PDA

View Full Version : Lịch Sử Của Những Trò Chơi Thuần Tuý Việt Nam


Saigonian
12-04-2002, 08:06 AM
Bạn nào có được những tài liệu nói về những trò chơi thuần túy, cổ truyền của Việt Nam trong những ngày lễ hội, ngày tết v.v.. ngày xưa cũng như ngày nay xin vui lòng share với SG nha. SG tìm trên net nhưng không đấy hiệu quả cho mấy. Những trò chơi ví dụ như là: đô vật, nhảy cò cò, tạt lon, đánh đáo, tán u, ....

Thanks

BungRieu
12-04-2002, 03:23 PM
Hi Anh Saigonian ....

Mí cái anh request ... khó kiếm wá xá ....:p ...

Hy vọng mí Anh Chị lớn sẽ giải thích giùm ....

=======================================

BR có thấy trò chơi Súc sắc súc sẻ ...nên đăng tải về đây ...
(BR kô biết chò chơi này đâu nha ..:D...chỉ thấy trong net thôi ...)

Ðây là một trò chơi hàng năm của những trẻ em con nhà nghèo
ở nông thôn miền Bắc Việt Nam, tương tự như trò trick-or-treat
trong lễ Haloween của Hoa Kỳ.
Ðêm 30 tháng Chạp, trước giao thừa, các em kéo nhau thành
từng đoàn rảo quanh làng và đến những gia đình nhà giàu để
xin tiền thay vì xin kẹo như lễ Haloween.

Em đi đầu cầm một cái lon hoặc ống tre, vừa đi vừa gõ.
Các em nối đuôi theo sau cùng hát bài đồng dao:

Nhà nào, nhà này,
Còn đèn, còn lửa,
Mở cửa cho anh em chúng tôi vào.
Bước lên giường cao,
Thấy đôi rồng ấp.
Bước xuống giường thấp,
Thấy đôi rồng chầu.
Bước ra đằng sau,
Thấy nhà ngói lợp.
Voi ông còn buộc,
Ngựa ông còn cầm.
Ông sống một trăm,
Thêm năm tuổi lẻ.
Vợ ông sinh đẻ
Những con tốt lành,
Những con như tranh,
Những con như rối.

Bài đồng dao có ý khen chủ nhà là người quý phái (ví như rồng
nằm trên giường cao), lại có nhiều của cải (nhà ngói lợp, voi, ngựa).
Sau có ý chúc chủ nhà sống thọ (đến một trăm lẻ năm tuổi),
vợ sanh cho nhiều con xinh đẹp (như tranh vẽ) và bụ bẫm
(như con rối) để nối dõi....
Với những lời chúc tốt đẹp như thế, ông bà chủ giàu có nào mà
lại hẹp lượng với các em bao giờ!

Saigonian
12-04-2002, 07:56 PM
Cám ơn BR nha. Anh có người bạn đang chuẩn bị cho hội chợ Tết Nguyên Đán sắp đến nên đang sưu tầm những tài liệu này. Được cái nào hay cái đó!!!:)

BangHuu
12-05-2002, 12:30 AM
Để BH giúp SG về môn Đô vật .
Đánh vật hay đô vật: Đánh vật là một môn tập rất công phu. Người đô vật phải luyện nhiều lắm. Khi vào vật, mỗi người đứng một bên, hai người đều cởi trần đóng khố bao, có người cầm trống làm lệnh, hễ nghe trống mới được khởi cuộc.

Mới vào hai bên đều vờn nhau từng miếng, rồi lăn vào bá cổ nhau, kéo cẳng, nắm khố một hồi lâu ai ngã nằm dưới là thua.

Tan một keo vật, người cầm lệnh hồi trống, có khi vật luôn 2, 3 keo.

Về lối này, khi xưa nhà Hậu Lê hằng năm vẫn dùng để khảo lại sức khỏe của binh lính, ai được toàn thắng thì được chức Đô úy (có lẽ chữ đô vật xuất xứ ở đấy?).

Nhà Nguyễn cũng sức quân sĩ phải học môn đánh vật, nhưng thực ra chỉ có người chuyên môn gọi là đô vật biết thôi.

BangHuu
12-05-2002, 12:52 AM
Đánh Đáo

Ai đã sống quãng đời từ sáu, bảy, đến mười hai, mười ba tuổi, trên dải đất Việt Nam, từ Bắc vào Nam, chắc đều biết vài ba kiểu đáo.

Ðáo là trò chơi của con trai. Con gái thì nhảy giây, đánh chuyền... Còn gì vui nhộn cho bằng một sân trường trong giờ ra chơi. Dưới bóng mát của cây bàng, cây sấu hay cây phượng, cây me, chỗ này một nhóm đánh đáo, chỗ kia một đám đá cầu, bắn bị Reo hò cứ như là mổ bò... Giờ chơi bao giờ cũng quá ngắn ngủi. Lũ trẻ còn tiếc rẻ ván đáo dở dang, hẹn nhau hôm sau tiếp tục. Nếu hôm sau là chủ nhật thì sao? " Eo ơi ! lâu thế thì làm sao đợi được? ". Phải hẹn tới nhà nhau mà " đánh " tiếp chứ.

Trẻ con ham mê đánh đáo lắm... Chả cứ gì trẻ con, ngay cả người lớn cũng có nhiều người mê tơi vì đáo ! "Ðáo" là cái trò gì mà quyến rũ như vậy? Muốn biết là trò gì thì ta chỉ việc lật ... Mà thôi hãy khoan ... Chuyện chữ nghĩa lát nữa hãy bàn...

Mời bạn đi xem đánh đáo kẻo muộn .

Huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phú, hàng năm tổ chức chơi "đáo đá" vào ngày mồng 6 tháng giêng, để chọn người làm chủ tế ở đình cho suốt năm. Những người được làng cử ra chơi phải hội đủ mấy điều kiện: trên 50 tuổi, đông con cháu, gia đình đạo đức, không tang chế.

Tại sân đình, người ta đào một cái hào. Ðào xong, chính ông lí trưởng tự tay trồng hai cái cọc trong hào. Lúc chơi đáo, cứ hai cụ một ra chơi. Từ bờ hào, mỗi cụ được dùng sáu viên đá để ném vào cọc của mình. Cụ nào ném trúng giữa thân cọc, chỗ có dán tờ giấy điều là thắng cuộc, sẽ được làm chủ tế.

Làng Lũng Ngoại, tỉnh Vĩnh Yên chơi "đáo hú", gần giống đáo đá. Người chơi vừa hú vừa ném viên đá sao cho trúng chân cọc. Mỗi người chỉ được ném một viên đá.

Làng Vọng Nguyệt, tỉnh Bắc Ninh có tục tổ chức đánh "đáo lỗ" tại sân đình vào ngày mồng 4 tháng giêng.

Tại mỗi đầu sân người ta đào 4 lỗ đủ rộng và sâu để có thể ném một viên gạch vào. Làng chọn 8 người có chức sắc ra chơi đáo. Những người này mặc bộ quần áo tế, chia làm hai phe, mỗi phe 4 người. Một hồi chiêng trống nổi lên báo hiệu bắt đầu trò chơi. Mỗi người cầm một viên gạch nhắm ném vào lỗ của đối phương. Ai ném trúng, được vào ngồi chiếu cỗ của làng. Ném không trúng thì phải lấy tà áo bọc viên gạch, đem đến bỏ vào lỗ. Bỏ rồi, đến trước bàn thờ thành hoàng làng khấn : "Con trót vụng về để thua ván đáo, vạn lạy ngài, xin ngài xá tội cho con".

Nổi tiếng và bình dân nhất có lẽ là "đáo đĩa" được tổ chức tại Bắc Ninh và Bắc Giang.

Người chơi đáo đứng ở vạch cấm, ném đồng tiền vào một chiếc đĩa đặt trong một cái mẹt. Nếu đồng tiền nằm trong đĩa thì người chơi (nhà con) thắng giải. Văng ra mẹt thì thua, người tổ chức (nhà cái) ăn đồng tiền ấy. Văng ra khỏi mẹt, rơi xuống đất thì hòa, người chơi được lấy lại đồng tiền.

Ðáo đĩa khó hay dễ, tùy theo đĩa nhỏ hay lớn, vạch cấm xa hay gần. Giải thưởng có thể bằng tiền hay gói trà tàu, hoặc vuông nhiễu điều.

Có nơi thay đổi cách chơi, biến đáo đĩa thành "đáo ô". Chiếc đĩa được thay bằng chiếc khay kẻ ô. Mỗi ô được sơn màu trắng hay đen để phân biệt ô được, ô thua. Người chơi đứng ở vạch cấm ném đồng tiền vào khay. Tiền nằm trong khay thì theo màu ô mà định được thua. Tiền văng ra ngoài khay thì hòa.

Ðáo đĩa, đáo ô là hai trò chơi thường có ăn thua tiền bạc giữa nhà cái và nhà con. Nếu chỉ muốn mua vui, thử thời vận đầu năm, hay chỉ muốn khoe tài giữa bạn bè thì chơi "đáo cọc" của làng Lũng Ngoại, tỉnh Vĩnh Yên.

Còn tiếp....

Saigonian
12-05-2002, 08:18 AM
BangHuu tài thiệt đó nhà, kiếm đâu ra lịch sử của các trò chơi cổ truyền này. Nhớ viết tiếp đó nha để SG còn sưu tầm lại nữa.

Bạn nào biết về bất cứ trò chơi nào xin vui lòng viết bài để làm thread này thêm phong phú và cho tất cả được thêm học hỏi.

SG

BangHuu
12-05-2002, 11:17 AM
BH đang ở chổ làm nên không nhớ cái link ,để lát về nhà sẽ đưa link cho SG và các bạn đọc về những trò chơi cổ truyền.Nhưng cũng có nhiều cái BH chép ra từ sách hay theo trí nhớ thì không thể link được.:p .
Một phần BH muốn post lên đây để cái bạn khỏi mất công search và cũng muốn làm phong phú thêm cho VCB ,chứ cứ nối link hoài nhiều khi nhìn như vay mượn của chổ khác nhiều quá

BangHuu
12-05-2002, 08:42 PM
Mời các bạn vào đây (http://www.vn.net/article.php?sid=321) để xem tiếp Đánh đáo.

Saigonian có thể vào trang này để xem các trò chơi khác,trong đó cóLo` co` (http://home.tiscali.be/centre.vietnam/divers/phi/htm/tro_choi.htm)

number1-honesty
12-05-2002, 10:03 PM
còn hai trò nữa là dít ảnh và chọi tiền, có lịch sử lúc nào thì không biết mà chỉ nhớ là hồi nhỏ tôi thích chơi lắm đó, không biết giờ còn không :p :p
dít hình là ra tiệm mua mấy hình siêu nhân, võ sĩ Nhật Tàu gì đó rồi hai người, mỗi người cầm một lá dít hai tấm hình, người nào làm cho hai tấm hình, (một úp một mở là thắng) trước là thắng>>> ăn được hình của đối thủ...
Chọi tiền là mấy đồng tiền plastic rồi hai người chọi vô tường, người nào chọi xa hơn thì ném trước, kẻ kia chọi sau, người nào chọi trúng đồng tiền đối phương là thắng...
Hai trò này có người nói là trò chơi cờ bạc, là tệ nạn xã hội, nhưng tui thấy chơi rất vui (hehem, tôi dụ mấy thằng con nít trong phường ra đấu, rồi ăn rất nhiều hình và đồng tiền rồi đem đổi đi mua kem nên dĩ nhiên là thích)...nói vậy thôi chứ giờ mấy ông con nít Việt Nam chơi mấy thứ khác mới lạ hay ho hơn rồi, tụi mình trong đây chắc không bì kịp đâu :p :p

nike247
12-05-2002, 10:32 PM
Ngoài dít hình (hay dích hình ?) còn tạt hình, tạt lon, bông vụ, đá cầu, chơi bi lổ. Chọi tiền còn gọi là chọi tường vì ném lên tường. Đánh đáo theo kiểu Sài gòn khác hẳn kiểu ngoài Bắc: các tay chơi đóng tiền xu thành một nắm. Mỗi tay chơi có một cục đá nặng gọi là cục chàm. Đến phiên mình tay chơi phải liệng nắm xu ra xa và sau đó dùng cục chàm để nhắm trúng một đồng xu khác do các đối thủ khác chỉ định. Nếu chọi trúng và không động đến các đồng xu khác thì tay chơi ăn đồng xu đó và cứ tiếp tục.

hoang
12-05-2002, 10:43 PM
tui bie^'t o+? hue^' thi` co' mo^n ddo^ va^.t . cu+' to+'i nga`y chi ddo' la` co' ddo^ va^.t . nhu+ng chi? co' tha^'y qua mo^.t la^`n tho^i . nhu+ng que^n cho^? mo^ ro^`i , lu'c ddo' nho? qu'a .

tui cu~ng bie^'t cho+i ddo^ va^.t , cu~ng ddu+o+.c la('m :p

giatugiatu
12-05-2002, 11:18 PM
Ở đây có ai biết chơi đánh khăng hông?

BungRieu
12-06-2002, 10:26 AM
Thả đỉa ba ba ...

Trò chơi dân gian này chẳng biết có tự bao giờ ...
nhưng rất đưọc phổ biến trong làng quê ... thôn xóm ....

Trò chơi thể hiện việc qua sông, qua bưng, ruộng...ngập nước...ở
dưới nước có đỉa. Cả nhóm làm sao xuống nước mà đỉa không bám .

Trước hết vẽ hai đường song song cách nhau độ 2m (hay qui định
khoảng trống nào đó) giả định là sông nước.
Một đứa ra giữa vòng vừa hát vừa lấy tay ra đập nhịp vào vai các bạn:

Thả đỉa ... ba ba
Chớ bắt ..đàn bà
Tha tội ... đàn ông
Cơm trắng ... gạo trắng
Gạo thuyền ... như nước
Ðổ mắm ... đổ muối
Ðổ chuối ... hạt tiêu
Ðổ niêu ... nước chè
Ðổ phải ... nhà nào
Nhà ấy.... chịu

Chữ "chịu" trúng đứa nào thì đứa ấy xuống sông làm "đỉa". Bọn
trẻ đứa chạy đầu này, đứa băng qua sông góc nọ. "Ðỉa" rượt để
bắt.

Bọn trẻ lại hát bài hát ghẹo ....
Sang sông ... về sông ... trồng cây .. ăn quả .. nhả hạt.
"Ðỉa" rượt bên này thì bên kia xuống sông. "Ðỉa" quay lại bên kia
thì lũ bên nọ lại réo lên: "ăn quả ... nhả hạt" rồi ào xuống...
Chẳng may ai bị "đỉa" vớ phải thì trở thành "đỉa"....

Già trẻ lớn bé đều chơi chung vui được .... :D :D :D .....

(BungRieu ..chôm chỉa nữa đó ...hihì ...:D ....)

MựcMunThâm
12-06-2002, 11:52 AM
Originally posted by giatugiatu
Ở đây có ai biết chơi đánh khăng hông?

Có tui nè nhưng ở đây đất đâu mà chơi mấy thứ này:D:D Chơi cái này ở Mỹ không u đầu cũng bể kiếng xe hay kiếng nhà người ta:D:D

hoang
12-06-2002, 04:46 PM
dda'ng kha(ng ho^ng ??? cho+i ra ra(ng ma` be^? kie^'ng du+~ ru+'a .

tui ddo.c cu+' nghi~ la` la^'y ca'i kha(n dda'nh nhau cho+i :)

giatugiatu
12-06-2002, 06:40 PM
MMT nói thiệt đó .Bị khăng táng trúng đầu là u một cục .Trò chơi của con trai mà .

MY-LINH
12-06-2002, 09:44 PM
Trò chơi của trẻ em Mông
(Dân tộc Mông)




Dân tộc Mông cư trú trên các vùng núi cao, trong đó huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái là nơi người Mông cư trú tương đối tập trung. Ngoài các trò chơi dành cho những ngày lễ tết - hội hè như đánh quay, đánh yến, trẻ em Mông nơi đây còn tạo ra nhiều trò chơi khác để cùng nhau vui đùa hằng ngày cả lúc ở nhà và khi lên rừng, lên rẫy.

Trò chơi với những hạt sỏi (ua chứ):

Trò chơi này gần như là sự kết hợp của các trò đánh chắt, đánh chuyền của trẻ em người Việt. Tuy nhiên, quân chuyền ở đây không phải là thanh tre mà là những viên sỏi. Các em có thể chơi với ba, năm hay bảy viên, tùy thuộc vào trình độ cao thấp của những người trong cuộc. Trò chơi có từ một đến bốn em tham gia, thậm chí nhiều hơn. Khi có nhiều người chơi thì phải tiến hành "oản tù tì" - xì đầu linh, để xác định thứ tự chơi trước, chơi sau. Nếu có hai em tham gia thì tiến hành xì bằng ngón tay. Mỗi em chìa ra một ngón tay. Thắng thua được quyết định theo thứ tự: trỏ thua cái, cái thua út, út thua trỏ, giữa thua út và út lại thua áp út. Khi nhiều người tham gia hơn, các em tiến hành xì bằng bàn tay. Mỗi em bất ngờ đưa ra một bàn tay hoặc ngửa hoặc sấp. Nếu có bốn em chơi, ba em đưa ra bàn tay úp thì em đưa bàn tay ngửa thắng. Sau đó ba em lại tiến hành xì lần nữa để tìm ra người chơi thứ hai. Trò chơi lần lượt với những động tác sau:

-Ua chứ: Người chơi để bàn tay thuận nằm ngửa, đặt toàn bộ số hạt sỏi (ba, năm hoặc bảy) lên giữa lòng bàn tay, dùng sức mạnh của cánh tay tung sỏi lên không rồi lật úp bàn tay xuống, khéo léo dùng mu bàn tay đỡ lấy một viên. Ua chứ là động tác đầu tiên của trò chơi, được dùng để gọi tên của trò chơi.

- Cời chứ: Đặt viên sỏi vừa đỡ được lên lòng bàn tay rồi tung nó lên cao. Trong khi viên sỏi đang rơi xuống, nhanh tay nhặt một viên sỏi ở dưới đất vào lòng bàn tay rồi xòe bàn tay ra đón lấy viên sỏi đang rơi. Sau đó đặt viên sỏi vừa nhặt được riêng ra một chỗ, tung viên trên tay lên để nhặt tiếp các viên còn lại cho đến hết. Cứ như vậy, giống như trò đánh chuyền, lần lượt từ bắt một - bàn một (khờ i lù), qua bắt hai (khờ ao lù) bắt ba... cho đến hết rồi chuyển sang động tác tiếp theo.

- Cho chứ: Cầm toàn bộ số sỏi trong lòng bàn tay, tung một hạt lên cao đồng thời đặt những viên sỏi còn lại xuống đất rồi lại bốc toàn bộ số sỏi đó lên lòng bàn tay và đón lấy viên đang rơi xuống.

- Cho háu: Rải toàn bộ số viên sỏi trong lòng bàn tay ra mặt đất, dùng đầu ngón tay trỏ vạch nhẹ giữa hai viên; búng một viên sao cho va vào viên kia nhưng không động đến các viên khác; sau đó lần lượt nhặt từng viên lên. Cứ làm như thế cho đến khi không còn viên sỏi nào dưới đất là xong một lượt chơi, gọi là ù. Ai ù nhiều là người thắng cuộc - "dềnh", ai ù ít là người thua - "sứ".

Trong quá trình chơi, ai chơi hỏng thì quyền chơi được trao cho người kế tiếp. Khi đến lượt mình lại bắt đầu từ bàn chơi đã hỏng.

Trò chơi chó cắn nhau (đế tủa chủa)

Để tiến hành trò chơi này, các em tự kiếm lấy hai đoạn cành cây nhỏ, dài 12-15cm, cắm một đầu đoạn cây xuống mặt đất, cách nhau khoảng 60cm. Các em phải tìm cho được một bụi cỏ "nhỏ la tơi" càng cao càng tốt và điều quan trọng là đã trổ hoa. Hoa cỏ "nhỏ la tơi" có chiều dài khoảng 3-4cm, đường kính khoảng 0,5cm, bên trong có mầu xanh nhạt, phía ngoài được phủ kín bởi một lớp lông dầy, mịn mầu tím nhạt. Sau khi chọn được những bông hoa cỏ ưng ý để làm cho - "tù để", các em tước luôn cuống hoa, buộc hai chiếc cuống lại rồi vòng qua hai đoạn cành cây, làm thành một đoạn dây nối liền hai đầu cọc, nằm song song với mặt đất, cao chừng 10cm. Hai con chó bằng hoa cỏ được những đứa trẻ cẩn thận lên thang dây, giáp hai cọc. Khi cuộc chơi bắt đầu, các em dùng một đoạn cành cây nhỏ gõ nhè nhẹ vào cả hai cành cây cắm trên mặt đất, tạo độ rung cho thang dây làm hai con chó nhẹ nhàng, từ từ "bò" về phía trước, gặp nhau ở khoảng giữa đoạn dây. Lúc đó trò chơi lên đến đỉnh điểm của sự gay cấn: đứa trẻ trực tiếp tham gia cuộc chơi ra sức gõ; nhóm đứng bên ngoài ra sức hò reo cổ vũ, kẻ ủng hộ bên này, người ủng hộ bên kia; hai con "chó" ra sức đẩy nhau cho đến lúc một trong hai con trượt ra khỏi thang dây, rơi xuống đất. Tới đó cuộc chơi chấm dứt để lại mở đầu cho những lần chơi tiếp theo. Người thua có thể phải trả kẹo, bi hay bị kẻ thắng dùng ngón tay cốc vào đầu... tùy theo quy định. Cuộc chơi thường kéo dài suốt buổi với tiếng cười, tiếng hò reo, tiếng vỗ tay cổ vũ của rất đông bọn trẻ quây quanh.

Trò mèo đuổi chuột (chư mí sỏ lằng)

Để tiến hành trò chơi này, phải có được một khoảng đất rộng và bằng phẳng, với ít nhất năm-sáu em tham gia, cả trai lẫn gái. Tham gia trò mèo đuổi chuột, các em cần có sức khỏe, sự nhanh nhẹn và độ dẻo dai.

Bắt đầu cuộc chơi, các em đứng cạnh nhau thành một vòng tròn. Giữa hai em để một khoảng trống chừng một vài mét, sao cho "chuột" và "mèo" có thể chạy đuổi nhau luồn qua những chỗ đó. "Nhân vật" chính của trò chơi là hai em, một đóng vai mèo, một đóng vai chuột, cả hai đứng giữa vòng tròn lưng áp vào nhau. Nhóm chơi có thể cử một em làm người chỉ huy cuộc chơi, gọi là "tỉ táu hâu". Khi chỉ huy hô chạy thì chuột bỏ chạy và mèo lập tức đuổi theo. Chuột chạy lắt léo vòng qua hàng người cố sao cho mèo không túm được. Sau nhiều vòng đua, thế nào mèo cũng bắt được chuột. Sau đó, cuộc chơi thay đổi vị trí: người đóng vai mèo lại đóng chuột, và người đóng vai chuột lại thành mèo và một cuộc đuổi bắt theo chiều ngược lại bắt đầu...

Khi cả hai con "chuột-mèo" này bị bắt thì một đôi mèo-chuột khác vào giữa đứng vòng còn hai con mèo và chuột vừa chạy đã thấm mệt thì lại đứng thế vào vòng người phía ngoài. Chẳng ai được, chẳng ai thua, tất cả đều vui vẻ, hể hả và tình bạn giữa các em sau mỗi cuộc chơi ngày càng thắm thiết...


(Phạm Đình Lộc)(SƯU-TẦM)

XuanMaiVaCo
12-08-2002, 03:59 AM
Nãm nào vào dịp tết Nguyên Đán, XM cũng làm chủ cái "Bầu Cua Cá Cọp" kiếm ít bạc cắc của mấy đứa nhỏ.

vnbluesea
12-08-2002, 11:33 AM
Còn tui thì được tiền liền xì thì cứ chạy đi đặt "Bầu Cua", tui đặt xong con nào rồi thì cứ bị mấy người lớn tả tới tả lui làm tui chóng mặt luôn, tui chỉ nhớ con nào của tui đặt thôi còn mấy người tả tui hông nhớ được gì hết, cho nên khi cái mở ra tui trúng chẳng những không được tiền mà còn mất luôn vốn nữa :( , chỉ biết chạy về nhà khóc nhè :cry: với Ba Má thôi, mong được thêm cái liền xì mới :p .

Tammy Nguyen
12-18-2002, 12:12 PM
Thi thổi cơm và giữ trẻ

Source --Dân gian (http://www.suutap.com/dangian/default.asp?id=352)

Làng Chuông tỉnh Hà Tây có tục thi thổi cơm vào hội mùa xuân.

Đây là cuộc thi cho cả nam và nữ. Riêng với nữ có thêm những điều kỳ lạ: các cô vừa thổi cơm vừa phải trông một đứa trẻ khoảng 6-7 tháng, không phải con em mình, sao cho đứa bé đừng khóc. Bên cạnh các cô có vẽ một vòng tròn bằng vôi to bằng cái nia, trong đó thả con cóc. Các cô cũng phải giữ nó trong vòng vôi.

Trong khi các cô thổi cơm thì các người khác lại chọc cho em bé khóc hoặc dậm dộ cho con cóc nhảy ra ngoài vòng vôi.

Cuộc thi của nam là thi thổi cơm trên đầm. Bếp đặt trên bờ, người thổi cơm lại ngồi dưới thuyền nan. Mỗi người dự thi ngồi trên một chiếc thuyền nan, bên trong thuyền nan, bên trong thuyền chứa đủ gạo, nước, củi, diêm và thuyền đậu ở bên kia bờ. Theo hiệu lệnh của ban tổ chức, họ chèo thuyền bằng tay sang hẳn bờ bên này. Rồi với tay ướt họ sờ tới củi, diêm. Vừa giữ lửa trong bếp lại vừa giữ cho thuyền khỏi tròng trành, đâu phải dễ dàng gì. Vô ý để thuyền lật, người thổi cơm ngã theo thuyền xuống nước, lúc ngoi lên ướt như chuột lột thì anh ta sẽ làm trò cười cho dân làng.

BlueBird
12-21-2002, 12:02 AM
Một số trò chơi dân gian ở Huế.

1.Tục đua trải:

Bơi trải là một lễ hội dân gian được tổ chức vào đầu xuân, từ thế kỷ XV đã thấy xuất hiện. Tục đua trải có nguồn gốc cầu mưa từ thời cổ sơ của cư dân chủ yếu sống về nông nghiệp. Nó là một bộ phận trong nghi lễ cầu mưa, cầu ngư, mong muốn có một vụ mùa thắng lợi.

Tục đua trải hàng năm tại sông Hương (bến Phu Văn Lâu) do triều đình tổ chức nhân dịp xuân về cũng có nghi lễ cúng bái trước khi ra lệnh xuất phát cuộc đua. Chủ lễ là một đại thần, bàn hương án được lập ngay trước về trung tâm (vè rốn) nơi các trải sẽ bơi ra lộn về đầu tiên trước khi thẳng tiến.

Các đội trưởng (thường là 6) rút thăm cho vị trí đậu thuyền của mình. Xong đứng nghiêm hàng ngang, mái chèo dựng ngược. S

Sau khi quan đại thần làm lễ xong, tuyên bố mở hội đua thuyền và đọc thể lệ cuộc đua, cho phép bày tỏ thắc mắc nếu không còn gì để nói, các đội trưởng cầm ngang chèo, quỵ một chân xuống tỏ thái độ chấp nhận thể lệ. Sau khi nhận rượu thưởng vua ban, hồi trống thứ nhất vang lên, các đội trưởng lui về chỗ cũ, cầm mái chèo, chuẩn bị cho cuộc đua.

Hồi trống thứ hai dồn dập, các đội trưởng quị một chân xuống, đó là tư thế chuẩn bị lao về thuyền.

Sau hồi trống thứ ba, các đội trưởng lao về thuyền mình "cạy chèo" (nghĩa là ngoặc giây mây, chèo vòng quấn vào cọc chèo) rồi mới khởi hành. Trải nào về phía trước, lái tháo quai chèo, cầm ngang đặt chèo xuống, hướng về hương án qùy lạy.

ở làng Thái Dương, xã Thuận An, Thừa Thiên, ngày 12 tháng giêng âm lịch hàng năm đều cử hành lễ cầu ngư, cầu an. Sau lễ cầu ngư là cuộc đưa trải. Thông thường toàn cuộc đua có 10 lượt, 1 lượt đầu dành riêng cho nghi lễ (gọi là tráo cúng), 8 lượt thưởng tiền (tráo tiền) và 1 tráo phá.

Mỗi lượt đua 3 vòng 6 tráo, phải đủ số vòng quy định mới hợp lệ. Riêng tráo cúng chỉ đua 1 vòng, lấy 4 thẻ, qua 4 chặng, các thẻ có tên theo thứ tự: sĩ, nông, công, thương. Nội dung để chúc tụng tứ dân. Thẻ sĩ ghi câu:" Văn tấn vô thăng", thẻ nông ghi câu:"hòa cốc phong đăng", thể công ghi câu:" ngư hà lợi lạc", thẻ thương ghi câu:" nhất vốn vạn lợi". Tất cả các thẻ này sau khi đưa xong sẽ được đặt cúng trên bàn thờ Thành Hòang làng.

Sau khi làm lễ xong, nghe đủ lệnh 3 hồi 3 dùi trống, người chạy chèo mới được xuất phát. Chạy thẻ bằng chèo không được dùng chèo khác thay thế. Khi đủ vòng bơi, về bến người chèo lái chính mang chèo lên Bàn quan mới hợp lệ.

Trong khi đua tráo tiền, phải lộn đủ 3 vè (5): rốn, thượng, hạ, không được lộn trái chiều. Trải đua phải đi hai phía (nội 3 trải, ngoại 3 trải) không được kìm trải bạn, mỗi trãi 14 người.

ở Thủ lễ, xã Quảng phước, Thừa Thiên, ban tổ chức quy định số người vai thuyền: ghe mục từ 11 đến 14 người, ghe ngang từ 9-10 người. Cái cầm (bơi chèo) dài từ 1m-1m20. Trên sông cắm 3 vè: thượng, rốn, hạ. Thuyền đua chực sẵn trên bến.

Dòng sông chia ra 2 phía nội ngoại, biểu hiện bằng chiếc băng đeo ngang ngực của người lái để phấn biệt đi cho đúng ở phía trên sông. Thuyền nội ngoại xếp theo quy định đúng với màu băng người lái. Khi dứt hồi trống báo hiệu, cuộc thi bắt đầu, những người lái cầm ngang chèo vái lên khán giả, chạy về thuyền mình, móc chèo vào cọc lái và đẩy thuyền ra. Dù xếp phía nào thì tất cả mọi thuyền đều phải lộn qua vè rốn, theo hướng vè thượng bơi vè hạ, rồi trở lại vè thượng, thế là được một vòng hai tráo. Cuộc đua đầy đủ phải qua 3 vòng 6 tráo.

Theo thỏa ước của hội trải đua bất kỳ giải nào, ở địa phận nào thì chiếc trải mang tên trải của mình phải đoạt được giải nhất, nếu bản thân chiếc trải đó không vươn lên trước nổi thì gần về đích, các trải khác phải nhường.

Phần thưởng ở các giải tại Thừa Thiên Huế thường là pháo, rượu, thuốc và tiền. Trải nào được danh dự nhất, nhì, ba sẽ được thưởng : nhất 10 mét vải đỏ, nhì: 8 mét; ba: 6 mét. Những mét vải đỏ ấy sẽ được trang trọng treo vào 1 cây tre dài cho gió bay phấp phới. Trải sẽ rước giải về, đôi khi ban nhạc cổ được mời lên trải để cử nhạc chào mừng. Họ tin rằng năm đó thế nào làng cũng cũng đạt được may mắn, thắng lợi trong công cuộc làm ăn, mưa gió thuận hòa, đó là niềm vinh hạnh lớn cho làng.

Do ý nghĩa của cuộc đua trãi mang tính chất thiêng liêng như vậy nên lễ tục đua trãi được cử hành rất nghiêm túc và trọng thể; cuộc tranh tài thể lực này trở nên một cuộc quyết đấu rất hấp dẫn; thể hiện tài năng, khéo léo cùng kinh nghiệm của những con người thạo nghề sông biển ở Thừa thiên Huế từ ngày xưa cho đến hiện nay.

2. Ðánh đu lấy giải

Ðánh đu lấy giải, một hình thức vui xuân khác cũng được tổ chức tại Phò Trạch từ ngày mồng một đến ngày rằm tháng Giêng hàng năm đã quyến rũ không biết bao nhiêu trai thanh gái lịch ở các làng xã lân cận. Ban tổ chức thường chọn một người lấy giải đầu tiên, sau đó mới làm lễ thả đu. Có ba kiểu đu: đu quay,đu giây và đu giằng xay

Hình thức đu quay và đu giây đơn giản, là loại đu thường thấy trong hội làng Việt Nam. Loại đu giằng xay lạ hơn; giải của đu giằng xay được trong các lỗ tròn được đào ở dưới đất cách khỏang đều nhau, làm thành một vòng tròn đường kính bằng chiều dài của tấm ván đặt trên một trục cao khoảng 0m50 ở tâm. Hai người ngồi ở hai đầu ván, cố dùng tài khôn khéo và sức lực giằng đầu tấm ván xuống được đúng lỗ tròn có đặt giải. Hễ ai giằng trúng ở vị trí nào sẽ được giải ở vị trí đó.

3. Trò chơi đố thai

Trò chơi đố thai thường diễn ra hàng năm tại các dinh phủ ông hoàng, bà chúa, các thế gia vọng tộc hoặc các trí thức; hò bài thai trong dân gian được bày khắp các nẻo đường thôn xóm.

Ðố thai là một trò chơi đố chữ vừa thanh nhã lại dung hợp được tính dân gian và bác học, ai cũng có thể tham dự được. Ðây là một trò chơi cốt thử thách trí thông minh, tài sử dụng ngôn ngữ dân gian.

Ban tổ chức đố thai thường dán một câu thách đố bằng thể thơ lục bát vào cái lồng đèn lớn treo trước dinh phủ, người tham dự nhìn vào câu thơ, suy ngẫm cách giải dựa theo chìa khóa hướng dẫn trả lời ở chữ đả (đánh) viết cuối câu. Ðánh sai sẽ được nghe một hồi mõ lốc cốc, liệu mà suy nghĩ lại cho kỹ; nếu đánh đúng, một hồi trống vang dội cả không gian, tiếp đó ban tổ chức sẽ cho người trang trọng bưng quà tặng đặt trên một khay nhỏ để thưởng tận tay người đóan trúng, quà thưởng là những vật có giá trị.

Như vậy người chơi sẽ không mất tiền đóan, mà lại được thưởng bằng một hình thức rất trang nhã của ban tổ chức, nếu thông minh, lanh trí.

Nhiều giai thoại xung quanh cuộc chơi này được lưu truyền. Một dịp tết nọ, tại dinh bà chúa Tám có câu thai đố:

Thương nhau cởi áo cho nhau
Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay

Ðả: Dụng cụ

Ông Lý Ðài thông minh đóan trúng ý nghĩa câu thai đó bằng cách giải đó là con dấu; một lối giải cần tài năng ngôn ngữ theo lối giải thích khá lý thú và đầy ý vị trào phúng.
Thương nhau nên cởi áo tặng nhau, mẹ hỏi phải nói dối qua cầu gió bay, đó là con dấu sự thật.
Nhiều câu đố thai lại thử tài năng Hán tự. Ví như câu:

Chán chi gố mít, gỗ xoan
Tạm dùng lếu láo vài gian tu hành

Ðả: chữ

Ðáp: chữ Ðẳng (k k ), gồm bộ trúc (tre) ở trên, chữ tự (chùa) ở dưới, chùa được dựng bằng tre.

Ðố thai là một trò chơi của trí thức ngày tết, hò bài thai là một trò chơi dân gian, dùng hình thức thai đố bằng câu hò, căn cứ trên 30 con bài tới có những tên lạ lùng, mộc mạc, những hình tượng, vật thể, con người gần gũi với quần chúng: xơ, nhọn, học trò, thầy, đám tiền, nghèo, rún, đỏ mỏ, liễu, voi, gà, gióng, tứ cẳng...

Với trò chơi bài thai, người chơi phải vận dụng trí thông minh, lối suy luận dân gian để đóan tên con bài sau khi nghe một câu hò du dương êm ái, đầy tính chất trữ tình của người hò cái. Ðây là trò chơi có ăn tiền, nhưng không có tính chất sát phạt. Người chơi được thưởng gấp 8 đến 10 lần số tiền đặt nếu đánh trúng con bài thai. Nhưng niềm vui lý thú hơn là được nghe câu hò êm ái, đầy ý nghĩa mà người tham dự phải có cách suy luận riêng mới dễ đánh trúng, vì cách suy nghĩ diễn để đánh con bài thi khác hẳn lối suy luận để đóan tân trong số thai. Ví dụ như câu:

Chàng dừng lời thở tiếng than mà thiếp đau lòng xót dạ
Ðêm em nằm nơi trướng hạ, thấy anh sao đặng chừ

Ðạo làm con là do quyền thầy mẹ, tấm thân của em chừ như ngọn lá cỏ đá dằn. Ví dù thầy mẹ không thương chàng đi nữa, em đây cũng vô lòn ra cúi để lời nỉ tiếng năn cho thương chàng.
Ðó là con rún, lối giải thích như sau: Phận làm con đành vô lòn ra cúi cho nên dù cha mẹ có làm gì cũng bầm gan tím ruột mà chịu, nhưng lòng tựa như rún bị cắt hai.

4. Hát trò:

Hát trò là một lễ hội văn nghệ dân gian để tưởng nhớ Hương Lãnh Tử, biệt hiệu của một nhân vật mang họ Hoàng, hiện có miếu thờ tại giáp Triều Quý.

Ðây là tục lệ diễn trò "tứ dân", nguyên là một tập tục cổ truyền rất phổ biến ở các địa phương đồng bằng Bắc Bộ. Các trò trình diễn phản ánh sinh hoạt địa phương làng xã Việt Nam dưới chế độ phong kiến. Các vai chính của "hát trò" gồm sĩ, nông, công, thương, ngư, tiều, canh, mục. Vai sĩ quan trọng nhất. Ngòai ra còn có các vai phụ như: Ông câu, thầy dạy học, ông hội cả trong làng, lính lệ, noốc rớ, ông đi cày, mục đồng, thợ giác, ông thợ cạo, thợ rèn, kỹ sư.

Theo tục lệ, cứ đúng chu kỳ mới tổ chức hát trò. Ðến kỳ tổ chức, giáp Ðông Mỹ lo việc tuyển chọn diễn viên đảm nhiệm vai trò.

Các diễn viên đều do nam giới đảm nhiệm và có tính cách cha truyền con nối. Người diễn trò phải theo những điều kiêng kỵ như trước ngày diễn phải kiêng cữ ăn thịt trâu, không nằm với vợ, diễn xong ra về tuyệt đối im lặng, không được nói chuyện bàn tán tán ồn ào.

Giữa buổi diễn có tục bán bánh hòn, một loại bánh tròn làm bằng bột với đường để bán cho những ai hiếm muộn đường con cái. Ðó là một tục lệ liên hệ đến sự cầu mong phồn thực của người xưa.

5. Tập chèo:

Tập chèo là một hình thức trình diễn văn nghệ vào mùa thu hoạch, lúc việc nông trang rảnh rỗi, sau một vụ mùa thu hoạch. Diễn viên trình diễn "tập chèo" là các em bé chăn trâu, khoảng từ 10 đến 15 tuổi. Do vậy "tập chèo" còn có tên là "tập chúng mục đồng". Các điễn viên gồm một người cái và 8 người con chia thành bốn cặp, mang bốn tên: Biển xưa, biển vải, biển sơn, biển vàng. ý nghĩa của lời ca trong bốn loại biển này là ghi nhớ công ơn tổ tiên trong việc xây dựng ta nên con người có văn hóa, ca ngợi lao động có sáng tạo của nhân dân ta trong việc sản xuất, làm nên của cải vật chất mà vải, sơn, vàng là những sản phẩm tiêu biểu, có được do công lao làm việc sáng tạo của con người.

6. Ðá gà

Ðá gà là một trò chơi lôi cuốn nhiều tay chơi lão luyện, rành nghề nuôi gà chọi và đám khán giả hiếu động. Phủ ông Hoàng Mười có một sân đấu gà chọi nổi tiếng. An Cựu, An Hòa cũng còn nhiều trường, đấu gà và những tay nuôi gà chọi lừng danh. Cách đầu gà chọi là hễ gà nào bỏ chạy ra khỏi vòng đấu là thua cuộc. Mỗi hiệp đấu khoảng mười phút, người ta đốt một cây nhang, nhang tàn là hiệp một hết. Có những trận đấu kéo dài suốt ngày do hai đối thủ không ai chịu nhường ai, gây nên nỗi say mê, thích thú cho người xem.

7. Ðấu vật:

Trò đấu vật thường được tổ chức ở các làng chuộng võ nghệ ở các huyện thuộc tỉnh Thừa Thiên- Huế. Ðặc biệt là ở làng Sình (Lại Ân) thuộc huyện Phú Vang, hàng năm vẫn tổ chức đấu vật vào ngày mồng 10 tháng Giêng âm lịch, và tại làng Thủ Lệ huyện Quảng Ðiền vào ngày mồng 6 tháng Giêng âm lịch. Truyền thống đất vật này vẫn còn. Ðây là một tập tục cổ có nguồn gốc từ lâu.

ở làng Sình trước khi đấu chính thức, có hai cụ già lên đấu vật theo nghi thức truyền thống. Sau đó là các thanh niên theo từng độ tuổi tiếp tục đấu. Trong tục đấu vật, hễ ai bị đè tấm lưng là thua.

Ban tổ chức, trong suốt ngày đấu, thường nhắc nhở tinh thần thượng võ của các tay đấu vật, Ngòai các giải thưởng thông thường, có giải phong cách, đạo đức. Giải thưởng nào cũng có cau trầu rượu là hình thức nghi lễ, chứng tỏ tinh thần trọng lễ của dân làng.

8. Thả diều:

Thả diều là một trò chơi được người lớn lẫn trẻ em thích thú, từ dân gian cho đến cung đình ai cũng mến mộ. Diều của Huế gồm các loại diều bướm, diều ó, diều máy bay thả bom, diều rít, phượng hoàng cắp công chúa...nghệ thuật làm ở Huế dần dần đạt đến mức độ tinh xảo.

Ngày trước, các ông hoàng có những con diều to được làm bằng lụa, vẽ màu rực rỡ.
Ngày nay các nghệ nhân vận dụng kỹ thuật để điều khiển cho bom rơi, rít uốn lượn thân hình trên không, hoặc tạo những nét đẹp uốn lượn trên bầu trời.

Nghệ thuật vẽ màu, tạo dáng diều được các nghệ nhân chăm sóc thật công phu, tỉ mỉ, những người say mê chơi diều tập hợp thành những câu lạc bộ (club) diều để họat động, trình bày nghệ thuật chơi diều trên khắp các miền đất nước.

9. Trò chơi đầu hồ:

Là trò chơi được vua Tự Ðức ưa chuộng. Ðây là trò chơi cầu sử dụng khéo léo của bàn tay và độ chính xác về độ dài và độ cao do sức bật của một cái cầu tre mỏng. Người chơi cầm cái cần, phóng vào một cái trống nhỏ đặt cách chỗ đứng khỏang 1m30, cái cần sẽ bắn tung ngược lên sao cho rơi vào miệng một cái hình thon nhỏ đặt cách cái trống khoảng 2 mét cần rơi xuống gỗ vào mặt trống dưới cái bình kêu "tung tung" là thắng cuộc.

Sau những lúc vận dụng trí óc để làm việc, vua Tự Ðức thường chơi trò đầu hồ để thư giản tâm trí.

ở các dinh phủ của các ông Hoàng Mười, bà chúa Tám, có các trò chơi xóc đĩa, đố thai, đánh ma ngày nay không còn nữa.

Ðánh ma là một tỏ trò bằng cách lấy 100 trự tiền (loại tiền đồng ngày trước) bỏ vào một cái bát, úp lại, rồi hắt ra một số, số còn lại vẫn giữ nguyên trong bát. Ðến số trự tiền ở giữa chiếu, cứ bỏ đi từng 4 trự, số còn lại nếu thừa một trự gọi là yêu, hai trự gọi là lượng, ba trự là tám, bốn trự là túc. Ai nhặt trúng sẽ được chung tiền.

Xăm hường là trò chơi gồm các thể làm bằng xương (nếu bộ xăm hường của vua thì làm bằng ngà) to nhỏ khác nhau tùy theo số điểm lớn hay bé.

Số người tối đa là 7; lần lượt mỗi người gieo 6 hạt xúc xắc (còn gọi là nhất lục) vào một cái bát xứ. Theo sự xuất hiện các mặt của các con xúc xắc mà tính điểm. Lấy được thẻ trạng nguyên phải có 4 mặt tứ (gọi là hường) hoặc 5 mặt của các con khác, sẽ được 32 điểm. Muốn lấy thẻ trạng em (16 điểm) cần phải đạt các mặt phân song, tứ tự cáp suốt...Bằng cách nhìn vào sự xuất hiện các mặt của các con xúc xắc. Cách chơi và gọi tên khá phức tạp. Trò chơi này quả là một lối chơi thanh tao mà sự ăn thua không đáng kể.

10. Voi hổ đấu chiến:

Voi hổ đấu chiến là một thú giải trí của các vua chúa Nguyễn. Thời chúa Nguyễn Phúc Khóat cuộc đấu diễn ra tại cồn Dã Viên trên sông Hương. Chúa và các quan đã ngồi trên 12 chiếc thuyền để xem voi và hổ đấu nhau suốt một ngày. Cuối cùng 18 con cọp đã bị 40 con voi dẫm chết. Thời Gia Long các cuộc trận đấu diễn ra trên bộ. Vòng tròn hàng rào đấu trường do lính cầm khí giới trấn ngữ. Thời Minh Mạng vào năm 1830, sợ sự nguy hiểm đến tính mạng người xem, nhà vua cho xây dựng Hổ Quyền hình như cái giếng lớn, để làm nơi đấu chiến giữa voi và hổ.

Theo quan niệm của vua chúa Nguyễn, voi là biểu tượng cho Vương Ðạo, Hổ là biểu tượng của bá quyền; nên trong buổi đầu, kết quả cuối cùng voi phải thắng hổ. Do quan niệm ấy nên hổ bị cắt nanh, bẻ vuốt, buộc xích sắt vào chân để giảm bớt sức mạnh, cuối cùng sẽ bị voi dẫm chết. Xem voi hổ đấu chiến để tạo một cảm giác mạnh. Ðó là một trò chơi hấp dẫn mọi lứa tuổi.

11. Bài kiệu:

Bài kiệu cũng được chơi ở các nhà quyền quý, sau lan ra dân gian. Bộ bài kiệu gồm tất cả 120 con (30 x 4) gồm tất cả 4 cặp, mỗi cặp 30 con, chia ra làm 3 pho: văn, vạn, sách và 3 con bài yêu là "bán chênh" và "ông thang"

Có lẽ bộ bài này có gốc từ Trung Quốc, vì các hình vẽ trên bộ bài có phong cách dân gian ở Trung Quốc. Lối chơi tuy phức tạp, nhưng rất thích hợp với người lớn tuổi.

Các trò chơi có tên như tài bàn, tổ tôm cũng lấy từ bộ bài kiệu này mà chơi.

12. Bài tới:

Bài tới là trò chơi khá phổ biến trong dân gian, lấy từ các con bài trong bộ bài tới.
Trong trò chơi này, người chơi chia làm hai phe, mỗi phe 3 người, được chia mỗi người 10 con bài (chọn bộ bài gồm 60 con). Một người đi bài trước , gọi là đi chợ, bằng cách rút một con bài để đi, tránh các con bài có dấu triện đỏ như con ầm, thái tử, đỏ mỏ. Nếu người ở phe kia có con bài giống con bài đi chợ thì rút con bài ấy, kèm theo một con bài khác đi tiếp, khi đi phải hô tên con bài để phe bên kia biết mà tiếp tục cuộc chơi. Cứ thế cho đến lúc một người tới là ván bài kết thúc. Tới có nghĩa là khi trên tay có hai lá bài, người ở phe bên kia đúng một trong hai con bài chực của mình.

Luật chơi cấm chực con bài có dấu triện đỏ. Những con bài ấy được đi trước.

13. Bài tứ sắc:

Bài tứ sắc có lẻ có nguồn gốc ở Trung Quốc. Bộ tứ sắc gồm các con bài nhỏ dễ xây trên một bàn tay, mỗi con có một màu trong 4 màu chính là trắng, vàng, lục, đỏ. Mỗi con bài được ghi bằng chữ Hán: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo. mã, tốt, giống như cách ghi trên con cờ của bộ bài tướng.
Cách chơi có 4 người, có những phép tắc điều lệ riêng khá phức tạp.
Người Huế cũng dùng bộ bài tứ sắc để chơi theo một cách khác, gồm 3 người chơi gọi là bài xệp. Sau này cách chơi bài tứ sắc rất phổ biến.

14. Bài vụ:

Bài vụ là trò chơi hẳn được phát xuất từ cung đình triều Nguyễn. Bộ bài vụ gồm một con vụ, một cái chén gỗ và một tấn giấy có hình chữ nhật bề dài khoảng 0m60, bề rộng 0,4m chia ra làm ba hàng, mỗi hàng 3 ô, trong mỗi ô có vẽ hình các con vật: heo, voi, trâu, rùa, ngựa, ếch, tôm, cá: các con vật quen thuộc trong đời sống nông thôn.

Cái vụ xong, lấy chén gỗ úp lại, đám đông đặt tiền vào con vật mình ưa thích. Xong xuôi cái giở chén ra, lùa tên người đặt sai, thưởng tiền người đặt trúng, một chung thành tám.

Ðây là trò chơi có gốc từ Huế, có thể lối chơi này phát sinh từ Ðại Nội, các nghệ nhân khéo tay đã khắc các con vụ, vẽ hình các con vật để cho các Hoàng Tử, Công chúa, gia đình Hoàng Tộc giải trí trong dịp tết khoảng thời Thiệu Trị, sau đó các Thái giám thấy trò chơi hấp dẫn mới đưa ra ngoài dân gian.

15. Bài nọc:

cách chơi bài nọc đơn giản hơn. Người tham gia có thể từ hai đến bảy, tám người, trung ở giữa nọc, người con bốc bài trước, người cái bốc bài sau cùng. Hơn thua trong loại chơi này là ở điểm người con đạt được so với điểm của người cái. Các nút hình tròn, hình mặt người, nửa đồng tiền, hoặc đồng tiền trọn vẹn vẽ trên con bài được kể một điểm, như lá bài tứ cẳng chỉ được 1 điểm, lá con gà được 3 điểm, con gối, con xe, con đỏ mỏ được kẻ 9 điểm...Ðiểm cao nhất là 9, quá 9 điểm là bù, phải là thua. Ðiểm tối thiểu phải từ 6 trở lên.

Sưu Tầm Trung Tâm Bảo Tồn Di Tích Cố Ðô

Hy vọng những trò chơi giải trí của người dân xứ Huế ở trên sẽ giúp các anh chị ở trong VCB này am hiểu thêm về đất thần kinh.

hoang
12-21-2002, 12:14 AM
nice BB, co' khi mo^ coi tha? die^`u tre^n vu+o+`ng hoa tru+o+'c ma(.t ra.p ha't ddo', (ddu+o+`ng tra^`n hu+ng dda.o) chu+a BB ??? dda~ la('m man .

co`n dda' ga` , qu'a su+'c dda~ luo^n . tui coi ca~ nga`y cu~ng kho^ng bie^'t cha'n , que^n ca~ ddi ho.c luo^n .

BlueBird
12-21-2002, 12:21 AM
Lúc BB còn học sinh mỗi ngày đi học Hè (học thêm) đều trốn học mà coi người ta thi thả diều ở Nhà Hát Lớn hết đó Hoàng.

Mùa Hè năm 2000 và mùa Hè vừa rồi BB về cũng có mua diều đi thả đó, tại vì thấy Festival người ta thi thả diều đẹp quá. Khi Festival xong mọi người dân Huế đều mua diều để thả. Mùa Hè người ta thả diều trước Đại Nội đông và vui lắm Hoàng à. Khi nào về thì nhớ đi mua diều thả nghe!

BlueBird
12-21-2002, 12:28 AM
Tặng Hoàng bài thơ này nè:

Vươn tới cao xanh khát vọng của đời
Diều no gió gửi niềm vui về mặt đất
Chỉ là giấy thôi mà thành nguồn hạnh phúc
Khi diều bay tóc trắng cũng thành xanh

hoang
12-21-2002, 12:57 AM
thanx cho ba`i tho+ :cool:

cu~ng cu`ng so+? thi'ch me^ tha? die^`u :dance: , nguoi ta ba'n die^`u :( , no'i ru+'a cha('c kho^ng co`n vui khi tu+. mi`nh la`m la^'y . cha('c va`i na(m nu+~a mo+'i co' tie^`n ve^` dde^? tha? die^`u :cigar: :( :( :(

WLP
11-24-2007, 04:48 PM
ĐỒNG DAO và TRÒ CHƠI TRẺ CON



Đồng dao, đồng diêu: câu hát chơi, con nít hay hát. Đó là định nghĩa đơn giản nhất của Huình Tịnh Paulus Của, trong Đại Nam Quấc Âm Tự Vị, cuốn tự điển đầu tiên của Việt Nam, xuất bản năm 1895 tại Sàigòn.

36 năm sau, Ban Văn học Hội Khai Trí Tiến Đức khởi thảo Việt Nam Tự Điển, Mặc Lâm xuất bản tại Hà Nội năm 1931 và Nhà In Imprimarie Trung Bắc Tân Văn phát hành, cũng định nghĩa ngắn gọn. Đồng dao: câu hát trẻ con. Hơn thế kỷ sau, tức là cả 103 năm sau, Đại Từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý, do Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nhà xuất bản Văn hóa Thông tin phát hành năm 1998, định nghĩa đồng dao: lời hát truyền miệng của trẻ con, nhưng không đưa ra một câu nào.

http://khoahoc.net/photo/dongdao-1.gif

Đồng dao được truyền từ đời này tiếp đời nọ, vùng này qua vùng kia, có khi thay đổi, có khi sai lạc, có khi thất truyền, và bị quên lãng. Tác giả hầu hết vô danh, hay nói đúng hơn, chính dân gian là tác giả.



Dạy con từ thuở lên ba, nhưng từ lúc lọt lòng mẹ qua ba tháng biết lẩy bẩy tháng biết bò cho đến khi lổm ngổm tập ngồi bi bô tập nói lựng chựng bước đi, với Việt Nam ta, tiếp nối lời mẹ ru, đồng dao giữ phần quan trọng trong giáo dục gia đình, chuẩn bị cho trẻ đến trường với khoa sư phạm áp dụng phương pháp giúp trẻ con vừa vui chơi giải trí vừa học hỏi, phát triển các khả năng cơ thể và mở mang trí tuệ. Hát mà chơi. Hát mà học. Hát chơi mà học thật.



Thuở ban đầu, đồng dao chỉ được truyền miệng, nhưng nhờ ngắn gọn đơn giản ba, bốn hoặc năm chữ, có khi ngô nghê, nhưng vần điệu tiết tấu nhịp nhàng nên rất dễ hiểu dễ nhớ. Về sau, rất nhiều bài đồng dao được đặt nhạc nên được phổ biến rộng rãi. Trong hàng trăm bài đồng dao truyền miệng và hàng ngàn bản nhạc, chúng tôi chỉ nêu một số bài đồng dao truyền miệng từ Bắc qua Trung vào Nam, còn nhớ hoặc tìm tòi sưu tầm được, và đồng dao được phổ nhạc, cùng một số nhạc phụ lục. Chuyện bổ túc theo đà tiếp nối rất dễ dàng thuận tiện.



Những trò chơi đầu tiên chỉ có mẹ và con. Khi trẻ bớt ngủ ngày, tức vào khoảng một tháng sau khi ra đời, trẻ bắt đầu biết nghe và nhìn. Bài học đầu tiên có thể chỉ tập cho con theo dõi, nhận xét, ghi nhận. Mẹ chỉ cho con biết những phần trên cơ thể, cả danh từ lẫn động từ tĩnh từ: mắt mở mắt nhắm, mắt đen mắt nâu, miệng nói môi cười, răng trắng, tai nghe, tóc đen tóc trắng, tóc ngắn tóc dài, tay nắm, chân đạp …



Trẻ chưa biết ngồi, có thể cùng mẹ chơi trò Cất Rớ Chống Rớ , đặt con nằm ấp trên hai ống chân mẹ, mông con an vị trên hai bàn chân mẹ, hai tay nắm chặt hai tay con, mẹ nằm ngửa, vừa nâng hai chân lên cao vừa đọc:

Cất rớ lên! Bỏ rớ xuống!

Cá chi? Cá bống! Chống rớ!

Cá chi? Cá rô! Chống rớ!!

Cá chi? Cá hồng! Chống rớ! …

Vẫn vị thế đó, có thể đổi cách chơi qua trò cỡi ngựa, hát mà chơi, nhún nhẩy đong đưa theo bài đồng dao:

Nhong nhong nhong nhong

Ngựa ông đã về

Cắt cỏ bồ đề

Cho ngựa ông ăn

Nhong nhong nhong nhong …

http://khoahoc.net/photo/dongdao-2.gif

Mẹ tập con chơi mà học, quan sát theo dõi:

Một ngón tay nhúc nhích này/ một ngón tay nhúc nhích này

Một ngón tay nhúc nhích cũng đủ cho ta vui vầy…

Hai ngón tay nhúc nhích này/ hai ngón tay nhúc nhích này!

Hai ngón tay nhúc nhích cũng đủ cho ta vui vầy! …

và cứ thế tiếp tục cho đến mười ngón.



Tay mẹ tay con có nhiều trò thú vị. Hát mà chơi với bài đồng dao Kéo Cưa Lừa Xẻ, khi con biết ngồi, hai mẹ con cùng nắm tay nhau kéo qua kéo lại:

Kéo cưa lừa xẻ/ ông thợ nào khỏe/ về ăn cơm trưa

Ông thợ nào thua/ về bú tí mẹ

hay: Cút ca cút kít/ làm ít ăn nhiều/ nằm đâu ngủ đấy

Nó lấy mất cưa/ lấy gì mà kéo!!!



Vẫn tay mẹ tay con:

Xỉa cá mè/ đè cá chép

Tay nào đẹp/ đi hái hoa

Tay nào thô/ đi mót củi

Tay dính bụi/ đừng dụi mắt …

Cũng bài Xỉa Cá Mè nhưng chơi với hai chân:

Xỉa cá mè/ đè cá chép

Chân nào đẹp/ đi buôn men

Chân nào đen/ ở nhà làm… chó

(hay mèo) và sủa gâu gâu như chó hoặc kêu meo meo như mèo để mẹ con cùng vui.



Mẹ con vuốt tay vỗ đập tay nhau nhịp hai theo bài đồng dao Vuốt hột nổ nói đến những vật dụng hàng ngày. Bảo con chắp tay lai, mẹ cũng chắp tay xong mở ra vuốt hai bàn tay con, vừa vuốt vừa đọc, mỗi lần vuốt xong là vỗ tay, và có thể tiếp nối vô tận:

Vuốt hột nổ

Đổ bánh bèo

Xao xác … quạ kêu

Nồi đồng vung méo/ cái kéo thợ may

Cái guộng đắp bờ/ cái cờ làng tế

Cái ghế để trèo/ cái khoèo mót củi

Cái chủi tòe loe/ cái khe nước chảy

Cái xảy xảy rơm/ cái nơm chơm cá

Cái ná bắn chim/ cái kim may áo

Cái gáo múc nước/ cái lược chải đầu

Cái câu câu cá/ cái rá vo gạo …



Mẹ con ngồi đối mặt nhau, mẹ vừa hát vừa tập con vỗ tay. Hát mà học, vì khi lớn lên bé sẽ cùng vui chơi với anh hoặc chị, và cách chơi khó hơn: vừa đọc bài đồng dao vừa tự vỗ tay mình xong vỗ tay trái chéo vào tay trái người kia; trở lại tự vỗ tay, rồi vỗ tay phải mình chéo qua tay phải người kia, và tiếp tục ban đầu chậm sau nhanh dần cho đến hết bài. Một bài đồng dao khác cho trò chơi này là:

Tập tầm vông

Chị lấy chồng/ em ở góa/ chị ăn cá/ em mút xương

Chị nằm giường/ em nằm đất/ chị húp mật/ em liếm ve

Chị ăn chè/ em liếm bát/ chị coi hát/ em vỗ tay

Chị ăn mày/ em xách bị/ chị làm đĩ/ em thâu tiền

Chị đi thuyền/ em đi bộ/ chị kéo gỗ/ em lợp nhà

Chị trồng cà/ em trồng bí/ chị tuổi Tý/ em tuổi Thân

Chị tuổi Dần/ em tuổi Mẹo

Chị kéo kẹo/ em nấu đường/ chị trồng thơm/ em trồng khóm

Chị đi xóm/ em coi nhà/ chị thờ cha/ em nuôi mẹ

Chị trồng hẹ/ em trồng hành/ chị để dành/ em ăn hết

Chị đánh chết/ em la làng/ chị đào hang/ em chui tuốt …

Vẫn trò chơi dùng hai tay nhưng đông người hơn, có thể dùng một cái gậy hay thanh trúc để các em nắm tay chồng lên nhau lần lượt và tiếp tục cho hết bài. Không có gậy thì chỉ cần chồng tay lên nhau. Trò chơi này gọi là Hát Đúm/ Cùm nụm cùm nịu hay Tay tí tay tiên:

Cùm nụm cùm nịu/ tay tí tay tiên

Đồng tiền chiếc đũa/ hột lúa ba bông

Ăn trộm ăn cắp trứng gà

Bù xa bù xít/ con rắn con rít

Thì ra tay này!

Vẫn tay mẹ tay con, khi con biết xử dụng tay chân, mẹ con cùng chơi trò thi chân đẹp hoặc mẹ giúp con theo dõi chơi Nu na Nu nống cùng các anh chị. Ngồi trong lòng mẹ, bé chỉ tập trung theo dõi, chăm chú nghe và nhìn, lanh mắt lẹ tay nhanh chân học mà chơi theo luật chung:

Nu na nu nống/ cái cống nằm trong

Cái ong nằm ngoài/ củ khoai chấm mật

Phật ngồi Phật khóc/ con cóc nhảy ra/ con gà ú ụ

Nhà mụ thổi xôi/ nhà tôi nấu chè

Tè he cống rụt!



Nu na nu nống/ thằng công cái cạc

Đá xỉa đá xoi/ đá đầu con voi/ đá lên đá xuống

Đá ruộng bồ câu/ đá râu ông già

Đá ra đường cái/ gặp gái đi đường

Có phường trống quân/ có chân thì rút!



Nu na nu nống/ đánh trống phất cờ/ mở cuộc thi đua

Thi chân đẹp đẽ/ chân ai sạch sẽ/ gót đỏ hồng hào

không bẩn tí nào/ được vào đánh trống!

Khi trẻ khá lớn đi đứng chạy nhảy vững vàng và đến trường, gia nhập những trò chơi tập thể dễ dàng cũng như học những bài đồng dao dần dà dài khó hơn, và mẹ chỉ để mắt theo dõi, hướng dẫn hoặc nhắc nhở giúp đỡ khi cần.

Có những bài đồng dao kết cấu liên hoàn lập đi lập lại, làm điệu bộ theo lời diễn đi diễn lại cho đến khi mệt nghỉ:

Con vỏi con voi/ cái vòi đi trước

Hai chân trước ịch đi ịch trước

Hai chân sau ịch đi ịch sau

Còn cái đuôi thì đi là sau rốt

Tôi xin kể nốt cái chuyện con voi i í ị con voi

Cái vòi í i ị đi trước …



Con công hay múa/ nó múa làm sao?

Nó rụt cổ vào/ nó xòe cánh ra

Nó đỗ cành đa/ nó kêu ríu rít

Nó đỗ cành mít/ nó kêu vịt chè

Nó đỗ cành tre/ nó kêu bè muống

Nó đỗ dưới ruộng/ nó kêu tầm vông

Con công hay múa …



Cái cò mày mổ cái tôm/ cái tôm quắp lại mà ôm cái cò

Cái cò mày mổ cái trai/ cái trai quặp lại mà nhai cái cò

Cái cò mày mổ cái tôm …

Ba bài liên hoàn khác về chim, tập cho trẻ biết những từ liên hệ bà con họ hàng:

Bí ngô là cô đậu nành/ đậu nành là anh dưa chuột

Dưa chuột bác ruột dưa gang/ dưa gang cùng làng dưa hấu

Dưa hấu là cậu bí ngô/ bí ngô là cô đậu nành …



Ác- là là cha ca-cưỡng/ ca-cưỡng là dượng bồ câu

Bồ câu là dâu ác- là/ ác-là là cha cà- cưỡng …



Bồ-các là bác chim gi/ chim gi là dì sáo sậu

Sáo sậu là cậu sáo đen/ sáo đen là em tu-hú

Tu-hú là chú bồ-các/ bồ-các là bác chim gi …



Một bài đồng dao liên hoàn khác được Đức Quỳnh phổ nhạc và hát từ Bắc vào Nam, lời lẽ ngụ ý hài hước châm biếm:

Con chim chích chòe/ nó kêu chích chòe

Nó đậu cành chanh/ nó kêu chích chòe

Tôi ném hòn sành/ nó quay lông lốc

Tôi làm một chốc/ được ba mâm đầy

Ông thầy ăn một/ bà cốt ăn hai

Cái đầu cái tai/ đem về biếu chúa

Chúa hỏi chim gì? – Là con chim chích chòe!

Nó kêu chích chòe/ nó đậu cành chanh …

Bài đồng dao có nhạc trong Nam lời hát như sau:

Con chim manh manh/ nó đậu cây chanh

Tôi vác miểng sành/ tôi liệng nó chết

Tôi làm được bảy mâm/ tôi dâng cho ông một mâm

Tôi dâng cho bà một đĩa/ bà hỏi tôi con chim gì?

Tôi nói con chim manh manh …

Có một trò chơi trong Nam gọi là Bắc Kim thang, dùng bài đồng dao ngô nghê ngộ nghĩnh khi các em làm thành vòng tròn, chân trái xỏ rế ngoéo vào chân trái bạn, vừa vỗ tay vừa nhảy lò cò bằng chân phải và giữ không bị té, cùng hát:

Bắc kim thang, cà lang bí rợ

Cột qua kèo là kèo qua cột

Chú bán dầu qua cầu mà té

Chú bán ếch ở lại làm chi?

Con le le đánh trống thổi kèn

Con bìm bịp thổi tò te tí te ……

Em nào không vững thăng bằng bị té là thua, bị phạt búng tai hoặc khẻ tay nếu là con gái, hoặc phải cõng bạn cùng cặp chạy một vòng nếu là con trai. Vui tếu thì phạt bằng quẹt nhọ nồi/ lọ nghẹ lên mặt. Các em trai còn bị phạt làm ngựa cho bạn cỡi, nhẹ thì dùng bài đồng dao ngắn Nhong nhong nhong nhong, mà phạt nặng hoặc trẻ lớn thì dùng bài Lý Ngựa ô. Lý Ngựa ô cũng có ba điệu phổ nhạc, Bắc, Trung và Nam, nhưng không phải là đồng dao.



Trò trốn tìm/ ú tim/cút bắt được trẻ con khắp thế giới vui chơi, và đồng dao ta có rất nhiều bài cả đám cùng loạt đọc lên để chọn người phải đi tìm. Bài đặc biệt có tính cách một bài sấm dính đến lịch sử, nói về giai đoạn rối loạn của triều đình Nhà Nguyễn và phong trào Cần Vương, thời ta bị Pháp đô hộ:

Chu tri rành rành/ Cái đanh nổ lửa

Con ngựa đứt cương/ ba vương tập đế

Cấp kế đi tìm/ ú tim … òa ập!

Bài đồng dao trốn tìm/ thả đỉa ba ba:

Thả đỉa ba ba/ con đỉa đeo bà

Con gà tục tác/ mỏ-nhát cầm chầu

Con mèo cầm lái/ con rái chạy buồm

Con tôm tát nước/ vọc nước giỡn trăng

Bài Thả đỉa ba ba khác:

Thả đỉa ba ba

Chớ bắt đàn bà/ phải tội đàn ông

Cơm trắng như bông/ gạo tiền như nước

Sang sông về đò/ đổ mắm đổ muối

Đổ nải chuối tiêu/ đổ niêu cứt gà

Đổ phải nhà nào/ nhà ấy phải chiu!

Khi đám trẻ chạy tìm chỗ nấp, em còn lại phải bịt mắt đọc bài đồng dao khác đến hết mới được mở mắt đi tìm:

Mít mật mít gai/ mười hai thứ mít

Đi vào ăn thịt/ đi ra ăn xôi

Bởi chẳng nghe tôi/ tôi bịt mắt chú

Ăn đâu ẩn kín/ lúa chín thì về!

http://khoahoc.net/photo/dongdao-3.gif

Ngoài Bắc có bài đồng dao khác và Phạm Duy đã mượn ý phổ nhạc:

Ông trẳng ông trăng

Xuống chơi với tôi/ có bầu có bạn

Có oản cơm xôi/ có nồi cơm nếp

Có nệp bánh chưng/ có lưng hũ rượu

Có chiếu bám đu/ thằng cù xí xoại

Bắt trai bỏ giỏ/ cái đỏ ẵm em

Đi xem đánh cá/ đem rá vo gạo

Có gáo múc nước/ có lược chải đầu

Có trâu cầy ruộng/ có muống thả ao

Ông sao trên trời …

Hoặc:

Ông tiễn ông tiên

Ông có đồng tiền/ ông giắt mái tai/ ông cài lưng khố

Ông ra hàng phố/ ông mua miếng trầu/ ông nhai tóp tép

Ông mua con tép/ về ông ăn cơm

Ông mua mớ rơm/ về ông đánh thổi

Ông mua cái chổi/ về ông quét nhà

Ông mua con gà/ về cho ăn thóc

Ông mua con cóc/ về thả gậm giường

Ông mua nén hương/ về cúng ông cụ!

http://khoahoc.net/photo/dongdao-4.gif

Khi trẻ đã lớn, đã đi học và có nhiều bạn cùng lứa, có rất nhiều trò chơi dùng những thứ kiếm được ngay chung quanh hoặc tự chế lấy, ví như bắn ná làm bằng nạng ổi, bắn súng bẹ sống lá chuối, bắn súng ống hóp đạn hạt sầu đông hoặc hạt mâm xôi, bắt chuồn chuồn, buôn bán bằng hoa mâm xôi, lá mít, cái lung tung/ cái trống bỏi, chong chóng bằng lá dừa, chọi dế, đá dế, chơi gà đất có gắn ống cói ống sậy thổi te te, con giống, cối xay làm bằng hạt xoài cưa hai, đánh căn với hai khúc tre hay gỗ, đánh bi, đánh cờ chân chó, cờ gánh bằng vỏ nghêu vỏ sò, đánh đáo, đánh đu dựng bằng tre, đánh trận giả với cây cành hoa lá như Cờ Lau Tập Trận của Đinh Bộ Lĩnh thuở còn chăn trâu, đánh thẻ, đánh vụ làm bằng gỗ, đá kiện làm bằng đồng xu buộc lông, đá cầu lông, đạp mạng, đạp lon, đi chợ về chợ, kéo co với giây dừa, làm hùm bắt lợn, lộn cầu vồng, lộn chuồn chuồn, liệng cống, năm tiền liền quan, ném còn làm bằng vải vụn, ném vòng làm bằng tre hoặc mây vào cọc tre hay gỗ, nhảy giây làm bằng giây dừa, nhảy lò cò với mảnh ngói mảnh sành mảnh sứ , rải ô quan/ rải ô làng dùng sỏi, sạn hay hạt đậu, xây khăn/ bỏ khăn/ chuyền khăn, thả diều làm bằng tre dán giấy … vô số kể.

http://khoahoc.net/photo/dongdao-5.gif

Những trò chơi hầu hết cần vận dụng đầu óc bén nhạy tinh tế tính toán chính xác, điều động tay chân nhanh nhẹn, thích nghi với môi trường thiên nhiên và luyện tập quen dần với đời sống tập thể trong cộng đồng. Hát chơi mà học thật.



Bài đồng dao trò chơi Xây khăn trong Nam, trẻ ngồi thành vòng tròn, một em cầm khăn chạy ngoài, cùng đọc cho đến hết thì bỏ khăn sau lưng một bạn. Em này phải chú ý theo dõi để nhặt khăn chạy vòng, nhường chỗ cho bạn, nếu không biết sẽ bị loại khỏi cuộc chơi.

http://khoahoc.net/photo/dongdao-6.gif


Xây khăn, khăn nổi khăn chìm

Ba bên bốn phía đi tìm cái khăn

Thằng chăn bận áo rách vai

Không ai may vá, thằng chăn bận hoài

Trò chơi Chuồn chuồn miền Trung và Lộn Cầu Vồng ngoài Bắc có cách chơi giống nhau nhưng khác bài đọc:

- Chuồn chuồn đạp nước kim cang/ bên tê mở cửa bên ni sang lòn

- Lộn cầu vồng nước trong nước chảy

Có anh mười bảy có chị mười ba

Hai chị em ta cùng lộn cầu vồng

Bài đồng dao trò Dung giăng dung giẻ đọc khi đi quanh nhiều vòng tròn, những vòng này luôn thiếu một để đến cuối khi ngồi xệp xuống sẽ có một em chậm chạp bị loại:

Dung giăng dung giẻ/ dắt trẻ đi chơi

Đi tới cổng trời/ gặp cậu gặp mợ

Cho cháu về quê/ cho dê đi học

Cho cóc ở nhà/ cho gà bới bếp

Ngồi xệp xuống đây!

Một bài đồng dao về cuộc sống luẩn quẩn loanh quanh trong nhà ngoài vườn trong xóm ngoài làng là Ông Ninh Ông Nang được Lê Thương phổ nhạc:

Ông Nỉnh ông Ninh/ ông ra đầu đình/ ông gặp ông Nảng ông Nang

Ông Nảng ông Nang/ ông ra đầu làng/ ông gặp ông Nỉnh ông Ninh

Nang Ninh đầu đình/ và Ninh Nang đầu làng

Nang Ninh làng đình/ rồi Ninh Nang đình làng

Nang Ninh làng đình Nang Ninh/ Ninh Nang đình làngNang Ninh

Nang Ninh làng đình Ninh …

Cô Chiểu cô Chiêu/ cô qua cầu Kiều/ cô gặp cô Thỏa cô Thoa

Cô Thỏa cô Thoa/ cô qua vườn cà/ cô gặp cô Chiểu cô Chiêu

Thoa Chiêu cầu Kiều/ và Chiêu Thoa vườn cà

Rồi Thoa Chiêu cầu Kiều/ rồi Chiêu Thoa vườn dừa

Cả Chiêu Thoa cầu Kiều Chiêu Thoa/ Thoa Chiêu vườn cà Chiêu Thoa

Thoa Chiêu vườn cà Thoa …

Em Thở em Thơ/ em qua hàng dừa/ em gặp em hải em Hai

Em Hải em Hai/ em qua vườn xoài/ em gặp em Thở em Thơ

Thơ Hai vườn xoài/ và Hai Thơ vườn dừa

Rồi Thơ Hai vườn xoài/ và Hai Thơ vườn dừa

Cả Thơ Hai vườn xoài Thơ Hai/ Hai Thơ vườn dừa Thơ Hai

Thơ Hai vườn xoài Thơ …

Một bài đồng dao khác được phổ nhạc là Trằng Bờm, nói lên đầu óc thực tiễn của dân quê không cần xa hoa phù phiếm cung ngũ long lầu ngũ phụng dinh thự cao ốc hay đặc sản miếng ngon vật lạ, mà chỉ muốn no bụng:

Thằng Bờm có cái quạt mo/ phú ông xin đổi ba bò chín trâu

Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu/ phú ông xin đổi ao sâu cá mè

Bờm rằng Bờm chẳng lấy mè/ phú ông xin đổi ba bè gỗ lim

Bờm rằng Bờm chẳng lấy lim/ phú ông xin đổi một đôi chim mồi

Bờm rằng Bờm chẳng lấy mồi

Phú ông xin đổi nắm xôi… Bờm cười!!!

Thuở nhỏ tôi nghịch ngợm hát bài đồng dao Thằng Bờm và có nhịp điệu khác: Thì ra mo cau vàng mới tinh/ phú ông lập tâm mua liền! Thằng Bờm mà biết cóc chi/ Thằng Bờm mà biết cái cóc chi! Chăng chẳng lấy trâu/ Bờm rằng thì là Bờm chăng chẳng lấy trâu đâu!!!



Trò chơi tôi thích nhất hồi còn tiểu học là đánh thẻ chuyền/ đánh banh đũa, nhưng đến nay không nhớ được trọn bài đồng dao đọc đệm. Duyên may quen một gia đình nhà quê mộc mạc, bà mệ tám mươi sáu và bà mạ sáu mươi, không biết đọc biết viết nhưng còn nhớ kỹ. Bỏ một ngày thăm hỏi cùng ôn trí nhớ, ghi trọn được trò chơi này.



Dùng tay phải nắm nguyên bó đũa 6 chiếc hoặc nhiều hơn, cùng một trái banh, có khi chỉ là quả chanh hay một bó vải vụn cuộn thành hình trái banh. Vừa thảy banh lên là trải đũa ra nhanh cho kịp bắt chụp lại trái banh, rồi lần lượt ném banh vừa bắt từng cây đũa một, rồi hai, ba, bốn … tức là phải tính chính xác làm sao vừa ném banh lên là phải nhanh mắt nhanh tay tính toán nắm đúng số đũa cần lấy đưa ngay sang tay kia và kịp thời bắt chụp lại trái banh. Trò chơi này hình như chỉ có trẻ Việt Nam ta yêu thích và hợp với con gái. Bài đồng dao đọc theo lúc bắt đầu ném banh và bắt đũa, đọc tối đa đến cuối câu phải tóm lại được trái banh, nếu trật phải nhường người kia chơi:

Cái mốt (bắt một đũa)

Cái mai/ con trai/ con hến

Con nhện/ giăng tơ/ quả táo/ cái gáo

Lên đôi (bắt hai đũa)

Đôi cái mõ/ đôi nồi chõ

Đôi thổi xôi/ đôi nấu chè/ đôi cành tre

Lên ba (bắt ba đũa)

……….

Khi nhặt hết đũa thì bỏ tất cả xuống để ném banh bốc cả nắm đổi sang các giai đoạn kế tiếp là con ba lại, con gang, sang tay cầm, kẹp nách, cầm quạt rẽ xương, sang tay giã, giã đơn hoặc giã đôi tùy giao ước ban đầu, nhập giã, rút ống, nhập ống, sang tay tao tức là chuyền. Mỗi giai đoạn này đọc tên báo sự thay đổi chuyển tiếp. Giai đoạn chuyền, một vòng hoặc hai vòng tùy giao ước trước khi chơi, vừa chuyền vừa ném banh rồi chụp banh lại và đọc:

Chuyền chuyền một/ chuyền chuyền hai/ chuyền chuyền ba

Chuyền chuyền bốn/ chuyền chuyền năm/ chuyền chuyền sáu …

Cuối cùng là nẻ hay khẻ, tức là đập cả bó đũa vào chân người thua cuộc, vừa đập vừa thảy banh vừa đọc đoạn cuối bài đồng dao:

Qua cầu, lặn cỏ/ núi đỏ như ma/ hầm sa/ mây sắc

Bắt con cá, chặt đuôi, chặt đầu

Têm miềng trầu, hầu chén rượu

Ai có tiền, ngồi liền lên ghế

Ai không tiền, liệu thế liệu thần

Sang tay nẻ, khẻ chân



http://khoahoc.net/photo/dongdao-7.gif

Nẻ/ khẻ chân xong là thắng, Đoạn đồng dao cuối này lại khác nếu do các nữ sinh Đồng Khánh mà nay là những mệ có cháu nội ngoại đề huề:

Ai muốn cao, ngồi ghế/ ai muốn thấp, ngồi đòn

Ai muốn đỏ, bôi son/ ai muốn vàng, bôi nghệ

Qua cầu Chợ Kệ/ về cầu Thanh Lương

Sang tay bắt con một. – Ăn! (tức là thắng)

Đoạn cuối lúc nẻ, mấy mệ ngoài Bắc lại đọc khác:

Đầu quạ quá giang/ sang sông về đò

Cò nhẩy gãy cây/ mây bay bèo trôi

Ổi xanh, hành bóc/ róc vỏ, đỏ lòng

Tôm cong đít vịt

Sang cành nẻ/ bẻ cành xanh

Vét bàn thiên hạ (tức là thắng)



Trong số 54 sắc dân sinh sống tại Việt Nam, người Mường là chị em của người Việt, cùng thờ Vua Hùng, cùng chung truyền thuyết một mẹ trăm con, cùng mặc yếm váy và áo tứ thân và đặc biệt cùng nói chung ngôn ngữ. Trẻ con Mường cũng có đồng dao kèm trò chơi. Ghi lại sau đây một:

Lếu lêu làng lộc

Tộc ngộc ngọn cơn bo (cây hoang nhỏ có trái trẻ hay hái ăn)

Bò ăn no bò ngứa củ ráy

Ngứa củ ráy ngứa cả cơn rư (cây nưa)

Đưa bò về Mường Tráng

Tám mươi người kiếm cỏ/ bò đỏ bò nhà lang

Bò vàng, bò nhà đạo Ống

Tùng tùng tùng tùng/ ai đánh trống mường trên

Lền khên con ca trống gáy (con gà)

Gáy gáy trong rẫy ngoài mường/ vườn như vườn nhà ai

Ông mo biểu mụ máy/ trấy bín biểu trấy bù (trái bí/bầu)

Măng mu biểu măng nứa/ bố đạo biểu mệ nàng

Quan sang biểu kẻ khó/ bó ló biểu bó nếp (bó lúa)

Cơm nếp biểu cơm chim/ cào cào biểu châu chấu (một loại gạo ngon)

Cắt nứa rào cho ta chào cấm/ lấy lưỡi lấm cho ta cầm tiền

Lấy lưỡi liềm cho ta cắt bái (cỏ tranh)

Lấy lưỡi hái cho ta hái ló (lúa)

Náng lấy chó cho ta ăn thịt/ náng con vịt cho ta ăn đùi (nướng)

Nuôi con ca cho ta lấy mỡ (gà)

Dệt lấy mớ lụa điều/ dệt nhiều nhiều cho ta cưới vợ …



Trẻ con miền Bắc ngày trước rất thích chơi Phụ đồng Phụ chổi, có tính cách huyền bí như lên đồng. Bài đồng dao được đọc đi đọc lại cho đến khi đứa trẻ ngổi đồng được vía nhập:

Phụ đồng phụ chổi/ thổi lổi mà lên

Ba bề bốn bên/ sôi lên cho chóng

Nhược bằng cửa đóng/ phá ra mà vào

Cách chuôm cách ao/ cách ba ngọn rào

Cũng vào cho lọt

Cái roi von vót/ cái vọt cho đau

Hàng trầu hàng cau/ hàng hương hàng hoa

Là đồ cúng Phật

Hàng chuối hàng mật/ hàng kẹo mạch nha

Nào cô bán quế/ vừa đi vừa tế

Một lũ học trò/ người cầm quạt mo

Là vợ Ông Chổi

Thổi lổi mà lên …

Một trò chơi được đám trẻ gái yêu thích, cách chơi giống nhau nhưng ngoài Bắc gọi là là Trồng Nụ Trồng Cà/ Trồng Nụ Trồng Hoa, và miền Trung gọi là Đi Chợ Về Chợ. Phải có bốn em, chia làm hai cặp. Một cặp ngồi, lần lượt duỗi chồng từng bàn chân lên nhau rồi chồng bàn tay làm hoa, trong khi cặp kia đi qua đi lai rồi nhảy qua nhảy lại, vừa đọc:

Đi chợ/ về chợ (chưa đưa chân)

Đi canh một/ về canh một (đưa một bàn chân)

Đi canh hai/ về canh hai (chồng thêm một chân, là hai bàn chân)

Đi canh ba/ về canh ba (chồng thêm, ba bàn chân)

Đi canh tư/ về canh tư (chồng thêm, bốn bàn chân)

Đi sen búp/ về sen búp (chồng thêm một bàn tay chụm lại)

Đi sen nở/ về sen nở (chồng thêm bàn tay hơi xòe nở)

Đi sen tàn/ về sen tàn (bàn tay hoa nở xòe rộng hết cỡ)


http://khoahoc.net/photo/dongdao-8.gif

Trong trò chơi này, hai em ngồi chồng chân và xòe tay phải giữ thăng bằng, nếu bị đổ chân là thua. Hai em đi qua đi lại nhảy qua nhảy về nếu bị đụng chân hay tay hai em kia là thua. Cặp thua bị loại để hai em khác vào thay.



Nhưng trong mấy trò chơi tập thể nhân Tết Trung Thu và Ngày Nhi Đồng Việt Nam, trẻ con Bắc Trung Nam đều thích trò Rồng Rắn, gồm một đoàn ôm eo ếch nhau nối dài đi vòng vòng quanh sân, vừa đi vừa reo hò theo một em dẫn dầu làm thầy thuốc đọc :

- Này, rồng kia!

- Dạ!

- Rồng đen hay rồng trắng?

- Rồng trắng!

- Rồng trắng lấy nước gạo mùa

Rồng đen lấy nước cho vua đi cày!

- Anh em ta cùng kéo lúa về!

Dô ô ô ô ô ô ô …

http://khoahoc.net/photo/dongdao-9.gif

Bài đồng dao Rồng Rắn cản thầy thuốc cầm cái quạt mo không cho ông bắt em nào trong đoàn, vừa đi vừa hát:

Rồng rồng rắn rắn/ kéo rắn lên mây

Thấy cây lúc lắc/ hỏi ông thầy thuốc có nhà hay không?

- Có!

- Mở cửa cho vào!

- Vào làm gì?

- Mượn cái liềm

- Liềm làm gì?

- Hái củi

- Củi làm gì?

- Nấu bánh chưng

- Cho thầy ăn không?

- Không!

Trò chơi Rồng Rắn không rõ có từ giai đoạn lịch sử nào, có thể liên hệ đến thảm kịch thời Trịnh Nguyễn phân tranh chiến tranh đẫm máu giữa Đàng Ngoài Đàng Trong, hay gần hơn, là cuộc nội chiến Quốc Cộng xốc nổi đến tận cùng đời sống … với những nhân vật níu áo số mệnh nhau, như truyện dài Rồng Rắn của Lê Thị Huệ dẫn nhập. Trò Rồng Rắn được trẻ con tham dự đông đảo nhất, cũng ôm eo ếch nối dài làm con rồng, vừa chạy vòng vòng vừa cùng đọc:

Rồng rắn lên mây có cây xúc xắc

Xúc xắc xúc xẻ … Có thầy thuốc ở nhà không?

Một trẻ lớn làm ông thầy thuốc cầm quạt nan phe phẩy đi ra, đủng đỉnh hỏi:

Thầy thuốc: - Rồng rắn đi đâu?

Rồng rắn: - Rồng rắn đi lấy thuốc cho con.

Thầy thuốc: - Con lên mấy?

Rồng rắn: - Dạ, con lên một.

Thầy thuốc: - Thuốc chẳng ngon!

Rồng rắn: - Con lên hai.

Thầy thuốc: - Thuốc chẳng ngon!

Rồng rắn: - Con lên ba.

Thầy thuốc: - Thuốc chẳng ngon!

Rồng rắn: - Con lên bốn.

Thầy thuốc: - Thuốc chẳng ngon!

Rồng rắn: …..

Thầy thuốc: …..

Rồng rắn: - Con lên chín.

Thầy thuốc: - Thuốc chẳng ngon!

Rồng rắn: - Con lên mười.

Thầy thuốc: - Thuốc ngon vậy! Xin khúc đầu!

Rồng rắn: - Những xương cùng xẩu!

Thầy thuốc: - Xin khúc giữa!

Rồng rắn: - Những máu cùng me!

Thầy thuốc: - Xin khúc đuôi!

Rồng rắn: - Tha hồ mà đuổi!

Đến đây thì đoàn rồng rắn vẫn ôm eo ếch nối nhau chạy đuổi bắt ông thầy thuốc cho kỳ được mới tan cuộc, giữa những tiếng vỗ tay reo hò cổ võ của những người đứng xem, trong số có những bà mẹ chứng kiến con mình lớn khôn trong tập thể, trong cộng đồng. Bài đồng dao này có giá trị như một bài sấm, một bài học lịch sử, và cũng là một bài luân lý giáo khoa thư nói lên tình đoàn kết nhất trí của Rồng Rắn, toàn dân quyết giữ gìn trọn khối chung, đánh đuổi quân xâm lược lăm le chiếm đất đai, đã hớt khúc đầu Nam Quan, lại xén đoạn giữa Trường Sa và gây tai hại đồng bằng Cửu Long miền Nam.



Những bài đồng dao và trò chơi trẻ con góp nhặt ở đây chưa đầy đủ và cần bổ túc, nhưng có chủ đích góp phần gìn giữ kho tàng văn học dân gian trước khi bị thất truyền hay quên lãng, chôn vùi dưới hàng hàng lớp lớp đồ nhựa lắp ráp máy móc Toys ‘R’ Us, CDs, DVDs, video games, PC Games, puzzles, dominos, bingo, i-pods, cell phones … và vô số trò khác ào ạt trên mạng lưới điện tử của thời đại @ còng. Ngay tại các nước Âu Mỹ, nhiều tài liệu cũng sưu tầm ghi lại trò chơi trẻ con kèm những ballads, là thơ xưa từ thế kỷ XV/ XVI được phổ nhạc có điệp khúc lập đi lập lại, và Shakespeare từng trích dẫn vào tác phẩm.



Chúng ta đang ở đầu thế kỷ XXI. Mai sau, dù có bao giờ, phần sưu tầm biên khảo nhỏ nhoi này mong còn được đôi khi lần giở trước đèn, để may ra có người mở trang sách cũ tìm hiểu về đất lề quê thói, thấy rõ ràng kho tàng văn học dân gian đặt nặng giáo dục gia đình trên vai người mẹ. Những lời ru ca dao ạ ơi ời hà hơi văn hóa mẹ vào tâm hồn trẻ từ lúc mở mắt chào đời cho đến khi chập chững lững thững những trò chơi đi kèm đồng dao, để từ đó vững bước vào xã hội. Hát mà chơi. Hát mà học. Hát chơi mà học thật. Học làm NGƯỜI.



Trần thị LaiHồng

Từ tiểu bang xanh 1987 qua Hoa bang 2007 khoahoc.net



Tài liệu tham khảo:

- Ban Văn Học Hội Khai Trí Tiến Đức, Việt nam Tự Điển, Mặc Lâm xuất bản, Hà Nội 1931

- Henry Oger, La Technique du Peuple Annamite, NXB Jouve & Cie, Paris 1908

- Hùinh Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quấc Âm Tự Vị, Imprimerie Rey, Curiol &Cie, Saigon 1895

- Hướng Đạo Ca, Kỷ niệm70 năm Hướng Đạo Việt Nam 1930-2000

- Jack Maguire, Hopscotch, Hangman, Hot Potato & Ha,Ha, Ha! Rockefeller Center, 1990

- Lê thị Huệ, Rồng Rắn, Lũy Tre Xanh xuất bản, San José 1989

- Lư Nhất Vũ/ Lê Giang, Tìm Hiểu Dân ca Nam bộ, NXB TPHCM, 1983

- Mệ Bê, tài liệu sống, San Diego, CA

- Mệ Nguyễn Đề, tài liệu sống, West Palm Beach, FL

- Minh Hiệu, Tục ngữ Dân ca Mường Thanh Hóa, NXB Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội 1999

- Nguyễn Mạnh Hùng, Ký họa Việt nam, NXB trẻ, Saigon 1989

- Nguyễn Như Ý, Đại Tự diển Tiếng Việt, Bộ Giáo dục và Dân Tộc, Trung tâm Ngôn ngữ và Văn Hóa CHXHCN, Hà Nội 1998

- Nguyễn Tấn Long/Phan Canh, Đất Lề Quê Thói, NXB Sống Mới, Saigon 1970

- Nguyễn Thuyết Phong and Patricia Shehan, From Rice Paddies and Temple Yards: Traditional Music of VietNam, World Music Press 1989

- Nguyễn Trúc Phượng, Văn học Bình dân, Nhà Sách Khai Trí, Saigon 1964

- Nguyễn Văn Vĩnh, Trẻ Con hát Trẻ Con Chơi, NXB Alexandre de Rhodes, Hà Nội 1943

- Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, Thi Ca Bình Dân Việt Nam, NXB Sống Mới, Saigon 1978

- Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, Tục Ngữ Phong Dao, NXB Vĩnh Hưng Long, Hà Nội 1928

- Trần Quang Đức, 175 Trò Chơi Tập thể, NXB Thanh Niên, Hà Nội 2006

- Trương Anh Thụy, Trường ca Lời Mẹ Ru, NXB Cành Nam 1989

- Trương Tửu, Kinh Thi Việt Nam, Tủ Sách Văn Hóa Hàn Thuyên, Saigon 1940, Xuân Thu tái bản Houston, TX

- Vũ Ngọc Phan, Tục Ngữ và Dân ca Việt Nam, NXB Văn Sử Địa, Hà Nội 1956

- William Wells Newell, Games and Songs of American Children, Dover Publications, Inc. New York 1903