PDA

View Full Version : Những mùa hè không quên


WLP
08-13-2007, 09:04 PM
Mỗi khi tình cờ nghe bản “Hè Về” với lời mở đầu “Trời hồng hồng, sáng trong trong. Ngàn phượng rung nắng ngoài song... “, dù là đang không ở trong mùa hè, tâm trí tôi cũng vẫn mường tượng ra những mùa hè do người xưa kể lại cũng như những mùa hè đã đi qua trong đời. Những hình ảnh và những âm thanh của mùa nắng lại từ quê hương dĩ vãng rộn rịp rủ nhau về cùng tôi hội ngộ trong “căn phòng ký ức”.
Nói đến Hè là nói đến “cái nóng nung người nóng nóng ghê”, là nói đến cái chói chang, khô cằn; song cũng chính trong cái “khó chịu” ấy ta lại có mầu nắng rung trên cánh gió và mùa hè lại có cái “duyên” của nó, cái đẹp của ‘nồng độ’, đôi khi còn là cái cuồng nhiệt của con người trong vũ trụ nắng mưa. Rồi trên một bình diện nào đó còn có ‘em’; mà em thì mùa nào cũng có, vì thế thi nhân không thể không đi vào mùa Hạ. Xin hãy nghe:

quê em miền nắng cháy

giọt mưa thì hiếm hoi

mây qua không ngừng lại

cát bụi bay mù trời

con đường em bước đi

gai xương rồng nhọt quá

gió như đàn ngựa hoang

trên đồng khô trắng xóa

em là nước cho cây

em là sương cho cỏ

em là sợi cho bông

và cho anh – nỗi nhớ
(Ng. D.)

Bây giờ xin cùng nhau coi cuốn phim thời gian và nhận diện lại hình ảnh một quê hương với những mùa hè thanh bình của một thời đâu đây mà có lẽ bây giờ chỉ nghe hay đọc lại nơi trang sách nào đó, chúng ta không khỏi bùi ngùi, tiếc nuối.

Những trưa hè với hình ảnh và âm thanh mà đã có lần được đề cập tới trong hai bài: Âm Thanh, Tiếng Nói, và Quê Hương và bài nói về Hình Ảnh và Quê Hương. Dưới ánh nắng hè gay gắt, người ta vẫn từng bắt gặp những hình ảnh thật dễ thương, đầy mầu sắc quê hương như nhà thơ Bàng Bá Lân, tác giả Tiếng Thông Reo đã minh họa:

dưới gốc đa già trong vũng bóng

nằm mát đàn trâu ngẫm nghĩ nhai

ve ve rung cánh ruồi say nắng

gà gáy trong thôn những tiếng dài

Rồi khi chiều xuống, Đoàn Văn Cừ với hồn thơ ẩn sau cảnh vật đã viết như để lưu lại cho thế hệ sau những hình ảnh cuộc đời Việt Nam trong đêm “Trăng Hè”

bên giếng dăm cô gái xứ quê

từng đoàn vui vẻ rủ nhau về

trên vai nặng trĩu đôi thùng nước

kĩu kịt đi vào lối cổng tre.

Những mùa hè đã đến, đã đi qua trong đời mỗi người chúng ta, ít nhiều cũng đã để lại những dấu ấn khó phai trong tâm hồn. Trong hành trình nhân sinh, ai trong chúng ta mà không trải qua thời cắp sách, đánh đáo, đánh bi, đánh chắt ở lề đương, nơi sân trường. Cái ngày mà có người trong chúng ta đã vô tình để J. Leiba (Lê Văn Bái) bắt gặp:

em nhớ năm em mới lên mười

tóc em buông xõa chấm ngang vai

ngây thơ nào biết em xinh đẹp

cùng trẻ bên đường đánh ‘chắt ’chơi

anh đi qua đó đứng nhìn em

em vứt sành đi vội đứng lên

dắt tay cười nói xô nhau chạy

em vấp vào anh ngã xuống thềm.

Đó là cái thời mà Xuân Tâm đã phải reo lên khi nghe tiếng trống tan trường của buổi học cuối:

sung sướng quá giờ cuối cùng đã hết

đoàn trai non hớn hở rủ nhau về

chín mươi ngày nhẩy nhót ở đồng quê

ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ.

Tan trường rồi, niềm vui đó có mãi mãi là niềm vui vô tư khi “trong đám xuân xanh ấy có
người bỏ cuộc chơi” thả hồn mình vào cảnh trí mùa hè. Nhất là những ai một thời ở Huế đô hoặc nơi thành phố Hải Phòng rực trời hoa phượng, loài hoa đã mặc nhiên mang tên Hoa Học Trò; hoa càng thắm lá lại càng xanh, ấp ủ bao nỗi niềm của thời niên thiếu đến độ hầu như chỉ có đám học trò là người tình duy nhất và “phượng” đã trở nên tri kỷ mà thôi:

nhớ ai phượng thả hồn bay

diều nương tiếng sáo thổi ngày trầm du

có mây trên lối giã từ

có hoa phượng ép trong thư học trò

truyện buồn hè ủ vu vơ

cuối mùa thi ấy làm thơ sai vần

cả hoa và nắng phân vân

làm cho khoảng nhớ loang dần không gian.

Cũng từ những mùa hè chia tay rồi chuyện buồn có cánh bay theo và những chuyện lòng khập khễnh, vu vơ, quyến rũ cũng làng lạng đi bên để cho hồn thơ đành phải khoác vai tâm sự, thổ lộ và đổ lỗi cho những vần thơ vô tội mang nghiệp sông “Tương”:

ta thích thơ buồn từ ngõ em đi

phượng vỹ sân trường khóc cuối mùa thi.

Phượng vỹ khóc ai và tại sao phượng khóc. Qua lời thơ trên hẳn người nghe cũng đã thấu được tâm trạng tác gỉa là người thiếu may mắn, đã không có tên trong bảng thi đậu mùa ấy. Tâm sự kẻ đậu, người rớt cũng chỉ có mầu hoa phượng chia sẻ.

Mùa hè với sắc hoa phượng vỹ đã ám ảnh, đã pha mầu cho tâm tình người học trò, làm sáng lên cái tình tự thời niên thiếu. Nếp sống linh tinh, chuyện trò huyên thuyên, thơ tình lén lút bởi như Xuân Diệu trong bài “Tình Thứ Nhất”, tình học trò, đã tự thú thay cho rất nhiều người trong chúng ta, cho những ai đã một hay hơn một lần mang dấu tích, có khi còn là thương tích của niềm nhớ bâng quơ mà dai dẳng ấy.:

thư thì mỏng như suốt đời mộng ảo

tình thì buồn như tất cả chia ly

giấy phong kỹ mang thầm trong túi áo

mãi trăm lần viết lại mới đưa đi

Nói tóm lại là những chuyện học trò mà người nói, người nghe vẫn là những chuyện bao quanh câu nói ‘nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò’ mà chúng ta sẽ nghe sau đây qua lời thơ của một cây viết hiện đại, vừa rí rỏm vừa phản ảnh trung thực những gì là chúng ta của một thời đã qua.

học trò con trai ma quỷ

học trò con gái thần tiên

thầy bắt thần tiên ngồi kèm ma quỷ

bén hơi ma quỷ ghẹo thần tiên rồi ...
----------------------------------------------
lấm láp trong đời mỗi giây mỗi kịch

tuổi học trò đồng nghĩa với trang thơ

thời gian không mất trắng bao giờ

câu chuyện học trò không đầu không đuôi

tình ý học trò quả me chua loét

lưu bút mùa hoa phượng cháy không nguôi

lá thư học trò vu vơ dấm dúi

nỗi nhớ học trò chấp chới suốt đời nhau

đẹp như là không đâu vào đâu.

Chính vì “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy/ ngàn năm chưa dễ đã ai quên” nên có người âm thầm ôm kỷ niệm, có người lại viết ra thành lời và mùa hè đã sưởi ấm lòng người như thế đó, bằng những nhớ nhung, vời vợi tiếc nuối:

suốt cả ngày xưa những tháng hè

chờ nhau không hẹn dưới hàng me

không ai nhắc lại mà sao nhớ

cánh phượng chiều rơi thắm ngõ về

Thậm chí hôm nay đây, trong những ngày lưu vong nơi xứ người, mặc dù đa đoan với công
việc mưu sinh, có những người tóc đã hai mùa, những giây phút cuối ngày ngồi một mình hay với bạn bè, nhớ về vùng đất đầy trời hoa phượng, con đường Duy Tân suốt ngày râm mát, những hàng cây me bâng khuâng và mênh mang trên tờ nhật ký, đã không xóa nổi tâm thức ngậm ngùi như lời nhắn nhủ sau đây:

mùa hạ nơi này vẫn nắng nung

quê hương còn vọng tiếng côn trùng

những đêm nghèo có nghe chim quốc

lũ dế bên hè vẫn hát chung?

Nói tới đây, những người Việt chúng ta một thời trên quê hương chiến tranh, một quê hương đau khổ, đầy oan trái và thù hận do bạo quyền Hà Nội gieo rắc trên đời sống dân lành, làm sao có thể quên được thảm trạng mùa hè. Chúng tôi muốn nói đến “Mùa Hè Đỏ Lửa” với những đêm hỏa châu và với tiếng đạn bom rền trời hòa trong những tiếng “người khóc thương nhau vỡ nắng hè”.

Tâm sự của mùa hè là như thế, nỗi niềm của hoa phượng, của hàng me, của tiếng ve, tiếng dế và tiếng quốc kêu là thế. Là những gì mà tình yêu tổ quốc, niềm nhớ quê hương đã, đang ,và sẽ mãi mãi giữ lại cho ta trong tâm hồn, trên những trang giấy ươm đầy tình tự qua những áng văn, lời thơ, và qua ngôn ngữ Việt Nam vậy.

Hè 2006
Trường Thy

WLP
08-15-2007, 07:37 PM
Rực đỏ trong sắc nắng vàng mùa thi, phượng đua sắc khoe hương trong buổi sớm. Những cánh phượng còn mọng sương và thoảng nhẹ gió đồng man mát ban mai. Trong cái ngây ngất và thoáng đãng của sáng mùa hè, được chở người mình yêu trên chiếc xe đạp nhỏ, trên tay là nhành phượng đỏ rực hay ánh tím bằng lăng thì còn gì lãng mạn và thơ mộng bằng!

http://hue.vietnamnet.vn/dataimages/original/images87921_2.jpg

Phượng Huế mùa này rực cùng với người và đất nơi đây. Phượng đứng đó, dưới sắc nắng ban mai, còn dòng người vẫn trôi chảy. Dòng đời nổi trôi, chỉ có Phượng là vẫn đứng đó ngắm nhìn mọi thứ chảy qua.

Cánh phượng từng một thời là nỗi nhớ học trò, giờ trở thành kỷ niệm phút chia xa. Những người bạn xưa giờ đã xa, xa mái trường xưa, xa thầy cô, để bước vào một môi trường khác. Phượng đứng đó, nhìn ngắm và chờ mong. Phượng chờ mong điều gì? Chờ một ngày cậu học trò cũ sẽ về thăm lại trường, chờ để năm sau lại đưa tiễn những bước chân khác lên đường. Phượng nở báo hiệu sự chia ly, nhưng Phượng cũng mang đến những sự gặp gỡ khác đó chứ.

http://i99.photobucket.com/albums/l289/Lylys33/Thanh%20Noi%20-%20Hue/TruongTien.jpg

Hai cây cầu với hai cây phượng ở hai đầu, phải chăng phượng đang canh giữ đất này? Cầu Trường Tiền, nhân chứng cho thời đại hoàng kim của sắt trên đất Việt, nó cũng là nhân chứng cho bao nỗi đau và chiến tích của nhân dân cố đô.

"Cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp
Em qua không kịp thì tội lắm anh ơi
Ngờ đâu mà duyên trời sớm dứt, đêm em nằm tấm tức luỵ nhỏ tuôn rơi
Bấy lâu ni mang tiếng chịu lời
Dẫu có xa nhau đi nữa cũng bởi ông Trời mà thôi".

Giờ cây cầu lại đứng đó, cùng dòng sông Hương thơ mộng và nhành phượng bên cầu, nó đang ngày ngày chứng kiến bao sự đổi thay của Huế. Huế phát triển nhưng Huế vẫn thơ mộng như xưa. Ai đến Huế và chưa thăm cầu Trường Tiền thì coi như chưa đến Huế. Ai ra thăm cầu mà chưa gặp dịp cầu đỏ đèn thì coi như chưa thăm cầu. Cây phượng năm nay vẫn vậy, vẫn ra hoa đỏ tươi như cách đây hai năm khi tôi vào Huế lần đầu.

http://hue.vietnamnet.vn/dataimages/original/images87931_6.jpg

Huế với những con đường tràn ngập bóng cây. Có đi nhiều thành phố khác đã mới biết Huế xanh nhường nào và ý nghĩa cũng như sự thu hút của Huế xanh. Vậy mà một bộ phận người Huế lại đang từng ngày phá vỡ đi ấn tượng này!
Cạnh Huế đô thị ồn ào là một Huế xưa, vẫn con sông bến nước, thuyền câu.

Như bức tranh về một làng quê Việt Nam bao đời nay vậy, Huế phát triển trong sự thanh bình muôn thuở. Liệu bao nhiêu năm sau thì cái thanh bình này bị phá vỡ đi? Những khách sạn năm sao đang thi nhau mọc lên, những ngôi nhà chọc trời đang lực lưỡng lớn lên ở bờ Nam? Khách du lịch đến Huế khi ra đi vẫn nhớ thương và quyến luyến mảnh đất thanh bình này.

Phượng vẫn đứng đó, nở hoa và chờ mong. Hoa phượng lại tàn và mùa hè trôi đi. Mùa đông đến mang đi những lá phượng. Lá phượng rơi rơi trong cái gió se lạnh và nỗi nhớ nhà, những ngày này ở quê mẹ là người vất vả nhất. Con vào đây ăn học nên mẹ lam lũ trong nắng sương và gió rét. Con bất hiếu với mẹ vì con chưa làm được gì để tặng mẹ. Mùa đông đến và Phượng chỉ còn trơ cành. Những cành gầy guộc trông thật thương. Cành Phượng sao giống tay mẹ gầy, cành phượng vẫn đứng đó chống chịu với cái rét và những cơn mưa. Cuối cùng rồi mùa xuân cũng đến. Phượng ra những chồi non, vươn sức mình ra với thiên nhiên và con người nơi đây. Phượng hoà mình vào dòng nhịp sống đang chảy. Phượng mang về cho phố phường sức sống mới. Để rồi một năm nữa lại qua, Phượng lại ra hoa và hè lại đến.

Tôi lại lớn lên thêm một tuổi, nhưng những gì tôi đã đạt được thì liệu có lớn lên thêm không?

Tôi chỉ muốn nhắn nhủ những ai yêu Huế, từng sống ở Huế hay có quan tâm đến Huế hãy để ý đến sắc đỏ của phượng trong những ngày này. Vì mỗi năm chỉ có một lần, phượng nở tươi sắc đỏ. Hãy biết yêu mảnh đất đã sinh ra mình, nơi mình đang sống hơn, hãy yêu thiên nhiên hơn!

vietnamnet

WLP
09-19-2007, 10:11 PM
HÈ NHỚ! HÈ THƯƠNG

Vùng Bắc Mỹ đang vào hè... Lòng dân tha hương bỗng nhớ về quê Việt!

Những cựu học sinh thương nhớ cái oi nồng lẫn tiến ve kêu trên cành cây phượng vĩ vào mùa thi.

Dân Saì gòn nhớ về những trận mưa giông làm trôi những lá me trên hè phố.

Những cựu công chức, cựu chiến binh thời VNCH còn giữ trong ký ức về “ Mùa hè đỏ lửa”ở miền Trung, về“ Phố núi cao, phố núi đầy sương”của đất Pleiku. Họ còn nhớ đậm nét về vùng đất “Buồn Muôn Thuở” bụi mù vào mùa ráo khô. Trong cảnh lao tù CS, họ từng chịu cái nóng của mùa hè dưới những mái tôn của những láng cải tạo ở vùng Suối Máu (Biên Hoà), Long Thành, Năm Căn ...

Ta hãy dở chồng sách cũ và ôn lại những thi ca về mùa hè để làm vơi nỗi nhớ.



THI CA HÈ CỔ ĐIỂN

Trước hết, bài thơ khuyết danh trong cuốn tập đọc Quốc văn giáo khoa thư đã làm ta tha thiết nhớ về cái hè cổ điển của vùng quê Việt gió mùa:

Ai xui con quốc gọi vào hè,

Cái nóng nung người...nóng nóng ghê!

Ngõ trước vườn sau, um những cỏ,

Vàng phai thắm nhạt, ngán cho huê.

Đầu cành kiếm bạn oanh xao xác,

Trong tối đua bay đóm lập loè.

May được nồm nam cơn gió thổi,

Đàn ta...ta gảy khúc Nam nghe.

Khung cảnh thiên nhiên dưới ảnh hưởng thời tiết khí hậu trong nhãn quan của cổ nhân Việt vốn mang tính cách ước lệ, tượng trưng như vào xuân thì có oanh hót liễu rủ, mai vàng, đào thắm...; vào hè thì có đỗ quyên khắc khoải kêu, hoa lựu đỏ, sen hồ thơm...; vào thu thì có ý nhi líu lo, cúc vàng...; vào đông thì có tùng bách xanh rì.... Cho nên khi tiết hè sang, Nguyễn Công Trứ đã tả cảnh vật rực rỡ dưới ánh dương quang chan hoà khắp chốn như sau:

Quanh ngọn tường, lửa lựu phun hồng,

Ran mặt nước, tàn sen nẩy lục.

Và với Nguyễn Du thì:

Dưới trăng, quyên đã gọi hè,

Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông.



NAM TRÂN VỚI PHONG TRÀO THƠ MỚI

Nhưng về sau, văn thi sĩ VN cũng dần dần bỏ khuôn sáo cũ mà đem những điều thực tế mà miêu tả như thi sĩ Nam Trân, tác giả tập thơ Huế: Đẹp và Thơ (1939):

Trời nóng băm bốn độ,

Đèn sao khắp đế đô.

Mặt trăng vàng trỏn trẻn,

Núp sau nhánh phượng khô.

Ba nhịp cầu Trường tiền

Đứng đầy người hóng mát

Ngọn gió Thuận An lên

Áo quần kêu sột soạt.

Đủng đỉnh chiếc thuyền nan

Qua lại bến sông Hương.

Tiếng đàn chen tiếng hát

Thánh thót điệu Nam Bường.

Hai tay xách hai vịm,

Một vài mụ le te,

Tiếng non rao lảnh lót

Chốc chốc:”Ai ăn chè?”

Với giọng thơ tả chân sắc bén, Nam Trân đáng đưọc tôn xưng là “ Thi sĩ của mùa hè “ như Lecomte de Lisle của văn chương Pháp qua cả tả “ Huế, ngày hè”:

Lửa hạ bừng bừng cháy

Làn ma trốt trốt bay.

Tiếng ve rè rè mãi

Đánh đổ giấc ngủ ngày.



Đường sá ít người đi,

Bụi cây lắm kẻ núp.

Xơ xác quán nước chè

Ra vào người tấp nập



Phe phẩy chiếc quạt tre,

Chú nài ngồi đầu voi

Thỉnh thoảng giơ tay bẻ

Năm ba chùm nhỡn còi.



Huê phượng như giọt huyết

Dỏ xuống phủ lề đường.

Mặt trời gay gay đỏ,

Nhuộm đỏ góc sông Hương.



NHỮNG BỨC TRANH HÈ BẤT HỦ TRONG THI CA VIỆT NAM MỚI

So với những mùa khác như Xuân, Thu và Đông, mùa Hè khó đem vào Thơ và Nhạc ngoài duy nhất bài hát Hè về của nhạc sĩ Hùng Lân và vài bài thơ của những thi sĩ sau: Bàng Bá Lân (sanh 1913) và Anh Thơ (sanh 1919).

Bàng Bá Lân không những là một tâm hồn bén nhậy về màu sắc, hình nét mà còn là một nhiếp ảnh gia danh tiếng:

Lửa hè đốt bụi tre vàng,

Trưa hè ru ngủ xóm làng say sưa.

Khóm chuối lá bơ phờ nghĩ ngợi,

Rặng cau gầy nghển với trời cao.

Trong nhà ngoài ngõ quạnh hiu

Đầu thềm con Vện thiu thiu giấc nằm.

Trong nhà lá tối tăm lặng lẽ

Tiếng ngáy đều nhè nhẹ bay ra.

Võng đay chậm chạp khẽ đưa

Ru hai bà cháu say sưa mộng dài...

Cháu bỗng cựa rẫy hoài khóc đói

“A ời...” mấy tiếng. Rồi im...

Nhện tường ôm trứng nằm yên mơ màng.

Ruồi bay thong thả nhẹ nhàng,

Muỗi vo ve khóc bên màn thiết tha.

Hơi thở nóng luồn qua khe liếp

Làm rung rinh mấy chiếc diềm sô.

Bụi nằm lâu chán xà nhà

Nhe nhàng rơi phủ bàn thờ buồn thiu...

( Tĩnh mịch – Tiếng thông reo – 1934)

Đọc bài Tĩnh mịch tuyệt vời trên chắc lòng người Việt tha hương thổn thức buồn hiu xao xuyến như nghe lại tiếng ru con miền quê của một xã hội nông nghiệp tiền chiến :

Cái ngủ ... mày ngủ cho lâu

Mẹ mày đi cấy còn lâu mới về !

Trưa hè Việt Nam nóng bức làm cho con người rã rượi ngái ngủ, khó mà thi vị hoá. Ấy thế mà Bàng Bá Lân đã làm cho những Trưa Hè miền quê ấy thành những kỷ niệm đầy màu sắc âm thanh khó quên:

Dưới gốc đa già, trong vũng bóng,

Nằm mát đàn trâu ngẫm nghĩ nhai.

Vo ve rung cánh, ruồi say nắng,

Gà gáy trong thôn những tiếng dài.



Trời lơ cao vút không buông gió,

Đồng cỏ cào khô cánh lượt hồng.

Êm đềm sóng lụa trôi trên lúa,

Nhạc ngựa đường xa rắc tiếng đồng.



Quán cũ nằm lười trong sóng nắng,

Bà hàng thưa khách ngủ thiu thiu.

Nghe mồ hôi chẩy đầm như tắm...

Đứng lặng trong mây những cánh diều.



Cành thưa, nắng tưới chim không,

Quả chính bâng khuâng rụng truớc hè.

Vài cô vê chợ buông quang thúng

Sửa lại vành khăn dưới bóng tre.



Thời gian dừng bước trên đồng vắng.

Lá ngập ngừng sa nhẹ luớt ao.

Như mơ đường khói lên trời nắng,

Trường học làng kia tiếng trống vào.

(Trưa hè – Tiếng sáo thu)

Còn nữ thi sĩ Anh Thơ – tác giả “Bức Tranh Quê – 1941- được độc giả hoan nghênh mến chuộng về những nét thơ tả miền quê Bắc Việt thời tiền chiến qua những đợt thời tiết bốn mùa. Riêng về mùa hè, bà đã mô tả như sau:

Trời trong biếc không qua mây gợn trắng,

Gió nồm nam lộng thổi cánh diều xa.

Hoa lựu nở đầy một vườn đỏ nắng.

Lũ bướm vàng lơ đãng lướt bay qua.



Trong thôn vắng tiếng gà xao xác gáy,

Các bà già đưa võng hát thiu thiu.

Những đĩ con ngồi buồn lên bắt chấy

Bên đàn ruồi rạc nắng hết hơi kêu.



Ngoài đê thẳm, không người đi vắng vẻ,

Lũ chuồn chuồn giỡn nắng đuổi nhau bay,

Nhưng thỉnh thoảng tiếng nhạc đồng buồn tẻ

Của vài người cuỡi ngựa đến xua ngay...



PHƯỢNG VỸ: HOA CỦA HOC TRÒ!

Đối với lứa trẻ học sinh mới, hoa tượng trưng cho mùa hè không còn là hoa lựu cổ điển mà là “hoa phượng “mà họ xưng tụng là “ hoa học trò”vì dính liền với mùa hè, khung cảnh học đường và mùa thi cử.

Phượng đỏ đầy sân ngập cổng trường,

Mùa thi em ngại với yêu đương

Ve sầu rộn rã mừng vào hạ,

Giây phút chia tay chốn học đường.



Hoa phượng là hoa của học trò,

Ép vào trang giấy những bâng quơ,

Nỗi niềm rạo rực không tên tuổi

Những ý vu vơ chẳng bến bờ.

( Hoa học trò – Nguyễn văn Y)

Cây hoa phượng – dân Bắc quen gọi là Soan tây, dân Nam là Điệp- có tên khoa học là Delonx regia được người Pháp di thực từ đảo Madagascar Phi châu sang trồng ở Việt Nam để thiết kế các đô thị có lẽ vào đầu thế kỷ 20 nếu ta dựa vàosự kiện tên Thống chế thực dân Galliéni sau khi đánh dẹp Nam kỳ được điều qua chiếm cứ và cai trị xứ Madagascar ( 1896- 1905). Với màu đỏ chói nên tên Pháp cây phượng là Flamboyant, tên Anh là Flame of the Forest mà tự điển Tàu dịch là Phượng hoàng chi mộc chứ không phải là cái tên “ Phượng vỹ” mà ta đoán có lẽ là do đám học sinh Việt nam đặt ra. Ở Mỹ, hoa phượng trồng nhiều ở Florida mà dân địa phương hằng năm mở đại hội hoa phượng như hội hoa anh đào nở ở thủ đô Washington. Riêng đối với những cựu học sinh trường Nữ Trung học Đồng Khánh Huế, tên Phượng Vỹ được chọn làm cái tên chính thức cho đoàn thể của họ. Nói chung đối với học sinh Việt Nam, phượng vỹ có một giá trị kỷ niệm tình cảm lớn lao mà không hoa nào có được. Nhớ thủa nào, ngồi trong lớp, thoáng nghe một vài tiếng ve và nhìn thấy vài cánh phượng trổ bông, họ lại rạo rực với niềm vui của một mùa hè mới . Trong cảnh tha hương hiện nay, những cô cậu học sinh xưa nay nghĩ gì?

Xưa còn cậu cậu cô cô đó,

Nay đã ôn ôn mệ mệ rồi!

Phải chăng họ lại giống chị Thanh Cầm trong bài thơ “Huế của Ai?” ( Tiếng Sông Hương – Dallas 1990):

Huế của mình, nay Huế của ai?

Thầy xưa, bạn cũ mất đi rồi!

Đôi hàng phượng vĩ hoa còn thắm

Như chút u hoài năm tháng trôi!



TÂM TÌNH MỘT THUỞ HOA NIÊN

Riêng bản thân tôi, vốn là cựu học sinh trường Quốc học Khải Định từng nằm chung khuôn viên trồng toàn cây phượng với trường nữ Đồng Khánh nên học sinh hai trường đi học cùng trên đại lộ Lê Lợi ở hữu ngạn sông Hương. Những gốc phượng già bỗng trở thành những chứng nhân câm nín của những mối tình học sinh mang những vết dao si tình vạch những tên tắt như ý thơ thầm lặng của Arvers. Tuổi thơ thường si tình như nghịch ngợm. Trường nữ Đồng Khánh viết tắt là Đ. K đánh trống cho học sinh vô lớp và bãi học, còn trường nam Khải Định( viết tắt là K.Đ.) lại đánh chuông. Nên với đầu óc lếu láo chế biến của lũ học sinh, tiếng chuông đánh nghe như câu hỏi: “Muốn chi? Muốn chi?” của phía nam, còn tiếng trống nghe như câu đáp của phiá nữ: “ Muốn chồng! Muốn chồng!”.

Do đó, tôi có vài giòng thơ vớ vẩn “ Kỷ niệm tình học trò “sau để kết thúc bài thi ca về mùa hè này:

Còn nhớ năm mô chuyện bé con

Thương o gái Huế gót như son.

Những chiều tan học mưa tầm tã,

Thừa Phủ đò ngang đợi héo don.



Giòng Hương soi bóng hai trường lớn,

Đường rộng đi về một lối chung.

Chuông đổ trường anh lừng sương sớm

Trống bãi trường em cánh phượng rung!



“Muốn chi?” thường ghẹo hồi chuông hỏi!

Vọng đến tai nàng, em gái xinh.

“Muốn chồng!” trống đánh vang từng chập.

Hổn hể thay lời em nhắn anh!



Chuông trống âm vang tuổi học trò

Tuổi hồng vui nghịch chẳng thèm lo.

Hè vè, sách ép toàn hoa phượng,

Lưu bút tâm tình nét đậm tô!



Thư xanh nắn nót gài trong tập,

Ốt dột em nào dám đáp anh!

Gặp nhau liếc trộm nghiêng triền nón

Cúi mặt...cười duyên miệng nửa vành.



Quốc Học anh ni dị một cây,

Lẽo đẽo theo em quá đỉa dai.

Ngó lơ giả bộ , em còn trẽn

Trong bụng phút đầu ...cũng đã say.



.....

Tha hương ... bỗng nhớ người yêu cũ

Dìu dặt tơ lòng như tiếng ru

Thời gian mặt nước Hương giang lặng

Cánh phượng năm mô bến mịt mùng.

( Lê văn Lân)



Ngoái nhìn quá khứ, tôi thấy những mùa hè đáng ghi nhớ trong đời là những mùa hè của tuổi học sinh.

Cũng như thi sĩ tiền chiến Xuân Tâm (sanh 1916), mỗi lần “Nghỉ hè” là mỗi lần tôi thấy mang trong người một “trái tim non “ đang sống trong thiên đường hạ giới! Trong mắt tôi chỉ thấy “ tất cả mùa xuân trong mùa hạ!’ vì:



Trong khoảnh khắc, sách, bài là giấy cũ,

Nhớ làm chi. Thầy mẹ đợi em trông.

Trên đường làng, huyết phượng nở thành bông,

Và vườn rộng nhiều trái cây ngon ngọt

( Nghỉ hè – Lời tim non của Xuân Tâm)



Thôi nhớ lại để nhớ! Chứ ai trong đời luôn tắm một giòng sông, phải không?



LÊ VĂN LÂN

Ý Kiến, Phê bình xin gửi về: bslevanlan@khoahoc.net