PDA

View Full Version : Phong tục VN____Đạo hiếu


Trung Quốc
11-30-2002, 10:51 PM
Gia phả hoàn chỉnh có những mục gì?
Gia phả là gia bảo có đúng không?
Hợp tự là gì? Tại sao phải hợp tự?
Bàn thờ vọng là gì? Cách lập bàn thờ vọng
Vai trò tộc trưởng xưa và nay khác nhau như thế nào?
Ruộng hương hỏa có ý nghĩa gì?
Quan hệ giữa họ hàng và làng xã như thế nào? Phục hồi việc họ lợi hay hại?
Tạo sao có phong trao khôi phục việc họ
Yến lão
Tục khao lão
Đạo hiếu là gì?

__________________________________________________________


Gia phả hoàn chỉnh có những mục gì?


Gia phả được coi là hoàn chỉnh trước hết phải là một gia phả được ghi chép rõ ràng, chữ nghĩa chân phương có ghi rõ tên người sao lục, biên soạn thuộc đời thứ mấy, năm nào, triều vua nào, căn cứ vào bản nào, tên người tục biên qua các đời cũng có cước chú rõ ràng. Đầu gia phả có lời tựa ghi được nguồn gốc xuất xứ của thủy tổ có cứ liệu thành văn hay truyền ngôn.

Mở đầu là thuỷ tổ, lần lượt đến tiên tổ các đời, nối dòng đến lớp con cháu mới sinh.

Đối với tiền nhân có các mục sau đây:

Tên: Gồm tên huý, tên tự, biệt hiệu, thụy hiệu và tên gọi thông thường theo tập quán địa phương? Thuộc đời thứ mấy?

Con trai thứ mấy của ông nào? Bà nào?

Ngày tháng năm sinh (có người còn ghi được cả giờ sinh).

Ngày, tháng, năm mất? Thọ bao nhiêu tuổi?

Mộ táng tại đâu? (có người ghi được cả nguyên táng, cải táng, di táng tại đâu? Vào tháng, năm nào?).

Học hành, thi cử, đậu đạt, chức vụ, địa vị lúc sinh thời và truy phong sau khi mất: Thi đậu học vị gì? Khoa nào? Triều vua nào? Nhận chức vị gì? năm nào?

Được ban khen và hưởng tước lộc gì? Sau khi mất được truy phong chức gì? Tước gì? (Đối với những vị hiển đạt thì mục này rất dài. Ví dụ trong Nghi Tiên Nguyễn gia thế phả, chỉ riêng Xuân quận công Nguyễn Nghiễm, mục này đã trên mười trang)

Vợ: Chánh thất, kế thất, thứ thất...

Họ tên, con gái thứ mấy của ông nào, bà nào? Quê ở đâu? Các mục ngày, tháng, năm sinh; ngày, tháng, năm mất, tuổi thọ, mộ, đều ghi từng người như trên.

Nếu có thi đậu hoặc có chức tước, địa vị, được ban thưởng riêng thì ghi thêm.

Con: Ghi theo thứ tự năm sinh, nếu nhiều vợ thì ghi rõ con bà nào? Con gái thì cước chú kỹ: Con gái thứ mấy, đã lấy chồng thì ghi tên họ chồng, năm sinh, con ông bà nào, quê quán, đậu đạt, chức tước? Sinh con mấy trai mấy gái, tên gì? (Con gái có cước chú còn con trai không cần vì có mục riêng từng người thuộc đời sau).

Những gương sáng, những tính cách, hành trạng đặc biệt, hoặc những công đức đối với làng xã, họ hàng, xóm giềng...

Ngoài những mục ghi trên, gia phả nhiều họ còn lưu lại nhiều sự tích đặc biệt của các vị tiên tổ, những đôi câu đối, những áng văn hay, những bài thuốc gia truyền...đó là những tài sản quý giá mà chúng ta để thất truyền, chưa biết khai thác.

Những nội dung ghi trên chỉ có tính chất gợi ý với các bậc huynh trưởng các họ, đang chăm lo công việc phổ biến và tục biên gia phả dành cho con cháu đời sau. Còn phần trên gia phả hoàn chỉnh hay sơ sài, các cụ còn giành lại cho ta được bao nhiêu biết bấy nhiêu, ai dám sáng tác thêm? Tuy nhiên, nếu tìm được quốc sử, hoặc trong gia phả, thần phả khác những tư liệu liên quan thì có thể cước chú kỹ, giúp đời sau thêm sáng tỏ.




Gia phả là gia bảo có đúng không?


Đúng và rất đúng với những người có ý thức tôn kính tổ tiên và quý trọng tình cảm họ hàng gia tộc. Gia phả là lịch sử của một dòng họ, một gia đình lớn. Thiết tưởng không cần phải nói nhiều về ý nghĩa mà mỗi cuốn gia phả của từng dòng họ đều đã nói rõ trong từng lời tựa. Đành rằng cái ăn, cái mặc để nuôi sống gia đình và bản thân là việc hàng đầu. Nhưng có thấy nỗi day dứt của những người có tâm huyết muốn truyền cho con cháu biết đời cha mình do ai sinh ra, từ đâu đến, tổ tiên công đức ra sao, ngặt vì gia phả đã mất; có thấy được nỗi niềm của những người trú ngụ ở phương xa không được cha ông truyền cho biết gốc gác của mình từ đâu, họ hàng là ai, khi đó mới thấy đầy đủ ý nghĩa của hai chữ "Gia phả-Gia bảo". Giọt nước rất quý đối với người sống trên sa mạc, còn đối với người sống ven sông, dễ gì mỗi lần "Uống nước" lại phải "Nhớ nguồn".

Thời trước họ nào cũng có gia phả, có họ từng nhà còn có gia phả. Nếu vì thuỷ, hỏa, đạo tặc để mất vàng bạc - của cải gì thì mất, chứ không để mất gia phả. Ngặt vì gia phả ngày xưa viết bằng chữ Hán, hơn nữa từng chi từng nhà chỉ nối phần trực hệ của chi mình, nhà mình, thảng hoặc mới có một cuốn gia phả ghi đời tiếp nối của chi anh, chi em, đến đời hai đời ba là cùng, do đó nếu một chi mất gia phả thì chi khác không thể bổ cứu. Hiện nay, do mất gia phả nên nhiều họ tuy cùng ở với nhau trong một địa phương vẫn không biết nhau, không nhận được quan hệ họ hàng.

Về một ý nghĩa khác, gia phả sở dĩ gọi là gia bảo vì đó là lịch sử của tổ tiên nhiều đời truyền lại, là điều tổ tiên muốn gửi gắm lại cho đời sau. Bất cứ họ nào, bất cứ con người nào trong họ, có tài năng lỗi lạc đến đâu, cá nhân cũng không thể viết được toàn bộ gia phả mà chỉ có kế thừa đời trước và truyền dẫn đời sau.

Gia phả các họ là các nguồn bổ sung tư liệu rất quý, rất dồi dào cho quốc sử, nếu các nhà sử học biết khai thác cũng có khả năng từ gia bảo trở thành quốc bảo.




Hợp tự là gì? Tại sao phải hợp tự?

Hợp tự nghĩa là rước các tiên linh các đời vào thờ chung trong cùng một nhà thờ của đại tôn hay của từng tiểu chi.

Theo phong tục cổ truyền: Năm đời tống giỗ, hay "Ngũ đại mai thần chủ" (Đến 5 đời thì chôn thần chủ). Thực chất chỉ có bốn đời, tức là làm giỗ cha mẹ (đời 2), ông bà (đời 3), cụ ông cụ bà (hay cố 4 đời) và kỵ (hay can 5 đời). Cao hơn kỵ gọi chung là tiên tổ, thì không cúng giỗ nữa, mà rước chung tất cả thuỷ tổ, tiên tổ các đời vào chung một nhà thờ mỗi năm tế một lượt. Thần chủ con cúng cha mẹ, đề là Hiền khảo, Hiền tỷ, đến khi người con trưởng chết, cháu đích tôn cúng ông bà, đối thần chủ là Hiền tổ khảo, Hiền tổ tỷ, đến lượt cháu trưởng mất, chắt trưởng tiếp tục thờ cụ là Hiền Tằng tổ khảo (hoặc tỷ), chít (chiu) trưởng thờ kỵ là Hiền Cao tổ khảo (hoặc tỷ). Sau năm đời thì rước vào nhà thờ tổ rồi chôn thần chủ đó đi. Trong nhà thờ tổ chỉ để duy nhất có một ngôi thần chủ cao nhất (thuỷ tổ hoặc tiên tổ bậc cao nhất của nhà thờ chi đó) gọi là "Vĩnh thế thần chủ".

Gộp chung tất cả tiên tổ của nhiều đời lại để tế chung thay cho từng lễ giỗ, đó là hình thức hợp tự cổ truyền. Song trong phong tục đó còn có nhiều điều bất tiện: Chỉ con trưởng, cháu trưởng, chắt trưởng v.v... nối dòng qua nhiều đời mối được thờ ở nhà thờ chính. Vì vậy con, cháu, chắt những ông con thứ qua nhiều đời phải xây nhiều nhà thờ lớp con thứ, lớp cháu thứ, lớp chắt thứ v.v... Nếu cứ thế tiếp tục mãi, thì có nơi số nhà thờ còn nhiều hơn cả số nhà ở của người dương trần. Chính vì lẽ trên, nên hồi đầu thế kỷ XX đến trước Cách mạng Tháng Tám 1945 ở nhiều nơi đã có phong trào tiến hành hợp tự vào các nhà thờ họ: Dầu cửa trưởng hay cửa thứ, sau khi mất, hết vòng tang, đều được rước linh vị vào thờ ở nhà thờ chung của họ. Linh vị xếp theo thứ tự trên dưới. Đến ngày giỗ người nào, thì đưa linh vị người đó vào hàng giữa theo thứ bậc, cúng xong lại xếp vào vị trí cũ. Việc hợp tự như vậy: trước là hợp với tâm linh, con cái ở dưới chân cha mẹ, cháu chắt về với tổ tiên, tượng trưng sự đoàn tụ ở cõi âm, sau nữa thuận tiện cho việc chung sức, chung lòng xây dựng nhà thờ, mua sắm tế khí, quanh năm hương khói, gắn bó thêm mối tình ruột thịt trong nội thân. Song cũng có những gia đình, kinh tế dồi đào hơn, lại ở cách xa nhà thờ đi lại bất tiện, nên họ cúng riêng, tiện hơn, không hợp tự. Do đó, ngày nay nên vận động hợp tự, trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện.





Bàn thờ vọng là gì? Cách lập bàn thờ vọng

Bàn thờ vọng ngày nay khá phổ biến, áp dụng cho con cháu sống xa quê, hướng vọng về quê, thờ cha mẹ ông bà tổ tiên, hương khói trong những ngày giỗ, tết. Ngày xưa, với nền kinh tế nông nghiệp tự cung, tự cấp, người nông dân suốt đời không rời quê cha đất tổ, chuyển cư sang làng bên cạnh cũng đã gọi là biệt quán, ly hương, vì vậy bàn thờ vọng chỉ là hiện tượng cá biệt và tạm thời, chưa thành phong tục phổ biến.

"Vọng bái", nghĩa là vái lạy từ xa. Ngày xưa, khi triều đình có những điển lễ lớn, các quan trong triều tập trung trước sân rồng làm lễ, các quan ở các tỉnh hoặc nơi biên ải, thiết lập hương án trước sân công đường, thắp hương, nến, hướng về kinh đô quỳ lạy Thiên tử. Khi nghe tin cha mẹ hoặc ông bà mất, con cháu chưa kịp về quê chịu tang, cũng thiết lập hương án ngoài sân, hướng về quê làm lễ tương tự. Các bàn thờ thiết lập như vậy chỉ có tính chất tạm thời, sau đó con cáo quan xin về cư tang ba năm.

Các thiện nam tín nữ hàng năm đi trẩy hội đền thờ Đức Thánh Trần ở Vạn Kiếp, đức Thánh Mẫu ở Đền Sòng v.v... dần dần về sau, đường sá xa xôi, cách trở, đi lại khó khăn, cũng lập bàn thờ vọng như vậy. Nơi có nhiều tín đồ tập trung, dần dần hình thành tổ chức. Các thiện nam tín nữ quyên góp nhau cùng xây dựng tại chỗ một đền thờ khác, rồi cử người đến bàn thờ chính xin bát hương về thờ. những đền thờ đó gọi là vọng từ (thí dụ ở số nhà 35 phố Tôn Đức Thắng Hà Nội có "Sùng Sơn vọng từ" nghĩa là Đền thờ vọng của núi Sòng, thờ thánh Mẫu Liễu Hạnh).

Bàn thờ vọng ông bà cha mẹ chỉ được tập trung trong trường hợp sống xa quê. Những người con thứ, bất cứ giàu nghèo, sang hèn thế nào, nếu ở gần cánh cửa trưởng trên đất tổ phụ lưu lại, thì đến ngày giỗ, ngày tết, con thứ phải có phận sự hoặc góp lễ, hoặc đưa lễ đến nhà thờ hay nhà con truởng làm lễ, cho dù cửa trưởng chỉ thuộc hàng cháu, thì chú hoặc ông chú vẫn phải thờ cúng ông bà tại nhà cửa trưởng. Do đó không có lệ lập bàn thờ vọng đối cửa thứ ngay ở quê nhà. Nếu cửa trưởng khuyết hoặc xa quê, thì người con thứ 2 thế trưởng được lập bàn thờ chính, còn bàn thờ ở nhà người anh cả ở xa quê lại là bàn thờ vọng.

Phong tục rất hay và rất có ý nghĩa. Bởi lẽ chữ Hiếu đi đôi với chữ Đệ. Khi sống cũng như đã mất, ông bà cha mẹ bao giờ cũng mong muốn anh chị em sống hòa thuận, một nhà đầm ấm. Thỉnh vong hồn về cầu cúng lễ bái, mà anh chị em ở gần nhau không sum họp, mỗi người cúng một nơi, thì đó là mầm mống của sự bất hoà, vong hồn làm sao mà thanh thản được.

Cách lập bàn thờ vọng:

Chưa phải là phong tục cổ truyền, chưa có nghi lễ nhất định, mà chỉ là kinh nghiệm truyền cho nhau khoảng đầu thế kỷ lại nay tuỳ hoàn cảnh thuận tiện mà vận dụng: Khi bắt đầu lập bàn thờ vọng phải về quê chính báo cáo gia tiên tại bàn thờ chính. Sau đó xin phép chuyển một lư hương phụ hoặc mấy nén hương đang cháy giở mang đến bàn thờ vọng rồi thắp tiếp. Nếu có nhà riêng, tương đối rộng rãi khang trang, thì bàn thờ đặt hẳn một phòng riêng chuyên để thờ cúng cho tôn nghiêm, hoặc kết hợp đặt ở phòng khách, nhưng cao hơn chỗ tiếp khách. Nếu đặt bàn thờ gia thần riêng, thì phải đặt thấp hơn bàn thờ gia thần một ít. Đặt hướng nào? - Hướng về quê chính, để khi người gia trưởng thắp hương vái lạy thuận hướng vái lạy về quê. Thí dụ người quê miền Trung sống ở Hà Nội thì đặt bàn thờ vọng phía Nam căn phòng hay ngoài sân, ngoài hiên. Không nên đặt bàn thờ trong buồng ngủ, trừ trường hợp nhà chật hẹp quá thì phải chịu. Không nên đặt cạnh chỗ uế tạp, hoặc cạnh lối đi. Đối với những gia đình ở khu tập thể nhà tầng, nếu câu nệ quá thì không còn chỗ nào đặt được bàn thờ. Những người sống tập thể, chỉ đặt một lọ cắm hương đầu giường nằm của mình cũng đủ, miễn là có lòng thành kính, chẳng cần phải câu nệ hướng nào, cao thấp rộng hẹp ra sao.





Vai trò tộc trưởng xưa và nay khác nhau như thế nào?



Ngày xưa việc họ là cứ vào tộc trưởng. Họ lớn có tộc trưởng họ lớn; các chi có trưởng chi. Tộc trưởng có quyền lợi, nghĩa vụ rõ ràng. Ruộng hương hoả và tự điền có nhiều thì lễ to, nhà thờ họ lớn, tế khí đầy đủ và ngược lại. Khi vào tế lễ, tộc trưởng đầu còn trẻ tuổi vẫn là chủ tế, các ông chú dẫu cao tuổi vẫn là bồi tế. Nếu nhỏ quá thì một ông chú kế trưởng thay thế, cũng như ông vua trẻ chưa thành niên có phụ chính đại thần.

Thời nay ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân, không còn ruộng hương hoả, không còn chế độ thu tô như trước, quyền lợi của tộc trưởng hoặc người thay tộc trưởng, đối với tổ tiên và họ hàng cũng tuỳ thuộc vào nhận thức; tâm tư, trình độ hiểu biết, hoàn cảnh sinh sống của từng người, không có một chế độ quy định nào ràng buộc. Có nhiều họ, tộc trưởng ngụ cư hoặc không thoát ly công tác ở phương xa cũng không giao (hoặc không giao được) việc họ cho ai. Trong hoàn cảnh đó, việc hương khói tế tự tổ tiên và quan hệ họ hàng bị phế khoáng.

Thể theo nguyện vọng, tâm tư, tình cảm "Uống nước nhớ nguồn", ngày giỗ ngày tết con cháu muốn dâng lên Tổ tiên bát nước, nén hương. Để bổ cứu tình trạng trên nhiều họ đã có sáng kiến thành lập một hội đồng gồm những người có uy tín, nhiệt tình trong họ để chăm lo việc họ. Chưa có một văn bản hay có một tiền lệ nào qui định đó là ban nghi lễ. là hội đồng gia tộc hay hội đồng tộc biểu...

Trước mắt, họ nào mạnh hay yếu, thành đạt hay suy vi, tình cảm họ hàng gắn bó hay không, tác động tốt xấu tới phong trào chung, còn tuỳ thuộc vào nhiệt tình, khả năng tổ chức lãnh đạo của một số cá nhân, đóng vai trò chủ chốt, chứ chưa có một cơ chế nào bảo đảm sự bền vững lâu dài.

Trong thời kỳ kháng chiến con cháu tản mác, nhiều họ bị phế khoáng không còn cơ sở vật chất để chăm lo từ đường hương hoả. Từ sau hoà bình, thống nhất đất nước, một số họ được khôi phục nhưng vì "Duy ý chí", nên phong trào loé lên một thời gian ngắn rồi lụi dần. Không còn ruộng hương hoả của tổ tiên để lại thì con cháu đóng góp tiền gửi vào quỹ tích kiệm để lẫy lai hàng năm mà lo hương khói. Nhưng rồi do trượt giá, một vài yếu tố khách quan nữa tác động, hương khói cũng nguôi dần. Đó là nỗi lòng trăn trở nhất của những con cháu muốn kế tục sự nghiệp cha ông, muốn làm cho anh linh tổ tiên, cha ông, muốn cho dòng họ ngày càng thành đạt.





Ruộng hương hỏa có ý nghĩa gì?




"Ruộng hương hoả" là ruộng dành riêng giao cho tộc trưởng lo việc phụng thờ hương khói cho cha ông, tổ tiên. Ruộng hương hoả lưu truyền từ đời này sang đời khác. Ruộng hương hoả không được chia, không được bán. Luật phong kiến cấm bán ruộng hương hoả. Chừng nào cánh cửa trưởng không còn người nối dõi tông đường hoặc đi biệt xứ xa quê, họ khuyết tộc trưởng thì người con trưởng hoặc đích tôn thừa trọng của cánh hai lên thay, tiếp tục hưởng ruộng hương hoả và lo việc giỗ tết hương khói. Chừng nào toàn bộ con cháu trong họ đều phiêu cư bạt quán ( con gái không được tính đến ) thì người cuối cùng đang hưởng hương hoả nếu có khó khăn đặc biệt làm đơn xin bán, lý trưởng nào làm sai luật lệ trên sẽ bị quan xử phạt, nếu trong họ có người thưa kiện.

Vì có ruộng hương hỏa nên việc tế tự được duy trì bền vững, dù họ lớn hay bé, thành đạt hay bình thường, dù tộc trưởng giàu hay nghèo, sang hay hèn, già hay trẻ (có khi mới chỉ là đứa bé con năm bảy tuổi), việc tế tự vấn uy nghi đông đủ.




Quan hệ giữa họ hàng và làng xã như thế nào? Phục hồi việc họ lợi hay hại?

Phục hồi việc họ là một cách đúng đắn, vô tư, tức là phát huy được thuần phong mỹ tục. Nếu cán bộ cơ sở biết khéo léo vận dụng đường lối, loại trừ được 3 chiều hướng tiêu cực sau đây thì càng có nhiều dòng họ vững mạnh càng có lợi cho phong trào chung:

Ngăn ngừa một số phần tử lợi dụng tình cảm họ hàng thân thuộc để kéo bè, kéo cánh.

Phục hồi việc họ, đồng thời nhân đó phục hồi luôn cả những thủ tục, mê tín dị đoan.

Dựa vào thế có người nhà, người trong họ có chức có quyền để bóp méo luật pháp, làm ăn sai trái.

Ngoài ra, nếu tổ chức hội hè đình đám không đúng lúc, đúng chỗ gây lãng phí, nhiều thì giờ và tiền của, ảnh hưởng đến công việc, thời vụ sản xuất, thì nên khéo léo hướng dẫn hạn chế mặt tiêu cực.

Họ hàng thành đạt thì làng xã phồn vinh.

Trước Cách mạng Tháng Tám, bộ máy hương lý có quyền điều hành những công việc về hành chính, pháp lý, trật tự trị an, còn những việc xây dựng nông thôn, chấn hưng phong hoá như làm đường sá, đào giếng, sửa sang đình chùa, hội hè... hội đồng hào mục muốn huy động công sức, tiền của của dân phải dựa vào các họ, nên mỗi xã, thôn có một Hội đồng tộc biểu bao gồm những người có vai vế trong các họ. Chỉ những vị đó mới có khả năng vận động con cháu trong các họ ra làng xã làm những việc công ích.

Phục hồi việc họ, nếu được hướng dẫn đúng đắn sẽ có lợi nhiều mặt đối với phong trào địa phương:

Phục hồi luân lý, đạo đức kỷ cương xã hội, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá mới.

Góp phần trong việc giáo dục tư tưởng cha mẹ hiền từ, con trung hiếu, cháu thảo hiền, nuôi con khoẻ, dạy con ngoan.

Vận dụng kinh nghiệm của các họ thời xưa, có đặt binh điền, học điền, tổ chức lễ họ, hội tương tế. Vận động đặt các giải thưởng cho con cháu trong họ học khỏi, lên lớp, lên cấp, hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nêu cao ý thức tôn trọng người già, thương yêu giúp đỡ người cơ nhỡ, ốm đau, tàn tật...
Nếu khéo tổ chức, các họ còn có thể có tủ sách, câu lạc bộ văn hoá...




Tạo sao có phong trao khôi phục việc họ

Từ năm 1975 lại nay, từ Bắc chí Nam đều có phong trào khôi phục việc họ, với nội dung: Diễn dịch, biên soạn, phổ biến gia phả, sửa sang tôn tạo tổ mộ, từ đường tổ chức tế tự, giỗ tổ hàng năm và gắn bó tình cảm gia tộc hơn trước. Đó là một phong trào tự phát, chưa có một văn bản chỉ thị nào của cơ quan trung ương địa phương, hay ngành văn hoá có hướng dẫn khuyễn khích. Vậy nhân tố nào chỉ đạo, thúc đẩy phong trào lan rộng nhanh như vậy?

Đây là quy luật phát triến xã hội khách quan .

Trong thời kỳ kháng chiến. Mọi người dân, trên cương vị của mình đều phải dồn toàn bộ tâm sức vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, mọi người khi đó còn phải lo những vấn đề bức xúc nhất: ăn ở, sống chết... và những việc không thể đình hoãn được. Sau khi hoà bình, cuộc sống vật chất đã tương đối ổn định thì nhu cầu về đời sống tinh thần văn hoá lại nổi lên. Việc đi lại, thăm viếng nhau trong gia đình họ hàng thân thuộc, việc củng cố, gắn bó mối quân hệ gia tộc, việc thờ phụng tổ tiên, ông bà, cha mẹ từ ngàn xưa đẵ trở thành tâm linh của mọi người. Đây là một lĩnh vực quan trọng trong đời sống văn hoá và tư tưởng.

Dưới bất kỳ xã hội nào, dù xu hướng chính trị, tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, tình cảm gia đình vẫn vậy. Tĩnh gia tộc là khái niệm mở rộng của tình gia đình, máu thoảng hơn nước lã. Đó là tình cảm tự nhiên mọi người đều thừa nhận.

Vì vậy. Khôi phục việc họ là việc làm hợp với tâm tư của số đông nhân dân, một người đề xướng được trăm người hưởng ứng. Đó cũng là thuần phong mỹ tục.



Yến lão


"Yến" là tiệc rượu. Nhiều làng có tục yến lão, hàng năm hay hai ba năm một lần, thết tiệc mừng thọ các quan lão. Có thể nói đây là một thịnh điển thời thái bình, không phải là một hủ tục đã gây nên nhiều tệ đoan như tục ngôi thứ hương ẩm. "Sống lâu lên lão làng", tự nhiên có vinh dự tuổi thọ, không phải tranh dành mới có, chẳng phải có tiền mà mua được, có quyền thế mà tạo nên được.

Mỗi năm cứ đến dịp làng mở hội hoặc ngày đại lễ có định kỳ, các quan lão tụ hội ở chùa hay nơi công quán hay một đương cai, làng đem cờ quạt với phường bát âm đến rước ra đình. Những làng trù phú thường sắm đủ võng lọng rước lão, lão 100 tuổi đi võng điều che bốn lọng xanh, lão 90 tuổi đi võng điều hai lọng xanh, lão 80 tuổi vọng xanh (đòn cong) một lọng, lão 70 võng xanh (đòn ống) một lọng. Trai tráng cầm cờ khiêng võng đều nón dấu áo nẹp. Đám rước rất trọng thể.

Tại đình làng, nơi giữa thiết lập bàn thờ tiên lão, các quan lão ngồi hai gian bên theo thứ bậc tuổi, có làng yến cả lão bà thì gian trái lão ông ngồi, gian bên phải lão bà ngồi.

Tuỳ theo lệ làng, có nơi lão 90 tuổi hoặc lớn hơn nữa ngồi một mình chiếu nhất, có nơi chưa đến 60 tuổi đã là bậc cao niên nhất, cũng ngồi một mình chiếu nhất.

Tế lão cũng đủ nghi thức như tế thần, ba tuần rượu với văn tế tiên lão, văn chúc thọ quan lão, có ban tư văn hành lễ, phường bát âm tấu nhạc.

Lúc tế, quan lão ngồi trước những mâm cỗ đặt giữa chiếu, chỉ uống rượu suông không ăn, là thủ ý trang nhã, trịnh trọng đối với dân làng, ngồi chứng kiến cuộc lễ diễn hành và chăm chú nghe văn tế, văn chúc thọ. Những mâm cỗ kia sẽ được mang đến từng nhà biếu các cụ.

Cỗ yến lão thường là rất thịnh hậu cả về phẩm lẫn lượng, có nơi mỗi cỗ hai bánh dày, hai bánh chưng với những món giò, nem và nhiều thứ bánh khác làm rất công phu.

Chiếu nhất, một cụ ngồi thì được biếu cả một cỗ gọi là cỗ một, chiếu nhì, hai cụ ngồi là cỗ đôi thì được biếu mỗi cụ một nửa cỗ, những cỗ dưới là đồng hạng cứ bốn cụ một cỗ.

Từ ngàn xưa, những khi có việc làng, không hề có bóng phụ nữ nơi đình trung. Ngày yến, sự hiện diện của các lão bà đem lại cho dân làng một cảm giác đặc biệt vui vể đầm ấm.

Mỹ tục yến lão là do đạo hiếu mà ra, một đặc tính dân tộc, có ý nghĩa rất trọng hậu, trẻ vui đạo trẻ, già vui tuổi già, trái ngược hẳn với cái thảm cảnh ở mấy nước văn minh cường thịnh cứ đến tuổi già là bị liệt vào hạng người vô dụng, ăn hại xã hội, con cháu ít chăm nom, người đời lạnh nhạt.

Lúc vãn niên, tóc bạc da mồi, với cuộc sống buồn tẻ nơi thôn dã năm tháng trôi, các cụ hẳn cũng cảm thấy sung sướng đã được cả làng tỏ tình quý trọng, quý trọng rất mực trong cuộc rước đón những buổi yến ẩm, con cháu các cụ thì được hãnh diện là gia đình có phúc mới được tuổi thọ, cho nên nhiều nhà, dù ngèo cũng ráng may sắm cho ông bà đi dự yến.

Cụ thì mũ ni nhung đen, áo vóc đại hồng, cụ thì khăn nhiễu tam giang, giầy văn hài, cụ thì áo đoạn huyền quần lụa bạch, có những cụ nhà bần hàn, quanh năm quần nâu áo vải lúc này cũng quần chúc bâu, áo the thâm, áo láng chéo go, dép mới thay quai... Y phục tuỳ hoàn cảnh mỗi nhà, không có lệ định nào, chỉ trừ màu vàng của nhà vua, quan dân đều không được mặc
Trước ngực, dưới vòng dây thao quàng cổ là túi gấm màu lam, màu huyền đựng trầu, thuốc, cối, chày...

Đám rước quan lão, y phục màu sắc như vậy với võng lọng cờ quạt, vừa gợi cảm. Những nhà từ mấy đời không hề có ông cha được dự, không khỏi bùi ngùi tiếc thương người đã khuất, không khỏi thèm muốn ước mong cho gia đình đời nay và đời sau.



Tục khao lão



Bây giờ đến bậc ăn dưng nhỉ,
Có rượu thì ông chống gậy ra.
(Nguyễn Khuyến)

Lên lão cũng phải khao. "Khao lão" không khó khăn như khao vị thứ đình trung. Lo đủ lệ là được, có mời thì mời phe giáp hay thôn xóm khắc đến, vì lên lão là quyền đương nhiên không phải cậu cạnh.

Những nhà giàu có thường nhân dịp bày tiệc mừng thọ tế lễ, ăn uống linh đình. Tế sống cha mẹ, có văn chúc thọ với ban tư văn hành lễ trợ tế. Cha mẹ ngồi phía trong, con trái, gái, dâu, rể, cháu chắt, phân thứ bậc trên dưới đứng hai bên, nam bên trái, nữ bên phải, làm lễ tế ba tuần rượu, có tấu nhạc trọng thể , vui vẻ. Tế sống cha mẹ mỗi lần hai lạy, khác tế thần, tế tổ mỗi lần bốn lạy. Ở đất văn vật, bài văn tế chúc thọ thường là cả một công trình bút mực, có khi người trong vùng nô nức đến xem tế và nghe đọc văn.

Có đám mừng thọ mời bà con họ hàng làng tổng, tiệc tùng hát xướng hai ba bốn ngày.

"Phú quý sinh lễ nghĩa", có nhiều nhà làm lễ mừng thọ cha mẹ lên lão 70, 80, 90 tuổi... Không phải tục lệ bắt buộc, giàu có bày ra thết đãi mời mọi người đến chia vui với mình, đồng thời làm vui lòng cha mẹ, tưởng cũng là một tục hay, có thể khiến cho những kẻ nhẹ tình hiếu thảo, không lo phụng dưỡng cha mẹ cho được tuổi thọ như người, phải lấy làm suy nghĩ và hổ thẹn.




Đạo hiếu là gì?

Hiếu theo quan niệm thời xưa khác thời nay như thế nào?

Các bạn biết chữ Hán thấy rõ: Chữ "Hiếu" là chữ viết tắt của hai chữ "Lão" ở trên (lượt bớt phần dưới) và chữ "Tử" ở dưới. "Hiếu" tức là mối quan hệ cha trên, con dưới; suy rộng ra là đạo nghĩa của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên.

Đọc bài "Đạo hiếu" của Nhất Thanh (Tr.331 cuốn "Đất lề quê thói"- NXB Đồng Tháp) cùng với một số bài nói về lễ Mừng lão,Yến lão, tôi rất nhất trí và không lặp lại, chỉ xin nói thêm vài lời.

Đạo hiếu xuyên suốt trong mọi phong tục của nhân dân ta, không thể không nói đến chữ hiếu khi viết về phong tục cổ truyền của ta. Lễ tế, lễ tang, lễ cưới, kể cả sinh đẻ, xây nhà dựng cửa, hội hè đình đám, việc nước, việc làng, thuần phong mỹ tục đã đành mà trong số những phong tục đã lỗi thời, ngày nay bị xếp vào loại đồi phong bại tục, ta cũng chắt lọc được một phần tinh hoa của đạo hiếu.

"Hiếu" là thiên kinh địa nghĩa, là gốc của mọi đức tính. Ca dao tục ngữ đã nói nhiều, ngay trong bài học vỡ lòng, trong "Luân lý giáo khoa thư" các em đã hiểu: "Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra"... Những chân lý đó, ai không chấp nhận, song quan niệm về chữ "Hiếu" ngày nay cũng có phần khác thời xưa.

Tôi không dám lên mặt dạy đời, chỉ xin thuật lại một buổi tranh luận trong nội bộ gia đình tôi:

Trước hết tôi hỏi: "Hiếu" là gì? Cháu nhanh nhảu trả lời: "Hiếu" là hiếu với dân, Bác Hồ khuyên: "Trung với nước, hiếu với dân". Đài báo cũng nhắc luôn: "Hiếu với dân, tức là cán bộ phải chăm lo cho dân, đừng ăn hối lộ, đừng hách dịch với dân".

- "Việc hiếu" là gì?

- "Việc hiếu" là việc... là việc... là việc cán bộ chăm lo cho nhân dân mà không ăn của đút, không... Đến đây cháu lúng túng. Thằng con út tôi trả lời thay:

- "Việc hiếu" là việc đưa đám ma, vì hôm trước, đưa đám ma xong, ông hàng xóm đứng lên cảm ơn thân bằng cố hữu đã giúp gia đình lo xong việc hiếu... Đến đây, được chú em tôi phụ hoạ thêm:

- Cháu nói có lý đấy anh ạ! "Việc hiếu" là việc đối với người chết, cho nên người ta thường nói "Hiếu", "Hỷ", tức là chỉ việc tang, việc cưới. Nhưng cháu ạ, việc hiếu phải ba năm chứ không phải đưa ma xong là xong đâu! Đến như tiến sĩ Lý Trần Quán, một người tận trung tận hiếu cuối triều Lê, trước khi chết còn viết đôi câu đối "Tam niên chi hiếu dĩ hoàn. Thập phần chi trung vị tận" (Chữ "Hiếu" 3 năm đã xong, chữ "Trung" mười phần chưa trọn).

- Hiếu đối với người chết, còn đối với người sống thì sao? "Sự tử như sự sinh" kia mà?

- Ồ, anh muốn biết con anh có hiếu hay không, xin anh hãy ráng chờ sau khi anh chết sẽ rõ. Ca dao có câu "Khi sống thì chẳng cho ăn. Đến khi chết xuống làm văn tế ruồi". Thời xưa còn thế nữa là bây giờ. Nhưng anh cũng đừng lo ruồi ăn hết phần, vì thanh niên ngày nay có biết đọc văn nữa đâu mà tế ruồi.
Đến đây lại chuyển sang mục tranh cãi giữa tôi và chú em về quan niệm chữ "Hiếu" thời xưa vàc thời nay.

- Thời nay lớp trẻ chẳng biết "Chín chữ cù lao" là cái gì. Công ơn mang nặng đẻ đau, nuôi con khôn lớn tốn bao nhiêu tâm lực, đến nay chúng nó có lớn mà chẳng có khôn. - Tôi phàn nàn - Đã thế còn hỗn láo, bướng bỉnh...

- Đó chẳng qua là cái món nợ đồng lần, mình nuôi con rồi nuôi cháu cũng thế. Lớp trẻ bây giờ nhiều người nói ngược: "Sinh ra ta, nuôi ta lớn lên, đó là trách nhiệm của các ông bô bà bô". Có đứa còn trách bố mẹ: "Sao người ta ăn sung mặc sướng, được chiều chuộng. Bố mình thì "Khắt khe", "Ky bo" mà còn kể ơn huệ!" - Chú em tôi kể thêm.

Đối với những ông bố bà mẹ có những đứa con như vậy, quả thật là bất hạnh, song cũng phải khẳng định số người đó rất ít, vả lại khi đến tuổi trưởng thành, được tiếp thu sự giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội và qua khảo nghiệm thực tế của cuộc đời, chúng sẽ thay đổi tính tình. Bố mẹ bao giờ cũng sẵn sàng tha thứ, nước mắt chảy xuôi là lẽ thường tình.

Bàn đến câu ca dao: "Cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư", rồi "Trứng khôn hơn vịt"... được dịp, con cả tôi xen vào:

- Con xin phép cha mẹ và chú, con cãi cha mẹ không phải trăm phần trăm con hư cả. Nếu cha mẹ nghĩ sai làm sai, con can ngăn thì đó có phải là bất hiếu đâu!

Ông chú gật gù tán thành:

- Cháu nói có lý. Câu "Con cãi cha mẹ trăm phần con hư" chỉ đúng khi đứa con còn thơ ấu, chứ khi đã trưởng thành có nhiều cô cậu còn khôn hơn cha mẹ. "Con hơn là nhà có phúc" mà! Thời đại ngày nay, khoa học kỹ thuật tiến vùn vụt, tư duy chính trị, kinh tế bây giờ cũng đổi mới mà cánh già chúng ta thường hay thủ cựu, bảo thủ cố chấp. Âu cũng là mâu thuẫn giữa hai thế hệ...

- Theo chú, câu tục ngữ "Có con tội sống, không có con tội chết" có đúng không?

- Đúng thời xưa nhưng không đúng thời nay. Thời xưa có câu "Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại" (có 3 điều bất hiếu với cha mẹ, trong đó không có con là điều nặng nhất). Cha mẹ ông bà tuy đã qua đời nhưng không còn sống trong ta, nếu ta không có con thì sau khi ta chết, ta cũng làm tiêu tan nốt giòng máu của bao đời tổ tiên, ông cha lưu lại. Nhưng còn tội sống thì sao ? Có ít người cho rằng nuôi con chẳng qua chỉ mang thêm tội vạ. Đã vậy sao nhiều người ghét con lại thương cháu. Có lẽ họ nghĩ rằng chon họ đã không nối được nghiệp cha ông thì hy vọng cháu mình sẽ nối.

Trong cuốn "Một nghìn lẻ một đêm" một nhà thông thái đã trả lời đám đông: "Nỗi khổ nhất và dai dẳng nhất trên đời là có đứa con hư". Nhưng còn một mặt khác, mà là mặt tích cực và phổ biến "Con khôn nở mặt mẹ cha" "Một con một của", có ai từ. Gặp nhau người ta hỏi thăm nhau: "Mấy trai máy gái rồi?", chứ có hỏi: "Mấy của rồi?"đâu. Còn như câu "Trẻ cậy cha, già cậy con" ngày nay liệu còn đúng không?

Nhân nhắc đến những gương hiếu kính thời xưa được nhà vua ban biển vàng như thời vua Lê Huyền Tông cách đây gần ba trăm năm (1663-1671), ban biển đỏ với bốn chữ vàng "Hiếu hạnh khả phong" như thời vua Hàm Nghi cách đây hơn một trăm năm (1885-1888) chú em tôi thắc mắc có tính chất gợi ý: "Thời nay thiếu gì gương hiếu kinh sao từ trung ương đến địa phương chưa thấy có hình thức khen thưởng biểu dương gì ?. Trong quyển "Nhị thập tứ hiếu" có Lục Tích người quận Cửu Chân mới 6 tuổi đến nhà họ Viên ăn tiệc xong dấu quả quýt mang về cho mẹ Quận Cửu Chân là đất Thanh Hoá ngày nay. Lục Tích cũng được liệt trong số "Thảo hai mươi bốn, thơm nghìn muôn thu", sao trong sử sách ta, không thấy nói đến.

Ông chú vừa dứt lời, cậu con trai thứ của tôi xen ngay:

- Tưởng ai nổi danh, chứ như Lục Tích giấy quýt về cho mẹ cũng đưa vào sử sách, thì ở nước ta giấy mực đâu mà thống kê cho hết, ở một vùng cũng đến hàng ngày hàng vận người. Ngay như cháu đây, lúc nhỏ cùng đi ăn giỗ với chú ở nhà thờ họ, hẳn chí còn nhớ, lúc đó cháu mới bốn, năm tuổi, cháu còn nhớ chú xé sẵn cho cháu một tài lá chuối trước khi ăn cỗ, thế rồi phần giò, phần nêm, chả, xôi, hoa quả của cháu, cháu đều gói cả lại mang về phần mẹ, phần em, mặc dầu cháu rất thèm, cháu hơn hẳn Lục Tích chứ chú!

Nghe con nhắc lại chuyện cũ, vợ tôi nhoẻn miệng cười gật đầu tán thưởng. Tôi liếc thấy vợ tôi còn rơm rớm nước mắt vì cảm động.

Cậu con thứ của tôi, bỗng quay lại phía chú, đột ngột hỏi:

- Vua ban bằng "Hiếu hạnh" gì gì đó có đúng đối tượng không chú? Hay lại nghe dưới tâu báo lên, chỉ phong cho bọn lắm tiền, khéo nịnh, để được ăn khao cho to? Chú ạ, ngày xưa các cụ ngốc lắm, "Đức Đại thánh họ Ngu vua Thuấn" thì đúng là không khôn: hiếu với cha mẹ đã đành một nhẽ, chứ với mụ gì ghẻ cay nghiệt như kiểu mẹ con Cám, gặp phải cháu thì ăn đám chứ đừng hòng "Trăm cay đắng một niềm ngon ngọt". Đời nhà ai, có người chôn con nuôi mẹ như Hán Quách Cự mà cũng được "Thơm nghìn muôn thu". Đáng lý ra triều đình phải ngiêm trị tội giết người, hơn nữa lại là tội giết hại trẻ con.

Cuối cùng chú em tôi quay sang hỏi tôi:

- Theo ý anh, thế nào là "Có hiếu", thế nào là "Bất hiếu". Giữa hai đứa con, anh chọn đứa nào, một như cháu đây: Con nhà nghèo, mới 4, 5 tuổi đã biết giành phần ngon về biếu mẹ, một là đưa giàu sang, không đúng ngày giỗ cha cũng lấy cớ bịa ra ngày giỗ, cỗ bàn linh đình để khoản đãi, cầu cạnh những kẻ cao sang, lmà ra vẻ người con chí hiếu, trong khi đó thì hắt hủi người mẹ quê mùa, lam lũ nghèo hèn như trong chuyện "Báo hiếu cha" của Nguyễn Công Hoan. Thế nào, giữa "Lục Tích nhà ta" mặc dầu có lúc còn hỗn láo bướng bỉnh và nhân vật "Chủ hãng ô tô con cọp" của Nguyễn Công Hoan, anh chọn đứa nào?

Dường như để tránh dung dưỡng cho những điều không phải, chú em tôi quay lại, nhỏ nhẹ bảo cháu:

- Cháu ạ, cháu có thể tranh luận với cha mẹ nhưng phải lễ độ, từ tốn, phải biết lựa lời, chọn lúc, tuyệt đối không được có thái độ nóng nảy, cáu gắt, hỗn láo, nhất là khi có khách, khi ra đường, giữa công chúng, hoặc trước mặt vợ con, đừng để ông bà trên bàn thờ quở mắng bố mẹ cháu rằng không biết dạy con; đừng để vợ con cháu, em út cháu khinh nhờn bố mẹ cháu, tất nhiên cũng khinh nhờn cả cháu. Sau này cháu sẽ rõ: có nuôi con mới biết lòng cha mẹ.

Từ nãy đến giờ nhà tôi chỉ ngồi nghe, bây giờ mới lên tiếng: "Nghe cha con, chú cháu nhà ông nói thì ai cũng có lý"!

Xin mượn câu đó làm câu kết cho bài này.



_____
Lượm được online:)

QT

allena
12-01-2002, 10:50 AM
Cám ơn QT về bài viết dài và nhiều ý nghĩa ...:flower: :flower:

BungRieu
12-02-2002, 09:27 AM
Cám ơn Anh QT đã đăng tải bài viết này ...
BR được hiểu thêm 1 chúc về nguồn gốc và gia phả ...
và 1 số phong tục & thói lệ đẹp của làng quê VN ....:flower::flower::flower::flower::flower:...

WLP
05-19-2007, 05:49 PM
TRUYỀN THỐNG ĐẠO HIẾU CỦA NGƯỜI VIỆT NAM

HÀ XUÂN LIÊM

Phương Đông dường như không thích “triết lý”, mà chuộng “đạo học”, cho nên người Việt ta đã sống trong đạo Hiếu mà không có triết lý về chữ Hiếu. Đạo lý là bản căn, là gốc rễ cho nếp sống thường ngày của người dân nhưng họ không hề nhận thức vấn đề đơn thuần bằng luận lý : “Hiếu là gì ? Thế nào là Hiếu ?” mà triết lý phương Tây rất thích lối này.

Người dân bao đời truyền miệng câu ca dao :
“Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra…”



Sao ví cha như “núi”, mà ví mẹ như “nước nguồn” ? Núi trông xa thì bình thản và vững vàng, vì đỉnh núi luôn luôn tiếp giáp với mây trời. Nói một cách khác, cha là lý tính, là trí tuệ… Còn mẹ thì uyển áo, dịu dàng như nguồn nước. Đặc biệt là tình thương của mẹ đối với con thì vừa trong lành, vừa hiền dịu, vừa lưu hoá. Nhìn về phương diện sinh học thì không có một loài động vật nào, trong đó có con người, một thứ cây gì không có nước mà có thể sống được. Cho nên “nước trong nguồn chảy ra” chính là nguồn sống luôn luôn tuôn trào. Mẹ thương con với tình thương của nước đối với vạn loại.



Trong đời sống thường nhật của dân gian, có khi người con gái biểu lộ lòng hiếu thảo đối với cha mẹ bằng một thứ tình cảm rất đặc biệt, nhất là khi bước chân đi lấy chồng, không thể làm tròn chữ Hiếu đối với cha mẹ như lòng mình mong muốn được.



Lạy cha ba lạy một quỳ

Lạy mẹ bốn lạy, con đi lấy chồng.



Muốn hiểu được sự tri ân báo hiếu song thân lúc sinh tiền này, cần biết thêm một câu ca dao khác nữa, mới biết được tại sao “lạy cha ba lạy một quỳ”, tức một vái; còn lạy mẹ thì đầy đủ “bốn lạy” ?



Lui về lập miếu thờ vua

Đâu “tran” thờ mẹ, lập chùa thờ cha.



Nghĩa đầu tiên xuất hiện trong câu này là hai nơi thờ vua và thờ cha tách rời khỏi căn nhà của mình, biệt lập thành một nơi. Còn thờ mẹ thì phải “đâu tran”. “Đâu” tiếng cổ có nghĩa là “đóng”, “Đâu tran” là “đóng một cái tran”. “Tran” thì thường thờ ở trong nhà, như “tran bếp”, “tran bà”. Người cha được đạo lý truyền thống dân gian đồng hoá với Phật. Cha có đủ Từ bi, Trí tuệ và Dũng cảm (Bi, Trí, Dũng), cho nên mới lập chùa để thờ cha. Lạy cha “ba lạy một vái”, đó cũng chính là cách lạy Phật. Cha là Đức Phật của con cái. Rõ ràng là thế. Còn lạy mẹ đến “bốn lạy”. Số bốn (4) là con số nghiêm túc đầy đủ, vững vàng và chính đính nhất. “Bốn lạy” là kiểu lạy cúng truyền thống trong dân tộc Việt. Mẹ ở đây đã trở thành “thần bổn mạng” của người con gái khi bước chân ra đi lấy chồng. “Đâu tran” để thờ mẹ tức là thờ “thần bổn mạng” ở trong nhà mình, dù nhà đó là nhà cả hai vợ chồng gây dựng sau này, sâu xa hơn, phải nói là thờ trong tâm khảm mình….



Nói đến người con trai có hiếu đối với cha mẹ thì trong lịch sử Việt Nam đã có ghi nhiều tấm gương tiêu biểu. Dù người con trai đó ở cương vị một ông vua, một nhà nho, một vị Hoà thượng tu hành đắc đạo, thì việc thực hiện đạo Hiếu bằng hành động đủ để cho hậu thế noi theo.

Sách Đại Việt sử ký của Ngô Sĩ Liên có chép hai việc sau đây :



- Vua Lý Nhân Tông (1072-1127) đã bãi dịp Trung nguyên yến ẩm chúc tụng của bách quan đối với mình để làm lễ Vu Lan Bồn cầu siêu cho mẹ đúng theo ý nghĩa Phật giáo.



- Vua Lý Nhân Tông (1128-1138) cũng bỏ yến ẩm chúc tụng của bách quan dâng biểu ở điện Thiên Aân vào dịp lễ Trung nguyên để thiết lễ đại trai đàn, cầu siêu cho phụ hoàng là vua Nhân tông, và cử hành nghi lễ theo nghi thức Phật giáo. Đó là việc hai vua đời Lý báo hiếu cha, mẹ đã mất.



- Chuyện báo hiếu đối với cha khi cha còn sinh tiền, sách Đại Việt sử ký ghi : Vua Trần Nhân Tông (1293-1314), say rượu nằm trong cung (1299), thái thượng hoàng Nhân Tông (1279-1308) ở cung Thiên Trường về thăm, bách quan đã hội đủ, nhưng không thấy vua ra chầu. Thái thượng hoàng giận ra lệnh cho bách quan về Thiên Trường lập triều ban. Khi tỉnh rượu, thấy vắng vẻ, vua hỏi rõ cơ sự, vội vã về Thiên Trường ra mắt chầu vua cha và xin chịu tội. Thái thượng hoàng quở trách những lời nặng nề. Vua Anh Tông sợ, lạy cha xin chừa rượu. Từ đó vua bỏ, không bao giờ uống rượu nữa.



Sử cũng chép về vua Tự Đức (1829-1882) rằng một hôm vua đi bắn chim ở rừng Thuận Trực, An Nong, gặp nước lũ, thuyền vua về chậm, thái hậu sai quân đem thuyền đi đón. Về đến Thương Bạc, vua vội vã về cung, chỉnh trang y phục, sang chầu mẫu hậu. Thái hậu giận, ngồi xây mặt vào vách. Vua Tự Đức tự nằm xuống gác cây roi mây trên lưng mình chịu tội. Thái hậu quay mặt ra lấy tay hất cây roi và quở trách nặng lời. Đêm đó, vâng lời mẹ, vua thức suốt đêm để phê tấu chuẩn. Từ đó về sau vua không còn bỏ bê việc triều chỉnh nữa.



Đặc biệt, nhiều sách còn ghi câu chuyện gương hiếu của một vị chân tu, đó là Hoà thượng Nhất Định (1784-1847). Dẫu khi đã 60 tuổi, nhưng ngài vẫn ngày ngày tự thân hành về chợ Bến Ngự mua cá lên An Dưỡng am (chùa Từ Hiếu hiện nay) để nuôi mẹ già 80 tuổi, với tinh thần vô ngại cao thâm, bất khả tư nghị. Khi vua Tự Đức biết chuyện, nhà vua vô cùng cảm phục. Tự Đức nguyên niên (1829), vua phong hiệu chùa Từ Hiếu là do tích này, và xuất phát từ thành ngữ “mẫu từ tử hiếu”, mẹ ăn ở hiền lành, sinh con có hiếu. Câu chuyện này đến nay vẫn còn được lưu truyền trong dân gian.

WLP
11-05-2007, 12:34 AM
CHỮ HIẾU TRONG TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA VIỆT NAM

Dân tộc Việt Nam vốn là một dân tộc thấm nhuần giáo lý Khổng Mạnh và tư tưởng các tôn giáo khác từ thời kỳ lập quốc cho tới ngày nay. Nền văn minh nông nghiệp và hệ tư tưởng, triết lý đến từ phương bắc là Trung quốc đã cố kết và nhào nặn dân tộc Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước mà trong đó gia đình là một cơ cấu căn bản rất cần thiết cho sự sống còn của dân tộc qua trường kỳ lịch sử. Các mối liên hệ tương quan giữa các thành viên trong gia đình Việt Nam đã được biểu thị qua hệ thống tam cương, ngũ thường mà sách vở kinh điển của Nho gia như Luận ngữ, Mạnh tử, Ðại học, Trung dung hay các kinh Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân thu tuy vốn là những sách thánh của Trung quốc tự ngàn xưa nhưng vẫn còn hay nhắc đến, trong đó chữ hiếu có ảnh hưởng rất đậm nét trong phong cách hành xử của người Việt Nam. Tinh thần hiếu đễ đã hun đúc nên tâm tính hiền hòa, nhẫn nhục của người Việt Nam chính là yếu tố cốt cán giúp cho xã hội bền vững và gia đình phát triển qua nhiều thế hệ. Bởi thế, tìm hiểu ý nghĩa của chữ hiếu qua truyền thống văn hóa Việt Nam cũng là thiết thực đóng góp chút ít suy tư với độc giả nhất là tầng lớp thanh niên Việt Nam đang ngày càng đạt được nhiều thành công trong việc ổn định cuộc sống tại hải ngoại.



I.- TÌM HIỂU TỪ NGUYÊN CHỮ HIẾU.

Từ nguyên (étymologie) là nguồn gốc, lịch sử hình thành và phát triển của một từ hay một chữ trong thời gian về trước và hiện tại, chính là yếu tố giúp cho người đọc hiểu rõ ràng ý nghĩa của nó. Căn cứ theo lục thư (sáu cách viết chữ Hán của người Trung hoa gồm có chỉ sự, tượng hình, hài thanh hay hình thanh, hội ý, giả tá, chuyển chú) chữ hiếu được cấu tạo theo lối hội ý nghĩa là kết hợp nhiều ý nghĩa của nhiều chữ.

Theo linh mục L. Wieger, ý nghĩa và kết cấu hình thành của chữ hiếu (Hsiao, Filial piety) đã được biện giải là điều mà các con em mắc nợ đối với bậc trưởng thượng nói chung và đối với bậc cha mẹ nói riêng, là kẻ phụng sự cha mẹ rất chí tình, viết một phần gồm chữ lão (già cả) bỏ bớt nét và gồm với chữ tử ( con).

Linh mục L. Wieger thuộc Dòng Tên là một nhà Trung hoa học nổi tiếng trên thế giới trong nhiều thập niên trước đây với rất nhiều công trình biên tập giới thiệu cùng độc giả Tây phương các tác phẩm kinh điển của nền văn hóa cổ Trung hoa. Sách vở biên tập của ông đã được nhiều thế hệ sử dụng trong đó có rất nhiều tầng lớp độc giả, trí thức và giáo sư Ðại học Việt nam. Ý nghĩa nhà bác học này muốn nhấn mạnh tới qua chữ hiếu đó là mối liên hệ mật thiết giữa lớp người trưởng thượng và con cháu của họ, một mối quan hệ hỗ tương rất chặt chẽ trong ý nghĩa của chính ngôn từ và trong đời sống thực tế ngoài xã hội.

Một kiến giải khác được hình thành trong một cuốn sách viết về nền văn hóa tâm linh xuất bản mới đây đã có trình bày rằng theo hình tượng chữ hiếu trên phần đầu chữ khảo

cha, dưới chữ tử là người con, giữa có cái gậy vắt ngang, hiếu là con mũ gậy cha mẹ. Ý kiến giải thích như vậy cũng có tính cách khả tín. Tuy vậy xem lại hai cách giải nghĩa chữ hiếu thì trong đó các tác giả có phần nào gượng ép.

Theo Linh mục Sảng Ðình Nguyễn Văn Thích (1891-1979), Giáo sư Hán văn của Trường Ðại Học Văn Khoa Huế, Sài Gòn và Viện Hán học Huế trước năm 1975, một bậc túc nho cuối cùng của nền Hán học cổ truyền Việt Nam, thì chữ hiếu được kết hợp bởi chữ thổ là đất, nét sổ xiên từ phải sang trái có hình tượng như một cây roi và chữ tử là con, nghĩa chung là đứa con chịu nằm xuống đất và để cây roi trên mình cho cha mẹ đánh thì đó là đứa con có hiếu. Lối giải thích từ nguyên của vị giáo sư thâm nho này cũng có những nét đặc sắc và gần gũi với nền giáo dục trẻ con của Việt Nam ngày trước (Thương con cho roi cho vọt, ghét con cho ngọt cho bùi), một lối giáo dục nặng hình thức thương yêu mà trấn áp, răn đe.

Theo học giả Thiều Chửu, chữ hiếu có hai nghĩa: 1.- Thảo, con thờ cha mẹ hết lòng gọi là hiếu. 2.- Tục gọi đồ tang phục là hiếu. Như xuyên hiếu - mặc đồ tang (để tang). Thoát hiếu - chút đồ tang (đoạn tang) v.v. Sách Hán Việt Từ Ðiển của Ðào Duy Anh cũng có những giải thích tương tự.



II.- MỘT SỐ Ý NIỆM VỀ CHỮ HIẾU TRONG CÁC TÔN GIÁO PHỔ CẬP Ở VIỆT-NAM.

Ðất nước Việt Nam là nơi gặp gỡ của nhiều tôn giáo như Nho, Phật, Lão (tam giáo đồng quy) và về sau với sự góp mặt của Thiên Chúa Giáo cùng với một số tôn giáo có tính cách địa phương như Cao đài, Hòa hảo nên có thể nói được rằng ảnh hưởng của các tôn giáo đã đặt những dấu ấn rõ rệt trong nền văn hóa của dân tộc mà điển hình là một số ý niệm của các tôn giáo về vấn đề chữ hiếu nói chung. Có thể nói hầu hết mọi tôn giáo và triết thuyết Á đông đều khuyến khích con cái sống hiếu thảo đối với cha mẹ, các bậc trưởng thượng và tinh thần hiếu đễ có khi được coi là một tập tục sâu sắc, một tín ngưỡng (hiếu đạo).



2.1. Thiên chúa giáo và vấn đề chữ hiếu:

Giáo lý của Thiên chúa giáo có điều răn thứ bốn dạy là « thảo kính cha mẹ ». Trong sách Huấn Ca của Cựu Ước người ta đã đọc thấy những lời dạy như sau:

Hỡi các con, hãy nghe cha đây,

Và làm thế nào để các con được cứu độ

Ðức Chúa làm cho người cha được vẻ vang vì con cái

Cho người mẹ thêm uy quyền đối với các con.

Ai thờ cha thì bù đắp lỗi lầm

Ai kính mẹ thì tích trữ kho báu

Ai thờ cha sẽ được vui mừng vì con cái

Khi cầu nguyện họ sẽ được lắng nghe.

Ai tôn vinh cha sẽ được trường thọ,

Ai vâng lệnh Ðức Chúa sẽ làm cho mẹ an lòng. 4

Trong sách Tin Mừng Thánh Mát-thêu (15, 1- 6) có một đoạn liên hệ tới đạo hiếu, nói về thái độ của Ðức Kitô đã cảnh cáo lớp người giả đạo đức thời đại của Ngài: « Bấy giờ có mấy người Pha-ri-sêu và mấy kinh sư từ Giê-ru-sa-lem đến gặp Ðức Giê-su và nói rằng : « Sao môn đệ ông vi phạm truyền thống của tiền nhân, không chịu rửa tay khi dùng bữa. » Người trả lời : « Còn các ông, tại sao các ông dựa vào truyền thống của các ông mà vi phạm điều răn của Thiên Chúa? » Quả thế, Thiên Chúa dạy: Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử. Còn các ông, các ông lại bảo: Ai nói với cha với mẹ rằng : « những gì con có để giúp cha mẹ, đều là lễ phẩm dâng cho Chúa rồi, thì người ấy không phải thờ cha kính mẹ nữa ». Như thế, các ông dựa vào truyền thống của các ông mà hủy bỏ lời Thiên Chúa... »

Ý nghĩa hiếu thảo và thương yêu giữa cha mẹ với con cái cũng được Thánh Phao-lồ nhắc đến trong Thư gửi tín hữu Cô-lô-xê : Kẻ làm con hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự, vì đó là điều đẹp lòng Chúa. Những bậc làm cha mẹ đừng làm cho con cái bực tức, kẻo chúng ngã lòng.

Căn cứ theo các tài liệu lịch sử hiện nay thì Thiên Chúa giáo xuất hiện ở đất nước Việt Nam vào quảng đầu thế kỷ XVI. Theo sách Dã lục thì tháng 3 năm Nguyên-hòa thứ nhất (1533) đời Lê-Trang-Tôn, có người Tây-Dương tên là I-nê-Xu lén lút đến xã Ninh-Cường, xã Quần Anh, huyện Nam-Châu, và xã Trà-Lũ huyện Giao-thủy, ngấm ngầm truyền bá tả đạo Gia-Tô.Thế là, ít ra, từ đó, đạo Công-giáo đã được biết ở Nam-Ðịnh.

Ðạo Công Giáo khi được truyền bá vào Việt Nam cũng đề cao tinh thần chữ hiếu trong bất cứ mọi trường hợp của cuộc sống, ngay cả đến khi cận kề cái chết, nên hoàn toàn có khả năng để thích ứng với cá tính đạo đức của dân Việt Nam và tình huống xã hội của đất nước chúng ta.

Trong một bài báo đăng trên Tạp chí Thế Kỷ 21 số 161 tháng Chín 2002, tác giả Ngô Nhân Dụng đã đề cập tới quyển sách của nhà truyền giáo De La Bissachère xuất bản hồi đầu thế kỷ 19 (sách in ở Paris năm 1812, tuy nhiên đã được in ở Luân Ðôn từ năm trước) nhan đề État Actuel du Tunkin, de la Cochinchine, et des Royaumes de Cambogde, Laos, et Lac Tho (Tình trạng đương thời ở xứ Ðàng ngoài, Ðàng trong, và các vương quốc Cam Bốt, Lào, Lạc Thổ). Giáo sĩ De La Bissachère đã sống ở các xứ trên trong 18 năm dưới thời vua Gia Long. Bài báo của tác giả Ngô Nhân Dụng có đoạn viết:

Một nền tảng của nền đạo lý dân tộc ở Việt Nam là đạo hiếu, thể hiện qua tục thờ cúng tổ tiên. De La Bissachère ghi nhận người Việt Nam thờ cúng tổ tiên và coi họ như những người ở trên trời, những thần linh bậc nhì còn săn sóc và bảo vệ gia đình họá, và tin rằng tổ tiên lúc sống càng thánh thiện bao nhiêu thì lúc chết càng có sức mạnh linh thiêng bấy nhiêu. Có lẽ đây là một cách diễn tả niềm tin về phúc đức ông bà của người Việt. De La Bissachère viết, Người già cả được tôn kính với thái độ giống như trong tôn giáo. Ông nhận xét rằng ngoài chính sách cấm đạo của vua chúa thì đây là một trở ngại cho việc truyền đạo Thiên chúa ở Việt Nam, tục thờ cúng tổ tiên, việc thờ cúng có vẻ ngoài như một tín ngưỡng. Các vị thừa sai thuộc dòng Tên đã chấp nhận phong tục này, mà họ thấy không thể cắt lìa phong tục đó khỏi các dân tộc này được;... mà trong các bổn phận đối với tổ tiên đó, tất cả chỉ là để tỏ tình thương và lòng tôn kính, nhưng Rome không thể chấp nhận ý tưởng khoan dung đó.. Lập trường của Giáo hội Roma về sau cũng tỏ ra rất uyển chuyển không còn cứng ngắc như trước đây, nhất là sau thời Công Ðồng Vatican II, đối với một số các phong tục Á đông như việc thờ cúng tổ tiên, vấn đề hôn phối với người khác tín ngưỡng v.v...

Trước đây trong thời kỳ đạo Công giáo bị các chế độ phong kiến bách hại, người ta đưa ra lý luận rằng theo Công giáo là bỏ ông bà, bỏ bàn thờ gia tiên, bỏ đạo hiếu. Lý luận đó đã bị thực tế chứng minh trái ngược lại. Linh mục Nguyễn Văn Thích đã bày tỏ quan niệm về trung và hiếu của ngài trong bài viết ngắn và bài thơ sau đây:

Trung và Hiếu

Có kẻ không hiểu nói rằng theo đạo Chúa, bỏ cha mẹ, nên làm lời giải hoặc.

Trung hiếu bổn vô nhị tri ố Trung ư quân, tức hiếu ư thân. Trung hiếu không phải hai đàng nghịch nhau. Trung với Chúa ấy là hiếu với cha mẹ. Ðây chưa nói chữ hiếu theo nghĩa Evang (Phúc âm)

Hết trung thờ Chúa đạo làm trai,

Chữ hiếu làm con dễ dám sai.

Vẫn hiếu với trung là vốn một,

Mà trung cùng hiếu chẳng toàn hai.

Thà rằng mất hiếu trung cùng Chúa,

Hễ đã không trung, hiếu với aiá?

Chữ hiếu ấy tình, trung ấy nghĩa,

Bên trung bên hiếu nặng hai vai.

An Ninh chủng viện 1917

J.M.T

(Trích trong Sảng Ðình Thi Tập, tr.9)

Ngày 19-6-1988, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đã hân hoan mầng 117 vị chân phúc của Việt Nam đã được phong bậc hiển thánh (canonization) trong đó có rất nhiều tấm gương hiếu đễ trung tín đã được chứng minh trong cuộc đời của các Ngài kể cả những lúc trước giờ bị rơi đầu vì đức tin. Người Công Giáo cũng có truyền thống tưởng nhớ đến cha mẹ và thân nhân đã khuất bằng cách dành tháng 11 (Novembre) để cầu nguyện, xin lễ, viếng mộ cách đặc biệt cho người chết gọi là Tháng Các Ðẳng Linh Hồn, và ngày 2 tháng 11 là Ngày Lễ Các Ðẳng (Fête Des Défunts), tất cả những việc đó đều có ý nghĩa khuyến khích tinh thần hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ. Theo quan niệm của một số người Công Giáo Việt Nam, chết vào ngày 2 tháng 11 cũng là một ân sủng, trong một khía cạnh ý nghĩa đặc thù nào đó.

Trong Thư Mục Vụ của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam đưa ra tại Hà Nội ngày 11-10-2002, phần mở đầu đã có đề cập đến chữ hiếu trong gia đình người Công Giáo Việt Nam: Nói đến gia đình Việt Nam, người ta nghĩ ngay tới một nề nếp gia phong rất gần gũi với giáo lý đức tin. Gia đình ấy coi chữ Hiếu làm đầu nên rất sẵn sàng đón nhận ánh sáng Phúc Âm, trong đó điều răn phải thảo kính cha mẹ được xếp ngay sau ba điều răn quy định việc thờ phượng Thiên Chúa.



2.2. Phật giáo và chữ hiếu:

Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn tại Việt Nam mà ảnh hưởng đã thấy rõ trong các lãnh vực chính trị, văn hóa, tư tưởng, xã hội trong suốt quá trình lịch sử của đất nước. Có nhiều ý kiến khác nhau nói về thời điểm Phật giáo du nhập vào Việt Nam.

Theo Dương Quảng Hàm trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Phật giáo du nhập vào nước ta do hai cách: a) Nhờ các vị sư Tàu sang tránh nạn ở Bắc kỳ, sau khi vua Hán Linh-Ðế mất (189), trong khi nước Tàu có nội loạn (cuối thế kỷ thứ II và đầu thế kỷ thứ III) b) Nhờ các vị sư người Thiên-trúc Inde, Khang-cư (Sogdiane), Nguyệt-thị (Indoscythe) sang ở nước ta, hoặc đi qua nước ta để sang Tàu trong thế kỷ thứ III.

Giáo sư Nguyễn Ðăng Thục cho rằng: Bước đầu lịch sử Phật học ở An nam chỉ bắt đầu từ thế kỷ III sau Công nguyên nhất là nếu chúng ta không kể sách Mâu Tử như là một tác phẩm chân thật của thời kỳ 190-200.

Trong Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, tác giả Nguyễn Lang (tức Thiền Sư Nhất Hạnh) cho rằng đạo Phật đầu tiên do các thương gia Ấn Ðộ đem đến. Những người này không phải là những nhà truyền giáo; họ chỉ sống đời sống tín ngưỡng của họ trong lúc lưu lại Giao Châu, và chính vì vậy mà người Giao Châu biết đến đạo Phật. Qua những ghi nhận tổng quát này, Thích Nhất Hạnh, tiếc thay, không cho biết rõ ràng hơn về thời điểm có mặt của Phật Giáo trên đất nước ta.

Nhưng, có lẽ công trình nghiên cứu thấu đáo về Phật Giáo hơn cả phải kể đến bộ sách Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thát trong đó tác giả này cho biết Phật Giáo có thể đã xuất hiện khoảng thế kỷ thứ II-III trước dương lịch. Tác giả viết... Vùng miền nam nước ta từ phía nam cửa Sót trở vào đã mang nặng những vết tích của nền văn hóa Ấn Ðộ. Chiếc bia Võ Cảnh tìm thấy ở làng Võ Cảnh ở Nha Trang, thường được các nhà nghiên cứu xác định là xuất hiện vào thế kỷ thứ II sdl, viết bằng Phạn văn. Ðể cho Phạn văn trở thành một ngôn ngữ được khắc trên đá vào thế kỷ ấy, nền văn minh Ấn Ðộ vào thời điểm đó chủ đạo là Phật giáo, phải truyền bá tại vùng đất này qua một thời gian tương đối dài, tối thiểu cũng phải mất một vài trăm năm. Nói thẳng ra, văn minh Ấn Ðộ phải tồn tại ở phía nam nước ta vào những thế kỷ trước và sau dương lịch. Cho nên vị Hùng Vương của thời Chử Ðồng Tử ta cũng có thể xác định vào những thế kỷ tdl, có khả năng là Hùng Nghị vương thứ nhất hoặc thứ hai, tức khoảng thế kỷ II-III.

Luận cứ của Lê Mạnh Thát cũng không có gì vững chắc nếu tác giả này nhớ rằng nền văn minh của Ấn Ðộ hay nền văn minh Angkor của Campuchia là nền văn minh của đá14 nghĩa là tất cả các hình thái nghệ thuật của họ đều thể hiện bằng chất liệu đá thì cần gì phải đợi đến mấy trăm năm về sau nghệ nhân xứ đó mới sử dụng đá để làm tấm bia Võ Cảnh? Họ có thể sử dụng đá ngay khi mới đến định cư tại vùng đất phía nam cổ Việt khoảng thiên niên kỷ thứ hai trước Tây Lịch nếu kiến giải của Stephen Oppenheimer trong Eden in the East là đúng.

Trải qua quá trình lịch sử, Phật Giáo đã có những giai đoạn thăng trầm nhưng tinh thần từ bi hỉ xã của Phật Giáo vẫn là những nét trỗi bật trong nỗ lực hòa đồng với các tôn giáo khác và nhất là thể hiện truyền thống đạo hiếu trong các lễ nghi và bản sắc văn hóa của mình. Mùa Vu lan của Phật giáo là mùa báo hiếu và trong thời kỳ quân chủ trước đây có khi công cuộc tổ chức các lễ lạc được tiến hành từ trong chốn triều đình ra ngoài dân gian. Mùa hạ năm 1434 vua Lê Thái Tông sai các quan rước Phật từ chùa Pháp Vân về kinh đô để làm lễ cầu mưa. Lại cho phóng thích một số tù nhân, và dựng trai đàn chẩn tế ngay ở điện Cần Chánh để tu tạo công đức, cầu cho có mưa. Rằm tháng bảy năm ấy, vua lại cho tổ chức đại hội Vu Lan, mời chư tăng đến cầu nguyện, rồi cúng dường chư tăng và phóng thích thêm năm mươi tù nhân nữa.

Với Phật giáo, Vu-Lan-Bồn là một phương pháp báo hiếu có hiệu quả nhất. Theo Hòa thượng Thích Thiện Hoa, Vu-Lan-Bồn là phiên âm theo tiếng Phạn. Người Trung Hoa dịch là: giải đảo huyền, nghĩa đen là cổi trói người bị treo ngược; nghĩa bóng là cứu vớt những kẻ đau khổ nặng nề như đang bị treo ngược... Ngài Ðại-hiếu Mục-Kiền-Liên, sau khi tu hành chứng được 6 phép thần-thông, ngậm ngùi nhớ đến công ơn cha mẹ, Ngài bèn tìm cách báo đáp. Dùng đạo-nhãn xem trong thế gian, Ngài nhận thấy mẹ mình sanh làm loài ngạ-quỷ, thân thể ốm gầy, da bọc xương, thân hình tiều tụy, bụng lớn, đầu to, cổ nhỏ như ống chỉ, đói khát suốt năm không được ăn uống. Thương xót quá, Ngài liền đem bát cơm đang ăn để dâng mẹ. Ngài vận thần-thông, bưng bát cơm đi đến chỗ mẹ ở. Bà mẹ vì quá khao-khát, nên khi được cơm, lòng tham nổi lên, sợ người cướp giựt, lấy tay trái che giấu bát cơm, tay mặt bốc ăn. Bởi lòng tham lam độc ác trong tiền kiếp nổi bừng lên, nên cơm mới đưa vào miệng, thì hóa thành ra lửa, bà chẳng ăn được.

Ngài Mục-Kiền-Liên thấy thế, hết sức đau buồn kêu khóc thảm thiết. Ngài liền trở về bạch Phật, thuật lại như trên và cầu Phật chỉ dạy cho phương pháp cứu độ thân mẫu... Ngài Mục-Kiền-Liên vâng lời Phật dạy, đến ngày rằm tháng 7 làm lễ Vu-Lan, sắm đủ các vật liệu, rước chư Tăng trong mười phương thành tâm kính lễ trai-Tăng cúng-dường, nên vong mẫu của Ngài thoát khỏi kiếp ngạ-quỷ, sanh về cảnh giới lành.

Cũng theo Hòa thượng Thích Thiện Hoa việc báo hiếu có nhiều cách nhưng không ngoài hai phương diện: vật chất và tinh thần tức là lo cho cha mẹ miếng ăn thức uống, áo quần, chỗ ở và làm cho tinh thần cha mẹ được nhẹ nhàng cao thượng và đi dần đến chỗ giải thoát.

Câu chuyện Quan Âm Thị Kính nói việc Thị Kính bị mang tiếng oan có âm mưu giết chồng (Thiện Sĩ), chịu sỉ nhục tàn tệ phải cải dạng nam nhi mà đi tu, lại bị Thị Mầu quyến rũ không được, phải nhận nuôi con rơi của Thị Mầu, rồi sau đó chết vì sức khỏe mõi mòn, cuối cùng nàng được Phật tổ truyền cho thành Phật Quan Âm và được sư cụ chùa Vân (nơi nàng đi tu) bày tỏ công đức:

Nay bà Thị Kính hóa duyên

Nam mô Phật, độ vô biên hằng hà

hóa thân được cả mẹ cha,

kìa là bạn cũ, nọ là con thơ

thế gian trông thấy sờ sờ

Ý của sư cụ là khi Thị Kính chứng quả, nàng có thể độ luôn được cả mẹ cha, Thiện Sĩ, đứa con thơ và vô biên hằng hà sa số người khác. Như vậy nghĩa là tu theo đạo Phật cũng có thể đền đáp công ơn cha mẹ và giúp đời cứu người, chữ hiếu, chữ nhân trọn vẹn, và đạo Phật không trái chống với nguyên tắc của Nho giáo.

Theo tác giả Nguyễn Lang, sự tích Quan Âm Nam Hải đã được Việt hóa một cách hoàn toàn. Ðức Quan Âm này, tuy là công chúa thứ ba con vua Diệu Trang ở nước Hưng Lâm, nhưng đã đi tu tại núi Hươ ng Tích ở Việt Nam và thành Phật tại đây. Truyện do một vị tăng đời Nguyên sáng tác. Công chúa thứ ba tên Diệu Thiện không muốn lấy chồng mà quyết chí đi tu. Nàng bị vua cha tìm mọi cách cản trở, hành hạ, ra lịnh xử chém, nhưng được một mãnh hổ cứu thoát. Nàng có dịp xuống địa ngục chứng kiến mọi cảnh khổ, vâng lời Phật dạy về tu tại núi Hương Tích, dùng một tay và một mắt của mình trị bệnh nan y cho vua cha, thuyết phục được cha mẹ bỏ ác làm lành rồi cả nhà cùng tu hành tại chùa Hương Tích. Hai nàng công chúa (chị của nàng) Diệu Thanh và Diệu Âm trở thành Văn Thù Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát.

Chân như đạo Phật rất mầu

Tâm trung chữ hiếu, niệm đầu chữ nhân

Hiếu là độ được đấng thân

Nhân là cứu vớt trầm luân mọi loài.

Cũng như truyện Quan Âm Thị Kính, truyện Nam Hải Quan Âm chủ trương rằng tu theo đạo Phật vẫn có thể làm tròn chữ hiếu và thực hiện chữ nhân. 19

Ngoài ra, một tôn giáo khác ở Việt Nam, Phật Giáo Tứ Ân cũng gọi là Bửu Sơn Kỳ Hương hay đạo Lành do Ðoàn Minh Huyên (1807-1856) cũng gọi là Phật thầy Tây-An, thành lập tại xã Long Kiến, quận Chợ Mới, tỉnh An Giang, chủ trương bài trừ mê tín dị đoan, đơn giản hóa các lễ nghi Phật Giáo cho phù hợp với dân tình và khung cảnh đất đai Nam Bộ, nhất là chủ trương đáp đền bốn ơn lớn gọi là tứ đại trọng ân đó là ơn tổ tiên cha mẹ (hiếu), ơn đất nước (trung), ơn tam bảo (phật, pháp, tăng), ơn đồng bào và nhân loại (con người). Phật Giáo Tứ Ân do Ðức Phật Thầy Tây An thành lập truyền được ảnh hưởng lớn với các chi phái về sau như Phật Trùm, Ðức Bổn Sư Ngô Văn Lợi, Sư Vải Bán Khoai, Nguyễn Ða v.v... về sau có được 12 vị đại đệ tử như các ông Trần Văn Thành, Nguyễn Văn Thới, và sau này là Phật Giáo Hòa Hảo của Ðức Huỳnh Phú Sổ (1920-1947). Chữ hiếu cũng luôn được chú trọng đề cao trong các tôn giáo trên đây.



2.3. Khổng Giáo bàn về chữ hiếu.

Kinh Thi của Trung hoa cũng coi như ca dao, tục ngữ của Việt Nam là một bộ môn văn chương bình dân tối cổ, cũng có những câu nói về công ơn cha mẹ rất cảm động:

Phụ hề sinh ngã, mẫu hề cúc ngã,

Ai ai phụ mẫu, sinh ngã cù lao,

Dục báo thâm ân, hiệu thiên võng cực.

Nghĩa là: cha sinh ta, mẹ nuôi ta. Hỡi ôi, cha mẹ sinh ta cực nhọc. Muốn đền đáp âm đức của cha mẹ, như vói lên trời cao chẳng cùng.

Khổng tử quan niệm chữ hiếu ở một mức độ rất cao. Trong sách Trung dung, Khổng tử có nói rằng: Kính kỳ sở tôn, ái kỳ sở thân, sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn, hiếu chi chí giã (nghĩa là: kính những người cha mẹ đã tôn trọng, yêu những người cha mẹ đã yêu mến, thờ cha mẹ lúc chết rồi cũng như lúc hãy còn, ấy là hiếu đến rất mực vậy). Là một bậc thầy uyên bác, Khổng tử có nhiều lối trả lời khác nhau khi được hỏi về chữ hiếu với các đệ tử. Mạnh Ý-tử ( quan đại phu nước Lỗ, họ Trọng tôn, tên là Hà-Kỵ) hỏi thờ đấng thân thế nào gọi là hiếu. Ðức Khổng nói rằng: Thờ đấng thân mà không ngang trái là hiếu. Thày Phàn trì ngự xe cho đức Khổng, đức Khổng bảo cho rằngá: Họ Mạnh-tôn hỏi ta điều hiếu, ta thưa rằngá: Không ngang trái. Thày Phàn trì hỏi rằng: Lời ấy là ý bảo thế nào? Ðức Khổng nói rằng: Ta nói không ngang trái là không ngang trái với lẽ phải. Người con thờ đấng thân, khi đấng thân còn thì phụng dưỡng cho phải ; khi đấng thân mất thì tống táng cho phải lễ; khi tế đấng thân thì tế cho phải lễ.

Mạnh Vũ-Bá (con Mạnh Ý-tử, tên là Trệ) hỏi điều hiếu. Ðức Khổng nói rằng: Cha mẹ

chỉ chăm lo về tật bệnh người con.

Thầy Tử-Du (học trò Ðức Khổng, họ Ngôn, tên Yển) hỏi điều hiếu. Ðức Khổng nói rằng: Ðời nay chỉ bảo rằng nuôi được cha mẹ là hiếu. Nhưng suy đến loài hèn như khuyển mã, cũng còn nuôi nó cả. Nếu nuôi cha mẹ mà chẳng kính, thì có khác gì đâu !

Tử-Hạ (học trò của đức Khổng, họ là Bốc, tên là Thương) hỏi điều hiếu. Ðức Khổng nói rằng: Khi thờ cha mẹ, khó nhất là nét mặt hòa vui. Nếu kẻ đệ tử chỉ biết phục dịch làm thay việc khó nhọc cho phụ huynh, và có rượu cơm mời ngài xơi, những điều ấy có kể là hiếu đâu.

Trong lần khác, Khổng tử nói quan hệ của con cái đối với cha mẹ cũng thể hiện trong cuộc sống, cách sống. Khi cha mẹ còn, không bao giờ làm điều gì đề cho cha mẹ lo buồn, bởi vậy không nên đi đâu xa, có đi xa thì phải nói cho cha mẹ biết chỗ đi để cha mẹ khỏi lo, và nhỡ có việc gì, có thể tìm gọi được: “Phụ mẫu tại, bất viễn du, du tất hữu phương” (Luận ngữ: Lý nhân, IV). Những điều mà cụ Trần Trọng Kim vừa diễn đạt đó cũng còn có ít nhiều giá trị cho đến bây giờ. Trong Nho giáo, học giả họ Trần nói thêm: “ Lấy lễ mà thờ cha mẹ không phải là cha mẹ làm điều gì trái đạo cũng theo. Khổng-tử nói: “Sự phụ mẫu cơ gián, kiến chí bất tòng, hựu kính bất vi, lao nhi bất oán. (thờ cha mẹ thì khi cha mẹ có làm điều gì lầm lỗi, con phải tìm cách êm-đềm dịu-dàng mà can-ngăn, thấy cha mẹ không nghe, thì lại kính mà không trái lễ, dẫu có phải điều đau đớn khó nhọc cũng không oán giận”. (Luận ngữ, Lý nhân, IV). 21

Ảnh hưởng của việc làm, tâm tính của bậc cha mẹ cũng tác động nhiều trên con cái. Khổng tử có dạy: “Phụ tại quan kỳ chí, phụ một quan kỳ hành, tam niên vô cải ư phụ chi đạo, khả vị hiếu hỹ” : cha còn thì phải xem cái chí của cha, cha mất rồi phải xem việc làm của cha, ba năm không đổi cái đạo của cha, khả gọi là hiếu vậy. (Luận ngữ, Học nhi, I) 22.

Nhưng đối với Ðức Khổng, tinh thần trung dung luôn luôn được sử dụng như là một thái độ cần thiết trong cuộc sống con người. Một hôm Diệp-công bảo Khổng tử rằng: “Ngô đảng hữu trực cung giả, kỳ phụ nhương dương, nhi tử chứng chi” (xóm chúng tôi có người cứ lấy cái thẳng mà khiến mình: cha đi ăn trộm dê, mà con đi làm chứng). Ngài nói rằng: “Ngô đảng chi trực giả dị ư thị, phụ vi tử ẩn, tử vi phụ ẩn, trực tại kỳ trung hỹ” (người thẳng xóm chúng tôi thì khác thế: cha che chở cho con, con che chở cho cha, cái trực ở trong đó vậy.- Luận ngữ, Tử Lộ, XIII) 23.

Ðức Khổng rất đề cao chữ hiếu vì đó là căn bản ứng xử của con người, từ đó mà việc thảo kính của con cái đối với cha mẹ đã được xem như là một đạo hiếu (hiếu đạo) và những tư duy về nguyên tắc căn bản trong sự đối đãi giữa con cái đối với cha mẹ có thể tìm thấy trong Hiếu kinh của họ Khổng. Mạnh tử cũng có nói : “Bất hiếu hữu tam vô hậu vi đại.” nghĩa là trong ba điều bất hiếu thì việc không có con nối dõi là điều bất hiếu to nhất.

Thầy Tử Lộ là một tấm gương chí hiếu đối với cha mẹ. Thuở mẹ ông còn sinh tiền, ông phải đi đội gạo thuê đàng xa để lấy tiền nuôi mẹ. Ðến khi ông thành công ở đời, xe ngựa rập rình, áo mũ xênh xang làm quan cao chức trọng thì cha mẹ ông đã qua đời hết. Ông buồn bã than rằng: “Mộc dục tịnh nhi phong bất đình!

Tử dục dưỡng nhi thân bất tại”.

Nghĩa là cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng ! Con muốn nuôi báo hiếu mà cha mẹ chẳng còn sống. Thương thay nỗi lòng của thầy Tử Lộ cũng là nỗi đau khổ chung của những người con có hiếu!

Trong tác phẩm Trung Quốc Triết Học Sử, bác sĩ Hồ Thích cho rằng Khổng tử nói về hiếu đạo chưa đầy đủ bằng Tăng tử . Tăng tử nói: “Hiếu hữu tam: đại hiếu tôn thân, kỳ thứ phất nhục, kỳ thứ năng dưỡng”, nghĩa là: Hiếu có ba điều: đại hiếu phải tôn thân, sau nữa không làm điếm nhục, sau nữa mới nuôi dưõng. Theo Hồ Thích, tôn thân là tôn cao cái nhân cách của mình, tôn cao cái nhân cách của cha mẹ mình, không hủy hoại thân thể mình; không làm điếm nhục đến cái nhân cách mà cha mẹ đã truyền cho ta và sau hết là nuôi dưỡng cha mẹ.[26]

Nói chung học thuyết Khổng Mạnh chú trọng đến chữ hiếu, đề cao chữ hiếu cho nên những lời Khổng tử nói với Tăng tử về chữ hiếu gồm thành một quyển sách gọi là Hiếu kinh, các nguyên tắc ứng dụng cho tròn chữ hiếu, các nghi thức thực hành hiếu đễ gọi là hiếu đạo đã ảnh hưởng rất sâu xa trong một số xã hội Á đông trong đó có Việt Nam từ xưa cho đến nay.



III.- CHỮ HIẾU TRONG NỀN VĂN HỌC VIỆT NAM.

Trong gia đình cũng như ngoài xã hội Việt Nam, qua giao tiếp giữa người này với kẻ khác, vấn đề trung, tín, hiếu, đễ luôn luôn là chuẩn mực để đánh giá tư cách con người, bởi thế mà tục ngữ Việt Nam có câu: “Hùm chết để da, người ta chết để tiếng”. Dĩ nhiên tiếng ở đây gồm hai lãnh vực tốt và xấu trong đó vấn đề chữ hiếu.



3.1. Các chứng liệu chữ hiếu trong văn chương bình dân và bác học.

Dân tộc Việt Nam vốn là dân tộc hiếu đễ, tôn trọng luân thường đạo lý, kính trọng tổ tiên, ông bà, cha mẹ nên trong các hình thức văn chương bình dân như ca dao, tục ngữ những vấn đề đạo đức, luân lý cũng được nói đến với tất cả sự đề cao, trân trọng:

Công cha như núi Thái sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha,

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

hoặc: Lên non mới biết non cao,

Nuôi con mới biết công lao mẫu từ.

hay là so sánh: Mẹ nuôi con bằng trời bằng bể,

Con nuôi mẹ con kể từng ngày.

Công ơn cha mẹ thể hiện từ khi sinh ra, thời gian đi học cho đến tuổi trưởng thành: Con học, thóc vay.- Gia cảnh dù túng thiếu, cha mẹ vẫn chạy vạy chỗ này chỗ nọ để có phương tiện nuôi cho con đi học. Con đóng khố, bố cởi truồng.- Sự hy sinh về vật chất để cho con cái đầy đủ. Con lên ba cả nhà học nói.- Niềm vui và sự cộng tác của mọi người để dạy con. Cá không ăn muối cá ươn, con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư.- Kinh nghiệm khôn ngoan học hỏi ở cha mẹ để tránh được thất bại mà đạt đến thành công. Cơm cha áo mẹ ăn chơi, Cất lấy cơm người đổ bát mồ hôi.- Thừa hưởng công sức của cha mẹ một cách vô tình trong khi gặp cảnh khó khăn, cô đơn lẻ loi thì phải làm cật lực mới có cái ăn. Còn cha ăn cơm với cá, còn mẹ liếm lá ngoài cửa.- Nói về khả năng nuôi con cái của cha hay mẹ. Con có cha như nhà có nóc.- Nói về sự vững vàng khi con còn có cha. Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn.- Sự hy sinh chẳng quản đến thân mình của người mẹ.

Con ơi mẹ bảo đây này

Học buôn học bán cho tày người ta,

Con đừng học thói chua ngoa

Bạn bè khinh dễ, người ta chê cười.

Ca dao khuyên răn:

Ðói lòng ăn đọt chà là

Ðể cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng.

Kho tàng tục ngữ ca dao của dân tộc còn có rất nhiều câu nói phản ảnh tinh thần hiếu đạo và mối liên hệ giáo huấn của cha mẹ đối với con cái. Những câu nồng nàn lòng yêu thương và niềm cảm mến nuối tiếc của con cái đối với bậc cha mẹ khi những người thân này đã khuất bóng:

Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Ngó về quê mẹ ruột đau chín chìu

Cốt lõi của hiếu đạo là:

Thờ cha mẹ ở hết lòng

Ấy là chữ hiếu dạy trong luân thường.

Chữ đễ nghĩa là nhường,

Nhường anh , nhường chị lại nhường người trên.

Ghi lòng tạc dạ chớ quên,

Con em phải giữ lấy nền con em.

Ðối với các bậc trí thức khoa bảng Việt Nam trước đây, việc trứ thuật các tác phẩm nhắm mục đích giáo dục tinh thần hiếu đễ cho con em được xem như là một trong những chủ đích của mình. Các tác phẩm văn học nổi tiếng như Ðoạn trường tân thanh của Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của Nguyễn Ðình Chiểu cũng được xây dựng trên chủ đề chữ hiếu. Sau đây là điển hình một số tác giả có tác phẩm viết về vấn đề chữ hiếu, đạo hiếu.

Nguyễn Trãi là một bậc khai quốc công thần của nhà Hậu Lê. Ông sinh năm 1380, quán làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Ðông, con trai Nguyễn Ứng Long tức Nguyễn Phi Khanh, đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) năm 21 tuổi,ra giúp Lê Lợi khoảng năm 1421, giữ các việc tham mưu và viết các thư từ trọng đại cho lê Lợi trong việc xử trí với quân Minh. Khi Lê Lợi lên ngôi, ông được phong tước Quan Phục hầu, làm Nhập Nội Hành Khiển dưới thời Lê Thái Tông. Sau ông bị gặp phải vụ án Nguyễn Thị Lộ mà bị tru di tam tộc năm 1442. Tác phẩm ông để lại có rất nhiều loại viết bằng chữ Hán gồm Quân trung từ mệnh tập, Dư địa chí, Ức trai thi tập; Văn loại trong số đó có tập “Gia huấn ca (bài hát dạy người nhà) vẫn truyền là của ông soạn ra, nhưng không được chắc lắm.

a) Tập này có sáu bài ca: 1. Dạy vợ con; 2. Dạy con ở cho có đức; 3. Dạy con gái; Vợ khuyên chồng; 5. Dạy học trò ở cho có đạo; 6. Khuyên học trò phải chăm họ.

b) Các bài ca viết theo thể lục bát, nhiều khi đặt xen những câu bảy chữ.

c) Chủ ý tác giả là đem các điều cốt yếu, trong luân thường diễn ra lời nôm cho đàn bà trẻ con đọc.

d) Lời văn bình-thường, giản-dị, lưu-loát êm-ái. Nếu tập ấy thật của Nguyễn-Trãi soạn ra, thì văn nôm của ta về đầu thế-kỷ thứ XV cũng không khác nay mấy, chỉ thỉnh-thoảng có một vài chữ nay ít dùng.” 25

Ðặt ra ngoài tính cách nghi ngờ về tác giả sách Gia huấn ca, chúng ta cũng nhận chân được ý thức về giá trị của tinh thần hiếu đạo mà người xưa thường quan niệm.

Một danh sĩ thời Nguyễn, Lý Văn Phức (1785-1849) người làng Hồ khẩu, huyện Vĩnh thuận, tỉnh Hà đông, làm quan trải ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Ðức, nhiều lần đi sứ các nước lân cận, đã sáng tác nhiều sách vở bằng Hán văn như Việt hành ngâm, Việt hành tục ngâm, trong số đó có tập Nhị thập tứ hiếu nói về 24 người con có hiếu ở bên Tàu. “Lý Văn Phức là một nhà luân lý muốn đem các điều luân thường đạo lý để khuyên răn người đời. Tác phẩm “Nhị thập tứ hiếu” (416 câu thơ song thất lục bát) đã thành một cuốn gia-huấn ca được phổ cập rộng rãi trong dân chúng.” 26


Mới đây, tác phẩm Nhân Thế Tu Tri do Cao Xuân Dục (1842-1923), Phó tổng tài Quốc sử quán triều Thành Thái biên soạn bằng Hán văn theo lời đề nghị của Diên Lộc Quận Công Nguyễn Thân năm 1899 và in năm Thành Thái thứ 14 (1902), bản dịch do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2001 với nhan đề Người Ðời Nên Biết có ghi “Chủ đề của tác phẩm là làm sáng tỏ luân thường nhân sinh, việc học làm người, phép lập thân xử thế.

Sách tập trung vào những điều thiết yếu có quan hệ đến nhật dụng nhân sinh thông qua các lời đã chép, việc đã làm rút trong Kinh, Sử, Tử, Tập...”

Những lời châm ngôn, những tấm gương hiếu đễ, những lời khuyến thiện trừng ác của Trung Hoa, của Việt Nam, những việc làm tốt đẹp của các danh nhân liệt nữ đều được biên tập lại trong sách này có thể coi đây là một hệ thống quy phạm đạo đức chính thống triều Nguyễn 27.

Một vị linh mục Công giáo mà công trình kiến trúc nhà thờ Phát Diệm của ông đã nêu phương danh lại cho hậu thế đó là Linh mục Trần Lục hay còn gọi là Cha Sáu hoặc Père Six vốn là Khâm sai đại thần dưới triều vua Tự Ðức cũng đã để lại một công trình trứ tác văn chương nổi tiếng về vấn đề giáo dục chữ hiếu. Linh mục Trần Lục nguyên quán làng Mỹ Quan, tổng Cao Vĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, sinh năm 1825, đi tu năm 1845 tại chủng viện Vĩnh Trị, năm 1860 thụ phong linh mục, từng làm Gia lễ bộ Tham tri, Khâm sai Tuyên phủ sứ của vua Ðồng Khánh, Lễ bộ Thượng thư của vua Thành Thái. Ngài mất năm 1899. Tác phẩm của linh mục Trần Lục Sách thuật lại ít nhiều ca vè gồm có ba tác phẩm có tên Hiếu tự ca (1088 câu), Nữ tắc thường lễ (1016 câu), Nịch ái vong ân (440 câu).

“Hiếu tự ca nói về chữ hiếu của người Việt Nam, đối với cha mẹ và tổ tiên. Tất cả là người đã sinh ra đều mang nợ với tổ tiên và cần báo đền.

Mấy lời hiếu tự nói qua,

Ðể cho ai nấy trẻ già nhớ ơn.

Làm người sống ở thế gian,

Ai không đội đức cao san nặng dày.” 28

“Nữ tắc thường lễ là bài chỉ dẫn những nguyên tắc, những điều thông thường cho thanh thiếu nữ cần biết trở thành người lương thiện và giáo dân đạo hạnh. Cụ Sáu đưa ra tám điều trong sinh hoạt hằng ngày của người con gái để sống: thảo kính cha mẹ, lo liệu công việc nhà, giao tiếp xã hội bên ngoài, dáng điệu đi đứng, cử chỉ khi ngồi, lời ăn tiếng nói, cách thức trang phục và trau dồi nghề nghiệp. Tất cả dựa theo đạo tam tòng: phụ phu tử và tứ đức: công dung ngôn hạnh.

Sinh mà không dạy khác gì,

Như loài mục súc ngu si quê mùa.

Dạy con thì dạy đầu sơ,

Ðang khi còn bé dạy thì dễ in.

Lòng như giấy trắng nguyên tuyền,

Ta mà muốn vẽ đỏ đen khó gì.

Nữ nhi bay cũng phải suy,

Cá không ăn muối ắt thì cá ươn.” 29

“Nịch ái vong ân là bài học dành cho thanh niên. Ðến tuổi trưởng thành lập nghiệp có gia đình, người thanh niên nên biết khéo sống với vợ, và khôn với cha mẹ hai bên. Muốn có người vợ ăn kiếp ở đời với mình phải lựa chọn, đắn đo, bàn tính trước sau, không vội vàng bừa bãi mà ân hận suốt đời.

Dạy con từ thuở lên ba.

Dạy vợ khi mới về nhà làm dâu. (17-18)

Cả vợ chồng việc làm đầu tiên là thảo kính tứ thân phụ mẫu tùy khả năng.

Tứ thân cha mẹ bình an,

Ði thăm về viếng hỉ hoan tươi cười.

Canh riêu miếng lạt miếng tươi,

Liệu chừng thay đổi cho người bổ lao.

Lúc người yếu đuối liệt lào,

Trông nom chớ để giờ nào qua không.” 30

Tóm lại, tác phẩm chủ yếu vẫn là Hiếu Tự Ca là tập thơ “diễn tả những tâm tình, những sự kiện liên quan đến lòng hiếu thảo xảy ra hằng ngày trước mắt đại chúng. Chữ Hiếu trong Khổng học, chữ Hiếu trong Thiên chúa giáo, và chữ Hiếu trong niềm tin phổ thông nơi đại chúng, trước ba lựa chọn ấy, Cha Sáu và dân con vùng Phát Diệm, qua Hiếu Tự, đã chấp nhận lựa chọn thứ ba, chỉ vì lựa chọn ấy sẽ cung ứng nhiều phương án hợp cảnh, hợp tình hơn.” 31



3.2. Một vài mẫu chuyện liên quan tới chữ hiếu:



Vua Lê Thánh Tôn hiếu với mẹ.

Vua Lê Thánh Tôn là một vị minh quân trong lịch sử Việt Nam, trị vì từ 1460 đến 1497. Dưới thời của ngài, đất nước phát triển về kinh tế, văn học, cương thổ, quân sự. Ngài cũng là người con rất có hiếu. Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi lại rằng : “ Trước đây, hồi tháng 2, Hoàng thái hậu đi lễ lăng về, không may bị bệnh nặng, đến giờ Hợi, ngày 26 tháng nhuận, băng ở chính tẩm điện Thừa Hoa, thọ 76 tuổi. Khi Hoàng thái hậu chưa băng, mùa đông, vua cùng Hoàng thái tử ngày đêm chăm sóc, không lúc nào rời bên cạnh. Khi dâng thuốc thang hay đồ ăn uống, vua nhất định tự mình nếm trước; trong thì kêu với tổ tiên, ngoài thì dốc lòng cầu khẩn, không thần nào là không khấn. Ðến khi hấp hối cũng tự kêu gào, Thái hậu còn nhếch mép một chút, muốn nói để từ giã. Mọi việc mặc áo, khâm liệm, bỏ gạo vào miệng người chết, vua đều tự làm lấy cả để tỏ lòng đau xót.” 32



Trịnh Kiểm với chuyện ăn cắp gà.

Cho đến nay, cuộc đời của nhũng danh nhân lịch sử thường được tô điểm bằng những câu chuyện gọi là giai thoại Trịnh Kiểm là người làng Sóc sơn, huyện Vĩnh lại tỉnh Thanh hóa, có công trong việc trung hưng nhà Lê vào những năm giữa thế kỷ 16. Tương truyền thuở nhỏ Kiểm đã có lần ăn cắp con gà mái của hàng xóm làm thịt cho mẹ ông ăn vì ông vốn rất có hiếu với mẹ nhưng nhà lại quá nghèo. Hàng xóm biết được bắt mẹ ông thả xuống giếng cho chết. Câu chuyện thực hư như thế nào không biết nhưng cũng là yếu tố góp công xây dựng một chút huyền sử cho vị thái sư họ Trịnh này.



Chuyện người giết cọp xứ Quảng.

Nguyễn Văn Danh, người Bình Sơn, Quảng Ngãi, lúc đầu thi đỗ tú tái. Cha đi thăm nương bị hổ vồ mang đi. Danh đem người nhà đi tìm thây cha, thấy vết hổ có một dấu chân nhỏ, bèn đo và ghi lại. Sau đó đặt bẫy, ngày đêm chỉ lo việc bắt hổ. Sau bắt được một con hổ chân sau hơi nhỏ, so với kích thước đo thì khớp, lập tức giết hổ lấy tim gan tế trước mộ cha, ăn sống đến hết. Nhân đó mắc bệnh, mỗi khi nói chuyện với người, tiếng rống như hổ. Thiệu Trị năm thứ sáu, được biểu dương. 33



Lòng hiếu thảo của vua Tự Ðức.

Vua Tự Ðức (1847-1883) vốn là người rất có hiếu với mẹ. Mẹ ngài là bà Phạm Thị Hằng tức Ðức bà Từ Dũ, con của ông Phạm Ðăng Hưng là một vị khai quốc công thần thời Gia Long. Vua Tự Ðức thường dành những ngày không thiết triều để viếng thăm mẹ và những điều mẹ ngài dạy ngài đều ghi vào một cuốn sổ gọi là Từ Huấn Lục. Sau đây là một câu chuyện nói về lòng hiếu thảo của nhà vua.

Một hôm vua Tự Ðức đi săn ở rừng Thuận trực ở phía thượng nguồn sông Lợi Nông, cách kinh thành Huế khoảng 15 cây số. Gặp lúc trời mưa lụt nên nhà vua không về được mà chỉ còn hai ngày nữa là ngày kỵ của vua cha là Thiệu Trị. Bà Từ Dũ bèn sai Nguyễn Tri Phương đi tìm đón rước về. Dọc đường hai bên gặp nhau nhưng vì nước sông chảy mạnh quá nên thuyền không thể đi nhanh được mà tối đến mới về tới kinh thành. Vua Tự Ðức vội vã bất chấp trời mưa đến trình diện mẹ mình xin chịu tội. Bà Từ Dũ ngồi quay mặt vào trong, im lặng không nói gì. Vua Tự Ðức bèn lấy một cây roi mây dâng lên mẹ và đặt nơi trường kỷ rồi lặng lẽ nằm xuống khẩn khoản xin chịu tội. Bà mẹ bấy giờ mới quay lại lấy tay hất cây roi mây rồi nói: “Thôi tha cho, đi chơi để cho quan quân cực khổ thì phải ban thưởng cho người ta.” 34



Câu chuyện hoàng tử Lý Long Tường.

Câu chuyện sau đây có tính cách thời sự và đặc biệt nối kết con người hiện tại với quá khứ cách đây hơn tám trăm năm.

Năm 1225, do âm mưu sắp đặt của Trần Thủ Ðộ, ngai vàng họ Lý bị chuyển sang tay họ Trần do việc Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Trần Thủ Ðộ tiến hành việc tận diệt dòng dõi nhà Lý, giết vua Lý Chiêu Tông, cùng sát hại toàn bộ tôn thất nhà Lý. Hoàng tử thứ hai là Lý Long Tường, con vua Lý Anh tông (1136-1175) và là em của Lý Long Trát (tức Lý Cao Tông 1175-1210) biết rõ nếu chần chừ trước sau cũng bị hại về tay Trần Thủ Ðộ. “Lý Long Tường đau xót trước sự sụp đổ của vương triều Lý và lo lắng tông miếu bị hủy bỏ, không ai thờ cúng tổ tiên. Năm 1226, ông đem theo đồ thờ của tổ tông, chạy về phía đông dùng thuyền vượt biển ra nước ngoài... thuyền của ông cuối cùng đã vượt qua biển cả mênh mông, đến sông Phú Lương huyện Bồn Tân phía tây nước Cao Ly và ông đã cư trú tại Trấn Sơn phía nam phủ thành.” 35. Vua phát hiện ra hoàng tử An nam bèn cấp đất lập cho thái ấp tên Hoa Sơn. Tại đây hoàng tử Lý Long Tường đã góp sức đánh bại quân Nguyên bằng sức mạnh và mưu trí trong rất nhiều trận chiến khiến cho vua Cao ly rất cảm phục. Dù xa quê nhưng Lý Long Tường vẫn luôn nhớ về quê cũ nên được vua Cao ly xây cho Vọng quốc đàn trên đỉnh Hoa Sơn để ngày ngày ông lên đó hướng về phía nam mà lắng lòng trầm tư. Vua Cao Ly ban quan tước, cấp thêm 30 dặm vuông đất và nhân khẩu 20 hộ cho ông làm thái ấp để thờ cúng tổ tiên.

Sau chiến tranh, Hoàng tử Lý Long Tường mở trường dạy học, dựng đài bình văn, lập đền thờ các bậc thánh hiền, học trò có nhiều người đỗ đạt. Con cháu ông dần dà sinh sôi nảy nở trên đất CHDCND Triều Tiên và ở Hàn Quốc, riêng ở đây có khoảng 200 hộ với trên 600 người. Gia phả của dòng họ gọi là Hoa Sơn Lý thị tộc phổ ghi chép được 32 đời kể từ đời vua Lý Thái tổ (Lý Công Uẩn). Các di tích của dòng họ Lý tại Hàn Quốc cho đến nay vẫn được gìn giữ cẩn thận chẳng hạn như ngôi mộ của Lý Long Tường dưới chân núi Di Ất phía tây phủ thành Bồn Tân 10 dặm, di tích Thụ hàng môn và tấm bia Thụ hàng môn kỷ tích bi, di tích thành lũy và dinh quán cũa Hoa Sơn Quân. Năm 1994, một người cháu đời thứ 26 của hoàng tử Lý Long Tường là Lý Xương Căn đã từ Hàn Quốc tìm về cố hương là làng Ðình Bảng thăm viếng và hội ngộ lại với tổ tiên, dòng tộc theo lời căn dặn của tiền nhân.



Trong tác phẩm Ðường Hy Vọng biên soạn trong một hoàn cảnh rất đổi khó khăn của tác giả, Ðức Cố Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận (1928-2002) có viết : “Gia đình là một “trung tâm ánh sáng”, đem ngọn lửa hồng đốt sáng nóng kẻ khác. Ngày nào mỗi gia đình là “một trung tâm ánh sáng”, thế giới này sẽ là một đại gia đình, đầy ánh sáng, đầy hy vọng”.36



Mong sao chữ hiếu là căn bản của mọi sinh hoạt gia đình Việt Nam ở hải ngoại cũng như trong nước qua mọi thời đại và mọi người đều có bổn phận giữ cho trung tâm ánh sáng cháy bừng và tồn tại mãi mãi.



Nguyễn Ðức Cung

New Jersey, October 24, 2007





CHÚ THÍCH:

1.- Dr. L. Wieger, S.J, Chinese Characters, Paragon Book Reprint Corp., New York Dover Publications, Inc., New York, trang 88.

2.- Nguyễn Ðăng Duy, Văn hóa tâm linh, Nhà xuất bản Hà Nội, 1998, tr. 167.

3.- Thiều Chửu, Hán Việt tự điển, Nhà xuất bản Ðại Nam, trang 137. Ðào Duy Anh, Hán Việt từ điển, Nhà xuất bản Tràng Thi, Sài Gòn, 1957, trang 361.

4.- Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ, Kinh Thánh Cựu Ứơc và Tân Ước, Huấn Ca, Tòa Tổng Giám Mục Thành Phố Hồ Chí Minh, 1998, trang 1282.

5.- Nhóm Phiên Dịch, Sách đã dẫn, tr. 1871.

6.- Nhóm Phiên Dịch, Sđd, tr. 2196.

7.- Nguyễn Phương, Cha Ðắc-Lộ với sự thành lập Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, Tạp chí Ðại Học, năm thứ tư, 1961, số 1 kỷ niệm giáo sĩ Ðắc Lộ, tr. 71. Phan Phát Huồn, Việt Nam Giáo Sử, tập I, Cứu Thế xuất bản, Sài Gòn 1965, bản in lần thứ hai, tr. 35.

8.- Ngô Nhân Dụng, bài Thực vi văn hiến chi bang, Thế kỷ 21, số 161, September, 2002, tr. 10-11.

9.- Lê Ngọc Bích, Nhân Vật Giáo Phận Huế, Tập I, 2000, tr. 347.

10.- Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Bộ Giáo Dục, Trung Tâm Học Liệu Xuất Bản, in lần 10, 1968, tr. 58.

11.- Nguyễn Ðăng Thục, Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam, Tập II, Nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh, 1998, tr. 117.

12.- Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Tập I, Lá Bối xuất bản, 1973, tr. 39.

13.- Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật Giao Việt Nam, Nxb. Thành Phố HCM, tập I, tr. 31

14.- Chu Văn Sơn, Angkor ố những đối cực của cái đẹp, Talawas, ngày 5.1.2007.

15.- Stephen Oppenheimer, Eden in the East, The Drơned Continent of Southeast Asia, Phoenix, 2001, tr. 91.

16.- Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Tập II, Lá Bối xuất bản, 1973, tr. 64.

17.- Hòa thượng Thích Thiện Hoa, Phật Học Phổ Thông, quyển I, Thành Hội Phật Giáo Thành Phố Hồ Chí Minh ấn hành, 1992, tr. 231.

18.- Nguyễn Lang, Sđd, tập II, tr. 79. Nguyễn Ðăng Thục, Quan Âm Thị Kính, Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam, Tập I, Nhà xuất bảnThành Phố Hố Chí Minh, 1998, trang 374-391.

19.- Nguyễn Lang, Sđd, tập II, tr. 83. Nguyễn Ðăng Thục, Sự Tích Phật Bà Chùa Hương Tích, Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam, Tập I, Nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh, 1998, trang 357-373.

20.- Nguyễn Hữu-Tiến và Nguyễn Ðôn-Phục dịch Luận Ngữ (Thiên Vi chính, Chương V-VIII, trích trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu của Dương Quảng Hàm, Bô Giáo Dục, Trung Tâm Học Liệu Xuất Bản, bản in lần 10, 1968, tr. 42.

21.- Trần Trọng Kim, Nho Giáo, quyển thượng, Bộ Giáo Dục, Trung Tâm Học Liệu Xuất Bản, 1971, tr. 106.

22.- Trần Trọng Kim, Sđd, tr. 107.

23.- Trần Trọng Kim, Sđd, tr. 107.

24.- Hồ Thích, Trung Quốc Triết Học Sử, bản dịch Huỳnh Minh Ðức, Khai Trí xuất bản, 1970, tr. 261-262.

25.- Dương Quảng Hàm, Sđd, tr. 270.

26.- Nguyễn Huyền Anh, Việt Nam Danh Nhân Từ Ðiển, Cơ sở xuất bản Zieleks, tr. 176.

27.- Tuyển Tập Cao Xuân Dục, Tập 1, Người Ðời Nên Biết (Nhân Thế Tu Tri), Trần Lê Sáng, Phạm Kỳ Nam dịch, Nhà xuất bản Văn Học, 2001, tr. 7-8.

Muốn hiểu thêm về tác phẩm Người Ðời Nên Biết tức Nhân Thế Tu Tri của Cao Xuân Dục xin đọc thêm Nguyễn Ðức Cung, Diên Lộc Quận Công Nguyễn Thân, Nhà xuất bản Nhật Lệ, Philadelphia, Hoa Kỳ 2002, tr. 394-408.

28.- Phạm Bá Nha, Ðọc tác phẩm “ Sách thuật lại ít nhiều ca vè”, bài trích trong Trần Lục do một Ban Biên Tập ấn hành tại Canada, 1996, tr. 143.

29.- Phạm Bá Nha, Bài đã dẫn, tr. 146.

30.- Phạm Bá Nha, Bài đã dẫn, tr. 151.

31.- Phạm Xuân Thu, Tìm hiểu “Hiếu Tự Ca” của Cha Sáu Trần Lục (1825-1899), bài trích trong Trần Lục do một Ban Biên Tập ấn hành tại Canada, 1996, tr. 179.

32.- Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư, Bản kỷ thực lục, quyển XIII, kỷ nhà Lê, Viện Khoa Học Xã Hội, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1998, tr. 514.

33.- Tuyển Tập Cao Xuân Dục, Sách đã dẫn, tr. 245.

34.- Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, bản in lần VI, Tân Việt, Sài Gòn, tr. 471.

35.- Phan Huy Lê, Họ Lý Hoa Sơn, một họ Lý gốc Việt ở Hàn Quốc, bài trích trong Tìm Về Cội Nguồn, Tập II, Nhà xuất bản Thế Giới, Hà Nội, 1999, trang 432-440.

36.- Ðức Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận, Ðường Hy Vọng, Kinh Ðô ấn quán, Houston, (không đề năm in), tr.116.

WLP
03-29-2008, 11:26 PM
Ơn Nghĩa Sinh Thành

Với mọi người chúng ta ai sinh ra đời cũng có một người mẹ. Mẹ là hình ảnh gần gủi nhất khi người con mới chào đời và mẹ mang con trong bụng mình 9 tháng 10 ngày với bao vất vã, khổ cực thì sự liên hệ kỳ diệu giữa tình mẫu tử qua ống nhau truyền sự dinh dưỡng để con của mẹ được tượng hình khôn lớn. Cái hình ảnh ban sơ chặt chẽ đó đã tạo gắn bó giữa tình mẫu tử, cho thấy sự bao la của lòng me. như bài hát của nhạc sĩ Y vân:



"Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào,

Tình Mẹ tha thiết như giòng suối hiền ngọt ngào,

Lời Mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào.

Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng Mẹ yêu."

Ca sĩ Thái Hà cho tôi biết là cô đang cố gắng thực hiện một buổi đại nhạc hội vinh danh hình ảnh người mẹ qua chủ đề Ơn Nghĩa Sinh Thành. Tưởng cũng nên biết Thái Hà tốt nghiệp MBA về tài chánh tại Canada, bên ngoài việc làm để sinh sống cho một ngân hàng, cô rất quan tâm đến vấn đề xã hội, những việc làm của cô được ghi nhận cho trẻ mồ côi, cho trẻ em tàn tật, những anh thương phế binh,... nói chung là những người cần sự giúp đỡ. Những khổ đau xã hội bao giờ cũng cần những con tim nhân ái trong đời sống. Cô có ý thích ca hát từ tuổi thơ ấu và cũng là dưỡng nữ của nữ danh ca Thái Thanh. Hiện nay Thái Hà và Ý Lan có những công tác từ thiện, bác ái giúp đỡ người khốn khó. Và khi tổ chức buổi đại nhạc hội này không ngoài việc thực hiện những ước mơ về xã hội của Thái Hà. Tiền gây quỹ sẽ trợ giúp cho xã hội, trong mục tiêu lý tưởng phước thiện, mong rằng sẽ có những cha già bệnh hoạn hay những bà mẹ khổ đau được giúp đỡ. Câu chuyện về người mẹ một mắt tôi đã đọc, nội dung thật xót xa, tác giả là một người trí thức Mã Lai được người mẹ nghèo hèn nuôi dưỡng khôn lớn, rồi được học bổng sang Singapore du học, xong ông định cư luôn tại Singapore vì mặc cảm mẹ mình xấu xí chỉ có một mắt. Ngày xưa đi học tại Mã Lai bạn bè chế nhạo mẹ anh là người đàn bà quái gỡ, chỉ có một mắt. Anh thú nhận anh mặc cảm về mẹ mình, anh cảm thấy xấu hổ muốn trốn khỏi để xa lánh bà. Tác giả kể lại:

"Ngày hôm đó đi học về tôi nói thẳng với bà: "Mẹ chỉ muốn biến con thành trò cười!".

Mẹ tôi không nói gì. Còn tôi, tôi chẳng để ý gì đến những lời nói đó, vì lúc ấy lòng tôi tràn đầy giận dữ. Tôi chẳng để ý gì đến cảm xúc của mẹ. Tôi chỉ muốn thoát ra khỏi nhà, không còn liên hệ gì với mẹ tôi. Vì thế tôi cố gắng học hành thật chăm chỉ, và sau cùng, tôi có được một học bổng để đi học ở Singapore.

Sau đó, tôi lập gia đình, mua nhà và có mấy đứa con. Vợ tôi là con nhà gia thế, tôi giấu nàng về bà mẹ của mình, chỉ nói mình mồ côi từ nhỏ. Tôi hài lòng với cuộc sống, với vợ con và những tiện nghi vật chất tôi có được ở Singapore. Tôi mua cho mẹ một căn nhà nhỏ, thỉnh thoảng lén vợ gởi một ít tiền về biếu bà, tự nhủ thế là đầy đủ bổn phận. Tôi buộc mẹ không được liên hệ gì với tôi.



Một ngày kia, mẹ bất chợt đến thăm. Nhiều năm rồi bà không gặp tôi, thậm chí bà cũng chưa bao giờ nhìn thấy các cháu. Khi thấy một bà già trông có vẻ lam lũ đứng trước cửa, mấy đứa con tôi có đứa cười nhạo, có đứa hoảng sợ. Tôi vừa giận vừa lo vợ tôi biết chuyên, hét lên: "Sao bà dám đến đây làm con tôi sợ thế? Ði khỏi đây ngay!". Mẹ tôi chỉ nhỏ nhẹ trả lời “Ồ, xin lỗi, tôi nhầm địa chỉ!” và lặng lẽ quay đi. Tôi không thèm liên lạc với bà trong suốt một thời gian dài. Hồi nhỏ, mẹ đã làm con bị chúng bạn trêu chọc nhục nhã, bây giờ mẹ còn định phá hỏng cuộc sống đang có của con hay sao?

Một hôm, nhận được một lá thư mời họp mặt của trường cũ gởi đến tận nhà, tôi nói dối vợ là phải đi công tác. Sau buổi họp mặt, tôi ghé qua căn nhà của mẹ, vì tò mò hơn là muốn thăm mẹ. Mấy người hàng xóm nói rằng mẹ tôi đã mất vài ngày trước đó và do không có thân nhân, sở an sinh xã hội đã lo mai táng chu đáo. Tôi không nhỏ được lấy một giọt nước mắt. Họ trao lại cho tôi một lá thư mẹ để lại cho tôi:

"Con yêu quý,

Lúc nào mẹ cũng nghĩ đến con. Mẹ xin lỗi về việc đã dám qua Singapore bất ngờ và làm cho các cháu phải sợ hãi. Mẹ rất vui khi nghe nói con sắp về trường tham dự buổi họp mặt, nhưng mẹ sợ mẹ không bước nổi ra khỏi giường để đến đó nhìn con. Mẹ ân hận vì đã làm con xấu hổ với bạn bè trong suốt thời gian con đi học ở đây.

Con biết không, hồi con còn nhỏ xíu, con bị tai nạn và hỏng mất một bên mắt. Mẹ không thể ngồi yên nhìn con lớn lên mà chỉ có một mắt, nên mẹ đã cho con con mắt của mẹ. Mẹ đã bán tất cả những gì mẹ có để bác sĩ có thể thay mắt cho con, nhưng chưa bao giờ mẹ hối hận về việc đó. Mẹ rất hãnh diện vì con đã nên người, và mẹ kiêu hãnh vì những gì mẹ đã làm được cho con. Con đã nhìn thấy cả một thế giới mới, bằng con mắt của mẹ, thay cho mẹ..

Mẹ yêu con lắm,

Mẹ...”.



Bài viết cho thấy sự tai hại, hiểu lầm của người con đối với người mẹ vĩ đại đáng thương. Sự vĩ đại của tình hiền mẫu như nhạc của Dương Thiệu Tước mô tả:



"Uống nước nhớ nguồn

Làm con phải hiếu

Anh ơi hãy nhớ năm xưa

Những ngày còn thơ



Công ai nuôi dưỡng.

Công đức sinh thành

Người hỡi đừng quên

Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước

Trong nguồn chảy ra"



Tôi cảm động theo dõi nội dung cốt truyện đầy đặc tính nhân bản nghe như hồn rơi lệ. Giòng lệ chứa chan tình yêu của người mẹ hy sinh tất cả một kiếp người, và tất cả sao cho cuộc sống của con mình được hạnh phúc. Và tôi suy nghĩ về tận cùng cái giá trị đích thực của tình yêu bao la của người hiền mẫu, chính vì nhận thức được cái kỳ quan của đời sống này ở trái tim của người mẹ hiền. Mẹ hiền ơi! Người xứng đáng nhất để nhận đóa hoa yêu thương cho những năm tháng dài khổ lụy để tạo hình hài người con được hạnh phúc.

Người thanh niên trong câu chuyện ý thức được người mẹ tuyệt diệu trong muộn màng, đó là cuộc sống và tình yêu bao la mà người hiền mẫu đã hiến dâng trái tim mình cho cuộc sống của người con ngay từ tấm bé.



"Người ơi,làm người ở trên đời

Nhớ công người sinh dưỡng

Đó mới là hiền nhân.

Vì đâu, anh nên người tài ba

Hãy nhớ công sinh thành

Vì ai, mà có ta??

Uống nước nhớ nguồn

Làm con phải hiếu

Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước

Trong nguồn chảy ra"



(bài Ơn Nghĩa Sinh Thành)



Tôi đọc tin tức về một câu chuyện rất thương tâm khác của một bà mẹ người Nhật, bà 40 tuổi, đã tình nguyện hiến dâng 2/3 lá gan của mình cho đứa con gái 10 tuổi bị bệnh gan bẩm sinh từ lúc lọt lòng. Em bé gái đã một lần nhận gan từ người cha nhưng không thích hợp nên đã tạo ra những biến chứng đau đớn cho em, thường thì tỷ lệ hợp đối với người đồng dòng máu khá cao. Lần này sau khi nhận gan từ người mẹ, tình trạng sức khỏe của em bé khả quan. Nhưng sức khỏe của người mẹ lại bị suy sụp nặng tới độ bị hôn mê, phủ tạng rối loạn, áp huyết tăng cao. Các bác sĩ đã cố gắng chạy chữa, ghép cả một gan người đàn ông khác 30 tuổi cho bà, nhưng sau 9 tháng chống chọi với tử thần bà đã qua đời. Người con sống bằng sự hy sinh sinh mạng của mẹ mình thật là kỳ công thiêng liêng nhất trong tình thương mẫu tử. Sự hy sinh của người mẹ rất đúng ý nghĩa bao la như trong câu: "Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra".



Thế nên quả không ngoa khi ta nói công đức của mẹ hiền như non cao cũng chưa tương xứng:

"Ai rằng công mẹ như non

Thực ra công mẹ lại còn lớn hơn".



Những bậc cha mẹ là những tấm gương hy sinh cao cả vì con cái, họ đã can đảm bảo vệ con cái trong những hoàn cảnh hiểm nghèo nhất, dù là loài vật hay nhân loại. Người ta không khỏi có những cảm nhận ngậm ngùi khi theo dõi một chương trình truyền hình về thiên nhiên, ống kính truyền hình đã ghi nhận được thước phim thật xúc động, khi một con gà mái can đảm chống chọi với một con diều hâu ác độc, đang đe dọa tính mạng của đàn gà con. Gà mái đã chiến đấu tới cùng với diều hâu để bảo vệ con mình, nhưng cuối cùng gà mái đã thua cuộc, và bị diều hâu xé xác.

Nói tới ơn nghĩa sinh thành dưỡng dục của phụ mẫu sâu rộng tựa trời biển. Văn học Việt Nam có vô số những áng thi văn diễn tả ơn nghĩa sinh thành của cha mẹ. Công nuôi dưỡng của cha, ơn mang nặng đẻ đau của mẹ, sự đáp đền của phận làm con nên được làm trong ý nghĩa báo hiếu:

"Ơn cha nặng lắm ai ơi

Nghĩa mẹ bằng trời, chín tháng cưu mang"



Công mẹ không những chỉ mang nặng, đẻ đau mà còn được tượng hình qua hình ảnh sâu đậm của mẹ thật vô biên như trời biển, từ khi bú mớm cho đến lúc nhai cơm lừa cá cho con:

"Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa

Miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương".



Từ miếng ăn đến giấc ngủ, từ giọng hò đến điệu ru con vào giấc ngủ và dỗ con được nâng niu trong tình thương ấp ủ của mẹ hiền:

"Con ơi, con ngủ cho ngon

Để mẹ đi gánh nước non tang bồng"



Câu trên ám chỉ tình thương nào mẹ đã dành cho con, và tình thương nào mẹ Việt Nam dành cho xứ sở nữa. Hình ảnh về Hòn Vọng Phu, về nàng Tô Thị, về những nữ nhi anh thư trấn giữ bờ cõi như Triệu Trưng sáng ngời trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Do vậy, phận làm con khi được nuôi dưỡng lớn khôn hãy giữ đạo hiếu, nhớ ơn cha mẹ qua câu ca dao:

"Đêm đêm ra đốt đèn trời,

Cầu cho cha mẹ sống đời với con".



Bổn phận làm con qua ca dao đầy ắp trong dòng suối phong hóa quê hương, ta hãy nghe:

"Mẹ già ở túp lều tranh,

Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con".



Thăm nom, quan tâm lo lắng cho cha mẹ là bổn phận thiêng liêng của người con, văn hóa nào cũng đề cao vai trò này. Ngày Lễ Hiền Mẫu hay Mother's Day là dịp nhắc nhỡ mọi người con về ý tưởng Ơn Nghĩa Sinh Thành. Năm nay Đại nhạc hội tại Montreal do Thái Hà tổ chức hẳn mang ý nghĩa đặc biệt với những hình ảnh đẹp đẽ nhất của mẹ hiền được vinh danh.



Tôi xin cầu chúc Thái Hà thành công trong công tác từ thiện và văn hóa mà cô đã ôm ấp từ lâu.



Việt Hải, Los Angeles