PDA

View Full Version : Anh Ngữ Học Mà Vui



WLP
07-28-2007, 06:41 PM
TS Trịnh Nhật
E-Mail: trinhnhat@khoahoc.net

LTS. Bài học Anh ngữ nói chung chủ yếu là bàn về tiếng Anh thời sự, đã đọc được trên báo chí, nghe được trên đài phát thanh truyền hình, với các độc giả trong tinh thần “Tôi học, Anh học, Chị học, Em học, Chúng ta cùng học!”. Các từ vựng, đoản ngữ, tục ngữ, thành ngữ, châm ngôn... tiếng Anh, tiếng Việt sẽ được lồng vào những mẩu chuyện vui, cà kê dê ngỗng, cốt là giúp cho người học dễ nhớ, vui mà học được. Những lời bàn tán ở đây nhất định không thể được coi là những lời “thánh phán”, mà các độc giả, tất nhiên có những người biết chuyện, sẽ được mời đóng góp ý kiến của mình hoặc đặt câu hỏi để chúng ta có dịp cùng nhau tìm hiểu, đồng thời chia xẻ niềm vui chung là học hỏi lẫn nhau. Bài học còn có thêm phần liệt kê những kết hợp ngữ (collocations), những cụm từ cố định (fixed expressions) trong tiếng Anh, tiếng Việt để người học tham khảo thêm.

* * *

Vàng, mà lại không phải là vàng, mà lại là vàng,

là cái gì?


Chưa bao giờ tinh thần đoàn kết dân tộc của người Úc da vàng gốc Việt lại lên cao như trong hai tuần đầu của Giải Túc Cầu Thế Giới/Giải Bóng Đá Thế Giới (tiếng Anh gọi tắt là ‘World Cup’). Khán giả người Việt ơi ới gọi vào Ban phát thanh Việt-ngữ Đài SBS-Radio Melbourne, bàn tán xôn xao với Hoàng Thọ, với Quốc Việt, rồi trong lúc hồ hởi nhận mình là Úc, thốt lên những câu như “Úc mình”, “đội Úc mình”, “mình phải thế này, mình phải thế nọ”, cứ làm như mình (Mít) và họ (Aussie) “tuy hai mà một” vậy (nhất là khi Úc thắng Nhật 3-1 trong 8 phút phù du giờ chót trận đấu, và khi Úc thủ hòa 2-2 với Croatia để được lọt vào vòng nhì). Nói theo kiểu tự trào, thì bảo: “Người Việt da vàng mình đã không ngần ngại ‘thấy người sang, bắt quàng làm họ’, kể cả làm họ với dân “Úc-đại-hại”, nơi mình bắt buộc phải sống kiếp lưu đầy (living in exile).



Người ta còn nghe thấy SBS-Radio tiếng Việt ở Sydney, cả Melbourne nữa, ra những câu đố vui có thưởng nữa chứ, hào hứng, sung sướng, ‘phê’ (ecstatic) quá mà! Trong các câu đố, có một câu Vũ Nhuận đố bà con thính giả để xem ai đoán được cầu thủ bóng đá (soccer player) nào sẽ được lãnh danh hiệu đôi giầy vàng (golden boots), nghĩa là đấu thủ nào là người ghi nhiều bàn thắng nhất, vua phá lưới (the highest goal scorer), trong toàn thể giải World Cup, bắt đầu từ 9-6-2006 đến 10-7-2006.



Còn khán giả đài truyền hình SBS vào xem đá banh trực tiếp truyền hình khoảng 10 giờ 30 tối, Giờ Đông Bộ Úc Châu (Australian Eastern Standard Time--AEST) trở đi, lúc nào cũng thấy chữ FIFA Fever (phát âm là ‘phì phà phí vờ’), có nghĩa là Cơn sốt Liên đoàn Bóng Đá Thế giới (Fédération Internationale de Football Association). “Cơn sốt” (fever) ở đây phải hiểu là “sự thích thú cuồng nhiệt” làm cho thân nhiệt trong người của ta lên cao, như khi lên cơn sốt vậy. Ai trong chúng ta đã thấm nhuần chữ nghĩa “thánh hiền” của “tổ tiên” Hồng Mao đều thấy rõ danh xưng của liên đoàn là sự phối hợp của cụm từ tiếng Phú-lăng-xa (Fédération Internationale de...) với cụm từ tiếng Ăng-lê (Football Association).



Chuyện “đá banh, đá bóng, bóng đá” (football, soccer) kể trên đã được tôi dùng như trận đấu mở màn cho làm Bài học Anh ngữ Số 1. Mục “Anh Ngữ Học Mà Vui” cũng đã có một thời rổn rảng trên làn sóng SBS-Radio trong những năm đầu thập niên 90 khi còn là Đài Quê Mẹ với Trường Sơn, Tô Châu, Vi Mạnh, và sau đó là với người đẹp Ngọc Hân. Một trong những tờ báo Việt ngữ ở Sydney là tờ Việt Luận thời đó có đăng lại một số bài.



Trở lại bài học tuần này với chủ đề “vàng”. “Vàng” trong tiếng Việt là tiếng để chỉ “một màu sắc” (yellow), “một kim loại quí” (gold), nhưng cũng còn để chỉ “một vật, một thời kì hưng thịnh/vàng son/hoàng kim, một giai đoạn ăn nên làm ra/tiếng tăm lẫy lừng” (golden days). Trong tiếng Việt nói là “vàng” mà khi nói sang tiếng Anh người ta không nhất thiết phải dùng chữ “vàng”. Ví dụ: tiệm bán vàng lại là “a jewellery shop” hay “the jeweller’s” (tiệm kim hoàn, tiệm/hiệu bán nữ trang), còn những người bán vàng thì lại được gọi là “gold merchants” hay “gold dealers”. Tiếng Anh họ cũng nói All that glitters/glisters is not gold (Tất cả cái gì lóng lánh/lấp lánh không chắc đã phải là vàng) là có ý cảnh báo người đời “chớ có tưởng bở”, “chớ thấy sáng chói mà tưởng là vàng”. Thấy người, thấy của vậy mà chưa chắc đã là người tốt, của quí đâu đấy!



Người Anh họ không nói “*a yellow-skinned Vietnamese”, để chỉ “người Việt da vàng”, mặc dù nói thế là nói đúng ngữ pháp, văn phạm. Trong tiếng Anh, chữ “yellow” không đi cùng với “skin”(da) mà chỉ đi cùng với chữ “race” để chỉ hoàng chủng (yellow race), khác với bạch chủng (white race), hắc chủng (black race). Ngặt một nỗi, tiếng “yellow” lại liên hệ tới cowardice (sự hèn nhát), dùng trong tiếng Anh như một thuộc từ, chẳng hạn như khi ta nói: “He’s yellow” thì lại có nghĩa là “Hắn là thằng chết nhát” (He’s a coward). Nhưng trong “áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc”, Nguyên Sa không chỉ yêu màu vàng (yellow) mà còn yêu cả màu cam (orange) nữa, bởi vì tiếng Việt “cam” cũng là “vàng” nếu không cần phân biệt kĩ. Cũng như khi ta nói “màu xanh” mà không nói rõ, người nghe có thể hiểu theo nghĩa “blue” hay ‘green”.



Khi để chỉ màu sắc “vàng”, ngoài từ “yellow”, tiếng Anh còn dùng từ “gold” như trong “green and gold” (màu xanh lá cây và màu vàng) là hai màu gọi là màu dân tộc Úc (Australian national colours) khi tranh giải thể thao. Người Úc dùng “gold” thay vì “yellow” để ám chỉ rằng người Úc là thuộc loại xịn, ngon lành (good) chứ không phải thuộc loại dởm, xoàng xĩnh (mediocre). Hai màu “green” và “gold” là màu lấy từ loại hoa đặc trưng của Úc the Wattle (hoa mi-mô-da Úc).



“Gold” còn dùng để nói đến huy chương trong các giải thi đấu thể thao. Có ai trong chúng ta đã đoán, đã đánh cá xem đội banh nào sẽ thắng trận chung kết để lãnh huy chương vàng (gold medal) trong Giải Bóng Đá Thế Giới này chưa? Liệu đội nhà Socceroos của Úc chúng ta có hi vọng vào sâu được đến đâu? Với tên đội banh là Socceroos thì quả là ai đó đã khéo đặt. Này nhé, Soccer là “bóng đá”, còn roo là chữ viết tắt của chữ “kangooroo” (đại thử), ý nói là Úc. Có điều cần ghi nhận là trong từ Socceroos chỉ có một chữ r sau chữ soccer và roos có thêm chữ s.



Khi để chỉ cái gì hiếm quí, tiếng Anh dùng chữ “golden” (bằng vàng). Trong trận Bóng đá Thế giới vừa rồi, Harry Kewell, cầu thủ hàng đầu của Úc, đã được gọi là “the Golden Boy with the Golden Boot” (Cậu Quí tử với chiếc Giầy Vàng). Khi anh dùng chân phải đá quả banh lọt khuôn thành của Croatia để san bằng tỉ số 2-2 vào gần giờ phút chót, người tường thuật trận đấu đã la lên: “The golden boy has kicked the golden goal” (Cậu con cưng vừa đá ghi bàn thắng bằng vàng).



Phải nói rằng trong trận đấu với Croatia, cũng như trận đấu với Nhật Bản, đội Socceroos đã làm cho bà con người Úc da trắng cũng như người Úc da vàng một phen lên ruột vì phải lội giòng nước ngược, luôn luôn bị dẫn trước, tưởng như hi vọng của Úc được vào vòng nhì coi như tan theo mây khói, nhưng ngờ đâu giờ chót Úc đã chuyển bại thành thắng (coming from behind to win).



Úc đã đánh cú bọc hậu tuyệt vời--một cú “tống tình cửa hậu” có một không hai.

Aussie, Aussie, Aussie!

Oi, Oi, Oi!



Tin giờ chót: Trong trận thi đấu sống chết, một mất một còn (do-or-die match) vào sáng sớm ngày Thứ Ba 27-6-2006 để vào vòng tứ kết, đội Socceroos của Úc đã oanh liệt giữ ở thế thượng phong, tấn công với tỉ số cầm banh trong chân/giữ bóng trong chân (ball possession) là 59%, trong khi đội Ý chỉ cầm banh được có 41%. Nhưng không may cho Úc, vào phút thứ 90, tức là lúc kết thúc trận đấu, trọng tài (referee) thổi còi phạt Lucas Neill, một cú phạt đền (penalty kick), cho rằng anh đã chặn banh trái phép đối thủ Ý, khi anh ngã nằm xoài trên sân trong vùng cấm địa, làm cho cầu thủ Ý vướng chân cũng ngã theo. Quyết định của trọng tài đã gây ra nhiều tranh cãi (controversial), và khiến cho đa số dân chúng Úc, kể cả người Úc da vàng gốcViệt, đã từ ước vọng sôi sục, thực hiện giấc mộng kê vàng cho tình mình lên cao vút, thì nay tình mình xuống thấp đến độ “xìu xìu ển ển”.



Chuyện đời “Hay không bằng hên!”. Thôi thì: “Thua keo này bày keo khác” vậỵ!

Aussie, Aussie, Aussie!

Ôi, Ôi, Ôi!


Trịnh Nhật

Sydney, Tháng 06, 2006


Kết hợp ngữ (Collocations)



yellow adj
(màu) vàng

· ADV very rất | rather, slightly khá, hơi Her teeth were rather yellow Răng cô ta hơi bị vàng.

· ADJ dark, deep, rich, strong đậm, sậm | creamy, light, pale, soft kem, lợt, nhạt | She wore a pale yellow dress Cô ấy mặc cái áo đầm (dài) vàng nhạt.| bright, brilliant, vivid sáng, tươi | dirty, dull, sickly bẩn, tẻ, bệnh hoạn | canary chim hoàng yến (vàng nhạt), chrome crôm (vàng nhạt), golden óng, lemon chanh, primrose hoa anh thảo (vàng nhạt), saffron nghệ, sunshine nắng.



gold noun

1 kim loại màu vàng

* ADJ pure y | real thật, ròng | solid đặc, khối | fool's giả | 9-carat (vàng) tây, 9 ca-ra, 18-carat (vàng) tây, 18 ca-ra, etc. | molten lỏng, nóng chảy | beaten gò dẹp, rolled mạ, dát | burnished sáng chóa, đánh bóng | tarnished xỉn, xuống nước.
* VERB + GOLD extract, mine, produce đào | look for tìm, pan for đãi, prospect for khai thác He spent weeks panning for gold in the river Hắn đã dùng nhiều tuần lễ đãi lọc tìm vàng ở giòng sông đó | discover, find, strike khám phá, tìm thấy, phát hiện | be set in nạm vào The rubies were set in 18-carat gold Hồng ngọc đã được nạm vào vàng 18 ca-ra.; (chiếc cà rá/ nhẫn...) vàng 18 ca-ra nạm hồng ngọc (nạm = nhét vào giữa).

· GOLD + NOUN mine mỏ, miner thợ mỏ, mining đào mỏ, prospecting khai thác, prospector người khai thác | rush đổ xô a gold rush town một thành phố người ta đổ xô đến tìm vàng | deposit, dust, nugget cục | bar, bullion, ingot thanh, thỏi | leaf lá, plate lát | market thị trường, reserves dự trữ , stocks cổ phần falling government gold stocks cổ phần vàng của chính phủ đang xuống | standard chuẩn The currency was tied to the gold standard Tiền tệ đã được điều chỉnh lấy giá vàng làm chuẩn/lấy vàng làm kim bản vị; Chế độ tiền tệ dựa vào kim bản vị.

* PHRASE a vein of gold một lớp/mạch vàng In the afternoon he struck a rich vein of gold Vào buổi chiều anh ta đào được một lớp/mạch đầy vàng.

2 (còn là gold medal huy chương vàng) trong thể thao.

* ADJ Olympic Thế vận hội
* VERB + GOLD get, take, win được, lấy, chiếm được, thắng, đoạt được She got a gold in the long jump Cô ta chiếm được một huy chương vàng về nhảy xa | go for nhắm lấy She's going for gold this time Cô ấy đang nhắm đoạt huy chương vàng lần này.



golden adj

bằng vàng, ánh vàng

* VERB be, gleam, look tỏa, chiếu, trông The abbey walls gleamed golden in the light of the setting sun Những vách tường tu viện tỏa sáng màu vàng óng dưới ánh hoàng hôn. | turn ngả The whole sky turned golden and red Cả bầu trời ngả sang ánh vàng đỏ ối.
* ADV faintly, softly yếu ớt, mờ nhạt the faintly golden afternoon light. Ánh nắng chiều vàng vọt.



Thành ngữ, tục ngữ để tham khảo



As good as gold.

Hair like liquid gold.

To shine like pure gold.

All that glitters is not gold.



Ăn khế trả vàng.

Vàng thau lẫn lộn.

Ngồi mát ăn bát vàng.

Chưa đánh được người mặt đỏ như gang/vang,

Đánh được người rồi mặt vàng như nghệ.



Đố vui để học


Mồm bò, mà lại không phải là mồm bò, mà lại là mồm bò,

là con gì?

WLP
07-28-2007, 06:48 PM
LTS. Bài học Anh ngữ nói chung chủ yếu là bàn về tiếng Anh thời sự, đã đọc được trên báo chí, nghe được trên đài phát thanh truyền hình, với các độc giả trong tinh thần “Tôi học, Anh học, Chị học, Em học, Chúng ta cùng học!”. Các từ vựng, đoản ngữ, tục ngữ, thành ngữ, châm ngôn... tiếng Anh, tiếng Việt sẽ được lồng vào những mẩu chuyện vui, cà kê dê ngỗng, cốt là giúp cho người học dễ nhớ, vui mà học được. Những lời bàn tán ở đây nhất định không thể được coi là những lời “thánh phán”, mà các độc giả, tất nhiên có những người biết chuyện, sẽ được mời đóng góp ý kiến của mình hoặc đặt câu hỏi để chúng ta có dịp cùng nhau tìm hiểu, đồng thời chia xẻ niềm vui chung là học hỏi lẫn nhau. Bài học còn có thêm phần liệt kê những kết hợp ngữ (collocations) trong tiếng Anh, tiếng Việt để người học tham khảo.




Anh ‘ghê’ (gay) mà em đâu có hay?


Một trong những sinh hoạt thể thao giải trí ngoài trời của người Úc là bushwalking (‘đi bờ đi bụi’). A bushwalker theo từ điển cho biết là người thích đi bộ xa (someone enjoys hiking) trong khu vực hoang vu, dân cư thưa thớt (in the bush). Chuyến đi bộ xa bao nhiêu cây số, cái đó cũng còn tùy, 5-10 km, trong cảnh thôn dã, núi rừng, ven biển, ven hồ, ven sông, trên những đường mòn đã được hoạch định sẵn, nhưng cũng có khi là qua những nơi có địa thế hóc hiểm (virgin terrain).



Lần đầu tiên tôi được biết đến chuyện ‘bushwalking’ này là từ hồi mới sang Úc khoảng giữa thập niên 70, qua cô bạn ‘tennis’ (tennis partner), người gốc Tân Tây Lan. Một chuyến ‘bushwalk’ của họ có khi dài đến cả 15-20 cây số và đêm đến họ còn cắm trại ngủ lều trong cảnh thiên nhiên bao la, trăng sao, lộng gió… Chuyện gì xẩy ra trong “cái đêm hôm ấy đêm gì” đó thì chỉ có Trời biết (God only knows)!



Khoảng 3 năm trở lại đây, tôi thỉnh thoảng theo chân một nhóm bạn Việt Nam đi ‘bushwalking’ quanh những vùng phụ cận Sydney, chỉ cách Sydney khoảng chừng 50, 100 km là cùng. Thường là đi trong ngày rồi về, nhưng khi phải ở lại đêm thì thuê nhà nghỉ có tiện nghi phòng ốc đàng hoàng. Một trong những sinh hoạt, ngoài chuyện đi bộ, là kể cho nhau nghe những chuyện tiếu lâm (risqué joke). Trong chuyến đi bụi đầu năm con khỉ (the Year of the Monkey), cách đây 2 năm, một anh bạn đã kể câu chuyện cho một nhóm bạn mà đa số là bạn gái có tựa đề:



“Cho ‘ấy’ một cái đi!”



Ngày xửa ngày xưa có một cặp vợ chồng thỏ bạch (a couple of white rabbits) yêu nhau tha thiết, đến một bước họ cũng không rời nhau (they became inseparable). Một hôm, không hiểu vì lí do gì (for some unknown reason), thỏ đực bỗng biến đi đâu mất (suddenly disappeared), mà cũng không có dấu hiệu gì cho thấy là có ngày chàng sẽ trở về. Thỏ cái nhớ chồng da diết (missed her male partner so much) nên quyết định đi kiếm cho bằng được chồng mình. Nàng đã kiếm khắp mọi nơi mọi nẻo (all the nooks and crannies), mà cũng chẳng thấy tăm hơi của chàng đâu.



Trong lúc đi tìm và gần như vô vọng, thì nàng gặp một chú thỏ nâu (a brown buck). Nàng bèn hỏi: “Ê này, Đằng ấy có gặp chồng tớ đâu không?” Chú thỏ nâu bèn lên tiếng: “Cho tớ ‘ấy’ một cái đi thì tớ mới nói cho biết!”(I won't tell you unless you do 'it' with me). Nàng thỏ bạch lúc đầu bối rối không biết trả lời sao, nhưng vì nhớ thương chồng quá đỗi, nên nàng đành “Ừ thì” nhận lời.



Sau khi “nhận lời” xong xuôi đâu đó (after having fulfilled her promise), nàng lại tiếp tục đi tìm và lần này nàng gặp một chú thỏ đen. Nàng bèn hỏi: “Đằng ấy có gặp chồng tớ đâu không?”. Thỏ đen bèn đáp: “Cho tớ ‘ấy’ một cái đi thì tớ mới nói cho biết!” Lại một lần nữa, cũng vì thương nhớ chồng, nàng đành thúc thủ (she succumbed) chịu để cho thỏ đen ‘ấy’ một cái .…rồi nàng lại tiếp tục đi tìm (kept on searching). Nhưng với tất cả mọi cố gắng và kiên nhẫn, nàng vẫn không tìm thấy chồng mình đâu cả.



Hậu quả của những cuộc hội ngộ tình cờ này (these chance encounters), chắc không ai ngạc nhiên, là nàng thỏ bạch mang bầu.



Bây giờ, xin hỏi Các Chị/Em có kiến thức về khoa học là: “Chị/Em có đoán được thỏ con sinh ra sẽ có màu gì không?”



Nếu ai không trả lời được, mà muốn biết câu trả lời thì người kể truyện đòi rằng:



“Được rồi, nhưng phải cho tôi ‘ấy’ một cái đã!”



Trong văn hoá Việt Nam, khi nói đến chuyện “làm tình” (making love), hay “bộ phận sinh dục” (genitals) người Việt chúng ta thường tránh nói thẳng mà chỉ nói mon men, lờ mờ chẳng hạn như “chuyện ấy”, “chuyện kia”, hoặc “cái ấy”, “cái kia”. Khi đả động đến chuyện vợ chồng, trai gái “having sex” với nhau thì chúng ta cũng nói đấy, nhưng lại dùng những cụm từ nôm na như “ăn nằm” , “đi lại” với nhau, hay văn vẻ hơn thì là “chuyện chăn gối” (‘blanket-and-pillow’ affair), “chuyện mây mưa” (‘cloud-and-rain’ affair), “chuyện phòng the” (‘bed-chamber’ affair), hoặc có khi dùng tiếng Hán-Việt như “giao cấu”, “giao hoan”, “giao hợp” (sexual intercourse) để làm nhẹ bớt tính chất thô lỗ, tục tằn của cái “tội tổ tông” (original sin). Nhiều khi người Việt ta còn dùng lối nói lái (spoonerism) để thực hiện mục đích này, tỉ như nữ sĩ Hồ Xuân Hương nói đến “đá bèo” là “đéo bà”.



Người Úc họ nói thẳng, nói thật, bộc bạch, tượng hình hơn mình về chuyện này. Khi nói đến bộ phận sinh dục nam khi làm tình thì họ dùng những cụm từ, tỉ như: “dip your wick” (dip = nhúng; nhận chìm; wick = bấc của ngọn đèn cầy/nến); hoặc “to hide/sink your sausage” [hide = giấu/cất; sink = làm chìm, dìm; the sausage = cái/cây xúc-xích, ý nói đến dương vật (penis) tìm đường vào/vô âm đạo (vagina)]. Khi nói đến trai gái, nam nữ làm tình thì họ dùng những cụm từ, tỉ như: “to get into her pants” [pants = quần, ý nói chui tọt vào quần]; “to have a quickie” (quickie = cú chớp nhoáng, vì không có nhiều thời giờ mày mò). Những cụm từ ít được người ta biết đến và đỡ sỗ sàng hơn là: “to have a roll in the hay, to fool around, to crack it, to make out, to have a pash/pash on [pash = passion (dục vọng].



Chuyện làm tình giữa hai người khác phái (heterosexual) là vậy. Nhưng trong bài học tuần này tôi muốn nói đến chuyện làm tình giữa hai người cùng phái (homosexual) với chủ đề bài học: “Anh ‘ghê’(gay) mà em đâu có hay?”, được nhái/nhại lại 2 câu thơ bất hủ của Quang Dũng:




Hồn lính mơ qua vài sợi tóc
Anh thương mà em đâu có hay?



Câu chuyện “ghê” này được đăng trên một tờ báo điện tử (online newspaper) ở Việt Nam mới đây, có lẽ là tờ Người Lao Động. Tôi đã viết lại một mẩu chuyện sang tiếng Anh và đổi tên các nhân vật trong chuyện để làm bài học tham khảo cho Quí bạn đọc:

In Vietnamese society nowadays, one of the awkward love relationships (chuyện tình éo le) which women encounter is that of giving their heart to men who do not know what they really are. Please don’t jump to the conclusion that these men look ‘sissy’ (ẻo lả), because there are male homosexuals (những chàng ‘gay’ đồng tính nam) who look very masculine. They are to be pitied more than to be blamed (họ đáng được thương cảm nhiều hơn là đáng trách).

Cuộc "Chiến đấu" không cân sức (The “Fight” that got nowhere)

Hồng and Thanh knew each other for four of their university years. Hồng was a beautiful and brilliant student. Thanh was born to be a gentleman in its strict sense ("công tử" chính hiệu), but he had the appearance of someone who cared less about life in the way he behaved and dressed. Coupled with this was the fact that his name often appeared in articles about films. Girls openly flirted with and went for him (các cô gái chủ động "tấn công" chàng ra mặt). In the eyes of their friends they represented the most ideal, beautiful pair (cặp đôi đẹp nhất, lý tưởng nhất). Hồng and Thanh were attracted to each other and were inseparable (gắn với nhau như hình với bóng) and they planned to be together in the not-too-distant future ‘with a house and a bunch of kids’ (một mái nhà chung và bầy trẻ nhỏ).



But after completing four years of their university, both of them said their goodbyes to each other (reason being, it wasn’t love!). Only a few of their friends knew that behind that reason there was a sad story. Hồng talked confidentially about their love in a deeply emotional way: “We held hands and kissed like lovers do (cũng nắm tay, hôn nhau như bao cặp tình nhân khác) but deep down each of us felt that something was fading, and couldn’t put a name to it. Both he and I tried to nurture our relationship (cố gắng vun đắp cho mối quan hệ này). Then one day, he said to me that he had feelings for a man, and that he could not resist it.”



Although shocked by this bad news, Hồng did not believe it. She believed that it was only a strange fleeting emotion (một thứ "cảm xúc lạ và nhất thời"). Hồng tried every possible way to help Thanh forget about his “weird” love (mối tình "oái oăm"). She even went further in using ‘sex’ (trái cấm) to hold on to him, and to help him stay away from the other man. The result was that within a short period of time, Thanh said goodbye to Hồng, to run off with the true love of his life (để chạy theo mối tình đích thực của đời mình).

Quả là: “Anh ‘ghê’ (gay) mà giờ này em mới hay!”

Trịnh Nhật
Sydney, Tháng 8, 2006



Kết hợp ngữ

(Collocations)



gay adj

vui vẻ (nghĩa cũ); đồng tính luyến ái (nam)

§ VERB be, look, sound trông, xem ra, có vẻ, nghe như

§ ADV openly ra mặt, không giấu giếm He is now openly gay Chàng ta bây giờ không còn giấu giếm là mình mê ‘đực rựa’.

love noun

tình yêu, luyến ái

* ADJ deep, great, overwhelming, passionate sâu đậm, cuồng nhiệt her deep love for him | genuine, pure, real, true chân thật, đích thực | unconditional không/vô điều kiện | abiding, eternal, undying lâu dài, vĩnh cửu, bất diệt He had an abiding love of the English countryside Chàng ta vốn yêu thôn quê nước Anh từ hồi nào đến giờ. o You have my undying love Tình em/anh đối với anh/em là vĩnh cửu/không bao giờ nhạt phai. | hopeless, unrequited vô vọng, một chiều (không được đền đáp, không được người kia yêu lại) a sad tale of unrequited love một câu chuyện tình buồn, yêu người mà người không yêu lại | thwarted bị ngăn trở, trắc trở, éo le a play about thwarted love một vở kịch về cuộc tình éo le | mutual có qua có lại | free buông thả, tự do They were into free love and avoided commitment Họ yêu nhau bằng tình cho không biếu không và tránh mọi cam kết/chói buộc. | first đầu, lần đầu, ban đầu I like most sports but tennis is my first love Tôi thích phần lớn các môn thể thao nhưng quần vợt mới là mối tình đầu. | brotherly anh em, huynh đệ, maternal (của) mẹ, parental (của) bố, cha, sisterly chị em, tỉ muội | courtly lịch sự, đàng hoàng, thanh lịnh, quí phái platonic lí tưởng thuần khiết, (tình) chay (không có dục) romantic lãng mạn the cult of courtly love in twelfth-century Aquitaine sự sùng bái tình yêu quí phái/phong nhã ở Aquitaine (Anh) thế kỉ thứ 12 | erotic khiêu dâm, physical xác thịt, sexual dục | heterosexual lưỡng tính, giữa nam nữ với nhau homosexual đồng tính nam (giữa nam giới/phái nam với nhau), lesbian đồng tính nữ (giữa nữ với nhau) | redemptive cứu thế | divine thiêng liêng, human con người, trần tục.
* VERB + LOVE feel, have cảm thấy, có She felt no love for him Cô ta không cảm thấy yêu anh ta. o He had a great love of life Chàng ta yêu đời hết chỗ nói. | search for, seek tìm, kiếm | find tìm thấy At last she had found true love Cuối cùng thì nàng cũng tìm thấy tình yêu chân thực. | express, show biểu lộ, tỏ | declare, profess tuyên bố, tỏ (cho mọi người biết) They publicly declared their love for each other Họ công khai tuyên bố là họ yêu nhau. | promise hứa 'You promised me love!' he cried despairingly “Em hứa em yêu anh mà!’ chàng lớn tiếng kêu trong niềm thất vọng. | return đáp lại He didn't return her love Hắn không đáp lại tình nàng. | share cùng chung, cùng chia sẻ They share a love of music Họ có chung lòng yêu thích nhạc. | give sb, send (sb) cho ai, gửi đến ai Bob sends his love Bob gửi tình yêu của mình đến (ai). | be in, fall in He fell in love with one of his students Anh thầm yêu trộm nhớ một trong những học trò của mình. | fall out of không còn được (yêu); bị thất sủng | make ăn nằm, chung đụng xác thịt, làm tình It was the first time they had made love Đó là lần đầu tiên họ làm tình với nhau. o He wanted to make love to her Chàng muốn làm tình với nàng.
* LOVE + NOUN affair ngoại (tình) | life cuộc sống (tình ái), cuộc đời ái tình/tình ái) | letter lá thư, bức thư | scene cảnh, song bài ca/hát, story chuyện, câu chuyện.
* PREP for/out of ~ vì I did it for love! Tôi làm thế là vì yêu (vì tình)! in ~ trong We are very much in love Chúng tôi ngụp lặn trong tình (yêu nhau quá là yêu). | ~ between giữa ~ the love between parent and child tình thương/yêu giữa cha con (mẹ con) ~ for cho, đối với He did not know how to express his love for her Chàng không biết làm sao tỏ tình cho nàng biết. ~ of She had a great love of painting Nàng thích vẽ tranh vô cùng.
* PHRASE an act of love hành động ái tình deeply/madly/passionately in love yêu sâu đậm/cuồng điên/cuồng nhiệt I was madly in love with her. desperately/hopelessly in love, head over heels in love yêu cuồng điên, yêu mê mệt love at first sight bị cú đờ-phút, cú sét ái tình, gặp mặt lần đầu là yêu liền Do you believe in love at first sight? Anh có tin có chuyện ‘cú sét ái tình’ không nhỉ? the love of sb's life người tình của đời ai/người nào She was the love of his life Nàng là người tình của đời chàng.



love verb

yêu, thương

* ADV dearly, deeply thiết tha, sâu đậm, passionately đắm đuối, really nhiệt/thiệt tình tenderly say đắm, very much thiết tha, vô cùng He loved his wife dearly. | unconditionally vô điều kiện He wanted to be unconditionally loved Chàng muốn được yêu vô điều kiện.



know verb

1 biết/rõ chuyện gì, điều gì

* ADV for certain full well, perfectly well, very well chắc chắn, tường tận, như đinh đóng cột I don’t know for certain, but I think she lives in the next village Tôi không biết chắc, nhưng tôi nghĩ cô ta sống trong cái làng kế bên kià. o You know very well what I’m talking about! Anh biết rất rõ tôi nói về chuyện gì mà! | honestly not thật tình không (biết) I honestly don't know what they mean to do Tôi thật tình không biết họ định/có ý/tính làm gì.
* VERB + KNOW let sb cho ai/người nào (biết) Please let me know if there's anything I can do to help Làm ơn cho tôi biết liệu có điều/cái gì tôi có thể làm để giúp được không.
* PREP about về He knows a lot about early music Hắn biết nhiều về âm nhạc thời kì đầu of có (ai) I don't know of anyone who might be interested in the job Tôi không biết có ai thích/quan tâm đến công việc/việc làm đó không.
* PHRASE be widely known được nhiều người biết It is widely known that CFCs can damage the ozone layer Nhiều người biết rằng khí CFC (khí thải từ tủ lạnh ra) có thể làm hư tầng ô-zôn know a lot biết nhiều, nothing không chút nào, (chẳng) gì cả very little rất ít etc.

2 biết, nhận biết

§ ADV exactly, precisely chính xác, đúng hệt, đúng in hệt I know exactly how you feel Tôi biết rõ tâm trạng anh ra sao mà. | instinctively theo bản năng, tự nhiên, (như có) linh tính He knew instinctively where he would find her Chàng (như có) linh tính cho biết là chàng sẽ tìm được nàng ở đâu.

3 quen thuộc ai/người nào--cái gì/điều gì, rành mặt/nhẵn mặt

§ ADV well rõ I don't know John very well Tôi không biết anh John rõ lắm. | hardly không (biết) gì mấy But I hardly know the woman! Nhưng tôi không biết mảy may gì về người đàn bà ấy.

§ VERB + KNOW get to bắt đầu (làm quen, kết bạn) She's very nice when you get to know her Khi làm quen nàng rồi thì thấy nàng rất dễ thương.

§ PHRASE be known to sb được ai quen mặt, được ai biết đến This man is known to the police Người đàn ông này được cảnh sát biết/quen mặt (vì là tội đồ, tội phạm), be widely known được/bị nhiều người quen mặt.

4 còn có tên nữa là, còn được gọi là/kêu bằng, được biết dưới danh xưng khác nữa là

* ADV colloquially, commonly, popularly nôm na, thông thường, phổ thông, quen thuộc | affectionately, familiarly thân mật, thân thiện | collectively chung, gộp lại, một cách tập thể parts of the body known collectively as the sensory system các bộ phận/phần của thân thể gọi chung là hệ giao cảm | variously (dưới hình thức) khác nhau The drug is variously known as crack or free base. | locally ở địa phương | formerly trước kia Xinjiang was formerly known as eastern Turkestan Tân Cương trước kia/xưa kia gọi là Đông bộ Turkestan.

§ PREP to đối với He was known as Bonzo to his friends Bạn bè anh biết anh qua cái tên là Bonzo.

WLP
07-28-2007, 06:56 PM
Lo bò trắng răng

Trong lúc chờ đợi tìm í cho bài viết cho muà nghỉ Lễ Phục Sinh (Easter Holiday), tôi thả hồn viết đôi dòng thăm hỏi và chúc lành cho nhóm bạn “đi rừng, đi bụi” (bushwalkers) và giới thiệu họ vào mạng www.khoahoc.net để đọc bài “Mai ta vào Chuà trong” đã đăng trong Tuần báo Dân Việt trước đây. Với tiêu đề “Mời người lên xe hoa”, tôi viết:


Thân chào Các bạn hiền! Lâu không nghe "tin …tức ...mình" gì cuả nhau!!! Chợt nghe văng vẳng đâu đây một mẩu đối thoại trong truyện "Hồn Bướm Mơ Tiên" cuả Khái Hưng:



- Chú đưa tay nải đây cho tôi.

- Đưa làm gì?

- Thì chú cứ đưa đây!

- Thì đây!



[Nếu ai không còn nhớ câu chuyện tình lãng mạn giữa chàng thanh niên tên Ngọc và chú tiểu Lan, gái giả trai đi tu, thì đây là đoạn đối thoại khi Lan ra đón Ngọc lên đồi thăm chuà cuả ông chú chàng]



Happy Easter to you all!

MTS


Không bao lâu sau khi viết “email” này, tôi nhận được một “lời chào từ phương xa”, với nội dung như thế này:


Anh Trịnh Nhật kính mến. Nhiều khi ở gần (Sydney) mà thật xa. Vậy mà khi ở xa lại nghe về anh ngày một, ngày hai. Số là, trong lần họp bạn ở Washington DC cách đây vài ngày, tình cờ Loan gặp anh Vũ Quang Bân, bạn cũ cuả anh, thế là tên cuả anh được nhắc tới nhiều lần. Buổi tối ở khách sạn, trăn trở không ngủ được, mang tờ Văn Nghệ cũ ra đọc, lại gặp bài anh viết tưạ "Cánh đồng bất tận" (The endless pasture). Loan thích mấy câu anh dịch về bài nhạc “All the Way” (Tha thiết, da diết, mãi mãi không thôi). Cái lãng mạn tuyệt vời cuả anh, chắc chắn chết sẽ mang theo để kiếp sau lãng mạn tiếp cho đời đáng yêu. Nằm nghe News (Tin tức) bàn về Depression (Chứng trầm cảm/Nỗi chán chường), Sadness (Niềm ưu buồn/ Nỗi phiền muộn), Loneliness (Niềm đơn côi/Nỗi cô đơn)!!! Giữa tỉ tỉ người mà sao mỗi cá nhân lại cô đơn não nùng như thế!



Một ngày như mọi ngày

Buồn nhỏ giọt lên tay

Một ngày như mọi ngày,

Tôi trơ thành tĩnh vật! (trơ, không phải trở)

(Mì ăn liền)


“Meo” cuả người em gái “lương y như từ mẫu” này đến với tôi thật là lạ, như “hoa có một linh hồn”, vì “người đã đi xa”, mà nay chỉ vọng về, tôi nào có hay? Người em gái cho biết tôi có “cái lãng mạn tuyệt vời” ư? Thank you kindly! Người ấy cũng cho biết “tên tôi được nhắc đến nhiều lần” ư? Xấu hay tốt? Chắc lại nói là “Ảnh/Ổng ‘quậy’ lắm” chứ gì?



Vũ Quang Bân là cựu Đại Úy Quân Y sĩ trong QLVNCH, đồn trú tại Quân Y Viện Long Khánh, trước 75. Tôi biết Bân và đại gia đình gồm Bố Mẹ và 8 anh chị em (4 trai 4 gái, Bân là con trưởng) từ giữa thập niên 60 tại Sài Gòn. Cùng với một nhóm bạn, Bân và chúng tôi đã làm báo cho Tập san của Hội Giáo sư Anh ngữ Trung học Việt Nam (Vietnamese Association of High School Teachers of English—VAHSTE), trong giai đoạn giữa thập niên 60 và đầu thập niên 70.



Ngày 30 tháng Tư năm 1975, gia đình Bân chạy loạn, vượt biển sang Đảo Guam, thì sau đó anh được tuyển chọn cùng với 24 y sĩ khác đã tốt nghiệp tại Việt Nam về Arkansas, Tiểu bang nhà của Cựu Tổng thống Bill Clinton, để theo học khoá đào tạo bác sĩ bổ túc đặc biệt vào cuối năm 1975. Tôi nghe nói trong nhóm 25 bác sĩ học lại, anh được bầu làm “hoa khôi” (beauty queen) đấy! Có í tốt thôi! Chắc là vì “dáng cao, trắng trẻo, đẹp giai” chứ gì? Hiền lành nữa là đằng khác. Không “quậy” là cái chắc!



Lúc đó tôi đang học chương trình Cao học [Master’s Degree (Honours)] ở Úc. Nhân dịp nghỉ hè khoảng tháng 11, 1975, tôi liền bay sang Mĩ thăm bà con bạn bè sau “cuộc đổi đời/vật đổi sao rời” (the so-called metamorphosis) ấy, và trong chuyến đi này, ngoài việc thăm những người thân quen ở San Francisco, Carbondale, (Illinois), Washington DC, Boston (Massachusetts), Providence (Rhodes Island), tôi đã có dịp về ở chung với gia đình Bân ở Little Rock (Arkansas), cả nửa tháng trời. Ai không biết thì tưởng tôi thân với Bân là vì Bân có đến 4 cô em gái khả ái/dễ thương (lovely sisters), trong đó có 2 cô “still available” (còn không). Nhưng không, tôi xin thề! (I swear). Ai đã biết tôi, thì họ chắc cũng biết rằng tôi chơi với nhiều loại bạn lắm: hiền lành có, ăn chơi có, loại học hành khoa bảng có, loại “sờ bụng thầy không một chữ gì” cũng có, cái hay là mình đối tốt, có chân tình với nhau, bạn bè lúc khó đó mới thực sự là bạn (a friend in need is a friend indeed), cứu giúp được người khi họ có hoạn nạn, sẵn sàng tôn trọng, chiụ đựng được những cái khác biệt cuả nhau.



Sau khi tốt nghiệp thành bác sĩ Mĩ và làm việc 2 năm tại Little Rock, theo hợp đồng (agreement/contract), thì Bân được về mở phòng mạch tư (run a doctor’s surgery) ở Cali. Thời kì đó, tôi đang làm việc với Đài BBC Luân Đôn (1979-1982), nên mỗi khi tôi có dịp nghỉ phép thường niên (annual leave), tôi thường sang Mĩ, và đều ghé thăm gia đình Bân, lúc Bà Cụ thân sinh ra Bân còn sống.



Mới gần đây, cuối năm 2005 chứ gì, tôi sang Mĩ chơi thăm bà con, bạn bè ở vùng Santa Ana (Nam Cali), Stockton, Mountainview, Sacramento (Bắc Cali), và rồi Tampa (Florida), thì sau đó lại được mời dự đám cưới một đưá cháu gái, con cuả một cô em gái Bân, cháu Vivian Tường Vi Vũ, kết hôn với chàng trai Mĩ gốc Nhật, Andrew Hideki Yasutake. Đám cưới của hai cháu được tổ chức linh đình tại nhà hàng Hyatt, khu đông người Việt, có Bân làm MC, có ca sĩ Tuấn Ngọc [được trả thù lao (fee) 2.000 đô Mĩ một đêm] và một số ca sĩ khác hát giúp vui cho tiệc dạ vũ (dinner dance).



Lá thư cuả “người từ phương xa” còn đoạn tiếp như sau:



Trong một bài viết mới đây, anh nhắc lại hai câu thơ Bờ vai. Bờ vai đó không phải cuả ai cả, mà chỉ có trong mộng, như cả đời Loan vẫn đi tìm mà không bao giờ gặp. Có thể vì Loan quá lý tưởng hoặc quá khó khăn chăng? Do đó, như trong câu thơ ngày nào Loan viết: "Em như thân ốc nhỏ, cuộn mình trong mộng du... tình yêu vẫn mịt mù…(Loan không nhớ rõ mấy câu “mì ăn liền” này).



Trong nhóm bạn bè, tôi đã đọc thông điệp (message) loại “kể khổ” này khá nhiều lần. Câu thơ mà “mì ăn liền” (instant noodles) không nhớ rõ thì thật ra nó có nguyên văn như thế này:




Niềm Đau cuả Đá, ai hay?

Con sâu nằm cuộn giấc dài mộng du,

Trong ta tình vẫn mịt mù…



Làm sao tôi biết à? Xin Quí Vị, Quí Bạn vào Báo Mạng www.khoahoc.net, số tháng 3, năm 2006 (http://www.khoahoc.net/baivo/trinhnhat/230306-quehuongcondo.htm) để đọc bài “Quê hương còn đó”.



Nói đến Quê hương là nói đến mối bất đồng dai dẳng, lập đi lập lại giữa người Việt chúng ta, cả trong lẫn ngoài nước. Nhưng thôi, tôi xin tạm gác việc nước sang một bên để nói về việc nhà cái đã.



Số là, trong khoảng cuối tháng 3, 2007, cô Anh Thư nhà tôi gặp chuyện “tai bay vạ gió". Bỗng đâu từ trên trời rơi xuống (out of the blue), cảnh sát gọi điện thoại về nhà báo tin cho cô biết rằng chiều ngày 27 tháng 3, 2007, cô lái xe đụng/tông vào một chiếc xe hơi khác rồi bỏ chạy (‘hit and run’ accident), tài xế xe kia đã ghi bảng số xe (number plate) và đã nhận diện đúng loại xe, màu xanh lá cây (green) và màu trắng bạc (silver) cuả cô là xe Terios, loại Daihatsu, ngoại diện giống FW Drive nhưng nhỏ bề ngang hơn. Cảnh sát cho biết vào khoảng 3 giờ hơn chiều hôm Thứ Ba đó cô lái xe trong vùng Auburn và đã tông vào một xe khác, gây hư hại cho xe đó rồi bỏ chạy. Cô bèn “thanh minh thanh nga” (explained) trong điện thoại là lúc đó cô vừa rời sở ở Bonnyrigg, tức là cách xe nơi đụng xe đến 40 phút lái xe, để đi bơi và tập gym (gymnastics = thể vận) ở Whitlam Centre thuộc khu vực Liverpool. Cảnh sát nghe cô nói là nghe vậy thôi, chứ họ vẫn hẹn ngày cho cô lại bốt cảnh sát Auburn (Auburn police station) để họ lấy lời khai (statement) chính thức và đồng thời kiểm tra (inspect) xem xe cuả cô bị hư hại ra sao. Cô Anh Thư, tên cuả cô nghiã chữ là nữ anh hùng (= heroine) đấy chứ chẳng phải chuyện chơi, thế mà cô lo lắng, bồn chồn, gọi điện thoại cho hết người này đến người khác, kể lể khúc nôi, hết giờ này đến giờ khác, ngày này qua ngày khác. Ai mà nghe được câu chuyện lập đi lập lại như thế chắc chắn là phải sốt ruột, sốt gan.



Cô Anh Thư đã đến trình diện cảnh sát đúng ngày giờ hẹn, sau khi đã hỏi tới hỏi lui người này người khác kể cả luật sư bạn bè, ghi nhận nhưng cú điện thoại từ sở gọi đi cho những ai vào giờ mà được báo cáo là lúc tai nạn xảy ra. Trong đó có cú điện thoại gọi cho tôi vào khoảng 3 giờ 30 chiều, là lúc tôi còn đang làm việc thông dịch (interpreting assignment) tại bốt cảnh sát Cabramatta, để báo cho tôi biết là cô không thể tới đón tôi (pick me up) bằng xe được, và cô trên đường ra hồ bơi (swimming pool). Cô nghĩ là nếu cần cô có thể dùng những cú điện thoại nói trên để làm bằng chứng (evidence), là cô không có mặt tại chỗ tai nạn xẩy ra. Danh từ luật pháp cuả loại bằng chứng này là alibi (bằng chứng ngoại phạm/không có mặt tại hiện trường).



Tôi không muốn kể thêm dài dòng mà chỉ nhấn mạnh một điều là cô biết là cô không gây tai nạn, cô không bỏ chạy, và xe cuả cô không có trầy xước đáng kể nào, mà cô vẫn bị căng thắng tinh thần (get stressful) cả tuần lễ. Cô còn căng thẳng tinh thần hơn nữa khi cảnh sát nói họ sẽ đưa cô ra Toà để cô chứng minh là mình vô can/vô tội (not guilty) trước Toà. Cô Anh Thư còn có lí do khác để lo lắng, để bị căng thẳng thần kinh (under stress) vì theo cô nói cô sợ có kẻ nào thù vặt, dùng chi tiết xe hơi cuả mình làm nhiều chuyện động trời khác. Tôi, người sống chung/người chồng (partner/husband), vô hình trung trở thành nạn nhân (victim) cuả chuyện “tai bay vạ gió” (unexpected calamity) vì được nghe đầy tai câu chuyện “trời ơi đất hỡi” này. Có lúc tôi nói đuà với Cô Anh Thư là cô đã “lo con bò trắng răng”.



Nói đến chuyện “lo bò trắng răng” là nói đến ai đó hay lo lắng vu vơ, lo những chuyện không đâu, những chuyện không đáng phải lo. Răng cuả bò thì lúc nào chả trắng. “Bò trắng răng” là một sự thật hiển nhiên.



Trở lại chuyện tranh cãi trong cộng đồng về việc biểu tình chống mấy buổi trình diễn văn nghệ ca hát (variety shows) tại mấy thành phố lớn ở Úc, sau muà nghỉ Lễ Phục Sinh (Easter Holiday), trong đó, ngoài các nghệ sĩ từ Mĩ qua, còn có các nghệ sĩ, và 2 danh hài từ Việt Nam qua, với Luật sư Trịnh Hội là một trong hai MCs (Emcees = Người giới thiệu chương trình). Tôi đã nghe, đã đọc quan điểm của Ban Chấp hành Cộng đồng, qua Bác sĩ Nguyễn Mạnh Tiến, quan điểm riêng tư của Luật sư Trịnh Hội, cũng như cuả riêng ba cơ quan truyền thông: Nhật Báo Chiêu Dương, Tuần Báo Nhân Quyền, và Đài phát thanh 2VNR, liên hệ đến “con ngáo ộp” (big bogey-man) Nghị Quyết 36.



Tôi xem ra có nhiều điều chia sẻ với quan điểm sáng suốt, thức thời của Ls Trịnh Hội. Xin nói thêm ở đây là: tôi Trịnh Nhật không có bà con gì với Trịnh Hội, mặc dù tôi được nghe là nhà báo Nhất Giang cuả Nhật Báo Chiêu Dương nói đuà, “nhắn với” cho cô Anh Thư biết Trịnh Hội là em Trịnh Nhật. Tôi chỉ gặp mặt-đối-mặt (face-to-face) với anh Luật sư “trẻ tuổi, cao ráo, đẹp trai” và “có lòng” này, một lần duy nhất là khi anh đi cùng với Nữ Bác sĩ Lâm Kim Loan tới dự tiệc sinh nhật và tiệc ăn mừng tôi lãnh bằng Tiến sĩ về Ngôn ngữ học (PhD in Linguistics) vào năm 2002. Thế thôi!

Quí Vị, Quí Bạn thân thương cuả tôi ơi! Đế làm nền cho bài học Anh Ngữ tuần này, tôi xin trích lại những đoạn tôi viết bằng tiếng Anh cách đây 7 năm, liên hệ đến việc biểu tình chống Nghị Quyết 210 (Decision 210) hồi đó.

Chúng ta đạt được những thành quả gì qua những sinh hoạt chống đối tính đến năm 2000?

When making an assessment of our Australian Vietnamese community's past activities, I think some questions should be raised. Who has openly protested against overseas Vietnamese sending money home? (Ai đã biểu tình ngăn cấm đồng bào hải ngoại gửi tiền về nước?) Who has 'dobbed in' his or her Vietnamese fellow countrymen at airports heading 'home' for a visit? (Ai đã ‘chỉ điểm’ đồng hương/đồng bào người Việt ở phi trường lên đường về nước thăm nhà?) Who has vocally protested about the goods and foodstuffs imported from Vietnam? (Ai đã bô bô phản đối hàng hoá và thực phẩm nhập cảng từ Việt Nam sang?) Who has harassed the theatrical groups from Vietnam and their audiences (Ai đã khủng bố/sách nhiễu tinh thần những người đi xem cải lương, ca nhạc, muá rối nước do nghệ sĩ từ Việt Nam qua trình diễn?) After 25 years, let us look back and see what achievements have been accomplished in respect of the above situations. I believe that those, who are our community leaders, should ultimately take into account the idea of 'the state of the nation and the will of the people (Thế nước, lòng dân)'. All too often, we are concerned with the vocal minority (thiểu số ồn ào) rather than the silent majority (đa số thầm lặng).

Chống những hoạt động tư nhân nhằm mục đích thương mại văn hoá, nghệ thuật ư?

Why should we not think there are individuals in Vietnam, as well as in Australia, and not just the Vietnamese government, who would like to make 'a fast buck' by commercialising the Arts (những người muốn kiếm chút cháo bằng cách thương mại hoá nghệ thuật)? If they want to raise their flag in a foreign land to show off their artistic achievements or as the Vietnamese say "To take your bell and strike it in a strange land"(Đem chuông đi đấm xứ người) and it is of poor quality (chuông tịt), then no one will come to watch. But reality shows that the people vote with their feet (dân chúng bỏ phiếu bằng chân), and literally swarm around to patronise these cultural and creative troupes.

Hi vọng mối lo âu chống các buổi trình diễn ca hát, văn nghệ, giúp vui với các nghệ sĩ đến từ Mĩ, từ Việt Nam do Trịnh Hội và Nguyễn Cao Kỳ Duyên làm MCs chỉ là mối “lo con bò trắng răng.”



Trịnh Nhật
Sydney, 10 tháng 4, 2007



Kết hợp ngữ
(Collocations)

worried adj

lo lắng, bồn chồn, áy náy

§ VERB be, feel, look, seem xem ra, coi bộ | get trở nên I started to get wor­ried when they didn't arrive home.

§ ADV deeply, desperately, dreadfully, extremely, fran­tically, genuinely, particularly, really, seriously, ter­ribly, very vô cùng, cực kì, rất là | increasingly càng ngày càng tăng/nhiều | a bit, quite, rather, slightly đôi chút, một ít, khá, hơi | rightly đúng Citizens in inner-city areas are desperately worried and rightly so.

§ PREP about về We were really worried about you!

§ phrase worried sick She was worried sick about her
son.

worry noun

(sự, nỗi, niềm) lo âu, lo lắng, bồn chồn, áy náy

§ ADJ big, considerable, great, main, major, real, ser­ious lớn, to lớn, thật sự, nghiêm trọng Paying the mortgage is a big worry for many people. o Her mother's poor health caused her considerable worry. o My greatest worry is that he'll do something stupid. | growing, increasing ngày càng tăng | slight nhỏ | day-to-day thường nhật, hàng ngày | constant liên tục, triền miên The money side of things has been a constant worry. | un­necessary không cần thiết, vô bổ She gave her parents unnecessary worry when she forgot to phone them. | immediate tức thì, trước mắt, ngay bây giờ đây My immediate worry is money Nỗi lo âu trước mắt cuả tôi là tiền. | nagging, niggling dai dẳng, canh cánh bên lòng I had a nagging worry that we weren't going to get there Tôi có mối lo canh cánh là chúng ta sẽ không tới nơi đó được. | secret bí mật, thầm kín | busi­ness doanh nghiệp, economic kinh tế, financial tài chính, money tiền bạc | health sức khoẻ It was a relief to share my secret worries with him Thật là nhẹ cả mình được chia xẻ những nỗi lo âu thầm kín cuả tôi với chàng.

§ VERB + WORRY have có That year he had major health worries Năm đó chàng ta có những mối lo âu lớn về sức khoẻ. | be beset by bị bao vây bởi, bị ám ảnh bởi, bị đe doạ bởi She wanted to enjoy her retirement without being beset by financial worries. | be fran­tic/ill/out of your mind/sick with bị điên cuồng lên, phát bệnh, mất trí I didn't know where he was and I was frantic with worry. | express biểu lộ | share chia sẻ | cause (sb), give (sb) tạo ra, gây ra, đưa đến (cho ai) | arouse, prompt khơi gợi, nhắc nhở đến The earth tremors prompted worries of a second major earthquake Các cơn điạ chấn gây ra những mối lo lắng về một trận động đất lớn thứ hai. | add to, increase cộng thêm vào, làm tăng thêm The fact that she heard nothing from him only in­creased her worry Sự thể là cô ta không nghe tin gì từ riêng anh làm cho cô thêm lo lắng. | forget quên Try and forget your worries for a little while Cố gắng quên đi mối lo âu cuả bạn trong chốc lát xem nào. | ease làm giảm/nhẹ bớt | remove, take out gạt bỏ, loại trừ Take the worry out of travelling with our holiday insurance offer Tránh khỏi lo âu khi du lịch bằng cách lấy bảo hiểm cho ngày nghỉ.

§ worry + VERB disappear biến mất, hết | prove groundless/un­founded chứng tỏ/cho thấy vô căn cứ/không có cơ sở Most of Nigel's worries proved groundless Phần lớn những lo âu cuả Nigel đã chứng tỏ là vô căn cứ.

§ prep amid ~ trong số The pound has fallen to a new low amid
worries that the British economy is heading for trouble Đồng bảng Anh lại mất giá thêm nữa giữa những có mối lo ngại là nền kinh tế Anh rồi sẽ gặp khó khăn. with ~ với, bởi He was sick with worry about everything Chàng ta lo sốt vó về mọi chuyện. | ~ about về, ~ over về They will not have worries over money Họ sẽ không có những mối lo lắng về tiền bạc. ~ to cho, đối với His mother's health is an enormous worry to him Sức khoẻ cuả mẹ hắn là mối lo âu vô cùng lớn đối với hắn.

§ phrase cause for worry lí do/nguyên nhân cho nỗi lo lắng There is no immediate cause for worry, free from worry, freedom from worry, have no
worries on that account/score không chút lo lắng/ bận tâm gì vì lí do/vấn đề đó The staff all work very hard—we've got no worries on that account Toàn thể nhân viên đều làm việc rất chăm chỉ/cật lực—chúng ta không phải lo lắng gì về mặt/chuyện đó, the least of your worries cái ít lo lắng/lo âu nhất cuả bạn When he lost his job, the size of his flat was the least of his worries a source of worry nguồn gốc/rường mối lo âu Money is a con­stant source of worry Tiền bạc là rường mối lo âu thường xuyên/canh cánh bên lòng.

worry verb

lo âu, lo lắng, bận tâm

§ adv a lot, particularly, really, terribly nhiều, đặc biệt, thật sự, kinh khủng She worries a lot about crime Cô ta lo lắng nhiều về tội phạm, o What really worries me is what we do if there's nobody there Điều làm tôi thật sự lo lắng là những gì chúng tôi làm mà không có ai hiện diện ở đó. | slightly chút ít, phần nào | needlessly, unduly, un­necessarily vô ích, vô bổ, không cần thiết You do worry unnecessarily, you know Bạn quả là lo lắng vô bổ/không đâu vào đâu, bạn biết chứ. | not too much không quá nhiều/quá đáng Don't worry too much about it Đừng lo buồn quá nhiều về chuyện đó/việc ấy. | constantly liên miên, liên tục, thường xuyên

§ VERB + WORRY not let sth, not need to đừng để (cái gì) làm cho Don't let it worry you unduly Đừng để điều đó/chuyện ấy làm cho anh lo lắng quá đáng. | begin to bắt đầu, khởi sự | tell sb not to bảo/biểu ai đừng

§ prep about về/cho Don't worry about me, I’ll be fine Chớ bận tâm về tôi, tôi lo được mà with bằng, với Don't worry the driver with unnecessary requests Đừng làm cho tài xế lo lắng/bận tâm bằng những yêu cầu/đòi hỏi không cần thiết.

§ phrase enough/nothing to worry about có đủ/không có gì để lo lắng về Don't bother Harry—he has enough to worry about as it is Đừng làm phiền Harry--hắn có đủ chuyện để phải lo như hiện có rồi . Stop worrying Thôi đừng/Chớ có lo lắng nữa Stop worrying, Dad, we'll be fine Thôi đừng lo nữa. Ba/Bố à, chúng con rồi đâu cũng vào đó thôi worry your­self sick/to death (nôm na/thông tục) Làm cho mình lo lắng điên lên/chết vì lo lắng/lo bắn (toé) khói/lo muốn chết.

worrying adj

lo lắng, lo âu, bận tâm, muộn phiền

§ verb be

§ ADV deeply, extremely, particularly, seriously, ter­ribly, very sâu xa, vô cùng, đặc biệt, cực kì, khủng khiếp, rất là | a bit, rather, slightly đôi chút, khá, hơi, sơ sơ

WLP
07-28-2007, 07:04 PM
Đoá hoa nở muộn

Trước hết, có lẽ tôi phải xin phép để được bắt đầu câu chuyện bằng “ý kiến độc giả” (readers comments/readers opinions/feedback from the readers). Qua bài “Đi Guốc Trong Bụng”, viết lần trước, chúng tôi đã nhận được sự góp í của hai người, đều là “đực rựa” (males):


Một người ở Sydney, chuyên ngành thông-phiên dịch, viết bằng tiếng Anh, mà tôi đã “cài đặt/gài” (inserted) thêm tiếng Việt như sau:

Your article is very interesting (rất hay). It shows that not only (không chỉ/không những) we need to read Vietnamese written by people in Vietnam in order to keep up with (theo kịp với) the change of the language, but also (mà … còn) we can have lots of fun (có nhiều thú vui) at the same time. In fact, I burst out laughing (đã phải cười phá lên) when I read about: “Được sự đồng ý cuả hai Cơ Thể, chúng tôi sẽ làm lễ thành hôn cho ...”. Words such as this are quite entertaining (rất thú vị) and easy to remember (dễ nhớ)!



It was reported in the Sydney Morning Herald (SMH) recently that The Macquarie Dictionary Committee (Ủy ban Từ điển Macquarie) had voted (đã bầu/bình chọn) the new word “muffin-top*” in Australian English as “the word of the year” (từ xuất sắc trong nhất năm). I would have no hesitation (sẽ không ngần ngại/do dự) in voting the above Vietnamese word “the word of the year.”



Người kia ở bên Mĩ, nguyên Thiếu tá Hải quân (lieutenant-commander) VNCH, mà tôi tóm gọn í cuả anh như sau:

Bài “Đi Guốc Trong Bụng” Hay quá!... Nhiều từ về luật pháp (legal terms) đọc rất thích… Nhân bàn về ngôn ngữ, tôi “forward” (chuyển gửi) anh một lá thư để đọc chơi, rất phù hợp với câu chuyện ở Nhà Thuỷ Tạ cuả anh.



Lá thư anh chuyển gửi có nội dung tương tự với một bài viết “Tiếng Việt trong và ngoài nước” cuả Trần Bình Nam, mà chúng ta có thể tìm đọc trong báo mạng Đàn Chim Việt On-line (http://www.danchimviet.com). Tác giả họ Trần viết:



“Tôi là người chuyên viết bình luận chính trị, chính yếu bằng Việt ngữ, và nhiều khi lúng túng trong việc tìm một từ ngữ chính xác để diễn tả một ý nào đó. Chính xác đây nghĩa là diễn tả được điều mình muốn nói và độc giả hiểu dễ dàng, không phải đoán mò hiểu ý này ra ý khác. Khi chọn lựa như vậy không bao giờ tôi có ý nghĩ từ ngữ tôi sẽ dùng đó xuất phát từ trong nước sau năm 1975 hay người Việt ở miền Nam đã dùng trước năm 1975. Thế mà đôi khi cũng có vấn đề.”



“Vấn đề” ông nói ở đây là sự chỉ trích và phê phán của những người Việt hải ngoại chống Cộng sản quá khích, nhất định chủ trương không dùng “từ” mà họ cho là của Nhà nước Cộng sản Việt Nam. Ví dụ như chữ “cụm từ” (thay vì như họ đề nghị là “nhóm chữ”), chữ “sự cố” (thay vì “biến cố” như họ đề nghị). Ông Bình Nam còn viết tiếp:



“Ngôn ngữ của một dân tộc biến chuyển qua thời gian do ảnh hưởng của các biến cố xã hội và lịch sử. Sự sáng tạo của quần chúng do nhu cầu giao tiếp, trao đổi, học hỏi, và nhu cầu của hệ thống cầm quyền như giáo dục, hành chánh, quản lý, sẽ làm cho ngôn ngữ trở nên giàu có và mềm dẻo trong sự sử dụng hơn, trong đó có vị trí quan trọng của các nhà văn, nhà báo, vì hằng ngày họ phải nặn óc tìm từ ngữ mới để diễn tả cuộc sống và những biến chuyển không ngừng của xã hội. Và khi một danh từ mới lọt vào ngôn ngữ được đa số người trong nước dùng nó là tài sản chung của mọi người nói tiếng Việt.”

Tôi xem ra chia sẻ quan điểm với nhà bình luận họ Trần này. Ngôn ngữ tự nó chẳng có tội tình gì, phần lớn nó là tiếng dân, do nhu cầu thường nhật đẻ ra, và nhiều khi chẳng cần đến cần luận lí, lô-gíc gì “ráo trọi”. Cái chính yếu là những người sử dụng nó có thể đả thông (can communicate) được với nhau. Trong nhiều năm qua, tôi nhận xét thấy một số người trong chúng ta, người Việt ở ngoài nước, rất chủ quan (subjective) khi phê bình, bảo rằng chữ này đúng, chữ kia sai, chẳng qua cũng chỉ vì ta dựa vào kinh nghiệm cá nhân, theo thói quen, hay quan điểm chính trị khác biệt, ghét nhau mà nói thế. Ví dụ như:

“chất lượng” (thay vì phải dùng “phẩm chất”), “sự cố” (thay vì phải dùng “trục trặc kĩ thuật”), “thư giãn” (thay vì phải dùng “nghỉ ngơi”), “Nguỵ” (thay vì “Việt Nam Cộng Hoà”). Cứ thử hỏi trong tiếng Anh 40 năm trước đây chữ “gay’ nghĩa là “vui vẻ”, bây giờ đâu có mấy ai dùng nó trong nghĩa đó, vì sợ nghiã chữ bị hiểu lầm là “đồng tính luyến ái”. Tất nhiên, người Việt trong nước họ cũng phê bình, chỉ trích, chê bai tiếng Việt dùng ngoài nước, theo lối nhìn chủ quan, thiển cận ấy. Ví dụ như tôi đã nghe có người bảo tiếng Việt hải ngoại là “out of date” (= cũ rích, quá đát), chẳng hạn.



Tôi đã thấy có người bị gọi là “nguỵ”, bèn phản ứng lại bằng cách nhận mình, tự xưng mình là “nguỵ” luôn cho bõ ghét, và lấy đó làm hãnh diện để chọc ghẹo lại đối phương. Kiểu như “Ừ… thì! Tao là “nguỵ” đây, tao đâu có ngán? Mày tưởng mày ‘ngon’ à? Xi'! Còn khuya à nghe!” Tương tự, tôi cũng đã thấy trường hợp cô bé người Việt, cháu Isabel Đan Tâm, con cuả một anh bạn ở Úc, nay cháu làm luật sư (solicitor), nhưng hồi còn đi học trung học, chắc đã khá nhiều lần bị các bạn “da trắng, mắt xanh, mũi lõ” chọc ghẹo bảo cháu là Chinese (Tầu), nên có lẽ cháu tức tối, nổi sùng mà “quật” lại rằng: “Yes, I’m Chinese and I’m proud of it! So what?” (Ừ, tao ‘Chinese’ đấy, và tao hãnh diện mình là “Chinese”! Đã sao chưa?). Khi tôi còn là sinh viên (thuộc loại già rồi mà còn ham học, tinh thần khoa bảng, mê bằng cấp) lưu trú trong Đại học xá (residential college) Robert Menzies College, trường Đại Học Macquarie, khoảng giữa thập niên 1970, thì có một mature-age student (sinh viên lớn tuổi/già đầu), nghiã là không phải thuộc loại tuổi “mười tám, đôi mươi”, gốc người Anh, mà đã là người Anh sống ở Úc thì họ hiểu ngay rằng người Úc đã có thời kì dán nhãn, chụp mũ cho họ, gọi họ là “whinging Pommies/Poms” (tụi Ăng-lê hay chê bai/phàn nàn). Chẳng hiểu phải có vì thế chăng, mà anh bạn người Anh đã dán trước cưả phòng mình một tấm giấy đề: “David, The Pom” (Tao Đa-vít, thằng Ăng-lê khó tính/thích mè nheo đây!). Đầy vẻ tự tin, tự hào!



Trái với bản chất cuả ngôn ngữ, chúng ta, người Việt cả trong lẫn ngoài nước, những ai đã lên án nặng nề ngôn ngữ người khác quen dùng, thì chẳng khác nào đã “dậm chân tại chỗ” trong suy nghĩ cuả mình, không chịu tiến hoá, biến đối theo ngôn ngữ, không chịu thay đổi tư duy cuả mình khi ngôn ngữ đổi thay, hay ví von thì bảo là không chịu cho mình một cơ hội nhận “mặc một cái áo mới” vậy. Người dùng ngôn ngữ thường khi phải biết thích nghi với hoàn cảnh mới để được người khác hiểu liền và được chấp nhận trong tập thể nói ngôn ngữ, hay phương ngữ ấy. Thí dụ rõ nét nhất có thể là trường hợp người Miền Trung, nói giọng Huế (Central Vietnam/Hue accent) chẳng hạn. Trong thâm tâm, người Huế họ vẫn nghĩ là giọng Huế hay, nhất là giọng gái Huế (tôi nghĩ vậy), ấy thế mà khi nói với người Bắc hay người Nam, tự nhiên họ có khuynh hướng đổi giọng. Tại sao vậy?



Tôi có một anh bạn người Bắc, anh này đã di cư vào Nam lúc đó cả gần một phần tư thế kỉ, rồi sống chung với người Miền Nam đến nay cả gần nửa thế kỉ, mà có thể như vô tình mỗi khi gặp hôm trời lạnh, trong đám bạn có cả Nam lẫn Bắc, anh vẫn nói, vẫn than: “Hôm nay trời ‘rét’ quá!”. Và để rồi anh nhận được một ‘mẻ’ cười. Bạn bè cười vì họ nghe thấy lạ tai, hơi ‘quê’, cười vì “rét” trong tiếng Nam. có nghĩa “ớn/sợ nổi da gà/khiếp đảm/hết hồn”.



Người thường thì thế, nhưng nếu là thông dịch viên thì lại càng phải thận trọng hơn nữa. Thông dịch viên phải biết mình nói gì, nói với ai và họ hiểu được đến đâu, họ quen với lối nói nào, bằng không thì sẽ có ngày “gậy ông đập lưng ông”.



Một sinh viên trước đây cuả tôi, và nay là đồng nghiệp, kể lại một câu chuyện là khi anh đi thông dịch tại Toà cho một thân chủ loại trẻ. Tiếng Anh tiếng U thì anh bị can/bị cáo (the defendant/the accused) này cũng biết chút chút, vì đã học trung học ở Úc đây. Anh mắc bệnh ghiền hút, rồi dính vào chuyện buôn bán xì-ke, ma tuý loại quốc cấm (supplying prohibited drugs), và rồi bị bắt giam chờ ngày ra Toà. Ngày ra Toà, anh ngồi trong dock (chỗ dành cho bị cáo/vành móng ngựa) cùng với thông dịch viên, trong lúc luật sư của anh xin Toà cho anh tại ngoại hầu tra (bail), nghiã là không phải bị giam trong khám đường (jail/gaol), để luật sư có thời gian thụ lí thêm trước khi ra Toà lần tới. Kết quả là anh được Toà cho tại ngoại hầu tra, và thông dịch viên “dịch” lại như thế, nhưng anh không hiểu, nên bèn hỏi: “Tại ngoại hầu tra là cái gì?” Thông dịch viên bèn dịch lại là “bail”, thì liền bị anh kia “đốp” lại: “Địt Mẹ! ‘beo’ thì nói mẹ nó là “beo” đi, lại còn ‘tại ngoại hầu tra, hậu tra’ cái con khỉ gì?”



Xin lỗi Quí Vị, Quí Bạn tôi đã văng tục, dùng lời chửi thề (swear-words), dù là mượn lời của người khác. Nhưng không dùng thì không thể diễn tả chân thực được sự tức tối cuả thân chủ kia. Quí Vị, Quí Bạn thân thương ơi! Bài học cuả chúng ta tuần này có chủ đề là “Đoá hoa nở muộn” cơ, ơ, ơ ơ!!!



Số là khoảng cuối năm ngoái 2006, tôi về Việt Nam 7 tuần lễ với một đồng nghiệp người Úc, anh Dave Gilbert, để hội thảo, nghiên cứu đại học, đồng thời thăm viếng thân nhân và bạn bè ở cả trong Nam lẫn ngoài Bắc. Khi trở về lại Úc an toàn (safe and sound/safe and well), vào giữa tháng Giêng Tây 2007, tôi vội viết vài hàng để báo tin cho bạn bè và đồng nghiệp đại loại như thế này:



I got back to Oz (Úc) in one piece (toàn thân nguyên vẹn), thank God, except for the last two days in Vietnam I lost my voice (bị khản tiếng), and it took a few more days to get over it (hết/khỏi bệnh). I don’t know whether to blame (đổ lỗi) the cold weather (trời lạnh), the air pollution (ô nhiễm không khí) or the dust (bụi bậm) when I visited my mother’s hometown (quê ngoại) in Ha Dong on a motorbike as a pillion passenger [người ngồi xe ôm/người ngồi xe máy/gắn máy băng sau (có người đèo/lai ngồi đằng trước)].



Khi tường thuật lại buổi Hội thảo (Seminar) về ngôn ngữ, về việc soạn từ điển song ngữ và dạy tiếng Anh tại Đại Học Tư Thục Hoa Sen, tôi viết:



The new Rector (Tân Viện Trưởng) summed up our performance by asking her English lecturers and staff to co-operate with us in our cross-cultural and language projects (các dự án về ngôn ngữ và xuyên văn hoá). She said she had been impressed (rất thích/có ấn tượng tốt) with my writings and my work, and she called on her staff to “stand on the shoulders of the giants” (đứng trên vai những người khổng lồ) in pursuing their life’s ambition (theo đuổi ước vọng/tham vọng trong đời mình) for the sake of the University. She quoted (trích dẫn) Isaac Newton’s words, which at first I found a bit funny (buồn cười/ngồ ngộ) because I’m a bit small in stature (nhỏ con/nhỏ thó). Nevertheless, I was quite flattered (phồng mũi/được tâng bốc/mát lòng mát ruột) to be given such praise (lời khen như thế).

Để đáp lời khen ví von cuả chị “so sánh chúng tôi với những người khổng lồ”, bằng một giọng thành thật, tôi đã nhìn thẳng vào mặt và nói đùa với các giảng viên trẻ (đa số là nữ): “khổng lồ này thuộc loại nhỏ con à nghe!”. Và, trước lời khen cuả Phó Giáo sư Lưu Tiến Hiệp, Tiến sĩ Kĩ sư Hoá học, cựu sinh viên “Colombo Plan” Úc, khi giới thiệu tôi qua Tiểu sử Lí lịch (Curriculum Vitae) mà ông nói là dài dằng dặc, tôi cũng đã vui đùa, thành thật mà nhận mình là “đoá hoa nở muộn” (a late bloomer); nở muộn vì khoa bảng trễ, vì thành tích nghiên cứu muộn màng.



Mới đây, sau khi viết trả lời thư của anh Lê Xuân Quỳnh, Phó Trưởng Khoa Ngoại ngữ (Deputy Dean of Foreign Languages Faculty), về việc hợp tác, làm sao, và bắt đầu từ đâu trong Dự án Từ điển Kết hợp ngữ hai chiều Anh-Việt Việt-Anh (Bilingual and Bi-directional, English-Vietnamese Dictionary of Collocations), tôi đã nhận được lá thư của chị Viện Trưởng Bùi Trân Phượng viết cho tôi, mà tôi xin được trích đoạn và chuyển tả sang tiếng Anh như sau:

I re-affirm that Lotus and myself wholeheartedly support this project of yours (hết sức ủng hộ dự án này cuả anh). I am deeply appreciative of the fact that you have created favourable conditions for Quynh and other lecturers and students of the Faculty of Foreign Languages to be able to participate in the work that you have been pursuing over a long time. Even though you found my comparison funny, as you once said, I still think that this is a great opportunity you have presented both to ourselves and to our lecturers. Just as they will be able « to stand on the shoulders of giants », they will be able to inherit the kudos that comes from the work that you have devoted your heart and soul as well as your talent to achieve (kế thừa được thành quả anh đã dành nhiều tâm huyết và tài năng để thực hiện). They also have the opportunity to join you in carrying out a very interesting project (có cơ hội cùng anh tiếp tục thực hiện một dự án rất lý thú).


Cuối thư chị Phượng, cựu nữ sinh trung học Marie Curie, Sài Gòn/cựu sinh viên cao học Sorbonne, Paris, chuyên về Sử học (nếu tôi nhớ không lầm), còn viết :

By the way, I also suggested to Quynh when he meets with those lecturers and students, who wish to participate in the project, that he remind them in implementing the project that the author’s rights have to be respected (phải tôn trọng quyền tác giả) , as well as information and research results should be kept confidential (bảo mật thông tin cùng các kết quả nghiên cứu) until the final product has been publicly announced.

Bùi Trân Phượng
btphuong@hoasen.edu.vn
www.hoasen.edu.vn



Nói đến Hoa Sen là nói đến một trường Cao Đẳng Bán công, với nhiều hạn chế, vừa được “bay bổng” lên thành một trường Đại Học Tư thục, với quyền hạn rộng rãi, với một tương lai hào hứng, thú vị. Nói đến Hoa Sen là nhìn lại cả một đoạn đường quyết tâm, kiên trì, và sáng kiến không ngừng nghỉ cuả chị Phượng cũng như cuả nhiều người khác, trong đó phải kể đến anh Hiệp, một trong những người sáng lập trường này. Cá nhân tôi cảm thấy không ngần ngại khi nói rằng: “Đại Học Hoa Sen là ‘đoá hoa nở muộn’, nhưng chắc chắn là rồi sẽ ‘nở rộ’.” (Lotus University is a late bloomer, but slowly and surely it will blossom into full bloom).

http://www.khoahoc.net/photo/doahoanomuon-1.gif

Bài viết tuần này xin được kết thúc với câu ca dao Việt Nam (Vietnamese folk verses) liên hệ đến một loài hoa đẹp:


Trong đầm gì đẹp bằng sen,
Lá xanh bông trắng lại xen nhị vàng,
Nhị vàng bông trắng lá xanh,
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn!
(In a pond, nothing is as beautiful as a lotus,
Leaves of green, flower white with yellow stamens
Yellow stamens , white flower with leaves of green,
Living in the mud, yet never sharing its bad odour.)


----------------
*“Muffin” [“bánh nướng xốp” (spongy baked cake); một loại bánh bông lan, nhưng phần dưới đáy được bọc bằng giấy, phần trên bánh phình ra/phồng lên và thường có đính thêm những mẩu/miếng trái cây nhỏ]. “Muffin-top” là từ ngữ chỉ cái phần trên cuả chiếc bánh ‘muffin’ đó, nhưng nay lại là để chỉ “phần mông có đầy thịt phình ra phiá trên quần tây (slacks) hay quần bò (jeans) của phụ nữ, nhất là khi họ mặc quần xệ đít (when women wear them below the hip-line)”. Nếu mặc xệ quá thì “muffin-top’ còn cho ta thấy cả một phần cuả cái “G-string” panties [= xì-líp nhỏ xíu (very tiny briefs), giống như cái khố nhỏ (small loincloths), chỉ đủ để che bộ phận sinh dục và được giữ bởi một sợi dây nhỏ/mảnh quanh mông].

http://www.khoahoc.net/photo/doahoanomuon-2.gif
Muffin-top; Muffin

Trịnh Nhật
Sydney, 31 Tháng 3, 2007



Kết hợp ngữ
(Collocations)

university noun



đại học

§ ADJ new mới, tân | ancient cổ, xưa | red-brick cổ, cuối thế kỉ 19 | local điạ phương, provincial cấp tỉnh | research nghiên cứu, khảo cứu teaching dạy, giảng dạy

§ VERB + UNIVERSITY attend, go to, study at học, theo học tại | apply for làm đơn xin, xin | enter nhập, vào (học) | finish (at), graduate from học xong, tốt nghiệp, leave rời

§ UNIVERSITY + NOUN lecturer giảng viên, professor giáo sư, staff nhân viên, teacher thầy | graduate sinh viên hậu đại học/đã tốt nghiệp, student sinh viên, undergraduate sinh viên chưa tốt nghiệp/cấp cử nhân | course khoá học, lớp học degree học vị, bằng cấp, education giáo dục | term khoá. quí, học kì year năm, niên khoá | vacation nghỉ hè, kì nghỉ, kì bãi trường | entrance nhập học, entry, place chỗ a university entrance exam một kì thi nhập học đại học. There is stiff competition for university places Có sự cạnh tranh kịch liệt để dành chỗ học đại học. | chair ghế, việc làm/dạy, chân dạy His aim was to finish his doctorate and obtain a university chair Mục đích cuả ông là hoàn tất bằng tiến sĩ và chiếm được một chức vị đại học. | department, faculty khoa | buildings, campus khuôn viên, cơ sở, trường ốc library thư viện | administration quản trị, điều hành authorities giới chức | level trình độ All the staff are educated to university level Tất cả nhân viên đều được học đến trình độ đại học. | days những ngày, life cuộc sống/đời sống, years những năm, những năm tháng | town thành phố

§ PREP at (the) ~ ở, đang học/theo học She's at university, studying engineering Cô ta đang học đại học ngành kĩ sư She teaches English at the University of Wales Cô ta dạy tiếng Anh ở Đại học Wales.



project noun



1 dự án, đề án

* ADJ large, major lớn, chính yếu | ambitious to lớn, đầy tham vọng, ước vọng | exciting hào hứng | worthwhile đáng giá, đáng làm | successful thành công, mĩ mãn | joint chung, hỗn hợp | community cộng đồng | pilot thí điểm, thí nghiệm The scheme will be extended throughout the country after a six-month pilot project Kế hoạch sẽ được nới rộng khắp trong nước sau dự án sáu tháng thí điểm. | research nghiên cứu They’ve set up a research project to investigate the harmful effects of air pollution Họ vừa thành lập dự án nghiện cứu để điều tra ảnh hưởng độc hại cuả nạn ô nhiễm không khí. | building, construction xây dựng, xây cất | capital vốn, tư bản, investment đầu tư | development phát triển, educational giáo dục, environmental môi trường
* VERB + PROJECT set up lập, xây dựng | carry out, run thi hành, thực hiện | conceive thai nghén, plan qui hoạch, hoạch định | launch phát động | fund tài trợ, support yểm trợ
* PROJECT + VERB aim to, be aimed at sth nhắm vào The project aims to reduce homelessness Dự án nhằm mục đích giảm bớt tình trạng vô gia cư.
* PROJECT + NOUN management quản trị | leader, manager quản lì, team toán trưởng
* PHRASE the aim of the project mục đích/mục tiêu cuả dự án The aims of the project are three-fold Dự án nhắm vào ba mục đích.



2 công trình (nghiên cứu)

§ ADJ French tiếng Pháp, history sử kí, lịch sử, sử, etc

§ VERB + PROJECT do làm, thực hiện

§ PREP ~ on về My class is doing a project on medieval towns Lớp tôi đang làm một công trình về các đô thị thời trung cổ.

§ PROJECT + NOUN work công tác



dictionary noun



(sách, cuốn, quyển) từ điển, tự điển

§ ADJ comprehensive khá đầy đủ, good hay | electronic, online điện tử, trên mạng | picture tranh ảnh, hình ảnh | pocket loại bỏ túi, loại nhỏ | English Anh ngữ, French Pháp ngữ, etc. | English/French, French/English etc. | bilingual song ngữ, monolingual đơn ngữ | learner’s học viên, native-speaker người bản ngữ | standard tiêu chuẩn | specialist chuyên môn, chuyên ngành, technical kĩ thuật | collocation kết hợp ngữ, kết hợp từ, etymological từ nguyên, historical sử, lịch sử pronunciation phát âm, giọng đọc, luyện giọng (đọc) | biographical tiểu sử, encyclopedic bách khoa, medical y khoa I decided to consult a medical dictionary Tôi đã quyết định tra cứu từ điển y học.

§ VERB + DICTIONARY consult tra cứu, look sth up in tra trong, tìm trong use dùng, sử dụng If you don’t know the meaning of a word, look it up in the dictionary Nếu anh không biết nghiã cuả một chữ/từ nào, thì tra từ điển chữ/từ đó đi.. o teaching children how to use dictionaries dạy trẻ em/học trò cách sử dụng/dùng từ điển | compile soạn, làm, write viết | edit biên tập, chỉnh sửa | publish phát hành, xuất bản

§ DICTIONARY + NOUN definition định nghiã, entry mục từ

§ PREP in a/the ~ trong I couldn’t find the word in the dictionary Tôi không tìm thấy chữ/từ này trong từ điển.

WLP
07-28-2007, 07:07 PM
Thương thì củ ấu cũng tròn


Chuyến đi Việt Nam của tôi vào cuối năm Bính Tuất 2006, khác với những năm trước, ở chỗ là tôi có được một người bạn đồng hành (companion). Anh là người Úc thứ thiệt (dinki di Aussie) thuộc thế hệ thứ tư, sinh trưởng trong một gia đình trung lưu (born into a middle class family) vào đầu thập niên 60 tại Wodonga, một thị xã địa đầu trong tiểu bang Victoria, giáp danh tiểu bang New South Wales.



Cũng như nhiều thanh niên khác ở lứa tuổi mơ mộng thích cuộc sống hải hồ, anh đã gia nhập Hải quân Hoàng gia Úc (Royal Australian Navy), lúc mới có 17 tuổi. Qua cuộc sống nổi trôi bềnh bồng này, anh đã được điều động đến nhiều khu vực“dầu sôi lửa lỏng” (deployed to several ‘hot spots’) trên thế giới, trong đó có cả Cuộc Chiến Vùng Vịnh (Gulf War) năm 1991. Và cũng từ đó anh được dịp chu du qua nhiều quốc gia (travelling to many countries) trong vùng Đông Nam Á, Trung Đông (Middle East), Hoa Kỳ và Châu Âu. Sau 20 năm du lịch đó đây, anh cảm thấy thấm mệt và muốn tạm thời dừng lại ở một chốn nào (to stay in one place for a while), nên anh đã quyết định giã từ vũ khí, biển cả để sống đời công chức bàn giấy (worked in Government offices) trong một thời gian khoảng thời gian 6 năm, mà phần lớn công việc cuả anh là nghiên cứu kế hoạch chống khủng bố (counter-terrorism). Trong những năm từ 1999 đến 2002, anh làm Quản đốc Hải quan Hải quân Úc (Navy Customs Manager) với nhiệm vụ giám sát vùng duyên hải (coastal surveillance).



Hiện giờ anh đã chọn nơi ở yên thân tại vùng nắng ấm Gold Coast, hay nói đúng hơn là Tweed Heads, thuộc Tiểu bang New South Wales, vui với cuộc sống của một họa sĩ vẽ chân dung (portrait artist). Ngoài sở thích về hội hoạ anh còn tham dự các cuộc thi chạy đua đường trường (marathon running), lặn ‘scuba’ dưới biển sâu (scuba diving), chạy xe mô-tô (motorbike riding), chèo xuồng ‘kayak’ (kayaking), chơi đàn tây-ban-cầm (playing guitar) và nói chung là vui chơi thoải mái (having a good time).



Kinh nghiệm học ngôn ngữ của anh bao gồm Hoa ngữ, Pháp ngữ, và đặc biệt là Việt ngữ. Về phạm vi dịch thuật, anh đã có kinh nghiệm dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh nhiều hợp đồng thương mại lên tới nhiều triệu đô-la (multi-million dollar business contracts) yểm trợ cho các công ty hợp doanh (joint ventures) của Việt Nam và của Úc. Để trau dồi khả năng giao tiếp tiếng Việt, thì chuyến đi Việt Nam này quả là một cơ hội bằng vàng (golden opportunity) cho anh vì sau 20 năm học tiếng Việt trên đất nước Úc mẹ đẻ, mãi cho đến nay anh mới có dịp trải nghiệm lần đầu tiên ngôn ngữ và văn hóa của người Việt tại bản địa.



Chúng tôi khởi hành từ Sydney sáng ngày 24-11-2006 và đến Sài Gòn bằng chuyến bay của hãng hàng không Vietnam Airlines sau 8 giờ bay. Anh Dave Gilbert cùng tôi ở lại Sài Gòn ít lâu, rồi đi tàu cánh ngầm (Russian ferry boat) ra Vũng Tàu chơi hai ngày, trước khi đáp xe đò (coach) đi tham quan Cần Thơ. Lần đầu tiên tôi được biết Cần Thơ là năm 1967 khi xuống hỏi thi vấn đáp (English oral exam) Anh Văn Tú Tài 2, và như vậy đã là 39 năm rồi còn gì. Náo nức muốn thăm lại Thủ Đô Miền Tây, đối với tôi, là chuyện tự nhiên. Trên đoạn đường dài 4 tiếng ngồi trên xe, anh bạn Úc thỉnh thoảng nhìn ra cửa sổ thì thấy bên bờ đường, có người đứng đái. Mỗi lần trông thấy là anh lại quay sang tôi chỉ trỏ và nói: “Đái bậy!” (Pissing in the street/on the roadside/in public) rồi phá lên cười (bursting out laughing). Chắc anh nhớ đến chuyện cười (joke) mà có lẽ anh đã đọc được ở đâu đó.

Chuyện kể là du khách nước ngoài đến du lịch Việt Nam thường thấy quảng cáo về các chuyến đi tham quan “Ha Long Bay” (Vịnh Hạ Long), “Cam Ranh Bay” (Vịnh Cam Ranh), vân vân… nhưng họ cũng trông thấy ở nhiều chỗ, trên bờ tường trong thành phố, đều có chữ viết “Cam Dai Bay” (Cấm Đái Bậy), nên họ thắc mắc không biết “Bay” (Vịnh) này ở đâu?



Xe đò chúng tôi sau một hồi bon bon chạy khoảng 2 tiếng đồng hồ thì tài xế cho xe dừng lại ở một nơi có Quán Vân Mập, có nhiều quầy ăn uống, nhiều quầy buôn bán đồ kỉ niệm và cũng là để cho hành khách có dịp giải lao, nghỉ ngơi và làm công tác vệ sinh cá nhân (toilet break). Ngay khi xuống xe bước vào khu buôn bán, anh bạn trông thấy một cái mẹt (flat winnowing basket) đựng đầy những củ mầu nâu đen, lớn hơn ngón tay cái một chút mà tôi xin tả lại như sau:

Củ này có hình dáng giống cái đầu trâu (water-buffalo’s head) với hai cái sừng, nhưng nếu khéo tưởng tượng thì ta cũng có thể thấy nó giống như bộ phận sinh dục của phụ nữ (woman’s reproductive organs).



Khi anh bạn hỏi tôi củ đó là củ gì, tôi trả lời là “củ ấu”, và tạm thời dẫn chứng cho anh câu nói/phương ngôn (saying/proverb) của Việt Nam: “Khi thương thì củ ấu cũng tròn, khi ghét thì quả bồ hòn cũng méo”, mà tôi giảng nghĩa đại khái là “When you love something that is not round, you still like to think of it as round, but when you hate something that is round, you still like to think of it as misshappen”.



Phải thú thật là ở thời điểm đó tôi chẳng biết nghĩa tiếng Anh của “củ ấu” và “quả bồ hòn” là gì. Sau này khi về tra cứu Từ Điển của Bùi Phụng thì biết “củ ấu” là “water caltrop”, còn “quả bồ hòn” là “soapberry”, nhưng biết thì biết vậy thôi chứ nó cũng không giúp gì cho anh bạn Úc hiểu hơn chút nào, vì không mấy người bản ngữ tiếng Anh biết tên tiếng Anh của những củ/quả loại này. Được cái may là tôi đã bẻ cho anh ăn thử “củ ấu” ngay tại chỗ/hiện trường (on the spot/at the scene), thì anh thấy nó có vị gần giống như đậu phộng/lạc (peanut). Thế thôi! Còn “quả bồ hòn” thì đành chịu, không biết tìm đâu ra cho anh trông thử xem nó tròn hay nó méo, và nếu tròn thì tròn ra làm sao và giống quả gì.



Theo Từ Điển của Viện Ngôn ngữ học do Đặng Chấn Liêu, Lê Khả Kế, Phạm Duy Trọng biên soạn thì câu: “Khi thương thì củ ấu cũng tròn, khi ghét thì quả bồ hòn cũng méo” được dịch ra là: “Love rounds square things, hatred squares round things”. Còn người Anh, người Mĩ, người Úc, theo tôi, khi hỏi họ đại loại ý trên thì họ sẽ nói gọn nhẹ là: “Love is blind” (Yêu là mù quáng).



Nhưng nói gì thì nói! Quí Vị, Quí Bạn ơi! Bài học Anh Ngữ tuần này của chúng ta có chủ đề “Heo, Lợn, Trư Bát Giới” cơ! Chúng ta sẽ ăn Tết Đinh Hợi (The Year of the Pig) mà! Vậy thì, thử hỏi người tuổi Hợi, cầm tinh con lợn (having the sign of the pig), tính tình ra sao? Tử vi Tàu (Chinese horoscope) cho biết:

"It’s better to give than to receive" (‘Cho’ tốt hơn là ‘nhận’) would probably be the Pig’s motto (phương châm của người tuổi Hợi). Pigs are more comfortable giving of their own time or attention (dành thời giờ hay sự lưu tâm của chính mình) than they are to ask others for it. They do not find asking for help an easy task (một việc dễ làm) and would rather carry the burden themselves (thà tự mình mang lấy gánh nặng ấy còn hơn). Pigs will do anything they can to maintain a sense of peace (giữ hoà khí) amongst family or friends. This can lead to a tendency to be taken advantage of (bị lợi dụng), but Pigs basically forgive and forget everything (vốn sẵn sàng tha thứ và bỏ qua mọi chuyện). They are compassionate souls (những kẻ giầu lòng trắc ẩn/thương người) who simply want to keep the peace (dĩ hoà vi quí).

Từ ngữ nói về heo/lợn (pig) trong tiếng Anh thì có boar (heo/lợn rừng đực, lợn đực, heo nọc), sow (lợn nái, heo cái), hog (lợn nuôi để thịt, nhất là lợn đực thiến), swine (con lợn/heo), piglet (heo/lợn con), sucking/suckling (heo/lợn sữa). Khi phương Tây họ gọi cảnh sát là “pig” là có nghĩa xấu, là chê, ghét mà nói thế. Trong môn bóng bầu dục (Rugby Union) ở Úc, hàng tiền đạo (forward) cũng được gọi là “pig”. Nhưng từ này dùng để chỉ những người nguyên thuỷ là dân bộ lạc (original tribal), thì nó có nghĩa là loại tiện dân bần cùng nhất (the lowest of the low). Sở dĩ con heo, con lợn không mấy được mến chuộng (low esteem) như thế là vì trong thời cổ đại (ancient times), dân bộ lạc dùng heo/lợn làm phương tiện dọn sạch những nơi cắm trại (campsites) của họ, bắt chúng ăn những rác rưởi, vụn vặt (scraps and debris) do họ để lại. Cho nên Heo/lợn bị miệt thị (is held in contempt) là con vật dơ bẩn (unclean animal), và người Do Thái (Jews) và người theo đạo Hồi (Muslims) kiêng ăn thịt heo là vì vậy. Riêng về từ “Trư Bát Giới” thì theo truyện của Wu Ch’êng-ên do Arthur Waley dịch trong cuốn “Monkey--Folk Novel of China”, chỉ gọi là “Pigsy”, cũng như chỉ gọi “Tôn Ngộ Không” là “Monkey”.

Từ ngữ đi cùng với “pig” thì có “piggy bank” (heo đựng tiền để dành/bỏ ống). “A pig-out” nghĩa là “mình ăn quá no nê đến độ không thể ăn thêm được nữa.” “Pig-headed” là “bướng bỉnh, cứng đầu, rắn mặt”. “Pig’s bum” hay “pig’s arse” là để chỉ “cái gì/điều gì mình không đồng ý với người nào đó đã nói; ăn nói cà chua/cà trớn”.

Thành ngữ nói về heo thì có “A pig in a poke” để chỉ “món hàng mình mua là đồ rởm, có chất lượng tồi vì mình không được coi mặt hàng trước khi mua.” “To be home on the pig’s back” nghĩa là “thành công, thắng lợi rất dễ dàng, ngon ơ.” “To live like a pig” là “sống trong tình trạng bẩn thỉu, dơ dáy.” Ấy vậy, khi nói “He/She is as happy as a pig in mud” (Anh ấy/Chị ấy vui như heo nằm trong bùn) thì lại có ý nói là “Người ấy vô cùng/cực kì vui sướng, hạnh phúc.”

Nằm trong bùn mà lại hạnh phúc, sung sướng, cực kì “phê” hử, hử, hử??? LỢN!

CUNG CHÚC TÂN XUÂN = HAPPY NEW YEAR


Kết hợp ngữ
(Collocations)

love noun
tình, tình yêu, ái tình, (sự) yêu đương, (sự) ân ái

§ ADJ deep, great, overwhelming, passionate sâu xa, sâu sắc, dào dạt, ngập tràn, say đắm her deep love for him | genuine, pure, real, true chân thực, thuần khiết | unconditional vô điều kiện | abiding, eternal, undying gắn bó, lâu dài, vĩnh cửu He had an abiding love of the English countryside. © You have my undying love. | hopeless, unrequited vô vọng, không được đền đáp, một chiều a sad tale of unrequited love | thwarted ngang trái a play about thwarted love | mutual có qua có lại, lẫn nhau, giữa hai người | free tự do They were into free love and avoided commitment. | first đầu, đầu đời I like most sports but tennis is my first love. | brotherly anh em, huynh đệ, maternal của mẹ, mẫu tử parental của cha, phụ tử sisterly chị em, tỉ muội | courtly lịch sự, đàng hoàng platonic lí tưởng, chay tịnh romantic lãng mạn the cult of courtly love in twelfth-century Aquitaine | erotic, physical, sexual xác thịt, nhục dục, ăn mặn | heterosexual trai gái, nam nữ, homosexual đồng tính nam, lesbian đồng tính nữ | redemptive cứu vãn | divine thánh thiện, siêu phàm human (thuộc về) con người, phàm trần.

§ VERB + LOVE feel, have cảm thấy, có She felt no love for him. o He had a great love of life. | search for, seek tìm kiếm | find tìm thấy At last she had found true love. | express, show bầy tỏ | declare, profess tỏ They publicly declared their love for each other. | promise hứa ‘You promised me love!’ he cried despairingly. | return đáp lại He didn't return her love. | share chia sẻ, có chung They share a love of music. | give (sb), send (sb) cho ai, gửi đến ai Bob sends his love. | be in, fall in phải lòng He fall in love with one of his students. | fall out of không còn được | make (= have sex) làm tình It was the first time they had made love. He wanted to make love to her.

§ LOVE + NOUN affair ngoại tình | life cuộc sống | letter thư | scene cảnh, song bài hát, story truyện

§ PREP for/out of I did it for love! in ~ We are very much in love. | ~ between giữa the love between parent and child ~ for cho, đối với He did not know how to express his love for her. ~ of She had a great love of painting.

§ PHRASE an act of love hành động yêu đương/ân ái, deeply/madly/passionately in love yêu đương cuồng nhiệt I was madly in love with her. desperately/hopelessly in love, head over heels in love yêu quá chừng chừng love at first sight yêu ngay lúc gặp mặt lần đầu, cú đờ-phút Do you believe in love at first sight? the love of sb's life người yêu trong đời ai She was the love of his life.

love verb
yêu

§ ADV dearly, deeply, passionately, really, tenderly, very much thắm thiết, say đắm He loved his wife dearly. | unconditionally vô điều kiện He wanted to be unconditionally loved.

lovely adj

dễ thương

§ VERB be, feel, look, sound cảm thấy, trông như, nghe như The cool water felt, lovely after being in the hot sun. Your idea of a day on the beach sounds lovely.

§ ADV breathtakingly, particularly, really, very đặc biệt, thật là, cực kì She looked really lovely in the blue dress. | absolutely, perfectly, quite, utterly, wholly tuyệt đối, hoàn toàn She's got an absolutely lovely face. | rather khá | hauntingly âm vang, vang vọng a hauntingly lovely melody một giai điệu dễ thương vang vọng trong đầu.

lover noun
người yêu, người tình

§ ADJ good, great, passionate tuyệt vời | jilted, rejected bị phụ bạc, bị bỏ rơi, bị cho leo cây, bị xù She was shot by her jilted lover. | unfaithful phản bội | long-time lâu năm They're colleagues as well as being long-time lovers. | live-in ở chung, sống chung | secret bí mật

§ VERB + LOVER be, become là, trở nên, trở thành They became lovers when her husband first went abroad. | have, take có It was common for upper-class women to take lovers.

hate verb

ghét

§ ADV particularly, really đặc biệt, thật sự | absolutely I absolutely hate cooking. | almost hầu như For a moment she almost hated him. | just chỉ, đơn thuần Don't you just hate people who are always right? | always lúc nào/bao giờ cũng I always hated school. | still vẫn còn, hãy còn

§ VERB + HATE begin to, come to, grow to bắt đầu, trở nên He came to hate the town, with its narrow prejudices. | love to thích the media baron all the socialists love to hate

§ PREP for vì, về chuyện He hated me for standing up to him.

§ PHRASE hate it ghét cái việc/chuyện when I hate it when you lose your temper like that.



hatred noun

(sự, nỗi, niềm) ghét, thù ghét, thù hận



§ ADJ bitter, deep, intense, passionate, pure, violent (ghét) cay (ghét) đắng), kinh khủng, như đào đất bỏ đi, kịch liệt, hết chỗ nói She shot him a look of pure hatred. | absolute tuyệt đối, implac­able không lay chuyển được, không suy xuyển được, không đội trời chung | blind, irrational mù quáng, vô lí, không đâu vào đâu | class (về) giai cấp, ethnic (về) sắc tộc, racial (về) chủng tộc, religious (về) tôn giáo

§ VERB + HATRED be filled with, be full of đầy, tràn đầy (những), feel cảm thấy, have có She was full of hatred and bitterness, o He has a deep hatred of the police. | incite, stir up khích động, khuấy động He is accused of stirring up racial hatred.

§ HATRED + VERB flare (up) bùng dậy, loé lên Hatred flared up inside her.

§ PREP in/with ~ trong/với She stared at it in hatred. | ~ against đối với inciting religious hatred against the Catholic minority ~ between giữa the intense hatred between the two communities ~ for đối với I felt no hatred for him. ~ of his hatred of women ~ towards đối với their hatred towards the oppressors

§ PHRASE a feeling of hatred cảm giác/lòng thù ghét



pig noun
1 con heo, con lợn

§ ADJ domestic nuôi trong nhà | feral, wild hoang | sucking/suckling (heo/lợn) sữa.

§ VERB + PIG breed lấy giống | keep giữ | feed cho ăn, nuôi | fatten vỗ béo pigs being fattened for slaughter | slaughter làm/giết thịt, mổ lấy thịt

§ PIG + VERB grunt, oink, squeal ủn ỉn, eng éc, ré lên | browse gặm lá, root ủi đất (bằng mõm) tìm đồ ăn A pig rooted in the orchard.

§ PIG + NOUN farm trại nuôi, farmer nông gia nuôi

2 người

§ ADJ fat béo, mập | greedy háu ăn, tham ăn | male chauvinist chịu ảnh hưởng chủ nghĩa sô-vanh (tin tưởng mãnh liệt vô lí rằng đất nước mình là nhất, không nước nào bằng)

§ PHRASE make a pig of yourself ham ăn ham uống quá độ; ăn cho lắm vào! We cooked up a load of pasta and all made pigs of ourselves.

Trịnh Nhật
Sydney, Tháng 2, 2007

WLP
07-28-2007, 07:11 PM
Tối lửa tắt đèn

Trong khoảng thời gian chừng một tuần lễ vừa qua, dân Úc kể như có 2 đại tang cách nhau 5 ngày: Một là Steve Irwin (44 tuổi), chết vì đuôi cá đuối gai độc (stingray barb) đâm trúng vào tim trong lúc quay phim ở Port Douglas, vùng Cực Bắc Queensland, người kia là Peter Brock (61 tuổi), người nổi tiếng đua ô tô thể thao (motorsport legend), chết khi chiếc xe đua màu bạc Cobra Dayton V8 coupe trơn trượt lao mạnh/đâm sầm vào (slammed into) một thân cây, trên đoạn đường rừng nổi tiếng là nguy hiểm (on a notorious stretch of forest road) không xa thành phố Perth, Tây Úc là bao.

Steve Irwin, hay xuất hiện trên ‘show’ ở Mĩ có tên là “Crocodile Hunter” (Người săn cá sấu), là người gốc Queensland, là tiểu bang sản xuất 90% chuối cho toàn cõi Úc. Trận bão Larry vùng Far North Queensland (Cực Bắc Queensland) hồi đầu năm nay làm thiệt hại hết 80% tổng sản lượng chuối toàn quốc. Giá chuối trước kia 1 đô-la Úc/1 kg, nay lên từ 10 đến 14 đô tùy loại. Thủ Tướng Úc John Howard đã hứa không cho nhập cảng chuối tươi vì để bảo vệ nông dân trồng chuối trong nước. Tuy thế, mới đây tin tức cho biết có 11 tấn chuối đã bóc vỏ, đông lạnh nhập cảng từ Việt Nam để sẵn ở Homebush Bay, (nơi có tổ chức Thế vận hội Sydney Olympics 2000). Có thể là để dùng làm đồ phụ gia/thêm nếm cho việc nấu các món ăn khác (as “additives” as to cooking other foods), chứ không phải để ăn quả.

Tôi mượn câu chuyện về Steve Irwin để làm nền cho một phần của bài học tuần này:

Steve was a Queenslander (người gốc Queensland), or “a banana bender” [dân xứ chuối không giống ai (thương mà gọi như thế)], as we like to say in Australia. Why such a name? Well first of all, most of our banana crops (hoa màu/vụ mùa chuối) are in Queensland, and secondly, the rest of Australia regards Queenslanders as being a bit bent (hơi cong/vặn vẹo/khác người/không giống ai, ‘hâm’, hơi mát dây), like bananas, in that they think and act differently from the rest of the world.



Australians like their bananas and many recipes (công thức làm món ăn) contain bananas, such as banana bread (bánh mì làm bằng chuối), banana smoothies (loại đồ uống sinh tố chuối) and banana splits (bánh chuối kem). We lend the term, ‘banana’ to things that have shape, such as banana chair (a folding chair = ghế gập/gấp), banana prawn (a Northern Australian prawn = tôm Bắc Úc), banana kick (a diagonal punt kick in Aussie Rules = cú đá bóng bổng chéo quẹo trong môn bóng Bầu Dục Úc). When people are uncontrollably angry (tức giận quá cỡ thợ mộc) we say “they’re going bananas.”



The most memorable quote (lời trích dẫn đáng ghi nhớ nhất) made by Prime Minister Paul Keating was that “Australia was a Banana Republic.” (Úc đã là Nước Cộng hoà Chuối). This did not go down well with Australians (Câu nói này không được người Úc hoan nghênh/vừa lòng cho lắm), because it refers to countries that are backward (hậu tiến) and politically unstable (bất ổn về mặt chính trị) and dependent on the trade of rich foreign nations (tùy thuộc vào mậu dịch với các nước ngoài giầu có). It was also ironic in that (trớ trêu/mỉa mai ở chỗ là), at that time (ở thời điểm đó), Mr. Keating was presiding over the government of the country, so most Australians felt that he was responsible (ông phải chịu trách nhiệm), if that was how the rest of the world viewed Australia.

Nói về thành ngữ liên hệ đến chuối, thì người Việt ta không có mấy. Có chăng thì là “trượt vỏ chuối” (to fail an exam), hoặc “chuối đút miệng voi” (nghĩa là: ‘không thấm vào đâu’, bao tử/dạ dầy voi to quá mà, chuối thì nhỏ nhít, ăn bao nhiêu cho đủ). Trong tiếng Anh, khi mình nói ai “(he/she slips on a banana skin” hay ““(he/she slips on a banana peel” (nghĩa đen là ‘trượt vỏ chuối’), thì lại có nghĩa thành ngữ là: “nhân vật quan trọng hay nổi tiếng nào đó nói hay làm điều gì xem ra có vẻ đần độn, lố bịch, và vì thế gây cho họ những chuyện rối rắm (mang hoạ vào thân).” Tiếng Anh hay tiếng Anh-Mĩ, khi họ nói “cái gì không thấm vào đâu (thường là chuyện tiền bạc)” thì họ nói “a drop in the ocean” (Anh) hay “a drop in the bucket” (Mĩ) mà mình đã có câu tương đương là “như muối bỏ biển”.

Nhưng Quí Vị, Quí Bạn ơi! chủ đề chính của bài học tuần này là “Tối lửa tắt đèn” (When the lights go out) cơ! Quí Vị, Quí Bạn chớ vội ‘cười’ tôi là lại sắp nói chuyện “tầm bậy tầm bạ”. Thành ngữ: “Tối lửa tắt đèn” bao gồm các nét nghĩa: tối tăm (= thiếu ánh sáng), đói nghèo (= thiếu cái ăn), cô đơn lẻ loi (= thiếu người phụng dưỡng, thờ cúng, nối nghiệp). Nói chung là: “Trong hoàn cảnh khó khăn, hoạn nạn” (in difficult circumstances). Số là trong bài học tuần trước có cậu em người bạn thân, tên Cường [không nhất thiết tên họ đầy đủ (full name) theo kiểu Mĩ là ‘Cường Dương’, mà ‘cường’ được ‘cái này’ thì càng tốt]. Chú Cường không phải họ Dương mà là họ Trần, (cựu sinh viên Colombo Plan, đã có thời kì theo học ngành kĩ sư công chánh (civil engineering) ở Newcastle, Úc, năm 1975, bây giờ ở Cali, đã thử chơi ‘khăm’ ông anh, nên chú ấy hỏi là: “Tối lửa tắt đèn trắng cũng như đen” dịch sang tiếng Anh thì anh dịch làm sao? Một câu hỏi vừa nghe thấy là “giật mình thon thót”, thấy “từ chết đến bị thương.” Dịch sát nghĩa thì dịch được, nhưng dịch tương đương sang tiếng Anh thì cần đôi chút suy nghĩ.

Sau khi suy nghĩ và làm thêm một màn hội ý (consultation) với người bản ngữ tiếng Anh, tôi xin trả lời chú Cường là như sau:

Theo nghĩa hiểu được của người Việt mình thì cụm từ này muốn nói về “chuyện ấy”. Người mình, cũng như người Trung Hoa, chuộng con gái có nước “da trắng” cho nó, đẹp nó sang. Chẳng thế mà Nguyễn Du đã tả Thuý Vân:


Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.

[Her hair the sheen of clouds, her skin white snow.

Huỳnh Sanh Thông dịch)]



Cho nên nếu cậu nào gặp cô nào “da đen” một chút thì đành an ủi mình mà nói thế! Ấy vậy, nhưng người mình cũng có người lại cho loại ‘da bánh mật’ là đẹp, vì da loại này cũng là ‘đen’ nhưng mà “đen bóng”, “đen giòn”. Thật ra khi người Việt nói là “đen” trong trường hợp này, Tây họ chỉ gọi là “brown” (nâu) hay “tan” (da cháy/rám nắng) mà thôi, mà bây giờ mình cũng gọi là “da nâu”. Hình như bây giờ Tây họ còn so sánh màu chocolate (súc-cù-là/sô-cô-la) với màu “da đen” trong ý tích cực.

Tây khi họ nói “When the lights go out” cũng có nghĩa như thế, mà cũng có nghĩa như câu: “Trong lúc khó khăn, hoạn nạn.” Nhưng Tây (ý nói là Ăng-lê), nói về chuyện ‘tắt đèn” (trong ý nghĩa về ‘sex’) thì họ đại loại có những câu như thế này: “Whether they’re black or white, they’re all the same in the dark” (Cho dù họ có trắng hay đen, trong đêm tối họ cũng rưa rứa/như nhau vậy thôi); hoặc: “There are no ugly people at 2 a.m. in the morning” (Lúc 2 giờ khuya rồi thì chẳng có ai xấu cả); hay: “I’ve never been to bed with an ugly woman, but I’ve surely woken up with some” [Tôi chưa hề ‘ngủ’ với một bà/cô nào xấu, nhưng chắc chắn là (khi ‘ngủ’ xong rồi) lúc bừng tỉnh giấc thì cũng thấy có vài bà/cô nhan sắc thuộc loại ‘Chung Vô Diệm’].



Bài học Anh Ngữ này là bài học chót trong loạt 10 bài “Learning English can be fun” (ANHMV). Tôi xin được chấm dứt ở đây vì phải đi xa Sydney chừng vài tháng để “tìm quên trong nỗi nhớ” (muốn hiểu sao thì hiểu, không dịch được, vì lờ mờ). Nhưng “ra đi” không nhất thiết phải là “giã từ”.



Cám ơn Quí Vị, Quí Bạn đã đọc tôi, chia xẻ với tôi, đặc biệt là “Em gái Miền Quê” (Highpoint, Victoria) và “Trường Xuân Lão” (Queensland).



Đa tạ anh Lưu Dân đã dành cho tôi đất để “cắm dùi”, mặc dù dùi có hơi cùn lụt.



Trịnh Nhật

Sydney, Tháng 9, 2006



Kết hợp ngữ

(Collocations)



black adj

đen, hắc

§ ADV very rất, lắm The sky looks very black. | all đều, toàn, tất cả, hết (hết trơn hết trọi) His hands were all black from messing about with the car Hai bàn tay hắn đều đen ngòm vì xớ rớ/mày mò (chữa) chiếc xe hơi.

§ ADJ jet huyền, pitch tối mịt, rối mò, tối đen (như mực/như đêm 30 Tết ) She had beautiful jet-black hair Cô ấy xưa kia có mái tóc huyền o It was pitch black outside Bên ngoài trời tối đen như mực.

§

white noun

màu trắng, màu bạch

§ ADJ egg trứng Whisk the egg whites until stiff. Đánh lòng trắng trứng cho đến khi nó đặc/quánh.

§ verb + white beat, whip, whisk đánh

§ phrase the white of an egg lòng trắng trứng Use the whites of two eggs Dùng lòng trắng của hai quả trứng.

white adj

1 trắng (như tuyết, như sữa)

§ adj dead, pure tinh | bright, brilliant sáng, tươi | bone xương, ngà, creamy kem, icy băng đá, milky sữa | dirty, off- xỉn | plain trơn

§ phrase as white as snow trắng như tuyết

2 tái mét, xanh lướt (vì đau yếu, bệnh hoạn; hoặc vì sợ hãi)

§ verb be, look trông | go, turn bị, trở nên

§ ADV extremely, very cực kì, rất là | rather hơi bị

§ prep with vì He turned white with anger Mặt nó tái đi vì giận dữ.

§ phrase as white as a sheet xanh lướt/tái mét như ma/như tàu lá



banana noun

chuối

§ ADJ ripe chín | green xanh | mashed nghiền (nát)

§ QUANT bunch buồng, chùm | hand nải I bought a small bunch of bananas Tôi đã mua một buồng chuối nhỏ.

§ VERB + BANANA eat, have ăn | pick hái | peel bóc vỏ

§ BANANA + NOUN skin vỏ (nghĩa bóng) trượt vỏ chuối The company has acquired an unhappy knack of slipping on banana skins Công ti này có cái xui xẻo/không may là cứ bị phạm những lỗi lãng nhách. | plant cây nhỏ, cây (leo), tree cây lớn | leaf lá | grove rừng nhỏ, plantation rừng, đồn điền

fruit noun

1 quả, trái cây

§ ADJ | fresh tươi | ripe chín, unripe chưa chín, còn xanh | rotten thối, hư | candied kẹo, crystallized bọc đường (để bảo quản), dried khô | canned, tinned đóng hộp | exotic ngoại nhập, từ nước ngoài nhập vào tropical nhiệt đới | citrus chanh citrus fruits such as limes and lemons.

§ quant piece miếng Finish the meal with a piece of fresh fruit Chấm dứt bữa ăn bằng một miếng trái cây tươi.

§ VERB + FRUIT eat, have ăn | bear mang The crab apple bears a small, bitter fruit. | pick hái | core nậy hột, bỏ hột/hạt/nhân, peel gọt vỏ, prepare chuẩn bị (gọt vỏ, nậy hột, lấy hột ra)

§ fruit + noun tree cây (ăn trái) | juice nước, salad (rau/trái cây) trộn

2 thành quả, phần thưởng đãi ngộ

§ verb + fruits enjoy thưởng thức, hưởng Their work left them enough time to enjoy the fruits of their success Công việc/việc làm của họ dành cho họ đủ thời gian để hưởng những thành quả của họ .| reap gặt hái He was now reaping the fruits of all his hard work Hắn bây giờ gặt hái/được hưởng thành quả của mọi khó nhọc trong công việc làm của mình.

§ phrase the first fruits of sth những thành quả đầu tiên the first fruits of the government's health campaign những thành quả đầu tiên trong chiến dịch y tế của chính phủ.



fruitful adj

có kết quả tốt, có thành quả tốt

§ VERB be, prove chứng tỏ

§ adv enormously, extremely, remarkably, very cực kì, vô cùng, rất là quite, reasonably khá | potentially có tiềm năng

§ prep in để, trong việc This research has been enormously fruitful in helping our understanding of the disease Cuộc nghiên cứu này đã có kết quả vô cùng tốt để giúp chúng ta hiểu biết về chứng bệnh này.

fruition noun

thành quả, thành công

§ ADJ full hoàn toàn, đầy

§ verb + fruition come to, reach đạt được Their efforts came to fruition many years later Nhiều năm sau thì các cố gắng của họ đã mang lại kết qủa tốt/đi đến chỗ thành công. | bring sth to đưa cái gì đến, mang lại It was left to her successor to bring the plan to its full fruition Phần còn lại là để cho người kế nhiệm của nàng đưa kế hoạch đến chỗ thành công hoàn toàn.

fruitless adj

vô hiệu qủa,vô hiệu, thất bại

§ verb be, prove, seem chứng tỏ, có vẻ, xem ra | render sth làm cho/đưa đến tình huống/hoàn cảnh nào đó Dunbar's departure rendered the whole operation quite fruitless Sự ra đi của Dunbar làm cho toàn bộ hoạt động bị vô hiệu hoàn toàn.

§ adv quite, utterly hoàn toàn | largely đa phần, phần lớn | apparently rõ ràng

WLP
07-28-2007, 07:15 PM
Làm sử hay làm sông?


Một người bạn cố tri ở Florida, Hoa Kì, chuyển gửi lên mạng cho tôi một bản đính kèm (attachment) trong đó có nhiều hình ảnh đẹp về du lịch Mĩ quốc (US Travel) lồng trong một bản nhạc do Frank Sinatra hát. Anh hỏi tôi tên của bài hát là gì, vì anh biết tôi là “fan” (người hâm mộ/ái mộ) cuả chàng ca sĩ mà tên tuổi đã hằn dấu ấn trong tim của ba thế hệ ông bà, cha mẹ và con trẻ trai gái trong thế kỉ 20 trước đây.



Tôi trả lời: “Bài hát cuả Frank Sinatra là bài "All the Way". Một bản nhạc buồn. Nghe bản nhạc buồn, cái 'hay' cuả nó là lòng mình trùng xuống, cảm giác mênh mang, thú vị chứ chẳng phải là không! Vậy thì, không phải lúc nào người ta cũng muốn tránh bất cứ cái gì đem lại cho mình tâm trạng buồn. Cái buồn có thể giúp mình hiểu rõ chính mình hơn. Thanks for ‘the images, and the song’ bất hủ.”



Sau đó, anh còn hỏi tôi: “All the way’ dịch là ‘hết lòng, hết mình’ có ‘ổn’ không?” Tôi trả lời, đồng í với anh, nhưng cũng nói thêm: “All the way” nghĩa là: “with all one's heart and soul forever” (với cả tâm lẫn hồn, tha thiết, da diết, mãi không thôi). Tôi còn nghe kĩ và ghi lại vài lời ca (lyrics/words) của bài hát như sau:


When somebody (ai/người nào) loves you,
It's no good unless (trừ phi) she loves you, all the way (hết lòng hết dạ).
Happy to be near (được gần) you,
When you need someone to cheer you (làm cho mình/bạn vui), all the way.
……
But if you let me love you (em cho anh được yêu em),
It's for sure (chắc chắn là) I'm gonna (anh sẽ) love you,
All the way, All the way (tha thiết, da diết, mãi mãi không thôi).

Nói về tâm trạng buồn, về cảm xúc mênh mang thì mới đây tôi đã tìm gặp được trong truyện cuả Nguyễn Ngọc Tư. Tôi mua tập truyện "Cánh đồng bất tận", do Nhà Xuất Bản Trẻ phát hành, khi đi quanh khu bán sách báo, nổi tiếng là rẻ, được đông đảo du khách người Việt chiếu cố ở Phố Nguyễn Xí gần Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội. Giá bán ghi sau bìa sách là 27.000 đ. (khoảng 2 đô-la Úc), nhưng giá thật còn rẻ hơn thế. Từ lâu tôi đã có dịp đọc lướt qua về những mẩu chuyện viết quanh nhà văn nữ này, nhưng chưa lần nào tôi thật sự đọc văn, đọc truyện của cô.

Truyện "Cánh đồng bất tận" là câu chuyện chính, dài nhất, li kì nhất, sau cùng nhất (trang 154-213), trong tập truyện gồm "những truyện ngắn hay và mới nhất" có tổng số 14 truyện, với đề tựa lần lượt như sau:

(1) Cải ơi! (Hey Cai!): Tiếng kêu vô vọng của người cha bỏ nhà lang thang theo gánh hát dạo đi tìm đứa con riêng của vợ mình;

(2) Thương quá rau răm (Enchanted love): Tình yêu mới chớm trong lòng cô gái nhỏ thì cũng đúng là lúc người cô yêu như đã vô tình “chợt đến rồi đi”’;

(3) Hiu hiu gió bấc (A northerly breeze): “Ngậm bồ hòn làm ngọt” để cho người mình yêu đi lấy chồng, nhưng người đi vẫn nhớ và người ở lại vẫn thương;

(4) Huệ lấy chồng (Hue gets married): Nghèo không phải là cái tội, mà hoá ra lại là cái tội, cái nguyên nhân gây đổ vỡ cho tình, để nàng phải đi lấy chồng, mà tình vẫn còn vương;

(5) Cái nhìn khắc khoải (An anxious look): Cưu mang một phụ nữ bị tình phụ bơ vơ trên bờ sông vắng, người đàn ông goá vợ chỉ có thể thương nàng như thương cô em gái;

(6) Nhà cổ (The old house): Trong căn nhà cổ, hai anh em cùng yêu một cô gái mồ côi chung nhà, người anh lấy cô làm vợ, còn người em bỏ nhà đi xa, để lại mối tình thầm kín cho cô gái nhỏ hàng xóm, cách ngăn chỉ bởi một hàng rậu thưa;

(7) Mối tình năm cũ (Yesteryear love): Chuyện phim tài liệu về đời cuả một liệt sĩ, chỉ thực hiện được vào phút chót, vì người yêu cũ của vị anh hùng kia trước đó không được chồng mình cho hợp tác;

(8) Cuối mùa nhan sắc (Faded beauty): Cô đào đẹp vang bóng một thời vẫn in dấu hình bóng chàng kép đã gây sóng gió cho cô thuở nào, nhưng sau mấy chục năm khi gặp lại nhau, cả hai đều thất vọng, mỗi người mỗi cách;

(9) Biển người mênh mông (An immense sea of people): Hai tâm hồn cô độc, một già một trẻ, gặp nhau, an ủi lẫn nhau, để rồi sau cùng lại mỗi người mỗi ngả, cô đơn giữa giòng người;

(10) Nhớ sông (Missing the river): Ấn tượng về người mẹ bị chết đuối trên vàm sông đã hằn sâu trong lòng người con gái bé bỏng ngày ấy nỗi nhớ dòng sông, con thuyền mà nàng suốt đời mang theo;

(11) Dòng nhớ (Missing love): Tâm tưởng người chồng luôn hướng về bến sông vì không quên được mối tình đầu dang dở đã tạo ra một trạng thái tâm lí phức tạp cho vợ mình ngay cả sau khi ông mất;

(12) Duyên phận so le (Unmatched destiny): Tình phụ, tình xù và hậu quả xảy đến với người con gái ấy, nếu đem hết ra mà kể, thì chắc nỗi buồn ấy chắc sẽ đoạt chức vô địch chứ chẳng phải chuyện chơi.

(13) Một trái tim khô (A withered heart): Sau khi bị đâm chết hụt, một phụ nữ bị mắc bệnh thần kinh, dửng dưng trước mọi chuyện, nhưng sau khi khỏi bệnh, chuyện không ngờ là người yêu cô rất mực và sẽ lấy cô làm vợ lại chính là kẻ đã gây thương tích cho cô ngày nào;

(14) Cánh đồng bất tận (The endless pasture):

Trước khi nói về câu chuyện “chủ đề” này, tôi xin được nêu một vài nhân xét về tác giả cái đã. Nguyễn Ngọc Tư là một trường hợp tài năng không đợi tuổi. Cô bắt đầu viết truyện ngắn khi mới 16 tuổi. Năm nay cô 30 tuổi, người Miền Nam, ở Cà Mau. Truyện cô viết thường có văn phong nhẹ nhàng, từ ngữ sử dụng rất “Nam Bộ”, lời lẽ bình dị, còn bố cục thì khá lạ, với những chi tiết mới mẻ đan xen, chồng chéo, đa tầng, đột ngột, trong lúc câu chuyện diễn tiến, trải rộng. Truyện cuả cô thường bắt người đọc phải suy ngẫm, suy diễn chứ tác giả không "làm cỗ sẵn" mời độc giả "xơi". Nếu chưa quen, đọc không kĩ, không tập trung, không chú í thì người đọc có thể thấy hơi khó chịu, hoặc bị lạc đâu đó mà có khi phải đọc lại. Các nhân vật trong truyện có đối thoại linh động, dí dỏm, biểu lộ trong suy nghĩ, trong hành động cho thấy tâm lí cuả họ giản dị đấy mà cũng vô cùng sâu sắc đấy. Có chỗ cô còn nhân cách hóa “con vật cưng chiều” (pet) để tạo nên đối thoại giữa “vật” với “người”. Đa số câu truyện kể được dàn dựng trong những cảnh nghèo với sông nước, cánh đồng, con đò, ghe xuồng, chòi lá, đàn vịt, v...v... và xoay quanh những người nghèo với cuộc tình ngang trái, dang dở, tan tác, chia li, ngậm ngùi…

Riêng truyện Cánh đồng bất tận (The endless pasture), theo tôi, có khả năng trở thành một cuốn phim hay nếu ai đó có tiền, có đạo diễn giỏi, có diễn viên tài. Mỗi nhân vật trong truyện đều có cái độc đáo, cái sắc thái riêng của mình. Cô gái điếm thì sành sỏi, biết mình biết người, sướng đấy, khổ đấy (bị đánh cho nhừ đòn, xong còn bị người ta lấy keo dán sắt bít vào chỗ kín, chỗ ‘kiếm cơm’ cuả cô). Người cha trong gia đình vốn sống nay đây mai đó, nổi trôi sông nước, thì lạnh lùng, tàn nhẫn, phũ phàng như để trả thù đàn bà. Người vợ của ông “nghèo mà ham diện, đỏm dáng”, nàng đã bán thân đổi lấy vải đẹp may áo, và sau cùng tự thấy mình lạc lõng trong chính gia đình mình mà bỏ đi. Hai đứa con nhỏ, một gái một trai, sống âm thầm với cha chúng trên chiếc ghe tạm gọi là nhà, không còn cách nào hơn là tự đùm bọc, chia ngọt xẻ bùi với nhau.

Truyện Cánh đồng bất tận có những “pha” giật gân như cảnh cô gái đĩ bị đánh đòn hội chợ ngất xỉu rồi bị quăng lên khoang thuyền, cảnh “hoan lạc”, kiểu “tiền trao cháo múc”, vụng trộm giữa bà mẹ và người đàn ông lưng đầy nút ruồi mà hai đứa con của nàng vô tình trông thấy. Còn có cảnh cậu con trai mới lớn bị xác thịt dầy vò, đòi hỏi sinh lí mà sinh ra tức khí, giận dỗi đánh đập không nương tay khi thấy hai con chó đang làm tình giữa đường giữa chợ, có cả cảnh ông bố chứng kiến, và cố giải vây cho cô con gái bị hiếp dâm tập thể giữa giòng sông cạn. Những “scènes” như thế, nếu thực hiện được, sẽ bảo đảm nhiều phần trăm là “ăn khách”.

Nhưng Quí Vị, Quí Bạn ơi! Truyện đâu còn đó! Nói nhiều, Quí Vị lại biểu tôi “bị ám ảnh” (obsessed) bởi chuyện “Năm Đinh Hợi”. Bài học Anh ngữ của chúng ta tuần này sẽ được dựng nền trên một bài “tạp ghi” (jottings) của nhà văn nữ đang được ưa chuộng.

Nguyễn Ngọc Tư tạp ghi về một nữ pháo binh anh hùng (heroic artillery woman), vang bóng một thời, nay được Uỷ ban xã (village committee) cử chị chạy xuồng máy (motor-boat) đưa một anh kí giả và phóng viên chụp ảnh ghi lại chiến tích xa xưa. Khi nghe đến viết phóng sự về nữ anh hùng, chị cười xòa, “Anh hùng gì, mấy ông này cứ đem chuyện cũ nhắc hoài, mắc chán”:

Suốt buổi sáng, người phụ nữ nhỏ nhắn này (this petite woman) làm anh bất ngờ, thán phục, nể sợ khi biết chị đã từng bắn cháy bốn tàu giặc (four enemy ships) trên sông Lớn. Mắt anh níu lấy chi tiết đôi bàn tay gân guốc (her gnarled, veiny hands), một bên vai hơi lệch (one slightly drooped shoulder) như vẫn còn đang chịu sức nặng của những khẩu B40, môi mím lại (tightly-pursed lips), cương nghị, tai không còn thính nhạy (her ears, hard of hearing), thỉnh thoảng chị lại ngơ ngác, “Hả? Chị điếc lắm (I’m very deaf), cậu phải nói lớn chị mới nghe được”.

Chị vẫn sống một mình, vì suốt thời chiến tranh, chắc chị chẳng rảnh rang để hẹn hò (did not have any free time for romance). Chị chạy xuồng máy rất thành thạo, ôm cua ngọt xớt qua những khúc quanh (skilfully negotiating the bends). Khi đến gần vàm (near the mouth of the river) anh mừng hớn hở khi thấy xác tàu Mỹ (the broken hulks of US ships). Anh ra hiệu chị dừng lại, vì anh muốn chụp bức ảnh người nữ pháo binh bên khối sắt thép lạnh lùng kia, chị lại cười, hỏi, “Cậu tính chụp hình bông súng hả? Ừ, khúc sông này mà lên báo chắc đẹp dữ lắm”.

Anh đứng dậy, trùng trình, chênh vênh nơi mũi xuồng (the prow of the boat), sững sờ nhận ra vẻ đẹp của dòng sông (the beauty of the river). Bình dị. An nhiên. Tự tại. Hai bên bờ, dừa nước chảy tràn. Cái dãy màu xanh miết, day diết lên chân trời thi thoảng bị ngắt quãng bởi một cái bến sông…

Cảnh sông nước cây cối đẹp đến độ, theo anh, ống kính máy ảnh (through the camera lens) bất lực, không thể chuyển tải, không thu gọn (unable to capture) được cái đẹp mênh mang, sâu thẳm này trong một vài bức hình. Thế rồi, bỗng dưng anh mơ màng như nghe thấy từ đâu vọng lại câu thơ:

“Sáng nay Bạch Đằng tạm quên mình làm sử để làm sông” (This morning Bach Dang momentarily forgot itself being part of history to serve only as a river).

Con sông Lớn bây giờ cũng không thèm làm sử, hay nó đã thôi làm sử, từ khi hết chiến tranh, nhưng mãi đến giờ con người cũng không cho nó làm sông.

Câu chuyện tiếp nối bằng sự chợt tỉnh của anh, khi phát hiện:

Chị cũng đẹp, cũng dịu dàng, cũng rất phụ nữ (very feminine). Đôi mày cong (curved eyebrows), ánh nhìn trong, đuôi mắt hẳn rất sắc, mái tóc dài bới gọn sau ót chắc đã từng đen buốt đến tận lưng. Chị nhỏ nhắn, mỏng manh đến mức anh nghĩ chỉ cần dang tay ra, sẽ gói gọn chị vào lòng (he would completely envelop her).

Và chuyện kể tiếp:

…Và bỗng dưng anh thấy day dứt cồn cào. Càng nhìn chị anh càng nhói, đuôi mắt kia đã hằn vết chân chim (crow’s-feet), chưa từng được hôn, mái tóc kia giờ chớm bạc, chưa một lần nào, chưa người đàn ông nào vuốt nó, âu yếm chải nó trong những chiều phai. Và những lúc mỏi mệt (moments of fatigue), cũng không có bờ vai rộng (a broad shoulder) nào cho chị tựa vào (to lean on). Chị thui thủi đi qua tuổi xuân xanh của mình chỉ vì còn lắm người như anh, chỉ nhìn chị như một anh hùng (heroine) mà quên chị là phụ nữ.

Cậu truyện kết thúc bằng lời tác giả nhắn nhủ ai đó đã:

Quên có những con sông chỉ muốn làm sông, bình thường, suốt đời trôi lặng lẽ… (simple and flowing quietly throughout their life).

Tôi đang nghĩ kết luận cho bài “tạp ghi” này thì nhận được tiếng hát “Non, je ne regrette rien” (Không, tôi không tiếc gì hết) của Edith Piaf do nhà thơ/nhà văn trữ tình Đoan Trang Uyên Hạnh từ Đan Mạch gửi cho tôi (và một vài người bạn khác của khoahoc.net nữa chứ!). Tôi đã trân trọng gửi lời cám ơn đến chị bằng tiếng Đan Mạch, và cũng còn cảm ơn chị về bài Larmes de femmes (Nước mắt Phụ nữ) lồng trên màn ảnh với những bông hoa tươi thắm. Qua những lời lẽ viết bằng tiếng Pháp, và lời dịch sang tiếng Việt, trong “Slide Show” này, tôi đã coi như đồng í với chị là đàn bà phụ nữ rất là đa hiệu. Nhưng sao không thấy Thượng Đế nói: “Đàn bà sinh ra là để cho đàn ông “ăn mặn” hoặc ngược lại.” Hay là tự nhiên là phải như thế rồi! Ấy vậy mà, tại sao “mấy thằng ranh con” (tiếng Bắc rặt) thời tôi còn “bé bỏng thơ ngây” ấy cứ ong ỏng hát chọc ghẹo phụ nữ có thể là đã lỡ độ xuân thì:



Em ơi đã mấy xuân rồi

Mà chưa biết “đời” ra sao?

Đời C’est la vie!

Tình C’est l’amour

Tiền C’est l’argent

Chết C’est la mort.

Mấy thằng quỷ này. Thiệt tình!

Trịnh Nhật
Sydney, Mồng 7 Tháng 3, 2007



Kết hợp ngữ
(Collocations)

river noun
sông

§ ADJ broad, great, large rộng, vĩ đại, lớn, long dài, mighty hùng vĩ, wide rộng, the mighty River Nile Con sông Nile hùng vĩ, o The river was too wide to swim across comfortably Con sông quá rộng không thể bơi ngang qua sông dễ dàng được . | little bé nhỏ, narrow hẹp, short ngắn, small nhỏ, con | deep sâu | shal­low nông, cạn | high dâng cao The river is still high after the recent rain Con sông vẫn có nuớc dâng cao sau trận mưa mới rồi. | low thấp | fast-flowing chảy xiết | slow-moving, sluggish lừ đừ, chậm chạm | winding uốn éo, uốn khúc | swollen sóng lừng, sóng dâng cuồn cuộn, chậm chạp The river was swollen after the floods Con sông cuồn cuộn dâng nước sau những trận lụt . | navigable có thể lái đi được The river is navigable by vessels of up to 90 tons Tàu bè có trọng tải tới 90 tấn có thể lái trên sông đó được.

§ VERB + RIVER cross, ford đi qua (đi bộ hoặc lái xe qua chỗ cạn), get across băng qua, băng ngang We crossed the river by ferry Chúng tôi qua sông bằng phà/bắc o How are we going to get across the river? Chúng ta qua sông bằng cách nào bây giờ đây? | bridge làm cầu, bắc cầu They've bridged the river at four points Họ đã bắc cầu qua sông ở bốn điểm. | dam xây đập Wildlife groups are protesting against the proposal to dam the river Các nhóm bảo vệ đời sống hoang dã/chim muông/thú hoang đang phản đối chống xây đập qua sông. | dredge nạo vét lòng sông (bằng máy) They're dredging the river to make it safer for larger boats Họ đang nạo vét lòng sông để cho các tàu lớn đi lại an toàn hơn. | navigate lái (tàu) The rocks and sandbanks make the river hard to navigate Những tảng đá và bờ cát làm cho khó lái tàu bè trên sông.

§ RIVER + VERB flow, run, wind chảy, đổ, uốn quanh, uốn khúc chảy This river flows into the Mediterranean Sea Sông này chảy ra biển Điạ Trung Hải. o A river runs through the field Một con sông chảy qua cánh đồng, o The river winds its way through the hills Con sông uốn khúc chảy qua những ngọn đồi đó. | rise dâng nước lên The river has risen with the rains Con sông này đã dâng nước khi có những trận mưa o The river rises in Bulgaria and flows through Greece to the Aegean Con sông này dâng nước ở Bun-ga-ri/Bảo gia lợi và chảy qua Hi-Lạp tới biển Aegean (Thổ Nhĩ Kì). | be in flood bị lụt, burst its banks bị vỡ bờ, flood (sth) làm ngập lụt (cái gì), overflow sth ngập tràn (cái gì) The river had overflowed its banks Con sông đã chảy tràn qua hai bên bờ. | dry up khô, cạn nước This river dried up long ago Sông này đã cạn nước lâu rồi..

§ RIVER + NOUN bank bờ | water nước | valley thung lũng | system hệ thống | crossing chỗ băng ngang qua | traffic giao thông (trên sông), tàu bè qua lại (trên sông)

§ PREP across a/the ~ băng qua There's a bridge across the river Có cầu băng qua sông. along a/the ~ dọc theo ~ We walked along the river Chúng tôi đi bộ dọc theo con sông, down a/the ~, down by a/the ~, down to a/the ~ xuôi giòng Let's go down to the river at sunset Chúng ta đi xuống mé sông vào lúc hoàng hôn đi!, into a/the ~ xuống ~ He dived into the river Hắn lặn xuống sông, in a/the ~ trong ~ Trout live in this river Cá hồi sống ở sông này on a/the ~ trên ~ There was a rowing boat on the river Có một chiếc ghe có mái chèo ở trên sông, up a/the ~ ngược giòng sailing up the river lái thuyền/tàu ngược giòng sông | ~ of (nghĩa bóng) a river of lava một dòng dung nham

§ PHRASE the banks bờ/bottom đáy/middle giữa/side bên/surface of a river trên mặt sông They were waiting for us on the other side of the river Họ đợi chúng ta ở bờ sông bên kia. a bend in the river khúc quanh của con sông, the course/direction of a river hướng/chiều sông, tuyến sông the river's edge bờ/mé nước của dòng/con sông
woman noun

đàn bà, phụ nữ



§ ADJ young trẻ | middle-aged trung niên, sồn sồn | elderly, old, older già, cao tuồi, lão niên The thief tricked his way into an elderly woman's home Tên trộm đánh lừa lẻn vào nhà của một bà cụ già o Older women often have difficulty conceiving Đàn bà lớn tuổi thường gặp khó khăn.trở ngại trong việc thụ thai. | adult, grown tráng niên, người lớn, trưởng thành The little girl she remembered was now a grown woman Cô con gái nhỏ bà ta nhớ . | married có chồng | single độc thân, unattached, unmarried chưa lập gia đình | widowed goá | divorced đã li dị | pregnant có bầu, có thai, mang thai | childless không có con, hiếm muộn | business (also businesswoman), career, professional, working có nghề nghiệp, có công ăn việc làm, đi làm | non-working không đi làm | attractive quyến rủ, thu hút, trông bắt mắt beautiful đẹp, good-looking dễ coi, có nhan sắc handsome, pretty đẹp | desirable khêu gợi | well-dressed diện, ăn mặc đẹp | plain thường, không đẹp ugly xấu | motherly dịu dàng, hiền từ (của một bà mẹ) | hysterical cuồng loạn | decent, good, kind tử tế, hiền từ, lành | evil, wicked quỷ quyệt, độc ác | battered bị hành hạ, ngược đãi, đánh đập, bạo hành a hostel for battered women một nhà kí túc/trọ cho phụ nữ bị bạo hành | the other người (đàn bà) kia Jean Menckes plays the president's wife and Fiona Hundley plays the other woman Jean Menches đóng vai vợ của Tổng Thống còn Fiona Hundly đóng vai người đàn bà kia (= Nhân tình nhân ngãi của Tổng Thống)

§ verb + woman depict, portray, present, show (được) mô tả, diễn tả, trình bày, thể hiện, cho thấy We want to change the way women are depicted in the media Chúng tôi cần thay đổi cái lối/phương cách mà phụ nữ được mô tả/thể hiện trong các phương tiện truyền thông. | limit, reduce (bị) giới hạn, hạn chế (bị) hạ giảm, thu hẹp Women are limited to the more poorly paid jobs Phụ nữ chỉ còn được làm những công việc với lương trả thấp hơn, o Women are reduced to merely playing a passive role Phụ nữ bị hạ giá chỉ còn đóng một vai trò thụ động.

§ phrases the position/role of women vị thế/địa vị, vai trò của phụ nữ There were im­portant changes in the position of women in society Đã có những thay đổi quan trọng về điạ vị của phụ nữ trong xã hội, a woman of the world người đàn bà từng trải, thạo đời, sành sỏi, nhiều kinh nghiệm He saw her as a woman of the world who could offer him advice Ông ấy coi bà ta như là người đàn bà thạo đời có thể cho ông lời khuyên được, women's lib/liberation giải phóng phụ nữ (be­coming old-fashioned) The freedom to wear trousers be­came a symbol of women's liberation Tự do mặc quần tây đã trở thành biểu tượng cho việc giải phóng phụ nữ, the women's move­ment phong trào phụ nữ, women's rights quyền của phụ nữ, nữ quyền

Trịnh Nhật
Sydney, Mồng 7 Tháng 3, 2007

WLP
07-28-2007, 07:16 PM
Tôi ra hầu tòa tại Toronto

Đứng trên quan niệm luật pháp và triết lí ở Úc mà nói, thì sau nhiều năm sống và làm việc ở đây tôi đã “ngộ” được đôi điều về đất nước/quê hương thứ hai của mình (my adopted country/land) là như thế này:

(1) Ai cũng vô tội cho tới khi được chứng minh là có tội (A person is innocent till proven guilty);

(2) Công lí không phải chỉ được thi hành mà còn phải được trông thấy thi hành nữa kìa. (Justice is not only done, but also seen to be done).

Điều (1) có thể được giải thích thêm là: Một người bị cảnh sát truy tố ra tòa, thì bên buộc tội, tức là Công tố viên/Ủy viên công tố (Crown Prosecutor/Public Prosecutor), phải trưng chứng cớ (evidence), thường là lời khai (statement) của bị can/bị cáo (the defendant/the accused) trước cảnh sát trong hồ sơ cảnh sát thẩm vấn (record of police interview), để viện dẫn, chứng minh cho Quan tòa (Judge, Magistrate) hoặc Bồi thẩm đoàn (Jury) thấy là người ấy, tức là bị can, bị cáo có tội.

Bên luật sư biện hộ/bênh vực (Defense Counsel) phải chống trả bằng mọi cách (fight in every possible way) để chứng minh là những chứng cớ ấy không đứng vững (not convincing/not valid), nại ra khía cạnh pháp lí sai trái (false legal aspects), hoặc bất cứ sơ sót nào (any flaws) có trong cuộc điều tra. Trong nhiều trường hợp, luật sư biện hộ còn đưa thân chủ (client) của mình ngồi vào ghế nhân chứng (witness-box), làm nhân chứng (witness), để bên nguyên và bên bị đặt câu hỏi, chất vấn (cross-examine) cho ra nhẽ (to ascertain the facts of the case). Thể thức này gọi là cross-examination (chất vấn đối tịch).

Ở Úc, nếu người dân bị truy tố về tội hình sự (criminal offence), mà không có đủ tiền thuê mướn (hire) một luật sư, thì Nhà nước/Chính phủ (the Government) sẽ cung cấp cho một luật sư để họ biện hộ cho mình. Luật sư loại này làm việc cho Legal Aid Commission (Ủy ban/Văn phòng Trợ giúp Pháp lí/luật). Nếu mình là người có thu nhập thấp dưới mức nào đó, chẳng hạn như ăn tiền trợ cấp thất nghiệp (unemployment benefit), lãnh trợ cấp bệnh hoạn (sickness benefit), thì mình sẽ được luật sư đại diện cho mình trước tòa miễn phí. Việc mình cần phải làm là điền vào một mẫu giấy in sẵn cho luật sư giữ làm bằng (keep as evidence) để họ đòi tiền Chính phủ sau này.

Điều (2) có thể được làm sáng tỏ đại loại như sau: Bị can nào thuộc vào loại không thuộc nguồn gốc nói tiếng Anh [(Non-English Speaking Background (NESB)] thì sẽ được tòa cung cấp thông dịch viên/phán dịch (interpreter) giúp cho mình. Thông thường thì công chúng được quyền vào coi xử án (court proceedings are usually open to the public), ngoại trừ những vụ xử trẻ em tại tòa Thiếu niên/Trẻ em (Children’s court), hoặc quan tòa ra lệnh phiên xử phải được xử kín (be heard in a closed court) thì không nói làm gì. Trong khi vụ xử đang diễn ra mà báo chí, hoặc truyền thanh, truyền hình (the press or the electronic media) nào phao tin về thành tích phạm tội trước kia của bị can, mà tin tức loại này được tiết lộ cho các bồi thẩm viên (jurors), thì Quan tòa/Chánh án (Judge) phải khuyến cáo họ nên bỏ ngoài tai các thông tin ấy và chỉ tập trung vào những điều nghe thấy, biết được qua các bằng chứng được bên nguyên hoặc bên bị đưa ra tại tòa mà thôi. Bồi thẩm viên nào tiết lộ ra công chúng bất cứ chi tiết gì về vụ việc đang được toà xử mà có người thông báo cho quan tòa biết, thì cả bồi thẩm đoàn đó sẽ bị sa thải (dismissed), và một bồi thẩm đoàn mới sẽ được lựa chọn (a new jury is empanelled) thay thế.

Tất nhiên, công chúng vào nghe xử cũng được khuyến cáo không phổ biến tin ra ngoài trong lúc vụ xử đang diễn tiến (on-going court case), và tòa cấm không được chụp hình hoặc thâu băng lén vụ kiện (secretely tape the court proceedings). Vì như thế là để tránh trường hợp vô hình trung có thể gây bất lợi hoặc thuận lợi cho bị cáo. Theo luật lệ mới, thì tuy rằng nhân viên cảnh sát an ninh (security police) không còn kiểm soát và giữ lại điện thoại lưu động (mobile phone), loại kĩ thuật số (digital) có thể chụp hình và thâu băng được, ở ngoài tòa như trước nữa, nhưng ai bị bắt gặp vi phạm chụp hình hoặc thâu băng lén phiên tòa thì người ấy sẽ bị phạt rất nặng (will be faced with a very hefty fine).

Giới truyền thông có thể đóng một vai trò quan trọng khi họ để ý chi li/coi xét kĩ lưỡng (scrutinizing) đến các phán quyết của tòa (court judgments). Quan trọng ở chỗ là nếu công chúng cảm thấy là bản án chưa đủ nặng, thì các nhóm vận động hành lang (lobby groups) có thể được lập ra để thỉnh nguyện Chính phủ thay đổi luật pháp hầu áp dụng những hình phạt nặng hơn đối với một số tội phạm nào đó. Ngoài ra, khi tường thuật về các vụ xử án được nhiều người theo dõi năm này qua năm khác, giới truyền thông có thể đánh động công chúng suy ngẫm sâu hơn về chuyện có tội hay vô tội của bị cáo. Cứ thử lấy vụ Ngô Cảnh Phương (nghị viên thành phố Cabramatta, mang tội sát nhân), và Lindy Chamberlain (vợ một mục sư, mang tội giết con), ra mà xem! Nhiều người cho rằng họ vô tội, nhiều người khác lại cho rằng họ có tội. Kết quả bản án tòa là: người thì thọ án chung thân, người thì được tha bổng. Cũng vì có sự chú tâm theo dõi, can thiệp của giới truyền thông mà tòa sau cùng đã đưa ra tuyên án/phán quyết (verdict) là Lindy Chamberlain vô tội, mặc dù bị muộn mất 10 năm. Biết đâu chừng là nay mai đây, nỗ lực không ngừng nghỉ tìm kiếm cho ra/bằng được công lí (endless seeking for justice) của giới truyền thông, của các nhóm vận động hành lang mà lại chẳng đưa đến chuyện Ngô Cảnh Phương được “thanh minh thanh nga” (being found/proven) là vô tội trước những cáo trạng buộc tội anh (accusations made against him). Đến lúc đó thì quả là: Bánh xe công lí tuy chậm mà chắc (The wheels of justice move slowly, but surely). Bố ai mà biết được!

Chủ đề của bài học tuần này: “Tôi ra hầu tòa tại Toronto” (I was called to court in Toronto) là một hình thức “hỏa mù sa mưa”. Người không biết chuyện thì tưởng tôi liên hệ đến chuyện trồng cần sa loại quốc cấm [cultivate prohibited plants (cannabis)], hay bị truy tố về tội hiếp dâm/cưỡng dâm (rape charge) từ hồi nào ở Toronto, Canada nay bị dẫn độ (extradited) về bển chịu tội (face the music) chăng. Nhưng “không” Quí vị, Quí Bạn ơi! Tôi chỉ được kêu ra toà Toronto, cách Sydney chừng 140 cây số về phía Tây Bắc làm phán dịch. Từ hồi “Của đi thay người” (mất chiếc xe trong tai nạn xe cộ), tôi dùng phương tiện chuyên chở công cộng mỗi khi được gọi đi làm kiếm chút cơm/chút cháo (bread and butter). Vụ đi về miền quê (country) làm thông dịch tại toà Toronto khiến tôi phải đi 5 chuyến xe. Này nhé! Lên xe buýt trước cửa nhà ở Casula, đến ga xe lửa Liverpool (khoảng nửa tiếng), nhảy lên xe lửa đến ga Strathfield (khoảng nửa tiếng), chờ ở Strathfield (khoảng nửa tiếng), đổi chuyến xe lửa đi Wyong (khoảng hơn nửa tiếng), chờ ở Wyong (khoảng nửa tiếng), lên chuyến xe lửa đi Fassifern (khoảng nửa tiếng), đổi sang xe buýt vào thành phố Toronto (khoảng 15 phút). Đi bộ đến Tòa án Toronto (3 phút). Tổng cộng thời gian chuyến đi của tôi từ nhà đến tòa mất khoảng 5 tiếng rưỡi. Khi kể chuyện dông dài chuyến đi, thời gian ngồi đợi, tôi không có ý muốn than van, mà muốn nói lên điều mình thích thú, vì lâu lâu được đi một chuyến ra khỏi thành phố, hưởng không khí đồi núi, cỏ cây, biển nước…suy nghĩ vẩn vơ (mà được trả tiền) để soạn bài học cho bà con cô bác trên toàn cầu!

Mới đây có anh bạn từ Toronto, Canada viết email (meo) hỏi tôi: “Đi xa như thế có được trả tiền thêm không?” Xin trả lời: (a) Những giờ ngồi trên xe lửa cũng được kể là giờ làm việc (tuy không kể là từ nhà, nhưng được kể từ vị trí vòng đai của thành phố Sydney đến đó mà thôi); (b) Tiền vé xe lửa, xe buýt (có thể là tiền taxi nữa) từ địa điểm vòng đai và ở nơi công tác sẽ được bồi hoàn (reimbursed). Riêng trường hợp của tôi, sau khi qua tuổi 60, tôi được cấp phát thẻ đặc biệt đi xe pháo rẻ tiền cho người cao niên (seniors card) trong tiểu bang NSW, dùng phương tiện chuyên chở công cộng (public transport) như buýt, xe lửa, phà/bắc (ferry) cả ngày, chỉ phải trả có 2.50 Úc-kim. Uỷ ban Quan hệ Cộng đồng (Community Relations Commission) mướn tôi làm thông dịch phen này có lời, có lãi là cái chắc!



Trịnh Nhật
Sydney, Tháng 8, 2006

Kết hợp ngữ

(Collocations)

appear verb

1 hiện ra, xuất hiện

§ ADV suddenly bất ngờ, đột nhiên A man suddenly appeared in the door way Một người đàn ông đột nhiên xuất hiện trên lối cửa ra vào. | from nowhere bỗng nhiên, chẳng biết từ đâu, (như) từ trên trời rơi xuống A police officer appeared as if from nowhere and ordered us to halt Một cảnh sát viên chẳng biết từ đâu xuất hiện, rồi ra lệnh bắt chúng tôi dừng/ngừng (xe) lại.

2 ra mắt, xuất hiện, trình diễn trước công chúng/nơi công cộng

§ ADV currently hiện thời

§ PREP at ở, tại She is currently appearing at the Liverpool Playhouse Cô ta hiện thời trình diễn tại Rạp hát Liverpool.

§ PHRASE appear on television xuất hiện trên truyền hình/TV She regularly appears on television Cô ta xuất hiện thường xuyên/đều đặn trên truyền hình.

3 ra trước toà

· PREP at ở He will appear at Manchester Crown Court next week Anh ta sẽ ra hầu Toà án (Hình sự) Manchester vào tuần tới/sau..

· PHRASE appear before a court/judge/magistrate ra trước toà/chánh án/thẩm phán The man will appear before magistrates in Birmingham later today Người đàn ông ấy sẽ ra hầu tòa hòa giải tại Birmingham (lát nữa đây) nội ngày hôm nay. appear in court ra trước toà, ra hầu toà, ra trước vành móng ngựa A man has appeared in court charged with the murder of seven women Một người đàn ông đã ra hầu toà vì bị truy tố giết chết/sát hại 7 phụ nữ.

court noun

1 tòa, tòa án

§ ADJ high tối cao This is the highest court in the land Đây là cao cấp nhất/tối cao trong xứ/nước. | appeal kháng cáo, hòa giải, phúc thẩm civil dân sự, crown hình sự, high tối cao, juvenile thiếu niên, magistrates sơ thẩm, military quân sự They took their case to the appeal court Họ đưa vụ kiện của họ tòa kháng án/phúc thẩm. | supreme thượng thẩm | county tòa địa phương (giải quyết các vụ không thuộc hình sự), federal liên bang, etc. | European Âu châu, French Pháp quốc, etc.

§ VERB + COURT go to ra hầu, take sb/sth to đưa ai/cái gì ra We are prepared to go to court to get our compensation Chúng tôi chuẩn bị ra tòa để đòi bồi thường. o Their neighbours took them to court Hàng xóm của họ đưa/lôi họ ra hầu tòa. | come to, got to, go to đưa ra, đem ra The case should not be allowed to go to court Vụ này không được đưa ra tòa. | bring sth to đưa/đem cái gì ra There wasn't enough evidence to bring the case to court Đã không có đủ bằng cớ để đem vụ này ra tòa. | settle sth out of giải quyết/dàn xếp ngoài tòa The dispute was settled out of court Vụ tranh chấp này đã được dàn xếp ngoài tòa. | appear before, appear in, attend ra tòa, ra hầu tòa, ra trước vành móng ngựa She is too young to appear before the court Cô ta còn trẻ quá không phải ra hầu tòa. o He will appear in court tomorrow charged with the murder Hắn sẽ phải ra hầu tòa ngày mai bị truy tố về tội sát nhân | preside over làm chánh thẩm The court was presided over by Judge Owen Tòa đã được quan tòa Owen làm chánh thẩm.

§ COURT + VERB hear sth nghe xử cái gì/chuyện gì The court heard how the mother had beaten the 11-year-old boy Tòa đã nghe xử người mẹ đánh đứa con 11 tuổi như thế nào. | acquit sb, clear sb tha bổng, xử trắng án The court acquitted Reece of the murder of his wife Toà tha bổng anh chàng Reece về tội giết vợ. | dismiss sth, quash sth bãi nại, bác bỏ cái gì The court dismissed the appeal Toà bãi nại kháng cáo. o The guilty verdict was quashed by the appeal court Phán quyết có tội đã bị tòa phúc thẩm bãi nại, Toà phúc thẩm đã bác bỏ phán quyết có tội. | uphold sth ủng hộ cái gì The court upheld the plaintiff’s claim of unfair dismissal Tòa ủng hộ khiếu nại của nguyên đơn bị sa thải bất công. | hold sth, order sth, rule sth phán quyết, ra lệnh, quyết định The court held that she was entitled to receive compensation Tòa phán quyết là cô ta được hưởng tiền bồi thường.

§ COURT + NOUN action, case vụ kiện, proceedings vụ xử | hearing, trial vụ xử | injunction, order, summons lệnh, án lệnh, trát đòi She tried to get a court order to prevent him from coming near her Cô ta cố xin lệnh tòa ngăn cấm anh không được đến gần cô ta. o He received a court summons for non-payment of tax Anh ta nhận được trát kêu anh ra tòa vì vụ không trả tiền thuế. | decision, ruling quyết định, phán quyết | appearance có mặt, hiện diện, hầu tòa Divorce no longer requires a court appearance Vụ việc ly dị nay không còn cần phải có mặt tại tòa nữa. | battle tranh tụng They could now face a court battle for compensation Họ nay có thể phải tranh tụng trước tòa về việc bồi thường. | bailiff nhân viên, clerk thư kí, judge quan tòa, chánh án, official viên chức, registrar lục sự, staff nhân viên, usher người đưa dẫn (chỉ chỗ ngồi) She was appointed a high court judge in l998 Bà ta được bổ nhiệm làm chánh án tòa tối cao năm 1998. | procedure, process thủ tục, tiến trình | system hệ thống | building (pháp) đình

§ PREP at ~ ở ~ He was found guilty at Swindon Crown Court Hắn bị kết án phạm tội ở Tòa án Hình sự Swindon. before a/the ~ trước The case is now before the court Vụ này nay được trình trước tòa. in ~ trong ~ Relatives of the dead girl were in court Bà con họ hàng cô gái xấu số/bị chết đã có mặt trong/tại tòa.

§ PHRASE contempt of court khinh thường/miệt thị tòa án He was charged with contempt of court after shouting at a witness. a court of appeal tòa phúc thẩm, kháng cáo, kháng án, chống án, The case will be heard by the court of appeal next month. a court of law tòa án I don't think that argument would stand up in a court of law. a ward of court trẻ em được tòa bảo trợ, con bảo trợ của toà The child was made a ward of court when her parents were jailed Đứa trẻ được làm con bảo trợ của tòa khi bố mẹ nó ngồi tù.

2 sân (thể thao)

§ ADJ basketball bóng rổ, squash môn đánh squash, tennis quần vợt, etc. | clay đất, grass cỏ, hard cứng Do you prefer playing tennis on grass courts or hard courts Anh/chị thích đánh quần vợt trên sân cỏ hơn hay sân cứng hơn?

§ PREP off (the) ~ ngoài ~ Off court she is just as aggressive as she is on the court Ngoài sân (quần/thi đấu) cô ta cũng hung hăng/áp đảo/tấn công dữ dằn hệt như trên sân vậy. on (the) ~ The players have been on court for an hour Các đấu thủ đã ở trên sân được một tiếng đồng hồ rồi.

3 triều đình (vua/nữ hoàng)

§ ADJ royal (thuộc về) hoàng tộc, hoàng gia, vua chúa

§ COURT + NOUN circles giới Mozart quickly became a favourite in court circles Mozart mau chóng trở thành nhạc sĩ được ưa chuộng trong giới hoàng tộc.

§ PREP at (a/the) ~ life at the court of Charles I cuộc sống trong triều vua Charles Đệ Nhất o life at court cuộc sống trong hoàng cung.

court verb

tán tỉnh, ve vãn

§ ADV assiduously chuyên cần, siêng năng, liên tục, không ngừng nghỉ He spent three months assiduously courting a newspaper editor Hắn dùng 3 tháng liên tục ve vãn một viên chủ bút.

WLP
07-28-2007, 07:27 PM
Cỏ là để cho bò

Chỉ hơn 12 tiếng đồng hồ sau khi Amélie Mauresmo (Pháp) đánh trận chung kết Đơn nữ (Ladies’ Singles) với Justine Henin-Hardenne (Bỉ) trong Giải Vô địch Quần vợt Mở rộng Wimbledon tại Luân Đôn, thì đội tuyển Pháp cũng vào đấu trận chung kết với đội tuyển Ý trong Giải Bóng Đá Thế giới (World Cup) tại Berlin, Đức Quốc. Mauresmo đã hạ Henin-Hardenne 2-6, 6-3, 6-4 trong trận đấu tối đa 3 ván (the best of three sets) để chiếm chức vô địch nữ một Đại Giải (Grand Slam) có thể nói là giải uy tín nhất (the most prestigious tournament) trong 4 Đại Giải Quần Vợt trên thế giới, được tổ chức hàng năm tại Úc, Pháp, Anh, Mĩ.
Trên chiến trường banh nỉ (tennis) thì Pháp thắng thế, nhưng trên mặt trận banh da (soccer) đội tuyển bóng đá của Pháp đã thất thủ trước đội của Ý sau khi thủ hòa 1-1, và cả hai không ghi được bàn thắng nào trong 30 phút đá thêm giờ (30 minutes’ extra time). Pháp chỉ bị thua Ý 3-5 trong màn đá phạt đền luân lưu (penalty shoot-out). Như thế quả là “phúc” (blessing/fortune) đã không đến với Pháp lần thứ hai: “Phúc bất trùng lai”.
Có một nữ khán giả tên Tuyết, người Úc gốc Việt ở Sydney, trước đó đã gọi điện thoại vào Đài SBS-Radio tiếng Việt tỏ ý muốn Pháp thắng Ý để có dịp rửa hận (take revenge) cho đội nhà Socceroos vốn đã bị Ý đè bẹp một cách oan uổng. Có điều là cái hận của Úc nhà mình đã không rửa được tại Berlin, mà trong Giải Vô địch Quần vợt Wimbledon Đơn nam (Men’s Singles) tại Luân đôn, tay vợt số 1 của Úc là Lleyton Hewitt lại chịu thêm một mối hận nữa là anh bị thua cây vợt Marcus Baghdatis, người đảo Cypriot (sống tại Paris), ở vòng tứ kết (quarter-finals) trong 4 ván. Như thế quả là “Họa vô đơn chí” (Misfortunes never come singly) cho Úc trong 2 lần thi đấu thể thao thế giới kì này. Về mặt tiếng Anh mà nói, thì thành ngữ “Họa vô đơn chí” (chí = đến), tai vạ không đến chỉ một lần, đã có sẵn tương đương là “Misfortunes never come singly”, nhưng “Phúc bất trùng lai” thì các vị viết sách, các nhà làm tự điển của người Việt mình đã dịch ra là: “Fortune does not come twice/Blessings never come in pairs”.



Sau khi thắng được Hewitt, nhưng Baghdatis cũng không đi xa hơn được vòng bán kết (semi-finals), mặc dù anh đã có thành tích lừng lẫy đốn ngã những tay cao thủ để lọt vào vòng chung kết trong Đại Giải Úc Châu Mở Rộng (Australian Tennis Open) hồi tháng Giêng vừa rồi. Trận chung kết giữa Roger Federer, hạt nhân số 1 (first-seeded/first seed) và Rafael Nadal, hạt nhân số 2 (second-seeded/second seed) đã diễn ra đúng như sự náo nức mong đợi của mọi người. Tại sao lại náo nức mong đợi? Bởi vì Nadal mới hạ Federer trong trận chung kết vô cùng gay go, phải giải quyết ở bàn/ván (set) thứ 5, trong Đại Giải Pháp Quốc Mở rộng (French Open), và trước đó cũng đã loại Federer trong trận chung kết ở Rome, Ý đại lợi. Nói cho cùng, chưa có lần nào Federer thắng được Nadal, người xứ Tây Ban Nha (Spain), trên sân đất. Vì thế Nadal mới đây đã được danh hiệu là Vua Sân Đất (King of Clay). Câu hỏi được đặt ra trong đầu mọi người là liệu anh có thể lật được ngôi vị Vua Sân Cỏ (King of Grass) của Federer trong trận quần vợt trên sân cỏ (grass court) này hay không? Kết qủa được biết là Nadal mặc dù đã cố gắng hết mình, nhưng sau cùng cũng bị Federer hạ trong 4 ván với tỉ số 6-0 7-6 (7-5) 6-7 (2-7) 6-3.



Trở lại với bài học Anh ngữ thì chủ đề của chúng ta tuần này là “Cỏ là để cho bò” (Grass is for cows). Câu nói đầy “phạm thượng” đối với ban tổ chức giải quần vợt sân cỏ (lawn tennis) ở Wimbledon là lời nói của Andre Agassi khoảng đầu thập niên 90, khi anh chừng 20 tuổi. Tay vợt người Mĩ này đã tẩy chay (boycott) không chịu đăng kí tranh giải sân cỏ. Mà tại sao, nguyên nhân nào khiến anh chàng dễ thương, đẹp giai, ăn nói nhỏ nhẹ, tóc nhuộm vàng lọn nhỏ, để dài gần chấm ngang vai, lại lên tiếng như vậy? Có lẽ là anh không thích cái kiểu cách, bảo thủ của mấy ông Ăng-lê, thích ra luật này lệ nọ, như khi giao đấu phải mặc toàn bộ màu trắng (tennis whites), ngoại hình phải gọn gàng, chỉnh tề (neat and tidy) chẳng hạn. Nhưng nói gì thì nói, chẳng mấy lâu sau, Agassi lại lò mò sang Luân đôn và anh đã vô địch giải sân cỏ này năm 1992, lúc anh vừa tròn 22 tuổi. Và những năm sau đó anh đã có đôi ba lần vào được chung kết giải này. Năm nay Agassi đã 35 tuổi, và vừa tuyên bố trong Giải Wimbledon là anh có ý định về hưu sau Giải Mĩ Châu Mở Rộng.



Nhân câu nói của Agassi chúng ta thử tìm hiếu đôi điều về thuật ngữ quần vợt (tennis terminology) rồi hẵng nói đến “cỏ” (grass) đến “bò” (cow) trong phần Kết hợp ngữ. Một vài từ chuyên môn, đặc thù trong “tennis” mà tôi chọn ra là như sau:



Ace: A good serve that is unreturnable and not touched (Cú giao banh/bóng không đỡ/trả lại được vì bóng không chạm vợt người đỡ; cú “ace” [cú giao banh sấm sét (chí mạng/chí tử/hết đỡ/ngoài tầm tay/vô phương chống trả)]. Ngoài đời, khi nói đến “ace” có nghĩa là “số zách”, và từ “ace” này chỉ dùng để chỉ những người xuất sắc trong địa hạt thể thao (sport), tỉ như “ soccer ace, tennis ace”, chứ không dùng trong phạm vi nghệ thuật (creative arts), tỉ như nếu nói mình “*an ace violonist” là nói sai, mà phải nói “a top violonist”(vĩ cầm gia hàng đầu/thượng thặng) hoặc“a virtuoso violinist” (nhạc sĩ vĩ cầm tài hoa). Giới trẻ Úc bây giờ, khi chúng thích ai thì chúng gọi người đó là “ace”, tỉ như “He’s ace” (Chàng ta tuyệt vời).



Love: Zero in tennis language. Love-thirty is 0-30 ("Không" trong ngôn ngữ quần vợt, như trong 0-30 (không--ba mươi) chẳng hạn). Kể cũng lạ là chỉ có trong quần vợt “số không” lại kêu bằng “love” (= 0). Trong quần vợt “zero” ( 0) dùng dể tính điểm khi phải giải quyết ở “tie-break” [tức là lúc tỉ số của hai đấu thủ ở tình trạng 6-6 (sáu đều) trong một “set” (ván) nào đó], tỉ như 1-0 (One-Zéro = Một-không). Thắc mắc là trong cuộc sống thường nhật của chúng ta (in our daily life), nếu muốn nói “Số không” hoặc “Không” thì lúc nào dùng “Zero”, lúc nào dùng “Nought”, “Nil”, “Nothing”, “None”, “No”, hoặc “Not Applicable”.



Passing shot: A groundstroke that passes a net player on either side (Cú đánh khi trái banh rớt xuống sân, nẩy/tưng lên rồi được đánh qua khỏi tay phía bên trái hoặc phải của đối thủ đang đứng lưới, tiếng Việt gọi là “Cú thọc nách”). Thuật ngữ “Cú thọc nách” (passing shot) mà tôi biết được là nhờ nhiều năm lăn lộn với trái banh nỉ: một kinh nghiệm nghề dạy nghề.



Nói chuyện về “sân cỏ”, thì giới chơi quần vợt tài tử như bọn chúng tôi khi thấy bạn nào trong nhóm lâu không ra sân với anh em, câu nói bông đùa là “chắc hắn bận chơi sân cỏ” hay “hắn vẫn đánh ‘tennis’ đều đấy chứ, nhưng mà ‘đánh’ trên sân cỏ”. “Đánh trên sân cỏ” ở đây được hiểu ngầm giữa chúng tôi với nhau là “having sex”. Thế thì còn gì bằng! Ừ nhỉ, chỗ “ấy” cũng có “cỏ” vậy, “cỏ” còn tốt nữa là đằng khác! Vậy thì ai dám bảo “cỏ là để cho bò”.



Để kết thúc bài học tuần này, tôi xin gửi đến quí độc giả bài dịch câu chuyện vui về quần vợt đã được đăng trên báo tiếng Việt “On-line” trong nước cách đây đôi ba năm:



Your racquet strikes back at you

This story concerns a wife who noticed that her husband took his racquet out nearly every afternoon, and went off to play tennis. Sometimes he was out until very late into the night, and on his return he always looked haggard and drawn, and certainly not full of the sporting spirit.



She became suspicious of him, so one day she took his racquet, remodelled it somewhat, put it back in its cover, and then back into his sports bag. That afternoon, the husband, as usual, took his racquet and off he went. When he came home later that night he boasted proudly to his wife:



“I had a most exciting game today darling. I won in four straight sets. Everyone was in awe of my efforts and so surprised!”



The wife asked: “Did you play with your own racquet?”



Her husband replied: “Why yes, of course. It’s the type of racquet that all the professionals use. You know that.”



Furious, his wife took the racquet out of the bag. Imagine the husband’s surprise when he saw his so-called professional racquet had had all the strings cut to pieces

(courtesy of the irate wife).



Quả là “Vỏ quít dầy, móng tay nhọn!”.



Trịnh Nhật
Sydney, tháng 7, 2006


Kết hợp ngữ (Collocations)

grass noun
cỏ
§ ADJ green xanh | coarse, rough, thick cứng, thô, rậm | lush tươi tốt, mượt mà | long dài, tall cao | short ngắn | fresh-cut, freshly-cut, freshly-mown mới cắt | damp, wet ẩm, ướt | dry khô | wild dại
§ QUANT blade lá, ngọn I’ve walked along that path for so many years that I know every blade of grass Tôi đã đi bộ dọc theo lối mòn đó nhiều năm nay nên tôi biết rõ từng lá cây ngọn cỏ. | clump, tuft khóm, cụm, túm, nắm, búi, chùm There were only a few clumps of coarse grass for the animals to eat Chỉ còn có một ít cụm cỏ thô để cho súc vật ăn mà thôi.
§ VERB + GRASS eat ăn | cut, mow cắt | sow gieo
§ GRASS + VERB grow mọc
§ GRASS + NOUN clippings, cuttings xén | seed hạt/hột giống | verge bờ cỏ We parked on the grass verge by the side of the road Chúng tôi đậu/đỗ xe trên bờ cỏ ven đường lộ.
§ PREP across the ~ băng qua ~ They all set off across the grass Họ tất cả đều bước băng qua cỏ. in the ~ trong ~ 1 found the wallet lying in the grass Tôi tìm thấy cái ví đó nằm trong đám cỏ on the ~ trên ~ You're not allowed to walk on the grass Bạn không đuợc đi trên cỏ through the ~ xuyên qua ~ The dog came running through the long grass Con chó chạy tới luồn mình qua đám cỏ cao.
graze noun
vết trầy, vết xước/chợt/xây xát
§ ADJ minor, slight, small nhẹ, sơ sơ, nhỏ
§ VERB + GRAZE get, have, suffer bị She suffered only minor grazes in the crash Cô ta chỉ bị trầy da nhẹ (sơ sơ) trong vụ đụng xe đó.
§ PREP ~ on trên I’ve got a graze on my leg Tôi bị một vết trầy trên cẳng chân.
graze verb
1 ăn/gặm cỏ (nói về súc vật)

§ ADV peacefully, quietly Sheep were grazing peacefully in the fields Trừu/Cừu đang êm đềm/thanh thản ăn/gặm cỏ ở ngoài đồng.
§ VERB + GRAZE allow sth to, turn sth out to cho cái gì ra để, lùa/thả cái gì ra để The cattle were turned out to graze Trâu bò được cho/lùa/thả ra (khỏi chuồng) để đi ăn cỏ.
§ PREP on/upon trên lambs grazing on the rough moorland pasture trừu/cừu non ăn cỏ trên những cánh đồng cỏ mọc hoang dại.

2 làm trầy/làm xước da
§ ADV badly nặng She had grazed her elbow quite badly Cô ta đã bị trầy khửu tay/cùi trõ khá nặng.
§ PREP on trên He fell and grazed his knees on a rock Anh ta ngã/té trên một tảng đá và xước da hai đầu gối.
cow noun
bò (cái)
§ ADJ beef thịt | dairy sữa, milch sữa (thường là nghĩa bóng) | sacred thiêng (thường là nghĩa bóng) the sacred cow of free market economics con bò thiêng (= không được đụng/dớ vào) của nền kinh tế thị trường tự do.

* QUANT herd đàn, bầy
* VERB + COW breed lấy giống | milk vắt
* COW + VERB low rống, moo kêu | chew the cud, graze ăn/nhai (cỏ) | calve sinh con, đẻ ra bê/bò con The cow had difficulties calving Con bò có/gặp trở ngại/khó khăn trong việc sinh con.
* COW + NOUN byre, shed (hoặc cowshed) chuồng | dung, manure, muck, pat (hoặc cowpat) cứt, phân, phân chuồng | bell chuông (đeo cổ)
* PHRASE a breed of cow một giống/nòi bò



Thành ngữ, tục ngữ, thơ Kiều để tham khảo



As green as grass.

To hear the grass grow.

Keep off the grass!

The grass is always greener on the other side (of the fence).

Silly old moo.

… till the cows come home.

Bad luck usually comes in pairs.



Ngu như bò.

Cơm no bò cưỡi.

Lo bò trắng răng.

Sè sè nấm đất bên đường,

Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.



Bài đọc thêm

Marriage is not a sacred cow

A Russian farmer has asked President Vladimir Putin to allow him to marry a cow. According to MosNews, Boris Gabov asked Putin for permission to marry the animal during a recent webcast where Russians could email questions to the president. The farmer from southern Siberia said: “All the girls have left our small village and moved to the city, so I cannot find a woman to be with. But I see the solution to the problem. I love animals very much and want to ask when we will be allowed in Russia to marry domestic animals, such as cows.”



Đố vui để học



Dựa vào bài đọc trên, xin hãy trả lời 2 câu hỏi sau đây:

1. Tại sao hôn nhân lại được người Tây phương coi là “con bò thiêng”?

2. Bạn có nghĩ rằng Tổng thống Putin sẽ cho phép nông gia người Nga kết hôn với con bò cái không? Nếu có, tại sao có? Nếu không, tại sao không?

WLP
07-28-2007, 07:29 PM
Còn chăng một nền ngoại giao “bán bòng”?


Biến động bất ngờ xẩy ra ở Li-băng đã khiến Ngoại trưởng Condoleezza Rice, phải hủy bỏ chuyến công du Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Thay vào đó Dr. Rice, phụ nữ da đen đầu tiên làm Ngoại trưởng Mĩ (U.S. Secretary of State), đã thực hiện chuyến du hành chớp nhoáng sang gặp các vị lãnh đạo trong vùng Trung Đông (Middle East) trong đó có nước Li-băng (Lebanon) và nước Israel là nước mà ngoài dân Palestines ra thì đa số là dân Do Thái (Jews). Mục đích của Mĩ qua Tiến sĩ Rice là tìm kiếm một nền hoà bình lâu dài, chứ không phải chỉ là một cuộc ngưng bắn (ceasefire) mong manh như trong quá khứ cho vùng Trung Đông. Có được hay không điều Mĩ trông đợi phải để hậu hồi phân giải (it remains to be seen). Chỉ biết giờ này đây Tiến sĩ Rice đang tiếp tục sang các nước Liên Âu (European Union) để vận động ngoại giao (diplomacy).



Qua những diễn biến chính trị ngoại giao hiện thời nhắc nhở chúng ta đến nước Hoa Kì dưới thời Nixon và chính sách ngoại giao con thoi (shuttle diplomacy) thực hiện bởi Ngoại trưởng Henry Kissinger của Mĩ. Một trong những dấu hiệu công khai cho thấy mối quan hệ bang giao giữa Hoa kì và Trung Cộng được cải thiện khởi đầu vào Tháng Tư, năm 1971, khi đoàn Bóng Bàn Mĩ (American Ping-Pong team), đang tham dự Giải Vô địch Bóng bàn Thế giới tại Nhật Bản lần thứ 31, thì nhận được lời mời sang thăm viếng Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc (People’s Republic of China) với mọi chi phí sẽ được đấu thủ đồng nghiệp Trung Quốc đài thọ. Vào ngày 10, Tháng Tư, phái đoàn gồm chín đấu thủ, bốn viên chức, và hai vị phối ngẫu (two spouses) của họ đi băng qua một chiếc cầu từ Hồng Kông sang lục địa Trung Hoa mở đầu một kỷ nguyên mà giới truyền thông gọi là kỷ nguyên “ngoại giao Bóng bàn” (Ping-Pong diplomacy). Họ là nhóm người Mĩ đầu tiên được phép vào Trung Hoa kể từ khi đất nước này thuộc vào tay Trung Cộng (the Communist take-over).



Thủ tướng Chu Ân Lai đã chứng tỏ tài ngoại giao khéo léo tuyệt vời khi ông đãi tiệc người Mĩ trong Đại Sảnh Đường Nhân Dân vào ngày 14 Tháng Tư. Cùng ngày hôm đó, Hoa Kì công bố bãi bỏ lệnh cấm vận mậu dịch 20 năm (to remove 20-year embargo on trade) với Trung Cộng. Sau đó một đoàn bóng bàn Trung Quốc đáp lễ lại bằng một chuyến thăm viếng Mĩ Quốc. Sự kiện này đánh dấu sự hòa hoãn/tan băng/hết lạnh nhạt trong quan hệ (a thawing in relations) với Hoa Kì và để rồi được tiếp nối bằng chuyến viếng thăm của Tổng thống Richard Nixon vào năm 1972, tức là hơn một năm sau sứ mạng bí mật (secret mission) của Kissinger tới Bắc Kinh (Beijing).



Trở lại bài học Anh Ngữ tuần này với chủ đề “bán bòng” là “bóng bàn”. Tại sao lại bàn về “bóng bàn”? Một phần cũng vì qua Đài SBS-Radio, tôi được nghe Phan Bách phỏng vấn danh thủ bóng bàn Lê Văn Inh về Giải Bóng Bàn Truyền thống (Ping Pong/Table Tennis Classic Tournament) trong Cộng Đồng được tổ chức hai ngày Thứ Bảy 22-7 và Chủ Nhật 23-7-2006 vừa rồi. Một phần khác là Tuần Báo Dân Việt của Lưu Dân có dự phần tổ chức trong đó. Được biết là Thứ Bẩy tranh giải vô địch Cộng đồng Việt Nam, còn Chủ Nhật là tranh giải vô địch Mở rộng cho cả các sắc tộc khác nữa (other ethnic communitites) tham dự.



Sáng Thứ Bẩy tôi đã “lết” đến tận nơi để được “tai nghe mắt thấy”, coi sơ qua tình hình đánh vòng loại rồi về. Tôi phải “lết” đến đó là vì tôi bị tai nạn xe cộ khá nặng (rather bad car accident) cách đó đôi ba ngày--xe Toyota Seca của tôi bị “nát bấy” (write-off/written-off). Tại Trung tâm Sinh hoạt Cộng đồng, tôi may mắn gặp được một khuôn mặt quen thuộc là Hùng “líp” (một cựu danh thủ bóng bàn, nay thỉnh thoảng cũng đánh ‘tennis’ với chúng tôi), và đã nhờ anh ta chỉ cho biết ai là Trần Song Kiệt, vô địch bóng bàn trong cộng đồng người Việt từ nhiều năm nay, để chụp tấm hình kỉ niệm. Tôi còn được giới thiệu thêm một tay vợt tên tuổi khác là Trần Nhạc Xuyên. Không hiểu hai anh này có làm nên cơm cháo gì trong lần tranh giải kì này không? Tin giờ chót cho biết Trần Song Kiệt, hạ Trần Nhạc Xuyên, đương kim vô địch (defending champion) bóng bàn cộng đồng Người Việt ở vòng chung kết, và anh Kiệt cũng là vô địch Giải Bóng Bàn Truyền thống Toàn Quốc Úc lần 1, 2006, khi anh hạ Daryn Lu trong một trận đấu vô cùng gay go 11/6, 11/8, 11/6, 8/11, 12/14,12/10, 11/9 (tức là thắng 4 thua 3). Đồng hạng Ba Đơn Nam Mở Rộng là Trần Nhạc Xuyên và Geoge Tang. Trần Song Kiệt được công nhận là đấu thủ xuất sắc nhất trong ngày Chủ Nhật 23-7-2006, và nhận chức vô địch với Chiếc Cúp Vàng (Golden Trophy/Cup) và 1000 Úc kim.



Ngày tôi còn nhỏ, gần vào trạc tuổi choai choai (teenager) đá bóng khá giỏi. Có 7, 8 thằng bạn cùng trong xóm, thằng nào cũng giỏi đá bóng, cùng đều nhanh nhẹn, 'sút' đẹp, 'bon' banh hay, tài nghệ rất tương đồng, nên chúng tôi mến phục, thích nhau lắm. Bố tôi thấy tôi mê đá bóng, ham vui bạn bè nên cụ hơi lo, vả lại mình là con một (the only son), lại là cháu đích tôn. Cụ muốn tôi nên 'người', nghĩa là phải có ít chữ nghĩa thánh hiền, không nhất thiết phải học ra làm quan như thời ông cụ thân sinh ra ông, nhưng ít nhất thì cũng phải giật được mảnh bằng Tú Tài (HSC/VCE), Cử Nhân (BA, BS) cho oai với người ta, cho được no cơm ấm cật! Ðể đạt được mục đích thâm sâu thầm kín của mình, Cụ không ngần ngại nói thẳng cho tôi biết rằng "Ðá bóng đâu có ăn cái 'giải' gì? Mình có đá giỏi lắm thì người ta cũng chỉ gọi mình bằng 'thằng', chẳng ai họ gọi mình bằng 'ông' đâu?" Nói cách khác, đá bóng là cái nghề dành cho bọn "giá áo túi cơm". Ở vào cái thời trước di cư 1954, trên cái đất nước nghèo đói loạn lạc hình chữ S của chúng ta thì "lời ông chẳng chê được nào"!



Tôi bỏ 'nghề' đá bóng khi tài năng còn mới chớm, quay ra đánh 'bóng bàn'. Thích bóng bàn thì chơi, nhưng rồi cũng ham mê không ít. Hồi hơn 10 tuổi ở Hải-Phòng, thường ở nhà thì lấy phản, lấy giường làm “bàn”, tới trường thì mang vợt theo, đánh lúc ra chơi. Tôi còn nhớ học trường tư thục Phùng Hưng năm 1953, 1954, do ông Chu Văn Bình (sau này là nhà văn Chu Tử) làm Hiệu Trưởng (Principal). Khi vào trong Nam, tôi thường đánh ở Câu Lạc Bộ Tổng Hội Học Sinh ở Đường Cống Quỳnh (sau này là trụ sở Trường Trung Học Hưng Đạo, do Giáo sư Nguyễn Văn Phú làm Hiệu Trưởng). Gọi là thắng giải to lớn thì không có nhưng giải nhỏ thì cũng có lai rai. Chẳng hạn như vào được bán kết (xếp hạng ba) Giải Câu Lạc Bộ Tổng Hội Học Sinh đó. Tôi thua Hậu (về sau là cây vợt có tiếng của Hải Quân, còn Khanh (con Bác Văn Hớn, tiệm chụp hình ở Đường Cống Quỳnh) là vô địch giải này. Khanh sau này cũng là một trong 5 cây vợt hàng đầu Miền Nam Việt Nam. Tôi cũng đã có dịp cùng đoàn tuyển thủ của Hội Bóng Bàn Lam Sơn, trụ sở là Đền thờ Đức Trần Hưng Đạo ở Đường Hiền Vương, Sàigòn xuống đánh giao hữu với đội tuyển thủ của Bến Tre, tỉnh Kiến Hoà mà cây vợt số 1 tôi còn nhớ tên là Lan, công thủ rất đẹp, cú “rờ-ve”/nghịch tay (backhand) của chàng ta thật tuyệt vời. Tôi cũng đã từng theo đoàn bóng bàn này, cùng với đoàn võ thuật Lam Sơn đi tham dự Hội Chợ Cao Nguyên Ban Mê Thuột năm 1956, khi đó Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị ám sát hụt. Tại Hội Chợ này, những tay vợt bóng bàn quốc tế Việt Nam như Mai Văn Hoà và Trần Văn Đức cũng được mời lên đánh biểu diễn (exhibition matches).



Tôi được Cúp Bạc trong xóm ở Đường Trần Hưng Đạo gần Chợ Quán. Tôi cũng ghi danh thi đấu giải hạng nhì (thời đó gọi theo Tây là ‘deuxième série’) nhiều lần, mà thường thì cũng vào được vòng 2, vòng 3 (second round, third round). Thế thôi. Kể từ sau năm Đệ Tam, lên Đệ Nhị, tôi đành phải bỏ chơi bóng bàn để tập trung vào việc học thi Tú Tài. Niên học Đệ Nhất Trung Học Chu Văn An, tôi là cây vợt số 1, và một anh nữa (quên tên) cây vợt cố 2 đại diện Trường, dự tranh giải giữa các trường trung học với nhau, trong khi đó Phạm Gia Anh và Cao Lê Hùng là cây vợt số 1 và số 2 của Trường Trung Học Pétrus Ký. Cả hai tay vợt này lúc đó hình như đã là tuyển thủ đại diện Việt Nam Cộng Hoà (Republic of Vietnam) tranh giải trong khu vực Á Châu. Thật ra tôi đã cũng có nhiều dịp tập dượt bóng bàn với hai anh chàng này mấy năm trước đó, nhất là với Cao Lê Hùng, khi họ chưa nổi tiếng. Giải bóng bàn nói trên được tổ chức tại Hội Quán Bóng Bàn Nam Việt, do thân sinh của nữ danh thủ số 1 bóng bàn Việt Nam là cô Kim Ngôn làm chủ. Khi sang đến Úc du học Cao học đầu năm 1974, thì khoảng năm 1976, 77 (?) mặc dù không tập dượt gì mấy tôi là cây vợt số 2 của Đại học Macquarie University tranh Giải Bóng Bàn Liên Đại học (Inter-Varsity Table Tennis Tournament), còn anh chàng người Tân gia Ba (Singaporean), tên Edward, là cây cợt số 1 đại diện Trường.



Phải nói là tôi hưởng được phần nào cái "gien" (gene) của ông cụ thân sinh ra tôi về bộ môn bóng bàn. Bố tôi, tên cúng cơm là Trịnh Văn Ứng, đứng chung với ông bạn tên Thi, đã đoạt chức vô địch đôi nam (Men’s Doubles title) trong Giải Vô địch Bóng bàn Ðông Dương (Indochina Men’s Table Tennis Championship) năm 1935, tại Huế, lúc ông 24 tuổi, dưới sự chủ toạ của Hoàng Ðế Bảo Ðại (Emperor Bao Dai). Biến cố lịch sử này đã được kí giả thể thao lão thành Nguyễn Duy Dưỡng ở Sàigòn sau này kể lại, có cả hình ảnh (tôi còn cất giữ đâu đó), trong một tờ báo đăng tại Việt Nam cách đây khoảng 15 năm.



Cầu chúc cho phong trào “bán bòng” trong Cộng Đồng Việt Nam tại Úc “lên cao như diều gặp gió!”



Trịnh Nhật

Sydney, tháng 7, 2006



Kết hợp ngữ (Collocations)

table noun

1 cái bàn

· adj big lớn, high cao, huge khổng lồ, large lớn, long dài | little nhỏ, low thấp, small nhỏ, bé | circular (hình) bán nguyệt, vòng cung, rectangular chữ nhật, round tròn, square vuông | drop-leaf, fold-away gấp, folding gập, trestle (bàn kê trên) niễng We arranged the party food on a tres­tle table in the garden Chúng tôi sắp dọn thức ăn cho tiệc liên hoan trên cái bàn kê trên niễng ỏ ngoài vườn.. | baize-covered phủ dạ (xanh), glass-topped (mặt bàn) thuỷ tinh, white-clothed, white-napped (phủ) vải trắng | glass kính/kiếng, plastic nhựa pờ-lát-tíc, wooden gỗ, cây | polished đánh bóng, scrubbed chùi sạch | ramshackle xập xệ, hư nát, rickety ọp ẹp, rough nhám, ráp | empty trống We found an empty table at the back of the restaurant Chúng tôi tìm thấy mốt cái bàn trống ở đằng sau nhà hàng. | bare trơ trọi | corner trong góc (phòng), window (bên/gần) cửa sổ We'll take the corner table near the bar, please Cho chúng tôi chọn cái bàn trong góc gần quầy rượu nhe | dining (room) phòng ăn, kitchen (trong) nhà bếp She often does her homework at the kitchen table Cô ta thường làm bài tập (cho về nhà làm) ở bàn trong bếp.. | breakfast (ăn) bữa sáng, điểm tâm, din­ner (ăn) bữa tối, lunch (ăn) bữa trưa We never discuss politics at the breakfast table Chúng tôi không bao giờ bàn chuyện chính trị ở bàn ăn sáng. | conference hội nghị, negotiating thương thuyết They spent hours around the negotiating table Họ dùng nhiều thời giờ quanh bàn thương thảo. | billiard bi-da, ping-pong bóng bàn, pool, snooker bi-da, sì-núc-kơ, table-tennis bóng bàn, | makeshift tạm We turned the box upside down and used it as a makeshift table Chúng tôi lật ngược cái hộp rồi lấy hộp dùng tạm làm cái bàn.

· verb + table sit around/round, sit (down) at ngồi quanh, ngồi xuống tại They were all five of them sitting round the kitchen table Bọn họ tất cả năm người ngồi quanh cái bàn trong nhà bếp. | get up from, leave đứng dậy rời khỏi (bàn) He left the table in a hurry Anh ta vội vã rời khỏi bàn. I lay, set đặt, xếp, bầy Please lay the table for six Làm ơn xếp bàn cho sáu người. | clear dọn dẹp You clear the table and I’ll wash the dishes Anh dọn sạch bàn còn tôi sẽ rửa chén bát. | book, reserve đặt, đặt trước, giữ trước We booked a table in our favourite restaurant for 8 p.m. Chúng tôi đặt một cái bàn trong nhà hàng chúng tôi ưa thích cho 8 giờ tối.

· table + noun decorations (vật dụng) trang trí, trang hoàng | edge cạnh, mép

· prep across the ~ ngang qua She leaned across the table towards him Cô ta nghiêng mình qua cái bàn về phía hắn ta. around/round the ~ quanh We gathered round the table to hear his news Chúng tôi quây quanh cái bàn để nghe tin tức của anh ấy, at the ~ ở to sit down at the table ngồi xuống tại cái bàn đó on the ~ She put the vase on the table Cô ta đặt chiếc bình trên bàn, over the ~ trên They flirted over the dinner table Họ tán tỉnh nhau ở bàn ăn under the ~ dưới The potato rolled under the table Củ khoai tây lăn dưới gầm bàn.

· PHRASE the centre/middle of the table giữa bàn, the edge/end/head of the table mép, dìa/cuối/đầu bàn My father always sits at the head of the table Cha tôi bao giờ cũng ngồi ỏ đầu bàn, a round table discussion/meeting một cuộc thảo luận/hội nghị bàn tròn, round table talks những cuộc thảo luận bàn tròn All parties took part in the round table discussions on the peace process Tất cả các phe nhóm tham dự vào các cuộc thảo luận bàn tròn về tiến trình hòa bình..

2 bảng liệt kê/kê khai dữ kiện/con số

* ADJ statistical thống kê, liệt kê (số liệu) | league liên đoàn The league table shows the Danish team in first place with eight points Bảng liên đoàn cho thấy toán/đội Đan Mạch đứng hạng nhất với tám điểm.

· VERB + TABLE compile, draw (up) làm, thiết lập | see xem See Table XII for population figures Xem Bảng XII để biết các con số về dân số.

· TABLE + VERB shows sth cho thấy/trình bày cái gì

· prep in a/the ~ He showed the price fluctuations in a statistical table Anh ta cho thấy những thay đổi về giá cả trong một bảng thống kê o United are second in the table Đội United đứng hạng nhì trong bảng xếp hạng.

· PHRASE the bottom/top of the table cuối/đầu bảng, mid-table giữa bảng The team will be lucky to finish the season mid-table Toán/đội đó sẽ may mắn kết thúc mùa thi đấu xếp ở giữa bảng.

WLP
07-28-2007, 07:32 PM
Bồng bềnh trên sóng đại dương

Cuối Tháng 7 vừa rồi, qua Tuần Báo Dân Việt, tôi nhận được một email (meo/điện thư) của một nữ độc giả, tên là Bội Trân, hỏi ý kiến tôi về một chuyện như thế này:

“Braille tiếng Việt dịch ra là ‘chữ nổi’. Một người Úc học tiếng Việt lại dịch ‘chữ nổi’ thành ra ‘floating words’. Theo nghĩa của chữ Braille dành cho người mù, thì ‘chữ nổi’ phải dịch ra là ‘protruding words" mới đúng. Xin anh cho biết ý kiến.”

Sau khi dựa trên những định nghĩa của 6 cuốn từ điển tiếng Anh và một cuốn từ điển tiếng Việt, tôi đã trả lời chị đại loại như thế này:



“Dịch ‘chữ nổi’ là ‘floating words’ hoặc ‘protruding words’ là dịch ‘từ-ra-từ’ (word-for-word), là dịch ‘tự nghĩa’ (literally), và như trong trường hợp này là sai, là không đúng lối nói của người bản ngữ tiếng Anh.



Đừng quên là tiếng Việt khi nói: ‘chữ’ thì tiếng Anh có thể dịch là ‘words’, mà cũng còn có thể dịch là ‘characters’, ‘letters’, như trong chữ cái của bảng mẫu tự ABC (letters/characters of the alphabet). Đấy là chưa kể từ ‘script’ còn được dùng để dịch từ ‘chữ’, như trong chữ quốc ngữ (Romanized/Latinized script) của tiếng Việt nữa.



Vậy thì khi dùng tiếng Việt ‘chữ nổi’ (trong trường hợp này là chữ dành cho người mù dùng) phải trưng dụng đến những cụm từ ‘raised dots’, ‘small raised marks’,’“groups of raised dots’, ‘combination of tangible points’, ‘system of dots in relief’ thay cho chữ viết, bản in mà người mù có thể dùng ngón tay sờ thấy để đọc chữ.”(trích từ 6 cuốn Từ điển Anh Ngữ).



Còn Từ Điển Tiếng Việt, do Hoàng Phê (chủ biên), Trung tâm Từ Điển học, 2005, thì định nghĩa: “chữ nổi – (còn gọi là chữ Bray) là hệ thống chữ viết dùng những chấm nổi trên mặt giấy, có thể dùng tay sờ nhận biết được, dành riêng cho người mù.”



Sau câu góp ý của tôi thì vài ngày sau, tôi nhận được ‘email’ của chị Bội Trân gửi thẳng cho tôi. Chị viết:



“Rất cám ơn phần trình bày cặn kẽ của anh về Braille và ‘chữ nổi’. BT biết rằng khi dịch ‘từ-ra-từ’ thì đó là một kiểu chẳng đặng đừng. Lý do của việc thắc mắc này là, một nữ họa sĩ người Lào, Savanhdary Vongpoothorn, có một tác phẩm trong Sydney Biennale, trưng bày tại Art Gallery of NSW. Tác phẩm này mang tên ‘Floating Words’, dịch ra từ chữ Braille, tức là ‘chữ nổi’. Tác phẩm này làm bằng những tờ báo in bằng Braille dành cho người mù ở Việt Nam. Chồng của Savanhdary là Dr. Ashely Carruthers, một người nghiên cứu về Vietnam Diaspora và nói được tiếng Việt khá tốt.



Bởi vì chữ Braille phải nổi lên (protrude) để người mù có thể nhận diện được bằng ngón tay của họ, nên BT nghĩ rằng cái tên ‘Floating Words’ dành cho tác phẩm là hơi gượng ép. Bởi vì những chữ Braille này không phải "bềnh bồng" như trên mặt nước, mà chúng phải trồi lên khỏi bề mặt của tờ giấy.



Nếu có thể, xin anh cho biết ý kiến thêm. Tác phẩm của Savanhdary vẫn còn trưng bày đến khoảng 20 tháng 8.”



Nay tôi xin nói thêm ở đây, nếu chủ ý của người học tiếng Việt muốn chứng tỏ mình hiểu ‘nghĩa đen’ của tiếng Việt thì không nói làm gì. Nhưng ‘nổi’ ở đây không thể là ‘floating’ [nổi trôi, trôi nổi, bồng bềnh, bềnh bồng (trên mặt nước), hoặc lơ lửng, dật dờ, vật vờ (trên không, trong không khí)], mà cũng không thể là ‘protruding’ [lồi, thò ra, nhô ra (như trong mắt lồi, môi vều, răng vẩu, rốn lồi), hoặc (như trong tảng đá nhô ra trên mặt vách đá, mỏm núi nhô ra khỏi vịnh)].



Tôi chưa kịp trả lời điện thư của chị thì tôi gặp chị (cùng ‘partner’ người Úc) tại bữa tiệc liên hoan tiễn đưa (send-off party) dành cho Luật sư Lưu Tường Quang tối mùng 5.8.2006 tại Nhà hàng Crystal Palace ở Canley Heights, Sydney. Tôi đã thưa chuyện với chị đại loại là như thế này:



“Nếu từ “Chữ nổi” (Floating words) là caption (lời chú thích) cho một bức tranh thì tôi nghĩ, tác giả đã sang một phạm vi khác là mỹ thuật, nghệ thuật, nên có thể không cần phải có một sự chính xác về ngôn ngữ. Bức tranh là để người xem tự cảm nhận. Cái thú của tác giả là ở chỗ đó, là để cho mỗi người tìm lấy một lối giải thích, một cách minh họa riêng cho mình.”



Trở lại bài học Anh Ngữ tuần này với chủ đề:“Bồng bềnh trên sóng đại dương” (Floating on the waves of the ocean). Tôi muốn đưa bài học vào bối cảnh thời sự liên hệ đến bữa tiệc tiễn đưa Luật sư Lưu Tường Quang, nhân ngày ông từ nhiệm chức vụ Head of Special Broadcasting Services (SBS)-Radio (Trưởng Nhiệm/Tổng Giám Đốc Hệ thống Phát thanh Đặc biệt) sau 17 năm làm việc để về chốn phục viên (retirement).



Trong buổi tiệc, có văn nghệ, có nhẩy đầm, do 600 bạn bè thân hữu Việt Tây Tàu v..v… đứng ta tổ chức, người ta đã được nghe không biết bao nhiêu lời hay ý đẹp nói về người bạn Lưu Tường Quang, về thành tích cá nhân và việc làm thành quả của anh đã đạt được trong những tháng ngày qua. Nếu Quí Vị nào không có dịp tham dự tiệc này, thì cứ việc giở Báo Dân Việt tuần này, hoặc mở < www.google.com > mà < search > Quang Luu hoặc Luu Tuong Quang thì Quí Vị sẽ thấy “rõ ràng tường tận, đâu ra đó, một con người lúc nào cũng sáng chói như hào quang”. Đó chính là “chàng”.



Nhưng Quí Vị, Quí Bạn ơi! Những điều tôi biết về “chàng” của buổi hàn vi, của thời thanh xuân đương độ thì chỉ có một mình tôi biết một mình tôi hay mà thôi. Này nhé! Tôi găp anh Quang lần đầu có lẽ là 41 năm trước đây tại Đại Học Văn Khoa (Faculty of Letters), Sài-gòn, khi chúng tôi cùng học chung “Chứng chỉ Văn Chương Văn Minh Anh” (English Literature and Civilisation Certificate) trong “Văn bằng Cử Nhân Giáo Khoa Anh Văn” (BA’s Degree in English Language Teaching/Eduation) hay ở cái thời đó còn “sính” tiếng Pháp thì kêu bằng “Liçence d’Enseignement d’Anglais”. Có bằng “Cử Nhân Giáo Khoa” là oai lắm, thường là phải mất 4 năm học, hơn hẳn “Cử Nhân Tự Do”, thường có thế lấy trong vòng 3 năm. Ra trường khi xin Bộ Quốc Gia Giáo Dục (Ministry of National Education) đi dạy học được hưởng chỉ số lương (salary index) là 470, thay vì 430 như bằng “Cử Nhân Tự Do” hay bằng “Tốt nghiệp Đại học Sư phạm”. Kỉ niệm của chúng tôi là có đôi lúc ngồi chênh vênh trên lan can trước cửa trường ở Đường Nguyễn Trung Trực để chuyện trò, tán gẫu, mắt thỉnh thoảng liếc nhìn Toà Nhà trước mặt mà hồi thời Tây là Khám Lớn, rồi sau đó được dùng làm trụ sở Giám Sát Viện (Ombudsman Directorate/Department).



Nói là học chung với tôi ở Văn Khoa, nhưng Anh Quang không phải chỉ học có thế. Tôi nhớ năm 1965, khác với Cụ Tú Xương chỉ có được trần bì mảnh bằng Tú Tài, thì anh ra trường với 3 mảnh bằng Cử Nhân trong tay: Văn khoa, Luật khoa, Sư phạm. Chưa kịp khởi sự để được bổ nhiệm đi làm giáo sư Anh Ngữ (English teacher) thì anh tham dự vào một kì thi tuyển do Bộ Ngoại Giao (Ministry of Foreign Afffairs) tổ chức cho nhân viên 70 nhiệm sở ngoại giao của Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà trên toàn thế giới và các thí sinh tự do nào muốn trở thành những nhà ngoại giao chuyên nghiệp (professional diplomats) sau này. Anh Quang đã thi đậu hạng Nhì trong số 20 người trúng tuyển. Nhiệm sở đầu tiên ở nước ngoài là Luân Đôn, Anh Quốc. Anh đã từ ngạch Đệ Tam Tham Vụ (Third Secretary) lên tới Đệ Nhất Tham Vụ (First Secretary) thì anh sang Úc để rồi sau cùng tới lên đến ngạch Cố Vấn (Counsellor) Toà Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa ở Canberra. Mùa Đông năm 1974 một nhóm bạn bè chúng tôi mới sang Úc, còn lạ nước lạ cái, gồm mấy sinh viên già (mature-age students) sang học Cao học thuộc chương trình Colombo Plan tại Sydney rủ nhau đi Canberra, Melbourne rồi Adelaide chơi. Khi đến Canberra, chúng tôi đã được anh Quang tiếp đón và cho tá túc tại Sứ Quán và sau đó cho mời chúng tôi lại tư gia để anh khoản đãi cơm tối (dinner). Anh Quang đối với chúng tôi như bát nước đầy (treating us with kid gloves). Ở Sứ Quán chúng tôi còn được nhân viên Sứ Quán cho ăn phở, món ăn vô cùng hiếm quí, tại Úc thời bấy giờ.



Nhìn lại cuộc đời của anh Quang mà tôi chưa kể hết, nhưng nếu Quí Vị đã nghe, đã đọc

đâu đó về anh thì chắc trải nghiệm một điều là “anh đã không chọn được ‘nghề’ mà ‘nghề’ đã chọn anh”. Ấy vậy một khi đã vào nghề nào rồi thì anh cũng đều tỏ ra xuất sắc (high achiever) trong nghề ấy. Cuộc đời anh “bồng bềnh nổi trôi trên sóng nước”, nói theo nghĩa nào cũng được, từ công ăn việc làm đến chuyến đi “bỏ của chạy lấy người”, vượt thoát bằng thuyền thúng của anh, nhưng rốt cuộc/cuối cùng (at the end of the day) anh cũng vẫn đâu vào đó.



Cổ nhân ta dạy rằng: “Người có tài thường hay có tật”. Tú Xương có ‘tài’ làm thơ, nhưng Cụ tự thú là mắc phải 3 cái ‘tật’ (three bad habits):




“Một chè, một rượu, một đàn bà,

Ba cái lăng nhăng nó quấy ta”



Luật sư Quang Lưu là người ‘đa tài’, nhưng anh “thánh thiện” hơn Cụ Tú Xương ở chỗ: “Anh không có ‘tật’ uống chè, uống rượu, mà chỉ có ‘tật’ mê đàn bà, mê đàn bà đẹp.”



Trịnh Nhật

Sydney, Tháng 8, 2006



Định nghĩa tiếng Anh về “chữ nổi” cho người mù



braille (or Braille) –



o a system of writing or printing for the blind, in which combinations of tangible points are used to represent letters, etc [named after Louis Braille, 1809-82, the inventor] (The Macquarie Dictionary, The Macquarie Library, 1989)



o a system of writing or printing for the blind used characters made up of raised dots (The Penguin English Dictionary, Penguin Books. 2002).



o a system of printing for the blind. The letters are printed as groups of raised dots that you can feel with your fingers (Collins Cobuild Learner’s Dictionary, HarperCollins Publishers, 2000).



o printing for the blind, using a system of dots in relief (Webster’s Dictionary and Thesaurus, Geddes & Grosset, David Dale House, Scotland, 2002)



o a reading system for blind people that uses small raised marks that they feel with their fingers (Macmillan English Dictionary for Advanced Learners, International Student Edition, Macmillan Publishers Limited, 2002)



o a system of writing for the blind consising of raised dots interpreted by touch (Collins Australian Compact Dictionary, CollinsHarpers Publishers, 2002)


Kết hợp ngữ

(Collocations)



float verb

1 nổi (trên mặt nước), (bay) lơ lửng (trên không)

* ADV gently nhẹ nhàng | downstream xuôi giòng, downwards hạ xuống (đất) | upwards ngược giòng, lên (trời) cao In the dream my feet leave the ground and I start to float upwards Trong giấc mơ chân cẳng tôi rời khỏi mặt đất và bắt đầu bay lơ lửng lên cao . | about, around loanh quanh away, off (bay) đi
* VERB + FLOAT seem to xem ra, có vẻ, hình như Her voice seemed to float on the water as gently as a slight mist Tiếng nói của cô ta có vẻ như bồng bềnh/nhấp nhô trên nước dịu dàng như màn sương nhẹ.
* PREP across ngang qua A few small clouds floated across the sky Một vài đám mây nhỏ lững lờ trôi trên bầu trời. down xuôi xuống chunks of ice floating down the river những tảng băng nhỏ trôi xuôi giòng sông in trong pieces of wood floating in the water những miếng gỗ trôi dạt trong nước on trên A few leaves floated on the surface of the water Một vài chiếc lá nổi trên mặt nước.

2 thả nổi tiền tệ

* ADV freely tự do The government decided to allow the peso to float freely Chính phủ quyết định cho đồng peso dược tự do thả nối.
* VERB + FLOAT allow sth to cho (phép) cái gì được; để cho cái gì đuợc

wave noun

1. sóng, sóng nước

§ ADJ big, enormous, giant, great, huge, mountainous lớn, cả

§ | small, tiny nhỏ | white-capped, white-crested, white-topped bạc đầu | breaking tan | tidal (sóng) thần Several villages have been des­troyed by a huge tidal wave Nhiều làng mạc đã bị sóng thần khổng lồ tiêu hủy.

§ verb + wave ride cưỡi, lướt, trượt Surfers flocked to the beach to ride the waves Những tay chơi lướt sóng dổ xô ra bãi biển để lướt/cưỡi sóng.

§ wave + verb rise dâng | break, fall vỗ We watched the waves breaking on the shore. | lap vỗ nhẹ the gentle sound of waves lapping the sand tiếng sóng nhẹ vỗ vào cát | crash, roar, smash đập, gầm I could hear the waves crash against the rocks Tôi có thể nghe tiếng sóng đập vào những tảng đá.

§ wave + noun energy, power năng lực, năng lượng

§ prep in the ~s trong ~ children playing in the waves on the ~s trên ~ There were seagulls bobbing on the waves Có những con chim hải âu đang nhấp nhô/bập bềnh trên sóng nước..

§ phrase the crash/crashing/lap/lapping of the waves cái đập/cái vỗ của sóng nước the crest of a wave (thường dùng nghĩa bóng) đỉnh cao danh vọng, nổi tiếng như sóng cồn She is on the crest of a wave at the moment following her Olympic success Cô ta đang trên đỉnh cao/nổi như sóng cồn vào lúc này sau sự thành công tại Thế vận hội.

2. làn sóng (chuyển động năng lượng)

* adj electromagnetic điện từ light ánh sáng radio truyền tin seismic địa chấn shock chấn động, kinh hoàng sound âm thanh
* verb + wave emit, generate phát đi, phát ra | deflect đổi chiều, chuyển hướng
* WAVE + verb bounce off sth dội lại, bật ngược lại travel chuyển động Sound waves bounce off objects in their path Sóng âm thanh dội lại khi chạm phải vật cản trên đường chuyển động.



3. tăng, gia tăng, lan tràn, tràn

* ADJ big, enormous, huge, massive lớn, khổng lồ | fresh, new, next, recent mới, sắp tới | first đầu tiên, lần thứ nhất, second lần thứ nhì, etc. the first wave of immi­gration in the 1950s làn sóng di dân đầu tiên vào thập niên/thập kỉ/những năm 1950 | crime tội phạm
* verb + wave send chuyển Hearing the tune again sent waves of longing through her Nghe lại giọng điệu đó khiến cô ta tràn ngập niềm mong ước/nhớ nhung.
* wave + verb sweep (over) sth, wash over/through sb/sth tràn qua cái gì With the fall of the Bastille in 1789, a wave of eu­phoria swept over Europe Với việc xụp đổ/phá tan ngục Bastille năm 1789, một làn sóng vui mừng hồ hởi đã tràn qua Châu Âu o A wave of relief washed over him as he saw that the children were safe Lòng chàng tràn ngập nỗi/cảm giác nhẹ nhõm khi chàng trông thấy những đứa trẻ/con mình an toàn.
* prep ~ of a big wave of refugees một làn sóng lớn dân tị nạn

4. (cái) vẫy tay, khoắc tay, xua tay

* adj quick nhanh, khoắc, thoắt một cái | cheery vui vẻ friendly thân thiện/mật | farewell, parting từ biệt, tạm biệt, chia tay.
* verb + wave give (sb), return đáp lễ, đáp lại I returned his wave and started to walk towards him Tôi (vẫy tay) đáp lại cái vẫy tay của anh ấy và bắt đầu bước lại phía anh.
* prep with a ~ bằng một cái ~ | ~ of He dismissed her thanks with a quick wave of the hand Chàng ta gạt lời nàng cám ơn bằng cái khoắc tay/xua tay khoắt một cái..



ocean noun

biển, đại dương

* ADJ deep sâu | vast rộng, bao la | great lớn, đại (dương) exploring the depths of the three great oceans thám hiểm chiều sâu của ba đại dương | open (biển) cả/khơi A storm started up once we got out into the open ocean Một trận bão nổi dậy vừa khi/đúng lúc chúng tôi ra tới biển khơi. | tropical, warm nhiệt đới, nóng ấm | southern phía nam penguins of the southern oceans những con chim cánh cụt của/thuộc các đại dương phía nam/nam bán cầu.
* VERB + ocean cross, sail băng qua | explore khám phá
* OCEAN + noun depths the darkness of the ocean depths sự tăm tối/tối đen của đại dương sâu thăm thẳm | surface mặt | bed, floor đáy, sàn | basin | water nước | wave sóng a life on the ocean wave cuộc sống trên biển/đại dương | current luồng/dòng nước, thủy lưu | voyage chuyến đi, cuộc hành trình (đường biển) , chuyến hải hành | liner tầu (biển/đi biển)
* PREP across the ~ khắp trade across the Atlantic Ocean mậu dịch khắp Đại Tây Dương in the ~ xuống, trong Various toxic substances have been dumped in the ocean Nhiều độc chất đã được đổ xuống biển.
* PHRASE the bottom/depths/middle/surface of the ocean đáy/chiều sâu/giữa lòng/trên mặt đại dương, the oceans of the world những đại dương của thế giới. great ships that sailed the oceans of the world những tầu lớn mà chúng đã vượt qua các đại dương của thế giới.

WLP
07-28-2007, 07:35 PM
Của đi thay người

Chín năm trước đây, cũng vào ngày này, tháng này, 31 Tháng 8, 1997, một tai nạn xe cộ khủng khiếp, đã làm cả thế giới xôn xao, xảy ra trong một đường hầm (tunnel) tại Paris, Pháp Quốc, gây cho 3 người chết là Diana Quận chúa xứ Wales (Princess of Wales), người tình mới của cô (her new lover) Dodi Al-Fayed, và tài xế Henri Paul khi chiếc xe Mercedes của họ đụng vào cây cột trụ (pillar) số 13 trên đường hầm. Người duy nhất sống sót (the only survivor) là chàng vệ sĩ (bodyguard) của Fayed tên là Trevor Rees-Jones (http://en.wikipedia.org/wiki/Trevor_Rees-Jones), người duy nhất ngồi trong xe có cài dây an toàn (wearing a seatbelt). Henri Paul và Dodi Fayed bị chết tốt/tức khắc/tức thì/liền (killed instantly), còn Diana ngồi phía sau, bị tử thương và chết trong bệnh viện sau những cố gắng/nỗ lực hồi sinh (resuscitation attempts) cho cô bị thất bại/không thành (failed).

Dư luận thế giới đổ tội cho phóng viên báo chí (reporters) đã gây ra cái chết của Diana, cho rằng những tên năng nổ săn tin này đã vùn vụt phóng xe chạy theo xe của cô. Diana chết tức tưởi giữa độ xuân thì khi mà nhan sắc, của cải, danh vọng, quyền quí, tình ái của nàng vẫn chẳng mấy ai bì kịp. Thế mà một phút phù du, một tích-tắc định mệnh!

Ngày 13 Tháng 7, 2006 mới đây, một tờ báo của Ý, tờ “Chi” đã cho đăng vài tấm hình chụp Diana trong giờ phút cuối cùng (last moments) của cô, coi như ‘pha’ sự ngăn cấm không chính thức (unofficial blackout) việc phổ biến những tấm hình đó. Hình ảnh đã được chụp chỉ vài phút sau khi xảy ra tai nạn và cho thấy Diana ngồi sụp đầu/gục cổ (slumped) ở ghế sau xe trong khi một nhân viên cứu thương (paramedic) đang loay hoay úp mặt nạ dưỡng khí (oxygen mask) vào mặt cô. Những hình ảnh này cũng được đăng trên các tạp chí và nhật báo khác của Ý và của Tây Ban Nha.

Chủ Bút tờ tạp chí Chi bênh vực cho quyết định của mình khi nói rằng ông cho đăng những hình ảnh đó chỉ vì “lí do đơn giản (simple reason) là từ trước giờ chưa có ai được coi những tấm hình đó” và vì ông cảm thấy những hình ảnh đó không làm mất đi sự kính trọng (disrespect) đối với lòng tưởng nhớ của người ta dành cho Quận Chúa Diana. Giới truyền thông báo chí Anh thì nhất định không cho đăng những hình ảnh này. Còn hai cậu con trai của nàng là William và Harry thì lấy làm buồn lòng có lẽ cho rằng những hình ảnh có tính cách ma quái (ghoulish) đó vô hình trung bôi nhọ cái vẻ duyên dáng, quyến rũ (glamour) của bà mẹ yêu quí của mình.

Câu chuyện dĩ vãng bên phiá trời Tây là như vậy. Người có vẻ đẹp Trời cho, nhưng Trời cũng đọa đầy, khác chi thân phận nàng Kiều bên phiá trời Đông:




Bắt phong trần phải phong trần,

Cho thanh cao mới được phần thanh cao.

[If doomed to roll in dust, we’ll roll in dust;

We ‘ll sit on high when destined for high seats.

(Huỳnh Sanh Thông dịch)]



Khác chăng là Kiều được sống trọn đời, trọn kiếp người, trong khi Diana vĩnh viễn ra đi lúc mới 34 tuổi. Việt Nam ta thường nói: “Trời kêu ai người ấy dạ.” Diana đã ngoan ngoãn lên tiếng “Dạ” đúng lúc ông Trời kêu.



Mê man dông dài về thân phận làm người, về những vẻ đẹp kiếu diễm, nhưng không vì thế mà chúng ta quên bài học Anh Ngữ tuần này với chủ đề “Của đi thay người”. Diana của thế giới, của Đệ nhị thiên niên kỉ (the second millennium) đã để “Người đi thay của”.



Ngày Thứ Năm, 20 Tháng 7, 2006, tôi được Ủy ban Quan hệ Cộng đồng (Community Relations Commissions, gọi tắt là CRC) điện thoại kêu đi làm thông dịch tại Bộ Gia Cư (Department of Housing) ở Broadway, Sydney từ 1 giờ đến 3 giờ chiều. Đây là một vụ block booking (đặt trước làm thông dịch vào một số giờ nào ấn định sẵn trong tuần của cơ quan). Tôi lái xe lên Phố (City) và gửi xe trong nhà đậu xe (car park) gần đó, rồi đi bộ khoảng 500 mét tới nơi làm việc là Bộ Gia Cư, chi nhánh Broadway, nằm trên Đường Parramatta Road. Khi xong việc lúc 3 giờ chiều tôi ra lấy xe và lái xe về Bankstown vì có hẹn với người bạn, rủ nhau đi ăn phở (Vietnamese beef noodle soup) sau 4 giờ chiều. Tôi lái xe trên đường Canterbury Road, khi đến Đường Stacy Road tôi quẹo mặt, rồi quẹo trái vào Đường Macauley Avenue vào khoảng 4 giờ chiều với ý định quẹo mặt ở Đường Chapel Road South để vào khu buôn bán/thương mại Bankstown .

Lúc đó tôi lái xe với tốc độ 40-50 cây số môt giờ, trong khu vực/vùng có bảng chỉ tốc độ tối đa là 60km/giờ (the marked 60km/h zone), theo sau chiếc xe nhỏ màu xanh lá cây đậm, và cách xe này chừng 6 mét. Khi tôi còn cách Đường Chapel Road South khoảng 100 mét, tôi nhảy mũi/hắt-xì (sneezed) rồi ngay lúc đó tôi nghe một tiếng “Ầm” (Bang) lớn như Trời sập, tôi nghĩ là tôi đã tông vào phiá sau chiếc xe màu xanh đằng trước, đồng thời tôi bị tông vào phiá sau xe thật mạnh. Trước khi tai nạn xẩy ra tôi rất tỉnh táo, mắt tôi luôn luôn liếc nhìn chiếc xe chạy phiá trước. Tôi còn nhớ rõ (remembered vividly) là bàn chân tôi không đạp trên chân thắng (brake) cũng không đạp trên chân ga (accelerator) khi tôi hắt-xì. Mọi chuyện xảy ra trong tích-tắc (a split-second). Sau khi tai nạn xảy ra, tôi không có dịp nhìn vào kính chiếu hậu trong xe (rear-vision mirror), mà cũng không nhìn vào kính chiếu hậu bên ngoài xe (side-mirror) để coi xem xe nào tông vào xe tôi vì ghế ngồi của tôi bị đẩy lên phía trước (had been pushed foraward), rồi nằm ngả xuống phía sau (laid backwards). Tôi ráng cởi dây cài an toàn trên ghế ngồi (unbuckle my seatbelt) để ra ngoài nhưng tôi thấy hai cánh tay bị tê (numb), còn các ngón tay trên hai bàn tay thì rần rần như bị kim châm (pins and needles). Tôi không thể dùng bàn tay để tắt máy xe (switch off the ignition) hay cởi dây cài an toàn. Nhân viên cứu thương (paramedics) của xe cứu thương/hồng thập tự (ambulance) chăm sóc cho vết cắt và vết bầm (the cut and bruise) trên cằm của tôi. Họ cho biết tôi bị mất một chiếc răng cửa hàm dưới, mà tôi sau đó biết là chiếc răng giả. Tôi bị chảy máu trong miệng vì bị rách phía bên trong môi dưới. Toán cứu hộ (rescue team) phải cưa cửa phía bên tài xế để đưa tôi ra khỏi xe vì như họ nói họ phải cẩn thận không để rủi lỡ có những điều không hay xảy ra (they did not take any chances) cho tôi. Trường hợp tai nạn của tôi rất dễ có thể bị chấn thương cột sống (spinal injuries). Họ chuyển tôi sang băng-ca (stretcher) đưa lên xe cứu thương. Tôi được chở đến bệnh viện Liverpool thay vì Bansktown vì như họ nói là gần nhà tôi ở Casula, mà tôi đã có lần đặt tên cho nó là Cả sự lạ (all the strange and wonderful things). Ớ nhà thương Liverpool, tôi được đưa và khu cấp cứu (emergency ward), chuyển giao cho y tá sàng lọc ưu tiên tiếp nhận con bệnh [triage nurse (‘triage’gốc tiếng Pháp, thường được phát âm theo tiếng Pháp)]. Bác sĩ tên Ken Robinson và các y tá lo cho tôi hết mình, nào là chích thuốc giảm đau (morphin), uống thuốc giảm đau (panadeine forte), đo điện tim/xem tim động đồ/kí [Electrocardiogragh (ECG)], chụp quang tuyến (X-rays) cho vùng ngực và xương chậu (the chest and pelvis area). Tôi nằm chờ đợi, đợi chờ thì đến giờ chót, tôi được Bác sĩ cho xuất viện (discharged) lúc 11.30 tối hôm đó.

Tôi may mắn có bà xã Anh Thư và cháu Phước, thông dịch viên y tế bệnh viện Liverpool, đưa tôi ra xe về nhà ngủ thay vì phải nằm lại ở nhà thương. Xin cảm tạ tất cả mọi người, ngoài người thân trong gia đình, là nhân viên cứu hộ, nhân viên cứu thương, nhân viên cảnh sát, nhân viên quang tuyến, bác sĩ và các y tá, đã săn sóc và cho tôi niềm an ủi ở những lúc cần có niềm an ủi nhất. Ôi sung sướng, hạnh phúc thay! “Của đi thay người!” Cái xe Toyota, Seca đời 1999 của tôi bị bẹp rúm, vô phương sửa chữa (written-off), nhưng đã được cơ quan bảo hiểm NRMA bồi thường bằng tiền, hơn 9.000 đô-la Úc, trong khi nghe nói thời giá lúc này bán được 6.000 đô-la là cùng. Tất nhiên họ cũng trừ đi 500 đô-la tiền excess (tiền tối thiểu trả cho hãng bảo hiểm) vì mình lỗi đụng xe trước (hãng bảo hiểm của mình bồi thường cho xe đó), còn xe sau là xe “van” (loại xe thùng) bị cảnh sát phạt vi cảnh (traffic infringement/fine) chắc vì phóng nhanh quá không làm chủ được tốc độ. Hãng bảo hiểm của họ chắc phải bồi thường cho hãng bảo hiểm của mình. Trong tai nạn những tưởng rồi sẽ có ngày “thân tàn ma dại” này, Ông Trời đã thương để cho “của” quí của tôi về lại với mình, với cả vốn lẫn lời!



Nghe theo anh Lưu Dân, Chủ Bút Tuần Báo Dân Việt, thì khi Ông Trời kêu đến mình: “Chớ có ‘Dạ’ vội, mà thưa với Ngài rằng: ‘ Sorry, My Lord, I’m busy, could you call somebody else, please?”.



Trịnh Nhật
Sydney, Tháng 8, 2006

[B]
Kết hợp ngữ
(Collocations)

life noun



1 sinh vật

* ADJ intelligent thông minh, khôn, giống/tương tự như trên trái đất Is there intelligent life on other planets? Có sinh vật trên các hành tinh khác không? | animal con vật, bird chim, human người, insect côn trùng, marine (thuộc về) biển, plant cây cối, thảo mộc
* LIFE + NOUN form hình thức, hình thể, dạng | cycle chu kì



2 đời sống, cuộc sống, sinh mạng, nhân mạng, còn sống

* VERB + LIFE lose mất He lost his life in an air crash Anh ta thiệt mạng trong một vụ aáy bay rớt. | bring sb back to, restore sb to hồi sinh ai/người nào | cling to bám víu, fight for bấu víu, cầm cự, tranh đấu để/cho She clung to life for several weeks Cô ta sống cầm cự được vài tuần lễ | risk liều She risked her life for the sake of the children Cô ta liều mạng mình vì các con | save cứu a drug that will save lives một chất thuốc nó sẽ cứu được mạng sống | spare tha She begged the soldiers to spare her son's life Bà ta xin các binh sĩ tha chết cho con trai bà | give, lay down, sacrifice hi sinh | claim, cost, end, take tổn thất, làm mất đi The crash claimed 43 lives Vụ đụng xe làm thiệt hại 43 sinh mạng o His foolishness almost cost him his life Sự ngu ngốc của hắn suýt làm cho hắn mất mạng o She took her own life Cô ta tự kết liễu đời mình | start (nghĩa bóng) hồi (sinh); làm lại The restaurant started life as a cinema Hiệu ăn sinh hoạt lại/làm lại cuộc đời dưới hình thức rạp chiếu bóng.
* LIFE + VERB be lost thiệt (mạng) No lives were lost in the accident Không có ai bị thiệt mạng trong tai nạn đó.
* LIFE + NOUN assurance, insurance bảo đảm, bảo hiểm
* PHRASE an attempt on sb's life một vụ/cuộc mưu sát There have been three attempts on the president's life Đã có ba vụ mưu sát vị tổng thống/viên chủ tịch in fear for/of your life sợ nguy đến tính mạng của bạn Witnesses are living in fear for their life after giving evidence against the gang Các nhân chứng đang sống mà lo sợ cho tính mạng của họ sau khi làm chứng bất lợi cho băng đảng đó. life after death cuộc sống sau khi chết; kiếp sau Do you believe in life after death? Bạn có tin có kiếp sau không? loss of life tổn thất/thiệt hại sinh mạng The plane crashed with heavy loss of life Phi cơ/máy bay rớt gây tổn thất nhân mạng nặng nề a matter of life and death vấn đề sinh tử/sống chết (nghĩa bóng) These talks are a matter of life and death for the factory Những cuộc thương thảo này là vấn đề sinh tử cho hãng ấy the right to life quyền được sống anti-abortionists campaigning for the right to life những phần tử/người chống phá thai vận động cho quyền sống signs of life dấu hiệu còn sống The driver showed no signs of life Không có dấu hiệu gì cho thấy là người tài xế còn sống.



3 cuộc sống, đoạn đời

* ADJ long dài, lâu dài short ngắn, ngắn ngủi | entire, whole trọn, suốt cả | early sớm | adult trưởng thành, người lớn | later về sau, sau này In later life he took up writing Cuối đời ông chọn (nghề) viết văn | past, previous trước, quá khứ, quá vãng He never discussed the unhappinesses of his past life Ông không bao giờ/hề bàn về sự bất hạnh trong đoạn đời quá vãng của mình o I think I may have been an animal in a previous life Tôi nghĩ tôi có thể đã là một con vật (có những đặc tính, tốt hoặc xấu, của một con vật) trong tiền kiếp | future, next tương lai, sắp đến | working làm việc He was a miner all his working life Ông ta đã là thợ mỏ trong suốt cuộc đời làm việc của mình.
* VERB + LIFE go through, live, spend sống, trải qua, trải nghiệm She went through life always wanting what she couldn't get Cô ta sống suốt cuộc đời bao giờ cũng muốn những điều mà cô không thế có được. o He spent his whole life in Cornwall. Anh ta sống cả cuộc đời ở Cornwall. | end chấm dứt, kết thúc, lià He ended his life a happy man Ông lìa đời mà lòng thanh thản tự mãn. | shorten thu ngắn | prolong kéo dài | dedicate, devote chuyên chú, tận tụy He devoted his life to the education of deaf children Hắn tận tụy cả đời mình vào việc giáo dục trẻ em bị điếc.
* LIFE + NOUN history, story tiếu sử, truyện | membership hội viên (cả/suốt đời) | imprisonment, sentence bản án tù (chung thân khổ sai) | expectancy, span (also lifespan) quãng đời, tuổi thọ Japanese people have a very high life expectancy Người Nhật có tuổi thọ rất cao o the life-span of a mouse tuổi thọ/quãng đời của một con chuột.
* PREP for ~ cho ~ She thought marriage should be for life Cô ta tưởng hôn nhân là phải cho suốt cuộc đời/trọn đời in your ~ trong cuộc ~ của bạn for the first time in her life lần đầu trong đời cô ta throughout your ~ Suốt ~ của bạn Throughout her life she was dogged by loneliness Suốt cuộc đời của cô ta cô luôn bị nỗi cô đơn bám riết.
* PHRASE all your life suốt/cả đời (của) bạn I’ve known her all my life Tôi đã quen biết cô ta suốt cả cuộc đời tôi at sb's time of life ở thời điểm trong cuộc đòi của người nào At his time of life he should be starting to take things easy Ở thời điểm này của cuộc đời anh ta anh ta nên bắt đầu coi mọi chuyện như ‘pha’/nhẹ nhàng/thoải mái the end of your life cuối đời của anh/chị/bạn Her paintings became more obscure towards the end of her life Vào lúc cuối đời bà tranh vẽ của bà ngày càng trở nên khó hiểu late in life đoạn cuối đời, muộn màng trong đời She discovered jazz quite late in life Bà phát hiện/biết đến nhạc jazz khá muộn màng trong đời the ... of your life cái/chuyện … cả cuộc đời I had the fright of my life when I saw the snake in my bed Tôi đã sợ hãi cả đời (không hết sợ) khi tôi trông thấy con rắn trên giường mình. o He met the love of his life at college Hắn gặp người bạn đời của mình ở Đại học a phase/stage in/of (your) life một giai đoạn trong/của cuộc sống (của anh/chị) She sensed she was entering a new phase in her life Cô ta cảm thấy cô đang bước vào một giai đoạn mới của đời mình the prime of life đỉnh cao/vàng son của cuộc đời You're still in the prime of life Anh vẫn còn ở thời vàng son the remainder/rest of your life phần còn lại của cuộc đời anh/chị ta He'll be haunted by the crash for the rest of his life Cả cuộc đời còn lại của anh sẽ bị ám ảnh bởi vụ đụng xe đó.



4 sinh hoạt

* ADJ daily, day-to-day, everyday hàng ngày, mỗi ngày | real thật a real-life drama | modern hiện đại | personal, private cá nhân, riêng tư She did not tolerate press intrusion into her private life Cô ta không chịu được chuyện báo chí xâm nhập/xen vào đời tư của mình. | inner nội tâm, (cảm xúc) thật Only his wife had access to his inner life Chỉ có vợ ông mới hiểu được cuộc sống nội tâm của ông | family gia đình married vợ chồng | social xã hội, xã giao | love tình yêu, sex tình dục | public ngoài đời, công cộng His fame was so sudden that he was unprepared for public life Ông nổi tiếng quá bất chợt/bất ngờ đến nỗi ông không chuẩn bị kịp cho sinh hoạt/cuộc sống công cộng/ngoài đời. | academic đại học, khoa bảng, business doanh nghiệp, kinh doanh cultural văn hóa, economic kinh tế, intellectual trí thức, political chính trị, professional chuyên nghiệp, nhà nghề school học đường | night về đêm (also nightlife) What's the nightlife like in the town? Cuộc sống/sinh hoạt về đêm ở thành thị ra sao nhỉ? | city thành phố, đô thị, village làng, làng mạc, làng thôn, etc.
* VERB + LIFE build xây, dựng, xây dựng rebuild xây lại, xây dựng lại, lập lại He built his whole life around his children Chàng ta xây dựng cả đời mình quanh những đứa con. She is still rebuilding her life after the accident Nàng vẫn còn đang xây dựng lại đời mình sau vụ tai nạn ấy.
* PHRASE an attitude to life, an outlook on life, một thái độ nhìn đời a philosophy/view of life một triết lí cuộc sống, một nhân sinh quan I’ve always had a fairly optimistic outlook on life Tôi bao giờ cũng có một cái nhìn khá lạc quan về cuộc sống a love of life lòng/tình yêu đời He always had a great love of life Chàng ta bao giờ cũng yêu đời tha thiết a man/woman in your life một người đàn ông/đàn bà trong đời bạn There has only been one woman in his life Từ hồi nào đến giờ chỉ có một người đàn bà trong đời chàng see sth of life thấy một cái gì trong đời, trải nghiệm cuộc sống I wanted to see something of life before I settled down Tôi muốn trải nghiệm thêm nhiều chuyện trên đời trước khi chết the ... side of life cái khiá cạnh/bộ mặt …của cuộc sống thường nhật His time in London was his first glimpse of the seamier side of life Thời gian ở Luân đôn là lúc hắn lần đầu nhìn thấy bộ mặt trái/sa đọa của cuộc sống want sth from/in/out of life muốn trải nghiệm cái gì từ/trong/có trong cuộc sống They both seem to want the same things out of life Cả hai người xem ra muốn cùng trải nghiệm những thứ/điều/vụ việc giống nhau trong cuộc sống.



5 cách sống, lối sống

* ADJ good, happy vui vẻ, hạnh phúc | lonely cô đơn, miserable khổ sở, sad, unhappy buồn bã, đau khổ | hard khó khăn, cực nhọc | easy dễ dàng | active năng động, hoạt động, busy bận rộn, hectic bù đầu, lu bu | exciting thích thú | full trọn vẹn, đầy đủ, vẹn toàn | peaceful, quiet êm đềm, bình dị, yên tịnh | normal, ordinary thường, bình thường | healthy lành mạnh, khoẻ mạnh | sheltered được che chở/đùm bọc | double hai mặt He had been leading a double life, married to two women Anh ta đã sống cuộc đời hai mặt, lấy hai bà làm vợ.
* VERB + LIFE have, lead, live sống She leads a busy social life Cô ta sống một cuộc sống bận rộn giao du bạn bè | enjoy vui hưởng | change thay đổi Learning meditation changed her life Học thiền đã thay đổi cuộc sống của cô ta | dominate, takeover chế ngự, lấn át, khống chế He never let his work dominate his life Anh ta không bao giờ để công việc chế ngự cuộc sống của mình | ruin làm hỏng He ruined his life through drinking Anh ta đã làm hỏng đời mình vì uống rượu.
* PHRASE build/make/start a new life xây dựng/tạo dựng/làm lại/khởi sự/bắt đầu cuộc đời mới They went to Australia to start a new life Họ đi Úc để bắt đầu một cuộc đời mới enjoy/live life to the full hưởng/thụ hưởng/sống cuộc sống trọn vẹn/tới mức tối đa He always believed in living life to the full, the high life cuộc sống xa hoa, thụ hưởng tối đa enjoying the high life in the smartest hotels and restaurants of NewYork vui hưởng cuộc sống xa hoa trong những khách sạn và nhà hàng hạng sang/lịch lãm nhất của Nữu Ước life of... cuộc sống …They're living a life of luxury in the Bahamas Họ sống cuộc sống xa hoa trong vùng hải đảo Bahamas a/the pace of life tốc độ cuộc sống, nhịp sống The pace of life is much gentler on the island Nhịp độ cuộc sống nhẹ nhàng/êm đềm hơn trên đảo này the quality of life phẩm chất, chất lượng cuộc sống He gave up his high-flying job and now enjoys a better quality of life Hắn đã bỏ công việc làm ăn lao tâm khổ tứ/tổn trí và giờ đây đang sống an nhàn, vui chơi thỏa thích a way of life một cách/lối sống She loved the Spanish way of life and immediately felt at home there Cô ta yêu lối sống Tây Ban Nha và thấy thoải mái khi ở đó.



6 linh động, sinh động, linh hoạt, náo nhiệt, sôi nổi, sức sống

* VERB + LIFE come to trở lại, trở nên The city only comes to life at night Thành phố trở nên sôi nổi về ban đêm | breathe truyền bring sth to đem cái gì đến/lại, inject bơm truyền vào They need some new, younger staff to breathe some life into the company Họ cần một vài nhân viên mới để truyền sức sống mới vào công ti | burst/hum/teem with bừng lên, nở rộ, náo nhiệt, đầy a child bursting with life đứa bé đầy sinh lực
* PHRASE full of life đầy sức sống, còn gân It's nice to see an old man still so full of life Kể cũng thú khi thấy một ông già còn gân/còn ham vui hết mình.

WLP
07-28-2007, 07:37 PM
Thắp nén hương lòng cho Mẹ

Lễ Vu Lan [Vu Lan Festival (Ullambana)], ngày Lễ Hội dành cho Mẹ, hàng năm bắt đầu từ ngày 15 đến 17 Tháng 7 Âm Lịch (Lunar Calendar), thì năm nay rơi đúng vào ngày 8 đến 10 Tháng 8, Dương Lịch (Western/Solar Calendar). Theo thông lệ ở Việt Nam thì Phật tử (Buddhists) và các đạo hữu thường đổ xô/kéo nhau (flock) đến chùa chiền (pagodas), nghĩa địa (cemeteries) trong suốt Tháng 7 để tỏ lòng biết ơn (gratefulness) báo hiếu đối với các bà mẹ của mình. Các chùa chiền ở Úc năm nay cũng đã tổ chức lễ này trễ hơn thường lệ vào những ngày Chủ Nhật 13 và 20 tháng 8, 2006, nghĩa là vào dịp cuối tuần (weekend) cho tiện mọi bề.

Ở các nước nói tiếng Anh, Ngày Lễ Vu Lan có tương đương là Ngày Mother’s Day (Ngày Nhớ Ơn Mẹ/Ngày của Mẹ). Người ta không ăn mừng Mother’s Day cùng một ngày mà ở mỗi nước mỗi khác. Ở Úc năm nay rơi vào ngày Chủ Nhật 14 Tháng 5 Tây, giống như ở Mĩ, nhưng khác ở Anh tổ chức sớm hơn tức là ngày Chủ Nhật 26-3. Vào ngày này con cái tặng quà cho Mẹ, làm tiệc tùng trong nhà, hoặc rủ nhau đi ăn tiệm. Nói chung là ăn mừng người sống, chứ không quan tâm mấy đến người đã chết. Để Quí vị, Quí Bạn có thêm chút khái niệm về “Ngày của Mẹ” theo văn hoá Tây phương, tôi xin viết lại đôi điều qua lời kể lại của một bà Mẹ người Úc ròng (dinky di Aussie) như sau:

“Mother’s Day in Australia, from the Anglo-Celtic point of view (quan điểm của người gốc Anh-cát-lợi, Tô-cách-lan, Ái-nhĩ-lan, xứ Wales), is a day to honour mothers (tỏ lòng tôn kính các bà mẹ), be they dead or alive. It is celebrated on the second Sunday in May. It is usually to buy your mother a gift and arrange a family get-together so that all members of the family can wish her well. Some families arrange picnics (những cuộc đi píc-níc/vui chơi ngoài trời) so that the young ones can run around freely, and the adults can feel more at ease (cảm thấy thoải mái/dễ chịu hơn) in the open air (ngoài trời).

If a mother has died, religious people (những người theo/có đạo) will visit the grave site (mộ phần/nghĩa địa) to lay flowers, clean the grave site and say prayers (cầu nguyện) to honour her. They will often combine this with a get-together afterwards at home, and drink a toast (uống rượu chúc mừng) to the departed (người quá cố/đã khuất) with the rest of the family.

Children will visit the mothers at their home, but as the mother ages, the children usually take on the responsibility of catering for the day (cung cấp đồ ăn thức uống cho ngày hôm đó) to save the mother entertaining them. It is customary for mothers to be served breakfast in bed, if not by her children, then by her husband. She is not supposed to do any work that day, but like all mothers, this custom goes by the wayside (phong tục này cũng dẹp sang bên) when the family arrive.

In the Western world, Mother’s Day has become very much commercialized (thương mại hóa) and shopping centers gear their sales at the time to advertising items (hướng hàng hoá của họ bán ra ở thời gian đó vào việc quảng cáo những món đồ) such as slippers, cosmetics (mĩ phẩm/son phấn), household items (vật dụng dùng trong nhà/gia dụng), clothing, flowers, chocolates or anything that might appeal to women (hấp dẫn/lôi cuốn phụ nữ).”

Lễ Vu Lan năm nay là dịp duy nhất tôi tưởng nhớ đến Mẹ tôi. Nói thế không có nghĩa là tôi không nhớ đến Người. Có chứ, nhưng trong những dịp cúng giỗ, ngày 27 Tháng 5 Ta kìa. Năm nay ngày giỗ Mẹ tôi trùng vào ngày 22 Tháng 6 Dương Lịch.
Bà Cụ thân sinh ra tôi tên Nguyễn thị Cúc, cái tên thật mộc mạc, thật giản dị, cũng như con người của bà vậy. Bà là người con gái thứ nhì trong gia đình có ba trai một gái, sinh tại làng Đại Mỗ, tỉnh Hà Đông (không có nhiều sư tử).

Khi bà mất năm 1986 tại Sàigòn, sau hơn 10 năm mắc bệnh tiểu đường (diabetes), tôi không về Việt Nam được, vì tình hình bên nhà chưa có chính sách cởi mở (glasnost) như ở Liên Sô, mà tình hình ngoài này, Cộng Đồng tị nạn chống Cộng còn nhiều nghi kị (suspicions) với bất cứ ai về Việt Nam dù với mục đích gì. Tôi lúc đó đang dạy Đại Học ở Sydney, và là Điều hợp viên (Co-ordinator) của Hội đồng Văn hóa Giáo dục [Educational and Cultural Council (ECC)] của Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Tiểu bang New South Wales nên việc đi lại Việt Nam lại càng khó hơn. Đến gần 3 năm sau, năm 1989 khi ông Cụ thân sinh ra tôi mất, tôi cũng vẫn chưa thấy thuận tiện để về lo tang lễ (funeral), mặc dù tôi là con một của Cụ. May mà có bà chị (elder sister) và ông anh rể (brother-in-law) ở trong Nam, cùng các cháu con anh chị lo hết mọi chuyện. Phải nói là “tôi chưa hề phải giỏ/nhỏ đến một giọt nước mắt sót thương” (I have never shed any tears of sorrow) cho hai vị có công dưỡng dục sinh thành ra tôi, có lẽ một phần cũng vì ở xa xôi, không nhìn thấy cảnh tượng quần áo khăn tang trắng (the sight of people dressed in white mourning clothes and turbans), không trông thấy linh cữu hạ huyệt (the coffin lowered into the grave), không nghe thấy có tiếng cầu kinh niệm Phật của các nhà sư (the prayers of the Buddhist monks), tiếng khóc sụt sùi (the bitter sobbing) của những người thân thương tiễn Người đi. Tôi vẫn nguyện với mình ở một thời điểm nào thuận tiện, không bận rộn về công ăn việc làm, khi tâm hồn thanh thản hơn (more relaxed), tôi sẽ dành trọn thời giờ, để cho lòng mình thật trùng xuống, tưởng nhớ đến Mẹ thật nhiều (to think, with sorrow to the full, about my Mother). Thời gian ấy có lẽ là đây, là hôm nay, sau hơn 20 năm mất Mẹ.

Tôi mượn bài học Anh Ngữ này để thắp một nén hương lòng cho Mẹ (lighting an incense stick in memory of Mum). Đầu năm 1974 là năm tôi lìa xa bà mẹ thân yêu tại Sài-gòn để sang Úc du học, một điều tôi mong ước từ nhiều năm trước. Cả gia đình, ngoài Bố Mẹ, một bà chị ruột, cùng chồng, và bốn đứa cháu ra tiễn đưa tôi tại phi trường Tân Sơn Nhứt, còn có hai người nữa, một là bạn thân học cùng trường Chu Văn An cũ (nay ở Chicago), và người kia là người em gái tôi yêu (nay ở Houston). Lúc hành khách sắp sửa lên máy bay, tôi lần lượt ôm hôn từ biệt mọi người, hẹn rằng 2 năm sau sẽ trở về gặp lại. Ngay khi tôi quay gót ra máy bay, Mẹ tôi bỗng nhiên níu vội cánh tay tôi rồi hôn thật nhanh, thật nhẹ lên lòng bàn tay (the palm of my hand), có chiều thầm kín, chỉ sợ lỡ có ai trông thấy. Một nỗi xúc động dạt dào, một ý nghĩ mơ hồ thoáng hiện trong tôi: Phải chăng là nụ hôn chót của Mẹ?

Tôi đã vĩnh viễn xa lìa Mẹ kể từ ngày biệt li ấy!

Trịnh Nhật
Sydney, Tháng 8, 2006


[B]Kết hợp ngữ

(Collocations)



mother noun

mẹ, má, thân mẫu, mẫu thân

§ ADJ lone, single đơn chiếc (nuôi con) unmarried chưa lập gia đình, chưa kết hôn She felt proud that she had raised four children as a lone mother Bà ta hãnh diện là đã nuôi bốn đứa con trong hoàn cảnh bà mẹ đơn chiếc | widowed góa | biological, birth, natural, real mẹ ruột, mẹ đẻ | surrogate đẻ thuê, đẻ giùm (cho người khác) | adoptive, foster nuôi step- (cũng còn là stepmother) mẹ ghẻ, kế mẫu | teenage tuổi choai choai, đôi tám young trẻ elderly, old lão niên, cao niên, già | dead, deceased, late đã chết, đã qua đời, quá cố, đã từ trần | good, excellent, loving, wonderful tốt bụng, tuyệt hảo, dễ thương, tuyệt vời | proud hãnh diện the proud mother of the bride bà mẹ hãnh diện của cô dâu | doting, over-protective, possessive nuông chiều, cưng chiều, bảo bọc, bảo vệ, che chở (quá đáng/quá trớn) | stern, strict khó, nghiêm khắc | dominant, domineering áp bức, lấn át, độc đoán | bad, unfit không thích hợp The court decided she was an unfit mother Tòa án quyết định là bà ta không thích hợp vai trò làm mẹ | anxious, distraught, frantic nóng ruột, nôn nao, bồn chồn, lo lắng (phát điên lên) Her distraught mother had spent all night waiting by the phone Bà mẹ lo lắng/bồn chồn đã thức suốt đêm đợi bên máy điện thoại | expectant, pregnant có bầu, mang thai, sắp sinh (cũng còn dùng) mother-to-be (nôm na) bà mẹ tương lai | first-time lần đầu | new mới (có con) | full-time toàn thời/thời gian | breast-feeding cho bú sữa mẹ | sick ốm, đau bệnh/bịnh caring for his sick mother chăm sóc cho bà mẹ bị đau ốm | working đi làm, làm việc

§ VERB + MOTHER resemble, take after giống, trông giống The two boys were like their father in character, but Louise took after her mother Hai cậu con trai giống cha về tính tình/tính nết, nhưng cô Louise thì lại giống mẹ | inherit sth from thừa hưởng, thừa kế She inherited the urge to travel from her mother Cô thừa hưởng cái khoái/thú/lòng ham muốn đi du lịch của bà mẹ cô.

day noun

1. ngày, hôm (thời gian 24 tiếng đồng hồ),

§ ADJ the following, (the) next (hôm) sau, kế tiếp | the previous (hôm) trước | the other (hôm) nọ I was in your area the other day Hôm trước/nọ tôi ở trong khu vực của anh | one một | some nào đó I hope we meet again some day Tôi hi vọng chúng ta sẽ gặp lại ngày/hôm nào đó. | The very chính, cùng It happened on the very day that Kemp was murdered Chuyện ấy đã xảy ra đúng/chính cái ngày thằng Kemp bị giết chết. □ The parcel arrived the very next day Cái gói hàng/bưu kiện đó đã đến ngay ngày hôm sau. | auspicious tốt, big trọng đại, eventful đầy biến cố, field tự do/tha hồ thao túng, (có) cơ hội tốt historic lịch sử, memorable đáng nhớ, red-letter đặc biệt, vui, đáng ghi nhớ, special đặc biệt The tabloid press had a field day with the latest government scandal Với vụ xì-căng-đan/tai tiếng/bê bối của Nhà nước/chính phủ mới đây báo chí lá cải đã vớ được món bở/cơ hội tốt (tha hồ thao túng/làm mưa làm gió). | fateful định mạng, sad buồn, u buồn, ảm đạm those killed in the hail of bullets fired on that fateful day những kẻ bị bắn chết trong làn mưa đạn vào ngày định mạng ấy | Christmas Lễ Giáng sinh, Mother’s Nhớ ơn Mẹ, của Mẹ, etc. | feast, holy lễ hội, lễ thánh | election bầu cử, opening khai trương, khai mạc, market chợ phiên, pay trả lương, polling bầu phiếu, sports thể thao, visiting thăm viếng, wedding cưới | rest nghỉ, school đi học, tại trường study (được nghỉ để) học thi, luyện cho kì thi (sắp đến) training huấn luyện, đào tạo, tập huấn the pattern of the school day mô hình/điển hình của ngày học trong trường/tại học đường.

§ DAY + VERB pass qua, trôi qua He thought of her less as the days passed Thời gian/ngày tháng trôi qua chàng càng ngày càng bớt nhớ đến nàng.

§ PREP by the ~ ngày lại ngày, mỗi ngày qua He’s getting stronger by the day Ngày qua ngày hắn trở nên khoẻ mạnh hơn for a/the ~ được They stayed for ten days Họ ở lại (được) 10 ngày. in a/the ~ trong vòng ~ We hope to finish the job in a few days Chúng tôi hi vọng làm xong việc trong vài ngày nữa. on the ~ (of) vào ngày ~ On the day of his wedding he was very nervous Vào ngày cưới của hắn, hắn khớp/bối rối thấy rõ/ra mặt.| ~ of của, có It was the day of the big match Đó là ngày của/có trận đấu lớn.

2. ngày (khoảng thời gian từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn)

§ ADJ beautiful đẹp trời, bright tươi sáng, fine đẹp trời, glorious rực rỡ, huy hoàng, hot nóng, nice đẹp, sunny (có) nắng, warm nóng, ấm | cold lạnh, grey u ám, xám ngoét, rainy mưa, windy gió | autumn thu, spring xuân, summer/summer’s hạ, winter/winter’s đông a fine summer’s day một ngày hè đẹp trời | fun, good, great, happy vui, lovely, wonderful tuyệt vời Memories of happy days on the hills never fade Những kỉ niệm của những tháng ngày vui trên (những ngọn) đồi không bao giờ phai mờ/nhạt | bad xấu On a bad day chaos reigns and nobody can predict when a plane will leave Vào một ngày xấu đầy hỗn loạn/xáo trộn/nhốn nháo thì không ai có thể tiên đoán được khi nào máy bay mới bay/cất cánh | full trọn vẹn, cả, nguyên I knew I had a full day’s driving ahead of me Tôi (đã) biết tôi (đã) còn phải lái xe trọn một ngày nữa.

§ VERB + DAY spend dùng We spent the day gardening Chúng tôi dùng hôm đó vào việc làm vườn.

§ DAY +VERB break, dawn sáng, rạng đông, tảng sáng, bình minh As day dawned I found her already hard at work Khi trời mới rạng đông/tảng sáng tôi đã thấy bà cặm cụi/còng lưng làm việc rồi.

§ PREP by ~ về/vào ban ~ We travelled at night and rested by day Chúng tôi đi/di chuyển vào/về ban đêm và ban ngày thì nghỉ khoẻ. during the ~ suốt ~, for a/the ~ cả ~ We went to the seaside for the day Chúng tôi ra bờ biển chơi cả ngày hôm đó.

§ PHRASE all day (long) suốt ngày, at the end of the day cuối ngày, day and night cả ngày lẫn đêm, one of those days Một trong những ngày (xui/hên) It’s been one of those days when everything’s gone wrong Đó là một trong những ngày xui, chuyện gì cũng hỏng.

3. những giờ làm việc trong ngày

§ ADJ working làm việc | bad, busy, hard bận rộn, bù đầu long dài, tiring mệt mỏi a hard day at the office | good, quiet yên tĩnh | 7-hour 7 giờ, 8-hour 8 giờ, etc. a 9-hour working day một ngày làm việc 9 tiếng.

§ PHRASE a good day’s work một ngày làm việc tốt/hài lòng/đâu vào đó (như đã định/dự tính)

4. (thường days) khoảng thời gian đặc biệt/cụ thể nào đó

* ADJ early đầu, thoạt đầu, former, old, olden trước, xưa, xưa kia in the early days of cinema trong những thời kì/ngày đầu của phim ảnh/chiếu bóng/xi-nê-ma. | school, student còn đi học, còn là học sinh, young còn trẻ in his younger days hồi hắn còn trẻ hơn bây giờ | golden, happy, heady vẻ vang, vàng son, vui sướng, hạnh phúc, sôi nổi the heady days of the ‘swinging sixties’ những ngày sôi nổi của ‘thập niên 60 đầy biến chuyển/đổi thay (sống híp-py/ buông thả, tự do luyến ái, trang phục sặc sỡ)’. | dark đen tối the dark days of recession những ngày đen tối của tình trạng/cuộc suy thoái kinh tế.
* PREP in sb’s ~ trong/vào/ở thời của ai Things were very different in my grandfather’s day Mọi chuyện ở thời ông nội/ngoại tôi khác hẳn (thời bây giờ/nay). of the ~ the government of the day chính phủ đương quyền/đương thời since the ~s of kể từ những ngày Much has changed since the days of my youth Không có mấy thay đổi kể từ những ngày tôi còn trẻ.
* PHRASE gone are the days when … Còn đâu nữa những ngày Gone are the days when you could do a week’s shopping and still have change from £20 Còn đâu nữa những ngày khi bạn có thể mua đồ cho cả tuần lễ mà vẫn chưa xài hết đồng 20 bảng Anh (trả 20 bảng Anh mà còn được thối lại) the bad/good old days những ngày khốn khó/vàng son trước kia/hồi đó That was in the bad old days of rampant inflation Đó là những ngày/thời kì xa xưa khổ vì nạn lạm phát tràn lan. In this day and age ngày nay, in those days những ngày đó, hồi đó the present day hiện giờ, ngày nay a study of European drama, from Ibsen to the present day cuộc nghiên cứu về kịch nghệ, từ Ibsen tới ngày nay these days thời nay Kids grow up so quickly these days Trẻ con thời nay chóng/mau lớn thật lẹ. Those were the days Đó là những ngày/thời kì, hồi/thời đó (= thường nói về thời gian trong quá khứ tốt đẹp/ngon lành hơn bây giờ)

WLP
07-28-2007, 07:40 PM
Chữ ‘tài’ liền với chữ ‘tai’


Qua bài viết lần trước tôi có kể một câu chuyện tiếu lâm (risqué joke), trong đó có đề cập đến một yếu tố di truyền học:

Khi có một chị thỏ bạch (white) làm tình với một chú thỏ nâu (brown), rồi gần ngay sau đó lại làm tình với một chú thỏ đen (black) thì khi chị thỏ cái có bầu, thỏ con sinh ra sẽ có mầu (colour) gì? Câu hỏi chưa được trả lời, vì chưa có chuyện “ấy”, thì tôi nhận được một ‘email’ (meo) của một người bạn thân từ Chicago (Mĩ Quốc) gửi kèm theo một bài thơ tạm gọi là “Da màu”, của một em bé Phi Châu. Bài thơ đã được đề cử/nghị (nominated) là bài thơ hay nhất (the best poem) năm 2005, nguyên văn như thế này (xin tạm quên lỗi văn phạm tiếng Anh của em này trong giây lát):



When I born, I black.
When I grow up, I black.
When I go in sun, I black.
When I scared, I black.
When I sick, I black.
When I die, I still back.
You are white people.
When u born, u pink.
When u grow up, u white.
When u go in sun, u red.
When u cold, u blue.
When u scared, u yellow.
When u sick, u green
When u die, u gray...
And U calling me colored???

Bài thơ này đã được một anh bạn cho một bản dịch sát nghĩa (semantic translation) sang tiếng Việt như sau:

Khi tôi sinh ra, tôi màu đen.

Khi tôi lớn lên, tôi màu đen.

Khi tôi đi dưới nắng, tôi màu đen.

Khi tôi sợ, tôi màu đen.

Khi tôi bệnh, tôi màu đen.

Và khi tôi chết, tôi vẫn màu đen.

Còn bạn, hỡi người da trắng.

Khi bạn sinh ra, bạn màu hồng.

Khi bạn lớn lên, bạn màu trắng.

Khi bạn đi dưới nắng, bạn màu đỏ.

Khi bạn lạnh, bạn màu xanh.

Khi bạn sợ, bạn màu vàng.

Khi bạn bệnh, bạn màu xanh (lá).

Và khi bạn chết đi, bạn màu xám.

Thế mà bạn gọi tôi là da màu ư ???



sinh ra (= to be born); tôi màu đen (= I’m black); lớn lên (= to grow up); sợ (= to be scared); đi dưới nắng (= go under/in the sun); bệnh (= to be sick); chết (= to die); người da trắng (= white people); U (= you); lạnh (= to be cold); màu xám (= gray/grey); da màu (= coloured).


Lại có một bản dịch thoát nghĩa (communicative translation) sang tiếng Việt của một anh bạn khác như thế này:

Em là người gốc Phi Châu
Sinh, lão, bệnh, tử một mầu
Dù mưa dù nắng dãi dầu
Đen tuyền chẳng thay chẳng đổi
Không như những người da trắng
Chào đời, đỏ hồng hon hỏn
Phơi nắng, da đỏ au au
Lúc giận, mặt vàng như nghệ
Gặp lạnh, mặt mày tím ngắt
Đau ốm, mặt mũi xanh xao
Lìa đời, làn da xám xịt
"Thất sắc" da anh đủ mầu
Chắc là các anh loạn mắt
Gọi da chúng em da mầu?

Tôi đặc biệt thích bài thơ tiếng Việt này, nên cố mày mò chuyển ngữ lại (back translate) sang tiếng Anh để bà con cô bác nghiền ngẫm chơi vui:

I come from Africa
Our lives have four stages
We are born, we grow old, we sicken and die.
Always we are the same colour.
Regardless of the weather, rain or shine,
Black is forever black.
Not like you white people.
At birth, you are new-born pink,
You sunbake, your skin turns lobster-red.
When angry, your face turns saffron-yellow.
When cold, your face turns blue
And when sick, it becomes pale and white.
You die, your skin is death-grey.
Seven shades of colour, you have them all.
Are you not colour-blind
When you call us coloured?

Phi Châu (= Africa); four stages (= bốn giai đoạn); regardless (= bất kể); the weather (= thời tiết); rain or shine (= mưa hay nắng); at birth (= lúc chào đời); sunbake (= tắm nắng); lobster-red (= đỏ như tôm hùm; đỏ au au); saffron-yellow (vàng nghệ); blue [= (xanh) tím ngắt]; xanh xao (pale and white); death-grey (xám xị; xám như lúc chết); colour-blind (= loạn sắc).

Bài học tuần này có chủ đề “Chữ tài liền với chữ tai”, nghĩa là người có tài thường hay gặp hoạn nạn. Nguyễn Du đã lấy nàng Kiều ra làm thí dụ để cảnh cáo người đời:

Có tài mà cậy chi tài,
Chữ tài liền với chữ tai một vần
[In talent take no overweening pride,
For talent and disaster form a pair.
(Huỳnh Sanh Thông dịch)]

Trong những năm gần đây lăn lộn với cuộc sống, quan sát, để ý, tiếp xúc, cọ sát với nhiều người trong xã hội, tôi đã rút ra được một bài học và lấy đó làm một phần trong triết lí sống, nhân sinh quan của mình:

“Mình hơn người khác là mình có tội, khi bị người khác chửi bới, đả kích, thị phi, thì mình biết là mình có lỗi”.

Có người hỏi tôi tại sao, người ta chửi mình mà mình lại có lỗi? Câu trả lời: Mình nhận là mình có lỗi vì mình chửi lại, mình “thanh minh thanh nga” trên báo chí, thì câu chuyện về cá nhân mình cũng sẽ được phơi bày dài dài, không biết bao giờ mới dứt, không biết nó sẽ đưa mình đến đâu. Một khi mình biết mình là ai, mình biết là không làm chủ được những cảm xúc (emotions), hành động (actions) của người khác thì tốt hơn là nên quay về tự làm chủ lấy cảm xúc, suy nghĩ của chính mình. Để làm gì? Bạn hỏi. Để cho tâm mình an, hồn mình yên vui chứ còn sao nữa! Một người bạn gái gốc Úc-Tân Tây Lan của ba chục năm trước đã truyền lại cho tôi lời Mẹ dặn: “Never complain, never explain” (Khỏi cần than van/phàn nàn, khỏi cần giải thích/luận bàn).

Mà Quí Bạn ơi! Cổ nhân ta đã chẳng khuyên: “Tri bỉ chi kỉ, bách chiến bách thắng” (If you know your foe and yourself well, you will win the hundred battles you wage) đó sao?

Quan niệm “Chữ tài liền với chữ tai một vần” hay thuyết tài mệnh tương đố (talent and destiny often diverge), có thể có cái tương đương trong văn hoá Úc, mà người ta thường nói đến là The Tall Poppy Syndrome (tạm dịch: Hội chứng Cây cao Chặt đẹp). Nghĩa đen của cụm từ tiếng Anh trên là: tall (cao), poppy (cây thuốc phiện), syndrome (hội chứng). Hình ảnh cây thuốc phiện cao vọt lên hơn những cây mọc chung quanh nó dễ là đối tượng cho những kẻ tà tâm, ganh tị tìm cách ám hại. Bài viết tiếng Anh sau đây sẽ giúp Quí Bạn hiểu thêm về “hội chứng trèo cao ngã đau” này:



The Tall Poppy Syndrome

The Tall Poppy Syndrome refers to the behavioural trait (đặc điểm ứng xử) of Australians to cut down (chặt) those who are “superior” (tài hơn, trội hơn) to them. It seems to have been a mindset (não trạng/tư duy) since the early colonial days (thời kì còn là thuộc địa). It was a rejection (chối bỏ/phủ nhận) of the class system (chế độ giai cấp), and it is said that Australia is an egalitarian society (xã hội bình đẳng), viewing people with admiration for what they do, rather than what they have.



It is a reverse type of snobbery (một loại/hình thức trái/đảo ngược với thái độ trưởng giả/hợm hĩnh), and is often seen by foreigners as resentment of another’s success (phẫn nộ/bực tức đối với thành công của người khác). Our sportsmen and women are revered (được tôn sùng) but when they display character traits that are not admirable (không đáng tôn thờ) then they are targets (mục tiêu) for the Tall Poppy Syndrome. Examples of this are Shane Warne [đấu thủ chơi ‘cricket’ nổi tiếng về ném bóng nhanh (fast bowler)] and Lleyton Hewitt (đấu thủ quần vợt đứng số 1 hoàn vũ lúc mới 20 tuổi).
Millionaires are admired (được nể vì) in America, yet our millionaires (những nhà triệu phú của chúng ta) have often earned less respect (thường không được kính trọng mấy) because of misconduct (hành vi sai trái/bất xứng). Take the examples of Christopher Skase, Alan Bond and John Elliot (mấy ông nhà giầu không nên nết). Certainly there are others like Rupert Murdoch, Kerry Stokes, Kerry Packer and Dick Smith (mấy ông nhà giầu được người ta kính mến) who command respect (được/khiến cho người khác kính trọng) by avoiding making other people feel inferior (cảm thấy thua kém). This characteristic epitomizes (làm mẫu mực) the more common Australian trait of being self-depreciating (tự giảm giá/không làm cao), and being quiet achievers (những người thành đạt trong âm thầm/không cần kèn trống rùm beng/tẩm ngẩm tầm ngầm mà đánh chết voi).

Việc đời không biết thế nào mà nói!

Ở sao cho vừa lòng người?
Ở rộng người cười,
Ở hẹp người chê!



Trịnh Nhật
Sydney, Tháng 9, 2006



Kết hợp ngữ

(Collocations)


talent noun

tài, tài năng

§ ADJ considerable đáng kể, enormous, exceptional, extraor­dinary, formidable kinh khủng, genuine thật, great, major, outstanding xuất chúng, vượt trội prodigious, rare, real, remarkable, special, tremendous, undoubted, unique hiếm quí, đặc biệt, độc nhất vô nhị | God-given, inborn, innate, nat­ural, raw Trời cho, thiên bẩm, bầm sinh, tự nhiên, Hard work is important, but it is no substitute for raw talent. | hidden, undiscovered ẩn | mediocre tầm thường, xoàng | fresh, new mới The company is always looking out for new talent. | young trẻ, non trẻ | precocious sớm phát triển, không đợi tuổi | home-grown, local gà nhà, địa phương one of the few teams that relies on home-grown talent | top hàng đầu, thượng thặng We are losing our top talent to other countries who pay more. | acting diễn xuất, kịch nghệ, artistic nghệ thuật, mỹ thuật, nghệ sĩ creative sáng tạo, literary văn học, managerial quản lí, musical âm nhạc, scientif­ic khoa học, vocal, writing viết văn, viết lách

§ VERB + talent have, possess có The lad has undoubt­ed talent. | demonstrate, display, reveal, show biểu diễn, trình diễn | flaunt, show off phô trương, khoe The banquet gave the chef a chance to flaunt his talents. | direct, redirect, turn hướng, chuyển hướng After making her name as a singer, she turned her talents to acting. | discover, rec­ognize, spot, unearth khám phá, nhìn nhận, tìm thấy She has a keen eye for spotting tal­ent o United have unearthed a real talent in this young de­fender. | build (on), cultivate, develop, harness, make the most of, nurture, realize, tap, use, utilize xây dựng, trau dồi, phát triển, phát huy, thực hiện, tận dụng, nuôi dưỡng an effort to develop his creative talents to the full o The theatre visits schools to tap young talent. | squander, waste phí phạm, lãng phí His par­ents accused him of wasting his talents and abilities.

§ talent + verb lie nằm Her talents lay in organization.

§ talent + noun scout, spotter chiêu mộ, đi tìm, nhận dạng | competition, con­test, show tranh (tài), tỉ thí

§ PREP of ~ He is a violinist of exceptional talent Chàng ta là một tay chơi vĩ cầm tài năng có một không hai. with/without ~ có/không có kids with musical talent trẻ có tài/giỏi/khiếu âm nhạc | ~ for về You have a natural talent for storytelling Bạn có tài thiên phú/tự nhiên về kể chuyện.

§ phrase a man/woman, etc. of many talents người đàn ông/đàn bà v..v…đa tài/có nhiều tài năng, a wealth of talent rất nhiều/dồi dào/phong phú tài năng/nhân tài There is a wealth of talent out there in our schools Có rất nhiều nhân tài trong các trường học của chúng ta kia kìa, a pool of talent một nhóm nhân tài sẵn sàng khi cần Hollywood directors have a mar­vellous pool of acting talent to draw from Các đạo diễn phim ảnh Hồ-li-vọng/Hoa lệ ước có một nhóm tài năng diễn xuất/tài tử túc trực sẵn để mà chọn khi cần.



talented adj

có tài

§ verb be, seem, sound xem ra, coi bộ, nghe như

§ ADV exceptionally, extraordinarily, extremely, high­ly, hugely, immensely, incredibly, outstandingly, really, supremely, truly, very xuất sắc, kì diệu, cực kì, vô biên, vượt trội, vô cùng an extraordinarily talented de­signer o Some of these young musicians are hugely talent­ed. | not particularly không đặc biệt | quite khá | precociously sớm phát triển, không đợi tuổi a preco­ciously talented youngster một thanh niên/thiếu nữ có tài năng sớm nở/không đợi tuổi | artistically nghệ thuật, musically âm nhạc



disaster noun

1 tai họa, thảm họa, họa, nạn, đại nạn, thảm bại

§ adj awful, big, dreadful, great, major, terrible, worst khủng khiếp, đại (họa), khiếp đảm the biggest disaster in British mining history thảm họa lớn nhất trong lịch sử hầm mỏ nước Anh | near gần, xuýt (xảy ra) a near disaster in the city centre tại nạn xuýt xảy ra tại trung tâm thành phố | imminent, impending sắp đến, sắp xẩy ra It seemed that nothing could prevent the impending disaster Xem ra chẳng gì có thể ngăn cản nổi tai họa sắp đến. o Everyone had the feeling that disaster was imminent Ai cũng có cảm giác là tai họa rồi sẽ xảy đến. | potential có tiềm năng (xảy ra) | global toàn cầu, national toàn quốc | natural thiên nhiên, thiên (tai) earthquakes, floods and other natural disasters động đất, lụt lội và những thiên tai khác | man-made nhân tạo | air trên không, máy bay ecological sinh thái, environmental môi trường, flood lụt, lũ lụt, military quân sự, binh bị mining hầm mỏ, nu­clear nguyên tử, hạt nhân, rail hỏa xa fears of a nuclear disaster | business doanh nghiệp, kinh doanh econom­ic kinh tế financial tài chính | personal riêng tư, cá nhân

§ verb + disaster bring, cause, lead to, spell mang lại/đến, gây ra, đưa đến One person's mistakes can bring disaster to someone else, Lỗi lầm của một người có thể mang lại hoạn nạn cho một người khác o at­tempts to find out what caused the disaster Các nỗ lực tìm xem cái gì đã gây ra tai họa o The drought spelt economic disaster for the country Vụ hạn hán đưa đến tai họa kinh tế cho đất nước. | avert, avoid tránh khỏi pre­vent ngăn cản, ngăn ngừa save sb/sth from cứu ai/cái gì khỏi bị stave off, ward off tránh, gạt A major disas­ter was averted only just in time Một đại họa đã ngăn ngừa được chỉ vừa kịp thời o What can be done to ward off environmental disaster? Có thể làm gì được để tránh khỏi tai họa cho môi trường | predict, prophesy tiên đoán, tiên tri In­dependent analysts in the market predicted disaster Các nhà phân tích độc lập trong thị trường đã tiên đoán thảm họa. | court, invite mời gọi, chuốc lấy It's courting disaster to go into the mountains without proper weatherproof clothing Đi sâu vào núi rừng mà không mặc áo quần tránh nắng mưa thì đúng là chuốc lấy đại hoạ. | be heading for đi đến chỗ his firm belief that the whole world was heading for disas­ter Ông ấy tin tưởng mãnh liệt rằng thế giới đang đi đến chỗ thảm hoạ | face gặp, gặp phải In the last match of the series England were fac­ing disaster Trong trận đấu chót của loạt trận thi đấu ấy Anh-cát-lợi đã gặp thảm bại. | suffer bị, gặp phải, chịu đựng, gánh chịu There are many who have suffered personal disasters but managed to rebuild their lives Có nhiều người đã bị/gặp phải tai hoạ cho cá nhân mình nhưng họ đã cố xây dựng lại được cuộc đời. | survive sống sót It was a miracle any of the passengers or crew sur­vived the worst air disaster in Portugal for 20 years Quả là một sự huyền diệu là bất cứ ai trong số hành khách hoặc phi hành đoàn cũng đều sống sót trong tai nạn máy bay khủng khiếp nhất tại Bồ-đào-nha trong 20 năm qua. | end in kết thúc, chấm dứt The show ended in disaster when the tent collapsed Buổi trình diễn chấm dứt trong đại hoạ khi chiếc lều bị sụp.

§ disaster + verb happen, occur, strike xảy ra. tấn công finding out why the disaster occurred tìm xem tại sao tai nạn lại xảy ra o Everything was going fine. Then, without warning, disaster struck Mọi chuyện đang diển tiến tốt đẹp thì bỗng đâu tai hoạ xẩy đến. | befall sb/sth, hit sb/sth, strike sb/sth đến, xảy ra cho ai/cái gì the economic disaster that befell the country thảm hoạ kinh tế đó đã xảy đến cho đất nước | loom, threaten lù lù xuất hiện, đe dọa We could all see that disaster loomed for the company Chúng tôi tất cả đều có thể thấy là tai hoạ lù lù xảy đến cho công ti.

§ DISASTER + noun area, zone khu vực, vùng Only rescue workers are allowed into the disaster area Chỉ có những nhân viên cứu hộ mới được phép vào trong khu gặp nạn. | relief cứu trợ | victim nạn nhân.

§ prep in a/the ~ trong, khi gặp In a disaster everyone needs to keep calm Khi gặp nạn/tai họa mọi người cần phải giữ bình tĩnh.

§ phrase a disaster waiting to happen tai họa đang chờ sẵn (xảy tới), có thể xảy tới bất cứ lúc nào Any one of these nuclear plants may be a disaster waiting to happen Bất cứ nhà máy nào trong những nhà máy nguyên tử này có thể là tai hoạ có thể xảy tới bất cứ lúc nào. in the aftermath of a disaster hoàn cảnh sau tai họa In the aftermath of the dis­aster people were too shocked to give a clear picture of what had happened Trong hoàn cảnh sau tai hoạ người ta đã quá hoảng hốt/bị cú sốc quá nặng nên không mô tả rõ ràng được chuyện gì đã xảy ra. a recipe for disaster cách dẫn đến tai họa, chuộc lấy đại nạn Letting her organize the party is a recipe for disaster Để cho cô ấy tổ chức liên hoan là chuộc lấy đại nạn a victim of a disaster nạn nhân của một tai họa providing help for the victims of the disaster trợ giúp cho những nạn nhân của thảm họa.

2 (sự) thất bại

§ ADJ absolute, complete, real, total, unmitigated toàn bộ, hoàn toàn The play was a complete disaster from beginning to end Vở kịch là một thất bại hoàn toàn từ đầu đến cuối. | economic kinh tế, financial tài chính, tiền bạc social xã hội Buying that house turned out to be a financial disaster Mua cái nhà ấy đâm ra là một thất bại về tiền bạc.

§ verb + disaster prove, turn out to be chứng tỏ, đâm ra, hóa ra High-rise buildings proved a social disaster Những cao ốc như thế mà hóa ra lại là thất bại về mặt xã hội.

WLP
07-28-2007, 07:45 PM
Mẹ Gà Con Vịt



LTS. Bài học Anh ngữ nói chung chủ yếu là bàn về tiếng Anh thời sự, đã đọc được trên báo chí, nghe được trên đài phát thanh truyền hình, với các độc giả trong tinh thần “Tôi học, Anh học, Chị học, Em học, Chúng ta cùng học!”. Các từ vựng, đoản ngữ, tục ngữ, thành ngữ, châm ngôn... tiếng Anh, tiếng Việt sẽ được lồng vào những mẩu chuyện vui, cà kê dê ngỗng, cốt là giúp cho người học dễ nhớ, vui mà học được. Những lời bàn tán ở đây nhất định không thể được coi là những lời “thánh phán”, mà các độc giả, tất nhiên có những người biết chuyện, sẽ được mời đóng góp ý kiến của mình hoặc đặt câu hỏi để chúng ta có dịp cùng nhau tìm hiểu, đồng thời chia xẻ niềm vui chung là học hỏi lẫn nhau. Bài học còn có thêm phần liệt kê những kết hợp ngữ (collocations) trong tiếng Anh, tiếng Việt để người học tham khảo.





Mẹ Gà Con Vịt



Hàng năm, có khi thì vào đầu năm Tây (Western New Year), có khi thì vào đầu năm Ta (Vietnamese/Chinese New Year), tôi đều có thói quen viết tự sự, ôn lại một vài biến cố trong gia đình mình để gọi là chia sẻ và đồng thời chúc tụng bạn bè đồng nghiệp gần xa, nhân dịp Xuân về. Năm nay, tôi đã viết một lá thư đầu năm cho Tết Đinh Hợi: “The Year of the Pig—A New Year Message”, với những lời lẽ có thể tóm gọn sang tiếng Việt là như thế này:

Đầu tháng 6 bà xã Anh Thư nhận việc làm mới với chức vụ Nhân viên Bảo vệ Quyền Người Thuê Nhà (Tenancy Advocate) thuộc Trung tâm Tài nguyên Di dân vùng Fairfield (Fairfield Migrant Resource Centre). Còn tôi thì ngày 20-7-2006 bị tai nạn xe cộ làm mất tiêu (total loss) chiếc xe ô tô Toyota Seca đời 1999 (1999 model), nhưng may mắn là người không bị thương tích gì cả (no injuries). Cuối tháng 10 bà cụ thân sinh ra Anh Thư từ trần (passed away) sau một thời gian dài lâm bệnh (after long illness). Thư phải nghỉ làm một tuần lễ (one week off work) để cùng cậu em trai cũng ở Sydney về dự đám tang (attend the funeral) bà cụ.

Cô con gái lớn, Michelle Mỹ Duyên, vẫn làm y tá (nurse) ở Nhà thương Ryde và vẫn cùng chồng là kế toán viên (accountant) trông nom ba đứa con nhỏ: Tanya Thảo, 7 tuổi, Melissa Mai, 6 tuổi, cả hai đều học tiểu học (primary school), và một cháu trai Dylan Hiếu, 3 tuổi thì sắp sửa hết giai đoạn bập bẹ tập nói (babbling stage).



Cô con gái thứ hai, Pamela, nửa Việt nửa Đức (half-Vietnamese half-German), sinh năm Hợi (born in the Year of the Pig) bắt đầu làm hết lòng hết dạ (working whole-heartedly) trong vai trò săn sóc người cao tuổi tại gia (home care worker). Pam sử dụng thường xuyên và liên tục chiếc xe hơi cũ (second-hand car), mà tôi đã mua cho cháu cách nay mấy tháng, để lái xe từ nhà này sang nhà nọ, khoảng 50 cây-số mỗi ngày, do công việc đòi hỏi.



Lá thư đầu năm của tôi, sau đó là lời chúc Tết:



As you know, we can’t keep pigs in our backyards here (ở Úc đây chúng ta không thể nuôi heo trong sân sau, vườn nhà), but as a symbol of good fortune and wealth (một biểu tượng cho vận hội may mắn và tài lộc), I feel “as happy as a pig in mud” (sung sướng như heo được nằm trong bùn), as Aussie people (người Úc) would say.



Welcome to a Happy Tết, and a celebration (lễ mừng/kỉ niệm) honouring the last animal sign (con giáp cuối cùng) of the 12-year cycle (thập nhị địa chi).Lợn

Qua chuyện “hòn đất ném đi, hòn chì ném lại”, tôi nhận được một cái meo (email) của chị Thuần Nicholls, ở bên Perth, Tây Úc (Western Australia). Chị Thuần thuộc loại con nhà, đẻ bọc điều (born with a silver spoon in her mouth), có 2 cô con gái lai Úc, cả hai đều chưa lập gia đình. Chị có bằng Tiến sĩ về Hóa học (PhD in Chemistry), và là một trong những thông dịch viên tiếng Anh-Việt đầu tiên tại Perth, nhưng trong nhiều năm qua, chị làm việc trong nhà thương với tư cách là nhân viên xã hội (social worker). Anh Peter Nicholls, ông xã chị, là một Nha-sĩ làm việc trong bệnh viện. Tôi đã có dịp trao đổi điện thư hoặc nói chuyện điện thoại với chị nhiều lần, nhưng chưa hề gặp mặt. Chị viết cho tôi như sau:

Thank you for the summary of family news at the close of the year of the dog (cuối năm Bính Tuất). You must be a happy family man (người có gia đình hạnh phúc) having so many grandchildren to spend your leisure time with (để vui hưởng thời gian rảnh rỗi của mình). I am a bit nosy (hơi tò mò/théc méc) here:

Your second daughter is half German, is she adopted (con nuôi) or is Anh Thư German? Can’t possibly be if her mother lives in Vietnam! Either that you may have a vợ bé (second wife/mistress/lover) who is German. Please complete the puzzle (giải quyết thắc mắc).



Tôi chưa tiện trả lời thư chị, nhưng nếu trả lời thì tôi sẽ vắn tắt như thế này:



Dear Chị Thuần,



Pamela is not adopted. Anh Thư is not German. And I had no vợ bé. I hope this message satisfies your curiosity (thoả mãn tò mò của chị), or it could still be “as clear as mud” (sáng tỏ như đêm ba mươi) to you.



Cheers,

MTS (Me The Sun)



Trong một đất nước chiến tranh triền miên, thanh niên trai tráng phải bận việc binh bị, không có hoàn cảnh thoải mái để lập một mái ấm gia đình theo đúng nghĩa của nó thì chuyện tình ái lăng nhăng tất phải xẩy ra. Và một khi tình đã để “nát như tương” (a real ‘balls-up’) thì làm gì còn dám mon men nghĩ đến chuyện kết hôn với “con gái nhà lành”. Vả lại, ước vọng ra nước ngoài du học, vốn nằm sâu trong tâm khảm tôi trong nhiều năm, và may mắn sau cùng đã trở thành hiện thực. Trễ còn hơn không. Thế rồi từ chuyện đi học, đi dạy ở Úc đến chuyện sang Anh đi làm truyền thông, rồi lại về Úc dạy Đại học, đời tôi cứ như thế mà trôi theo định mệnh.



Nhìn lại cuộc đời tôi, tôi vẫn thường tự giễu, tự nhủ, tự an ủi: “Nếu tuổi thanh xuân mình không làm gì hết, không ‘liều lĩnh, lầm lỡ trong chuyện gái trai’, thì tuổi già mình chẳng có gì để gặt hái” (If you did nothing in your salad days and didn’t ‘sow a few wild oats’, then you would have nothing to harvest in the old age). Tây thì họ bảo “to sow a few wild oats’ [= to do things like having sex (tình ăn mặn), drinking (nhậu nhẹt, chén chú chén anh), swearing (chửi thề, đéo lắt) and living on the wild side of life (cuộc sống phóng đãng, buông thả, bụi đời) before you settle down (lập gia đình)], còn các cụ mình thì dạy rằng: “Nếu không chơi thiệt đấy ai bù?”. Cụ Tú Xương, mà tôi có dịp đến viếng quê quán của cụ tại Nam Định, cách đây 2 năm, đã có lần “tự trào” rằng:




Vị Xuyên có Tú Xương,

Dở dở lại ương ương,

Cao lâu thường ăn quịt,

Thổ đĩ lại chơi lường.

[Tu Xuong lived at Vi Xuyen

As a lunatic, he’s sure to win

When eating out, he never paid

Not even in a whorehouse, when he got laid.]



Thật sự tôi không đến nỗi “sa đoạ” như Cụ Tú, nghĩa là “không cờ bạc, không thổ đĩ, không ăn quịt, chơi lường”, mà kết quả tôi đã gặt hái được qua chuyện, “out of wedlock” [không cưới xin (mà cũng không ai cần cưới xin, vì tình là tình cho không biếu không)], là 2 cô con gái, 38 và 24 tuổi, với 3 cháu ngoại (grandchildren), mà chúng tôi hằng quí mến.



Kể cũng lạ, trong cuộc hôn nhân “danh chính ngôn thuận” (legal marriage), tôi và người bạn đường lại không có được ‘mụn’ con nào (childless), nhưng không vì thế mà chúng tôi tìm cách sinh con trong ống nghiệm [in-vitro fertilization (IVF)], hay tìm một bà mẹ đẻ thế (surrogate mother), mặc dù tôi là con một và là cháu đích tôn trong một gia đình hiếm hoi, và văn hoá Việt Nam là mình cần có con trai để nối dõi tông đường (line of succession). Chuyện “nối dõi tông đường” ở thời điểm này, và ở chốn này, đối với tôi, không phải là chuyện sinh tử (it’s not a matter of life and death), không phải là điều quan trọng.



Khi tôi kết hôn với Anh Thư là lúc chúng tôi đã đợi mãn tang (waited till after the period of mourning) cả Mẹ lẫn Bố. Đám hỏi (engagement) trước đám cưới (wedding) cả mấy năm trời. Trong đám cưới có Michelle là một trong những cô phù dâu (one of the bridesmaids), và Pamela là one of the flower girls (một trong những em bé gái trong đoàn phù dâu). Tôi thường nói bỡn cợt tình huống giữa Anh Thư và hai đứa con là cảnh Mẹ Gà Con Vịt (Mother Hen and her adopted Ducklings). Bà xã tôi (my other half/my better half/my missus) còn nhận một đứa “Con Vịt” tên là Richard Hùng, lai Hung-ga-ri/Hung gia lợi (Hungarian), cũng tuổi Hợi, con bà chị cả, cao 1.8m làm con nuôi nữa kìa!



Ông Bố tôi, thầy tử vi tướng số tài tử, khi còn sinh tiền ông vẫn thường bảo số tôi 'lận đận' về đường vợ con. Ông nói Tuổi Tỵ (the sign of the snake) mà mang chữ Tân, là Tân Tỵ, nếu lấy vợ trễ thì không sao, chứ lấy vợ sớm thì có thể phải tục huyền (re-married). Bố tôi Tuổi Hợi (the sign of the pig), mang chữ Tân, người phải tục huyền, lấy Mẹ tôi là người vợ thứ hai khi ông mới có 27 tuổi. Bố tôi sau ngày tản cư về Phủ lý, Hà Nam, thì ít lâu sau hồi cư về Hải-phòng năm 1946, trước Mẹ tôi và chúng tôi, người còn đèo bồng thêm một bà nữa. Ông có ba đời vợ, sinh được tất cả 6 người con, mà chỉ nuôi được có 3 người đến tuổi trưởng thành.



Bài học Anh Ngữ tuần này nghe như có đầy đủ những yếu tố của một kẻ “vạch áo cho người xem lưng” (washing one’s dirty linen in public). Nhưng “vạch áo” [wash dirty linen = (giặt quần áo dơ) phơi bầy chuyện đời tư không hay ho gì] cho “người xem lưng” (in public = trước công chúng) mà bà con học được “tiếng Anh tiếng Em” thì cũng đáng làm lắm chứ, có gì đâu mà ngại ngần? Tôi đã được bạn bè thỉnh thoảng chuyển vào thế giới ảo (cyberspace) cho coi những cảnh “vạch áo”, “vạch quần”, “vạch xì-líp” của những nàng Kiều đủ cả Tây, Ta, Tàu, mà mình đâu có ngán!



Chuyện “vạch” đâu đó còn dài, nhưng để kết thúc bài học tuần này, tôi xin chuyển đến Quí Vị, Quí Bạn món quà đầu Xuân của người bạn Úc đồng hành trong chuyến đi Việt Nam vừa rồi. Anh gửi cho tôi một bài thơ nho nhỏ, ghi nhận cảm tình với nụ cười dịu dàng (gentle smile), mái tóc đen huyền (jet black hair), cặp mắt xuyên suốt/xoáy tận tim gan (piercing eyes), tâm hồn vị tha (selfless soul), trái tim cẩn trọng (guarded heart), tấm lòng nhân hậu (kind), “dễ thương mà thương không dễ”, của bông hoa trong vườn nhà:




Cô gái Việt Nam

A gentle smile

Jet black hair

Piercing eyes

Graceful air



Guarded heart

Ordered mind

Forever cautious

Always kind



Selfless soul

Intentions real

Gentle touch

Pride of steel



Cô gái Việt Nam

Hiền và đẹp

Một bông hoa

Trong vườn nhà



By Dave Gilbert aka Lê Minh Hiền,

29.12.2006



Trịnh Nhật

Sydney, 27 tháng 2, 2007


Kết hợp ngữ
(Collocations)

mother noun

mẹ, má, thân mẫu, mẫu thân

§ ADJ lone, single đơn chiếc (nuôi con) unmarried chưa lập gia đình, chưa kết hôn She felt proud that she had raised four children as a lone mother Bà ta hãnh diện là đã nuôi bốn đứa con trong hoàn cảnh bà mẹ đơn chiếc | widowed góa | biological, birth, natural, real mẹ ruột, mẹ đẻ | surrogate đẻ thuê, đẻ giùm (cho người khác) | adoptive, foster nuôi step- (cũng còn là stepmother) mẹ ghẻ, kế mẫu | teenage tuổi choai choai, đôi tám young trẻ elderly, old lão niên, cao niên, cao tuổi, già | dead, deceased, late đã chết, đã qua đời, quá cố, đã từ trần | good, excellent, loving, wonderful tốt bụng, tuyệt hảo, dễ thương, tuyệt vời | proud hãnh diện the proud mother of the bride bà mẹ hãnh diện của cô dâu | doting, over-protective, possessive nuông chiều, cưng chiều, bảo bọc, bảo vệ, che chở (quá đáng/quá trớn) | stern, strict khó, nghiêm khắc | dominant, domineering áp bức, lấn át, độc đoán | bad, unfit không thích hợp The court decided she was an unfit mother Tòa án quyết định là bà ta không thích hợp vai trò làm mẹ | anxious, distraught, frantic nóng ruột, nôn nao, bồn chồn, lo lắng (phát điên lên) Her distraught mother had spent all night waiting by the phone Bà mẹ lo lắng/bồn chồn đã thức suốt đêm đợi bên máy điện thoại | expectant, pregnant có bầu, mang thai, sắp sinh (cũng còn dùng) mother-to-be (nôm na) bà mẹ tương lai | first-time lần đầu (làm mẹ) | new mới (có con) | full-time toàn thời/thời gian | breast-feeding cho bú sữa mẹ | sick ốm, đau bệnh/bịnh caring for his sick mother chăm sóc cho bà mẹ bị đau ốm | working đi làm, làm việc

§ VERB + MOTHER resemble, take after giống, trông giống The two boys were like their father in character, but Louise took after her mother Hai cậu con trai giống cha về tính tình/tính nết, nhưng cô Louise thì lại giống mẹ | inherit sth from thừa hưởng, thừa kế She inherited the urge to travel from her mother Cô thừa hưởng cái khoái/thú/lòng ham muốn đi du lịch của bà mẹ cô.



hen noun

gà mái

§ ADJ speckled có đốm, hoa mơ | battery công nghiệp, free-range nuôi thả tự nhiên/tự do | mother mẹ She fussed around like mother hen Bà ấy lăng xăng, rối rít giống như gà mẹ vậy. | broody đòi/muốn ấp trứng

§ VERB + HEN keep nuôi

§ HEN + VERB lay (eggs) đẻ (trứng) The hen layed three beautiful speckled eggs Con gà mái đẻ ba quả trứng lốm đốm nâu thật đẹp. | cackle (kêu) cục cục, cluck (kêu) cục cục/cục ta cục tác, squawk (kêu) quang quác I could hear the hens clucking in the farmyard Tôi nghe tiếng gà mái kêu cục cục trong sân trại. | roost đậu, đậu (để ngủ) | peck mổ, scratch bới The hens pecked hopefully at the dusty floor (Mấy con) gà mái lấy mỏ mổ hi vọng kiếm được mồi ở cái sàn bụi bậm..

§ HEN + NOUN coop, house chuồng, roost nơi đậu (để ngủ)



duck noun

(con) vịt

§ adj wild hoang | plastic pờ-lát-tíc, rubber cao su, mủ A rubber duck floated in the bath Một con vịt bằng cao-su nổi bồng bềnh trong bồn tắm. | roast quay, nướng

§ quant flock, flotilla bầy, đàn (tiếng Anh chỉ dùng khi vịt đang bơi lôi mà thôi) A flotilla of ducks bobbed near the shore Một bầy/đàn vịt ngoi lên ngụp xuống gần bờ nước.

§ verb + duck feed cho ăn Every afternoon they went to the park to feed the ducks Chiều nào cũng vậy, họ ra công viên để cho vịt ăn.

§ DUCK + verb quack oang-oác | paddle, swim bơi, lội The ducks pad­dled furiously towards the bread Những con vịt bơi bổ nhào/ào ào về phía miếng bánh mì. | bob (đầu/cổ) ngụp lặn; ngụp đầu xuống, ngóc đầu lên; nhấp nhô | dive lặn | dabble lộn đầu, chổng mông/chổng tĩ (kiếm mồi chỗ nước cạn) Some species of duck dive for food, while others dabble for plants and insects near the surface Vịt có giống lặn sâu xuống nước để kiếm mồi, có giống chỉ lộn đầu, lộn cổ, chổng mông kiếm cây cỏ và côn trùng gần mặt nước. | waddle đi lạch bạch A family of ducks waddled along the river bank Một gia đình vợ chồng con cái vịt đi lạch bà lạch bạch dọc theo bờ sông. | nest tổ | migrate di trú, di thê

§ DUCK + noun breast ngực, ức Slice the duck breast and serve Cắt thịt vịt thành những miếng/lát rồi tiếp/phục vụ cho khách đang ngồi bàn ăn (= carve the meat from the cooked duck and serve out a portion to those seated at the table) | egg trứng | pond ao



Trịnh Nhật

Sydney, 27 tháng 2, 2007



Trở về Trang Chính

WLP
07-28-2007, 07:49 PM
Mai ta vào chùa trong


Gần 50 năm trước, tôi có một anh bạn rất thân, cùng mê chơi bóng bàn như nhau, là Võ Thanh Duyên, người gốc Bến Tre, phụ trách “Chương trình Nhạc Ngoại quốc Yêu cầu” cuả Đài Phát thanh Sài Gòn. Chương trình này được phát đi vào trưa Thứ Bảy hàng tuần. Anh thường bỏ tên tôi vào đó mà bảo là bài hát do Trịnh Nhật yêu cầu. Trong vô số các bài hát thịnh hành thời tôi còn ở tuổi học trò, có một bài tôi thường được nghe là bài “Put your head on my shoulder!” (Vai anh em hãy tựa đầu!) do Paul Anka hát. Đại loại lời ca là như thế này:



Put your head on my shoulder

Hold me in your arms, baby!

Nói về “vai tựa đầu”, thì mới đây, trong phần cuối bài tạp ghi “Làm sông” (serving as a river), nhà văn nữ Nguyễn Ngọc Tư có viết:

“… Càng nhìn chị anh càng nhói, đuôi mắt kia đã hằn vết chân chim (crow’s-feet), chưa từng được hôn, mái tóc kia giờ chớm bạc, chưa một lần nào, chưa người đàn ông nào vuốt nó, âu yếm chải nó trong những chiều phai. Và những lúc mỏi mệt (moments of fatigue), cũng không có bờ vai rộng (a broad shoulder) nào cho chị tựa vào (to lean on)…”

Nữ bác sĩ họ Lâm, một thân hữu trong bushwalking group (nhóm đi bộ xa trong rừng thưa, trên những đoạn đường hoang vắng, gập ghềnh) của chúng tôi, cũng đã có lần viết đâu đó:

Mượn tạm anh bờ vai,

Nghe đời nghiêng một thoáng.

(Mì ăn liền)



Bờ vai anh nào thì “Bố ai mà biết được?” Này! Anh Tấn, anh Nhẫn, anh Minh, anh Nhật …chớ vội tưởng bở! Gái Miền Nam nhiều khi họ “nói dzậy mà không phải dzậy” đâu nghe mấy cha nội!



Tôi đã có lần “chôm chỉa” cái “tứ thơ” của vị y sĩ có bút hiệu (pen name) “Mì ăn liền” (instant noodles), mà vì lúc đặt bút viết thì lại chỉ nhớ mang máng, thành thử khi gửi lên mạng nhắn nhủ mấy cô em gái phương xa đã bị “thất bổn” như thế này:



Cho em mượn tạm bờ vai

Để thấy đời nghiêng nghiêng bóng.



Bờ vai này, nếu có cho mượn, chắc “bờ vai” phải vượt đại dương (cross the ocean) mới mong các em lấy đó mà tựa vào được. Trong một cảnh cuốn băng do Thuý Nga phát hành đã khá lâu, khán giả Việt Nam trên toàn cầu đã thấy người em gái “Nguyễn Cao Kỳ Duyên” ngả đầu, tựa trên bờ vai của “Nguyễn Ngọc Ngạn”, tôi chắc người em gái họ Nguyễn này lúc đó hẳn thấy đời mình “nghiêng nghiêng bóng” đến độ nào. Lại nữa, cả hai nhân vật trong cuốn băng nhạc đều đã ở vào giai đoạn, nói theo Nguyễn Ngọc Tư là, “Cuối mùa nhan sắc”, thì lại càng đáng quí biết là nhường bao!



Nhưng thôi, tạm gác chuyện Emcee (người giới thiệu chương trình) này lại cái đã, người em gái “lương y như từ mẫu” mà đôi lúc tôi còn gọi là Golden Phoenix (Kim Loan) mới đây có viết meo (email) hỏi tôi như sau:



Chào anh Nhật.

Bây giờ ... ra Giêng rồi anh mới lì-xì. Thôi thì, có còn hơn không. Có người hỏi Loan: chồng qua đời gọi là “goá phụ”. Còn “thôi chồng”, “thôi vợ” hoặc “chết vợ” có từ ngữ nào không? Nếu các anh chị khác có câu trả lời, xin cho biết. KL.



Sau một đôi lời hứa hẹn hoãn binh, tôi nay xin được trả lời:



Trong ngôn ngữ học, người ta có nói đến cái gọi là “lexical gap” (lỗ hổng/kẽ hở/ô trống từ vựng) là để chỉ trường hợp trong ngôn ngữ tự nguyên thuỷ không có từ mà lẽ ra phải có, theo lối người ta suy luận. Ví dụ như trong tiếng Việt chúng ta khi nói “tiền bối” (người có danh vọng về lớp trước mà đã qua đời), thì theo suy luận phải có từ trái nghĩa là “hậu bối” (= người có danh vọng về lớp sau mà đã qua đời). Ấy vậy mà trong cuốn Việt Nam Từ Điển cuả Đào Duy Anh, do NXB Hanoi Imprimérie Trung Bắc Tân Văn phát hành năm 1931, khi liệt kê từ “hậu bối” này thì lại chỉ có nghiã là “ung nhọt ở lưng” (= anthrax in the back, “bệnh than”). Như thế cho ta thấy một cái “ô trống từ vựng” đối nghiã với từ “tiền bối”.



Ở thời điểm đó, từ “hậu duệ” [= con cháu đời sau, con ông cháu cha, thường thuộc loại dòng dõi (descendants, scion)] cũng chưa thấy được liệt kê trong từ điển của Đào Duy Anh. Còn Đại Từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên, NXB Văn hoá Thông tin ở Việt Nam phát hành năm 1998, thì tìm mỏi mắt cũng không thấy cả hai từ “hậu bối” và “hậu duệ”. Các từ điển khác sau này như từ điển Việt-Anh cuả Nguyễn Văn Tạo, xuất bản tại Sài Gòn trước năm 1975 thì ‘chua’ nghĩa “hậu bối” là “younger generations/future generations, posterity” (= thế hệ trẻ sau này/thế hệ tương lai/con cháu nối dõi” và nghiã “hậu duệ” là “descendants, posterity” (= con cháu thuộc dòng dõi ai đó/con cháu nối dõi).



Một thí dụ nữa có thể là từ ngữ “đại tiện” (to have a dump/to pass a stool/to have a bowel movement), và từ “tiểu tiện” (to urinate/to make water), thường được dùng rất thông dụng, nhưng đã có thời kì người ta tưởng như có một cái “khe hở từ vựng” (lexical gap) trong tiếng Việt khi nói đến tình huống “không đại”, “không tiểu” mà cái gì “trung trung ở giữa” thì chẳng hiểu có từ để dùng không? Tôi khá chắc chắn là nhiều người mà tiếng bản ngữ là tiếng Việt, kể cả tôi, đã tưởng là không có “từ”, cho đến khi đọc truyện “Ly Thân” của Trần Mạnh Hảo (người đã có thời được đồng bào hải ngoại xưng tụng là nhà văn phản kháng), thì mới vỡ nhẽ ra là có từ trung tiện (= fart) để chỉ cái thế “trung dung” đó, khi ông tả về một buổi ngắm trăng của các đồng chí:



Trong không khí ngắm trăng tập thể nghiêm trang tới mức tôn giáo, thì không hiểu kẻ phá hoại, tên phá bĩnh nào ẩn núp như sâu bọ trong hàng ngũ, kẻ liên minh với giai cấp bóc lột như tiếng gọi thời đó, bỗng bất ngờ phóng ra một cái trung tiện kêu ngang pháo lép. Như một cơn thọc lét tập thể, ngay sau khi tiếng rắm mất lịch sự đầy chất đế quốc phong kiến kia, mọi người bỗng phá ra cười sằng sặc. (Ly Thân, NXB Quê Mẹ, Paris 90, trang 84)



Biết là có rồi, nhưng tôi cũng tò mò tra lại chữ “trung tiện” trong Việt Nam Từ Điển cuả Đào Duy Anh cho chắc, thì thấy cụm từ này được giải nghiã là “cái rắm” (= fart) và tác giả họ Đào còn cho thí dụ: “Đánh trung tiện” (= to break wind). Sách thì nói vậy, chứ người đời chẳng có ma nào “nói chữ” đến thế. Nôm na thì Bắc-kì gọi hành động đó là “đánh rắm” (= to blow a fart), còn Nam-kì thì kêu bằng “đánh địt”. Eo ơi! Sao cái “cụm từ” này tôi nghe thấy hãi quá!



Kể cũng phải nói thêm ở đây, có những tình huống mà ngôn ngữ tự nó có “lỗ hổng từ vựng”, người sử dụng ngôn ngữ thấy có khuynh hướng muốn phản kháng lại, tìm cách “lấp lỗ hổng” (fill in the gap) ấy bằng cách tạo từ mới (coin a word) hay dùng từ có nghĩa tương đương để tạo một thành ngữ mới (coin a phrase). Tỉ dụ như trong tiếng Việt khởi thuỷ chỉ nói đến “lên xe hoa” (to get married) dùng để chỉ “người con gái đi lấy chồng”. Ai cũng biết “hoa”(flower) dùng theo tiếng Bắc, còn tiếng Nam thì kêu bằng “bông”, như thế “hoa” đồng nghiã với “bông”, nên người sử dụng ngôn ngữ đã giễu chơi, bông đuà mà nói đến chuyện cô này, cô nọ “lên xe bông”. Cũng chính vì chuyện “bông đuà” mà rồi chẳng mấy hồi thành ngữ “lên xe bông” này sẽ chính thức đi vào Việt ngữ.



Giải thích “vòng vo tam quốc” như trên cũng chỉ cốt để tôi dẫn đến chuyện trả lời cho câu hỏi của chị Kim Loan: “Chồng qua đời gọi là “goá phụ”. Còn “thôi chồng”, “thôi vợ” hoặc “chết vợ” có từ ngữ nào không?” Cứ theo như cái í mà chị muốn hỏi thì là: “Có từ ngữ Hán-Việt nào để thay cho những từ ngữ nôm na “thôi chồng”, “thôi vợ” hoặc “chết vợ” hay không?”



Tôi có thể nói ngay tiếng Việt có “goá phụ” mà không có “goá phu*” (= người đàn ông chết vợ/goá vợ) cho thấy đây là trường hợp “ô trống từ vựng”. Tiếng Anh thì có cả hai: widow (= goá phụ) còn widower (= goá vợ). Trong lúc “trà dư tửu hậu” với nhà thơ Trần Thiện Hiếu, một vị trưởng lão trong cộng đồng người Việt ở Sydney này, tôi còn được bác cho hay rằng văn hoá Việt Nam của mình vốn chủ trương: “Trai năm thê bẩy thiếp”, thì làm gì có chuyện ông nào là “goá phu*” (= người đàn ông chết vợ/ goá vợ). Cụ Hiếu hình như muốn khẳng định với tôi rằng làm sao mà “goá vợ” được khi mà “vợ cả vợ hai đều là vợ cả”?



Còn trường hợp “thôi chồng”, “thôi vợ” thì tôi xin chịu, mà chỉ có thể giải thích bằng “ô trống từ vựng”, một đặc trưng của ngôn ngữ. Tiếng Anh có từ luật pháp để chỉ cả hai trường hợp thôi chồng/thôi vợ (= divorcee) mà tiếng nửa Hán nửa Việt thì kêu bằng “người li dị chồng/li dị vợ”.



Nói chuyện vợ chồng “bỏ nhau, thôi nhau, xù nhau” thì nói bao giờ cho dứt. Các cụ đã bảo “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở” mà sao chúng ta không chịu nghe. Nhưng Quí Vị, Quí Bạn ơi! Bài học Anh ngữ tuần này là chuyện “Đi lễ chùa” cơ!



Nghe Phan Bách rổn rảng, trên Đài SBS Radio Sydney, một buổi sáng sau Tết Đinh Hợi, phỏng vấn Phật tử đi lễ chùa, một ngôi chùa cách Sydney chừng 60 cây-số về phiá Tây Bắc, lòng tôi lại mang mang nhớ đến cảnh trai gái đi chùa Hương trẩy hội qua bài thơ của Nguyễn Nhược Pháp, do Trần Văn Khê phổ nhạc, và cảm tình e ấp, mới chớm của cô gái tuổi “tuy em mới mười lăm mà đã lắm người thăm” ấy.



Phật tử đi lễ chùa thường có những ước nguyện nào đó mang theo. Người nghèo đến để cầu “cuả”, kẻ hiếm muộn đến để cầu “con”, còn trai gái lâu rồi mà vẫn “phòng không một bóng” thì tới để cầu Trời khấn Phật cho sớm được “se mối duyên đời”. Nói chung là họ xin Trời Phật phù hộ độ trì cho nguyện ước của mình được thành tựu.



Cô cháu gái, người đang giúp tôi trong dự án từ điển song ngữ, vừa tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân [chuyên về công nghệ thông tin (information technology)] tại Hà Nội, có lẽ cũng không nằm ngoài thành phần Phật tử nêu trên. Xin lỗi nếu tôi nói oan cho cháu! Cách nay 2 tuần lễ, khi tôi gọi điện thoại về Việt Nam hỏi về kết quả công việc chỉnh sửa (editing/correcting) các mẫu tự cháu đã quét (scanned) trước đây cho tôi, thì đúng là lúc cháu đang bon bon chạy xe ‘Honda’ đi lên chuà, trên Núi Yên Tử. Sau đó ít hôm, cháu viết meo (email) tả sự tích về ngôi chùa (mà tôi đã viết tóm tắt lại sang tiếng Anh) như sau:



Yen Tu is a big Buddhist Pagoda (ngôi Chuà lớn) in Vietnam. It is in Quang Ninh Province, about 30 kilometres from Haiphong. Above the Pagoda is a smaller one made entirely of copper (bằng đồng thật). There are no flat areas (không có chỗ đất bằng phẳng) in the vicinity for people to sit down and rest (ngồi nghỉ), as there are many big boulders all around (toàn là những tảng đá), and it is covered all year round in white cloud (mây trắng phủ quanh năm). At its peak it is over 1000 metres above sea level with steep slopes (dốc cheo leo), and surrounded by mountain ranges. The path towards the Pagoda is winding (quanh co).



Many years ago, there lived a King who abdicated his throne (đã truyền ngôi báu lại), went up to the Pagoda and became a monk (đi tu). Legend has it that (tục truyền rằng) the Royal Court sent beautiful courtesans (cung tần mỹ nữ) to try and entice him back, but he would not return. So, all of the courtesans tried to drown themselves in the stream (bèn trầm mình xuống suối). The King set up a shrine in honour of (lập lăng thờ) those who had drowned, and then accompanied the survivors (những người còn sống) back down the mountain to help them to marry (gả chồng cho các nàng).



As for the King, he returned to the mountain to continue his life as a monk. According to another legend (còn có tích nói rằng), when the King was walking back up the mountain, as he was passing by the stream, he threw his walking stick into the water (ném cây gậy xuống nước), and said: “If this stick floats down the stream (chảy xuôi dòng suối), then I will return to be the King, but if it floats up the stream (chảy ngược dòng suối), I will continue to be a monk.”



When he threw the stick into the water, it well and truly floated upstream (cây gậy chảy ngược dòng nước thật), so he decided to stay in the monastery (ở lại tu viện). Later on, people built the Copper Pagoda (Chuà Đồng) at the top of the mountain in order to worship him (để thờ ông).



Hi vọng bài học tuần này thoả mãn được phần nào người đã nêu câu hỏi và đem lại được đôi chút gọi là niềm vui học cho bà con cô bác. Nói theo văn chương bình dân của anh Chủ Bút Tuần Báo Dân Việt thì đúng là “buồn ngủ lại gặp chiếu manh”. Nhưng vấn đề đặt ra ở đây là: Ai là người chịu ngủ trên chiếc chiếu manh (torn mat)? Khi nào ngủ? Ngủ ở đâu?, và Ngủ chuà nào? thì “chỉ có Đức Phật mới biết được” (Lord Buddha only knows) mà thôi!



Trịnh Nhật

Sydney, 20 tháng 3, 2007

Kết hợp ngữ
(Collocations)

shoulder noun

1 vai, bờ vai

ADJ dislocated, frozen bị sai khớp, bị trật khớp His frozen shoulder has stopped him playing tennis Vai hắn bị sai khớp làm hắn phải ngưng chơi quần vợt .

SHOULDER + NOUN injury bị thương, thương tích | blade, bones xương (vai/bả vai), joint khớp, muscle bắp thịt, socket hốc The bullet hit him squarely between the shoulder blades Viên đạn bắn trúng ngay giữa hai bả vai. | height, level chiều cao, mức cao (đến vai/ngang vai) | width chiều rộng, chiều ngang | harness, sling, strap dây cương | injury thương tích

PREP over your ~ qua ~ He slung the sack over his shoulder and set off Hắn quăng cái bao bố/bao tải lên vai rồi đi khỏi/lên đường.

PHRASE a pat on the shoulder một cái vỗ vai an ủi He gave me a reassuring pat on the shoulder Hắn vỗ vai trấn an tôi shoulder to shoulder vai kề vai The route of the procession was lined with police officers standing shoulder to shoulder Lộ trình của cuộc diễu hành/đám rước có cảnh sát đứng sát nhau vai kề vai dọc theo tuyến đường, tap sb on the shoulder lấy tay đập vào/trên vai I tapped the man on the shoulder and asked him to move Tôi đập tay lên vai người đàn ông đó và bảo hắn đi chỗ khác.



2 bả vai

ADJ big, broad, great, huge, manly, massive lớn, rộng, muscled, muscular gân guốc, powerful, strong mạnh, khoẻ, wide rộng | delicate, shapely, slim mảnh, mảnh mai, gầy | narrow, thin hẹp, mỏng | square vuông, vuông vắn | round tròn, tròn trịa | bony xương xẩu | bowed cong | bare trần | tense, tight căng, cứng | tired mỏi

VERB + SHOULDER shrug nhún When I asked him why he'd done it he just shrugged his shoulders. Khi tôi hỏi hắn tại sao hắn lại làm điều đó thì hắn chỉ nhún vai (không trả lời). | hunch co vai rụt cổ He hunched his shoulders against the cold wind Hắn co vai rụt cổ tránh gió lạnh.

SHOULDER + VERB be bent, be bowed, be stooped cong, gập, cúi xuống She was crouched with her head forward and her shoulders bent Cô ta khom người xuống đầu gục về phía trước còn hai vai thì cong gập lại. | droop, drop, sag, slump buông thõng, xệ, sụp xuống My shoulders dropped with relief Hai vai tôi thõng xuống nhẹ nhõm cả người. | lift, shrug co, nhún Her shoulders lifted in a vague shrug Hai vai cô nhô lên trong một cái nhún nhẹ | heave, shake, twitch giật mạnh, rung, co mạnh His enormous shoulders heaved with sobs Hai vai to lớn của hắn run rẩy với tiếng khóc nức nở. | stiffen, tighten đau cứng | relax (để) tự nhiên, thoải mái

PREP on your ~s trên ~ của bạn/mình The child sat on her father's shoulders to watch the parade go by Đứa bé ngồi trên vai cuả cha nó để xem đoàn diễn hành đi qua.



shoulder verb

1 nhận lấy trách nhiệm

VERB + SHOULDER have to, must phải She had to shoulder the burden of child care. | be willing/unwilling to muốn/không muốn; sẵn lòng/không sẵn lòng He was unwilling to shoulder this responsibility alone Hắn không muốn nhận lãnh trách nhiệm này một mình.

2 lấy vai hích vào ai/cái gì

ADV roughly We were shouldered roughly out of the way. | aside, out of the way

PHRASE shoulder your way past/through sb/sth di chuyển bằng cách dùng vai đẩy/hích tới mà đi qua ai/người nào/vật gì She shouldered her way through the crowd Cô ấy dùng vai đi lách qua đám đông.



stream noun

1 (dòng, con) suối

ADJ little, small nhỏ | shallow cạn | clear trong | fast-flowing chảy xiết | bubbling róc rách We picnicked beside a bubbling stream Chúng tôi tổ chức đi píc-níc (cuộc chơi ngoàì trời) bên cạnh một dòng suối nước chảy róc rách. | mountain trên núi underground ngầm dưới đất

VERB + STREAM cross băng qua

stream + VERB flow, run chảy The stream flows through a narrow valley Con suối chảy xuyên qua một thung lũng hẹp .

STREAM + NOUN bed đáy

PREP across a/the ~ băng qua, bên kia,down a/the ~ dưới, suôi dòng ~ in a/the ~ trong There are small fish in the stream Có nhiều cá nhỏ trong con suối on a/the ~ trên a leaf floating on the stream mộc hiếc lá trôi trên dòng suối up a/the ~ ngược dòng ~

PHRASE the side/edge of the stream bờ/ven suối

dòng chảy/luân lưu liên tục của chất lỏng/khí đốt/ánh sáng

ADJ thin loãng, mỏng | air không khí, gas khí đốt, hơi ga

VERB + STREAM let in cho vào

stream + VERB flow chảy A stream of blood flowed from the wound Một dòng máu chảy từ vết thương ra.

PREP ~ of

dòng liên tục người/xe cộ/đồ vật

adj constant, continuous, endless, never-ending, steady liên tục, không ngừng a constant stream of letters một luồng thư từ tới liên tục o Cars filed past in an endless stream Xe hơi/ô tô đi qua theo hàng một thành một dòng bất tận/không dứt.

VERB + STREAM let loose/out nhả, xì ra, tuôn ra, xổ ra, cho thả ga

PREP ~ of He let loose a stream of abuse Hắn xổ ra một tràng những lời lăng mạ/sỉ nhục.

WLP
07-28-2007, 07:50 PM
Đi guốc trong bụng


Sau khi trả lời câu hỏi của một độc giả trong bài học lần trước: “Có từ ngữ Hán-Việt nào để thay cho những từ ngữ nôm na “thôi chồng”, “thôi vợ” hoặc “chết vợ” hay không?”, chúng tôi nhận được sự góp í của hai người bạn:



Một người là Thiên Ân, mà tôi thường gọi đuà là ông Ơn Trời (God’s blessing), nguyên là phiên dịch viên/phát thanh viên (translator/broadcaster) Việt ngữ của Đài BBC Luân-đôn và Đài VOA Hoa-thịnh-đốn trong khoảng thời gian tổng cộng là 20 năm. Khi còn ở Việt Nam trước 75, anh đã có thời kì làm Đài Vô Tuyến Truyền Hình cùng với cô Ngọc Hân, nay là Trưởng Ban Việt ngữ Đài SBS Radio Sydney. Anh viết mà tôi đã tóm lược lại như sau:



1. Đã nhận được bài viết ANHMV cuả bạn hiền. Cám ơn nhiều. Hay lắm.

2. “Vợ chết”, từ Hán Việt gọi là "Quan" hay "Quan phu", cũng ở trong mấy cuốn từ điển đời xưa đó (Việt Nam Từ Điển, hoặc trong cuốn Đại Nam Quấc Âm Tự Vị cuả Huình Tịnh Paulus Cuả ....). Còn “bị vợ bỏ” hay “thôi vợ”; “chồng bỏ” hay “bỏ chồng”, theo thiển ý, gọi là “Giải phóng quân” (dùng cho đàn ông) hoặc “Giải phóng thê” (dùng cho đàn bà).

(Nguyễn Thiên Ân, Oklahoma City, Hoa Kì)


Còn người kia, vì khiêm tốn, không thích nêu tên thật, mà tôi thường gọi đùa là Dr. Excellence, nguyên là một giảng viên Đại học Wollongong, ngành hầm mỏ. Trong nhiều năm qua anh hành nghề luật sư (practise law) tại Sydney và đồng thời viết lách liên tục về ngôn ngữ, đặc biệt là tiếng Hán-Việt (Sino-Vietnamese), dưới bút hiệu là Nguyên Nguyên. Tôi xin tóm tắt lời anh viết như sau:



1. Tiếng Việt thật đúng: “vợ mất chồng” (= sương phụ); “chồng mất vợ” (= goá vợ), nhưng lâu ngày “sương phụ” chuyển ý sang thành “goá phụ”. [Việt Nam hoá (Vietnamization)]. Cụm từ “sương phụ” dần dần biến mất, ngoại trừ trong các tiểu thuyết xưa.

2. “Đại tiện” thì nhiều từ điển tiếng Anh thông dụng hơn “chua” nghĩa: “to defecate”, “to shit”.



Nói chuyện ngôn ngữ và từ điển làm tôi nhớ đến một người sáng giá trong phạm vi này là Giáo sư Bùi Phụng, tác giả cuốn từ điển Việt-Anh đã được tái bản và bổ sung nhiều lần, và đến nay pho sách này đã lên tới 500.000 mục từ, vừa dầy cộm, vừa nặng chình chịch. Nhà giáo họ Bùi, thuộc con dòng cháu giống đấy chứ chẳng phải chuyện chơi, đã có thời kì, trước khi về hưu, là Chủ Nhiệm Khoa tiếng Việt (Dean of Vietnamese Faculty), trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

Tôi gặp ông lần đầu tại Hà Nội vào khoảng đầu thập niên 90, do anh Đỗ Văn, bạn học thời trung học cuả ông, và là đồng nghiệp cũ cuả tôi trong Ban Việt Ngữ Đài BBC Luân đôn, giới thiệu. Trong chuyến đi Việt Nam vừa rồi, tôi gặp ông hai lần, một lần tại tư gia ở Phố Mai Hắc Đế, lần kia tại Nhà Thuỷ Tạ (Pavilion on/near the water/Lakeside restaurant) bên Hồ Hoàn Kiếm (Lake of the Returned Sword) khi tôi mời ông đi ăn bữa trưa (having lunch). Sau khi đã “ăn uống no mà chưa say” (ông ăn gà quay với khoai tây rán, uống 2 hộp bia Heineken), tôi liền đem chuyện ngôn ngữ ra “cà khiạ” với ông.



Tôi bắt đầu bằng nhận xét về hiện tượng “nói tắt” (cắt ngắn, rút gọn), và “nói chữ” (dùng từ Hán-Việt) tại Việt Nam mà tôi đã ghi nhận trong chuyến đi này. Một vài thí dụ cụ thể về “nói tắt” tôi xin kể ra đây là:

Ký túc < Ký túc xá (dormitory (Mĩ)/residential college (Úc) [vd. Tao đang ở trong ‘kí túc’ đây! (lời cuả một cô sinh viên nói chuyện với bạn qua điện thoại di động)];

Nghiêm < Nghiêm chỉnh (vd. chấp hành nghiêm < chấp hành nghiêm chỉnh);

Chuyên < Chuyên ngành, chuyên môn, chuyên sâu (vd. trường chuyên < trường chuyên môn);

Đại học mở < Đại học mở rộng (Open University);

Trường Y < Trường Y khoa;

Lái xe < Người lái xe (driver/chauffer);

Ai là triệu phú? < Ai muốn là triệu phú? (Who wants to be a millionaire?);

Doanh nghiệp nhỏ và vừa < Doanh nghiệp nhỏ và vừa phải.

Thật ra đây cùng chỉ là một khuynh hướng tự nhiên trong ngôn ngữ, khi người sử dụng ngôn ngữ muốn giản dị hoá, bớt dài dòng văn tự. Không nghe quen thì có cảm tưởng như lời văn, lời nói bị cắt cụt, thiếu nhịp điệu. Riêng trường hợp “người lái xe” (tài xế), tôi thấy hơi lạ, vì khi “nói tắt” như thế vô hình trung ta đã thay đổi từ loại của cụm từ “người lái xe” (danh từ) thành “lái xe” (động từ). Nhưng biết làm sao? Nếu ngôn ngữ là để họ hiểu nhau mà họ hiểu được nhau như thế thì “Bố có bảo”, hoặc có về “mách Bố”, cũng chẳng làm gì được họ!



Về hiện tượng “nói chữ”, tôi xin đan cử một vài thí dụ cụ thể như:



Thao tác phát hoả < Thực hiện những động tác kĩ thuật để bắt đầu nổ súng;

Tự bảo quản xe < Tự trông chừng/giữ lấy xe của mình;

Đáp án (answer) < Câu trả lời, câu đáp (cho đề thi/bài thi/câu đố);

Hiển thị < Làm cho hiện rõ hình (như trên màn hình máy vi tính);

Sơ hữu < Bạn quen sơ;

Tranh thủ < Tranh lấy, giành lấy (thời giờ);

Bố trí (arrange) < Sắp xếp;

Trọng thị < Coi trọng.



Đi xa hơn hiện tượng “nói chữ” là hiện tượng “ghép chữ” (cắt ngắn cụm từ rồi ghép phần còn lại). “Ghép chữ” không phải là chuyện lạ trong ngôn ngữ, nhưng trong tiếng Việt, “ghép” thế nào và khi nào “ghép”, mới là chuyện đáng nói.



Một vài thí dụ về ghép chữ “danh từ/tính từ chung với nhau”, tôi ghi nhận được như là:



Hùng hiểm < Hùng vĩ hiểm trở;

Tai tệ nạn < Tai nạn tệ nạn xã hội;

Tương thích < Tương đương và thích hợp;

Động thái < Hành động và thái độ;

Thể trạng < Tình trạng thân thể.



Còn về ghép chữ “danh từ riêng với nhau”, thì hồi ban đầu khi xem chương trình truyền hình ở Việt Nam tôi cảm thấy hơi khó chịu mỗi khi thấy cụm từ “Ban Khoa Giáo, Đài Truyền Hình Việt Nam”. Tôi tự hỏi “Ban Khoa Giáo” là cái quái gì? Sau rồi đoán ra mới biết nó là “Ban Khoa học và Giáo dục” [Khoa học ghép (blended) với Giáo dục]. Thế nhưng sao không thấy “Bộ Giáo dục và Đào tạo” được ghép lại thành “Bộ Giáo Đào*” ?



Khi tôi nói đến đây, Bùi tiên sinh, người bạn vui tính, bèn nói xen vào, và rồi kể cho tôi nghe là trong một Thiệp Mời tham dự đám cưới, người ta thấy có câu viết được in ấn chỉnh tề với nội dung đại loại như sau:

“Được sự chấp thuận cuả hai Cơ Thể, chúng tôi sẽ làm lễ thành hôn cho Trưởng Nam chúng tôi là Nguyễn văn … đẹp duyên cùng cô Trịnh thị …, Thứ nữ của Ông Bà …”



Hai “Cơ Thể”, nói theo ngôn từ ở Việt Nam hiện giờ mà đem áp dụng đối với tôi trong trường hợp này là “Hiểu chết liền!” (= không hiểu gì hết). Quí Vị, Quí Bạn có biết không? “Hai cơ thể” [= hai bộ phận của cơ thể] làm mình cứ tưởng là ông nói đùa cho có chuyện, nhưng không phải vậy, ông nói thật: “Hai Cơ Thể” là sự kiện ghép chữ, ghép cụm từ “Cơ quan” và “Đoàn thể” lại với nhau đấy ạ!



Quả thật là “Đến khi em hiểu thì em đã!” Anh Bùi Phụng ơi!



Nhưng thôi! Chuyện đâu còn đó! Quí Vị, Quí Bạn ơi! Bài học cuả chúng ta tuần này có chủ đề là “Đi guốc trong bụng”, một bộ phận khác cuả cơ thể, cơ!



Tôi nhận được “email” cuả một anh bạn ở Sydney, không phải anh bạn luật sư, giới thiệu vào xem một bản tin “online” (trên mạng) của Đài BBC tiếng Việt có tít (headline) là: “Tội phạm Việt (Vietnamese criminals) ở Anh qua lời người phiên dịch (through the eyes of an interpreter)”. Khi chuyển cho tôi, anh bạn “nhắn với”, muốn lưu í tôi về tội phạm người Việt ở Úc cũng rưa rứa như ở Anh, nếu không muốn nói là tệ hơn thế nữa. Nghiã là có í chê!



Tôi, vì méo mó nghề nghiệp (nghề tay trái “thông/phiên dịch” ấy mà!), nên lại xem cái “message” (thông điệp/thông tin) ấy với một í nghĩ khác, nhưng khác thế nào thì xin tạm gác sang một bên để Quí Bạn đọc bản tin (do tôi đã “gài” thêm tiếng Anh) ngày 01.03. 2007 cuả kí giả Bá Thùy viết từ Luân đôn cái đã:



“Tội phạm Việt (Vietnamese criminals) ở Anh qua lời người phiên dịch (through the eyes of an interpreter)”



Sau nhiều lần đi dịch cho tội phạm Việt ở Anh, chị Hương* nói rằng có thể "đi guốc trong bụng họ (know them inside out), biết người nào nói thật, người nào diễn (who is making a pretense)". Tôi không nhớ chính xác đã tham gia dịch cho bao nhiêu trường hợp. Khoảng vài chục (a few score) vụ trong vòng gần hai năm qua. Nhìn chung, thời gian xét xử không cố định mà hoàn toàn phụ thuộc vào tính chất của từng vụ, ví dụ như án lẻ (petty crimes) hay có tổ chức (organised crimes), bị can có nhận tội hay không (to plead guilty or not guilty), hoặc đã kháng cáo bao nhiêu lần.



Nhưng dính đến án có thể bị phạt tù thì ít nhất cũng bị tạm giam độ sáu tháng trước khi đưa ra xét xử (brought to court), trừ những trường hợp được tại ngoại (bail is granted). Một vụ thường ra tòa nhiều lần.



Tội của người Việt chủ yếu là trồng tài mà (cần sa) [cultivation of marijuana], ăn cắp (theft), lái xe không bằng hoặc say rượu (driving without a licence or drink-driving), vài trường hợp liên quan đến ẩu đả (brawling), giết người, nhưng cuối cùng đều “dính” đến (it all boils down to) trồng tài mà (the cultivation of marijuana).



Trong thời gian đi dịch, tôi chưa thấy trường hợp nào thương tâm. Có người thực sự hốt hoảng, (in a state of real panic) lo lắng, cũng có người tỏ ra bình thản (appear cool, calm, and collected), như đã chuẩn bị trước tinh thần, nhất là án tài mà. Tôi thấy đa phần đóng kịch giỏi (put on a good act).



Thường vì không biết tiếng (lack of English/language) nên mọi người rất thụ động, hỏi gì nói nấy (speak when spoken to). Và luôn luôn có một câu là “chị ơi (em ơi), nói giúp với luật sư giúp anh (em) với”.



Đa số người bị bắt là “người rơm” (lit. straw-men*) [= illegal Vietnamese migrants in England (người Việt sống bất hợp pháp ở Anh)], cũng có người ở đây hợp pháp, và người Việt ở nước khác trong châu Âu đến London phạm tội nhưng số lượng ít.



Chối tội (Denial of charges)



Trong phiên xử (trial proceedings), tôi thấy họ thường chối tội và nói loanh quanh (beat about the bush). Có trường hợp khai rằng chồng bị đi tù, và vì sợ bị bắt theo nên bỏ ra mấy chục ngàn để chạy sang Anh, bởi thế cần phải đi làm để trả nợ (to pay off the debt).



Có người khai là bị chồng đánh đập (beaten up by her husband), nên tìm cách thoát khỏi cảnh bị đọa đầy và sang Anh. Nhiều cô thì nói rằng bị ép vào nhà chứa (forced into prostitution) và phải bỏ của chạy lấy người.



Lại có người khai mới sang Anh nên không biết gì, khi được thuê làm thì cứ nghĩ đi trồng thuốc bắc (growing Chinese herbal remedies/medicines), không ngờ lại là tài mà. Nhiều người bị bắt quả tang (caught red-handed) nhưng nói là đó là nhà của bạn, và vừa đến chơi thì bị bắt. Nhiều người nói rằng không có việc làm, không nơi ăn chốn ở nên nhận làm chăm sóc tài mà để có chỗ ở, thu nhập (an income) để sống.



Tôi cũng thường tranh thủ nói chuyện trong những trường hợp không bị cấm. Nhiều người nói rằng trước khi bị bắt, trong đầu họ không có khái niệm bị “tóm”. Nhưng đôi khi họ vẫn vấp phải vận đen (experienced bad luck). Nhiều trường hợp sắp đến thời gian thu hoạch (as harvest time drew near), bị tội phạm da đen vào giơ súng (wielding pistols), dọa nạt và thậm chí bắt phải gặt tài mà giúp chúng.



Nhiều luật sư vừa nhìn thấy tôi đã hỏi “mày đến dịch cho vụ ông X, Y, Z trồng tài mà phải không?”. Tôi hỏi lại sao lại biết thì họ cười, nói là đó là tình trạng nổi cộm trong các vụ án liên quan tới người Việt Nam ở Anh.



Người Việt ở London thường biết nhau nhưng ai biết việc của người đó (but they mind their own business/but they keep to themselves) và không có nhiều hoạt động cộng đồng.



Thông tin này cho tôi thấy một khiá cạnh nổi cộm về nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp của “người phiên dịch” (interpreter) bên Anh Quốc. Họ có thể không phải nằm trong đội ngũ đã được huấn luyện chu đáo hay được tuyển dụng chặt chẽ như là những thông dịch viên chuyên nghiệp (professional interpreters) ở Úc, nghiã là họ có thể không bị bắt buộc phải tuân thủ theo Code of Ethics (= Nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp), trong đó chính yếu có Confidentiality (Kín đáo/Cẩn mật), Impartiality (Khách quan/Vô tư), Accuracy (Chính xác/Đúng thật) và Conflict of Interest (Xung đột/Va chạm về Lợi ích/Quyền lợi).



Câu nói của cái-gọi-là chị Hương (the so-called Huong), thông dịch viên bên Anh, cho tôi thấy chị đã vi phạm nguyên tắc “Confidentiality” vì sau những lần đi thông dịch chị đã chị ra ngoài đường nói tung tưởi với báo chí, cho mọi người biết thân chủ (clients) cuả mình nói thật, nói dối ra sao. Khi bảo rằng mình “có thể đi guốc trong bụng họ”, chị có thể dễ vi phạm nguyên tắc “Impartiality” vì có “thiên kiến, thiếu vô tư” đối với cái-gọi-là tội phạm (the so-called criminal), nên có thể, vô thức hoặc vô hình trung, phạm phải nguyên tắc “Accuracy” khi dịch sai lời người ta nói, nhất là khi phải chọn chữ, chọn từ cho chính xác, ngay liền và tức thì, trong bầu không khí trang nghiêm của “pháp đình” (court of law).



Chị “Hương” này chắc cũng không biết là luật pháp bên quê hương thứ hai (adopted country) của chị có nêu rõ đâu đó là: “A person is innocent until proven guilty” (Ai cũng vô tội cho tới khi bị chứng minh là có tội). Chị “Hương” của chúng ta có thể chỉ biết một (1) mà không biết mười (10)!



Nếu vậy thì, “Ai đi guốc trong bụng ai” bây giờ đây? Hở, Hở, Hở??? Trời!!!



Trịnh Nhật

Sydney, 22 tháng 3, 2007



____________________________________

*Tên của người phiên dịch đã được thay đổi



Kết hợp ngữ
(Collocations)

broadcast noun

(chương trình) phát thanh, truyền thanh, phát hình, truyền hình

§ ADJ radio ra-đi-ô, satellite vệ tinh, television truyền hình | live sống, trực tiếp | outside (chương trình truyền hình hoặc phát thanh) không thực hiện ở trường quay (stuđiô) chính, mà ở bên ngoài trong một toà nhà hay ngoài đường phố | election bầu cử, news tin tức, party political chính trị đảng phái, religious tôn giáo

§ VERB + BROADCAST give, make dành The president gave a radio broadcast to mark the end of the war Vị tổng thống lên tiếng trên đài phát thanh để đánh dấu sự kết thúc cuộc chiến. | hear nghe, see trông thấy

§ PREP in a/the ~ trong More details will be given in our news broadcast Sẽ có thêm chi tiết được cho biết trong phần phát thanh tin tức của chúng tôi. | ~ by bởi a broadcast by the prime minister một bài phát thanh của Thủ tướng ~ on trên a radio broadcast on the problems of unemployment một buổi phát thanh về các tệ nạn thất nghiệp.

broadcast verb

phát thanh, truyền thanh, phát hình, truyền hình

§ ADV live sống, trực tiếp

§ PREP from từ We will broadcast live from the ship Chúng tôi phát thanh trực tiếp từ con tầu đó. to tới/đến/cho a Christmas message broadcast to the nation Một thông điệp Giáng sinh phát thanh đến toàn dân.

broadcaster noun

phát thanh viên

§ ADJ commercial thương mại Existing commercial broadcasters claim the new stations are illegal Các phát thanh viên thương mại hiện thời cho rằng các đài/kênh mới là bất hợp pháp. | independent độc lập | public service công chức The country needs a national public service broadcaster like the BBC Đất nước cần một cơ quan phát thanh công cho toàn quốc như tập đoàn BBC. | local địa phương, national quốc gia | satellite vệ tinh



interpretation noun



(lời) giải thích, giảng giải, dẫn giải



§ ADJ correct, right, true, valid đúng, chính xác, thật, có giá trị | erroneous, false, wrong sai, lầm, không đúng | plausible đáng tin cậy, reasonable hợp lí | simplistic giản dị | literal, narrow, strict tự nghĩa, hạn hẹp, hẹp nghĩa | free, generous, liberal, loose, wide tự do, rộng rãi, phóng khoáng, thông thoáng, rộng nghĩa | alternative cách/lối khác, competing, conflicting mâu thuẫn, trái ngược, nước đôi different khác, diverse khác biệt, multiple nhiều cách, đa dạng | artistic nghệ thuật, đẹp, mĩ thuật

§ VERB + INTERPRETATION give sth, make cho ra, đưa ra In practice, this law is often given a wide interpretation by the police Trên thực tế, luật này thường được cảnh sát giải thích một cách rộng rãi. o Scientists made an interpretation based on the data available Các khoa học gia đưa ra lời giải thích dựa trên những dữ kiện có sẵn. | be open to mở ra cho; có thể được/bị. The wording of this section of the contract is open to interpretation Lời lẽ trong phần này của hợp đồng có thể được giải thích theo nhiều cách.



§ PHRASE put an interpretation on sth đưa ta lời giải thích về việc gì It is possible to put an entirely different interpretation on her behaviour Có thể đưa ra một lời giải thích khác hẳn về hành vi cuả cô ta.



interpreter noun



thông dịch viên, thông ngôn (viên)



§ VERB + INTERPRETER act as làm | speak through nói qua, nói (có người dịch) Speaking through an interpreter, a Japanese fisherman gave his account of the tidal wave Một dân đánh cá/chài lưới người Nhật tường thuật về vụ sóng thần qua một người thông dịch/phiên dịch.

§ PREP ~ for cho Susan acted as interpreter for us Susan đã thông dịch/phiên dịch cho chúng tôi.



ethics noun



đạo đức



§ adj personal cá nhân She resigned over an issue of personal ethics Cô ta từ nhiệm/từ chức về một vấn đề đạo đức cá nhân. | Christian Thiên Chúa giáo | business doanh nghiệp, kinh doanh medical y (đức), professional nhà nghề, chuyên nghiệp, nghề nghiệp The study was approved by the medical ethics committee Cuộc nghiên cứu đã được uỷ ban y đức chấp thuận.

§ phrase a code of ethics Qui tắc đạo đức (nghề nghiệp) There should be a code of business ethics which indicates how clients are to be served Nên có một nguyên tắc đạo đức doanh nghiệp nêu rõ việc phục vụ khách hàng, a matter/question of ethics một vấn đề đạo đức (nghề nghiệp). It's the committee's job to decide on matters of ethics Đó là công việc của uỷ ban quyết định các vấn đề liên quan đến đạo đức nghề nghiệp.



Trịnh Nhật

Sydney, 22 tháng 3, 2007

WLP
07-28-2007, 07:56 PM
Tập tễnh bước vào Thu



Qua bài viết “Đoá hoa nở muộn” lần trước, chúng tôi nhận được 2 “emails”, một là cuả anh Brad Paez, người Úc tên tiếng Việt là Dũng, có vợ là người Việt, cư ngụ tại Melbourne, và một là cuả một người có điạ chỉ “email” < hoalam@tpg.com.au >, không biết nam hay nữ, và cư ngụ tại thành phố nào, nhưng chắc chắn là ở Úc.



Anh Brad, 46 tuổi, phiên dịch viên Việt-Anh và đang học Cao học về dịch thuật (translation) ở University of Western Sydney (Đại học Miền Tây Sydney) với tư cách là external student (tạm dịch là “sinh viên ngoại khoá” = sinh viên ghi danh khoá học, nhưng không nhất thiết phải đến trường). Anh sẽ sang Đại học Hoa Sen, Sài Gòn, để dạy tiếng Anh và nghiên cứu thêm dịch thuật tiếng Việt trong vòng một tháng vào năm nay 2007. Anh Brad Dũng viết:



Thanks Frank (Nhật). I am also a Late Bloomer. Your latest article is the best one yet in the current series (bài viết hay nhất từ trước đến nay trong loạt bài hiện giờ). Will book tickets (đặt mua vé) on Saturday for Vietnam. Expected date of departure 30/6 and arrival back 29/7. I will contact Hoa Sen University with an update (tin tức cập nhật) next week. Kind regards, Brad (Dzũng)

Độc giả có tên là Hoa viết:

Kính thưa Gs, Em không hiểu nghiã một số từ ngữ tiếng Anh về triết học. Xin Gs vui lòng giải nghiã và dịch sang tiếng Việt.

1. Retrocognitive knowledge;

2. Supra- conciousness; 3. Supra-sensible; 4. Supra-intellectual; 5. One-pointedness;

6. Semantic articulation; 7. Non-articulated; 8. Articulated; 9. Empirical

ego; 10. Transcendental ego; 11. Causal self; 12. Causal being; Em thành thực cám ơn Gs. Em, Hoa.



Trước khi trả lời em Hoa, tôi đã chuyển thư em tới một người rành về triết học ở Sydney,với hi vọng được thêm chút í kiến nào chăng.

Vậy xin em ráng đợi. Nhân đây tôi xin hỏi có quí vị nào biết chuyện (the person in the know) thì cũng xin tiếp tay giùm. Đa tạ trước.



Trong bài học lần trước, có từ ngữ “muffin-top” đã được Macquarie Dictionary Committee (Ủy ban Từ điển Macquarie) bầu chọn là “the word of the year” (từ xuất sắc nhất trong năm), mà tôi đã chú thích ở phần cuối bài và có kèm theo hình ảnh minh hoạ do cháu Pamela, 24 tuổi, sinh tại Úc, tìm cho tôi trong Google. Nay tôi xin được mô tả lại bằng lời không thôi như thế này:

“Muffin-top” là từ ngữ chỉ cái phần trên cuả chiếc bánh ‘muffin’ [“bánh nướng xốp” (spongy baked cake); một loại bánh bông lan], nhưng nay lại là để chỉ “phần mông có đầy thịt phình ra phiá trên quần tây (slacks) hay quần bò (jeans) của phụ nữ, nhất là khi họ mặc quần xệ đít (when women wear them below the hip-line)”. Nếu mặc xệ quá thì “muffin-top’ còn cho ta thấy cả một phần cuả cái “G-string” panties [= xì-líp nhỏ xíu (very tiny briefs), giống như cái khố nhỏ (small loincloths), chỉ đủ để che bộ phận sinh dục cuả phụ nữ (women’s genitals) và được giữ bởi một sợi dây nhỏ/mảnh quanh mông].

Nói đến chuyện “hở mông, hở sườn, hở mạng mỡ” làm tôi nghĩ đến chuyện “hở rốn” mà tôi đã viết cách đây khá lâu. Nay xin được trích một vài đoạn bài “Cái rốn của vũ trụ” (the navel of the universe) như sau:



Khi thấy người nào ăn nói hợm hĩnh (boasting arrogantly), giương giương tự đắc (being self-obsessed), thì người Việt ta thường nêu nhận xét, bình phẩm: 'Nó tưởng nó là cái rốn của vũ trụ'. Tây thì họ cũng có nhận xét, bình phẩm như thế nhưng họ không nói thanh tao, văn vẻ bằng mình (more offensive and less than poetic): 'Nó tưởng cứt của nó không thối' (He thinks his shit does not stink).
Người Việt ta khi nói đến cái rốn trong trường hợp này là ta đã dùng nghĩa ẩn dụ (metaphorical sense) của nó để chỉ cái trung tâm, cái tụ điểm, cái nằm ở giữa. (the centre or focal point that lies in the middle ground). Nói trắng ra (to put it simply) là cái rốn có cái tầm quan trọng vô cùng. Tây thì họ lại không nghĩ thế. Khi nói đến chuyện ngồi ngắm rốn (navel-gazing/contemplating one’s navel) là họ nói đến trạng thái nhàn rỗi, ăn không

ngồi rồi (the state of being idle), không có việc gì làm, nên ai đó mới vạch rốn mình ra mà ngắm. Mà nói khác đi là cái rốn là cái gì chán ngắt. Khi nói ai ngồi 'ngắm rốn' là có ý chê bai, có ý chửi khéo (a sign of veiled verbal abuse).

Nếu trong quá khứ ngắm rốn 'mình' mà bị chê bị chửi (was frowned upon), thì nay ngắm rốn 'mình' cũng vẫn bị chê, bị chửi như thường (still be ridiculed, no matter what). Nhưng ngắm rốn 'người' lại là việc làm đáng khuyến khích. Mới đây hiện tượng ngắm rốn, đặc biệt là ngắm rốn thiên hạ, mang một tầm mức quan trọng trong xã hội phương Tây. Rốn đột nhiên xuất hiện, phơi bầy (navels have suddenly become exposed) ở khắp mọi nơi, ngoài đường phố, trong siêu thị, đâu đâu người ta cũng thấy những rốn là rốn.

Các nhà sản xuất 'mốt', vẽ kiểu thời trang (fashion designers) đã để cho những cô gái mới dậy thì, để cho phụ nữ có thân hình thon thả, mảnh mai được dịp mặc quần, mặc váy xệ xuống dưới rốn (to wear trousers and skirts below the navel), được dịp mặc áo cắt ngắn cũn cỡn, lên gần sát tận ngực (blouses and tops which are cut short to just below the breast level), để lộ cái rốn ra, để lộ rốn ra đã đành, nhưng đâu phải chỉ để lộ ‘suông’ có cái rốn, nhiều rốn còn được đeo khoen, đeo nhẫn xanh xanh đỏ đỏ (adorned with rings of different colours) để thu hút sự chú ý của người ngắm nữa chứ! Nay thử hỏi ai dám bảo là rốn không phải là trung tâm của vũ trụ (centre of the universe)?

Quí Vị, Quí Bạn ơi! Nói theo lời con trẻ thì: “rốn là để bôi dầu” (navels are for rubbing ointment into) mỗi khi đau bụng. Thế thôi! Chuyện “rốn mình rốn người” nghe thật hấp dẫn, nhưng chuyện đâu còn đó! Chủ đề cuả bài học tuần này là “Tập tễnh bước vào Thu” cơ! Nghe văn nghệ hơn, lãng mạn hơn…để cho tình lên cao vút!

Gần đây chúng tôi nhận được những “Slide Shows” do bạn bè gửi từ Bắc Bán Cầu, với những tranh ảnh màu sắc ca tụng Xuân về, nhưng ở Nam Bán Cầu đây, chúng tôi đang tấp tểnh đón Thu về. Hình ảnh giao muà, giao tình tại Úc đã được tôi ghi lại như sau:


Áng thu phong nắng nhẹ đầu muà
Bánh xe luân hồi tròn tứ phía…

Đều quay đều…
Nền đá mặt đất thảm cỏ
Nhấp nhô trên dưới thấp cao
Không gian thời gian vỗ cánh!



Cây xanh trời xanh gió thanh thanh

Mặt nước xanh phẳng lặng sông hồ

Xiêm hồng y hồng gót hài hồng

Hồng lên má lên môi … tình hồng!

(Thơ Trình Nguyên, 2000)



[Mellow sunshine, early gentle autumnal breezes
The wheels of life turning in all directions...

Incessantly turning…
Along the road, the tracks, the grassy carpet
Up down high low undulating
Time and space take wing!



Trees green, blue the sky, gentle breeze
Placid blue waters of lake and stream
Her top, her skirt and high heels of pink
Lips and cheeks pink blushed… Rosy romance!]

(Francis Nguyễn chuyển ngữ, 2000)



Nói đến Thu về mà không nhắc đến bài Autum Leaves (Lá Thu) với giọng hát mượt mà, nhung luạ, đầy âm hưởng cuả Nat ‘King’ Cole thì quả là thiếu sót. Lời ca cuả bài hát (the lyrics of this song) nghe như thế này:


Autumn leaves

The falling leaves

Drift by my windows

The autumn leaves

Of red and gold

I see your lips

The summer kisses

The sunburned hands

I used to hold

Since you went away

The days grow long

And soon I hear

All winter songs

But I miss you

Most of all

My darling

When autumn leaves start to fall.



Bài hát này đã được một người bạn cuả tôi, hiện đang ở Mĩ, phỏng dịch thành thơ như sau:


Lá Thu



Từng chiếc lá rơi

Bên song cưả sổ

[The falling leaves

Drift by my windows]



Ôi lá muà thu

Võ vàng uá đỏ

Ôi lá muà thu

Gợi niềm nhung nhớ

[The autumn leaves

Of red and gold]



Đôi làn môi em

Những chiếc hôn dài

Muà hè nóng bỏng

Sao mà nhung nhớ

[I see your lips

The summer kisses]



Đôi bàn tay em

Nhuộm màu nắng hạ

Anh thường ấp ủ

Giờ đây còn đâu

[The sunburned hands

I used to hold]



Từ em rời bỏ

Tình anh ra đi

Ngày sao dài lạ

[Since you went away

The days grow long]



Và chẳng bao lâu

Anh nghe tất cả

Bài ca sầu khổ

Ý nhạc muà đông

Ủ ê trong lòng

[And soon I hear

All winter songs]



Nhưng mà em ơi

Anh buồn nhung nhớ

Một bóng hình em

Hơn cả mọi điều

[But I miss you

Most of all

My darling]



Khi lá thu vàng

Ngỡ ngàng trước gió

Khi lá thu vàng

Rơi tàn trước gió.

[When autumn leaves start to fall].

(Nghiêm Ngọc phỏng dịch, thập niên 60s)

http://www.khoahoc.net/photo/vaothu.gif

Trịnh Nhật

Sydney, Mồng 4 Tháng 4, 2007



Kết hợp ngữ
(Collocations)

gaze noun

(cái) nhìn chằm chằm, lườm nhìn thẳng, nhìn thẳng không chớp mắt, nhìn gườm gườm, nhìn trừng trừng

§ ADJ direct, fixed, level, steady, unblinking, watchful thẳng, chằm chằm, chùng chừng, không chớp mắt She felt embarrassed under his steady gaze Cô ta cảm thấy bối rối dưới cặp mắt nhìn chừng chừng cuả hắn. | intense, in­tent, penetrating, piercing, searching xuyên suốt, soi thấu, soi mói | clear | cold, cool lạnh nhạt, hard, steely, stony cứng còi, gay gắt, sắt đá | admiring thán phục, angry giận dữ, critical khắt khe, etc. | blue, brown, dark, grey His deep blue gaze held hers. | public (nghĩa bóng) công chúng Pop stars are constantly exposed to the public gaze.

§ VERB + GAZE direct, fix (sb with), focus, turn nhắm, hướng They fixed their gaze on the dark line of the coast ahead Họ tập trung nhìn vào cái lằn/đường tối cuả bờ biển phiá trước o She fixed him with a level gaze, o He turned his gaze on me Hắn quay mắt nhìn sang hướng tôi.. | meet bắt gặp, nhìn lại She refused to meet my gaze Cô ta không chịu nhìn mắt tôi. | hold giữ nguyên, cứ nguyên như thế | follow dõi theo I followed her gaze and spotted a new arrival at the far side of the room Tôi dõi theo mắt cô nhìn và thấy một người mới tới ở phiá đằng xa kia cuả căn phòng. | avert, drop, lower quay mắt đi, mắt nhìn xuống She deliberately averted her gaze when he came in Cô ta cố í quay mắt đi không nhìn khi anh ta bước vào. | avoid tránh She avoided his gaze Cô ta tránh mắt nhìn của anh ta.

§ GAZE + VERB drift, flick, flicker, fly, move, rake (sth), roam (sth), run, shift, slide, sweep (sth), travel, wander nhấp nháy, mấp máy His gaze flickered an instant, o His gaze flickered over the room. | follow sth theo cái gì Her gaze followed Simon's through the archway. | fix on sth, lock (with sth), meet sth bám chặt lấy cái gì, không rời cái gì Her gaze fixed on his and held it unblinkingly Cô nhìn chằm chằm vào anh ta không chớp mắt. o His gaze locked with hers. | hold sth giữ nguyên cái gì | linger, rest dừng lại Rebecca's gaze rested on the child thoughtfully. | fall tập trung Her gaze fell on Kate's tousled hair. | narrow The dark gaze narrowed.

§ PREP under sb's ~ dưới cặp mắt nhìn chằm chằm cuả ai He blushed under her angry gaze Anh ta đỏ mặt/ngượng dưới cặp mắt nhìn giận dữ cuả cô ta.



gaze verb



Nhìn chăm chăm, nhìn chằm chằm, ngắm nhìn

§ ADV calmly, steadily bình tĩnh, đều đặn, không thay đổi | intently, unblinkingly không chớp mắt He gazed unblinkingly into the distance Hắn nhìn xa xôi mắt không chớp. | absently, blankly, unseeingly thẫn thờ, vô hồn, nhìn mà không thấy He gazed absently at the passing crowd. | thoughtfully trầm tư, đầy vẻ suy nghĩ | admiringly, adoringly, fondly, longingly, lovingly chiêm ngưỡng, thán phục, đầy mến yêu She gazed admiringly up at him Cô ta nhìn chàng với vẻ đầy thán phục. | down, out, up xuống, ra, lên gazing out over the lake

§ PREP at vào gazing at her beautiful jewellery in trong (sự) They gazed in wonder at the mighty peaks, into thẳng vào She gazed steadily into his face Nàng nhìn thẳng vào mặt chàng mắt không lúc nào rời.

autumn noun

mùa thu

§ ADJ last trước, next tới, this (coming) này | early sớm, late muộn, mid- giữa, trung | wet ướt át, có mưa

§ AUTUMN + NOUN weather tiết | sun, sunlight, sunshine nắng | frost/frosts sương giá, rain/rains mưa | gale gió lớn, wind gió | landscape phong cảnh, sky bầu trời | colours mầu sắc The trees were beginning to turn orange and yellow with autumn colours Cây cối bắt đầu đổi sang màu cam màu vàng là sắc màu cuả muà thu. | leaf lá the sound of autumn leaves rustling | equinox (thu) phân | term quí, khoá học classes to be held for school children during the autumn term các lớp học sẽ được tổ chức cho học sinh trong khoá muà thu | collection sưu tầm exhibition triển lãm their autumn collection of dresses sưu tầm/triển lãm áo mặc cho muà thu.





season noun

1 muà

§ ADJ dry khô, nắng ráo monsoon mưa, rainy, wet mưa In this climate there are no real changes of temperature, just a wet and a dry season. | summer hạ, hè, winter đông, etc.

§ VERB + SEASON be in, come into đúng (vào) Melons are just coming into season. | be out of, go out of trái, không phải, hết

2 muà, thời kì

§ ADJ holiday nghỉ hè, nghỉ phép, tourist du lịch | high, peak cao điểm The resort gets over-crowded in peak season. | low, off không đúng (muà) The hotel is almost empty in the off season. | breeding sinh sản, mating giao phối, động tình | growing, planting trồng trọt | lambing muà cừu sinh sản | cricket cric-két, football bóng đá, bóng bầu dục, hunting săn bắn, racing đua, etc. | championship, league vô địch | gruelling, hard khó khăn, khó nhọc It was the final race of a hard season. | successful thành công, thắng lợi | disappointing, disastrous thảm hại, tệ hại | close The team trained hard during the close season and won its first five matches. | consecutive, successive liên tục, liền Our team won the trophy for the second successive season. | Christmas Giáng sinh, festive lễ hội best wishes for the festive season

§ SEASON + NOUN ticket vé Season ticket holders do not have to queue.

§ PHRASE the height of the season cao điểm của muà, đúng giữa muà



season verb

nêm gia vị, ướp

§ ADV well thích hợp, đậm đà

§ PREP with bằng, với Season the meat well with salt and pepper Ướp thịt kĩ với nhiều muối và tiêu.

§ PHRASE highly seasoned có rất nhiều gia vị highly seasoned food Đồ ăn có bỏ nhiều gia vị

WLP
07-28-2007, 07:59 PM
Buồn ngủ lại gặp chiếu manh



“Đến hẹn lại lên”, mà cũng may là mình còn “lên” được trong lúc này, nhưng Tây họ bảo: “What goes up should come down”.

Trong tinh thần ấy tôi cũng xin thông báo loạt bài Anh Ngữ Học Mà “Phê”này, chỉ sẽ được kéo dài 2 kì nữa rồi phải tạm nghỉ ít lâu,

có thể là vài tuần lễ, để lấy lại sức, lấy lại hứng. Lấy sức, lấy hứng ở đâu, và bằng phương tiện nào thì

“chỉ có một mình mình biết, một mình mình hay mà thôi”.

Tôi xin mở đầu bài viết tuần này bằng thư từ cuả hai thân hữu: một từ Mẽo (cờ-hoa), và một từ Úc (đại-hại). Anh bạn ở Mĩ viết:



Đã đọc bài: “Lo bò trắng răng”. Hay quá! đối với tôi, vì anh chiếu lại cuốn phim quá khứ mà tôi biết khá nhiều. Tuy nhiên, hơi đi xa ANHMV dù là có đoạn cuối kéo lại. Đoạn trên ít từ vựng tiếng Anh. Đôi lời góp ý. K.



Cám ơn anh bạn cố tri (quen nhau từ đầu thập niên 60), đã có nhận xét “không chê được nào”. Có những lúc hoặc bị “carried away” [lôi cuốn/thả hồn theo ngòi bút/tay gõ)] hoặc cố tình tham lam chỉ viết tiếng Việt cho hay, mà tôi quên “chua”, quên “gài” thêm tiếng Anh. Biết đâu chừng muốn “câu” (attract) thêm một ít độc giả chỉ thích đọc tiếng Việt, không muốn bị gián đoạn (interrupted) hoặc bị phân tâm (distracted) vướng mắc bởi chữ nghiã tiếng Anh. Biết đâu chừng không “chua” nghiã tiếng Anh cũng là một nghệ thuật, vì:

(1) muốn tạo một cơ hội cho học viên suy nghĩ, thắc mắc, tò mò;

(2) không muốn dồn ép, nhồi nhét quá nhiều từ ngữ, từ vựng trong một bài học.



Để bổ túc cho thiếu sót về phần từ vựng trong bài trước như anh bạn K góp í, tôi xin thêm những phần sau đây:


Một ngày như mọi ngày

Buồn nhỏ giọt lên tay

Một ngày như mọi ngày,

Tôi trơ thành tĩnh vật!

(Mì ăn liền)

[Dịch thoát: Every day is like any other day,

Tears of sorrow onto my hands, roll.
Every day is like any other day,

I feel lifeless as if without a soul.

(Instant noodles)]

Anh ấy ‘quậy’ lắm (= a bit of a stirrer)

Quân Y sĩ (= Army doctor)

Cuộc đổi đời (= shake-up/upheaval/the so-called metamorphosis)

Mở phòng mạch tư” (= to run/operate a doctor’s surgery)

Tiệc cưới (= wedding reception)


Còn anh bạn từ Melbourne viết, mà tôi đã chuyển dịch sang tiếng Anh, như sau:



Dear Frank (Nhật). You are writing very well these days: cunning (hóm hỉnh) and entertaining (vui), possibly for readers with

a high level of English (số độc giả có trình độ cao), is that right?

Now that you have something to do and money to spend that is quite enough fun, no doubt. You have been back to Vietnam frequently

, so have you any projects in the pipeline? RMIT (Royal Melbourne Institute of Technology) intends to run Master’s Degrees in Interpreting

and Translating in Vietnam itself. Do you want to teach? I could introduce you to Barry Turner who is theProgram Co-ordinator, if you wish.

I have just returned from the United States. The Foreign Affairs Officer (Viên Ngoại Vụ) of the US Department of State

(Bộ Ngoại giao Hoa-kì) and the University of Maryland, have invited me to give lectures on the methodology of teaching Vietnamese

to English speakers (thuyết trình về phương pháp dạy tiếng Việt cho người nói tiếng Anh). The United States seems to be introducing many

programs into Vietnam, so they have training programs for a great number of people. I met with the US Ambassador as well as the future

US Consul (Lãnh sự tương lai của Mĩ) to Vietnam, and many other personnel. Keep safe and good luck. PVG.



Cám-ơn anh Phan Văn Giưỡng đã có lời ngợi khen (praise/kind words) và lời ngỏ í giúp kiếm thêm việc làm. Ai chưa biết anh thì tôi xin

giới thiệu: Anh Giưỡng nguyên là Associate Professor (Phó Giáo sư/Giáo sư Diễn giảng) tại Đại họcVUT (tôi hay gọi đuà là Đại học Vi

Vút). VUT là chữ viết tắt (acronym) cuả Victoria University of Technology. Anh là tác giả cuả nhiều bộ sách giảng dạy tiếng Việt cho người

nước ngoài, mà bên Việt Nam tôi thấy họ đã in lậu, chôm chiả thoải mái sách cuả anh. Niềm vui chung cuả anh Giưỡng và chúng tôi,

ngoài chuyện chữ nghĩa, thì thỉnh thoảng, năm thì mười hoạ (once in a blue moon), từ ngàn dặm (Sydney-Melbourne) có dịp gặp nhau là

tìm đến điểm hẹn (rendez-vous) tại Crown Casino, Melbourne. Ăn uống xong rồi thì người nào theo đuổi niềm vui riêng cuả người ấy.

Giải trí cò con bằng Roulette (ru-lét/đánh số quay) ư? Baccarat (bài cào) hay blackjack (bài xì-tố/xì-phé) chăng? Tuỳ hỉ!!!



Trước khi đi nghỉ xả-hơi, tôi xin được giải quyết một số chữ nghiã còn tồn đọng (backlog).



Một độc giả viết: “Đại tiện” thì nhiều từ điển tiếng Anh thông dụng hơn giải nghĩa: “to defecate”, “to shit”.



Xin bàn thêm: Để nói đến chuyện “đi cầu” (going to the toilet), trong tiếng Anh ta có thể dùng những “từ” như: to defecate, to pass a bowel motion, to shit, to poo. Tất nhiên còn nhiều cách/kiểu nói khác, nhưng ở đây tôi xin tạm nêu nhận xét về lối nói trịnh trọng so với

bình dân, lối nói cuả người lớn so với trẻ em mà thôi.



To defecate (= đại tiện): dùng để nói một cách trịnh trọng (formal), ít trịnh trọng hơn thì người ta dùng: To pass a bowel motion (= đại tiện, đi cầu, đi nhà vệ sinh). Còn khi nói: To have a shit hay to shit (= đi iả) thì để cho người dân giả, quê mùa, ít học. To do a poo hay To do Number 2 (= đi iả, đi ị) là lối nói cuả trẻ con.



Cũng xin nói thêm ở đây, khi bác sĩ hỏi bệnh nhân về chuyện “đi tiểu” thì họ dùng từ trịnh trọng là “urination” (= tiểu tiện), trong khi ngôn ngữ thường nhật ngoài đời là “To pass water” (= đi tiểu), hay Úc ba trợn (Ocker) thì dùng “To have a piss” (= đi đái). Trẻ con thì chúng nói: “To do a wee” hay “To do Number 1.” Cháu Pamela khi còn nhỏ hay nói đến chuyện “Do Number 1, Do Number 2” như tôi còn nhớ.



Một độc giả khác thì viết: Không thấy dịch “Tập tễnh bước vào Thu.” Cái này chắc khó dịch.



Xin trả lời: Dịch là đi tìm cái tương đương. Đôi khi phải tìm cái tương đương tương đối (relative equivalent/nearest equivalent), như trong trường hợp này. Dịch sát nghiã tiếng Việt hay dịch trực nghĩa (literal translation) cho người bản ngữ tiếng Anh hiểu, bằng cách gây hình tượng, hình ảnh thì tôi sẽ dịch là “*Toddling into Autumn” (toddle = đi chập chững, đi tập tễnh như đưá bé 2 tuổi mới tập đi; toddler = trẻ em mới chập chững biết đi). Còn dịch thoát nghĩa, theo cách nói cuả người Anh, thì Autumn draws near hay Autumn is just around the corner. Dịch cho người Mĩ thì mình phải đổi “Autumn” thành “Fall” (= muà Thu). Còn muà Thu tới rồi thì nói: “Autumn is upon us”.



Nói tới đây tôi lại chợt nghĩ thành ngữ: “Lo bò trắng răng” thì có lẽ không có tương đương tuyệt đối (absolute equivalent) thành thử chỉ nói: “To worry about nothing” là đủ. Còn muốn dịch sát nghĩa thì bảo: “To worry about a cow having white teeth.”



Anh Chủ Bút Lưu Dân Tuần Báo Dân Việt có lần “chơi khăm” đã hỏi tôi: “Buồn ngủ lại gặp chiếu manh” dịch làm sao?



Nay tôi xin thưa: Buồn ngủ lại gặp chiếu manh: (dịch sát nghĩa: When you feel like hitting the sack, you find even a torn mat to sleep on). Khi tra từ điển thì tôi thấy cụm từ này được giải nghiã như sau:




“Lúc đang cần điều gì thì lại gặp ngay điều kiện thuận lợi để đạt yêu cầu”

(Dịch thoát: Just when you are in need, something turns up).

[Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Nguyễn Lân, NXB Văn Hoá Hà Nội, 1989]



Nói tóm lại, là khi mình cần cái gì, mà tìm được nó, thì cho dù cái đó chưa được 100 phần trăm hoàn hảo thì cũng đã là quá tốt rồi. “Chiếu manh” theo từ điển cho biết là “chiếu rách” (= torn mat). Còn chiếu tốt, chiếu đẹp loại“chiếu cạp vải điều” thì mình có thể nói: “A mat with a red border” hay “A mat bordered in red cloth.” Nếu anh chàng nào buồn ngủ mà lại đòi gặp được, có cho bằng được “chiếu cạp vải điều” thì quả là anh này thuộc loại “Ăn mày đòi xôi gấc.” Nghèo mà ham!!!



Để kết thúc bài học tuần này tôi xin kể một câu chuyện vui (joke) về việc “lãnh tiền già” ở Úc, mà một người bạn đã chuyển cho tôi bằng tiếng Việt. Tôi đã mầy mò chuyển ngữ sang tiếng Anh và cho thêm tí ti mắm muối như thế này:



An elderly man went to Centrelink (Phòng An sinh Xã hội/ Phòng lãnh tiền thất nghiệp) to apply for Old Age Pension (= tiền trợ cấp cho người già). The girl at the counter (quầy) asked for identification (chứng minh thư/giấy tờ chứng minh) to prove his age.



“I haven’t any with me at present,” he said.



“Well I don’t think you are eligible (đủ điều kiện), because your hair is not grey (tóc còn đen quá mà),” she answered.



“Oh, that’s because I dye it (tôi nhuộm tóc đó), but if you like, look at the hairs on my chest (lông trên ngực) and you will see they are grey (bạc).”



The man lifted his shirt (vén áo lên); the girl inspected (kiểm tra) his chest and agreed to process his claim for the pension (liền làm giấy cho ông được lãnh tiền).



Feeling very proud of his quick-wittedness (tự đắc về sự nhanh trí của mình), he returned home, and said to his wife:



“I managed to get the Old Age Pension without any official form of identification (chẳng cần phải trình giấy tờ chứng minh chính thức gì ráo trọi). All I did was lifting up my shirt and show them the grey hairs on my chest.”



“Oh, what a shame!” (uổng quá!) replied the wife. “If you had taken down your trousers (Nếu ông đã kéo tụt quần xuống) and showed her that (cho cô ấy xem bên dưới), you would have been granted the Disability Pension as well (thì ông còn đã được lãnh cả tiền khuyết tật nữa kià).”



Vì đâu nên nỗi, để “mất mặt bầu cua” đến thế, hở Bố Già này? Hay là tại Bố chỉ thích “ăn phở” thay vì “ăn cơm nguội”?



Trịnh Nhật

Sydney, 17 tháng 4, 2007


Kết hợp ngữ
(Collocations)

sleep noun

1 giấc ngủ, giấc nghỉ, cơn buồn ngủ

§ ADJ deep say | light mơ mơ màng màng, tỉnh, nhẹ nhàng|

§ VERB + SLEEP drift into/off to, drop off to, get to, go (back) to chìm vào | cry/sob yourself to khóc thổn thức (cho đến khi ngủ thiếp đi) | get, sleep, snatch ngủ, tranh thủ Close your eyes and get some sleep now Nhắm mắt lại rồi ráng ngủ một chút bây giờ đi. o Tom was in the front room sleeping the sleep of the dead Thằng Tom ở trong căn phòng phiá trước ngủ ngon lành như chết o I snatched a few hours' sleep in the afternoon Tôi tranh thủ ngủ được vài tiếng vào buổi chiều. | need cần | survive on tỉnh, hồi lực, lấy lại sức They seem to survive on only a few hours' sleep a night. | induce, lull/send sb to khiến, ru ai ngủ using drugs to induce sleep dùng thuốc để nó giúp cho mình ngủ o The quiet music soon sent her to sleep Âm nhạc dìu dịu chẳng bao lâu sau giúp cho cô ngủ được. | drift in and out of chập chờn He drifted in and out of sleep all night Suốt đêm hắn chập chờn trong giấc ngủ. | lose mất Don't lose sleep over it--we'll sort everything out in the morning Đừng để bị mất ngủ về chuyện ấy—chúng ta sẽ giải quyết xong mọi chuyện vào sáng mai. | dis­rupt gián đoạn, ngắt quãng | catch up on (ngủ) bù lại I used Saturday to catch up on my sleep. | feign giả bộ, giả vờ 1 feigned sleep when the ticket inspector came round Tôi giả bộ ngủ khi viên kiểm soát vé đến.

§ SLEEP + VERB come tới, đến Sleep came to her in snatches Cơn buồn ngủ đến với cô từng hồi. | overcome sb, overtake sb thắng ai, chế ngự người nào Sleep finally overtook me Sau cùng thì cô cũng không cưỡng nổi cơn buồn ngủ.

§ SLEEP + NOUN pattern | deprivation, loss bị mất (ngủ) | apnoea sự ngừng thở

§ PREP during ~ trong lúc/khi your heart rate during sleeping nhịp tim cuả mình khi/trong lúc ngủ in your ~ trong giấc/lúc của mình ~ He often walks and talks in his sleep Hắn thường vưà đi vưà nói trong giấc ngủ.

§ PHRASE a lack of sleep thiếu ngủ suffering from a lack of sleep a wink of sleep chợp mắt ngủ I won't get a wink of sleep with that noise downstairs Tôi không chợp mắt ngủ được chút nào vì tiếng động ở dưới nhà..

2 giấc ngủ, thời gian ngủ, lúc ngủ

§ ADJ long dài | little, short ngắn | dead, deep, heavy, sound say, như chết, không còn biết trời trăng gì nữa | good, restful ngon, đã | light không say, dễ tỉnh | disturbed, exhausted, fitful, restless, uneasy I woke up early after a disturbed sleep. | dreamless, peaceful êm đềm | drunken (giấc ngủ) vì say rượu | beauty (giấc ngủ) sớm (trước nưả đêm) Sorry but I need my beauty sleep Xin lỗi nhưng tôi cần đi ngủ sớm (để giữ gìn sắc đẹp).

§ VERB + SLEEP need cần | have có, được Did you have a good sleep? Anh ngủ ngon không? | be in trong tình trạng I was in a deep sleep when the phone rang Tôi đang ngủ say chẳng biết trời trăng gì thìi điện thoại rung. | drift into, fall into, sink into chìm vào I immediately fell into a dead sleep Tức thì tôi chìm vào trong giấc ngủ say như chết. | awake/awaken/wake(sb) from bừng tỉnh, choàng tỉnh dậy He woke from a fitful sleep with a headache Hắn tỉnh dậy trong giấc ngủ chập chờn và bị nhức đầu.

§ PHRASE a (good/poor) night's sleep một giấc ngủ ban đêm (ngon/không ngon) You'll feel better after a good night's sleep Bạn sẽ cản thấy dễ chiụ/khoẻ hơn sau một giấc ngủ ngon lành vào ban đêm.



sleep verb

ngủ

§ ADV properly, soundly, well say, ngon I haven't slept properly for weeks, Tôi chưa ngủ được ngon giấc từ mấy tuần nay o The children were all sleeping soundly Trẻ con ngủ say li bì, o Did you sleep well last night?Đêm qua anh ngủ ngon không? | peacefully, quietly yên bình, bình yên | easier, easily, quiet dễ hơn, ngon giấc hơn When the murderer is caught we can all sleep easier in our beds at night Khi tên giết người/sát nhân ấy bị tóm, chúng ta sẽ ngủ dễ dàng/ngon giấc hơn trên giường của chúng ta vào ban đêm. | badly, fitfully, uneasily không ngon, thất thường, chập chờn, khó ngủ | deeply, heavily say He was exhausted and slept deeply Hắn mệt nhoài và ngủ ngon lành. lightly tỉnh giấc She always slept very lightly so I had to be careful not to wake her Cô ta ngủ tỉnh lắm nên tôi phải cẩn thận tránh không làm cô tỉnh giấc. | barely, hardly, scarcely mất ngủ, thiếu ngủ She felt as if she had hardly slept. | a little một chút | alone một mình | together chung

§ VERB + SLEEP be unable to, can't/couldn't không thể/đã không thể I couldn’t sleep so I got up and went downstairs Tôi không ngủ được nên trở dậy rồi đi xuống dưới nhà. | try to cố gắng, ráng You must be very tired. Try to sleep a little. Anh chắc là mệt lắm rồi. Ráng ngủ một lát đi | let sb để cho ai | put sb/sth to đặt ái/cái gì You should always put babies to sleep on their backs Bạn bao giờ cũng phải/nên đặt em bé ngủ ở thế nằm ngưả. o We had to have our dog put to sleep Chúng tôi đã phải mặc lòng gây mê cho chó được chết ngủ yên, không đau đớn (= humanely killed because it was so ill).

§ PREP for ~ được I only slept for four hours that night Tôi chỉ ngủ được 4 tiếng đồng hồ đêm hôm đó thôi, through qua, đến hết She slept right through the storm Cô ta ngủ một lèo suốt trận bão, with với Everyone knows she sleeps with the boss Ai cũng biết cô ta ngủ với ông chủ.

§ PHRASE not sleep a wink không chợp mắt ngủ được chút nào cả I didn't sleep a wink last night, sleep late ngủ dậy trễ/muộn Let them sleep late on Saturday morning if they want to Để cho chúng ngủ dậy trễ vào sáng Thứ Bẩy nếu chúng muốn. sleep like a baby/log ngủ rất ngon, ngủ như chết, sleep rough ngủ đường ngủ chợ, bất cứ chỗ nào cũng có thể ngủ được, ngủ vạ ngủ vật the problem of young people who sleep rough in the streets vấn nạn thanh thiếu niên ngủ vạ ngủ vật ngoài đường phố.

sleepy adj

1 buồn ngủ, ngái ngủ, dật dờ



§ VERB be, feel, look, sound cảm thấy, coi bộ, nghe như | become, get, grow trở nên, hoá ra, thành ra | make sb khiến cho ai, làm cho ai The alcohol was making him sleepy Rượu làm cho hắn buồn ngủ.

§ ADV extremely, really, very vô cùng, cực kì, quá trời | a bit, a little, quite, rather hơi, khá, một chút She was beginning to get a bit sleepy Cô ta bắt đầu cản thấy hơi buồn ngủ.



2 quá tĩnh lặng, im lìm



§ VERB be, seem xem ra, hình như | remain vẫn còn (ở trong tình trạng) The town remains sleepy despite the activity all around it Thị trấn/tỉnh lị đó vẫn còn quá tĩnh lặng/im lìm mặc dù có sinh hoạt vây quanh nó.

§ PHRASE sleepy little nhỏ im lìm a sleepy little fishing village Một làng đánh cá nhỏ im lìm

WLP
07-28-2007, 08:01 PM
Sức mấy mà buồn?


Tuần trước, cô con gái thứ hai cuả tôi, mới có “hai mươi mí tuổi đầu” (twenty-something), ngoại hình lai Đức nên cũng không đến nỗi nào, đã vô cùng hí hửng tuyên bố rằng chuyến đi Việt Nam đầu đời, cháu Pamela sẽ đến viếng viện sưả sắc đẹp (beauty salon) mỗi ngày. Không kể đến chuyện làm đẹp ở Việt Nam rẻ hơn ở Úc cả 10 lần, và chuyên viên sưả sắc đẹp (beautician) là người mới quen trong nhà, cháu nhất định tìm cho bằng được cơ hội làm cho mình đẹp gái hơn.

Niềm hồ hởi làm đẹp cuả cháu khiến tôi nghĩ đến nỗi ám ảnh cuả chúng ta ở thời đại tân tiến (modern-day obsession) này là giữ gìn sao cho mình trẻ mãi, đẹp mãi không già, không xấu. Phụ nữ xem ra thích thú với việc tân trang toàn bộ (make-overs) như thường thấy trên vô tuyến truyền hình (television). Không phải ai và lúc nào cũng cần phải tân trang hết, nhưng tiền bạc đã dổ dồn vào việc vẽ sửa/xâm lông mày (eye-brow shaping), nhuộm lông mi (eye-lash tinting), false nails (móng tay giả), xâm môi và mắt (lip and eye tattooing), chữa trị bằng Botox (Botox treaments) cho da khỏi nhăn, lại còn sưả mí mắt mí (eye-fold operations), độn vú giả (breast implants), hút mỡ (liposuction)… Ôi thôi thì đủ thứ bà dằn (to name just a few).

Không phải chỉ có phụ nữ mới lo làm đẹp đâu nhe. Đàn ông, phái nam cũng muốn trẻ muốn đẹp bằng cách dùng tia laser nhổ lông (laser hair removal), làm mặt (facials), uốn tóc nhuộm tóc đủ màu (perms and colouring), and full body massage (mát-xa toàn thân mình), đấy là chưa kể đến giải phẫu kéo dài dương vậ/làm dương vật to thêm (penile-lengthening/penis augmentation) và làm cho thân hình lực lưỡng nẩy nở (body-shaping).

Giờ đây không ai còn chiụ để cho mình già duyên dáng tự nhiên (to grow old gracefully) nưã. Có lẽ trong tương lai vấn đề sức khoẻ, an sinh, an lạc (well-being) cuả chúng ta không phải chỉ là phần hành riêng của bác sĩ, mà còn có cả chuyên viên sắc đẹp tiếp tay cho chúng ta nữa kià.

Nhưng thôi Quí Vị, Quí Bạn ơi! Chuyện đẹp xấu sẽ còn nói dài dài. Bài học tuần này có chủ đề là “Sức mấy mà buồn” cơ? Nếu tôi nhớ không lầm thì chủ đề là lời thu gọn cuả câu: “Sức mấy mà buồn/Buồn ơi bỏ đi Tám” có trong một bản nhạc của Phạm Duy. Sức mấy [= không đời nào, đừng hòng, tội gì? ngu gì? = why bother?], còn Tám [= mate (bạn, bồ)] là để chỉ, để gọi bất cứ người nào đó bằng bất cứ tên gì, cũng như trong tiếng Anh, người ta nói đến Tom, Dick and Harry hay Joe Blow. Thí dụ như “Any Tom, Dick or Harry would know what it’s about” (Bất cứ tên/thằng cha căng chú kiết nào cũng biết chuyện đó là chuyện gì) hoặc “Any old Joe Blow would know how to get there” (Ông già bà cả/cha nội nào mà chẳng biết đường đi đến đó). Sử dụng các từ Tom, Dick or Harry hoặc Joe Blow cũng tương tự như từ hồi nào chúng ta đã dùng Mỗ hay Nguyễn văn Mỗ vậy mà! Để dịch thoát câu: “Sức mấy mà buồn/Buồn ơi bỏ đi Tám” theo tiếng Úc, ta có thể nói: “Why bother being sad? Hey, Sadness! Get lost, mate!”



Tôi xin dùng câu chuyện về một nhân vật lạc quan trong mọi hoàn cảnh, do một anh bạn ở Mĩ gửi cho cách đây không lâu, để làm nền cho bài học tuần này:

John is the kind of guy (loại người/anh chàng/gã) you love to hate (thấy mà phát ghen phát ghét). He is always in a good mood (vui vẻ/lạc quan) and always has something positive (điều gì tích cực) to say. When someone would ask him how he was doing (mạnh giỏi/khoẻ không), he would reply, "If I were any better, I would be twins!" [khoẻ hết sẩy (= nếu tôi mà khoẻ hơn nữa thì thân này có thể xẻ làm đôi được)]

He was a natural motivator (vui vẻ an nhiên tự tại).

If an employee (nhân viên) was having a bad day, John was there telling the employee how to look on the positive side of the situation.

Seeing this style (kiểu) really made me curious (tò mò), so one day I went up and asked him, "I don't get it! (tôi không hiểu). You can't be a positive person (người lạc quan/tích cực) all of the time. How do you do it?"

He replied, "Each morning I wake up (tỉnh dậy) and say to myself, you have two choices (hai lựa chọn) today. You can choose to be in a good mood (lòng thơ thới hân hoan) or ... you can choose to be in a bad mood (ủ rũ u buồn). I choose to be in a good mood."

Each time something bad happens (chuyện gì xui xẩy ra), I can choose to be a victim (nạn nhân) or...I can choose to learn (học) from it. I choose to learn from it.

Every time someone comes to me complaining (than van/than phiền), I can choose to accept their complaining (chấp nhận lời họ than phiền) or... I can point out (vạch/chỉ cho thấy) the positive side of life. I choose the positive side of life.

"Yeah, right, it's not that easy," I protested (phản đối/cãi lại).

"Yes, it is," he said. "Life is all about choices. When you cut away all the junk (cắt bỏ/dẹp bỏ tất cả những cái vớ vẩn/bá láp), every situation is a choice. You choose how you react to situations (phản ứng lại hoàn cảnh). You choose how people affect (ảnh hưởng) your mood (tâm trạng).

You choose to be in a good mood or bad mood. The bottom line (điều cốt yếu): It's your choice how you live your life."

I reflected (suy ngẫm) on what he said. Soon hereafter, I left the Tower Industries (Công nghiệp/Kĩ nghệ làm Tháp) to start my own business (chuyện làm ăn riêng cuả tôi). We lost touch (không còn gặp gỡ thường xuyên/mất liên lạc), but I often thought about him when I made a choice about life instead of reacting to it.

Several years later, I heard that he was involved in a serious accident (tai nạn nghiêm trọng), falling some 60 feet from a communications tower (tháp liên lạc viễn thông).

After 18 hours of surgery (giải phẫu) and weeks of intensive care (khu hồi sinh sau cấp cứu), he was released from the hospital (xuất viện) with rods (những thanh thép) placed in his back.

I saw him about six months after the accident. When I asked him how he was, he replied, "If I were any better, I'd be twins...Wanna (muốn) see my scars (những vết sẹo)?" I declined to see his wounds, but I did ask him what had gone through his mind (đã nghĩ gì) as the accident took place (xẩy ra).

"The first thing that went through my mind was the well-being of my
soon-to-be born daughter (sự an lành/an lạc cho đưá con gái sắp sinh/chào đời cuả tôi)," he replied. "Then, as I lay on the ground, I remembered that I had two choices: I could choose to live (sống) or...I could choose to die (chết). I chose to live."

"Weren't you scared (sợ) ? Did you lose consciousness (bất tỉnh)?" I asked
He continued, " the paramedics (nhân viên cứu thương) were great. They kept telling me I was going to be fine. But when they wheeled me (đẩy xe lăn) into the ER (phòng cấp cứu) and I saw the expressions on the faces (những ý nghĩ thoáng hiện trên gương mặt mọi người) of the doctors and nurses, I got really scared. In their eyes, I read 'he's a dead man' (cha nội này tiêu rồi). I knew I needed to take action (hành động)."

"What did you do?" I asked.

"Well, there was a big burly nurse (y tá bự con lực lưỡng) shouting questions at me," said John. "She asked if I was allergic (dị ứng) to anything 'Yes, I replied.' The doctors and nurses stopped working as they waited for my reply. I took a deep breath (lấy hơi) and yelled (la lớn), 'Gravity' (trọng lực)."

Over their laughter (trong lúc họ cười), I told them, "I am choosing to live. Operate on me! (cứ giải phẫu cho tôi đi) as if I am alive, not dead."

He lived, thanks to the skill (khả năng) of his doctors, but also because of his amazing attitude (thái độ lạ lùng/xuất thần)... I learned from him that every day we have the choice to live fully (sống trọn vẹn/cho thoả lòng).

Attitude, after all (xét cho cùng), is everything.

Therefore do not worry (đừng lo lắng) about tomorrow, for tomorrow will worry about itself. Each day has enough trouble (đủ phiền toái/rắc rối) of its own.

After all today is the tomorrow you worried about yesterday.



Trong những năm gần đây, thái độ lạc quan trong cuộc sống đã được tôi gói trọn trong phương châm (motto): Think BPP (= Think Big, Think Pink, Think Positive), chắc có một số vị còn nhớ!

Mới đây khi nói đến chuyện làm việc, viết lách, vui chơi, tôi đã dành cho tôi một sự tự do, thoải mái và tự nhủ với mình rằng: “These days I do things in my own time (theo thời giờ mình có), at my own pace (theo tốc độ/nhịp độ cuả riêng mình) and to my own liking (theo cái mình thích)” .



Hẹn gặp lại Quí Vị, Quí Bạn trong vài tuần tới, như đã thông báo từ trước.



“Good luck to you all!” and “Bon voyage to me!”



Trịnh Nhật
Sydney, 25 tháng 4, 2007



Kết hợp ngữ
(Collocations)

beautiful adj

đẹp

§ VERB be, feel, look, seem cảm thấy, coi bộ, xem ra | become, grow trở nên, đâm ra, hóa ra | make sb/sth làm/tạo cho ai/cái gì We did all we could to make the room beautiful Chúng tôi làm mọi chuyện có thể làm được cho căn phòng được đẹp. | find sb/sth nhận thấy ai/cái gì He found her exquisitely beautiful Anh ta thấy cô đẹp cực kì đẹp.

§ ADV exceptionally, extraordinarily, extremely, out-standingly, really, remarkably, supremely, truly, very cực kì, vô cùng, tuyệt vời | absolutely, perfectly, quite, utterly tuyệt hảo, hết hồn, khỏi chê, hết chỗ nói | just, simply (nôm na) phải nói là 'They're just beautiful,' breathed Jo, when she saw the earrings “Phải nói là loại đẹp” Jo trầm trồ khen, khi cô trông thấy đôi bông tai. | almost hầu như, gần như, (đẹp) là đằng khác I remember her as pretty, almost beautiful Tôi nhớ cô ta trông xinh gái, đẹp là đằng khác | rather khá, hơi | astonishingly, breathtakingly, dazzlingly, incredibly, staggeringly, startlingly, strikingly, stunningly, unbelievably, wonderfully lạ lùng, kì diệu | uniquely độc đáo | serenely thanh tú | classically cổ điển Her features were classically beautiful, with perfectly structured high cheek-bones Nét mặt cuả cô đẹp theo kiểu cổ điển với đôi gò má cao rất hợp khuôn mặt .| coldly lạnh lùng The designs were pure, austere and coldly beautiful . | achingly âm ỉ, eerily bí hiểm, hauntingly, painfully vang vang, ám ảnh a hauntingly beautiful melody một điệu nhạc hay vang vang trong đầu/tâm trí.



beauty noun

1 vẻ đẹp

§ ADJ breathtaking, extraordinary, great, outstanding, sheer ngoạn mục, nín thở, tuyệt vời, hết chỗ nói an area of breathtaking beauty một khu vực/cảnh trí/nơi chốn thật là ngoạn mục | classical (theo quan niệm) cổ điển the classical beauty of her face vẻ đẹp cổ điển cuả khuôn mặt | natural tự nhiên | physical ngoại hình, thân người, dáng người | scenic phong cảnh, cảnh trí

§ BEAUTY + VERB last kéo dài, lâu phai tàn | fade phai tàn Her beauty faded as she got older Sắc đẹp/nhan sắc cuả cô phai tàn khi cô có tuổi.

§ BEAUTY + NOUN competition, contest kì thi, cuộc tranh đua | queen hoa hậu | parlour, salon viện, tiệm | treatment chữa trị, sửa | spot điểm/nốt ruồi (duyên)

§ PHRASE beauty is in the eye of the beholder vẻ đẹp là tuỳ theo con mắt cuả người nhìn, beauty is only skin-deep cái nết đánh chết cái đẹp



2 người đẹp/hoa khôi; người có nhan sắc; đồ vật đẹp

§ ADJ great lẫy lừng, tuyệt vời She was known as a great beauty in her time Đương thời cô được người ta biết đến là có vẻ đẹp tuyệt vời. | absolute, real tuyệt, khỏi chê My new car's a real beauty! Chiếc xe ô tô mới cuả tôi đẹp hết sẩy.| little nhỏ bé dễ thương Isn't she a little beauty? Bộ cô ta không phải người đẹp bé nhỏ dễ thương sao?



sad adj

1 buồn, khổ sở

§ VERB appear, be, feel, look, seem, sound xem ra, coi bộ, có vẻ | become, grow trở nên, trờ thành, đâm ra, hoá ra | make sb làm cho (ai/người nào) This music always makes me sad.

§ ADV all, desperately, immensely, particularly, profoundly, really, unbearably, very kinh khủng, hết chỗ nói, chịu không thấu I called Mum, sounding all sad and pathetic. | almost |gần như, hầu như a bit, a little, quite, rather, slightly, somewhat một chút, khá, hơi, phần nào, có phần | strangely lạ kì

§ PREP about về She was still feeling very sad about her father's death.

2 gây buồn phiền, khổ sở

§ VERB be, seem bị, có vẻ | find sth thấy cái gì/điều gì/chuyện gì

§ ADV deeply, extremely, intensely, particularly, profoundly, really, terribly, unutterably, very vô cùng, cực kì, thật là, hết sức, rất là a deeply sad occasion một lần thật là/vô cùng buồn | a bit, a little, quite, rather một chút, hơi, khá a rather sad story một câu chuyện khá buồn

sadden verb

(bị) buồn khổ, đau buồn

§ ADV deeply, greatly sâu xa, vô cùng I was deeply saddened by his death.

sadness noun

(sự) buồn rầu, khổ sở, đau lòng, thiếu hạnh phúc

§ ADJ deep, great, real, unutterable sâu xa, vô cùng, nghẹn ngào, không nói ra được.

§ QUANT hint dấu hiệu

§ VERB + SADNESS be filled with, be full of, feel tràn đầy, cảm thấy Claudia felt a deep sadness. | express, show tỏ lộ, biểu lộ, cho thấy | hide dấu, che dấu, giữ kín | bring (sb) đem/mang lại (cho ai) I had brought nothing but sadness to my family. | be tinged with có chút đượm buồn Our joy was tinged with sadness Niềm vui mừng cuả chúng tôi có đượm đôi chút buồn.

§ PREP with ~ với It was with great sadness that we learned of the death of William Hales. | ~ about/at/over về He expressed his sadness about what had happened. ~ for cho Kate felt a great sadness for him.

§ PHRASE an air/aura of sadness một vẻ/một thoáng buồn bao quanh/bao trùm a lonely place with an aura of sadness một nơi cô quạnh với vẻ u buồn bao quanh a feeling/sense of sadness một tâm trạng/cảmgiác/cảm xúc buồn

Lylys
07-29-2007, 10:55 PM
ùhm, cám ơn cái tấm lòng "đại bát" của P hí... đọc xong cái mặt quay vù vù luôn á... hè hè...:P

WLP
08-19-2007, 02:11 AM
Thân chào tái ngộ cùng các bạn đọc bốn phương... sau một thời gian tôi vắng bóng!!! Tiếng Việt ta có câu “Xa mặt cách lòng” (Out of sight, out of mind). Nhưng với tôi “xa mặt mà không cách lòng”, “ra đi không phải là giã từ”. Tôi ra đi là để quan sát, học hỏi, để tìm cảm hứng, hi vọng “đi một ngày đàng, học một sàng khôn”, để ngày về lấy đó làm tư liệu cho mình.



Tiếng Anh họ nói: “Seeing is believing”, còn mình thì bảo: “Trăm nghe không bằng một thấy. Trăm thấy không bằng một sờ” đấy, Quí Vị ạ! Chuyến đi Việt Nam cuả tôi vừa rồi rất cận kề với chuyến đi trước đó. Hai chuyến chỉ cách nhau chừng 4 tháng (only about four months apart). Tôi về lại Úc ngày 15 tháng Giêng Tây thì 24 tháng 5 đã lại đi. Thông thường trong văn hoá Việt Nam:


Nàng rằng phận gái chữ tòng,

Chàng đi thiếp cũng một lòng xin theo.

Nhưng trong tình huống này thì có phần ngược lại. Tôi theo chân bà xã và con gái út về Sài Gòn dự đám cưới đứa cháu trai cuả bả (to attend her nephew’s wedding), và nhân có món tiền dành dụm đâu đó của “nàng”, nên tiền vé máy bay khứ hồi (return airfares) của hai Bố Con tôi đều được nàng tiếp tay trang trải.



Tiệc cưới (the wedding reception) mà chúng tôi về tham dự đã được tổ chức (was held) tại khu Kỳ Hoà 2, gần Viện Hoá Đạo cũ, và có lẽ gặp ngày lành tháng tốt (propitious/auspicious day) hay sao ấy mà hôm 26-5, nhằm tối Thứ Bảy, ở khu đó có tới 8 đám cưới lặng! Riêng tiệc cưới này cũng có 300 khách dự tiệc (guests).



Chú rể, cháu Huy Thạch, chưa đầy 28 tuổi, gọi bà xã tôi bằng Bác, là một kiến trúc sư (architect) làm việc cho một hãng thầu xây dựng nước ngoài, cai quản/giám thị (supervising) hơn 100 nhân viên và kiếm được đồng lương hậu hĩ [= earning a good screw (trong tiếng Anh-Úc, “screw” đây không có nghiã là “làm chuyện ấy”)], tính ra hơn 1000 đô-la Mĩ mỗi tháng. Theo tiêu chuẩn Việt Nam (by Vietnamese standards), thì như thế là khá lắm, vì đa số công nhân viên Nhà nước (Government employees) chỉ kiếm được khoảng một phần mười (one tenth) số lương đó. Cô dâu, cháu Thảo Ly, có ngoại hình bắt mắt, người gốc Bến Tre, cách Sài Gòn 80 cây-số. Cô dâu chú rể coi bộ yêu nhau da diết. “What a lovely couple!” (Chà đẹp đôi dữ à nghe!)



Về chuyện đám cưới, tôi đã viết vài hàng tiếng Anh gửi cho bạn bè Úc, Việt như sau:

The wedding celebrations went off well (diễn tiến tốt đẹp), and we all enjoyed this memorable occasion with much “wining and dining” (ăn nhậu tưng bừng). The groom is an architect working for a foreign company (công ty nước ngoài) supervising 100 personnel and earning “a good screw” (as an Aussie would say); ie. US$1000 per month. The bride is originally from the country (gốc miền quê), Ben Tre, about 80 km from Saigon and she is a lovely girl. They’re obviously very much in love.



Khác với các chuyến đi Việt Nam trước đây, lần này tôi không ra Hà Nội, mà chỉ theo vợ con ra Mũi Né, Phan Thiết, một đêm hai ngày. Với hãng xe đò du lịch Sinh Café, họ bao ăn bao ở và chỉ phải trả có 40 đô-la Mĩ mỗi người. Vợ con tôi ở Việt Nam tất cả có 12 ngày rồi họ phải về để đi làm, còn riêng tôi sau Mũi Né còn ở lại Sài Gòn để đi thêm hai nơi nữa là Vũng Tàu và Đà Lạt, tổng cộng là một tháng trời. Nói theo “sàng khôn” [= a flat winnowing-basket of wisdom)] mà học được thì phải kể là 30 “sàng”, nghĩa là vô số kể, nhưng ở đây tôi chỉ xin nêu một vài thí dụ học được qua những mẩu chuyện liên quan tới “tiếng Anh tiếng Em” mà thôi.



Trên chuyến xe đi từ Sài gòn ra Mũi Né và trở về, xe đò du lịch cuả hãng Sinh Café đều dừng lại khoảng 15 phút để cho du khách xuống giải quyết nhu cầu bài tiết/vệ sinh trong khu vực cuả một siêu thị (supermarket) tại Dầu Giây. Khu vực này có khoảng trống rộng mà nhiều xe đò có thể đậu xe thoải mái. Nhìn từ ngoài vào thì khu Nhà Vệ sinh (toilets) ở phiá bên trái cuả siêu thị. Ai vào cầu tiêu “xả sú-báp”, thì phải cởi giầy dép của mình để bên ngoài, và xỏ chân vào dép cuả họ dành riêng sẵn cho mình rồi mới vào đi tiêu đi tiểu. Nói khác đi thì cầu tiêu cuả họ sạch, và giầy dép cuả mình sau đó lên xe cũng sẽ sạch. Thêm một cái là không có nhân viên nào đứng đó để thu ít tiền lẻ, dù là 5000 đồng như ở những bến xe đò, hay 10000 đồng như ở những cầu tiêu công cộng tân tiến quanh Hồ Hoàn Kiếm.



Trước cưả và ở phiá trên siêu thị, có treo bảng đề: Khu vực nghỉ chân cuả khách. Có lẽ siêu thị này cũng muốn cho khách nước ngoài biết tiếng Việt họ nói gì, nên dưới hàng chữ đó họ đã phụ đề thêm tiếng Anh “resting area”. Với “con mắt” của một “Thày Giùi” ANHMV, tôi ngờ ngợ chắc có cái gì không ổn. Ở Úc mình lái xe đường xa (drive long distances) thường thì cả 500, 1000 cây-số, từ tỉnh này sang tỉnh khác, thỉnh thoảng thấy biển đề “Rest Area”, nghĩa là “nơi vào đậu xe, tạm thời nghỉ chân, đi nhà vệ sinh, thư giãn, và để đỡ buồn ngủ”. Họ dùng chữ “Rest Area” chứ không phải “Resting Area”. Quí Vị ơi! Sau này, khi tôi tra thêm từ điển để biết thêm những danh từ gì đi chung với chữ “rest” thì ra nó như thế này:

rest stop (nơi nghỉ chân/dừng xe nghỉ ngơi), rest cure (chưã bệnh bằng nghỉ ngơi), rest day [ngày nghỉ thi đấu, như trong môn chơi ‘cricket’ (khúc côn cầu)], rest home (nơi chăm sóc người già, hoặc người mới khỏi bệnh; nhà điều dưỡng), rest house (tiếng Mĩ: nhà dùng làm nơi trú chân cho khách du lịch), restroom (tiếng Mĩ: nhà vệ sinh). Còn từ “place” khi đi đôi với “resting” như trong “resting place” thì lại có nghiã là “mồ mả; nơi yên nghỉ (ngàn thu)” cơ, Quí Bạn ơi! Để cho chắc chắn là “ngàn thu”, tiếng Anh họ thêm chữ “final/last” như trong thí dụ: St Petersburg was the final resting place of the Russian tsars.

Có một hôm, trong lúc cả gia đình đang ăn uống ở Quán ăn Vườn Cau, gần Công Trường Mê Linh, gần Lãnh sự Quán Úc, bến tàu Sài Gòn, thì một đưá cháu đột ngột hỏi tôi:

“Món lẩu” có phải tiếng Anh gọi là “hotpot” không, hở Bác?

Bị hỏi bất ngờ, tôi hơi chưng hửng, nhưng cũng nói ngay là không phải “hotpot”, vì tôi biết “hotpot” là những loại món ăn thông thường của người Việt như: “Tàu hủ đồ biển/thập cẩm”, “cá kho tộ” v…v… kho trong niêu đất”. Sau này khi tra cứu thêm các định nghiã về “từ” này thì được biết là: “thịt hầm với rau đặt trong điã có nắp đậy và đun trong lò” (Từ điển Anh-Việt cuả Viện Ngôn ngữ học, NXB TP. HCM, 1993). Hay: “a meal (bữa ăn) that consists of meat and vegetables cooked slowly in the same container (xoong) in the oven (lò nướng)” (MacMillan English Dictionary for Advanced Learners, 2006). Hoặc: “a dish (món ăn) made from a mixture of meat, vegetables, and gravy [nước xốt (làm bằng nước thịt)] with sliced potatoes (những lát khoai tây thái mỏng) on top, which is cooked slowly in the oven (BBC English Dictionary, HarperCollins Publishers, 1992).



Tôi cũng còn nghĩ đến chữ “fondue”, nhưng lại cho rằng không phải vì những thứ mình vẫn ăn như “bò nhúng giấm” thì được gọi là “fondue-style beef”. Sau này khi tra cứu từ điển thì món “fondue” được giải nghiã theo 2 cách: [= (1) món ăn gồm pho mát nóng chảy trộn với rượu và các gia vị, dùng để chấm các miếng bánh mì; (2) món ăn gồm dầu ăn hay nước xốt đun nóng để nhúng thịt, hải sản v.v…] (Từ điển Anh-Việt cuả Viện Ngôn ngữ học, NXB TP. HCM, 1993). Định nghiã (2) cuả từ “fondue” dùng để chỉ “món bò nhúng giấm” (= fondue-style beef) như thế thì an toàn trên xa lộ rồi.

Lúc đầu tôi nhớ mang máng “lẩu” thì tiếng Anh có chữ “boat”, nhưng một hồi sau mới nhớ ra là steamboat (= món lẩu). Phải rồi, người Úc trong thực tế họ đã dùng từ này để gọi món “lẩu” khi vào tiệm ăn đấy. Trong chuyến đi Việt Nam vưà rồi, tôi đã ăn món “lẩu cá” ở Sài Gòn, Vũng Tàu, và “lẩu dê” ở Đà lạt (Quán số 9 mới mở), là hai món khoái khẩu (favourite dishes) cuả tôi. Nhưng nói steamboat (= món lẩu) là nói vậy thôi chứ, khi tra cứu một số từ điển thì tôi chưa thấy liệt kê từ tiếng Anh “steamboat” với nghiã này, ngoại trừ từ điển The Macquarie Dictionary, 1989. Các từ điển khác chỉ cho nghĩa vẫn thường dùng đại loại là “tàu thủy có chân vịt chạy bằng hơi nước trên sông, dọc theo bờ biển, nhất là thời xa xưa, thế kỉ 19”.

Nhưng Quí Vị, Quí Bạn ơi! Chuyện ẩm thực, ăn nhậu mà đem bàn thì đến bao giờ mới dứt, bài học Anh Ngữ trong tuần này có chủ đề là “Không có lửa, làm sao có khói?” cơ!



Chắc Quí Vị còn nhớ trong mấy tuần qua báo chí và dư luận Úc xôn xao về chuyện bắt bớ Dr. Mohamed Haneef, người gốc Ấn Độ, 27 tuổi, vì vị bác sĩ trẻ này bị tình nghi có dính líu trong vụ nổ bom tại phi trường Glasgow, bên Vương Quốc Anh (the United Kingdom). Cảnh sát Liên Bang Úc câu lưu vị bác sĩ trẻ này để điều tra, rồi sau đó truy tố anh ra Tòa Liên Bang ở Brisbane, Tiểu Bang Queensland, nhưng sau 27 ngày bị giam giữ, vì có vài chuyện tiền hậu bất nhất (inconsistencies) trong việc điều tra của cảnh sát, nên Quan Toà (Judge) đã huỷ bỏ cáo trạng (dismissed/dropped the charges) do Ủy viên Công Tố [Director of Public Prosecutions (DPP)] đưa ra truy tố anh này. Mặc dù vậy, chiếu khán làm việc (work visa) của Dr. Haneef vẫn bị hủy bỏ/thâu hồi (cancelled/revoked). Theo lời Bộ Trưởng Di trú Úc, Kevin Andrews, thì Dr.Haneef không thoả những điều kiện xét nghiệm nhân cách (character test) qui định trong luật lệ di trú (immigration legislation) để được ở lại Úc vì bị tình nghi (suspected) là có hành động nguy hại đến nền an ninh quốc gia Úc (Australian national security), nhất là lại có thông tin thêm từ phiá cảnh sát bên Ấn Độ nói là anh này bị cho là có dính líu với (alleged to have a link with) tổ chức khủng bố Hồi Giáo Al-Qaeda. Dr. Haneef sau đó đã trở về Ấn Độ và được gia đình bà con chào đón như một vị anh hùng (a hero’s welcome). Trong bối cảnh cuộc họp báo cuả Dr. Haneef và những gì anh đã nói trước đó trong cuộc phỏng vấn với nữ phóng viên cuả Chương trình 60 phút (60 Minutes Program), tôi đã viết tóm tắt sự kiện và nhận xét cuả mình để làm nền cho bài học tuần này như sau:

Comments recently by Mr. Russo, solicitor (luật sư) for Dr. Haneef, mentioning that the allegations (những cáo buộc) against his client (thân chủ cuả ông ta) were “more smoke and mirrors” (lại thêm chuyện hỏa mù sa mưa nữa), started me thinking about that English expression “where there’s smoke, there’s fire” (không có lửa, làm sao có khói?), or as the Vietnamese would say “You can’t have a fire without smoke.” This saying implies that there is something suspicious (có điều gì đáng nghi ngờ) going on, and that an element of doubt is perhaps on the agenda.

Firstly, I do not believe (tôi không tin) Dr. Haneef’s words are his own (lời cuả chính anh ta). His solicitor is his mouthpiece (ống loa). He has even accompanied him back to his hometown of Bangalore, and held a press conference (cuộc họp báo), at which Dr. Haneef expressed his deep love (bầy tỏ lòng yêu mến sâu xa) for Australia, his wish to return (ước muốn trở lại Úc) and lastly, how his family will sue (gia đình anh sẽ kiện) the Australian Government for wrongful arrest (bắt giam trái phép).

Another problem I have is his words: “No, it’s not in my nature (Không. Bản chất con người tôi không phải là như vậy). I don’t do harm to people. How can I do harm to other people with all my activities? (Làm sao mà tôi lại có thể làm hại đến những người khác bằng tất cả những hoạt động cuả mình?)” What he implied, I think, is “As a doctor, all that I do is to help people.” Or, in other words “Trust me, I’m a doctor.”

Dr. Haneef’s body language (nét mặt/bộ điệu/ngôn ngữ không lời) has been questioned by body language experts (chuyên gia về ngôn ngữ không lời) who drew the conclusion (rút ra kết luận) that he was not being entirely honest (không hoàn toàn thành thật) during his interviews. There were certain give-aways (vô tình để lộ) that pointed to his telling untruths, or at least, to bending the truth (bẻ quẹo/cong sự thật) to his advantage (để có lợi cho mình).



Trước khi kết thúc bài học tuần này, tôi xin bàn thêm nghĩa câu nhận xét “more smoke and mirrors” cuả ông Peter Russo, luật sư cuả Dr. Haneef, sau khi ông này nghe lời tiết lộ cuả Bộ Trưởng Di Trú Úc (Australian Immigration Minister) về cuộc bút đàm trực tiếp qua internet (chat room conversation) giữa Dr. Haneef và người em trai cuả anh này.

Quí Bạn ơi! Trong tiếng Anh, hay chủ yếu là tiếng Anh-Mĩ (American-English), khi mình nói về chuyện gì đó mà “is full of smoke and mirrors”, thì nó có nghĩa là mình định ám chỉ chuyện đó đầy/toàn những thứ nói ra là để đánh lừa hay làm rối trí người khác. Xuất xứ của thành ngữ này là do từ chuyện các nhà ảo thuật (magicians), khi diễn trò, có đôi khi dùng đến “smoke and mirrors” (khói và những tấm gương) với mục đích làm rối trí (to confuse) hoặc đánh lưà (to deceive) người xem.



Chuyện thực hư ra sao về Bác sĩ Haneef, “có khói” hay “không có khói”, hoặc “có khói” mà “không có lửa”, vẫn còn trong vòng điều tra tiếp tục cuả Cảnh sát Liên bang Úc [Australian Federal Police (AFP)]. Đèn công lí có “sáng tỏ” hay không xin Quí Vị cứ chờ đợi đấy! (just wait and see!).



Trịnh Nhật

Sydney, 8.8.2007

Kết hợp ngữ
(Collocations)

fire noun

1 lửa, đám cháy

ADJ big, huge lớn, khổng lồ | fierce mãnh liệt | serious nghiêm trọng| disastrous tai hại | bush, forest rừng, house nhà
VERB + FIRE be on bị The house is on fire! | catch bắt A lantern was knocked over and the barn caught fire. | cause, set sth on, start phóng hoả, nổi lửa (đốt cháy cái gì) Groups of rioters attacked and set the police headquarters on fire. | fan làm/thổi bùng Strong winds fanned the fire. | add fuel to, fuel đổ thêm dầu vào (cả hai đều dùng nghĩa bóng) Frustrated ambitions can fuel the fire of anger and resentment. | extinguish, put out dập tắt | fight chữa (cháy), cứu (hoả) He joined the crowds of men and women fighting the fire. | contain, control chặn đứng, chế ngự, dập tắt Firefighters struggled to control the fire. | be damaged by/in bị hư hại bởi/trong, be destroyed by/in bị thiêu hủy bởi/trong The factory was destroyed in afire started by arsonists. | be killed by/in bị chết bởi/trong, die in chết trong
FIRE + VERB break out, start phát ra, bùng lên A fire broke out in the mailroom. | go out | blaze, burn, rage cháy, hoành hành, tàn phá The fire burnt for three days before it was finally contained. | spread, sweep through sth cháy lan, tràn/xuyên qua cái gì In 1925 a disastrous fire swept through the museum. | damage sth làm hư hại cái gì | destroy sth, gut sth thiêu huỷ cái gì The fire gutted the building, leaving just a charred shell.
FIRE + NOUN safety an toàn legislation related to fire safety | hazard, risk rủi ro, nguy hiểm Foam-filled couches are a serious fire hazard. | drill tập dượt (phòng khi có hoả hoạn) We have regular fire drills to ensure that the staff know how to evacuate the building. | alarm báo hiệu | brigade, department, service đội, sở | station trạm (cứu hoả) | engine xe | hydrant họng nước, ống dẫn nước có chỗ lắp ống cứu hoả | hose ống (nước) | extinguisher bình dập tắt (lửa), bình chữa (cháy) | escape lối thoát (khi có hoả hoạn) The thief got away down the fire escape. | door cửa
PHRASES bring a fire under control chữa được đám cháy, dập tắt được ngọn lửa, khống chế/chế ngự được vụ hoả hoạn Firefighters have now managed to bring the fire under control, set fire to sth nổi lửa đốt cái gì Someone had set fire to her car.



2 lò/bếp (lửa) dùng nấu hoặc hâm nóng đồ ăn

ADJ blazing cháy dữ dội, crackling nổ lách tách, hot nóng, roaring đùng đùng, warm ấm, nóng ấm | dying, smouldering âm ỉ | little nhỏ | open lộ thiên | charcoal than củi, coal than, log khúc củi, oil dầu, peat than bùn, wood củi
VERB + FIRE build, make | kindle, light nhúm (lửa), thắp sáng Kim had managed to kindle a little fire of dry grass. | poke, stir, stoke (up) cời, khơi, bới On cold nights we stoked up the fire to a blaze. | put sth on bỏ cái gì vào Put some more wood on the fire. | cook on/over nấu nướng trên When we go on safari we like to cook on an open fire.
FIRE + VERB burn cháy Although it was summer a fire burned in the great stone hearth. | kindle, light nhúm, đốt, thắp.We had plenty of dry wood, so the fire lit easily. | die (down) tắt (dần) The fire was beginning to die down. | burn (itself) out hết cháy, go out tắt | crackle (kêu) lách tách | glow sáng đỏ hồng | smoke bốc khói, toả khói The fire smoked instead of burning properly.
PHRASE the glow from/of a fire ánh đỏ rực từ/cuả một bếp lưả The interior was only lit by the golden glow of the fire.



3 bình/máy sưởi

ADJ electric điện, gas khí/hơi đốt

VERB + FIRE light, switch on, turn on thắp, bật lên, vặn lên Use a match to light the gas fire. | switch off, turn off tắt, vặn tắt

FIRE + VERB be off/on tắt/còn cháy Is the fire still on?



4 hoả lực

ADJ heavy mạnh | anti-aircraft chống máy bay, covering yểm trợ, friendly bạn The commandos pushed forward under the covering fire of their artillery o Several soldiers were killed in friendly fire due a mistake by allied forces. | artillery pháo binh, sniper du kích | cannon cà-nông, thần công, đại bác machine-gun (hoả lực) súng máy, súng liên thanh, đại liên, mortar súng cối, rifle súng trường

QUANT burst of sự nổ tung burst of machine-gunfire

VERB + FIRE open nổ (súng) The troops opened fire on the crowd. | return bắn trả lại She returned fire from behind the low wall. | cease, hold ngưng (bắn) They were told to hold their fire until the enemy came closer. | be/come under nằm dưới We were under constant fire from enemy snipers, (nghĩa bóng) The minister of transport came under fire (= was heavily criticized) for forcing increases in rail fares. | draw nhử, mồi, câu A few soldiers were sent out to draw (= attract) the enemy 's fire.

PHRASE be in the line of fire ở giữa hai lằn đạn đang bắn chống trả nhau Unfortunately he was in the line of fire (= between the people shooting and what they were shooting at) and got shot.



smoke noun

khói

ADJ dense, thick dầy đặc | black đen, blue xanh, grey xám, etc. | billowing nổi cuộn, | acrid cay, choking nghẹt thở, tắc thở, stale mốc | cigar thuốc xì-gà, cigarette thuốc lá, pipe tẩu, dọc tẩu, tobacco thuốc lào/lá

QUANT cloud đám, column cột, haze màn mỏng, pall màn, plume luồng, puff luồng, làn spiral xoắn ốc, wisp làn, dải nhỏ We sat drinking in a haze of cigarette smoke, o The witch disappeared in a puff of smoke.

VERB + SMOKE belch (out) phun ra, blow thồi, emit nhả ra The lorry ahead was belching out black smoke, o Don't blow smoke in my face! | exhale thở ra | inhale hít vào | go up in bị thiêu huỷ (bởi đám cháy) The barn went up in smoke (= was destroyed by a fire). | be wreathed in bị cuộn, bị quấn trong She sat there wreathed in cigarette smoke.

SMOKE + VERB belch phun, billow dâng cuồn cuộn, curl cuộn, drift tuôn, fill toả, pour tràn, rise from/into bốc lên từ/vào trong Blue smoke curled upwards from her cigarette. | hang lơ lửng A pall of yellow smoke hung over the quarry. | clear (hết khói) trời quang, (khói) tan When the smoke cleared we saw the extent of the damage.

SMOKE + NOUN plume luồng, ring vòng I taught myself to blow smoke rings. | signal tín hiệu | bomb bom | alarm máy báo động, detector máy dò | emission toả | inhalation hút

PHRASE full of smoke, thick with smoke đầy khói, dầy đặc những khói là khói The public bar was thick with stale tobacco smoke.



Trịnh Nhật

Sydney, 8.8.2007 Khoahoc.net

WLP
08-27-2007, 03:59 AM
Chi Chú:

-Dấu bằng (=) có nghĩa là liên hệ với, tương đương, gần cận nhau, giống nhau.

-Chữ trong hai gạch nghiêng / / là thanh, thinh, âm, âm vị, chỉ phát âm theo tiếng Việt hay ngoại ngữ.

-Mẫu tự trong ngoặc đơn của một từ có nghĩa là bỏ đi hay câm ví dụ Anh ngữ cổ brus (breast), vú có b(r)u- = bú, vú (bỏ r hay r câm)….

-Dấu (*) có nghĩa là gốc tái tạo không có trong ngôn ngữ thành văn (written records).

-Tôi dùng từ liên hệ hiểu theo nghĩa tổng quát. Còn liên hệ như thế nào không nằm trong phạm vi bài viết này (sẽ nói rõ trong tác phẩm Sự Liên Hệ Giữa Việt Ngữ và Ấn Âu Ngữ.) Chỉ xin hiểu một cách tổng quát dù là liên hệ qua môi sinh như tiếp xúc, vay mượn, qua trung gian một ngôn ngữ khác hay di truyền (DNA) như ruột thị, máu mủ thì nói chung vẫn là liên hệ. Có sự liên hệ giữa Việt ngữ và Anh ngữ thì sự liên hệ đó cũng đủ giúp ta học Anh ngữ bằng Việt ngữ một cách dễ dàng và ngược lại.

Ở đây chỉ xin rút tỉa ra một ứng dụng, một thực dụng rất hữu ích từ sự liên hệ này là ta có thể học một cách tường tận, dễ hiểu và dễ nhớ tiếng Anh nói riêng và Ấn Âu ngữ nói chung bằng tiếng Việt và ngược lại. Học Anh ngữ bằng Việt ngữ giúp những người Việt nhất là giới lớn tuổi giỏi tiếng Việt có thể dùng tiếng Việt học Anh ngữ và các thế hệ trẻ sinh đẻ ở hải ngoại và các người ngoại quốc giỏi Anh ngữ có thể dùng tiếng Anh học tiếng Việt.



* * *



TỪ LÁY TRONG VIỆT NGỮ

Từ láy gồm một từ gốc và một từ tố lặp lại theo âm điệu, vần điệu nhịp nhàng, uyển chuyển với từ gốc. Tôi gọi từ tố láy với từ gốc là thành tố láy (TTL), ví dụ liếm láp thì láp là TTL của liếm. Đa số các nhà ngữ học Việt Nam cho rằng ngoài một số nhỏ TTL có nghĩa còn hầu hết TTL vô nghĩa như bết bát, liếp láp, tắm táp... thì TTL bát, láp, táp không có nghĩa. Tôi khám phá ra rằng các từ lấp láy có TTL hầu như đều có nghĩa. Chúng ta cho là vô nghĩa vì chúng ta không biết nghĩa đó thôi. Nói một cách tổng quát, giản dị cho dễ hiểu thì TTL trong tiếng Việt dù dưới dạng nào đi nữa nó đều phát xuất ở từ gốc, từ mẹ mà nó ‘láy’ sinh ra. Như thế nó mang những di tính của từ gốc, từ mẹ không những âm, vần mà kể cả nghĩa ngữ. Nghĩa của TTL có thể còn giữ nguyên nghĩa ngữ của từ mẹ (rõ nhất là dạng láy giữ nguyên dạng như ào ào) hay vì đã láy, đã “lái”, đã “lai” đi thì nghĩa cũng sẽ lai đi, đã thay đổi theo luật biến nghĩa... Nói gọn lại, từ láy trong tiếng Việt láy cả âm đọc lẫn ý nghĩa. Những TTL này



-có thể là những từ cổ Việt đã biến thể đi, đã mai một đi hay đã bị chôn vùi ở đâu đó nên chúng ta không biết nghĩa, ví dụ từ láy kiêng khem có TTL khem là tiếng biến âm của từ cổ Việt hèm có nghĩa là kiêng, taboo. Theo biến âm kh = h như khì khì = hì hì, ta có khem = hèm.

-có thể chúng là những từ còn hiện diện ở một ngôn ngữ nào đó của nhân loại nhất là những ngồn ngữ có liên hệ với Việt ngữ. Sự liên hệ này có thể ruột thịt hay vay mượn, tiếp xúc. TTL của Việt ngữ là một từ trong ngôn ngữ khác. Ví dụ bụi bậm, TTL bậm cũng có nghĩa là bụi, bậm chính là Phạn ngữ pâmsu (m có dấu ngã), pâmçu (m có dấu ngã), bụi. Rõ ràng pâm- = bậm.

. . . . . .

(xem thêm chương Từ Láy Trong Tiếng Việt trong Tiếng Việt Huyền Diệu).



Qui luật về thành tố láy của từ láy trong Việt ngữ của Nguyễn Xuân Quang:



Thành tố láy của từ láy trong Việt ngữ thường đều có nghĩa. Nghĩa có thể còn giữ nguyên nghĩa của từ gốc, từ mẹ mà nó láy hay đã láy đi, lai đi, lái đi. Thành tố láy thường là một từ thấy trong Việt ngữ (đôi khi là một từ cổ Việt mà ngày nay ta còn nhận ra và biết nghĩa hay là một từ còn bị chôn vùi ở đâu đó) hay là một từ thấy trong một ngôn ngữ khác, nhất là ở những ngôn ngữ càng ruột thịt, họ hàng với tiếng Việt. Từ láy thuần túy hay mẹ con có thành tố láy cùng vần, cùng chữ với từ mẹ mà nó láy với (ví dụ từ mẹ khởi đầu là một nguyên âm thì thành tố láy cũng phải khởi đầu là một nguyên âm và từ mẹ khởi đầu là một phụ âm (như chữ b chẳng hạn) thì thành tố láy cũng phải khởi đầu là một phụ âm cùng vần (với chữ b như bết bát).





HỌC ANH NGỮ BẰNG TỪ LÁY TRONG VIỆT NGỮ

Trong Tiếng Việt Huyền Diệu, tôi đã so sánh thành tố láy của từ láy trong Việt ngữ với tất cả ngôn ngữ loài người. Ở đây trong phạm vi bài học Anh Ngữ Bằng Tiếng Việt và Ngược Lại, tôi giới hạn vào những thành tố láy của từ láy trong Việt ngữ thấy trong Anh ngữ và trong một vài ngôn ngữ thuộc nhóm Ấn-Âu ngữ. Ta có thể dùng thành tố láy của Việt ngữ để học Anh ngữ và ngược lại. Vì phạm vi bài viết, mỗi vần chỉ xin đưa ra vài ba từ làm ví dụ.



A

.Á à

Có một nghĩa theo duy âm là không, không được. Dạng này thấy nhiều trong ngôn ngữ trẻ em (baby talk) còn dùng nhiều nguyên âm và gần như tất các trẻ em của loài người đều nói. Ví dụ như con ăn cơm không? -á à.

TTL à = á.

TTL à = Việt ngữ ỏ (không) = Mường ngữ ó (không). =Hán Việt á (không) = tiền tố Hy Lạp ngữ a, an có một nghĩa là không như aphasia, á khẩu.

Tóm lại TTL à = Việt ngữ ỏ (không) = Mường ngữ ó (không). =Hán Việt á (không) = tiền tố Hy Lạp ngữ a, có một nghĩa là không.



.Âm âm

Âm âm là tối mờ mờ, trời nhiều mây. Từ láy này có TTL láy giống như từ mẹ thuộc loại phân sinh một tách ra làm hai.

TTL âm = từ mẹ âm.



Ta đã thấy tất cả các nguyên âm trong Việt ngữ đều có thể biến âm với nhau a= e = i = o = u với nghĩa có thể lai láy đi ít nhiều như mạ = mẹ = mị (Mị Nương = Mẹ Nàng) = mợ (có nơi gọi cha mẹ là cậu mợ) = mụ (có một nghĩa là mẹ như bà Mụ là Mẹ đỡ đầu của trẻ em) (Tiếng Việt Huyền Diệu). Tất cả nguyên âm (a, ă, â, e, ê, i, o, ô, u, ư) đều có gốc từ chữ nòng nọc (O và I). Ở đây có nghĩa mang âm tính. Tất cả các từ láy ở đây đều mang âm tính. Nên nhớ các mẫu tự trong Việt ngữ phải hiểu theo Dịch, ít nhất phải nhìn theo hai diện âm dương (Tiếng Việt Huyền Diệu). Ở đây ta có các biến âm sau: âm âm = êm êm = im im = om om = um um. Ta có âm âm cùng nghĩa với um um (xem dưới).



B

.Bảnh bao

Sang, đẹp, trưng diện.



Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao.

(Nguyễn Du, Kiều).

TTL bao = bảnh.

Bảnh là đẹp như bảnh chọe, ăn mặc trông rất bảnh. Theo qui luật thành tố láy ta có bảnh = bao. Ta thấy bảnh = bao = Anh ngữ beau (số nhiều beaus, beaux), người ăn mặc bảnh bao, sang trọng = beaut, beauty, đẹp, vẻ đẹp = beauteous, beautiful, đẹp = Pháp ngữ beau, belle, đẹp, bảnh, bảnh bao.

.beau- = bê (tiếng Huế là đẹp) = bao, bảnh bao, “bô” (phiên âm) như “bô” trai.

.theo b=m, beau = miều (mỹ miều), mỹ, mỵ, mầu. Mầu là sắc cũng hàm nghĩa đẹp như trông rất mầu là trông rất đẹp. Từ đôi mầu mè có mầu = beau, beautiful và mè = belle (Pháp ngữ, giống cái) = bella, Ý ngữ). Mẽ như trông có mẽ lắm, chỉ được cái mẽ, như nói mẽ cũng có thể liên hệ ở đây.

Anh ngữ beau, beautiful = Việt ngữ bảnh, bao, bảnh bao, “bô”, bê (phương ngữ Huế), mỹ, miều, mầu...



Tóm lại TTL bao = Việt ngữ phiên âm bô = bê (tiếng Huế là đẹp) = bao, bảnh bao = Anh ngữ beau, beautiful = Pháp ngữ beau, belle.



.Bận bịu

Có nhiều việc phải làm, không rảnh tay cũng cùng gốc nghĩa với bấn bíu, bấn bít, bấn búi (Hoàng Văn Hành, Từ Điển Từ Láy).

TTL bíu = bận.

Theo b=m, từ bận biến âm với mần có nghĩa là làm như mần ăn = làm ăn, mần tình.



Đồn rằng Hà Nội vui thay,

Rủ nhau bớt bận mấy ngày đi chơi.

Vui thì vui thật là vui,

Nhưng mà cũng chẳng bằng nơi quê nhà.

(cadao).

Bớt bận là bớt làm, bớt việc.

Ta cũng thấy rất rõ bận có nghĩa là làm qua từ Anh ngữ occupied có một nghĩa là bận như đường dây điện thoại đang bị occupied (bận) ruột thịt với occupation, việc làm, nghề nghiệp. Mần là làm bằng tay. Mần = gốc chữ man-, mano-, manu- liên hệ với cổ ngữ Anh mund, Latin manus, Pháp ngữ main, Tây Ban Nha ngữ manos, Ấn Âu ngữ IE man-, bàn tay. Hiển nhiên nguyên thủy con người làm bằng đôi tay vì thế khi bận bịu thì nói là làm việc không rời tay và khi không bận bịu thì nói là được rảnh tay.

Theo biến âm kiểu cút kít, bus (xe) = buýt = bít, ta có TTL bít, bíu, bịu = Anh ngữ busy, bận (bận việc, nhiều việc, nhiều họat động, đông đúc, nhiều xe cộ).

Busy ruột thịt với business. Business có nghĩa là busy-ness, bận bịu, bận làm một chuyện gì. Ngày nay dùng với nghĩa rộng ra là 1. việc, công việc, việc làm, 2. buôn bán, kinh doanh, 3. nghề, nghề nghiệp.



Tóm lại TTL bịu, bíu, bít = bận = Anh ngữ busy, business.



.Bết bát

Tồi tệ.

TTL bát = bết.

Bết là tồi, xấu như học bết quá như bết bát, bê bết, bê bối. Bết biến âm với bét (chót, hạng bét).

.Bết, bét chính là Anh ngữ bad phát âm là /bét/. Nếu phát âm theo tiếng Việt bad = /bát/ = bát (bết).



Tóm lại TTL bát = Việt ngữ bết, bét = Anh ngữ bad phát âm theo Anh ngữ /bét/ = Việt ngữ bét và theo Việt ngữ /bát/ = Việt ngữ bát.

Anh ngữ bad = bét, bết, bê (bối), bết bát.



C

.Cong cớn

Thường nói về phụ nữ chỉ sự chua ngoa diễn tả bằng cách cong môi, vênh mặt lên, cái mặt trông như cái mảnh sành cong.

TTL cớn = cong .

Cớ n = Anh ngữ curve, cong, đường cong, quẹo.

.curve có curv- = cớn, cong, cong cớn, .theo c=qu (cuốn = quộn), cur- = queo, quẹo = Phạn ngữ krunch, to curve có k(r)unc- = cong.

.TTL cớn liên hệ với gốc tái tạo PIE *ker-/*k’or-/*k’r, to twist, vặn, to turn, bẻ quẹo, to bend, uốn cong...



Tóm lại TTL cớn = cong = Anh ngữ curve = Phạn ngữ krunch, to curve = gốc tái tạo PIE *ker-/*k’or-/*k’r, to twist, vặn, to turn, bẻ quẹo, to bend, uốn cong...



.Cứng cáp

TTL cáp = cứng = Anh ngữ cap với các nghĩa:

1. đầu.

2. đỉnh, chóp.

3. chốc, trốt (phương ngữ Huế), đứng đầu, trước tiên, cả, lớn nhất.

Cáp = Latin caput, đầu Tây Ban Nha ngữ cabeza, đầu, Pháp ngữ chapeau, mũ.

TTL cáp = Anh ngữ cap = Hán Việt cấp (đầu) như thủ cấp.

Từ đôi cứng cáp với cáp = Anh ngữ cap = cứng. Từ đi đôi cứng đầu cũng cho thấy cứng = đầu. Như thế cứng cáp có cứng = cáp = cap = đầu. Theo c=s, cứng = sừng. Ta cũng có từ đôi sừng sỏ với sỏ (đầu sỏ) = sừng (xem skull). Tóm lại cáp = cứng = sừng = sỏ = đầu. Cáp có nghĩa là cứng liên hệ với sừng, sỏ, đầu với Anh Ngữ cap.

TTL cáp liên hệ với Phạn ngữ kapâla, skull. Kapâla có kap- = cáp = Anh ngữ cap.



Tóm lại TTL cáp = cứng = Việt ngữ cáp = Hán Việt cấp = Anh ngữ cap, đầu, sỏ, mũ = Phạn ngữ kapâla, skull.có một nghĩa là sừng, cứng.



.Cứng cát

giống như cứng cáp.

TTL cát = cứng.

Cát là một thứ sỏi đá mịn cũng có nghĩa cứng (cứng như đá). Ta thấy rất rõ cát = Anh ngữ sand = Pháp ngữ sable. Anh ngữ sand có san- = sạn (sỏi sạn), sable có sab- = sạn, Anh ngữ calculus, sạn, sỏi có cal- = sạn; callose, callous, callosity, callus, chai cứng (ở da), chai đá (lòng) (chỗ xương gẫy đóng thành cục vôi cứng như đá), có cal- = sạn (sỏi). Cát, sạn, sỏi, chai đá ruột thịt với Phạn ngữ çaila, stony (như đá), mountainous (như núi, thuộc về núi) có çai- = chai. Qua từ ghép chai đá, chai sạn ta có chai = đá = sạn.

Tóm lại TTL cát = cứng = chai = sạn = sỏi = Anh ngữ sand, Pháp ngữ sable = Anh ngữ callose, callous, callosity, callus = Phạn ngữ çaila, stony.



.Cứng cỏi.

TTL cỏi = cứng. Theo biến âm c=s như cắt = sắt, cỏi = sỏi. Sỏi là một thứ sạn, đá cũng có nghĩa là cứng.

.Pháp ngữ caillou, sạn sỏi, Phạn ngữ çaila, stony (như đá), Anh ngữ callus chai cứng, calculus, sạn, có có cai-, çai- , cal- = chai = cỏi = sỏi = sạn.



Tóm lại TTL cỏi = cứng = sỏi = sạn = Pháp ngữ caillou = Anh ngữ callus, calculus, Phạn ngữ çaila, stony.



D

.Dốt dát

dốt, ngu, tối, tối dạ.

TTL dát = dốt.

dát = dark, tối. Việt ngữ cũng có từ ghép dốt đặc với đặc = dốt. Ta thấy rõ đặc = dark tối, đen như trời đêm đen đặc.

Dốt có nghĩa là tối (thằng ấy tối lắm), tối dạ, u tối, u mê (u có nghĩa là tối, u tối), ngu. Theo n=đ, ta có dốt = dát = nát, dốt nát. Dốt = nát = Ý ngữ notte = Tây Ban Nha ngữ noche = Nga ngữ nock, tối, đêm. Việt ngữ nát = nắc. Việt ngữ nắc là đêm như thấy qua tên con nắc nẻ là con bướm đêm. Loài bướm này có tiếng kêu như một tràng cười rộ vì thế mới có câu ví “cười như nắc nẻ”. Nắc chính là Đức ngữ nac(ht), Phạn Ngữ -, nak-, tối, đêm. Nắc liên hệ với Hán Việt nặc, bí mật hàm nghĩa kín, tối như thư nặc danh. Nát = Đức ngữ nacht, Phạn ngữ nak-, naktam, đêm, tối. Đêm có một nghĩa là tối như tối nay = đêm nay.

Tóm lại TTL dát = dốt = nát = nắc = Đức ngữ nacht, Phạn ngữ nak-, Ý ngữ notte, Tây Ban Nha ngữ noche, Nga ngữ nock, tối, đêm...



.Dại dột

ngu dại và dốt, khờ khạo, tối dạ.

TTL dột = dốt = dại, dại dột . Dại là dốt như cũng thấy qua ngu dại = ngu dốt. Theo đ=n= dại = Anh ngữ night = /nai/, tối đêm. Rõ ràng dại là dột là dốt là Tây Ban Nha ngữ noche (tối) là night.

Ta thấy rất rõ dốt nát với nát biến âm với nacht; dốt đặc với đặc biến âm với dark; dại dột với dốt, dột biến âm với noche và dại với night…

Tóm lại TTL dột = dại = tối (dạ) = Anh ngữ night = Tây Ban Nha ngữ noche = Đức ngữ nacht, tối, đêm, có một nghĩa chung là tối.



.Dài dòng

Dài lòng vòng.

TTL dòng = dài.

Dòng

= Việt ngữ dong là dài như đi dong dài.

= dông là dài như nói dông dài, đòn dông là đòn dài trên nóc nhà.

= gốc Hy Lạp ngữ dolicho-, dài như dolichocolon, ruột già dài lòng thòng.

= gốc tái tạo Ấn Âu ngữ *dloon-gho, dài.

Theo biến âm d=l như dần dần = lần lần,

dòng = Việt ngữ long (có một nghĩa là dài) như đi long rong là đi rong, đi dài.

= Anh ngữ long, dài = Đức ngữ lang, dài = Việt ngữ lang cũng hàm nghĩa dài như đi lang thang là đi long rong, rông dài.

= lòng có một nghĩa là dài như lòng thòng, lòng vòng. Lòng cũng có nghĩa là ruột. Lòng ruột cũng có nghĩa là dài thấy rõ qua Hán Việt trường là ruột như đại trường (tràng) là ruột già và trường cũng có nghĩa là dài như trường giang.



Tóm lại TTL dòng = gốc Hy Lạp ngữ dolicho-, dài = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ *dloon-gho, dài = Việt ngữ dong, dài = Việt ngữ long, lòng (dài) = Anh ngữ long (dài) = Việt ngữ lang (thang), (dài) = Đức ngữ lang (dài)...



Đ

.Đàn đúm

Túm tụm lại với nhau.

TTL đúm = đàn.

TTL đúm = đám, theo d=t, TTL đúm = túm, tụm tụm = Anh ngữ troop, Pháp ngữ troupe, đàn, đoàn, đám, tốp. Anh ngữ t(r)oop = Pháp ngữ t(r)oupe = tốp, túm, đám, đàn.

Tóm lại TTL đúm biến âm với đám với túm như túm tụm = Anh ngữ troop, Pháp ngữ troupe, đàn, đoàn, đám, tốp.



.Đen đủi.

đen và xấu, bẩn.

TTL đủi = đen = tối. Theo biến âm đ=t=th, đậm = tăm = thẫm đủi = túi, tối = thui. Đen thủi đen thui = đen đủi = đen túi = đen tối, Theo biến âm t=n (túm = núm), đủi = túi = Pháp ngữ nuit (đêm) (có nui- = túi = tối = thủi = đủi). Từ ghép đen nháy với TTL nháy = láy như đen nháy = đen láy, với h câm, nháy = náy = /nai/ = night, tối, đêm hàm nghĩa đen và đen đặc với TTL đặc = đen. Đặc có một nghĩa là đen như tối đặc = tối đen, đặc chính là Anh ngữ dark, tối, đen.



Tóm lại TTL đủi = túi, tối = thui, thủi = Pháp ngữ nuit, Anh ngữ nigh, có một nghĩa chung là đen, tối.



.Đứng đắn

Ngay thẳng, đàng hoàng.

TTL đắn = đứng.

.theo t=đ, đắn = Anh ngữ (s)tand, đứng; theo t=đ, stand có -tand = đắn, đứng đắn.

.stand có -tand = tênh, tễnh (đứng) như tênh tênh là đứa trẻ mới tập đứng, mới biết đứng, người lớn thường buông tay ra để đứa bé đứng một mình rồi nói tênh tênh nào; tập tễnh là mới tập biết đứng, biết đi một hai bước, đứa bé mới tập tễnh.



Tóm lại TTL đắn = đứng = Anh ngữ stand, đứng = tênh tênh, tễnh.



E



.Èo uột.

là yếu ốm.

TTL uột = èo. Theo kiểu biến âm như eo = Hán Việt yêu (chỗ eo ếch, tiểu yêu đại huyệt), ta có èo = yếu. Ta thấy ngay èo = yếu = Anh ngữ ill (yếu, ốm). Ta thấy uột biến âm với èo, yếu hay ốm. Theo u=v=w, èo = uột = weak, yếu giống như eo = yêu = waist.

Tóm lại TTL uột = èo = ill = yếu = weak.



.Ê ẩm

là đau nhức, đau rêm rêm.

TTL ẩm = ê.

Ê, ê ê có nghĩa là đau nhức như ê răng, ê mình, ta cũng có tiếng lóng “ê càng”.

Ta có ê = Anh ngữ ache, đau, nhức.

TTL ẩm = Hy Lạp ngữ algos, gốc -algy, -algia, đau, như neuralgia, đau dây thần kinh, các chữ này có al- = ẩm (đau).

Tóm lại TTL ẩm = ê = Anh ngữ ache = Hy Lạp ngữ algos, gốc -algy,-algia.



.Êm ả.

Yên tĩnh, không xáo động.

TTL ả = êm, ả biến âm với á như trên đã biết có một nghĩa là không như á khẩu (không nói được) = ỏ là không, vắng như ỏ vào, (xem chữ no) = Mường ngữ ó (không) = tiền tố Hy Lạp ngữ a-, không như aphasia, á khẩu. Không là vắng là yên là êm (xem chữ êm ắng).

Tóm lại TTL ả = êm = Việt ngữ ỏ (không) = Mường ngữ ó (không) = Hán Việt á (không) = tiền tố Hy Lạp ngữ a-, không.



.Êm ắng.

như im ắng , vắng lặng

TTL ắng = êm. Ắng có nghĩa là vắng, lặng như chợ ắng người = chợ vắng, với Việt câm, vắng = ắng. Vắng hàm nghĩa lặng như vắng lặng, êm lặng, yên lặng. TTL ắng = Anh ngữ absence, vắng. Absent liên hệ với Latin absent có tiền tố a- là không, ab-, away, vắng, rời đi và -sens, being (là), absent có một nghĩa vắng.

Vắng có một nghĩa là lặng, là êm.

Tóm lại TTL ắng = êm = tiền tố Hy Lạp ngữ a- là không, ab-, away = ắng = vắng = Anh ngữ absence, vắng, có một nghĩa là lặng, là êm.



.Êm êm

Như đã thấy êm êm biến âm với âm âm (theo Dịch lý những gì mang âm tính thường mang tính êm), với um um (xem dưới).



G

.Gắm ghé

Nghấp nghé, để mắt tới.



Làng cung kiếm rắp ranh bắn sẻ,

Khách công hầu gắm ghé mong sao.

(Nguyễn Gia Thiều, Cung Oán Ngâm Khúc bản của Tôn Thất Lương).



Gắm ghé biến âm với ngắm nghé như thấy qua bản của Nguyễn Can Mộng:



Làng cung kiếm rắp ranh bắn sẻ,

Khách công hầu ngắm nghé mong sao.



TTL ghé = gắm.

TTL gắm = Anh ngữ gaze, nhìn chăm chăm, đăm đăm.

.theo phát âm trong Anh ngữ gaze = ghé như ghé mắt qua, gắm ghé.

.theo phát âm trong Việt ngữ gaz = gắm, gắm nhìn.

.theo g=ng (như gẫm = ngẫm), gaz = ngắm, ngắm nghé.

.theo g=ngh (như gịt = nghịt, nghẹt mũi), gaz = nghé (ngắm nghé).

.theo g=nh (như gậm = nhấm), gaz = nhắm, nhắm nhé.



Tóm lại TTL gắm = ghé = Anh ngữ gaze.



.Gây gỗ, Gây Gổ

Gây gỗ có khi nói và viết là gây gổ là cãi nhau, cãi cọ, cãi vã. Tôi chọn TTL gỗ.

TTL gỗ = gây.

Từ gây biến âm với gậy, cây và TTL gỗ (wood) là cây và nếu nói gổ thì gổ biến âm với gỗ cũng có gốc cây. Gây = gỗ = gậy cây. Gây gỗ có thể là một hình thức xung đột cãi nhau dùng tới gậy gộc, một thứ khí giới sơ khai.

Gây gỗ = Anh ngữ quarrel, gây gỗ, cãi nhau vã, cãi cọ, công kích. Anh ngữ quarrel cũng có nghĩa là một thứ tên, nỏ (khí giới), một thứ chạm, đục (vật nhọn). Ta thấy rất rõ quarrel có một nghĩa khá thích hợp với gốc chữ là công kích (tấn công bằng kích, một thứ khí giới nhọn). Quarrel có gốc Latin queri, kêu ca, khiếu nại. Queri có que- = Việt ngữ que (gậy gộc). Quarrel có qua- = Hán Việt qua, khí giới như cây que nhọn = Việt ngữ que (gậy gộc).

.theo c=qu (cuốn= quộn), quarrel có qua- = ca (kêu ca) = cãi.

.theo q=c=g [cuốn = quộn = guồng (chỉ)], có qua- = gây, gây gỗ.

.theo q=v [quấn = vấn (khăn)], qua- = vã, cãi vã.

.theo qu=c =k, qua- = que = kè = cọ (cây kè = cây cọ là loài cây thân không có cành nhánh thẳng tuột như cây cột) = cãi cọ.

.theo qu=c=k, quarrel = Phạn ngữ kali, quarrel có ka(l)i = qua, que = cãi (cãi cọ, cãi nhau).



Ta thấy rất rõ gây gỗ và quarrel là dạng bất hòa trong xã hội sơ khai, tiền sử có liên hệ đến gậy gộc. Ở đây ta thấy TTL gỗ gần cận với cây, gậy hơn gổ. Đó là lý do tôi thích chọn gỗ thay vì gổ.



Tóm lại TTL gỗ, gổ, = gây = Anh ngữ quarrel.



.Gầy guộc

Gầy guộc là gầy như cây que. Việt ngữ gầy thường ví với một chiếc cây mảnh khảnh như gầy như que củi, gầy như cây sậy, gầy như cây tăm... có một nhân vật Kim Dung người rất gầy có tên là Khô Lâu Trúc, người gầy trông như một chiếc đầu lâu khô cắm trên một cây tre.

TTL guộc = gầy.

Ta thấy rất rõ Việt ngữ gầy biến âm với gậy, cây như thế TTL guộc cũng phải liên hệ với cây, gỗ. Guộc biến âm với guốc.

Guốc làm từ cây, gỗ. Theo biến âm g=v=w như bà góa = bà vá và Mường ngữ w=v như wá = v ả (quả), ta có guốc = Anh ngữ wood. Guốc nguyê n thủy là một khúc gỗ dùng để đi. Theo g=c (gài = cài), guộc = cuộc = cược (đánh cuộc = đánh cược) = cọc (cây). Rõ ràng guộc, guốc liên hệ với cọc, với cây, với gỗ.

Tóm lại TTL guộc = guốc = gỗ = gầy = Anh ngữ wood. Rõ ràng gầy guộc là gầy như khúc cây, khúc gỗ.





H

.Hô hào

Kêu gọi, kêu lớn tiếng.

TTL hào = hô.

TTL hào = Anh ngữ howl = /hao/, tru, la hét, rít (gió) = Campuchia ngữ hao là gọi. Howl có ho- = hú = hò (hò là hét lớn như hò đò) = hô (hô khẩu hiệu, hô hoán). Theo h=g (hồi = gồi), howl = gào. Pháp ngữ hurler có hu- = hú.

Tóm lại TTL hào = hô = hò = hú = Campuchia ngữ hao = Anh ngữ howl = Pháp ngữ hurler.



.Hát hỏng

hát với xướng (có ý xấu).

TTL hỏng = hát.

Theo h=s, hói = sói, hỏng = Anh ngữ song (bài hát).



Tóm lại TTL hỏng = hát = Anh ngữ song.



.Héo hắt

Héo khô. Héo có một nghĩa là khô. Theo h= w như Mường ngữ wá = vả (quả ), héo = Anh ngữ wilt, héo úa.

TTL hắt = héo.

Theo h=s như hói = s ói, ta có héo = s éo = se.

TTL hắt = Anh ngữ hot, nóng, liên hệ với khô, nỏ. Theo h=s, hắt = sắt. Như thế héo hắt =se sắt. Từ láy se sắt là héo khô, ta có se= sắt (khô) ví dụ người hay mặt nó sắt lại, hay khô sắt lại. Sắt liên hệ với Ainu ngữ (thổ dân ở Nhật Bản) sat, khô. Từ se là khô như quần áo phơi đã se,



Đông chết se, hè chết lụt.

(Tục ngữ)



Cây lúa về mùa đông ít nước dễ bị chết vì khô và mùa hè nhiều mưa dễ bị chết vì lụt. Như thế hắt = sắt = se (khô).

Se = sắt = gốc Hy Lạp ngữ xero-, khô, se, sấy. Ví dụ xeroderma, da khô = Pháp ngữ sec, Ý ngữ secco, Tây Ban Nha ngữ seco, Latin siccus, Phạn ngữ çuska, khô.



Tóm lại TTL hắt = héo = Anh ngữ hot = sắt = se = gốc Hy Lạp ngữ xero- = Pháp ngữ sec...



.Hôn hít

Nói chung là hôn.

TTL hít = hôn.

TTL hít có một nghĩa là hôn. Hít là dạng nguyên thủy của hôn. Loài vật thường hít nhau. Di thể (gene) hít thấy ở loài vật truyền qua con người. Ngày nay ta còn thấy mẹ hôn con bằng cách hít con. Một vài tộc thổ dân Mỹ châu ngày nay còn giữ tục hôn nhau bằng cách chạm hai mũi vào nhau. Bước vào xã hội văn minh, hít trở thành hôn: hôn má, hôn môi, “nút lưỡi” (French kiss). Theo h = k, như hết = kết, ta có hít = kiss. Theo biến âm kiểu cút kít, kít = Phạn ngữ kus, to embrace, hôn.



Tóm lại, TTL hít = hôn = Anh ngữ kiss = Phạn ngữ kus, hít, hôn, hôn hít.



I

.Im lìm

Im lặng như ngủ yên.

TTL lìm = im.

TTL lìm = Anh ngữ sleep, ngủ, lịm, ngủ. Thep m=b=p, (s)leep = lìm, lịm. Sleep có -lee- = li, hàm nghĩa ngủ say như ngủ li bì = Phạn ngữ ni là ngủ, ni = li, li bì = Tiếng Bình Trị Thiên lú là ngủ:

Gió mùa thu mẹ ru con lú.

(cadao)

Từ lú cũng có nghĩa là mê, mê mẩn cũng có một nghĩa là ngủ mê man như đánh thuốc mê là làm cho ngủ, lú liên hệ với ngủ như lú lẫn, cho ăn cháo lú. Leep = lìm, lịm, mê, mê mẩn liên hệ với ngủ như nó lịm người đi.

Tóm lạ i TTL lìm = lịm = im = sleep. Im lìm là im lặng như ngủ lịm, ngủ yên. Yên biến âm với im như yên lặng = im lặng.



.Ít xịt

Ít quá.

TTL xịt = ít. Ít có nghĩa là:

1. không nhiều.

Như một ít = một xí, một xị, một tí. Theo biến âm kiểu chi chít ta có xí, xị = xít, xịt. Với x câm như xôn xao = ồn ào, ta có xít = xịt = ít. Theo x=l như biến âm kiểu lao xao, lào xào, ta có xít = Anh ngữ little, ít, nhỏ, bé.

2. một.

như thấy qua từ ghép một ít, ta có một = ít. Với nghĩa là một này, ít

= Anh ngữ each (mỗi, một) == Nhật ngữ ichi là một.

= Phạn ngữ eka, ek-, một = Việt ngữ ạc, ạch, áy là một mình, (từ cổ) (Hỳnh Tịnh Paulus Của) = phương ngữ Huế éc, một mình như bừa éc là bừa với một con thú (trâu hoặc bò).

= Anh ngữ ace, số một, số “dách”, tên lá bài số một (con ách, con ết, con xì) hay cú giao banh tennis “ết” địch thủ bó tay không làm gì được, khi đánh golf, cú quất (drive) ace là chỉ đánh một cái mà trái cù rơi ngay vào lỗ.

3. nhỏ, bé, con con.

như con ít là con nhỏ, trẻ con. Con ít đọc nối qua là con nít (xem Hiện Tượng Đọc Nối Trong Việt Ngữ). Theo biến âm x=c=k ta có xịt, xít = kid, trẻ con, con nít.



Tóm lại TTL xịt = xí = ít = Anh ngữ each, Phạn ngữ ek-, eka = ace = nít = Anh ngữ little.



.Im Im

Như đã thấy im im biến âm với âm âm (theo Dịch lý những gì im, tĩnh, bất động mang âm tính ), với um um (xem dưới).



K

.Kèn cựa

chén ép, cạnh tranh với ý xấu, làm hại nhau.

TTL cựa = kèn.

Cựa là vật nhọn sắc như sừng ví dụ như cựa gà. Con gà sống có cựa nhọn sắc nên gọi là gà qué. Qué biến âm với que, vật nhọn, với kẻ, cây, cọc như thước kẻ, với gốc Hy Lạp ngữ kera- sừng như keratitis, sưng màng sừng (mắt). Gà qué có cựa, có kẻ, có kera-, sừng, nói chung là có vật nhọn mang dương tính. Cựa liên hệ với vật nhọn, sừng. Còn kèn, theo k=c=h (kết = hết), kèn = còi = Anh ngữ horn, còi, kèn làm bằng sừng thú vật. Như thế nguồn gốc sâu thẳm của kèn cựa là dùng hai vật nhọn, một thứ khí giới, để cạnh tranh, chèn ép làm hại nhau.



Tóm lại cựa = kèn = Anh ngữ horn (kèn, còi, sừng), có gốc nghĩa là vật nhọn, dùng vật nhọn (khí giới) chèn ép nhau.



.Kềnh càng

lớn, to không gọn gàng, cồng kềnh.

TTL càng = kềnh.

Kềnh có một nghĩa là to, lớn, đứng đầu như con chấy kềnh, càng cũng có nghĩa là lớn như con kiến kềnh, kiến càng [thường hiểu là có càng (pincers) vì con kiến càng là con kiến lớn, to thường có càng]. Kềnh biến âm với kễnh có nghĩa là lớn, con cọp là con thú đứng đầu các loài thú, là chúa tể sơn lâm có tên là ông kễnh. Kềnh biến âm với Hán Việt kình, lớn, to, chúa tể như kình ngư, cá kình là loài cá to, lớn nhất, chúa tể loài cá, như cá voi, cá ông. Kềnh, kễnh, kình = Anh ngữ king, vua, chúa tể = Đức ngữ kaiser, vua. Kaiser có kai- = Việt ngữ cai, cái, có một nghĩa là lớn, đứng đầu như như cai thợ, thợ cái.

Theo g=c, Anh ngữ grand, lớn, vĩ đại, có g(r)and = càng (lớn, vĩ đại, chúa tể.



Tóm lại TTL càng = kềnh = kễnh = kình = Anh ngữ king = Đức ngữ kaiser = cai, cái = grand.



.Kêu ca

kêu nài, kêu than.

TTL ca = kêu.

Việt ngữ kêu

= Anh ngữ call, gọi, kêu, gào.

= Phần Lan ngữ kerj = gốc tái tạo Ngôn Ngữ của Chúng Ta (Nostratics) *kerj, shout, kêu, la, hò, hét.

= Phạn ngữ hve, to call, theo h=c, hve = kêu. Ta cũng thấy hve = hát = ca. Hát ca là một thứ kêu xin, kêu ca như ta thường nói ca bài con cá nó sống vì nước.

.theo c=g, call = gào, gọi.

.theo c=h, cal- = hào (hô hào), Campuchia ngữ hao là call, = hò (gọi lớn như hò đò sang sông) = hú (gọi) như hú hồn = hô là gọi, nói to như hô khẩu hiệu, hô hoán = Phạn ngữ hù, call, hù = Việt ngữ hú (gọi), hò (hò đò).

Ca có một nghĩa là hát. Có những bài hát diễn tả sự kêu nài, kêu than, là những lời cầu xin, van xin tức kêu ca. Theo qui luật TTL ở đây ca có nghĩa gốc là kêu, kêu xin. Với nghĩa này ca = Anh ngữ call.



Tóm lại TTL ca = kêu = Anh ngữ call = Phạn ngữ hve, gốc tái tạo Ngôn Ngữ của Chúng Ta (Nostratics) *kerj.





L

.Liếm láp

có nghĩa là ăn luôn miệng. Ví dụ mẹ mắng con: “cái miệng mày liếm láp cả ngày”.

TTL láp = liếm.

TTL láp chính là Anh ngữ to lap, liếm.



Tóm lại TTL láp = liếm = Anh ngữ lap.



.Lớn lao

to l ớn.

TTL lao = lớn.

Lao chính là Anh ngữ loud (/lao/), lớn, to: loud speaker là máy phóng thanh, loud mouth = to mồm. Lao xao, lào xào chỉ tiếng động lớn, ồn ào. Ta có lao xao, lào xào = loud sound.



Tóm lại TTL xao = lao = Anh ngữ loud = sound, lao xao, lào xào = loud sound.



.Lỏng lẻo

lỏng và lơi ra, không chặt.

TTL lẻo = lỏng.

Lỏng = Anh ngữ loose.

loose có nghĩa là:

1.lỏng, lơi, không chặt, nới ra.

.loose = Mường ngữ lãng, nới ra, cởi bớt ra.

.loose = /lu/ = lơi, lẻo, theo l=n, lơi = nới (nới ra cho lỏng, cho rộng).

2. loose = lỏng, lỏng le (l ỏng như nước, Việt ngữ le là nước như chim le le là loài chim nước), loose stool là đi cầu lỏng.



Tóm lại TTL lẻo = lỏng = Anh ngữ loose.





M

.Mờ mịt, Mù mịt

quá mờ không thấy rõ.

TTL mịt = mờ, mù.

Mờ, mù chính là Anh ngữ mist, mù, sa mù.

Như nai nhẩy quẩng trong mù,

Nhìn lên thì đã mùa thu qua rồi.

(Nguyễn Xuân Quang)



Tóm lại TTL mịt = mờ = mù = Anh ngữ mist.



.Mặn mà

Mặn mà liên hệ với muối, mắm, với biển.

TTL mà = mặn.

mà = mặn, liên hệ với Phạn Ngữ pâkya (pâka+ya), một loại muối, có pâ- = mà, với Anh ngữ marinade, tẩm, ngâm muối mắm, gia vị. Mà = Tây Ban Nha ngữ mar = Pháp ngữ mer = Anh ngữ marina (liên hệ với biển), marine (thuộc về biển, thủy quân lục chiến) = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE * mori, biển, bể.



Tóm lại TTL mà = mặn = Tây Ban Nha ngữ mar, Pháp ngữ mer là biển = Anh ngữ marinade, tẩm, ngâm muối mắm, gia vị, marina, marine, thuộc về biển = Phạn Ngữ pâkya (pâka+ya), một loại muối = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE * mori, biển, bể.



.Mân mê

Sờ mó bằng tay một cách kỹ lưỡng, lâu dài để tìm cảm giác, giống như mần mò ví dụ như mân mê cây bút, làm nhanh tay lên, ngồi đấy mà mân mê ra đó.

TTL mê = mân. Theo biến âm kiểu mê man, ta có mê = mân.

Việt ngữ mân ruột thịt với mần, như trên đã biết mần là làm bằng tay như đi mần = đi làm, mần răng = làm răng. Mần = gốc chữ man-, mano-, manu- liên hệ với cổ ngữ Anh mund, Latin manus, Pháp ngữ main, Tây Ban Nha ngữ manos, Ấn Âu ngữ IE man-, bàn tay.

Ta cũng thấy rất rõ mê là biến âm của mân nên mê liên hệ với các ngôn ngữ trên.



Tóm lại TTL mê = mân = Việt ngữ mần (làm bằng tay) = gốc chữ man-, mano-, manu- = Latin manus, Tây Ban Nha ngữ manos, , Pháp ngữ main = cổ ngữ Anh mund = Ấn Âu ngữ IE man-, bàn tay, c ó nghĩa là sờ mó bằng tay một cách kỹ lưỡng, lâu dài để tìm cảm giác.

BS Nguyễn Xuân Quang khoahoc.net

WLP
08-27-2007, 04:03 AM
Cáo Lỗi: Vì lầm lẫn, kỳ trước tôi đã gởi lầm phần 1 chưa dò lại nên còn sót lỗi chính tả, thành thật xin lỗi độc giả.

* * *



.Mân mê (tôi viết lại từ láy này).



Sờ nắn một cách kỹ lưỡng, lâu dài để tìm cảm giác ví dụ như mân mê cây bút.

TTL mê = mân.

Theo biến âm kiểu mê man, ta có mê = mân.

Việt ngữ mân ruột thịt với mần, như trên đã biết mần là làm bằng tay như đi mần = đi làm, mần răng = làm răng. Mần = gốc chữ man-, manu- (manual) liên hệ với cổ ngữ Anh mund, Latin manus, Pháp ngữ main, Tây Ban Nha ngữ manos, Ấn Âu ngữ IE man-, bàn tay.

Ta cũng thấy rất rõ mê là biến âm của mân nên mê liên hệ với các ngôn ngữ trên, TTL mê liên hệ với Anh ngữ meticulous có nghĩa gốc là tẩn mẩn, meticulous có me- = mê = mần = mân có gốc tay. Việt ngữ tẩn có gốc tay như tao tẩn cho mày một trận bây giờ = tao đánh (bằng tay) cho mày một trận bây giờ, tẩn biến âm với Quảng Đông ngữ tả, đánh và mẩn hiển nhiên biến âm với mân, mần có gốc tay. Mẩn hiển nhiên là mần thấy rất rõ qua các từ láy tẩn mẩn, tần mần.



TTL mê liên hệ với métier (Anh ngữ gốc Pháp ngữ) có nghĩa gốc là nghề nghiệp, việc làm, chuyên môn. Métier có mé- = mê = mần = mân có gốc tay.

Tóm lại TTL mê = mân = Việt ngữ mần (làm bằng tay) = Anh ngữ meticulous, tẩn mẩn, Anh-Pháp ngữ métier, có nghĩa gốc là nghề nghiệp, việc làm = gốc chữ man-, manu- = Latin manus, Tây Ban Nha ngữ manos, Pháp ngữ main = cổ ngữ Anh mund = Ấn Âu ngữ IE man-, bàn tay, có nghĩa là sờ nắn một cách kỹ lưỡng, lâu dài để tìm cảm giác





N



.Nói năng



Nói chung là nói.

TTL năng = nói.

Theo qui luật L là dạng nam hóa hay dạng dương của N (Tiếng Việt Huyền Diệu), ta có năng = lăng = cổ ngữ Việt lãn là lưỡi như lãn heo là lưỡi heo (G. Hue) = Pháp ngữ langue, lưỡi, tiếng nói, ngôn ngữ = Anh ngữ language, tiếng nói, ngôn ngữ. Ngôn ngữ liên hệ với lưỡi nên Anh ngữ language còn gọi là tongue, lưỡi.



Tóm lại TTL năng = nói = lăng = lãn (lưỡi) = langue = language.



.Nằng nặc.



Nói dai, đòi cho bằng được, eo xèo, cằn nhằn, cãi nhau.

TTL nặc = nằng.

Nằng biến âm với năng với nghĩa là nói như trên đã thấy qua từ nói năng.

TTL nặc = Mường ngữ nặc nặc, nằng nặc = Anh ngữ nag, nagging, eo xèo, rầy rà, cự nự, cằn nhằn, cãi nhau.

Tóm lại TTL nặc = nằng = năng (nói) = Anh ngữ nag.



.Nhỏ nhít



Nhỏ, bé, con.

TTL nhít = nhỏ. Nhít là nhỏ như viết chữ lít nhít.

.TTL nhít = nhí (kép nhí, đào nhí) = Hán Việt nhi, trẻ con.

Theo nh=l như nhanh = lanh, nhít = lít = Anh ngữ little, nhỏ, bé, con con.



Tóm lại TTL nhít = nhỏ = lít = Anh ngữ little.



O





.Óc ách



tiếng nước kêu.

TTL ách = óc.

Óc biến âm với ốc, loài sống dưới nước, cũng có nghĩa là nước như ốc đảo (oasis) có nghĩa là “đảo nước” trong sa mạc. Oasis có oa-, liên hệ với oa là con ốc và cũng có nghĩa là nước. Bà Nữ Oa có đuôi rắn thuộc dòng Nước và theo truyền thuyết bà có một khuôn mặt là con sò có hai cái ngà tức loài ốc, bào ngư thái dương (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Đối chiếu với chữ nòng nọc, từ Oa có O và A. O có gốc từ chữ nòng O trong chữ viết nòng nọc. Dưới dạng thái âm O có một nghĩa là nước như thấy rõ qua show O ở khách sạn Bellagio ở Las Vegas là một show về Nước, O là phiên âm của Pháp ngữ Eau, nước. Oa có A và A có một dạng là nọc mũi mác (chữ A dạng là A dân dã “rustic capitals”) có gốc từ chữ nọc mũi mác /\, có nghĩa là nọc, dương, mặt trời, lửa trời mà Dan Brown trong The Da Vinci Code gọi là blade và cho là “a rufimentary phallus” (dương vật nguyên sơ). Tóm lại A có nghĩa là nọc, đực, dương, bộ phân sinh dục nam, thái dương, mặt trời (xem bài viết The Da Vinci Code và Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á trên khoahoc.net). Hai cái ngà của bà Nữ Oa là hai cái nọc tương đương với chữ A dạng rustic capitals = nọc mũi mác, răng cưa, blade, theo Dịch ta lấy nghĩa thái dương. Bà là O Nước Thái Dương A nên tên là OA. O là Mụ là Mẹ. Nữ Oa là O, Mẹ Nước Thái Dương. Vị thần Mặt Trời Nước Osiris của Ai Cập cổ tương đương với Mặt Trời Nước Lạc Long Quân, Osiris có Os- = ốc = nước (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

TTL ách, có nghĩa là nước = ếch, con vật sống dưới nước = Pháp ngữ ak-, aka, nước = gốc aqua-, nước như Tây Ban Nha ngữ aqua, nước, Anh ngữ aquatic, thuộc về nước.



Tóm lại ách = óc = ốc = Phạn ngữ ak-, aka = gốc aqua-, nước

= Anh ngữ aquatic, thuộc về nước.



.Óng ả



Sáng, lóng lánh.

Óng biến âm với ánh như thấy qua từ ghép óng ánh nghĩa là óng = ánh. Ánh là sáng, là ánh mặt trời, lửa trời.

Theo duy dương ở đây, ả cũng có nghĩa như óng, ánh, ta thấy ả = á có nghĩa là ánh sáng, mặt trời, lửa như châu Á là châu lửa, châu ánh sáng, châu phía mặt trời mọc. Ả liên hệ với A, ( (chữ A dạng rustic capitals) như trên đã biết có nghĩa là nọc, dương, mặt trời, lửa trời, ánh sáng. Hầu hết các tia sáng của mặt trời trên trống đồng âm dương Đông Sơn đều có hình nọc mũi mác /\ này.



Tóm lại TTL ả = óng = mẫu tự (A) = nọc mũi mác /\ = ánh (sáng).



.Om om



Như đã thấy om om biến âm với âm âm (theo Dịch lý những gì tối tăm mang âm tính), với um um (xem dưới).





PH



.Phành phạch



tiếng gió hay tiếng quạt (quạt là tạo ra gió) liên hệ với phần phật (gió).

TTL phạch = phành.

.theo ph = f= b=v (như phành = banh = vành), phành = fan, quạt = Mường ngữ phán (phướn), một dạng cổ của cờ dùng trong các lễ hội, tang ma = Anh ngữ banner (phướn, phán). Ta thấy rất rõ cờ phướn, cờ phán, banner ruột thịt với quạt fan, liên hệ với gió. Tất cả liên hệ với Phạn Ngữ vát, to fan (quạt), vâta, gió. Bà Hồ Xuân Hương trong bài thơ Vịnh Cái Quạt có hai câu:



Phành ra ba góc da còn méo,

Xếp lại đôi bên thịt vẫn thừa.



Bà quả thật là một thiên tài đã dùng từ phành thật là tuyệt vời vì ngoài nghĩa vành ra, banh ra còn hàm nghĩa phành phạch liên hệ với quạt, với fan.

TTL phạch = Anh ngữ flag (cờ). Ta cũng thấy phất, phật trong phất phới, phất phơ, phần phật = flag.



Tương tự phần phật có phần = fan và phật = flag cũng liên hệ với gió.



Tóm lại TTL phạch = phành = fan = flag = phán (phướn) = banner = Phạn ngữ vát (to fan), liên hệ với gió, Phạn ngữ vâta, gió.



.Phì phà phì phèo



thở ra khói, thả ra khói như phì phà điếu thuốc.

TTL phà = phì.

Ta có phì là thở, thổi ra khói phun ra như thở phì phì, phun phì phì và phà cũng có nghĩa tương tự như phà khói thuốc, phà hơi độc... nói chung là các nguyên âm đều biến âm với nhau được: phì phà, phì phào, phì phè, phì phèo, phì phò, phì phù, phù phù đều cùng gốc nghĩa liên hệ với thở, thổi, phun ra hơi...

Cũng nên biết Anh ngữ respiration, thở, hô hấp, tiếng cổ là spirit, Latin spirare, thở đẻ ra từ respiration có tiền tố re-, và theo p=ph, pir- = phì (phì phà, phì phèo), phì phì (thở).

TTL phà = Anh ngữ fart, đánh hơi, đánh rắm, Trung Nam nói là địt = Phạn ngữ pard (to fart), Hy Lạp ngữ là perdo, Old High German là ferzan. Việt ngữ có từ phá thối nếu hiểu theo nghĩa thô tục thì gần cận với từ phà thối (Tiếng Việt Huyền Diệu). Ở đây ta có thể dùng Việt ngữ phà ra hơi, đánh hơi để hiểu ngọn ngành Anh ngữ to fart là phà ra hơi.

Việt ngữ phổi, Hán Việt phế (phổi, phế là cơ quan hô hấp) cũng liên hệ với phì phì, phì phà, phì phèo...



Tóm lại TTL phà = phì = phổi, phế = Anh ngữ respiration = Anh ngữ fart = Phạn ngữ pard (to fart) = Hy Lạp ngữ perdo = Old High German ferzan.



.Phù phù



từ láy này có TTL láy giống như từ mẹ thuộc loại phân sinh một tách ra làm hai.

Phù liên hệ với thở, gió dông như thở phù phù, Phù Đổng thiên vương là ông thánh sấm dông gió, cửa Thần Phù là nơi có sóng to gió lớn. Phù ngoài nghĩa trên có thêm nghĩa liên hệ với phồng, sưng như sưng phù, phù thũng.

Ta có phù = Anh ngữ puff với các nghĩa chính:

.hơi thở, thở, hơi thổi ra, có puff = phù (thở phù phù), phì phà, phì phèo liên hệ với thở, với phổi (xem pulmonary).

Anh ngữ pulmonary, Pháp ngữ poumon, phổi, phế , theo p=ph, có pu-, pou- (phát âm là pu-, phu-) = phù, phồng (thở phập phồng) = phà, phì, phèo... liên hệ tới hơi, thở. Phổi là cơn quan thở phù phù... Việt ngữ phèo thường hiểu là lòng như phèo heo nhưng thật ra theo qui tắc của từ láy ở đây ta thấy qua từ láy phèo phổi ta có phèo = phổi.

.phồng, phùng, phình, puff = phồng.

.thổi phồng (quảng cáo láo, loan tin láo), puff = phồng (thổi).

Theo ph= fl, TTL phù liên hệ với Anh ngữ flue, ống khói, ống thông hơi, ống dẫn hơi và với flute, ống sáo, ông tiêu (ống dùng để thổi vào tạo ra tiếng).



Tóm lại TLL phù = từ mẹ phù = phèo = phổi = Hán Việt phế = Anh ngữ pulmonary = Pháp ngữ poumon = Anh ngữ puff, liên hệ với Anh ngữ flue, flute.



.Phèn phẹt



chẹt bẹt, dẹp bè bè (thường nói về mặt).

TTL phẹt = phèn.

Phèn phẹt có gốc nghĩa là phẳng, bằng, mỏng, phèn biến âm với phên (tấm mỏng) như cái phên tre, với phiến (miếng mỏng) như phiến đá, với phẳng, phản (tấm gỗ để nằm). Theo ph=b (phỏng = bỏng), phèn phẹt = bèn bẹt (bằng). Bèn biến âm với bàn, bản, bằng. Bẹt biến âm với bẹp.

TTL phẹt = Anh ngữ flat, phẳng, bằng.

.flat = phẳng.

.theo fl=b, có flat =/flét/ = bẹt, bẹp, theo phát âm tiếng Việt flat = /flát/ = bằng.

.flat có -lat = /-lét/ = lét (mỏng) = lép, dẹp lép và theo phát âm tiếng Việt -lat = /lát/ = lát (miếng mỏng).

.theo l=d, có -lat = /lét/ = dẹt, dẹp và theo phát âm tiếng Việt , -lat- = /lát/ = dát (làm mỏng) như dát mỏng.



Tóm lại TTL phẹt = phèn = Anh ngữ flat = phẳng = bằng, bẹt, bẹp, lát, lét (mỏng), lép (dẹp), dẹp.



Q



.Quàng quáng



nhanh như quàng lên kẻo trễ = nhanh lên kẻo trễ, quàng tay lên nào = nhanh tay lên nào, làm nhanh cho xong như làm quáng làm quàng cho xong, làm quếnh quáng, làm qua loa (làm sơ sài lấy nhanh cho xong).

TTL quáng = quàng = Anh ngữ quick.

.từ láy quàng quạc, nhanh có quàng = quạc = quick.

.quick = quít, qua từ ghép cuống quit, ta có cuống = quít = quick.

.theo qu =k như quốn = kuốn, quick = kịp, kíp như cần kíp, liên hệ với Hán Việt cấp (khẩn cấp, cấp tốc, cấp cứu).



Tóm lại TTL quáng = quàng = quít = kíp = Anh ngữ quick.



.Quảng quát



Biến âm với khoảng khoát, thông thoáng, thoáng khí, rộng rãi và có nhiều không khí, gió

Theo qu=v (quấn = vấn), quảng (khoảng) = Anh ngữ vast, khoảng khoát, rộng lớn, mênh mông. TTL quát biến âm với quạt. Theo qu=v, quát = quạt = Phạn ngữ vâta, gió. Ta cũng thấy Phạn ngữ vát, quạt = Anh ngữ van (quạt lớn để quạt sẩy lúa) = fan (quạt) = vane, chong chóng quay theo chiều gió để định hướng gió = vent, lỗ thông hơi cho thông thoáng = Pháp ngữ vent = gió.



Tóm lại, TTL quát = quạt = quảng = Anh ngữ vast = Phạn ngữ vát, quạt, vâta, gió. Quảng quát, khoảng khoát liên với gió, không

khí.



.Quay quồng



ngày nay viết là quay cuồng, là chuyển động vòng tròn rất nhanh làm cho có cảm giác chóng mặt.

Theo q=c=g, quồng = cuồng = guồng. Guồng là một thứ bánh xe quay tròn như guồng nước, guồng chỉ, guồng máy. Quay guồng = quay cuồng.

Theo qu=c=g=vv, TTL quồng, cuồng, guồng liên hệ với các vật có bánh xe quay hay xoay tròn như Anh ngữ wheel (bánh xe, xoay, xoay tròn, quay tròn), whirl (xoáy, xoay, quay tròn), whorl (xoáy ốc, hoa tay hình xoáy ốc), tất cả liên hệ với gốc chung hwarb hàm nghĩa quay tròn. Theo h=w=qu (bà hóa = Mường ngữ wá = quả phụ), hwarb = quay = cuồng = guồng.



Tóm lại TTL quồng = cuồng = quay = (liên hệ với) Anh ngữ whirl, whorl, wheel.







R



.Rậm rật, Rậm rựt



Rậm rật, rậm rựt là trạng thái động tình.



No cơm ấm cật, rậm rật tối ngày.

(tục ngữ)





TTL rật, rựt = rậm.



1. Rậm rật, rậm rựt biến âm với dâm dật.

.rậm = Phạn Ngữ ram có một nghĩa là làm tình và nằm. Nằm cũng có nghĩa là làm tình như ăn nằm.

Anh ngữ ram ruột thịt với Phạn ngữ ram. Anh ngữ ram có những nghĩa sau này:

1.cừu đực chưa thiến, cừu nọc, đôi khi cũng chỉ dê núi đực. Thật ra nhìn chung chung, ram chỉ chung loài thú có sừng mang dương tính biểu tượng cho nọc, đực.

2.mũi nhọn (của tầu); chầy, vồ. Mũi nhọn, chầy… đều có nghĩa liên hệ tới đực, nọc.

3.đóng cọc. Có một nghĩa làm tình như Quân tử có thương thì đóng cọc, Hồ Xuân Hương.

4. đâm vào (to ram a car, đâm vào một chiếc xe). Đâm vào, thọc thụt = thrust là động tác làm tình.

Tất cả những nghĩa của Anh ngữ ram như cừu, dê đực, nọc, vật nhọn, đóng cọc, đâm, đục, thọc, thụt (thrust)… đều hàm nghĩa nọc, cọc, bộ phận sinh dục đực, làm tình. Theo r=d = đ như rứa = Mường ngữ dửa = đó, ta có ram = dâm = đâm.

Con cừu nọc, con dê nọc núi, con ram biểu tượng cho dương, nọc, cho đâm, cho dâm. Con cừu, dê nọc có khả năng dập, phủ, nhẩy cái cả một đàn cừu cái mỗi ngày. Con dê đứng ở hàng thứ 35 trong trò chơi thai đề nên có máu dâm, máu ram, máu dê gọi là máu 35. Các cung phi ngày xưa có nàng một đời chưa được thấy mặt vua một lần nên phải dùng lá dâu để dụ xe dê của vua:



Xe dê nọ rắc lá dâu mới vào.

(Ôn Như Hầu, Cung Oán Ngâm Khúc)



Tại sao chúng ta gọi là con dê? Theo biến âm kiểu dầm dề, suy ra dê biến âm với dâm, đâm. Rõ ràng con dê nọc là con đâm, (con dâm) con ram. Con dê có tên Hán Việt là con dương. Dương là đực, là nọc (heo nọc = heo đực), là mặt trời. Trong nhiều nền văn hóa, dê đực dùng làm biểu tượng cho mặt trời như Ai cập chẳng hạn. Từ goat cũng có nghĩa như ram. Theo g=c, goat = /gốt/ =

cột, cọc. Cột, cọc là nọc, là đực, là dương, là dê, biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam. Cũng nên biết con goat thường được dùng làm vật tế thần cột vào Cột Tế Thần, Cây Trụ Tế, mang hình bóng của Trục Vũ Trụ để cúng dâng lên Ba Cõi Tam Thế, có lẽ vì vậy mà tên nó mới dính dáng tới Cột [Thân trống đồng âm dương Đông Sơn là Trục Vũ Trụ nên trên đó thường thấy nhiều hình bò mộng, tương đương với goat, dưới một diện, các con vật này cũng có thể là những con vật tế thần, hy sinh, (xem chương Thế Giới Loài Vật Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á trong Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á, đang in)]. Về sau goat (cột) có thêm nghĩa là scapegoat với scape có một nghĩa là thân cột, cột. Con dê cột vào Cột Tế Thần dùng làm vật tế thần, chịu tất cả tội lỗi cho người khác, được giáo sĩ thả ra sau khi làm lễ hay giết tế thần. Về sau có nghĩa bóng chỉ người chịu tất cả tội lỗi cho người khác và chỉ người, vật hy sinh.

Tại sao chúng ta gọi con ram là con cừu, con trừu? Cừu biến âm với cừ là cây cọc cắm ở bờ nước (ăn khớp với nghĩa đóng cọc của ram), cừ là kè (cọc đóng ở bờ nước) biến âm với kẻ (cọc nhỏ như thước kẻ), với gốc Hy Lạp ngữ kera-, sừng (như keratoma, cắt màng sừng mắt). Con cừu là còn cừ, con kè, con “đóng cọc”, con kera-, con sừng, con cọc, con chọc, con đâm, con ram. Tương tự con trừu biến âm với trừ, trự, trử, chử, trụ. Hán Việt Chử biến âm của cừ, cọc đóng ở bờ nước. Nhân vật Chử Đồng Tử là Cậu Bé Sống Bên Bờ Nước. Cậu bé Chử ruột thịt với cừ, cừu, trừu (cậu bé boy có “bòi”, có cọc, Pháp ngữ garçon có gar- = gạc, sừng, cọc nhọn) sống bên bờ nước = cọc cắm bên bờ nước = cừ, cừu, Chử, trừu. Con trừu là con trụ, con cột, con cọc, con chọc, con đâm, con ram.

Ở đây một lần nữa cho thấy Việt ngữ giúp tìm hiểu nguyên nghĩa ngữ của Anh ngữ đến nơi đến chốn.



2. rật, rựt, dật = Anh ngữ rut (thời kỳ động cỡn, động đực, nứng của con thú đực như cừu, dê, hươu đực).



Tóm lại TTL rật, rựt = Anh ngữ rut = Việt ngữ rậm = dâm = Anh ngữ ram, con thú đực = Phạn ngữ ram, làm tình.



.Rực rỡ



TTL rỡ = rực.

rực, rỡ, rạng, rạng-rỡ liên hệ với red, đỏ. Qua từ ghép đỏ rực, ta có rực = đỏ và rực sáng, ta có rực = sáng, tỏ. Rực liên hệ với mầu đỏ, mầu tỏ, tỏ rạng của mặt trời, với Nam Đảo ngữ *rara, ‘red’, Pháp ngữ rouge, đỏ có ro- = rỡ (rực rỡ), rou- = rực (đỏ rực), với russe, hung đỏ có rus- = rực, với Phạn ngữ ruc, shine (chiếu sáng, rực sáng), ranj, đỏ, rạng, rohita, đỏ, liên hệ với rohit, mặt trời, có ro- = rỡ. Gốc tái tạo Indo-European (IE) *reudh-, đỏ.



Tóm lại TTL rỡ = rực = Phạn ngữ ruc, shine (chiếu sáng, rực sáng) = rohita, đỏ = rohit, mặt trời = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ Indo-European (IE) *reudh-, đỏ.



.Rầm rầm



Tiếng động lớn và liên tục.

TTL láy rầm = từ gốc rầm.

Rầm = Anh ngữ rumble, tiếng động rầm rầm, ầm ầm như tiếng sấm, tiếng động đất, tiếng xe chậy, tiếng sôi ruột.

rumble có rum- = rầm, với r câm, rầm = ầm, rầm rầm = ầmrầm.



Tóm lại TTL rầm = từ mẹ rầm = Anh ngữ rumble.





S





.Sối sả



Nước trút xuống như mưa sối sả.

TTL sả = sối.

Từ sối là đổ nước như sối nước, theo s=g (hàng sáo = hàng gạo), sối = gội.

TTL sả liên hệ với gốc chữ sa- ruột thịt với Phạn ngữ sara-, saras, nước. Sả liên hệ với nước như sả nước, sối sả, chim sả… Chim sả là chim “sống vì nước” là chim bói cá, thằng chài, phí thúy “nào lên rừng đào mỏ, nào xuống biển mò châu, nào hố bẫy hươu nai, nào lưới dò chim sả” (Nguyễn Trãi, Bình Ngô Đại Cáo). Theo s=ch=tr. Sả = trả. Chim sả là chim trả:



Con chim tra trả, ai vay mà trả,

Bụi gai sưng, ai vả mà sưng.

Đấy người dưng, đây cũng người dưng,

Cớ chi nước mắt cứ rưng rưng nhỏ hoài.

(Hò Miền Nam).



Cỏ sả (lemon grass) có nghĩa là cỏ nước vì dùng để đun nước làm trà, tắm gội và dùng làm hương vị nấu ăn. Lúa sạ là lúa nước, lúa mọc ngoi lên theo mực nước dâng cao hàng ngày…

Anh ngữ sea, biển liên hệ với sả, Phạn ngữ sara.



Tóm lại TTL sả = sối = Anh ngữ sea = Phạn ngữ sara-, saras, liên hệ với nước.



.Sài sể



mắng mỏ thường đi kèm với hình phạt.



TTL sể = sài.



Từ sài có nghĩa là dùng, làm biến âm với sai (sai bảo, sai khiến) cũng có nghĩa là làm, làm việc nặng để hành hạ như khổ sai (làm việc cực khổ, việc nặng), kẻ hầu hạ sai bảo. Như thế TTL sể = sài = làm, làm việc nặng, sai bảo.

TTL sể = sài = gốc chữ Anh ngữ -ser-, serv-, đẻ ra các từ serve, service, servant… có nghĩa là làm, sự, vụ, sự việc, dịch vụ, hầu hạ, phục dịch, ở đợ = Phạn ngữ sev, to serve, hầu hạ, phục dịch, ở (to inhabit) hàm nghĩa ở đợ = Phạn ngữ sevâ, service, dịch vụ, phục dịch = Phạn ngữ sevin, serving, dwelling (ở), liên hệ với gốc Phạn ngữ sar, to protect, bảo vệ, to keep, gìn giữ, to preserve, tồn giữ, make safe, giữ an toàn, chăm sóc.

.ser- = sể, xể, từ kép sài sể, xài xể có nghĩa là mắng chửi nhưng gốc là mắng chửi kèm theo hình phạt bắt làm việc cực khổ.

.serv- = sâu, xâu, Hán Việt sưu như đi làm xâu, Hán Việt sưu là công việc dân phải làm để phục dịch cho nhà nước như trốn xâu lậu thuế, sưu dịch, sưu cao thuế nặng.

.ser- = seo, sá (anh seo, anh sá). Seo, sá còn gọi là mõ. Mõ là người hầu hạ, phục dịch làng xóm, thường đi rao tin: “mõ này cả tiếng lại dài hơi”, theo m=b, mõ = bõ, người hẩu lớn tuổi như bõ già.

.ser- = sai có nghĩa là bắt làm như sai bảo, sai làm, khổ sai; người sai bảo tức người làm, đứa ở, đầy tớ, nô lệ.

.ser-= sài (dùng làm việc).

.ser- = sãi, người làm, tôi tớ. Người làm công, làm mướn, phục dịch cũng gọi là sãi như thấy qua câu:



Thứ nhất là quản voi già,

Thứ nhì trầu miếng (bán lẻ), thứ ba sãi đò.

(ca dao.)

Sãi đò là người phu chèo đò, làm công chèo đò. Sãi biến âm với sai (sai bảo, sai làm), sài (dùng làm việc). Tôi của chúa (chỉ các giáo sĩ, tu sĩ, bà phước v.v…), những người phục dịch, tôi tớ của Phật cũng gọi là sãi như sãi chùa là người làm công (quả) ở chùa: Con vua thì lại làm vua, Con sãi ở chùa lại quét lá đa (ca dao). Trong Thiên Chúa giáo, sãi là bầy tôi của Chúa. Trong Thánh mẫu Thiên Chúa, trung quyển của Girolamo Maiorica, trang 38 (chữ Nôm thế kỷ 17) có câu “Các thánh tổ tông kính duệ vị la sãi. . . dỗ mệnh” tương ứng với “các thánh tổ tông kính dái (vái) vì là thầy dậy dỗ mình”. Ta thấy sãi Chúa dịch là thầy (tức thầy tu). Thái Lan ngữ chai là servant. Theo ch=s, chai = sãi, sai (bảo).

.theo s=ch, sev-, serv- = cheo. Việt ngữ cheo là tiền phạt cho làng, nếu không có tiền thì phải làm xâu cho làng cũng có thể có nguồn gốc ở đây. Tương tự từ sêu như sêu tết là đem quà cáp biếu nhà vợ, nguyên thủy có thể là vào dịp lễ tết người rể tương lai phải đến nhà vợ hầu hạ, phục dịch làm xâu. Sau đó dùng quà biếu thay cho phục dịch, làm xâu gọi là sêu. Từ đôi biếu sén có biếu = sén với sén biến âm với sev-, serv. Biếu sén có nghĩa là biếu quà và phục dịch.

.ser- = săn, sóc, săn sóc = chăn sóc = chăm sóc, liên hệ với gốc Phạn ngữ sar, to protect, gìn giữ, chăm sóc, có sar = săn, sóc.

.ser- = sửa (chữa), xem chữ service.



Tóm lại TTL sể = sài = gốc Anh ngữ -ser-, serv- (serve, service, servant) = Phạn ngữ sev, to serve, hầu hạ, phục dịch, sai bảo.



.Súc sắc



hột súc sắc (tào cáo) (dice) là hột lúc lắc.

TTL sắc = súc.

TTL sắc = Anh ngữ shake, lúc lắc, lắc lư, lay động, lung lay, rung, rung rinh, run, bắt tay (thường lắc tay nhau).

Từ súc = shook, dạng quá khứ của shake.

.shook= súc = sóc, xóc (lắc) như xe xóc, xóc dĩa, xóc bài. Theo biến âm kiểu xốc xếch ta có sóc, xóc = shake.

.shook, shake = xốc xếch như quần áo xốc xếch (nghĩa lệch): hàm nghĩa tụt lên tụt xuống cùng gốc nghĩa với lúc lắc, súc sắc, xóc lên xóc xuống (làm cho xốc xếch).



Tóm lại TTL sắc = súc = Anh ngữ shake = shook.



T



.Tắm táp



Nói chung là tắm.

TTL táp = tắm.

TTL táp chính là Anh ngữ tap, vòi nước, liên hệ với tub, bồn tắm. Tắm cần dùng tới vòi nước tap hay bồn tub.



Tóm lại TTL táp = tắm = Anh ngữ tap = Anh ngữ tub.



.Tối tăm



Rất tối, tối đặc.

TTL tăm = tối.



.theo t=đ, TTL tăm = đêm. Đêm có nghĩa là tối, đêm tối, tối đêm.



.tăm = Phạn Ngữ támas-, darkness có tam- = tăm.

.TTL tăm = gốc tái tạo Tiền-Ấn Âu ngữ PIE *tem/*tam/*tm, dark, darkness (Bombard, A.R. p.207, No 51).



Tóm lại TTL tăm = tối = đêm = Phạn Ngữ támas-, darkness = gốc tái tạo Tiền-Ấn Âu ngữ PIE *tem/*tam/*tm, dark, darkness.



.Thật thà



là ngay thẳng, thẳng thắn.

TTL thà = thật.

.TTL thà liên hệ với gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE *sta, stand, đứng, theo t=th, có -tand = thẳng, thắn (thẳng thắn).

.TTL thà ruột thịt với Phạn ngữ sthá, đứng, gốc Phạn ngữ sta, đứng, stak, stag, đứng vững chắc, Phạn ngữ sthâ-, sthal, to stand có –thâ = thà, -thal = thẳng, thắn.

Ta thấy rất rõ đứng thẳng là ngay thẳng, thẳng thắn, thành thật vì thế mà loài tre đứng thẳng nhất (fastuola bambusa) gọi là quân tử trúc (tre quân tử). Loài tre này dù mưa gió làm ngả nghiêng vẫn mọc ngay thẳng trở lại giống như người quân tử bị những kẻ tiểu nhân làm hại vẫn sống một đời chính trực.



Tóm lại TTL thà = thật = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE *sta, stand = Phạn ngữ sthá, đứng, đứng thẳng, thẳng thắn.





U



.Uốn éo



uốn khúc cong queo.

TTL éo = uốn.

Từ uốn là cong liên hệ với Anh ngữ worm, sâu, giun, trùn. Theo w=u, worm có wor- = uor- = uốn (éo), thấy rõ nhất qua từ Latin uermis, a worm, có uer- = uốn, éo. Pháp ngữ vers, con sâu, có ver- = éo, uốn. Trong nhiều ngôn ngữ cổ Ấn-Âu worm cũng có nghĩa là rắn vì con sâu không có chân là những con rắn tí hon, bằng chứng là sâu có gốc sa- cùng âm với sà, xà, rắn. Sâu và rắn là con uốn éo.

Cũng nên biết là từ Lạc trong tên Lạc Long Quân viết với bộ trãi với trãi có nghĩa là con sâu không có chân nên Lạc Long Quân có bản thể là loài rắn nước vì thế Rồng Lạc Long Quân là Rồng Rắn, Rồng Nước. Kiểm chứng lại ta cũng thấy theo tr=d, trãi = dải, con dải có một nghĩa là con rắn nước. Xin các nhà làm văn hóa Việt Nam ghi tâm nhớ điều này (ví dụ nếu quí vị có làm hình rồng để ở chiếc cổng vòm ở Little Saigon thì xin để Rồng Rắn, Rồng Nước Lạc Long Quân xin đừng để rồng Trung Hoa). Những con rồng đời Lý, Trần, Lê có thân uốn éo như rắn mới thật sự là rồng Lạc Long Quân.



TTL éo biến âm với eo cũng có nghĩa là cong như trái bầu bí bị eo là bị cong queo.

TTL éo, eo liên hệ với Anh ngữ ell, đơn vị đo chiều dài, phần lớn là đo vải. Ell là chiều dài của cung tay (bow của elbow) từ đầu cùi chỏ đến đầu ngón tay chỏ. Ell ruột thịt với el- của elbow, khuỷu tay, cùi chỏ, cùi tay. Trong Ấn-Âu ngữ elbow thường mang ý nghĩa eo, queo, quẹo, cong. Trong Việt ngữ cũng vậy. Từ khuỷu có nghĩa là cong, quẹo như khúc khuỷu. Khuỷu liên hệ với khoẻo, khoèo, khoeo, kheo có nghĩa là cong queo, quẹo, quèo (kh=qu), eo, ẹo, éo, uốn éo (kh, qu câm). Khuỷu ta là eo tay. Cổ ngữ Việt khoeo, kheo cũng có nghĩa là đầu gối (tương đương với khuỷu tay) như thấy qua câu tục ngữ “cầy chạm vó, bừa mó kheo”. Cái cầy phải mắc vừa chạm vó chân, còn bừa thì vừa chạm kheo (đầu gối) thì trâu bò mới di chuyển dễ dàng khi đi cầy bừa. Khúc, khủyu, ruột thịt với Phạn ngữ kurpata (u có dấu mũ ^), elbow. Rõ ràng kurpa- = khúc = khuỷu = cong, cung.

Ta có TTL eo (eo tay) = el- = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE *el-, *ele-, eo, cong.

Chữ “eo-lờ” L liên hệ với Việt ngữ eo mang hình ảnh của khuỷu tay elbow để thẳng góc. Những chỗ nối ống dẫn chất lỏng, chất khí có hình chữ L cũng gọi là elbow.



Tóm lại TTL éo = eo = uốn = Anh ngữ ell = el(bow) = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE *el-, *ele-, eo, cong.



.Ướt át



nói chung trạng thái ướt.

TTL át = ướt.

Từ ướt = Anh ngữ wet, ướt. Theo w=u, wet = uet = ướt.

TTL át chính là Phạn ngữ addrà, ướt phát xuất từ gốc Phạn ngữ ak-, aka, nước = gốc aqua-, nước.



Tóm lại TTL át = ướt = Anh ngữ wet, ướt = gốc aqua-, nước = Phạn ngữ addrà, ướt = gốc Phạn ngữ ak-, aka, nước.



.Um um



Như đã thấy um um = âm âm = êm êm = im im = om om.

Um là tối như tối um, um biến âm, rõ nhất với om như tối om. Um có gốc u, có một nghĩa là tối, bị che tối như u tối, u u minh minh. Om có gốc nòng O trong chữ nòng nọc có một nghĩa là âm (như trời âm âm là trời có mây che, âm u), đen tối (nước thái âm có mầu đen). O = ô (vật che cho mát, cho rợp), ô cũng có nghĩa là tối đen như ngựa ô là ngựa đen. Ô, dù là vật che có bóng mát.

TTL um = từ mẹ um.

um, om (tối um, tối om) = Pháp ngữ ombre, bóng tối, bóng mát, bóng dâm = Anh ngữ umbel, umbella, chùm hoa hình tán, hình ô, dù = umbra, umbrage, bóng, bóng mát, che bóng = umbrella, ô, dù. Tất cả có um- = um = om = âm = ô (dù).



Tóm lại TTL um = từ mẹ um = om = u (tối) = o, ô = Pháp ngữ ombre = Anh ngữ umbra, umbrage = umbrella. Tất cả có nghĩa là tối, bóng tối, bóng mát, che sáng, che nắng.





V



.Vanh vách



nói lưu loát, thuộc làu.

TTL vách = vanh.

Theo v=b, từ vanh biến âm với ban như ban lệnh, vua ban rằng, với bàn như bàn luận với biện như biện hộ, hùng biện; theo b=ph, ban = phán. Ban, bàn, biện, phán là những hình thức nói. Vanh = Phạn Ngữ varh, bark, nói.

TTL vách = vạch, vạch ra (nói toạc ra) = Phạn ngữ vach, to speak, vâch, speaking, vachas, speech, gốc Aryan-Phạn ngữ wak, to speak.

Theo v=b, vách = bạch như biện bạch, bạch thầy. Theo v=m (man, màn = vạn), vách = mách (nói lại,) mách lẻo, mách bảo (chỉ báo).

TTL vách = Anh ngữ vocal, thuộc về phát âm, tiếng nói, thanh, âm = Anh ngữ voice, tiếng nói. Theo biến âm kiểu róc rách, ta có voc(al) = vách.



Tóm lại TTL vách = bạch = mách = vanh = ban, bàn, biện = phán = gốc Anh ngữ vocal = voice = Phạn Ngữ varh, bark, nói = Phạn ngữ vach, to speak, vâch, speaking, vachas, speech = gốc Aryan-Phạn ngữ wak, to speak.



.Vòng vèo



quanh co, uốn khúc.

TTL vèo = vòng.

Từ vòng có một nghĩa là cong như cong vòng như thế vèo cũng phải có nghĩa là cong. Nếu ta thay v=o, ta có vèo = oèo = oeo = eo. Eo là cong. Theo v=qu như vấn = quấn, ta có vèo = quèo, queo quẹo. Queo, quẹo là cong như cong queo.

Như thế TTL vèo = eo = éo = uốn. Ta trở lại trường hợp uốn éo ở trên, nghĩa là ta có vèo = eo = éo = Anh ngữ ell, el- = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE *el-, *ele-, eo, cong.



Tóm lại ta có TTL vèo = eo = el- = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE *el-, *ele-, eo, cong.



.Vù vù



vù vù tiếng kêu liên hệ với bay (của côn trùng, phi cơ) biến âm với vo vo. Với v câm, vù vù = ù ù, vo vo = o o.

TTL vù = từ mẹ vù.

Theo v=b, vù, vo = Anh ngữ buzz, tiếng kêu liên hệ với bay (của côn trùng).



Tóm lại vù = vù = Anh ngữ buzz.



X



.Xồ xề



Xồ xề hay sồ sề là người béo xệ, không còn thon gọn trông xồ xề như lợn nái sề.

TTL xề = xồ.

Từ xồ, sồ = Anh ngữ sow, heo cái, lợn sề, có so- = sồ, sồ sề = Cổ ngữ Anh sù = Latin sùs, lợn sề = Phạn ngữ su-kara, a hog.

TTL sề = Việt ngữ sề là lợn nái: Ba bà đi bán lợn sề.

Heo, lợn là con thú có nhiều mỡ vì thế ta thường nói mập như heo, Việt ngữ lợn biến âm với lờn, nhờn liên hệ với mỡ dầu, từ hợi biến âm Việt ngữ hoi (mùi mỡ bị oxýt hóa), với Pháp ngữ huile, dầu; Thái Lan ngữ moo, heo, moo chính là Việt ngữ mỡ. Các con vật như heo, lợn cũng như người khi mập, béo phì, mỡ thường đọng lại ở bụng, ở các cơ quan nội tạng (gọi là mỡ chài vì trông giống mạng lưới), ở mông, vú. Heo sề cũng như các phụ nữ đã sanh con khi lớn tuổi dễ bị béo phì và mỡ đọng ở bụng, mông nên các bà thường phải đi hút mỡ bụng, mỡ mông là vậy. Con lợn sề khi có mỡ dồn ở bụng làm bụng sa xuống sát mặt đất nên mới có từ xề, xệ như trông xệ quá, xã xệ, xồ xề, sồ sề chỉ những người mập người đầy những mỡ.

Ở đây là một ví dụ cho thấy rõ có sự dùng lẫn lộn giữa x và s giữa xồ xề và sồ sề. Có nhiều nơi nói và viết là sồ sề, có nhiều nơi viết là xồ xề. Nếu ta chọn cách viết sồ sề thì đây là cách viết lấy theo gốc sề là con heo nái sề hợp với các từ lợn sề trong Ấn Âu ngữ, nghĩa là sồ cùng vần với con sề, con sow, con sù, sus. Cách này giúp cho sự khảo cứu dễ dàng vì biến âm vẫn giữ theo vần s có nghĩa là biến âm mẹ con, ruột thịt. Nếu ta lý luận cho rằng sồ sề trong Việt ngữ có thể đã biến âm với con lợn sề và với Ấn Âu ngữ rồi và sồ sề bây giờ đã dùng làm một tính từ (adjective) xề, xệ như trông bề xề quá, xã xệ nên ta có thể viết theo biến âm x của s, cách này đã có biến âm từ gốc s qua x. Dĩ nhiên trong gian dân vùng nào nói theo cách nào cũng được, còn trong khoa bảng thì tùy thuộc theo giới thẩm quyền quyết định chọn một qui ước và học trò sẽ phải viết theo khi đi thi lấy bằng cấp để tiến thân. Còn trong nghiên cứu tiếng Việt cổ ta có thể dùng cả hai cách chẳng phải theo ông thầy nào cả.



Tóm lại TTL sề, xề = sồ, xồ = Việt ngữ sề = Anh ngữ sow = cổ ngữ Anh sù = Latin sùs = Phạn ngữ su-kara.



.Xôn xao



nhiều tiếng động.



Xôn xao ngoài ngõ thiếu gì yến oanh.

(Nguyễn Du, Kiều).



TTL xao = xôn.

từ xôn chính là Pháp ngữ son, tiếng, âm thanh, liên hệ với sonorific, sonority, sonorous (xem những chữ này). TTL xao chính là Anh ngữ sound, tiếng động, tiếng, âm. Xôn xao = sôn sao = son-sound. Ta thấy Tiếng Việt (thật là) Huyền Diệu, sôn sao là có nhiều tiếng, có cả tiếng chim yến, chim oanh, có cả tiếng Tây son và tiếng Anh sound. Hai từ sôn sao cũng cho thấy ngôn ngữ Việt Nam ở trên cây ngôn ngữ loài người có vị trí ở cành lớn trong nhóm Ấn Âu ngữ, cành Việt ngữ sôn sao chia ra hai nhánh nhỏ son (Pháp ngữ) và sound (Anh ngữ) hay sôn sao nằm ở thân cây, gốc cây. Việt ngữ là thân, là cành lớn, trong khi Pháp, Anh ngữ chỉ là cành hay nhánh nhỏ trên cây ngôn ngữ loài người. Với x, s câm, xôn xao, sôn sao = ồn ào.



Tóm lại TTL xao = x ôn = sao = sôn = Anh ngữ sound = Pháp ngữ son.





.Xốp xộp



cũng có thể viết sốp sộp, xốp sộp, không chắc, không cứng, mềm, ốp. Với x, s câm, xốp = ốp, sộp = ộp, xốp sộp = ốp ộp. Cua xốp sộp = cua ốp ộp.

TTL xộp = xốp.

xộp = xốp = sộp = sốp = Anh ngữ soft, mềm.



Tóm lại TTL xộp = xốp = sộp = sốp = Anh ngữ soft.





K ết luận

Qua các từ láy trong Việt ngữ, ta có thể học Anh ngữ nói riêng và nói chung, học các ngôn ngữ khác của ngôn ngữ loài người, nhất là các ngôn ngữ có liên hệ mật thiết với Việt ngữ và ngược lại.

BS Nguyễn Xuân Quang khoahoc.net

WLP
09-14-2007, 10:09 PM
HỌC ANH NGỮ BẰNG TIẾNG VIỆT -NHỮNG TỪ VI TÍNH

Ghi Chú:

-Dấu bằng (=) có nghĩa là liên hệ với, tương đương, gần cận nhau, giống nhau.

-Chữ trong hai gạch nghiêng / / là thanh, thinh, âm, âm vị, chỉ phát âm theo tiếng Việt hay ngoại ngữ.

-Mẫu tự trong ngoặc đơn của một từ có nghĩa là bỏ đi hay câm ví dụ Anh ngữ cổ brus (breast), vú có b(r)u- = bú, vú (bỏ r hay r câm)….

-Dấu (*) có nghĩa là gốc tái tạo không có trong ngôn ngữ thành văn (written records).

-Tôi dùng từ liên hệ hiểu theo nghĩa tổng quát. Còn liên hệ như thế nào không nằm trong phạm vi bài viết này (sẽ nói rõ trong tác phẩm Sự Liên Hệ Giữa Việt Ngữ và Ấn Âu Ngữ.) Chỉ xin hiểu một cách tổng quát dù là liên hệ qua môi sinh như tiếp xúc, vay mượn, qua trung gian một ngôn ngữ khác hay di truyền (DNA) như ruột thị, máu mủ thì nói chung vẫn là liên hệ. Có sự liên hệ giữa Việt ngữ và Anh ngữ thì sự liên hệ đó cũng đủ giúp ta học Anh ngữ bằng Việt ngữ một cách dễ dàng và ngược lại.

Ở đây chỉ xin rút tỉa ra một ứng dụng, một thực dụng rất hữu ích từ sự liên hệ này là ta có thể học một cách tường tận, dễ hiểu và dễ nhớ tiếng Anh nói riêng và Ấn Âu ngữ nói chung bằng tiếng Việt và ngược lại. Học Anh ngữ bằng Việt ngữ giúp những người Việt nhất là giới lớn tuổi giỏi tiếng Việt có thể dùng tiếng Việt học Anh ngữ và các thế hệ trẻ sinh đẻ ở hải ngoại và các người ngoại quốc giỏi Anh ngữ có thể dùng tiếng Anh học tiếng Việt.

-Tôi chỉ giới hạn vào các nghĩa gốc tương đồng và để qua bên các nghĩa phụ, nghĩa bóng bẩy, nghĩa lóng. .

Để tiện việc tra cứu, tôi viết theo Anh-Việt và xếp theo thứ tự ABC.



B

-blog, mạng ký lục, báo mạng, nhật ký mạng, nhật trình mạng.

từ blog do hai từ web log lồng vào nhau (b của web + log). Log là ghi chép, biên chép sự việc xẩy ra, ghi vào sổ sự việc xẩy ra hàng ngày như trình ký, nhật ký (hải trình của tầu thủy, phi trình của phi cơ, của bác sĩ, y tá, cảnh sát trực gác hàng ngày... cùng nghĩa với log-book, log-board). Ngày xưa ghi lại sự việc bằng cách khắc trên cái cọc, cái nêu, thân cây, tấm ván, tấm bảng như sử xanh là sử ghi khắc lại trên các thanh tre xanh.

Từ blog do hai từ web log lồng vào nhau có nghĩa là mạng ký lục, báo mạng, nhật ký mạng, nhật trình mạng, xem web và log (2) ở dưới.




C

-chat

1. chuyện vãn, chuyện tầm phào, chuyện phiếm.

2. danh từ dùng trong vi tính ngày nay ngụ ý nói chuyện gẫu với nhau qua mạng điện tử.

.theo phát âm Anh ngữ, /chét/ = Việt ngữ chét như nói chét chét, nói chót chét, nói chí chét (nói nhiều, nói không đâu vào đâu).

.theo mặt chữ hay theo phát âm Việt ngữ, chat = /chát/ = chát (nói nhiều với nhau chí chát, đốp chát, chan chát) = choét (cái miệng nói choen choét) = chóe (nói chuyện chí chóe).

.theo ch = qu = v như choàng vào người = quàng vào người = vướng vào người, chat = vặt, (vặt) vãnh, vãn (nói chuyện không đâu vào đâu).

.chit-chat, nói nhiều, lắm mồm, nói nhảm nhí, chuyện nhảm, chuyện ngồi lê đôi mách, chit chat = chí chát, chí chóe (xem chit-chat).




D

-delete, lắt bỏ, cắt bỏ đi.

tiền tố de- có một nghĩa là rời ra và -lete = lắt (cắt).




E

-edit

1.sửa soạn, sửa chữa, sắp đặt, hoàn chỉnh một bản thảo, một tài liệu, một bài vở, một bài bản, một phim bản, một video... để phát hành.

2. xuất bản.

liên hệ với Latin editus, quá khứ phân từ của động từ edere, cho ra, phát hành, xuất bản, có tiền tố e- = ex, ra và -dere, liên hệ với dare, to give, ruột thịt với gốc Phạn ngữ da, to give.

Ta có

.Phạn ngữ da, dare = đưa (cho), Latin -dere = đưa.

.-di- = đưa.

-dit = đặt (sắp đặt, đặt để).

.-dit = duyệt (lại).


F

-file

1. hồ sơ, tập giấy tờ, văn thư.

2. (động từ) đặt, để, sắp, xếp (giấy tờ), đệ trình, đệ đơn.

3. (Vi Tính), hồ sơ, bài bản, bài vở.

.theo f=b, /fai/ = bài, như bài vở

. /fai/ = bài, an bài (Hán Việt) là sắp đặt như định mệnh đã an bài = bầy (đặt, để, xếp đặt).




G

-graphics (Vi Tính), họa hình.

những cơ sở, bộ phận cung cấp những xuất phẩm vi tính dưới dạng trình bầy, hình vẽ và họa hình.

graph, -graphic (gốc Hy Lạp), thuộc về viết hay vẽ (vạch, vẽ, gạch là hình thức nguyên thủy của viết), ghi, ký. Latin graphicus thuộc về vẽ, Hy Lạp ngữ graphein, viết, liên kết với grave (xem chữ này).

.có gaph = gạch (vạch).

.có graph = grave (xem chữ này).

.theo g=c, có gaph- = carve, khắc, chạm, cắt, viết trên đá phải dùng đục khắc vào đá.

.graph giống như chữ gram, xem chữ program.




H

-help, giúp, giúp đỡ, hộ, cứu hộ, hỗ trợ.

liên hệ với Phạn ngữ kalpa, có khả năng bảo vệ, che chở.

.help = /heo/ = hộ (giúp), cứu hộ, làm hộ = hỗ (giúp), hỗ trợ, hỗ tương.

.theo h=k=c, /heo/ Phạn ngữ kal- = cứu (giúp).

.theo h=ch, he- = che và hỗ = chở, trợ, help = che chở, hỗ trợ.




I

-insert, cho vào, cài vào.

liên hệ với Latin insertus, quá khứ phân từ của động từ inserere, put in, có tiền tố in-, vào và serere, joint, put, ruột thịt với gốc Phạn ngữ swar, sar, cột, buộc, siết chặt lại.

.có -sert = se (bện vào nhau như se chỉ) = siết (lại).

.-sert- = /sợt/ = sọt (chọc, thọc), sỏ, xỏ (cho vào), sen (chen vào).

.theo s=c=k, -sert = kết (buộc vào, gắn vào, cài vào như kết hoa, kết nút áo)

.theo c=ch= tr, Phạn ngữ sar = cha, tra (cho vào).




K

-key

1. chìa khóa.

2. chốt (sắt), nêm, mộng gỗ; đóng chốt sắt, đóng nêm cho chặt, đóng ráp mộng.

3. có nghĩa bóng là mấu chốt, bí quyết (của một chuyện gì).

4. lời ghi chú (bản đồ).

5. phím, phiếm đàn, nút, phím gõ (đánh máy, vi tính).

Phím đàn (dương cầm), nút, phím gõ bàn máy chữ, máy vi tính là những que gõ giống như chìa khóa.

6. key, bến tầu, đảo nhỏ chỗ tầu thuyền đậu như Key West ở Florida.

Nguyên thủy nêm, mộng, chốt, chìa khóa chỉ là một chiếc que, một khúc cây để cài, để giữ, đóng vật gì lại như then cài cửa, ví dụ điển hình là chiếc khóa ống có chìa khóa chỉ là một chiếc que sắt dùng để mở. Khóa nguyên thủy cũng chỉ là một khúc cây, một chiếc then cài. Khóa cổng ngõ ở nhà quê cũng chỉ là đóng chiếc then cài cổng. Theo biến âm kh=qu như khoảng không = quãng không, ta có khóa = quá = qua (gậy, que nhọn dùng làm khí giới như can qua) = que. Khóa chỉ là chiếc que, chiếc then cài. Ta cũng thấy rất rõ qua từ key họ hàng với lock (khóa). Lock ruột thịt với log, khúc cây. Việt ngữ chìa là chiếc que, cây, thấy rõ qua từ chả chìa là chả nướng que, thịt xiên qua chiếc que rồi nướng; chìa vôi là chiếc que quệt vôi. Anh ngữ skewer, que xiên để nướng có -ke- là kè, kẻ, que, có -kew- = kèo (cọc nhỏ).

Ta có:

.key = /ki/ = ki, kì = cây.

.key = cây.

.key = cài.

.theo k=c=ch, key = /ki/ = chi (Hán Việt) cành, nhánh = chìa = chốt (cài).

.key = kè (cọc cắm ở bờ nước) = cừ (đóng cừ). Nguyên thủy cây cọc, cây nọc, cây kè, cây cừ cắm ở bờ nước để cột thuyền, về sau trở thành bến thuyền tầu, cầu tầu. Key dùng rộng ra chỉ những đảo nhỏ nơi các thuyền tầu dừng chân, đậu lại. Key còn viết là quay (vẫn phát âm là /ki/), quai (Pháp ngữ) và cay như Coco Cay ở Caribbean. Caribbean cay chính là Việt ngữ cây, còn key, quay phát âm /ki/ chính là cổ ngữ Việt ki, kì là cây và Pháp ngữ quai phát âm là /ke/ chính là Việt ngữ kè. Ở đây ta thấy Việt ngữ rất đa dạng biến âm với nhiều ngôn ngữ.

-keyboard, bản, bàn đánh, gõ (keys).




L

-log (1), khúc gỗ, thân cây.

phần thân cây đã chặt bỏ hết cành lá: backlog, khúc cây lớn phía sau lò sưởi.

.log = Việt ngữ lóc, ta có từ đôi lăn lóc, một điều lý thú là ta có câu ví ngủ lăn lóc, ngủ lăn, ngủ lóc tương đương với Anh ngữ to sleep as a log. Như thế ở đây ngủ lóc với từ lóc hàm nghĩa log.

.log = lộc, thường hiểu theo nghĩa lệch là lá non như đâm chồi nẩy lộc, hái lộc đầu xuân (mùa xuân cây thường ra lá non, ra lộc và lộc cũng có nghĩa là lộc may mắn vì thế mới hái lộc để có lộc. Lộc là may mắn chính là luck, lucky, xem chữ này). Tuy nhiên lộc cũng còn có nghĩa là thân cây trơ trụi lá như log, đến mùa xuân lộc, log lại đâm chồi nẩy lộc như thấy qua bài ca dao:

Bồng bồng cái lộc ra hoa,

Một đàn vợ lính chẩy ra thăm chồng…

Từ lộc ở đây phải hiểu là thân cây trơ trụi lá tức log. Cây mới ra hoa. Có những loài cây mùa đông rụng hết lá chỉ còn thân cây lộc, log và đến mùa xuân lại ra hoa rồi mới ra lá như hoa đào, hoa mơ, hoa mận. Vì thế cái lộc ra hoa chỉ các loại cây này ra hoa báo mùa xuân đến. Còn hiểu lộc là lá non, là hiểu theo nghĩa lệch và bị ảnh hưởng của lộc là luck của Trung Hoa. Hiển nhiên lá non làm sao mà ra hoa được. Ta cũng thấy rõ Hán Việt lộc là hươu nọc. Lộc ruột thịt với Việt ngữ nọc (khúc cây), với log. Con hươu nọc, hươu sừng gọi theo cây cọc nhọn trên đầu là cặp sừng. Con hươu nọc là con lộc (con nọc, con cọc hiểu theo nghĩa cây trơ trụi cành lá của Việt ngữ), con lộc (Hán Việt) con log. Hươu là con Cọc (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).

. log = lốc = nốc, nốt; ngày nay nốc hiểu là thuyền nhỏ:



Ăn thì cúi chốc, kéo nốc thì than.

(tục ngữ).



Ăn thì cắm đầu xuống ăn, còn kéo thuyền thì than.

Nguyên thủy, nốc là thuyền độc mộc khoét từ một thân cây, một khúc cây log (dug-out). Nốc gốc từ log. Nốc cũng chỉ bộ phận sinh dục nữ (xem ship). Theo n=l, nốc = lốc, lốc cũng chỉ bộ phận sinh dục nữ như thấy qua câu ca dao:

Cô lô cô lốc,

Một nghìn ghính ốc đổ vào l... cô.

Thật ra phải viết là cô lô cô nốc mới đúng. Từ hiện kim lốc cũng có thể coi là dạng nam hóa của nốc (giống như lõ của nõ) vô nghĩa.

-log (2), trụ bằng thân cây cắm dọc theo đường tầu dùng như những chiếc phao để đo vận tốc của tầu thuyền.

-log (3), ghi chép, biên chép sự việc xẩy ra, trình ký, nhật ký, ghi vào sổ sự việc xẩy ra hàng ngày (hải trình của tầu thủy, phi trình của phi cơ, của bác sĩ, y tá, cảnh sát trực gác hàng ngày... cùng nghĩa với log-book, log-board).

-log (4), (Vi Tính)

1. hồ sơ viết, ghi lại những thư từ, thư tín gởi đi hay nhận: email log.

2. hồ sơ theo dõi sự móc nối của mạng vụ (network).

3. blog do hai từ web log lồng vào nhau (b của web + log) có nghĩa là mạng ký lục, báo mạng, nhật ký mạng, nhật trình mạng (xem blog).

Ngày xưa ghi lại sự việc bằng cách khắc trên cây cọc, cây nêu, thân cây, tấm ván, tấm bảng.

log = lục (Hán Việt), biên chép, ghi vào sổ như ký lục, mục lục, mạn lục, tạp lục.

-log, log on, log out (Vi Tính), vào, mở log, ra, đóng log, xem chữ log (4).



M

-Memory

1. nhớ, trí nhớ, mơ tưởng, màng (nhớ), mơ màng, ký ức, kỷ niệm.

2. (Vi Tính), phần, bộ phận, khả năng nhớ (lưu trữ dữ kiện) của máy vi tính.

liên hệ với gốc Phạn ngữ smar, to remember, record. Có mem-, -mar = Việt ngữ màng (nhớ, lưu ý tới) như không màng tới (không nhớ tới, không nghĩ tới), mơ màng (mơ nhớ tới) từ đôi mơ màng cho thấy mơ = màng, có nghĩa là mơ cũng có một nghĩa là nhớ, so sánh mơ màng với mơ tưởng ta có màng = tưởng = nhớ; ta cũng thấy mơ tưởng = tưởng nhớ. Memory có me- = mê = mơ = màng.




N

-Net

1. lưới, na, la (Hán Việt) , te.

các tác giả Tây phương cho net liên hệ với Thụy Điển ngữ nat, Gothic nati, liên kết với Phạn ngữ nada, sông. Nhưng đúng hơn, theo tôi phải là liên hệ với gốc Việt ngữ na- là nước. Điều này đúng nếu nhìn theo góc cạnh các dụng cụ đánh cá đều liên hệ với sông nước (như cái nôm, cái nơm liên hệ với Việt ngữ nậm là vật đựng nước, rượu, Tầy ngữ nầm, nậm là nước, Thái Lan ngữ nam là nước như nam pla là “nước cá” tức nước mắm). Mặt khác, nhìn theo góc cạnh làm ra lưới tức là bện lưới, đan lưới thì net liên hệ với gốc Phạn ngữ sna, na, bện vào nhau, cột vào nhau bằng dây, chỉ, tức đan nát.

2. (Vi Tính), lưới (sự liên kết giữa một số những phần truyền thông dữ kiện).

lưới là mạng, một thứ đan, dệt, Latin tela, mạng lưới, đồ đan dệt (xem subtile), nessa, lưới cá.

.theo biến âm kiểu nết na, ta có net = Latin ne(ssa) = Việt ngữ na (lưới). Quả na, Thái Lan ngữ noina là thứ quả tròn, vỏ có hình mạng lưới, Trung Nam gọi là trái mạng cầu (quả cầu tròn có vỏ hình mạng lưới), ngày nay nói sai đi thành mãng cầu hay măng cầu. Quả lựu đạn vỏ có hình mạng lưới, tiếng lóng gọi là trái na. Ở đây nếu nhìn theo góc cạnh sông nước, na liên hệ với gốc Việt ngữ na- là nước như nà, ruộng nước, nác là nước, lã là nước ngọt... (xem gốc chữ này). Còn nhìn theo góc cạnh đan dệt, như trên đã thấy na liên hệ với gốc Phạn ngữ sna, na, bện vào nhau, cột vào nhau bằng dây, chỉ, tức đan nát.

.theo n=l, net = Việt ngữ na = la (Hán Việt), lưới như thiên la địa võng (lưới trời võng đất). Ta cũng thấy Việt ngữ na = Hán Việt la = Latin (te) la, lưới.

.net = nát (đan), từ đôi đan nát có đan = nát = net. Lưới là vật đan mà thành.

.theo n=d, net = dệt.

.phương ngữ Thanh Nghệ Tĩnh te là lưới cá nhỏ:

Mặc ai lưới, mặc ai te,

Thì ta cũng vẫn dăng bè nghênh ngang.

(ca dao).

Ta thấy rõ te liên hệ với te, tè là nước với Latin te(la).




O

-on-line, trên tuyến, lên tuyến.

từ chỉ dụng cụ, máy móc và người liên lạc trực tiếp với đơn vị điều hành trung ương của máy vi tính.

.on

On là trên, trên có một nghĩa là trên cao, liên hệ với trời.

Ai Cập có thành phố Mặt Trời On sau này chuyển qua Hy Lạp ngữ là Heliopolis. Akhadian ngữ (Lường Hà) on là vòng tròn (vòng tròn biểu tượng hư không, mặt trời); Sơ Đăng on, Mạ unh, Xì Tiêng onh là lửa liên hệ với trời. On liên hệ với ên (một như một mình ên) one, một. Một có một nghĩa là trời, trời là số một (xem one).

on = ơn (ân). Ơn là trời.Từ đôi ơn trên có ơn = trên. Ơn trên = ơn trời, tạ ơn là tạ trời.



.line

1. sợi nhỏ, dây (câu cá, thép, điện thoại, buộc thuyền, nẩy mực để vạch đường thẳng).

2. số nhiều, lines: dây cương ngựa.

3. đường, tuyến, đường xích đạo, lộ trình, hành trình, đường đi, đường hàng hải, hỏa xa, tuyến hệ...

4. lối, hàng, to stand in a line, xếp hàng.

5. dòng họ, huyết thống.

liên hệ với Latin linea, lineus có nghĩa gốc là dải, dây làm bằng sợi cây gai, Hy Lạp ngữ tainia, băng, dây cột.

.có line = /lai/ = lải, lãi; hàm nghĩa dây, dải. Con lải, con lãi là con sán sơ mít (toenia) có hình như cái dải dây nên tiếng Anh dân dã gọi là tapeworm, xem chữ toenia, tapeworm. Việt ngữ sán, sên ruột thịt với Anh ngữ chain, dây chuyền, dây xích. Con sán có những đốt trông giống mắt xích nên cả con sán trông giống dây xích.

.theo l=d=đ, /lai/ = dải = đai = dây. Theo t=d, Hy Lạp ngữ tainia, có tai- = dải = dây. Ta cũng thấy tai- = Anh ngữ tie phát âm là /tai/, dây, dây đeo cổ hay cà vạt.




P

-program

còn viết là programme.

1. chương trình.

2. (Vi Tính), thảo chương, thảo trình.

Latin và Hy Lạp ngữ programma có nghĩa nguyên thủy là niêm yết, yết báo bằng chữ viết cho quần chúng biết, có pro-, trước, làm, soạn trước, và gốc chữ -gram giống như chữ graph, graphic (gốc Hy Lạp), thuộc về viết hay vẽ (vạch, vẽ, gạch là hình thức nguyên thủy của viết), ghi, ký. Latin graphicus thuộc về vẽ, Hy Lạp ngữ graphein, viết.

.theo g=c=ch, có gaph, gram = gam = chạm (khắc), liên kết với grave, khắc, chạm, liên hệ với Phạn ngữ skarp, skar, cắt. Phạn ngữ -kar = cắt, khắc, chạm.

.-graph, gram = gạch (vạch) = ghi; theo gh=k (như ghép = kép), ghi = ký như cardiogram, tâm điện ký.




Q

-queue

1. nối đuôi, sắp hàng.

2. tóc đuôi sam.

3. queu (Pháp ngữ), đuôi, vĩ (Hán Việt), đuôi, gậy đánh bi-da (Anh ngữ cue) .

4. (Vi Tính) nối đuôi, sắp hàng (chỉ một nhóm dữ kiện sắp nối đuôi nhau chờ máy vi tính hoạt động).

queue có que- = que (que đánh bi-da). Theo q=c =ch, queue = cue = chuôi = đuôi. Đuôi cũng hàm nghĩa que, cành, nhánh. Đuôi vài loài vật dùng để nắm giữ như loài khỉ dùng đuôi để nắm cành cây tương đương với tay chân, Hán Việt chi. Đuôi là một thứ tay, chân. Điều này thấy rõ qua từ Hán Việt chi là cành mà cũng có nghĩa là tay chân (tứ chi). Vì thế queue có một nghĩa là que như que đánh bi-da gọi là cue. Xem thêm chữ tail.




R

-record

1. có gốc nghĩa là recall, ghi tâm, ghi nhớ, hồi tưởng.

Latin recordare, recordari, to recall, to mind. Record có tiền tố re-, lại và -cord, ruột thịt với Latin cor, cordis, tim (xem cordial).

2. vô sổ, ghi vào sổ, ghi chép, sổ, sổ sách, nguyên bản (án), (hàm nghĩa để ghi nhớ).

3. đài, bia vật kỷ niệm (để ghi nhớ).

4. hồ sơ, lý lịch, tài liệu (hàm nghĩa để ghi nhớ).

5. kỷ lục (hàm nghĩa ghi nhớ ghi lại những điều đáng nhớ nhất).

6. ghi âm (đĩa, băng nhạc) (hàm nghĩa để ghi nhớ).

7. records (số nhiều), Văn khố.

8. (Vi Tính), tập hợp những dữ liệu liên hệ thành từng nhóm, đơn vị.



Record có -cord liên hệ với core, ruột, lõi, cồi (mụn), cốt (nòng), tim (phần giữa).

Trung cổ Anh ngữ core, heart (of fruit), liên hệ với Latin cor, cordis Pháp ngữ coeur và Hy Lạp ngữ cardia, tim.

.cor-= cồi, cốt.

.theo c=h như cùi = hủi, cốt, cột = hột = hạt = heart, tim. Cardia, cardio- có card- = hạt = heart. Record có nghĩa gốc là ghi tâm, ghi nhớ.






S



-save

1. dành dụm, tiết kiệm.

2. cất giữ.

3. (Vi Tính) cất giữ, lưu trữ.

ruột thịt với gốc Phạn ngữ sar, sal, to keep, to preserve, make safe.

.có sav-, sar = sẻn (dè sẻn) = sỉn (bủn sỉn, tiết kiệm quá mức).

.theo s=c, sav- = cất.

Một điểm trùng hợp rất lý thú có thể dùng làm bùa nhớ để học là theo qui luật từ đôi xây cất ta có xây = cất đúng y chang với save = /xây/ = cất !



-select

1. lựa, chọn, lọc ra, tuyển lựa.

2. hạng chọn lọc, hạng nhất.

Latin ligere, chọn ra, select có tiền tố se-, apart, tách ra và -lect = lig- = lặt (nhặt) = lựa = lọc (ra) = lừa (ra) như lừa sạn ra khỏi gạo.




T



-taskbar, thanh tạo tác, thanh tác vụ, thanh làm việc.

.task có nghĩa là:

1. việc làm, công việc (hàm nghĩa khó khăn, hệ trọng).

2. phần vụ, phận sự, tác vụ.

task liên hệ với Latin dân dã tasca, taxa có nghĩa là tax (thuế vụ), ngày xưa trả thuế bằng cách đi làm việc công cộng như đắp đường, đào kênh…, đi làm sưu, làm siêu nếu không phải đóng tiền cheo (theo s=c=ch, sưu, siêu = cheo) vì thế có từ sưu thuế, sưu cao thuế nặng. Ta thấy rõ task = tác có nghĩa là việc làm như tác vụ, công tác, tạo tác.

.bar, thanh, que, vật, bản dài hình thanh, hình que thẳng.

.bar = bản.

.theo b=v=qu, bar = qua (gậy nhọn, binh khí), que.

.bar = báng (đánh, đâm bằng thanh nhọn), trâu báng = trâu húc bằng sừng.

.theo b=p=ph, bar = phang, phạng (đánh bằng thanh cây).




U

-universal

1. qui về một mối, tất cả, toàn thể, toàn bộ, bao quát, phổ quát, phổ thông, phổ biến.

2. thuộc về thế giới: universal language, thế giới ngữ.

Latin universalis, thuộc về tất cả, toàn bộ, có uni- = unus, một và -versus quá khứ phân từ của vertere, to turn. Universal hàm nghĩa “trở thành một khối, một mối”. Xem chữ universe.

-universal language (Vi Tính), ngôn ngữ phổ quát.

một nhóm ngôn ngữ thảo chương chung cho nhiều loại máy vi tính như COBOL, FORTRAN, BASIC, cùng nghĩa với từ common language.

-universe, vũ trụ, vạn vật, thế giới, thế gian.

hàm nghĩa “trở thành một”, “qui về một”. Như trên đã nói universe có uni-, một, -verse, to turne, -verse liên hệ với vert có nghĩa là:



1. vần (vần là xoay như vần tảng đá, vần xoay, chuyển vần), vặn, xoay, quay, xoay, trở hướng, đổi, chuyển hướng, nhìn qua.

2. người bỏ đạo, trở đạo (bỏ đạo này qua đạo khác).

Latin versus, vặn, quay, trở, đường đi, hàng lối. Versus quá khứ phân từ của vertere, vặn, quay, trở, liên hệ với gốc Phạn ngữ wart, war, to turn, liên kết với worth, (to become, to be).

.có ver- = vần (xoay), vẹo, vặn (qua). Phạn ngữ wart, war = vặn.

.theo v=qu, ver- = vẹo = quẹo (qua).

.theo v=qu=c=s=x, ver- = quay = xoay.

.theo v=d=t, ve- = dẽ (rẽ) = tẽ (qua).



Như đã biết đại lược thì Vũ trụ tạo sinh (cosmogony) dựa trên nguyên lý lưỡng hợp, lưỡng thể, nhị nguyên. Vũ trụ khởi đầu từ Vĩnh cửu (Eternity), cái Không thể biết (the Unknowable). Bắt đầu là một cái bọc trống không còn ở trạng thái hỗn mang (chaos) gọi là hư vô, Vô cực (Nothing). Vô cực được coi là một cái bọc, cái túi, cái nang trống không diễn tả bằng chữ nòng nọc là cái vòng tròn O mang nghĩa số Không. Từ đó phân cực thành Thái cực (Great Ultimate, The Grand Ridge-pole), coi như là một cái Trứng Vũ Trụ (Cosmic Egg) trong đó âm dương hãy còn quện vào nhau dưới dạng Nhất Thể. Rồi Thái cực phân ra thành Lưỡng nghi (Liang I): Nòng, âm (Feminine or negative principle, Yin) và Nọc, dương (Masculine or positive principle, Yang). Nòng nọc, âm dương liên tác sinh ra Tứ tượng (Four Hsing, Four Great Primary Forces) gồm Lửa, Nước, Đá, Khí vũ trụ (comic Fire, cosmic Vapor, Meteorite, cosmic Gas or ether). Tứ tượng vận hành (in movement, in motion, in action) trở thành Tứ hành (active, dynamic Four Great Primary Forces). Âm Dương, tứ hành vận hành, chuyển hành, liên tác với nhau dưới dạng năng động tạo ra vũ trụ vạn vật, tạo ra Tam thế (Triple world), tạo ra sự sống (Life), sinh ra con người và vạn vật sống, thường được biểu tượng bằng hình một cái cây gọi là Cây đời (Tree of Life), Cây vũ trụ (Cosmic tree), Cây Tam thế (Tree of Triple world) (xem cosmos).

Universe là “qui về một”, về Nhất Thể chỉ lúc vạn vật ở trạng thái hỗn mang qui về Nhất Thể tức Thái Cực có âm Vũ (Vũ là võ là vỏ là bao, bọc, âm) và có dương Trụ (Trụ là nọc là dương). Ở Tây phương, một xã hội theo duy dương, phụ quyền cực đoan, nên quan niệm vũ trụ thế giới cho là ‘qui về Một” cũng có thể nghiêng nhiều về Số Một tức Mặt Trời, cực dương (một là mặt trời, dương, cha, phụ hệ).




V

-view, nhìn, xem, mục, viếng, cảnh.

liên hệ với Pháp ngữ vue, voir, Latin videre, Tây Ban Nha ngữ ver, nhìn, gốc Phạn ngữ wid, to see, observe, to know, IE *weid, see.

.view = viếng (xem, nhìn) như thăm viếng. View người chết là viếng người chết (xem, nhìn mặt người chết lần cuối).

.view = vọng (Hán Việt), lầu vọng nguyệt là lầu nhìn, ngắm trăng.

.theo v=m, view = mục (Hán Việt), nhìn.

.theo v=b, view, wid = biết (thấy là biết).




W

-web

1. mạng, spider’s web, mạng nhện.

2. màng, chân màng của loài du cầm như vịt. Chân màng là chân mạng như vá lại, nhíu dính vào nhau.

3. đồ dệt, vải.

4. (Vi Tính) mạng: www, w3, world wide web, mạng toàn cầu.

ruột thịt với gốc Phạn ngữ wa, wad, wadh, wi, to bind, plait, weave.

.Phạn ngữ wa, we- = vá. Mạng và vá họ hàng với nhau. Phạn ngữ wi = víu (vá víu), nhíu (lại).

.theo w=m, web = Anh ngữ mend = mạng.

.theo w=v=d (người Nam phát âm v=d), web = dệt = dện (nhện), con dện dệt web, dệt mạng lưới (xem spider).

.theo w=m, Phạn ngữ wadh, web- = mạng, màng (chân màng).

BS Nguyễn Xuân Quang khoahoc.net

WLP
09-14-2007, 10:14 PM
Biết ra sao ngày sau?



Khi còn ở Hà Nội cuối tháng Chạp năm ngoái, tôi đã được xem trên TV câu chuyện "bí quyết về tình yêu" (secrets of love) với nội dung như sau:



“Nàng là một cô gái trẻ đẹp, sẽ học ra làm cô giáo dạy tiếng Anh, có quan hệ tình cảm (romance) với một anh chàng, nhưng khi anh chàng hỏi cô làm vợ thì cô còn chần chờ, chưa chịu, chứ không phải là không chịu. Thế mà, người yêu cô, rất có thể là người cô yêu, trong một buổi tối bốc đồng, thiếu suy nghĩ (without thinking), đã tạt 'át-xít' vào người cô (threw acid on her) khi cô trên đường đi làm, đi học về nhà bằng xe đạp, khiến cô bị mù hai mắt (blinded her) và mặt mũi, thân mình cô cũng bị cháy bỏng (burned her face and body).



Sau này, có một anh trai trẻ khác và gia đình anh không biết ở đâu dọn đến sống cạnh nhà cô, rồi anh đem lòng thương yêu, yêu thật tình, nhất định xin lấy cô làm vợ (to wed/marry her). Thoạt đầu, cô không chịu vì nghĩ rằng không có ai dám hi sinh cuộc đời để yêu mình, nói chi đến (let alone) chuyện lấy mình, và cũng nghĩ rằng mình không dễ gì mang lại hạnh phúc cho ai đó. Bố Mẹ cô cũng nghĩ vậy. Cả hai ngưòi đã phải chịu bao nhiêu gian nan, khó khăn thuyết phục (to persuade) gia đình bố mẹ cả đôi bên. Nhưng sau cùng thì họ cũng lấy được nhau.”



Câu chuyện vô cùng cảm động (touching story) vì những lời lẽ cô kể và hình ảnh chiếu trên truyền hình.Tôi thấy khán giả, nhất là mấy cô mấy bà ngồi xem cuộc phỏng vấn mà lệ tuôn rơi lã chã (with tears falling/rolling down their cheeks). Có điều trớ trêu, miả mai thay (ironically) là cô này có tên Lê thị Ánh Dương [= ánh sáng mặt trời (the sunlight)]. Cuộc sống cuả cô hiện giờ là dạy chữ “Braille” cho các trẻ em khiếm thị (visually impaired children) ở tỉnh Thanh Hoá.”



Vừa viết tóm tắt xong câu chuyện tình buồn (sad love story) này cho ANHMV, thì tôi nhận lá thư điện tử (e-mail) cuả cô cháu gái quê Hải Phòng như sau:



“Hôm trước cháu có nói chuyện với Chú về bạn trai cuả cháu, đã ở trong cùng ký túc xá (residential college/dormitory) 2 năm rồi. Cháu đưa anh ấy về nhà hôm Chủ Nhật tuần trước nữa, sau đó cháu có gọi điện về nhà hỏi thăm thì được biết là gia đình cháu không đồng ý, vì nhà anh ấy ở Lạng Sơn, xa quá, mà công việc lại không ổn định. (does not have a steady job). Quan điểm cuả cháu thì lại khác. Chúng cháu cùng có mục đích chung, đều đã tốt nghiệp Đại học và hiện có công ăn việc làm trên Hà Nội. Chỗ ở thì tụi cháu tự thu xếp được. Chúng cháu đều mong muốn học tập thêm để sau này nếu có điều kiện sẽ ra nước ngoài, có thể là đi học hoặc đi theo hình thức nào đó (whatever comes). Chúng cháu cần hiểu được cuộc sống ở nơi đó thế nào.Tụi cháu yêu nhau thực sự (love each other truly), hiểu và chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống. Có thêm được một người cùng lo lắng và phấn đấu với mình, cháu thấy vui vẻ và lạc quan, sống có mục đích hơn (have more of a purpose in life). Cuộc sống thấy nhẹ nhàng hơn. Đúng là trong cuộc sống cần phải cởi mở tấm lòng (open up your heart) và hạnh phúc sẽ đến. Nhưng gia đình cháu không hiểu điều đó. Chắc cháu cũng phải mất một thời gian nữa để thuyết phục gia đình. Cháu sẽ không bỏ cuộc (will not give up) như lần trước nữa (as I did last time). Vì bây giờ cháu thực sự cảm thấy đã tìm được một nửa thứ hai cuả mình (my other half). Chú có ý kiến gì giúp cháu tham khảo không?”



Trước khi có ý kiến riêng giúp cháu, tôi xin Quí Vị Quí Bạn cùng tôi ôn lại, “tham khảo” đôi điều trong triết lí nhập thế cuả Phật giáo (tiếng Anh đã được tôi gài đặt cho bài học):



Thực chất cuả đạo Phật là một học thuyết về nỗi khổ và sự giải thoát [the doctrine of suffering and deliverance from suffering]. Đức Phật đã từng nói: “Ta chỉ dạy con một điều: Khổ và khổ diệt.” [To you I teach but one thing: Suffering and the cessation of suffering]. Cơ bản cuả học thuyết này là Tứ diệu đế (Bốn Chân lí Kì diệu) [Four Noble Truths (the four marvellous points of truth):



1. Khổ đế là chân lí về bản chất cuả nỗi khổ. Cuộc sống quanh ta, trong thế giới hiện thực, đầy nỗi khổ. Khổ là gì? (What is suffering?) Đó là trạng thái buồn phiền phổ biến ở con người do sinh, lão, bệnh, tử (birth, aging, sickness, death), do bất cứ nguyện vọng nào không được thoả mãn (any unfulfilled aspiration).



2. Nhân đế là chân lí về nguyên nhân cuả nỗi khổ (the cause of suffering). Con người trong thế giới hiện thực này khổ là vì đâu? Đó là do ái dục [= ham muốn = desire (craving)] và vô minh [kém sáng suốt = ignorance (the lack of wisdom)] do tham-sân-si [lòng tham, lòng giận dữ, sự ngu dốt = greed, ill-will/anger, delusion/stupidity)] thúc đẩy.



3. Diệt đế là chân lí về cảnh giới diệt khổ (the cessation of suffering). Nỗi khổ sẽ được tiêu diệt khi nguyên nhân gây ra khổ (ái dục và vô minh) bị loại trừ. Sự tiêu diệt khổ đau gọi là Niết bàn (Nirvana), nghĩa đen là “dập tắt”, dập tắt ngọn lửa phiền não [extinguishment (of the fire of bondage)]. Đó là thế giới lí tưởng cuả sự giác ngộ và giải thoát.



4. Đạo đế là chân lí chỉ ra con đường (biện pháp) diệt khổ [The path to the cessation of suffering]. Con đường diệt khổ, giải thoát và giác ngộ đòi hỏi phải rèn luyện đạo đức [giới = virtue], rèn luyện tư tưởng [định = mindfulness], và khai sáng trí tuệ [tuệ = wisdom].

(Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, Trần Ngọc Thêm, NXB TP. Hồ Chí Minh, 1996)



Trong cuốn The Art of Living (Nghệ thuật sống), Đức Đại-La Lạt-Ma, Giáo chủ Phật giáo Tây Tạng, đã viết những ý kiến trên như sau:



The fundamental teaching (giáo lí cơ bản) of the Buddha (Đức Phật) is the teaching on the Four Noble Truths: (Tứ diệu đế) 1) That there is suffering; 2) that suffering has cause; 3) that there is cessation of suffering; and, 4) that there is a path to such freedom. The underlying principle of this teaching is the universal principle of causality (nguyên lí nhân quả). (The Art of Living: A guide to contentment, joy and fulfillment, His Holiness the Dalai Lama, HarperCollins Publishers, 2001)



Giáo sư Bác sĩ Thái Minh Trung, Phân khoa Tâm thần học (Department of Psychiatry), Trung tâm Y Khoa (Medical Center), Đại học UCI, Hoa Kì đã viết về đạo Phật, mà tôi chỉ xin trích vài đoạn liên quan tới “tu đạo và hành đạo” như sau:



“Tu là tu sửa. Hành đạo, thực hiện đạo trong đời sống hàng ngày giúp ta hiểu rõ được con người thật của ta. Khi ta học và hiểu được phải dẹp bỏ “tham, sân, si” thì ta tưởng như khi ta hiểu được điều này, “tham, sân, si” tự nó được dẹp. Sự thật không phải như vậy. Chỉ khi ta thực hành bố thí (to give alms) mà trong bụng còn cảm thấy hơi tiếc của thì lúc đó ta mới nhận thức được ta tuy hiểu mà ta vẫn còn lòng “tham”, còn lo âu khi rời của cải của ta. Chỉ khi nghe người khác chê hay nói xấu mình mà ta cảm thấy có sự buồn phiền nổi lên trong lòng thì ta chợt nhận ra cái “sân” của ta. Khi nhận ra “sân” nơi ta thì ta không còn đổ thừa” (blame) là người nói xấu ta thật là vô duyên thất đức. Chỉ có khi thực hành ta mới nhận rõ “tham, sân, si” nơi chính ta và từ đó ta cố gắng tự trị lấy bịnh của mình mà không còn đổ thừa hoàn cảnh bên ngoài để tự biện hộ cho ta nữa (to fend for yourself).



Tu hành là trở về sự toàn thể. Sở dĩ ta đau khổ là ta tự ngắt bẻ mình ra ngàn phần. Phần chính được gọi là “ngã” và phần bị mất gọi là “ngã sở”. Một thí dụ cho dễ hiểu là tình yêu lứa đôi. Khi còn nhỏ thì đứa bé cảm thấy tương đối đầy đủ, không có cảm giác nhớ nhung và đau khổ của kẻ thất tình (a rejected lover). Nhưng khi vào tuổi dậy thì, khi biết yêu thì tâm hồn nó bị phân chia ra và nó cảm thấy không đầy đủ nữa mà phải tìm người yêu khác phái để lấy về sự đầy đủ ban đầu. Cái “ngã” (tôi yêu) và “ngã sở” (người tôi yêu) bắt đầu phân chia rõ rệt. Người thanh niên thiếu nữ cần đem cái “ngã sở” (người yêu) về cho mình thì mới gọi được là hạnh phúc, có nghĩa là trở về sự toàn vẹn ban đầu. Khi không được tình yêu thì tâm hồn người thanh niên, thiếu nữ cảm thấy như bị cắt xén, thiếu hụt, và cô đơn. Vì thế thất tình có thể dẫn đến sự tuyệt vọng và tự tử (to kill youself/commit suicide).



“Sân” là phản ứng ta có khi ta bị từ chối. Bị từ chối làm ta cảm thấy mất sự đầy đủ trong tâm hồn. Ta “sân” (tức giận = angry) khi món đồ ta thích hay người ta yêu bị lấy mất. Sự mất mát hay tình yêu bị từ chối hoặc cướp mất làm ta cảm thấy ta không toàn vẹn nữa Tột điểm của “sân” là diệt bỏ (destroy) người đe dọa sự toàn vẹn của ta để ta có thể trở về sự đầy đủ ban đầu. Buồn hay mặc cảm tự ti là mặt trái của “sân” khi đối tượng ta có nhiều quyền uy hơn ta, vì lý do nào đó ta không diệt trừ người đó được (thí dụ như ta đang cần người đó). Ta phải miễn cưỡng trở thành kẻ yếu để xin vào vòng chấp nhận và được bảo vệ, để ta có thể trở lại sự đầy đủ.” (“Phật giáo, Khoa học, và Giác ngộ”, đăng trong < www.khoahoc.net > ngày 18-9-2006)



Quí Vị, Quí Bạn ơi! Khái niệm tổng quát về một triết lí sống là thế. Nhận xét riêng cuả tôi liên quan đến tình yêu đôi lứa là như thế này:



“Tìm được một người mình thích, mình yêu đã là khó, tìm được một người mà họ thích, họ yêu mình lại càng khó hơn. Có ai đó đã từng nói:


Nếu yêu mà lại được người yêu,

Thì tình yêu ấy có bao nhiêu.

Nếu yêu mà người không yêu lại,

Là một tình yêu có rất nhiều!



Hay có một nhà thơ nào đó đã phải ngửa mặt lên trời mà than rằng:


Có phải em là người ta chưa từng gặp,

Mới là người ta ấp ủ trong tim?



Tình yêu, tình thương theo triết lí Phật Giáo là: thương người như thể thương thân (love/compassion). Hiểu mình hiểu người, vui với cái vui của người khác, đau với cái đau cuả người khác với một tình cảm bao la, không ích kỉ, không vướng bụi trần. Loại tình thương yêu này khác/trái với loại tình cảm chỉ muốn gắn chặt buộc chặt, chiếm hữu người khác, bắt họ phải thuộc về mình (attachment/possession).



Bố Mẹ nào cũng chỉ muốn ưu tiên là con cái lấy người mình quen biết, hoặc làm sui gia với người mình quen biết, có được “môn đăng hậu đối” thì càng tốt, không muốn sống xa con cái trong lúc tuổi già. Cũng vì thế, là bậc Cha Mẹ, họ có cái cớ (pretence/excuse) cuả họ để từ chối, để không thuận, không bằng lòng, bất kể là tình yêu và quá trình tìm hiểu lẫn nhau cuả đôi trẻ là gì, đã đi đến đâu. Phân tích kĩ thì thấy rằng biết đâu chừng bậc phụ mẫu cũng đã nghĩ đến cá nhân mình nhiều hơn. Kinh nghiệm cuộc sống đã cho ta thấy, nhất là trong văn hoá Việt Nam, những chuyện vô cùng đáng tiếc, không lường trước được, xảy ra. Chuyện gần nhất tôi được nghe kể lại là trong chuyến tôi đi tham quan Hồ Than Thở, Đà Lạt hồi tháng 6 vừa rồi. Nấm mồ chôn cặp tình nhân yêu nhau mà không lấy được nhau còn nằm đó bên hồ. Bố Mẹ chúng ta cũng chỉ là người (human)”, mà đã là người thì có sai lầm = “to err is human”, như tiếng Anh họ nói, còn người mình thì bảo: “nhân vô thập toàn”. Tôi còn muốn nói nhiều hơn nữa, nhưng mà thôi!



Quí Vị Quí Bạn ơi! Chủ đề bài học tuần này là: “Biết ra sao ngày sau?” (Que sera sera, What will be will be?) cơ! Truyện thật kể rằng:


His name was Fleming, and he was a poor Scottish farmer (nông gia người Tô-cách-lan nghèo). One day, while trying to make a living (kiếm sống) for his family, he heard a cry for help (tiếng kêu cứu) coming from a nearby bog (bãi lầy gần đó). He dropped his tools and ran to the bog.

There, mired to his waist (ngập sình/bùn lầy tới eo/thắt lưng) in black muck (bùn đen), was a terrified boy (cậu bé hoảng sợ), screaming and struggling to free himself. Farmer Fleming saved the lad (cứu cậu bé) from what could have been a slow and terrifying death (cái chết khiếp đảm).

The next day, a fancy carriage (xe ngựa tuyệt đẹp) pulled up (dừng/đậu lại) to the Scotsman's sparse surroundings (khu vực hoang sơ/cây cối thưa thớt). An elegantly dressed nobleman (nhà quí tộc ăn mặc thanh lịch/tao nhã) stepped out and introduced himself as the father of the boy Farmer Fleming had saved.

"I want to repay you," (tôi muốn trả ơn ông) said the nobleman. "You saved my son's life." "No, I can't accept payment (không nhận tiền trả ơn) for what I did," the Scottish farmer replied waving off the offer (khua tay gạt đi không nhận đề nghị đó). At that moment, the farmer's own son came to the door of the family hovel (nhà/lều nhỏ bẩn thỉu/tồi tàn).

"Is that your son?" the nobleman asked. "Yes," the farmer replied proudly (hãnh diện trả lời). "I'll make you a deal (tôi thương lượng với ông như thế này nhe). Let me provide him with the level of education (trình độ học vấn) my own son will enjoy (sẽ được hưởng). If the lad is anything like his father, he'll no doubt grow to be a man we both will be proud of." And that he did.

Farmer Fleming's son attended the very best schools and in time, graduated (tốt nghiệp) from St. Mary's Hospital Medical School (Đại học Y khoa) in London, and went on to become known throughout the world as the noted Sir Alexander Fleming, the discoverer of Penicillin (người phát minh/chế ra thuốc pênixilin).

Years afterward, the same nobleman's son who was saved from the bog was stricken with pneumonia (bị mắc bệnh viêm phổi). What saved his life this time? Penicillin.

The name of the nobleman? Lord Randolph Churchill. His son's name? (tên của con trai ông ấy à?)

Sir Winston Churchill.



Ngài Winston Churchill là cố Thủ Tướng Anh mà danh tiếng đã lừng lẫy năm châu bốn bể, đặc biệt là trong Đệ Nhị Thế Chiến (World War 2), ông đã tập họp/qui tụ dân chúng Anh (rallied the Brirish people) để tự vệ chống lại cuộc tấn công dữ dội ồ ạt (onslaught) của Hít-le (Hitler). Ông còn là một nhà hùng biện (orator) và nổi tiếng có những bài diễn văn hay, đặc biệt là bài diễn văn (speech) “Battle of Britain”, khi ông tuyên bố: “Never has so much been done, by so few, for so many.” Hẳn Quí Vị, Quí Bạn còn nhớ?




Kết hợp ngữ
(Collocations)

blind verb

làm cho mù/đui, khiến cho mù/đui, làm mờ mắt (nghiã bóng)

· ADV almost, nearly gần như, hầu như The strong light almost blinded him. | momentarily, temporarily tạm thời, nhất thời, trong giây lát

blind adj

1 đui, mù, không thấy đường, mù quáng (nghiã bóng)

· VERB be, be born bẩm sinh, sinh ra là bị rồi | be registered (as) | go She went blind at the age of ten. | make sb làm cho ai

· ADV totally hoàn toàn | almost, virtually hầu như | partially một phần

· PHRASE as blind as a bat mù như dơi, be blind in one eye/in both eyes mù một mắt/mù cả hai mắt He is almost blind in one eye.

2 không màng đến (cái gì/chuyện gì), không thèm để ý đến (cái gì) /không chiụ nhìn nhận (điều gì)

· VERB be, seem xem ra, coi bộ | become trở nên, hoá ra | make sb khiến ai đó/người nào

· ADV completely, totally hoàn toàn, toàn bộ His own problems have made him completely blind to the sufferings of others Những chuyện rắc rối cuả chính ông đã khiến ông hoàn toàn chẳng màng gì tới khổ đau cuả những người khác.



sunlight noun

ánh mặt trời, ánh sáng mặt trời, ánh dương

· ADJ blinding, bright, brilliant, harsh, hot, intense, scorching, chói chan strong nóng gắt, warm nóng/ấm He emerged from the tunnel into blinding sunlight. | direct, full plants that do not like direct sunlight | pale, weak, wintry | dappled, golden vàng the dappled sunlight of the forest | reflected phản chiếu | afternoon chiều, morning sáng, evening tối | autumn muà thu, spring muà xuân, etc.

· QUANT beam, ray tia, shaft cột, luồng | patch mảng, pool

· VERB + SUNLIGHT block out chặn lại, ngăn lại a dank backyard with a wall that blocked out the sunlight | gleam in lập loè trong/dưới, glint in loé sáng/lấp lánh trong/dưới, shimmer in lung linh trong/dưới, sparkle in lấp lánh/lóng lánh trong/dưới The sea shimmered in the sunlight. | be exposed to bị phơi bầy ra, để lộ ra Do not leave your skin exposed to sunlight for too long. | blink in chớp mắt dưới, squint in nheo mắt dưới They emerged from the cinema, blinking in the sunlight.

· SUNLIGHT + VERB come, fall, filter chiếu, flood tràn ngập, penetrate, pierce xuyên qua, pour tràn, shine chiếu, slant, stream chiếu Sunlight filtered dustily through the slats of the door, o in dark thickets where sunlight could not penetrate o She threw back the shutters and the sunlight streamed in. | dapple sth làm cái gì thành đốm, gleam on/through sth, glimmer on sth, glint on sth, glitter on sth chiếu lấp lánh trên/vào cái gì, reflect from/on sth phản chiếu từ/trên cái gì, shimmer on sth, sparkle on sth chiếu lấp lánh trên cái gì Sunlight dapples the grass around us Ánh mặt trời tạo nên những đốm sáng trên đám cỏ quanh chúng ta. o the sunlight sparkling on the water Ánh mặt trời lấp lánh trên mặt nước.

· PREP in the ~ trong waves sparkling in the sunlight into the ~ dưới/trong We came out into bright sunlight again.

suffering noun

nỗi khổ, sự khổ đau, sự chịu đựng

· ADJ great, intense, terrible, unbearable to lớn, khủng khiếp, vô cùng, chồng chất, chịu không nổi | needless, unnecessary vô cớ, không đâu | widespread lan tràn | human (cuả) con người | mental tâm trí, physical thể xác The taunts of her schoolmates caused her intense mental suffering.

· QUANT amount số lượng, lượng The western world has contributed to the immense amount of suffering in underdeveloped countries.

· VERB + SUFFERING cause (sb), inflict gây ra | increase gia tăng | alleviate, ease, reduce, relieve làm giảm, làm vơi, làm nhẹ bớt These tablets should relieve his suffering for a couple of hours. | endure, experience chịu đựng, trải nghiệm

· PHRASE pain and suffering đầy những nỗi khổ đau/đớn đau His life was one of pain and suffering.



Trịnh Nhật

Sydney, 22.8.2007

khoahoc.net

WLP
09-29-2007, 06:18 PM
Chim có đàn cùng hót…

Qua bài viết lần trước: “Biết ra sao ngày sau?” tôi nhận được phản hồi (feedback) từ Việt Nam, của một nam và một nữ, mà tôi xin ghi ngắn gọn lại như sau:

“Lâu lâu được đọc những bài của anh nên rất thích thú, đặc biệt là tìm thấy được một số “collocations” hay (kết hợp ngữ hay) giữa tiếng Việt và tiếng Anh. Anh có đề cập đến đạo Phật, anh đã đọc tiểu thuyết “Tu Bụi” của Trần Kiêm Đoàn chưa? Tôi mới đọc xong. Ông này dạy ở Mỹ, một người nghiên cứu Phật học từ hồi ở Huế...”

Người viết là một Phó Giáo sư (Associate Professor) Tiến sĩ ngành khoa học, cựu sinh viên “Colombo Plan” du học tại Úc. Sau nhiều năm giảng dạy, quản trị, điều hành giáo dục tại một trường Cao Đẳng/Đại học ở Sài Gòn, nay ông còn làm cơ quan tư vấn (consultancy) cho học sinh/sinh viên Việt Nam nào muốn du học tự túc tại Úc. Ông đại diện cho Trường PNC (University Preparation College), có tên là Trường Cao đẳng Anh ngữ, Quản trị và Công nghệ, trụ sở đặt tại Sydney.

Dưới đây là “meo” (e-mail) tôi trả lời:

“… đã mua cuốn “Tu Bụi” tại Việt Nam giùm cho nữ bác sĩ Lâm Kim Loan, người bạn trong Nhóm Đi Bụi (Bushwalkers’ Group) ở Sydney, và nhân đó cũng mua cho riêng tôi một cuốn. Sách truyện này do NXB Thuận Hoá, Huế phát hành, và in 1000 cuốn tại Xí nghiệp In Công ty Văn hoá Phương Nam, giá 70000Đ một cuốn.

Tôi đã đọc hết cuốn tiểu thuyết dài gần 700 trang. Không phải là tin hết ở Phật Giáo [nhất là về Kiếp sau (after life) và Nghiệp (karma)]. Có điều người viết xem ra có kiến thức khá rộng, không những chỉ về Phật Giáo. Dù gì thì gì, cuốn truyện dài này không phải là dễ nhai/dễ ngốn (not easy to digest), tuy là đã dễ đọc hơn rất nhiều bài viết của những tác giả khác về đạo Phật, dầy đặc những định nghĩa là định nghĩa. Cộng thêm cái “có” “có”, “không” “không” khiến người đọc như tôi dễ bị dị ứng, nhưng cũng có thể đó là lỗi tại tôi, người còn vô minh [= không sáng suốt; ngu tối = ignorance (the lack of wisdom)].”

Ngoài lá thư trên, tôi còn nhận lá thư nữa của một phái nữ:

“Bác sĩ Thái Minh Trung là người bà con của em đó, gửi bài về cho em đem đăng báo “Phật Giáo Giác Ngộ” hoài đó. Không ngờ anh cũng biết chàng ta… Cúc Hương.”

Điện thư tôi viết trả lời:

“Cảm ơn Cúc Hương. Cái hay trong bài của ông này viết là quan niệm "tri và hành". Biết đạo/hiểu đạo là một chuyện, mà còn phải thực hành nữa. Nhiều người cứ nói đạo Phật cao siêu lắm, hay lắm, những vẫn làm những chuyện trái ngược với triết lí Phật dạy, nghĩa là vẫn lo âu, vẫn trách cứ, giận hờn, tâm họ vẫn chưa an. Cúc Huỳnh, nay đã xuất gia đầu Phật, chắc thấu hiểu Phật Giáo nhiều hơn, phải không?”

Cúc Hương có tên họ và chức nghiệp đầy đủ là Bác sĩ Trương Ngọc Cúc Hương, chị cả trong gia đình có bốn chị em gái. Tôi quen biết cả bốn chị em gia đình này từ đầu thập niên 60 (in the early sixties). Một người bạn của tôi, nay ở Mĩ, thân với Cúc Hương hơn. Chúng tôi quen nhau trong tình cảm như anh em hàng xóm (neighbours), vì có người bạn tôi ở gần phòng mạch (doctor’s surgery) của thân phụ các cô là cố Bác sĩ Trương Ngọc Hơn, nằm trên Đường Cống Quỳnh Sài Gòn, gần chợ Thái Bình. Thuở ấy tôi thường vui đùa nhận cô em gái thứ ba, Cúc Huỳnh, làm em gái (as my younger sister), lúc cô mới 10 tuổi. Hai cô kia Cúc Hồng và Cúc Hoàng hiện đang sống tại California., Hoa Kì. Cúc Hồng tốt nghiệp dược sĩ (pharmacist) tại Việt Nam và nay đã lập gia đình cùng một người đồng nghiệp.

Cách nay mấy tháng, đứa cháu gái, người vẫn giúp tôi trong “Dự án từ điển kết hợp ngữ”, (collocation dictionary project) đã từ ngoài Hà Nội vào Sài Gòn lần đầu tiên trong đời để tôi giới thiệu cháu tìm việc làm về vi tính với Đại Học Hoa Sen, nếu cháu thích. Tôi khuyên cháu đi máy bay (vé 1 triệu 500 ngàn = khoảng 120 đô-la Úc) nhanh hơn nhiều thay vì đi tàu hoả/xelửa hay ô-tô, nhưng cháu không nghe tôi, mà đổi ý giờ chót (at the last minute) đi bằng ô-tô/xe đò. Chắc là lặn lội mất hai ngày một đêm. Vào đến Bến Xe đò Miền Đông, Sài Gòn lúc sáng sớm, rồi ngày hôm sau đó nghe cháu nói bị chóng mặt, nhức đầu. Vì cháu ở trọ tại Khu Tây Ba-lô (backpackers’ quarters), Đường Phạm Ngũ Lão, nên tôi đã dẫn cháu tới Bác sĩ Cúc Hương ở Đường Cống Quỳnh, gần đó, để khám bệnh. Bác sĩ gia đình/đa khoa [family doctor/general practitioner (GP)] này nghi là cô cháu tôi bị “rối loạn tiền đình”, nên đã gửi đi (referred) chụp quang tuyến (X-Rays) tại một Trung Tâm Chụp Quang Tuyến đối diện với bệnh viện Chợ Rẫy. Và cháu đã đi theo lời/giấy giới thiệu (referral) của bác sĩ.



Lúc còn ở Đà Lạt hồi đầu tháng 6, 2007, nhân có dịp bàn về chứng “rối loạn tiền đình”, có một ông Cha trẻ người Việt ở Mĩ về chơi, ông đã kể lại một câu chuyện “tếu” bên Mĩ. Sau đó, có lẽ là để trấn an cháu tôi, ông liền cho biết là: “rối loạn hậu đình” mới đáng sợ. Cháu gái tôi có bị chứng bệnh “rối loạn tiền đình” [trouble vestibulaire (Pháp), vestibular trouble (Anh)] này không? Bệnh gì vậy? Triệu chứng ra sao? Chữa trị thế nào? Xin để được hậu hồi phân giải.



Bây giờ thì, Quí Vị Quí Bạn ơi! Tôi xin được nói đến một chuyện “rối loạn” khác xảy ra mới đây tại Úc. Số là: Cứ như lẽ thường thì khoảng chiều Thứ Tư hay chiều Thứ Bẩy, khi có chút giờ rảnh là tôi thường ghé vào TAB (Totalisator Agency Board), một trong những chi nhánh của Nhà nước bán vé đánh cá ngựa, gần nhà để mua vài vé, tiêu khiển đôi ba tiếng đồng hồ. Riêng Thứ Bẩy 25.8.2007 vừa rồi, khoảng gần 3 giờ chiều, tôi tản bộ qua TAB cách nhà chưa đầy 200 thước để “tiêu khiển một vài ‘độ đua’ lếu láo”, thì tôi thấy hiện trường “vắng như chùa bà Đanh”, không thấy mấy bạn tuyệt phích (punters = dân đánh cá ngựa) đâu, nhìn lên trên màn ảnh (monitors) ghi độ ngựa, giờ giấc và giá tiền thì không thấy có ngựa đua mà chỉ thấy giờ giấc cuả những cuộc đua chó (greyhound races) bắt đầu vào sau 7 giờ tối. Tôi vô cùng ngạc nhiên, nhìn quanh nhìn quẩn, định hỏi anh chàng ngồi trong quầy bán vé thì thấy anh đang nói chuyện điện thoại với ai đó, tôi liền quay sang hỏi một ông già đang loay hoay trong tiệm để biết cớ sự (what happened) thì được ông cho biết là ngựa bị bệnh “flu”, nghỉ hết rồi. Tôi không tin mà chỉ nghĩ là ông nói đùa, rồi bỏ về nhà. Đến tối nghe tin tức truyền hình thì mới biết sự thực là có dịch cúm ngựa (equine influenza/horse flu), lần đầu tiên trên đất Úc. Các cuộc đua trên khắp các Tiểu bang, vì thế, đều bị hủy bỏ, chỉ trừ ở Darwin, lãnh thổ Bắc Úc (Northern Territory) là có tổ chức cuộc đua với 5 độ ngựa (horse races) chạy, nhưng ngặt một nỗi là không có tiện nghi điện tử truyền hình để cho dân ghiền ở các Tiểu bang khác chơi trò cá cược/đánh cá (betting).



Thông tin về chuyện “cúm ngựa” và “thiệt hại” về mặt tiền bạc cho kĩ nghệ đánh cá ngựa đua (racing industry) này trong đoản kì (short-term) và trường kì (long-term) tôi xin ghi lại đôi điều làm nền cho bài học tuần này như sau:

Last Saturday TABCORP lost 9 million dollars in revenue (thu nhập hàng năm của Nhà nước) as all race meetings (các cuộc đua) and horse movements (các chuyến di chuyển/chuyên chở ngựa) in NSW were cancelled (bi hủy/bãi bỏ) or suspended (tạm đình chỉ/ngưng), because of equine influenza (cúm ngựa). This disease was allegedly bought into Australia by a Japanese horse who was in quarantine (đang bị kiểm dịch). It appears that quarantine restrictions were breached (bị vi phạm) and as a consequence the horse industry is suffering a tremendous blow (chịu/bị một vố/đòn khủng khiếp).

Equine ‘flu has never been detected in Australia before this and it does not augur well (nó không là điềm/dấu hiệu tốt) for all those people involved in the industry. It has affected the start of horse breeding season (mùa ngựa sinh sản), horse racing and even recreational horse riding (cưỡi ngựa giải trí/tiêu khiển). One of the major impacts is the fact that police horses will not be used for crowd control (kiểm soát/giữ trật tự đám đông/chặn biểu tình phản đối) at the coming APEC meeting in a week’s time. Many people such as jockeys (nài ngựa), bookmakers (bookies = nhà cái bán vé cá ngựa), trainers (người huấn luyện ngựa), apprentices (nài tập sự), strappers (người trông coi ngựa), breeders (người nuôi ngựa lấy giống), pony club and riding school owners, TAB operators, veterinarians, racing officials, and not to forget the general public have been and will be affected badly by this outbreak (dịch cúm này).

It could not have come at a worse time because the Spring Racing Carnival (Lễ Hội Đua Ngựa Mùa Xuân) is one of the biggest events in Australian horse-racing, reason being The Melbourne Cup, one of the richest horse races in the world. As Victoria has, so far, not detected equine ‘flu in its horse stock (trại nuôi ngựa), it could mean that no interstate or overseas horses will be allowed to run, if the Victorian race authorities want to really keep things in check (thật sự chặn đứng.mọi chuyện).

Nói đến chuyện “cúm ngựa” làm tôi nhớ đến một dịch cúm khác là “cúm chim” (avian flu/bird flu) cách nay cũng đã 2 năm. Khi tin tức bằng tiếng Anh về dịch bệnh “bird flu” trên thế giới, khởi đầu từ Trung Quốc rồi lan qua các nước khác, sang cả tới Việt Nam, thì báo chí truyền thanh truyền hình tiếng Việt lúc đầu, với sự dè dặt, thường chỉ dám dịch là “cúm chim”, vì “bird” dịch sát nghĩa là “chim”. Nhưng Tiếng Anh chữ “bird” thật sự là một từ tổng thể (general term/super-ordinate term), có nghĩa rộng hơn, bao gồm cả chim (birds), cả gà (chickens/fowls), cả vịt (ducks) và còn gì gì nữa, nói chung là loại “gia cầm” (poultry = gà, vịt, ngan, ngỗng, gà tây v.v). Báo chí, truyền thông Việt ngữ sau này đã mạnh dạn hơn gọi dịch cúm này là “cúm gà” hoặc “cúm gia cầm”.

Quí Vị Quí Bạn ơi! Qua câu chuyện liên hệ đến chim, đến ngựa, Việt Nam ta có câu:

Chim có đàn cùng hót, tiếng hót mới hay,

Ngựa có bạn cùng đua, nước đua mới mạnh.



Rồi một ngày nào đó, nếu chim không có đàn, ngựa không có bạn, người không có tri kỉ (soul mates), thì chắc cuộc đời chúng ta sẽ “một ngày như mọi ngày”, tẻ nhạt với “nỗi buồn chấu cắn”, phải không, Quí Bạn?
[B]
Trịnh Nhật
Sydney, 29.8.2007



Kết hợp ngữ
(Collocations)

horse noun

ngựa, mã

· ADJ beautiful, fine, good, lovely, magnificent đẹp, tuấn (mã) He was mounted on the finest horse you could ever see. | bay màu đỏ nâu (hồng), black đen, chestnut màu hạt dẻ, grey xám, piebald ô bắc (trắng đen), roan lang (màu nâu với những vệt lông trắng hoặc xám), skewbald vá | thoroughbred (ngựa) đua (thuần chủng, có nòi) | feral, wild hoang | unbroken bất kham, chưa thuần hoá | highly-strung dễ bối rối, nervous, restless bồn chồn, skittish hay lồng, bất kham | frightened, startled, terrified hoảng sợ | placid bình thản, trầm tĩnh | fancied tin tưởng, kì vọng The race organizers became suspicious when the two most fancied horses finished last. | loose xổng, riderless không người cưỡi, runaway xổng Three horses fell when a loose horse ran across the track. | fresh còn khoẻ, còn sung sức They would need fresh horses if they were to reach the border the next day. | lame què | heavy, shire ngựa thồ The brewery had 25 heavy horses delivering beer in London. | riding cưỡi, saddle có đặt yên (ngựa) | carriage, cart kéo xe (also carthorse), draught, dray ngựa kéo (xe chở hàng nặng, thùng bia)| pack bầy | cavalry, police kị (binh), cảnh sát (kị mã) | race đua (also racehorse) | pantomime (ngựa) trong kịch pantômim He got apart as the rear end of a pantomime horse. | rocking (ngựa) gỗ bập bềnh

· VERB + HORSE breed lai giống | get ready chuẩn bị sẵn sàng Get my horse ready and wait for me. | saddle đặt yên lên lưng ngựa lên yên | be mounted on, mount trèo lên lưng ngựa (qua ngả bên trái của con ngựa) | ride cưỡi | lead dẫn (tay nắm dây cương) | brush down, groom tắm, rửa | shoe móng | stable chuồng | handle điều khiển, xử lí She has a knack for handling horses. | ill-treat xử tệ | frighten làm sợ, làm hoảng | hobble, tether buộc chặt, cột chặt | nobble bỏ thuốc mê He was jailed for 15 years for nobbling a horse that had been going to run in the Derby.

· HORSE + VERB canter tế (chạy nhanh hơn nước kiệu nhưng chậm hơn nước đại), gallop (phi/chạy) nước đại, trot chạy nước kiệu, walk đi Several horses trotted past us. | prance lồng lên | run chạy There are ten horses running in the next race. | plod đi uể oải The weary horse plodded up the hill. | neigh hí, snort ngáy, whinny hí | bolt xổng, chạy lồng lên | rear (up) chồm lên (đứng trên hai chân sau), shy nhát, dễ hoảng sợ | plunge nhào, lao The cart overturned, the horse plunging and rearing in its traces. | fall, slip trượt ngã, stumble ngã, té nhào The horse stumbled and threw its rider. | throw sb hất (ai/người nào) | jump nhẩy | pull sth kéo (cái gì) They passed an old horse pulling a cart full of apples. | prick up its ears vểnh tai | graze ăn/gặm cỏ

· HORSE + NOUN box, float tàu/xe chở ngựa The car in front was pulling a horse box. | breeder lấy giống, chăn nuôi dealer lái, buôn bán, lover người yêu thích, owner, rider người cưỡi, trainer người huấn luyện | droppings, dung, manure phân, shit cứt, phân | fair hội chợ, chợ phiên Hundreds of horses are bought and sold at the annual horse fair. | race cuộc đua | racing, riding đua, cưỡi | show, trials He won second prize in a horse show. | trough máng The horse trough was full of stagnant water. | whip roi, roi quất | trading buôn bán (also horse-trading mặc cả/buôn bán khôn ngoan sắc sảo) (nghĩa bóng) political horse-trading khéo điều đình thương lượng về mặt chính trị

· PREP on a/the ~ trên

· PHRASE a horse and carriage/cart xe ngựa, horse-drawn do ngựa kéo horse-drawn vehicles



flu noun

cúm, bệnh cúm

· ADJ mild nhẹ | gastric (cúm) tiêu chảy | summer mùa hè

· QUANT bout cơn, trận, dose trận She's had a nasty dose of flu.

· VERB + FLU be in bed with nằm chịu trận trên giường, be laid up with nằm liệt/chịu trận, have, suffer from bị | catch, contract, get, go down with mắc (bệnh)

· FLU + NOUN bug, virus vi khuẩn, vi-rút | epidemic dịch | victim nạn nhân | vaccine vắc-xin, thuốc trích ngừa | jab trích ngừa



influenza noun

cúm, bệnh cúm

· QUANT attack trận, bout cơn/trận

· VERB + INFLUENZA have, suffer from bị | catch, contract mắc (bệnh)

· INFLUENZA + NOUN epidemic dịch | virus vi khuẩn, vi-rút

WLP
10-14-2007, 03:18 AM
Gieo nhân nào, hái quả nấy

Khi đề cập đến triết lí Phật giáo (Buddhism) trong những bài viết lần trước, tôi có mượn lời Đức Đạt-La Lạt-Ma nói:

Giáo lí cơ bản (the fundamental teaching) của lời Phật dạy là Tứ diệu đế (Four Noble Truths): Khổ đế (there is suffering), Nhân đế (that suffering has cause), Diệt đế (there is cessation of suffering), Đạo đế (there is a path to such freedom).

Tôi còn nói thêm đại loại là:

“Cái hay trong bài viết “Phật giáo, Khoa học và Giác ngộ” của Bác sĩ Thái Minh Trung là quan niệm "tri và hành" (concept of thought and action). Biết đạo, hiểu đạo là một chuyện, mà còn phải thực hành nữa. Nhiều người cứ nói đạo Phật cao siêu lắm, hay lắm, những vẫn làm những chuyện trái ngược với triết lí Phật dạy, nghĩa là vẫn tham lam, lo âu, trách cứ, giận hờn -- tâm họ vẫn chưa an, và vì thế chưa đắc đạo”

Nhưng tôi cũng lại nói:



“Không phải là tôi tin hết ở Phật giáo, nhất là về Kiếp sau (after life) và Nghiệp (karma).”



Theo từ điển BBC English Dictionary, “Nghiệp” được định nghĩa là: “In the Buddhist religion, ‘karma” is the belief that your actions in one life affect all your other lives after that one.” (Trong Phật giáo, ‘karma’ là niềm tin rằng hành động của mình trong một kiếp sống ảnh hưởng đến tất cả các kiếp sống khác của mình sau kiếp sống đó).



Nói một cách khác, nghiệp (karma) là hành động do dục vọng thể hiện mà thành. Nếu hành động xấu (bad deeds) thì con người nhận lãnh lấy hậu quả xấu cuả nó (the consequences of such deeds) và ngược lại, gọi là luật nhân quả hay nghiệp báo (resultant karma), thành ra con người cứ luẩn quẩn trong vòng luân hồi (continually held in the cycle of death and rebirth) không thoát ra được.

Sau những gì tôi nói trong bài viết trước, thì tôi nhận được điện thư (email) khá dài của Bác sĩ Cúc Hương tại Việt Nam, nhưng chỉ xin tóm tắt lại như sau:

“Đạo Phật rất hay và thâm sâu, em đã nghiên cứu từ 1979 đến nay qua kinh sách và thực hành nên có thể trả lời cho anh được tất cả thắc mắc khi anh về Việt Nam. Tạm giải thích vài thắc mắc của anh nêu ra ở đây: Phật chỉ mình cách phát triển tâm linh (how to develop your spiritual mind) đến tột cùng nên rất cao siêu là đúng, nhưng có nhiều tầng bực để thích ứng với từng trình độ, mình sẽ lựa đúng vị trí của mình và từ đó phát triển tâm linh của mình nên rất thực tế và làm được. Ví dụ: trình độ đạo đức (level of moral values/morality/virtues), làm người tốt thì tu 5 giới, đạo đức của bậc tiên thì tu 10 giới, bậc thánh thì 25 giới đến 250 giới vì rất nhiều bậc thánh mà em không nhớ hết tên, và tột cùng là ra khỏi luân hồi thì phải phá được bản ngã và sở hữu, tức là thành bồ tát (bodhisattva = Phật).

Tất cả đều có phương pháp rõ ràng, kết quả rõ ràng nhưng chỉ có người thực hành mới chứng minh được, người ngoài không biết gì cả và không thể đánh giá trình độ của người có chứng nghiệm tâm linh nên mình không nói được ai là thánh, ai là phàm, tu tới đâu.



Đạo Phật rất khoa học vì không có niềm tin mù quáng (blind spots) mà tất cả phải chứng minh bằng thực nghiệm tâm linh. Vấn đề luân hồi cho ra kiếp sau là một sự thật vì rất nhiều người nhớ được tiền kiếp của mình (former/previous life), có sách vở kể lại rất nhiều.



Vấn đề quả báo là luật nhân quả (principle of causality) tự nhiên mà anh thấy khắp nơi trên vật chất: “gieo hạt giống nào thì hái quả đó” (as you sow, so shall you reap). Triết học Mác Lê-nin có nói về qui luật này nhưng chỉ trên dạng vật chất chứ không sâu xa như Phật: nhân + duyên = quả.” Cúc Hương.

Với những nhận định đầy niềm tin của vị nữ Bác sĩ Phật tử này, chắc tôi phải làm một chuyến đi Việt Nam nữa để giải toả mọi “théc méc” còn tồn đọng.



Trong bài viết lần trước tôi có đề cập đến chuyện “rối loạn tiền đình” (vestibular trouble) [từ tiếng Anh này là của Bs Cúc Hương cho], mà cô cháu gái của tôi, bị nghi mắc bệnh. Sau khi cháu đã tìm hiểu qua mạng điện tử thì “Biểu hiện/triệu chứng (symptoms) và nguyên nhân” của bệnh là như thế này:

“Rối loạn tiền đình không phải là bệnh mà là một hội chứng (syndrome), gây nên bởi các tổn thương (injuries) hệ thần kinh, tai, tim mạch, mắt, tâm thần. Ngoài ra, một số trường hợp lại là do thuốc. Bản thân chẩn đoán rối loạn tiền đình không nói lên được vị trí tổn thương và nguyên nhân gây nên nó.

Để có được câu trả lời chính xác, người bệnh cần đi khám chuyên khoa tai, mũi, họng (ear, nose, throat) và thần kinh (nervous system). Đôi khi, để tìm ra chẩn đoán chính xác, bác sĩ còn phải làm các xét nghiệm hình ảnh học như chụp X quang (having an X-ray), CT Scanner (Computerised Tomography Scanner = Máy chụp cắt lớp cơ thể) hoặc phải sử dụng cộng hưởng từ (MRI = Magnetic Resonant Imaging).

Bệnh nhân rối loạn tiền đình thường có biểu hiện chóng mặt. Tuy nhiên, để tiện chẩn đoán và xác định vị trí tổn thương, triệu chứng (symptoms) bệnh thường được chia làm 4 nhóm:

- Chóng mặt (dizziness): Ảo giác về sự di chuyển của môi trường xung quanh hoặc bản thân, thường là cảm giác xoay tròn hoặc bập bềnh. Các triệu chứng kèm theo là buồn nôn, nôn, đổ mồ hôi, mất cân bằng, nhìn mờ. Nguyên nhân là do tổn thương ở dây thần kinh ngoại biên hoặc trung ương của hệ thống tiền đình.

- Ngất (loss of consciousness/fainting): Cảm giác đe dọa mất ý thức hoặc ngất, kèm theo đổ mồ hôi, buồn nôn, nhìn mờ hai mắt thoáng qua. Nguyên nhân là do tưới máu não giảm, gặp trong tụt huyết áp, rối loạn chức năng tim hoặc phản xạ thực vật.

- Mất thăng bằng (loss of balance): Cảm giác không cân bằng, không vững hoặc như say rượu. Nguyên nhân: Mất đồng bộ giữa các thông tin từ tiền đình, tiểu não, cảm giác sâu, mắt, ngoại tháp.

- Chóng mặt không xác định rõ (unexplained dizziness): Cảm giác đầu lâng lâng, nặng hoặc sợ ngã (khác với các cảm giác mô tả ở ba phần trên). Triệu chứng này xuất hiện ở những bệnh nhân có các rối loạn cảm xúc khác như hội chứng tăng thông khí, lo âu, trầm cảm.

Quí Vị, Quí Bạn ơi! Tôi vẫn thường nói: Người nào việc nấy, chó giữ nhà, mèo bắt chuột, ngựa thì ra trường đua (horses for courses). Thế mà, nay “Thầy Giùi” lại quay sang bàn chuyện “Thầy Thuốc” thì quả là “tréo cẳng ngỗng”. Chịu thôi. Em chả, em chả!!!
Bài học tuần này có chủ đề là: “Gieo nhân nào, hái quả nấy” (you reap what you sow) cơ!!! Số là trong hơn tuần qua, tối nào tôi cũng đi ngủ sớm để thức dậy ban đêm hay sáng sớm coi quần vợt (tennis) tranh Giải Vô địch Quần vợt Mĩ Quốc Mở rộng (US Tennis Open Championships) ‘live’ (trực tiếp) từ Flushing Meadows, New York. Tôi mê cái môn thể thao này đã gần trọn cuộc đời mình. Ở Việt Nam hiện giờ, cái môn thể thao được nhiều người ưa chuộng, sau bóng đá/đá banh (soccer), thì phải kể là môn quần vợt. Dân chơi quần vợt nói chung là thuộc loại “giai cấp trung lưu” (middle class) hoặc “giai cấp thượng lưu” (upper class), thường đi xe ‘xịn’: ô-tô, mô-tô, hay gắn máy. Quần áo thì: quần ‘short’ trắng, áo “sport’ trắng, giầy thể thao trắng, có khi mặc áo choàng/gió (jacket) màu sắc, bao đựng vợt thời trang đeo lủng lẳng trên tay lái xe hai bánh.

Xin mượn câu chuyện vui dưới đây về ‘tennis’ mà tôi đã đọc được trên báo mạng ở Việt Nam, rồi chuyển ngữ sang tiếng Anh, đề làm nền cho bài học:


What goes around comes around:
Your tennis racquet strikes back at you

Many people spend their time doing sporting exercises (chơi thể thao). Apart from the majority of people (đa số người) who play tennis to remain healthy (khoẻ mạnh),there are those who pose at playing tennis so much so that they become exhausted (mệt nhoài/mệt lả).

Such a story as this [From Thanh Nien Newspaper (Sunday Edition) in Vietnam] concerns a wife who noticed (đã để ý thấy) that her husband took his racquet (vợt) out nearly every afternoon, and went off (ra khỏi nhà) to play tennis. Sometimes (có đôi khi) he was out until very late into the night (rất khuya), and on his return he always looked haggard and drawn (hốc hác phờ phạc), and certainly not full of the sporting spirit (tinh thần thể thao).

She became suspicious of him, so one day she took his racquet, remodelled it somewhat, put it back in its cover, and then back into his sports bag.

That afternoon, the husband, as usual, took his racquet and off he went. When he came home later that night he boasted proudly (hãnh diện khoe) to his wife:

"I had a most exciting game today darling. I won (thắng) in four straight sets (4 ván liền/không gỡ). Everyone was in awe of (nể sợ) my efforts and so surprised!"

The wife asked: "Did you play with your own racquet?"

Her husband replied: "Why yes, of course. It's the type of racquet that all the professionals (những tay nhà nghề) use. You know that."

Furious, his wife took the racquet out of the bag. Imagine the husband's surprise when he saw his so-called professional racquet had had all the strings cut to pieces (dây vợt đã bị cắt vụn).

Để kết thúc bài học tuần này tôi xin cống hiến Quí Vị một bài thơ “tự trào” như sau:


Sân cỏ quần hùng



Chẳng dài chẳng dẻo cũng chẳng dai,

Lão tướng ra quân chẳng giống ai,

“Reo-li” lên xuống dăm ba cú,

“Xoáy góc” đôi phen đã mệt nhoài.

Hết hơi ông giở trò “bỏ nhỏ”

Tức khí ông liền “thọc nách” chơi.

Hỏi ông cho biết xuân chăng tá?

“Ðơ phoa” tam thập chửa biết già!



MTS (Me The Sun)

Chú thích:

“Reo-li” = rally (cú cù cưa; cú gò; đánh qua đánh lại); “Xoáy góc” = cross-court topspin; “Cú bỏ nhỏ” = drop shot; (có người gọi là ‘cú vắn’); “Cú thọc nách” = passing shot; “Ðơ phoa” = deux fois [= hai lần (tiếng Pháp)]



Trịnh Nhật
Sydney, 5.9.2007


Kết hợp ngữ
(Collocations)

cause noun



1 nguyên nhân

* ADJ real, root, true, underlying thật sự, gốc rễ the root cause of the problem | deeper, greater sâu xa A greater cause for resentment is the discrepancy in pay- | biggest, chief, clear, fundamental, important, main, major, primary, prime, principal, significant quan trọng, chính yếu | common thông thường Smoking is a common cause of premature death. | likely, possible có thể | known được biết, unknown không được biết | direct, indirect | immediate, initial | long-term, short- term | reasonable There is no reasonable cause to suspect an unnatural death. | contributory | hidden | social the social causes of ill health
* VERB + CAUSE discover, find, identify khám phá, tìm thấy, nhận diện đuợc attempts to identify the immediate cause of the breakdown
* CAUSE + VERB be, lie in sth The real cause of the problem lies in the poor construction of the bridge.
* PHRASE cause and effect nguyên nhân và hậu quả, the cause of death nguyên nhân cái chết, due to/from/of natural causes do/bởi tự nhiên He died of natural causes.



2 lí lẽ, lí do

* ADJ good, great, real, reasonable đúng đắn, thật sự, hợp lí
* VERB + CAUSE have có We have good cause to believe that he was involved in the crime. | find The experts may find cause to disagree with the school's decision. | give (sb) cho (ai/người nào) Her health is giving us great cause for concern. | show cho thấy The onus is on government departments to show cause why information cannot be disclosed.
* PREP ~ for để mà There is no cause for alarm.
* PHRASE cause for concern lí do để mà lo âu, with/without good cause có/không có lý do xác đáng, without just cause không có lí do chính đáng



3 mục tiêu

* ADJ deserving, good, just chính đáng, noble cao quí, worthwhile, worthy xứng đáng The money she left went to various worthy causes. | bad, unjust xấu, không đúng | common thông thường, chung The different groups support a common cause. | hopeless, lost vô vọng, thất bại (= one that has failed or that cannot succeed) | humanitarian nhân đạo, social xã hội | communist cộng sản, socialist xã hội chủ nghĩa, etc.

* VERB + CAUSE be committed/sympathetic to thiện cảm với, champion, fight for tranh đấu cho, further, help giúp đỡ, promote cổ động, serve phục vụ, support yểm trợ young men willing to fight for the cause. She was keen to do anything that would further the cause. | take up She has taken up the cause of animal rights. | plead He pleaded the cause of the local fishermen.
* PREP in a/the ~ prominent figures in the socialist cause in the ~ of to disregard the strict letter of the law in the cause of true justice
* PHRASE a cause célèbre một trường hợp nổi tiếng, gây nhiều tranh cãi (= a controversial issue that attracts a great deal of public attention), (all) for/in a good cause The function took a lot of organizing, but was all a good cause.



effect noun


1 hiệu quả, hậu quả



* ADJ decisive quyết liệt, dramatic, far-reaching rộng lớn, important, marked đáng chú ý/đáng kể powerful mạnh mẽ, profound sâu xa, significant, strong mạnh mẽ, quan trọng | marginal, minimal, modest, negligible nhỏ, không đáng kể | chief, main, major, principal chính, to lớn | full toàn diện The full effects of the new tax have not yet been felt. | apparent, appreciable, detectable, discernible, measurable, noticeable, visible rõ ràng | likely, possible, potential có thể có/xẩy ra, predictable, tiên đoán được, probable | subtle tinh tế | disproportionate | residual | adverse bất lợi, catastrophic, crippling, damaging, debilitating, deleterious, destructive, detrimental, devastating, disastrous, harmful nguy hại, ill, negative tiêu cực, serious trầm trọng, traumatic, undesirable, unfortunate bất hạnh the crippling effect of sanctions on the economy. He didn't seem to have suffered any ill effects from his fall. | beneficial, positive, salutary | the desired We had problems with mosquitoes, but this spray had the desired effect. | magical, remarkable kì lạ Giving up smoking had a magical effect on his stamina. | immediate tức thời, trước mắt | direct trực tiếp, indirect gián tiếp | short-term đoản kì, ngắn hạn | lasting, long-term, permanent lâu dài, trường kì, vĩnh viễn | domino, knock-on, ripple, spin-off Any delay in delivery of materials will have a knock-on effect throughout the production process. (see also side effect) | practical thực tiễn, thực tế | aggregate, combined, cumulative, net, overall | qualitative, quantitative | co­hesive | divisive | deterrent, disincentive The deterrent effect of the death penalty has long been questioned, Heavy taxation has a disincentive effect. | calming, hyp­notic, soothing, soporific | curative, restorative, thera­peutic | placebo | inflationary lạm phát | corrosive | greenhouse nhà kiếng policies to reduce emissions of gases which cause the greenhouse effect

* VERB + EFFECT bring about, exert, have, produce gây ra The drug exerts a powerful effect on the brain. | take có, mang lại The medicine started to take effect after a few minutes. | feel, experience, suffer (from) cảm thấy, trải nghiệm, bị/chịu Women feel the effects of alcohol more quickly than men. | recover from | observe | show | assess, determine, estimate, examine, measure, study | ameliorate, cushion, lessen, minimize, mitigate, reduce, soften to minimize the effects of economic change | cancel out | counter, counteract, offset | compound, magnify, maximize | avoid | aim at That is precisely the effect | was aiming at. | be worried about, fear | underestimate | ignore
* EFFECT + VERB spread | last | wear off How soon will the effects of the drug wear off?
* PREP in ~ The border closure meant, in effect, that no trade took place between the countries, to this/that~ They told us to go away, or words to that effect, with ... ~ The plague struck London again with devastating effect. | ~ on/upon The dry weather had an adverse effect on the po­tato crops.
* PHRASE cause and effect nguyên nhân và hậu quả key historical concepts such as cause and effect to little/no effect The air conditioning came on, to little effect.



2 hiệu lực

* ADJ immediate ngay lâp tức, tức thì

* VERB + EFFECT come into The new regulations come into effect next month. | bring sth into, put sth into The recommendations will soon be put into effect.
* PREP in ~ Some laws from the eighteenth century are still in effect, with ~ The bank has cut interest rates with immediate effect.



3 ấn tượng, cảm tưởng

* ADJ dramatic, startling, striking, stunning | maximum, optimum | the desired 1 found that by adding white I could achieve the desired effect. | overall The over­ all effect of the painting is overwhelming.

* VERB + EFFECT give (sth), have The stage lighting gives the effect of a moonlit scene. | achieve, create | en­hance, heighten The dramatic effect was heightened by her black dress and dead white face. | mar, spoil
* PREP. for... ~ 'You know why I’m here? Doug paused for maximum effect, to ... ~ She uses animal sounds to startling effect in her music.


4 kĩ thuật

* ADJ special | cinematic | audio, sound | optical, visual | lighting | elaborate | digital



Trịnh Nhật

WLP
10-22-2007, 03:28 AM
HỌC ANH NGỮ BẰNG TIẾNG VIỆT QUA TỪ GHÉP

Ghi Chú:

-Dấu bằng (=) có nghĩa là liên hệ với, tương đương, gần cận nhau, giống nhau.

-Chữ trong hai gạch nghiêng / / là thanh, thinh, âm, âm vị, chỉ phát âm theo tiếng Việt hay ngoại ngữ.

-Mẫu tự trong ngoặc đơn của một từ có nghĩa là bỏ đi hay câm, ví dụ Anh ngữ cổ brus (breast), vú có b(r)u- = bú, vú (bỏ r hay r câm)….

-Dấu (*) có nghĩa là gốc tái tạo không có trong ngôn ngữ thành văn (written records).

-Tôi chỉ giới hạn vào các nghĩa gốc tương đồng và để qua bên các nghĩa phụ, nghĩa bóng bẩy, nghĩa lóng.

-Tôi dùng từ liên hệ hiểu theo nghĩa tổng quát. Còn liên hệ như thế nào không nằm trong phạm vi bài viết này (sẽ nói rõ trong tác phẩm Sự Liên Hệ Giữa Việt Ngữ và Ấn Âu Ngữ.) Chỉ xin hiểu một cách tổng quát dù là liên hệ qua môi sinh như tiếp xúc, vay mượn, qua trung gian một ngôn ngữ khác hay di truyền (DNA), ruột thịt, máu mủ thì nói chung vẫn là liên hệ. Có sự liên hệ giữa Việt ngữ và Anh ngữ thì sự liên hệ đó cũng đủ giúp ta học Anh ngữ bằng Việt ngữ một cách dễ dàng và ngược lại.

Ở đây chỉ xin rút tỉa ra một ứng dụng, một thực dụng rất hữu ích từ sự liên hệ này là ta có thể học một cách tường tận, dễ hiểu và dễ nhớ tiếng Anh nói riêng và Ấn Âu ngữ nói chung bằng tiếng Việt và ngược lại. Học Anh ngữ bằng Việt ngữ giúp những người Việt nhất là giới lớn tuổi giỏi tiếng Việt có thể dùng tiếng Việt học Anh ngữ và các thế hệ trẻ sinh đẻ ở hải ngoại và các người ngoại quốc giỏi Anh ngữ có thể dùng tiếng Anh học tiếng Việt.

-TTG = Thành Tố Ghép.

......



Từ ghép trong ngôn ngữ Việt là những từ gồm một cụm từ do hai từ trở lên ghép lại, kết hợp lại (nên cũng gọi là từ kết hợp). Từ ghép hay kết hợp có ba từ trở lên như dài lòng thòng, trong leo lẻo, đen thui thủi... Trong trường hợp chỉ có hai từ ghép lại với nhau thôi ta có thể gọi là từ kép hay từ đôi như bạc phai, mỏng dính, tối om... Tôi gọi chung là từ ghép vì ghép có nghĩa là hai (theo gh=k), ghép = kép (hai) và ghép cũng có nghĩa rộng ra chỉ nhiều thứ ghép lại với nhau.

Những từ phụ trong một từ ghép đều có thể coi là những thành tố ghép (TTG, tạo ra từ ghép). Những thành tố ghép này có âm khác với từ chính mà nó ghép với (có thể coi như là từ mẹ). TTG vì thế khác với thành tố láy. Như đã biết thành tố láy có âm là âm láy (âm lai đi) của từ mẹ. Tôi chỉ gọi là từ ghép khi những từ kết hợp lại hoàn toàn khác âm với nhau mà thôi.



Xin lưu tâm:

Từ láy và từ ghép dễ lầm lộn với nhau bởi vì có phần chồng lên nhau (overlapping) của hai loại tiếng này ví dụ phố phường. Ta thấy phố và phường vừa láy âm có thể coi như là hai từ láy vừa là hai từ riêng rẽ vì đứng riêng ra vẫn là hai từ phố và phường có nghĩa riêng rẽ trọn vẹn. Ở đây phố và phường cùng âm, cùng vần ph nên coi như là từ láy. Về nghĩa, thành tố ghép cũng khác. Nghĩa của thành tố ghép theo tính chất âm dương trong tiếng Việt. Có hai trường hợp. Trường hợp thứ nhất, theo âm dương tương hòa, thành tố ghép có nghĩa giống như hay gần giống như từ chính (giống như thành tố láy). Đây là trường hợp từ ghép điệp nghĩa. Ví dụ gà qué: con gà là con qué, ta có gà = qué; ăn hút: hút cũng có một nghĩa là ăn như ăn thuốc = hút thuốc; đớp hít: hít cũng có một nghĩa là đớp, là ăn như hít thuốc = hút thuốc = ăn thuốc. Trường hợp thứ hai, theo âm dương đối nghịch, thành tố ghép có nghĩa khác hay ngược với từ chính. Đây là trường hợp từ ghép nghịch nghĩa. Ví dụ nõ nường, trăng trời, đen trắng, đứng ngồi (không yên)… [đứng là dương, ngồi là âm, điểm này thấy rõ trên trống đồng những người đánh trống (trống có một nghĩa là đực tức dương như gà trống) thường ở vị thế ngồi (âm) và những người giã chầy (dương) vào cối (âm) thường đứng (dương) để cho âm dương hôn phối với nhau mang nghĩa sinh tạo...



Một trong những công dụng của từ ghép hay kết hợp là tạo ra thêm từ mới trong Việt ngữ. Sự cấu tạo thêm từ mới này có thể là lấy từ các gốc, các từ có sẵn của Việt ngữ hay lấy từ các ngôn ngữ khác. Từ mới được cho kết hợp với từ cũ đã dùng quen và biết rõ nghĩa rồi, từ mới dần dần không còn “xa lạ’, ‘khó hiểu’ và được từ cũ đi kèm bên ‘dìu dắt’ đi vào dòng ngôn ngữ Việt không một chút bỡ ngỡ. Trong trường hợp vay mượn từ ngôn ngữ khác, từ mới được từ Việt đi kèm bên dần đà được Việt hóa trở thành tiếng Việt. Từ láy và từ ghép cho thấy Việt ngữ là một ngôn ngữ đa dạng và liên hệ với nhiều ngôn ngữ. Hãy lấy một ví dụ Việt ngữ mỏng. Ta có từ láy mỏng manh với thành tố láy manh chính là Pháp ngữ mince (mỏng). Từ ghép mỏng dính có thành tố ghép dính chính là Anh ngữ thin. Theo qui luật Grimm, d=th, Đức ngữ das, die, der = Anh ngữ the, ta có dính = dín = Anh ngữ thin; từ ghép mỏng tang, mỏng tanh có thành tố ghép tang, tanh chính là Aryan Phạn ngữ tan, mỏng. Ta đã thấy từ láy mỏng manh có thành tố láy manh chính là Pháp ngữ mince. Manh biến âm với mảnh có nghĩa là mỏng, gầy như mỏng mảnh, mảnh mai và có nghĩa là gầy như mảnh khảnh giống như Anh ngữ thin có nghĩa là mỏng và cũng có nghĩa là gầy. Manh, mảnh liên hệ với Latin macer, mảnh, mảnh khảnh, mỏng. Từ ghép mảnh dẻ có thành tố ghép dẻ chính là Quan thoại ngữ (Bắc Kinh) diè có nghĩa là mỏng…



Từ ghép nhìn chung cũng hữu ích như từ láy. Ta có thể dùng từ ghép kết hợp trong công cuộc truy tìm nghĩa, nguồn gốc nghĩa của cổ ngữ Việt và ngôn ngữ loài người.



QUI LUẬT VỀ TỪ GHÉP

Từ ghép là những từ kết hợp với nhau theo âm dương. Có hai trường hợp:

.theo âm dương tương thuận có nghĩa như nhau hay có cùng một gốc nghĩa, tôi gọi là từ ghép điệp nghĩa.

.hoặc theo âm dương đối nghịch có nghĩa đối nghịch nhau theo âm dương, tôi gọi là từ ghép nghịch nghĩa.



Qui luật về từ ghép trong Việt ngữ của Nguyễn Xuân Quang:

Từ ghép trong ngôn ngữ Việt là những từ gồm một cụm từ do hai từ trở lên ghép lại, kết hợp lại. Trong trường hợp chỉ có hai từ ghép lại với nhau thôi ta có thể gọi là từ kép hay từ đôi. Từ ghép có nghĩa theo âm dương. Theo âm dương tương thuận, từ ghép có nghĩa như nhau hay có cùng một gốc nghĩa, tôi gọi là từ ghép điệp nghĩa. Theo âm dương tương phản, từ ghép đối nghịch có nghĩa đối ngược nhau, tôi gọi là từ ghép nghịch nghĩa.



Trong Tiếng Việt Huyền Diệu, tôi đã so sánh TTG với cả ngôn ngữ loài người. Ở đây trong phạm vi bài học Anh Ngữ Bằng Tiếng Việt và Ngược Lại, tôi giới hạn vào TTG của từ ghép điệp nghĩa của Việt ngữ thấy trong Ấn Âu ngữ. Dùng từ ghép của Việt ngữ để học Anh ngữ và ngược lại. Vì phạm vi bài viết, mỗi vần chỉ xin đưa ra vài ba từ.




A



.Ánh sáng

TTG sáng chính là Anh ngữ shine, sáng, chiếu sáng. Shine = /sai/ = sao (sao có nghĩa là sáng, xem chữ star) = sáng. Shine ruột thịt với Phạn ngữ chand, to shine, theo ch=s, chand = sáng.

.Ao đầm

TTG đầm có gốc đa-, nước (đác là nước, sông Đà là sông Nước, Đà Lạt, Đà Nẵng… là vùng sát sông hồ nước) ruột thịt với Anh ngữ dam, đập nước, damp, ướt, ẩm ướt, ẩm thấp.

.Ẩm ướt

TTG ướt chính là Anh ngữ wet, ướt. Theo w=u (Mường ngữ wễ = uế, ô uế), ta có wet = ướt.




B



.Bạc phai

TTG phai chính là Anh ngữ fad, lạt, lợt, phai.

.theo f=ph (fỏng = phỏng), fade = phai.

.theo f=b, fad- = bạc (mầu). Ta thấy rất rõ bạc phếch có bạc = phếch = fade. Phạn ngữ mlai, to fade có -lai = lạt (nhạt, nhạt phai), lợt (nhợt, nhợt nhạt).

.Bén sắc

TTG sắc chính là Anh ngữ sharp, sắc, bén, có sar- (h câm) = sắc.

.Biện bạch

Biện là lý luận như biện luận và bạch là nói, thưa như bạch thầy. TTG bạch chính là Anh ngữ speak, có một nghĩa là nói, lời nói, diễn thuyết. Theo p=b, ta có (s)peak =/pích/ = bích = bạch. Bạch, speak ruột thịt với Phạn Ngữ vach, speaking (nói vanh vách). Ta thấy rất rõ Phạn ngữ vach = bạch (v=b).




C



.Cắt xén

TTG xén chính là Anh ngữ shear, xén (như xén lông cừu, xén hàng rào cây), sắn (cắt) (như sắn ra làm đôi tức là cắt xén ra làm hai). Theo s=c=k, shear = kéo, Hy Lạp ngữ keiro, shear liên hệ với cắt, xén, kéo. Theo s=k, shear liên hệ với gốc tái tạo Ấn-Âu ngữ (Indo-European, IE) *ker-, Anh ngữ cut, Việt ngữ cắt, xẻ, sén.

.Chạm khắc

TTG khắc chính là Anh ngữ carve, khắc, chạm, đục.

.theo c=kh, carv- = khắc.

.theo c=ch, carv- = chạm.

.carve có car- = cắt.

ruột thịt với Phạn ngữ kshad, to carve, ta có kshad = khắc.

.Chợ búa

TTG búa có nghĩa là chợ nhỏ, biến âm với buôn, bản, phố, phường, mường chính là Anh ngữ burg, chỗ ở, thị xã, thị trấn, thành phố như Saint Peterburg, Strassburg, Pháp ngữ bourg như Luxembourg, Scandinavian ngữ bir, bur, chỗ ở, thành phố, Iceland ngữ byr, thành phố, ruột thịt với gốc Phạn ngữ pur-, -pura, chỗ ở, miền, thành phố như Singapura hay Singapore (Thành phố Sư Tử), Manipur. TTG búa chính là Phạn ngữ pur-.

.Cống rãnh

TTG rãnh chính là Anh ngữ drain, rãnh. Với d câm, (d)rain = rãnh hay với r câm, d(r)ain = dãnh.




D

.Dài lòng thòng

Đây là một từ ghép có ba từ. TTG lòng thòng = dài. Thòng là tiếng láy của của lòng (theo biến âm l=th) cũng có nghĩa là dài như thấy qua từ đôi dài thòng. TTG lòng có một nghĩa là dài như lòng thòng, lòng vòng. Lòng với nghĩa là ruột cũng có một nghĩa là dài thấy rõ qua Hán Việt trường là ruột như dạ trường, tiểu trường (ruột non), đại trường (ruột già) và trường cũng có nghĩa là dài như trường giang. TTG lòng biến âm với long cũng có một nghĩa là dài như đi long rong là đi rong đi dài. TTG lòng và biến âm long chính là Anh ngữ long, có một nghĩa là dài, ruột thịt với gốc Ấn Âu ngữ *dloon-gho, dài.

.Dù ô

TTG ô ruột thịt với Anh ngữ awning, Pháp ngữ auvent, vật che nắng, che mưa, có aw-, au- = ô (dù che nắng mưa).

.Dốt đặc

dốt là ngu, tối, tối dạ. TTG đặc chính là Anh ngữ dark, tối.






Đ



.Đâm thọc

TTG thọc biến âm với thọt, thục, thúc, thụt, đục chính là Anh ngữ thrust, thúc, thọc vào, đâm bằng vật nhọn, động tác làm tình của phái nam. Ta có th(r)ust = thục, thúc, thọc. Theo th=đ, thrust = đục, đụ (đụ là do đục cắt bỏ c, Tiếng Việt Huyền Diệu). Việt ngữ thậm thụt có một hàm ý là làm tình như con đó với thằng ấy thậm thụt với nhau (thậm biến âm với đâm, thậm thụt biến âm với đâm thọc).

.Đần đụt

TTG đụt chính là Anh ngữ dud, dở, kém, ngu như I’am a dud at history (tôi là đứa ngu về sử ký), dud chính là Việt ngữ đụt (các cụ ta mắng thằng đụt, sao mày đụt thế), câu Anh ngữ vừa nói nếu hiểu theo nôm na là “tôi là một đứa đụt về sử ký”.

.Đỏ lét

TTG lét chính là Anh ngữ red, đỏ (r=l).

.Đổi trác (chác)

TTG trác hay chác chính là Anh ngữ trade, trao đổi, đổi trác. Buôn bán trade khởi đầu bằng sự đổi chác hiện vật.




G



.Gà qué

TTG qué phải có cùng gốc nghĩa với gà. Từ đôi gà qué với gà= qué. Qué biến âm với que là nọc, cọc, chỉ dương tính, bộ phận sinh dục nam. Con qué là con que, con ke. Ke chỉ bộ phận sinh dục nam (Alexandre de Rhode, Từ Điển Việt-Bồ-La). Con qué, con que, con nọc là con gà đực, gà trống.

Việt ngữ trống là chống (que nâng đỡ), chông (cọc nhọn), trống là đực, nọc (heo nọc là heo đực). Que, chống, chông, nọc (heo nọc), cọc (Quân tử có thương thì đóng cọc, Xin đừng mân mó nhựa ra tay, hay Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không, Hồ Xuân Hương) nói chung là vật nhọn biểu tượng cho bộ phận sinh dục phái nam. Gà trống biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam. Anh ngữ con cock, Pháp ngữ coq, gà trống là con cọc, con cặc. Từ cock, coq chính là Việt ngữ cọc, cặc vì thế cock còn có nghĩa là bộ phận sinh dục nam. Việt ngữ gà là con cà, con kê (chuyện cà kê), Hán Việt kê là gà. Kê biến âm với ke, kè, kẻ, que, qué. Cổ ngữ Việt ké cũng có nghĩa là gà như trói thúc ké là trói ghịt cánh gà. Ta thấy rõ ke = ké = que = qué. Gà trống còn gọi là gà sống mà trống là nọc, là que thì sống cũng phải có nghĩa là nọc, que. Thật vật ta có từ ghép xương sống còn gọi là cột sống (vertebral column). Theo qui luật về từ ghép, cột sống có sống = cột. Cột là cây, là nọc, là que, là qué.

Tóm lại qué là con que, con cọc, con cock, con coq, con ke, con ké, con kê, con cột, con sống, con trống. Gà trống, gà qué biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam.

.Gan dạ

TTG dạ chính là tiền tố Hy Lạp ngữ gastro-, dạ dầy, bao tử,

gastro- có gốc Phạn ngữ gar-, dạ, túi bọc, ví dụ gastro-, dạ dầy, Phạn ngữ garbha, the womb, dạ con. Gốc Phạn ngữ gar- = jar- = dạ (xem jar-). Dạ dầy là chiếc túi đựng thức ăn. Nên biết dầy ở đây không phải là dầy mỏng. Dạ dầy không phải là chiếc túi dầy, túi mỏng. Dầy nói trại của từ đẫy là chiếc túi, bọc bằng vải. Dạ dầy là dạ đẫy, chỗ ruột giống như một chiếc túi, chiếc đẫy chứa thức ăn. Ta có một loài chim có chiếc bìu rất lớn gọi là chim già đẩy, thật ra tên nó là chim dạ đẫy tức chim có chiếc túi bìu như cái đẫy. Gốc Hy Lạp gastro- (dạ dầy) liên hệ với gar- jar: dạ con, túi đựng con cho thấy rõ như hai năm là mười là dạ dầy là chiếc túi đựng thức ăn, là dạ đẫy. Anh ngữ maw chỉ một chiếc túi đựng thức ăn trong dạ dầy nhiều túi của loài nhai lại. Maw liên hệ với Việt ngữ mo là cái bọc, cái bao như mo nang là cái bọc hoa cau (Mường ngữ nang là cau).

.Gặt hái

TTG hái chính là Anh ngữ harvest, hái, gặt, gặt hái, thu hoạch. Harvest có

.har- = hái, hoạch (thu).

.theo h=g (hồi = gồi), har- = gặt.




H



.Hôi tanh

TTG tanh chính là Anh ngữ stink, hôi tanh, hôi thối. Từ stink có thể lấy theo âm (s)tink và âm s(t)ink.

1. lấy theo âm –tink: -tink = tanh, tanh tưởi, hôi tanh.
2. lấy theo âm s(t)inh = sink = xình (thối), xác chết xình

thối, xình lầy (xình là bùn hôi thối).

.Hầu bao, hồ bao

TTG bao chính là Anh ngữ pouch, bao, bào, bọc, túi. Theo p=b, pouch = /pao/= bao (túi, bị), bào, liên hệ với Anh ngữ pocket, Pháp ngữ poche, bọc, bao, túi, bị (người Trung gọi túi áo là bị). Ta có poc- = bọc.

.Hèn mọn

Hèn mọn là hèn hạ và nhỏ mọn, nhỏ nhen. TTG mọn chính là Anh ngữ mono-, một, mỗi, mọn. Mọn là ít, nhỏ; nhỏ mọn, ruột thịt với mean, nhỏ mọn, hèn hạ, đê tiện và với small, nhỏ, bé, vụn vặt, nhỏ mọn, với Đan Mạch smaa, Thụy Điển smà là small.




I



.Im lìm.

TTG lìm liên hệ với Anh ngữ sleep, ngủ, có –lee- liên hệ với li, hàm nghĩa ngủ như ngủ li bì tức ngủ say, với Phạn ngữ ni là ngủ, ni = li (bì), ni = nghỉ (nghỉ có một nghĩa là nằm, ngủ). Tiếng miền bắc miền Trung lú là ngủ:

Gió mùa thu mẹ ru con lú.

(ca dao)

Từ lú (biến âm với li, ni), ngủ cũng có nghĩa là mê (đánh thuốc mê là đánh thuốc ngủ), mê man liên hệ với ngủ say như lú lẫn, cho ăn cháo lú. (S)leep = lịm, mê, mê man liên hệ với ngủ như nó lịm người đi. TTG lìm biến âm với lịm, li, li bì, ni, lú. Ngủ liên hệ với chết như an giấc ngàn thu và chết, ngủ hàm nghĩa lặng, yên, im như yên nghỉ ngàn đời. Ta cũng thấy với l câm, lìm = im.

.Ỉu thiu

như bánh mì để lâu bị ỉu thiu. TTG thiu chính là Anh ngữ stale, thiu. Stale có -tale = thiu.




K



.Kêu gào

TTG gào ruột thịt với Anh ngữ howl, hú, hét, gào, thét. Theo h=g, howl =/hao/ = gào. Theo g=s=sh, gào = Anh ngữ shout (/sao/), la lớn, hò hét, kêu gào.

.Ký lục

TTG lục (Hán Việt) là biên chép, ghi vào sổ như ký lục, mục lục, mạn lục, tạp lục. Lục chính là Anh ngữ log. Ngày xưa ghi lại sự việc bằng cách khắc trên cây cọc, cây nêu, thân cây, tấm ván, tấm bảng (xem Học Anh Ngữ Bằng Các Từ Vi Tính).

.Khám xét

với nghĩa là khám, TTG xét chính là Anh ngữ check, xét, soát (lục soát, kiểm soát), sát (thị sát), theo ch=x (chef = xếp), check = xét. Check, xét liên hệ với Phạn ngữ chaksk, to see và với caksus, eye.




L



.Lạnh cóng

TTG cóng ruột thịt với Anh ngữ cold, lạnh.

.Lăn lộn

TTG lộn chính là Anh ngữ roll, lăn, lộn (r=l).

.Lăn lóc

TTG lóc chính là Anh ngữ rock, lắc, lay, ruột thịt với roll như thấy qua cụm từ rock and roll và qua từ láy lăn lóc, ta có lăn = lóc = roll = rock. Ngoài ra rock còn có nghĩa là đá, cũng đi đôi với lăn lóc như thấy qua câu ca dao:

Gió đưa hòn đá lăn cù,

Con chị có thiếu thì bù con em.

và qua tên ban nhạc The Rolling Stone.

.Lừa phỉnh

TTG phỉnh chính là Anh ngữ feign:

1.phỉnh, phỉnh gạt, phỉnh phờ, giả bộ, giả vở, giả đò, làm bộ, to feign death, giả vờ chết.

2. phịa ra, bịa ra, bày chuyện, đặt chuyện.

3. giả mạo, ngụy tạo (văn kiện).

.feign = phỉnh, phờ, phỉnh phờ (theo ph=v như phành ra = vành ra, ta có phờ = vờ).

.theo f=b, feign = bịa.

.theo f=ph, feign = phịa (ra).




M



.Mập phì

TTG phì ruột thịt với Anh ngữ fat, mỡ, mập, phì.

-theo f=ph: theo mặt chữ hay theo âm Việt, fat = phát. Hai từ phát phì nếu coi là hai từ đi riêng rẽ thì phát là động từ có nghĩa là trở thành, trở nên như phát tướng, còn coi như là hai từ láy hay hai từ ghép thì ta có phát = phì. Trong trường hợp sau này ta có phát = phì = Anh ngữ fat. Ta thấy:

-fat = phì (phì lũ, béo phì, mập phì, phát phì).

-fat = pháp, phốp (phốp pháp).

-fat = phệ (béo phệ), bụng phệ. Theo ph=x, phệ = xệ, mập trông thấy xệ ra, xã xệ là ông xã mập. Xã xệ và lý toét là ông xã mập và ông lý ốm.

-theo f=m, fat = mập, từ láy mập mạp có thành tố láy mạp = fat. Fat = mẫm (béo mẫm), mụ mẫm, bụ bẫm.

.Muông thú

Muông có một nghĩa chỉ thú vật, Mường ngữ mong, thú vật. Theo qui luật Grimm th=d (=z), TTG thú = dú =/du/ = zoo, sở thú.

.Mường bản

TTG bản, buôn biến âm với búa (chợ), phủ, phố, phường, chính là Anh ngữ burg (xem từ ghép chợ búa ở trên).




N

.Nóng hốt

TTG hốt chính là Anh ngữ hot, nóng.

.Ngọt sắc

TGG sắc cũng có nghĩa là ngọt, sắc chính là Anh ngữ sugar, Pháp ngữ sucre, Tây Ban Nha ngữ suca, đường.

.Ngọt sớt

TTG sớt chính là Anh ngữ sweet, ngọt.

.Nhẩy phốc, nhẩy phóc

TTG phốc, phóc chính là Anh ngữ frog, ếch. Con ếch có một nghĩa là con nhẩy (xem Con Cóc Là Cậu Ông Trời).

.Nhẩy tót

TTG tót chính là Anh ngữ toad, con cóc. Con cóc có một nghĩa là con nhẩy.




O



.Ốm yếu

TTG yếu chính là Anh ngữ ill, ốm, yếu, đau yếu, ill = yếu (đau yếu).




P



.Pháp luật

Pháp là phép, phép tắc, lề lối, luật lệ ruột thịt với luật như pháp đình, pháp lệ, pháp lý. TTG luật chính là Anh ngữ law, luật, lệ, lề, lối, ruột thịt với Pháp ngữ loi. Các nhà tầm nguyên ngữ học Tây phương cho rằng law liên hệ với lie, “nằm”, “laid down”, “đặt nằm xuống” hàm nghĩa “đã vạch định ra” hay “cố định”. Các tác giả này hiểu law liên hệ với lie, nằm vì cho rằng law ruột thịt với Phạn ngữ ni có nghĩa là nằm, ngủ. Việt ngữ nghỉ, nằm, ngủ cũng phát gốc từ Phạn ngữ ni. Phạn ngữ ni = nghỉ (nằm nghỉ cũng hàm nghĩa ngủ). Tuy nhiên, Phạn ngữ ni còn có thêm một nghĩa nữa (có thể là hai từ ni đồng âm dị nghĩa) là ni tấc, mực thước, kích thước như lấy ni may quần áo. Ta thấy rõ law = luật, lệ, lề (lối), Pháp ngữ loi = lối. Law loi = lề lối. Anh ngữ law, Pháp ngữ loi, Việt ngữ luật, lệ, lề (lối), nề nếp phát gốc từ Phạn ngữ ni, có thể hiểu theo Việt ngữ là ni tấc, mực thước, nề nếp, lề lối haỳ hiểu theo Tây phương ni là lie, nằm, đúng hơn có lẽ phải hiểu theo laidown với nghĩa là nền tảng, nền móng. Ta thấy Phạn ngữ ni với nghĩa ni tấc biến âm với nề (giấy rách phải giữ lấy nề), nề nếp, nền nếp, lề lối, lệ (lệ làng), Hán Việt lý (pháp lý) có vẻ hữu lý hơn là ni với nghĩa là “nằm”, nghỉ. Một lần nữa cho thấy ta có thể học Anh ngữ bằng Việt ngữ một cách tường tận hơn.

.Phí tổn

phí chính là Anh ngữ fee, phí, lệ phí, phí tổn, tốn phí, học phí, tiền công, tiền thưởng và tổn chính là Anh ngữ toll, tiền lệ phí, mãi lộ, Anh ngữ có từ toll free, miễn lệ phí, miễn lộ phí.

.Phố tỉnh

TTG tỉnh ruột thịt với Anh ngữ town, thành phố, thành thị, tỉnh, thành tỉnh, tỉnh lỵ. Theo biến âm kiểu tỉnh táo, ta có tỉnh = táo = town (/tao/). Phạn Ngữ sthâna+ka, town có –thâna- = thành (tỉnh).




Q



.Quan sát

TTG sát ruột thịt với Anh ngữ see, sát, xét, xem xét, nhìn, thấy, trông, ngó, chộ (phương ngữ Huế), thăm, nom, gặp, viếng (người nào); sát, xét, xem = see, ruột thịt với Phạn ngữ chaksk, to see, với shas, caksus, mắt.

.Què cụt

TTG cụt có nghĩa liên hệ với què như cụt chân hàm nghĩa què chân. Cụt có một nghĩa là ngắn như áo cụt, quần cụt biến âm với cộc (áo cộc, quần cộc). TTG cụt liên hệ với Anh ngữ short, Old Norse, Icelandic skorta, Old High German scurz, Latin curtus, Pháp ngữ court, Phạn ngữ krdhuh, cộc, cụt, ngắn. Short phiên âm thành soóc, soọc (quần soóc, soọc). Theo s=sh=c, short = soọc = cộc. Pháp ngữ court, Latin curtus = cụt. Đức ngữ (s)cur- = cụt.

Với nghĩa cụt là ngắn, từ ghép què cụt cho biết người què chân có một chân ngắn. Ngoài ra cụt còn liên hệ với cắt như thấy qua từ ghép cắt cụt (theo qui luật từ ghép, ta có cụt = cắt). Với nghĩa cắt này, cụt chính là Anh ngữ cut, cắt và què cụt có nghĩa là người có một chân bị cắt (cụt).

.Quê mùa.

Quê chỉ chỗ ở vùng cao đồi núi. Quê biến âm với quẻ, que, kẻ có nghĩa gốc là cây, cọc, con cọc (hươu) có một biểu tượng cho núi (Núi Trụ Chống Trời, Núi Trụ Thế Gian). Kẻ là chỗ ở và cũng chỉ người ở vùng cao, vùng núi hay thuộc tộc Hươu (Kì Dương Vương) như Kẻ Sặt (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc). Theo qui luật từ ghép đồng nghĩa, TTG mùa phải có cùng nghĩa với quê: quê = mùa. TTG mùa ruột thịt với gốc pur-, chỗ ở, phố, chợ, mường, bản buôn, búa (chợ) như Singapura hay Singapour là Thành phố Sư Tử. Quê mùa chỉ thôn dã, dân dã, mộc mạc. Ta thấy rất rõ mộc mạc ruột thịt với cây, ki, kì, kẻ, que và dĩ nhiên liên hệ với quê, quê mùa.




R



.Ràng buộc

TTG buộc chính là Anh ngữ bound, bind, buộc, bó, ruột thịt với Phạn ngữ pac, to bind, bound, theo p=b, pac = buộc.

.Rậm rật, rậm rựt

No cơm ấm cật, rậm rật tối ngày.

(tục ngữ)

có rậm = Phạn Ngữ ram, làm tình (xem chữ này) biến âm với Việt ngữ đâm (đâm, đục, thục, thúc, thrust chỉ động tác làm tình), với Hán Việt dâm. TTG rật biến âm với rựt chính là Anh ngữ rut (thời kỳ động cỡn, nứng của cừu, hươu, dê đực). Rật, rựt biến âm với dật. Từ ghép rậm rật biến âm với dâm dật.

.Rực rỡ

TTG rỡ chính là Anh ngữ red, đỏ, đỏ hoe (tóc), cực tả (chính trị). Mầu đỏ gọi theo mầu mặt trời, đỏ là tỏ (sáng, mặt trời).

Red liên hệ với rực, rỡ, rạng, rạng-rỡ (liên hệ với mầu mặt trời), Nam Đảo ngữ *rara, ‘red’, Pháp ngữ rouge, đỏ có ro- = rỡ, rou- = rực (đỏ rực), rỡ (rực rỡ); russe, hung đỏ có rus- = rực. Phạn ngữ ruc, shine (rực sáng), ranj, đỏ (ranj = rạng), rohita, đỏ, liên hệ với rohit, mặt trời, có ro- = rỡ. Gốc tái tạo IndoEuropean (IE) *reudh-, đỏ.


S

.San xẻ

TTG xẻ chính là Anh ngữ share, /xe/, san xẻ, chia xẻ, chia, phân chia, phần chia, cổ phần. Theo âm /se/ = sẻ, xẻ, chia xẻ. Theo mặt chữ share = san như san ra làm hai, san sẻ.

Ngôn ngữ người Việt hải ngoại ở những vùng nói tiếng Anh có từ “se phòng” cùng nghĩa với “sẻ phòng”, “san phòng”, chia phòng.

.Sáng láng, sáng lạn

TTG láng, lạn chính là Anh ngữ light, ánh sáng, sự soi sáng, chiếu sáng, lửa (xem lighter)… Theo biến âm kiểu lai láng, ta có /lai/ = light = láng. Light, lai, láng, lạn, lửa liên hệ với Latin lux, ánh sáng, Phạn ngữ ruck, to shine, chiếu sáng, gốc Phạn ngữ ruk, luk, chiếu sáng. Gốc Phạn ngữ luk = lửa. Phạn ngữ ruck, gốc ruk = rực (rực sáng, rực rỡ, rực lửa).

.Sưng phồng

TTG phồng chính là Anh ngữ puff có một nghĩa là phồng, phùng, phình, thổi phồng (quảng cáo láo, tin láo), theo p= ph, puff = phồng.




T



.Thăm viếng

TTG viếng ruột thịt với gốc Anh ngữ vid-, vis- (tiền tố Latin), viếng, xem, nhìn ví dụ như video, vis-à-vis, visit, view, vân vân. Video có tiền tố vid-, viếng, xem.

.vid-, vis- = viếng (xem).

.theo v=m, vid-, vis = mắt.

.view, nhìn, xem, mục, viếng, cảnh, liên hệ với Pháp ngữ vue, voir, Latin videre, Tây Nha ngữ ver, gốc Phạn ngữ wid, to see, observe, to know (thấy là biết), IE *weid, see. Ta có view = viếng = vọng (Hán Việt), lầu vọng nguyệt là lầu nhìn, ngắm trăng.

.Thề thốt

TTG thốt chính là Anh ngữ talk, nói như thốt ra lời.

.Thù hận

TTG hận chính là Pháp ngữ haine, Anh ngữ hate.




U



.Úa héo

TTG héo chính là Anh ngữ wilt, héo tàn. Theo w=h, (Mường ngữ wễ lan = huệ lan), wil- = héo. Theo w=u (Mường ngữ wể = uế, ô uế), wil- = úa.

.Uốn cong

TTG cong chính là Anh ngữ curve, cong, đường cong, quẹo.

.curve có curv- = cong, cong cớn, ruột thịt với Phạn ngữ krunch, to curve có k(r)unc- = cong, với gốc tái tạo PIE *ker-/*k’or-/*k’r, to twist, vặn, to turn, bẻ quẹo, to bend, uốn cong...

.Ướt sũng

TTG sũng chính là Anh ngữ soak, sũng nước, thấm, nhúng, ngâm, đẫm nước, sấp (nước, nhúng nước như bánh tráng sấp nước).




V



.Vang động

TTG động ghép với vang (tiếng) liên hệ với tiếng, âm thanh. TTG động chính là Anh ngữ tone, Pháp ngữ ton, tiếng, âm, âm điệu, thanh, thanh điệu, thinh. Theo t=đ, tone = ton = động = đổng, đông đổng (nói), Phù Đổng là ông tạo ra tiếng động và nổi dông nổi gió tức ông Sấm Dông (Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt).

.Vá mạng

TTG mạng chính là Anh ngữ mend, mạng, ruột thịt với gốc Phạn ngữ wa, wad, wadh, wi, to bind, plait, weave. Phạn ngữ wa = vá và wi = víu (nhíu), ta có từ đôi vá víu. Mạng và vá họ hàng với nhau.

.Vùi dập

Có nghĩa đen là vùi lấp (theo d=l, dập = lấp), chôn, thường dùng với nghĩa bóng chỉ sự phá hoại đời phụ nữ như vùi dập đời hoa. Với nghĩa sau này, TTG dập có nghĩa là giao hợp. Theo d=l, dập = lắp, giao hợp (Alexandre de Rhodes, từ điển Việt Bồ La), theo d=t, dập = Anh ngữ tup (cho thú đực nhẩy cái như cừu đực nhẩy cái chẳng hạn). TTG dập chính là Anh ngữ tup (tupped, tupping).




X



.Xa lìa

TTG lìa chính là Anh ngữ leave, rời bỏ, lìa bỏ, phân ly, ly khai. Ta có leave = /li/ = ly (Hán Việt) như ly hương (rời bỏ quê hương), ly cách, chia ly, ly khai.

.lea- = lìa, lìa bỏ, lìa xa.

.lea- = lơi (bỏ lơi), theo l=r, lea- = lơi = rời.

.Xanh mét

TTG mét biến âm của vert có nghĩa là cây xanh trong rừng, mầu ve, mầu xanh ve, ruột thịt với verdancy, mầu xanh của cây cỏ. Mầu ve phiên âm Pháp ngữ vert, Tây Ban Nha ngữ verde, Latin viridis, màu xanh lá cây, liên hệ với cổ ngữ Anh wise, mầm, cọng cây. Theo v=m, vert-, verd- = mét (xanh) như xanh mét, tái mét, men mét (hơi xanh). Theo v=b, verd-, vert = biếc (xanh) như mắt biếc.

.Xoay vần

TTG vần chính là Anh ngữ vert, có nghĩa là:

1. vần (vần là xoay như vần tảng đá, vần xoay, chuyển vần), vặn, xoay, quay, xoay, trở hướng, đổi, chuyển hướng, nhìn qua.

2. người bỏ đạo, trở đạo (bỏ đạo này qua đạo khác).

Latin versus, vặn, quay, trở, đường đi, hàng lối. Versus quá khứ phân từ của vertere, vặn, quay, trở, liên hệ với gốc Phạn ngữ wart, war, to turn. Ta thấy rất rõ Phạn ngữ war- = vần

.vert có ver- = vần (xoay), vẹo, vặn (qua).

.theo v=qu, ver- = quẹo (qua).

.theo v=qu=c=s=x, ver- = xoay.




Y



.Yêu quái

quái có một nghĩa là quỉ quái, quỉ quyệt. Với nghĩa này, TTG quái liên hệ với Anh ngữ weird, kỳ quái, quái dị. Theo w=qu (Mường ngữ wál = quá, nhọc wál = nhọc quá), ta có wei- = quái.


BS Nguyễn Xuân Quang@khoahoc.net

WLP
10-28-2007, 05:26 AM
Thủ tục đầu tiên

Qua một vài bài viết trước đây, tôi nhận được hai í kiến phản hồi, thuộc loại “ủng hộ gà nhà”, “chị hát em khen hay”, một từ Đan Mạch và một từ Hoa Kì.

Phản hồi số 1 đã tóm gọn:

“Cám ơn bài viết rất hấp dẫn của anh. Anh có cái dí dỏm trong lời văn của mình, là điểm mà độc giả rất yêu thích. Bài viết của anh khi nào cũng thực dụng lại vui vẻ, hóm hỉnh, thì bà con đọc bài của anh coi như ‘chết bỏ’. Uyên Hạnh.

Với bút hiệu Uyên Hạnh, chị chính là người đẹp Đoàn Thị Đoan Trang (nhà thơ, nhà văn, nhà giáo) gốc Huế, cư ngụ tại Đan Mạch (Denmark), một trong những thành viên nòng cốt (one of the key members) trong Ban Biên Tập (editorial staff) của Trang Mạng (Home Page) www.khoahoc.net bên Đức (Germany), mà tôi đã đóng góp bài viết từ hai năm nay. Cám ơn chị đã cho biết bà con độc giả sẵn sàng “chết bỏ” (= đến chết thì thôi/chết cũng cam/đành lòng), nhưng còn cá nhân chị thì sao? “Chết” hay “bỏ”?

Phản hồi số 2 nguyên văn:

“Hi Gs Trịnh Nhật. Đã nhận được bài số 25. Vui lắm. Hơn tuần nay tôi cũng coi tennis ‘mệt nghỉ’. Về chuyện Giáo Lý Phật, tôi không hiểu "Nhân đế" có đúng hay không? Lâu nay tôi chỉ đọc thấy Tứ Diệu Đế (hay Tứ Thanh Đế) là Khổ, Tập (như Tập Luyện, Tập Tành), Diệt và Đạo. Many thanks. Ân”



Kí giả/Phát thanh viên Thiên Ân (God’s blessings) là đồng nghiệp cũ (former colleague) của tôi tại BBC Luân Đôn, vào những năm đầu thập niên 80, nay anh cư ngụ tại Oklahoma, Hoa Kì. Tôi nghĩ anh thích bài tôi viết, có lẽ chủ yếu là do anh đọc câu chuyện vui (joke) về chiếc vợt ‘tennis’: “What goes around comes around” (gieo nhân nào, hái quả nấy), và bài thơ tự trào “Sân cỏ quần hùng”. Anh coi ‘US Open Tennis Championships’ ‘mệt nghỉ’ là điều tôi hiểu được, vì đã có thời kì anh lo “Tạp chí Thể thao” (Sports Magazine) hàng tuần của Chương Trình Việt Ngữ Đài BBC phát về Việt Nam. Lanh lợi, hấp dẫn, lưu loát không kém gì cố kí giả/phóng viên thể thao Huyền Vũ tường thuật đá banh (soccer). Đẹp trai, trẻ trai hơn (ông Huyền Vũ thôi), và còn sinh tiền (= sống) là cái chắc. Về chuyện chính danh của Tứ Diệu Đế hay Tứ Thanh Đế (The Four Noble Truths), tôi đã đọc thấy cả hai, còn “Tập” thay vì “Nhân đế” thì tôi xin “dựa cột mà nghe”. Có điều sách tôi tham khảo là: Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, của Trần Ngọc Thêm (Phó Giáo sư Tiến sĩ, du học ở Nga cơ đấy), NXB TP. Hồ Chí Minh, 1996 và The Art of Living: A guide to contentment, joy and fulfillment (Nghệ thuật sống: Sách chỉ dẫn cách sống sao cho được mãn nguyện, hân hoan, và trọn vẹn), của His Holiness the Dalai Lama, HarperCollins Publishers, 2001, nên cũng không đến nỗi nào.

Từ nhiều năm nay tôi đã nguyện với mình là ‘gạt hết ưu phiền để sống vui”, theo như lời khuyên của Đức Đạt-La Lạt-Ma (His Holiness the Dalai Lama), Giáo chủ Phật giáo Tây Tạng:



“Tôi tin rằng mục đích chính yếu (the very purpose) của cuộc sống chúng ta là tìm hạnh phúc (to seek happiness). Điều đó thật rõ ràng. Cho dù ta có niềm tin tôn giáo hay không (whether one believes in religion or not), cho dù ta tin vào tôn giáo này hoặc tôn giáo khác, chúng ta đều đang đi tìm một cái gì tốt đẹp hơn trong đời (something better in life). Cho nên, tôi nghĩ, cái chuyển động chính (the very motion) của cuộc sống chúng ta là tiến đến hạnh phúc… Và hạnh phúc có thể đạt được qua việc tập luyện cả tâm lẫn trí (heart and mind)…Bằng cách tạo dựng một kỉ luật nội tâm nào đó (a certain inner discipline), chúng ta có thể biến đổi được thái độ (attitude) và lối sống (approach to life) của mình.”



Không còn nghi ngờ gì là tôi đã và đang luyện tập “cả tâm lẫn trí” để kiếm tìm hạnh phúc, bởi vì nói chung không phải “một sớm một chiều” (overnight) mà có được hạnh phúc. Tôi đã trải nghiệm thấy mình có thể đổi tiêu cực thành tích cực, đổi chuyện buồn thành vui, bi quan thành lạc quan. Hạnh phúc: được hay không tìm được là đều do mình suy nghĩ, đều do ở trong đầu mình (happiness is all in your mind). Chuyện “sinh (birth), lão (aging), bệnh (sickness), tử (death)”, theo như Phật dạy, có thể chỉ nên coi như chuyện tự nhiên trong trời đất.

Trong tinh thần ấy, tôi mới viết vài dòng “meo”(email) “chia buồn”, sau khi nghe tin một chị bạn trong Nhóm Đi Bụi(Bushwalkers’ Club)

của chúng tôi mất Mẹ, không bao lâu sau ngày Lễ Vu Lan. Cụ Bà 90 tuổi thân sinh của chị đã “thanh thản” đi vào cõi vĩnh hằng, sau một

thời gian dài lâm bệnh:

“Gửi Loan Mắt Nhung. Ngồi bên nhà cháu Phước [cách tệ xá (my humble abode) chừng 3 phút lái xe], ăn bún măng vịt, uống nước

trà, ăn bánh nướng Trung Thu (moon cake), và nghe chương trình phát thanh Việt Ngữ tối Chủ Nhật của SBS Radio Melbourne,

có Nguyễn Đình Toàn nói về nhạc sĩ Y Vân. Được nghe một số bài hát, đa số là điệu "rumba", trong đó có bài “Thôi em đừng khóc

nữa làm gì!”, sau đó là bài “Lòng Mẹ”, điệu “slow” (xi`-lô), thấm thía ơi là thấm thía. Chợt nhớ tới Kim Loan [Golden Phoenix (GP)]

liền gọi điện thoại nhà, điện thoại "mobile" để chia sẻ (chia sẻ cái gì Bố ai mà biết được?), mà không có

điện thoại nào trả lời. Buồn 5 phút! Khóc ít thôi nhe LMN, kẻo mắt mờ, ướt thẫm mi em…MTS.”



Cụ Bà Phương Thể Vân, đã chọn giữa đỉnh cao Hội nghị APEC, giữa dư âm giọng hát ‘tenor’ (giọng kim) cao vút của LucianoPavarotti

mà đi. Tôi nghĩ tang quyến của Cụ có lí do mãn nguyện là ở chỗ đó.



Trở lại với Thiên Ân và chuyện ‘tennis’ Đại Giải (Grand Slam) Vô địch Mở rộng Hoa Kì (US Open Championships). Thiên Ân coi tennis

“mệt nghỉ” [= mệt mà không nghỉ (coi hoài)], còn tôi xem tennis “mệt ngủ” (= mệt thì ngủ), vì ở Sydney tôi thường xem trực tiếp (live)

vào đêm khuya. Tiếng Việt ta nó hay là ở chỗ đó: “nghỉ” hay “ngủ” đi với “mệt” trong trường hợp này không đồng nghĩa với nhau.

Cũng nhân xem “tennis” mà tôi học được hai từ vốn đã cũ (old words/terms) nay được dùng trong ngữ cảnh mới (new context). Đó là từ

“to challenge” (động từ) và từ “hawk- eye”(danh từ).



Theo Từ điển BBC English Dictionary thì: ‘to challenge’ được giảng nghĩa là: If you challenge ideas or people, you question their truth,

value, or authority (Nếu mình ‘challenge’ í kiến/đề nghị gì của ai hay cá nhân người nào, mình “chất vấn” tính chất xác thực, giá trị hay

thẩm quyền của í kiến/đề nghị đó, của người đó).



Còn “Hawk-Eye” (danh từ) thì vẫn chưa thấy có trong từ điển tiếng Anh, kể cả từ điển BBC English Dictionary mà chỉ thấy từ “hawk-eyed”

(tính từ), được giảng nghĩa là: Someone who is hawk-eyed has very good eyesight and seems to see absolutely everything that is

happening [Ai mà “hawk-eyed” thì họ có thị lực rất/vô cùng tốt (= thật tinh mắt) và không chừng có thể nhìn thấy từng li từng tí mọi chuyện

đang xảy ra]. Cũng xin nói thêm ở đây “hawk” có nghĩa là “chim diều hâu”, “chim ưng”, nổi tiếng là có mắt nhìn rất tinh.



Trong môn “tennis” (quần vợt) hiện thời người ta đã dùng “Hawk-Eye” để kiểm chứng/kiểm tra xem trái banh/quả bóng rơi/rớt trong sân/

trên lằn vạch kẻ (= In) hay ra ngoài sân/ngoài lằn vạch kẻ (= Out), khi đấu thủ (player) nghi ngờ trọng tài biên/trọng tài chính

(linesman/chair umpire) trông lầm, nên đếm sai. “Hành động” đòi cho máy điện tử coi/duyệt lại (electronic review), tức là dùng “Hawk-Eye”

quyết định kết quả “In” hay “Out”, được gọi là “challenge”. Vậy thì khi đấu thủ nói: “Challenge!”, ta có thể dịch trong ngữ cảnh tiếng Việt là:

“Xin cho máy kiểm tra!”.



Mắt diều hâu điện tử này đã được chính thức áp dụng vào năm 2006, trong Đại Giải (Grand Slam) Vô địch Quần vợt Hoa Kì Mở rộng như

được ghi nhận dưới đây:



“In 2006 the US Open Tennis Championships became the first grand-slam event to use the system during play, allowing players to

challenge line calls (cho phép đấu thủ ‘đòi máy kiểm tra lại’ quyết định đếm điểm của trọng tài).”



Giải Quần vợt Hoa Kì Mở rộng, năm nay 2007, lại về tay Roger Federer, cây vợt số một hoàn vũ, người Thuỵ Sĩ, khi anh hạ Novak

Djokovic, hạng 3 trên thế giới, người Serbia, trong 3 bàn trắng, nhưng thật gay go, với tỉ số 7-6, 7-6, 6-4. Như thế, Federer đã thắng liên tục

4 lần giải này. Về phía nữ thì Justine Hennin, cây vợt số 1 hoàn vũ, người Bỉ, đánh bại Svetlana Kuznetsova, xếp hạng hạt nhân số 4

(fourth-seeded), người Nga, với tỉ số 6-1, 6-3. Cô Hennin, 25 tuổi, thắng giải này lần thứ 2. Lần thứ nhất là năm 2003.

Quí Vị, Quí Bạn ơi! Nói chuyện quần vợt, với tôi, thì “mệt nghỉ”. Bài học tuần này của chúng ta là “Thủ tục đầu tiên” cơ, cơ, cơ!!! Tại sao lại

“đầu tiên?” Số là: Chuyến về Hà Nội năm 1991, lần đầu tiên sau 36 năm, lúc còn dạy tại Đại học Miền Tây Sydney, để dự Hội Nghị

(Conference) về “Ngôn ngữ và Phát triển”,và trình bầy đề tài “Translation Practice in Australia: A Vietnamese Perspective”, tại Khách sạn

nổi SàiGòn (Saigon Floating Hotel), tôi đã ghi lại đôi điều trong chuyến ra Hà-Nội như sau:

“When we passed through some residential areas, I saw at least three billboards advertising the virtues of Bún Chả Chó (Rice Vermicelli

with Barbecued Dog Meat). Luckily, my Australian colleagues travelling with me on the bus didn't ask for a translation. A moment later,

the tourist guide, Hoa, announced that we were about to come to the Long Bien Bridge over the Red River. The water of the river

was described as having a reddish colour, but I didn't see it as such.



As we drove on I noticed that a lot of brick houses were being built. A popular spoonerism (nói lái) in Vietnamese [đầu tiên

(the first thing) vs tiền đâu (where's the money?)] came suddenly to my mind. Rumours have it that in any dealing with government

officials at all levels, to get anything done, the first thing one should ask oneself is whether one can afford (liệu có thể trả được)

"under the table" payments (tiền trà nước/tiền hối lộ/tiền phong bì). When we arrived at the hotel, Viên, a solicitor friend from Sydney,

who had recently arrived from Bangkok, was waiting for me. Quang, a cousin of mine, had left me a message with his telephone

number at the hotel reception desk, I knew then he'd called with my sister Nhan as they were expecting me on the earlier flight.”

(Trích trong “Hanoi: My Fond Memories”, Frank Trinh, June 1991 , < vny2k.com > San Francisco)

Câu chuyện tôi kể dưới đây có trong một bối cảnh khác, là lúc tôi làm thông dịch ở bót/trạm cảnh sát (police station) cách đây ít lâu. Thông thường khi cảnh sát điều tra về số tiền mặt lớn (cash in excess) tìm thấy trong nhà, trong xe, hay trong người của một người bị câu lưu/ tạm bắt/tạm giam (arrested/in police custody) để lấy lời khai (take a statement) trước khi họ có thể truy tố người đó (lay charge against them/him/her) ra Toà, thì câu hỏi mà cảnh sát thường hỏi nghi can (suspect) là: “Where does the money come from?” (Tiền đó ở đâu ra vậy?). Câu trả lời của đối tượng bị tình nghi thường là: “Đó là tiền hụi!” hay “Đó là tiền hốt hụi!”. Là thông dịch viên (interpreter), nếu không chuẩn bị trước, chúng ta có thể dễ bị lúng túng khi được cảnh sát yêu cầu giải thích về cái trò chơi văn hoá liên hệ đến tiền bạc loại này.



Thật ra, thì cảnh sát họ cũng có thể có những tài liệu, thông tin nói về “hụi”, nhưng họ có nhớ không, có sẵn để tham khảo không lại là một chuyện khác. Sở dĩ tôi nói thế là vì vào cuối Tháng Giêng và đầu Tháng Hai năm 1991, khi có cuộc Hội thảo Huấn luyện của Cảnh sát (Police Officers’ Training Workshop) về Giao tiếp trong bối cảnh văn hoá khác biệt (Cross-cultural communication) tôi được mời nói chuyện tại Sydney Police Centre (Cơ Quan Trung Ương Cảnh sát Sydney) về văn hoá Việt Nam, trong đó tôi trình bày về ngôn ngữ không lời (non-verbal communication/body language) và về Chơi Hụi/Chơi Họ (The ‘Hui’ Scheme). Luật sư Trần Hữu Trung, hiện viết Trang “Pháp Luật Giải Đáp”, cho tuần báo Dân Việt, có thể chứng giám cho tôi là “nói sự thật” vì hồi ấy ông còn làm nhân viên liên lạc của cảnh sát (police liaison officer) tại Đồn Cảnh sát Cabramatta.



Chuyện ngôn ngữ không lời tôi xin được hẹn lại một dịp khác, bài học tuần này tôi xin bàn về chuyện Chơi Hụi/Chơi Họ mà tôi đã trình bầy tại cuộc Hội thảo của Cảnh sát cách nay đã hơn 15 năm, lâu hơn quãng đời “đoạn trường” của nàng Kiều:




The "Hui" Scheme

Translators have used terms such as "money club", "money game", "mutual loan club", "Chinese banking" or "common fund plan" to translate "hui". The loan-word "tontine" from French is also used. However, the French term in this context does not appear to have the idea of 'life expectancy' or 'survival' as the English word "tontine" does.

"Hui" or tontine is a very convenient scheme for raising capital (gây vốn) and saving money (tiết kiệm/để dành tiền). In the olden days, when the Vietnamese banking system was still something new and under-developed, "hui" was quite popular with the common people. Even after arriving in Australia, where the banks usually have loan requirements (nhu cầu/đòi hỏi để cho vay tiền) and borrowing procedures (thủ tục vay mượn tiền) that are difficult to comply with (khó mà theo được), Vietnamese refugees (người tị nạn Việt Nam) have continued to favour this common fund plan (môn chơi hụi/quỹ chung này).

Indeed, not only businessmen (doanh gia) but wage-earners (người kiếm lương tuần) often subscribe to this scheme (chơi kiểu hụi/kế hoạch này), buying one or more than one tontine share (phần hụi). Thanks to this capital-raising device, many people have been able to launch new business ventures and others have been able to solve urgent financial problems (giải quyết khó khăn khẩn cấp về tiền bạc). But it has also reduced many to tears (làm nhiều người khóc hận) after all of their savings (tiền dành dụm của mình) had gone straight into a swindler's pocket (túi của tên lừa đảo/bịp bợm). In Australia, tontine is not recognized as a legitimate common fund plan (không được coi là kế hoạch gây quỹ hợp pháp) and victims of fraudulent devices (nạn nhân của trò gian lận/lừa lọc) are not likely to be protected by the law (không chắc/không có cơ may được luật pháp bảo vệ).

Let's see how this scheme operates (kế hoạch chơi hụi này hoạt động ra sao). For clarity's sake (để cho đuợc rõ ràng/dể hiểu), I would like to divide (chia) the scheme into three phases (3 giai đoạn) depending on (tuỳ theo) who will benefit (sẽ được hưởng lợi) from this scheme at each phase.

Phase 1: The "Hui" Master Phase (Giai đoạn Chủ hụi thâu hụi)

[For the benefit of the "hui" master]

A. The First Month (Tháng Đầu tiên)

1. The "hui" master starts his or her scheme by inviting family and friends (mời người trong gia đình và bạn bè) to subscribe to it (e.g. 12 subscribers (hụi viên).

2. He/she issues a "contract" (hợp đồng) specifying:

(i) the nominal value of each share, say $500

(ii) names of shareholders (cố đông/con hụi)

(iii) the times and dates for monthly meetings (e.g. over a 12-month period)

(iv) the master (chủ hụi) collects a share from each subscriber (hụi viên)
(e.g. $500 x 12 = $6,000).

(v) the master then has an interest free lump sum (trọn gói không phải trả lời/lãi), [including his or her own share: $6,000].

Phase 2: The Bidder Phase (Giai đoạn hụi viên bỏ hụi)

[For the benefit of a subscriber who needs money at this stage]

B. The Second Month (Tháng Thứ Nhì)

1. Attendance at this meeting would be the 3 or 4 subscribers who need money almost straight away (cần tiền liền).

2. They then cast a secret ballot (bỏ hụi kín), each offering an amount of interest (đề nghị món tiền trả lời/lãi) [e.g. $48, $46, $50].

3. The person who offers the highest bid (đề nghị bỏ giá cao nhất) [$50] is the successful bidder (người hốt được hụi).

4. The master then collects a full share (trọn phần tiền đóng hụi) less the amount of interest (trừ tiền lời/lãi) from each subscriber [11 x ($500 - $50) = $4,950], and adds to this amount (cộng thêm vào số tiền này) his/her full share of $500 to make a total of $5,450.

5. The master then hands this sum (đưa số tiền này) to the successful bidder.

6. As from the third month (tháng thứ ba) the successful bidder (người hốt được hụi) begins contributing $500 per month until the scheme finishes (hụi chấm dứt/hết).

Phase 3: The Non-bidder Phase (Giai đoạn của hụi viên không bỏ hụi)

[For the benefit of subscribers who don't need money urgently (không cần tiền gấp) and just want a saving scheme (chỉ muốn để dành/tiết kiệm tiền)]

C. The Last Month (Tháng Cuối Cùng)

1. The last non-bidding shareholder is the beneficiary of all non-bidding shares (người được hưởng tất cả những phần tiền không bỏ hụi).

2. He/she has been contributing a monthly payment which is $500 less the bid for each month, except for the first month and the last month.

3. Finally he/she receives an amount of $6,000. His/her interest is the sum total of all monthly bids (Tiền lời của họ là tổng cộng số tiền của những người bỏ hụi hàng tháng).



Trong mười mấy năm qua cộng đồng tị nạn Việt Nam ở Sydney đã kinh qua (experienced) ít ra là 3 vụ giựt hụi. Gần đây nhất là một vụ gây xôn xao như rừng gặp bão, nghe nói lên đến 9 triệu đô Úc. Nghĩ cho cùng, nguyên nhân là do “lòng tham” (greed). Lòng tham của chủ hụi [muốn ‘ẵm đi’ (abscond) một món tiền ‘kếch xù’], lòng tham của con hụi [muốn ‘ngồi mát ăn bát vàng’, được ‘mớm’ lãnh tiền lời ‘khẩm’ một vài tháng]. Nguyên nhân cũng là do “lòng tin bị lợi dụng.”



Quí Vị, Quí Bạn thân thương ơi! Tôi không hoàn toàn tin “[luật pháp (law) là công lí (justice)]”. Tôi cũng không hoàn toàn tin là có sự ‘quả báo nhãn tiền’ trên đời này. Ở đây, và trong trường hợp này, tôi chỉ có thể kết luận là “khôn sống mống chết” mà thôi!



Trịnh Nhật

Sydney, 12.9.2007




[B]Kết hợp ngữ
(Collocations)

procedure noun
thủ tục, thể thức

· ADJ complex, complicated rắc rối, phức tạp, nhiêu khê | simple giản dị, dễ hiểu straightforward không khúc mắc, đâu ra đó | correct đúng, normal thông thường, proper, đúng đắn, chính xác standard tiêu chuẩn, chuẩn mực usual thông thường There are standard procedures for dismissing staff. | agreed, established được đồng thuận, chấp thuận, đồng í, ấn định | special đặc biệt | administrative hành chánh, appeals kháng cáo, application áp dụng, assessment đánh giá, complaints khiếu tố, khiếu nại, court toà án, criminal hình sự, disciplinary kỉ luật, emergency khẩn cấp, parliamentary quốc hội, safety an toàn, scientific khoa học, selection lựa chọn, surgical giải phẫu, phẫu thuật a minor surgical procedure

· PROCEDURE + NOUN adopt, follow, use chấp thuận, áp dụng, theo, dùng Did you follow the emergency procedure when you heard the alarm? | establish ấn định, thiết lập A straightforward complaints procedure must be established from the outset.

· PREP under a/the ~ theo under a procedure established by legislation | ~ for cho, về việc the correct procedure for hiring staff

master noun

1 người phụ trách, người cầm đầu

· ADJ political chính trị His political masters are all old right-wing politicians.

· PREP ~ of He wants to be master of his own destiny.



2 người thành thạo/có kĩ năng

· ADJ acknowledged được công nhận/thừa nhận, great tài hoa, giỏi This portrait is the work of an acknowledged master.

· MASTER + NOUN builder công nhân xây dựng/xây cất, craftsman thợ thủ công

· PREP ~ of a master of disguise

· PHRASE be a past master at/in/of sth rất giỏi/thành thạo/tinh tường về cái gì (= to be very good at sth) He's a past master at delaying meetings.



3 bằng Phó Tiến sĩ, bằng Cao học

· VERB + MASTER'S do, study for, take học, lấy He did a Master's at Hull University. | get được, lãnh She got her Master's last year.

· MASTER + NOUN degree bằng, bằng cấp

· PREP ~ in a Master's in politics

WLP
11-09-2007, 02:58 AM
Vòng vo tam quốc

Cái thú của người viết văn, viết báo thời nay (mordern-day), thời đại @ (a còng), thế giới ảo (cyberspace) là tính chất phố biến chóng vánh tác phẩm của mình. Loạt bài ANHMV (‘Learning English Can Be Fun’ Series) của tôi có 2 chỗ được dùng làm “đất dụng võ”, quốc nội (in-country) có tuần báo Dân Việt (Úc), quốc tế (out-of-the-country) có www.khoahoc.net (Đức). Cứ bài viết ra mắt trên báo giấy (newspaper) tuần này ở “Australia”, thì sau đó ít lâu lại xuất hiện trên báo mạng (online) ở “Germany”. Còn gì thú vị cho bằng!!! (What a feeling!)



Cách đây không lâu tôi viết vài hàng gửi Ban Biên Tập (Editorial Staff) báo Mạng bên Đức:


“Đã đọc báo mới!!! Đầy đủ mọi chuyện khoa học, y học, văn chương, thi phú, vi-tính, nghệ thuật... Đến hẹn lại lên... Gửi anh PT và 2 chị UH và BV bài viết cho Báo Nhà, để khi thuận tiện lên Mạng. Danke.”



Thì sau đó nhận được thư của anh Chủ Bút:

Cám ơn anh TN gửi bài. Nhờ bài vở hay giá trị nên năm nay < www.khoahoc.net > mình lên dễ sợ lắm, không tưởng tượng nổi: Nguyên năm 2006 có 1.101.601 eindeutige Besucher (visits) đến 14 tháng 9, 2007 này đã có 1.046.583 eindeutige Besucher (visits) hy vọng đến cuối năm sẽ có được 1.500.000 “visits”. Quý vị thấy có OK Salem chưa ? PT.



Thư đáp lời là của một chị trong cùng Nhóm, sống ở Mĩ, vùng sa mạc Arizona:

Congratulations! … còn nhớ ngày nào chỉ ước mơ có 100.000 độc giả không?... Bây giờ đến như thế là một “kỳ công” của Đại Gia Đình khoahoc.net…TH.



Và của một anh trong cùng Nhóm, cũng ở Mĩ, chuyên viết những bài, thuộc loại “vi-tính thực hành, thực dụng”:

“Con số 1 triệu rưỡi người viếng thật là ngoài sức mong ước. HCD.”



Riêng tôi, được “meo” (email) của một nữ độc giả ở Úc “truy cập” (gained access to) bài viết của tôi từ xa:

Đọc bài anh viết, thấy anh nói về Đạo Phật. Quả đây lại là một nhân duyên. Từ lâu rồi tôi muốn tìm hiểu Đạo Phật mà duyên chưa đến, cho đến khi má tôi nằm bịnh viện được một tháng, thì tôi tình cờ gặp được một Tăng Thân trong nhóm Thầy Nhất Hạnh rủ tôi đi dự “Lễ cài bông Hồng.” Sau đó tôi cảm thấy duyên với Đạo đã đến, không những chỉ đến mà rộng mở và rạng rỡ vô cùng. Đêm nay thao thức nhớ Mẹ. Lại đọc được bài của anh nói về Tứ Diệu Đế. Khổ và Diệt khổ. Tham Sân Si. Lại thêm đề tài tình yêu, và những phản ứng khi tình yêu không được đáp trả theo ý muốn. Sau khi đọc bài anh, tôi phản ứng bằng “Một hơi hít vào rất nhẹ. và một tiếng thở ra rất dài. Ý nghĩa của hai hơi/tiếng thở này, chắc anh dư thừa trí tuệ để hiểu. Một lần nữa chân thành cám ơn anh. Anh đã lót thêm một viên gạch trên đuờng bước vào Đạo của tôi. GP.



Tôi đã trả lời thư của chị như sau:

Tu cũng có 5, 7 đường tu. Cuộc đời phải biết “sướng” biết “khổ”. Có cái “sướng” thì cứ việc “hưởng, hưởng, hưởng!!!”. Khi cái “khổ” đến, mình phải chuẩn bị tinh thần để “diệt, diệt, diệt!!!”…, xong lại “sướng, sướng, sướng” tiếp tục... Không có gì phải sợ, phải đi tìm niềm yêu thương cao vời, thoát tục. Nhớ rằng “mỗ” (I, me, myself) không tin có kiếp sau (after life) đâu nhé!!! Chỉ có kiếp này thôi!! MTS.



Tôi viết cho chị trong “í nghĩ nổi loạn” (rebellious idea) nẩy sinh trong tôi qua việc đọc truyện “Tu Bụi” (= Tu trong cõi bụi trần) của Trần Kiêm Đoàn. Truyện kể về một người phụ nữ đẹp, tài hoa, đa năng, đa hiệu và một hoàng thân quí tộc, trí thức, tài ba, học rộng hiểu nhiều, hai người gặp nhau, mến phục nhau, yêu nhau tha thiết, da diết, say đắm trong cơn cuồng loạn xác thịt, kiểu “anh trao của kia, em chìa của nọ”, “tình mình lên cao vút.” Thế mà… rồi khi nàng đi công tác xa ít lâu, “chàng” trong tinh thần “từ bi hỉ xả” (love/compassion) nào đó đã chọn lựa một “tình yêu cao vời”, thuộc loại Niết bàn (Nirvana), cố diệt điều mà ông nghĩ là sẽ gây phiền não, nên tìm cách cố quên nàng đi trong “mối tình trần tục”, “đời thường”.



Chúng ta hãy nghe một đoạn đối thoại sau đây của hai nhân vật có tên là Trí Hải và Ba Gấm:

“Anh ơi! Anh có thể bỏ tất cả (could thorw everything away), nhưng sao anh nỡ (but don’t you care) lại bỏ em mà đi . Em đi Hàng Châu về thì anh đã đi rồi. Ông cụ Phạm Xảo, thầy Tiều cũng chẳng biết anh đi đâu. Em và người nhà em phải dọ hỏi (had to ask here and there) hơn cả tháng trời (weoo over one month) mới biết là anh đã lên núi này tu tiên. Em thương anh, em nhớ anh chết được (I missed you so much that I could have died for you). Thôi, thôi bỏ hết, về lại với trần thế này (discard everything and come back to Earth), về lại với em đi anh.



Trí Hải cười vô tư lự trả lời

- Đâu cũng là sông núi quê mình, huynh đi quanh cho biết đó biết đây chứ có đi đâu mà “bỏ”!



Ba Gấm giận dỗi một cách hồn nhiên (naturally sulked):

- Coi kìa! Bỏ nhà, bỏ cửa, bỏ em, bỏ hết đằng sau để đi tu tiên, tu đạo… mà không phải là “bỏ” đó sao?



Trí Hải lại cười. Vẫn với giọng nhẹ nhàng:

- Hì, hì! Huynh chỉ đi tìm một chút yên tĩnh thoải mái (to find some peace and relaxation) nơi chốn rừng ít bụi bậm này thôi chú có tu hành gì đâu.

- Thôi, cứ cho là vậy đi cũng được đi. Em tin. Nhưng để em xem thử huynh có gì thay đổi không đã.



Ba Gấm vừa nói vừa dang ra xa nhìn âu yếm Trí Hải (stepped back and looked lovingly at him) từ đầu tới chân (from head to toe). Cứ mỗi lần quan sát là một câu bình luận:

- May quá! Chưa đổi thật (you haven’t changed really). Đầu vẫn còn tóc nguyên vẹn này. Áo quần sờn vai sứt chỉ cả rồi, nhưng vẫn là bộ quần áo cũ nầy.



Trí Hải vẫn tươi cười im lặng. Vẻ mặt an nhiên nhìn Ba Gấm đầy thân thương, nhưng bằng đôi mắt thương nhìn cuộc đời, nhìn vẻ đẹp của non nước và mây trời.



Ba Gấm nhìn sâu vào đôi mắt Trí Hải (looked deeply into his eyes), dừng lại rất lâu không chớp mắt (without blinking) rồi từ từ nhắm mắt lại (then slowly closed her eyelids). Khi giọt nước mắt vừa long lanh trên khoé mắt vừa ứa ra (When her glistering tears welled up), Ba Gấm kêu lên, giọng thương yêu, ngọt ngào mà đau xót:

- Anh ơi! Anh không nhìn thấy em đứng bên anh đây sao? (My sweetheart! Don’t you see me standing here beside you). Đôi mắt anh vẫn chứa cả một trời yêu thương nhưng ánh mắt hào hoa lãng mạn đâu rồi (but where is the look of romantic love)? Ánh mắt yêu đương nóng bỏng và cuốn hút đậu trên mắt em, trên môi em, trên ngực em, trên thân thể của em đâu rồi? Nhìn sâu trong mắt anh (When I look deep into your eyes), em thấy mình đã mất hẳn trong thế giới của anh. Em cần anh, em cần anh thương em (I need your love), em muốn anh ôm em như ngày xưa. Em không chịu nổi nữa rồi (I can’t stand it anymore). Em sắp ngã đây (I feel like I want to faint). Ôm em đi anh. Ôm em vào vòng tay của anh đi. (Please take me in your arms).”



Câu chuyện cứ thế mà tiếp diễn, để cuối cùng, Trí Hải nói:

“…Anh cũng trân trọng, ngây ngất, cảm động trước vẻ đẹp (your beauty), nhưng chỉ muốn tôn xưng và ca ngợi của vẻ đẹp. Anh không còn muốn nhổ bật gốc vẻ đẹp ra khỏi bản thân của nó, để đem về cất giữ, làm thoả mãn lòng ham muốn ích kỷ của riêng mình (to satisfy my own selfish crave). Cũng vì không có lòng riêng nên cảm xúc không còn giới hạn trong mối tưong quan Ta và Người. Cầm bàn tay búp măng đẹp tuyệt vời của em trong tay anh (Holding your elegant beautiful hands in mine), anh muốn quỳ xuống (I want to get down to my knees) hôn bàn tay em (and kiss them) như hôn một đoá sen vừa mới nhú (a newly-bloomed lotus flower) ra khỏi bùn thơm ngát …”



Ông Trí Hải ơi!!! Xin ông nhường cô Ba Gấm này lại cho tôi. Tôi sẽ thay ông lo cho cô ta… Ông nhé!



Quí Vị, Quí Bạn thân thương của tôi ơi!!! Bài học tuần này của chúng ta là “Vòng vo tam quốc” cơ! Lối giao tiếp ưa tế nhị khiến Việt Nam có thói quen giao tiếp “vòng vo tam quốc” (beating about the bush) , không bao giờ mở đầu trực tiếp, nói thẳng vào vấn đề như người phương Tây.



Trích đoạn bài viết về “giao tiếp xã hội” của học giả/tác giả Trần Ngọc Thêm (do tôi chuyển ngữ) nay được dùng làm nền cho bài học tuần này:

Traditionally, Vietnamese people, on initiating a conversation in the social context, ask about material things (vấn xá cầu điền) such as your home, garden, or your property. Also, then to lead into a more congenial atmosphere, they offer “area nuts and betel leaves as a starter” (“miếng trầu làm đầu câu chuyện”). In these times, however, the ‘areca and betel’ has been replaced with a cup of tea, cigarettes or beer, etc…



In order to gain more knowledge, the speaker would ask: “Your parents are in good health, are they?” (Các cụ nhà ta vẫn mạnh giỏi cả đấy chứ?), or to know if a woman is single or married, the question would be: “If your are late getting home, will your hubby grumble?” (Chị về muộn thế này liệu anh nhà (hay ông xã) có phàn nàn không?)



These “beating about the bush” conversations are linked to the need to know more about the other parties, and are a way of greeting that Vietnamese have a habit of doing. They ask questions instead of greeting, for example: “Where are you going?” (Bác đi đâu đấy?) or “What are you doing? (“Cụ đang làm gì đấy?”), where normally it could just be a simple “Hello” or “G’day.” as Australians would do.



Modern-day practice however has developed to the point where people do not want an answer, but are happy for the other person to answer: “I’m going there for a little while.” (Tôi đi đằng này một cái”), or they answer back with the same question asked of them: “Cụ đang làm gì đấy? (What are you doing?). Answer: Vâng! Bác đi đâu đấy? (Yes! Where are you going?).



Trong phần mở đầu câu chuyện “Người Việt dễ thương” đăng trên báo điện tử Cánh Én bên Đức, mấy năm trước đây, tác giả Việt Hà viết:

“Người Việt ta chưa có thói quen nói “cảm ơn” nhau—“cảm ơn” chưa trở thành phổ cập, mặc dù biết “cảm ơn” đúng lúc, đúng chỗ sẽ làm cho kẻ đối diện cảm thấy vui vẻ, hài lòng thậm chí cảm thấy dễ dãi, độ lượng hơn.”



Học giả Trần Ngọc Thêm, trong cuốn “Tìm về Bản sắc Văn hoá Việt Nam”, cũng viết:

“Do truyền thống nặng nề về tình cảm và tính linh hoạt nên người Việt Nam không có một từ “cảm ơn, xin lỗi” khái quát có thể dùng chung cho mọi trường hợp như người phương Tây. Cũng như trong xưng hô, đối với mỗi người ta có một cách xưng hô khác nhau, thì trong việc “cảm ơn, xin lỗi”, mỗi trường hợp có một cách “cảm ơn, xin lỗi” khác nhau.”



Quí Vị Quí Bạn thân thương của tôi ơi! Quí Vị có biết người Việt mình dùng kiểu nói gì, trong trường hợp cá biệt nào, để diễn tả tiếng mẹ đẻ thay cho “Thank You” và “Sorry” không? Nếu biết, xin cho một vài thí dụ. Tôi chắc Tuần Báo Dân Việt sẽ sẵn sàng hưởng ứng cuộc “Đố Vui Có Thưởng” này. Nhà giáo, nhà báo Lưu Dân có chịu OK Salem không đấy?



Trịnh Nhật

Sydney, 19.09.2007


Kết hợp ngữ
(Collocations)

communicate verb

thông tri, truyền đạt, liên lạc, giao tiếp, nói chuyện, trao đổi/diễn tả (bằng lời nói), thông hiểu, hiểu được

· ADV clearly rõ ràng, minh bạch effectively hữu hiệu, successfully thành công, mĩ mãn, well giỏi | directly trực tiếp | easily dễ dàng| verbally bằng lời By the age of two most children have begun to communicate verbally. | electronically bằng điện tử

· PREP by bằng We usually communicate by letter Chúng tôi thường liên lạc bằng thư từ/thư tín, through qua We communicated through an interpreter Chúng tôi liên lạc/nói chuyện qua một thông dịch viên/phán dịch, to She is unable to communicate her ideas to other people Cô ta không diễn tả được ý tưởng cuả mình cho người khác hiểu, with với couples who communicate well with one another những cặp vợ chồng họ thông hiểu nhau.

communication noun

1 hành động/sự/việc thông tri/truyền đạt/liên lạc/giao tiếp

· ADJ effective hữu hiệu, good tốt Good communication is important for business Việc giao tiếp tốt quan trọng cho kinh doanh. | poor tồi, dở | direct trực tiếp | open cởi mở, thông thoáng | two-way hai chiều, qua lại | interpersonal tương tác, giữa người với nhau | regular thường xuyên, đều đặn | electronic điện tử, non-verbal không lời, bằng cử chỉ/điệu bộ/vẻ mặt, verbal, bằng lời nói written bằng chữ viết, trên giấy tờ | business kinh doanh, công chuyện, công ăn việc làm.

· VERB + COMMUNICATIONS have có I haven't had any communication with him for several years Tôi đã không liên lạc gí với hắn từ nhiều năm nay. | establish thiết lập, thành lập | facilitate làm dễ dàng, improve cải tiến, cải thiện, trau dồi | prevent ngăn cản, cản trở measures which prevented the prisoners' communication with the outside world những biện pháp ngăn cản không cho tù nhân liên lạc với thế giới bên ngoài.

· COMMUNICATION + VERB break down bị/làm gián đoạn, bị/làm đứt đoạn, bị/làm ngắt quãng Communication between the two sides has broken down Liên lạc giữa đôi bên bị gián đoạn.

· COMMUNICATIONS + NOUN skills năng khiếu | breakdown gián đoạn

· PREP in ~ with trao đổi ~ đều đặn We are in regular communication with the kidnappers Chúng tôi trao đổi thông tin đều đặn với những tên bắt có người. | ~ between gìữa to establish direct communication between the lookout towers thiết lập liên lạc trực tiếp giữa những tháp canh. ~ by bằng communication by letter ~ with với We need better communication with clients Chúng tôi cần sự liên lạc tốt hơn với khách hàng/thân chủ.

· PHRASE a breakdown in communication (s) một sự thất bại/gián đoạn trong giao tiếp, channels/lines of communication ngưôn/kênh/đường dây liên lạc/trao đổi thông tin to keep open the channels of communication a lack of communication thiếu thông tin, thiếu thông cảm, hiểu biết đôi bên/lẫn nhau, a means/method/system of communication một phương tiện/phương pháp/hệ thống thông tin/liên lạc Letters are their own means of communication Thư từ là phương tiện thông tin/liên lạc riêng của họ.

2 phương tiện/hệ thống liên lạc/thông tin

· ADJ good tốt | online trên mạng, điện tử | global toàn cầu, international quốc tế | mass đại chúng | radio phát thanh, rail đường sắt, hoả xa, road đường bộ, telephone điện thoại

· VERB + COMMUNICATIONS have có | cut off, disrupt cắt đứt, (làm) gián đoạn.

· COMMUNICATIONS + NOUN centre trung tâm, links đường dây, network mạng lưới, hệ thống, satellite vệ tinh, system hệ thống, technology công nghiệp, kĩ thuật.

· PREP ~ between giữa They tried to disrupt communications between the two headquarters Họ cố gắng làm gián đoạn những phương tiện liên lạcgiữa hai cơ quan đầu não/tổng hành dinh, ~ with với Paris has good rail communications with other major cities Pa-ri có phương tiện giao thông đường sắt/hoả xa tốt nối liền với các thành phố lớn khác..

3 thông tin, thông điệp, thư tín, bản tin, bản văn

· ADJ formal, official chính thức

· VERB + COMMUNICATION receive nhận | send gửi

· PREP ~ about về He received an official communication about the reorganization of the Ministry. ~ from từ , ~ to tới a communication from the officer to the general một bản tin từ viên sĩ quan gửi đến vị tướng lãnh.

culture noun

1 văn hoá (tập quán, tư tưởng, niềm tin)

· ADJ ancient cổ đại | primitive | dominant | alien xa lạ, foreign nước ngoài, ngoại quốc | indigenous, native | local địa phương, national dân tộc, quốc gia | traditional cổ truyền | African, black, Greek Hi lạp, Western phương Tây, Tây phương world thế giới, etc. These ideas have always been central to Western culture Những tư tưởng này bao giờ cũng là phần chủ yếu/trọng tâm của văn hoá phương Tây. | rural nông thôn, urban thành thị | mainstream chính mạch, dòng chính | underground xã hội đen | wider rộng lớn hơn Prisoners are isolated from the wider culture of society at large Tù nhân bị cô lập khỏi nền văn hoá rộng lớn hơn của xã hội nói chung. | bourgeois tiểu tư sản, working-class giai cấp lao động/thợ thuyền, etc. | street đường phố, bụi đời youth trẻ As young people started to have more money, a significant youth culture developed. | dance khiêu vũ, drug ma-tuý, nghiện ngập, hút xách football bóng đá, đá banh, banh bầu dục etc. | academic khoa bảng, đại học, business doanh nghiệp, company, corporate công ti, intellectual trí thức, legal luật pháp, political chính trị, professional chuyên nghiệp, religious tôn giáo, scientific khoa học, etc. the political culture of the United States | capitalist tư bản, computer vi tính, consumer tiêu thụ, enterprise xí-nghiệp, materialistic vật chất, etc. the development of the enterprise culture in Britain sự phát triển văn hoá công ti/xí nghiệp tại Anh Quốc.

· VERB + CULTURE assimilate (sb into) đồng hoá (ai vào) The Romans gradually assimilated the culture of the people they had conquered, o Newcomers to the company are soon assimilated into the culture. | create tạo dựng, develop phát triển, phát huy, foster nuôi dưỡng, produce sản xuất The new director is trying to foster a culture of open com­munication within the company Vị tân giám đốc đang tìm cách/cố gắng nuôi dưỡng một tập quán/văn hoá liên lạc/thông tin cởi mở trong công ti.

· CULTURE + VERB develop phát triển, phát huy

· CULTURE + NOUN group nhóm a country containing many language and culture groups | shock cú sốc, cú va chạm/đụng chạm She experienced great culture shock when she first came to Europe Cô ta trải qua một cú sốc văn hoá khi cô tới Châu Âu lần đầu.

· PREP in a/the ~ trong In some cultures children have an important place Trong một số/vài nền văn hoá trẻ em có một vị trí/chỗ đứng quan trọng. | ~ of The social security system has been accused of producing a culture of dependency.

2 nghệ thuật, văn chương, âm nhạc, etc

· ADJ contemporary đương thời, đương đại, modern tân tiến, hiện đại | mass, pop, popular phổ thông, đại chúng | folk dân dã | high cao | wide rộng | literary văn học, oral truyền khẩu, bình dân Jokes are an important part of our popular, oral culture Chuyện vui cười là một phần quan trọng trong văn chương/văn học bình dân, truyền khẩu cuả chúng ta.

· PREP a man/woman of culture người có văn hoá She is a woman of wide culture.

cultured adj

có văn hoá,

· VERB be, seem coi bộ, xem ra, hình như, có vẻ

· ADV deeply sâu sắc, highly cao a highly cultured man

WLP
11-24-2007, 06:16 PM
Đem con bỏ chợ

Úc-đại-lợi (Down Under) sắp gửi lời “tạ từ” (to say ‘good-bye’) Muà Đông để bước sang Xuân…Tôi biết rằng cứ vào lúc Bắc Bán Cầu (Northern Hemisphere) đang chìm mình trong nắng Hạ, thì là lúc Nam Bán Cầu (Southern Hemisphere) vẫn còn tiết Đông. Chợt nhớ lại năm nào khi nghe các bạn phái nữ trong “Nhóm Đi Bụi” (Bushwalkers’ Group), dong chơi… bên bờ biển phiá Tây Canada, Bắc Mĩ Châu (Northern America), thuật lại chuyến đi “vui thú hội ngộ”, với bạn bè thập phương, tứ xứ tụ về bãi biển Vancouver…tôi đã “tức cảnh sinh tình” gửi tặng các chị hai câu thơ, không thật sự nhắm riêng vào đối tượng nào, với giọng điệu Hồ Xuân Hương, làm quà:



Ven-cu-vơ (Vancouver) em vui ‘nghêu sò’ phơi mình trong nắng hạ,

Sờ-xịt-nầy (Sydney) anh buồn‘công ngủ’ thu mình dưới trời đông…



Trong bài viết lần trước, tôi có tiết lộ một điều là: Trong câu chuyện “Người Việt dễ thương” (A lovable Vietnamese), đăng trên báo điện tử Cánh Én bên Đức, tác giả Việt Hà viết:



“Người Việt ta chưa có thói quen nói “cảm ơn” nhau—“cảm ơn” chưa trở thành phổ cập, mặc dù biết “cảm ơn” đúng lúc, đúng chỗ sẽ làm cho kẻ đối diện cảm thấy vui vẻ, hài lòng thậm chí cảm thấy dễ dãi, độ lượng hơn.”



[Tạm dịch: Our Vietnamese people have not as yet developed the habit of thanking each other--“Thank-yous” are not popular, even though knowing when to say ‘Thank you” in the right and proper place would make your listeners feel happy, pleased and even more welcome and tolerant of you.]



Và tôi cũng còn trích lời của tác giả Trần Ngọc Thêm, trong cuốn “Tìm về Bản sắc Văn hoá Việt Nam”:



“Do truyền thống nặng nề về tình cảm và tính linh hoạt nên người Việt Nam không có một từ “cảm ơn, xin lỗi” khái quát có thể dùng chung cho mọi trường hợp như người phương Tây. Cũng như trong xưng hô, đối với mỗi người ta có một cách xưng hô khác nhau, thì trong việc “cảm ơn, xin lỗi”, mỗi trường hợp có một cách “cảm ơn, xin lỗi” khác nhau.”



[Tạm dịch: Vietnamese, as part of a tradition which puts emphasis on emotions and liveliness/flexibility, do not have general words for “Thank you” (Cảm ơn) or “Sorry” (Xin lỗi), which are used extensively by Westerners. Like their way of addressing each other in that they can use a different form of address depending on each individual’s age, marital or social status, the same rule applies when we say “Thank You” or “Sorry”.]



Tôi lại còn “kích thích” trí tò mò của Quí Vị độc giả bằng câu đố vui (puzzle) đại loại như sau:



Vietnamese people are known to rarely say “Thank you” or “Sorry”, as compared to Australians. Do you know that they have similar ways of saying “Thank you” or “Sorry”? If yes, give some examples of the ways they do this.



Nay, tôi xin được dẫn chứng một vài thí dụ trong tinh thần “nói có sách mách có chứng”, “của người phúc ta” như sau:



Here are some examples: If you give someone a present their thanks would be expressed as: May I receive/accept it from you, Uncle?” (Con xin Chú). If you express your concern for someone who is not well, that person would say: “You are so thoughtful!” (Chị chu đáo quá!) or “You are so kind!” (Anh tốt quá!), not straight out “Thank you”. When you are a good host, your visitor would say: “You have really gone overboard” (Bác bày vẽ quá), or “You have really overdone it.” (Bác bày vẽ quá). When people visit you, the greeting would be: “It’s so precious (Quí hoá quá!) that you have come to visit me.” Between friends, when you are offered help, you say: “You have saved me from really losing…”, not “Thank you for your help.” Or “I owe my position to what you have done for me.” (Cháu được như hôm nay là nhờ Cô đấy). If you have to say something nasty, you would say: “I may be wrong/It may not be true, but I have to say this” (Nói vô phép/Nói khí không phải) where Westerners would say: “I’m sorry to say this, but …” When something goes wrong, you say: “I’m so careless.” (Tôi sơ ý/vô ý quá).



Đề cập đến chuyện người Việt không có thói quen nói “cảm ơn, xin lỗi”, tôi đã được nghe một câu chuyện kể:



Có một ông chồng bảo lãnh cho vợ con từ Việt Nam sang Úc. Vì sợ vợ mình “lạ nước lạ cái” với cái văn hoá cuả xứ “lucky country” (nước may mắn) này, nên những ngày đầu tiên ông chồng luôn luôn nhặn vợ mình phải nhớ “nằm lòng” hai câu: “Thank you” và “Sorry”, mỗi khi ra đường. Bà vợ một hôm đang đợi trên sân ga (platform) để chờ lên chuyến xe lửa, loại “suburban train” [loại chạy quanh trong thành phố, từ trạm này trạm khác thôi, chứ không phải loại chạy liên tỉnh (intercity train)]. Trong lúc đó vào giờ cao điểm (peak hour) hành khách trên xe hấp tấp, hối hả, vội vã chen nhau nhào xuống sân ga, chẳng may có một ông “to lớn đẫy đà” đụng “huỵch” một cái thật mạnh vào bà vợ này, thì theo vô thức, tự động bà nói bật ra: “Thank you” thay vì “Sorry”đúng theo bài bản “một trong hai câu” ông xã bà chỉ dạy. Nhưng ngặt một nỗi là bà đã “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia.” Về nhà thuật lại cho chồng nghe về biến cố này, thì liền bị ông chồng đay nghiến: “Bộ muốn người ta ‘đụng’ mình nữa, hả, hả, hả???”



Đang viết về chuyện học tiếng nước người, thì tôi tìm đâu ra được một bài thơ về tiếng nước mình, nói đúng hơn là tiếng một miền nước mình. Bài thơ có tựa là: “Anh đồ xứ Nghệ viết tặng cô hàng nước”. Thơ rằng:




Bản hạng nay cô đã mấy tuồi
Nược cô còn nóng hay đã nguồi
Lụng lặng trên treo dăm nặm nẹm
Đu đưa dượi mọc một buồng chuồi
Bánh ít, bánh dầy đều xoạ mợ
Khoai ngưạ, khoai lang cũng chấm muồi

Ăn uống no say, tiền chửa trạ
Biết nhau cho chịu một vài… buồi



Chú thích: bản hạng (= bán hàng); mấy tuồi (= mấy tuổi); nược cô (= nước cuả cô); đã nguồi (= đã nguội); lụng lặng (= lủng lẳng); nặm nẹm (nắm nem); dượi mọc (= dưới móc); buồng chuồi (= buồng chuối); xoạ mợ (= xoa mỡ); khoai ngưạ (= khoai ngưá); chấm muồi (= chấm muối); chửa trạ (= chưa trả); vài…buồi [vài …xâu tiền (thu thuế)--theo Tạ Chí Đại Trường trong Tạp Chí Hợp Lưu # 94].



Chung chung mà nói (generally speaking), thì trong bài thơ trên tác giả có í hài hước khi chuyển tả (transcribe) lời nói giọng Nghệ An sang chữ viết (written language), nhưng có lẽ hơi cường điệu (cốt gây ấn tượng) chăng? Để được rộng đường dư luận, tôi xin nêu vài nhận xét về thanh/thinh/dấu giọng (tones/tonemarks) trong tiếng Việt, liên quan tới giọng nói ba miền đất nước như sau:



Tiếng Việt giọng Nghệ An hay giọng Huế, được sự cảm nhận (impressionistic view) của người dân trong nước nói chung là nghe hơi “nặng”, so với giọng Bắc hay giọng Nam. Chẳng thế mà, theo chỗ tôi biết, người nói giọng Huế, khi nói chuyện với người khác miền, như Bắc hoặc Nam, thì họ có khuynh hướng đổi giọng (change their accent) và họ đổi được. Cũng xin mở dấu ngoặc nói thêm ở đây là: tôi đã có dịp kể lể đâu đó là giọng Huế nghe “hay”, dễ thương, nhất là giọng nữ, qua kỉ niệm lần đầu ra Huế năm 1964, và cũng chỉ được một lần duy nhất tôi thăm viếng Đất Thần Kinh này mà thôi.



Sự kiện đổi giọng, đổi tiếng nói là một trường hợp tự nhiên thuộc phạm vi ngôn ngữ xã hội học (socio-linguistics), muốn mình được sẵn sàng chấp nhận trong môi trường, cộng đồng ngôn ngữ mới, và làm dễ dàng hoá sự đạt thông giữa đôi bên (facilitate communication between the two parties) là đối tượng đối thoại của nhau. Tôi đã chứng kiến trường hợp người anh rể, chồng bà chị thứ hai, ở Bắc vào Nam khoảng năm 1954, sau đó làm việc ở Tổng Nha Quan Thuế, là khi nói chuyện với bạn bè đồng nghiệp đa số là người sinh đẻ tại Sài Gòn, thì ông tự động chuyển sang giọng Nam/tiếng Nam (Southern accent/dialect), có lẽ là để thấy mình không khác người, dễ được chấp nhận là đồng bọn, “đồng hội đồng thuyền” hơn.



Theo sự phân tích những thanh âm (tones) tiếng Việt bằng phương pháp “phát âm học thực nghiệm” (experiemental phonetics), thì người ta thấy tiếng Việt có 6 thanh/thinh/dấu giọng (tones/tone-marks) là ngang (không dấu), sắc (’), huyền (`), hỏi (?), ngã (~), nặng (.). Khi viết, thì phải dùng 6 dấu giọng (tone-marks) không kể dấu ngang (không dấu) thì còn 5 dấu. Nhưng khi nói, thì người Bắc có thể nói phân biệt được cả 6 thanh (tones), người Nam phân biệt 5 thanh [vì hỏi (?), ngã (~) đã được gộp chung lại (collapsed into) thành một thanh hỏi (?)], còn người Trung chỉ phân biệt 3 thanh [vì hỏi (?), ngã (~), nặng (.) gộp chung lại thành một thanh nặng (.)]. Chính vì khuynh hướng nói thế nào viết thế ấy, nên khi viết, người miền Trung và người miền Nam thường không phân biệt khi phải đánh/bỏ dấu (add tone-marks) hỏi (?), ngã (~). Trong khuôn khổ bài viết này, tôi không muốn đi xa hơn nữa về mặt học thuật để bàn chi tiết về âm vị học/ngữ âm học (phonology/phonetics) liên quan đến thanh/thinh (tones), mặc dù đó là phạm vi nghiên cứu của tôi (“Vietnamese phonology: A Quantity Study”, Master’s Honours Thesis, 1978, Macquarie University, Australia).



Nhưng nói gì thì nói, hàn lâm hay không hàn lâm, cái “tếu” nhất, đối với tôi, trong bài thơ cuả “Ông Đồ Xứ Nghệ” là câu thơ cuối cùng:




Biết nhau cho chịu một vài… buồi.



Lần đầu đọc thơ chưa hiểu nghĩa khác (other meaning) cuả chữ “buồi”, mà chỉ hiểu theo nghĩa trong tiếng Bắc (Northern dialect), tôi “buồn cười/tức cười muốn chết!”. Số là: Tôi đánh tennis (quần vợt) với mấy anh bạn người Nam, họ không biết chữ "buồi" tiếng Bắc là gì??? Mỗi khi đánh đôi, tôi đứng với ‘partner’ (đồng đội/bạn đánh đôi/đấu thủ đứng chung), mà ‘partner’ mình có khi đánh quả nào dễ quá, bổng, ngon vưà tầm tay, để cho đối thủ nó “đập” (overhead smash) cho vỡ mày vỡ mặt, là tôi lại nói: "Đúng là... cầm ‘buồi’ cho người ta đái". (No doubt … that you’re holding his cock for him to piss!). Trong tiếng Bắc, chữ “buồi” có nghĩa Hán-Việt (Sino-Vietnamese) là: “dương vật” (= penis). Tôi không muốn đi xa hơn về chuyện này vì sợ có thể bị hiểu lầm.



Nhưng Quí Vị Quí Bạn ơi! “dương vật”, hay “âm hộ” hoặc “âm đạo” (= vagina), nghe ai mà chả thích, nhưng xin được tạm gác lại để sẽ bàn thêm trong phần “kết hợp ngữ” (collocations). Còn bây giờ đây bài học cuả chúng ta xin được chuyển qua đề tài “Đem con bỏ chợ”!



Tại sao lại “Đem con bỏ chợ” (Leaving someone in the lurch)? Số là: Trong hai, ba tuần qua nhân dân thế giới, đặc biệt là ở Nam Bán Cầu này, được biết chuyện qua báo chí (press), truyền thanh, truyền hình (electronic media) là một ông Bố, người gốc Hoa, sống tại Tân Tây Lan (New Zealand), dẫn đứa con gái, 3 tuổi, cho ăn mặc chỉnh tề, đem con sang Úc, bỏ con ở ga xe lửa (railway station) Southern Cross, của thành phố Melbourne, rồi biến đi đâu mất (disappeared). Đứa bé, ngơ ngẩn không chịu nói gì, và Nhà nước Úc, [đặt tên bé là Pumpkin (Quả bầu/Quả bí ngô) do nhãn hiệu quần áo bé mặc], đã cho vời mấy thông dịch viên ngôn ngữ khác nhau, nhất định là có vài thổ ngữ tiếng Hoa (Chinese dialects), đến để thử nói chuyện với bé xem “vì đâu nên nỗi”, nhưng tuyệt nhiên em bé không chịu trả lời. Thành thử mọi chuyện “u tối” vẫn hoàn “u tối” (everything was shrouded in a mystery). Câu chuyện sau này ngã ngũ ra (unfolded), theo Michelle Cazzulino, kể lại trên tờ The Daily Telegraph, số ra ngày Thứ Bẩy 22 tháng 9, 2007 thì là:



Annie Xue believed in happy endings (hồi kết thúc có hậu/tốt đẹp). Despite the beatings (những trận đòn/đánh đập), bruises (những vết bầm tím) and break-ups (những đổ vỡ) that dominated her short marriage, her faith in the future would come to act as a buffer (vật đệm/trái độn/tác nhân làm dịu bớt) against her harsh reality of life (thực tế cay nghiệt của cuộc sống) in a country where she struggled (vật lộn) with the language and found herself locked (thấy mình bị khoá chặt) in a twisted cycle of hope and betrayal (vòng luẩn quẩn giữa hi vọng và bội phản).



On what would likely be the last night (đêm cuối cùng) of her life, the 27-year-old sat in her home in the Auckland suburb of Mount Roskill, writing in Mandarin (tiếng Quan thoại/Phổ thông) on her personal blog [(nhật kí) viết tâm tình riêng trên mạng] about her distress (nỗi khổ sở) at the loss of her married lover (mất người tình đã có gia đình).



“In this world, most of us have a lot of hard times (nhiều cam go/khốn khổ); we struggle for living with exceeding loneliness (niềm cô đơn cực độ),” she wrote.



“There may be many things (có thể có nhiều chuyện/điều) that are not eternal (không vĩnh cửu). Just like there are many things in this world (trên đời này) that have no ending (không có hồi kết cuộc), what’s beautiful remains beautiful (cái gì đẹp thì vẫn đẹp), the glorious, glorious (rạng rỡ), so why haggle (kì kèo/mặc cả/đôi co/hỏi tới hỏi lui) over the length of time (chuyện dài lâu/mau chóng)? A flower falls (tàn/rụng), tomorrow another will bloom (nở). I will keep the good memories (những kỉ niệm đẹp) in mind. It’s what you have already had and cherish (ấp ủ trong lòng) that won’t end.”



As the world would come to learn less than a fortnight later, the “good memories” were beautifully few, punctuated (bị đứt đoạn) by periods of mindless violence (bạo động ngu đần) and futile attempts (những nỗ lực/cố gắng vô hiệu/bất thành) to escape (thoát khỏi) the sadistic spectre (bóng ma tàn bạo) of her husband, Nai Xin Xue. This week he became an international fugitive (kẻ đào tẩu/chốn chạy) after it was revealed he had abducted (đã bắt cóc) their three-year-old daughter, Qian Xun, and dumped her (bỏ con) at Melbourne’s Southern Cross railway station last Saturday.



Hồi kết cục cuốn phim tình này không được như cô Annie Xue, 27 tuổi, tin tưởng, mong đợi là “có hậu” (happy ending). Cảnh sát, tuy là muộn, nhưng đã tìm thấy xác cô trong cái cốp sau chiếc xe của ông chồng dã tâm đậu trong nhà xe (garage) trong nhà ông ở Auckland, Tân Tây Lan. Cảnh sát đang truy lùng ráo riết ông Nai Xin Xue, người chồng bị tình nghi là thủ phạm, ở trong 5 khu phố có đông dân Hoa kiều sống tại Los Angeles. Được biết sau khi “đem con bỏ chợ” (left his daughter in the lunch), ông chồng này, 54 tuổi, võ sư tài chí (martial arts/tai chi expert/master), chủ nhiệm (publisher) một tờ báo Hoa ngữ, đã đáp máy bay từ Melbourne sang thành phố bờ biển miền Tây ấy.



Theo từ điển Dictionary of Idioms, Collins COBUILD, HarpersCollins Publishers, 2002 thì: trong tiếng Anh, “To leave someone in the lurch” được giảng nghĩa là: “If you say that someone has left you in the lurch, you are complaining that they have put you in a difficult situation by suddenly going away or abandoning you, without giving you very much notice of their plans.” [Nếu bạn nói là ai đó đã “left you in the lurch”, bạn phàn nàn/than phiền là họ đã đặt bạn vào trong một hoàn cảnh/tình huống khó khăn/khó xử bằng cách đột ngột ra đi hay bỏ rơi bạn, mà không cho bạn đầy đủ thời gian biết trước về kế hoạch của họ]. “Lurch” có nghĩa “sự tròng trành/nghiêng ngã/lảo đảo/chao đảo/loạng choạng/lắc lư”, kiểu “lắc lư con tầu đi” vậy mà!!!



Quí Vị Quí Bạn thân thương ơi! Chuyện gì rồi cũng phải chấm dứt, phải đến hồi kết cục…cũng như đời người. Trong hai ngày nay, mỗi ngày tôi nghe tin một người từ trần: Bà Cụ 86 tuổi còn khoẻ, mẹ vợ cuả anh bạn thân ở Stockton, Bắc California, băng qua đường rầy xe lửa ở Phan Rang, bị một thanh sắt ở đầu xe lửa (cow-catcher) hất ngã xuống bờ dốc mà đi… Một bà khác Judy Stowe, kí giả người Anh, bỉnh bút/người viết bình luận (commentator) và sau này có thời kì làm Trưởng Ban Việt Ngữ (Head of Vietnamese Section) Đài BBC Luân Đôn trong những thập niên 70-90, bị lâm trọng bệnh mà đi… Tang lễ cử hành trong lặng lẽ, âm thầm ngày 22-9 tại Luân Đôn là nơi, vào đầu thập niên 80, tôi làm việc với hợp đồng 3 năm (3-year contract) cho BBC, một cơ quan truyền thông quốc tế.



Lá thư báo tin tôi nhận được từ một người bạn trẻ ở Luân Đôn có nội dung:

“Hôm qua thứ Bẩy 22 Sept hoả táng (cremation service) cho bà Judy trong nghiã trang (cemetery) Putney. Bà mất hôm 13 Sept trong bệnh viện. Gặp lại các anh Sang,Viêm (anh ấy gởi lời thăm Thầy), ông Vĩnh Phúc, Xuân Kỳ và chị Tammy (bà xã ông Xuân Kỳ), ai nấy đều bùi ngùi nhắc lại thời trước (felt sorrow when reminiscing about the past). Không thấy ông Hữu Đại, anh Đỗ Văn thì đang ở Việt Nam không về kịp. Cũng không thấy chị em Hồng Liên, Tường Vi. Michael, con bà Judy (vợ là Megan) sắp có đứa con thứ hai, đưá con gái đầu rất gần với bà Judy. Nhìn quan tài làm bằng mây đơn sơ (a simple coffin made of rattan) em không ngăn được cảm giác xót xa (bitter-sweet memories) cho người cách đây 15 năm đã tuyển (recruited) em vô BBC. Đám tang (the funeral) làm đơn giản nhưng cảm động (simple but highly emotional), không có “big boss” nào cuả BBC, chỉ có mấy đồng nghiệp khi xưa. Thôi vậy là xong một kiếp người, một người đàn bà phải nói là kém may mắn trên tình trường (a turbulent love life), công danh lận đận. Nghĩ lại chốn này coi vậy mà bạc bẽo tình người (treated people ungraciously).”



Ôi! thời oanh liệt, nay còn đâu!!! Trong tưởng nhớ người vĩnh viễn ra đi, trong suy tư về thân phận người…tôi có niềm an ủi riêng cho mình:




Hoa đã hẹn đến muà phải nở*,

Người đáo hạn đến kì phải tử!

[Flowers bloom, it’s their fate sublime,

But people must die when it is their time.]



Trịnh Nhật

Sydney, 25.9 (My Birthday), 2007

___________________________________________

*Thơ trích trong bài “Ra Biển” của Trần Đình Lương


[B]Kết hợp ngữ
(Collocations)



penetrate verb

thâm nhập, thọc sâu vào, thấm vào, thẩm thấu

* ADV deep, deeply, far sâu, sâu/xa tuốt bên trong caves penetrating deep into the hills | fully, totally hoàn toàn | hardly khó có thể, không dễ gì The sunlight hardly penetrated the inner room. | quickly nhanh, mau, lẹ | slowly chậm, từ từ The news slowly penetrated his consciousness. | easily, readily dễ dàng, sẵn sàng These so-called secret societies were easily penetrated by intelligence agents. | successfully thành công, mĩ mãn, tốt.
* VERB + PENETRATE be able to, can/could có thể | be difficult to khó mà | seem to coi bộ, xem chừng The cold seemed to penetrate his bones. | fail to không thể | allow sth to để cho cái gì Cut two slashes on each side of the fish to allow heat to penetrate.
* PREP into vào trong It is not yet known how deeply the radiation has penetrated into the soil, through qua The light could not penetrate through the thick curtains, to tới The dust had penetrated to all corners of the room.



penetration noun

(sự) thâm nhập, đâm sâu, thọc sâu, ấn sâu, thấm vào, thẩm thấu

* ADJ deep sâu | greater lớn rộng/sâu rộng hơn | import nhập khẩu, nhập cảng, market thị trường Our aim is to achieve greater market penetration Mục đích của chúng ta/chúng tôi là tạo thành tích thâm nhập vào thị trường rộng lớn hơn. | water nước | sexual thuộc về tình dục (= giao hợp, giao hoan, giao cấu)
* VERB + PENETRATION achieve đạt được, thực hiện được



penis noun

dương vật, cu, cặc, buồi, “của quí”, “chim”, bộ phận sinh dục nam

* ADJ erect cương, cứng, ngổng | flaccid xìu, mềm, mềm xèo limp yếu ớt, ẻo lả, xìu xìu ển ển
* PENIS + VERB become/get/go hard trở nên, hoá ra/đâm ra cứng harden thành/trở nên cứng, stiffen thành/trở nên cương cứng | become/go soft trở nên, hoá ra/đâm ra mềm/mềm xèo | shrivel làm nhăn lại, làm nhăn nheo, làm cho co lại/teo lại.
* PENIS + NOUN envy thèm muốn | length chiều dài, size cỡ, kích thước



vagina noun

âm đạo, âm hộ, lồn, hĩm, “lá đa”, “bướm”, bộ phận sinh dục nữ

* VERB+ VAGINA enter, penetrate ấn vào, ấn sâu vào, thọc sâu vào
* PREP in/into/inside the/your ~ trong, bên trong, vào bên trong ~ của ai



dead adj

chết

* VERB be, lie His wife lay dead beside him Vợ hắn nằm chết bên cạnh hắn. | look trông như | sham giả bộ, giả vờ The animal will sometimes escape danger by shamming dead Con vật sẽ có khi thoát nguy hiểm bằng cách giả bộ chết. | drop He just dropped dead one day in his garden Một hôm hắn khơi khơi lăn đùng ra chết trong vườn nhà. | shoot sb bắn ai, strike sb đánh ai, đập/tấn công người nào Gunmen shot dead a policeman Các hung thủ bắn chết một cảnh sát viên, She had been struck dead by lightning Bà ta đã bị sét đánh chết. | find sb tìm thấy ai The woman was found dead with a rope round her neck. | declare sb, pronounce sb tuyên bố ai, công bố người nào She was declared dead on arrival at the hospital Người ta (nhà thương/bác sĩ) tuyên bố là bà ta chết lúc tới bệnh viện.
* ADV quite hoàn toàn, thật rồi I’m afraid he's quite dead (Tôi e/sợ rằng ông ta chết thật rồi.
* PHRASE dead and buried (nghĩa bóng) tiêu tan, tan tành theo mây khói In ten years he'll be dead and buried as a politician Trong vòng 10 năm nữa cuộc đời chính trị cuả ông ta sẽ tan theo mây khói, dead and gone chết mất tiêu mất tích rồi, ngủm từ hồi nào rồi That won't happen until long after I’m dead and gone Chuyện đó sẽ không xẩy ra cho tới mãi mãi sau khi tôi đã ngủm rồi. dead or alive chết hay sống We didn't know whether the fish was dead or alive Chúng tôi đã không biết con cá chết rồi hay còn sống, more dead than alive không chắc gì sống nổi, chắc tiêu rồi Poor child, she looks more dead than alive.Tội nghiệp con bé, nó trông như 8, 9 phần mười là chết rồi/ chẳng còn mấy hi vọng sống được đâu.

WLP
12-08-2007, 04:41 AM
Như cánh vạc bay

“Xuân vừa về trên bãi cỏ non,

Gió Xuân đưa lá vàng xuôi nguồn,

Hoa cười cùng tia nắng vàng son,

Lũ ong lên đường cánh tung tròn…”

(Hoa Xuân, Nhạc và lời Phạm Duy)

“Bãi cỏ non”, “hoa cười”, “tia nắng vàng son”, “lũ ong lên đường”, tất cả những hình ảnh ấy báo hiệu Xuân về trên vùng đất Miệt Dưới (Down Under) của những người Việt tị nạn đã xin nhận nơi này làm quê hương (Vietnamese refugees have called it home). Đối với đa số người Việt hải ngoại hiện giờ, theo tôi, quê hương, hay nói rõ hơn là "mái ấm" (home), là nơi họ cảm thấy thoải mái, có bạn bè và những người thân yêu của mình ở đó… Nói theo lời của một kí giả người Mĩ gốc Việt, Andrew Lâm, con trai của Tướng Lâm Quang Thi, đã rời Việt Nam năm từ 11 tuổi, thì Việt Nam đối với anh nay chỉ còn là "một điểm xuất phát, một chốn đi về, chứ không còn là quê hương nữa" (my country of birth has become a point of departure, an occasional destination, but no longer home.)



Qua bài viết tuần trước tôi nhận được phản hồi (feedback) của bạn bè và đồng nghiệp từ Hoa-kì, Gia-nã-đại,Việt-Nam, và Anh-cát-lợi.



Từ Oklahoma, USA:

“Đã nhận được bài #28. Vui lắm. Cám ơn nhiều. Nhưng không phải ai nghe chuyện “vagina” cũng thích đâu đấy. Có đứa nghe xong phát khóc vì đã bị bịnh “erectile disfunction” từ khuya rồi.”



Nghe anh bạn này viết tôi bật “cười sằng sặc”. Chính anh chàng này, hơn hai chục năm trước đây, cũng đã cho bạn bè/đồng nghiệp chúng tôi một “mẻ” cười. Ai đời nhan đề một cuốn phim của người ta ở Luân Đôn thuở đó là “Dressed to kill” (= ăn diện/mặc quần áo cho đẹp vào để hấp hồn/quyến rũ người khác), thế mà cha nội này cả gan đổi lại, bảo rằng phim có tựa đề là “Undressed to kill” (= Thoát y/Cởi hết/Tụt hết để cho thiên hạ một phen “từ chết đến bị thương”)? Nghe thế, Bố ai mà không muốn đi xem “xi-nê” [go to the cinema (Anh)/pictures (Úc)/movies (Mĩ)]. Bây giờ anh lại có thêm dịp sửa lưng tôi:

“…không phải ai nghe chuyện “vagina” (= âm hộ/âm đạo) cũng thích đâu đấy. Có đứa nghe xong phát khóc vì đã bị bịnh “erectile disfunction” (= rối loạn/tai biến cương cứng dương vật/chứng xìu xìu ển ển) từ khuya rồi.”



Cám ơn anh bạn đã có lời khen, cùng lời cảnh giác. Hi vọng anh không một chút mảy may nói chuyện về mình.



Từ Florida, USA:

“Bài này thật hay và dí dỏm ngay từ 2 câu thơ “tếu” dạo đầu. Nhận xét của anh về hỏi (?), ngã (~) đối với dân Trung thật đúng.”



Anh bạn này còn cho biết thêm là anh có một người bạn nói tiếng Trung khá nặng, nên hôm vào nhà hàng đặt món ăn với cô hầu bàn (waitress) người Nam, nói tiếng Nam, thoạt đầu cô không hiểu anh muốn nói gì, ăn gì. Hai câu thơ “tếu” dạo đầu cuả tôi, nếu Quí Vị nào không nhớ, thì nó là:

Ven-cu-vơ (Vancouver) em vui ‘nghêu sò’ phơi mình trong nắng hạ,

Sờ-xịt-nầy (Sydney) anh buồn‘công ngủ’ thu mình dưới trời đông…



Từ Hà Nội, Việt-Nam:

“Cảm ơn anh thăm hỏi và cảm ơn về bài học tiếng Anh (và cả tiếng Việt) thú vị và rất hữu ích cuả anh. Hiện chúng tôi đang tích cực chuẩn bị để sớm đưa hệ thống lên Mạng, lúc đó sẽ báo ngay cho anh. Được những người như anh tham gia thì đó là diễm phúc của chúng tôi.”



Người viết lá thư trên cho tôi là anh Lê Khánh Hùng, Trưởng Phòng Công nghệ Phần mềm Máy tính, Viện Nghiên cứu Ứng dụng Công nghệ, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ở C6 Thanh Xuân Bắc, Hà Nội, mà tôi đã có dịp thăm viếng 2 lần. Trong lần gặp anh vào cuối năm 2006, tôi được anh cho biết là vào cuối năm 2007, cái “hệ thống” mà anh nói ở trên là chương trình từ điển đa-ngữ trên Mạng, chủ yếu là các ngôn ngữ chưa được yểm trợ mạnh về mặt từ điển “online”, mà đa số là ngôn ngữ Châu Á (Asian languages), trong đó có tiếng Việt. Anh Hùng cho tôi biết là ai muốn tham gia có thể cứ vào mạng, “chua” nghĩa, giảng nghĩa, thêm thắt những điều gì mình biết vào cho cuốn từ điển ngôn ngữ mục tiêu (target language) của mình. Sự đóng góp nhiều ít trên Mạng sẽ được tính toán theo phần trăm (percentage) để trả thù lao (remuneration) cho người đóng góp/cộng tác (contributor). [Quí Vị Quí Bạn, nếu thích, có thể vào < www.talawas.org > để đọc bài “Đi tìm phần mềm dịch tiếng Việt” của tôi, lên Mạng năm 2006.]



Sau đó là thư từ Toronto, Canada:

“Happy birthday, mate!

You're really in good mood these days, writing endlessly.”



Cám ơn bạn hiền. Ngày sinh nhật của tôi là 25-9. Tôi vẫn nói đùa trong đám bạn bè là ngày sinh nhật của rốn lồi (protruding navel/belly-button). Muốn biết rốn có lồi hay không, chắc cần phải thử!!! Người bạn viết thư trên cho tôi là một đệ tam tham vụ ngoại giao (third secretary) tại Toà Đại sứ Việt Nam Cộng Hoà ở Đại Hàn, trước khi “vật đổi sao rời/đổi đời” (the shake-up/so-called metamorphosis). Trong nhiều năm nay, anh làm nghề gõ đầu di dân tráng niên Canada (teaching English to Canadian adult immigrants)—công việc tương tự như tôì đã làm tại Úc vào cuối thập niên 1970 [Adult Migrant Education Service (AMES)], trước khi được tuyển sang BBC Luân Đôn làm việc, cuối năm 1979. Tôi mới gặp anh bạn này tại Việt Nam cuối năm 2006 vừa rồi, sau hơn 15 năm không gặp. Lần gặp anh và gia đình vợ con anh trước đó ở Toronto là đầu thập niên 1990.



Từ Luân Đôn, England:


Khoe với Thầy tí, “website” bọn em mỗi tháng có từ 10-12 triệu “hits”, bài của Thầy sẽ được nhiều người đọc. Thầy thu xếp sao với khoahoc.net cho em biết, còn anh Lưu Dân em nghĩ chắc không phiền đâu vì Dân Việt chính là báo viết. Em thì tin là kiến thức phổ biến càng rộng càng tốt. Thầy có muốn đăng mấy bài viết này lên bbcvietnamese.com không hả Thầy? I'm sure many would appreciate them. Nếu Thầy muốn thì gửi hết qua cho em, kể cả những bài từ trước.

Người viết thư này là anh Hoàng Quốc Vinh, con của bác Hoàng Quốc Cung, khá quen thuộc với cộng đồng Việt Nam tại Sydney. Anh Vinh đã được bà Judy Stowe tuyển sang làm cho Ban Việt Ngữ, BBC Luân Đôn từ 15 năm trước đây. Tôi đã gửi trước cho anh một số bài viết, và hứa sẽ gửi tiếp tục.



Nói đến BBC là tôi lại muốn trở lại phần cuối cuả bài học lần trước, trong đó tôi có đề cập đến thông tin nhận được từ Ban Việt Ngữ (Vietnamese Section) về cái chết của bà Judy Stowe. Nay, qua kí giả người Anh, Derek Tonkin, tôi được biết thêm tin tức như sau:

Judith Ann Stowe, broadcaster, writer and diplomat: born London 19 October 1934; staff, Foreign Service (Bộ Ngoại giao) 1952-69; staff, BBC 1974-94, Head of Thai and Vietnamese Sections (Trưởng ban Thái ngữ và Việt ngữ) 1986-94; (one son); died London 13 September 2007.

Judith Ann Stowe, broadcaster, writer and diplomat Judy Stowe led an eventful and dedicated life. Judith Stowe was born in London in 1934, the elder of two daughters. Although she was much tempted to go to university, her father thought she might not be bright enough (không đủ xuất sắc/giỏi/thông minh) to win a scholarship (tranh được một học bổng) and encouraged her instead to take the Civil Service examination. Faced with a choice between depending on her father for a subsidy (trợ cấp) at university, or starting to earn her own living (tự kiếm sống), Stowe chose financial independence. This choice was in the event to give her invaluable experience (kinh nghiệm vô cùng quí báu) in the virtue of self-reliance (đức tính tự túc), not least because she battled throughout her life against nystagmus (rung giật nhãn cầu), a rare disease of the optical nerve (thần kinh thị giác) which was to impair her vision seriously (làm cho bà bị khiếm thị nặng).

Although never short of male friends (không hề thiếu bạn trai) and indeed ardent admirers (nhiều người nhiệt tình ái mộ), Stowe had not married (chưa bao giờ lập gia đình/kết hôn/lấy chồng) – in those days to do so would have meant her resignation from the service (phải từ nhiệm) and the abandonment of her career overseas (từ bỏ công việc làm ở hải ngoại). At 34 years of age, Stowe returned to Britain to have a baby son, Michael.

The going was not easy (cuộc sống không phải là dễ dàng), and it was not until late 1972 that the BBC Far Eastern Service (Viễn Đông Vụ Đài BBC) gave her a contract to write commentaries (viết các bài bình luận) on South-east Asian affairs (các vấn đề xẩy ra tại Đông-nam Á). These were exciting times in South-east Asia: Kissinger was working to secure the withdrawal of US troops from Vietnam.

In March 1975 Stowe left for Saigon, but the tour of the provinces (chuyến du hành đến các tỉnh) she had planned was sharply curtailed (bị cắt giảm/bỏ bớt rất nhiều) when the North Vietnamese launched their all-out, final offensive (mở cuộc tổng tấn công ồ ạt, dứt điểm của họ) in the South. In April 1975 she was summoned back (được triệu về) to London, where she arrived with only days to spare (chỉ có vài ngày) before Saigon fell (Sài Gòn thất thủ) on 30 April.

Stowe was then appointed a full-time commentator (bình luận gia toàn thời) and talks writer (người viết bài nói nhận định) in the BBC, specialising in South-east Asian and Far Eastern Affairs. By 1984 Stowe was back again in Vietnam, but found the country depressing (quá thất vọng/nản lòng). In 1986 Stowe was in charge of both the Thai and Vietnamese sections of the BBC. She set about restructuring (cải tổ) and modernising (hiện đại hoá) both, recruiting journalists (kí giả) rather than translators (phiên dịch viên), and inspiring colleagues with her vitality, the breadth and depth of her experience and her contacts throughout the region.

Her greatest journalistic coup, which earned the wrath (sự phẫn nộ/tức giận) of the Vietnamese government, was persuading Col Bui Tin, who had decided to stay in France following a visit in 1990, to publish his memoirs (xuất bản hồi kí cuả ông) and give a series of interviews (một loạt bài phỏng vấn). Bui Tin had been Deputy Editor (Phó Tổng biên tập) of Nhan Dan, the Communist Party daily and so was close to the Vietnamese leaders. Bui Tin's memoirs, Following Ho Chi Minh: memoirs of a North Vietnamese colonel (1995), were adapted and translated into English by Stowe and Do Van, a senior producer in the BBC Vietnamese Service.

Stowe retired (về hưu) from the BBC in 1994, but maintained close contact (vẫn giữ liên lạc mật thiết) with her many Thai and Vietnamese friends. She also continued to lecture widely on South-east Asian affairs, and she was the principal obituary writer (người chính yếu viết những bài ai khải) in recent years for The Independent (Độc lập) on leading Vietnamese, Thai and Filipino personalities (các nhân vật lãnh đạo Việt Nam, Thái Lan và Phi-Luật-Tân). Although diagnosed with cancer (chẩn bệnh cho biết là bị ung thư) in 2003, she led a full and scholarly life until the end.

Chuyện liên hệ đến Judy Stowe, tôi còn nhớ là vào đầu năm 1980, khi Chủ tịch Nhà nước Cộng sản Việt Nam Tôn Ðức Thắng từ trần, thì bà Judy Stowe, bỉnh bút Ðài BBC, có viết bài ai khải (obituary) nói về công đức và sự nghiệp của ông này để cho phát thanh về Việt Nam. Trong bài viết, nữ kí giả người Anh này có dùng chữ "figure-head" để mô tả vị Chủ tịch họ Tôn. Từ "figure-head" này đã được một người bạn đồng nghiệp của tôi thời đó là anh Vĩnh Phúc, dịch là "bù nhìn", thì bị một đồng nghiệp khác, là anh Trần Minh, phản đối, cho rằng dịch như thế là không đúng, vì "bù nhìn" nghĩa là "puppet". Tôi không nhớ là anh đồng nghiệp tố giác bạn mình dịch sai đã đề nghị chữ nào mới là dịch đúng, mà chỉ còn nhớ là nội vụ sau đó được đem ra trình với anh Trưởng Ban Việt Ngữ (Vietnamese Programme Organiser) Matthew Salisbury, người Ăng-lê. Tưởng cũng nên nhắc lại ở đây là Chính phủ Hà-Nội đã gọi Chính phủ Việt Nam Cộng hòa trước kia là "Chính phủ Nguỵ" mà tiếng Anh đã được dịch ra là "Puppet Government", có nghĩa là "Chính phủ bù nhìn". Nếu gọi Ông Tôn Ðức Thắng là "bù nhìn", dịch từ chữ "figure-head" ra, thì có đúng không? [Trích trong phần “kết luận” bài viết “Đi tìm cái tương đương trong phiên dịch” của tôi trên Báo Mạng < www.talawas.de >, 2004]



Tiện dịp này tôi xin bàn thêm để được rộng đường dư luận. Theo Tân Đại Từ Điển Anh-Việt của Nguyễn Văn Tạo, NXB Tân Văn, in lại tại Đông Kinh, Nhật Bản, 1986, thì “figure-head” được giảng nghĩa là: “nhân vật bồ nhìn, ngồi cho có vị, chỉ có hư danh.” Từ điển Anh-Việt, NXB Khoa học Xã hội, Hà-Nội, 1975 thì bảo “figure-head” là: “bù nhìn, bung xung (người ở điạ vị cao, nhưng không có thực quyền).” Còn Từ-điển Anh-Việt (English-Vietnamese Dictionary), Viện Ngôn Ngữ Học, NXB TP Hồ Chí Minh, 1993 thì cho hay: “người ở vị trí cao nhưng không có thực quyền; bù nhìn (nghĩa bóng).”



Tôi cũng xin bàn thêm ở đây là từ “obituary” được dịch là “bài ai khải”, là từ đã được một vị dịch giả có uy tín ở Nam Bán Cầu này sử dụng. Theo Từ-điển Anh-Việt (English-Vietnamese Dictionary), Viện Ngôn Ngữ Học, NXB TP Hồ Chí Minh, 1993 thì: “obituary = thông cáo in (thí dụ trên một tờ báo) về cái chết cuả một người, thường có kèm theo tóm tắt tiểu sử và công lao của người đó; lời cáo phó.” Hai cuốn từ điển Anh-Việt khác mà tôi tra cứu cũng không có ý kiến gì mới mẻ hơn, đại khái là “mục cáo phó” trên báo, “lời cáo phó” hay “sơ lược tiểu sử người chết.”



Trước khi kết thúc bài học tuần này, tôi xin trở lại nói thêm về bà Judy Stowe và chuyến Úc du của bà. Sau khi hết hợp đồng ngắn hạn 3 năm (three-year short-term contract) với BBC Luân Đôn vào cuối năm 1982, tôi về lại Sydney vào đầu năm 1983, và được tuyển dụng làm Lecturer in Vietnamese (Giảng viên Việt ngữ) tại Trường Cao Đẳng Milperra [Milperra College of Avanced Education (MCAE)]. Đến năm 1992, thì tôi gặp lại bà Judy Stowe tại Sydney khi bà sang Úc tuyển nhân viên cho Chương trình Việt Ngữ, trong đó có việc phỏng vấn Hoàng Quốc Vinh, một sinh viên ngành thông-ngôn phiên-dịch (interpreting and translation), cuả tôi tại University of Western Sydney (hậu thân của MCAE và Macarthur Institute of Higher Education), trước khi chính thức nhận Vinh sang Anh Quốc làm việc.



Khi bà Judy Stowe có mặt tại Sydney, tôi đã sắp xếp để anh Nguyễn Anh Tuấn (chết/không còn nữa = deceased), chị Tô Châu (phụ trách Đài Quê Mẹ thời đó, tiền thân của SBS Radio), cùng bà xã Anh Thư và cháu Pamela, hẹn gặp ăn tối (dinner) với bà tại Sydney Tower Restaurant, trước khi dẫn bà lên Đài Quê Mẹ cho chị Tô Châu làm một cuộc phỏng vấn (interview).



Nhớ tới bà Judy Stowe, nay “như cánh vạc bay” về trời… Vào một buổi tối hồi tôi còn làm việc ở Anh Quốc, trong lúc tiệc tùng, trà dư tửu hậu, có lẽ tại nhà anh Đỗ Văn, với đầy đủ mặt văn võ bá quan Ban Việt Ngữ và bạn bè, bà Judy cũng đã cho chúng tôi một “mẻ” cười lúc bà nói về người ta nhận xét về người Mĩ, khi họ ồ ạt kéo quân sang giúp Miền Nam Việt Nam chống Cộng sản: “They are over-paid, over-sexed and over-here!” (Mấy thằng chả làm lương quá tải, làm tình quá cỡ, qua đây nhiều quá xá ể!)



Trịnh Nhật

Sydney, 3.10.2007


Kết hợp ngữ
(Collocations)



wing noun

1 cánh chim, cánh gà/vịt, côn trùng (ve/kiến)

* ADJ left trái, right phải | fore, front trước The beetle's fore wings are small and are not used in flight. | back, hind sau | broad rộng, long dài, narrow hẹp, pointed nhọn, short ngắn, stubby cụt lủn | delicate mỏng manh, mảnh mai | leathery da thuộc, membranous màng mỏng | broken gẫy, damaged bị thương a bird with a broken wing | outspread, outstretched trải rộng, dang ra, giuơng ra, duỗi ra | butterfly bướm, chicken gà, etc. the patterns on butterfly wings, First, fry the chicken wings in the oil until they begin to brown.
* QUANT pair đôi
* VERB + WING extend, open, spread, stretch, unfold mở, trải rộng, vươn ra, xoè ra | close, fold đóng, khép, gấp/gập lại | flap, flutter vỗ, đập It flapped its wings and flew off. | clean làm sạch, rửa sạch | clip lấy mấy, chặt đứt, bẻ gẫy (thường dùng nghĩa bóng) Pete felt he had had his wings clipped when his driving licence was confiscated. | grow, sprout mọc ra I wish I could sprout wings and fly away Tôi ước gì mọc được cánh để mà bay đi..
* WING + VERB beat, flap, flutter đập, vỗ
* WING + NOUN tip ngọn, đầu | feathers lông vũ
* PREP on a/the ~ trên It had white markings on its wings. under a/the ~ dưới The young birds were under the mother bird's wing, (nghĩa bóng) Simon's uncle had taken him under his wing Chú/Cậu/Bác của thằng Simon đã ra tay che chở/bảo bọc nó.

2 (cánh) của máy bay/phi cơ

* ADJ aircraft máy bay, phi cơ | left trái, port cửa bên trái mạn tàu | right phải , starboard mạn phải | fixed cố định | folding gập/gấp
* WING + VERB stick out nhô ra, chồi ra
* WING + NOUN tip đầu, mũi

3 (cánh) của toà nhà/cao ốc

* ADJ north bắc, south nam, etc. | private riêng | hospital bệnh/bịnh viện | maternity hộ sinh, hộ sản | maximum security an ninh chặt chẽ/nghiêm ngặt/tối đa (của nhà tù/khám đường)
* VERB + WING add thêm vào, build xây dựng | demolish, destroy, pull down phá huỷ, huỷ bỏ, kéo sập xuống A bomb destroyed the east wing Một trái/quả đã phá huỷ cánh hướng đông (của toà nhà).
* PREP in a/the ~ ở bên Our rooms were in the west wing.

4 (cánh/cửa) của xe hơi/ô tô

* ADJ nearside phiá bên trái, offside phiá bên phải | front trước, rear sau
* VERB + WING damage làm hư, bị hư, dent bị móp, làm móp/bẹp/lõm The nearside wing was damaged in the accident Cánh cửa bên trái xe đã bị hư hại trong tai nạn ấy. | mend, repair, replace sửa chữa, thay thế
* WING + NOUN mirror gương, kiếng/kính
* PREP in a/the ~ There was a dent in one wing Một bên cánh cửa bị móp.

5 (cánh) của một tổ chức

* ADJ left trái, tả, right phải, hữu | conservative bảo thủ | liberal tự do, progressive cấp tiến, tiến bộ, reformist cải cách | extreme, radical cực đoan, quá khích | revolutionary cách mạng | moderate ôn hoà | dissident bất đồng (chính kiến) | political chính trị | military quân sự, paramilitary bán quân sự
* PREP on a/the ~ bên, ở bên They're on the left wing of the Labour Party.



commentator noun

1 bình luận gia, bình luận viên về cái gì

* ADJ cricket críc-kê, khúc côn cầu, football bóng đá, rugby bóng bầu dục, sports, thể thao etc. | match trận đấu, race cuộc chạy đua | radio đài phát thanh, television/TV đài truyền hình

2 bình luận gia; người cho ý kiến về việc gì trên hệ thống truyền thông

* ADJ influential có nhiều ảnh hưởng, có thê/giá | independent độc lập | foreign ngoại quốc, nước ngoài | media truyền thông | cultural văn hoá, economic kinh tế, political chính trị, social xã hội Political commentators are predicting that the minister will have to resig. Các bình luận gia chính trị đang tiên đoán là vị bộ trưởng kia sẽ từ chức.

* PREP ~ on về a commentator on current affairs một bình luận gia về thời sự



Trịnh Nhật

Sydney, 3.10.2007

WLP
12-08-2007, 04:52 AM
HỌC ANH NGỮ BẰNG TIẾNG VIỆT QUA HAI TỪ HÌNH BÓNG CỦA NHAU

Ghi Chú::

-Dấu bằng (=) có nghĩa là liên hệ với, tương đương, gần cận nhau, giống nhau.

-Chữ trong hai gạch nghiêng / / là thanh, thinh, âm, âm vị, chỉ phát âm theo tiếng Việt hay ngoại ngữ.

-Mẫu tự trong ngoặc đơn của một từ có nghĩa là bỏ đi hay câm ví dụ Anh ngữ cổ brus (breast), vú có b(r)u- = bú, vú (bỏ r hay r câm)….

-Dấu (*) có nghĩa là gốc tái tạo không có trong ngôn ngữ thành văn (written records).

-Tôi chỉ giới hạn vào các nghĩa gốc tương đồng và để qua bên các nghĩa phụ, nghĩa bóng bẩy, nghĩa lóng.

-Tôi dùng từ liên hệ hiểu theo nghĩa tổng quát. Còn liên hệ như thế nào không nằm trong phạm vi bài viết này (sẽ nói rõ trong tác phẩm Sự Liên Hệ Giữa Việt Ngữ và Ấn Âu Ngữ .Chỉ xin hiểu một cách tổng quát dù là liên hệ qua môi sinh như tiếp xúc, vay mượn, qua trung gian một ngôn ngữ khác hay di truyền (DNA) như ruột thị, máu mủt thì nói chung vẫn là liên hệ. Có sự liên hệ giữa Việt ngữ và Anh ngữ thì sự liên hệ đó cũng đủ giúp ta học Anh ngữ bằng Việt ngữ một cách dễ dàng và ngược lại.

......

*



Hai Từ Hình Bóng Của Nhau.



Trong Việt ngữ, tôi gọi hai từ là hình bóng của nhau là hai từ đi cặp theo nhau với một từ là hình bóng của từ kia, Từ này có nghĩa đặc thù, chuyên biệt ruột thịt với từ kia và chính là một từ có cùng một nghĩa với từ đó thấy trong một ngôn ngữ liên hệ với Việt ngữ. Ví dụ phất cờ với từ phất là hình bóng của cờ. Từ phất mang tính chất đặc thù, rất chuyên biệt của từ cờ. Vì chúng ta khi nói đến cờ là nghĩ ngay tới phất như cờ đến tay ai thì người đó phất (tục ngữ). Chúng ta nói phất cờ ít khi nói vung cờ, tung cờ, vẫy cờ. Từ phất dùng chỉnh nhất, đi với cờ khắng khít như hình với bóng vì phất là từ hình bóng của cờ. Nhưng điểm chính yếu là từ hình bóng này chính là một từ có nghĩa y chang trong một ngôn ngữ liên hệ với Việt ngữ: trong trường hợp hai từ phất cờ này thì từ hình bóng phất chính là Anh ngữ flag, cờ. Như thế trong Việt ngữ và Anh ngữ ta có phất cờ = flag cờ = cờ cờ. Rõ như ban ngày phất = flag = cờ là hình bóng của cờ. Chúng ta có thể dùng từ hình bóng này để học ngoại ngữ. Trong bài Học Anh Ngữ Bằng Việt Ngữ này, ta hãy dùng từ hình bóng để học Anh ngữ.

Một nhận xét là trong những từ hình bóng của nhau thành tố hình bóng có thể thấy ở dưới dạng động từ như từ phất trong phất cờ trong khi ở từ láy, từ ghép thường thành tố láy, thành tố ghép là danh từ.



Qui luật về hai từ hình bóng của nhau trong Việt ngữ của Nguyễn Xuân Quang:

Hai từ hình bóng của nhau là hai từ đi cặp theo nhau như hình với bóng với một từ là hình bóng của từ kia, từ này có nghĩa đặc thù, chuyên biệt ruột thịt với từ đó và chính là một từ có cùng một nghĩa với từ đó thấy trong một ngôn ngữ liên hệ với Việt ngữ.






A

-ai cà?



Ta thường hỏi ai cà? ai (vậy) cà? Cà là từ hình bóng của ai. Thật vậy, Phạn ngữ ka, who (ai) đẻ ra cà, Pháp ngữ qui, Latin quo (Quo Vadis), theo w = qu (Mường ngữ wach dửa = quả dứa), ta có who = quo, qui, cà, ka.

Tóm lại cà = Phạn ngữ ka, qui, quo... có cùng nghĩa với ai.




B

-bánh xe



Tại sao lại gọi phần vòng tròn giúp xe lăn vận chuyển được là bánh? Con gái tôi sinh ở Mỹ, một lần hỏi tôi tại sao wheel đâu có ăn được lại gọi là bánh? Hiển nhiên bánh ở đây không phải là bánh ăn. Bánh xe và bánh ăn là hai từ đồng âm dị nghĩa. Rõ ràng từ bánh đi như hình với bóng với từ xe mang nghĩa đặc thù của xe. Nói tới phần vành tròn của xe là nghĩ ngay tới bánh. Từ bánh là hình bóng của xe. Xe là gì? Là vật di chuyển được nhờ bánh xe. Anh ngữ car, Pháp ngữ char, Latin carrus, Hán Việt xa, là xe. Theo tầm nguyên nghĩa ngữ, carrus, car, char được cho là liên hệ với gốc Phạn ngữ kar, to roll (lăn tròn). Theo c=x, như cọm, còm = xọm (gầy), ta có car = kar = xa, xe, theo x=ch, xếp = chef, ta có xe, xa = Pháp ngữ char. Theo c=x, ta có Việt ngữ xe = Pháp ngữ cercle, ruột thịt với Anh ngữ circle, vòng tròn. Như thế xe có nghĩa là lăn, tròn gọi theo bánh xe. Theo biến âm b=v, ta có bánh = vành (vật tròn). Từ vành chính là Anh ngữ wheel. Wheel có nghĩa là bánh xe, xoay, xoay tròn, quay tròn. Theo w=v (Mường ngữ wac = vạc, cò đêm), ta có wheel = viền, vành (tròn) , theo w= v=b, wheel = bánh (xe). Bánh xe = vành xe liên hệ với Phạn ngữ val+a, bracelet (vòng đeo tay, còng), circle, circular (vòng tròn, tròn), với vartula (tròn), có var- = val = vành, vạnh, tròn vành vạnh. Phạn ngữ charka, wheel, circle có char- = Pháp ngữ char = xa, xe. Theo w=qu (Mường ngữ wach dửa = quả dứa), wheel = quay (tròn). Mặt khác, Phạn ngữ mandala có nghĩa gốc là vòng tròn. Theo m=b= (mồ hôi = bồ hôi), mandala có mand- = bánh và theo m=v, có mand- = vành (tròn).

Tóm lại bánh xe có từ bánh là từ hình bóng của xe, bánh = vành = mandala = wheel, ruột thịt với Phạn ngữ chakra = car = xe = cercle = circle.



-bốc khói



Từ bốc ruột thịt với khói. Theo biến âm b=m, bốc = móc (sương như mưa móc, ơn mưa móc) = smoke, khói. Ta thấy smoke = (s)mok(e) = móc. Sương, móc ruột thịt với khói nên bốc cũng ruột thịt với khói vì thế bốc mới đi đôi như hình với bóng cùng từ khói. Khói thường đi đôi với sương như thấy qua từ đôi điệp nghĩa khói sương vì khói sương trông như nhau, nhìn đều thấy mờ mịt, mù mịt, đều trông như mist! Ta cũng thấy rõ sự liên hệ này qua phương ngữ Huế gọi sương là cởi:



Đêm khuya cởi xuống dần dần.

(ca dao)


theo c = k = kh, cởi = khói. Rõ như hai năm là mười cởi (sương) ruột thịt với khói.

Ở đây ta cũng có thể dùng Anh ngữ smoke, fog để giải thích tại sao ta thường nói khói đi đôi như hình với bóng với bốc (bốc khói). Theo f=b như fỏng = bỏng, foot = boot, ta có fog = bốc, theo m=b, smoke, smog (smoke + fog = smog) = bốc. Rõ ràng bốc có liên hệ nghĩa ngữ với khói sương và biến âm với nhau nên ta thường nói bốc khói hay nói một cách khác bốc khói là hai từ hình bóng của nhau.

Ta cũng nói bốc hơi vì hơi và khói họ hàng với nhau, còn nói bốc lửa, bốc cháy là nói theo nghĩa lệch, gián tiếp, ẩn dụ vì lửa và khói liên hệ với nhau, có lửa mới có khói.



Tóm lai bốc khói có từ hình bóng bốc ruột thịt với móc (sương) = cởi = khói và ruột thịt với Anh ngữ fog, smoke, smog.




C

-cắt cụt



Cắt nguyên thủy có nghĩa chính là chặt làm cho ngắn, cho cụt bớt đi. Cắt chỉ có thể làm cho cụt đi, chứ không thể nào làm cho dài thêm ra được, nên cụt mang tính đặc thù của cắt. Cụt là từ hình bóng của cắt. Cụt chính là Anh ngữ cut là cắt.




D

-đôi đũa



Đũa là hai cây que dùng để gắp. Từ đôi đi cặp với đũa như hình với bóng, nói tới đũa là nghĩ tới đôi:




Chồng thấp mà lấy vợ cao,

Như đôi đũa lệch so sao cho vừa.

(ca dao).



Đũa có nghĩa gốc là hai ruột thịt với duo, đôi, hai, duo- = đũa,

liên hệ với Hy Lạp duò, Latin duo, Phạn ngữ dva, Pháp ngữ deux, Tây Ban Nha dos, Nga ngữ dba (dva-)... gốc tái tạo proto-Indo-European *dw... Ta cũng thấy đũa đi với gắp như hình với bóng. Theo g=c (gài = cài), gắp = cắp = cặp là đôi, hai. Cặp ruột thịt với Anh ngữ couple, cặp, đôi. Rõ như ban ngày đũa có nghĩa là hai, cặp, đôi.

Còn từ đôi (hai) ruột thịt với double, Tây Ban Nha ngữ doble, với Việt ngữ phiên âm đúp. Theo t=d, w=u, two = duo, đôi. Đại Hàn ngữ tuir, tuur, hai, cũng liên hệ ở đây.

Hiển nhiên đôi là từ hình bóng của đũa.






G

-gài cúc (áo).



Theo g=c như gái = cái, ta có gài = cài. Nói tới cúc áo là ta nghĩ ngay tới gài, cài. Cúc là vật để gài để cài. Gài biến âm với gai. Nguyên thủy con người dùng gai nhọn để cài áo, để móc, để cột hai mép lá, vỏ cây, hai mép áo, vải lại với nhau. Ta cũng thấy cài biến âm với cầy, cây. Nguyên thủy cầy là khúc cây nhọn để xới đất. Khúc cây cũng dùng làm then cài cửa. Như thế cài và gài trong trường hợp này giúp ta tìm ra được nguồn gốc nghĩa ngữ của cúc. Cúc phải có nghĩa là gài, cài, móc vào. Bắt buộc. Bắt buộc. Và bắt buộc. Theo c=h, như cấm = hàm (răng), ta có cúc = Anh ngữ hook (/húc/), móc. Cúc là vật để móc hai mép áo vào nhau, để gài, cài áo. Ngày nay ta còn thấy có những loại cúc áo kiểu cổ làm bằng que hay khúc cây nhỏ.

Ở đây ta thấy rõ như hai năm là mười là từ hình bóng giúp ta truy tìm ra được tầm nguyên nghĩa ngữ của Việt ngữ và tìm ra được sự liên hệ giữa Việt ngữ và ngôn ngữ liên hệ.



-gan bàn tay



Từ gan đi với bàn tay (đôi khi với bàn chân) như hình với bóng.

Dĩ nhiên gan đây không phải là lá gan (liver) giống như bánh xe không phải là bánh ăn. Vì là từ hình bóng của bàn tay, bàn chân nên gan phải có nghĩa là bàn (tay, chân). Bàn ruột thịt với bằng như chiếc bàn làm bằng một tấm ván bằng, Hán Việt thạch bàn là phiến đá bằng, ông Bàn Cổ có Bàn là mặt đế bằng như bàn thạch và cổ là cột trụ (cổ là phần cột trụ cắm đầu vào thân người). Ông Bàn Cổ là ông cột trụ có đế bằng rất vững chãi, ông Trụ Chống Trời, người ông cứ cao mãi lên để chống trời, tách trời ra khỏi đất khi trời đất còn dính với nhau. Từ bàn chính là Anh ngữ palm, gan bàn tay chỉ phần bằng của bàn tay. Các tác giả Tây phương giải thích palm là bàn tay vì bàn tay giống lá cây palm (cọ, kè). Giải thích này, theo tôi, là một giải thích muộn vì các từ chỉ thân thể là những từ căn bản cân bằng bền (stable basic words) rất cổ trong khi từ cây palm có rất muộn so với bàn tay. Có thể từ palm gọi theo hình ảnh bàn tay chứ không phải là bàn tay gọi theo lá cây palm. Hơn nữa palm ruột thịt với Phạn ngữ pâni = bàn tay. Theo p=b, pal- = pân- = bằng = bàn (tay, chân). Điểm vững chắc nhất cho thấy palm nghiêng về nghĩa bằng là ta cũng nói gan bàn chân mà bàn chân hiển nhiên không thể giống lá palm được. Anh ngữ plantar là gan bàn chân. Bàn chân là phần bằng của chân, plantar ruột thịt với plan, plane, bằng, mặt bằng (xem chữ này), có pan- = bàn (chân).

Từ gan (bàn tay) có gốc từ Phạn ngữ gal-, hand, bàn tay. Theo g=h (gồi = hồi), ta có gan = gal = hand. Một điều lý thú là gan (bàn tay) không dính dáng gì với gan (liver) nhưng vì gan (liver) đi đôi với lòng thành một từ ghép gan lòng giống như Hán Việt can trường (gan lòng) nên gan bàn tay còn gọi là lòng bàn tay. Từ lòng ở đây không có nghĩa là lòng ruột nhưng hiểu theo nghĩa là phần giữa, phần hổng, phần lõm của bàn tay cũng tạm chấp nhận được.

Việt ngữ cũng có từ gang tay (chiều dài bàn tay) như dưa gang,

liên hệ với gan (bàn tay) có cùng gốc Phạn ngữ gal-, theo g=h, gang = hand.

Tóm lại gan là từ hình bóng của bàn (tay).




H

-hoi sữa



Từ hoi đi kèm với từ sữa như hình với bóng như hoi sữa, miệng còn hoi sữa, nói tới hoi là nghĩa tới sữa. Như thế hoi ruột thịt với sữa, bơ sữa. Hoi với h câm là oi, ta cũng nói oi sữa. Sữa có bơ, mỡ để lâu bị oxýt hóa trở thành hoi, oi. Miệng trẻ em bú sữa, không rửa sạch có mùi hoi, oi sữa là vậy. Hoi chính là Pháp ngữ huile, dầu mỡ và oi chính là Anh ngữ oil, dầu mỡ.

Lợn, heo có nhiều mỡ là loài cung cấp mỡ nên tên của nó liên hệ với mập, mỡ. Con heo, con hợi là con huile, con hoi, con oi, con oil. Con lợn là con lờn, con nhờn (liên hệ với dầu mỡ). Nhờn biến âm với nhầy, nhớt (dầu nhớt, rau đay có nhiều nhớt). Con boar (heo rừng đực, heo đực chưa thiến) liên hệ với Việt ngữ bồ (chất béo, dầu, bơ, bồ là dạng cổ của mồ như bồ hôi = mồ hôi và của mỡ), liên hệ với beurre (Pháp ngữ). Con heo kêu oint oint là kêu oil oil, theo tiếng Việt là kêu “oi oi”. Ointment là thuốc mỡ có oint-, mỡ dầu.

Tóm lại hoi, oi là từ hình bóng của sữa.




K

-khét tiếng



Ta có từ khét là một từ đặc thù đi với từ tiếng như hình với bóng. Thật vậy, ta cũng nói vang tiếng với vang liên hệ với âm, tiếng như âm vang, ầm vang, vang vọng. Như thế khét phải có nghĩa liên hệ với tiếng và là một từ có trong một ngôn ngữ liên hệ với Việt ngữ. Với h câm ta có khét = két. Con chim biết nói tiếng người gọi là con két, có nơi gọi là con vẹt, nói như két, nói như vẹt. Loài chim két, vẹt này được gọi tên vì biết nói tiếng người giống như con yểng, một loài thuộc họ chim sáo cũng nói được tiếng người. Mường ngữ iểng là nghe, liên hệ với tiếng. Theo k= v như kênh = vênh, ta có két = vẹt.

Vẹt chính là Anh ngữ verb, (tiền tố hay gốc từ) như verbal, thuộc về verb, verbalism, phát biểu bằng lời nói, lời nói, câu văn, từ ngữ, -verbalist, nhà phê bình, chỉ trích chuyên về lời nói,

verbalization, verbalize, nói dài dòng văn tự, nói nhiều lời.

Verb có nghĩa là lời nói, tiếng, tiếng nói, từ, chữ, động từ...

.verb = vẹt, con vẹt là con nói, loài chim nói được tiếng người. Con vẹt = con két = con verb.

.verb- = vách, vanh vách (nói vanh vách), vạch như vạch ra hàm nghĩa nói ra liên hệ với Phạn ngữ vach, to speak, vâch, speaking (xem chữ này). Theo v=m, vách = mách (nói lại,) mách lẻo, mách bảo (chỉ báo). Theo v=b, verb, vẹt, vách, Phạn ngữ vach = bạch như biện bạch, bạch thầy. Theo v=b, vac-, var- = bạch. Anh ngữ parrot, két, vẹt có par- = Phạn ngữ var(t), varh, bark, nói liên hệ với ban như bảo ban, ban phán. Theo p=b=v, par(rot) = var(t) = ban, bạch, vách, verb, vẹt.

.theo v=b=ph, verb = phét, phét lác (nói láo).

.theo v= c=k=kh, verb = khoét, láo khoét.

Rõ ràng khét là từ hình bóng của tiếng.




L

-lửa cháy



Nói tới lửa là ta nghĩ tới cháy. Cháy có chá- ruột thịt với Anh ngữ char, cháy, đốt, cháy thành than, thiêu rụi, với charcoal, charbon (Pháp ngữ), than. Ta thấy char = chả là thức ăn nướng than như char-broiled hamburger. Chả là thịt nướng than như bún chả Hà Nội, chả quế. Người Huế có món tôm nhuyễn nướng than gọi là chạo cũng có cùng gốc char, chả. Cái chảo dùng rán thức ăn cũng có gốc chả, char, cháy. Nên nhớ đúng nghĩa ra từ chả chỉ áp dụng cho thức ăn nướng than, lửa mà thôi. Sau này dùng rộng ra, chả cũng chỉ thức ăn rán, chiên như chả giò, chả ram, chả trứng (loại rán, chiên) cũng tạm chấp nhận được. Tuy nhiên, giò lụa là món luộc, mọc trứng là món hấp nếu nói là “chả” lụa, “chả” trứng, chả đùm là sai ngữ pháp. Vào tiệm ăn gọi một đĩa cơm tấm bì chả trứng, nhà hàng nào cũng đem ra mọc trứng hấp thịt chứ không phải là trứng nướng than hay chiên. Trứng hấp thịt miến, mộc nhĩ phải nói là mọc trứng như người Bắc mới đúng ngữ pháp. Quảng Đông ngữ chá xíu, xá xíu là thịt nướng cũng liên hệ với chả, char, cháy. Chá xíu có chá cùng một gốc với cháy. Chá xíu biến âm với cháy thiêu.




M

-mặt trăng, mặt trời.

Ta có từ mặt đi cặp với trăng, trời (mặt trăng, mặt trời) như hình với bóng. Trăng, trời là những vật sáng. Theo biến âm tr=s như trả = sả (chim bói cá), ta có trăng = sáng. Trăng biến âm với trắng, trong, trong trắng. Trong đi đôi với sáng như trong sáng. Cổ ngữ Việt blăng, trăng ruột thịt với Pháp ngữ blanc, trắng, Anh ngữ blank, để trắng, trống. Pháp ngữ lune, Tây Ban Nha, Ý ngữ luna, Latin lunes, trăng… liên hệ với light, lumière, luz, ánh sáng. Từ trời, chời biến âm với chói hàm nghĩa sáng như thấy qua từ đôi chói sáng. Theo ch =s (chữa = sửa), chời = soi, soi sáng. Theo c=s như coi = soi (xem), ta có cời = soi (sáng). Như thế mặt phải có nghĩa là sáng: mặt sáng như gương tầu. Việt ngữ mặt biến âm với mắt, có một nghĩa là sáng như sáng mắt ra, người có mắt là người sáng, là người nhìn thấy sự vật, người không có mắt, không sáng là người tối, người mù. Pháp ngữ visage, mặt ruột thịt với vision, nhìn, thấy. Theo m=b, mặt = bật (làm cho sáng) như bật đèn, bật lửa, bật quẹt, bật sáng lên = Phạn Ngữ bhà-, làm cho sáng lên.

Việt ngữ mặt liên hệ với Anh ngữ mask, mặt nạ, Phạn ngữ mâsa, mặt có mâs- = mặt = mask.




N

-nấm mồ

Từ nấm đi cặp với mồ như hình với bóng. Mồ, mả là mô đất có hình vòm dùng dể chôn, người chết. Theo Vũ Trụ giáo, mồ mả đắp hình vòm, các nóc nhà mồ cũng có mái hình vòm biểu tượng cho vòm hư không, vòm vũ trụ, vòm trời. Cây nấm có chỏm hình vòm là biểu tượng cho Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế, Cây Đời Sống. Người Thái ở Nghệ An có cây nấm là Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế, Cây Đời Sống (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt).

Trống đồng âm dương Nguyễn Xuân Quang VI tức Heger I có hình cây nấm (bằng đầu vì vòm nấm đập dẹp xuống làm

mặt trống) mang hình ảnh Cây Nấm Vũ Trụ (Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Người chết được chôn trong mồ mái vòm với ý nghĩa là trở về với vòm vũ trụ, với hư không, với Cây Đời Sống để được tái sinh hay về miền vĩnh cửu. Tương tự người chết (hay một phần thân thể người chết như đầu hay tro than) được chôn trong trống đồng âm dương, trong chum vò cũng

có cùng một quan điểm như vậy.

Từ mồ ruột thịt với Anh ngữ mound, đống, gò, mô đất, đồi núi nhỏ, mu lồn, liên hệ với mount, đồi núi, lũy thành, bàn đạp để leo lên ngựa, phần nhô cao quanh khung ảnh, với mountain, núi, đống to, đống lớn liên hệ với Latin mont-, mons, đồi. Mồ, mô liên hệ với gốc tái tạo Tiền cổ Ấn Âu ngữ (PIE) *mel-/*mol-, đồi, núi.

Gò đống là một hình thức nguyên sơ của tháp (kim tự tháp),

giống như mồ, kim tự tháp là nơi chôn cất các người lãnh đạo, vua chúa. Chúng ta có các gò đống như gò Đống Đa, gò Đống Lã, gò Đống Anh... Thổ dân Mỹ châu có tộc chuyên đắp gò đống được gọi là Mound-Builders. Các gò đống này cũng như kim tự tháp được coi là đường lên trời, Trục Thế Giới và cũng là mồ chôn của những người quyền thế để họ có thể về với vũ trụ. Hiển nhiên ta thấy mồ mang hình bóng của Nấm Vũ Trụ, Nấm Tam Thế, Nấm Cây Đời vì thế mà Việt ngữ mới có từ nấm mồ. Hiện nay ở Việt Nam, các mồ mả xây theo kiểu nhà lầu, cung điện như ở Huế có “phố ma”, các loại này không có nóc hình vòm, theo đúng nghĩa của mồ, thì không thể gọi là mồ nữa mà chỉ là chỗ ma ở mà thôi. Người chết chôn trong các phố ma này không thể trở về với vòm hư vô, vũ trụ mà chỉ lẩn quất ở cõi thế gian phàm tục này. Ở Hoa Kỳ, mồ mả chôn bằng mặt đất, hồn người chết cũng chỉ luẩn quẩn ở Cõi Bằng thế gian ta bà này. Mồ mả hiện nay về ý nghĩa biểu tượng không bằng cái nấm đất, cái mả thằng ăn mày ngày trước.




O

-ơn trên

Chúng ta nói ơn trên, không hề nói ơn dưới như thế từ trên cho biết nguồn gốc ngữ của từ ơn và hai từ là hình bóng của nhau. Trên liên hệ với trời. Theo th=tr như tháng = trăng, ta có Việt ngữ trên = Mường ngữ then (trên, Mường Then là Mường Trên) = Hán Việt thiên. Rõ ràng trên ruột thịt với trời, chời. Ta cũng thấy với h câm, chời = cời = côi (phương ngữ Huế) có nghĩa là trên, liên hệ với trời. Như thế ơn phải có nghĩa là trời. Thật vậy tạ ơn là tạ trời, cám ơn là cảm tạ trời. Ơn chính là Anh ngữ on, trên. Ta có on = ơn (ân). Ơn là trời. Ai Cập có thành phố Mặt Trời On sau này chuyển qua Hy Lạp ngữ là Heliopolis. Akhadian ngữ (Lường Hà) on là vòng tròn (vòng tròn biểu tượng hư không, mặt trời); Sơ Đăng on, Mạ unh, Xì Tiêng onh là lửa liên hệ với trời, mặt trời. On liên hệ với ên (một như một mình ên), với one, một có một nghĩa là trời, trời là số một (xem one).

Như thế rõ ràng ta có ơn = trên = then = thiên = trời = Anh ngữ on, trên.




P, Ph

-phí tổn

Phí là tiền phải trả cho một dịch vụ nào đó như lệ phí, học phí, y phí. Phí chính là Anh ngữ fee.

Tổn là biến âm của tốn như tốn tiền, tốn kém, tốn phí (tốn phí giống như tổn phí hay phí tổn). Tốn, tổn chính là Anh ngữ toll, lệ lệ phí đường xá, “tiền mãi lộ”, điện thoại, toll free là không tốn (tiền), miễn phí. Rõ ràng phí tổn là hai từ hình bóng của nhau.




Q

-quạt mát

Quạt và mát đi với nhau như hình với bóng. Bà Hồ Xuân Hương trong bài thơ Vịnh Cái Quạt có câu:




Mát mặt anh hùng khi tắt gió.



Theo qu=v như quấn = vấn, ta có quạt = Phạn Ngữ vát, to fan (quạt). Quạt liên hệ với gió thấy rõ qua sự liên hệ giữa Phạn ngữ vát, to fan và Phạn ngữ vâta, gió. Thep v=m, ta có vát, vâta = mát. Việt ngữ mát liên hệ với Anh ngữ fresh, mát, tươi như fresh air, không khí tươi mát. Theo m=b=f, ta có mát = fresh.

Hiển nhiên mát là hình bóng của quạt. Như đã biết ta có từ ghép quạt phành phạch, phần phật. Theo ph = f= b=v, phành = fan, quạt = Mường ngữ phán (phướn), một dạng cổ của cờ dùng trong các lễ hội, tang ma = Anh ngữ banner (phướn, phán). Ta thấy rất rõ cờ phướn, cờ phán, banner ruột thịt với quạt fan, liên hệ với gió. Thành tố láy phạch như quạt phạch phạch cả đêm (xin đừng hiểu theo kiểu quạt Hồ Xuân Hương!) = Anh ngữ flag (cờ). Tương tự phần phật có phần = fan và phật = flag cũng liên hệ với gió (Học Anh Ngữ Qua Từ Ghép).

Tóm lại quạt, cờ là hình bóng của gió, của mát.




R

-rặng núi

rặng đi với núi như hình với bóng. Rặng chính là Anh ngữ range, rặng (núi).



[
B]S[/B]

-sao sáng

Sáng đi kèm với sao như hình với bóng như ta có bài đồng dao một ông sao sáng hai ông sáng sao. Mường Việt cổ gọi sao là sáng như nàng sáng, ông sáng.

-Sáng ruột thịt với Anh ngữ shine, sáng.

.shine = /sai/ = sao là sáng, (xem dưới) liên hệ với Phạn Ngữ chand, to shine, theo ch=s, chand = sáng. Ta cũng thấy chand = chăng, trăng (moon) có nghĩa là sáng. Vì có nghĩa là sáng nên đi đôi với mặt (có nghĩa là sáng) như mặt trăng (xem trên), Phạn Ngữ ghan, to shine, theo g=s, ghan = sán (lạn), sáng lạng, sáng láng. Xin lưu tâm, vì liên hệ với hai gốc Phạn khác nhau nên ta có hai từ sán (lạn) và sáng (lạng). Cả hai đều đúng cả. Phạn Ngữ kanch, to shine, có kanc- = sáng (k=s). Kanc- cho ra candle, nến (xem từ này).

.theo s=c, /shai/ = chói (chang, sáng) = chời (mặt sáng).

-Sao chính là Anh ngữ star, Trung cổ Anh ngữ sterre, Latin sidus, sao, Phạn ngữ tárá, sao. Tất cả có nghĩa gốc nghĩa là sự tỏa ra của ánh sáng.

.có s(t)ar, sid- = sáng, sao. Sao biến âm với sủa có nghĩa là sáng thấy qua từ láy sáng sủa. Mã Lai ngữ suar là lửa hiệu, đuốc, đèn dùng làm hiệu sáng. Sao liên hệ với cổ ngữ Nhật asa, sáng, asu là sáng mai (sáng sớm). Cũng nên nhắc lại là Nam Dương ngữ aso là con chó rất gần cận với Nhật ngữ asa, asu này. Con chó là con sáng giống hệt như con sói, con lang. Con sói là con chói, con lang là con láng, con lạng, con sáng, Latin lupus (sói) là con lux, luz, ánh sáng. Trăm Lang Hùng Vương có Lang có một nghĩa là Sáng (Ánh Sáng, Mặt Trời Mọc rạng sáng) có con thú biểu bốn chân là con Lang vì thế Hùng Vương thứ nhất có hiệu là Lân Lang (Lang Sáng) và dân gian Việt Nam múa thiên cẩu vào các dịp lễ lạc. Các Lang Hùng Vương phải hiểu là các Quang Lang (Lang Sáng, Ánh Sáng) còn hiểu là Quan Lang với quan là mandarin, một chức tước của Trung Hoa là sai (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

.star có -tar = tá là lửa, là sáng như ông Táo là thần bếp lửa, Mường Việt tá, đá là con cháu dòng mặt trời, lửa như Tá Cần, Tá Cài, Ba Tư Tar, thần lửa, Ai Cập Ptath, Thần Mặt Trời, Nga ngữ csar, hoàng đế (một thứ con trời). Cụm từ tá hỏa tam tinh cho thấy rõ tá đi đôi với hỏa và liên hệ với tinh (sao). -Tar liên hệ với tỏa (sáng), tia (sáng). Phạn Ngữ tàrá, sao và stri = sid- = sáng.

.-tar, tá- = tua. Việt ngữ tua là sao nhữ tua rua (Tiểu Hùng Tinh) = sao tua, sao rua. Theo biến âm kiểu te tua, ta có tua = te = gốc tái tạo Ấn Âu ngữ (IE) * ster-, sao. Ta thấy rõ tua, tua rua liên hệ với Phạn ngữ tàrá sao.

Hiển nhiên sáng và sao là hai từ hình bóng của nhau. Sáng là từ cổ của sao.




T

-theo đuôi

theo đuôi là hai từ hình bóng của nhau. Nói tới đuôi là ta nghĩ ngay tới theo nên theo cũng hàm nghĩa đuôi hay liên hệ với đuôi. Ta thấy theo chính là Anh ngữ tail, đuôi. Tail = /teo/ = Việt ngữ theo. Theo đuôi đẻ ra từ đôi theo đuổi, đeo đuổi. Ta có tail =

/teo/ = đeo (đ=t) và đuổi là biến âm của đuôi giống nghĩa với

Anh ngữ tailgate. Việt ngữ đèo có nghĩa là mang phía sau lưng, sau đuôi (như xe đạp đèo người ỡ phía sau) là biến âm của tail. Việt ngữ đèo bòng có đèo là mang phía sau lưng, sau đuôi và bòng là bồng là bế. Một ông đèo bồng là cõng một bà ở phía sau đuôi và bồng một bà ở phía trước. Ta cũng có từ nói leo có nghĩa là nói theo, nói theo đuôi. Theo l=th như lủng = thủng, ta có leo = theo.



-tiếng nói



Tiếng là từ hình bóng của nói. Nói là phát ra tiếng, nói chính là tiếng. Tiếng liên hệ với Pháp ngữ ton, Anh ngữ tune. Ta thấy nói chính là Anh ngữ noise, tiếng, tiếng động. Noise có noi- = nói. Hai từ là hình bóng với nhau, tiếng nói có tiếng = nói = noise.




V

-vã mồ hôi

Mồ hôi hay bồ hôi có mồ biến âm của mỡ và bồ là biến âm của mồ nên cũng có nghĩa là mỡ dầu như bồ hòn là trái tròn có dầu mỡ dùng giặt quần áo như soap, savon (xà phòng), bồ kết là trái có chất dầu dùng gội đầu. Bồ ruột thịt với bơ, beurre. Mồ hôi là chất nước có dầu mỡ bị vi trùng oxýt hóa thành hôi vì thế mới nói là mồ hôi dầu (xem từ sweat).

Vã đi với mồ hôi như hình với bóng. Ta cũng nói vã nước lên mặt. Vã ruột thịt với gốc va là nước ví dụ và [cỏ và là cỏ mọc bên bờ nước, vại, vật đựng nước, vắt (vặn nước ra), vàm, vùng thấp sũng nước liên hệ với swamp, đầm, (có -wam- = vàm]. Vã ruột thịt với Anh ngữ vat (thùng lớn); (Đức ngữ vatten nước, Nga ngữ vodka, rượu, Phạn Ngữ vaçâ, bò sữa (sữa là thứ nước con người uống đầu tiên)…






X

-xe lăn (bánh).

Từ lăn chỉ tính đặc thù của xe vì ta biết từ xe gọi tên theo bánh xe tròn. Xe, xa, car có cùng gốc Phạn ngữ kar, to roll, lăn tròn (xem trên). Tròn đi với lăn như hình với bóng như thấy qua từ đôi lăn tròn. Lăn liên hệ với Anh ngữ roll.

Theo r=l (róc mía = lóc mía), ta có roll = lăn, xe lăn bánh hàm nghĩa là xe chạy. Ta cũng thấy rất rõ roll ruột thịt với rota, bánh xe (Rotary Club, Phù Luân Hội). Roll = lăn có nghĩa là lăn bánh tức xe chạy.

Tóm lại ta có lăn là hình bóng của bánh xe = roll là hình bóng của rota, bánh xe.



Kết luận

Những từ hình bóng của nhau cũng như từ láy, từ ghép giúp ta truy tìm gốc từ, nguồn gốc nghĩa ngữ và mối liên hệ giữa Việt ngữ và ngôn ngữ loài người nhất là những ngôn ngữ liên hệ mật thiết với Việt ngữ.

BS Nguyễn Xuân Quang khoahoc.net

WLP
12-30-2007, 02:49 AM
Mùa Xuân trên Cõi Tiên

Bài học tuần này, xin được mở đầu bằng một lời chào mời (start with an invitation):



Hello everyone, you are welcome to visit Tạp chí Thứ Bẩy (Saturday Magazine): http://www.bbc.co.uk/vietnamese/magazine/ để đọc tản mạn về “ANHMV”, đã được Đài BBC trích đăng và biên tập thành nhiều mục hấp dẫn (intriguing topics), cùng với hình ảnh minh hoạ đẹp và khéo chọn (beautiful and well-chosen pictures).



Một trong những người đầu tiên vào viếng Mạng BBC đã thổ lộ (stated):



Tôi rất vui bắt gặp (to have come across) bài học Tiếng Anh “Học Mà Vui” trên báo BBC. Những bài ông viết rất khôi hài và sâu sắc (very humourous and incisive) lại thực dụng (also of a practical nature) cho người học và nghiên cứu tiếng Anh thực dụng nữa. Rất mong ông có sức khoẻ (continued good health) và đóng góp gì thêm (contribute more) trên trang báo này (to this website) và cả của Đài VOA nữa. Ở Việt Nam sẽ biết nhiều về tính trào phúng rất hay đó của ông (your highly satirical writings), nếu có nhiều bài viết trên 02 Đài này (if your articles are carried on these two stations). Rất tiếc ông chưa có dịp ghé thăm Miền Trung và Tuy Hòa. Mong có dịp gặp ông (Looking forward to seeing you one day).



Tác giả lá thư này là ông Võ Dũng, Giám Đốc Trung Tâm Anh Ngữ Quốc Tế Duy Tân (DTC), mới thành lập (newly established) tại Tuy Hoà, Phú Yên. Qua người giới thiệu cách nay mấy tháng, tôi đã được ông mời thăm viếng Trung Tâm và hợp tác, cùng là tìm giúp cho Trung Tâm giáo viên tiếng Anh bản ngữ người Úc (Australian native-English teacher), vì họ hiện chỉ có một giáo viên bản ngữ người Mĩ, nên chưa đủ cung ứng cho số đông học viên (large number of students), gồm cả thiếu niên lẫn tráng niên. Hi vọng chuyến đi Việt Nam sắp tới, tôi sẽ có dịp đến thăm Trung Tâm cuả ông và tìm lại kỉ niệm với Tuy Hoà sau hơn 4 thập kỉ.



Liên hệ đến chuyện dạy Anh Ngữ, anh bạn ở Toronto, Canada gửi “meo” (email) cho tôi thêm í kiến về việc làm của anh ấy như sau:

The proper term of this programme is L.I.N.C. [acronym (= chữ tắt) Language Instructions for Newcomers to Canada)] [Tiếng Anh cho Người Mới Đến Gia-Nã-Đại], prior to this it was given the name S.L.P. (Settlement Language Program), starting in the 1980s. All newcomers -- not yet acquired Canadian citizenship (regardless of stay in the country), legal residents status (có qui chế thường trú nhân) -- are eligible (đủ điều kiện được theo học). The courses are offered free (miễn phí), including childcare and some transportation subsidy (trợ cấp tiền giữ trẻ và phần nào tiền xe cộ chuyên chở).

Ở Úc hiện giờ, các thường trú nhân (permanent residents) được theo học miễn phí 510 giờ trong Chương trình AMEP (Adult Migrant English Program), ngày học 4 tiếng, tuần học 5 ngày. Chính tôi đã được tuyển vào dạy “Survival English” (Anh Ngữ sinh tồn/cứu sống/thực dụng) cho đồng bào tị nạn Đông Dương (Indo-Chinese refugees) lúc họ mới chân ướt chân ráo tới Úc (new arrivals/newly-arrived migrants/refugees to Australia) trong chương trình của Sở Giáo dục Di dân Tráng Niên [Adult Migrant Education Service (AMES)] trong thời gian 20 tháng (đầu 1978-cuối 1979), trước khi sang Anh Quốc làm việc.

Trong số những phản hồi, tôi xin kể sau đây:

Dear Frank, This and other informal lessons from you make for very good reading. Keep up the good work. Send emails to me via the other address: vienchu@gmail.com (CXV, Virginia, USA)

Kính gửi bác Trịnh Nhật. Tôi vẫn thích đọc bài viết của bác vì luôn có những khúc tiếu ngạo giang hồ, tuy không thiếu sự bén nhậy của tình người. (NCT, Melbourne, Australia)



Tôi còn nhận được ‘email’ phản hồi của một người em con chú con bác với tôi, hiện ở California, Hoa Kì:

“…Cám ơn những bài học Anh Ngữ, chắc chắn không ít thì nhiều cũng hữu ích. Tiện đây em cũng gởi đến anh vài góp ý xây dựng của 2 thằng bạn thân: thằng thứ nhất hiện ở Hanover đi du học từ năm 67, còn thằng thứ hai hiện ở Florida từ hơn 10 năm nay.”



Người bạn của chú em ở Hanover, Đức viết:

“´USA' tiếng Việt là nước Mỹ hay là nước Mĩ, Hoa Kỳ hay là Hoa Kì? Bên Việt Nam mình bây giờ tụi nhỏ học viết Mĩ Tho hay là Mỹ Tho? Tại sao lại phải thay đổi thành chữ i (ngắn) thay vì chữ y (dài). Sự thay đổi này phải chăng chỉ có thất lợi mà thôi?”



Người bạn của chú em ở Florida, Hoa Kì viết:

“Có một ông thầy giáo tên là Nguyễn Ngu Í muốn hô hào viết chữ i thay cho chữ y, nhưng trong nhiều trường hợp của tiếng Việt đâu có thể thay thế được. Thí dụ: Thanh Thuý đâu có thể viết là: Thanh Thúi được.”



Chú em của tôi sau đó nêu nhận xét:

“Em thấy những thắc mắc về chữ i và y là chính đáng. Em cũng đồng tình với ý kiến của thằng bạn thứ nhất và cũng đã tạm hài lòng với lối phân tách, giải thích của thằng bạn thứ hai. Xin lỗi anh nếu anh cho rằng em nhận xét như vậy là chưa đúng, em thấy là anh chịu nhiều ảnh hưởng về cách dùng chữ i và y trong nước, có lẽ vì anh tiếp xúc nhiều với các giới chức trong nước nên bị ảnh hưởng chăng?”



Chú em của tôi viết tiếp:

“Riêng em có câu chuyện liên quan tới gia đình em: Hồi tháng 7/05 đại gia đình em cùng về VN (dự đám hỏi, cưới của Hà, con gái em) gồm 18 người, trừ bà già em (my mother) vào phút chót phải nhập viện bất ngờ (hospitalised unexpectedly/unexpected hospital admission) . Ở VN nhà trai đã lo, chuẩn bị mọi thứ nên cũng đỡ, đám hỏi và cưới diễn ra rất tốt đẹp (went off very well), em cũng đã gởi thiệp mời (sent invitations) ra ngoài Bắc [Hải-phòng (gia đình chị Nhạn) và Hà-nội (gia đình thím Chuẩn cùng gia đình Quang/Thúy, gia đình Thăng/Thu Hà, cùng gia đình Minh Hoa/Khải)], nhưng tất cả đều không vô được vì đường xá xa xôi, nhưng có gởi tiền mừng tổng cộng 3 “checks” (mỗi “check” 2 trăm ngàn tiền VN) ở đây điều đáng nói cả 3 “checks” đều gởi tên người nhận là em nhưng có sự rắc rối (trouble) là tên em có chữ lót (middle name) “Quí” mà cả 3 “checks” đều ghi chữ “Quý” (Trịnh Quí Mạnh thay vì Trịnh Quý Mạnh), thế là không được mặc dù bà xã em (my wife/missus) có trình bầy và đưa “passport” (hộ chiếu) cho họ xem nhưng vẫn không được, đành thôi vậy, về tới nhà em có điện thoại cám ơn những tình cảm mà họ hàng đã dành cho gia đình em. Ở Mỹ hoặc các nước khác, em tin chắc là đều nhận thấy sự hơi vô lý đó. Em cũng nhớ hồi 79 đám cưới em, có chị Nhạn vào dự, em vẫn cảm kích lắm.”



Trong khuôn khổ bài học Anh Ngữ này, tôi không thể trả lời, giải thích cặn kẽ những điều tôi muốn nói về việc tại sao người ta lại muốn đổi cách viết chữ y (dài) thành i (ngắn), một thói quen đã “ăn sâu cắm rễ” trong tâm hồn người Việt khi họ đọc, họ viết tiếng mẹ đẻ của mình. Câu hỏi và những điều thắc mắc của chú em và bạn bè của chú ấy đã được nhiều người bàn đi bàn lại trên www.talawas.org trong 5 năm qua, trong đó phải kể đến các tác giả như Đoàn Xuân Kiên, Vũ Dũng, Ngô Cảnh, Nguyên Nguyên, kể cả bài viết của tôi với nhan đề là “Bắt được mùa Xuân tình cờ”, năm 2004 (Xin mời vào Mạng < www.talawas.org >, rồi bấm vào Mục Ngôn Ngữ).



“Mùa Xuân tình cờ” của tôi là một bài tôi dự định phỏng vấn ông thầy cũ về “tiếng Việt trước thềm thiên niên kỉ mới." Câu hỏi đã soạn sẵn, chờ trực để được trả lời, với hi vọng Thầy tôi sẽ làm sáng tỏ quan niệm của ông về việc cải cách chính tả tiếng Việt, nhưng rất tiếc là việc chưa thành thì ông đã sớm vĩnh viễn ra đi vào cuối Thu năm 2000, tại miền Bắc California, Hoa Kì.

Như tôi vẫn thường nói “người nào việc nấy”, “chó giữ nhà, mèo bắt chuột”, nên tôi dành thẩm quyền này cho Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Đình Hoà, tác giả cuốn sách “Ngữ học Nhập Môn” (Introduction to Linguistics) [tài liệu học tập dành riêng cho Sinh viên Đại học Văn khoa Sài Gòn], in tại nhà in Bình Minh, 338 Trương Minh Giảng Sài Gòn, năm 1962. Khi đặt câu hỏi với ông, không phải là tôi không có sẵn câu trả lời, nhưng tôi vẫn muốn “mớm”, muốn “câu” ông Thầy cũ cuả tôi để được thông tin từ “người tinh tường/người biết rõ chuyện”(from the horse’s mouth), ít ra là uy tín hơn tôi.

Nay tôi xin trích lại một số câu hỏi để Quí Vị, Quí Bạn có một khái niệm về những suy tư của tôi:

Hỏi (1): Kính thưa Giáo sư Nguyễn Ðình Hoà, qua những bài viết trên báo chí Việt ngữ đăng tại Mĩ, những điện thư của GS mà tôi đã được đọc, tôi nhận thấy GS bày tỏ mối quan tâm và qua đó ông đã đưa ra một số đề nghị liên quan đến vấn đề thống nhất chính tả và cải cách quốc ngữ. Như vậy hóa ra công trình chuyển tả, thiết lập hệ thống văn tự cho tiếng Việt của các giáo sĩ Dòng Tên phương Tây, trong đó có Alexander Rhodes, ngay từ thuở ban đầu, cách nay ba thế kỉ, chưa được hoàn chỉnh hay sao?

Hỏi (2): Khi nói đến thống nhất chính tả, cải cách chữ quốc ngữ, GS đã dựa vào tiêu chuẩn (phương ngữ, âm tiết, dấu thanh điệu…) và bình diện (ngữ âm, âm vị, ngữ/hình vị, ngữ ý, chính tả…) nào để thống nhất, để cải cách?

Hỏi (3): Trước những tiến bộ của khoa học điện tử, dân chúng toàn cầu sống trong hậu bán thế kỉ 20 đã may mắn được hưởng lợi khá nhiều về mặt thông tin mà chữ viết, in ấn đóng vai trò chính yếu. Thưa GS, việc thống nhất chính tả, cải cách chữ quốc ngữ sẽ mang lại những lợi ích gì thực tiễn hơn nữa?

Hỏi (4): Ðứng trước một đất nước Việt Nam không có một Viện Hàn lâm Ngôn ngữ có thẩm quyền, đứng trước một cộng đồng người Việt hải ngoại sống rải rác trên toàn cầu mà ở đó tiếng Việt không phải là tiếng bản địa, GS hi vọng gì khi gióng lên tiếng nói cải cách chữ quốc ngữ trong khi thói quen vốn dĩ đã được coi là bản chất thứ hai (second nature) của con người?

Cuối cùng tôi còn kêu gọi:

Tôi rất mong được quí vị độc giả của “talawas” cho biết ý kiến thay cho Thầy tôi. Riêng những vị nào đã gom góp được những bài viết trước đây của Gs Nguyễn Ðình Hoà, Gs Bửu Khải, Gs Dương Ðức Nhự, Gs Cao Xuân Hạo v..v… liên quan đề tài “tu chỉnh văn tự" nêu trên, xin làm ơn trích dẫn chuyển đến diễn đàn “talawas” để chúng ta được rộng đường dư luận.

Riêng về cách viết i (ngắn) thay cho y (dài), thì tôi có thể tạm thời trả lời vắn tắt chú em tôi và bạn bè của chú là như thế này:

1. Tôi không bắt chước hoặc bị ảnh hưởng do sự tiếp xúc nhiều với các giới chức trong nước, không phải là chuyện a dua, “thời thượng”, mà là vì đó là phạm vi nghiên cứu cho bằng Phó Tiến sĩ/Cao học Ưu hạng [MA (Hons)] về Ngôn Ngữ Học (Linguistics), 1978, tại Đại Học Macquarie, Australia, của tôi, mà đề tài là về âm vị học Việt Ngữ (Vietnamese phonology).

2. Tôi có thể biện biệt việc chuyển đổi lối viết i (ngắn) thay cho y (dài), dựa trên cấu trúc âm tíết (syllabic pattern), trong khi phân tích âm hệ Việt ngữ (hệ thống âm vị học tíếng Việt = Vietnamese phonological system), qua các bài viết của Gs Nguyễn Ðình Hoà và Gs Dương Ðức Nhự. Các bài viết của những tác giả như Đoàn Xuân Kiên, Vũ Dũng, Ngô Cảnh, Nguyên Nguyên nói chung dựa vào chính tả, cách viết tiếng Việt, hay xa hơn nữa, quá lắm là dựa vào phân tính ngữ âm thực nghiệm/dụng cụ (experiemental/instrumental phonetics), và cũng vì thế mà làm vấn đề trở nên thêm rắc rối (overkill).

3. Khi nói về bán mẫu âm [y ] ~ [ j ] hay [w ], (còn gọi theo ngữ âm học là âm lướt (glide), trong đó âm lướt đi (off-glide), như [aj ] ai, [aw] ao và âm lướt tới (on-glide), như [jạ] dạ (giọng Nam), [wa] oa. Sự phân biệt giữa Thúy và thúi, nếu sửa đổi chính tả cho phù hợp với lối chuyển tả âm vị thì sẽ được viết như thế này: / thwí / Thúy , còn /thúj/ ~ /thúy/ thúi. Khác biệt giữa / i / (nguyên âm) và [ j ] ~ [ y ] (bán mẫu âm) là ở chỗ đó.

Tôi xin hẹn một dịp khác để bàn kĩ càng về mô thức âm tiết (syllabic pattern) tíếng Việt trong đó / i / là một nguyên âm (vowel) còn [ y ] ~ [j ] được biện biệt như là bán mẫu âm (semi-vowel) mà thôi. Âm tiết đơn giản nhất là mẫu âm (viết tắt là V). Âm vị / i /, chứ không phải [ y ] ~ [ j ], là biểu hiện tối thiểu cho âm tiết đó. Một vài mô thức âm tiết tiêu biểu là V ( í ), CV ( tí ), VC ( ví ) CVC ( mít ) trong đó V là vowel (= nguyên âm/mẫu âm); C là consonant (= tử âm/phụ âm).

Quí Vị Quí Bạn thân thương ơi! Bài viết đã khá dài, tôi xin trở lại chủ đề cho bài học tuần này là “Mùa Xuân trên Cõi Tiên” (Springtime in Paradise) cơ! Số là tối Thứ Sáu 5-10-2007 là Đêm Nhạc kỷ niệm 65 năm âm nhạc và ra mắt CD của Nhạc sĩ Xuân Tiên, được tổ chức tại Bankstown District Sports Club, 8 Greenfield Parade, Bankstown, với khoảng 600 người tham dự. Người tới dự mua 30$ Úc một vé, và được tặng một đĩa CD “Dâng Nắng”, gồm 14 bài do các ca sĩ “cây nhà lá vườn” ở Sydney trình bầy như Lê Xuân Hân (hát bài “Dâng Nắng”), Ái Phương (“Mùa Lá Vàng”), Anh Huy (“Trăng Khuya”), Mỹ Linh & Quốc Oanh (“Mây Chiều”), Analise Võ (“Hoài Vọng” và “Tình Viễn Khơi”), Duy Tiến (“Chờ Anh Em Nhé”), Quỳnh Xuân (“Nhắn Mây”), Thu Hằng (“Mong Chờ” và “Lửa Rùng”), Bích Hà (“Tình Đi Về Đâu”), Ngọc Oanh (“Đón Mùa Xuân Mới”), Minh Thư (Xa Quê Hương).

Bài học tuần này được dựa vào trích đoạn bài tôi viết giới thiệu nhạc sĩ Xuân Tiên trong Tuyển tập Ca khúc “Duyên Tình Xuân Tiên” bẩy năm trước đây:

“I came by Xuân Tiên (Spring Fairy) in a surprise encounter (trong một cuộc hội ngộ tình cờ), late in our lives (muộn màng trong tuổi đời), when our hair had turned to grey (khi cả hai đã bạc mái đầu). In the process of composing music which covers a period of over 60 years (trải dài hơn 60 năm), even though Xuân Tiên has written wistful songs (những bài hát bâng khuâng nuối tiếc) about longing for love and love of homeland, he did not want to bring into play the joy of pain (không muốn đem thú đau thương vào nhạc phẩm của ông). There are a number of compositions (sáng tác) which I have heard and liked (tôi đã nghe và mê thích), and only recenly finding out they were his (mà gần đây mới biết là của ông). Works such as Chờ anh em nhé! (Wait for me! My sweetheart), Mong chờ (Yearning and waiting), Duyên tình (Fated love), Xa Quê hương (Away from my homeland)…

The song, Chờ anh em nhé! (Wait for me! My sweetheart), would easily move people to raise their voices and start singing the first two lines in high and low cadence (cất cao giọng hát hai câu mở đầu lên bổng xuống trầm). In Mong chờ (Yearning and waiting), the composer uses a typically Central Vietnamese style melody (giọng Huế du dương), creating an imagery of a boat drifting (tạo ấn tượng một chiếc thuyền lênh đênh) on the Perfume River (sông Hương) in the old Imperial City, which fails to stop (không chịu ghé bến) and pick up a lover who has been waiting for a long time (khách tình nhân phải mỏi mắt trông chờ) on the bank of the river. In Duyên tình (Fated love), with typical Northern Vietnamese style rhythm (giọng điệu quan họ nhịp nhàng), village boys and girls compete with each other, singing and flirting, in the hope that they are destined to marry (hi vọng se mối duyên đời) through doing this. Whoever has heard Kim Tước sing Xa Quê hương (Away from my homeland), in her lovely, ethereal singing voice (giọng ca thanh cao, trong vắt), cannot help but be overwhelmed by the poinancy of homesickness (tràn ngập nỗi nhớ nhung quê hương vời vợi).

Quí Vị Quí Bạn thân mến! Với bài “Mùa Xuân trên Cõi Tiên” (Springtime in Paradise) tôi xin được “say good-bye/say farewell” (tạ từ/tạm biệt) cùng Quí Vị Quí Bạn, sau khi đã hoàn tất đợt 3, 10 bài (21-30) trong Loạt bài “Anh Ngữ Học Mà Vui” (“Learning English Can be Fun’ Series). Có một vị nữ lưu nào đó đã “vui” mà “ngẫu hứng”:




Ai cho em nửa nụ cười,

Em xin trả lại một đời tóc xanh!!!

Tạm dịch thành thơ:

[Whoever makes me smile, in truth,

I’ll give him all the days of my youth]



Thật không đấy? Một đời “tóc xanh” hay “tóc bạc”? Xin Quí Vị hỏi vị nữ anh hùng (heroine) Anh Thư!



Trịnh Nhật

Sydney, 11.10.2007



Kết hợp ngữ
(Collocations)



spring noun

1 Xuân, muà Xuân

* ADJ last trước, qua, năm ngoái, next tới, sau, this (coming) sắp đến/tới | early sớm, late trễ, muộn mid- giữa | wet ướt át, mưa nhiều
* SPRING + NOUN weather thời tiết | sun mặt trời, sunlight ánh sáng, sunshine nắng | frost/frosts sương muối, rain/rains mưa, wind gió | tide con nước, nước triều The highest spring tides of the year occur after the equinoxes in March and September Những con nước triều dâng cao nhất trong năm xuất hiện/xẩy ra sau những tiết cân phân vào tháng Ba và tháng Chín. | equinox phân điểm, điểm phân, tiết cân phân [một trong hai lần mỗi năm (khoảng 21.3 và 22.9) khi mặt trời đi qua xích đạo ngày và đêm dài bằng nhau] | term khoá, quí The students spend the whole spring term on teaching practice Sinh viên dùng trọn khoá học muà Xuân để dạy thực tập. | flower hoa | lamb thịt trừu/cừu, greens (tiếng Anh-Anh) bắp cải non mềm luộc chín và ăn như rau a delicious recipe for spring lamb công thức làm món ăn ngon dùng thịt cừu/trừu non mềm | clean, cleaning ‘mẻ’ làm sạch bóng, ‘cú’ làm sạch bóng/như lau như li They decided to give the attic a spring clean Chúng nó quyết định sẽ làm cho cái gác xép một phen sạch bóng. | collection quyên góp, thu nhặt exhibition triển lãm, đấu xảo.

2 lò-xo (bằng sắt hay thép)

· VERB + SPRING break làm gẫy The children broke some springs jumping on the bed. Tụi nhỏ nhẩy trên giường làm giường bị gẫy mấy cái lò-xo

· SPRING + VERB break, go bị gẫy/đứt Most of the springs have gone in the old sofa Phần lớn những chiếc lò-xo trong cái ghế xô-pha bị gẫy.

3 suối; suối nước phun lên

· ADJ hot, thermal (nước) nóng | bubbling sủi, nổi bong bóng mineral (nước) khoáng, mountain núi

· SPRING + VERB bubble sủi bọt, nối bong bóng A thermal spring bubbled up out of the rocks. Một suối nước nóng từ những tảng đá sủi bọt ra.

· SPRING + NOUN water nước



spring verb

bật lên, chồm (tới), nhảy bật (lại), lao ra

* ADV suddenly bất thình lính, đột ngột | apart tung ra, tách ra, back trở lại, ngược trở lại down xuống, forward tới, về phiá trước, out ra, up lên He sprang back in alarm Nó hoảng hốt nhẩy bật/ngược/lui trở lại.
* VERB + SPRING be ready to, be waiting to sẵn sàng, đợi sẵn The lion crouched, ready to spring Con sư tử thu mình, sẵn sàng nhảy chồm lên.
* PREP at ở Therese sprang at him and kissed him on both cheeks Therese nhẩy chồm vào hắn rồi hôn hắn vào hai má, into vào trong, out of ra ngoài/khỏi He sprang out of the car Hắn nhào ra khỏi chiếc xe hơi.
* PHRASE spring open bật mở tung ra, nậy tung ra He worked a knife blade into the drawer and it sprang open Hắn nhét/luồn lưỡi dao vào ngăn kéo và nậy bật tung ngăn kéo ra, spring to action nhẩy bổ vào hoạt động spring to attention đứng phắt vào thế nghiêm The sentry sprang to attention lính gác/canh đứng phắt vào hàng nghiêm chỉnh/đứng phắt vào thế nghiêm spring to your feet đứng phắt dậy She sprang to her feet and ran to answer the doorbell Cô ta đứng phắt dậy ra xem ai bấm chuông ngoài cửa, spring to mind chợt nảy ra í nghĩ, nảy ra trong đầu.

fairy noun
tiên, nàng tiên, tiên nữ, tiên ông, ông tiên

· ADJ good tốt, hiền lành, hiền từ | bad, wicked xấu, ác, ác độc

· VERB + FAIRY believe in tin là có, tin vào/ở

paradise noun

1 thiên đường, thiên đàng, cõi tiên, vườn cực lạc

* VERB + PARADISE go to đi đến/tới They all expected to go to paradise.
* PREP in ~ trên an angel in paradise

2 (chốn/nơi) thần tiên, tuyệt hảo, tuyệt vời

· ADJ perfect tuyệt hảo, unspoilt tuyệt vời, cao vời, không vướng bụi trần | beautiful đẹp lost bị mất the lost paradise of childhood | children's của trẻ em, walker's của người đi bộ, etc. | earthly trần gian, trần thế, island hòn đảo, tropical vùng nhiệt đới

* VERB + PARADISE create tạo dựng, làm thành, tạo thành She worked on the garden until she had created her own little paradise. | find tìm thấy They moved to the country hoping to find paradise.
* PARADISE + NOUN island đảo, hòn đảo
* PREP in (a) ~ trong, ở, tại We found ourselves in a tropical paradise. | ~ for cho The airport is a paradise for pickpockets. ~ of cuả a paradise of golden beaches
* PHRASE a paradise on earth thiên đàng dưới hạ giới/trần gian.



Trịnh Nhật

Sydney, 11.10.2007

WLP
03-30-2008, 12:11 AM
Xin Anh chớ tưởng tiếng Em nghèo!



Trong bài học lần trước, người bạn Úc của tôi, tên Việt Nam là Hiền, có viết một câu tục ngữ: "Cunning as a shithouse rat", thì có một độc giả điện thoại yêu cầu xin được giải nghĩa thêm về í nghĩa của câu nói trên.



Sau khi tham khảo với anh Hiền và rồi lại được cháu Pamela, cô con gái thứ hai của tôi, tra cứu giùm trên mạng yawiktionary.com, nay tôi xin được trả lời quí độc giả như sau:

Theo văn hoá Úc, khi nói đến “shithouse” là nôm na nói đến “(cái gì) có phẩm chất dở/chất lượng tồi” (= of poor quality)”. Từ này cũng còn dùng để chỉ cái cầu tiêu/nhà vệ sinh nằm bên ngoài nhà (= outside toilet). Cầu tiêu loại này thường không được tiện nghi mấy. Không giống như một số những từ ngữ ghép khác, từ này không nhằm vào sự kết hợp bổ túc lẫn nhau của hai từ “shit” và ‘house”. Bởi vì “shit” nghĩa là “phân”, là “cứt” được dùng để chỉ “cái thứ đồ bỏ”, trông thấy là “thấy ghê, thấy ớn”, mà “house” nghĩa là “nhà” hàm í tính chất “to rộng, kín đáo” của tiện nghi nhà ở, nơi nương thân. “Shithouse” ở đây được dùng theo nghĩa bóng để chỉ những gì đáng “kinh tởm, chán ghét”, hoặc “xấu xa, tồi tệ”.



Còn cả câu nói: "Cunning as a shithouse rat" (= khôn ranh như con chuột ở cầu tiêu) dùng để chỉ người “lươn lẹo” (= slippery); “không đáng tin cậy” [= untrusworthy hoặc shonky (tiếng Úc/Tân Tây lan)]; “tính toán, so đo” (= calculating); “dối trá, lừa đảo” (= deceitful), ấy vậy mà đương sự vẫn không chịu nhận trách nhiệm về hành động mình làm. Thông thường câu tục ngữ trên được dùng để ám chỉ “những người bán xe hơi/ô tô” (= car salesmen), “các chính khách” (= politicians), “những ông chồng mèo mỡ/ngoại tình/ không chung thuỷ” (= unfaithful husbands).



Ngoài những lời giảng nghĩa trên, có lẽ Quí Bạn cũng như tôi có thể còn có thắc mắc là tại sao con chuột ngoài chuồng xí lại được kể là “khôn ranh”. Tôi xin mượn lời một bà giáo người Úc để được thưa rằng:

The saying “Cunning as a shithouse rat” derives from the time when toilets in the towns were outside the house in “a little house” commonly known as “a dunny”. The pans used to collect human waste were collected each week by “the dunny man” and a new one put in place. Because the rats needed protection and warmth, they often crept into “the little house” and made their nests in the area surrounding the pan, out of sight of humans, and using the warmth generated by human excreta to keep them warm. If humans came to use the toilet they would be very quiet so as not to be discovered and consequently killed. Therefore we use the saying to show how cunning, calculating and deceitful rats can be if their lives depend on being so.



Trong bài học tuần này, tôi xin được kể một câu chuyện liên quan đến tiếng Tây (= Anh/Phương Tây) và tiếng Ta (= Em/Việt Nam) như thế này:

During my recent trip to Vietnam, I was in Saigon with time on my hands, so I had to think about how to fill in the time to keep from getting bored. One of my ploys was to look up friends that either lived in Vietnam or were just visiting, and take them out for a bite to eat.

On a particular day, I rang up a colleague’s widow and his daughter, visiting from Australia, and invited them to my favourite Vietnamese restaurant “Khúc Giao Mùa” on Hồ Tùng Mậu Street in Saigon. It is away from the ‘hubbub’ of the usually busy, noisy, dusty streets, always filled with fumes from exhausts. We ordered soup, fish, chicken, beef and finally fried squid, with rice. During the meal, the daughter stopped eating, and I guessed that she had eaten enough. Out of courtesy I asked her in Vietnamese if she wanted to “ăn vã” the squid (meaning: “just eat the squid without having rice with it”). She said “No, thanks, I had enough; I am full.”

All of a sudden, out of ‘professional deformation’, I told her mother there is no such equivalent in English as “ăn vã”, but her mother was unsure of this, so she asked her Australian-born daughter, who had just finished her HSC with good marks, if this was true. The daughter named Isabelle came up with the word “snacking”, but I did not agree with her and explained “snacking” or “having snacks” in English means to say that you “have something” between your main meals, but the word “ăn vã” in Vietnamese is used when you have food that’s unaccompanied with rice. In Vietnam you have no luxury to have your food without rice, the reason being Vietnamese families are poor and food is scarce and not plentiful enough to make your stomach full.

In Western countries rice or bread is not the staple of the meal as it is in poorer countries. When someone has had enough food in Vietnam you say “no” (pronounced ‘naw’, meaning ‘full’ in English). However, in English the word “full” is also used to indicate “the fullness” of a glass as in “that glass is full of water”. In Vietnamese, the word “đầy” (full) is used instead, as in “một ly nước đầy” (a glass full of water), so there is a differentiation between “full” as in “a full stomach” and “full” as in “a full glass”, but there is no such difference in the English language.

Hooray, Hurray, Vietnamese!!! You’ve beaten English 2-0 in this regard!!! Because you have the word “ăn vã”, which does not exist in English, and you can differentiate between “no” and “đầy”.



I love you so much for that, my Mum Tongue!!!



MTS (Me The Sun)


Chú thích từ vựng:

1) with time on my hands = có thờì giờ/thì giờ (trong tay).

2) to fill in the time = làm lấp thời giờ rảnh rỗi/rảnh rang.

3) to keep from getting bored = tránh/giữ cho khỏi buồn chán.

4) one of my ploys = một trong những phương kế/chiêu của tôi.

5) to look up friends = tìm xem có bạn bè nào.

6) to take someone out for a bite (to eat) = đưa ai/người nào ra ngoài/ra phố đi ăn/đi đớp (a bite = miếng cắn; miếng ngoạm)

7) to ring up = gọi điện thoại.

8) colleague’s widow = quả phụ của người đồng nghiệp.

9) hubbub = chốn/nơi ồn ào, huyên náo.

10) fumes from exchausts = khói từ những ống bô xả khói của xe cộ.

11) my favourite Vietnamese restaurant = tiệm/hiệu ăn Viết Nam tôi thích.

12) to order = kêu/gọi (món ăn).

13) soup = canh

14) fried squid = mực chiên/sào.

15) out of courtesy = vì lịch sự; theo phép lịch sự.

16) out of ‘professional deformation’ = vì ‘méo mó nghề nghiệp’.

17) her Australian-born daughter = cô con gái sinh/sanh tại Úc của bà ta.

18) HSC (= Higher School Certificate) = Bằng Phổ thông Trung học; Bằng Tú Tài 2.

19) to come up with something = tìm ra cái gì/câu trả lời gì.

20) snacking = ăn vặt (còn gọi là “having snacks”)

21) unaccompanied with rice = không ăn kèm với cơm.

22) luxury = sự xa xỉ/xa hoa.

23) scarce = ít; hiếm.

24) plentiful = nhiều; dồi dào.

25) stomach = dạ dầy; bao tử.

26) the staple of the meal = món chính của bữa ăn.

27) to indicate = chỉ; nói đến.

28) differentiation = sự phân biệt.

29) Hooray = Hoan hô (còn gọi là “Hurray”).

30) to beat = đánh thắng.

31) in this regard = về điểm này/mặt này.

32) Mum Tongue (= mother tongue) = tiếng mẹ đẻ (trong bài này là “tiếng Việt”).





Trịnh Nhật, PhD

Sydney, 12.3.2008

WLP
04-05-2008, 01:38 AM
Giãy như đỉa phải vôi

Chuyện “ăn vã” trong bài “Xin anh chớ tưởng tiếng Em nghèo!” lần trước quả là một “cú hích” cho Quí độc giả cùng các bạn hữu thân thương của tôi, và kết quả là những “phản hồi” (feedback) lí thú mà tôi đã nhận được. Tôi xin tóm tắt như sau:


Cám ơn anh viết bài đọc vui và làm ta thêm tự hào về tiếng Việt của mình.
Tôi mong có dịp mời anh một bữa có nhiều thức ăn để anh “ăn vã”, nhưng hi vọng anh sẽ không “ăn vạ”, nếu anh ăn không đủ “no”! (NPD, Canberra)

Thanks anh Điền đã khéo chơi chữ. Từ “ăn vạ” theo từ điển của Bùi Phụng có nghĩa là (= to make a scene in order to get what one wants).



Riêng anh Viên, đã từng làm Tuỳ Viên Quân Lực VNCH ở Đài Bắc, nay cư ngụ tại Hoa Thịnh Đốn, còn quả quyết:

And neither the Chinese nor the French have it (ăn vã). It's a concept unique to Vietnamese culture, me thinks. (CXV, Washington, D.C.)



Còn anh Bình, bạn nhậu ở Burwood, thì đã không tiếc lời “áo thụng vái nhau”:

Thế mới biết tiếng Việt ta cũng "giàu" quá phải không ông bạn? Nói vậy thôi, chứ muốn biết nó có "giàu" hay "nghèo", mình cũng phải rất thông thạo "English" như ông bạn thì may ra mới có thể khám phá ra được. Cám ơn bạn đã cho đọc những " khám phá dzí dzỏm " của ngôn ngữ. (NAB, Sydney)



Anh Dũng, trong nhóm bạn nhậu “The Gang of Five” ở Burwood của chúng tôi, đã góp í:

… “Snacking” là "ăn vặt". “Đầy bụng” là "bloated". “Ăn vã” hay “ăn dỗ mồi” không có dạng từ Anh Ngữ tương đương vì cách ăn uống khác nhau. Xứ của ta nghèo nên cơm là chính. Thức ăn cốt là để có mùi vị để dễ ăn cơm, nên ai “ăn thức ăn không” là ảnh hưởng tới mọi người khác. Bởi vậy các cụ mới đặt ra danh từ điển hình để khi nhắc tới là mọi người trong cuộc đều phải chú ý tới và xác định lại tình hình ăn uống của chính mình. (ĐQD, Sydney)



Anh Thịnh, người bạn trẻ (tôi quen mà chưa gặp), thì cũng có lời bàn:

Cảm ơn anh cho xem một bài viết thú vị. Xin phép được góp vài ý vụn chủ quan: Chữ "ăn vã" thật hay, thường vì người dọn mâm cơm muốn mọi thứ được thanh toán cả cho gọn và đỡ việc phải xử trí mấy món còn lại trong mâm cơm đã dọn lên, nên khuyến khích việc “ăn vã”, tức là ăn đồ ăn không kèm theo cơm vốn là món chính của người mình.“Having snacks” hay “snacking” là “ăn vặt”, “ăn nhẹ” vào khoảng giữa ba bữa ăn chính. “No bụng” có khi khác với “đầy bụng”. Từ "đầy bụng" có lúc dùng cho trạng thái hay triệu chứng bệnh hoạn, "bị chứng đầy bụng". Nó có ý nghĩa cảm giác, có thể ăn 8 phần, 9 phần bụng cũng cảm thấy no được. Trong ý nghĩa này thì nó giống như đủ (Tri túc tiện túc). Trong khi đầy có ý nghĩa vật lý hơn, tức là đã đến mức tối đa, 10 phần 10 rồi, không chứa thêm được nữa. Quả thật về những sự việc căn bản của con người và sinh hoạt cơ bản, thì tiếng Việt mình giàu hay dư dả. Nhưng đời sống dân mình càng văn minh hơn, thì còn cần du nhập rất nhiều những từ ngữ mới. Xin tha tội nói leo.
(PVT, Sydney)



Còn anh Thông, ở Melbourne, cũng không ngại ngần cho í kiến đại loại như sau:

Very interesting article. Some minor points: 1. lươn lẹo = tricky (cf. slippery; 2. đày bụng (literally, “full stomach”) which has its positive meaning as “no bụng” and its negative meaning as “đày bụng”. “Empty stomach” (literally, “bụng trống”, not a Vietnamese usage) which means “đói bụng” or “đói”; 3. tốt bụng (literally, “good stomach”) which does not mean “ a (biologically) healthy stomach”, but a good-natured person. (NCT, Melbourne)



Với í kiến của ba anh bạn trên, sau khi tham khảo, tôi xin viết thêm đôi điều về hai từ “bloated” và “indigestion” như thế này:

“To be bloated” means to be distended (= bị căng phồng) with air or water. It does not always refer to “indigestion” (= chứng khó tiêu/đầy bụng), which means an inability or difficulty in swallowing food (= nuốt thức ăn). When you suffer from indigestion, often the symptoms are gagging (= nghẹn), burning [= nóng ran (ở dạ dầy)]. Women often complain of “bloating” during their periods (= có kinh nguyệt; hành kinh), because of water retention (nước chứa/giữ lại) in the body.



Còn anh Danh tại Melbourne thì bảo:
Đọc bài của anh cảm thấy rất vui và hay vì học được danh từ mới, chính tôi cũng chưa nghe từ "ăn vã" lần nào. Người Sài Gòn thường gọi từ này một cách dễ hiểu là "ăn không" (ăn thức ăn không có cơm) và có lẽ đúng theo nghĩa của nó hơn. Cheers. (HCD, Melbourne)

Theo tôi, thì “ăn không” lại có nghĩa là “ăn cơm không, mà không ăn thức ăn” trong tiếng Bắc, và như vậy là trái hẳn với nghĩa hiểu theo tiếng Sài Gòn. Đấy là chưa kể đến “ăn không” theo Đại Từ Điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên thì là: 1) Ăn tiêu mà không làm ra tiền, của cải (vd. Cứ ngồi nhà ăn không thì của núi cũng hết); 2) Lấy không của người khác bằng thủ đoạn, mánh khoé (vd. Kiểu kí kết như thế này thì quả là làm để cho chủ ăn không).



Chị Uyên Hạnh, ở Đan Mạch, lại lê thê, kể lể khúc nhôi như sau:

to take someone out for a bite (to eat) = đưa ai/người nào ra ngoài/ra phố đi ăn/đi đớp (a bite = miếng cắn; miếng ngoạm)

… tôi xin "bàn vô bàn ra" với anh cho vui. Anh dùng chữ "đi đớp" nghe "dễ sợ" quá! Trong bạn bè với nhau, rủ nhau đi ăn tiệm, có thể nói: "mình đi kiếm cái gì nhét vào bụng", "rủ ai ra phố kiếm chút gì ăn", hay "đi kiếm cái gì đớp một phát". Tuy chữ "a bite" hàm ý nghĩa bình dân và số lượng không lớn, nghĩa là ăn gì cũng được, hay là ăn qua loa cho no bụng thôi, không là bữa ăn trịnh trọng, nhưng dùng chữ "đưa người nào ra phố đi đớp" thì tôi chưa hề nghe, đến khi nghe anh nói, nó "lạ tai" quá. Ở xứ Huế của chúng tôi, trước 75, bạn bè đi học, thường gọi nhau đi "kéo ghế" . Từ này trong gia đình bà con, người giàu có hay trung lưu, đều dùng (bởi người nghèo không có tiền để đi “kéo ghế”). Từ nầy dùng cho "for a bite" cũng được mà dùng cho việc đi ăn “restaurant” cũng được, và có tính cách rất thân mật, sang cĩng được mà bình dân cũng được. Vài lời "nhiều chuyện" với anh cho vui. Anh có đầu óc dí dỏm hài hước nên bài viết của anh rất thực dụng (UH, www.khoahoc.net)

Người đẹp UH ơi! Tôi học được cụm từ “kéo ghế” của chị. Lạ quá, mới với tôi quá! Còn cụm từ “đi đớp” thì chị cứ hỏi bất cứ người Bắc nào là chị muốn kéo họ “đi đớp” là họ hiểu liền. Chẳng hạn như chị nói: “Bọn mình bây giờ ra phố tìm cái gì đớp một cái đi!” Trong tiếng Bắc “đớp cái gì” nghĩa là “ăn cái gì”.



Kính thưa Quí độc giả, Quí thân hữu, nếu tôi nói có điều gì sàm sỡ, thất thố trong khi bàn đến tiếng Em, thì xin Quí Vị Quí Bạn thứ lỗi giùm cho. Câu chuyện tiếng Anh tuần này liên quan đến bà chị tên Thư Hương, 68 tuổi, của tôi, cựu nữ sinh Trưng Vương, Sài Gòn, mới từ bên Mĩ sang Úc chơi, du lịch, thăm viếng con cháu:
Recently my sister who lives in Southern California came to Australia to visit her son and daughter-in-law and to see her newly born second grandchild. She was staying not far from my home, so I took the opportunity to invite her out for the day to entertain her during her visit to Australia. She had previously been here before so I figured that a good day out would be a visit to Star City Casino, as her favourite “sport” is playing poker machines. When I suggested this outing she appeared embarrassed in the presence of other relatives. She told me she played poker machines every week in Orange County, so she has had enough of it, and she appeared to be adamant that she didn’t want to visit our casino.



Her reaction reminded me of a saying we have in Vietnamese; i.e. “giãy như điả phải vôi” (Wriggling around like a leech with lime on its body). Deep down I knew if I insisted she would accompany me regardless, which she eventually did. As pensioners we had the benefit of transport concessions, so we took a bus from outside my home in Casula to catch the train at Liverpool Station. We alighted at Cabramatta Station to go to John Street to arrange a money transfer ($200) to her eldest son in Vietnam. It was advantageous to do so, because the Australian currency rate is the highest in the last 24 years (somewhere between 93 and 94 cents to one US dollar), and we knew her son would receive the money the very same day, as there is only a 4-hour difference between Australia and Vietnam.

We headed back to Cabramatta Station and on the way we stopped at our favourite Vietnamese bread shop “Lâm Thiên”, owned by the lovely Thảo and her husband, to buy two chicken rolls which cost $3.80 each. We also bought drinks to accompany the chicken rolls, and the bill came to about $10 altogether.

We took the train to Central Station, a ride of about 50 minutes, and ate our brunch on the train. On alighting from the train we took the light rail tram to the Star City Casino. This cost only $4.20 return for a senior citizen like me, as the train concession ticket did not cover this journey. We arrived at the Casino at 12.45 pm and I told my sister she could go wherever she wanted to, and we would rendezvous in 2 hours’ time at the front staircase. I headed for my favourite ‘sport’, roulette.

We bumped into each other throughout that time to check on our winnings, and she told me that she was on a losing streak. I told her that I had won more than $2000 and, after cashing in, I had one $25 chip and two $5 chips left, which I gave her as a gift. I had previously given her $50 as she had forgotten to bring her purse with her.

My sister is sort of superstitious, and believes in Chinese horoscope. After my winning, she said that Monday was a propitious day for my animal sign, as well as the number two. I won twice at roulette on the doubles, first on 33 and then not long after, a double on number 2. I don’t know if she is psychic or not, but the omens for good luck were not so at the beginning of our journey, as I had sent money to her son in Vietnam and I had given her $50 to gamble. It just goes to show that I’m not superstitious, even if she is.

A motto within the gambling circle is: “Sometimes winning is knowing when to stop”, and I for one believe in it. On a particular day-out at the casino, I would stop gambling at some stage, whether I’m winning or losing. When playing my ‘one and only game’ roulette, the most I’m prepared to lose is $500, that’s all there is to it.

My sister and I left Star City at 3 pm after having our day at play. My outlay for this great day was $6.70 return for my fares, $6 for food and drink, and my gambling money, of which I only used $200. All in all, I came away ten times better off, and my sister, in spite of all her wriggling, enjoyed the day. It was a good feeling all around!



Lời bàn:

Có điều đáng chú í là khi người Việt bị đỉa cắn, ta dùng vôi để cho đỉa đau, đỉa xót mà phải chùn, phải giãy, thì đến lúc đó mình sẽ “bứng” đỉa ra dễ dàng, còn Tây phương thì họ dùng muối thay vôi. [In English, there is no association in the saying with leeches or lime, and if a leech is to be prised from a body, salt is used instead of lime.]



“Giãy như đỉa phải vôi” hay “Giãy lên như đỉa phải vôi”, hay còn nói “Giãy nảy như đỉa phải vôi” có nghĩa là: “Giãy nảy lên với cử chỉ khua tay, lắc đầu nguây nguẩy, tỏ vẻ không đồng ý, không hài lòng, ví như con đỉa quằn quại trong vôi.” (Từ điển Thành ngữ Việt Nam, Viện Ngôn Ngữ Học, Hà Nội, 1993). Để diễn tả sát nghĩa thành ngữ tiếng Em đó sang tiếng Anh thì ta có thể nói: “Wriggling around like a leech with lime on its body”. Nhưng động từ “to wriggle” trong tiếng Anh thường được dùng để chỉ hành động “vặn vẹo, luồn lách” khỏi “chỗ chật hẹp”, “nơi bị mắc kẹt” hòng thoát ra ngoài. Thí dụ: The eel wriggled out of my fingers (= Con lươn luồn lách khỏi tay tôi). Cụm từ “to wriggle out of something/doing something” hay “to wriggle one’s way out” dùng như thế là với nghĩa đen, nhưng khi dùng với nghĩa bóng thì có nghĩa là “lẩn tránh; tránh né”. Thí dụ: “She tried to wriggle out of paying me what she owed by saying she didn’t have her purse with her (= Cô ta cố tránh né không trả tiền cô ấy nợ bằng cách nói là quên không mang theo ví/bóp), hay một thí dụ khác: “He wriggled his way out of shouting a beer, by going to the toilet when it was ordered (Hắn lẩn tránh trả tiền mua bao/đãi bia bằng cách đi vô nhà vệ sinh khi người ta kêu bia uống). Theo văn hoá Úc, khi vào “pub” uống bia, với nhóm bạn thì bạn bè lần lượt thay phiên nhau mua bia bao/đãi người khác; bao qua bao lại mà tiếng Úc gọi là “to shout; shouting”. Khi họ nói “Now it’s my shout!” thì có nghĩa là “Giờ đến lượt tôi bao nhe!”


Chú thích từ vựng:

1) to entertain = tiếp đãi; chiêu đãi.

2) to figure (that) = nghĩ (rằng); tính (là).

3) poker machines = (những) máy kéo (đánh bạc; đánh bài xì); (còn gợi là “pokies”)

4) outing = cuộc đi chơi ngắn (ngoài trời).

5) she appeared embarrassed = bà ta có vẻ/xem ra ngượng ngùng/bối rối.

6) adamant = khăng khăng; nhất quyết (kiểu “em chả! em chả!”; “hổng chịu đâu!”)

7) her reaction reminded me of = phản ứng của bà ta khiến tôi nhớ đến.

8) to wriggle = ngọ nguậy; giãy giụa; quằn quại.

9) leech = con đỉa.

10) lime = vôi.

11) to insist = khẩn khoản; nài.

12) pensioners = (những) người được hưởng tiền trợ cấp.

13) transport concessions = (sự) giảm giá khi di chuyển bằng xe cộ.

14) to alight = (từ trên xe buýt/xe lửa/ngựa) xuống xe; xuống ngựa.

15) money transfer = chuyển tiền.

16) Australian currency rate = giá hối suất tiền Úc.

17) chicken rolls = (những) ổ bánh mì gà/thịt gà.

18) the bill = hoá đơn; giá tiền phải trả.

19) light rail tram = xe điện (loại nhỏ, chạy trên đường rày hẹp, không lớn như xe điện ở Melbourne).

20) to rendezvous with someone = hẹn gặp ai tại điểm hẹn.

21) staircase = cầu thang gác.

22) roulette = (môn đánh bạc) ru-lét; cò quay.

23) to bump into each other = đụng đầu nhau; gặp nhau (ngẫu nhiên).

24) to be on a losing streak = đang bị thua; đang gặp vận đen.

25) to cash (in) = đổi tiền “chips” lấy thành tiền mặt.

26) chips = (những) mảnh tiền dẹp bằng nhựa, hình tròn dùng thay tiền thật để đánh bạc.

27) purse = ví/bóp đựng tiền (của đàn bà/phụ nữ).

28) superstitious = mê tín dị đoan.

29) horoscope = tử vi.

30) propitious day = ngày tốt; tốt ngày; ngày may mắn.

31) psychic = đồng bóng.

32) omen = (cái) điềm.

33) outlay = số tiền vốn bỏ ra; kinh phí.

34) that’s all there is to it = tất cả chỉ có thế thôi, có vậy thôi.



Trịnh Nhật, PhD

Sydney, 18.3.2008