khung cảnh thiên nhiên rực rỡ của rừng núi Bắc Mỹ, nơi mà Chateaubriand thường thăm viếng và làm quen với các sắc dân da đỏ. Và Wordsworth, đệ nhất thi nhân bên trời Anh Quốc, năm chưa đến 30 tuổi đã cùng Coleridge xuất bản tập thơ LYRICAL BALLADS, mở đầu cho thời đại thi ca lãng mạn trong văn học quốc gia ấy. Wordsworth say mê thiên nhiên và có biệt tài dùng ngôn ngữ bình dị dễ hiểu để diễn tả những cảm xúc tràn bờ trước vẻ đẹp của rừng, của núi, của giai nhân. Tôi nhớ mãi những câu thơ sau đây của Wordsworth để tả một kiều nữ bí mật sống giữa thiên nhiên mang tên Lucy mà thi nhân ví như một bông hoa đổng thảo:

A violet by a mossy stone

Half-hidden from the eye

Fair as a star, when only one

Is shining in the sky



Thế còn Nguyễn Du của chúng ta thì sao? Hãy nghe lời người ngoại quốc ca ngợi thi hào họ Nguyễn trước đã. Thi sĩ lẫy lừng người Ấn Độ chuyên làm thơ bằng tiếng Anh mang tên Rabindranath Tagore (giải Nobel văn chương 1913) khi viếng thăm Việt Nam năm 1929 đã coi Nguyễn Du là vị thi sĩ đứng thứ 3 trong hàng ngũ những thi sĩ muôn thuở, chỉ sau Lý Bạch và Victor Hugo (theo học giả Thái Văn Kiểm). Văn sĩ Pháp René Crayssac đã dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp và cho rằng áng văn kiệt tác của Nguyễn Du có thể so sánh mà không sợ kém các văn chương kiệt tác, vô luận ở thời nào và ở xứ nào (theo học giả Đào Duy Anh). Như vậy thì thiên tài thi ca họ Nguyễn của chúng ta khi đứng cạnh những đại danh văn chương của nhân loại cũng ngang ngửa với họ, cũng đều “mười phân vẹn mười” cả, nhưng riêng đối với tôi thì đọc thơ Nguyễn Du thích thú gấp bội phần đọc các tác phẩm của các vị “ngoại quốc” kia, vì tôi là người cùng một ngôn ngữ và văn hóa với Nguyễn Du.



Nguyễn Du (ND) sinh năm 1765 trong một danh gia vọng tộc. Cha là Hoàng Giáp Nguyễn Nghiễm, người Hà Tĩnh, làm Thủ Tướng triều Lê. Mẹ là Trần Thị Tần, người Bắc Ninh, kém chồng 32 tuổi. ND mồ côi cha năm 11 tuổi và mồ côi mẹ năm 13 tuổi. Anh cả là Tiến Sĩ Nguyễn Khảm, Thượng Thư bộ Lại, anh thứ hai là Nguyễn Điều từng làm Trấn Thủ Sơn Tây. Năm 1783, lúc 18 tuổi, ND đậu Tam Trường (Tú Tài); cùng năm này, một người anh tên là Nguyễn Đề đậu thủ khoa kỳ thi Hương (Cử Nhân). Tình hình chính trị lúc ấy thực bất ổn. Năm 1788 Lê Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh; Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế ở Huế. Năm 1789 Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. Năm 1802 Gia Long diệt Tây Sơn, bắt đầu triều Nguyễn; ND làm tri huyện Phù Dung (thuộc Hưng Yên ngày nay), mấy tháng sau thăng tri phủ Thường Tín (thuộc Hà Tây ngày nay). Năm 1809 ND làm cai bạ ở Quảng Bình. Năm 1813 ND thăng cần chánh điện học sĩ, chánh sứ sang nhà Thanh. Năm sau đi sứ về, thăng tham tri bộ Lễ. Năm 1820 Gia Long mất, Minh Mệnh nối ngôi. ND được cử chánh sứ sang Tàu báo tang và cầu phong, nhưng chưa kịp lên đường thì bị bệnh và qua đời, thọ 56 tuổi.



Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa biết rõ là khi nào ND viết Truyện Kiều (Đoạn Trường Tân Thanh) trước hay sau khi đi sứ sang Trung Quốc năm 1813. Theo Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim thì Truyện Kiều (TK) bắt nguồn từ một tiểu thuyết Tàu của tác giả Thanh Tâm Tài Nhân, văn chương tầm thường, về một người đàn bà tài sắc, có lòng trung, hiếu, tiết nghĩa, mà đời bị bèo giạt hoa trôi. ND bỏ bớt những chỗ rườm rà, thô lỗ, dơ bẩn. So với tiểu thuyết Tàu thì TK của ND thanh nhã và văn vẻ hơn nhiều. Hà Như Chi, khi so sánh TK với tiểu thuyết Tàu nguyên thủy, nhận định TK là một công trình nghệ thuật cân đối hoàn hảo, kết cấu chặt chẽ, tình ý đậm đà khéo léo, văn chương tươi đẹp, thắm đượm màu sắc Việt Nam và dẫy đầy thi vị.



Vẫn theo Hà Như Chi, một nàng Kiều tài hoa duyên dáng như thế lại là nạn nhân của một số mệnh vô cùng khắt khe đã đánh mạnh vào tâm hồn ND và thúc giục cụ viết nên TK để hả hê những mối cảm tình đối với một người đã được cụ xem như đồng hội đồng thuyền với mình: ND phải quên nhà Lê mà ra làm quan với nhà Nguyễn thì có khác chi, vì chữ “mệnh” oái oăm, nàng Kiều phải bỏ Kim Trọng mà chịu bước giang hồ? Đúng là:

Vui là vui gượng kẻo là,

Ai tri âm đó mặn mà với ai?



Nội dung TK gồm 3254 câu thơ lục-bát có thể chia làm 3 phần: (1) Thúy Kiều và Kim Trọng gặp gỡ và gắn bó với nhau; (2) Những nỗi khổ của Thúy Kiều trên bước đường luân lạc; và (3) Kim-Kiều tái ngộ. TK còn là một tác phẩm chứng minh cho định luật “tài mệnh tương đố”: Kiều là kẻ tài hoa nên phải mệnh bạc. Trong phần kết, may thay, ND cũng cho chúng ta tin tưởng rằng thiện tâm có thể cải hóa được số mệnh:

Thiện căn ở tại lòng ta

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài



Những phân đoạn chính trong TK như sau: Phần (1): (a) Xác định thuyết tài mệnh tương đố , (b) Kiều gặp Kim Trọng, (c) Kiều và Kim Trọng thề thốt gắn bó. Phần (2): (a) Gia biến nàng Kiều, (b) Mã Giám Sinh mua Kiều, (c) Kiều phó thác tâm sự cho em, (d) Mắc tay Tú Bà, (e) Đi trốn với Sở Khanh, (f) Kiều tiếp khách trong lầu xanh, (g) Kiều được Thúc Sinh chuộc ra, (h) Mắc tay Hoạn Thư, (i) Đi trốn, (j) Giác Duyên sợ liên lụy, gửi Kiều cho Bạc Bà, (k) Bạc Bà lừa dối, Kiều lại bị bán vào lầu xanh, (l) Được Từ Hải chuộc ra, (m) Kiều báo ân báo oán, (n) Mắc mưu Hồ Tôn Hiến, Từ Hải bị giết, (o) Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường, (p) Giác Duyên vớt Kiều. Phần (3): (a) Kim Trọng trở lại vườn Thúy, (b) Lấy Thúy Vân, (c) Làm quan ở Lâm Tri , (d) Tìm Kiều ở Hàng Châu, (e) Giác Duyên đưa đến gặp Kiều, (f) Kim-Kiều xem nhau như bạn, (g) Kiều đánh đàn kết liễu đời bạc mệnh, (h) Kết thúc: Thiện tâm sửa được số mệnh.



Chúng ta đã nghe người ngoại quốc ca tụng TK trên đây, và bây giờ chúng ta tìm hiểu xem các nhà phê bình văn chương người Việt nghĩ gì về tuyệt tác phẩm này của Nguyễn Du. Tôi xin đóng góp trong phần này này bằng cách tóm lược một số nhận định về giá trị TK của các nhà phê bình tên tuổi từ trước đến nay để chúng ta có một cái nhìn bao quát.



PHẠM QUỲNH: Sau khi cho rằng TK của ND hay hơn cả văn chương của Khuất Nguyên bên Tàu và văn chương của Racine và Bossuet bên Tây, Phạm Quỳnh trong ngày giỗ ND năm 1924 tại Hà Nội đã thề trước anh linh thi hào họ Nguyễn rằng “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn, còn non còn nước còn dài, chúng tôi là kẻ hậu sinh xin dầu lòng dốc chí cố gia công trau chuốt lấy tiếng quốc âm nhà, cho quốc hoa ngày một rực rỡ, quốc hồn ngày một tỉnh táo, quốc vận ngày một vẻ vang, ngõ hầu khỏi phụ cái chí hoài bão của tiên sinh, ngậm cười chín suối cũng còn thơm lây” (Tạp chí Nam Phong, tháng 8, 1924). Vì những lời này mà Phạm Quỳnh bị hai cụ nghè Ngô Đức Kế và Huỳnh Thúc Kháng xỉ vả thậm tệ (tôi sẽ nói tiếp về vụ này ở một đoạn sau).



NGUYỄN TƯỜNG TAM: Nhà văn thủ lãnh của Tự Lực Văn Đoàn viết trong Tạp chí Nam Phong năm 1924: “Cái làn sóng thơ Kiều hình như lai láng khắp cõi Nam. Trừ những câu ca dao ra, thật không có quyển truyện nào phổ thông trong đám dân gian bằng Truyện Kiều. Vì văn Kiều hay quá, nên những người nhà quê không có học thức cũng thích xem và thích ngâm nga. Nhưng nói đến cái hay của văn Kiều thì chưa biết thế nào mà kể được... Tôi xin nói quyết một lời rằng MONG ĐƯỢC MỘT QUYỂN TRUYỆN NÀO HAY HƠN TRUYỆN KIỀU LÀ MỘNG TƯỞNG. Cái trình độ thơ quốc ngữ đến như thế là tuyệt đích rồi ...” Nhận định về câu thơ thuộc loại “văn hữu dư ba” là câu “Lơ thơ tơ liễu buông mành”, Nguyễn Tường Tam thấy ba chữ “lơ thơ tơ” nghe rất êm tai, hay về phần tưởng tượng ít mà hay về phần âm điệu êm ái nhiều hơn. Và câu “Nách tường bông liễu bay ngang trước mành” ông thấy rất hay về cảnh sắc. Ông cũng thấy trong TK nhiều chỗ cảnh và người có liên lạc, đúng như:

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ



Như lúc Thúc Sinh trở về với Kiều, trông ra cảnh vật cũng hình như chia vui với mình:

Long lanh đáy nước in trời

Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng



Và khi Kiều và Kim gặp nhau lần đầu, lúc từ giã, cô Kiều còn trông theo, nhưng nào thấy gì đâu, chỉ thấy:

Dưới cầu nước chảy trong veo

Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha



Hai câu đệm ấy vào thật là tả rõ được cái buồn, cái nhớ của cô Kiều mà hình như cảnh vật cũng âu sầu!



VŨ ĐÌNH LONG: Lấy âm nhạc làm ẩn dụ để lượng giá TK, phê bình gia Vũ Đình Long viết trong Tạp chí Nam Phong năm 1924 rằng “TK thực là một cây đàn tuyệt quý không phím không dây. Tác giả lấy đầu lưỡi mà nẩy lên tiếng, mỗi đoạn văn là một cung, mỗi câu văn là một điệu, mỗi chữ là một tay nỉ non thánh thót, réo rắt tiêu tao, đêm khuya canh tĩnh mà nghe người tốt giọng ngâm Kiều thì còn đàn nào hay bằng nữa ... Cụ ND không phải là nhà thi sĩ, cụ chính là THẦN THƠ vậy!” Theo Vũ Đình Long, những câu Kiều nói với chàng Kim thật hay thật tình, như :

Thưa rằng đừng lấy làm chơi

Rẽ cho thưa hết một lời đã nao



Chữ “rẽ” dùng có thần tình không? Ta thấy hình như nàng Kiều lấy tay gạt chàng Kim ra vậy! Năm lần láy chữ “còn” trong hai câu thơ sau đây là một tuyệt chiêu, như thể một lời thề nguyền vĩnh cửu:

Còn non, còn nước, còn dài

Còn về còn nhớ đến người hôm nay



Tình nhân tương tư nhau là những cảnh não nùng mà ND tả rất khéo. Chàng Kim nỗi lòng canh cánh luôn nghĩ đến người đẹp đã gặp trong ngày hội Đạp Thanh:

Sầu đong càng lắc càng đầy

Ba thu dọn lại một ngày dài ghê!



Đêm không ngủ được, vẩn vơ ngọn đèn tàn:

Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao

Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng



Cậu đồ đã mang nặng gánh tương tư thì còn thiết gì đến sách, đến bút, đến đàn:

Phòng văn hơi giá như đồng

Trúc xe ngọn thỏ, tơ chùng phím loan



Ngồi nghe tiếng gió đập vào mành cũng nhớ đến ai - vì nhớ nhung mà trà mất ngon, mùi hương kém ngát:

Mành tương phân phất gió đàn

Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình



LƯU TRỌNG LƯ: Để “đáp lễ” lời cụ nghè Ngô Đức Kế cho rằng TK “chỉ là một thứ văn chương ngâm vịnh chơi bời, để lúc thanh nhàn mà đọc đôi câu cho tiêu khiển, chứ không phải là một thứ văn chương chính đại theo đường chính học, mà đem ra dạy đời được đâu” (báo Hữu Thanh, tháng 9 năm 1924) và nhất là lời kết tội gay gắt của cụ nghè Huỳnh Thúc Kháng rằng “Truyện Kiều là một thứ dâm thư, rõ không ích mà có hại ... Hiện xã hội ta ngày nay mà diễn ra những tuồng thương phong, bại tục kia, cái giống độc con đĩ Kiều gieo vào trong cõi tư tưởng không phải là ít...” (báo Tiếng Dân, tháng 9 năm 1930), Lưu Trọng Lư viết trong tuần báo Phụ Nữ Thời Đàm vào cuối năm 1933: “Ai muốn làm thánh hiền thì đi đọc Ngũ Kinh, Tứ Thư. Hãy để Truyện Kiều lại cho bọn chúng tôi là hạng người trong những phút mệt nhọc, buồn rầu, chán nản, cần phải ngâm nga những câu như:

Dưới cầu nước chảy trong veo

Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha



ĐÀO DUY ANH: Để kết luận tập “Khảo Luận về Kim Vân Kiều” xuất bản năm 1943, học giả Đào Duy Anh khẳng định “Nguyễn Du đã gieo trong lòng ta một mối tin chắc chắn, một mối hy vọng dồi dào với tiếng nói của ta”. Cũng theo ông, ở thời Lê mạt, ta đã thấy có những tác phẩm có giá trị như Cung Oán Ngâm Khúc, Chinh Phụ Ngâm, Phan Trần Truyện, Hoa Tiên Ký ... viết bằng quốc âm, nhưng lời văn điêu trác, hay dùng điển cố, cho nên chỉ được các hạng thượng lưu trí thức thưởng lãm, mà không phổ cập trong dân gian. Duy Truyện Kiều văn chương đủ tính nghiêm trang, đường hoàng, điêu luyện, đủ khiến cho kẻ học thức phải khâm phục và yêu mến, mà lại đủ cả tính giản dị, phổ thông để khiến cho bình dân hiểu được mà thưởng thức.



TRẦN TRỌNG KIM: Trong cuốn “Truyện Thúy Kiều” do Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo xuất bản năm 1925, học giả Trần Trọng Kim viết: “ND khéo dùng lối hoạt họa, chọn cái hình dáng nào rõ thật nổi, rồi tìm một vài chữ thật đúng mà tả ra, hễ đọc qua là nhận ngay được chân tướng:



Kim Trọng:

Phong tư tài mạo tuyệt vời

Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa



Mã Giám Sinh:

Quá niên trạc ngoại tứ tuần

Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao



Tú Bà:

Thoắt trông nhờn nhợt màu da

Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao



Sở Khanh:

Một chàng vừa trạc thanh xuân

Hình dong chải chuốt, áo khăn dịu dàng



Từ Hải:

Râu hùm hàm én mày ngài

Vai năm tấc rộng thân mười thước cao



HOÀI THANH: Theo bài viết “Quyền Sống Của Con Người Trong Truyện Kiều” của nhà phê bình Hoài Thanh năm 1949, nếu nói về mức độ “say” Truyện Kiều thì không ai bằng ông nghè Chu Mạnh Trinh (một con người hào hoa phong nhã kiểu Kim Trọng). Nhà thơ lãng mạn này không phải chỉ say văn chương Truyện Kiều mà lại còn say luôn cả nàng Kiều như say một giai nhân có thực, đến nỗi đã nói đến những chuyện si tình như thêu tên Kiều vào tay áo, mơ tưởng dựng một ngôi nhà vàng cho Kiều ở, mượn cỏ thơm gọi hồn Kiều về, và thấy như Kiều về thật! Chuyện lạ đời này cũng có thể hiểu được, vì theo Hoài Thanh, “ND có thể dạy cho ta biết ghét, biết yêu. Ghét những cái bất lương trong xã hội. Yêu những cảnh sống đáng yêu và nhân đó tránh cuộc sống tẻ nhạt, hiu hắt, cuộc sống của cỏ cây... Những cử chỉ uể oải, những câu nói thiếu lòng tin, những cái nhìn hời hợt, những tâm tư mệt nhọc hình như đương chờ đợi một cơn gió nào ... TK ngay giờ đây vẫn còn khả năng cải tử hoàn sinh, vẫn có thể gieo chất nồng say vào cuộc sống...”



NGUYỄN LỘC: Trong cuốn sách “Văn Học Việt Nam Nửa Cuối Thế Kỷ 18” xuất bản năm 1997 tại Hà Nội, nhà biên khảo Nguyễn Lộc có những nhận xét tinh tế về cách sử dụng ca dao, tục ngữ trong TK, mà tôi xin tóm lược trong những đoạn dưới đây:



Có thể nói trong TK có hàng mấy chục câu thơ ND trực tiếp rút ra từ ca dao. Rất có thể hai câu:

Vầng trăng ai xẻ làm đôi

Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường



là rút ra từ câu ca dao:

Tiễn đưa một chén rượu nồng

Vầng trăng xẻ nửa tơ lòng đứt đôi



Ca dao trong TK được ND sử dụng như một thứ chất liệu nghệ thuật, chứ không như những trích dẫn. Không có câu nào ND dùng lại nguyên vẹn, mà tất cả đều nhào nặn lại cho phù hợp với phong cách chung của nhà thơ trong tác phẩm. TK có những câu thơ không thấy dấu vết cụ thể của ca dao, mà ai cũng nhận ra ảnh hưởng của ca dao, như :

Xót thay huyên cỗi xuân già

Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi

Chốc đà mười mấy năm trời

Còn ra khi đã da mồi tóc sương



ND cũng dùng rất nhiều tục ngữ, như :

Ra tuồng mèo mả gà đồng

Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào

hoặc:

Bề ngoài thơn thớt nói cười

Mà trong nham hiểm giết người không dao



Ngôn ngữ TK vừa súc tích chính xác, đồng thời lại vừa giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu. ND có thể bằng một vài câu thơ khắc họa lên sắc nét chân dung ngoại hình của một nhân vật, hay miêu tả một biến cố, một cảnh ngộ. Một học trò giỏi đi thi bị rớt có thể tự an ủi bằng cách « lẩy » hai câu thơ súc tích, hợp tình hợp cảnh của TK:

Có tài mà cậy chi tài

Chữ tài liền với chữ tai một vần



Tả một chàng đẹp trai hào hoa phong nhã thì ta có thể mượn ngay hai câu ND tả Kim Trọng:

Phong tư tài mạo tuyệt vời

Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa



Hai câu:

Gìn vàng giữ ngọc cho hay

Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời



thực tuyệt đẹp và chí tình để một chàng trai thiết tha căn dặn người yêu khi giã từ. Và khi giấc mơ ấp ủ từ lâu nay mới thành sự thực, ta vội kêu lên:

Đến bây giờ mới thấy đây

Mà lòng đã chắc những ngày một hai



Qua những nhận định kể trên của các văn nhân lỗi lạc ngoại quốc và Việt Nam về tuyệt tác phẩm TRUYỆN KIỀU thì thiên tài Nguyễn Du đã chứng minh một cách hùng hồn rằng tiếng Việt là một ngôn ngữ tuyệt vời cho thi ca. Chúng ta còn chờ đợi gì nữa mà không đọc lại Truyện Kiều thật kỹ càng để yêu thêm tiếng Việt của chúng ta?



ĐÀM TRUNG PHÁP

Ý kiến, Phê bình xin gửi về: damtrungphap@khoahoc.net

WLP
10-06-2006, 02:23 PM
22 tháng 06 năm 2006

Thi hào Nguyễn Du ra đời trong hậu bán thế kỷ 18. Tôi thường tự hỏi có phải trong thời điểm ấy Thượng Đế đã „nổi hứng“ rộng lượng và công bình mà ban cho nhân loại những thiên tài văn chương xuất chúng chăng? Như Goethe sinh năm 1749 tại Đức Quốc, Nguyễn Du sinh năm 1765 tại đất nước chúng ta, Chateaubriand sinh năm 1768 tại Pháp Quốc, và Wordsworth sinh năm 1770 tại Anh Quốc. Goethe, đệ nhất văn hào dân tộc Đức, năm mới 25 tuổi đã viết cuốn truyện tình bi đát mang tên DIE LEIDEN DES JUNGEN WERTHERS (Những nỗi ưu sầu của chàng trai trẻ Werther) để nói về mối ưu sầu thực sự của chính ông: Goethe đã gặp và yêu say đắm trong tuyệt vọng một phụ nữ đã đính hôn với người khác. Câu chuyện lãng mạn và bi thảm ấy khiến ông lẫy lừng danh tiếng khắp Âu Châu và cũng làm cho một vài giai nhân đa sầu đa cảm đang thất tình giống người trong truyện nhảy xuống hồ tự tử mà trong tay còn nắm chặt cuốn tiểu thuyết kia! Chateaubriand có thể được coi là nhà văn tiên khởi của trào lưu văn chương lãng mạn nước Pháp qua cuốn tiểu thuyết ATALA, một câu chuyện vừa buồn vừa mãnh liệt đam mê trong khung cảnh thiên nhiên rực rỡ của rừng núi Bắc Mỹ, nơi mà Chateaubriand thường thăm viếng và làm quen với các sắc dân da đỏ. Và Wordsworth, đệ nhất thi nhân bên trời Anh Quốc, năm chưa đến 30 tuổi đã cùng Coleridge xuất bản tập thơ LYRICAL BALLADS, mở đầu cho thời đại thi ca lãng mạn trong văn học quốc gia ấy. Wordsworth say mê thiên nhiên và có biệt tài dùng ngôn ngữ bình dị dễ hiểu để diễn tả những cảm xúc tràn bờ trước vẻ đẹp của rừng, của núi, của giai nhân. Tôi nhớ mãi những câu thơ sau đây của Wordsworth để tả một kiều nữ bí mật sống giữa thiên nhiên mang tên Lucy mà thi nhân ví như một bông hoa đổng thảo:

A violet by a mossy stone

Half-hidden from the eye

Fair as a star, when only one

Is shining in the sky



Thế còn Nguyễn Du của chúng ta thì sao? Hãy nghe lời người ngoại quốc ca ngợi thi hào họ Nguyễn trước đã. Thi sĩ lẫy lừng người Ấn Độ chuyên làm thơ bằng tiếng Anh mang tên Rabindranath Tagore (giải Nobel văn chương 1913) khi viếng thăm Việt Nam năm 1929 đã coi Nguyễn Du là vị thi sĩ đứng thứ 3 trong hàng ngũ những thi sĩ muôn thuở, chỉ sau Lý Bạch và Victor Hugo (theo học giả Thái Văn Kiểm). Văn sĩ Pháp René Crayssac đã dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp và cho rằng áng văn kiệt tác của Nguyễn Du có thể so sánh mà không sợ kém các văn chương kiệt tác, vô luận ở thời nào và ở xứ nào (theo học giả Đào Duy Anh). Như vậy thì thiên tài thi ca họ Nguyễn của chúng ta khi đứng cạnh những đại danh văn chương của nhân loại cũng ngang ngửa với họ, cũng đều “mười phân vẹn mười” cả, nhưng riêng đối với tôi thì đọc thơ Nguyễn Du thích thú gấp bội phần đọc các tác phẩm của các vị “ngoại quốc” kia, vì tôi là người cùng một ngôn ngữ và văn hóa với Nguyễn Du.



Nguyễn Du (ND) sinh năm 1765 trong một danh gia vọng tộc. Cha là Hoàng Giáp Nguyễn Nghiễm, người Hà Tĩnh, làm Thủ Tướng triều Lê. Mẹ là Trần Thị Tần, người Bắc Ninh, kém chồng 32 tuổi. ND mồ côi cha năm 11 tuổi và mồ côi mẹ năm 13 tuổi. Anh cả là Tiến Sĩ Nguyễn Khảm, Thượng Thư bộ Lại, anh thứ hai là Nguyễn Điều từng làm Trấn Thủ Sơn Tây. Năm 1783, lúc 18 tuổi, ND đậu Tam Trường (Tú Tài); cùng năm này, một người anh tên là Nguyễn Đề đậu thủ khoa kỳ thi Hương (Cử Nhân). Tình hình chính trị lúc ấy thực bất ổn. Năm 1788 Lê Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh; Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế ở Huế. Năm 1789 Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. Năm 1802 Gia Long diệt Tây Sơn, bắt đầu triều Nguyễn; ND làm tri huyện Phù Dung (thuộc Hưng Yên ngày nay), mấy tháng sau thăng tri phủ Thường Tín (thuộc Hà Tây ngày nay). Năm 1809 ND làm cai bạ ở Quảng Bình. Năm 1813 ND thăng cần chánh điện học sĩ, chánh sứ sang nhà Thanh. Năm sau đi sứ về, thăng tham tri bộ Lễ. Năm 1820 Gia Long mất, Minh Mệnh nối ngôi. ND được cử chánh sứ sang Tàu báo tang và cầu phong, nhưng chưa kịp lên đường thì bị bệnh và qua đời, thọ 56 tuổi.



Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa biết rõ là khi nào ND viết Truyện Kiều (Đoạn Trường Tân Thanh) trước hay sau khi đi sứ sang Trung Quốc năm 1813. Theo Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim thì Truyện Kiều (TK) bắt nguồn từ một tiểu thuyết Tàu của tác giả Thanh Tâm Tài Nhân, văn chương tầm thường, về một người đàn bà tài sắc, có lòng trung, hiếu, tiết nghĩa, mà đời bị bèo giạt hoa trôi. ND bỏ bớt những chỗ rườm rà, thô lỗ, dơ bẩn. So với tiểu thuyết Tàu thì TK của ND thanh nhã và văn vẻ hơn nhiều. Hà Như Chi, khi so sánh TK với tiểu thuyết Tàu nguyên thủy, nhận định TK là một công trình nghệ thuật cân đối hoàn hảo, kết cấu chặt chẽ, tình ý đậm đà khéo léo, văn chương tươi đẹp, thắm đượm màu sắc Việt Nam và dẫy đầy thi vị.



Vẫn theo Hà Như Chi, một nàng Kiều tài hoa duyên dáng như thế lại là nạn nhân của một số mệnh vô cùng khắt khe đã đánh mạnh vào tâm hồn ND và thúc giục cụ viết nên TK để hả hê những mối cảm tình đối với một người đã được cụ xem như đồng hội đồng thuyền với mình: ND phải quên nhà Lê mà ra làm quan với nhà Nguyễn thì có khác chi, vì chữ “mệnh” oái oăm, nàng Kiều phải bỏ Kim Trọng mà chịu bước giang hồ? Đúng là:

Vui là vui gượng kẻo là,

Ai tri âm đó mặn mà với ai?



Nội dung TK gồm 3254 câu thơ lục-bát có thể chia làm 3 phần: (1) Thúy Kiều và Kim Trọng gặp gỡ và gắn bó với nhau; (2) Những nỗi khổ của Thúy Kiều trên bước đường luân lạc; và (3) Kim-Kiều tái ngộ. TK còn là một tác phẩm chứng minh cho định luật “tài mệnh tương đố”: Kiều là kẻ tài hoa nên phải mệnh bạc. Trong phần kết, may thay, ND cũng cho chúng ta tin tưởng rằng thiện tâm có thể cải hóa được số mệnh:

Thiện căn ở tại lòng ta

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài



Những phân đoạn chính trong TK như sau: Phần (1): (a) Xác định thuyết tài mệnh tương đố , (b) Kiều gặp Kim Trọng, (c) Kiều và Kim Trọng thề thốt gắn bó. Phần (2): (a) Gia biến nàng Kiều, (b) Mã Giám Sinh mua Kiều, (c) Kiều phó thác tâm sự cho em, (d) Mắc tay Tú Bà, (e) Đi trốn với Sở Khanh, (f) Kiều tiếp khách trong lầu xanh, (g) Kiều được Thúc Sinh chuộc ra, (h) Mắc tay Hoạn Thư, (i) Đi trốn, (j) Giác Duyên sợ liên lụy, gửi Kiều cho Bạc Bà, (k) Bạc Bà lừa dối, Kiều lại bị bán vào lầu xanh, (l) Được Từ Hải chuộc ra, (m) Kiều báo ân báo oán, (n) Mắc mưu Hồ Tôn Hiến, Từ Hải bị giết, (o) Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường, (p) Giác Duyên vớt Kiều. Phần (3): (a) Kim Trọng trở lại vườn Thúy, (b) Lấy Thúy Vân, (c) Làm quan ở Lâm Tri , (d) Tìm Kiều ở Hàng Châu, (e) Giác Duyên đưa đến gặp Kiều, (f) Kim-Kiều xem nhau như bạn, (g) Kiều đánh đàn kết liễu đời bạc mệnh, (h) Kết thúc: Thiện tâm sửa được số mệnh.



Chúng ta đã nghe người ngoại quốc ca tụng TK trên đây, và bây giờ chúng ta tìm hiểu xem các nhà phê bình văn chương người Việt nghĩ gì về tuyệt tác phẩm này của Nguyễn Du. Tôi xin đóng góp trong phần này này bằng cách tóm lược một số nhận định về giá trị TK của các nhà phê bình tên tuổi từ trước đến nay để chúng ta có một cái nhìn bao quát.



PHẠM QUỲNH: Sau khi cho rằng TK của ND hay hơn cả văn chương của Khuất Nguyên bên Tàu và văn chương của Racine và Bossuet bên Tây, Phạm Quỳnh trong ngày giỗ ND năm 1924 tại Hà Nội đã thề trước anh linh thi hào họ Nguyễn rằng “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn, còn non còn nước còn dài, chúng tôi là kẻ hậu sinh xin dầu lòng dốc chí cố gia công trau chuốt lấy tiếng quốc âm nhà, cho quốc hoa ngày một rực rỡ, quốc hồn ngày một tỉnh táo, quốc vận ngày một vẻ vang, ngõ hầu khỏi phụ cái chí hoài bão của tiên sinh, ngậm cười chín suối cũng còn thơm lây” (Tạp chí Nam Phong, tháng 8, 1924). Vì những lời này mà Phạm Quỳnh bị hai cụ nghè Ngô Đức Kế và Huỳnh Thúc Kháng xỉ vả thậm tệ (tôi sẽ nói tiếp về vụ này ở một đoạn sau).



NGUYỄN TƯỜNG TAM: Nhà văn thủ lãnh của Tự Lực Văn Đoàn viết trong Tạp chí Nam Phong năm 1924: “Cái làn sóng thơ Kiều hình như lai láng khắp cõi Nam. Trừ những câu ca dao ra, thật không có quyển truyện nào phổ thông trong đám dân gian bằng Truyện Kiều. Vì văn Kiều hay quá, nên những người nhà quê không có học thức cũng thích xem và thích ngâm nga. Nhưng nói đến cái hay của văn Kiều thì chưa biết thế nào mà kể được... Tôi xin nói quyết một lời rằng MONG ĐƯỢC MỘT QUYỂN TRUYỆN NÀO HAY HƠN TRUYỆN KIỀU LÀ MỘNG TƯỞNG. Cái trình độ thơ quốc ngữ đến như thế là tuyệt đích rồi ...” Nhận định về câu thơ thuộc loại “văn hữu dư ba” là câu “Lơ thơ tơ liễu buông mành”, Nguyễn Tường Tam thấy ba chữ “lơ thơ tơ” nghe rất êm tai, hay về phần tưởng tượng ít mà hay về phần âm điệu êm ái nhiều hơn. Và câu “Nách tường bông liễu bay ngang trước mành” ông thấy rất hay về cảnh sắc. Ông cũng thấy trong TK nhiều chỗ cảnh và người có liên lạc, đúng như:

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ



Như lúc Thúc Sinh trở về với Kiều, trông ra cảnh vật cũng hình như chia vui với mình:

Long lanh đáy nước in trời

Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng



Và khi Kiều và Kim gặp nhau lần đầu, lúc từ giã, cô Kiều còn trông theo, nhưng nào thấy gì đâu, chỉ thấy:

Dưới cầu nước chảy trong veo

Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha



Hai câu đệm ấy vào thật là tả rõ được cái buồn, cái nhớ của cô Kiều mà hình như cảnh vật cũng âu sầu!



VŨ ĐÌNH LONG: Lấy âm nhạc làm ẩn dụ để lượng giá TK, phê bình gia Vũ Đình Long viết trong Tạp chí Nam Phong năm 1924 rằng “TK thực là một cây đàn tuyệt quý không phím không dây. Tác giả lấy đầu lưỡi mà nẩy lên tiếng, mỗi đoạn văn là một cung, mỗi câu văn là một điệu, mỗi chữ là một tay nỉ non thánh thót, réo rắt tiêu tao, đêm khuya canh tĩnh mà nghe người tốt giọng ngâm Kiều thì còn đàn nào hay bằng nữa ... Cụ ND không phải là nhà thi sĩ, cụ chính là THẦN THƠ vậy!” Theo Vũ Đình Long, những câu Kiều nói với chàng Kim thật hay thật tình, như :

Thưa rằng đừng lấy làm chơi

Rẽ cho thưa hết một lời đã nao



Chữ “rẽ” dùng có thần tình không? Ta thấy hình như nàng Kiều lấy tay gạt chàng Kim ra vậy! Năm lần láy chữ “còn” trong hai câu thơ sau đây là một tuyệt chiêu, như thể một lời thề nguyền vĩnh cửu:

Còn non, còn nước, còn dài

Còn về còn nhớ đến người hôm nay



Tình nhân tương tư nhau là những cảnh não nùng mà ND tả rất khéo. Chàng Kim nỗi lòng canh cánh luôn nghĩ đến người đẹp đã gặp trong ngày hội Đạp Thanh:

Sầu đong càng lắc càng đầy

Ba thu dọn lại một ngày dài ghê!



Đêm không ngủ được, vẩn vơ ngọn đèn tàn:

Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao

Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng



Cậu đồ đã mang nặng gánh tương tư thì còn thiết gì đến sách, đến bút, đến đàn:

Phòng văn hơi giá như đồng

Trúc xe ngọn thỏ, tơ chùng phím loan



Ngồi nghe tiếng gió đập vào mành cũng nhớ đến ai - vì nhớ nhung mà trà mất ngon, mùi hương kém ngát:

Mành tương phân phất gió đàn

Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình



LƯU TRỌNG LƯ: Để “đáp lễ” lời cụ nghè Ngô Đức Kế cho rằng TK “chỉ là một thứ văn chương ngâm vịnh chơi bời, để lúc thanh nhàn mà đọc đôi câu cho tiêu khiển, chứ không phải là một thứ văn chương chính đại theo đường chính học, mà đem ra dạy đời được đâu” (báo Hữu Thanh, tháng 9 năm 1924) và nhất là lời kết tội gay gắt của cụ nghè Huỳnh Thúc Kháng rằng “Truyện Kiều là một thứ dâm thư, rõ không ích mà có hại ... Hiện xã hội ta ngày nay mà diễn ra những tuồng thương phong, bại tục kia, cái giống độc con đĩ Kiều gieo vào trong cõi tư tưởng không phải là ít...” (báo Tiếng Dân, tháng 9 năm 1930), Lưu Trọng Lư viết trong tuần báo Phụ Nữ Thời Đàm vào cuối năm 1933: “Ai muốn làm thánh hiền thì đi đọc Ngũ Kinh, Tứ Thư. Hãy để Truyện Kiều lại cho bọn chúng tôi là hạng người trong những phút mệt nhọc, buồn rầu, chán nản, cần phải ngâm nga những câu như:

Dưới cầu nước chảy trong veo

Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha



ĐÀO DUY ANH: Để kết luận tập “Khảo Luận về Kim Vân Kiều” xuất bản năm 1943, học giả Đào Duy Anh khẳng định “Nguyễn Du đã gieo trong lòng ta một mối tin chắc chắn, một mối hy vọng dồi dào với tiếng nói của ta”. Cũng theo ông, ở thời Lê mạt, ta đã thấy có những tác phẩm có giá trị như Cung Oán Ngâm Khúc, Chinh Phụ Ngâm, Phan Trần Truyện, Hoa Tiên Ký ... viết bằng quốc âm, nhưng lời văn điêu trác, hay dùng điển cố, cho nên chỉ được các hạng thượng lưu trí thức thưởng lãm, mà không phổ cập trong dân gian. Duy Truyện Kiều văn chương đủ tính nghiêm trang, đường hoàng, điêu luyện, đủ khiến cho kẻ học thức phải khâm phục và yêu mến, mà lại đủ cả tính giản dị, phổ thông để khiến cho bình dân hiểu được mà thưởng thức.



TRẦN TRỌNG KIM: Trong cuốn “Truyện Thúy Kiều” do Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo xuất bản năm 1925, học giả Trần Trọng Kim viết: “ND khéo dùng lối hoạt họa, chọn cái hình dáng nào rõ thật nổi, rồi tìm một vài chữ thật đúng mà tả ra, hễ đọc qua là nhận ngay được chân tướng:



Kim Trọng:

Phong tư tài mạo tuyệt vời

Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa



Mã Giám Sinh:

Quá niên trạc ngoại tứ tuần

Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao



Tú Bà:

Thoắt trông nhờn nhợt màu da

Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao



Sở Khanh:

Một chàng vừa trạc thanh xuân

Hình dong chải chuốt, áo khăn dịu dàng



Từ Hải:

Râu hùm hàm én mày ngài

Vai năm tấc rộng thân mười thước cao



HOÀI THANH: Theo bài viết “Quyền Sống Của Con Người Trong Truyện Kiều” của nhà phê bình Hoài Thanh năm 1949, nếu nói về mức độ “say” Truyện Kiều thì không ai bằng ông nghè Chu Mạnh Trinh (một con người hào hoa phong nhã kiểu Kim Trọng). Nhà thơ lãng mạn này không phải chỉ say văn chương Truyện Kiều mà lại còn say luôn cả nàng Kiều như say một giai nhân có thực, đến nỗi đã nói đến những chuyện si tình như thêu tên Kiều vào tay áo, mơ tưởng dựng một ngôi nhà vàng cho Kiều ở, mượn cỏ thơm gọi hồn Kiều về, và thấy như Kiều về thật! Chuyện lạ đời này cũng có thể hiểu được, vì theo Hoài Thanh, “ND có thể dạy cho ta biết ghét, biết yêu. Ghét những cái bất lương trong xã hội. Yêu những cảnh sống đáng yêu và nhân đó tránh cuộc sống tẻ nhạt, hiu hắt, cuộc sống của cỏ cây... Những cử chỉ uể oải, những câu nói thiếu lòng tin, những cái nhìn hời hợt, những tâm tư mệt nhọc hình như đương chờ đợi một cơn gió nào ... TK ngay giờ đây vẫn còn khả năng cải tử hoàn sinh, vẫn có thể gieo chất nồng say vào cuộc sống...”



NGUYỄN LỘC: Trong cuốn sách “Văn Học Việt Nam Nửa Cuối Thế Kỷ 18” xuất bản năm 1997 tại Hà Nội, nhà biên khảo Nguyễn Lộc có những nhận xét tinh tế về cách sử dụng ca dao, tục ngữ trong TK, mà tôi xin tóm lược trong những đoạn dưới đây:



Có thể nói trong TK có hàng mấy chục câu thơ ND trực tiếp rút ra từ ca dao. Rất có thể hai câu:

Vầng trăng ai xẻ làm đôi

Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường



là rút ra từ câu ca dao:

Tiễn đưa một chén rượu nồng

Vầng trăng xẻ nửa tơ lòng đứt đôi



Ca dao trong TK được ND sử dụng như một thứ chất liệu nghệ thuật, chứ không như những trích dẫn. Không có câu nào ND dùng lại nguyên vẹn, mà tất cả đều nhào nặn lại cho phù hợp với phong cách chung của nhà thơ trong tác phẩm. TK có những câu thơ không thấy dấu vết cụ thể của ca dao, mà ai cũng nhận ra ảnh hưởng của ca dao, như :

Xót thay huyên cỗi xuân già

Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi

Chốc đà mười mấy năm trời

Còn ra khi đã da mồi tóc sương



ND cũng dùng rất nhiều tục ngữ, như :

Ra tuồng mèo mả gà đồng

Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào

hoặc:

Bề ngoài thơn thớt nói cười

Mà trong nham hiểm giết người không dao



Ngôn ngữ TK vừa súc tích chính xác, đồng thời lại vừa giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu. ND có thể bằng một vài câu thơ khắc họa lên sắc nét chân dung ngoại hình của một nhân vật, hay miêu tả một biến cố, một cảnh ngộ. Một học trò giỏi đi thi bị rớt có thể tự an ủi bằng cách « lẩy » hai câu thơ súc tích, hợp tình hợp cảnh của TK:

Có tài mà cậy chi tài

Chữ tài liền với chữ tai một vần



Tả một chàng đẹp trai hào hoa phong nhã thì ta có thể mượn ngay hai câu ND tả Kim Trọng:

Phong tư tài mạo tuyệt vời

Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa



Hai câu:

Gìn vàng giữ ngọc cho hay

Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời



thực tuyệt đẹp và chí tình để một chàng trai thiết tha căn dặn người yêu khi giã từ. Và khi giấc mơ ấp ủ từ lâu nay mới thành sự thực, ta vội kêu lên:

Đến bây giờ mới thấy đây

Mà lòng đã chắc những ngày một hai



Qua những nhận định kể trên của các văn nhân lỗi lạc ngoại quốc và Việt Nam về tuyệt tác phẩm TRUYỆN KIỀU thì thiên tài Nguyễn Du đã chứng minh một cách hùng hồn rằng tiếng Việt là một ngôn ngữ tuyệt vời cho thi ca. Chúng ta còn chờ đợi gì nữa mà không đọc lại Truyện Kiều thật kỹ càng để yêu thêm tiếng Việt của chúng ta?



ĐÀM TRUNG PHÁP

Ý kiến, Phê bình xin gửi về: damtrungphap@khoahoc.net