PDA

View Full Version : Cái chết của một ngôn ngữ: tiếng Việt Sài Gòn cũ


KaaBOOM
11-29-2006, 06:24 AM
Cái chết của một ngôn ngữ: tiếng Việt Sài Gòn cũ

Trịnh Thanh Thuỷ

Vấn đề ngôn ngữ là vấn đề của muôn thuở, không riêng gì của người Việt. Trong bài viết này, tôi muốn bàn về một thực trạng của tiếng Việt mà đã đến lúc, chúng ta không thể không suy nghĩ về nó một cách nghiêm túc. Đó là nguy cơ diệt vong của một thứ tiếng Việt mà người miền Nam Việt Nam dùng trước năm 1975 hay còn được gọi là tiếng Việt Sài Gòn cũ. Thứ tiếng Việt đó đang mất dần trong đời sống hàng ngày của người dân trong nước và chẳng chóng thì chầy, nó sẽ biến thành cổ ngữ, hoặc chỉ còn tìm thấy trong tự điển, không còn ai biết và nhắc tới nữa. Điều tôi đang lo lắng là nó đang chết dần ngay chính trong nước chứ không phải ở ngoài nước. Người Việt hải ngoại mang nó theo hành trình di tản của mình và sử dụng nó như một thứ ngôn ngữ
lưu vong. Nếu người Việt hải ngoại không dùng, hay nền văn học hải ngoại không còn tồn tại, nó cũng âm thầm chết theo. Nhìn tiếng Việt Sài Gòn cũ từ từ biến mất, lòng tôi bỗng gợn một nỗi cảm hoài. Điều tôi thấy, có lẽ nhiều người cũng thấy, thấy để mà thấy, không làm gì được. Sự ra đi của nó âm thầm giống như những dấu tích của nền văn hoá đệ nhất, đệ nhị cộng hoà VN vậy. Người ta không thể tìm ra nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, Cổ Thành Quảng Trị, nghĩa trang Quận Đội, trường võ bị Thủ Đức, v.v... Tất cả đã thay đổi, bị phá huỷ hoặc biến đi như một sắp xếp của định mệnh hay một định luật của tạo hoá.

Nhắc đến tiếng Việt Sài Gòn cũ là nhắc tới miền Nam Việt Nam trước 1975. Vì cuộc đấu tranh ý thức hệ mà Nam, Bắc Việt Nam trước đó bị phân đôi. Sau ngày Việt Nam thống nhất năm 75, miền Nam thực sự bước vào sự thay đổi toàn diện. Thể chế chính trị thay đổi, kéo theo xã hội, đời sống, văn hoá và cùng với đó, ngôn ngữ cũng chịu chung một số phận. Miền Bắc thay đổi không kém gì miền Nam. Tiếng Việt miền Bắc đã chịu sự thâm nhập của một số ít ngữ vựng miền Nam. Ngược lại, miền Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp sự chi phối của ngôn ngữ miền Bắc trong mọi lãnh vực. Nguời dân miền Nam tập làm quen và dùng nhiều từ ngữ mà trước đây họ không bao giờ biết tới. Những: đề xuất, bồi dưỡng, kiểm thảo, sự cố, hộ khẩu, căn hộ, ùn tắc, ô to con,
xe con, to đùng, mặt bằng, phản ánh, bức xúc, tiêu dùng, tận dụng tốt, đánh cược, chỉ đạo, quyết sách, đạo cụ, quy phạm, quy hoạch, bảo quản, kênh phát sóng, cao tốc, doanh số, đối tác, thời bao cấp, chế độ bao cấp, chế độ xem, nâng cấp, lực công, nền công nghiệp âm nhạc, chùm ảnh, chùm thơ, nhà cao tầng, đáp án, phồn thực, sinh thực khí, từ vựng, hội chứng, phân phối, mục từ, kết từ, đại từ, nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân,v.v...dần dà đã trở thành những từ ngữ quen thuộc trong đời sống hàng ngày của người dân miền Nam.

Có những từ ngữ miền Nam và miền Bắc trước 75 đồng nghĩa và cách dùng giống nhau. Có những từ cùng nghĩa nhưng cách dùng khác nhau. Tỷ như chữ "quản lý" là trông nom, coi sóc. Miền Nam chỉ dùng từ này trong lãnh vực thương mại trong khi miền Bắc dùng rộng hơn trong cả lãnh vực cá nhân như một người con trai cầu hôn một người con gái bằng câu: "Anh xin quản lý đời em". Hoặc từ "chế độ" cũng vậy, miền Nam chỉ dùng trong môi trường chính trị như "chế độ dân chủ". Miền Bắc dùng bao quát hơn trong nhiều lãnh vực như "chế độ xem", "chế độ bao cấp". Có những từ miền Bắc dùng đảo ngược lại như đơn giản - giản đơn; bảo đảm - đảm bảo; dãi dầu - dầu dãi; vùi dập - dập vùi. v.v...

Song song với việc thống nhất đất nước, chính quyền Việt Nam đã thống nhất hoá tiếng Việt và gọi đó là "tiếng Việt toàn dân". Cuối năm 1979, đầu năm 1980, Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam đã phối hợp với Viện Khoa học Giáo dục tổ chức một số cuộc hội thảo về vấn đề chuẩn hoá tiếng Việt. Bộ Giáo dục cũng thông qua một số quy định về chính tả trong sách giáo khoa cải cách giáo dục. Ngày 01/7/1983, Quyết nghị của Hội đồng chuẩn hoá chính tả và Hội đồng chuẩn hoá thuật ngữ đã được ban hành và áp dụng cho các sách giáo khoa, báo và văn bản của ngành giáo dục.

Khi tiếng Việt được thống nhất và chuẩn hoá, toàn quốc sử dụng chung một thứ ngôn ngữ theo một tiêu chuẩn, mẫu mực nhất định. Tiếng Việt Sài Gòn cũ, gồm những từ ngữ mà tiếng Việt miền Bắc đã có từ ngữ thay thế, sẽ bị quên đi hoặc bị đào thải. Những từ ngữ thông dụng cho cuộc chiến trước đó sẽ biến mất trước tiên. Những: trực thăng, cộng quân, tác chiến, địa phương quân, thiết vận xa, xe nhà binh, lạnh cẳng, giới chức(hữu) trách, dứt điểm, phi tuần, chào bãi, tuyến phòng thủ, trái bộc pha, viễn thám, binh chủng, phi hành, gia binh, ấp chiến lược, nhân dân tự vệ, chiêu hồi, chiêu mộ, v.v… hầu như ít, thậm chí không được dùng trong hiện tại. Những từ ngữ thông dụng khác như ghi danh, đi xem đã bị thay thế bằng đăng ký, tham quan. Nhiều từ
ngữ dần dần đã bước vào quên lãng như:sổ gia đình, tờ khai gia đình, phản ảnh, đường rầy, cao ốc, bằng khoán nhà, tĩnh từ, đại danh từ, túc từ, giới từ, khảo thí, khán hộ, khao thưởng, hữu sự, khế ước, trước bạ, tư thục, biến cố, du ngoạn, ấn loát, làm phong phú, liên hợp, gá nghĩa, giáo học, giáo quy, hàm hồ, tráng lệ, thám thính, tư thất, chẩn bệnh, chi dụng, giới nghiêm, thiết quân luật, v.v...

Ở hải ngoại, khi bắt đầu cầm bút, trong tâm thức một người lưu vong, viết, đối với tôi, là một động tác mở để vỡ ra một con đường: Đường hoài hương. Nhiều người viết hải ngoại cũng tìm đến con đường về cố hương nhanh nhất này như tôi. Hơn nữa, để đối đầu với cơn chấn động văn hóa thường tạo nhiều áp lực, tôi xem viết như một phương pháp giải toả và trám đầy nỗi hụt hẫng, rỗng không của một người vừa ly dị với quê hương đất tổ sau một hôn phối dài. Tôi không bao giờ để ý đến việc mình viết cho ai, loại độc giả nào, trong hay ngoài nước, và họ có hiểu thứ ngôn ngữ mình đang dùng hay không vì lúc đó, chỉ có một vài tờ báo điện tử liên mạng mới bắt đầu xuất hiện ở hải ngoại. Sau này, nhờ kỹ thuật điện toán ngày
một phát triển, cầu giao lưu giữa trong và ngoài nước được nối lại, độc giả trong và ngoài nước đã có cơ hội tiếp xúc, thảo luận, đọc và viết cho nhau gần như trong gang tấc. Đó là lúc tôi được tiếp xúc với dòng văn học trong nước và làm quen với nhiều từ ngữ mới lạ chưa từng được nghe và dùng. Ngược lại, trong nước cũng vậy, số người lên mạng để đọc những gì được viết bởi người cầm bút ngoài nước cũng không ít.

Thế hệ chúng tôi được người ta âu yếm gọi là thế hệ một rưỡi, thế hệ ba rọi hay nửa nạc nửa mỡ, cái gì cũng một nửa. Nửa trong nửa ngoài, nửa tây nửa ta, nửa nam nửa bắc, nửa nọ nửa kia, cái gì cũng một nửa.

Do đó, nhiều lúc tôi phân vân không biết mình nên dùng nửa nào để viết cho thích hợp nữa. Nửa của những từ ngữ Sài Gòn cũ hay nửa của tiếng Việt thông dụng trong nước? Mình có nên thay đổi lối viết không? Tôi nghĩ nhiều người viết hải ngoại cũng gặp khó khăn như tôi và cuối cùng, mỗi người có một lựa chọn riêng. Không chỉ trong lãnh vực văn chương, thi phú mà ở các lãnh vực phổ thông khác như giáo dục và truyền thông cũng va phải vấn đề gay go này. Việc sử dụng nhiều từ ngữ thông dụng của quốc nội ở hải ngoại đã gặp nhiều chống đối và tạo ra những cuộc tranh luận liên miên, dai dẳng.

Các cơ quan truyền thông như báo chí, truyền thanh, truyền hình thường xuyên bị chỉ trích và phản đối khi họ sử dụng những từ trong nước bị coi là "chữ của Việt Cộng" và được yêu cầu không nên tiếp tục dùng. Nhất là ở Nam Cali, báo chí và giới truyền thông rất dễ bị chụp mũ "cộng sản" nếu không khéo léo trong việc đăng tải và sử dụng từ ngữ. Chiếc mũ vô hình này, một khi bị chụp, thì nạn nhân xem như bị cộng đồng tẩy chay mà đi vào tuyệt lộ, hết làm ăn vì địa bàn hoạt động chính là cộng đồng địa phương đó.

Trong cuốn DVD chủ đề 30 năm viễn xứ của Thúy Nga Paris, chúng ta được xem nhiều hình ảnh cộng đồng người Việt hải ngoại cố gìn giữ bản sắc văn hoá Việt Nam bằng cách mở các lớp dạy Việt ngữ cho các con em. Khắp nơi trên thế giới, từ nơi ít người Việt định cư nhất cho tới nơi đông nhất như ở Mỹ, đều có trường dạy tiếng Việt. Riêng ở Nam California, Mỹ, hoạt động này đang có sự khởi sắc. Ngoài những trung tâm Việt ngữ đáng kể ở Little Saigon và San José, các nhà thờ và chùa chiền hầu hết đều mở lớp dạy Việt ngữ cho các em, không phân biệt tuổi tác và trình độ. Nhà thờ Việt Nam ở Cali của Mỹ thì rất nhiều, mỗi quận hạt, khu, xứ đều có một nhà thờ và có lớp dạy Việt ngữ. Chùa Việt Nam ở Cali bây giờ cũng không ít. Riêng vùng Westminster,
Quận Cam, Cali, đi vài con đường lại có một ngôi chùa, có khi trên cùng một con đường mà người ta thấy có tới 3, 4 ngôi chùa khác nhau. Việc bảo tồn văn hoá Việt Nam được các vị hướng dẫn tôn giáo như linh mục, thượng tọa, ni sư nhắc nhở giáo dân, đại chúng mỗi ngày. Lớp học tiếng Việt càng ngày càng đông và việc học tiếng Việt đã trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của cộng đồng lưu vong. "Tại Trung tâm Việt ngữ Hồng Bàng, năm nay số học sinh nhập học tiếng Việt lên tới 700 em. Những thầy cô dạy tiếng Việt đều làm việc thiện nguyện hoàn toàn, đã hết lòng chỉ dạy cho các em, nhất là các em vừa vào lớp mẫu giáo tiếng Việt" (trích Việt báo, Chủ nhật, 9/24/2006)

Về vấn đề giáo trình thì mỗi nơi dạy theo một lối riêng, không thống nhất. Sách giáo khoa, có nơi soạn và in riêng để dạy hoặc đặt mua ở các trung tâm Việt ngữ. Còn ở đại học cũng có lớp dạy tiếng Việt cho sinh viên, sách thường được đặt mua ở Úc. Một giảng sư dạy tiếng Việt tâm sự với tôi: "Khi nào gặp những từ ngữ trong nước thì mình tránh đi, không dùng hoặc dùng từ thông dụng của Sài gòn cũ trước 75 vì nếu dùng cha mẹ của sinh viên, học sinh biết được, phản đối hoặc kiện cáo, lúc ấy phải đổi sách thì phiền chết."

Sự dị ứng và khước từ việc sử dụng tiếng Việt trong nước của người Việt hải ngoại có thể đưa tiếng Việt ở hải ngoại đến tình trạng tự mình cô lập. Thêm nữa, với sự phát triển rầm rộ của kỹ thuật điện toán và thế giới liên mạng, báo chí, truyền thông của chính người Việt hải ngoại đến với mọi người quá dễ dàng và tiện lợi. Độc giả cứ lên mạng là đọc được tiếng Việt Sài Gòn cũ nên họ dường như không có nhu cầu tìm hiểu tiếng Việt trong nước. Kết quả là tiếng Việt trong và ngoài nước chê nhau!!!

Việc người Việt hải ngoại chống đối và tẩy chay ngôn ngữ Việt Nam đang dùng ở trong nước có vài nguyên do:

Thứ nhất là do sự khác biệt của ý thức hệ. Những người Việt Nam lưu vong phần lớn là người tị nạn chính trị. Họ đã từ bỏ tất cả để ra đi chỉ vì không chấp nhận chế độ cộng sản nên từ chối dùng tiếng Việt trong nước là gián tiếp từ chối chế độ cộng sản.

Thứ hai, sự khác biệt của từ ngữ được dùng trong cả hai lãnh vực ngữ nghĩa và ngữ pháp. Đây là một thí dụ điển hình. Trong cùng một bản tin được dịch từ một hãng thông tấn ngoại quốc, nhà báo ở trong nước và ngoài nước dịch thành hai văn bản khác nhau:

Trong nước:

Tàu ngầm hạt nhân Nga bốc cháy

Interfax dẫn một nguồn tin Hải quân Nga cho hay ngọn lửa bắt nguồn từ phòng điện hóa và dụng cụ bảo vệ lò hạt nhân đã được kích hoạt, do đó không có đe dọa về nhiễm phóng xạ. Phát ngôn viên hạm đội này cho hay: "Lửa bốc lên do chập điện ở hệ thống cấp năng lượng phần mũi tàu.
(http://vnexpress. net/Vietnam/ The-gioi/ 2006/09/3B9EDF89 /)

Ngoài nước:

Hỏa hoạn trên tàu ngầm Nga

Hải quân Nga nói rằng lò phản ứng hạt nhân trên tàu Daniil Moskovsky đã tự động đóng lại và không có nguy cơ phóng xạ xảy ra. Chiếc tàu đã được kéo về căn cứ Vidyayevo. Nguyên nhân hỏa hoạn có thể do chạm giây điện.
(http://www.nguoi- viet.com/ absolutenm/ anmviewer. asp?a=48362& z=75)

Một người Việt hải ngoại khi đọc văn bản thứ nhất sẽ gặp những chữ lạ tai, không hiểu nghĩa rõ ràng vì sự khác biệt như những chữ: phòng điện hoá, được kích hoạt, chập điện, hệ thống cấp năng lượng...

Hơn thế nữa, Việt Nam mới bắt đầu mở cửa thông thương giao dịch với quốc tế; những từ ngữ mới về điện toán, kỹ thuật, y khoa, chính trị, kinh tế, xã hội, ồ ạt đổ vào. Có nhiều từ ngữ rất khó dịch sát nghĩa và thích hợp nên mạnh ai nấy dịch. Ngoài nước dịch hai ba kiểu, trong nước bốn năm kiểu khác nhau, người đọc cứ tha hồ mà đoán nghĩa. Có chữ thà để ở dạng nguyên bản, người đọc nhiều khi còn nhận ra và hiểu nghĩa nó nhanh hơn là phiên dịch.

Trong việc phiên dịch, theo tôi, địa danh, đường phố, tên người nên giữ nguyên hơn là phiên dịch hay phiên âm. Nếu có thể, xin chú thích từ nguyên bản ngay bên cạnh hay đâu đó bên dưới bài viết sẽ giúp người đọc dễ theo dõi hay nhận biết mặt chữ. Tỷ như việc phiên âm các địa danh trên bản đồ trong sách giáo khoa của Bộ Giáo dục trong nước là việc đáng khen nhưng tôi nghĩ, nếu đặt từ nguyên thủy lên trên từ phiên âm thì các em học sinh chưa học tiếng Anh hoặc đã học tiếng An sẽ dễ nhận ra hơn. Xin lấy tỉ dụ là những địa điểm được ghi trên tấm bản đồ này. (http://i12.photobuc ket.com/albums/ a215/unisom/ thualuonJPG. jpg)

Tôi thấy một hai địa danh nghe rất lạ tai như Cu dơ Bây, Ben dơ mà không biết tiếng Mỹ nó là cái gì, ngồi ngẫm nghĩ mãi mới tìm ra: đó là hai địa danh Coos Bay và Bend ở tiểu bang Oregon, nước Mỹ!

Ngôn ngữ chuyển động, từ ngữ mới được sinh ra, từ cũ sẽ mất đi như sự đào thải của định luật cung cầu. Tiếng Việt Sài Gòn cũ ở trong nước thì chết dần chết mòn; ở ngoài nước, nếu không được sử dụng hay chuyển động để phát sinh từ mới và cập nhật hoá, nó sẽ bị lỗi thời và không còn thích ứng trong hoạt động giao tiếp nữa. Dần dà, nó sẽ bị thay thế bằng tiếng Việt trong nước. Nhất là trong những năm gần đây, sự chống đối việc sử dụng tiếng Việt trong nước ngày càng giảm vì sự giao lưu văn hoá đã xảy ra khiến người ta quen dần với những gì người ta đã phản đối ngày xưa. Tạp chí, sách, báo đã đăng tải và phổ biến các bản tin cũng như những văn bản trong nước. Người ta tìm được nhiều tài liệu, ấn phẩm, sách nhạc quốc nội
được bày bán trong các tiệm sách. Các đài truyền thanh phỏng vấn, đối thoại với những nhà văn, nhà báo, chính trị gia và thường dân trong nước thường xuyên. Đặc biệt, giới ca sĩ, nhiều người nổi tiếng ra hải ngoại lưu diễn, đi đi về về như cơm bữa. Giới truyền thông bây giờ sử dụng từ ngữ trong nước rất nhiều, có người mặc cho thiên hạ chỉ trích, không còn ngại ngùng gì khi dùng từ nữa. Khán thính giả có khó chịu và chê trách, họ chỉ giải thích là thói quen đã ăn vào trong máu rồi, không chịu thì phải ráng mà chịu.

Sự ra đi của một chế độ kéo theo nhiều thứ: con người, tài sản, nhà cửa, vườn tược, lịch sử… nhưng có cái bị lôi theo mà người ta không ngờ nhất lại là "cái chết của một ngôn ngữ". Đau lòng lắm thay!

dsuqtran
11-29-2006, 04:26 PM
Còn tiếng Việt Hà Nội thì đã chết hồi nào vậy ????

USZ28TVB
12-29-2006, 05:41 AM
Tiec thay !, :(, hy vọng người Việt ở nước ngoài vẫn duy trì đựơc pre 1975 ngôn ngử, :).

steveh
01-02-2007, 07:16 AM
Nếu bạn nghe đài BBC thì để ý ngay; thay vì nói "Toà Bạch Ốc" thì họ nói là "Toà Nhà Trắng". Tui có email họ về cách nói này thì họ nổi giận lên :D

USZ28TVB
01-02-2007, 09:48 AM
SteveH,
Mình ít nghe BBC lắm, tuy nhiên ~ người như us vẩn có thế duy trì chút nào, đở chút nấy, dạy con cháu trong nhà ....
I know it is sad, and it is an uphill battle but not necessary not winable, :).

seanguyen
01-02-2007, 10:21 AM
Dùng từ của VN hiện giờ đôi lúc nghe cũng fun chớ, ví dụ "vô tuuư" :D
"Anh cứ vô tuuư" :D:D:D (chữ tuuư này fải kéo dài ra mới giống :))

dsuqtran
01-02-2007, 11:20 AM
Dùng từ của VN hiện giờ đôi lúc nghe cũng fun chớ, ví dụ "vô tuuư" :D
"Anh cứ vô tuuư" :D:D:D (chữ tuuư này fải kéo dài ra mới giống :))

Xong rồi thì tha hồ mà đoán mò ...:newwink:

Có ai hiểu Bình Chọn ..là gì hông ??

WLP
12-08-2007, 02:10 AM
Việt Nam có hay không một ngôn ngữ thuần chất?

Đã có người từng thắc mắc không biết tiếng Việt có phải là một ngôn ngữ thuần chất hay không? Còn có người cho rằng người Việt vì sống tha hương nên ngôn ngữ VN họ dùng để nói và viết theo thời gian sẽ mất dần đi tính thuần chất. Tiện đây, chúng ta hãy thử tìm hiểu xem "Có hay không có một ngôn ngữ VN thuần chất?".



Trước tiên, tôi xin nói sơ về định nghĩa của ngôn ngữ.



Theo bách khoa tự điển Wikipedia, ngôn ngữ là một phương pháp nói hay viết mà con người dùng để giao tiếp, cảm thông nhau. Ngôn ngữ được diễn tả như một hệ thống những ký hiệu và những ngữ pháp(grammar). Ngày nay trên thế giới có khoảng từ 5,000 tới 6,000 ngôn ngữ khác nhau.

Có người hiểu một cách đơn giản, ngôn ngữ là tiếng nói. Không phải vậy, tiếng nói là một từ ngữ có nghĩa rộng ám chỉ hành động "nói" theo một khuôn mẫu, của một người. Ngược lại, ngôn ngữ là một loạt luật lệ dành cho tiếng nói. Tiếng địa phương(dialect) hay thổ ngữ hoặc phương ngữ là những dạng khác nhau của ngôn ngữ. Tiếng địa phương thay đổi theo từng cộng đồng ở mỗi hoàn cảnh, mỗi địa dư khác nhau.

Không có một lằn ranh rõ rệt nào giữa ngôn ngữ và tiếng địa phương. Có vào khoảng 200 ngôn ngữ trên thế giới được nói bởi hàng triệu tiếng địa phương khác nhau. Tiếng Tàu và tiếng Anh là một điển hình.

Thông thường, nếu có hai người nói chuyện với nhau mà người này không hiểu lời nói của người kia, họ thường nghĩ rằng họ đang nói hai ngôn ngữ khác biệt. Thực ra có thể họ đang nói cùng một ngôn ngữ nhưng nói hai thứ tiếng địa phương hoặc người này không hiểu người kia vì trình độ, tư tưởng, văn hóa, chính trị hay môi trường xã hội khác hẳn nhau.

Từ hay chữ là một đơn âm(tiếng Việt đơn âm) hoặc đa âm có mang ý nghĩa và loại từ(danh từ, động từ, túc từ). Ý nghĩa của một từ có thể có sức mạnh giết người hay thúc đẩy một người hy sinh mạng sống của mình. Tỷ như những từ dùng để nhiếc móc, lăng nhục, chửi rủa, hạ phẩm giá một người như " đồ mọi rợ", "đồ súc sinh", "con đĩ", "con heo". Nghĩa của những từ này có tác động gia tăng và kích thích cảm xúc của người nghe hoặc đối tượng.

Cái tiện lợi chính trong hệ thống ký hiệu ngôn ngữ là tính bất định và mềm dẻo của nó. Người ta có thể tạo ra nhiều ký hiệu, nhiều ngữ nghĩa mới và nó cũng có thể đổi thay.

Ngôn ngữ tiến hoá để đáp ứng điều kiện lịch sử và xã hội. Có những ngôn ngữ sau một hay nhiều thế hệ xảy ra sự biến dạng. Chuyện ngôn ngữ này bị ảnh hưởng hay vay mượn ngôn ngữ kia là chuyện thường. Tỷ như tiếng Hà-Lan(Dutch) đã mượn tiếng Đức(German) trong nhiều từ ngữ. Khi tình trạng này xảy ra, tính thuần chất của tiếng Hà-Lan nguyên thủy có còn không? Và ai có thể biết được tiếng Đức mà Hà-Lan đi mượn có phải là tiếng Đức thuần chất không hay nó cũng là một kết hợp của một ngôn ngữ khác? Tiếng Anh cũng vậy. Tiếng Anh có khoảng 60% tiếng Pháp và tiếng Latin trong đó. Ngoài ra nó còn là kết hợp của tiếng Hà-Lan, Scandinavian, Brittonic, Goidelic Celtic, Anglo-Saxon. Đến nỗi Lars Hendrik Mathiesen đã có câu: "Anh Ngữ là một con điếm".



Có lẽ hệ thống chữ viết phức tạp nhất thế giới là chữ viết của Nhật. Nó bao gồm những ký hiệu của nhiều loại chữ viết khác nhau. Đôi khi chỉ trong một câu có đến 4 loại chữ được dùng như chữ Kanji, Katakana, Hiragana và tiếng Latin. Một người Nhật trí thức cần nhận biết ít nhất khoảng 2000 ký hiệu chữ Kanji. Sự phức tạp trong hệ thống chữ viết này giúp người Nhật rất nhiều trong việc dễ dàng đáp ứng trước sự thay đổi của ngôn ngữ. Nhất là những từ ngữ mới về kỹ thuật đang được sản sinh và ồ ạt chảy tràn trên khắp thế giới do sự hưng thịnh của kỹ nghệ điện toán.

Kết quả là người già ở Nhật, những người có giáo dục vài thập niên trước đây, bây giờ bỗng gặp khó khăn trong việc đọc những tạp chí, sách báo truyền thông nhất là sách báo dành cho giới trẻ ngày nay.



Việt Nam từ ngày lập quốc đến nay đã chịu sự đô hộ của Trung Hoa một thời gian quá dài. Hơn nữa người Hoa vốn chủ trương đồng hoá người Việt nên họ dùng đủ mọi cách để tiếng Hán thâm nhập sâu xa vào văn hoá, đời sống dân tộc Việt. Theo tài liệu phổ thông, tính tới nay tiếng Việt có khoảng 60% từ ngữ Hán-Việt hay hơn. Con số thống kê này chỉ là một phỏng đoán vì chưa có cơ quan hay tổ chức nào đứng ra nghiên cứu và xét nghiệm cả. Theo Taberd (1838):

“tiếng Việt chỉ là một nhánh bị thoái hoá của tiếng Hán”. Cơ sở để Taberd đưa ra ý kiến này là trong vốn từ của tiếng Việt hiện nay thì từ vựng có nguồn gốc Hán chiếm đa số. Tuy nhiên, mặc dù có tới 75% từ vựng tiếng Việt có gốc Hán nhưng đại đa số những từ đó đều là những từ văn hoá (những từ thể hiện trình độ phát triển của xã hội). Do đó, chúng phải là những từ vay mượn, chứ không phải là những từ mang tính nguồn gốc. Và theo Maspéro (1912): Bất cứ từ Hán nào vào tiếng Việt đều phải chịu sự chi phối của cơ cấu tiếng Việt"(trích"Cơ sở xác định nguồn gốc tiếng Việt"/qua 2 bài báo của A.G. Haudricourt)



Ngoài ra Trung Quốc là một nước đa văn hoá, đa ngôn ngữ, ngay chính tiếng Hán cũng có nhiều sự pha trộn ngôn ngữ và phương ngữ khác nhau. Khác đến nỗi hai người Hoa không thể hiểu nhau được phải dùng bút đàm trong khi giao tiếp. Như vậy những từ Hán Việt mà chúng ta vay mượn từ Trung Hoa cũng chưa chắc là một loại Hán tự thuần chất.

Khi người Pháp xâm chiếm Việt Nam, đã dùng chính sách chia để trị, phân nước ta làm ba kỳ: Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ. Họ cố tình chia rẽ và rạch ròi sự khác biệt trong tiếng địa phương của ba miền để người dân ba miền chế riễu, kỳ thị, ghen ghét lẫn nhau.

Tiếng Pháp từ từ được Việt hoá như Pomp thành bơm, manchon thành đèn măng-xông, savon là xà-bông. Tiếng Việt bị ảnh hưởng Pháp ngữ không ít qua một trăm năm thân phận thuộc địa.

Việt Nam là một nước đa ngôn ngữ, đa văn hoá. Ngoài tiếng Việt là ngôn ngữ chính, còn có các ngôn ngữ khác của dân tộc thiểu số(DTTS) như: Thái, Chăm, Khmer, Ê Đê. Ở vùng núi phía Bắc VN còn có 5 ngôn ngữ của DTTS chưa có chữ viết như Dao, Hà-Nhì, Ksing Mul, La Chí, Xá Phó. Vì quá trình giao tiếp của Tiếng Việt và ngôn ngữ của DTTS, tiếng Việt ở địa phương nơi DTTS sinh sống đã bị xáo trộn và biến dạng.

Trong " Nguồn gốc và diễn tiến ngôn ngữ " của Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến có nhắc đến điều này

....tiếp xúc ngôn ngữ dẫn đến pha trộn ngôn ngữ và thậm chí có thể làm nảy sinh một ngôn ngữ mới. .......Lối tiếp xúc, ảnh hưởng như thế, ngay gần đây, người ta vẫn còn có thể kiểm chứng được trong không hiếm ngôn ngữ hiện đang tồn tại. Ví dụ:

1. Tiếng Việt trong quá trình tiếp xúc lâu đời với tiếng Hán, đã vay mượn vào vốn từ của mình một khối lượng rất lớn các từ và yếu tố tạo từ cùng với một số ảnh hưởng khác về mặt ngữ pháp; nhưng không vì thế mà nó thuộc cùng một nhóm gần gũi về cội nguồn với tiếng Hán.
Ở châu Âu, quan hệ giữa tiếng Anh với tiếng Pháp; tiếng Rumani với các ngôn ngữ Slave và tiếng Hi Lạp, tiếng Hung, người ta cũng thấy những tình hình tương tự: tiếng Anh vẫn thuộc số các ngôn ngữ Giecman, còn tiếng Pháp, tiếng Rumani vẫn thuộc về các ngôn ngữ Roman.
2. Theo A.G. Haudricourt, người Sán Chấy ở Việt Nam vốn là người Dao gốc Quý Châu (Trung Quốc), di cư đến Quảng Đông rồi di cư sang Việt Nam sống chung với người Tày, Nùng. Tại đây, ngôn ngữ của họ, tiếng Sán Chấy, là một ngôn ngữ pha trộn gồm cơ tầng Dao với tiếng Tày Nùng.

Như vậy, điểm nổi rõ về mặt ngôn ngữ trong thời kì công xã nguyên thuỷ, thời kì của các thị tộc, bộ lạc là luôn luôn diễn ra quá trình chia tách và liên minh, tiếp xúc. Một mặt, sự chia tách làm gia tăng số lượng các ngôn ngữ khác nhau hoặc các phương ngữ, thổ ngữ khác nhau trong một ngôn ngữ; mặt khác, sự tiếp xúc lại dẫn đến tình trạng gần nhau, tới một mức nào đó sẽ dẫn đến pha trộn ngôn ngữ (trích Nguồn gốc và diễn tiến ngôn ngữ/Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến)



Cuốn sách lịch sử ngôn ngữ VN không ngừng sang trang. Vì định mệnh khắc nghiệt, VN bị phân đôi thành hai miền Nam, Bắc, mỗi miền theo một ý thức hệ khác nhau: Cộng Hoà và Cộng Sản. Tiếng Việt lần nữa chịu thêm sự pha trộn do sự tiếp xúc với ngoại ngữ. Miền Nam chịu ảnh hưởng tiếng Anh do người Mỹ làm đồng minh và miền Bắc với tiếng Nga, Tàu và Đông Âu do lực lượng liên minh này đứng sau ủng hộ. Trong suốt giai đoạn từ 1945 tới 1975 tiếng ngoại quốc thâm nhập miền Bắc qua sự phiên âm, phiên chuyển, chuyển tự và Việt hoá như Mát-xcơ-va (đọc tắt là Mát), Anh-xtanh, Lép Tônstôi, Bo-côn-sky, Xô viết Nghệ tĩnh, xla-vơ, vôn-ga..v..v...

Miền Nam thì tiếng Anh cũng góp phần làm giàu vốn từ vựng VN qua: cao-bồi (cow-boy), tiếng bồi(boy), ti-vi (viết tắt của television: máy truyền hình), năm-bờ-oăn( number one: số 1), máy ra-da (radar), vi-xi(giọng đọc tiếng Anh của vc, viết tắt của việt cộng), oẳn tù tì (trò chơi one-two-three), ô-kê salem (ok)...v...v..



Ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp và là công cụ của tư duy.

Sau năm 1975, sự thống nhất đất nước đã khiến một số người Việt đáng kể phải ra hải ngoại sinh sống. Những người này mang theo loại ngôn ngữ đã dùng ở Miền Nam VN trước 1975, tôi tạm gọi là phương ngữ. Kế đến là làn sóng vượt biển rồi chương trình H.O., đoàn tụ gia đình, làm gia tăng dân số người tị nạn. Những người qua sau đã sống và quen với cách dùng phương ngữ trong nước một thời gian dài sẽ tiếp tục dùng nó nơi họ mới định cư. Sự thâm nhập ngôn ngữ này có tác dụng làm thay đổi và ảnh hưởng những phương ngữ của người Việt hải ngoại đang dùng.

Ngược lại vì sự mở rộng cánh cửa giao thương, VN đón ngoại kiều và Việt kiều vào nước đã và đang đối diện với ngoại ngữ đang ào ào theo gió tràn vào. Người dân trong nước giờ rất thích học, nói và dùng Anh ngữ trong sinh hoạt thường ngày nhất là giới trẻ. Cộng thêm với sự chạy đua cho kịp đà tiến hóa văn minh kỹ thuật thế giới, tiếng Việt cần phải cập nhật hoá các từ ngữ y khoa, kỹ thuật, tin học, khiến tiếng Việt thay đổi rất nhiều.

Đây là vài thí dụ điển hình của sự khác biệt trong cách dùng từ ngữ của người trong và ngoài nước:

Trong nước Hải ngoại

Đăng ký Ghi tên, ghi danh

Tham quan Đi thăm, đi xem

Khẩn trương Nhanh lên

Chảnh Làm cao, kênh kiệu

v..v....



Hiện thuvienvietnam.com có nhã ý sưu tầm, đưa lên mạng những phương ngữ và cách dùng khác biệt của cả trong và ngoài nước. Mục đích để giúp người Việt cập nhật hoá vốn từ vựng mà họ không hiểu hoặc khiếm khuyết do cách trở địa dư. Nó còn là một nhịp cầu cảm thông giúp người Việt trong và ngoài nước hiểu rõ nhau qua phương ngữ. Đây là địa chỉ truy cập:

http://www.thuvienvietnam.com/modules.php?name=Encyclopedia&op=list_content&eid=3

Qua những dẫn chứng trên tôi có thể đi đến một kết luận "Việt Nam không có một ngôn ngữ thuần chất". Có hay chăng chỉ có thể là ngôn ngữ đầu tiên được nói bởi loài người.

Nếu có, câu hỏi kế tiếp sẽ được đặt ra là "Có một ngôn ngữ đầu tiên hay không?" hay "Có một hay nhiều ngôn ngữ đầu tiên?" Và làm sao thứ ngôn ngữ đầu tiên này không bị ảnh hưởng hay thâm nhập bởi một ngôn ngữ khác khi giao tiếp giữa giống người này với giống người khác, bộ lạc này với bộ lạc kia khi thế giới rất là rộng lớn.



Tiếng Việt hải ngoại có mất đi tính thuần chất hay không?

Khi có sự giao tiếp ngôn ngữ chuyển động. Nhờ chuyển động nên nó bất tử.

Nguời viết hải ngoại hàng ngày phải dùng và tiếp xúc với ngoại ngữ. Do lòng yêu nước và yêu tiếng Việt thúc đẩy, họ, những người chưa bao giờ cầm viết bắt đầu cầm viết, người đã cầm viết, tiếp tục viết. Viết, đối với họ là một nhu cầu để bày tỏ những cảm nghĩ, tư duy, tình cảm về đời sống tha hương.

Người viết hải ngoại có cái lợi là tiếp xúc được với văn học thế giới nhờ thế giới liên mạng Internet. Hơn nữa nhờ điều kiện địa dư, định cư khắp nơi trên thế giới, họ có nhiều cơ hội để tìm tòi và khai phá cái hay cái lạ của ngôn ngữ, văn hoá xứ người hơn người Việt trong nước. Một khi văn bản của người viết có ảnh hưởng chất “đặc thù” của các ngôn ngữ và văn hoá địa phương, nó không những không làm mất đi cái hay của tiếng Việt, mà nó còn đánh thức tiềm năng sẵn có của tiếng Việt, tạo thêm nhiều chiều kích mới cho ngôn ngữ Việt Nam.

Có người viết với mục đích thổi về quê mẹ những luồng gió hay lạ của văn học, văn hoá thế giới, bổ xung cái khiếm khuyết mà vì điều kiện điạ dư, hoàn cảnh gắt gao của chủ nghĩa, người dân trong nước chưa từng hay chưa bao giờ được đọc, được thưởng thức.

Có người viết để khơi mở, khai phá, đổi mới nền văn học quá cũ kỹ, bảo thủ, thành kiến, từ chương ở trong nước.



Có thể lấy ví dụ là:

- Những bài thơ rất lạ và mới có nội dung sâu xa, xúc tích của Đinh Linh, Phan Nhiên Hạo, Nguyễn Đăng Thường, Thường Quán., Đỗ Kh..v..v..

- Những công trình sáng tác, dịch thuật, văn chương của Hoàng Ngọc Tuấn, Diễm Châu, Phạm thị Hoài, Hoàng Ngọc Biên, Dũng Vũ, và của rất nhiều tác giả khác nhau trên sách báo, tạp chí, các websites văn học nghệ thuật như Tiền Vệ, hoặc diễn đàn Talawas..v..v...

- Những bài tiểu luận nhận định, phân tích và phê bình văn học của Nguyễn Hưng Quốc đã là chiếc chìa khoá phê bình đầu tiên khai mở lý thuyết văn học VN. Nó xác định được vị trí của nền văn học VN đang đứng ở chỗ nào so với nền văn học thế giới.



Nền văn học hải ngoại là một nhánh khác của nền văn học VN, là hiện thân của tiếng Việt, là tiếng điạ phương hay phương ngữ của tiếng Việt. Nền văn học hải ngoại tự nó phát sinh, tự nó tồn tại và sẽ còn tồn tại khi còn người Việt ở hải ngoại.

Người Việt hải ngoại vì sự trớ trêu của lịch sử đã phải viết và nói một thứ tiếng Việt có đôi khi khác với thứ tiếng Việt ở trong nước nhưng sự khác biệt ấy chỉ tạo nên nét đa dạng, sự phong phú, tính đa văn hoá của ngôn ngữ. Tính đa văn hoá này lại phù hợp với nét đặc thù của văn chương nghệ thuật toàn cầu thời hậu hiện đại. Nó không những làm giàu mà còn làm mới cho tiếng Việt từ lâu quá cũ kỹ, nằm yên trong chiến tranh bao nhiêu năm và vì sự bó buộc của ý thức hệ đến nỗi ù lì, chậm lớn không thể phát triển.

Bây giờ nó bắt đầu được tháp cánh, chuyển sinh giàu có thêm nhờ sự kết hợp của hai dòng chảy văn hoá trong và ngoài nước. Nếu chúng ta đừng vì đầu óc kỳ thị trong ngoài, bỏ đi những ý tưởng bảo thủ, tư kiến chủ nghĩa, biết khéo léo kết nối hai dòng chảy vào nhau chắc chắn tiếng Việt của chúng ta sẽ có một tương lai phong phú, giàu có và xúc tích.



Trịnh Thanh Thủy



Tài liệu tham khảo

-Bách khoa tự điển Wikipedia

http://en.wikipedia.org/wiki/Main_Page

-Nguồn gốc và diễn tiến ngôn ngữ/Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến. Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Nxb Giáo dục, H., 1997, trang 38–44.

(http://ngonngu.net/index.php?fld=nnh&sub=vdchung&pst=nn_nguongoc_dientien_02)

-Thư viện Việt Nam /thuvienvietnam.com http://www.thuvienvietnam.com/modules.php?name=Encyclopedia&op=list_content&eid=3

-Taberd (1838)/Cơ sở xác định nguồn gốc tiếng Việt(qua 2 bài báo của A.G. Haudricourt) http://ngonngu.net/index.php?fld=tiengviet&sub=lichsu&pst=haudricourt_csxd

-Trao đổi với Đoàn Tiểu Long/Hoà Nguyễn

(Theo tài liệu (loại phổ thông), ngày nay tiếng Hàn có 52% gốc từ chữ Hán, Nhật có từ 60 đến 70% gốc Hán, và tiếng Việt có 60% hoặc nhiều hơn từ ngữ Hán Việt.)

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7576&rb=06

-Tình hình và chính sách xây dựng và phổ cập chữ viết các dân tộc thiểu số ở Việt Nam/ Hoàng Thị Châu

http://ngonngu.net/index.php?fld=nnh&sub=nnhxh&pst=cv_dtts_htchau



Ý kiến, Phê bình xin gửi về: trinhthanhthuy@khoahoc.net