WLP
10-28-2007, 04:11 AM
LTS: Trân trọng cám ơn nhà văn Đàm Văn Tiếu đã có nhã ý muốn chia sẻ cùng độc giả khoahoc.net bài viết về "THƠ VĂN TRONG CA DAO". Đây là đề tài đã được tác giả trình bày trong Đêm Thơ Nhạc tại Munich vào ngày 20.10.2007 vừa qua.
* * *
Từ tấm bé hay ở mẫu giáo, chúng ta đã nhập tâm bằng những lời ru, chơi hát đồng dao, hay bài học thuộc lòng, được kết tụ bởi những lời thơ, nên nói đến thi ca, thì tất cả người Việt chúng ta luôn mang một tâm hồn Thi sĩ, thơ phú đến với chúng ta như là lẽ sống ý vị, cái ý vị có thể tự phát để sáng tạo, hay là tìm đến những nguồn thơ trong kho tàng vô tận của dân gian mà hưng phấn, cái hưng phấn trong thơ phú mà chính Khổng Tử đã nói: “Hưng Ư Thi“.
Trong cuộc sống thường ngày nếu không có thi ca, thật đôi lúc chúng ta khó diễn đạt được tư tưởng bằng ngôn ngữ thông thường cho có ý vị, cho nên từ ngàn xưa Thi ca được coi trọng, mà chính Khổng-Tử lúc dậy con là Bá-Ngư cũng nói: Bất học thi, vô dĩ ngôn tức là Không học thi, không có lời để nói.
Thưa Quý-vị, thể theo lời đề nghị của ban tổ chức, hôm nay tôi được phép mạn đàm cùng Quý-vị, nhưng chắc là tôi chỉ miễn cưỡng nói cương, vì về thơ phú xem ra tôi chẳng có mấy năng khiếu. Bởi Thi Ca phải xuất phát từ cảm hứng, mà cái cảm hứng và mơ mộng trong tôi thường là hiếm, hiếm cái thú thưởng gió-trăng mây-ngàn để có thể trở thành thi sĩ, vì:
Là thi sĩ nghĩa là biết ru với gió
Mơ với trăng và du hồn cùng mây
Thơ nó không thể chỉ là lời đến với người, thơ là sản phẩm do trí tưởng tượng của con người làm nên, làm nên từ một thế giới ảo tưởng. Cái ảo tưởng tạo thành sáng tạo để sinh ra sản phẩm của giấc mơ.
Bởi vốn hiếm cái cảm hứng trong hưng phấn, nên tôi chỉ xin mạn đàm đôi chút cùng Qúy-vị về :
THI CA TRONG CA DAO
Ca Dao trong dân gian chưa ai có thể khẳng định được nó phát xuất từ bao giờ, chỉ biết là sưu tập đầu tiên về văn học dân gian là cuốn “Kinh Thi” của Trung Hoa, soạn cách đây 3000 năm.
Riêng tại Việt Nam, những sưu tập về tục ngữ ca dao cũng chỉ bắt đầu được biên soạn từ 200 năm nay. Cuốn đầu tiên là Quốc phong giải trào và Nam Phong ngữ ngạn thi của Trần Danh Án được biết đến nhiều nhất, sách được Ông soạn bằng chữ Nôm rồi dịch ra Hán văn, có ý đem ca dao Việt Nam sánh với Kinh Thi của Trung Hoa.
Mãi đến đầu thế kỷ XX chúng ta mới có những sưu tập về ca dao tục ngữ Việt Nam bằng chữ Quốc Ngữ như:
Nam Ngạn Trích Cẩm của Phạm Quang Sán
Gương Phong Tục của Đoàn Duy Bình
Tổ Quốc Túy Ngôn của Ng.H.Tiến/Trọng Thuật
Ngạn Ngữ Phong Giao của Nguyễn Can Mộng
Và Tục Ngữ Phong Giao của Nguyễn Văn Ngọc v.v
CA DAO là một thể văn vần, nó xuất phát từ Ngạn-Ngữ đến phong-dao thì thành điệu thành chương, có thể ngâm nga được, rồi các thể văn lục bát hay song thất cũng đã từ đó mà ra.
Thi văn trong ca dao là muôn mầu trong kho tàng vô tận, hôm nay tôi chỉ xin được mạn đàm về một khía cạnh nhỏ trong lãnh vực :
CA DAO VỀ TÌNH YÊU
Trai gái ngày nay, khi tỏ tình người ta nói thẳng dù trực tiếp hay qua thư tín, nhưng thưở xưa nó lãng mạng, bằng cách mượn cảnh, mượn tình, mà lung khởi bóng gió để tỏ tình, dù ở những nơi hội hè, nơi vắng vẻ hay tình cờ đối diện:
Có khi mượn cớ đường xa :
Đường xa thì thật là xa
Mượn mình làm mối cho ta một người
Một người mười chín đôi mươi
Một người vừa đẹp vừa tươi như mình
Mượn ngay cảnh tang chế của người con gái:
Cô kia khăn trắng tang ai
Nhất tang cha mẹ thứ hai tang chồng
Tang chồng thì vứt khăn đi
Tang cha tang mẹ, ta thì tang chung
Hay mượn cảnh mây trời:
Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng
Ước gì anh lấy được nàng
Để anh mua gạch bát tràng về xây
Xây dọc rồi lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân
*
* *
Mượn Thi Ca để đến với nhau trong tình yêu nó vốn là lãng mạng ngọt ngào, nhưng đôi khi cũng gặp phải người con gái kênh kiệu cất mình lên như là:
Thân em như tấm lụa đào,
Còn anh chiếu rách bỏ rơi trệ đường
Khiến người con trai phải quyết liệt:
Lậy trời cho gió thổi lên
Cho manh chiếu rách phủ lên tấm lụa đào
Và nhắc nhở người con gái :
Thà là chiếu lác có đôi
Chẳng hơn chăn gấm lẻ loi một mình
Ngay cả khi gặp trắc trở, người ta cũng mượn cảnh mà lung khởi cho lời than vãn của mình:
Đôi ta như lúa đòng đòng,
Đẹp duyên nhưng chẳng đẹp lòng mẹ cha
Đôi ta như chỉ xe ba
Thầy mẹ xe ít đôi ta xe nhiều
Hay cay đắng khi bị phụ tình:
Công anh đắp đập be bờ
Để thằng phải gió đem lờ đến đơm
Hay lời gói gém trong phận nghèo :
Họ giầu họ nghinh hôn giá thú
Hai đứa mình nghèo, dụ dỗ nhau đi
*
* *
Người con gái có thể vì kén chọn mà lỡ thì :
Cón duyên kẻ đón người đưa
Hết duyên đi sớm về trưa một mình
Hay vì nghèo khó, nên đôi khi phải nhắm mắt đưa chân LẤY CHỒNG GIÀ để gởi tấm thân nơi sang giầu, dù lòng có cay đắng:
Còn duyên kén cá chọn canh
Hết duyên ếch đực cua kềnh cũng vơ
Còn duyên kén những trai tơ
Hết duyên, ông lão cũng vơ làm chồng.
Hay:
Vô duyên vô phúc múc phải anh chồng già
Ra đường người hỏi rằng cha hay chồng ?
Nói ra đau đớn trong lòng
Ấy là của nợ chứ có phải chồng em đâu
Việc chăn gối với người vợ bé bỏng cũng phức tạp, do sự phát triển cơ thể chưa chín mùi. Song cũng chỉ còn là chuyện chờ năm chờ tháng :
Lấy chồng từ thưở mười lăm
Chồng chê tôi bé chẳng nằm cùng tôi
Đến năm mười tám đôi mươi
Tôi nằm dưới đất, chồng lôi lên giường
Một rằng thương hai rằng thương
Có bốn chân giường gẫy một còn ba
Cảnh chồng già vợ trẻ, cảnh già chơi trống bỏi xem ra ngày nay các bô lão không cần phải giầu có, chỉ cần cái nhãn Việt kiều, cũng dễ cưới vợ trẻ, như các Phú Hộ thưở xưa:
Áo dài chẳng nệ quần thưa
Bảy mươi có của cũng vừa mười lăm
Nếu các bô lão không may gặp phải lọai:
Gái đâu có gái lạ đời,
Chỉ còn thiếu một ông trời không chim
Hay loại từng
Chơi cho thủng trống long bồng
Rồi ra ta sẽ lấy chồng lập nghiêm
Chơi cho thủng trơng long chiêng
Rồt ra ta sẽ lập nghiêm lấy chồng
Hoặc là:
Trăm năm, trăm tuổi trăm chồng
Hễ ai có bạc thì bồng trên tay
Trăm năm trăm tuổi trăm chồng
Phải duyên thì lấy, chẳng ông tơ hồng nào xe
Để rồi ngay cả lúc chăn gối các nàng vẫn cứ:
Đêm nằm vuốt bụng thở dài
Thương chồng thì ít thương trai thì nhiều
Nhưng nếu có bị như thế, thì quả là các bô lão Việt kiều vẫn cứ là dại vì ham trống bỏi, dại vì:
Thân anh lỡ dại hai lần
Nhỏ mân vú mẹ, lớn mần vú em
Bây giờ anh đã già ên
Lại mê vú nhí, hóa ra ba lần
*
* *
Nếu các Lão Ông biết hưởng cái thú lấy vợ nhí, thì dĩ nhiên thiếu gì các Lão Bà cũng muốn cái thú hưởng thụ bên người chồng trẻ,
Dù ai có châm có biếm :
Trai tơ ới hỡi trai tơ
Đi đâu mà vội mà vơ nạ dòng ?
Vì quả vẫn có những cái tuyệt vời như:
Trai tơ vớ phải nạ dòng
Như nước mắm thối chấm lòng lợn thiu
Hay:
Nạ dòng vớ được trai tơ
Đêm nằm hí hửng như vơ được vàng
Dĩ nhiên là người chồng nhí cần phải tự an ủi:
Mạ úa cấy lúa chóng xanh
Nạ dòng chóng đẻ sao ta hũng hờ
Vì:
Có phúc lấy được vợ già
Sạch cửa sạch nhà lại ngọt cơm canh
Còn hơn là:
Vô phúc lấy phải trẻ ranh
Nó ăn nó phá tan tành nó đi
Khi xưa tôi dự một đám cưới, cái đôi tân hôn trông thật ngộ nghĩnh, Chú rể 16 tuổi lại nhỏ con. Cô dâu 21 tuổi rất to con, lúc đó lại đang có thai nên tướng tá càng thêm đẫy đà, nên họ bị dị nghị như là con ong đực sánh đôi với trái bầu.
Chính tôi cũng cho đó là đôi tân hôn độc nhất vô nhị, nhưng xem ra thì ngay trong ca dao cũng đã có câu:
Em chớ thấy anh bé mà sầu
Kìa con ong bao nhiêu tuổi
Nó châm bầu, bầu thui !
Hay là:
Em ơi đừng thấy nhỏ mà khinh
Con thằn lằn bây lớn ôm cây cột đình tổ cha!
*
* *
Trong cuộc sống gia đình, sao tránh khỏi lúc bất hòa, nên Thi Ca cũng chuyên chở cả những lời răn:
Chồng giận thì vợ bớt lời
Cơm sôi nhỏ lửa một đời chẳng khê
Chồng giận thì vợ làm lành
Miệng cười hớn hở rằng anh giận gì ?
Hay.
Cái cò là cái cò quăm
Mày hay đánh vợ tối nằm với ai
Có đánh thì đánh sớm mai
Chớ đánh chập tối chẳng ai cho nằm
THI CA ảnh hưởng đến cuộc sống trong muôn hình vạn trạng, nó còn đưa ta vào cả một kho tàng hài hước bóng-gió tục-thanh thanh-tục lẫn lộn như :
Đố tục giảng thanh về cái Điếu thuốc lào:
Lưng tròn đít lại bảnh bao
Mân mân mó mó đút ngay vào
Thủy hỏa tương giao sôi sình sịch
Âm dương nhị khí sướng làm sao
Đố tục giảng thanh về cái áo tơi
Lồm xồm hai mép những lông
Ở giữa có lỗ đàn ông chui vào
Chui vào rồi lại chui ra
Năm thì mười họa đàn bà mới chui
Đố tục giảng thanh về đôi Nhũ Hoa :
Cái gì vừa quả vừa hoa,
Con nít cũng thích ông già cũng mê
Ra đường dù thấy tràn trề
Ngắm nhìn thì được, mân mê thì đừng
Đố tục giảng thanh về cái chiếu
Xưa kia em trắng như ngà
Bởi chưng ngủ lắm em đà thâm đen
Lúc bẩn chàng đánh chàng đâm
Đến khi rửa sạch chàng nằm lên trên
Đố tục giảng thanh về cái cối say
Bốn chân chong chóng, hai bụng kề nhau
Cắm giữa phao câu, nghiến đi nghiến lại.
Đố tục giảng thanh về bánh dày
Bì bà, bí bạch chân cò
Bí ba bí bách, nằm co giữa giường
Đoạn rồi sờ vú sờ sườn
Sờ sao cho nó đỡ buồn mà thôị
Đố tục giảng thanh về cảnh Mẹ cho con bú:
Một người nằm một người ngồi
Đút vào sướng lắm em ơi
Rút ra đánh choét, miệng cười toét toe
Dĩ nhiên trong lãnh vực Thi Ca còn là vô kể, vì thời giờ có hạn, xin dành thì giờ cho các Vị khác tiếp tục trao đổi, nhân buổi gặp gỡ rồng-mây hiếm hoi về thơ nhạc như hôm nay.
Thật là :
Mấy khi rồng gặp mây đây
Để rồng trao đổi với mây đôi lời
Nỡ mai rồng ngược mây suôi
Biết bao giờ lại nối lời rồng mây
Cảm ơn Quý vị,
Đàm Văn Tiếu
* * *
Từ tấm bé hay ở mẫu giáo, chúng ta đã nhập tâm bằng những lời ru, chơi hát đồng dao, hay bài học thuộc lòng, được kết tụ bởi những lời thơ, nên nói đến thi ca, thì tất cả người Việt chúng ta luôn mang một tâm hồn Thi sĩ, thơ phú đến với chúng ta như là lẽ sống ý vị, cái ý vị có thể tự phát để sáng tạo, hay là tìm đến những nguồn thơ trong kho tàng vô tận của dân gian mà hưng phấn, cái hưng phấn trong thơ phú mà chính Khổng Tử đã nói: “Hưng Ư Thi“.
Trong cuộc sống thường ngày nếu không có thi ca, thật đôi lúc chúng ta khó diễn đạt được tư tưởng bằng ngôn ngữ thông thường cho có ý vị, cho nên từ ngàn xưa Thi ca được coi trọng, mà chính Khổng-Tử lúc dậy con là Bá-Ngư cũng nói: Bất học thi, vô dĩ ngôn tức là Không học thi, không có lời để nói.
Thưa Quý-vị, thể theo lời đề nghị của ban tổ chức, hôm nay tôi được phép mạn đàm cùng Quý-vị, nhưng chắc là tôi chỉ miễn cưỡng nói cương, vì về thơ phú xem ra tôi chẳng có mấy năng khiếu. Bởi Thi Ca phải xuất phát từ cảm hứng, mà cái cảm hứng và mơ mộng trong tôi thường là hiếm, hiếm cái thú thưởng gió-trăng mây-ngàn để có thể trở thành thi sĩ, vì:
Là thi sĩ nghĩa là biết ru với gió
Mơ với trăng và du hồn cùng mây
Thơ nó không thể chỉ là lời đến với người, thơ là sản phẩm do trí tưởng tượng của con người làm nên, làm nên từ một thế giới ảo tưởng. Cái ảo tưởng tạo thành sáng tạo để sinh ra sản phẩm của giấc mơ.
Bởi vốn hiếm cái cảm hứng trong hưng phấn, nên tôi chỉ xin mạn đàm đôi chút cùng Qúy-vị về :
THI CA TRONG CA DAO
Ca Dao trong dân gian chưa ai có thể khẳng định được nó phát xuất từ bao giờ, chỉ biết là sưu tập đầu tiên về văn học dân gian là cuốn “Kinh Thi” của Trung Hoa, soạn cách đây 3000 năm.
Riêng tại Việt Nam, những sưu tập về tục ngữ ca dao cũng chỉ bắt đầu được biên soạn từ 200 năm nay. Cuốn đầu tiên là Quốc phong giải trào và Nam Phong ngữ ngạn thi của Trần Danh Án được biết đến nhiều nhất, sách được Ông soạn bằng chữ Nôm rồi dịch ra Hán văn, có ý đem ca dao Việt Nam sánh với Kinh Thi của Trung Hoa.
Mãi đến đầu thế kỷ XX chúng ta mới có những sưu tập về ca dao tục ngữ Việt Nam bằng chữ Quốc Ngữ như:
Nam Ngạn Trích Cẩm của Phạm Quang Sán
Gương Phong Tục của Đoàn Duy Bình
Tổ Quốc Túy Ngôn của Ng.H.Tiến/Trọng Thuật
Ngạn Ngữ Phong Giao của Nguyễn Can Mộng
Và Tục Ngữ Phong Giao của Nguyễn Văn Ngọc v.v
CA DAO là một thể văn vần, nó xuất phát từ Ngạn-Ngữ đến phong-dao thì thành điệu thành chương, có thể ngâm nga được, rồi các thể văn lục bát hay song thất cũng đã từ đó mà ra.
Thi văn trong ca dao là muôn mầu trong kho tàng vô tận, hôm nay tôi chỉ xin được mạn đàm về một khía cạnh nhỏ trong lãnh vực :
CA DAO VỀ TÌNH YÊU
Trai gái ngày nay, khi tỏ tình người ta nói thẳng dù trực tiếp hay qua thư tín, nhưng thưở xưa nó lãng mạng, bằng cách mượn cảnh, mượn tình, mà lung khởi bóng gió để tỏ tình, dù ở những nơi hội hè, nơi vắng vẻ hay tình cờ đối diện:
Có khi mượn cớ đường xa :
Đường xa thì thật là xa
Mượn mình làm mối cho ta một người
Một người mười chín đôi mươi
Một người vừa đẹp vừa tươi như mình
Mượn ngay cảnh tang chế của người con gái:
Cô kia khăn trắng tang ai
Nhất tang cha mẹ thứ hai tang chồng
Tang chồng thì vứt khăn đi
Tang cha tang mẹ, ta thì tang chung
Hay mượn cảnh mây trời:
Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng
Ước gì anh lấy được nàng
Để anh mua gạch bát tràng về xây
Xây dọc rồi lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân
*
* *
Mượn Thi Ca để đến với nhau trong tình yêu nó vốn là lãng mạng ngọt ngào, nhưng đôi khi cũng gặp phải người con gái kênh kiệu cất mình lên như là:
Thân em như tấm lụa đào,
Còn anh chiếu rách bỏ rơi trệ đường
Khiến người con trai phải quyết liệt:
Lậy trời cho gió thổi lên
Cho manh chiếu rách phủ lên tấm lụa đào
Và nhắc nhở người con gái :
Thà là chiếu lác có đôi
Chẳng hơn chăn gấm lẻ loi một mình
Ngay cả khi gặp trắc trở, người ta cũng mượn cảnh mà lung khởi cho lời than vãn của mình:
Đôi ta như lúa đòng đòng,
Đẹp duyên nhưng chẳng đẹp lòng mẹ cha
Đôi ta như chỉ xe ba
Thầy mẹ xe ít đôi ta xe nhiều
Hay cay đắng khi bị phụ tình:
Công anh đắp đập be bờ
Để thằng phải gió đem lờ đến đơm
Hay lời gói gém trong phận nghèo :
Họ giầu họ nghinh hôn giá thú
Hai đứa mình nghèo, dụ dỗ nhau đi
*
* *
Người con gái có thể vì kén chọn mà lỡ thì :
Cón duyên kẻ đón người đưa
Hết duyên đi sớm về trưa một mình
Hay vì nghèo khó, nên đôi khi phải nhắm mắt đưa chân LẤY CHỒNG GIÀ để gởi tấm thân nơi sang giầu, dù lòng có cay đắng:
Còn duyên kén cá chọn canh
Hết duyên ếch đực cua kềnh cũng vơ
Còn duyên kén những trai tơ
Hết duyên, ông lão cũng vơ làm chồng.
Hay:
Vô duyên vô phúc múc phải anh chồng già
Ra đường người hỏi rằng cha hay chồng ?
Nói ra đau đớn trong lòng
Ấy là của nợ chứ có phải chồng em đâu
Việc chăn gối với người vợ bé bỏng cũng phức tạp, do sự phát triển cơ thể chưa chín mùi. Song cũng chỉ còn là chuyện chờ năm chờ tháng :
Lấy chồng từ thưở mười lăm
Chồng chê tôi bé chẳng nằm cùng tôi
Đến năm mười tám đôi mươi
Tôi nằm dưới đất, chồng lôi lên giường
Một rằng thương hai rằng thương
Có bốn chân giường gẫy một còn ba
Cảnh chồng già vợ trẻ, cảnh già chơi trống bỏi xem ra ngày nay các bô lão không cần phải giầu có, chỉ cần cái nhãn Việt kiều, cũng dễ cưới vợ trẻ, như các Phú Hộ thưở xưa:
Áo dài chẳng nệ quần thưa
Bảy mươi có của cũng vừa mười lăm
Nếu các bô lão không may gặp phải lọai:
Gái đâu có gái lạ đời,
Chỉ còn thiếu một ông trời không chim
Hay loại từng
Chơi cho thủng trống long bồng
Rồi ra ta sẽ lấy chồng lập nghiêm
Chơi cho thủng trơng long chiêng
Rồt ra ta sẽ lập nghiêm lấy chồng
Hoặc là:
Trăm năm, trăm tuổi trăm chồng
Hễ ai có bạc thì bồng trên tay
Trăm năm trăm tuổi trăm chồng
Phải duyên thì lấy, chẳng ông tơ hồng nào xe
Để rồi ngay cả lúc chăn gối các nàng vẫn cứ:
Đêm nằm vuốt bụng thở dài
Thương chồng thì ít thương trai thì nhiều
Nhưng nếu có bị như thế, thì quả là các bô lão Việt kiều vẫn cứ là dại vì ham trống bỏi, dại vì:
Thân anh lỡ dại hai lần
Nhỏ mân vú mẹ, lớn mần vú em
Bây giờ anh đã già ên
Lại mê vú nhí, hóa ra ba lần
*
* *
Nếu các Lão Ông biết hưởng cái thú lấy vợ nhí, thì dĩ nhiên thiếu gì các Lão Bà cũng muốn cái thú hưởng thụ bên người chồng trẻ,
Dù ai có châm có biếm :
Trai tơ ới hỡi trai tơ
Đi đâu mà vội mà vơ nạ dòng ?
Vì quả vẫn có những cái tuyệt vời như:
Trai tơ vớ phải nạ dòng
Như nước mắm thối chấm lòng lợn thiu
Hay:
Nạ dòng vớ được trai tơ
Đêm nằm hí hửng như vơ được vàng
Dĩ nhiên là người chồng nhí cần phải tự an ủi:
Mạ úa cấy lúa chóng xanh
Nạ dòng chóng đẻ sao ta hũng hờ
Vì:
Có phúc lấy được vợ già
Sạch cửa sạch nhà lại ngọt cơm canh
Còn hơn là:
Vô phúc lấy phải trẻ ranh
Nó ăn nó phá tan tành nó đi
Khi xưa tôi dự một đám cưới, cái đôi tân hôn trông thật ngộ nghĩnh, Chú rể 16 tuổi lại nhỏ con. Cô dâu 21 tuổi rất to con, lúc đó lại đang có thai nên tướng tá càng thêm đẫy đà, nên họ bị dị nghị như là con ong đực sánh đôi với trái bầu.
Chính tôi cũng cho đó là đôi tân hôn độc nhất vô nhị, nhưng xem ra thì ngay trong ca dao cũng đã có câu:
Em chớ thấy anh bé mà sầu
Kìa con ong bao nhiêu tuổi
Nó châm bầu, bầu thui !
Hay là:
Em ơi đừng thấy nhỏ mà khinh
Con thằn lằn bây lớn ôm cây cột đình tổ cha!
*
* *
Trong cuộc sống gia đình, sao tránh khỏi lúc bất hòa, nên Thi Ca cũng chuyên chở cả những lời răn:
Chồng giận thì vợ bớt lời
Cơm sôi nhỏ lửa một đời chẳng khê
Chồng giận thì vợ làm lành
Miệng cười hớn hở rằng anh giận gì ?
Hay.
Cái cò là cái cò quăm
Mày hay đánh vợ tối nằm với ai
Có đánh thì đánh sớm mai
Chớ đánh chập tối chẳng ai cho nằm
THI CA ảnh hưởng đến cuộc sống trong muôn hình vạn trạng, nó còn đưa ta vào cả một kho tàng hài hước bóng-gió tục-thanh thanh-tục lẫn lộn như :
Đố tục giảng thanh về cái Điếu thuốc lào:
Lưng tròn đít lại bảnh bao
Mân mân mó mó đút ngay vào
Thủy hỏa tương giao sôi sình sịch
Âm dương nhị khí sướng làm sao
Đố tục giảng thanh về cái áo tơi
Lồm xồm hai mép những lông
Ở giữa có lỗ đàn ông chui vào
Chui vào rồi lại chui ra
Năm thì mười họa đàn bà mới chui
Đố tục giảng thanh về đôi Nhũ Hoa :
Cái gì vừa quả vừa hoa,
Con nít cũng thích ông già cũng mê
Ra đường dù thấy tràn trề
Ngắm nhìn thì được, mân mê thì đừng
Đố tục giảng thanh về cái chiếu
Xưa kia em trắng như ngà
Bởi chưng ngủ lắm em đà thâm đen
Lúc bẩn chàng đánh chàng đâm
Đến khi rửa sạch chàng nằm lên trên
Đố tục giảng thanh về cái cối say
Bốn chân chong chóng, hai bụng kề nhau
Cắm giữa phao câu, nghiến đi nghiến lại.
Đố tục giảng thanh về bánh dày
Bì bà, bí bạch chân cò
Bí ba bí bách, nằm co giữa giường
Đoạn rồi sờ vú sờ sườn
Sờ sao cho nó đỡ buồn mà thôị
Đố tục giảng thanh về cảnh Mẹ cho con bú:
Một người nằm một người ngồi
Đút vào sướng lắm em ơi
Rút ra đánh choét, miệng cười toét toe
Dĩ nhiên trong lãnh vực Thi Ca còn là vô kể, vì thời giờ có hạn, xin dành thì giờ cho các Vị khác tiếp tục trao đổi, nhân buổi gặp gỡ rồng-mây hiếm hoi về thơ nhạc như hôm nay.
Thật là :
Mấy khi rồng gặp mây đây
Để rồng trao đổi với mây đôi lời
Nỡ mai rồng ngược mây suôi
Biết bao giờ lại nối lời rồng mây
Cảm ơn Quý vị,
Đàm Văn Tiếu