View Full Version : Mùa thu
Đón Thu, Cảm Thu
Phạm Vĩnh
Mùa thu về. Con người, nhất là văn nghệ sĩ, thi sĩ lại có dịp thả hồn về với tình thu. Thí dụ khi chúng ta đọc bài Cảm Thu của Quách Tấn, trong đó có đoạn:
Gió vàng cợt sóng, sông chau mặt,
Mây trắng vờn cây, núi bạc đầu.
Có lẽ khó mà phân tích, nhưng có thể cảm nhận một cách dễ dàng thế nào là "Gió vàng", thế nào là "sông chau mặt", "Mây vờn cây". Cái xúc cảm trong hai câu thơ trên hoàn toàn khác biệt nếu ta đem nó ra mà mổ xẻ, vì chỉ còn lại những mảnh vỡ của hồn thơ.
Ngày xưa khi đi học bậc tiểu học, cô giáo gọi học trò lên trả bài môn Học Thuộc Lòng mà sau này ta gọi là Ám đo.c. Học trò đọc một lúc hết bài Hổ Nhớ Rừng của Thế Lữ. Xong cô hỏi "bài này ý nói gì vậy?". Học trò trả lời "thưa cô bài này tả con cọp nhớ nhà". Cô bảo về chỗ cho 8 điểm. Lên trung học cũng chỉ có phân tích và tổng hợp văn xuôi thôi còn thơ thì ta gọi là bình thơ. Nghệ sĩ họ có cái cảm xúc riêng, không ai hiểu, chỉ đồng cảm. Nhiều khi chỉ cảm ké theo. Thậm chí hai thi sĩ cũng chưa chắc đã hiểu hết ý của nhau. Có khi thi sĩ cũng không hiểu hết những bài thơ mình viết. Đấy là những trường hợp xuất khẩu thành thơ, đang ngủ mơ ra thơ, v.v.
Nhưng trong thơ, thi sĩ có lẽ thích mùa thu nên ta có dịp gặp nhiều bài thơ tình mà trong đó thi sĩ ru gió mùa thu: Đây mùa thu tới, Cảm thu, Tiễn Thu, Thu Ẩm, Thu Buồn, v.v. Nếu kể hết tên của những thi sĩ thích mùa thu, chắc phải viết cả tháng mới xong, trong đó ta có thể kể ngay như Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Quách Tấn, Lưu Trọng Lư, Lamartine, Paul Verlaine, v.v.
Tuy thi sĩ cùng cảm mùa thu, nhưng có lẽ mùa thu thay đổi theo vị trí của quả địa cầu. Bên Âu, Mỹ, tiết thu bắt đầu vào cuối tháng 9 và chỉ chấm dứt mấy ngày trước khi ta bắt đầu ăn mừng lễ Giáng Sinh và Tết Dương Lịch. Tết Tây ở vào những ngày lập đông nên những ngày vui và rét như vậy ta không nghe đâu đây ai hát "trên đường đi lễ xuân đầu năm ...". Cũng vì thế mà khi có ai đọc Mùa Thu Paris của ông Cung Trầm Tưởng, ở cái đoạn:
Mùa Thu Paris
Trời buốt ra đi
Hẹn em quán nhỏ
Rượu rưng rưng ly đỏ tràn ly
thì chắc ngươì Paris sẽ cảm nghĩ đây là vào tiết trung thu. Lúc này mây thấp dần, nắng khép lại, thành phố chìm trong ánh đèn vàng nhạt để chỉ còn lại lá vàng rơi, gió heo may và rượu đỏ Beaujolais trong quán và thi nhân. Đấy là vào cuối tháng mười một. Và chắc chắn đây là ở khoảng cuối đường Monge, Cardinal Lemoine, ra tới bờ sông Seine, nói vắn tắt quartier Latin. Nhưng thường ở Paris lúc này không có gió heo may mà có những trận gió rất dài, mạnh và lạnh. Vì thế lá vàng thu Paris khi trời gió trông đẹp lắm!
Tết Trung thu ở bên ta đúng ngày rằm tháng tám. Như vậy mùa thu Việt Nam bắt đầu vào tháng bảy và kết thúc vào cuối tháng chín. Tết Trung thu không biết có từ thời nào, có sách nói cách nay 2000 năm. Không chỉ riêng ở Việt Nam mà Tết Trung Thu có ở khắp vùng Đông Nam Á . Tục truyền đây là cơ hội mà nhiều cha mẹ, sau công việc cầy cấy, tổ chức một ngày lễ dành cho trẻ em để bù lại những lúc bị bỏ bê khi công việc đồng áng còn bề bô.n. Nhưng cũng có thuyết nói thời trước, các vị vua chúa hay tế thần mặt Trời vào mùa xuân và tế thần mặt Trăng vào rằm tháng tám âm li.ch. Lễ cúng là mâm ngũ quả và bánh hình tròn và hình vuông. Sự tích ăn bánh trung thu có từ thời nhà Bắc Tống, cách nay 1000 năm.
Đêm rằm Trung Thu, trẻ em rước đèn đủ loại, đèn ngôi sao, đèn lồng, đèn hình thú vật như cá , chim, đèn kéo quân, v.v. Ngoài bắc Việt Nam múa sư tử, ở trong nam thì múa lân. Lân là con vật thứ hai trong Tứ Linh, gọi là Long Lân(ly) Quy Phượng. Lân là một con vật thần thoại mắt người thường không thấy. Lân có đầu sư tử, mình hươu, móng ngựa, đuôi bò. Vì rước đèn, múa sư tử, múa lân, ăn bánh là những thú vui mà trẻ con ưa thích nên dần dà có thể vì thế mà rằm tháng tám biến thành lễ của trẻ em chăng.
Trong lịch sử nước Tàu cổ, thời nhà Đường, Có đêm Ðường Minh Hoàng nằm mơ thấy mình lên cung trăng, gặp các tiên nữ mặc áo cánh chim, múa hát khúc nhạc du dương ... gần quên trở về. Khi về lại hạ giới đặt ra bài hát tên là " Nghê thường vũ y " để đến tiết trung thu cùng Dương Quý Phi ca hát hưởng trăng. Bài " Nghê thường vũ y " có nghiã là khúc vũ xiêm y 5 mầu sắc. "Nghê" là cầu vồng 5 sắc, "Thường" là xiêm y, "Vũ y" là xiêm y may bằng lông chim. Nhạc sĩ Cung Tiến khi viết bài Hương Xưa kể lại nhiều điển tích cổ trong đó có đoạn "Ôi những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một kiếp xa xôi, buồn sớm đưa chân cuộc đờị Lời Ðường thi nghe vẫn rền trong sương mưa ... " có lẽ để kể tích này đâỵ
Kể cũng lạ vì có những năm Tết Trung Thu đến với ta khoảng một tuần trước khi dương lịch vào thu. Thế thì hai mùa thu, của âm lịch và của dương lịch, có khác biệt chăng? Hiển nhiên ta thấy có sự khác biệt về thời khắc, cũng như Tết Dương Lịch và Tết Âm Lịch cách nhau cả 1, 2 tháng. Nhiều năm Tết của người Trung Hoa cũng không cùng ngày với Tết Việt Nam. Với thời gian và theo suy luận khác nhau của các nhà khoa ho.c. Tuy nhiên có một cái lạ là ở nơi nào cũng thế, con người đón Tết với tinh thần tiễn cựu nghinh tân và nhìn mùa thu với cảm xúc gầ n giống nhau, cũng cảm nhận lá vàng rơi, gió thu bay, mây thu buồn. Hãy nghe một đoạn thơ của Tản Đà qua bài Cảm Thu bài Chanson d'Autonne của Paul Verlaine:
Cảm Thu
Từ vào thu đến nay:
Gió thu hiu hắt,
Sương thu lạnh,
Trăng thu bạch,
Khói thu xây thành.
Lá thu rơi rụng đầu nghềnh
Sông thu đưa lá bao ngành biệt lỵ
Nhạn về én lại bay đi,
Đêm thì vượn hót ngày thì ve ngâm.
Lá sen tàn tạ trong đầm
Nặng mang giọt lệ âm thầm khóc hoạ
Sắc đâu nhuộm ố quan hà
Cỏ vàng cây đỏ bóng tà tà dương.
Nào người cố lý tha hương,
Cảm thu ai có tư lường, hỡi ai!
Tản Đà
Chanson d'Automne
Les sanglots longs
Des violons
De l'automne
Blessent mon coeur
D'une langueur
Monotonẹ
Tout suffocant
Et blême, quand
Sonne l'heure,
Je me souviens
Des jours anciens
Et je pleure
Et je m'en vais
Au vent mauvais
Qui m'emporte
Deçà, delà,
Pareil à la
Feuille morte.
Paul Verlaine
Chúng ta thấy hai thi sĩ ở hai phương trời cách biệt, viết về mùa thu cả hai cùng có những cảm xúc giống nhau về nỗi ảm dạm của mùa thu.
Nước Tàu cổ đã để lại cho về sau bốn câu thơ nói lên bốn mùa:
Xuân du phương thảo địa,
Hạ thưởng lục Liên Trì,
Thu ẩm Hoàng hoa tửu,
Đông ngâm Bạch Tuyết thi
Thế thì câu thứ ba nói mùa thu uống hoàng hoa tửu. Đây là một loại rượu làm bằng hoa cúc màu vàng, một thứ cúc đặc biệt thuộc loại giây lan, cành mềm, lá li ti, nhiều hoa nhưng rất nhỏ. Loại hoa màu đậm toả mùi thơm nồng. Loại hoa màu nhạt có mùi thơm nhẹ nhàng dùng để ướp trà, gọi là trà cúc hay để nấu rượu gọi là hoàng hoa tửụ Loại cúc này tên là Cúc Chi.
Nhưng tại sao mùa thu lại uống hoàng hoa tửu? Tích này ở bên Tàu. Chuyện kể ngày xưa cứ đến mùa thu thì thanh niên tới tuổi phải đi lính thú. Trước khi lên đường, bạn bè tiễn biệt kẻ tòng chinh với chén rượu hoàng hoa. Dần già từ chữ hoàng hoa mới có thêm những thành ngữ như chén hoàng hoa, nắng hoàng hoa, đều dùng cho sự tiễn biệt . Nhạc sĩ Văn Phụng khi viết Tôi Đi Giữa Hoàng Hôn có nhắc tới bến hoàng hoa.
Nhưng hình như mùa thu ở chỗ nào cũng có tính chất đặc thù. Chính vì thế mà các nhạc sĩ đã viết ra biết bao bài hát về mùa thu như Mùa Thu Cho Em, Mùa Thu Paris, Mùa Thu Trên Đảo Kinh Châu, Mùa Thu Sydney, Mùa Thu Đông Kinh, Mùa Thu Úc Châu, Mùa Thu Không Trở Lại, Tiếng Thu, Tình Thu, Thu Quyến Rũ ...
Mùa thu quả là quyến rũ. Có bao giờ mùa thu trở lại?
Tháng 10 2005 , tháng 9 2006
Phạm Văn Vĩnh
http://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%B9a_thu
http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?t=96239&highlight=M%C3%B9a+Thu
http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?t=97188&highlight=M%C3%B9a+Thu
http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?t=110408&highlight=M%C3%B9a+Thu
http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?t=111487&highlight=M%C3%B9a+Thu
http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?t=110983&highlight=M%C3%B9a+Thu
http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?t=110312&highlight=M%C3%B9a+Thu
http://soft-group.net/muathu/index.html
MÙA THU VÀ HOA TIM VỠ - CÂU CHUYỆN VỀ MỘT LOÀI HOA TRÔNG "DÁNG NHƯ TIM VỠ"
Người yêu thơ VN nghe nói đến loài hoa trông "dáng như tim vỡ" bèn nghĩ ngay đến một loài hoa có tên rất Tây phương là hoa Ti-gôn! Bởi vì tên hoa ti gôn đã được dính liền với một nhà thơ nữ mà tông tích cực kỳ bí mật dưới ẩn danh là TTKH. Cách đây hơn nửa thế kỷ, TTKH đã đem tả hoa này vào trong những bài thơ nổi tiếng tha thiết của mình như Bài Thơ Thứ Nhất, Hai Sắc Hoa Ti Gôn, Bài Thơ Cuối Cùng. Dư luận văn thi đàn VN bỗng sôi nổi tìm hiểu TTKH là ai? Nhưng rồi tiếng thơ TTKH bỗng im bặt ... Bí mật vẫn là bí mật bao trùm trong sự khao khát ngưỡng mộ cũa kẻ yêu thơ!
Lời thơ vụng dại da diết của TTKH nghe ra giọng của một thiếu nữ dậy thì, lần đầu mới biết yêu nên rất chân thành, nóng hổi thốt tự đáy tim... Nó khiến biết bao nhiêu thanh thiếu niên nam nữ VN yêu thơ trong nhiều thế hệ - tiền chiến cũng như hậu chiến - trân trọng ghi chép và trao đổi lẫn nhau. Ai cũng tưởng tượng rằng mình là TTKH hay người yêu của nàng trong một mối tình tuyệt vọng kiễu Roméo-Juliet. Hiện tượng này khác nào thuở phôi thai phong trào ham mê đọc tiểu thuyết đầu thế kỷ, những thế hệ cha anh của họ say mê đọc tiểu thuyết Tố tâm của Hoàng ngọc Phách và thơ của nữ sĩ Tương Phố vậy.
Nhưng TTKH là ai?
Tông tích của nàng chưa ai rõ, mặc dù mới cách đây một vài năm, thiên hạ lại muốn cố tình hâm nóng lại dư luận bằng cách phanh phui trên mặt báo chương, cho rằng để giải quyết một bí ẩn của một hồ sơ văn học!
Theo tôi, dù sự thực có chứng minh hùng hồn thế nào đi nữa mà đi tìm phỏng vấn thiếu điều căn vặn một nữ sĩ hiện còn sống có thế giá, thanh danh bị nghi là TTKH phải thú nhận mình ngày xưa dù đã thành gia thất mà vẫn nuôi trong tâm tưởng một mối tình dù là cao thượng trong sạch tha thiết lãng mạn, thì cũng như:"Là giết đời nhau đấy biết không?". Hơn nữa, như lời thơ xưa nàng đã thống thiết viết trong Bài Thơ Cuối Cùng:
" Nếu không im được thì tôi chết,
Đêm hỡi! làm sao lạnh thế này?"
Người ta quên rằng TTKH vốn là một nhân vật khuê nữ dù là lãng mạn nhưng tâm lý vẫn bị câu thúc trong khuôn phép lễ giáo câu nệ, nghiêm khắc cách đây hơn nửa thế kỷ ở VN. Mọi sự đàm tiếu của dư luận là một bản án tử hình cho danh giá gia đình!
Do đó, chúng ta hãy không những tôn trọng niềm im lặng bí ẩn văn học này mà lại trân quí nó và đem "trước bạ"nó vào văn học sử Việt Nam. Tình trạng cũng như văn học Pháp đã từng trân quí bài thơ ngắn tựa đề Un Secret chứa vỏn vẹn 14 giòng gọi là" Sonnet d'Arvers". Tác giả là Félix Arvers, thi sĩ duy nhất chỉ nổi tiếng với bài này khởi đầu bằng câu: "Mon âme a son secret, ma vie a son mystère" mà Khái Hưng của ta đã dịch là:
Lòng ta chôn một khối tình,
Tình trong giây phút mà thành thiên thu".
Dư luận Pháp cũng đã từng sôi nỗi tò mò thắc mắc tìm hiểu:" Quelle est donc cette femme?" (Người đâu tả ở mấy giòng thơ đây?) nhưng rốt cuộc cũng đành có thái độ tôn trọng niềm bí mật nên thơ thiên thu này.
Ở Việt nam, có lần người ta tìm hiễu về tông tích của cô bé 15 ngây thơ mà nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp (1914-1938) mô tả trong thiên ký sự thơ Chuà Hương. Cuối bài thơ, tác giả dí dỏm viết thêm: " Thiên ký sự đến đây là hết. Tôi tin rồi hai người lấy nhau, vì không được lấy nhau thì cô bé còn viết nhiều. Lấy nhau rồi là hết chuyện" (Ngày xưa, Hà nội 1935).
Nhưng sự thực thì thế nào?
Nói ra, nó quá bi thảm đến độ phủ phàng qua sự tiết lộ của nhà văn Tchya Đái đức Tuấn với học giả Thái văn Kiểm là Nguyễn nhược Pháp chết vì buồn phiền lúc 24 tuổi ( 1938) vì không cưới được nàng, mặc dù yêu nhau tha thiết qua chuyến đò Hương tích. Còn "cô bé" thì không lấy chồng được vì dị tật sinh dục, nên tuyệt vọng phải tự trầm quyên sinh ở hồ Hoàn Kiếm ( Việt Nam Tinh Hoa - Hương Giang Thái văn Kiểm _ 1997)
Thành ra, chúng ta phải chăng nên thận trọng và đừng giết chất thơ của thi văn trong sự hăm hở tìm hiểu quá tò mò tách bạch thực tế quá éo le trong khi hoàn cảnh của người trong cuộc trong tình thế " Dẫu ta đi trọn đường trần, Chuyện riêng há dám một lần hé môi!" Hé môi ra thì chết!
Ở trên, tôi mạo muội gợi ý nên "trước bạ" câu chuyện TTKH và hoa ti gôn" vào văn học sử Việt nam. Trước bạ là đăng ký hay ghi chép một cách chính thức vào sổ bộ trong việc lập một tờ văn khế, văn tự phân minh chứng nhận cái quyền sở hữu chính đáng một món gì. Tôi nói như vậy là bắt chước lối nói của học giả Phạm Quỳnh trong bài diễn văn lễ kỷ niệm Nguyễn Du ngày mồng 8 tháng 9, 1924 tại hội Khai trí Tiến Đức, Hà nội:
"Truyện Kiều là cái "văn từ" của giống Việt Nam ta đã "trước bạ" với non sông đất nước này...."
Câu chuyện TTKH và hoa ti gôn đáng nên trước bạ vào văn học sử Việt nam vì nhiều yếu tố hay lý do:
Trước tiên, TTKH là một tâm hồn thơ duy nhất đem gói ghém mảnh tình thiên cổ của mình trong mầu sắc diễm tuyệt của những cánh hoa ti gôn. Trước và sau TTKH, không ai làm cả và vô tình làm một cách để đời. Nói đến TTKH là nói đến sắc ti gôn, và ngược lại nói đến ti gôn là nhớ đến tình TTKH. Không ai dám ấm ớ dành vào lãnh vực này!
Trong văn học, đã từng có nhiều trường hợp trước bạ trứ danh điển hình chuyện giai thoại thơ liên quan với thảo mộc cỏ hoa như sau:
Nhìn cành đào se sắt trong gió đông, hồn thơ của ta bỗng thổn thức theo chàng Thôi Hộ đời Đường.
Ngắm đóa mai sáng sớm, người ta phải ngâm nga: Tiền đình tạc dạ nhất chi mai.
Nhắc đến cành liễu rủ, ý thơ xưa bỗng trở lại với câu Kiều: Khi về hõi liễu Chương đài, Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay....
Ở Việt nam, ăn canh rau sắn Chùa Hương, ta phải nhớ đến Tản Đà với giai thoại với nữ sĩ Song Khê.
Nói đến tỉa thủy tiên, ta phải nhớ đến thi sĩ Lan Sơn, tác giả bài “Vết thương lòng”, tương đương với bài Le vase brisé của Sully Prudhomme.
Điểm thứ hai là hoa ti gôn là hoa gì? Chắc không ai bận tâm tìm hiểu gốc gác nó ở đâu? Ý nghĩa về vai trò bối cảnh của nó ra sao? Hiểu được hoa ti gôn sẽ khiến ta phải trước bạ nó là một loài hoa của thi văn! Cái tên tigôn nói lên nguồn gốc ngoại lai của nó. Trước đây, có những thứ cỏ hoa cổ điển đã đóng vai trò tượng trưng ước lệ trong văn chương Việt nam như cúc, đào, mai, sen, lý, trúc, liễu...
Tuyệt nhiên, không có ti gôn là thứ thảo mộc mà người Pháp mới du nhập vào đầu thế kỷ này như những hoa lai-ơn ( ),hoa giấy ( ),mimosa,cẩm chướng ( carnation hay oeillet). Bỗng thơ của nàng TTKH kỳ bí thổi một luồng sinh khí cho hoa tigôn qua những câu vụng dại trữ tình nhắc đến " người ấy" của nàng:
Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
Giải đường xa vút bóng chiều phong
Và phương trời cát mờ sương cát
Tay vít dây hoa trắng cạnh lòng!
Người ấy thường hay vuốt tóc tôi
Thở dài trong lúc thấy tôi vui
Bảo rằng hoa dáng như tim vỡ
Anh sợ tình ta cũng thế thôi
...........................
..........................
( Bài Thơ Thứ Nhất)
Tôi sợ chiều thu nắng phớt mờ
Chiều thu hoa đỏ rụng chiều thu
Gió về lạnh lẽo chân mây trắng
Người ấy sang sông đứng ngóng đò.
Nếu biết rằng tôi đã có chồng
Trời ơi! người ấy có buồn không?
Có thầm nghĩ đến loài hoa vỡ
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng!
( Hai Sắc Hoa Ti Gôn)
TTKH đã làm cả thảy 3 bài là Bài thơ thứ nhất, Hai sắc hoa ti gôn, Bài thơ cuối cùng. Nhưng riêng Bài thơ cuối cùng bị nghi là không phải do TTKH vì khi đăng báo không thấy đề TTKH, vả lại "điệu thỏ và chất thỏ có vẻ không tự nhiên "(Trần tuấn Kiệt). Trong bài này, ta thấy không còn e ấp nhắc đến chữ "người ấy" và xưng "tôi" nữa, mà lại gọi thẳng là"anh"và xưng "em", duy nhất chỉ nói ở câu cuối rằng:"Mưa buồn, mưa hắt trong lòng ướt. Sợ quá đi anh...có một người!" Một điều đặc biệt, ti gôn được gọi là "hoa máu", "hoa lòng"!
Sau đây là vài điều tôi riêng tìm hiểu về hoa ti gôn mà tôi nghĩ rằng không đến nỗi vô bổ và mong rằng các bạn thích thú theo dõi:
Hoa ti gôn là chữ Antigône thường được gọi tắt ở miền Bắc và Trung, còn trong Nam gọi nôm na là "nho kiểng"( loại dây leo, nhánh và phát hoa có vòi ở chót, chùm kép to, hoa có 5 tai đỏ, ngoài 3 trong 2, tiểu nhị dính nhau ở đáy ; noãn sào 3 cánh, 3 vòi, nhụy bế quả ( tên khoa học là Antigonon leptosus) [ Việt nam tự điển _ Lê văn Đức và Lê ngọc Trụ ]
Ngoài ra, hoa ti gôn còn vài chi tiết sau đáng nói là nguồn gốc ở Mễ tây cơ, ở Mỹ thì nó mọc hoang ở vùng sa mạc thấp tại California và Arizona, còn ở Việt nam thì mọc hoang tại Phan thiết. Tigôn là loại dây leo thường niên nhờ có củ to, ưa chịu nóng mùa hè và thích nhiều nước. Vào mùa đông, ti gôn không chết, lá rụng nhiều, ngọn cây chết nhưng phục hồi chóng. Về màu hoa, thì loại sắc đỏ tươi là thông thường,nhưng cũng có sắc trắng (variety ALBA,Hort.) đúng như TTKH tả. Dàn hoa ở trước biệt thự nhà nàng thì vốn loại màu trắng:
Thuở đó nào tôi có hiểu gì,
Cánh hoa tan tác của sinh ly
Cho nên cười đáp màu hoa trắng
Là chút lòng trong chẳng biếng suy
Nhưng rồi nhân một hôm, TTKH đọc một chuyện ngắn Hoa ti gôn của nhà văn Thanh Châu đăng trên báo Tiểu thuyết thứ bảy tháng Septembre năm 1937 nàng mới biết rằng hoa ti gôn trong truyện có màu hồng, nên nảy hứng sáng tác bài thơ bất hủ của nàng:
Buồn quá hôm nay xem tiểu thuyết
Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa
Nhưng hồng tựa trái tim tan vỡ
Và đỏ như màu máu thắm phai!
Những bài thơ TTKH đã đánh dấu cao điểm một phong trào dân Việt nam ham đọc Tiểu thuyết không phải dịch của Tàu hay của Tây mà do những cây bút Việt nam bắt đầu sáng tác mạnh trong thập niên 30! Song hành với Tự lực văn đoàn, Tờ Tiểu thuyết thứ bẩy của nhà sách Tân dân chủ trương do Vũ đình Long in số đầu ngày 2 tháng 6, năm 1934 cung cấp món ăn tinh thần cần thiết này một cách phát đạt dễ sợ, suốt trong 10 năm đã in mỗi số hàng chục ngàn, phát hành khắp Bắc Trung Nam. Tờ Phổ thông bán nguyệt san cũng do nhà Tân Dân in cho đến 1945 hàng trăm tác phẩm tiểu thuyết, khởi đầu với truyện Tắt lửa lòng của Nguyễn công Hoan. Trên hai tờ này, đã xuất hiện tên tuổi của Lan Khai, Lưu trọng Lư, Nguyễn Tuân, Lê văn Trương.
http://khoahoc.net/photo/hoatimvo-3.gif
Về hoa ti gôn, một điểm đáng nói là vào mùa thu, hoa rụng đầy mặt đất trông rất đẹp mắt giống xác pháo hồng ngày cưới. Nhưng TTKH nhìn hoa ti gôn rụng lại buồn nhớ người xưa, điệu thơ của nàng nghe như điệp khúc du dương dệt bằng những chữ "thu" láy đi láy lại...
Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc
Tôi chờ người đến với yêu đương!
.............................
Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ
Chiều thu, hoa đỏ rụng chiều thu
Từ đấy thu về thu lại thu
Lòng tôi còn giá đến bao giờ
Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn dấu trong tim một bóng người
Tôi nhớ lời người đã bảo tôi
Một mùa thu cũ rất xa xôi....
Anh ạ, tháng ngày xa quá nhỉ
Một mùa thu cũ rất xa xôi...
Đọc TTKH, người ta có cảm giác buồn se sắt khi nghe một khúc đại hồ cầm bi ai hay đọc lại những bài "Giọt lệ thu" cũa nữ sĩ Tương Phố, hoặc chứng kiến cảnh chôn hoa trong Tuyết Hồng lệ sử của Từ trẩm Á.
Một cao điểm cần ghi nhận trước bạ về thơ của TTKH là TTKH đã vô tình đẩy tính chất lãng mạn tiền chiến lên đến tuyệt đỉnh qua lối sử dụng hình ảnh của hoa ti gôn và mùa thu trong sự diễn đạt tâm tình u uẩn của mình. Tính chất lãng mạn này đã được thi sĩ Thế Lữ khai mào với hình ảnh mùi mẫn sau trong bài Giây phút chạnh lòng, cảm tác tặng tác giả cuốn tiểu thuyết Đoạn tuyệt:
"Rồi có khi nào ngắm bóng mây
Chiều thu đưa lạnh gió heo may
Dừng chân trên bến sông xa vắng
Chạnh nhớ tình tôi trong phút giây.
"Xin anh cứ tưởng bạn anh tuy
Giam hãm thân trong cảnh nặng nề
Vẫn để hồn theo người lận đận,
Vẫn hằng trông đếm bước anh đi."
............................
Em đứng nương mình dưới gốc mai,
Vin ngành sương đọng, lệ hoa rơi
Cười nâng tà áo đưa lên gió
Em bảo : Hoa kia khóc hộ người
Hình ảnh ước lệ trong phong trào lãng mạn tiền chiến là mùa thu là muà ly biệt, người ra đi vào nơi gió cát hay đứng đợi đò sang sông,và người ở nhà vịn cành hoa mà nhung nhớ. Nàng TTKH thuộc về lớp trẻ hơn trong thập niên 30 ở Việt nam, theo trào lưu nếp sống gia đình tư sản chớm theo xu hướng Tây học và quan niệm thẩm mỹ mới hơn với cảnh trồng dàn hoa ti gôn hay bông giấy trước cửa biệt thự, nên TTKH không còn dịp vịn ngành mai, ngành đào hay đứng dàn hoa thiên lý cổ điển nữa. Chứng tích của thời này trong thơ TTKH là hoa ti gôn, một loài hoa ngoại lai khá xa lạ với đại chúng bình dân nhưng lại trở thành đặc trưng gói ghém tâm tình lãng mạn Việt nam thời thượng cho giới thanh niên nam nữ đương thời. Cũng như chứng tích sự suy tàn thê thảm cũa nền học thi cử cũ đã được hiện ra với những chữ "sâm banh, sữa bò" trong thơ của Tú Xương:
Chi bằng đi học làm thông phán
Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò
Tuy nhiên, sự lãng mạn tiền chiến Việt nam ít nhiều cũng đã khai phóng tâm tình của giới trẻ nhưng dù sao trên thực tế,cũng còn bị gò bó trong tinh thần Khổng giáo, chưa đến nỗi đi đến sự vùng lên chống đối nổi loạn, mà chỉ ẩn nhẫn chịu đựng trong sự câm nín, ít xẩy ra sự bỏ nhà hay quyên sinh:
Ngang trái đời hoa đã úa rồi
Từng mùa gió lạnh, sắc hương rơi
Buồng nghiêm thờ thẫn hồn eo hẹp
Để nhớ người không muốn nhớ lời!
Theo tôi, cái lãng mạn của thơ TTKH tượng trưng qua màu sắc ti gôn rất đẹp và trong sáng, đẹp chay tịnh, đẹp" platonic" đẹp một cách tuyệt vọng, đẹp một cách man mác thiên thu như thơ của Félix Arvers hay như bài thơ bất hủ của Trung hoa về hoàn cảnh một thiếu phụ đoan chính có chồng đã đầm đià nước mắt mà đưa trả cặp ngọc sáng lại cho chàng trai ngỏ ý thương mình một cách trễ tràng...và chỉ nói: “Hận bất tương phùng vị giá thì ! ” mà ý thơ ca dao Việt nam nói là : “Sao anh không hỏi những ngày em còn không!”
Câu chuyện thơ của TTKH và hoa ti gôn đáng được "trước bạ" trong văn học sử Việt nam như là một vật trân quí. Nhờ thơ của một cô bé Việt nam lần đầu mới biết yêu, loài hoa ti gôn Tây phương lạ hoắc bỗng lưu danh trong lòng yêu thơ của một thế hệ Việt với những mệnh danh biểu trưng sinh động như :
- hoa của chung tình hay một "chút lòng trong chẳng biến suy"
- hoa của sự "tan tác sinh ly"
- hoa của dang dở thầm kín hay “ tựa trái tim phai, tựa máu hồng"
Lê văn Lân
http://khoahoc.net/photo/hoatomvo-1.gif
http://farm1.static.flickr.com/122/292963930_9957b762e9_m.jpg
Hoa ti gôn nguyên tên Tây phương là Antigône,ta gọi gọn là ti gôn. Nó còn mang nhiều tên khác rất đẹp tùy theo địa phương xứ sở như:
-Tràng hoa vương miện của Nữ Hoàng (Queen's Wreath )
-Hoa hồng của vùng Montana (Rose de Montana )
Tên Mỹ thông dụng là Coral Vine ( dây leo san hô).
http://k43.pbase.com/v3/06/497506/1/47633362.RoseofMontanaorCoralVine.jpg
http://walterandersen.com/images/coral-vine-fullers.jpg
Đặc biệt theo sách Cây cỏ Việt nam của Phạm Hoàng Hộ,ti gôn còn được gọi là "Dây Hiếu nữ", Hoa Nho
Ý Kiến, Phê bình xin gửi về:BS Lê Văn Lân, bslevanlan@khoahoc.net
MuaThuDuoiMua
09-22-2007, 10:45 AM
WLP post nhiều bài rất hay, bữa MTDM save bài viết về học Anh Văn của GS Trịnh Nhật do WLP post, print ra để ở nhà khi rảnh đọc từ từ ... tới gần 150 trang a ...
cám ơn chị MTDM ủng hộ WLP nghe. WLP sẽ cố gắng tìm kiếm thêm những bài viết hay hay để post lên đây. :newwink:
Trong bốn mùa, mùa thu nghe chừng quyến rũ nhất.
Xuân sinh, Hạ trưởng, Thu liễm, Đông tàng. Thu Liễm là vạn vật bắt thu rút lại để rồi chuyển tiếp qua Đông tàng là mùa mà vạn vật lui vào tình trạng ẩn dấu, ngủ yên để rồi sang một chu kỳ năm mới khác thì bắt đầu lại với Xuân sinh và Hạ trưởng, tức là bừng sống lại rồi tăng trưởng. Chính vì vậy, khi tiết thu trở nên mát dịu hay gây gây lạnh cùng với cỏ cây vừa làm xong nhiệm vụ khai hoa kết rrái thì nghe chừng cũng sức sống bắt đầu tàn lụn tiêu điều với hiện tượng trút bỏ lá vàng. Câu thơ sau của Vũ Hoàng Chương nghe chừng thấm thía :
Trời cuối thu rồi, em ở đâu.
Nằm trong đáy mộ chắc em sầu.
Lá vàng với sắc vẻ rực rỡ nhưng rồi sẽ âm thầm tắt ngúm, gợi cho thi nhân tâm sự của nỗi biệt ly.
Khi những rừng phong đổi màu rồi trút lá, trông đẹp và thơ nhưng buồn da diết:
Rừng thu từng biếc chen hồng,
Nghe chim như nhắc tấm lòng thần hôn
Hay:
Người lên ngựa, kẻ chia bào,
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.
Mùa thu thường là chủ đề về tử biệt sinh ly, về những nuối tiếc trong nhiều bài hát như Mùa Thu Chết ( Phạm Duy phổ nhạc bài thơ của Guillaume Apollinaire), Mùa thu không trở lại ( của Phạm trong Cầu) ... Nhưng hình như Mùa thu còn có thể mang nhiều biểu tượng cho nhiều cảm xúc tâm hồn của người ta phải không? Này hãy lắng nghe một tiếng ru:
Gió muà thu, mẹ ru con ngủ
Suốt canh chầy, thức đủ năm canh.
Chỉ nghe một tiếng ru tầm thường mà trong dạ cũng đã khác lạ rồi, huống hồ chi nghe lại những vần thơ của nàng TTKh trong bài Hai sắc hoa ti-gôn mà những tiếng “thu” cứ láy qua láy lại như tiếng đại hồ cầm để diễn tả niềm nhung nhớ khôn nguôi:
Từ đấy thu rồi/ thu lại thu,
Lòng tôi còn giá /đến bao giờ.
Chồng tôi vẫn biết /tôi thương nhớ
“Người ấy”, cho nên /vẫn hững hờ!
Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi
Mà từng thu chết, từng thu chết,
Vẫn dấu trong tim một bóng người.
Tôi nhớ lời người đã bảo tôi,
Một mùa thu cũ rất xa xôi.
Đến nay tôi hiểu thì tôi đã
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi.
Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ,
Chiều thu hoa đỏ rụng chiều thu
Gió về lạnh lẽo chân mây trắng,
Người ấy sang sông đứng ngóng đò.
Nếu biết rằng tôi đã có chồng,
Trời ơi! Người ấy có buồn không?
Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ,
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng.
Mùa thu còn là hình ảnh của mối sầu ấp úng bẽ bàng như tâm sự Buồn Thu sau đây của Hàn Mặc Tử:
Ấp úng không ra được nửa lời
Tình thu bi thiết lắm thu ơi!
Vội vàng cánh nhạn bay đi trớt
Hiu hắt hơi may thoảng lại rồi.
Nằm gắng đã không thành mộng được,
Ngâm tràn cho đỡ chút buồn thôi.
Ngàn trùng sương toả, cây e lạnh
Chỉ có thông kia chịu với trời.
Ta hãy nghe một Lưu Trọng Lư ngập ngừng rụt rè trong cái lạnh của thu sang:
Lòng anh như nước hồ thu lạnh,
Quạnh quẽ đêm soi, bóng nguyệt tà.
Ngày tháng anh mong chầm chậm lại
Hững hờ em mặc tháng ngày qua.
Cả tiếng đàn thu nghe cũng tê tái qua thơ của Xuân Diệu:
Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời,
Đàn ghê như nước, lạnh trời ơi,
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận,
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người
Một Văn Cao trong bài “ Một đêm đàn lạnh trên sông Huế” cũng u uất tự hỏi như sau:
Sao đàn u hoài gì mùa thu?
Tri âm nghe thử dây đồng vọng,
Lạc lõng đêm vàng khi nhạc ru!
Sau cái hơi lạnh của thu, chúng ta không thể không nói đến cái “vàng” của thu đấy: vàng đây là mầu của lá uá, mầu của day dứt, vò nát dưới chân nai trong bài Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư
Em không nghe mùa thu,
Lá thu rơi xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
đạp trên lá vàng khô
Những phiến lá thu là những trang nhật ký của những thời không bao giờ trở lại với Chế Lan Viên:
Ai đâu trở lại mùa thu trước,
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng?
...
Chao ôi! Mong nhớ! Ôi mong nhớ!
Một cánh chim thu lạc cuối ngàn.
Thơ Trung hoa có câu: Ngô đồng nhất diệp lạc, Thiện hạ cọng tri thu!
Nói đến lá vàng, thì chỉ một chiếc lá rơi cũng là dấu ấn của mùa thu .
Rặng liểu đìu hiu đứng chịu tang,
Tóc buồn buông xuốnglệ ngàn hàng
Đây mùa thu tới, mùa thu tới,
Với áo mơ phai dệt là vàng.
Hãy để ý kỹ thuật nghỉ âm hoà điệu (allitération) lấp láy âm điệu trong âm “uông” trong câu Lá buồn buông xuống lệ ngàn hàng để diễn tả cái” buồn”. Hay cách dùng những âm gọi là những âm tắc hay nhập thanh như “ác, áp”để nói lên cái ý niệm nhầu “ nát” trong những câu của Lưu Trọng Lư:
Lá thu rơi xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
đạp trên lá vàng khô
Kỹ thuật nghỉ âm cũng được sử dụng trong bài Thu Ca- Chanson d'automne của Paul Verlaine :
Les sanglots longs,
Des Violons
De l’automne,
Blessent mon Coeur
D’une langueur
Monotone
Trong kho tàng thơ Việt, bài Thu Điếu của Yên Đổ đã sử dụng âm “eo” để diễn tả cái vắng teo tiêu sơ đìu hiu của cảnh thu và cái im ắng trong veo của mặt nước hồ thu:
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo!
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo
Từng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Đọc bài thơ Tỳ Bà của Bích Khê, tiếng đàn mùa thu được miêu tả theo âm bằng mà thôi (nghĩa là không dấu và dấu huyền):
Nàng ơi! Tay đêm / đương giăng mềm,
Trăng đan qua cành / muôn tơ êm
Mây nhung pha mầu / thu trên trời
Sương lam phơi mầu / thu muôn nơi.
Vàng sao nằm im / trên hoa gầy,
Tương tư người xưa / thôi qua đây.
Ôi nàng năm xưa / quên lời thề,
Hoa vừa đưa hương/ gây đê mê.
Cây đàn yêu đương /làm bằng thơ
Dây đàn yêu đương / run trong mơ
Hồn về trên tôi / kêu Em ơi!
Thuyền hồn không đi / lên chơi vơi.
Tôi qua tim nàng / vang du dương
Tôi mang lên lầu / lên cung thương.
Ôi tôi bao giờ / thôi yêu nàng,
Tình tang tôi nghe / như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu / trong lòng tôi,
Yêu nàng bao nhiêu / trên đôi môi
Đâu tìm Đào nguyên / cho xa xôi,
Đào nguyên trong lòng / nàng đây thôi!
Thu ôm muôn hồn /chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng/ kêu: Em yêu!
Trăng nay không nàng / như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đào / xin hơi xuân,
Buồn sang cây tùng / thăm đông quân.
Ô hay! Buồn vương / cây ngô đồng,
Vàng rơi! Vàng rơi! /Thu mênh mông
Suốt toàn bài thơ trên đã gieo vận nối liền giữa cuối hai câu như mềm-êm; trời-nơi; xuân –quân, đồng- mông. Trong bài, đôi khi có sự lập lại những chữ đầu câu nghe thú vị như:
Tôi qua tim nàng /vang du dương
Tôi mang lên lầu /lên cung thương.
Hay:
Yêu nàng bao nhiêu/ trong lòng tôi,
Yêu nàng bao nhiêu/ trên đôi môi
Hay:
Buồn lưu cây đào/ xin hơi xuân,
Buồn sang cây tùng / thăm đông quân.
Đặc biệt câu sau nghe như tiếng gảy trên giâyđàn vậy với sự láy hai chữ tình tang và tình lang:
Tình tang tôi nghe như tình lang
Tiếng Việt vốn là tiếng tượng thanh. Thi sĩ Bích khê tài hoa đã vận dụng tối đa cái ưu điểm này để biến bài thơ của mình nghe như một tiếng đàn.
Như là một lời kết vội vàng, nói chuyện tản mạn về thơ Muà Thu đã dẫn đắt chúng ta qua nhiều khía cạnh từ nội dung tình cảm qua mầu sắc đến âm thanh trong hình thức. Ta chỉ có thể kết luận rằng thi tứ về mùa thu là một bản đàn phong phú dài vô tận chất chứa những tâm tình e ấp của bao nhiêu điều chưa nói hết .
LÊ VĂN LÂN
Ý Kiến, Phê bình xin gửi về: bslevanlan@khoahoc.net
MÙA THU LÁ BAY
Mùa thu là mùa của thi ca lãng mạn, các thi nhân thường chọn mùa thu làm thơ soạn nhạc.. có thể mùa thu là một xúc tác cho họ trở về với đời sống thiên nhiên, thời tiết thay đổi, ở Âu châu khí hậu mát mẽ, cây lá đổi màu từ vàng sang đỏ, tạo nên bức tranh đẹp tuyệt mỹ của thiên nhiên, nhìn dãy núi Alpen xanh đậm, chen lẫn màu vàng úa của lá rất nên thơ.
Đời sống thiên nhiên mênh mông, con người bé nhỏ trong cái bao la của vũ trụ theo định luật của tạo hóa, thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1888-1939) miên man “giấc mộng con“ và thường cảm thu với nỗi ngậm ngùi, cách biệt, héo úa của mùa thu qua từng chiếc lá vàng rơi
Trận gió thu phong rụng lá vàng
Lá rơi hàng xóm lá bay sang
Vàng bay mấy lá năm già nữa
Hờ hững ai xuôi thiếp phụ chàng
Trận gió thu phong rụng lá hồng,
Lá bay tường bắc lá sang đông
Hồng bay mấy lá năm hồ hết
Thơ thẩn kià ai vẫn đứng không
Mỗi chiếc lá vàng bay, diễn tả mang theo ý niệm cuộc đời, cho tình yêu không trọn vẹn hay một giấc mơ không thành. Tản Đà hòa hợp từ lá vàng bay đến vàng bay mấy lá, tạo cho mùa thu nỗi buồn xa vắng, cảnh biệt ly lá rơi lác đác, cũng là một định luật của đời người phải trải qua: “hợp rồi tan, trăng tròn lại khuyết“
Lá thu rơi rụng đầu ghềnh
Sóng thu đưa lá bao ngành biệt ly
Thi sĩ Đinh Hùng (1920-1967) yêu đời, yêu người. Ngày xưa trong chương trình „Tao Đàn đài Sàigòn“ đã làm cho thính giả say mê, Đinh Hùng muốn cuộc đời lúc nào cũng réo rắt như tiếng lòng mình, mùa thu mang nặng những đợi chờ với bước chân em đi và trở lại với bài hát mùa thu
Hôm nay có phải là thu ?
Mây năm xưa đã phiêu du trở về .
Cảm vì em bước chân đi,
Nước nghiêng mặt ngọc lưu ly phớt buồn.
Ai về xa mãi cô thôn,
Một mình trông khói hoàng hôn nhớ nhà ?
Ngày em mới bước chân ra,
Tuy rằng cách mặt, lòng ta chưa sầu .
Nắng trôi vàng chẩy về đâu ?
Hôm nay mới thực bắt đầu vào thu .
Chiều xanh trắng bóng mây xưa,
Mây năm xưa đã phiêu du trở về .
Rung lòng dưới bước em đi,
Lá vàng lại gợi phân ly mất rồi!
Trời hồng, chắc má em tươi,
Nước trong, chắc miệng em cười thêm xinh.
Em đi hoài cảm một mình.
Hai lòng riêng để mối tình cô đơn.
Hôm nay tưởng mắt em buồn:
Đã trông thấp thoáng ngọn cồn, bóng sương.
Lạnh lùng chăng, gió tha hương?
Em về bên ấy, ai thương em cùng?
Lưu Trọng Lư (1912-1991) có nhiều nét riêng biệt từ hạnh phúc đến tan vỡ, từ thực tế đến mộng mơ. Lưu Trọng Lưu yêu đời nhưng cũng yếm thế chua cay ! tiếng thở dài nỗi nghẹn ngào, niềm đau cô đọng trong bài „tiếng thu“
Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức ?
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ ?
Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp lên lá vàng khô ?
Nữ sĩ Hồ Xuân Hương (1772-1822) đa tình lãng mạn, mùa thu trong mối tình với thi hào Nguyễn Du (1765-1820). Tình yêu thật cô đơn mong đợi „bóng nhạn về đâu mây ở lại dế trùng như khóc nước trôi hờ“. Bóng nhạn ở đây là Nguyễn Du và mây là Xuân Hương nhưng mùa thu mây chỉ giăng tối mịt mù, con nhạn kia đã vỗ cánh bay xa, nhưng mây trời ảm đạm mờ mịt ! tí tách giọt mưa trên tàu chuối đổi màu !
Mưa thu
Trời thảm mây giăng tối mịt mùng
Mưa thu tí tách nhỏ ngoài sân
Cây khô dài ngắn rơi hàng lệ,
Tàu chuối vàng tơi tiếng chậm nhanh
Ngâm dứt vàng đê mê sầu vạn dặm
Buồn giăng quạnh quẽ nỗi năm canh
Khuê phòng riêng khổ người nhan sắc
Một phiến sầu vương vẽ chẳng thành
Nguyên bản chữ Hán „Thu Vũ“
Thiên cách vân âm thảm bất minh
Tiêu tiêu thu vũ lạc nhàn đình
Đoản trường khô thụ chí đầu lệ,
Thư cấp hoàng tiêu diệp thượng thanh
Ngâm đoạn đê mê thiên lý mộng
Sầu khiên liêu tịch ngũ canh tinh
Thâm khuê tối khổ như hoa diện
Nhất phiến sầu dung họa bất thành
Đêm trăng thu, Tế Hanh (1921?) đưa tiễn người đẹp ra đi, ý thu gợi cảm cảnh chia tay:
Tiễn em trong cảnh thu tàn
Lòng ta muôn tiếng sao đầy lặng im
Ra về trong cảnh trời đêm
Vầng trăng như ánh mắt em dõi nhìn
Nữ sĩ Ngân Giang (1916?) những cánh nhạn thưa dần trong mây chiều bát ngát, thi sĩ mơ hồ xa xôi, nhìn mùa thu tới cây bàng trơ trụi, lá bàng rơi tự bao giờ!!
Cây bàng đã rụng lá bàng
Cổng nhà ai đấy, có nàng nhìn xa
Giàn hồng gió tạt là là
Tóc nàng vướng mấy cánh hoa sang mùa
Bên trời bầy én lưa thưa
Mây chiều bát ngát.. mơ hồ xa xôi..
Tiều phu gánh củi lên đồi,
Chuông chùa gần đấy gióng hồi thu không !
Quán đường heo hút lạnh lùng,
Có người khép cửa thư phòng ngâm thơ .
Nữ sĩ Vân Đài (1908-1964) Mùa xuân náo nức, nắng xuân tươi sáng gợi cảm nhiều rực rỡ, nhưng ngược lại nắng thu vàng vọt với gió heo mây, cánh nhạn bay thưa thớt buổi chiều thu.
Hiu hắt chiều hôm ngọn gío thu
Vừng ô gác núi bóng thêm mờ
Ngập ngừng cánh nhạn bên trời thẳm
Thấp thoáng thuyền ngư bến nước xưa
Mù mịt bên cầu cây phủ khói
Trơ trơ sườn núi đá phôi mưa
Trên đường vô hạn người qua lại
Trông khách tha hương luống hững hờ
Nữ sĩ Tương Phố (1900-?) khóc cho thân phận đời ngang trái, tình yêu hạnh phúc, bỗng dưng chồng bệnh mất bỏ lại phía sau vợ góa con côi. Tương Phố với „giọt lệ thu“ giải bày tâm sự đau thương để vơi đi phần nào nỗi nhớ thương „Người buồn lại gặp cảnh thu, sầu riêng trăm mồi bao giờ gỡ xong „!!
Trời thu ảm đạm một màu
Gío thu hiu hắt thêm rầu lòng em
Trăng thu bóng ngả bên thềm
Tình thu ai để duyên em bẽ bàng
Thời tiền chiến, Xuân Diệu (1916-1985) nổi bật trong làng thơ mới, ông quan niệm „là thi sĩ, nghiã là ru với gió. Mơ theo trăng và vớ vẩn cùng mây“. Mùa thu mang lại cho thi nhân màu sắc tuyệt vời... đây mùa thu tới
Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng;
Đây mùa thu tới- mùa thu tới
với áo mơ phai dệt lá vàng
Hơn một loài hoa đã rụng cành,
Trong vườn sắc đỏ rữa màu xanh;
Đôi cánh khô gầy xương mỏng manh.
Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ
Non xa khởi sự nhạt sương mờ..
Đã nghe rét mướt luồn trong gió..
Đã vắng người sang những chuyến đò
Mây vẫn từng không, chim bay đi
Khí trời u uất hận chia li
Ít người thiếu nữ buồn không nói,
Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì ?
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (1939-2001) để lại cho đời hơn 600 nhạc phẩm, nhạc của anh đã ăn sâu vào đời sống dân tộc. TCS là nghệ-sĩ có tài, đã nói lên được cảnh tận cùng bi đát trong thời chiến. Một số nhạc phản chiến, phổ biến rộng rãi trong giới sinh viên, học sinh trong phong trào tranh đấu (?) trước1975. "gia-tài của Mẹ để lại cho con.. nối vòng tay lớn “rừng núi dang tay nối lại biển xa, ta đi vòng tay lớn mãi để nối lại sơn hà.. “ nhiều người hâm mộ, vì nhạc phẩm đó nói thân phận làm người trong cuộc chiến, dân miền Nam đang gánh chịu chiến tranh, quê hương bị bom đạn tàn phá…. Nhưng Trịnh Công Sơn quên nói đến lý do tại sao xảy ra cuộc chiến? ai tạo nên cảnh tương tàn đó? bởi vậy anh băn khoăn hỏi lòng mình "Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi . Để một mai tôi về làm cát bụi"..Bây giờ anh đã trở về với cát bụi, nơi đó anh sẽ không thấy chiến tranh? Trịnh Công Sơn trong nhạc khúc "Nhìn những mùa thu đi". Mùa thu đi để lại chia ly, nuối tiếc.
"Nhìn những mùa thu đi
Em nghe sầu lên trong nắng
Và lá rụng ngoài song
Nghe tên mình vào quên lãng
Nghe tháng ngày chết trong thu vàng ..."
Cuộc chiến Việt Nam chấm dứt, có thể Trịnh Công Sơn hài lòng đến cuối cuộc đời? Nhưng nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đã ra đi làm người viễn xứ cùng với hơn 3 triệu người Việt cùng hoàn cảnh tâm trạng như anh, hướng về Quê Hương trong những dịp thu về với lá vàng bay !!
Em hỏi anh mùa thu Saigòn
Nắng còn vương vương trên hàng phố vắng
Em hỏi anh mùa thu Saigòn
Nước mắt bây giờ có như mưa tuôn...
Hay
Em có nghe mùa thu mưa giăng lá đổ
Em có nghe nai vàng hát khúc yêu đương
Trước 1975 thời kỳ phát triển mạnh về sáng tác âm nhạc hay phổ nhạc, Nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác nhiều nhạc phẩm giá trị, phổ nhạc bài thơ của thi hào Guillaume Apollinaire „Mùa thu chết“ do thi sĩ Bùi Giáng dịch sang Việt ngữ
... Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo
Em nhớ cho: Mùa thu đã chết rồi
Ôi ngát hương thời gian mùi thạch thảo
Em nhớ cho rằng ta vẫn chờ em
Vẫn chờ em, vẫn chờ em, vẫn chờ
Vẫn chờ... đợi em.
Mùa hè đỏ lửa cuộc chiến khốc liệt, mùa thu đến mang theo những chiếc quan tài trong chiều gió ảm đạm, đìu hiu. Người chồng ra đi chinh chiến không ngày trở về! nghĩa trang buồn với hàng me già rủ lá, những chiếc khăn tang trên đầu người thiếu phụ !
Nước mắt mùa thu khóc ai trong chiều
Hàng cây trút lá nghĩa trang đìu hiu
Từng chiếc, từng chiếc lệ khô vàng héo
Buồn thương từng kiếp nằm trong mộ héo tên người đời quên
Nước mắt mùa thu khóc than triền miên
Nước mắt mùa thu khóc trong đêm dài
Mùa thu chới vơi tiếng mưa buồn rơi !
Tôi chưa đến Hà Nội vào mùa thu, nhưng Hà Nội 36 phố phường có nét đẹp riêng của nó, vào mùa hạ những hàng cây cổ thụ có nhiều bóng mát, giúp khách bộ hành thoải mái đi dạo quanh Hồ Hoàn Kiếm qua cầu Thê Húc vào đền Ngọc Sơn. Nhiều người có dịp đến Hà nội vào những chiều cuối thu sương phủ mờ mờ và se lạnh, các cô gái Hà Thành mặc áo len quàng khăn tím đi xe Dream dưới những cơn mưa nhỏ hạt.. Mùa thu Hà Nội cũng là mùa cốm, cốm vốn là món quê hương quen thuộc ở vùng châu thổ sông Hồng.
Cốm thơm ngon nhất vào giữa thu, có lẽ nhờ sữa hạt lúa hấp thụ khí hậu của mùa thu. Hạt cốm có màu xanh thơm gói trong lá sen, buộc bằng sợi rơm vàng nhạt, Vào những ngày thu khi nắng đã nhạt và thoảng trong gió heo may, cùng trái bưởi vàng, quả hồng mọng đỏ. Mùa thu Hà Nội rõ nét có mùi thơm của hoa sữa „Hà nội mùa thu“ của Trịnh Công Sơn
Cây cơm nguội vàng,
Cây bàng lá đỏ
Nằm kề bên nhau, phố xưa nhà cổ
Mái ngói thâm sâu
Hà Nội mùa thu, mùa thu Hà Nội
Mùa hoa sữa về thơm từng ngọn gió
Mùa cốm xanh về, thơm bàn tay nhỏ
Nhà thơ Phạm Chung với nhạc phẩm „Mùa xuân ngồi bên cửa sổ“ nhìn em lang thang trên đường Cổ Ngư thơ mộng dưới những hàng liễu rũ xuống Hồ Tây, Hồ Trúc Bạch
Có phải mùa thu đã qua
Em lang thang qua phố phường Hà Nội
Mặt hồ Gươm pha sương, em soi đời u tối
Mùa cốm hồng không đợi
Em nhớ ai mà mưa bụi bay?
Mùa thu quê nhà và mùa thu hải ngoại, có khác nhau không? Bối cảnh ở Việt Nam với những nét trữ tình, độc đáo riêng biệt. Người lữ khách lưu dung trên đất khách quê người, nhạc sĩ Võ Hữu Toàn phổ nhạc "Mưa Paris - Mùa thu của tôi" giống như bài Paris có gì lạ không em? dòng sông Seine mà nhiều người mơ ước đến thăm, nhưng thực tế nước đục ngầu với nét buồn nào đó xa xôi, Paris trong mùa mưa thu ôi nó buồn làm sao
Paris buồn giữa trời thu
Cơn mưa ùa theo hối hả
Tiếng đàn cùng tiếng gió
Thở dài thành những cơn mưa
Em là mùa thu của tôi
Chẳng đợi chờ sao lại đến
Cũng đành một lần lỗi hẹn
Sông Seine buồn quá xa xôi...
Nguyên Sa một thời „Paris có gì lạ không em ?“ cũng như những thi sĩ khác đều làm những bài thơ hay, trong đó có mối tình của Cung Trầm Tưởng những lần hẹn hò nơi quán nhỏ ở quận 13, ngồi trong vườn Luxemburg như những cặp tình nhân khác trong gió chiều thu? Bài thơ "Mùa thu Paris" nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc :
Mùa thu Paris, trời buốt ra đi
Hẹn em quán nhỏ, hẹn em quán nhỏ
Rượu rưng rưng ly đỏ tràn trề ...
Mùa thu âm thầm bên vườn Lục Xâm
Ngồi quen ghế đá, ngồi quen ghế đá
Không em buốt giá từ tâm
Mùa thu nơi đâu, người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ, tóc vàng sợi nhỏ
Chờ mong em chín đỏ trái sầu..
Nhạc sĩ Minh Kỳ ông cảm thấy mùa thu vương nắng ấm quê hương, cuộc đời lưu vong của chúng ta, khó có thể nghe được tiếng tiêu ai thổi trong chiều thu với gió se lạnh..
Có chiều thu vương nắng cuối thu
tiếng tiêu ai vọng đến thiết tha buồn
man mác niềm vương vấn tình cố hương
mối u hoài trầm tư khi chiều xuống
Thi sĩ Paul Verlaine, Pháp, cũng cảm nhận được mùa thu nhẹ cảm như những thi sĩ, nhạc sĩ „An Nam“ mùa thu của ông qua "Chansons D'automne"
Les sanglots longs
Des violons
De l'automne
Blessent mon coeur
D'une langueur monotone
Tout suffocant
Et blême, quand
Sonne l'heure
Je me souviens
Des jours anciens
Et je pleure...;
Et je m’en vais
Au vent mauvais
Qui m’emporte
De cà, de là
Feuille morte
Bản dịch của anh Cao Yên Tuấn (Trần Tuấn Kiệt) ở Houston Hoa Kỳ tựa "Khúc hát mùa thu“ bản dịch nầy thật lả lướt và thoát nghiã, mang âm nhạc việt ngữ tuyệt vời
Đàn gieo chi khúc phượng cầu
Nghe như nức nở, như sầu miên man.
Thu về cho lá nhuốm vàng
Lòng ta tê tái theo ngàn lá rơi !
Chìm trong điệp khúc đơn côi.
Chán chường mòn mỏi nối lời xanh xao
Chuông giờ nghe điểm, nghẹn ngào,
Tiếng xưa kỷ niệm đưa vào tâm tri !
Lệ tràn trên bước ta đi,
Mặc cho gió chướng, nói chi cuộc tình !
Mang ta vào ngõ đăng trình,
Lá rơi đây đó ngập hình bóng xưa
Thu ơi nhớ mấy cho vừa
Trong giới hạn của bài viết, tôi không thể trình bày hết ý thu, bởi mùa thu là mùa chia ly như lá lià cành, là nỗi buồn của những cuộc tình dang dở. Nhưng mùa thu cũng là kỷ niệm bắt đầu một niên học mới mà nhà văn Thanh Tịnh đã viết buổi sáng ấy
‘‘Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, .. buổi sáng hôm ấy một buổi mai đầy sương thu và đầy gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp.. ’’
Mùa thu gợi lại hình ảnh mẹ hiền ngày nào đó đưa chúng ta đến trường, giờ nầy chỉ còn lại trong ký ức! mẹ đã ra đi mãi mãi trong mùa thu vĩnh biệt.
Nguyễn Quý Đại
E-Mail: nguyenquydai@khoahoc.net
Munich mùa thu 2007
Loài hoa tim rướm máu
Ở Việt nam, nói đến TTKH là tự động ta nghĩ đến hoa ti gôn. Hoa ti gôn được mệnh danh là hoa của tình yêu hay "hoa lòng" qua câu thơ trách móc dễ thương sau:
Trách ai mang cánh ti gôn ấy
Mà viết tình em được ích gì...
............
Những cánh hoa lòng - hừ đã ghét,
Thì đem mà đổi lấy hư vinh!
Ti gôn là loại hoa leo dàn và có màu đỏ tươi, nên TTKH tả là "hoa máu" qua đoạn thơ giã biệt sau trong Bài Thơ Cuối cùng (1937) trên tờ Tiểu thuyết thứ bẩy. Sau bài này thì tiếng thơ TTKH im bặt luôn, khiến văn đàn Việt nam ngơ ngẩn không biết TTKH là ai trong suốt nửa thế kỷ:
Là giết đời nhau đấy biết không
Dưới dàn hoa máu tiếng mưa rung
Giận anh, em viết giòng dư lệ
Là chút dư hương, điệu cuối cùng!
Trong thiên bút khảo này, trước hết tôi muốn dẫn độc giả tìm hiểu thêm về hoa ti gôn về nguyên ủy ly kỳ của cái tên ti gôn của nó. Trong mắt Tây phương, hoa ti gôn hoàn toàn không dính gì với tình yêu như chuyện TTKH mà cái tên của nó bắt nguồn từ thần thoại Hy lạp. Tuy nhiên, nhân nói đến biểu tượng về tình yêu, nói đến những tu từ bóng bảy như "hoa lòng", "hoa máu","hoa trông dáng như tim vỡ", trong đoạn sau, tôi mời quí bạn tìm hiểu thêm về những đóa hoa hình "Tim Rướm Máu"
Hoa ti gôn nguyên tên Tây phương là Antigône,ta gọi gọn là ti gôn. Nó còn mang nhiều tên khác rất đẹp tùy theo địa phương xứ sở như:
-Tràng hoa vương miện của Nữ Hoàng (Queen's Wreath )
-Hoa hồng của vùng Montana (Rose de Montana )
Khi tôi về hưu ỏ Austin,Texas tôi tình cờ tìm được hoa ti gôn ở Nursery dưới tên Mỹ thông dụng là Coral Vine ( dây leo san hô).
Đặc biệt theo sách Cây cỏ Việt nam của Phạm Hoàng Hộ, ti gôn còn được gọi là "Dây Hiếu nữ" do sự phiên dịch cái tên Antigône nguyên là tên của một nữ nhân vật trong thần thoại Hy lạp. Antigone là con gái của ông Oedipe và bà Jocaste (viết theo chữ Pháp).
Oedipe (xin Việt nam hóa đọc là Âu điệp) và gia đình ông gặp phải một định mệnh trớ trêu, ngang trái và bi thảm nhất. Âu điệp nguyên là con của vua vùng Thébès là Laios (Lai Ất) và hoàng hậu Jocaste (Du Cát). Vua Lai Ất phạm tội hoang dâm, cướp vợ người ta nên bị một lời nguyền rủa tiên tri là bản thân của ông sẽ bị chính con đẻ của mình giết, và đứa con này sẽ lấy mẹ nó. Do đó, vợ chồng Lai Ất và Du Cát tránh ăn nằm với nhau để sinh con, nhưng rồi nhân một đêm say rượu, ông bà lỡ sinh ra Âu điệp. Sợ lời nguyền rủa, vua Lai Ất sai người bỏ Âu điệp trong núi sâu cho chết lại cẩn thận lấy dáo đâm xuyên chân nó, với ý đồ là oan hồn của nó không hiện về được! Nhưng Âu điệp lại được mục đồng cứu sống. Và sau đó được vua vùng Corinthe nuôi. Cái tên Âu điệp đặt cho nó có nghĩa là bàn chân bị sưng húp ( do vết dáo đâm !). Khôn lớn, Âu điệp ra đi tìm kiếm pháp sư để hiểu về gốc gác gia đình. Trên đường đi, lại gặp chính cha mình là Lai Ất nhưng không biết mặt lại gây gổ, và Âu điệp giết chết cha đúng như lời tiên tri nguyền rủa!
Khi đến cửa thành Thébès là quê hương, Âu điệp ra tay trừ khữ con quái vật Sphinx (Linh Sư) để cứu dân tình khi đi qua thì bị nó ăn thịt! Linh Sư Sphinx hình thù thì có đầu người đàn bà nhưng mình là sư tử có cánh, nằm chận bên đường ở cổng thành, bộ hành ai đi qua đều bị nó hỏi một câu đố,giao hẹn rằng đáp sai thì nó ăn thịt, còn đáp đúng thì chính nó tự lao mình xuống núi đá mà chết. Câu đố của Linh Sư là:" Con vật gì lúc bé thì đi 4 chân, lớn thì đi 2 chân, khi già yếu thì đi 3 chân." Âu điệp đáp đúng là:" Con người!"
Nhờ công lao trừ khử Linh Sư, Âu điệp được vị nhiếp chánh vương Créon ( Khế ông), cai trị vùng Thébès thay vua Lai Ất tưởng thưởng nhường ngôi vua và được gả vợ cho là em gái của mình và là hoàng hậu quả phụ đúng như tờ bố cáo rao truyền! Ai ngờ, nhiếp chánh vương Khế Ông là anh của bà Du Cát!! Nên đúng như lời tiên tri nguyền rủa, Âu điệp đã giết cha và lấy mẹ mình mà không biết. Âu điệp ăn ở với mẹ ruột mình một cách hạnh phúc và sinh ra 2 con trai là Étéocle (Thế ốc) và Polynice ( Bá lý nhi) và 2 con gái là Antigone ( Thi Ân) và Ismène (Y Miên).
Nhưng về sau, vua Âu điệp khám phá ra tông tích và hành động tội lỗi sát phụ và loạn luân với mẹ của mình. Bà Du Cát xấu hổ bèn treo cổ quyên sinh. Ông Âu điệp thì tự đâm mắt cho mù. Bị đàm tiếu và khai trừ khỏi xứ, ông bỏ đi lang thang. Antigone Thi Ân là gái hiếu thảo, cũng bỏ cảnh nhà sung sướng êm ấm mà đi theo để dắt người cha mù loà khổ ải. Rốt cuộc lang thang đến thành Nhã điển thì cha chết.
Tấm lòng cao quí hy sinh của nàng Thi Ân không ngừng ở đây. Ít lâu sau, khi nghe rằng anh ruột mình là Bá lý nhi nổi loạn chống cậu ruột là vua Khế ông nên bị giết và bỏ phơi thây nhục nhã. Lệnh vua nghiêm nhặt là tuyệt đối cấm không cho ai chôn cất, mục đích cốt để linh hồn tử tội lang thang vất vưởng không phục thù báo oán được.
Nhưng nàng Thi Ân là người em gái hiếu đễ, nhất quyết tìm thây anh rồi cưỡng lệnh vua mà rắc đất lên thây anh như làm một nghi lễ mai táng tượng trưng. Nàng bèn bị vua Khế ông là cậu ruột đem xử tử không thương hại gì cả.
Huyền thoại về Oedipe đã gợi ý cho văn hào tác kịch gia Hy lạp Sophocle dựng hai vở bi kịch trứ danh về Oedipe. Bác sĩ Sigmund Freud, cha đẻ ngành Phân tâm học,là người đặt ra danh từ Complex "mặc cảm"dùng để chỉ tập hợp những cảm xúc phức tạp tuy bị dồn nén ẩn sâu trong đáy tận cùng của tiềm thức người ta nhưng lại có năng lực mạnh mẽ chi phối, điều động cái bản ngã chiều nổi của mỗi con người, như mặc cảm tự tôn,tự ti; mặc cảm tội lỗi. Freud đã dựa vào thần thoại Hy lạp trên mà ông đặt ra danh từ " mặc cảm Oedipe" là khuynh hướng kín đáo của người ta thường luyến ái mẹ ruột qua sự bú mớm, vuốt ve, mơn trớn trên da thịt trong tuổi thơ ấu ẵm bồng mà ngược lại thù ghét cay đắng đối với cha ruột vì là tình địch tranh dành sự ân ái của mẹ mình, lại còn nghiêm khắc răn đe, roi vọt đối với mình.
Mặc cảm Oedipe thì áp dụng cho con trai. Còn đối với con gái thì là "mặc cảm Électre" dựa vào chuyện thần thoại Hy lạp của người con gái tên Électre, con của ông Agamemnon và bà Clytemnestre. Để trả thù cha, Électre xúi đẩy em trai mình là Oreste ra tay giết chết bà mẹ và người tình của mẹ là Égisthe. Chuyện Électre đã được nhiều thi văn sĩ trong nhiều thế kỷ xưa nay dựng thành bi kịch như Sophocle,Euripide, Giraudoux, Eschyle.
Trở lại chuyện nàng Antigone hay Thi Ân, nàng hy sinh tận tụy đối với người cha Oedipe Âu điệp và liều chết vì anh là Polynice( Bá lý nhi),cũng có thể hiểu trong một khía cạnh tâm lý trong tiềm thức là mối luyến ái tự nhiên chăng?
Tôi chưa tìm được tài liệu tại sao tên của nàng Antigone Thi Ân hiếu đễ trong thần thoại Hy lạp lại được dùng để đặt cho loài dây hoa leo ti gôn là Dây Hiếu nữ!
Có thể hoa này trông giống như một tràng hoa quấn đầu mà nàng Antigone Thi Ân hay đội trong một vở bi kịch danh tiếng nào đó chăng? Hoặc có thể trên mộ nàng, đã bỗng nhiên mọc ra giây hoa này giống câu truyện Trầu Cau của Việt nam. Ai có trồng hoa ti gôn đều thấy lá nó hình quả tim, hoa cũng hình tim màu đỏ tươi như máu và thân nó có nhiều dây vòng như lò xo để bám leo lên dàn, tượng trưng cho sự quấn quít tự nhiên của sợi giây huyết thống, của tấm lòng hiếu thảo!
Ở Việt nam, TTKH là người đã dùng hình ảnh của hoa ti gôn trong những bài thơ danh tiếng của mình vì nó chứng kiến cho mối tình kín đáo chung thủy của nàng trong hàng rào lễ giáo. Nàng đã trước bạ nó vào văn học rồi và gọi nó là loài hoa trông "dáng như tim vỡ", một cái tên mà kẻ yêu thơ Việt nam ghi nhớ!
Kỳ thực, về thảo mộc học,trên thế giới và nhất là ở Mỹ, những người chơi hoa còn gặp nhiều thứ hoa khác có tên là " Hoa rướm máu" ( Bleeding heart) mà tôi xin kể ra cho quí bạn tường lãm:
1-Bleeding Heart Vine (Clerodendrum thomsoniae),loại dây leo gốc ở vùng bán nhiệt đới Á châu và Phi châu, 5 cánh hoa trắng kết lại giống trái tim như hoa ti gôn, nhưng lại có một cái tua nhị đỏ tươi lú ra ở giữa như một tia máu vọt ra!
2-Bleeding Heart (Dicentra formosa)là loại thường niên thảo có hoa giống trái tim có màu hồng phớt, hồng đỏ ửng hay trắng. Ở đầu cánh hoa có lú ra hai nhánh trông giống như hai cái cựa nhỏ nên loại hoa này mang một tên phân loại là loài "lưỡng cự" ( di: hai; centra: cựa. G/s Phạm hoàng Hộ gọi là loài Cựa ri! )
Một đặc điểm bí ẩn của hoa tim này là trong lòng hoa, dưới cánh hoa ngoài giống quả tim, nếu ta lấy tay vạch ra sẽ thấy thêm một vòng cánh hoa trong có tua nhị trông hệt như một hình búp bê nhỏ xíu mặc một cái váy trắng rộng. Hoa này rất dễ kiếm mua trong các Nursery ở Mỹ, nở suốt mùa hè, chịu nắng dịu và có một đặc điểm hoa rất ít bị sâu và bịnh nên bền bĩ...như ý nghĩa quả tim chung tình khắc khoải với thời gian. Một trò chơi lý thú mà người ta hay thử là lấy cánh hoa này vò ra, nếu hoa vẫn còn đỏ là "tình ta không ngừng như thác đổ"( miễn xài Viagra!), còn cánh hoa bầm tím thì đúng là một:
..."kẻ vô duyên vẫn cứ mong
Trăm năm ôm mãi khối tình không,
Trọn đời làm kẻ đưa thuyền khách
Thuyền chẩy, trơ vơ đứng với sông."
Loại Hoa Tim rướm máu (Bleeding heart) thuộc gia đình Lưỡng Cự (Dicentra) thì nhiều xứ có và mang những tên đẹp khác nhau như:
- Hà bao mẫu đơn (Hà bao là trông giống búp hoa sen) hay Ngư nhi mẫu đơn (giống hình cá nhỏ) tại Trung quốc
- Hoa Man mẫu đơn (Man là lả lướt mượt mà lan man như làn tóc) tại Nhật bản
- Hoa Đậu San Hô vì có sắc đỏ tại nước Áo.
Như lời kết để gói ghém,tôi muốn nhắn đến những tâm hồn yêu hoa trong thiên hạ rằng yêu hoa thì trân trọng ngắm hoa chưa đủ mà còn nên tríu mến tìm hiểu ý nghĩa và ngôn ngữ biểu tượng của hoa.
Riêng với những bạn thích trồng một dàn hoa tigôn trong vườn trên đất khách Hoa kỳ, sau đây là một vài chỉ dẫn theo kinh nghiệm bản thân của tôi:
1- Hoa ti gôn có tên Mỹ thông dụng là CORAL VINE,thường bán ở các Nursery trong những tiểu bang miền Nam Hoa kỳ, nhất là Texas nóng bức, lá tươi xanh luôn vì tigôn ưa thích nắng chói chan. Tên khoa học là ANTIGONON LEPTOSUS. Đây là một loại dây leo cho ra hoa rất dài mùa trong năm, mọc mau và che kín dàn và hàng rào.
2- Thời gian ra hoa nhiều: cuối hè đến thu.
3- Kích thước của cây dài 30 đến 40 feet, mọc rất nhanh
4- Sự chịu khí hậu lạnh thấp nhất là 10 đến 20 độ F,nên thích hợp cho vùng USDA Cold Hardiness Zone B. Còn sức chịu nóng là trung bình là 86 độ F từ 60 đến trên 210 ngày trong một năm ( theo American Horticultural Society (AHS) Heat Tolerance Zone 12-7)
4- Tưới nước: cây còn nhỏ thì tưới mỗi ngày, khi cây ổn định thì lâu lâu một lần.
5- Nên trồng chỗ nhiều nắng trong vườn thì mới lắm hoa.
6- Chăm sóc: khi cây con mới trồng thì chăm tưới cho mọc ra rễ sâu và rộng.
Phân bón cho hoa loại phổ thông - general purpose fertilizer. Dựng dàn rộng cao cho cây leo, vì cây mọc um tùm nên hằng năm nên tỉa lá cho gọn đẹp.
7- Cách trồng cây con mới mua về:
a. đào hố rộng gấp 3 đường kính của chậu
b. nên để bầu rễ hơi cao hơn mặt đất
c. dùng đất topsoil trộn với 1/3 planting mix, đổ chung quanh, chớ nén chặt
d. ngoài chu vi bầu rễ, nên đắp đất thành vành mô hơi cao, cỡ 2 inch
e. tưới nước cho đất nằm xuống rồi cho thêm đất vào hố rễ
f. đắp ũ rễ bằng một lớp mulch cho mát
g. đặc biệt trong mùa đông, cần ủ rễ thêm bằng mulch tránh giá lạnh.
Thân chúc quí bạn thành công trong sự gầy một dàn ti gôn thơ mộng.
LÊ VĂN LÂN
http://khoahoc.net/photo/loaihoatimruommau-1.gif
1-Bleeding Heart Vine (Clerodendrum thomsoniae),loại dây leo gốc ở vùng bán nhiệt đới Á châu và Phi châu, 5 cánh hoa trắng kết lại giống trái tim như hoa ti gôn, nhưng lại có một cái tua nhị đỏ tươi lú ra ở giữa như một tia máu vọt ra!
http://khoahoc.net/photo/loaihoatimruommau-2.gif
2-Bleeding Heart (Dicentra formosa)là loại thường niên thảo có hoa giống trái tim có màu hồng phớt, hồng đỏ ửng hay trắng. Ở đầu cánh hoa có lú ra hai nhánh trông giống như hai cái cựa nhỏ nên loại hoa này mang một tên phân loại là loài "lưỡng cự" ( di: hai; centra: cựa. G/s Phạm hoàng Hộ gọi là loài Cựa ri! )
Ý Kiến, Phê bình xin gửi về: bslevanlan@khoahoc.net
EM VÀ CÁI TÔI
LTS: Em Và Cái Tôi của Bùi xuân Khải là rung động một thời viết xuống thành lời được anh gửi đến cho chúng tôi, những người bạn học ngày xưa của anh, chia sẻ với nhóm bạn những gì đã gây cho lòng mình những giây phút bâng khuâng trong cuộc sống, để anh và chúng ta cùng nhận diện lại giây phút đó một lần và nhiều lần trong đời. Nó có năng lực đem hơi ấm cho ta, là kinh nghiệm đem sự chính chắn đến cho một quyết định một suy luận. Uyên Hạnh viết lời trần tình cho câu chuyện tình một thuở đó. Một “bài viết hợp tác” gửi đến độc giả chia sẻ về một nhận diện của sự mất mát đã có trong chúng ta.
Phần 1: Lời Trần Tình, Uyên Hạnh viết
Phần 2: EM VÀ CÁI TÔI của Bùi Xuân Khải
* * *
LỜI TRẦN TÌNH (là cảm tác là suy luận diễn bày khách quan về cuộc tình “rất Huế” của Bùi xuân Khải với người tình xứ Huế của anh một thuở nào): Trong cuộc đời của bạn chắc hẳn có những điều xảy ra trước đây từ cái thời mình mới lớn. Cái thuở mình biết xúc động để rồi biết thương nhớ vu vơ và yêu.. say đắm! Thời gian qua nhìn lại đọan đường mình đi bạn sẽ có những phút giây bồi hồi dữ dội. Đó là khi cái buồn không tên dâng ngập hồn, cho mình quay quắt, cho lòng mình chùng xuống, để nhớ nhớ thương thương, chợt buồn chợt bâng khuâng nuối tiếc và chợt ngậm ngùi!
“Lòng cuồng điên vì nhớ
Ôi đâu người đâu ân tình cũ
Chờ hòai nhau trong mơ
Nhưng có bao giờ thấy nhau lần nữa
Một mùa thu xa vắng
Như mơ hồ chìm trong đêm tối
Cố nhân xa rồi..
Có ai về lối xưa!”
Những sự kiện nầy chỉ “tàn độc tấn công” ta trong cái giây phút mình thấy cô độc lạc lõng nhất. Để ta mơ và thả hồn mình trở về lại con đường năm xưa. Con đường của ngày đó khi anh vội vàng cho em một nụ hôn rực cháy, và khi em với bản chất thẹn thùng rất Huế đã trách anh, để với cái “kinh nghiệm số không” của mình về tình yêu về phản ứng và hành động của một người con gái Huế gia giáo, anh đã đón nhận hành động nầy của em như một lời từ chối phủ phàng! Anh đã ngỡ rằng em xem thường tình anh, vì lời trách đó đối với anh là một lời từ chối. Để anh với cái tự ái và sự vụng về của một người yêu em, vội vã kết luận: - “Thôi thì thôi, để mặc mây trôi!”. Ta thương người mà người chẳng thương ta, thà ôm khổ đau hơn đi van xin tình ai! Trong giây phút đó tự ái lớn quá nên Cái Tôi to bằng Ông Trời của anh làm cho khổ đau chưa “thấm” được nên có thể anh chỉ biết suy nghĩ: “Em chưa thương ta hay em đã thương ai?
Thật buồn và thật đáng ngậm ngùi cho ta và cho người. Anh ngỡ rằng em từ chối tình anh. Em tưởng rằng anh chưa thật sự yêu em, chưa thật sự tôn trọng tình mình. Thật là vô nghĩa! Nhưng sự vô nghĩa nầy được anh và em mỗi người tự an ủi mình, bằng cách xác định rằng nó là ý nghĩa của hai chữ duyên phận! Em và tôi, mình chỉ có duyên gặp gỡ, chúng ta không có phận được sống bên nhau, nên “Tình mình chỉ có bấy nhiêu thôi!”
Trong những giây phút thầm lặng nhất của cuộc sống có ai không trở về lối cũ năm xưa bằng những bước chân của tư tưởng trên con đường hoa phượng đỏ để buồn và để vẫn vơ, để đếm bước chân mình trên con đường rợp hai hàng cây xanh um. Nghe tiếng lá xào xạc mà ngẩn ngơ ngậm ngùi. Nhìn những cành cây to lớn đang giao đầu thì thầm kể cho nhau nghe cuộc tình dưới mưa dưới nắng, những cuộc tình đẹp mà không trọn.
Những bâng khuâng của ngày đó khi chúng mình xa nhau là nỗi bâng khuâng của 2 con người có sự hiện hữu của một nền giáo dục nghiêm khắc của em và cái tôi vĩ đại của anh. Nỗi bâng khuâng của bây giờ là nỗi bâng khuâng của một sự nuối tiếc cho một cái gì đẹp tôi đã vụng về đánh mất và thương cho mình vì biết rằng chính mình là thủ phạm, là tòng phạm lại cũng là nạn nhân đã làm sụp đỗ thế giới của hai chúng ta, khi tôi “sắt đá” quay mặt không chịu nhận rằng cái sôi nỗi của mình có thể là sự bất hạnh của người mình thương trong cái xã hội khe khắc tôi và em đang sống thuở nọ.
Tôi của ngày xưa và tôi của bây giờ có một vị thế của nó. Chỉ có tư tưởng vượt được thời gian và không gian nên trước hai cái tôi đó, nó có một lời trần tình! Nói về một kỷ niệm là nói về một đọan đường đã đi. Những cảm giác những xao xuyến của ngày nào là những cánh hoa đem hương thơm và làm đẹp một phần đời tôi. Cuộc đời của tôi không phải chỉ bao gồm những cánh hoa nầy, nhưng tác động của nó cho tôi một phần hơi ấm nằm sâu một góc trong trái tim tôi. Có thế thôi!
Nói về một đọan đường đã đi không có nghĩa là tôi đem đọan đường đó để thay thế hay để phủ nhận đọan đường đang đi. Tôi chỉ muốn vẽ cho bạn thấy một đọan đường. Cuộc đời của bạn cũng như của tôi là con đường dài, được kết bởi rất nhiều đọan đường, mà trên con đường đang đi của đọan đường còn lại trước mắt có được do từ những đọan đường bạn hay tôi đã đi qua.
UYÊN HẠNH
* * *
Em và cái tôi
Bùi Xuân Khải
Em vụng về lúynh quýnh : K. về đi, chi dị rứa !
Giận hơn là hờn : tôi quay đầu xe khi lòng tự ái bị va đập.
Con đường L L chiều nay bỗng đỗ tối.
Em và tôi xa nhau sau đó dù có thư qua lại cùng nước mắt.
Em vẫn hiền dịu với cái thẹn thùng cố hữu.
Xa nhau tôi cũng chẳng được gì ngòai cái tên ”Bảy sắt đá” do bạn bè gắn chặt.
Tám năm sau, một ngày đầu tháng sáu, tôi nhận được một phiếu báo lãnh quà từ một tỉnh miền Trung xa xôi.
Ngạc nhiên lẫn một thóang bồi hồi . . . cuối cùng tôi cũng ra bưu điện.
Một gói quà xinh xắn được gói thật đẹp và cẩn thận.
“Mừng sinh nhật K.”
Ngòai một tấm thiệp nhỏ và một lá thư là những cái bánh hạt sen xinh xắn gói giấy màu ngũ sắc đặc trưng Huế.
Không chìu lòng người, những chiếc bánh dù đủ xinh và có thừa thời gian nhưng không đủ kiên nhẫn để đến tay người nhận : tất cả đã lên men và hư mốc : một tháng là quá dài đối với cuộc đời của những chiếc bánh!
Đọc thư em, một chút bâng khuâng, nhưng chỉ chừng đó.
. . . . .
Một lần nữa tôi thấy cái tôi.
BxKhai
2002
Lylys
11-21-2007, 12:41 AM
Hay dễ sợ... bài ni được nghe... P giỏi lắm... gắng post nhiều nhiều hí...
Khi Lá Mùa Thu Đổi Màu
Khi những lá mùa thu đổi màu, chúng ta thường có những cái nhìn và cảm xúc khác nhau trước cảnh vật thiên nhiên. Đối với nhà khoa học, sự thay đổi màu sắc của lá chỉ là phản ứng hóa học của cây khi thời tiết thay đổi. Đối với những người hướng về nội tâm và có nhiểu tình cảm thì những màu sắc kia là những nét chấm phá trong một bức tranh thật đẹp, đôi khi mang lại nổi buồn nào đó chôn sâu tận đáy lòng, những kỷ niệm của một mối tình thơ mộng đã tàn phai. Nhưng cũng có một số người không có thì giờ ngắm sự thay màu đổi sắc của thiên nhiên và họ cũng chẳng thích lá vàng rơi rụng đầy sân, quét hoài không hết ...
Những nhà khoa học đã mất nhiều thì giờ nghiên cứu tìm hiểu vì sao lá mùa thu đổi màu, những kết luận mà họ đạt được vẫn còn là giả thuyết. Chất màu xanh của lá hay diệp-lục-tố (chlorophyll) là màu chúng ta thường thấy vào mùa xuân và mùa hạ. Hai màu vàng và cam vẫn có sẳn trong lá quanh năm, nhưng chúng chỉ hiện ra khi màu xanh của lá biến đi. Vào mùa thu, khi thời tiết trở nên lạnh hơn và khoảng thời gian có ánh nắng mặt trời rút ngắn lại, lá cây ngừng sản xuất chất diệp-lục-tố, vì chất này không còn cần thiết để thu hút ánh nắng mặt trời để tạo sức sống cho cây. Chúng ta cũng tìm thấy lá màu đỏ thắm trong mùa thu, nhất là ở loại cây phong (maple). Sự sản xuất màu đỏ vào mùa thu vẫn còn là một bí ẩn. Màu này hình như chỉ xuất hiện để chống sự đông lạnh. Nhưng tại sao màu này lại cần thiết khi lá sắp rụng? Có thể đây là sự cố gắng thu hút sinh lực cuối cùng của cây trước khi chìm đắm vào giấc ngủ thật dài của mùa đông.
Luật sinh tồn của tạo hóa thật là kỳ diệu. Sự biến đổi của thiên nhiên không phải là tình cờ. Cây cỏ cũng biết chuẩn bị khi phải trải qua mùa đông dài lạnh buốt, giống như người nông dân chuẩn bị thóc gạo để sống qua mùa đông và những ngày mưa lụt.
Đa số chúng ta ai cũng thích nhìn lá đổi màu vào mùa thu, nhất là trên những con đường có nhiều cây, hay ven những khu rừng. Tại Mỹ, một trong những nơi du khách thường thích ngắm cảnh đẹp của mùa thu, đó là Skyline Drive, con đường dài 105 miles chạy xuyên qua Shenandoah National Park và dài theo những đỉnh cao của dãy núi Blue Ridge. Những hàng cây trùng điệp trên những sườn đồi, với màu sắc rực rở của lá mùa thu, trông giống như những tấm lụa mềm trải dài đến tận thung lũng Shenandoah.
http://khoahoc.net/photo/lamuathu.gif
Khi tại đất khách chúng ta bước vào mùa thu thì cơn mưa lạnh đã thấm sâu vào mảnh đất miền Trung của quê hương Việt Nam. Huế có những cảnh đẹp vô cùng thơ mộng nhưng buồn vì những ngày dài mưa không dứt. Nhưng chúng ta vẫn có những mùa thu Hà Nội tươi sáng hơn trong ánh nắng dịu, những đường phố xào xạc lá rơi, và những bờ hồ thơm nồng hương hoa sữa.
Nhạc sĩ Trịnh-Công-Sơn đã từng ghi lại trong bài "Nhớ Mùa Thu Hà Nội":
Hà Nội mùa thu, mùa thu Hà Nội,
Mùa hoa sữa về thơm từng ngọn gió
hay:
Hồ Tây chiều thu, mặt nước vàng lay bờ xa mời gọi
Màu sương thương nhớ, bầy sâm cầm nhỏ vỗ cánh mặt trời
Bên hồ Gươm tại Hà Nội, có hai cây lộc vừng rất đặc biệt. Hoa màu đỏ thật rực rở của hai cây này rũ xuống mặt hồ và thường nở vào mùa thu. Hoa lộc vừng thường nở về đêm nên không khí về đêm quanh hồ Gươm tỏa mùi thơm thật dịu. Nhiều bậc cao niên sống gần hồ kể rằng cứ mùa hoa lộc vừng nở là rùa thường nổi lên nhiều lần, chập chờn dưới những thảm hoa đỏ.
Và cũng có những mùa thu thật buồn, không phải vì lá vàng rơi ngập đầy giòng sông mà chỉ vì lòng ai tan nát vì "em ra đi mùa thu":
"Em ra đi mùa thu
Mùa thu không trở lại
Em ra đi mùa thu
Sương mờ giăng âm u
Em ra đi mùa thu
Mùa lá rơi ngập ngừng
Ðếm lá úa sầu lên
Bao giờ cho tôi quên".
(Mùa Thu Không Trở Lại, Phạm Trọng Cầu).
Rồi khi tình yêu tan vỡ, mùa thu cũng chết:
Ðó là ý của bài thơ L'adieu của Guillaume Apollinaire qua bản dịch của Bùi-Giáng và đã được Phạm-Duy phổ nhạc trong bản Mùa Thu Chết.
Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo
Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi
Chúng ta sẽ không tao phùng được nữa
Mộng trùng lai không có ở trên đời
Hương thời gian mùi thạch thảo bốc hơi
Và nhớ nhé ta đợi chờ em đó...
( Lời Vĩnh Biệt -- Bùi Giáng dịch )
Nhưng thôi, buồn làm chi khi mùa thu không trở lại, đợi chờ làm chi khi biết sẽ không được tao phùng.
Nhớ xưa em rũ tóc thề
Nhìn trăng sao nỡ để lời thề bay
Thôi thì thôi để mặc mây trôi
Ôm trăng đánh giấc bên đồi dạ lan
Thôi thì thôi chỉ là phù vân
Thôi thì thôi nhé có ngần ấy thôi
(Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng, thơ Phạm Thiên Thư, nhạc Phạm Duy).
Thu Phong
Mùa thu 2007 khoahocnet
MÙA THU CẤT CÁNH
Đoạn đường đi dài trên 400 dặm, thật quá xa đối với người lớn tuổi, làm biếng như tôi. Ngồi trên xe mà ngán ngẩm, nhưng do nhu cầu của công việc, đành phải lái xe đi, khi giá vé máy bay mắc nhiều lần hơn lúc thường.
Trước mặt tôi là khoảng trống của con đường đang bị nuốt dần theo tốc độ của xe. Nhiều đoạn đường đi qua, chỉ có mỗi một chiếc xe tôi lủi thủi chạy, giúp cho con đường có bóng dáng người. Hàng cây dọc hai bên đường, lá như run nhẹ theo cơn gió. Có chỗ thì lá đã vàng, có nơi thì lá vẫn còn mạnh khoẻ, xanh tươi. Thật sự không biết có phải trời đã vào thu hay chưa, dù rằng mùa thu có mặt?
Nhìn chung quanh xe, quanh quẩn cũng chỉ một mình. Một cảm giác cô đơn bâng khuâng xuất hiện. Cô đơn với chính mình, với những vật vô hình xung quanh, với con đường dài hun hút. Vẫn biết rằng cô đơn là khởi đầu của bước tiến tâm linh, bỏ những vướng víu gánh nặng, bước hài thô dẫm nhẹ nhàng vào cõi tâm, vì không có cô đơn sẽ không có cách nào để độ được cho những chúng sanh cô độc đã hiện diện, quậy phá nơi vùng nội kết của tâm đã bao đời qua, để vượt đến cõi an lạc.
Có người sợ hãi cô đơn, tưởng rằng đó là nổi thống khổ của cô độc, hoang vắng của kiếp người, nên lao đầu vào những cuộc biến tướng để che dấu cho một nội tâm khổ đau, chán chường, u ám, không biết sống để làm gì?
Mỗi người lựa chọn mỗi cách khác nhau để sống, để chạy trốn cô đơn tùy theo bản tánh, theo cách thức phô bày, tùy theo tâm ý, theo trình độ… Có người lao vào rượu chè như môt thú vui, nâng mình lên cao như một tiên ông, “khi say quên cả thiên thu quanh mình ”. Có người đam mê theo bài bạc, vung tiền ra như một hãnh diện, ngã giá cho những thú vui của cuộc đời “ta chung tình bên người chuồn bích. Cuộc tàn dư, ta bóng hiện hình “ hoặc giả có người sống bất cần đời, sống buông tha, không ai cần ai, vì tự nhận mình có quyền tự do cho cá nhân mình- ta sống vui cho chính ta là được rồi “ khi ta vui thì ta biết. Vì mình ta, ta chỉ muốn ta vui.. ”.
Còn lại, thì đa số mọi người đều muốn sống an phận, học hành, thành tài, lập gia đình và yên vui với đời sống hoặc có thể vươn cao trên danh vọng, tiền tài, sắc đẹp v.v…cũng có người thi vị hoá cuộc đời để làm thơ, viết văn để ca tụng một pháp vị, một đối tác nào đó mà mình bắt gặp, thân yêu, ôm ấp hầu che dấu nổi cô đơn. Có người đau xót khi thấy lá đổi sang vàng, đang buông thả mình theo gió và họ thảng thốt bâng khuâng “nước mắt mùa thu… để khóc cho phận người…”, có ai đó đã ngập ngừng, tê tái, cất lên tiếng hát day dứt, não nuột để khóc cho “mùa thu đã chết, đã chết rồi…”. Một lúc nào đó, thu chợt dừng chân, rùng mình, hỏi mọi người rằng “ phải chăng tôi đã có mặt và đã ra đi, đi vào cõi chết như mọi người suy tưởng”
một sớm mai, trời thức giấc
nghe thu vàng mang ấm lạnh đôi vai
dấu hương xưa cất gió đời
mùi phẩm vị lan toả mầm say ảo
hồn thơ ai , gió thổi bay
đời mộng say, người buông tay
chút đắng cay, vị tâm ngay
bỏ ngày mai, còn chỗ nay……
Minh Thanh
Thu đã từng hỏi và cũng đã mỉm cười. Thu đã có mặt và khi nhân duyên thay đổi, lại chan hoà cùng muôn vật để tồn tại trong sự chuyễn hoá, sinh hoá, cộng hoá…Nơi nầy có thể thấy lá vàng, nhưng nơi khác, rừng lá vẫn xanh, thì thu trú ẩn nơi đâu? Khi lá buông rời khỏi cây, chơi vơi trên khoảng không, lá vẫn ý thức rằng mình vẫn còn hiện diện trên những mẫu đời của muôn vật. Mỗi hạt vi trần là chỗ dung thân của vạn pháp, mỗi ánh chớp mắt của sát na là toàn biến của vô biên. Tại sao trên đôi vai ấm lạnh của cuộc đời, ta không buông bỏ hết những hoài niệm, vọng niệm, di niệm, ái niệm…mà buông tay, để cho ba ngàn thế giới hiện hình, nơi đây, chỗ nay? Ta có thể ngao du trong cơn say của ảo mộng, của khiếu thẩm mỹ, của ngả ngách của tâm bất an v.v…để chia cắt thực tại, cất dấu hương trong gió đời để cho phẩm vị theo mình làm trò say ảo ảo say? Nhưng, sao ta có thể nhẫn tâm, vô tình dập tắt hơi thở ngút ngàn tuôn chảy trong thu và phán án là thu đã hoại vong, đã ngừng lại, đã chết rồi….?
Vẫn biết rằng đời người rồi cũng đi qua, ai cũng đã một lần đến và đi. Cuộc trăm năm trong kiếp nhân sinh là hiếm. Ta có thể nuối tiếc, bồn chồn, mong kéo dài hơi thở để xoay chuyển vòng cuộc đời theo ý muốn của mình, dù là để chịu đựng thêm những nóng bỏng của nghiệp lực, cái giới hạn, khó khăn, bấp bênh của kiếp người và rồi than thân trách phận. Dòng đời vẫn xuôi chảy dù ta có mặt hay không. Tuy nhiên, có người lại đơn giản, vui vẻ đi vào cuộc đời như một lý tưởng, một nguyện.
Theo dấu chân của Đức Phật.- một con người đặc biệt mà trái tim từ bi và trí tuệ đã tỏa sáng, lan rộng trong quá khứ, hôm nay và ngày mai hoặc chỉ là trong sát na hiện tại mà mỗi người khi tiếp cận bỗng mở rộng được khung trời thanh tịnh bao la, ấm áp, đã luôn luôn che mát bao loài hữu hoặc vô tinh.
Theo bước chân Ngài, để người con Phật vươn cao, thầm lặng và tỉnh thức trên con đường Tứ nhiếp pháp- con đường mà các vị Giác Ngộ, các vị Bồ tát hoặc giả những người mang tâm nguyện dấn thân vì sự khổ đau con người mà phô bày, mà thi thố, mà thực hiện, mà lấy tâm để chỉ tâm, lấy đồng sự để mà cùng đi trên mọi nẻo đường trong thân phận một con người với tất cả nghiệp lực, mà làm hiển dương, sáng tỏ cái “trực tâm”.
Bố thí để cởi bỏ dần cái ngã, cái vị kỷ. Ái ngữ để tiếp cận đến con người. Lợi hành để xuyên qua thân khẩu ý, sống thiện tâm với người và chung lại, chính đồng sự là tác động mạnh nhất, ý nghĩa nhất vì là biểu hiện sức sống của 3 pháp trên hoặc ngược lai. Đồng sự trên thân phận con người, con người với tất cả bao nội kết, với gốc nguồn của u tối và dùng mắt tuệ soi chiếu được rõ căn tánh nầy- ta và người đều giống nhau, có đau khổ, có điên đảo, có mộng tưởng…và do nội chiếu, cũng thấy trong chiều sâu của tâm- có một bản tánh sáng suốt, mầu nhiệm, vượt thoát ra khỏi những ràng buộc của sắc không, của vọng mê- để mà chia xẻ, để mà nắm tay nhau trên con đường làm người chân thực.
một mảnh trăng non vừa ló dạng
mây cười thoáng nhẹ bóng từ tâm
xin ai dừng lại xem trời đất
chớ để mây buồn, vỡ ánh trăng …
Minh Thanh
Không có đồng sự, chúng ta chỉ chơi vơi trong chốn hoang vu của chính mình, làm sao có thể chấp nhận, thương yêu, bao dung để mà đến với nhau, ví dụ như mùa thu cũng như các mùa khác trong cuộc vận hành của thiên nhiên, vẫn đồng sự cùng các pháp trong vũ trụ để tồn sinh, ôm ấp. Chỉ có con người mới hiểu, thấu triệt, cảm thông và cứu được nổi khổ đau của con người.
MÙA THU CẤT CÁNH
Hãy mở rộng đôi tay vô tận
Đem mắt đời soi tỏ nguồn cơn
Là tâm son không dấu bụi trần
Dòng hơi thở mở trời vô tướng
Tâm hãy thở, lòng từ nhập cuộc
đời bao dung rọi bóng luân hồi
lời thưở trước, một đời bước nguyện
hoa lòng son, năm uẩn nhiệm mầu
Màu mắt sáng, đêm thâu chiếu rọi
chung trà xưa vãng cảnh ta bà
hãy nâng chén, trà xanh bốc khói
trong cội nguồn, tâm mở cõi vô biên……
Minh Thanh
Trong sự hoá thân của đồng sự, đạo Phật đã biến hoá đơn giản, hiện trú theo chiếc y ngàn cánh của người Khất sĩ. Màu vàng hoại sắc của dung dị, thanh tịnh, chia cung bậc của ngũ điều, thất điều v.v..làm ruộng phước cho con người. Nơi « phước điền y » nầy dung chứa biết bao nguyện lớn cho chính sự giác ngộ giải thoát của mình và cho các loài chúng sinh.
Đạo Phật đã tồn tại, lan truyền và mãi mãi sẽ là nguồn sáng từ bi trí tuệ đem an lạc-hạnh phúc cho con người vượt qua khỏi trầm luân của khổ đau, chấp trước của kiếp nhân sinh. Nhưng đạo Phật có phải là suối nguồn tươi mát hay không, phải do chính mỗi con người khi tiếp cận với chân trời cao thượng nầy có sống với, có quán chiếu, có thực hành giáo pháp hay không ? Chất liệu giải thoát của đạo Phật là sự thực tu, thực chứng. Vì có thực hành giáo pháp của Ngài, có nghĩa là chúng ta đã nhận thức và tin chắc rằng mình có tánh Phật và thể nhập. Nếu không thực hành, áp dụng giáo pháp trong đời sống thường nhật, thì dù chúng ta có nói đến ngàn vạn trang kinh, có nói đến từ bi trí tuệ, đến ngôn ngữ của Phật giáo v.v..thi đó cũng chỉ là ngôn ngữ, lời nói, không phải là bản chất của đạo Phật và do đó, chúng ta bỏ quên tánh Phật, không thể tự chuyển hoá cho chính mình, nên không thể đồng sự với con người, mà còn làm cho ngăn sông cách núi qua những thiên kiến, biên kiến, ái ngã.
Người con Phật đến với các vị Tôn Túc và kính quí, trọng ân như những vị Thầy dẫn đường, như người cha tinh thần, đã đem tấm lòng trong sáng mà chỉ đường, mà chia xẻ…nhưng chính mình phải thể hiện tánh giác cho chính mình.
Bát cơm dâng lên cúng dường, nghe lời chú nguyện của các vị Khất sĩ « phải nghỉ đến công khó của người tín thí, coi lại chính mình có đủ đức thọ dụng, tránh sự tham chấp, đây là lương dược để cho sức khoẻ và vì nguyện thành đạo quả, nên thọ sự cúng dường ». Chất phù sa của sức nguyện lớn, dưỡng chất dung chứa trí tuệ và từ bi, dung chứa tấm lòng phục vụ, dấn thân vì con người đang chìm đắm trong oán thù, sân hận, bạo động, vô minh ….đã là suối nguồn vi diệu, tươi mát qua biết bao nhiêu thế hệ, đã đưa bao người, bao dân tộc vượt thoát qua các cơn khát nạn, thăng trầm.
Lời nguyện « Thành đạo quả » không phải là một hiện tượng, mà là một cuộc sống, thể nhập và là một hạnh phúc cao thượng để san sẻ.
Người Phật tử quí kính tấm lòng đó, nên đê đầu đảnh lễ và cần cầu học hỏi cho chính mình. Họ biết rằng các bậc Thầy đã vững chắc, tự tại giữa bao đời thường, giữa vinh nhục, thịnh suy : « tự tại trong mạng, trong tâm, trong tư cụ, trong nghiệp, trong giải kiến, trong nguyện, trong thần lực, trong pháp, trong trí tự tại.. », nên không sợ hãi trước những vấn nạn phải đối diện như xã hội băng hoại , văn hoá xáo trộn hay áp lực của thế quyền, thần quyền nào…Tinh thần « vô úy » nầy đã bao lần làm chất liệu hoá giải những tham vọng đen tối, vị kỷ, mong gây chia rẻ, đày đọa loài người.
« Chúng sanh hữu bệnh, ngã hữu bệnh », đó là cuộc dấn thân, đồng sự cao thượng. Không có kẻ thù giữa con người, chỉ có vô minh-tham-sân mong hũy diệt con người.
Những nhà sư Miến Điện đã dấn thân, đối diện với vô minh, trực diện trước cuồng vọng, tấn công, áp bức, dày xéo trên thân phận con người. Các Ngài không phải vì danh, vì lợi…nhưng chỉ vì con người, vì tấm lòng thương yêu phài phục vụ, mong lấy thân làm chỗ bảo bọc nhân sinh, lấy y vàng làm ngọn đuốc làm tan biến vô minh. Đánh đập, giết chết, đày đọa…chỉ là một cáo trạng, một bản kết án cho chính mình và không giải quyết được vấn nạn, quốc tế bỏ quên lương tâm vì quyền lợi, vô minh thù hận vẫn còn đó .
Kìa dòng sông ô nhiểm
chiếc y vàng lẻ loi
bén cánh gươm trí tuệ
cắt bỏ những ưu phiền
Một mai, y hoá kiếp
trời đất gục cúi đầu
vàng y, vàng vũ trụ
dòng suối, đất nhiệm mầu…
Minh Thanh
Đạo Phật không y cứ nơi hình thức, vì đó chỉ là phương tiện để thể hiện. Nếu bám víu vào hình thức, khi hình thức bị hoại diệt, thì đạo Phật có còn không ? Như vũ trụ vận hành, có các mùa thay đổi, nhưng bản chất của các mùa vẫn là bản chất của duyên sinh, duyên hợp, nên vũ trụ vô cùng vô tận, bao la. Đạo Phật còn là nhờ sự tu tập, thực hành, vô trụ nên vô ngã, vì vô ngã nên hiện rõ tánh Phật. Đó là đạo Phật, một đạo Sống không biên giới, mà tràn ngập trong mỗi tâm tỉnh thức.
Theo bước chân các bậc Tôn Túc, người Phật tử lại thêm gánh nặng trên vai, ngoài cuộc mưu sinh :
- Ơn của cha mẹ- người sanh thành dưỡng dục.
- Ơn của tất cả mọi người, của tăng thân.
- Ơn của đất nước nơi mình sinh sống
- Ơn của Tam bảo.
Và dù hoàn cảnh như thế nào, trong cuộc đồng sự, người con Phật vẫn vui vẻ dấn bước theo gương các bậc Thầy- những người nêu gương sáng trên đường cầu đạo và phục vụ nhân sinh- để trả bốn trọng ân.
Qua « Tiếng nói tự tình mùa thu », mượn cảnh, mượn thời tiết, mượn lá thu vàng và biết rằng tất cả các pháp đều thị hiện Phật Pháp tùy theo bản tánh của mình. Mỗi một pháp trong vũ trụ đều thuyết pháp, bài pháp vi diệu, thâm sâu để tỏ rõ tất cả các pháp đều vô thường, biến đổi và thể hiện tánh Phật trong vô ngã. Tuy nhiên, trước những xáo trộn do con người hay do những thế lực vô minh v.v..mong làm chia rẻ tiếng nói từ bi-trí tuệ-vô úy của những người đang mang trọng trách « thiệu long Phật Pháp », chúng con muốn nói lên những lời tâm sự hay sự khẩn cầu :
- Kính xin những ai muốn chia cách, thù hận...hãy nhớ đến hạnh viễn ly, nhớ lời nguyện độ sanh, nhớ đến bao nguyện ước của mình vì sự khổ đau của con người, mà đến lại với nhau. Tất cả pháp thế gian đều vô thường, dù là địa vi, danh vọng, tiền tài v.v..mà mọi người ai nấy đều thường quán chiếu, thấu tận…..chỉ có Tánh Phật hay sự chứng ngộ mới là lý tưởng đi tới. Tất cả mọi người con Phật đều nhìn tới và hy vọng.
- Kính xin những ai, những con người tự xưng là Phật tử, trí thức, thiện tri thức v.v...xin đừng vì bất cứ lý do gì được che phù bởi những lý tưởng cao đẹp, mà vị kỷ, hạn hẹp, tham vọng, danh lợi...làm cho cuộc ba sinh nổi sống, làm chia cách tình đạo.
Trăm năm rồi cũng qua, không ai mang theo được gì khi rời bỏ cuộc đời, ngoài nghiệp lực. Nếu vì hạnh phúc-an lạc của con người mà chúng ta- những người con Phật- cần dấn thân phục vụ, hy sinh, chia xẻ, thì đó là tư lương cao thượng, quí giá mà mình tạo được, đem theo và mọi người khi hưởng được hương vị đó đều thầm cảm ơn, kính trọng.
Nhưng nếu vì tham vọng, ích kỷ, mưu đồ cho cá nhân v.v...chúng ta tạo những thảm cảnh để người không thể nhìn người, dù là đồng đạo, đó là chúng ta đang gạt mình và bỏ rơi tánh Phật nơi mình.
Thì đó là « một trọng tội và chúng ta đã vô tình để nợ cả trần gian một tấm lòng ».
Với tất cả tâm thành kính đảnh lễ, chia xẻ và hy vọng.
Ngày 06.11.2007
Cư sĩ Liên Hoa khoahocnet
vBulletin® v3.8.4, Copyright ©2000-2010, Jelsoft Enterprises Ltd.