Bravo21
12-31-2006, 06:30 AM
Đập Tan Huyền Thoại hồ chí minh
Khi nghiên cứu về Hồ Chí Minh (HCM), những nhà nghiên cứu không thể không nêu ra một số câu hỏi về những hành vi của HCM - nhất là về mặt viết lách và lý luận. Quy chiếu lại tất cả những gì mà HCM đã viết – khi bắt đầu đặt chân lên đất Pháp cho đến lúc HCM chết, chúng ta sẽ nhận thấy có nhiều điều bất nhất không ổn. Nhiều nguồn tin từ phía hàng ngũ dân tộc thì quả quyết rằng HCM đã “mượn tạm”, hay nói trắng ra là “ăn cắp” một số các tác phẩm cũng như cả cái tên Nguyễn Ái Quốc, rồi nói là của mình.
Ngược lại, về phía cộng sản Việt Nam, thì họ lập ra cả một giáo trình gọi là Hồ Chí Minh học, và hiện nay cả nước Việt Nam chỉ có hai người được chính quyền cộng sản Việt Nam cấp giấy phép chứng nhận là nhà Hồ Chí Minh học. Một trong những người được cấp chứng chỉ đó là nhà văn Sơn Tùng.
Bài viết ngắn này nhằm khảo sát lại một số dữ kiện lịch sử về con người Hồ Chí Minh bằng chính những tư liệu mới đây được xuất bản tại Việt Nam.
BỊA NHỮNG CHUYỆN KHÔNG CÓ ĐỂ THẦN THÁNH HOÁ HÌNH ẢNH “BÁC HỒ”
Một trong những điều chúng ta cần để ý nhất khi đọc các tài liệu về Hồ Chí Minh do phía nhà nước cộng sản Việt Nam xuất bản: là những dữ kiện đưa ra rất mâu thuẫn lẫn nhau, và không có nguyên gốc để chứng minh. Những dữ kiện đó đôi khi được “nguỵ tạo” để đánh bóng lên hình ảnh của con người Hồ Chí Minh. Đây là một thí dụ điển hình:
Nhà văn Sơn Tùng là một trong hai nhà Hồ Chí Minh học tại Việt Nam, đã viết rất nhiều tác phẩm về Hồ Chí Minh, chẳng hạn như cuốn Búp Xen Sanh, Bác Về, Bông Sen Vàng..v..v.. Tựu chung, tất cả những sáng tác của Sơn Tùng nhằm vào một mục đích duy nhất ca tụng Hồ Chí Minh. Một trong những tác phẩm của Sơn Tùng đã tiểu thoát hoá cậu bé Nguyễn Sinh Cung (tên thật của HCM trước khi đổi qua Nguyễn Tất Thành) tuyệt vọng và khóc như thế nào khi bà cụ thân sinh của cấu bé mất tại Huế. Đọc đến đoạn tiểu thuyết hoá đó không ai lại không mũi lòng, thương cảm cho thân phận của cậu bé Nguyễn Sinh Cung, và qua đó lại càng thương “bác Hồ” hơn.
Sự thật có đúng như thế không?
Nguyên Đắc Xuân khi đi tìm dấu tích của “bác Hồ” đã khám phá ra nhiều việc và ông đã rất tế nhị ghi lại những khám phá của ông trong cuốn “Đi Tìm Dấu Tích Thời Niên Thiếu của Bác Hồ ỏ Huế” do nhà xuất bản Văn Học xuất bản vào tháng 5, 2003 tại thành phố HCM.
Bà Nguyễn Thị Loan – thân mẫu của HCM mất lúc HCM 10 tuổi tại Huế - Nguyễn Đắc Xuân – trong lúc đi tìm hiểu xem thân phụ của HCM là ông Nguyễn Sinh Sắc có mặt trong lúc bà Loan mất hay không – đã đến gặp ông Lê Xuyến (cháu đích tôn của thượng thư bộ lễ Lê Trinh) để hỏi xem ông Lê Trinh có bao giờ nghe người nhà của ông ta kể lại việc ông Sắc có mặt khi bà Loan (thân mẫu của HCM) mất hay không. Ông Lê Xuyến khẳng định rằng ông nội và bà ngoại của ông không hề nhắc đến việc ông Sắc có mặt trong đám tang của bà Loan. Trong khi đó thì Đắc Xuân ghi nhận thêm rằng Ban Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng Nghệ Tỉnh lại khẳng định rằng trong đám tang bà Loan có sự hiện của ông Sắc ( thân phụ HCM) mà không hề ghi rõ nguồn gốc chứng minh từ đâu.
Khi thảo luận về tâm trạng của HCM khi mẹ mất thế nào,Nguyễn Đắc Xuân viết: “Tôi sực nhớ trong cặp da có cuốn Nhớ Nguồn của Sơn Tùng, tôi giở sách đọc truyện ký dưới Bóng Hoa Bằng Lăng (1) đoạn nói về tình cảm của cậu bé Cung khi mẹ chết cho ông Xuyến nghe. Nghe xong ông nói:
“Ông Sơn Tùng là một nhà văn của cách mạng, tôi không dám có ý kiến. Vì anh yêu cầu nên tôi xin nói một ý riêng: Nghe đoạn văn nầy tôi rất cảm động, nhưng cảm động vì câu chuyện chú không thể tin là hoàn cảnh thật của bác Hồ thời niên thiếu. Anh là người Huế, nếu đã có tấm lòng với cụ Hồ thì anh không nên thêm thắt làm gì, không nên viết cái gì mà thiếu căn cứ. Làm như thế sẽ phụ lòng người đọc”. (2)
Chưa hết, trong lúc đi tìm dấu tích của Bác Hồ thời niên thiếu, Nguyễn Đắc Xuân còn tìm thấy một “nguỵ tạo” khác của nhà Hồ Chí Minh học Sơn Tùng. Đó là sự kiện Sơn Tùng viết trong bài báo Les Annés de l’Enfance de l’Oncle Ho à Huế số 46 năm 1946. Bài báo này ghi lại hồi ức của bà Công Tôn nữ Huệ Minh về người bạn thưở thiếu thời của bà – trong trường hợp này là HCM. Nhà HCM học Sơn Tùng, trong bài viết đó kết luận rằng bà Huệ Minh là người bạn thân tình của HCM.
Nguyễn Đắc Xuân thoạt đầu cho rằng Sơn Tùng đã tìm gặp chính bà Huệ Minh để nghe bà kể câu chuyện trên. Nhưng tuyệt nhiên không phải như thế. Nguyễn Đắc Xuân còn viết trong sách xác nhận rằng ngay cả “các anh trong Ban Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng ở Bình Trị Thiên cũng đồng ý là thông tin trong bài báo của Sơn Tùng không kiểm chứng được.” (3)
Với bản chất tò mò, Nguyễn Đắc Xuân đã bỏ công đi tìm gia phả giòng họ Nguyễn để tra cứu xem Công Tôn Nữ Huệ Minh là ai và có phải là một nhân vật có thật hay không; vì với cái tên Công Tôn nên Đắc Xuân biết ngay đây là con nhà hoàng phái. Thế nhưng tra cứu hết tất cả các gia phả giòng họ Nguyễn, ông không tìm thấy ai có tên là Công Tôn Nữ Huệ Minh. Cuối cùng Nguyễn Đắc Xuân khám phá ra một việc là chính nhà HCM học Sơn Tùng đã bịa ra cái tên Huệ Minh vì muốn bịa đặt chuyện HCM thích hoa huệ để viết tiểu thuyết!. (4)
Thêm một điểm rất đáng chú ý mà Nguyễn Đắc Xuân đưa ra là hình ảnh thật của thân phụ HCM – ông Nguyễn Sinh Sắc. Tất cả các tài liệu của cộng sản VN – nhằm tìm cách khoả lấp đi cái hình ảnh “bác Hồ” sinh ra trong một gia đình quan lại - chứ không phải trong nhà nông dân vô sản – trái với chủ nghĩa lý lịch, phải ba đời bần cố nông mới được lãnh đạo đất nước, nên CSVN đã tô phết hình ảnh một Nguyễn Sinh Sắc rũ áo từ quan vì yêu nước!
Nhưng hình ảnh thật về Nguyễn Sinh Sắc mà Nguyễn Đắc Xuân tìm thấy đưọc nằm trong tài liệu của mât thám Pháp khi lấy khẩu cung của bà Nguyễn Thị Thanh chị của HCM vào tháng 5, 1920. Thân phụ Nguyễn Sinh Sắc là người thế nào? Theo Mật Văn Số 711 của sở mật thám Pháp do Nguyễn Đắc Xuân tìm được và chuyễn ngữ đã ghi như sau: “Vào năm 1906, Nguyễn Thị Thanh đi với cô giúp việc vào với thân sinh cô ở Huế. Đó là lần đầu tiên cô đến Huế. Nhưng cô ta không thể chịu đựng lâu dài cái tính nóng nảy của cha khi uống rượu say và thường hay đánh đập cô ta nữa. Năm 1909, ông Nguyễn Sinh Huy (tức Nguyễn Sinh Sắc) bị bãi chức vì chứng say rượu.” (5)
Chiếu theo tài liệu của sở mật thám Pháp ghi ngày 7 tháng 5, 1920 thì ông Nguyễn Sinh Sắc bị bãi chức vì say rượu chứ không phải vì yêu nước, chống lại chính quyền bảo hộ Pháp mà rũ áo từ quan theo tài liệu tâng bốc của ban sử liệu cộng sản!
Đấy là một vài khám phá nhỏ mà Nguyễn Đắc Xuân tìm thấy; điều này đã cho chúng ta thấy rõ ngay cả một nhà HCM học như Sơn Tùng còn phải đi bịa chuyện để sơn phết cho HCM một hình ảnh thần thánh thì phải thật cẩn thận khi đọc về HCM trên các sách vỡ xuất bản tại Việt Nam.
NGUYỄN ÁI QUỐC LÀ BÍ DANH CỦA CỤ PHAN CHU TRINH
Ở đây chúng ta cần phải xác định cho rõ - cái tên Nguyễn Ái Quốc – nguyên thuỷ từ đâu mà có và do ai đẻ ra để rồi cuối cùng HCM mượn tạm cái tên này để xài cho đến lúc chết.
Như chúng ta cũng biết, khi HCM đặt chân lên đất Pháp đầu tiên, đã ở tại nhà của luật sư Phan Văn Trường và cụ Phan Chu Trinh. Chính cụ Phan Chu Trinh là người đã chi tiền và nuôi nấng HCM trong một thời gian khá dài khi HCM ở Pháp. Sỡ dĩ có sự liên hệ này là vì thân sinh của HCM là ông Nguyễn Sinh Sắc cùng thi đổ cùng năm với cụ Phan Chu Trinh, và hai cụ này có biết nhau từ trước. Chính vì thế mà HCM đã đến tá túc nhà của cụ Phan Chu Trinh.
Cả luật sư Phan Văn Trường và Phan Chu Trinh là những nhà tranh đấu kỳ cựu tại Pháp trước khi HCM đến Pháp; nhất là luật sư Phan Văn Trường. Tuy nhiên để bảo đảm an ninh và tránh dòm ngó của mật thám Pháp, nên rất nhiều bài viết của cụ Phan Chu Trinh và Phan Văn Trường đều ký với bí danh là Nguyễn Ái Quốc. Đây là lời kể của bà Phan Thị Minh – cháu ngoại của cụ Phan Chu Trinh kể lại trong cuốn Nguyễn Ái Quốc tại Paris (1917-1923) của Thu Trang do nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia xuất bản tại Hà Nội 2002 – như sau: “Ông Vũ Kỳ - thư ký riêng của bác Hồ - đã nói với tôi chiều ngày 2 tháng 3, 1993 (có xác nhận) là bác Hồ đã nói: “bản yêu sách 8 điểm gởi Hoà hội Versailles là do hai cụ (Phan Chu Trinh và Phan Văn Trường) viết. Hai cụ có hỏi mình có thêm ý kiến gì không, không phải do mình viết đâu, lúc đó mình viết sao nổi, mặc dầu bản đó ký tên là Nguyễn Ái Quốc, sau đó trở thành tên hoạt động của mình..” (6)
Cũng trong cuốn sách nói trên của Thu Trang, bà Phan Thi Minh kể tiếp: “Bản thân tôi từ nhỏ đã được nghe mẹ kể về cuộc chuyện trò giữa cụ Phan Chu Trinh và Nguyễn Sinh Huy tại Saigon trước khi cụ Phan qua đời. Sau gần 15 năm cách biệt, hai người bạn tâm giao mới găp lại nhau. Hai vị đã tâm sự nhiều về người con trai yêu quý. Cụ Sinh Huy vui mừng khôn xiết về lời khen ngợi của Phan Chu Trinh dành cho con mình, đặc biệt với việc đổi tên. Cụ Phan kể: “Trước đó chúng tôi đã có vài bài ký bút danh Nguyễn Ái Quốc, nhưng ít ai chú ý. Chỉ sau khi tờ đơn của dân Nam gởi đến Hoà đam Versailles và công bố rộng ra thì mới được chú ý. Bộ Thuộc Địa và cảnh sát Pháp đã đưa giấy mời tôi lên, đòi Nguyễn Ái Quốc ra trình diện. Chúng ngỡ là rôi ra. Tôi đã bảo Nguyễn Tất Thành (HCM) ra nhận làm chúng rất nhạc nhiên..”
Từ đó HCM ôm luôn cái tên Nguyễn Ái Quốc đó.
Ở đây chúng ta cần mở ngoặc nói qua về bà Thu Trang một chút. Bà Thu Trang là một người Việt Nam cư ngụ tại Pháp. Khi lấy bằng tiến sĩ, bà Thu Trang quyết định viết về cuộc đời của cụ Phan Chu Tring trong thời gian lưu lạc và đấu tranh tại Pháp. Để hỗ trợ cho luận án, bà Thu Trang đi tìm lục lại tất cả những báo cáo của mật thám Pháp viết trong thời kỳ đó nay đã được sở thuộc địa bạch hoá. Điều mà bà Thu Trang khám phá ra là trong những tài liệu của mật thám báo cáo về cụ Phan Chu Trinh, họ cũng báo cáo cả sự hiện diện của Nguyễn Tất Thành (tức Hồ Chí Minh) – lúc ấy đang sống tá túc tại nhà của luật sư Phan Văn Trường và cụ Phan Chu Trinh. Sau khi hoàn thành luận án tiến sĩ về cụ Phan Chu Trinh, bà Thu Trang quyết định xử dụng những tài liệu tìm được của sở mật thám để viết cuốn Nguyễn Ái Quốc tại Paris. Tác phẩm này đã được phiá Hà Nội phê chuẫn và nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia in và phát hành tại Việt Nam.
TÁC PHẨM BẢN ÁN THỰC DÂN PHÁP CỦA HỒ CHÍ MÍNH?
Cho đến nay các xử liệu của CSVN và cái loa tuyên tuyên truyền của nhà nước CSVN luôn luôn thổi phòng và đánh bóng tác phẩm Bản Án Thực Dân Pháp như mà một trước tác to lớn nhất của HCM khi cư ngụ tại Pháp. Tuy nhiên, sự kiện này hiện đang được đánh giá lại một cách nghiêm túc. Thực chất, ai cũng biết thời gian HCM sống tại Pháp không lâu, và với khả năng tiếng Pháp lúc bấy giờ như thư ký riêng của HCM kể lại thì HCM không có khả năng viết được tác phẩm Bản Án Thực Dân Pháp. Cho đến nay không ai biết tác giả thực của tác phẩm này, nhưng có lẽ mọi người đồng ý rằng tác giả của tác phẩm đó không ai khác hơn là luật sư Phan Văn Trường, nơi mà HCM đã tá túc khi sống tại Pháp.
Bà Thu Trang, trong cuốn Nguyễn Ái Quốc tại Paris cũng đã đánh giá lại toàn bộ những gì của cái gọi là HCM viết khi ở Pháp, dựa trên những tài liệu của mật thám Pháp nay đã được bạch hoá. Bà Thu Trang đưa ra một bản báo cáo của mật thám Pháp ký tên là Jean đã viết về HCM như sau: “Người ta không biết ông ta từ đâu đến và gia đình ra sao. Ông ta rất giỏi chũ Hán. Nhưng chữ Pháp thì không biết nhiều. Ký tên Jean” (7)
So sánh những bài viết của HCM trong thời gian ở Pháp bà Thu Trang nhận định: “Nếu tìm hiểu văn phong và phân tích ngôn từ các bài báo đã ký tên là tác giả Nguyễn Ái Quốc từ giữa năm 1919 đến các bài viết về sau, chúng ta hy vọng sẽ rút ra được một vài kết luận. Chẳng hạn nếu so sánh bài báo mà chúng tôi lược dịch dưới đây với những bài báo khác trong tờ Le Paria (của HCM hay trong Bản Án Chế Độ Thực Dân Pháp , chúng ta sẽ nhận thấy cách viết và lý luận có phần khác hẳn… Đọc bài báo mà chúng tôi đã lược dịch, nhất là ở đoạn cuối, độc giả đã nghĩ ngay là người Viết ở trong giới luật lệ. Một lối lý luận chắc và rất đanh thép, rất cụ thể, không phải quần chúng ai cũng hiểu được. Những bài báo về sau của Nguyễn Ái Quốc viết khác hẳn; nhất là không mấy khi Nguyễn dùng luật lệ để bắt bẻ thực dân mà phần nhiều hay dùng những chứng cớ hiển nhiên. Bài báo trên đây là một nghi vấn là ông luật sư Phan Văn Trường nhờ “có một túi luật lệ” nên thỉnh thoảng ông đưa sự hiểu biết chuyên môn của mình ra để đấu khẩu với những tên thực dân.” (8)
Bà Thu Trang còn bước đi xa hơn một chút, khi bà viết: “Có lẽ luật sư Phan Văn Trường đã biết được tâm lý của một số thực dân trên, nên ông thường dùng sự hiểu biết chuyên môn để “lật mặt nạ” bọn đi ăn cưóp có giấy phép ấy. Một bài báo đăng trong tờ L’Humanité số ngày 2 tháng 08, 1919 với tựa đề Người Bản Xứ tại Đông Dương, ký tên Nguyễn Ái Quốc, cũng đã được viết theo cùng một phong cách ấy. Chúng ta thấy, về sau, Nguyễn Ái Quốc không hề viết theo phong cách và lý luận như trên trong các bài báo của mình…” (9)
Cũng trong cuốn sách Nguyễn Ái Quốc tại Paris bà Thu Trang đã ghi lại lời kể của bà Phạm Minh – cháu ngoại cụ Phan Chu Trinh khi bà Pham Minh giúp bà Thu Trang làm luận án tiến sĩ về “Phan Chu Trinh tại Pháp” như sau:
“Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã sớm đánh giá bút danh Nguyễn Ái Quốc ban đầu là bút danh tập thể của Nhóm Việt Nam yêu nước ở 6 Villa des Gobelins trưóc khi trở thành tên mới của Nguyễn Tất Thành (HCM). Nhận định này đã được hầu hết các sử gia Pháp và phương Tây tán thành với lập luận như sau:
- Lúc đó trình độ về tiếng Pháp và lý luận của Tất Thành chưa đủ để tự mình viết ra các văn kiện đó.
- Các văn bản thể hiện tinh thần và nội dung đưồng lối yêu cầu cải cách của Phan Chu Trinh cùng trình độ Pháp văn và am hiểu luật phát của Phan Văn Trường.” (10)
Trình độ Pháp ngữ của Hồ Chí Minh trong lúc ở Pháp đã như thế, và tình trạng đó không khá hơn một chút nào, ngay cả khi Hồ Chí Minh cướp được chính quyền vào năm 1945. Nguyễn Văn Lưu, chánh văn phòng phủ chủ tịch từ năm 1945 đến năm 1947 đã viết lại như sau về khả năng Pháp ngữ của HCM: “Một hôm, Bác đưa cho tôi xem thấm danh thiếp in tên Bác, trên đó Bác viết một câu tiếng Pháp để gửi cho một nhân vật chính trị bên Pháp. Bác bảo tôi: “chú xem Bác viết thế này có được không?”
Tôi cầm tấm danh thiếp, thấy câu tiếng Pháp bác viết rất đúng với ý của bác. Tôi bèn thưa: “Cháu thấy được ạ”.
Rồi bác lại cầm tấm danh thiếp đi lên gác…Lúc bấy giờ tôi mới có thì giờ để cảm thấy vừa kinh ngạc..vừa xúc động. Lúc đó tôi nghĩ, Bác đã từng viết trên báo Nhân Đạo, viết cuốn Bản Án Chế Độ Thực Dân Pháp nổi tiếng. Bác cũng đã sống bao nhiêu năm ở Pháp, sao bác lại hỏi mình một câu tiếng Pháp đơn giản như thế?” (11)
Với những dữ kiện đưa ra bằng chính tài liệu được cuất bản tại Việt Nam hiện nay, người ta có thể khẳng định một điều rằng tất cả những tác phẩm được ký tên Nguyễn Ái Quốc trong thời gian từ 1919 hoàn toàn không phải của HCM viết. Những tác phẩm có tính cách lý luận chặt chẽ và nhất là cuốn Bản Án Thực Dân Pháp chắc chắn không phải của HCM mà do hai vị Phan Chu Trinh và luật sư Phan Văn Trường viết.
Những năm sau đó, cụ Phan Chu Trinh mất vào năm 1925 tại Việt Nam; luật sư Phan Văn Trường có trở về Việt Nam một thời gian sau đó để hoạt động rồi mất. Có lẽ nhận thấy không còn ai có thể kiểm chứng được gốc gác của các tác phẩm được viết tại Pháp, nên HCM giữ một thái độ im lặng, xem như tất cả tác phẩm đó do mình viết. Ngay cả cái tên Nguyễn Ái Quốc, HCM cũng giữ im lặng không nói rõ xuất xứ. Mãi đến khi bà Thu Trang tìm được những bản báo cáo của mật thám tại ty thuộc địa Pháp nay đã được bạch hoá, lúc ấy nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam phần nào mới nhìn nhận vào sự thật này.
Tuy nhiên sự nhìn nhận vẫn không chính thức; Nhiều lắm là cho bà Phạm Minh nói một chút là thư ký riêng của HCM - Vũ Kỳ có xác nhận rằng HCM có nói ông ta không phải là người viết bản yêu sách gởi cho hội nghị Versailles. Thực chất thì ngay chính Vũ Kỳ cũng không hề xác nhận cũng như viết lên điều này qua những tập hồi ký do chính Vũ Kỳ viết và đã xuất bản tại Việt Nam.
(1) Nhớ Nguồn – Sơn Tùng – nxb Phụ Nữ, Hà Nội, 1975, trang 163-264
(2) Đi Tìm Dấu Tích Thời Niên Thiếu của Bác Hồ ở Huế - Nguyễn Đắc Xuân – Nhà Xuất Bản Văn Học, TP HCM, tháng 5, 2003. Trang 84.
(3) Sdđ phần 2, trang 18.
(4) Sdđ phần 2, trang 19.
(5) Sdđ phần 2, trang 238.
(6) Nguyễn Ái Quốc tại Paris (1917-1923) – Thu Trang – Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2002, Trang 419.
(7) Sdđ phần 6, trang 91.
(8) Sđd phần 6, trang 91-95.
(9) Sđd phần 6, trang 96-97. Bài Người Bản Xứ tại Đông Dương đã được Tạp Chí Cộng Sản, tháng 04, 1984 đăng toàn văn bài.
(10) Sđd phần 6, trang 418.
(11) Chuyện Kể của những người giúp việc Bác Hồ. Bảo Tàng Hồ Chí Minh. Nhà Xuất Bản Thông Tấn – Hà Nội, 2003. Trang 28.
Khi nghiên cứu về Hồ Chí Minh (HCM), những nhà nghiên cứu không thể không nêu ra một số câu hỏi về những hành vi của HCM - nhất là về mặt viết lách và lý luận. Quy chiếu lại tất cả những gì mà HCM đã viết – khi bắt đầu đặt chân lên đất Pháp cho đến lúc HCM chết, chúng ta sẽ nhận thấy có nhiều điều bất nhất không ổn. Nhiều nguồn tin từ phía hàng ngũ dân tộc thì quả quyết rằng HCM đã “mượn tạm”, hay nói trắng ra là “ăn cắp” một số các tác phẩm cũng như cả cái tên Nguyễn Ái Quốc, rồi nói là của mình.
Ngược lại, về phía cộng sản Việt Nam, thì họ lập ra cả một giáo trình gọi là Hồ Chí Minh học, và hiện nay cả nước Việt Nam chỉ có hai người được chính quyền cộng sản Việt Nam cấp giấy phép chứng nhận là nhà Hồ Chí Minh học. Một trong những người được cấp chứng chỉ đó là nhà văn Sơn Tùng.
Bài viết ngắn này nhằm khảo sát lại một số dữ kiện lịch sử về con người Hồ Chí Minh bằng chính những tư liệu mới đây được xuất bản tại Việt Nam.
BỊA NHỮNG CHUYỆN KHÔNG CÓ ĐỂ THẦN THÁNH HOÁ HÌNH ẢNH “BÁC HỒ”
Một trong những điều chúng ta cần để ý nhất khi đọc các tài liệu về Hồ Chí Minh do phía nhà nước cộng sản Việt Nam xuất bản: là những dữ kiện đưa ra rất mâu thuẫn lẫn nhau, và không có nguyên gốc để chứng minh. Những dữ kiện đó đôi khi được “nguỵ tạo” để đánh bóng lên hình ảnh của con người Hồ Chí Minh. Đây là một thí dụ điển hình:
Nhà văn Sơn Tùng là một trong hai nhà Hồ Chí Minh học tại Việt Nam, đã viết rất nhiều tác phẩm về Hồ Chí Minh, chẳng hạn như cuốn Búp Xen Sanh, Bác Về, Bông Sen Vàng..v..v.. Tựu chung, tất cả những sáng tác của Sơn Tùng nhằm vào một mục đích duy nhất ca tụng Hồ Chí Minh. Một trong những tác phẩm của Sơn Tùng đã tiểu thoát hoá cậu bé Nguyễn Sinh Cung (tên thật của HCM trước khi đổi qua Nguyễn Tất Thành) tuyệt vọng và khóc như thế nào khi bà cụ thân sinh của cấu bé mất tại Huế. Đọc đến đoạn tiểu thuyết hoá đó không ai lại không mũi lòng, thương cảm cho thân phận của cậu bé Nguyễn Sinh Cung, và qua đó lại càng thương “bác Hồ” hơn.
Sự thật có đúng như thế không?
Nguyên Đắc Xuân khi đi tìm dấu tích của “bác Hồ” đã khám phá ra nhiều việc và ông đã rất tế nhị ghi lại những khám phá của ông trong cuốn “Đi Tìm Dấu Tích Thời Niên Thiếu của Bác Hồ ỏ Huế” do nhà xuất bản Văn Học xuất bản vào tháng 5, 2003 tại thành phố HCM.
Bà Nguyễn Thị Loan – thân mẫu của HCM mất lúc HCM 10 tuổi tại Huế - Nguyễn Đắc Xuân – trong lúc đi tìm hiểu xem thân phụ của HCM là ông Nguyễn Sinh Sắc có mặt trong lúc bà Loan mất hay không – đã đến gặp ông Lê Xuyến (cháu đích tôn của thượng thư bộ lễ Lê Trinh) để hỏi xem ông Lê Trinh có bao giờ nghe người nhà của ông ta kể lại việc ông Sắc có mặt khi bà Loan (thân mẫu của HCM) mất hay không. Ông Lê Xuyến khẳng định rằng ông nội và bà ngoại của ông không hề nhắc đến việc ông Sắc có mặt trong đám tang của bà Loan. Trong khi đó thì Đắc Xuân ghi nhận thêm rằng Ban Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng Nghệ Tỉnh lại khẳng định rằng trong đám tang bà Loan có sự hiện của ông Sắc ( thân phụ HCM) mà không hề ghi rõ nguồn gốc chứng minh từ đâu.
Khi thảo luận về tâm trạng của HCM khi mẹ mất thế nào,Nguyễn Đắc Xuân viết: “Tôi sực nhớ trong cặp da có cuốn Nhớ Nguồn của Sơn Tùng, tôi giở sách đọc truyện ký dưới Bóng Hoa Bằng Lăng (1) đoạn nói về tình cảm của cậu bé Cung khi mẹ chết cho ông Xuyến nghe. Nghe xong ông nói:
“Ông Sơn Tùng là một nhà văn của cách mạng, tôi không dám có ý kiến. Vì anh yêu cầu nên tôi xin nói một ý riêng: Nghe đoạn văn nầy tôi rất cảm động, nhưng cảm động vì câu chuyện chú không thể tin là hoàn cảnh thật của bác Hồ thời niên thiếu. Anh là người Huế, nếu đã có tấm lòng với cụ Hồ thì anh không nên thêm thắt làm gì, không nên viết cái gì mà thiếu căn cứ. Làm như thế sẽ phụ lòng người đọc”. (2)
Chưa hết, trong lúc đi tìm dấu tích của Bác Hồ thời niên thiếu, Nguyễn Đắc Xuân còn tìm thấy một “nguỵ tạo” khác của nhà Hồ Chí Minh học Sơn Tùng. Đó là sự kiện Sơn Tùng viết trong bài báo Les Annés de l’Enfance de l’Oncle Ho à Huế số 46 năm 1946. Bài báo này ghi lại hồi ức của bà Công Tôn nữ Huệ Minh về người bạn thưở thiếu thời của bà – trong trường hợp này là HCM. Nhà HCM học Sơn Tùng, trong bài viết đó kết luận rằng bà Huệ Minh là người bạn thân tình của HCM.
Nguyễn Đắc Xuân thoạt đầu cho rằng Sơn Tùng đã tìm gặp chính bà Huệ Minh để nghe bà kể câu chuyện trên. Nhưng tuyệt nhiên không phải như thế. Nguyễn Đắc Xuân còn viết trong sách xác nhận rằng ngay cả “các anh trong Ban Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng ở Bình Trị Thiên cũng đồng ý là thông tin trong bài báo của Sơn Tùng không kiểm chứng được.” (3)
Với bản chất tò mò, Nguyễn Đắc Xuân đã bỏ công đi tìm gia phả giòng họ Nguyễn để tra cứu xem Công Tôn Nữ Huệ Minh là ai và có phải là một nhân vật có thật hay không; vì với cái tên Công Tôn nên Đắc Xuân biết ngay đây là con nhà hoàng phái. Thế nhưng tra cứu hết tất cả các gia phả giòng họ Nguyễn, ông không tìm thấy ai có tên là Công Tôn Nữ Huệ Minh. Cuối cùng Nguyễn Đắc Xuân khám phá ra một việc là chính nhà HCM học Sơn Tùng đã bịa ra cái tên Huệ Minh vì muốn bịa đặt chuyện HCM thích hoa huệ để viết tiểu thuyết!. (4)
Thêm một điểm rất đáng chú ý mà Nguyễn Đắc Xuân đưa ra là hình ảnh thật của thân phụ HCM – ông Nguyễn Sinh Sắc. Tất cả các tài liệu của cộng sản VN – nhằm tìm cách khoả lấp đi cái hình ảnh “bác Hồ” sinh ra trong một gia đình quan lại - chứ không phải trong nhà nông dân vô sản – trái với chủ nghĩa lý lịch, phải ba đời bần cố nông mới được lãnh đạo đất nước, nên CSVN đã tô phết hình ảnh một Nguyễn Sinh Sắc rũ áo từ quan vì yêu nước!
Nhưng hình ảnh thật về Nguyễn Sinh Sắc mà Nguyễn Đắc Xuân tìm thấy đưọc nằm trong tài liệu của mât thám Pháp khi lấy khẩu cung của bà Nguyễn Thị Thanh chị của HCM vào tháng 5, 1920. Thân phụ Nguyễn Sinh Sắc là người thế nào? Theo Mật Văn Số 711 của sở mật thám Pháp do Nguyễn Đắc Xuân tìm được và chuyễn ngữ đã ghi như sau: “Vào năm 1906, Nguyễn Thị Thanh đi với cô giúp việc vào với thân sinh cô ở Huế. Đó là lần đầu tiên cô đến Huế. Nhưng cô ta không thể chịu đựng lâu dài cái tính nóng nảy của cha khi uống rượu say và thường hay đánh đập cô ta nữa. Năm 1909, ông Nguyễn Sinh Huy (tức Nguyễn Sinh Sắc) bị bãi chức vì chứng say rượu.” (5)
Chiếu theo tài liệu của sở mật thám Pháp ghi ngày 7 tháng 5, 1920 thì ông Nguyễn Sinh Sắc bị bãi chức vì say rượu chứ không phải vì yêu nước, chống lại chính quyền bảo hộ Pháp mà rũ áo từ quan theo tài liệu tâng bốc của ban sử liệu cộng sản!
Đấy là một vài khám phá nhỏ mà Nguyễn Đắc Xuân tìm thấy; điều này đã cho chúng ta thấy rõ ngay cả một nhà HCM học như Sơn Tùng còn phải đi bịa chuyện để sơn phết cho HCM một hình ảnh thần thánh thì phải thật cẩn thận khi đọc về HCM trên các sách vỡ xuất bản tại Việt Nam.
NGUYỄN ÁI QUỐC LÀ BÍ DANH CỦA CỤ PHAN CHU TRINH
Ở đây chúng ta cần phải xác định cho rõ - cái tên Nguyễn Ái Quốc – nguyên thuỷ từ đâu mà có và do ai đẻ ra để rồi cuối cùng HCM mượn tạm cái tên này để xài cho đến lúc chết.
Như chúng ta cũng biết, khi HCM đặt chân lên đất Pháp đầu tiên, đã ở tại nhà của luật sư Phan Văn Trường và cụ Phan Chu Trinh. Chính cụ Phan Chu Trinh là người đã chi tiền và nuôi nấng HCM trong một thời gian khá dài khi HCM ở Pháp. Sỡ dĩ có sự liên hệ này là vì thân sinh của HCM là ông Nguyễn Sinh Sắc cùng thi đổ cùng năm với cụ Phan Chu Trinh, và hai cụ này có biết nhau từ trước. Chính vì thế mà HCM đã đến tá túc nhà của cụ Phan Chu Trinh.
Cả luật sư Phan Văn Trường và Phan Chu Trinh là những nhà tranh đấu kỳ cựu tại Pháp trước khi HCM đến Pháp; nhất là luật sư Phan Văn Trường. Tuy nhiên để bảo đảm an ninh và tránh dòm ngó của mật thám Pháp, nên rất nhiều bài viết của cụ Phan Chu Trinh và Phan Văn Trường đều ký với bí danh là Nguyễn Ái Quốc. Đây là lời kể của bà Phan Thị Minh – cháu ngoại của cụ Phan Chu Trinh kể lại trong cuốn Nguyễn Ái Quốc tại Paris (1917-1923) của Thu Trang do nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia xuất bản tại Hà Nội 2002 – như sau: “Ông Vũ Kỳ - thư ký riêng của bác Hồ - đã nói với tôi chiều ngày 2 tháng 3, 1993 (có xác nhận) là bác Hồ đã nói: “bản yêu sách 8 điểm gởi Hoà hội Versailles là do hai cụ (Phan Chu Trinh và Phan Văn Trường) viết. Hai cụ có hỏi mình có thêm ý kiến gì không, không phải do mình viết đâu, lúc đó mình viết sao nổi, mặc dầu bản đó ký tên là Nguyễn Ái Quốc, sau đó trở thành tên hoạt động của mình..” (6)
Cũng trong cuốn sách nói trên của Thu Trang, bà Phan Thi Minh kể tiếp: “Bản thân tôi từ nhỏ đã được nghe mẹ kể về cuộc chuyện trò giữa cụ Phan Chu Trinh và Nguyễn Sinh Huy tại Saigon trước khi cụ Phan qua đời. Sau gần 15 năm cách biệt, hai người bạn tâm giao mới găp lại nhau. Hai vị đã tâm sự nhiều về người con trai yêu quý. Cụ Sinh Huy vui mừng khôn xiết về lời khen ngợi của Phan Chu Trinh dành cho con mình, đặc biệt với việc đổi tên. Cụ Phan kể: “Trước đó chúng tôi đã có vài bài ký bút danh Nguyễn Ái Quốc, nhưng ít ai chú ý. Chỉ sau khi tờ đơn của dân Nam gởi đến Hoà đam Versailles và công bố rộng ra thì mới được chú ý. Bộ Thuộc Địa và cảnh sát Pháp đã đưa giấy mời tôi lên, đòi Nguyễn Ái Quốc ra trình diện. Chúng ngỡ là rôi ra. Tôi đã bảo Nguyễn Tất Thành (HCM) ra nhận làm chúng rất nhạc nhiên..”
Từ đó HCM ôm luôn cái tên Nguyễn Ái Quốc đó.
Ở đây chúng ta cần mở ngoặc nói qua về bà Thu Trang một chút. Bà Thu Trang là một người Việt Nam cư ngụ tại Pháp. Khi lấy bằng tiến sĩ, bà Thu Trang quyết định viết về cuộc đời của cụ Phan Chu Tring trong thời gian lưu lạc và đấu tranh tại Pháp. Để hỗ trợ cho luận án, bà Thu Trang đi tìm lục lại tất cả những báo cáo của mật thám Pháp viết trong thời kỳ đó nay đã được sở thuộc địa bạch hoá. Điều mà bà Thu Trang khám phá ra là trong những tài liệu của mật thám báo cáo về cụ Phan Chu Trinh, họ cũng báo cáo cả sự hiện diện của Nguyễn Tất Thành (tức Hồ Chí Minh) – lúc ấy đang sống tá túc tại nhà của luật sư Phan Văn Trường và cụ Phan Chu Trinh. Sau khi hoàn thành luận án tiến sĩ về cụ Phan Chu Trinh, bà Thu Trang quyết định xử dụng những tài liệu tìm được của sở mật thám để viết cuốn Nguyễn Ái Quốc tại Paris. Tác phẩm này đã được phiá Hà Nội phê chuẫn và nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia in và phát hành tại Việt Nam.
TÁC PHẨM BẢN ÁN THỰC DÂN PHÁP CỦA HỒ CHÍ MÍNH?
Cho đến nay các xử liệu của CSVN và cái loa tuyên tuyên truyền của nhà nước CSVN luôn luôn thổi phòng và đánh bóng tác phẩm Bản Án Thực Dân Pháp như mà một trước tác to lớn nhất của HCM khi cư ngụ tại Pháp. Tuy nhiên, sự kiện này hiện đang được đánh giá lại một cách nghiêm túc. Thực chất, ai cũng biết thời gian HCM sống tại Pháp không lâu, và với khả năng tiếng Pháp lúc bấy giờ như thư ký riêng của HCM kể lại thì HCM không có khả năng viết được tác phẩm Bản Án Thực Dân Pháp. Cho đến nay không ai biết tác giả thực của tác phẩm này, nhưng có lẽ mọi người đồng ý rằng tác giả của tác phẩm đó không ai khác hơn là luật sư Phan Văn Trường, nơi mà HCM đã tá túc khi sống tại Pháp.
Bà Thu Trang, trong cuốn Nguyễn Ái Quốc tại Paris cũng đã đánh giá lại toàn bộ những gì của cái gọi là HCM viết khi ở Pháp, dựa trên những tài liệu của mật thám Pháp nay đã được bạch hoá. Bà Thu Trang đưa ra một bản báo cáo của mật thám Pháp ký tên là Jean đã viết về HCM như sau: “Người ta không biết ông ta từ đâu đến và gia đình ra sao. Ông ta rất giỏi chũ Hán. Nhưng chữ Pháp thì không biết nhiều. Ký tên Jean” (7)
So sánh những bài viết của HCM trong thời gian ở Pháp bà Thu Trang nhận định: “Nếu tìm hiểu văn phong và phân tích ngôn từ các bài báo đã ký tên là tác giả Nguyễn Ái Quốc từ giữa năm 1919 đến các bài viết về sau, chúng ta hy vọng sẽ rút ra được một vài kết luận. Chẳng hạn nếu so sánh bài báo mà chúng tôi lược dịch dưới đây với những bài báo khác trong tờ Le Paria (của HCM hay trong Bản Án Chế Độ Thực Dân Pháp , chúng ta sẽ nhận thấy cách viết và lý luận có phần khác hẳn… Đọc bài báo mà chúng tôi đã lược dịch, nhất là ở đoạn cuối, độc giả đã nghĩ ngay là người Viết ở trong giới luật lệ. Một lối lý luận chắc và rất đanh thép, rất cụ thể, không phải quần chúng ai cũng hiểu được. Những bài báo về sau của Nguyễn Ái Quốc viết khác hẳn; nhất là không mấy khi Nguyễn dùng luật lệ để bắt bẻ thực dân mà phần nhiều hay dùng những chứng cớ hiển nhiên. Bài báo trên đây là một nghi vấn là ông luật sư Phan Văn Trường nhờ “có một túi luật lệ” nên thỉnh thoảng ông đưa sự hiểu biết chuyên môn của mình ra để đấu khẩu với những tên thực dân.” (8)
Bà Thu Trang còn bước đi xa hơn một chút, khi bà viết: “Có lẽ luật sư Phan Văn Trường đã biết được tâm lý của một số thực dân trên, nên ông thường dùng sự hiểu biết chuyên môn để “lật mặt nạ” bọn đi ăn cưóp có giấy phép ấy. Một bài báo đăng trong tờ L’Humanité số ngày 2 tháng 08, 1919 với tựa đề Người Bản Xứ tại Đông Dương, ký tên Nguyễn Ái Quốc, cũng đã được viết theo cùng một phong cách ấy. Chúng ta thấy, về sau, Nguyễn Ái Quốc không hề viết theo phong cách và lý luận như trên trong các bài báo của mình…” (9)
Cũng trong cuốn sách Nguyễn Ái Quốc tại Paris bà Thu Trang đã ghi lại lời kể của bà Phạm Minh – cháu ngoại cụ Phan Chu Trinh khi bà Pham Minh giúp bà Thu Trang làm luận án tiến sĩ về “Phan Chu Trinh tại Pháp” như sau:
“Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã sớm đánh giá bút danh Nguyễn Ái Quốc ban đầu là bút danh tập thể của Nhóm Việt Nam yêu nước ở 6 Villa des Gobelins trưóc khi trở thành tên mới của Nguyễn Tất Thành (HCM). Nhận định này đã được hầu hết các sử gia Pháp và phương Tây tán thành với lập luận như sau:
- Lúc đó trình độ về tiếng Pháp và lý luận của Tất Thành chưa đủ để tự mình viết ra các văn kiện đó.
- Các văn bản thể hiện tinh thần và nội dung đưồng lối yêu cầu cải cách của Phan Chu Trinh cùng trình độ Pháp văn và am hiểu luật phát của Phan Văn Trường.” (10)
Trình độ Pháp ngữ của Hồ Chí Minh trong lúc ở Pháp đã như thế, và tình trạng đó không khá hơn một chút nào, ngay cả khi Hồ Chí Minh cướp được chính quyền vào năm 1945. Nguyễn Văn Lưu, chánh văn phòng phủ chủ tịch từ năm 1945 đến năm 1947 đã viết lại như sau về khả năng Pháp ngữ của HCM: “Một hôm, Bác đưa cho tôi xem thấm danh thiếp in tên Bác, trên đó Bác viết một câu tiếng Pháp để gửi cho một nhân vật chính trị bên Pháp. Bác bảo tôi: “chú xem Bác viết thế này có được không?”
Tôi cầm tấm danh thiếp, thấy câu tiếng Pháp bác viết rất đúng với ý của bác. Tôi bèn thưa: “Cháu thấy được ạ”.
Rồi bác lại cầm tấm danh thiếp đi lên gác…Lúc bấy giờ tôi mới có thì giờ để cảm thấy vừa kinh ngạc..vừa xúc động. Lúc đó tôi nghĩ, Bác đã từng viết trên báo Nhân Đạo, viết cuốn Bản Án Chế Độ Thực Dân Pháp nổi tiếng. Bác cũng đã sống bao nhiêu năm ở Pháp, sao bác lại hỏi mình một câu tiếng Pháp đơn giản như thế?” (11)
Với những dữ kiện đưa ra bằng chính tài liệu được cuất bản tại Việt Nam hiện nay, người ta có thể khẳng định một điều rằng tất cả những tác phẩm được ký tên Nguyễn Ái Quốc trong thời gian từ 1919 hoàn toàn không phải của HCM viết. Những tác phẩm có tính cách lý luận chặt chẽ và nhất là cuốn Bản Án Thực Dân Pháp chắc chắn không phải của HCM mà do hai vị Phan Chu Trinh và luật sư Phan Văn Trường viết.
Những năm sau đó, cụ Phan Chu Trinh mất vào năm 1925 tại Việt Nam; luật sư Phan Văn Trường có trở về Việt Nam một thời gian sau đó để hoạt động rồi mất. Có lẽ nhận thấy không còn ai có thể kiểm chứng được gốc gác của các tác phẩm được viết tại Pháp, nên HCM giữ một thái độ im lặng, xem như tất cả tác phẩm đó do mình viết. Ngay cả cái tên Nguyễn Ái Quốc, HCM cũng giữ im lặng không nói rõ xuất xứ. Mãi đến khi bà Thu Trang tìm được những bản báo cáo của mật thám tại ty thuộc địa Pháp nay đã được bạch hoá, lúc ấy nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam phần nào mới nhìn nhận vào sự thật này.
Tuy nhiên sự nhìn nhận vẫn không chính thức; Nhiều lắm là cho bà Phạm Minh nói một chút là thư ký riêng của HCM - Vũ Kỳ có xác nhận rằng HCM có nói ông ta không phải là người viết bản yêu sách gởi cho hội nghị Versailles. Thực chất thì ngay chính Vũ Kỳ cũng không hề xác nhận cũng như viết lên điều này qua những tập hồi ký do chính Vũ Kỳ viết và đã xuất bản tại Việt Nam.
(1) Nhớ Nguồn – Sơn Tùng – nxb Phụ Nữ, Hà Nội, 1975, trang 163-264
(2) Đi Tìm Dấu Tích Thời Niên Thiếu của Bác Hồ ở Huế - Nguyễn Đắc Xuân – Nhà Xuất Bản Văn Học, TP HCM, tháng 5, 2003. Trang 84.
(3) Sdđ phần 2, trang 18.
(4) Sdđ phần 2, trang 19.
(5) Sdđ phần 2, trang 238.
(6) Nguyễn Ái Quốc tại Paris (1917-1923) – Thu Trang – Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2002, Trang 419.
(7) Sdđ phần 6, trang 91.
(8) Sđd phần 6, trang 91-95.
(9) Sđd phần 6, trang 96-97. Bài Người Bản Xứ tại Đông Dương đã được Tạp Chí Cộng Sản, tháng 04, 1984 đăng toàn văn bài.
(10) Sđd phần 6, trang 418.
(11) Chuyện Kể của những người giúp việc Bác Hồ. Bảo Tàng Hồ Chí Minh. Nhà Xuất Bản Thông Tấn – Hà Nội, 2003. Trang 28.