PDA

View Full Version : Phong Tục Ngày Tết... và Ðố...


canlong
12-09-2002, 08:18 PM
Nhân dịp Tết Nguyên Ðáng cũng sắp cận kề chúng ta rồi, không biết mấy bạn trong đây có thấy vậy không hén... Và mấy ai trong Vietcyber này biết về những phong tục ông bà ta để lại trong mấy ngày đón Xuân hằng năm. Hôm nay đưa ra cái đề tài này, mong các bạn đáp ứng để cùng học hỏi.

Câu hỏi các bạn trước hén:

Mõi năm đến ngày cúng Ông Táo, Ông Bà Cha Mẹ chúng ta thường bày một mâm ngũ quả trên Bàn Thờ Tổ Tiên, cúng vái đến qua Tết mới đem xuống chia cho con cháu, vậy hỏi rằng cái mâm NGŨ QUẢ này gồm có những trái cây nào và có ý nghĩa gì?

Saigonian
12-09-2002, 11:11 PM
Nhớ ngày xưa khi còn ở Việt Nam, bắt đầu từ ngày đưa ông Táo về trời 23 tháng chạp thì bắt đầu rộn ràng. SG nhớ là trái cây thì phải được mua trước từ 28, 29 tháng chạp. Thứ nhất là phải có Mãng Cầu. Mãng cầu thì phải xanh, tròn, và to thì mới là đẹp. Thêm vào đó thì nhất định phải có quít. Quít ta vừa vàng, ngọt, và có lẽ nhìn đẹp mắt nhất trong mâm ngũ quả. Đủ đủ và vài trái xoài thì thêm phần sống động. Sau này, khi lê tàu được nhập sang, thì nhất định phải có trong ngày tết. Nhưng trái mà SG thích nhất là dừa. Dừa phải là dừa xiêm xanh. Vỏ ngoài phải vạt cho sạch, xong rồi dùng dao thật bén để gọt cho tròn và vuông vắng có hình tháp. Vì sau khi got, dừa hay bị ố đen vì chất nhựa. Do đó dừa là trái cây được mua sau cùng nhất trong chiều ngày 30 tết, và trước khi trưng lên thì phải dùng chanh để tẩy trắng vỏ. Đêm 30 cúng giao thừa thì nhất định hai bên bàn cúng phải là hai nhánh mía thật cao, và lá rũ đều. Ngoài ra, nho và cam cũng thường hay được dùng để trang trí mâm ngũ quả. Thật sự mà nói, nói là năm loại trái cây, nhưng tuỳ theo sở thích và truyền thống của mỗi gia đình. Nhưng nhất định ít hay nhiều thì phải có một mâm trái cây thật đẹp trên bàn thờ trong ngày tết.

Có người cho là Cầu Dừa Đủ Xoài nghĩa là "Cầu vừa đủ xài". Còn có người cho rằng ngũ quả tựng trưng cho ngũ hành tưng hợp tạo thiên thời địa lợi, phúc tài ở năm mới. Nhưng SG thấy là truyền thống người Việt Nam mình không chỉ dùng ngũ quả ở ngày Tết, mà còn trong các ngày lễ giỗ, cưới hỏi, lễ cổ truyền. Có lẽ là đó là sự tựng trưng cho những điều tốt đẹp và cao quý nhất.

allena
12-10-2002, 07:50 AM
Ngũ quả mà người Việt thường chưng trong ngày Tết là : Mãng cầu , Dừa , Đu đủ , Xoài , và trái Sung ...

Những trái cây nầy , tữ cái tên của chúng cũng đủ để nói lên ước vọng của người ta trước thềm năm mới : Cầu mong một năm mới đầy đủ , sung túc và có dư dật để xài ...

Trái cây không thể thiếu để chưng ngày tết là Dưa hấu , trái dưa chưng ngày tết phải là dưa to , vỏ xanh đen , bóng , cuống tươi , búng phải nghe căng căng thì dưa mới ngon , đỏ .

Đầu năm , người ta tin rằng , nếu bổ một trái dưa mà đỏ , ngọt thì năm ấy sẽ rất may mắn ...:flower:

TuongNiem
12-10-2002, 08:33 PM
:confused: :rolleyes:

giatugiatu
12-11-2002, 01:08 AM
mãng cầu=cầu
dừa =vừa
đu đủ =đủ
xoài =sài

ý nói =cầu vừa đủ sài = pray to have enough money to spend .


trái sung = sung túc = nhiều tiền của = wealthy

Trung Quốc
12-11-2002, 02:57 AM
cầu xin xung túc vừa đủ xài. :)

Mai QT final xong sẽ tìm trong cái hd more info on this. :)

QT

Ize
12-12-2002, 05:42 AM
Còn một thứ nữa mà I thấy là phải có là tiếng pháo. Đêm giao thừa mà không có tiếng pháo nó buồn tẻ làm sao đó. I nhớ là những năm còn ở lại VN, lối xóm của I có tục là nấu bánh chưng nguyên đêm thường là đêm 27 hay 28 tết. Những đêm này I phải năn nỉ ba mẹ cho I được thức suốt ngồi canh nồi bánh chưng, I thấy vui lắm, mặc dù là chỉ có nhiệm vụ là đút thêm củi vào, những lúc không có việc gì nhiều thì xoay qua tán dóc hay tâm sự với mấy bạn khác cùng xóm cũng đang canh nồi bánh chưng như mình. Đêm khuya vắng lặng chỉ nghe tiếng trò chuyện nho nhỏ xa gần & tiếng tí tách của củi cháy, cái lạnh của ban đêm về sáng mùa Xuân như bị át đi bởi cái ấm cũa những lò bánh chưng của nguyên xóm. Lâu lâu văng vẳng nghe được vài tiếng pháo lẻ tẻ đây đó. Sáng hôm sau, I thích nhất là lúc mở nồi bánh, mùi thơm của lá dong ngào ngạt át cả mùi pháo đốt xung quanh. Ngày 28 thì nhất định là phải ở nhà rửa tường quét vôi lại chùi nhà quét dọn cho thật sạch sẽ để mà đón năm mới trước khi được phép đi chơi. Ngày 29 là lui hui đi lo viết thiệp & quà chúc Tết cho các Thầy Cô, đồng thời cũng là lúc o bế lại cái xế của mình cho sạch sẽ & láng bóng lên. Đêm 29 thì đi chơi chợ Hoa Sài Gòn với các bạn trong lớp, tha hồ mà quậy phá ngắt bông bứt quít. Đêm 30 khoảng 10 giờ thì lại ra chợ Hoa, chuyến này thì chờ những người bán dọn hàng về mua lại những vòng hoa lài (cho rẻ chút :):)) đem về cho mẹ I ướp hương nước đường, khi ăn thạch mùi hoa lài thơm ngát mũi. Làm gì thì làm nhưng phải về nhà trước 11 giờ, lo tắm rửa cho sạch sẽ và mặc đồ đàng hoàng chờ làm lễ cúng tổ tiên, nhỏ em của I còn nhỏ ham ngủ bị kêu dậy thì nhõng nhẽo e e bị ông anh I nóng tính đét cho mấy cái vào mông hết khóc luôn, :). Đúng ngay giao thừa, ba mẹ I vừa mới thắp nhang chưa kịp cúng vái là tiếng pháo nổi lên ầm ầm nói chuyện phải la hét khản cổ mới nghe được bên kia muốn nói gì. Rồi cả nhà đi chùa, mẹ & ba thì ở nhà chờ người xông đất nên đi sau. Trên đường đi chùa, không đâu là không nghe tiếng pháo, có lúc nghe 1 tràng dài có lúc nghe lẻ tẻ, nhưng hình như là không bao giờ ngơi nghỉ cho đến sáng trắng mùng 1 Tết. Lên đến chùa thì chao ôi, người không là người, ai ai cũng hớn hở, có lỡ đụng trúng hay là đạp nhằm chân cũng vẩn vui vẻ bỏ qua, Tết nhất mà chấp nhất làm gì, ai cũng nói vậy. Cái màn giả bộ đạp nhằm chân này I làm hoài, mấy cô thì mặt nhăn như là khỉ ăn ớt nhưng cũng phải ráng cười không sao không sao. Chen được vào đến trong chánh điện thì mùi hương nồng nặc, khói ngút trời làm mắt cay sè. Thắp nhang lạy Phật xong thì cũng còn cái vấn đề là cắm nhang ở đâu đây vì lư hương đã đầy nghẹt, phải ra cắm nhang trong lư hương ngoài trời. Những tiếng chúc mừng năm mới nghe không ngớt trên nguyên con đường về nhà. Một năm mới đã bắt đầu. :).

BangHuu
12-12-2002, 06:53 AM
Tết gần đến mà nghe Ize kể chuyện làm nhớ đến những năm được đón Xuân ở quê nhà thật nhiều.Ize viết hay quá,đọc mà như có phảng phất mùi pháo,mùi hương ,mùi bánh mứt đâu đây...Ở Cali dù mang tiếng là thủ đô người Việt chứ Tết cũng buồn lắm:
"Những người muôn năm cũ,
hồn ở đâu bây giờ?"

Saigonian
12-12-2002, 09:18 AM
Nghe Ize kể lại thiệt nhớ lại đến ngày xưa. Nhưng dù sao thì tất cả cũng đã qua. Ở Mỹ dù không vui thật, nhưng mình phải nên ráng giữ vững phong tục tập quán của dân tộc. Hơn gần 7-8 năm nay, ngày tết nào cũng phải đi làm, đi học. Tết năm nay mùng 1 sẽ vào ngày thứ Bảy cuối tuần. Vì vậy tất cả chung ta nên hãy cố gắng tạo không khi vui xuân năm mới trong gia đình mình. Như vậy thì cũng là một việc tốt để nhớ về quê hương.

MY-LINH
12-12-2002, 11:49 AM
MY-LINH có vài SƯU-TẦM mời các Bạn THƯƠNG THỨC

Tết Nguyên Đán

Một năm, người Việt có nhiều lễ, tết, riêng Tết Nguyên Đán (đúng mồng một tháng giêng âm lịch) là ngày tết lớn nhất nên còn được gọi là tất cả. Đây là thời điểm kết thúc mùa màng, mọi người rảnh rỗi nghỉ ngơi vui chơi, thăm viếng lẫn nhau... và cũng là lúc giao thời của đông tàn xuân tới.
Theo phong tục cổ truyền VN, Tết Nguyên Đán trước hết là tết của gia đình. Chiều 30 tết, nhà nhà làm lễ cúng "rước" gia tiên và gia thần, thể hiện tình cảm uống nước nhớ nguồn. Trong 3 ngày tết diễn ra 3 cuộc gặp gỡ lớn ngay tại một nhà. Thứ nhất là cuộc "gặp gỡ" của các gia thần: Tiên sư hay Nghệ sư - vi tổ đầu tiên dạy nghề gia đình mình đang làm. Thổ công - thần giữ đất nơi mình ở và Táo quân - thần coi việc nấu ăn của mọi người trong nhà.
Thứ hai là cuộc "gặp gỡ" tổ tiên, ông bà... những người đã khuất. Nhân dân quan niệm hương hồn người đã khuất cũng về với con cháu vào dịp Tết.
Thứ ba là cuộc gặp gỡ của những người trong nhà. Như một thói quen linh thiêng và bền vững nhất, mỗi năm tết đến, dù đang ở đâu làm gì... hầu như ai cũng mong muốn và cố gắng trở về đoàn tụ với gia đình.
2. Tết Khai hạ
Theo cách tính của người xưa, ngày mùng Một tháng Giêng ứng vào gà, mùng Hai - chó, mùng Ba - lợn mùng, Bốn - dê, mùng Năm - trâu, mùng Sáu ngựa, mùng Bảy - người, mùng Tám - lúa. Trong 8 ngày đầu năm cứ, ngày nào sáng sủa thì coi như giống thuộc về ngày ấy cả năm được tốt. Vì vậy, đến mùng Bảy, thấy trời tạnh ráo thì người ta tin cả năm mọi người sẽ gặp may mắn, hạnh phúc.
Mùng Bảy kết thúc Tết Nguyên Đán thì cũng là lúc bắt đầu Tết Khai hạ - Tết mở đầu ngày vui để chào mùa Xuân mới.
3. Tết Thượng nguyên
Tết Thượng nguyên (Tết Nguyên tiêu) vào đúng rằm tháng Giêng-ngày trăng tròn đầu tiên của năm. Tết này phần lớn tổ chức tại chùa chiền vì Rằm tháng Giêng còn là ngày vía của Phật tổ. Thành ngữ: Lễ Phật quanh năm không bằng Rằm tháng Giêng" xuất phát từ đó. Sau khi đi chùa, mọi người về nhà họp mặt cúng gia tiên và ăn cỗ.
4. Tết Hàn thực
"Hàn thực" nghĩa là ăn đồ nguội. Tết này, vào ngày mùng Ba tháng Ba (âm lịch).
Thời Xuân Thu ở Trung Quốc, Công tử Trung Nhĩ (về sau là vua Tấn Văn Công) khi gặp cảnh loạn lạc, đói quá, được Giới Tử Thôi cắt thịt đùi mình nấu dâng cho ăn. Sau 19 năm phiêu bạt, Trung Nhĩ lại trở về nắm giữ vương quyền nước Tần. Vua ban thưởng cho tất cả những người đã cùng mình nếm mật nằm gai, nhưng lại quên mất Tử Thôi! Tử Thôi đưa mẹ vào sống ở núi Điền. Lúc vua nhớ ra, cho người tới mời mà không được. Vua sai đốt rừng để Tử Thôi phải ra. Nhưng Tử Thôi không chịu và hai mẹ con cùng chết cháy! Đau xót, vua sai lập miếu thờ trên núi. Hôm ấy đúng ngày mùng Ba tháng Ba.
Người đời thương Tử Thôi nên mỗi năm, đến ngày đó thì kiêng đốt lửa mà chỉ ăn đồ nguội đã nấu sẵn.
Từ thời Lý (1010 - 1225) nhân dân ta đã tiếp nhập Tết này và thường làm bánh trôi, bánh chay để thay cho đồ nguội. Nhưng mục đích chủ yếu là để cúng gia tiên chứ ít ai rõ chuyện Giới Tử Thôi! Hiện nay, Tết này vẫn còn đậm nét ở miền Bắc, nhất là tại các vùng thuộc tỉnh Hà Tây.
5. Tết Thanh Minh
"Thanh Minh trong tiết tháng Ba
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh"
(truyện Kiều)
"Thanh Minh" có nghĩa là trời trong sáng. Nhân có người ta đi thăm mồ mả của những người thân. Tết Thanh minh - thường vào tháng Ba âm lịch - trở thành lễ tảo mộ. Đi thăm mộ, nếu thấy cỏ rậm thì phát quang, đất khuyết lở thì đắp lại cho đầy... rồi về nhà làm cỗ cúng gia tiên.
6. Tết Đoan ngọ
Tết Đoan ngọ (Tết Đoan dương) vào mùng Năm tháng Năm (âm lịch).
Khuất Nguyên - nhà thơ, một vị trung thần - do can ngăn vua Hoài Vương không được, đã uất ức gieo mình xuống sông Mịch La tự vẫn. Hôm ấy đúng là mùng Năm tháng Năm. Thương tiếc người trung nghĩa, mỗi năm cứ đến ngày đó, dân Trung Quốc xưa lại làm bánh, quấn chỉ ngũ sắc bên ngoài (ý làm cho cá sợ, khỏi đớp mất) rồi bơi thuyền ra giữa sông, ném bánh xuống cúng Khuất Nguyên. Ở Việt Nam, ít người biết chuyện Khuất Nguyên, mà chỉ coi mùng Năm tháng Năm là "Tết giết sâu bọ"- vì trong giai đoạn chuyển mùa, chuyển tiết, dịch bệnh dễ phát sinh. Vào ngày này, dân gian có nhiều tục trừ trùng phòng bệnh. Lấy lá ngải cứu (một vị thuốc Nam), năm nào thì kết hình con vật tượng trưng năm đó (năm Thân - kết con khỉ và gọi là Hầu Tử, năm Dần - kết con cọp và gọi là Ngài Hổ...) treo lên giữa nhà để trừ tà. Về sau, khi có bệnh, lấy lá đó sắc làm thuốc. Lại có tục đi hái lá thuốc mồng năm (ích mẫu, mâm xôi, cối xay, vối) sắc uống vào giờ Ngọ, còn để dành nấu uống quanh năm.
7. Tết Trung nguyên
Tết Trung nguyên vào Rằm tháng Bảy. Người xưa tin theo sách Phật, coi hôm ấy là ngày vong nhân được xá tội, ngày báo hiếu cha mẹ... nên tại các chùa thường làm chay chẩn tế và cầu kinh Vu lan. Vào ngày Rằm tháng 7 âm lịch có 2 ngày lễ cúng:
- Lễ cúng được truyền tụng lâu đời trong dân gian: "Tháng 7, ngày rằm xá tội vong nhân" (tha tội cho tất cả người chết), nhiều người gọi là cúng cô hồn các đẳng. Quan niệm dân gian cho rằng đây là lễ cúng những linh hồn vật vờ lang thang không nơi nương tựa, không còn người thân ở trần gian để thờ phụng hoặc thất lạc, hoặc vì một oan khiên nào đó...
- Cũng ngày Rằm tháng Bảy còn có lễ Vu lan, xuất phát từ tích truyện Đại Mục Kiều Liên. Vu lan được coi là lễ cầu siêu giải thoát cho ông bà cha mẹ bảy đời, xuất phát từ lòng báo hiếu. Trong những năm gần đây, trong lễ Vu lan còn có tục "Bông Hồng cài áo" thể hiện lòng hiếu thảo của con đối với cha mẹ.
8. Tết Trung thu
Tết Trung thu vào Rằm tháng Tám. Trung thu là tết của trẻ con nhưng người lớn cũng nhân đây mà họp mặt, uống rượu, uống trà, ngắm trăng... Thường ban ngày người ta làm lễ cúng gia tiên, tối mới bày hoa quả, bánh kẹo, chè cháo để trẻ con vui chơi, phá cỗ, trông trăng, rước đèn...
9. Tết Trùng cửu
Mùng Chín tháng Chín (âm lịch) là Tết Trùng cửu. Tết này bắt nguồn từ sự tích của đạo Lão. Thời Hán, có người tên gọi là Hoàn Cảnh, đi học phép tiên. Một hôm thầy bào Hoàn Cảnh khuyên mỗi người trong nhà nên may một túi lụa đựng hoa cúc, rồi lên chỗ cao mà trú ngụ. Quả nhiên, ngày Chín tháng Chín có lụt to, ngập hết làng mạc. Nhờ làm theo lời thầy, Hoàn Cảnh và gia đình thoát nạn.
Từ xưa, nho sĩ nước ta đã theo lễ này, nhưng lại biến thành cuộc du ngoạn núi non, uống rượu cúc - gọi là thưởng Tết Trùng dương.
10. Tết Trùng thập
Đây là Tết của các thầy thuốc. Theo sách Dược lễ thì đến ngày Mười tháng Mười, cây thuốc mới tụ được khí âm dương, mới kết được sắc tứ thời, trở nên tốt nhất. Ở nông thôn Việt Nam, đến ngày đó người ta thường làm bánh dày, nấu chè kho để cúng gia tiên rồi đem biếu những người thân thuộc chứ không quan tâm mấy đến chuyện cây thuốc, thầy thuốc!
11. Tết Hạ nguyên
Tết Hạ nguyên (Tết Cơm mới) vào Rằm hay mùng Một tháng Mười. Ở nông thôn, Tết này được tổ chức rất lớn vì đây là dịp nấu cơm gạo mới - trước để cúng tổ tiên, sau để tự thưởng công cày cấy.
12. Tết Táo quân
Tết Táo quân vào ngày 23 tháng Chạp - người ta coi đây là ngày "vua bếp" lên chầu Trời để tâu lại việc bếp núc, làm ăn, cư xử của gia đình trong năm qua.
Theo truyền thuyết, xưa có hai vợ chồng nghèo khổ quá, phải bỏ nhau. Sau đó, người vợ lấy được chồng giàu. Một hôm, đang đốt vàng mã ngoài sân, thấy một người vào ăn xin, nhận ra chính là chồng cũ nên người vợ động lòng, đem cơm gạo, tiền bạc ra cho. Người chồng mới biết chuyện, nghi ngờ vợ. Người vợ đâm khó xử, lao vào bếp lửa tự vẫn. Người chồng cũ nặng tình, cũng nhảy vào lửa chết thao. Người chồng mới ân hận, đâm đầu vào lửa nốt! Trời thấy ba người đều có nghĩa nên phong cho họ làm "vua bếp". Từ tích đó mới có tục thờ cúng "Táo quân" và trong dân gian có câu: "Thế gian một vợ một chồng, không như vua bếp hai ông một ba"õ. Ngày nay cứ đến phiên chợ 23 tháng Chạp hàng năm, mỗi gia đình thường mua hai mũ ông, một mũ bà bằng giấy và 3 con cá làm "ngựa" (cá chép hóa rồng) để Táo quân lên chầu trời. Sau khi cúng trong bếp, mũ được đốt và 3 con cá chép được mang thả ở ao, hồ, sông...




Tết và các kiểu tặng quà Tết


Tặng quà cho nhau trong mỗi dịp xuân về, Tết đến là một nét đẹp văn hóa truyền thống vốn có từ lâu đời của các dân tộc trên thế giới. Tùy theo phong tục, tập quán và bản sắc văn hoá riêng của mỗi nước, mỗi dân tộc, mỗi vùng mà người dân có một tập tục tặng quà Tết của mình.

Ở Việt Nam : Tặng quà Tết không chỉ đơn thuần là quan hệ tình cảm mà còn biểu hiện nhưư một phép ứng xử của đạo lý làm người.

Ở Indonesia : Phần đông người dân ở đây theo đạo Hồi, trong những ngày Tết họ có tục lệ nhịn ăn, bớt tiêu để mua phẩm vật tặng cho những người nghèo, trẻ mồ côi và người già không nơi nương tựa. (Phượng Các đâu rồi ??)

Ở Phi Châu : Cư dân quần đảo Cơ-Rít đến thăm nhau trong ngày Tết, người ta thường mang đến một tảng đá to, đặt lên bàn tiệc mùa xuân của gia đình bạn rồi nói với bạn những lời chúc tốt đẹp nhân dịp xuân về. Cuối lời chúc bao giờ cũng có câu: "Mong sao năm mới sẽ có khối vàng nặng như tảng đá này đến nhà bạn ". (hí hí ... ai trồng khoai xứ này nữa ?


Ở Bulgari : Những ngày Tết bạn bè đến thăm nhau, người ta lại mang tặng nhau những "cành son thù du" thay cho lời cầu chúc một năm mới tốt lành, hạnh phúc. Ngoài ra người Bulgari còn có một tục lệ khác khá độc đáo, ngày Tết khách đến nhà chơi mà hắt hơi là sẽ mang lại hạnh phúc cho gia đình. Chủ nhà lập tức đáp lễ, tặng lại bạn mình một con gà, con bê hay con ngựa con đầu tiên, vừa mới sinh ra trong gia đình mình.

Ở Hungary : Sáng mồng một Tết, khi cả nhà quây quần bên bàn tiệc tất niên, con cháu sẽ kính cẩn tặng ông bà, cha mẹ những cuốn sách quý mới xuất bản trong năm, hoặc những đôi tất ấm và khăn quàng mùa đông để bày tỏ tấm lòng hiếu thảo của mình. Trẻ em thì đưược tặng xe trượt tuyết, hoặc những đồ chơi đặc biệt mà ông bà, cha mẹ thấy con cháu mình thích nhất.

Tại một số vùng nông thôn nước Pháp: Bạn bè thân quen đến thăm nhau ngày Tết, thường mang tặng cho nhau những thanh củi lớn, tượng trưng cho sự ấm cúng, hạnh phúc của năm mới. Ở miền nam nước Pháp còn đang lưu truyền một tục lệ đẹp, sáng mồng một Tết, người phụ nữ đầu tiên trong làng ra bến lấy nước sẽ để lại ở đấy một chiếc bánh ngọt do mình tự tay làm. Người thứ hai đến sẽ lấy chiếc bánh đó đi và để lại chiếc bánh của mình. Cứ thế mà những ngày đầu xuân, các bà nội trợ trong làng đã trao đổi với nhau những chiếc bánh ngon lành, vừa để chúc mừng nhau năm mới, vừa để khoe tài nội trợ của mình. (Ngô Đồng ơi ... bánh chín chưa ??

Ở Sudan : Ngày tết đi thăm bạn bè, người ta sẽ chọn mang đến tặng nhau những món quà mà họ biết là bạn sẽ thích nhất, nhưng phải kèm theo một "cành hồ đào" thì tặng phẩm mới có giá trị. Bởi vì ở xứ sở này, "cành hồ đào" là biểu tượng của những gì tốt đẹp nhất để chúc mừng nhau nhân dịp năm mới.


Ở Scotland Trong đêm giao thừa và ngày mồng một Tết, tất cả mọi gia đình đều mở rộng cửa để đón khách đến chúc Tết. Bạn có thể ghé vào bất cứ nhà nào cũng đưược tiếp đãi nhiệt tình và mời ăn uống no say, nhưng bạn hãy nhớ mang theo một hòn than đá ném vào lò sưởi của gia đình chủ với lời chúc: "Mong rằng ngọn lửa trong nhà này sẽ cháy mãi không bao giờ tắt", câu nói này có nghĩa là bạn đã chúc cho cả nhà gia chủ một năm mới đầm ấm và hạnh phúc... (khà khà ...)

Ở Scotland Trong đêm giao thừa, người ta thắp sáng hàng ngàn, hàng vạn ngọn nến trên khắp bờ biển để tế Nữ thần Biển cả. Trong giờ phút thiêng liêng của ngày đầu năm mới, phụ nữ ở đây mặc những chiếc váy dài trắng tinh, ôm những bó hoa tươi thắm đủ màu sắc ra đặt ở bãi biển. Những đợt sóng biển trong đêm cứ lớp lớp nối tiếp nhau, tiến vào bờ cát rồi rút về biển cả bao la, sẽ mang theo những bó hoa mùa xuân tươi thắm để dâng tặng cho Nữ Thần đại dương. (Ở Dallas xa biển quá, H.P nờ !)

... Khắp nơi từ Đông sang Tây, mỗi đất nước, mỗi dân tộc đều có tục lệ và cách tặng quà Tết độc đáo riêng của mình. Nhưng tất cả đều chung một mục đích đem lại cho mọi người một sự may mắn, một niềm vui khi năm mới đến. Thông qua việc đem tặng nhau những món quà đầu năm, ở đâu con người cũng muốn gởi gắm đến nhau tất cả tình cảm thương nhớ, tấm lòng quí trọng và nỗi biết ơn chân thành của mình....


Nguyễn Hường





http://www.vietcyber.net/main/images/xmastree.gif

Trung Quốc
12-12-2002, 01:53 PM
Tết nguyên đán có từ bao giờ?

Nguồn gốc Tết Nguyên Đán, hay nói ngắn hơn là Tết có từ đời Ngũ Đế, Tam Vương.

Đời Tam Vương, nhà Hạ, chuộng mẫu đen, nên chọn tháng đầu năm, tức tháng Giêng, nhằm tháng Dần.

Nhà Thương, thích màu trắng, lấy tháng Sửu (con trâu), tháng chạp làm tháng đầu năm.

Qua nhà Chu (1050-256 trước công nguyên), ưa sắc đỏ, chọn tháng Tý (con chuột), tháng mười một làm tháng Tết.

Các vua chúa nói trên, theo ngày giờ, lúc mới tạo thiên lập địa: nghĩa là giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người mà đặt ra ngày tết khác nhau.

Đến đời Đông Chu, Khổng Phu Tử ra đời, đổi ngày tết vào một tháng nhất định: tháng Dần.

Mãi đến đời Tần (thế kỷ III trước Công nguyên), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi (con lợn), tức tháng Mười.

Cho đến khi nhà Hán trị vì, Hán Vũ Đế (140 trước Công nguyên) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần (tức tháng Giêng) như đời nhà Hạ, và từ đó về sau, trải qua bao nhiêu thời đại, không còn nhà vua nào thay đổi về tháng Tết nữa.

Đến đời Đông Phương Sóc, ông cho rằng ngày tạo thiên lập địa có thêm giống Gà, ngày thứ hai có thêm Chó, ngày thứ ba có Lợn, ngày thứ tư sinh Dê, ngày thứ năm sinh Trâu, ngày thứ sáu sinh Ngựa, ngày thứ bảy sinh loại Người và ngày thứ tám mới sinh ra ngũ cốc.

Vì thế, ngày Tết thường được kể từ ngày mồng Một cho đến hết ngày mồng bảy.

Trung Quốc
12-12-2002, 01:53 PM
Ngày Tết có những phong tục gì?

Dân tộc ta có nhiều ngày Tết. Tết là cách nói tắt hai chữ lễ tiết. Có Tiết Thương Nguyên, Trung Nguyên, Hạ Nguyên, Thanh Minh, Đoan Ngọ, TrungThu... Ngày tết nêu ở đây tức là nói tắt Lễ tiết Nguyên Đán (ngày đầu năm).

Ngày Tết, dân tộc ta có nhiều phong tục hay, đáng được gọi là thuần phong như khai bút, khai canh, hái lộc, chúc tết, du xuân, mừng thọ... Từ trẻ đến già ai ai cũng biết, không nhắc thì thanh thiếu niên cũng mua cho được cành hoa bánh pháo, nghèo cũng có chiếc bánh chưng, chai rượu. Vì vậy xin miễn liệt kê dài dòng, để trao đổi một vài phong tục đáng được duy trì phát triển.

Tống cựu nghênh tân: Cuối năm quét dọn sạch sẽ nhà cửa, sân ngõ, vứt bỏ những thứ rác rưởi, cùng làng xóm dọn dẹp nhà thờ, đình chùa, đường sá phong quang, tắm giặt, cắt tóc, may sắm quần áo mới, trang trí bàn thờ, lau chùi bàn ghế ấm chén và mọi thứ thức ăn vật dụng.

Nhiều gia đình nhắc nhở, dặn dò con cháu từ phút giao thừa trở đi không quấy khóc, không nghịch ngợm, cãi cọ nhau, không nói tục chửi bậy, không vứt rác viết vẽ bừa bãi. Cha mẹ, anh chị cũng không quở mắng, tra phạt con em, đối với ai cũng tay bắt mặt mừng, vui vẻ niềm nở dầu lạ dầu quen.

Đối với bà con xóm giềng dù trong năm cũ có điều gì không hay không phải, điều nặng tiếng nhẹ hay xích mích gì đều xúy xoá hết. Dầu có thực lòng hay không nhưng không để bụng, cũng không ai nói khích bác hoặc bóng gió, ác ý gì trong những ngày đầu năm. Dẫu mới gặp nhau ít phút trước, nhưng sau phút giao thừa coi như mới gặp, người ta chúc nhau những điều tốt lành.

Hái lộc, xông nhà, chúc tết, mừng tuổi: Ai cũng hy vọng một năm mới tài lộc dồi dào, làm ăn thịnh vượng, mạnh khỏe tiến bộ, thành đạt hơn năm cũ. Lộc tự nhiên đến, đi hai lộc (chỉ là một cành non ở đình chùa, ở chốn tôn nghiêm mang về nhà), tự mình xông nhà hoặc dặn trước người "Nhẹ vía" mà mình thích đến xông nhà. Bạn nào vinh dự được người khác mời đến xông thì nên chú ý, chớ có sai hẹn sẽ xúi quẩy cả năm đối với gia đình người ta và cả đối với bạn. Ở thành thị thời trước, sáng mồng một, có một số người nghèo gánh một gánh nước đến các gia đình giầu có lân cận và chúc họ "Lộc phước dồi dào". Những người này được thưởng tiền rất hậu. Nhiều người không tin tục xông nhà nhưng cũng phải dè dặt, chưa dám đến nhà ai sớm, sợ trong năm mới gia đình người ta xảy ra chuyện gì không hay đổ tại mình "Nặng vía". Chính vì vậy, đáng lẽ sáng mồng một đông vui lại hoá ít khách, trừ những nhà đã tự xông nhà, vì tục xông nhà chỉ tính người đầu tiên đến nhà, từ người thứ hai trở đi không tính.

Sau giao thừa có tục mừng tuổi chúc Tết. Trước hết con cháu mừng tuổi ông bà, cha mẹ. Ông bà cha mẹ cùng chuẩn bị một ít tiền để mừng tuổi cho con cháu trong nhà và con cháu hàng xóm láng giềng, bạn bè thân thích. Lời chúc có ca có kệ hẳn hoi nhưng xem người ta thích nhất điều gì thì chúc điều đó, chúc sức khoẻ là phổ biến nhất. Chú ý tránh phạm tên huý gia tiên, tránh nhắc tới lỗi lầm sai phạm cũ, xưng hô hợp với lứa tuổi và quan hệ thân thuộc. Chúc Tết nhưng người trong năm cũ gặp rủi ro tai hoạ thì động viên nhau "Của đi thay người", "Tai qua nạn khỏi", nghĩa là ngay trong cái hoạ cũng tìm thấy cái phúc, hướng về sự tốt lành. Kể cả đối với người phạm tội vẫn với thái độ nhẹ nhàng, khoan dung. Nhưng, nhìn chung trong những ngày đầu năm, người ta kiêng không nói tới điều rủi ro hoặc xấu xa.

Quanh năm làm ăn vất vả, ít có điều kiện qua lại thăm hỏi nhau, nhân ngày Tết đến chúc mừng nhau, gắn bó tình cảm thật là đặm đà ý vị; hoặc điếu thuốc miếng trầu, hoặc chén trà ly rượu, chẳng tốn kém là bao. Hiềm một nỗi, nhiều người còn quá câu nệ, công thức ruờm rà, không chủ động được kế hoạch. Nhiều vùng nông thôn, hễ đến chúc Tết nhau nhất thiết phải nâng ly rượu, nếm vài món thức ăn gì đó chủ mời vui lòng, năm mới từ chối sợ bị giông cả năm.

Quà Tết, lễ Tết: Bình thường qua lại hỏi thăm nhau có khi cũng có quà, biểu lộ mối ân tình, nhưng phong tục ta đi lễ Tết vẫn có ý nghĩa hơn, nhất là đi trước Tết càng quý. Loại trừ động cơ hối lộ quan trên để cầu danh cầu lợi thì việc biếu quà Tết, tổ ân nghĩa tình cảm là điều đáng quý. Học trò tết thầy giáo, bệnh nhân tết thầy thuốc, con rể tết bố mẹ vợ... quà biếu, quà Tết đó không đánh giá theo giá thị trường. Nhưng cũng đừng nên gò bó, câu nệ sẽ hạn chế tình cảm: Không có quà, ngại không dám đến. Dân tộc ta tuy nghèo nhưng vẫn trọng nghĩa tình, "Lời chào cao hơn mâm cỗ".

Lễ mừng thọ: Ở các nước Tây Âu thường mừng thọ vào dịp kỷ niệm ngày sinh, ở ta ngày xưa ít ai nhớ chính xác ngày sinh tháng đẻ nên vào dịp đầu xuân thường tổ chức mừng thọ lục tuần, thấp tuần, cửu tuần... tính theo tuổi mụ. Ngày tết ngày Xuân cũng là dịp mọi người đang rảnh rỗi, con cháu tụ tập đông vui.

Cũng vào dịp đầu xuân, người có chức tước khai ẩn, học trò sĩ phu khai bút, nhà nông khai canh, thợ thủ công khai công, người buôn bán mở hàng lấy ngày: Sĩ, Nông, Công, thương "Tứ dân bách nghệ" của dân tộc ta vốn cần cù, ai cũng muốn năm mới vận hội hành thôn làm ăn suôn sẻ, đầu xuân chọn ngày tốt đẹp, bắt tay lao động sớm, tránh tình trạng cờ bạc, rượu chè, hội hè đình đám, vui chơi quá đà. Sau ngày mồng một, dù có mãi vui tết, hoặc còn kế hoạch du xuân, đón khách, cũng chọn ngày "Khai nghề", "Làm lấy ngày". Nếu như mồng một là ngày tốt thì chiều mồng một đã bắt đầu. Riêng khai bút thì giao thừa xong, chọn giờ hoàng đạo bắt đầu không kể mồng một là ngày tốt hay xấu. Người thợ thủ công nếu chưa ai thuê mướn đầu nǎm thì cũng tự làm cho gia đình mình một sản phẩm, dụng vụ gì đó (nguyên vật liệu đã chuẩn bị sẵn). Người buôn bán, vì ai cũng chọn ngày tốt nên phiên chợ đầu xuân vẫn đông, mặc dầu người bán chỉ bán lấy lệ, người đi chợ phần lớn là đi chơi xuân.

Cờ bạc: Ngày xưa các gia đình có nề nếp quanh năm cấm đoán con cháu không được cờ bạc rượu chè nhưng trong dịp tết, nhất là tối 28, 29; gia đình quây quần bên nồi bánh chưng thì ông bố cho phép vui chơi, có cả trẻ con người lớn những nhà hàng xóm, những gia đình thân cận cùng vui. Tam cúc, cơ gánh, cờ nhảy, cờ tướng, kiệu, chắn, tổ tôm... ai thích trò nào chơi trò ấy. Đế lế khai hạ, tiễn đưa gia tiên, coi như hết Tết thì xé bộ tam cúc, thu bàn cờ tướng, cất bộ tổ tôm hoặc đốt luôn khi hoá vàng.

Tóm lại, ngày Tết là ngày tiêu biểu cho truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc. Giá như phát huy thuần phong mỹ tục đó, từ gia đình ra xã hội, ai ai cũng đối xử với nhau trên thuận dưới hoà, kính giá yêu trẻ... thì đất nước quê hương sẽ tươi đẹp, giàu mạnh, bộ máy pháp luật bớt đi bao nhiêu khó khăn.

Huynh Hoa
12-12-2002, 02:17 PM
Nice posts. Thanks everyone for sharing! :clap :clap :flower:

Tammy Nguyen
12-12-2002, 02:38 PM
T. nhớ Tết V.N rất là vui, trước đó nhà có làm 1 mâm cỗ cúng, rước ông bà về nhà, và có làm bánh chưng .Bánh chưng Ông Nội của T. làm xịn lắm , gói bằng tay 100% . Ông mà thấy ai gói bánh bằng khuôn là ông cau mày liền .:p

Trước tết mấy ngày là anh em T. được bà nội cho ra chợ để mua nếp thơm dẻo, đậu xanh , thịt , lá dong , và 1 ống nạt để về tháo ra làm giây cột bánh chưng .

Bà Nội thì bận vo gạo, đãi đậu, hấp đậu, giã đậu và ướp thịt cho thơm trong khi ông thì lom khom cắt giây, và xếp lá .
Anh em T. thì chỉ lon ton trong bếp đợi ông làm xong lấy cái ống của giây và vài cuống của lá dong, làm cờ cho màn giả bộ là Đinh Bộ Lĩnh & cờ lau tập trận :D:D

Sau đó thì cả nhà thức khuya cùng với lối xóm đốt lửa trước nhà nấu bánh chưng . Bếp được xây lên tạm thời bởi vài hòn gạch nung, và củi được dùng để đốt . Có năm rảnh thì bà còn gói ít bánh ú và vài cái bánh chưng chay . Vì bà N. của t. ăn chay vào ngày rằm và mùng một . Bánh chay thì đặc biệt có đậu xanh vài vài miếng đường thẻ , hâm cho chảy bỏ vào giữa đậu , vậy mà bánh rất thơm và dẻo .

Sau khi đun khoảng 12-14 tiếng thì bánh được vớt ra . T. nhớ là nhà có miếng ván to lắm, và vài viên gạch được xếp đè lên bánh . Ông bảo phải nén bánh cho chặt tay thì bánh mới dẻo và để lâu được . Còn nếu có nước ở trong thì bánh sẽ không chắc .

Nhà cũng hay mang bánh chưng đi biếu xui gia, họ hàng . T. nhớ là ăn hoài ăn hoài không hết cho đến mồng năm Tết thì nhà vì bắt đầu ngán ăn bánh chưng với củ kiệu, dưa hành cho nên xoay ra làm bánh chưng chiên . Bánh đuợc áp chảo cho hơi cháy và thật là nóng dòn , ăn vô béo không thể tưởng tượng đuợc

Qua bên này ba mẹ T. cũng làm nhưng mà tuy có nhiều thịt , gạo , bánh to hơn ở V.N, bên này lại không có không khí . Và vì con cái mỗi đứa đều có gia đình tán mát mọi nơi cho nên không còn cái màn sum tụ lại những đêm khuya trước 30 để mà nấu bánh và thưởng thức sự nhộn nhịp trước Tết nữa .

DiemThi
12-15-2002, 07:16 AM
nghe anh + chi. ke^? ve^` Te^'t VN mi`nh tha^'y vui qua' . DT ddi cu~ng lu'c co`n nho? ne^n o co' nho*' gi` nhie^`u :( , chi? co' la^`n DT nho*' nha^'t la` o bie^'t dde^m na`o ddo' trong nga`y Te^'t, DT ddi ngu? so*'m ma` Me. ba('t da^.y ddi ha'i Lo^.c nhu*ng vi` o muo^'n ddi ne^n cu*' kho` hoa`i, ro^`i chi. cu?a DT ddi la^'y pha'o....ddo^'t le^n..... tie^'ng pha'o ke^u ro^.n ra~ ....so*. qua' ne^n ti?nh gia^'c luo^n :) ....ddo' la` ky? nie^.m ma` DT nho*' nha^'t trong nga`y Te^'t lu'c co`n o*? VN . Va` thi'ch nha^'t la` Me. da('t ddi tha(m va` chu'c Te^'t mo.i ngu*o*`i , vi` la` be' nha^'t ne^n ddu*o*.c ra^'t nhie^`u li` xi` bo? trong bao ddo? ra^'t xinh, va` thi'ch nha^'t la` ddu*o*.c a(n mu*'t ddu? loa.i , co`n co' ho^.t du*a nu*~a chu*' . Nhu*ng muh khi qua dda^y va lo*'n le^n, tha^'y ca'i Te^'t cu~ng nhu* nga`y thu*o*`ng, nhu*ng DT u*a ddi chu`a vi` va^.y mo.i ngu*o*`i trong chu`a va^~n sinh hoa.t cho nga`y Te^'t cu~ng ra^'t vui, tuy cha('c o ba(`ng o*? VN.....nhu*ng cu~ng co' mo^.t ti' hu*o*ng vi. cu?a nga`y Te^'t dde^? cho nhu*~ng ngu*o*`i lo*'n le^n be^n dda^y, hay nhu*~ng be' sinh ra ta.i dda^y va^~n bie^'t ddu*o*.c mo^.t it' ve^` Te^'t VN .

lost-dude
12-15-2002, 01:14 PM
Quá trời luôn, đọc hỏng có hết. LD viết vài dòng (ít ít thôi) để cho vui.

Nguồn Gốc Tết của Người Việt Nam

Theo các nhà khảo cổ thì người Việt Nam ta có ăn tết rất lâu. Tìm từ những di tích còn để lại của tiên nhân, như các đồ đồng, thì ông bà ta ăn tết vào mùa thu. Nguyên nước ta là nước nông nghiệp, vào mùa gặt hái xong thì mọi người có một buổi lễ rất lớn để vui mùa màng đã qua, để chung vui, cũng như để cảm tạ ông trời và các thần linh. Đến khi nước Việt bị đô hộ, thì chúng tại bị buộc phải ăn tết vào mùa xuân, như người Hán.

Cái từ TẾT là từ chữ nho "Tiết." Ông bà ta nôm hóa nó, như bình=bằng, vị=vì... Tiết chỉ một mùa, như tứ thời tiết lập, hay chỉ ngày lễ, như tiết Trùng Thập. Tết Nguyên Đán đánh dấu ngày đầu của mùa đâu tiên trong năm. Chỉ có ngày "tết" này là toàn dân ăn mừng, còn những cái tết khác của người Tàu thì có một số người Việt ta ăn hay bay giờ không còn ăn. Một hai cái có tính cách tôn giáo.

Có rất nhiều cổ tục mà ngày nay người Việt chúng ta không còn lưu truyền, nhất là những nơi thành thị. Chẳng hạn như nghi thức phụng thờ Trời Đất vào lúc canh tý, sau 12:00 khuya. Vào lúc đó cả nhà thức dậy hay canh thức để ra ngoài trời bái lại tứ phương tám hướng, cầu ơn trời và những vị thần, từ nhất phẩm từ từ xuống những phẩm trật chót. Sau đó thì vào trong gia đình cúng quốc tổ các vị tiền hiền và tổ tiên. Đoạn đến là chúc tết ông bà, cha mẹ. Kế đến là việc $$$ lì xì ₫₫₫. Cuối cùng đi ăn bánh dày bánh chưng, trong Nam thì ăn bánh tét.

Trong mấy ngày Tết thì con cháu cũng lo ra mồ mã ông bà đốt nhan. Rồi đi lễ chùa, tháng đường, thánh thất hay những nơi phờ phượng khác. Kế đến là đi thăm họ hàng nội ngoại, bà con chòm xóm và thân hữa.

"Mùng một tết cha, mùng hai tết thầy, mùng ba tết chú." <--- Is that right, các anh chị?

Thôi quên rồi, không nói nữa. (Công nhận LD nói dóc hay thiệt, chẳng biết nói gì mà cũng viết được vài paragraphs.)

:cigar:

allena
12-15-2002, 02:20 PM
To Lost-dude

câu mà bạn viết theo như A biết là như thế nầy

" mồng một nhà mẹ nhà cha , mồng hai nhà vợ , mồng ba nhà thầy "

Ize
12-15-2002, 10:17 PM
Diễm Thi & Lost Dude không nhớ gì nhiều mà chỉ nhớ đến bao lì xì đỏ & $$$, vậy là hay quá rồi. Xin được nhiều như vậy thì chắc là 2 bạn phải có nhiều bản lảnh nịnh ... ý quên xin lỗi, nhiều câu chúc Tết cho ông bà cha mẹ cô chú bác anh chị rất là ngọt tai chứ ha. :) :) :)

DiemThi
12-16-2002, 06:25 PM
Ize :D :D :D

lost-dude
12-16-2002, 11:24 PM
Allena,

Câu LD nói hơi khác với cái câu đó của bạn. Nhưng cám ơn nhiều.


Ize,

Nói vậy mà năm mới tết đến có lì xì Lost Dude này không nè? LD accept cash, gift certificate, money order and any major credit card.

:dance:

kinder18
12-18-2002, 09:12 AM
Aida...no'i de^'n te^'t thi` kinder muo^'n di ve^` VN thang toi qua'....:cry: ..Nho*' te^'t VN qua' troi.

Tammy Nguyen
12-18-2002, 12:03 PM
Mâm Ngũ Quả

Source --- Phong tục "Dân gian (http://www.suutap.com/dangian/default.asp?id=403)

Mâm ngũ quả ngày tết



Mỗi năm, cứ vào dịp Tết Nguyên đán, trên bàn thờ mọi gia đình người Việt đều bày mâm ngũ quả. Với màu sắc rực rỡ, hình dáng độc đáo cùng những ý nghĩa sâu xa, mâm ngũ quả làm cho ngày Tết sinh động hơn, thiêng liêng hơn...

Theo quan niệm của người phương Đông xưa, thế giới được tạo nên từ 5 bản nguyên - gọi là "ngũ hành": kim (kim loại), mộc (gỗ), thuỷ (nước), hoả(lửa), thổ (đất). Tư tưởng cùng hình ảnh "ngũ hành" xâm nhập sâu sắc vào đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của các dân tộc phương Đông với rất nhiều biểu hiện - một trong số đó là tục lệ thờ mâm ngũ quả ngày Tết của người Việt Nam.

Mâm ngũ quả truyền thống của người Việt thường chỉ gồm 5 loại quả, được xếp kiểu hình tháp lên đĩa to hoặc mâm, đặt trên bàn thờ. Ngày nay, cuộc sống hiện đại cùng sự giao lưu phong tục làm cho mâm ngũ quả ít nhiều biến đổi: số quả có thể nhiều hơn 5, cách xếp tự do hơn, trang trí hoa lá, cắm nến để tạo ánh sáng, kết những dây đèn điện tử nhiều màu xung quanh... Tất cả các loại quả trong dịp Tết đều có thể đem bày: chuối, bưởi, phật thủ, dưa hấu, cam, quýt, dừa, na, trứng gà, hồng xiêm, táo v.v... Mỗi loại quả mang một ý nghĩa riêng: nải chuối, phật thủ như bàn tay che chở; bưởi, dưa hấu căng tròn, mát lành hứa hẹn năm mới đầy ngọt ngào, may mắn; hồng, quýt rực lên màu sắc mạnh mẽ, tượng trưng cho sự thành đạt...

Mâm ngũ quả ở miền Bắc nhìn chung nhỏ hơn mâm ngũ quả ở miền Nam và không thể thiếu 3 loại quả: chuối, bưởi, quýt (hoặc cam). Mâm ngũ quả miền Nam thì khó có thể thiếu cặp dưa hấu và 4 loại quả: mãng cầu (na), dừa, đu đủ, xoài, bởi vì cầu - dừa - đủ - xoài theo tiếng người miền Nam có nghĩa là "cầu vừa đủ xài" - mong ước phổ biến nhất của họ trong năm mới ! Một số nhà lại bày thêm trên mâm ngũ quả bình thường một chùm sung và quả đu đủ với ngụ ý cầu mong cuộc sống gia đình sẽ luôn "đầy đủ, sung túc".

Mâm ngũ quả làm cho quang cảnh Tết và không gian thờ cúng thêm ấm áp, rực rỡ mà hài hoà với màu xanh mát của dưa hấu, đỏ rực của hồng, nâu mịn của hồng xiêm, vàng tươi của bưởi, cam, dứa... Nó thể hiện sinh động ý nghĩa triết học - tín ngưỡng - thẩm mỹ ngày Tết cùng những ước vọng lạc quan mà mỗi gia đình mang theo khi bước vào năm mới.


Linh Quang

Tammy Nguyen
12-18-2002, 12:06 PM
Cây Nêu Ngày Tết

Source -- như trên

Có nhiều truyền thuyết, ca dao, tục ngữ về tục dựng cây nêu trước nhà của các dân tộc Việt Nam mỗi dịp Tết Nguyên đán, song trong đời sống, nó vẫn lạ lẫm với nhiều người bởi ngày nay tập tục xưa đã không còn nữa. Cây nêu được coi là cây vũ trụ nối liền đất với trời, do tín ngưỡng thờ thần mặt trời của các dân tộc cổ sơ, hàm chứa ý thức về lãnh thổ của người Việt. Dựng nêu ngày Tết là để trừ ma, quỷ, thờ phụng thần linh và vong hồn tổ tiên.

Ngày nay, người Việt Nam đã bỏ thói quen dựng nêu ngày Tết. Nhưng xưa kia, mỗi lần năm mới đến là phải cắm nêu: Cao nêu, kêu pháo, bánh chưng xanh là những biểu tượng đón xuân không thể thiếu được. Nhưng nêu là thế nào? Vì sao phải dựng nêu? Câu chuyện thực ra cũng không đơn giản.

Hãy nói đến cây nêu. Nêu là một cái cây cao, vào dịp năm mới, phải đem ra cắm ở trước sân (hoặc trước cổng, hoặc giữa vườn dóng với cổng chính của nhà). Phải tìm cây cho thích hợp chứ không phải là trồng trước. Nêu dựng vào khoảng chiều ngày 30 tháng Chạp. (Có nhà có thể dựng trước) - cho đến ngày 7 tháng Giêng thì hạ nêu. Các dân tộc đều có nêu:

- Nêu của người Việt là một cây tre, cao hơn nóc nhà, từ gốc đến ngọn phải róc cành cho trơn tru. Cây tre càng thẳng càng quý. Trên ngọn cây, treo một cái giỏ trong có sẵn trầu cau, vàng mã... gắn quanh cái giỏ ấy có thêm một chùm lá dứa, những cái đèn xếp và những tua giấy mầu đỏ, mầu vàng. Cây nêu hiên ngang, cao vút, chiếm lĩnh không gian của cả nhà, cả vườn, gây ấn tượng huy hoàng và cao đẹp.

- Nêu của người Mường cũng là cây tre, nhỏ hơn, có nhiều lá hơn cây nêu Việt một chút. Ngọn nêu buộc một que ngang, treo hai chuỗi vòng, người ta gọi là hoa nêu. Các vòng này đều là vòng tre tiện mỏng, nhiều ít tùy tiện. Người ta gọi đó là chuỗi "của", tượng trưng cho của cải sung túc của gia đình.

- Nêu của người Co (Tây Nguyên) thường cắm trong các đám lễ hội Đâm trâu. Cây nêu phải là một đoạn của cây trò, nối với một đoạn của cây lồ ô. Ngọn nêu treo một lá phướn. Trên lá phướn lại là hình một con chim (đan bằng tre). Con chim ấy phải là chim chèo bẻo, tượng trưng cho sự hùng mạnh.

- Nêu của người Hoa, chịu ảnh hưởng của lý thuyết đạo giáo nhiều hơn. Nêu được gọi là cây phù đào (phù có nghĩa là bùa). Chuyện kể là cung của bà Tây Vương Mẫu có trồng cây đào. Thần ngự ở cây này chuyên bắt các loại quỷ dữ. Có cây phù đào, là có thần trấn giữ, quỷ không dám đến. Vì vậy, mà nhà người Hoa không có điều kiện trồng nêu, người ta có thể bẻ cành đào treo trước cửa.

Có thể kể thêm tập tục nhiều dân tộc nữa. Nhưng có thể thấy một khuynh hướng tâm linh chung. Trồng nêu như vậy là để trừ tà ma quỷ quái.

Thật ra thì trồng nêu chỉ là dấu vết của tín ngưỡng thờ thần mặt trời của các dân tộc cổ sơ. Mặt trời cao vòi vọi, đem lại ánh sáng và sự sống cho nhân loại. Cây nêu là để sùng bái thần mặt trời. Cây nêu cũng là một dạng cây vũ trụ như những cây hoa tượng trưng của các dân tộc trong những ngày lễ hội. Cây nêu là một hình thức tượng trưng khác, gọn hơn, mang ý nghĩa của yên vui hạnh phúc cho cả loài người. Chuyện trồng nêu, từ đầu không có ý nghĩa mê tín như nhiều người lầm tưởng.

Không biết trên thế giới có nhiều chuyện cổ về cây nêu không, chứ câu chuyện Việt Nam thì quả là đặc sắc. Từ những ngày Trời tháng Bụt nào đó, người Việt Nam đã có ý thức về lãnh thổ của quê hương mình. Đất đai này, vườn tược này là của người Việt Nam, không thể để cho lũ quỷ nào xâm phạm. Mỗi năm mới đến là một lần khẳng định lại quyền độc lập của mình. Trời thì có thiên thư (Tiệt nhiên định phận tại thiên thư!). Phật thì có áo cà sa để hỗ trợ cho niềm tin. Còn về mặt ngôn ngữ, từ "nêu" cũng quả là dồi dào ý nghĩa. Nêu là giương cao, là khẳng định. Nêu thì phải nêu cao, chứ không nêu thấp bao giờ. Ngay ở chỗ thấp mà cắm nêu, thì cũng là để rõ cái ý cao! Ngày nay người Việt Nam không theo cái tục trồng nêu nữa, nhưng phải chăng mọi việc làm của chúng ta cũng hướng tới "nêu một thành tựu nhất định". Hải Thượng Lãn Ông quyết tâm "Nêu một lá cờ trong y giới" (Y âm án) là một thí dụ rõ ràng.


Vũ Ngọc Khánh

Ize
12-18-2002, 03:57 PM
Lost-Dude, bây giờ ngày Tết nghĩ đến lì xì cho đám cháu là rùng mình rồi, Lost-Dude cứ từ từ xếp hàng đi, rồi sẽ tới phiên mà, :) :) cùng lắm là chỉ chậm 1 vài ngày thôi :) :)

WLP
01-26-2008, 12:07 AM
CHÂN DUNG & CHÂN TƯỚNG CỦA TÁO QUÂN

Thứ tư ngày 30 Jan 2008 là ngày 23 tháng chạp, nghĩa là ngày TIỄN ÔNG TÁO! Không biết ở hải ngoại, còn mấy người nhớ đến Ông Táo hay ông Vua Bếp. Lý do là chúng ta bây giờ dùng khí đốt, điện khí, dùng microwave để làm nấu nướng thức ăn, ít khi suy nghĩ lại vấn đề dùng Ngọn Lửa Thiên nhiên đốt bằng củi của bao nhiêu thiên niên kỷ đã mang nhiều biến thiên sắc thái ăn sâu về phong tục văn hóa. Chúng ta bây giờ không còn nhớ đến Cái Bếp cổ truyên dựng trên ba cái đồ rau, cái kiềng sắt 3 chân, cái hỏa lò đất nung, cái lò lớn chính của gia đình. Vả lại vì sinh họat làm lụng, chúng ta bây giờ càng ngày càng bớt nấu nướng ở nhà vì ăn thức ăn chế biến sẵn, ăn tiệm… Vai trò người phụ nữ không còn là người nội trợ, người đầu bếp … Bếp lửa gia đình vô hình chung đã biến mất, và có thể ngọn lửa ân tình trở nên nguội ngắt để rồi dễ đi tới ly tan, vợ chồng con cái không còn tìm lại cái ấm áp của gia đình chăng?

Bây giờ, chúng ta hãy nhân dịp cuối năm trở về sự tích cổ của Á Đông tìm hiểu chân dung và chân tướng của Ông Táo là ai? Để tìm hiểu hoàn cảnh Một Bà Hai Ông của gia đình ông ra sao? Ý nghĩa của vai trò Táo Quân trên mặt văn hóa Cổ Á Đông ra sao?



Theo niềm tin cổ xưa, vũ trụ cũng giống như một triều đình, trên có Vua, dưới có Quan trực tiếp cai quản người dân., nghĩa là trên hết có Ngọc Hòang Thượng Đế trên thiên đinh, ở hạ giới có chư vị thần linh coi sóc nhân gian ở hạ giới nào là thần lửa, thần núi, thần đất, thần sông, thần gió và đương nhiên có ông thần bếp hay còn gọi bằng nhiều tên như là Táo Công ,Táo Quân, mà dân VN gọi nôm na là Vua Bếp.

Theo tin tưởng nguyên thủy của dân Trung Hoa, thì chỉ thờ cúng duy nhất một ông Táo Quân thôi mà họ gọi là Táo Vương Gia hay Tư Mệnh chi thần… Vị này chính là “một đặc sứ tòan quyền” do Ngọc Hòang phái xuống coi sóc và phù trợ cho những người trong mỗi gia đình nên thường được nguời Tầu thờ bằng một bức tranh giấy điều vẽ hình của ông mặt mày hiền phúc dán trong bếp, bên trên ghi 4 chữ Tư Mệnh chi Thần ( thần chăm sóc về mạng sống) . Hai bên ông có hai vị tiên đồng bưng hai cái bình, một bên là bình Thiện, một bên là bình Ác để ông ghi chép hành vi xấu hay tốt rồi bỏ vào đó. Mỗi năm vào ngày 23 tháng Chạp.

Để chứng minh điều trên, tôi xin lấy một bức tranh thờ của Táo Vương Gia từ trong một cuốn biên khảo viết về phong tục tập quán đặc thù chính thống của dân Trung Hoa gọi là The Adventures of Wu (The Life Cycle of a Peking Man), kể ra tỉ mỉ từng chi tiết trong cuộc đời của một người Tầu điển hình từ lúc lọt lòng sanh ra, lớn lên đi học, lấy vợ cho đến lúc già chết, cuộc sống trong gia đình và ngoài xã hội, mọi việc đều mô tả ra và được minh họa bằng tranh vẽ. Cuốn sách này có thể coi như cuốn Trung Hoa Phong Tục về mọi khía cạnh cuộc đời của một người Trung Hoa điển hình.

Trong cuốn này, tôi thấy vai trò của Táo Vương Gia còn quan trọng trong nhiều chuyện khác liên quan đến phúc lợi của những người dân trong nhà, nhất là làm Cố vấn về Hôn Nhân trong sụ dựng vợ gả chồng. Ví dụ như chuyện sau: mỗi khi trai gái chuẩn bị dạm hỏi cưới nhau, thì gia đình đôi bên bèn trao đổi với nhau một tấm thiếp ghi đầy đủ danh tánh, giờ sanh tháng đẻ của hai trẻ, rồi mỗi gia đình nhận lấy rồi để trên bàn thờ Táo Vương Gia trong nhà mình trong ba ngày. Rồi mỗi gia đình chờ xem, trong vòng ba ngày, nếu không có sự gì gây gổ phương hại sự thuận hòa thì mới xúc tiến chuyện hôn nhân.

http://khoahoc.net/photo/chandungtaoquan-1.gif

Khi tiển Táo Vương Gia về Thiên đình, người Tầu cũng thường cúng kẹo nấu bằng mạch nha để ông Táo ngọt giọng mà nói tốt cho gia chủ. Thành ra ngoài vai trò đặc sứ toàn quyền cho mỗi gia đình, ông còn là trạng sư bào chữa cho người ta luôn. Vui quá đi thôi!

Người ta cúng tiễn Táo Vương Gia vào ngày 23/ tháng Chạp lên chầu trời, nhưng sau đó trong thời gian từ ngày 23 Chạp đến 30 Tết thì gia chủ kiêng cữ “động thổ” trong thời gian này cho đến mồng 2 Tết, nếu không kiêng thì vàng bạc tài nguyên trong nhà sẽ thất thóat. Lý do là ông cũng là vị thần cai quản đất đai của mỗi gia đình, Trong chữ Nho, Chữ Thổ 土là đất viết bằng hai vạch ngang như chữ Nhị 二 tượng trưng cho hai lớp đất trên mặt và bên dưới, cùng một gạch thẳng đứng 丨tượng trưng cho cái gì mọc lên . Còn chữ Kim 金 là vàng có chữ Kim bên trên để tượng thanh 今 và bên dưới có chữ Thổ 土 cọng với hai chấm 丶丶là tượng hình cho những vẩy quí kim vàng bạc dưới đất. Cuốc đất đai hay động thỗ mà không có ông ở nhà canh giữ và kiểm sóat thì vàng bạc trong nhà bị thất thóat.

Sở dĩ người ta còn gọi là Táo Công vì chữ Nho thì Táo竈 là cái bếp, cái lò nặn hay đắp bằng đất ( nên còn viết tắt là 灶 gồm chữ Hỏa 火土 và chữ Thổ).



Nhưng lại do đâu lại nảy sinh ra sự tích Hai ông Một Bà về gia đình Táo công như câu ca dao Việt Nam sau : Thế gian một vợ một chồng – Nào như Vua Bếp hai ông một bà?

Tôi thấy sự tích bộ 3 là một điều khá lạ vì Táo Quân hay Thổ Công chỉ là duy nhất một Vua Bếp trong tín ngưỡng của dân Trung Hoa miền bắc , nhưng tại sao có sự tin tưởng rằng trong mổi gia đình có tất cà ba vị Thần: Thổ Công (http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%95_C%C3%B4ng), Thổ Địa (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Th%E1%BB%95_%C4%90%E1%BB%8Ba&action=edit), Thổ Kỳ (http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Th%E1%BB%95_K%E1%BB%B3&action=edit). Phải chăng đây là sự khác biệt nào khác ở miền nam Trung Hoa, địa bàn nguyên thủy của các sắc dân Bách Việt trong đó có Lạc Việt chúng ta? Ba Thần Táo nầy gọi chung là: Định Phúc Táo Quân (Ba vị Thần Táo định đoạt phước đức cho gia đình, phước đức nầy do việc làm đúng đạo lý của gia chủ và những người trong nhà). Không biết tình tiết tin tưởng ra sao thì 3 vị thần mang họ Thổ nhập chung làm thành một gia đình bộ ba như sau và được phân nhiệm vụ như sau:

_ Phạm Lang (chồng sau) làm Thổ Công, trông coi việc bếp.

_ Trọng Cao (chồng trước) làm Thổ Địa, trông coi việc nhà cửa.

_ Thị Nhi (vợ) làm Thổ Kỳ, trông coi việc chợ búa.



Chuyện ban đầu chỉ có một ông sau lại trở thành ba: hai ông một bà! Câu chuyện gia đình thần linh họ Thổ được lưu truyền hậu thế này quả là thú vị như chuyện Tình Bộ Ba của người nhân thế vậy? Tra cứu sách vở, tôi kiếm ra những chứng liệu sau về chuyện gia đình bộ ba của Táo Quân chỉ có ở Việt Nam hay tại các dân tộc thiểu số sinh sống tại mạn ngược nước ta:

1) Truớc hết là tranh vẽ mộc bản để thờ của Việt Nam:

http://khoahoc.net/photo/chandungtaoquan-2.gif

Tranh này lấy từ sách Kỹ Thuật và Mỹ Thuật Tranh Mộc bản Việt Nam của Nguyễn Khắc Ngữ vẽ một bà ngồi giữa hai ông, dưới một tấm biển ở trên có ba chữ Táo Danh Vị, và hai bên có câu đối mang ý nghĩa chúc tụng Ngày ngày thêm vinh hoa, Năm năm tăng phú quí. Ở dưới là vẽ cảnh cơ ngơi nhà cửa rộng rãi có cối chầy giã gạo, kẻ hầu nước, kẻ bưng cơm, ngòai sân thì đầy đủ lục súc gia cầm.

2) Ở thượng du Bắc Việt như vùng Mường Nia, Mường Nam (Hòa Bình) ông thầy mo thường hát khi cúng gà đề xin ông bà Táo giải tội với câu khấn sau:

Lạy ông thổ công, lậy bà thổ công,

Lạy ông thổ kỳ, lạy bà thổ kỳ

Chẳng có cái chi

Phải nướng con cáy ( gà)

Để mà cúng tội.



Chúng ta phải dẫn giải tình lý một bà hai ông ra sao? Đương nhiên là dựa vào sự tích của nhân gian ở Việt Nam: Nguyên do là ba vị thần họ Thổ này khi còn là người dương thế đã từng có mối liên hệ thân thiết tình cảm lại trái ngang. Nhưng câu chuyện kể lại thì tùy theo những truyền thuyết đại thể thì giống nhau nhưng tình tiết lại khác nhau:

1) Theo Phan Kế Bính ( trong cuốn Việt Nam Phong Tục): Ngày xưa có hai vợ chồng nghèo phải bỏ nhau. Người vợ về sau lấy được người chồng giầu có. Một hôm cúng đốt mã ngoài sân, có một người ăn xin; người đàn bà trông thấy là chồng cũ của mình, động lòng thương cảm, đem cơm gạo tiền bạc ra cho. Người chồng sau biết chuyện, nghi cho vợ. Vợ xấu hổ đâm đầu vào đống lửa mà chết. Người chồng cũ cảm tình ân nghĩa, cũng đâm đầu vào đống lừa chết theo. Người chồng sau thương vợ, cũng nhẩy vào nốt, thế là chết cả ba. Thượng đế thương cho ba người cùng có nghĩa mới phong cho làm vua bếp.

2) Theo Hoàng Trọng Miên (trong Việt Nam Văn Học Toàn Thư): Ngày xưa, có hai vợ chồng chú tiều phu nghèo. Vợ rất thương yêu chồng nhưng chồng lại có tính rượu chè và đánh đập vợ tàn nhẫn luôn luôn, vợ rốt cuộc chịu không nổi phải cam lòng trốn đi. Chị tiều trốn vào rừng, gõ cửa một nguời thợ săn xin ở đậu. Anh thợ săn nghe kể sự tình thì bằng lòng cho ở. Rồi ít lâu sau, hai người lấy nhau, chông rất yêu thương vợ. Còn chú tiều ở nhà, đâm ra hối hận mới quyết đi tìm vợ về, và run rủi sao lại tìm đến túp lều tranh của anh thợ săn khi anh này đi vắng. Chú tiều mới khóc lóc năn nĩ vợ trở về. Người vợ cũng khóc theo tỏ ý mình vẫn thương chồng cũ. Đang lúc ấy, thì người chồng thợ săn trở về ngoài ngõ, người vợ hốt hoảng bảo chồng cũ trốn vào đống rơm. Nguời thợ săn vào đến cửa mới bảo vợ: “Bữa nay, tôi săn được con thỏ, để tôi đốt lửa thiêu thỏ nhé! “ Nói xong là nhóm lửa đốt, ai ngờ lửa bắt vào đống rơm nơi chú tiều ẩn núp khiến chú giẫy giụa chết. Người vợ đau lòng, thương chồng cũ hóa ra giết chồng, bèn nhẩy vào đống lửa đang cháy. Nguời thợ săn thấy vợ chết thương quá, tưởng mình làm điều gì trái nghĩa cũng nhẩy vào lửa chết theo.

Trời cảm vì tình yêu của ba người cho cả ba hóa thành ba ông đầu rau, chụm đầu vào nhau trong bếp lửa hay là cái kiềng bếp ba chân

Chúng ta thấy sự tích này hình như là sự tích trong văn hóa VN hơn là của Trung Quốc, nghe đại thể cũng như tình tiết của chuyện Trầu Cau: hai anh em song sinh họ Lưu cùng yêu một cô gái họ Cao, rồi cùng tìm cái chết như sau!

Theo tôi những tích chuyện trên có lẽ được kể trong giai đọan của thời kỳ người Việt phải bỏ chế độ Mẫu Hệ mà theo Phụ Hệ.

Những chuyện Mỵ Nương được tự ý chọn chồng giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh, và chuyện bà Trưng Trắc cầm quân chỉ huy cuộc khởi nghĩa chống quân Tầu để trả thù chồng , và về sau bà Triệu trong vai trò lãnh đạo quân sự đã chứng tỏ đó là di tích của chế độ mẫu hệ còn ưu thế. Còn câu chuyện 2 ông 1 bà Táo quân và chuyện cô gái họ Lưu chỉ được chọn một chồng giữa 2 anh em họ Cao là giai đọan chuyển tiếp dằng co giữa chế độ Mẫu hệ qua Phụ hệ, nếu mẫu hệ còn uy quyền thì đâu có phải lâm vào cảnh trớ trêu ly biệt vì một bà mà lấy một lúc hai chồng hay đa phu là sự thường?

Qua sự trình bày trên, tôi nghĩ chúng ta đã phần nào nhận diện chân dung và chân tướng của Táo Quân Trung Hoa và Táo Quân Việt Nam với một vài dị biệt về tình tiết sự tích tuy rằng đại thể về tín ngưỡng vẫn tương đồng trong vai trò Táo quân là thần linh nên phù hộ cho người ta. Táo của Trung Hoa là thần linh thuần túy không hay rất ít mang tính người, còn Táo của Việt thì mang đẫm tính nhân lọai hơn, với đặc tính phản ảnh những khía cạnh bi hài của cuôc đời nhân thế.

Còn chuyện Ông Táo ngày 23 tháng Chạp lên chầu trời để báo cáo những việc hay dở, thiện ác bao hàm ý nghĩa gì?

Theo tôi, đây là một suy diễn khác về triết lý hay là một sự dung hòa phối hợp giữa 2 nguồn tín ngưởng của Trung Hoa là Lão giáo bình dân dựa vào sự tin tưởng về thần linh và Khổng giáo chủ trương tu dưỡng tính tình theo Thiện và lánh Ác trên quan niệm đạo đức luân lý về cán cân Thiên Lý và Công bằng xã hội.

Tôi lại thấy theo quẻ Dịch, thì 2 hào Dương kẹp 1 hào Âm chính là Quẻ LY 离 tượng trưng cho sự xẹt ra lửa vậy và cũng là đầu mối sự cách biệt xa rời. Một Táo Quân cai quản một bếp lửa tượng trưng cho một đơn vị gia đình. Một gia tộc sinh sôi nảy nở thành nhiều tiểu gia đình để rồi tách riêng ra thành nhiều cái bếp nấu ăn. Cũng như một vị Thần Xã hay Thành Hòang tượng trưng cho một tập hợp nhiều gia đình hay một tiểu xã hội. Thần linh vô hình cai quản thế giới cụ thể hữu hình qua hệ thống Thiên Lý. Quan niệm Khổng giáo về sự hướng thượng là: Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ. Một cá nhân có một lương tâm tự xét mình, một gia đình có một hệ thống giáo dục tự kiểm thảo mà điển hình là tiếng nói của Táo Quân là một thần linh ở chung người ta nên theo dõi họ. Mọi người trong một gia đình phải có nhiệm vụ bảo vệ thanh danh chung, cũng như người chung một làng, một tình, một nước đều chia xẻ niềm tự hào chung.

Trên phương diện tiến trình khảo cổ, từ sự phát minh ra cách dùng lửa đề nấu nướng, đến sự thành lập những cái bếp gia đình đã ảnh hưởng đến sự an sinh và lạc thú của con người ra sao?

Nhân lọai tình cờ biết dùng lửa ít ra từ cả triệu năm, họ ăn những xác thú bị thiêu cháy rôi từ đó mới quen thói ăn chín và bỏ cách ăn sống rồi con người tiến lên từ giai đọan thui cho đến giai đọan làm chín qua cách luộc hay hấp.

Hiệu lực của lửa làm cho thức ăn dễ tiêu, ngon hơn và bớt độc. Muốn luộc hay làm chín cách gì khác, phải trải qua một thời gian dài sáng chế dụng cụ nồi, chảo, vạc tùy theo các thời đại như thời đồ gốm, thời đồ đồng.

Theo lý luận Dịch lý, một nồi cơm hay nồi canh là cả một hình ảnh tập hợp của Ngũ Hành: ta thấy ông đồ rau làm bằng đất là Thổ, lửa đun nóng là Kim, nồi đồng là Kim, gạo và rau là Mộc, nước để nấu là Thủy!

Bây giờ xét về tinh thần luân lý hợp quần của hành động “ăn” thì ăn không phải là hành động giành dựt, cấu xé nhau như loài dã thú mà khi con người tiến đến trình độ văn hóa cao thì một bữa ăn tập thể như hình chữ Thực 食 chứng minh là một nồi kê có cái muôi vá và hình tam giác chứng tỏ sự quây quần.

Thói thường, khi hai vợ chồng mới ra riêng bắt buộc phải có có một giường và một cái lò bếp đề nấu ăn và để sưởi ấm dưới một cái mái nhà. Bếp lửa trước hết là hình ảnh chung sống tiên khởi của tình yêu vợ chồng ( ăn 1 mâm, nằm 1 chiếu) rồi sau đó là những bữa ăn của cha mẹ với con cái. Tình cảm và giáo dục khởi đầu bằng cái bếp lửa.

Bếp lửa không họat động thì tình duyên tan rã và gia đình ly tan.



Chuyện Táo quân và bếp lửa trong văn hóa Á Đông rất tầm thường nhưng suy gẫm ra chúng ta rút tỉa nhiều ý nghĩa sâu sắc về một hình thức gia đình căn bản. Qua câu chuyện bếp lửa thì chúng ta có thể suy nghĩ như sau: Dù có những tiến bộ về văn minh thì cái bếp gia đình dù là làm bằng vật liệu gì cũng phải họat động như là tượng trưng cho một gia đình căn bản để duy trì mối liên lạc vật chất và tinh thần mật thiết của những con người chung sống dưới một mái nhà hay một nóc gia vậy!

Bây giờ, chúng ta hãy tìm hiểu cách thức Cúng Tiễn Táo Quân trong phong tục Việt Nam ra sao? Đây là những chi tiết lý thú về văn hóa Việt Nam nên tìm hiểu.

Phong tục cúng Ông Táo thay đổi tùy theo sự giải thích hay lề thói từng địa phương:

Lễ vật cúng Táo công gồm có: mũ ông Công ba cỗ hay ba chiếc: hai mũ đàn ông và một mũ đàn bà. Mũ dành cho các ông Táo thì có hai cánh chuồn, mũ Táo bà thì không có cánh chuồn. Những mũ này được trang sức với các gương nhỏ hình tròn lóng lánh và những giây kim tuyết màu sắc sặc sỡ. Để giản tiện, cũng có khi người ta chỉ cúng tượng trưng một cỗ mũ ông Công (có hai cánh chuồn) lại kèm theo một chiếc áo và một đôi hia bằng giấy.

Màu sắc của mũ, áo hay hia ông Công có thể rắc rối cầu kỳ thay đổi hàng năm theo ngũ hành. Thí dụ:

- Năm thuộc hành kim thì dùng màu vàng

- Năm hành mộc thì dùng màu trắng
- Năm hành thủy thì dùng màu xanh
- Năm hành hỏa thì dùng màu đỏ
- Năm hành thổ thì dùng màu đen.

Những đồ "vàng mã" này (mũ, áo, hia, và một số vàng thoi bằng giấy) sẽ được đốt đi sau lễ cúng ông Táo vào ngày 23 tháng Chạp cùng với bài vị cũ. Sau đó người ta lập bài vị mới cho Táo Công.

Theo tục xưa, có vùng riêng đối với những nhà có trẻ con, người ta còn cúng Táo quân một con gà luộc nữa. Gà luộc này phải thuộc loại gà cồ mới tập gáy (tức gà mới lớn) để ngụ ý nhờ Táo quân xin với Ngọc Hoàng Thượng Đế cho đứa trẻ sau này lớn lên có nhiều nghị lực và sinh khí hiên ngang như con gà cồ vậy!

Ngoài ra, để các ông và các bà Táo có phương tiện về chầu trời, ở miền Bắc người ta còn cúng một con cá chép còn sống thả trong chậu nước, ngụ ý "cá hóa long" nghĩa là cá sẽ biến thành Rồng đưa ông Táo về trời. Con cá chép này sẽ "phóng sinh" (thả ra ao hồ hay ra sông sau khi cúng).

Ở miền Trung, người ta cúng một con ngựa bằng giấy với yên, cương đầy đủ. Còn ở miền Nam thì đơn giản hơn, chỉ cúng mũ, áo và đôi hia bằng giấy là đủ.

Tùy theo từng gia cảnh, ngoài các lễ vật chính kể trên, người ta hoặc làm lễ mặn (với xôi gà, chân giò luộc, các món nấu nấm, măng...v...v) hay lễ chay (với trầu cau, hoa, quả, giấy vàng, giấy bạc..v...v..) để tiễn Táo công.

Một câu hỏi: Người Việt Nam lưu lạc ở hải ngoại có cúng Tiễn Ông Táo không? Một điều bất ngờ là có! Tuy rằng ở các nước tiên tiến, họ vẫn duy trì đầy đủ chuyện cúng vái. Nhưng thành phần còn thiết tha chuyện này chỉ là đa số các phụ nữ bình dân lớn tuổi ít học hay người Việt gốc Hoa. Phụ nữ thường sống theo tập tục và cảm tín không theo lý trí suy luận như phái nam nên họ là thành trì cố thủ về bảo tòan cổ tục. Họ đã nhập cãnh vô xứ Mỹ những thần linh đủ thứ như Thổ Địa, Táo Quân, Thần Tài … Chuyện này biểu hiện qua phong tục đốt vàng mã đang bán trong những siêu thị Á Đông. Trong giấy vàng mã, tôi đã tìm thấy nhiều giấy cúng đủ loại trong đó có giấy Cúng Đưa Ông Táo (Bái Tống Táo Quân), giấy cúng Thổ Địa ở cửa ( Bái Môn Khẩu Thần). Cái ngộ nhất là những giấy vàng mã toàn là sản phẫm Made in China từ Hongkong, thuộc Cọng Hòa Nhân Dân Trung Quốc!

Và lễ phẩm đương nhiên cho mấy ông Táo Quân Mỹ phải là bánh bít quy và nước lon Coca để cho các ngài ngọt giọng tâu điều tốt đẹp cho Ngọc Hoàng trên trời chứ!

Để kết luận, chúng ta thấy chuyện cúng Táo Quân nghe thì cổ hủ của Việt Nam nhưng chứa đựng biết bao điều tình ý cũng thú vị nhỉ! Và phong tục Táo Quân, ít ra hiện nay cũng trường tồn trên báo chương là hằng năm thiên hạ vẫn thích đọc những sớ Táo Quân vui tếu của hạ giới tùy địa phương báo cáo với Ngọc Hoàng để tổng kết tình hình của năm cũ trước thềm một năm mới sắp đến.

http://khoahoc.net/photo/chandungtaoquan-3.gif

Lê văn Lân: Ý Kiến, Phê bình xin gửi về: bslevanlan@khoahoc.net


---------------------------------------------------------------------------------------------------
TIỄN ĐƯA ÔNG TÁO…



Nhân dịp được đọc bài về “Chân Dung & Chân Tướng của Táo Quân” trên mạng ‘khoahoc.net’ tuần này, do tác giả BS. Lê văn Lân biên khảo, làm cho tôi cảm thấy cần phải viết thêm về ý nghĩa của tục lệ quan trọng này và không thể bỏ qua, vì nếu bạn là người Việt thuần túy thì có lẽ bạn đang chuẩn bị để tiễn đưa Ông Táo về Trời trong vòng (vài) ba ngày nữa, thì bạn lại cần phải hiểu biết về ý nghĩa của cái phong tục này.



Như tôi đã viết trong bài “Tết Nguyên Đán hay Lễ Sinh Nhật Con Người”,chuyện đúng hay sai với ý nghĩa triết, thì chỉ có bạn mới có thể nhận định bằng và với cái Tâm của bạn, chứ không thể xét đoán bằng đầu óc suy luận với bằng chứng cụ thể kiểu khoa học, vì là “thiên lý tại nhân tâm”.



Nên ở đây, tôi chỉ đề cập đến ý nghĩa triết của cái lễ này, chứ không nói đến nguồn gốc xuất xứ với cách thức (mặc áo màu tùy theo năm, đội mũ cánh chuồng, đi đôi hia,…), hình thức (ăn xôi chè, thèo lèo cứt chuột, …) hay là ý thức ở vòng ngoài, như nghĩa là đúc kết (bilan) với “sớ Táo quân” của một năm sinh sống hoạt động, để kiểm thảo, để rút kinh nghiệm, để tu bổ, sửa đổi, để làm cho tốt đẹp hơn trong năm sắp tới…; hay là ý nghĩa tương sinh của Ngũ Hành qua chữ Táo (Hán) là bộ ghép của chữ Hỏa ở trước với Thổ ở sau (là Hỏa sinh Thổ), để nói là cái ‘bếp”, là cái mà mọi nhà đều có để nấu cơm ăn. Cho nên muốn nấu cơm phải nhúm lửa (Hỏa), ở cái ‘bếp’(Thổ), và lấy cái nồi đồng (Kim, Thổ sinh Kim), đổ nước (Thủy, Kim sinh Thủy) vô nấu sôi, và vo gạo (Mộc, Thủy sinh Mộc) bỏ vào, rồi canh lửa cho cạn nước để cơm chín...



Nhưng ý nghĩa triết đó là gì? Thưa là Ngày đưa ÔngTáo về Trời, vì đến nay hễ người Việt nào còn chút máu Tiên Rồng thì ai cũng biết ngày 23 tháng chạp (năm nay đúng vào 30/01/2008). Nhưng có khi nào bạn thắc mắc, tại sao lại là ngày 23 tháng chạp, tức là một tuần lễ trước Tết, mà không là ngày 21 hay 25 tháng chạp, hay là một ngày nào khác ?



Như tiếng Việt mình đến ngày nay vẫn thường nói là “vài ba”(cái), nghĩa là từ hai (2) tới năm (5), là nghĩa không xác định rõ ràng, vì theo Kinh Dịch thì những số từ 1 đến 5 là số sinh và thuộc về ‘huyền số’. Huyền số (nombre mystique) là số với nghĩa không thể xác định được, vì không theo quy luật : cọng(+) trừ(-) nhân(x) chia(÷), khác hẳn với số thật (nombre réel) được xác định bởi toán học, như 1+2=3. Nên tiếng “vài ba” này, phát xuất từ nghĩa huyền (ảo) của số 2 và số 3, và nghĩa của số 2 và số 3, là từ câu : “tham thiên lưỡng địa”, trong Kinh Dịch, là nghĩa “quân bình động” (équilibre dynamique) với tỷ lệ : trời 3 đất 2, của mọi biến dịch trong vũ trụ, mà ngày nay khoa học cũng đã xác thực công nhận, chứ không là quân bình kiểu suy luận của con người, tức : 3=1+2, hay 2=1+1, là “quân bình chết” (cứng), tức là hoặc Có hoặc Không, chớ không thể vừa Có lại vừa Không ! Vì vậy thế giới hiện nay đang chết cứng với cái quân bình đó, vì một bên ở những nước gọi là văn minh phát triển, Có đủ thứ đến độ thặng dư, và một bên ở các xứ gọi là nghèo nàn chậm tiến, Không (có) gì ráo trọi !



Và tháng chạp là tháng 12, không theo nghĩa thứ tự toán học, mà là nghĩa “thập nhị địa chi”, là 4 lần 3, tức là nghĩa “tứ linh” với : long, li, qui, phụng, cũng là “tứ tượng” và đó là “tứ quý”,với “quý”cũng là nghĩa (một) mùa, tức là 3 tháng. Và huyền số 3 cũng là nghĩa “tam tài” với thiên-địa-nhân, và là bản chất của Con Người với Tính-Thiên-Mệnh, và đó cũng là nghĩa Tâm Linh.



Với quan niệm “nhất âm nhất dương chi vị Đạo”, mà tiếng Việt mình ngày nay còn phản ảnh trong đời sống mỗi ngày với toàn là tiếng đôi như: trời đất, sông núi, non nước, chợ búa, làng xã, anh em, v.v…, hay cả tiếng lóng (đệm) như : hăng hái, hí hửng, hửng hờ, năn nỉ, nóng nảy, lạnh lẽo, vui vẻ, lẻ loi, lì lợm, lỏng lẻo, lúc lắc, v.v…, mà tiếng Tàu không hề có. Hay với thơ lục bát (mà Tàu cũng không có luôn), là cũng phát xuất từ quan niệm “tam tài”(3) và “tứ tượng”(4) với“lưỡng nghi”(nhịp hai), mà là “nhất thể”, nghĩa là chỉ có Một thể để thành thơ, đó là thơ lục bát, như chẳng hạn :

Trăm năm, bia đá, cũng mòn, (6 chữ=3x2)

Ngàn năm, bia miệng, vẫn còn, trơ trơ.(8 chữ=4x2)

… với ý nghĩa đối xứng, theo âm vần và nhịp điệu tuyệt vời.

Ở đây tôi chỉ chứng minh sơ qua với bạn cái “nhân sinh quan” của Việt tộc đã được xây dựng trên một nền tảng “bất dịch” là Âm Dương và cơ cấu “biến dịch” với Ngũ Hành nhưng thật vững chắc, không còn gì hơn, đó là Nhất Thể. Quan niệm đó đã được đúc kết và ghi khắc lại qua cái bia miệng, nghĩa là tiếng nói và thơ văn, qua ca dao tục ngữ VN, mà trên đời này chỉ có Việt tộc mới có ! Nên bạn nào nói văn hóa phong tục của mình là từ nguồn gốc Trung Hoa căn cứ theo tài liệu sách vở tham khảo, thì là chưa biết quảng vấn (hỏi sâu) và thận tư (suy nghĩ kỷ càng), thì đó là chuyện của bạn, và là quyền tự do ngôn luận.



Nên để mạo muội chứng minh ở đây với bạn nguồn gốc và ý nghĩa Ông Táo phát xuất từ nhân sinh quan đó thì cái câu ca dao sau đây đúng là : ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ, và đó là :

“Thế gian một vợ một chồng,

Nào như vua bếp hai ông một bà ?”

Với thế gian “một vợ một chồng”, đó là ý nghĩa một âm một dương với quan niệm : “thiên địa, vũ trụ, vạn vật, Nhất Thể”. Và chữ “vua” ở đây phải hiểu với nghĩa “tam tài”, tức là tài ba với nghĩa tài đức, tài tác, và tài nghệ. Có được như vậy mới đúng là Nhân tài với Thiên tài và Địa tài, thì chỉ khi đó mới là vua, tức là Nhân Hoàng với Thiên Hoàng và Địa Hoàng.



Còn nghĩa “bếp” theo chữ Hán lúc đầu viết với “bộ huyệt”, là nghĩa hang động trong đất (thổ), là chổ được đào khoét dưới đất cho trống để chôn cất chẳng hạn, nên người mình mới nói là “đào huyệt”. Và ý nghĩa hang động trong đất là nghĩa “Trống Không” và đó là Chân lý, cho nên mới có tiếng “Chân Không”, vì Chân lý là Không mới Có, như Không gian vô biên chứa đựng cả vũ trụ , trời đất, vạn vật… là ý nghĩa Đại Ngã Tâm Linh của con người và cũng là Tâm của vũ trụ.



Vì con người là “giao chỉ” của đức Trời và đức Đất, viết bằng hai nét ngang và dọc giao nhau (+) và chữ Nhân cũng được viết từ hai nét đó biến dạng theo dáng con người đang bước đi, và ở trên trái đất này, nên chữ Thổ (±) được viết bằng bộ thủ “thập” ở trên và bộ thủ “nhất” ở dưới, vì “thiên-địa-nhân” là Một, là Nhất thể. Còn chữ “bếp” sau này được viết biến dạng với chữ “hỏa”ở trước ghép với chữ “thổ”ở sau. Mà trong bộ thủ“hỏa”lại viết với chữ “nhân” với hai nét nhỏ hai bên (như hai tay), như vậy nghĩa “bếp” là gì, nếu không phải là nghĩa “tài tác”,để đi kiếm lửa, để trồng lúa xay gạo, từ (trong) đất, rồi làm bếp bằng đất, để nấu cơm ăn, để “có thực mới vực được Đạo”, tức để sống, để chơi, để sung sướng, để An Vui Hạnh Phúc, bằng “Tâm Đạo”,với “Tâm Linh” và qua “Tâm Tình”… ? Từ đó mới có chuyện nhân thoại về ông Táo kể theo Phan Kế Bính trong cuốn Việt-Nam Phong Tục hay theo Hoàng Trọng Miên trong Việt-Nam Văn Học Toàn Thư.



Và “hai ông một bà” ở đây là ai, là hai ông nào với bà nào ? Thưa là ông Trời, ông Địa với bà Ba. Vì nếu bạn để ý trong ngôn ngữ của Việt tộc thì Trời Đất hay Thần Thánh đều được gọi bằng ông hay bà, như Ông Táo hay ông (bà) bếp, chứ không như người Tàu gọi là Thần Táo hay Thần Bếp. Vì kêu bằng Ông hay Bà thì trời đất, thần thánh cũng đã thành Hình như mình với bản chất giống mình là Tính, là Thiên, là Mệnh. Còn coi thần thánh là Thần thứ thiệt như Thần Hỏa, Thần Thổ, v.v… thì mình đúng là còn nô lệ của thần, nên mới phải tế thần và cúng thần ! Như vậy thì mình đâu còn là Thiên Mệnh với Nhân Tính nữa ?! (Mời bạn đọc bài “Tục lệ ngày Tết… Mê tín hay Mê ly ?”). Nên “hai ông một bà” cũng là ý nghĩa “thiên-địa-nhân” và là nghĩa Một mà Hai, như Mình với Ta hay Ta với Mình. Vì với quan niệm đó, cho nên cũng dễ hiểu với chế độ mẫu hệ ngày xưa của Việt tộc, là một bà có tới hai ba ông để… lo việc nặng nhọc ngoài đồng. Nhưng ngày nay với “hai ông một bà” lại là chuyện khác…



Nên “Ông Táo về Trời” là ý nghĩa Con Người Quy Tâm để sống chung thủy với Trời Đất qua Đại Ngã Tâm Linh, để thành Nhất Thể với vũ trụ, vạn vật…



Như phong tục truyền thống này luôn được tái diễn vào một tuần trước Tết, đó là thời gian tối thiểu để chuẩn bị ăn Tết với biết bao nhiêu chuyện chuẩn bị phải làm bề ngoài, như mọi người đều biết, nhưng cũng là thời gian cần thiết để cho con người quy tâm hướng lòng về Trời Đất Vạn Vật để ý thức mình là Con Người được thành Hình với tất cả Thiên Tính Mệnh, và đó là ý nghĩa Tết Nguyên Đán, là lễ Sinh Nhật của Con Người.


Viết tại xứ lạnh quê người, dưới một ngày nắng ấm…

20 tháng chạp năm Đinh Hợi 2007.


Nguyễn Sơn Hà

WLP
02-01-2008, 11:26 PM
XUÂN TRONG TRÁI TIM CỦA KHOA HỌC - THƠ - VĂN

Chữ xuân gợi đến cảm tưởng của một sự gần gủi và những mong đợi đón chờ, tuy rằng năm nào cũng có xuân, với những ngày cuối năm bận rộn và những ngày đầu năm rộn ràng mừng xuân đến. Không khí của những ngày đầu xuân luôn cho ta cảm giác nhẹ nhàng đầy nỗi hân hoan. “Chất Xuân” có một cái gì làm lòng ta ấm lại. Dù là người đơn độc đón xuân với cái quạnh hiu của mình, hay là người may mắn hạnh phúc đón xuân với gia đình, không ít thì nhiều chúng ta đều có cảm giác nao nao. Có phải cái tâm trạng khá phức tạp và nỗi cô đơn của con người đã tạo cho ta cái xao xuyến trong hơi hưởng linh thiêng của những ngày mừng Xuân đón Tết.

Sao buổi đầu xuân êm ái thế !

Cánh hồng kết những nụ cười tươi …

Ánh sáng ôm trùm những ngọn cao

Cây vàng rung nắng, lá xôn xao

Gió thơm phơ phất bay vô ý

Đem đụng cành mai sát nhánh đào[1]

http://khoahoc.net/photo/xuantrongtraitim-1.gif
Hoa Đào

Giấc mộng chiều nao vắng bóng anh,
Mắt em như nắng giãi hoang thành.
Hồng lên má phấn, hoa bừng tỉnh,
Xuân với em vừa lả tóc xanh. [2]

http://khoahoc.net/photo/xuantrongtraitim-2.gif
Xuân với em vừa lả tóc xanh


ết Nguyên Đán được gọi là Xuân Tiết. Nguyên có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và Đán là buổi sáng sớm. Tại Việt Nam mùa xuân được tính bắt đầu từ tiết lập xuân, khoảng ngày 5 tháng 2 và kết thúc vào tiết lập hạ, khoảng ngày 5 tháng 5.

Xuân đến rồi kia xuân đến rồi

Hèn nào hoa nở rộ trong tôi

Đào? Mai?

Không, chỉ bừng hoa lựu

Gốc tự miền Nam, đất bỏng sôi [3]

Trong Thiên Văn Học, mùa xuân bắt đầu từ tiết xuân phân, khoảng ngày 21 tháng 3 ở Bắc bán cầu và ngày 23 tháng 9 ở Nam bán cầu. Mùa xuân kết thúc vào tiết hạ chí, khoảng ngày 21 tháng 6 ở Bắc bán cầu và 21 tháng 12 ở Nam bán cầu. Trong Khoa Khí Tượng, mùa xuân bao gồm toàn bộ các tháng Ba, Tư và Năm ở Bắc bán cầu và tại Nam bán cầu là thời gian của các tháng Chín, Mười và Mười Một. Mùa xuân, trục quay của Trái Đất nghiêng tăng dần về phía Mặt Trời, và các giờ được chiếu sáng được tăng dần lên, bằng hoặc lớn hơn 12 giờ mỗi ngày và tăng nhanh ở các vĩ độ lớn. Bán cầu có mùa xuân bắt đầu được sưởi ấm ở một độ khá ấm áp làm cho cây cối đâm chồi nở hoa.

Trước năm 1967, Việt Nam lấy giờ Bắc Kinh làm chuẩn cho âm lịch. Ngày 8 tháng 8 năm 1967, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành đổi lịch dùng múi giờ GMT +7 làm chuẩn. Vì thế hai miền nam bắc Việt Nam đón Tết Mậu Thân hai ngày khác nhau (miền bắc ngày 29 tháng 1 trong khi miền nam thì ngày 30 tháng 1). Hiện nay, vì chênh lệch một giờ giữa Việt Nam (UTC +7) và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (UTC +8), đôi khi Tết của Việt Nam không trùng ngày với Tết của Trung Quốc. Từ năm 1975 đến năm 2100, có 4 lần không trùng; đặc biệt năm 1985, Tết Việt Nam lệch với Tết Trung Quốc khoảng một tháng, do năm 1984 âm lịch Việt Nam không có tháng nhuận trong khi lịch Trung Quốc nhuận tháng 10. (Theo MBKTT)

Cúng đưa Ông táo về Trời: Theo truyền thống của người mình, kể từ 23 tháng chạp trở đi bắt đầu việc chuẩn bị đón năm mới. Ngày 23 tháng chạp mọi nhà cúng "đưa ông Táo về trời". Đây là một nghi thức tiễn đưa thần bếp lên chầu Ngọc Hoàng. Ngoài hương, nến, hoa quả, vàng mã còn có hai mũ đàn ông, một mũ đàn bà và con cá chép. Cá chép sẽ đưa ông Táo vượt qua Vũ Môn để lên Thiên đình gặp Ngọc Hoàng trình mọi việc suốt một năm qua ở Hạ giới.

Áo quần mới: Thời gian một tuần trước Tết thiên hạ đua nhau nô nức mua sắm thức ăn, vật dụng, đặc biệt là quần áo mới. Chợ búa phố phường trong việc buôn bán của dịp Tết thường sẽ chấm dứt đúng buổi trưa ngày 29 hoặc 30 tháng chạp. Đây là lần đầu tiên trong suốt một năm chợ búa phố phường trở nên vắng vẻ và các sạp hàng sẽ trống không. Tại các bến xe tấp nập những người xa quê vội vả mua vé xe để trở về đoàn tụ cùng gia đình sau những tháng năm dài tha phương cầu thực. Không khí Tết nhộn nhịp hơn và người người nô nức rộn ràng chuẩn bị đón xuân.

Sơn quét nhà cửa: Tết là dịp hội hè vui chơi sau một năm dài làm việc vất vả, là dịp để những người tha phương tìm về sum họp với gia đình, cúng bái, thăm mộ hay nhà thờ tổ tiên, tưởng nhớ cội nguồn. Đối với người Việt chúng ta vào ngày Tết mọi thứ đều phải mới, vì vậy khoảng mười ngày trước Tết người ta thường sơn, quét vôi nhà cửa lại. Sắm sửa quần áo mới để mặc trong dịp Tết. Trong nhà thường tổ chức ba lễ lớn đó là Tất Niên, Giao Thừa và Tân Niên.

Cúng Tất Niên: cúng tạ ơn Thổ Thần tức Thần Đất đã phù hộ cho công ăn việc làm của một năm qua. Lễ này thường được cúng vào các ngày từ sau 23 đến 29 hoặc 30 Tết. Giao Thừa là thời điểm giao tiếp giữa năm cũ và năm mới. Cúng Giao Thừa là cúng tiễn đưa năm cũ và đón mừng một năm mới đến. Giao Thừa cũng còn gọi là trừ tịch. Ý nghĩa của lễ này là đem bỏ hết đi những điều xấu của năm cũ để đón những điều tốt đẹp của năm mới sắp đến. Lễ trừ tịch còn là lễ "khai trừ ma quỷ".

Tối ba mươi, khép cánh càn khôn, ních chặt lại, kẻo ma vương đưa qủy tới. Sáng mồng một, lỏng then tạo hóa, mở toang ra, cho thiếu nữ đón xuân vào (Hồ xuân Hương)

Tục đạp đất: Ba ngày Tết chúng ta có tục lệ xông đất. Miền Trung gọi là đạp đất. Người Việt quan niệm ngày mồng Một Tết, nếu mọi việc xảy ra suông sẻ, may mắn thì cả năm cũng sẽ được tốt lành thuận lợi. Người khách đến thăm nhà đầu tiên trong một năm cũng vì thế mà quan trọng. Thường chúng ta mong bà con, bạn bè, hay láng giềng có tính vui vẻ, nhanh nhẹn, đạo đức và thành công đến xông đất trong ngày đầu năm.

Chúc Tết: Sáng Mồng Một Tết con cháu tụ họp ở nhà tộc trưởng để lễ Tổ Tiên và chúc tết ông bà, các bậc huynh trưởng. Theo quan niệm, khi Tết đến, mỗi người tăng thêm một tuổị. Vì thế ngày Mồng Một Tết là ngày con cháu chúc thọ ông bà và các bậc cao niên. Ngày xưa, các cụ thường không nhớ rõ ngày tháng sinh nên chỉ biết Tết đến là thêm 1 tuổi.

Lì xì: Trong ba ngày Tết để lấy hên đầu năm người lớn thường cho trẻ em tiền bỏ trong một bao giấy đỏ, với những lời chúc mừng ăn no, chóng lớn, học giỏi. Tiền lì xì đem lại sự may mắn trong năm.

Xuất hành và hái lộc: Xuất hành là đi ra khỏi nhà trong ngày đầu năm. Trước khi xuất hành, người ta phải chọn ngày, giờ và xem phương hướng hợp với tuổi của mình để mong gặp được tài thần, hỉ thần... Nếu xuất hành đến chùa, sau khi lễ bái, người Việt còn có tục hái lộc có nghĩa là bẻ lấy một "cành lộc" để mang về nhà lấy sự may mắn đầu năm.

Với không khí rộn ràng của ngày Tết chúng ta thường trở nên vui vẻ ôn hòa, ”từ bi” và hào phóng hơn. Trong những ngày Tết thường phải kiêng cữ không nóng giận, cãi cọ. Tết là dịp để mọi người ngồi lại với nhau, hàn gắn những hiềm khích nếu có. Mọi người thăm nhau và chúc nhau những lời tốt đẹp.

http://khoahoc.net/photo/xuantrongtraitim-3.gif

Hoa trái ba ngày Tết: Ba ngày Tết nhà nhà chưng đầy hoa, tùy theo ý thích của mỗi nhà, mỗi miền. Các lọai hoa được chưng bày ba ngày Tết thường là hoa Mai, hoa Đào, Thủy tiên, Vạn thọ, Thược dược, Hồng, Cúc, Cúc đại đóa... Hoa đào nở vào ngày Tết rất được ái mộ ở miền bắc Việt Nam. Miền Trung, đặc biệt xứ Huế, mọi nhà đều có một cành mai vàng nở rộ cắm vào một chiếc ché lớn đặt trong phòng khách, treo đầy thiệp chúc Tết của bà con bạn bè và những người mình giao dịch buôn bán làm ăn. Trong ngày Tết màu đỏ được xem là màu đem đến sự phát tài và may mắn. Trong những ngày đầu năm của cái Tết Việt Nam ngập tràn màu đỏ: dưa hấu đỏ, câu đối đỏ, bao lì xì mầu đỏ, hạt dưa đỏ, quyển lịch đỏ, và hoa trước sân nhà, hoa chưng trong phòng khách, trong chậu kiểng là những loại hoa sắc hồng đỏ.

Hoa mai, hoa đào: Sau Giao Thừa, qua đến sáng Mồng Một Tết, nếu hoa mai nở thêm nhiều và đầy đặn, đặc biệt mai có hoa 5 cánh, thì đó là một điềm may. Và may mắn hơn nữa khi có một hoặc vài bông hoa 6 cánh. Nếu cây hoặc cành đào có nhiều cánh hoa kép 3 lớp trên đài hoa và có hình dáng như bông hồng thì sẽ có nhiều phúc lộc nguyên năm.

Cây kim quất: chưng trước sân nhà hay trong phòng khách nếu có nhiều chồi xanh mọc thì năm đó sẽ có nhiều lộc. Nếu có đủ Tứ quý: quả chín, quả xanh, hoa và nụ thì sẽ may mắn và thành đạt cả năm.

Câu đối: Để trang hoàng nhà cửa và để thưởng Xuân. Tục treo câu đối đỏ nhân ngày Tết vẫn còn được trọng. Những câu đối này được viết bằng chữ Nho, chữ Việt (viết theo Thư pháp), mầu đen hay mầu vàng, trên những tấm giấy đỏ.

Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa. Sáng mồng một, rượu say tuý luý, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà. (Nguyễn Công Trứ)

http://khoahoc.net/photo/xuantrongtraitim-4.gif

Khai bút: Ngày đầu xuân thường có tục lệ khai bút. Đặt bút viết trong ngày đầu xuân của một năm mới phải là những gì viết về nguồn sống đẹp, niềm hy vọng tươi vui và tình người ấm cúng.


Hôm nay là một trong những ngày cuối năm, tục khai bút phải được làm đúng vào ngày Mồng Một Tết. Vì chưa phải là ngày đầu xuân nên chưa khai bút. Nhưng trong không khí bàng bạc hương xuân hôm nay, chúng ta hãy nhìn trở lại một năm vừa qua của tờ báo khoahoc.net, để nhìn thấy được tình người dẫy đầy trong những bài vở giá trị văn học, bài vở chuyên ngành, cùng những tư vấn về ngành nghề và sức khỏe, của các cây bút đang cộng tác với tờ báo nầy.


Cụ thể như Tiến sĩ Mai Thanh truyết, một người đã cho khoahoc.net của chúng ta rất nhiều bài vở giá trị, lại là người cố vấn cho nhiều sinh viên trong nước về việc viết luận án ra trường. Bác sĩ Nguyễn Ý Đức, người cho chúng ta nhiều bài vở hay thực dụng, để chúng ta có một nhận định rõ rệt về vấn đề sức khỏe và bệnh tật. Ông đã hướng dẫn cho rất nhiều người với những thắc mắc về tình trạng bệnh và sức khỏe của họ. Chủ bút khoahoc.net Phương Tôn, hăng say trong việc trả lời thư từ độc giả, nhanh và đầy đủ hữu hiệu, lại là ”gạch nối tình cảm” giữa các thành viên trong Ban Biên Tập, tạo không khí thân mật ấm cúng của một đại gia đình văn bút đúng nghĩa của nó, gồm trên 70 cây bút với cùng một ”sự nghiệp” viết lách. Một tập thể của những đồng hương, có chung một đam mê, tuy ở xa nhau, mỗi người một chân trời góc bể vẫn gần gủi được vì cảm thấy có nhau trong một niềm hạnh phúc bình dị và giá trị: chia sẻ những kiến thức có được, gửi trao những phút giây thư giãn đến mọi người xa gần trên thế giới qua những trang báo của các bài viết hữu ích, bài văn dí dỏm vui vui, dòng thơ, câu chuyện tình đẹp v.v…


Trong số bài vở rất phong phú của những tháng cuối năm, tôi đặc biệt chú ý đến những bài viết của Bác sĩ Lê văn Lân [4]. Có thể vì tôi thích thơ văn nên dễ hợp với bài viết của ông. Điểm đặc biệt ở ông đó là, tuy ông là một nhà khoa học ông lại viết nhiều về thơ văn. Với lời văn vui vẻ, những câu thơ lãng mạn trử tình ”ướt át” của cái thời mới lớn, đã làm độc gỉa phải rộn ràng cảm khái và gửi thư thăm hỏi.

Còn vụng dại, thưa vâng, tôi vụng dại

Tôi dại khờ mà vẫn cứ say sưa

Chuyện đời người làm gì có lượng cân đo

Thì tình ái biết đâu mà suy tính

Nên tôi muốn một lòng thành khẩn

Dâng cuộc đời chuyện tình ái đam mê[5]

Ông đã viết nhiều về xứ Huế, về thành phố của thời gian ông lớn lên tại đó qua những trích dẫn của rất nhiều câu thơ hay, như những vần thơ của Tế Hanh:

Ta gửi tình ta ở khoảng đường
Bước này tưởng nhớ, bước này thương
Ta đưa ngượng nghịu, hàng mi chớp
Ngực đánh dồn thêm, chân vấn vương
Đi mãi không hề biết mỏi xa
Đi suông không dám ngó vô nhà
Đường thường bỗng hoá trung tâm điểm
Lắm cớ xui mình phải bước qua

Và cảm xúc của cái thời còn là học trò xứ Huế, dễ bâng khuâng dễ ”nặng lòng” vì những dòng thơ đầy chất dang dở đau buồn của TTKH:

Đang lúc lòng tôi muốn tạm yên,
Bỗng ai mang lại cánh hoa tim
Cho tôi ép nốt lòng dư lệ
Rỏ xuống thành thi khóc chút duyên
Đẹp gì một mảnh lòng tan vỡ
Đã bọc hoa tàn dấu xác xơ
- "Cố quên đi nhé, câm mà nín
Đừng thở than bằng những giọng thơ!"

Trong bài viết của mình ông đã đưa vào một số kiến thức về y khoa, và lại không quên đưa trái tim của một người chân thành yêu cuộc đời vào đó, dù ông đã một thời trải qua nhiều khó khăn của cuộc sống. Đó là điều tôi đã học hỏi được ở ông, và cũng là điều muốn chia sẻ cùng các bạn. Với bản tính lạc quan vui vẻ ông hấp thụ được nắng gió khí ấm đất trời của ba miền non nước Việt. Văn ông có cái trử tình của một người miền Bắc, cái lãng mạn của xứ Huế, và cái vui vẻ nhiệt tình của niềm Nam.



Theo lời kể của ông, ông đã theo bố mẹ vào xứ Huế từ miền Bắc xa xôi. Hồi đó ông chỉ là đứa bé mới ba tháng, còn được ẳm ngữa trong vòng tay mẹ, còn được ngủ vùi như con sâu cuộn tròn trong lòng mẹ bỏ lại sau lưng nơi chôn nhau cắt rốn, bỏ lại những gì ông chưa biết đến để có thể nói được chữ luyến nhớ ngậm ngùi.. Phương tiện di chuyển thời đó đã làm chuyến đi thật sự dài đăng đẳng, nên cũng đã lắm gian truân trong một chuyến đi dài như thế. Rồi ông lớn lên như những thanh niên thiếu nữ của xứ Huế, trong cái tuổi biết rung cảm nhớ thương để nhận định được rằng, Huế là cái xứ của những gì huy hòang thơ mộng nhưng không kém những khắc nghiệt khổ đau. Trên 20 tuổi ông đã làm một cuộc viễn hành xa xôi thứ hai trong đời, đi từ Huế vào Sài Gòn để học thuốc. Theo ông, Huế đã để lại và mãi cho đến bây giờ vẫn thế, một dấu ấn sâu sắc trong lòng ông.

Có thể đời đã đưa tôi vào những giảng đường

Dạy tôi đo hành tinh bằng đường đi ánh sáng

Ðo tình yêu bằng đơn vị tiền tài

Rồi tôi đo hoang vắng của hồn tôi

Bằng những đêm rất rộng[6]

Sống và lớn lên tại Huế, trong một bối cảnh thơ văn trử tình lãng mạn, làm sao không có những xao xuyến nhẹ nhàng khi phải ”dứt áo” rời xa:

Từ giã hoàng hôn trong mắt em,
Tôi đi tìm những phố không đèn.
Gió mùa thu sớm bao dư vị,
Của chút hương thầm kia mới quen. [7]

Thời gian ở Huế đúng thật đã để lại nhiều ấn tượng và kỷ niệm sâu đậm trong lòng ông, ghi dấu trên những bài viết, dòng thơ, bút khảo của ông về cái xứ của tuổi niên thiếu này. Ông đã nhớ về Huế đến độ gây cho chính tôi, một người sinh ra và lớn lên tại Huế một sự ngạc nhiên về trí nhớ và tình cảm ông dành cho Huế. Ông viết về Huế với từng ngỏ ngách, con đường, hàng cây, bến nước… những nơi ông đã ngày hai buổi đi học ngang qua mấy mươi năm về trước. Khải Định, Đồng Khánh, những câu lạc bộ, những cơ quan trụ sở phường xóm, trường dạy học, luyện thi vào mùa hè, những trung tâm trình diễn kịch nghệ mà tên tuổi của những người làm văn nghệ đã làm Huế đẹp hơn thơ mộng hơn.

Dĩ vãng dầm mưa lén bước về,
Áo trùng, mây tỏa, mặt sầu che
Run tay ấp nửa bàn chân lạnh,
Thương những con đường mưa cuốn đi [8]

Đã từng lê gót giầy trên ba miền đất nước Việt Nam, ông từng là thường dân rồi làm lính. Từng là tù nhân trên Đất Mẹ. Ông không là tù nhân như một tội đồ đã gây nên tội ác. Chỉ là khi vật đổi sao dời, khi đất nước Việt Nam đổi thay một thể chế: Tự Do thay bằng Cộng Sản, bác sĩ Lê văn Lân đã phải ngồi tù, ăn cơm mốc trộn sắn khoai hư, nằm đất lạnh. Từ một người ”áo mão cân đai” thóang chốc trở thành một tù nhân khốn khổ, để ông không còn khả năng bảo bọc người vợ ông thương. Từ địa vị một phu nhân thoáng chốc bà trở thành người tay trắng, gánh vác việc thăm nuôi chồng trong lao ngục và nuôi nấng giáo dục đàn con thơ dại.



Đời sống cơ cực không làm gãy đổ một tâm tính hiền hòa bình dị và niềm hăng hái với sự sống và cuộc đời. Sau cuộc định cư ở Mỹ, ông vẫn tiếp tục phấn đấu để nuôi vợ đầy đủ nuôi con nên người ở xứ lạ quê xa. Thời gian rảnh rỗi ông viết văn làm thơ, biên khảo và viết rất nhiều về những gì trong đời sống của con người. Tình người, tuổi trẻ, hoa cỏ, cây cối và nét đẹp của thiên nhiên đều được trình bày rất khoa học và hòan mỹ, lẫn với sự dí dỏm vui tính tràn đầy qua nét bút của ông. Đọc văn ông ta thấy được tình ông với cuộc đời, được ông đem chia sẻ với độc giả khắp nơi.



Ông có một phong cách riêng biệt, đáng kính, cùng nguồn nắng ấm gần như bất diệt trong ông. Cũng vì thế ông đi vào lòng chúng ta không mấy khó. Tôi viết về ông bằng cảm tình và sự kính mến qua mắt nhìn của một độc giả cũng như của một bút hữu cùng viết bài cho khoahoc.net với ông. Phần lớn bài vở của ông có thể đọc ở phần lưu trữ của khoahoc.net[9]



Thời gian gần đây qua bài viết của mình, ông đã đưa độc giả trở về lại những xuyến xao nồng nàn của cái thời ”ngày đó khi ta yêu nhau”. Qua những đọan đường thơ mộng của Huế, ông đã cho ta sống lại phút giây xao xuyến bồi hồi, để cảm nhận được rằng mình đã có lần yêu. Cho ta trở về lại cái ”không gian một thời” và tạm gửi lòng mình chốc lát trong những kỷ niệm đẹp nồng nàn. Thế giới tư tưởng luôn luôn là độc quyền của riêng ta, để ta nương vào đó tìm sự bình yên trong thóang chốc mà quên đi cảm giác lạc lòai làm ta ray rức.

Có phải mùa xuân sắp sửa về

Hay là gió lạnh lúc đêm khuya

Hay là em chọn sai màu áo

Để nắng thu vàng giữa lối đi?



Có phải rằng tôi chưa được quên

Làm sao buổi sáng đợi chờ em

Hay từng hơi thở là âm nhạc

Đàn xuống cung trầm, mắt nhớ thương. [10]

Hiện giờ ông đã 76 tuổi. Văn thơ ông vẫn trong lành và ấm nắng mai, đã tạo cho ta nhiều phút giây gây thương gợi nhớ. Cá tính dí dỏm của ông ẩn đầy trong bài viết, tình của ông với cuộc sống đã gây xúc động cho người đọc. Dù bận rộn hay mệt mỏi vì tình trạng sức khỏe hiện nay, ông vẫn gửi theo thư trả lời độc giả một nụ cười. Thư trả lời bao giờ cũng nhanh cũng dài và trả lời tất cả những câu hỏi được độc giả đặt ra. Chắc rằng người nhận thư trả lời của ông sẽ vui nhiều khi đọc thư ông. Ông được trời ban cho một nụ cười, và ông đã không ngần ngại chia sẻ cho chúng ta qua lá thư mình.

Một chút hương xuân cống hiến cùng bạn đọc. Mùi hương của Xuân bao giờ cũng có cái bàng bạc nhẹ nhàng của một sự gần gủi. Thời gian vui xuân, đón xuân, hưởng xuân là thời gian cho ta có cơ hội dừng lại, tạm thời không làm con thoi chạy mãi chạy hòai, tất bật chạy theo cuộc sống. Một cuộc sống của môi trường, trong đó áp lực việc làm cùng những sự kiện khác làm ta vô tình quên đi chính mình và quên người thương ta. Hạnh phúc là nhu cầu của đời sống, cần thiết để nuôi dưỡng hơi thở bình an, tạo căn bản phát triển trong chiều hướng hữu ích, để con người trở thành một hiện hữu đẹp của thế giới loài người, trong ý nghĩa linh thiêng của sự sống.



Định nghĩa về hai chữ Hạnh phúc, có thể đơn giản bằng cách dùng chữ Xuân. Xuân là thời gian gần lại với nhau, xuân là thời gian của những mới mẻ, bỏ đi những cái cũ không đẹp, trong hy vọng và ước muốn một nguồn sống tươi vui. Hy vọng và ước muốn chỉ có thể thành sự thật do từ quyết tâm của chúng ta. Không làm không có kết quả. Thực hiện ước muốn bằng một nỗ lực thì kết quả đem lại sẽ đẹp như một phép mầu.



Xuân là thời gian ngồi lại và nhìn lại. Ngồi lại để thâu nhận tình người. Nhìn lại để thấy rõ tình người mà qúy trọng mà gìn giữ. Xuân là hương thơm của tình yêu, có tính cách gần gủi, là những gì không nằm ngòai tầm với. Những gì nằm xa tầm với, dưới mắt nhìn của chúng ta tuy lung linh đầy sắc mầu, nhưng thực chất mỏng manh như bong bóng nước: đẹp mà hư huyễn! Sẽ là những gì xa xôi mơ hồ không nắm bắt được, mà ta chỉ có thể gửi tư tưởng của mình vào trong đó. Nếu chúng ta sống triền miên trong thế giới đầy ắp tư tưởng không thực như thế, chúng ta sẽ sống trong cái thế giới, ở đó một năm sẽ chỉ có 4 mùa đông dài buốt giá. Vì đuổi theo một hạnh phúc mong manh, nên ta cô độc. Hạnh phúc đó phù du, như ý muốn kết những chiếc bong bóng nước muôn mầu thành xâu chuổi trang sức lộng lẫy. Bong bóng nước dễ vỡ, nên bong bóng nước sẽ không là những gì của một bình an và hạnh phúc lâu dài.



UYÊN HẠNH

31/1/2008

Tất Niên Đinh Hợi

Xuân Mậu Tý




[1] Thơ Xuân Diệu

[2] Thơ Đinh Hùng

[3] Thơ Thế Lữ

[4] www.khoahoc.net/baivo/levanlan.htm

[5] Thơ Nguyên Sa

[6] Nguyên Sa

[7] Đinh Hùng

[8] Đinh Hùng

[9] Bài lưu trữ của Lê Văn Lân

[10] Nguyên Sa