View Full Version : Khai trương Quán Hà Nội -- Xin mời qúi đồng hương
Tammy Nguyen
12-10-2002, 10:12 AM
Bu'n Thang Ha` No^.i
courtesy of vncentral ."Hương vị Quê Hương "
Bún Thang Hà Nội -Tác giả Unknown
Các món quà gốc bún quả là nhiều: Bún ốc, bún riêu, bún sườn, bún bung, bún chả và bún thang... (mỗi thứ mỗi ngon, mỗi thứ mỗi hương vị).
Ai trông thấy bát bún thang đơm sẵn bày lên chiếc chõng tre thấp lùn giữa chợ Đồng Xuân xưa mà chẳng muốn ngắm nhìn, muốn được ăn cho dù không đóị
Cô hàng bún thang ngày ấy quần áo sạch sẽ, chau chuốt gọn gàng, duyên dáng. Có khách ngồi ăn, cô mỉm cười, nhẹ nhàng cầm chiếc bát nhúng vào nồi nước sôi, rồi lau khô bằng chiếc khăn bông trắng lúc nào cũng như còn mớị Cô xếp ít rau răm, mùi tàu xuống đáy bát, bày bún lên trên, bún đơm gần sát tới miệng bát rồi từ từ cô xếp các thứ nguyên liệu thực phẩm khác lên nền mặt bún trắng. Góc đầu tiên là trứng tráng mỏng tang thái chỉ, góc bên là lườn gà xé phay, góc thứ ba là giò lụa thái sợi, góc cuối cùng đành rắc tôm bông. ở chính giữa là lòng đỏ trứng mặn, xung quanh lác đác mấy lát lạp sườn đỏ viền miệng bát. Tất cả như một bông hoa mà nhuỵ là khoanh trứng vàng sẫm.
Sau cùng cô hàng lấy chiếc muôi bóng loáng múc nước dùng đang sôi trong nồi, chan một ít vào bát rồi lại nhẹ nhàng gạn vào nồi để làm cho những sợi bún thấm nóng rồi mới chan tiếp thật vào bát cho vừa ăn.
ăn bún thang ở hàng tất nhiên là đắt nhưng thực sự là ngon. Bún thang làm ở nhà không sao địch nổị Cho nên dù tốn kém, nếu thích cái món chế biến hết sức cầu kỳ tỉ mẩn này cứ phải ra hàng nổi tiếng, bởi ở nhà không thể có nồi nước dùng ngọt như vậỵ Các bà nội trợ khẳng định phải có đủ 20 thứ mới làm được bún thang ngon.
Tuỳ theo khẩu vị từng người nên cho thêm chút mắm tôm vào bát cho dậy mùi, bún thang mà không ăn với mắm tôm thì còn đâu hương vị bún thang.
Tammy Nguyen
12-10-2002, 10:16 AM
Trích từ vncentral
Tản Mạn Chuyện Phở
Tác giả --Unknown
Rõ ràng, có thời, phở đã không được như cung cách nó phải có, mà ông Nguyễn phàn nàn trong bài của mình. Ông kể đến lý do chiến tranh, đôi khi phải tùy tiện và "tùy nghi". Nhưng sau đó, không thấy ông điểm đến phở của thời bao cấp cách đây gần hai chục năm, khi chiến tranh đã chấm dứt, và không còn lý gì làm cho phở phải luân lạc. Tôi không làm sao quên được cái thời phở được chia thành mậu dịch và tư nhân ấy: phở mậu dịch có hai loại, phở nước, không người lái chỉ gồm bánh phở và nước dùng (giá 2,5 hào) và phở thịt, có lõng bõng cả vài miếng thịt (giá 5 hào). Gia đình tôi vốn công nhân viên chức, nên nói chung, chỉ dám xài loại mậu dịch, dù biết nó không được đạt tiêu chuẩn lắm; vả lại, thường chỉ khi nào ốm mới được nếm, lúc ấy ngon mấy cũng khó nuốt dzô, phân biệt làm chi ngon dở.
Phở tư nhân dĩ nhiên khá hơn nhiều (tôi liệt vào hạng này cả thứ phở của những tổ hợp tác, một hình thức "tư hữu hóa" cấp thấp hồi ấy), cố nhiên, giá cả cũng mắc hơn, từ 7,5 hào đến một đồng rưỡi . Cái giá sau này chỉ những hàng phở danh giá, cự phách nhất mới dám đòi (hay nhắc đến giá cả, cũng chỉ muốn nhớ về dư âm một thờị Hình như đầu thế kỷ, độ 1,2 xu là được một bát phở không tồị Cái giá trung bình hiện nay, là bốn, năm ngàn đồng bạc) Những quán phở, không hiểu sao thường được đặt trong một căn buồng không mấy lớn, tôi tối, có phần ẩm thấp, với những bộ bàn ghế gỗ thấp lè tè. Khách đến, lắm khi phải chờ đợi để có bàn, nhưng không ai tỏ ra sốt ruột và cáu gắt như khi xếp hàng mậu dịch. Hẳn ai nấy đều tâm niệm rằng đó là cái giá phải trả, khi được thưởng thức một món ngon có chất lượng cao . Vả lại, lúc chờ đợi, người ta có thể nói và nghe đủ thứ trên trời dưới đất, kể cả những tin "tuyệt mật" như chuyện tăng giá gạo hoặc đổi tiền vào ngày hôm sau, mà đài báo vẫn cứ chối đây đẩỵ
Thỉnh thoảng, chúng tôi cũng được đến những nơi đó, thường là khi cha mẹ mới có lương, hay được thưởng. Cứ độ mỗi tháng một lần, mấy đứa trẻ khốn khổ vì thòm thèm được ngồi sau xe đạp, lắm khi đi đến những nơi rất xa lạ với chúng, vì ở đó có hàng phở ngon ("Bà Ạ bảo thế", cha mẹ chúng nói; "bà Ạ" ở đây thường là một nhân vật buôn bán, phe phẩy, theo ngôn ngữ thời bấy giờ). Khoảng thời gian chờ đợi, nhìn lão chủ quán có cái bụng to cồng kềnh múa chiếc muôi và con dao sáng loáng - trong lòng thầm mơ "giá được thành lão ta để ăn cả ngày thì sướng nhẩy!" -, là những giây phút hồi hộp và hạnh phúc nhất của lũ trẻ. Và cuối cùng thì bát phở nghi ngút khói, thơm nồng được đưa lên, chúng tôi được dạy cách ăn từ từ, chậm rãi để cái vị của phở ngấm vào huyết quản, vào từng đường gân, thớ thịt. Tôi hay có cảm giác hẫng và tiếc, pha chút hoảng hốt khi bát phở sắp cạn: lại phải chờ hàng tháng giời đằng đaung nữa! Cho đến giờ, không phai trong tôi ấn tượng những đêm giá rét, trên con đường về nhà từ quán phở, các bậc phụ huynh hể hả vì "cái quán khá thật, đáng tiền bỏ ra!", còn tôi vẫn râm ran cả thân thể vì bát phở nóng hổi trong bụng, và phấn khích vì vừa được "tiêu thụ" một thứ mỹ vị đến thế.
Đối với nhiều người, ăn phở, muốn tận hưởng được hết cái sướng, cứ phải chọn hàng phở gánh ngoài phố, ngồi xổm (hay bệt) xì xụp, nước mắt nước mũi dàn dụa, húp thành tiếng rõ to rồi suýt xoa khoái trá. Lắm ông to bà lớn mà vẫn mê thứ phở bình dân đó, nhưng vừa sĩ vừa ngại lộ diện, phải để xe ở rõ xa, ăn mặc giản dị cuốc bộ hòa nhập vào dòng người lam lũ gồm đủ các thành phần. Cảnh tượng ăn uống như thế, nhìn thì có vẻ thô lậu và hơi mất "mỹ quan", nhưng cứ ở trong cuộc, mới hay cái lý nhất định của nó. Nó cũng phản ánh phần nào cái triết lý "sống để mà ăn" rất đặc thù của Á Đông: ăn say mê, ăn hể hả, ăn một cách tận hưởng, chứ không chỉ đơn thuần thưởng thức. Đừng tưởng đây là một biểu hiện "xuống cấp" của văn hóa thời nay, dân ta hằng nửa thế kỷ trước đã vậỵ Nguyễn Huy Tưởng trong Sống mãi với thủ đô, có kể về cung cách xài phở của người Hà Nội thời xưa, như sau: "... Những người Hà Nội suốt đời chỉ có một mục đích là cái bát phở buổi sáng, họ đem hành tây, họ đem trứng đi hàng phở quen, họ đánh dấu bát để đưa chan, họ hỏi hồ tiêu, họ đòi ít ớt, họ xin ít nước béo, họ vùi đầu vào bát phở một cách thô tục, xấu xí, rồi họ ra đi một cách tự mãn, có khi còn khinh khỉnh với người không sành phở như họ nữa". Dĩ nhiên, qua những dòng trên, nhà văn muốn đả kích cái thói tục trong ăn uống, nhưng phải nhận rằng, thói tục ấy chửa chắc sẽ mất đi ngay cả trong thời đại Internet nàỵ
Cốt lõi của phở ngon là nước trong và ngọt. Thế thì phải có nhiều xương bò, mà nước ta hồi xưa không đặc trưng mấy ở phạm trù lắm thịt cá. Thành thử, nhiều hàng phở chỉ nổi tiếng ngon vì cho lắm mì chính: người ta thả công khai vào bát phở hàng thìa bột ngọt. Dù sao, đây cũng là thứ được coi là xa xỉ vào thời ấy, nên không cần bàn gì nhiều: cứ thế nào mà chẳng được, miễn ngọt và ngon miệng, không xương thì đánh lừa cảm giác bằng thứ khác, có saọ Nhưng sau đó ít lâu, lại có nhiều bài báo và dư luận bảo rằng mì chính độc, ăn lắm có hại cho cơ thể (đào đâu ra mà lắm! Tôi cho rằng thứ tuyên truyền này cũng giống như kiểu rau muống bổ hơn thịt bò, đường đen (của Quy Ba) tốt hơn đường trắng mà lũ "chân gỗ" thời trước nghĩ ra để làm dịu người dân trước những mặt hàng thiếu thốn), nên lắm người cũng hỏi chờn chợn. Ai đó nghĩ ra cách thử cho các loại có mùi tanh như tôm, cá vào nồi hầm, xem sao . Và đặc biệt thay, họ làm thế nào mà ta không thấy có chút vị tanh gì sất, lại ngọt và trong vắt! Không biết, nước phở loại ấy có được liệt vào hạng "chính thống" của ông Nguyễn không? (Nhớ đâu viết đấy, Thạch Lam có kể - hình như trong Hà Nội ba mươi sáu phố phường thì phải -, rằng ở Hà thành xưa, có một hàng phở gánh duy nhất trong nhà thương Phủ Doãn, còn cho mấy giọt cà cuống vào bát nước dùng. Chửa nếm, nên tôi không hình dung ra nổi mùi vị bát phở như thế, sẽ ra sao).
Phở chính hiệu, có lẽ phải là phở (xuất xứ từ) Hà Nội . Nhưng từ khi hai miền lưu thông, thời thế nổi trôi, phở cũng bị lai tạp đi nhiều lắm. Một số hàng phở trong Nam, xưng là Bắc Kì, mà cho cả rau, giá, đỗ hệt như hủ tiếu Sài Gòn. Phở một số nơi còn được nêm cả tương, xì dầu, mắm tôm, rất lộn xộn. Chưa nói gì đến thứ phở sốt vang (?) hay thấy ở Hà thành một thời, dính làm gì chữ phở vào đây cho bôi bác nhỉ? Phở hết thành thứ quà ngon, và trở nên món ăn no của lũ trưởng giả mới . Một hồi, tại Hà Nội, ăn phở sang là phải đập vào đó vài quả trứng, có thể mang saun từ nhà, hoặc mua thêm ở hiệu . Lắm kẻ đòi thêm mấy miếng thịt được chặt kiểu "chém to kho mặn" rồi vênh váo ngồi ăn trước con mắt thán phục của đại chúng. Rồi chuyện gọi một tô phở đặc biệt, thịt đầy tú ụ, cho con chó bẹc-giê phốp pháp ngồi lên ghế ăn cùng với người, hình như không phải là chuyện quá hiếm hoi ở xứ ngàn năm văn vật. Tôi vốn chủ trương đa nguyên trong ăn uống nói chung, và trong lĩnh vực phở nói riêng, nhưng vẫn không chịu nổi và dị ứng với những tìm tòi, "cải cách" không phải lối kiểu trên.
Nhưng cũng có những thứ "cải cách" khác, rất đáng được thông cảm, bởi hoàn cảnh những chủ nhân của chúng, dù nó đi ngược lại mọi nguyên lý cơ bản và sơ đẳng của phở. Đó là thứ phở cơm, hay cơm phở, món ăn được lũ sinh viên nghèo khó rất ưa thích: chung nhau bỏ ra ít tiền, mua nước phở, tiện thể bốc trộm chút hành xanh, về trộn với cơm hẩm kí túc xá, xì sụp húp ăn rồi thi nhau khen ngon. Hay những hàng phở gánh bình dân, phục vụ tận nơi tận chốn lũ học trò vào những đêm mất điện, lúc ấy, mọi thứ bánh phở, nước dùng, hành, rau thơm, nước mắm, tương ớt, dấm được đổ ụp với nhau thành một thể tạp-pín-lù (hay đả biên lô, theo cụ Vương Hồng Sển, nghĩa là thập cẩm, tào lao, ba lăng nhăng), cay xè, lắm khi mặn chát chúa, vậy mà ai dám bảo là dở?
Phở ở xứ Tây, do những điều kiện "kỹ thuật" nhất định, chắc không thể làm theo những phương thức kinh điển, và ngon như ở nhà. Phở quận 13 Paris, phở Cali, người khen, kẻ chê, tôi chưa được nếm nên không dám lạm bàn nói bậỵ Nhưng người viết bài này cảm thấy rất hài lòng về phở ở xứ Đông Âu, được nấu tại những quán ăn đứng nho nhỏ tại chốn chợ búa tất bật, lam lũ của đồng bào mình: ở đó, người nấu phải dùng bánh phở khô, nước dùng có khi nguội, và bát phở không nóng một cách tự nhiên, mà bởi microwave, có khi thiếu cả những gia vị phụ trợ tối thiểu; người ăn dùng bát, thìa và dĩa nhựa, một lần rồi bỏ. Thế mà mỗi lần thưởng thức nó, tôi vẫn bùi ngùi như đụng chạm vào một mảnh quê hương.
Tammy Nguyen
12-10-2002, 10:17 AM
Miếng Ngon Hà Nội
Vũ Bằng
Kỳ lạ đến thế là cùng, Hà Nội ạ !
Có phải đấy là thành kiến không? Có phải đấy là óc thiên vị yêu nên tốt, ghét nên xấu không? Hay đó chỉ là kết quả của một sự mê hoặc làm cho người ta mất cả sự công bình trong phê phán? Thôi thì thế nào cũng được đi: ta mê, ừ thì ta chịu tiếng ta mê; ta lầm, ừ thì ta chịu tiếng ta lầm, nhưng không ai có thể bắt ta nghĩ trái điều này: Nà Nộị.. ngon... quá xá ! Hà Nội ngon không mãi chỉ ngon về những miếng ngon đặc biệt, nhưng ngon từ cách ăn uống ngon đi, ngon từ cách trình bày ngon tới, ngon từ cách thái miếng thịt, chia miếng bánh ngon luị
Làm cái kiếp văn nhân, lắm lúc rầu muốn chết. Một người đẹp soi vào gương có thể bằng lòng nhan sắc của mình. Một bà từ mẫu có thể tự mãn vì thấy mình hoàn thành nhiệm vụ. Riêng có người viết văn là không bao giờ được vừa ý - vì vừa ý làm sao được khi mà trong óc mình sôi nổi bao nhiêu ý nghĩ hay, bao nhiêu hình ảnh đẹp, mà làm cách nào đi nữa cũng không thể phô diễn được hết cả ra cho người ta cùng cảm thấỷ
Ấy đấy, cái kẻ nói về miếng ngon Hà Nội đây cũng vậỵ Ngồi một mình trong buồng lạnh một đêm khuya êm ả, đóng hết cả cửa lại để cho các tiếng động của phố phường không lọt được đến tai mình, rồi cố vận dụng tim óc ra để diễn lại một tiếng rao quà như hát, mà không thể nào diễn lại được, thử hỏi còn có gì chán chường hơn? Không biết bao nhiêu hương vị, màu sắc, không biết bao nhiêu thanh âm, ý nghĩ rộn ràng ở trong óc tôi như những con ong bé nhỏ "tập quán" và tôi không còn biết nói gì về miếng ngon Hà Nội nữạ
Phở, quà bún, chả cá, thịt cầỵ.. bấy nhiêu thứ đã đủ tượng trưng cho miếng ngon Hà Nội chưả Bảo là đủ tôi thiết nghĩ thế tức là không phải ca tụng miếng ngon Hà Nội, mà trái lại , là nói xấu miếng ngon Hà Nội vậỵ
Miếng ngon của Hà Nội có phải đâu là mấy thứ đó mà thôi, Hà Nội ngon là ngon từ cái dưa, quả cà, trách mắm; Hà Nội ngon là ngon từ bát canh hoa lý nấu suông, mấy cái trứng cáy chưng lên a (n với gạo mễ trì hay đĩa rau muống xào có gia thêm một chút ma ('m tôm Hà Nội, ngon là ngon từ miếng cá thu kho với nước mía a (n với gạo tám thơm vào đầu đông, mấy bìa đậu sống ở Phú Thụy chấm với mắm tôm chanh ớt vào một ngày oi bức hay một chén sấu dầm nhấm nhót một ngày đìu hiu vào cuối thụ
Ôi là miếng ngon Hà Nội ! Cái ngon thiên hình vạn trạng làm cho người ta cảm thấy say sưa cuộc sống còn; cái ngon làm cho người ta thương mến nước non, thương mến từ cái cây, ngọn cỏ thương đi, thương mến từ con cá, miếng thịt của đồng bào mà thương lại; cái ngon làm cho ngưới ta tự bắt buộc phải quý hóa từ mấy lá thìa là, cải cúc, từ một xóc cua đồng, từ mấy ngọn húng láng của những người nơi thôn ổ đã chăm chút trồng nên.
Thực vậy, ăn một bữa cháo ám mà thiếu thìa là, cải cúc thì còn ra trò gì? Thưởng thức một bữa mắm tôm chua, mà về gia vị không tìm được mấy cánh lá bạc hà hay một chút rau thơm, nhất định không thể nào toàn bích. Cũng vậy, người nội trợ muốn làm ăn khéo tay đến mấy đi nữa, mà canh dưa nấu lạc thiếu rau diếp và mùi tô điểm, hay ăn cuốn mà không có giấm cái, thang mà không có mắm tôm, thì cũng không thể làm cho ta mãn nguyện.
Cái ngon của Hà Nội thật là phiền toái mà kiểu cách. Người vợ thương chồng muốn làm nên một miếng ăn ngon, thực quả đã công phu; nhưng công phu, vất vả đến chừng nào đi nữa mà thấy chồng sung sướng thì cũng đã thấy được đền bù đầy đủ la ('m rồị.. Huồng chi, nhiều lúc, miếng ăn ngon lại còn trói buộc tinh thần người ta lại với nhau, tưởng như không có cách gì khả dĩ chia lìa được...
Này này, người lãng tử ! Có bao giờ anh đã bỏ quên người bạn đầu gối tay ấp mà đi theo tiếng gọi của tình yêu lãng mạn chưả Ôi, sao mà những ngày đầu tiên sống chung với gái ở khách sạn trên đỉnh núi ngoài bờ biển, mơ mộng và thần tiên thế? Rượu khai vị uống dưới gốc một cây phượng vĩ; cơm thì bữa trưa là Tàu, bữa tối là Tây; nước thì cam vắt, là "sếnh", là sữa tươi, là súc cù là, là nước thơm... Sướng quá rồi còn gì ! Nhưng thữ hỏi sướng như thế được độ bao nhiêu lâu nhỉ?
Một buổi kia, thân thể anh cũng mỏi mệt như linh hồn anh, anh tự nhiên thấy nhớ đến một bát canh rau sắng do tự tay vợ nấu, một dĩa chè kho vợ quấy, một con chim ngói nhồi cốm nấm hương, và thịt thăn do vợ hầm. Những món ăn đó có những liên hệ tinh thần bí mật và tế nhị nối ta với gia đình, làm cho ta không thế nào quên được. Đi xa, có khi nhớ mà se sắt cả lòng, ăn uống mất cả ngon vì buồn dâng lên nghẹn họng. Ta tương tư tất cả những miếng ngon Hà Nội đã chiếm lòng tạ Một ngọn gió thay chiều, một trận mưa xanh lạnh, một con chim hót, một cánh hoa rơi, một câu hát của người thiếu phụ ru con trên võng... đều nhắc nhở ta nhớ đến một thời trên, một miếng ngon đặc biệt của Hà Nội mến yêụ
Hỡi ai là khách xa nhà, một chiều đìu hiu, đương gió nồm mà chuyển ra gió heo may, hỏi có nhớ đến những buổi quây quần vợ vợ, con con ở dưới bóng đèn, bên một mâm cơm có giả cầy, hay một bát hẩu lốn nghi ngút khói, hoặc một đĩa cá kho khế (hay kho củ cải) ăn với rau diếp thái nhỏ tăn như sợi cỉ?
Trông thấy thu về, ta nhớ đến người vợ bé nhỏ xào cốm bên cạnh một cái lò than kêu lách tách. Ta nhớ đến ngô rang khi thấy gió lạnh đìu hiu; ta nhớ đến một bát rươi nấu với niễng vào những ngày ẩm thấp nặng nề, tức bực muốn mưa mà không mưa được; ta nhớ đến bát canh rau cần ngọt xớt nấu với tôm Thanh khi thấy lá rụng đầu thu; thấy mưa ngâu, ta nhớ đến sấu dầm và ta nhớ đến cá rô đầm Sét mỗi khi thấy mùa sen trở lạị
Ôi nhớ biết mấy, cảm bao nhiêu ! Tả làm sao được những cảm giác nhẹ nhàng và tế nhị của nhửng buổi sáng Chủ nhật lên chợ Đồng Xuân, ta đi vào khu hàng quà, cách dãy hàng cây, hàng cá muơi mười lăm buớc? Thật quả là "trên thì trời, dưới thì hàng quà", ông ạ. Phải tới đó một hai lần rồi, người ta mới có thể có một "khái niệm tổng quát" về miếng ngon Hà Nội và thấu hiểu rằng miếng ngon liên kết các giai cấp xã hội với nhau chặt chẽ đến chừng nàọ Tà áo màu tươi bay cạnh bộ com lê xám; áo tứ thân phai màu sát với cái khăn quàng bằng nỉ màu vàng lợt. Người ta ngồi ở trên những cái ghế dài, thưởng thức các miếng ngon Hà Nội, vui vẻ như anh em ruột thịt trong một nhà, người này thấy món nọ ngon thì mách người kia, người kia thấy thức kia kém thì bảo cho người nọ.
Hết thảy đều vui vẻ tươi cườị Và trông thấy những cái miệng nhai dẻo quẹo, những con mắt như cười, những nét mặt nở nang, tươi tha ('m ở trên những hàng quà tinh khiết đó, người ta cảm thấy đời ít nhất cũng có một cái gì ý vị.
Tôi đã từng biết những người trong suốt một tuần chỉ chờ đợi một buổi sáng Chủ nhật để dắt vợ, dắt con lên thưởng thức miếng ngon Hà Nội qui tụ ở dãy hàng quà chợ Đồng Xuân.
Mùi bún chả thơm, mùi nem nướng ngậy, mùi chả cá hơi tanh nhưng bùi làm khoan khoái khứu giác ta, trong khi thị giác ta được thỏa thuê với những đĩa đậu rán vàng óng ánh, những đĩa giò tra ('ng cứ mịn đi, những ngọn rau muống chẻ nhỏ xanh muôn muốt, xen với tí tô hung hung vàng, những bát bung rực rỡ như gấm dệt, những bát bún riêu nghi ngút khói "chưa nuốt đến môi đã trôi đến cổ" rốị.. Tất cả những miếng ngon đó tạo ra một không khí phong nhã làm cho ta mường tượng đến những buổi họp văn nghệ, anh em cùng nhau thông cảm những
bức vẽ đẹp những áng thơ hay, những tác phẩm văn chương cao quý.
Hơn thế nữa, những tác phẩm văn nghệ chỉ làm cho ta thỏa mãn được về tinh thần, chớ miếng ngon thì có thể làm cho ta thỏa mãn cả ngũ quan và cho ta thấy có lúc tự nhiên muốn chắt chiu sự sống và cảm thấy là sống, chỉ sống thôi, dù có khổ nữa cũng là quý lắm rốị
Thật, không gì cảm động hơn là trông thấy một cô gái bé ngồi ăn mẹt bún không muốn bỏ phí một sợi, húp từ một chút nước bún, hay một bà buôn bán, đặt tay nải xuống ở bên mình, gọi chả Sài Gòn, nhặt từng mảnh vụn của chả để ăn kèm với bún và chấm đẫm dấm ớt cho mát ruột.
Những ai lâu ngày mới được ăn một bữa miến lươn, mà gặp được hàng miến lươn ngon, có khi không muốn bỏ phí cả đến lá rau răm dính bát; xáo vịt mà làm khéo, có khi ăn thấy ngọt hơn đường: nhưng cháo vịt, miến gà, muốn ăn cho thực "sướng thần khẩu" phải tìm ăn cho được ở quán "bà Béo đeo tạp dề" cũng như cháo sườn ngon, ngoại trừ bà Còng ngồi ở đầu dãy, đối diện hàng chim, không thể ăn đâu khác nữạ
Ít lâu về sau này, món quà cơm nắm ăn với chả không còn thấy ở trên chợ nữa, nhưng thỉnh thoảng ở ngoài đường, người ta vẫn còn thấy một đôi bà gánh rong đi bán. Trưa mùa thu, trời hiu hiu gió, nằm ngủ ở trên võng dậy, uống một tuần trà rồi gọi một hàng cơm nắm vào ăn, mình cũng thấy là lạ miệng.
Cơm gạo tám nắm thật mịn, "xắt khúc" bằng một con dao thật bén, bày lên một cái đĩa trắng tinh, mà gắp từng miếng một nhởn nha chấm với nước mắm Ô Long: không, ta phải thành thật nhận đó là một miếng ngon quái lạ.
Hàng ngày, ai lại không ăn cơm, dù là ăn cơm với chả? Nhưng cũng thì là cơm, cơm nắm bán rong lại có một hương vị lạ lùng, mát mẻ làm sao, khiến cho người ăn thấy trơn tru cả cuống họng, nhất là cơm ấy lại chấm với nước mắm ấy, thật là cả một bài thơ tiết tấu vừa làm vui vẻ khẩu cái, lại vừa làm đẹp cả thị giác của người ta nữạ Trông thấy miếng cơm nắm trắng bong, mịn cứ lì đi, chấm vào trong một chén nước mắm vàng sẫm một màu quỳ, người ta có cảm giác như "ăn hương, ăn hoa" vào bụng. Miếng chả ăn lúc đó dẫu làm bằng thịt heo, cũng cứ vẫn là một thứ gì thanh tao, cao quý, hẳn đi; nhưng nhã hơn mà cũng lạ miệng là món "mọc" ăn điểm vào cơm nắm.
Đó là một món ăn tựa như giò, mà lại cũng tựa như ruốc viên, trong có bì, ăn sậm sựt và điểm một chút nước rất thanh, ngọt mà thơm thoang thoảng chớ không sắt lại như nước thịt bò viên hay nước lèo bánh xếp.
Hà Nội còn bao nhiêu thứ quà ngon lành mà rẻ như thế, làm cho người ta chỉ nhắc đến cũng đã bắt thèm rồỉ.
Tôi nhớ đến miến lươn vàng, thơm phưng phức mà bùi, ăn vào, sợi miếng cứ quánh lấy nhau; tôi nhớ đến thời kỳ làm báo "Vịt Đực", buổi sáng thu, ăn chả cốm nóng hôi hổi ở hàng Bông Thợ Nhuộm.
Quái lạ là cái miếng ngon ! Mỗi thứ nhắc lại cho ta một kỷ niệm vui hay buồn, mỗi thứ nhắc lại cho ta một thời kỳ đã qua đi không trở lạị
Miếng ngon Hà Nội nhiều biết bao nhiêu ! Yêu miếng ngon Hà Nội nhiều biết chừng nào !
Có ai đã từng yêu tha thiết, yêu mãnh liệt, hẳn đã thấy có khi ở bên cạnh người yêu, ta cảm thấy xa xăm rằng người yêu của ta cũng như một trái cây quý ăn vào vừa ngát, vừa ngon. Ta thèm thuồng, ao ước, nhưng nhiều khi cái ngon ấy đánh lừa ta và đem lại cho ta một dư vị cay cay, đắng đắng...
Duy chỉ có miếng ngon Hà Nội là không đánh lừa ai cả. Miếng ngon Hà Nội bao giờ cũng trung thành, êm ái, miếng ngon Hà Nội bao giờ cũng chiếm được lòng ta như một người vợ hiền chiếm được lòng chồng. Có thể rằng có những buổi mây chiều gió sớm, người đàn ông theo tiếng gọi giang hồ cố hữu, lơ là với mối yêu đương trong một thời gian, nhưng phút sa ngã qua đi, quay về với gia đình, người đàn ông chỉ càng thấy mối tình cũ càng thêm quý hóạ
"Trắng da là đĩ, anh ơi,
Đen da là vợ ở đời với anh".
. . . . . . . .
"Trắng da là tại phấn dồi,
Đen da là tại em ngồi chợ trưa".
Miếng ngon Hà Nội cũng thế, cũng trầm lặng như vậy và cũng tiết ra một hương thơm như vậỵ Hương thơm đó ngạt ngào, quyến luyến như một lời tâm sự của người xưa để lại cho người sau, như một lời ái ân của tình nhân để lại cho tình nhân, như một lời tâm sự của một người anh yêu mến gởi cho cô em gáị Bao giờ phai lạt được những niềm yêu thương ấỷ Bao giờ "ăn Bắc" lại không có nghĩa là ăn ngon ?
Ta mơ ước một ngày đất nước thanh bình, toàn dân sát cánh với nhau ăn mừng Đại Nhật bằng một bữa tiệc vĩ đại có đủ hết cả những miếng ngon Hà Nôi.
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
Courtesy once again vncentral
Tuong-Vi
12-10-2002, 10:21 AM
wow mới đó là có liền.. còn nhanh hơn dial-a-pizza nửa.. hoan hô chị tammy phụ trách quán này.. cám ơn sis
allena
12-10-2002, 10:55 AM
Chúc mừng cô chủ quán Hà Nội ...
Khai trương hồng phát...
:flower: :flower: :flower:
BangHuu
12-10-2002, 11:08 AM
Originally posted by allena
Chúc mừng cô chủ quán Hà Nội ...
Khai trương hồng phát...
:flower: :flower: :flower:
Chúc mừng O chủ quán Tammy.
Chúc mừng Tường Vi có 1 quán như đã yêu cầu.
Chúc mừng quán có quảng cáo viên Allena quá nhiệt tình,nhìn con Vàng Anh đang la làng là biêt liền :flower: :flower: :flower:
hoang
12-10-2002, 11:10 AM
dda(`ng a^'y ba'n cho to+' mo^.t to^ bu'n thang ddi :)
allena
12-10-2002, 11:32 AM
Hà Nội của tôi
Đôi bím tóc ngắn ngủn của em
Chiếc răng cời
Và đôi mắt trái sấu
- Hà Nội của tôi !
Chiếc tàu điện leng keng leng keng
như có điều giận dỗi
Phải không em , những con đưòng củ rồi
Nhưng tình tôi vẫn mới
- Hà Nội của tôi !
Những con đường hun hút nửa đêm
Và một mùi hương kỳ diệu
Tôi sẵn sàng đổi trao cả cuộc đời
Cho mùi hương hoa ấy
- Hà Nội của tôi!
Hà Nội của tôi
Dẫu em đã xa , bên kia những bãi bờ sông Hồng
Những mùa nước vẫn sôi trong tim tôi cuồn cuộn
Dẫu con rùa vàng không còn dưới đáy hồ Gươm
Tôi vẫn mơ người Hoàn Kiếm
Thái Ngọc San
:flower: Tặng cô chủ quán Hà Nội
BungRieu
12-10-2002, 11:38 AM
:flower:.:flower:..Rất mừng khi thấy Chị đã không quản ngại mà nhận lãnh trọng trách văn Hoá này ..:flower:.:flower:..
......................... :flower:..:flower:..Xin chúc mừng Bà Tân Chủ Quán :flower:..:flower:....
Xin tăng Chị nguyên 1 Phố hàng Hoa nè ...
Tha hồ lựa chọn ... kì này Chị TV về VN sẽ mang ra cho Chị ...
Chi TV ui .... nhớ Chụp hình nhiều nhiều nha ... hihì ...:D ...
Wow ... Chị T cho nhiều món ăn ngon và thuần tuý wá ....
Chị Allenna ...Bài thơ này ngộ wá xá a nghen ...
Tammy Nguyen
12-10-2002, 05:05 PM
Chả Cá
Vũ Bằng
Nhưng rượu uống thật ngon, uống mãi không say, uống quên cả trời đất thì là rượu uống trong những bữa chả cá mà ngưới Hà Nội vẫn ưa thưởng thức vào những buổi tối mưa sa gió lạnh.
Có ai cùng với người bạn thiết, một đêm, trèo lên một căn gác cũ, ngồi vào một chiếc bàn con, vừa nhắm nhót chả cá mà lại vừa nhìn xuống con đường mưa bay mà xem người ta đi lại như trong một cái đèn kéo quân tháng Tám, mói có thể biết rằng ăn chả cá ở hiệu thú vị đến chừng nào, Ăn ở nhà, nó tẻ mà ít khi ngon thật sự.
Tôi không hiểu các ông Tàu nhiễu sự, mua chả cá ở Hà Nội rồi đóng bồ, cùng với mắm tôm và các thứ rau, đi tàu bay để đem về Hương Cảng chén với bà con bên đó thì phong vị chả cá ra thế nàỏ
Riêng tôi thì thấy có một cái thú riêng được thưởng thức chả cá trên căn lầu một cửa hiệu cũ kỹ - mà cửa hiệu đó phải là ở phố hàng Chả Cá - chật chội, tối tăm, thấp bé, mà bàn ghế thì mộc mạc và ám khói - nếu không muốn nói là không lấy gì làm sạch lắm.
Có lẽ đó chỉ là một cách nại tính, cũng như người ăn thuốc quen tiệm mà thôi; nhưng tôi nghiệm thấy rằng chả cá mà bán ở chợ hay là bán ở một phố khác phố Chả Cá, đều là không "thọ", hay là được rất ít người biết đến.
Cũng vậy, chả cá làm ở nhà cũng kém ngon và do đó không được hoan nghênh mấy, cho nên chồng thấy rét về thèm bữa chả cá, thường là dắt vợ đi ăn hay vợ muốn đổi bữa cho chồng, vẫn đề nghị "hay là ta lên chả cá?".
Đi ăn như thế, mà gặp hôm trời lạnh thì nên đi sớm sớm. Muộn một tí, thường là đã hết rồi vì chả cá ngon chỉ có hai hàng ăn được - mà hai hàng đó thường là đông khách, lắm khi phải đứng đợi mới có chổ mà ngồị
Đứng ngoài mà trông, thèm lắm; nhưng thú hơn, là cái không khí trên lầu; thoạt để chân lên là mình đã cảm thấy ấm cúng ngay; sự ồn ào, tấp nập, tuy có làm cho mình hoa mắt lên một tí thực, nhưng mà vui đáo để.
Trẻ hầu bàn chạy cứ nhốn nháo cả lên. Đây, một ông rượu đã ngà ngà kêu bún; đó, một gia đình phàn nàn gọi mãi "hai chụp gắp chả mà chưa thấy đưa lên", lại này một cậu bé hầu bàn nói như bắc loa để cho mọi người nghe tiếng: "Thưa các cụ, hết cả chả lòng rồi ạ!".
Từ các bàn ăn khói bốc lên nghi ngút, những trông đã đủ ấm rồị Đưa cay một cốc mai quế lộ nhấm nháp với lạc rang, ta ngồi đợi chả mà như cảm thấy có bàn tay bé nhỏ cù vào tim. Đời người đẹp quá.
Người nào người nấy đều như tìm thấy chân hạnh phúc ở cái ăn, chuyện trò ầm ĩ, bàn tán, chê trách từng cái rau, từng chiếc đũa, từng mảnh giấy lau tay, và đôi khi lại dỗi hay ghen với bàn bên cạnh. Có ông cầu kỳ hơn một chút lại gọi lấy một cái lò đất con rừng rực than hồng để lên giữa bàn, rồi đặt lên trên một cái sanh con; trong cái sanh con đó, người khách sành ăn, lát nữa, sẽ trưng mỡ rồi nhúng từng miếng chả vào; hay sau khi chán miệng thì cho hầm bà là cả bún, cả rau thìa là vào đó, đập một quả trứng rồi xào hẩu lốn lên, lấy ra bát để ăn cho thực nóng.
Bởi vì cái chả cá này, muốn ăn cho thật thú, lắm khi cũng phải cầu kỳ một chút, không thể nào xong thôị Nhất là các gia vị thì có những thứ không thể nào thiếu được: hành, mắm tôm, chanh, ớt, lạc rang, bánh đa vừng... Còn về rau cũng không nhiều, nhưng thiếu một thứ, bữa chả kém vẻ ngon đi nhiều lắm.
Đầu vị là rau thìa là và hành hoạ Sau khi đã sửa soạn các đĩa rau và các gia vị xong rối, mời ông nâng chén nhắm "chay" vài củ lạc hay mấy miếng bánh đa; nhà bếp đem chả gắp lên, gỡ ra bát, rồi phủ thìa là rưới mỡ nóng lên là ta lên đũạ.. nhắm ngay đấy, đừng để trùng trình mà nguội !
Trên lớp rau thìa là êm ái mướt xanh như nệm cỏ, những miếng cá nục nạc màu vàng nghệ nằm thảnh thơi như những đứa bé nằm chơi ở cánh đồng quê trông thật ngộ nghĩnh và đẹp mắt.
Tiếng mỡ nóng phi hành hoa rưới lên kêu lép bép mới làm cho lòng khách ăn rộn ràng làm sao ! Một miếng bún, một miếng bánh đa, rồi hành tây, hành ta, rau thơm, mùi, lạc rang, kèm một hai miếng chả chấm đẫm mắm tôm chanh ớt, và từng miếng to, sau khi đã dưa cay hớp rượu, khà khà ! béo quá, bổ quá, bùi mà thơm ngon quá...
Rượu đã ngà ngà rồi, ông dảo mắt nhìn chung quanh gian gác mờ mờ trong bóng tối, mỗi bàn có khói xanh nghi ngút bốc lên cao rồi nhẹ tỏa trên những cái xà nhà vàng thẫm màu bồ hóng mà nước vôi trắng không thể che lấp được, ông tưởng tượng mình là một nhân vật trong truyện Tàu xưa, ngối nhắm rượu trên một tầng lầu của một thứ Bồng Lai quán.
Ngon lành mà ấm bụng quá, hiền huynh ạ ! Có thể như thế này cứ ngồi cả sáng đêm. Chả hiểu, họ làm cách nào mà tài thế? ở nhà, mình đi kiếm cá chiên, cá lăng hay cá nheo tươi để làm nhưng chả vẫn không được se mặt, nướng lên vẫn nát, mà nướng quá tay một tí thì lại khô xác, ăn không ngậỵ ở hiệu, chả bao giờ cũng vừa vặn, không sống mà cũng không khộ Hơn thế, vị của nó lại đậm đà, thơm phức, quyến rũ lạ lùng. Sở dĩ được thế, có người bảo lại hàng chả cá có một bí quyết là gia một chút "mỡ cầy" vào cá khi đem ướp - chẳng biết có đúng không ?
Tài nhất là điểm này: Chả cá ăn không tanh. Tôi đã từng thấy nhiều người sợ cá lắm, động món gì có cá là không ăn được, vậy mà thữ hai ba lần món chả cá thì thấy thích, rồi đâm ra nghiện, mùa rét đến mà không được thưởng thức thì cho như là đã bỏ lỡ một dịp gì tốt lắm.
Vì thế có nhiều người ở các tỉnh xa về chơi Hà Nội vào dịp mùa đông không thể bỏ qua được món chả cá và những người Hà Nội có khách lạ về thăm, nhiều khi không nghĩ ra cách nào mời ăn khác hơn chả cá, vì theo ý họ, chỉ có chả cá mới là phong vị đặc biệt mà các nơi không có.
~~~~~~~~~~~~~~~
Courtesy of Vietmedia
Tammy Nguyen
12-10-2002, 05:09 PM
Hội Đền Cổ Loa
Nguyễn Nhân Thống
Ðê`n thờ Cổ Loa còn gọi là đền Chủ hay đền vua An Dương Vương, tọa lạc tại xã Cổ Loa, huyện Ddông Anh, ngoại thành Hà Nộị
Muốn trẩy hội Cổ Loa, các bạn nên đi tàu hỏa từ ga Hà Nội đến Đông Anh, xuống ga Đông Kiều thì đến nơi . Nếu đi bằng xe hơi thì phải qua Gia Lâm, cầu Đuống rẽ sang tay trái đến 15km, sau đó rẽ sang tay phải đi vào một km nữa thì đến Cổ Loa .
Ở đây còn đi tích cái thành cổ gọi là Loa thành đắp từ thời An Dương Vương (207-208 trước Công Nguyên). Thành đắp theo hình trôn óc nên mới gọi là thành Ốc hay Loa thành.
Thành Cổ Loa có ba lớp, xây bằng đất. Vòng trong cùng hình chữ nhật dài 500m, rộng 350m, ở đây có hình Cổ Loa, chùa và đền cùng mộ Mỵ Châụ Vòng thứ ba hình trái xoan, chu vi 10 km, là tuyến phòng ngự chính của Loa thành.
Trước khi vào thành Cổ phải đi qua cây cầu gạch bắc qua con suối nhỏ. Tục truyền nơi đây thuở xa xưa, thần Kim Quy (Rùa Vàng) hiện ra và dâng lên nhà vua cái móng chân rùa để dùng làm cái lẩy của nỏ thần.
Sau hai vòng ngoài, mỗi thành cách nhau chừng 200m, mới đến cổng than`h tro cùng dẫn vào dinh Cổ Loạ Bên trái đình là mộ và đền Mỵ Châu nấp dưới cây đa cổ thụ Ddình Cổ Loa cất theo lối cổ trong đơn sơ, giản dị nhưng rất trang nghiêm. Trong hậu cung có bài vị vua An Dương Vương làm bằng gỗ bạch đàn. Trước bài vị có tượng An Dương Vương bằng đồng cao gần bằng người thật, đội mũ bình thiên. Còn đền Mỵ Châu cũng có hậu cung và tượng Mỵ Châu bằng đá, tục truyền, đó là thân thể nàng sau khi chết đã biến dạng trông giống như thiếu phụ đã cụt mất đầu
Hàng năm, hội đền Cổ Loa được mở vào sáng mồng 6 tháng giêng âm lịch. Ddám rước có phường bát âm đi đầu, theo sau là 12 thôn và các trai làng, khiêng giá văn tế, kiệu long đình, cờ quạt ra đến đền thờ. Sân đền thật rộng rãi có treo cờ xí trang nghiêm để chuẩn bị cuộc tế thần long trọng
Ngoài cửa đền, hai bên là ngựa hồng, ngựa bạch, yên cương thêu thuà sặc sỡ. Hai bên đường dẫn vào đền có các giá gỗ cắm cờ quạt, các kiệu của 12 thôn nối tiếp nhaụ
Trước đền có đặt bàn hương án lớn trên có để các đồ ngũ sự và đôi hoa vàng. Trước hương án lớn là hương bán nhỏ hơn, bày những khí giới của vua Thục An Dương Vương như cung, kiếm và mũi tên đồng. Tiếp đó là hàng chiếu Cạp điều trải dài để cho hội đồng kỳ mục 12 thôn làm lễ tế thần.
Lễ tế được tiến hành trong tiếng nhạc của phường bát âm, trước là các chức sắc, sau đó là dân làng thay phiên nhau cầu nguyện nhà vui phò hộ cho bà con làm ăn được thịnh phượng, an hưởng cảnh thái bình.
Buổi lễ tế thần kéo dài đến giờ ngọ thì xong.
Sau đó, dân làng tổ chức đám rước có đủ 12 thôn tham dự đông đảọ Ddi đầu là cờ quạt rồi đến long đình, các tự khí, lộ bộ, bát bửu, phường bát âm. Sau cùng là các chức sắt các thôn ăn mặc quần áo thụng, đi hia, đội mũ hẳn hoi, bưng theo tự khí của nhà vua gồm cung, kiếm, nỏ ...
Ddám rước đi rất chậm qua giếng Trọng Thủy và tiến về cổng làng thì giải tán.
Sau đám rước là các trò vui chơi được tổ chức, kéo dài cho đến rằm tháng giêng mới mãn.
Nhiều trò chơi như đánh vật, đánh đu, hát chèo, đánh cờ người, kéo co, chọi gà, leo dây trong khi các cụ ông, cụ bà thì đi lễ chùa niệm Phật
Ngoài đền thờ vua Thục An Dương Vương ở Cổ Loa, còn có đền thờ Vua Thục ở chân núi Mộ Dạ, thuộc xã Hương Aí, huyện Đông Thành, tỉnh Nghệ An, tục gọi là đềng Cuông và ở xã Đông Cao, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, cũng có đền thờ Mỵ Châu .
Những ngày hội đền Cổ Loa lịch sử là những ngày để nhân dân trong vùng họp mặt ôn lại những truyền thống đánh giặc giữ nước của tổ tiên.
Tammy Nguyen
12-10-2002, 05:17 PM
Xôi Hà Nội
Thanh Huyền
Không ai biết xôi xuất hiện trong các mâm cỗ ngày Tết, trong bàn tiệc cưới, trong lễ giỗ ông bà từ khi nàọ Nhưng với người thành phố, nhất là người Hà Nội, xôi còn là món quà sáng bình dân mà ít ai chưa một lần thưởng thức. Dường như trong từng hạt xôi có cả hương vị của lửa ấm, của đất trờị..
Ngày bố lên máy bay đi du học ở trời âu, mẹ tôi dậy từ rất sớm để đãi đỗ, vo gạo, đồ xôị Khi mở vung chõ xôi, cả nhà ngào ngạt mùi thơm của nếp. Hồi đó, tôi còn quá nhỏ để hiểu vì sao mắt bố ngấn nước. Chỉ biết sau này, trong thư gửi về, bố kể rằng bố đã không dám ăn nhanh chỗ xôi ấy và giữ rất lâu chiếc lá sen mẹ dùng để góị..
Dường như, từ mọi ngõ ngách, tất cả các thúng xôi, dù chỉ hé
mở một góc thôi, vẫn đồng loạt phả vào đất trời mùi hương thơm dịu dàng của nếp. Này nhé, ngay đầu phố Lò Sũ sát Hồ Gươm bao năm rồi, bà hàng xôi xéo, xôi ngô vẫn ngồi đó mỗi sáng. Trên đường đinh Tiên Hoàng, vô số người bán xôi dạo vẫn mải miết xới lẹ làng những nắm xôi lạc, xôi đậu xanh thơm bùi, trắng muốt rồi trịnh trọng đặt vào một chiếc lá bàng xanh mướt hay mảnh lá sen non. Gần đó là "vương quốc xôi" trong Ngõ Cấm Chỉ nổi tiếng đất kinh kỳ. Xôi bán ở đây phần nhiều là xôi trắng, ăn kèm với ruốc, thịt, trứng kho Tàu, giò, chả, lạp xường thái lát mỏng dính như những cánh hoa đàọ.. Ai đã từng nếm thử những hạt xôi dẻo căng, mỡ màng, ngọt và bùi ở đây trong cái gió xuân đượm mùi hương nếp hẳn sẽ chẳng bao giờ quên được.
Không ai biết xôi xuất hiện trong mâm cỗ ngày Tết, trong bàn tiệc cưới, trong lễ giỗ ông bà từ khi nàọ Nhưng với người Hà Nội, xôi còn là món quà sáng bình dân mà hình như ai cũng đã có đôi lần thưởng thức. Xôi không phải là món quà đắt tiền. Chỉ với 1.000 đồng, người ta đã có thể có được nắm xôi thơm phức kèm theo thìa muối vừng miễn phí. Nhưng không vì thế mà nó tầm thường. Phải chăng vì từng hạt xôi gửi trong mình hương vị của lửa ấm, của đất trờị..
Những ngày này, người đi xa Hà Nội lâu ngày trở về sẽ không khỏi ngạc nhiên trước những biến tấu củạ.. bản nhạc xôị Vẫn là tiếng rao mộc mạc hiền hòa với toàn thanh không và thanh bằng ấy, nhưng xôi cũng có nét khác rồị Không chỉ có xôi lạc, đậu xanh, đậu đen, xôi gấc, xôi trắng, xôi xéo, xôi vò... như xưa, họ hàng nhà xôi còn có thêm xôi vừng dừa, xôi cốm dừa, xôi gấc đóng khuôn có nhân đậu xanh, dừa ở giữạ.. Và bao cô gái Hà nội ngày xuân rủ nhau đi lễ, chẳng còn lo dậy sớm thức khuya đồ xôi nữạ Chỉ cần ra đầu phố, chờ bà hàng xôi mở thúng mua bát xôi đầu là có đĩa xôi đặt lễ rồị..
Mẹ tôi hay lo xạ Trước ngày chị gái lên xe hoa, mẹ gọi chị tôi ra dạy từng cách chọn gạo đến ngâm đỗ, bắc chõ đồ xôị "Biết thêm một chút cũng chẳng thừa - mẹ nói, kẻo mai về bên ấy người ta bảo con cái nhà ai mà đến xôi cũng chẳng biết làm". Hóa ra, việc ấy cũng đơn giản thôị Chỉ cần ngâm gạo, ngâm đậu riêng trong vài tiếng đồng hồ rồi vo sạch, trộn đều hai thứ, thêm chút muối và đổ vào chõ đồ cho đến khi hạt gạo dẻo trong, hạt đậu nở bung là được. Nếu là xôi lạc thì phải luộc chín nhân lạc trước cho mềm và trắng rồi cũng trộn với nếp đem đồ như thế. Xôi gấc thay vì nêm muối lại phải cho chút đường, tạo vị ngọt thanh taọ Làm xôi vò phải xới xôi cho tơi và nguội bớt rồi trộn đều với đậu xanh đã nấu chín và xắt nhỏ. Xôi xéo thì tới lúc ăn mới xắt mỏng nắm đậu xanh đã được đồ chín vào, thêm chút mỡ nước, hành củ phi vàng lên trên. Bát xôi xéo hấp dẫn vì nó kết hợp giữa màu trắng của hạt nếp dẻo, mầu vàng tươi của đậu xanh, vàng rộm của hành phi quyện với vị béo, bùi, thơm của từng thứ ấỵ.. Chỉ từ hạt gạo nếp mà người ta nghĩ ra biết bao thứ xôi khác nhau, mỗi loại một mầu, một mùi riêng đặc trưng. Bí quyết ử Có gì đâu, cái chính là phải chọn được đúng thứ nếp cái hoa vàng Hưng Yên, Thái Bình. Lúc xới xôi phải dùng đũa con cho khỏi gãy đớn hạt gạọ
Có lẽ còn lâu nữa tôi mới phải học cách chọn gạo đồ xôi như chị gái mình. Chỉ biết chắc rằng, mùi hương xôi thơm ngát mỗi sáng trên dường bắt gặp sẽ chẳng thể phai nhòa trong tâm trí tôi, dù có đi xa tận phương nàọ..
Tammy Nguyen
12-10-2002, 05:20 PM
Thăm Hà Nội
Phú Lê (Xin mượn từ Đăctrưng .com)
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
Thú thật, khi chuẩn bị chuyến về thăm quê hương kỳ này trong tâm tư tôi không hề có ý nghĩ sẽ ra Bắc. Bởi lẽ thấy còn lấn cấn trong lòng. Bà con bên nội ngoài ấy hàng đống nhưng sau lần diện kiến với vài người tại Sài Gòn trong chuyến đi vài năm trước khiến tôi không hề có ý tưởng gặp lại . Bởi không hợp nhau từ cách hành động đến lối suy nghĩ. Liên hệ họ hàng ràng buộc nhưng sao xa lạ như hai góc trời . Thế nên chuyện về quê Bắc gác qua một bên khi bàn bạc chuẩn bị cuộc đi .
Run rủi sao cuối cùng tôi lại chọn chuyến bay ghé Hà Nội . Về đó trước xong vào Sài Gòn. Lý do khiến tôi đổi ý khá dài dòng và riêng tư nên xin phép được bỏ qua .
Từ Los Angeles chúng tôi đáp Thai Airways để về Việt Nam. Khởi hành khoảng 9 giờ tối thứ tư, 8/5/98, đến Bangkok 6 giờ sáng ngày thứ sáu, 8/7/98, sau khi ngừng tại Osaka, Nhật Bản, một giờ đồng hồ để phi cơ đổ xăng và lấy thêm hành khách. Đến phi trường Bangkok, Thái Lan, nghỉ ngơi khoảng 3 tiếng sau đó lúc 9 giờ chúng tôi đáp chuyến khác đến Hà Nộị Lần đầu tiên tôi đi với hàng không Thái đầy kỷ niệm đẹp. Cách tiếp đãi cũng như thức ăn đồ uống rất khá so với Eva, China hay Cathaỵ Tiếp viên xinh xắn cư xử hiền hoà tử tế. Thành kiến xấu về hải tặc Thái sau chuyến đi này giảm bớt khá nhiều .
Khác với miền Nam, từ phi cơ nhìn xuống miền Bắc có rất nhiều sông hồ bao bọc bởi ruộng lúa xanh tươi . Tháng 8 mùa mưa nên hầu như khắp mọi nơi đều thấy lênh láng nước. Chỉ khi phi cơ bắt đầu hạ cánh tôi mới nhìn thấy nhà cửa chi chít. Phi trường Nội Bài khá cũ kỹ. Từ phi trường về khách sạn ở phố Tràng Tiền khoảng 45 phút lái xe .
Cảm tưởng đầu tiên của tôi với những người phục vụ tại khách sạn là họ khá lạnh lùng và dè dặt. Họ thiếu những nụ cười xã giao nồng nhiệt ấm áp. Chỉ làm tròn công việc xách hành lý lên phòng giao chìa khoá rồi thôi, bỏ mặc khách tự ý tìm tòi táy máy không như nhân viên khách sạn Sài Gòn thường săn đón khách thuê kỹ lưỡng. Thủ đô Hà Nội gồm hai phố: cũ và mớị Phố cũ còn được mệnh danh ba mươi sáu phố phường đường xá nhỏ chật hẹp so với phố mới, nhưng đẹp hơn nhờ những hàng cây cao lớn xanh tươi che phủ bóng mát. Khách sạn tôi nằm trên phố mới gần hồ Hoàn Kiếm và cũng cách phố cũ không xa . Xếp cất hành lý xong đã quá ngọ nên chúng tôi thả bộ tìm hàng quán dùng bữa trưa . Hàng quán chung quanh khách sạn hiếm hoi nên phải đi bộ một quãng khá dài mới tìm ra một quán phở còn mở cửa . Quả không sai với lời đồn là phở gà Hà Nội ngon tuyệt. Thịt gà dai và ngọt lừ. Chỉ khác với phở SG hay Cali là tô phở dọn lên chỉ thế, trên bàn có đĩa ớt chanh và lọ tiêu cộng chai nước mắm không rau cỏ hoặc tương ớt gì cả.
Ăn xong chúng tôi tản bộ tà tà bát phố. Tháng 8 thời tiết nóng và ẩm độ caọ Dạo quanh bờ hồ Hoàn Kiếm nhìn cảnh sinh hoạt dân thủ đô khá lý thú. Tựu trung là ít xô bồ hơn Sài Gòn. Đời sống có vẻ êm đềm hơn thì phảị đường phố sạch sẽ ít thấy ăn xin. Cảnh hồ Gươm với hàng liễu rũ ven hồ khá tình tứ. Dạo quanh quẩn chán chê chúng tôi trở về khách sạn tắm rửa xong đánh một giấc đến 7 giờ tối mới thức dậy bởi tiếng chuông điện thoại reo vang. Chết nỗị Có hẹn với L.. Cô dân tị nạn học đại học xong ra trường về làm cho cơ quan ngoại quốc tại thành phố. Dịp may tình cờ có người quen giới thiệu L. khi biết tôi sắp đi Hà Nội Email qua lại tôi nhờ cô tìm khách sạn giùm và hẹn gặp nhau khi chúng tôi đến. Buổi trưa vừa tới tôi nhấc điện thoại gọi L. ở sở làm ngaỵ Y hẹn cô đã đến, đang chờ chúng tôi dưới phòng khách. Hối hả thay y phục chúng tôi xuống gặp. Sau phút tay bắt mặt mừng cả bọn kéo nhau đi ăn tốị Chiều ý nhà tôi L. dẫn đến quán Chả Cá Lã Vọng. Quả không hổ danh, chả cá nhà hàng làm ăn rất ngon. Sau bữa ăn tối chúng tôi ra một quán kem ngồi dùng kem ăn bánh ngọt uống nước tán gẫu đến khuya mới về.
Sáng hôm sau vì chưa quen nên hai chúng tôi thức dậy rất sớm. Thành phố Hà Nội có điểm đáng yêu là khoảng 5, 6 giờ sáng mọi người chạy bộ tập thể dục rất đông. Ven bờ hồ các bô lão tập tài chí thật đẹp mắt. Chúng tôi mặc quần short áo t-shirt tản bộ xem cảnh sinh hoạt dân chúng thủ đô buổi sáng. Hàng quà, quán ăn ven đường đông đảọ Dọc theo lề đường cách nhau chừng chục mét lại thấy một gánh hàng ăn. đủ thứ. Bún riêu, bún thang, bún măng, phở gà vv.... đặc biệt có bún măng thịt ngan nữa . Chúng tôi xà vào 1 gánh miến gà gọi mỗi người một tô. Hỏi thăm mới rõ các gánh bắt đầu mở hàng bán rất sớm khoảng 5, 6 giờ xong chừng 9, 10 giờ sáng là dọn dẹp tất. Thường thường mỗi gánh chỉ hai vợ chồng hay bà vợ với đứa con nhỏ phụ trách. Bán hết nồi bún hay phở là quảy gánh xếp ghế ra về. Thực khách phần đông dân lao động. Mỗi người một ghế bưng tô húp lấy húp để. Ăn xong chúng tôi lại tiếp tục đi .
Quang cảnh hồ Gươm buổi sáng sương mù lãng đãng trên mặt hồ trông rất thợ Mặc nhà tôi cầm máy đi săn ảnh tôi ngồi trên băng ghế ven bờ ngắm cảnh và ngườị Mặt hồ phẳng lặng từ từ hiện rõ dần theo hướng cao mặt trờị Hình ảnh Tháp Rùa lung linh ẩn hiện xa xạ Bỗng nhiên tôi xúc động vô kể. Liên tưởng đến vận nước thăng trầm trải qua bao thời đại, mặt hồ ắt đà chứng kiến bao đau thương của dân tộc và tổ quốc qua hàng nghìn năm. Ngày xưa học sử chỉ để mà biết. Bây giờ nhìn cảnh quan trước mặt bỗng dấy lên niềm xúc cảm dạt dào .
Thoáng thấy nhà tôi trở lại với bịch nylon đầy ắp các củ khoai, sắn luộc. Vừa ăn sáng xong nhưng các bà hàng rong nài nỉ quá nên mua giùm họ kẻo tội . Hai chúng tôi ngồi xuống băng ghế cạnh các cụ ông cụ bà vừa tập thể dục xong đang cầm quạt giấy quạt lấy quạt để. Mới sáng sớm mà thời tiết oi không thể tả. Bèn mời các cụ dùng bữa sáng khoai sắn với chúng tôị Theo tôi biết sắn ngoài Bắc tức khoai mì trong Nam. Lạ, sắn ở đây màu vàng nhạt chứ không trắng trẻo như khoai mì Sài Gòn. Nhưng ngon tuyệt. Ngọt và bùi hơn khoai mì gấp bộị Cả khoai lang cũng thế. Nhìn còi cọc xấu xí bên ngoài mà mùi vị thơm ngon gấp mấy lần củ khoai trong Nam. Chả mấy chốc bao nylon đầy ắp củ giờ chỉ còn vỏ và vỏ. Trò chuyện vui vẻ chào các cụ xong chúng tôi lững thững trở về khách sạn.
Tôi bốc máy gọi cho đứa cháu trai ở Gia Lâm. Báo rằng đã đến và sẽ ở chơi tổng cộng năm ngàỵ Nhà tôi cũng điện thoại cho người chị và vài đứa cháu họ. Theo chương trình vạch trước thì sáng mai chúng tôi sẽ đi tour vịnh Hạ Long. Tối mốt sẽ về lại đâỵ Rồi ở chơi trọn ngày rưỡi nữa để buổi trưa hôm sau sẽ đáp phi cơ vô Sài Gòn. Tôi hẹn gặp họ hàng ngày sau buổi đi về từ vịnh Hạ Long. Buổi chiều hôm ấy, L. đến. Cô dẫn chúng tôi đi ăn tối ở quán thịt rừng duy nhất Hà Nộị Tên quán là Pắc Bó. Quán có kiến trúc giống nhà sàn của dân tộc miền núị Các cô cậu phục vụ mặc trang phục giống hệt người Tàỵ Quán trình bày trang nhã lịch sự. Người phục vụ, mà phần đông là sinh viên làm việc bán thời gian kiếm tiền phụ thêm ngân quỹ gia đình, tiếp đãi rất chu đáo . Buổi tối đó L. gọi những món nổi tiếng nhất cho chúng tôi thưởng thức. Thức ăn quá ngon. Đặc biết nhất là món cơm lam tức cơm nếp nấu trong ống trẹ Món cơm ăn bốc này đi đôi với đĩa gà nướng lá chanh tuyệt hảo thật nhớ đờị Quán chuyên trị về thịt rừng nhưng lúc bước vào cửa tôi nhìn thấy một chú nai đang bị nhốt trong lồng nhởn nhơ gặm cỏ thấy tội quá nên bỏ đi món nai nướng. Thà không thấy thì thôi chứ nhìn thấy chú nai tơ xong lòng dạ nào mà xơi cho nổị Quán Pắc Bó nằm trên đường Nhật Tân vốn dĩ là một con đệ Khu này khét tiếng với các quán nhậu cờ tâỵ Trên đường tới quán mũi và dạ dầy chúng tôi bị tra tấn khủng khiếp bởi mùi thơm theo khói bay toả ra từ các quán thịt cầy ven đường. Chao ôi là thơm. May chúng tôi không ai khoái cầy tơ cả nên chẳng luyến tiếc. Món nướng gì thơm điếc mũi thế không biết.
Dùng bữa xong chúng tôi rủ L. đi nghe nhạc. Về mục này cô ngơ ngác. Hà Nội chắc chắn có quán cà phê nhạc sống nhưng bất ngờ quá cô nghĩ không rạ Cả bọn cũng định đi xem múa rối nước nhưng xe chạy gần đến nơi lại đổi ý. Lần này chúng tôi ra bờ hồ ăn kem. Trên đường về qua các phố cũ nhìn mọi người đi như trẩy hộị Không gian ồn ào náo nhiệt vui ghệ Ban đêm khí trời mát mẻ nên người dân đi dạo mua sắm đông đảo . Tiếng chào mời hàng ơi ới . Đèn đuốc quanh các phố sáng choang. Tháng 8 chưa đến mùa hoa sữa nên tôi vẫn còn ấm ức chưa biết mùi và hình dáng hoa sữa ra làm saọ Nhưng đã có dịp thưởng thức trái sấu và quả bàng. Buổi tối hôm đó thật đẹp và trôi nhanh.
Sáng lại thức dậy sớm. Trong lúc chờ đợi xe buýt đến rước đi chơi Hạ Long chúng tôi lại thả bộ ra các hàng quà ăn sáng. Lần này thưởng thức món bún măng. Ngon và rẻ vô kể. Xong về khách sạn tán gẫu với nhân viên khách sạn trong lúc chờ xe đến đón. Giờ tôi mới hiểu thêm tâm tính người Hà Nộị Họ tỏ vẻ lạnh lùng khi chưa biết rõ đối tượng. Nhưng khi đã tạm gọi là thân mật thì các cô cậu trút bỏ bộ mặt hờ hững và săn sóc chúng tôi rất ư là nhiệt tình nồng hậu . Họ căn dặn chúng tôi đủ điều thật làm chúng tôi cảm động khôn cùng và riêng tôi áy náy vì thái độ khó ưa của mình đối với mọi người hôm buổi mới đến.
VIẾNG VỊNH HẠ LONG
"Chưa đi chưa biết Hạ Long
đi rồi mới biết ê mông dài dài"
Anh trưởng đoàn đọc hai câu thơ trên khi xe buýt vừa qua khỏi cầu Chương Dương được một quãng chuẩn bị quẹo phải về hướng Hải Phòng. Cả xe đều cười vang lúc đó nhưng phải gần đến địa phận tỉnh Quảng Ninh thì mọi người mới thấm thía, vì quả thật đúng với tình cảnh bấy giờ. đường xấu quá nhất là lúc bắt đầu vô biên giới tỉnh Quảng Ninh. Xe dằn xốc kinh khủng. Ghế nệm êm cách mấy mà xốc kiểu đó thì mông phải ê thôi .
Từ Hà Nội chiếc xe buýt khởi hành lúc 9 giờ sáng. Trên xe gồm 19 người kể cả cô hướng dẫn và anh tài xế. Mười sáu tham dự viên cộng anh trưởng đoàn nữa là mười bảy Việt kiều Mỹ. Du lịch Hạ Long rất phổ biến. Khách sạn nào cũng quảng cáo dịch vụ nàỵ Có tour sáng đi tối về. Có tour đi hôm nay ngày mai hoặc bất cứ ngày nào về cũng được. Càng đi lâu càng tốn tiền, vậy thôị Cũng gồm đủ hạng. đi với người địa phương hay Tây ba lô hay Việt kiềụ Nhân tâm tuỳ mạng mỡ. Cỡ nào cũng có. Ở khách sạn 3 sao hay ngàn sao đều được cả. Cứ xuỳ bạc ra thì xong ngaỵ
Trên xe có 14 người lớn và 5 mạng con nít. Ba cặp vừa cưới nhau . Một cặp sồn sồn, bà vợ đã qua 1 đời chồng có mang theo cậu con riêng. Hai cặp kia còn trẻ đi hưởng tuần trăng mật nên cô cậu lúc nào cũng quấn quýt nhaụ Tôi bầu họ là hai cặp dễ thương nhất đoàn. Chỉ có hai người độc thân tại chỗ là anh trưởng đoàn và một anh bạn của anh. Hình như anh trưởng đoàn đang huấn luyện cho anh kia cách dẫn phái đoàn đi tour thì phảị Chuyện nhập vô đoàn đi Hạ Long của tôi khá ngẫu nhiên. Khi còn bên Mỹ tôi đã đặt tour sẵn sàng. Giờ cuối nơi tôi mua vé phi cơ gọi cho biết ngày giờ đi tour thay đổị Họ dời lại hai ngày sớm hơn. Bà chủ bán vé đề nghị tôi đổi ngày nghỉ hè. Trời, bà tưởng tôi chủ hãng hay sao mà muốn đổi lúc nào thì đổị Thế nên tôi huỷ bỏ cái tour bà ta tổ chức. Trên đường bay từ Bangkok ra Hà Nội tôi thấy một anh trông rất quen trên phi cợ Soát lại ký ức mới sực nhớ ra anh là chủ một văn phòng bán vé máy bay ở Little SG mà lúc trước tôi hay đến đặt vé cho ba tôị Hoá ra anh đang dẫn đoàn đi tour từ Bắc vô Huế rồi về Sài Gòn. Anh chịu nhận chúng tôi vô đoàn của anh chuyến đi Hạ Long.
Cô hướng dẫn viên nói giọng Bắc khá cao và nhanh nên đôi lúc tôi không hiểu cô nói gì. được cái cô thuộc bài nên khi xe qua những địa danh nổi tiếng cô giảng giải vanh vách. Nước da trắng trẻo đôi mắt chim sẻ nhìn có duyên. Cô và anh trưởng đoàn đầy kinh nghiệm nên dẫn dắt mọi người ca hát và kể chuyện vui trên xe làm thời gian trôi nhanh. đoạn đường từ Hà Nội qua tỉnh Hải Dương khá tốt. Xe ngừng nghỉ nửa tiếng ở một quán nhỏ khi vô địa phận Hải Dương. Mọi người có dịp thưởng thức bánh đậu xanh đặc sản uống trà nụ vối thật ngon. Xe nghỉ một lần nữa khi vào biên giới tỉnh Quảng Ninh. Chỗ này bán quả na rất nhiềụ Ai cũng mua ăn thoả thuê tại chỗ xong đem lên xe ăn tiếp.
Qua khỏi đoạn đường chiến binh dằn xót ruột này thì quang cảnh Hạ Long dần dần hiện rạ Tổng cộng mất khoảng 6 giờ đồng hồ cho cuộc hành trình. Thành phố nhỏ nhắn nhìn quay ra biển. Khách sạn và nhà hàng rất nhiềụ đang có vài công trường xây cất dở dang. đoàn ghé nhà hàng dùng cơm trưạ Xong về khách sạn khoảng 3 giờ. Trước khi về phòng anh trưởng đoàn hẹn tất cả mọi người tập họp lại lúc 7 giờ tối dưới phòng khách, đi ăn tối xong sẽ mướn thuyền ra bể ngắm trăng. Chúng tôi mệt quá nên ngủ giấc thật ngon. Thức dậy nhìn đồng hồ hơn 8 giờ tốị Mọi người đã đi chơi và không ai gọi cửa thức chúng tôi cả. Sau giấc ngủ dài sảng khoái hai chúng tôi đủ sức lội bộ tà tà dọc bờ biển. Xong đi lên phố xem xét. Nhà hàng nào cũng nhộn nhịp thực khách ăn uống. Tây ba lô hiện diện khắp nơị Chúng tôi sà vào một hàng ăn rất đông ngườị đang đói nên dùng đồ biển uống bia rất ngon miệng. Trở về khách sạn khoảng 11 giờ đêm. Xem TV một lúc rồi tắt đèn đi ngủ. để chắc ăn tôi gọi xuống phòng trực dặn họ đánh thức dậy lúc 6 giờ sáng mai kẻo lại ngủ quên nữa thì hỏng.
Sáng dậy đúng bong 6 giờ. Làm vệ sinh cá nhân xong xuống phòng khách. Gặp vài người trong đoàn. Hàn huyên vài câu mới rõ hai cặp trẻ hôm qua cũng ngủ quên. Họ đi ăn tối xong rủ nhau đi hát karaoke vui lắm. Trông khuôn mặt khả ái của hai cô tôi thấy niềm hạnh phúc ngập tràn trong đôi mắt. Hơn 7 giờ mà mọi người vẫn chưa xuống đủ kể cả anh trưởng đoàn. Tôi rủ cả bọn qua nhà hàng ăn sáng trước rồi chờ anh trưởng đoàn ở đó luôn thể. Khách sạn họ bao ăn sáng. Thực đơn chỉ có hột gà ốp la, mì gói và cháo trắng vậy mà mọi người khen ngon rối rít. Mãi mới thấy anh trưởng đoàn ló mặt. đúng 8 giờ lên xe ra bến tàụ Hơi lộn xộn tí nhưng chuyện giải quyết xong ngaỵ Rằng nếu chúng tôi đi riêng thì đi thuyền nhỏ. Còn thuyền lớn thì chịu khó nhập chung với các du khách đoàn khác. Mọi người đồng ý chọn thuyền lớn. Tàu nhổ neo ngay sau khi tất cả an vị. Trời hôm ấy mây mù kín mít báo hiệu sẽ có mưạ Trên đường đi cảnh trí đẹp mê hồn. Ai nấy đem máy ảnh ra bấm tí tách. Chập sau đụng ngay một cơn mưa xối xả. Nhìn quang cảnh trong mưa càng thơ mộng hơn. Mặt trời ló dạng chút xíu sau khi mưa dứt nhưng không lâu mây mù lại kéo đến. Ghé thăm động Thiên Cung độ nửa giờ đồng hồ xong thuyền nhổ neo qua bãi tắm ở một đảo khác. động Thiên Cung thật đẹp chỉ tội vừa mưa xong nên các bậc đi hơi trơn trượt. Ai nấy dắt díu nhau dò từng bước cẩn thận kẻo chụp ếch thì khổ. Trong động hình dạng thạch nhũ rất đẹp chỉ tiếc nhiều góc thiếu ánh sáng nên cảnh trí mờ ảọ Bên trong nhiệt độ khá nóng khiến du khách người nào mồ hôi cũng nhễ nhại như đang tắm hơị Mồ hôi thoát ra quá nhiều nên ra khỏi động về đến thuyền ai cũng cầm lấy chai nước tu lấy tu để. Thuyền lại rời bến để độ mươi phút sau cặp bến bãi tắm Ti Tốp. Tên nghe khá lạ taị Nghe cô hướng dẫn kể bãi tắm này ngày xưa do Tây thuộc địa lập ra dành riêng cho họ tắm khoả thân. Bãi hơi nhỏ mà người tắm quá đông nên chúng tôi không xuống mà thuê jetski chạy vòng vòng ngoài biển. Lần đầu tiên tôi chơi jetskị Học lái cũng không khó mấỵ Chạy được vài phút thấy hay hay tôi khoái chí tăng tốc độ lái thẳng ra tít mù khơi làm nhà tôi ngồi sau la chói lóị Bà ấy không biết bơi nên sợ lật cho dù đang mặc áo phaọ
Lang thang chụp hình đây đó. Khoảng tiếng sau chúng tôi trở lại thuyền chuẩn bị ăn trưạ Về đến thuyền thì cơm bắt đầu dọn rạ Lúc này thấy hai ba thuyền con cặp sát bên rao bán ghẹ, tôm sống còn giãy đôm đốp. Thấy thức ăn dọn ra bàn hơi ít nên một số du khách mua thêm hải sản từ các thuyền con này xong nhờ bà bếp thuyền lớn luộc lên nhậụ Chủ thuyền đem bia lạnh ra bán đắt như tôm tươị Mọi người nãy giờ bơi lội chơi đùa khá nhiều nên ai nấy đói meọ Thoáng chốc thức ăn đồ uống cạn sạch sành sanh. Trong lúc mọi người dùng cơm thì thuyền quay mũi trở lại bến tàụ
Một giờ trưa thuyền về bến. Anh tài xế đã đợi sẵn. Cả bọn lên xe thẳng tiến về Hà Nộị Chuyến đi chơi Hạ Long đầy kỷ niệm đẹp. Chi+? trừ một điều chúng tôi hy vọng nhà cầm quyền địa phương nhận thấy và giải quyết càng sớm càng tốt. đây cũng là nỗi ưu tư chung của một số Việt kiều chia xẻ với nhaụ Rất buồn khi thấy nơi du lịch đẹp đẽ một trong những kỳ quan quốc gia mà rác rưới quá nhiềụ Bãi đậu ở các đảo bị bà con trên những thuyền bán thức ăn đồ uống xả rác vô tội vạ. Ô nhiễm môi trường. Nước biển các chỗ ấy không còn màu xanh nữa mà đang biến dần thành màu đen. Rác nổi lềnh bềnh. Nhìn đau lòng hết sức. Tôi nghĩ cứ đà này vài mươi năm nữa vịnh Hạ Long nổi tiếng của ta có lẽ sẽ trở thành vịnh rác mất thôị Thêm nỗi phiền là một số người Việt hải ngoại vô tư bắt chước xả rác bất kể. Nhập gia tùy tục kiểu này không khá được.
VỀ LẠI HÀ NỘI
Về khách sạn nhận được hai tin nhắn của T. cháu tôi và bà chị họ của nhà tôị Lên phòng nhấc máy gọi T. bảo trưa mai nhà làm cỗ cúng các cụ và hẹn sáng mai mười một giờ qua đón. Bà chị họ nhà tôi thì mời chúng tôi dự bữa cơm gia đình. Trưa hay chiều mai cũng được nhưng nhớ gọi ngay cho biết sớm để sắp xếp. Tôi bàn tính với nhà tôi là mỗi người đi dự 1 tiệc. Bởi trưa mốt ra phi trường nên có hẹn chiều mai mời L. rồi, hay nhân thể mời bà con họ hàng dùng cơm chung tối mai xem như giã từ luôn. Nhà tôi bằng lòng. Tối hôm đó chúng tôi lại ra quán phở gà dùng bữa xong về ngủ sớm.
Thiếp một giấc khá dài bỗng tôi bị đánh thức bởi những tiếng động khác lạ. định thần một hồi mới nhận thức ra tiếng mưa rơi trên mái tôn. Sau khách sạn là khu nhà ở dân cự Tiếng lộp bộp thân quen mà dễ chừng hơn hai thập niên rồi tôi mới được nghe lạị Mưa càng lúc càng lớn. Chập sau tôi bật dậy mở cửa phòng ra hàng hiên đứng ngắm. Mùi đất nồng nàn ngai ngái oi oị Mưa tầm tã nhưng khí trời vẫn không mát dịu hơn. Lặng lẽ tôi đứng ngắm giọt mưa rơi qua không gian mờ mờ nhờ ánh sáng vàng vọt hắt ra từ vài bóng đèn trần trong hành lang dàị Mưa nặng hạt nhưng bầu trời không sấm sét gì cả. Hồi lâu mỏi chân tôi trở vào phòng cài cửa khoá lạị Nhà tôi cựa mình hỏi mấy giờ. Khẽ liếc đồng hồ trên bàn một tay vén màn cửa hé ra cho có ánh sáng lùa vào tôi dòm thấy hơn hai giờ khuya .
Sáu giờ sáng thức giấc trời vẫn còn mưa lai rai . Tắm táp làm vệ sinh cá nhân xong thay đồ xuống dưới khi trời vừa hừng sáng. Mưa đã tạnh. đường phố bắt đầu nhộn nhịp xe cộ qua lạị Cơn mưa tối qua làm cây cối tươi mát hơn. Chúng tôi rảo bước về phía Bưu điện gặp bác xích lô đang ngồi hút thuốc lá. Hỏi bác có hàng phở bò nào gần. Bác dụ dự nói gần thì có nhưng phở không ngon và đề nghị để bác chở đưa đi ăn ở cửa hàng thuộc hàng ngon nhất Hà Nộị Tôi hỏi có xa không bác bảo chỉ mươi phút đạp xe thôị Xong ngaỵ đến nơi nhà tôi mời bác vào dùng luôn nhưng bác vội vàng từ chối, chỉ nhận tiền xe rồi lật đật chạy ngaỵ Hoá ra con đường ấy cấm xe xích lộ Giờ quên phứt tên cửa hàng và địa chỉ. Chỉ nhớ cái quán vừa thôi không lớn lắm nằm trong khu phố cổ. Thực khách đến tự động lấy tô rồi đứng xếp hàng trước quày phở. đến phiên khách muốn ăn gì cứ nói ông chủ. Ông ta bày bánh vào tô xếp thịt vào rồi đổ nước dùng xong rắc tiêu bỏ hành. Hai tay ông nhanh thoăn thoắt. Trả tiền luôn ngay lúc ấy cho bà chủ rồi khách bưng tô đi tìm bàn trống ngồị Cái kiểu gần như tự phục vụ vậỵ Phở khá ngon nhưng thành thực mà nói thua phở bên Mỹ. Riêng mùi phở phải công nhận đúng phở bò Bắc. Thơm ơi là thơm. Chỉ nước dùng có lẽ nấu ít xương nên không ngọt cho lắm.
Ăn xong xỉa răng chiêu hết cốc nước trà chúng tôi chào cảm ơn hai ông bà chủ. Bước về phía ngã tư định đón xe gặp một dãy hàng bán trái cây đủ loạị Nhà tôi nảy ra ý kiến. Sẵn đây mua trái cây trưa mang đến họ hàng. Trước cúng gia tiên sau mọi người ăn lấy thảọ Tôi chịu ngaỵ Gớm, các cô bán hàng mời chào đon đả giọng Bắc ngọt thấu xương. đây họ bán trái cây đủ loạị Nào nhãn Hưng Yên, xoài cát miền Nam, măng cụt và chôm chôm tróc Lái Thiêu, thanh long Phan Thiết, nho Phan Rang, nho táo Hoa Kỳ, táo Trung Quốc, Tân Tây Lan và nhiều thứ nữạ Chúng tôi mua nho, táo, xoài, chôm chôm, măng cụt mỗi thứ một ít xong khệ nệ xách bao ra đón xe về lại khách sạn. Cũng không quên mua một cân nhãn Hưng Yên ăn thử xem ngon như thế nào mà nổi tiếng quá. Lên phòng nhà tôi bỏ nhãn vô tủ lạnh. Số trái cây còn lại chia làm hai phần bỏ bao cột chặt để sẵn trên bàn. Tôi nhón vài trái nhãn ăn thử. Quả ngon thật. Không hổ danh nhãn tiến. Cùi dày ít nước nhưng thơm hơn nhãn hột tiêu trong Nam nhiều . Nhà tôi thử xong cũng khen tấm tắc.
Nhìn đồng hồ vẫn còn sớm. đã tính trước nên chúng tôi tản bộ về phía hồ Gươm ghé văn phòng Air VN gần đấy mua vé ngày mai về Sài Gòn. Văn phòng bán vé máy lạnh mở mát rượị Tôi nhìn mặt các cô bán vé ai cũng nghiêm và buồn. Của đáng tộị Khách hàng đi mua mà các cô tiếp đãi như đi xin không bằng. Mặt hoa da phấn nhưng cứ lầm lầm lì lì, chả ai chịu khó cười lên một phát cho thiên hạ nhờ. Cầm vé trên tay chúng tôi thở phào nhẹ nhõm bước rạ Trời bắt đầu nắng gắt. Loanh quanh khu phố một chốc thấy gần mười một giờ tôi hối nhà tôi đi về. Vừa bước qua cửa khách sạn đã thấy T. cháu tôi ngồi chờ sẵn. Bắt tay thăm hỏi xong tôi lên phòng lấy bịch trái cây xuống ngồi sau yên xe Honda cho cu cậu chở về nhà ở Gia Lâm. Trước đó vài phút nhà tôi đón taxi đi đến bà chị.
T. trông mập hơn lần trước tức cách đây khoảng 5 năm. Vai cháu nhưng già hơn tôi hai tuổị Nội tôi có năm người con. Trai cả đến ba gái rồi ba tôi con út. Ông con trưởng tức bác ruột tôi sinh được mỗi mụn con trai tức bố T.. Bố T. cũng chỉ sinh được T. xong đi kháng chiến rồi mất. Thoắt đấy mà đã 5 năm. Lần tôi đưa ba mẹ tôi từ Mỹ về lại VN gặp T. và hai đứa cháu nữa từ Hà Nội vào Sài Gòn thăm và nhận họ hàng. Trong một bữa tiệc tôi đã gay gắt tranh cãi về nhiều vấn đề với các đứa cháu mà sau nghĩ lại thấy mình hơi trẻ con. đúng ra ngày đó tôi còn quá nhạy cảm cộng thêm thành kiến của các cháu mà gây ra sự bất bình. Giọt máu đào hơn ao nước lã. Thời gian hàn gắn tất cả.
Xe chạy qua cầu Chương Dương. Hôm trước đi Hạ Long xe buýt chạy ngang tôi ngồi trong góc nên không thấy cầu Long Biên. Giờ phía tay trái nhìn cây cầu lịch sử đen đủi bắc qua sông Hồng nước màu đỏ quạch đang cuồn cuộn chảy tôi bấc giác ngậm ngùi nhớ ba tôi, lúc sinh thời hay kể chuyện về quê Bắc và thường nhắc đến sông Hồng cầu Long Biên. Lá rụng về cội . Hôm nay tôi về đâỵ Quê cha đất tổ thấy thiêng liêng làm sao .
Qua khỏi cầu Chương Dương một quãng thì tới địa phận Gia Lâm. T. bảo sắp đến. Anh chàng đưa tay làm hiệu rẽ trái vào một con hẻm khá rộng đủ cho hai xe ô tô chạy ngược chiều . Chiếc xe Honda chạy băng băng luồn lách chốc sau ngừng ở một căn nhà có cánh cửa sắt sơn màu xanh lá câỵ Cánh cửa sực mở ra trong sân lố nhố bóng ngườị Dắt và dựng xe xong xuôi T. giới thiệu từng người với tôị Dễ chừng gần 20 mạng. Nhớ mặt hai đứa cháu đã gặp tôi ở Sài Gòn còn ngoài ra lạ hoắc. Một bà vai chị, vài người gọi tôi bằng chú trong đó có vợ T. và số còn lại gọi tôi bằng ông. T. nói hôm nay chưa gặp đủ họ hàng vì môt. số đang bận làm việc. Căn nhà của T. là nhà tổ, truyền lại từ đời cụ cố sau nhiều đợt tu bổ. Một chái ba gian y hệt như những căn nhà ở miền quê Bắc bộ mà tôi từng đọc trong tiểu thuyết ngày xưạ Gian đầu thờ gia tiên. Nhìn lên trang thờ thấy đặt ngay ngắn thứ tự hình ảnh bà nội đến ảnh bác cả, ba tôi và bố T.. Chỉ thiếu ảnh ông nội và ba bà bác gáị Sau khi thắp nhang xong tôi vào thăm hai gian kế bên dùng làm phòng ngủ. Qua khỏi cái sân xi măng nhỏ là cái chái lợp tôn sơ sài dùng làm kho lúa và chất dụng cụ làm ruộng. Xa xa bên bể nước là nhà vệ sinh, phòng tắm. Nói chung diện tích căn nhà khá rộng nếu kể luôn sân trước sân sau .
Hết tuần nhang mấy đứa cháu bắt đầu hối hả dọn tiệc ra trên hai bàn. Ngồi theo vai vế. Món ăn ê hề. Tôi chịu nhất đĩa gà luộc lá chanh và rau muống xào tỏị Rau muống mềm và ngon thật. Thịt gà Hà Nội thì khỏi nóị Bia hơi uống khá ngon. Không khí ồn ào vui vẻ. Chuyện nổ như bắp rang. Tôi nhận thấy tri thức các cháu đã tiến bộ rất nhiềụ Kinh tế bà con trong xã khá hơn nhờ ruộng trúng mùa liên tiếp. Riêng vợ chồng T. nhờ có cửa tiệm buôn bán vật liệu xây cất ngoài phố nên đã lo đứa con trai đầu du học bên Úc. Nói chung cơ chế kinh tế thị trường đã biến đổi đời sống một số người gặp thời cơ ăn nên làm rạ Vợ T. tâm sự với tôi niềm ao ước kế là cho đứa con thứ nhì du học Mỹ.
Trong bữa tiệc phái đàn ông uống bia kinh quá. Hết can nhựa này lại lôi ra can khác. Tôi chân bước chuếnh choáng tay cầm máy ảnh ghi lại hình ảnh mọi ngườị Uống một hồi nữa tưởng sẽ gục tại chỗ may sao có điện thoại nhà tôi gọị Bắt lên nghe giọng bà chị bảo đến nhà chơi cho biết mặt mọi ngườị Chụp được cớ tôi xin phép kiếu từ. Vợ T. mang trà và trái cây ra ăn uống tráng miệng. Chụp chung vài bô ảnh nữa tôi đi bắt tay giã từ từng ngườị Vợ chồng T. và các cháu nghẹn ngào dặn dò rằng lần tới về thăm quê hương chú, ông, nhớ phải ra đâỵ Tôi xiết chặt tay hứa sẽ trở lại không quên nhắc vợ chồng T. đi dự bữa tiệc chiều naỵ
Chiếc xe Honda do con út của T. lái bỏ tôi trước cổng nhà bà chị họ trên đường Hoàng Hoa Thám gần hồ Tâỵ Vào trong tái diễn màn bắt tay chào hỏị Lại khui biạ Trò chuyện độ nửa giờ uống hết lon bia tôi khèo tay nhà tôi ra ý bảo về. Nhắc mời bà chị và vợ chồng cậu cháu trai trưởng chiều nay đi dùng cơm chiều nay luôn thể. Ra khỏi nhà gió thổi mát mặt. Càng đi về phía hồ Tây gió càng mát. Tôi thích quá nên rủ nhà tôi đi dạo một lát quanh hồ ngắm cảnh. Cảnh chiều quanh hồ đẹp ghệ Chúng tôi bước đều trên đường Cổ Ngư xưa giờ mang tên mới Thanh Niên. đền Quán Thánh bên tay phảiị Qua khỏi đấy một tí đụng ngay hồ Trúc Bạch. Hàng cây quanh hồ đã có nhiều lá trở vàng gió thổi rơi lác đác báo hiệu trời sắp sang thụ Hồ Tây rộng quá đi mỏi chân mà chẳng thấm vào đâụ Thấy tôi vẫn còn hơi say nên nhà tôi giục về nghỉ. Chưa kịp chống đối thì cô đã ngoắc chiếc xe taxi bảo về khách sạn.
Nhà tôi rủ L. đến chơị Hai chị em đi ra phố xem mua vải vóc tơ lụạ Chúng tôi tán đồng chiều nay trở lại quán Pắc Bó. Trước khi ra cửa L. nhấc máy gọi nhà hàng đặt món ngan nướng đất sét. Món này phải gọi trước cỡ hai tiếng mới đủ thì giờ cho họ chuẩn bị. Tôi nằm phòng nghỉ mở TV xem tin tức. Xem chán dậy lấy mấy cuộn phim đem đi rửa tại hiệu ảnh kề bên khách sạn. đi lăng quăng tán gẫu với các cô bán hàng độ tiếng sau trở lại lấy ảnh. Về khách sạn đang chia xem ảnh chung với các cô cậu nhân viên phục vụ thì nhà tôi và L. về. Vài phút sau D., con trai trưởng bà chị họ đến với vợ và con gáị Bà chị vì áp huyết cao nên từ chốị Tôi bốc máy gọi nhắc T.. đứa con trai bảo bố còn say và đang ngủ nên tôi đưa vợ T. địa chỉ và số điện thoại nhà hàng. Xong D. chở tôi bằng Honda còn mấy người kia thì kêu taxi đến đấỵ
Lần này chúng tôi chọn ngồi trên lầu tức phòng ăn chính. đặc biệt có ban nhạc và ca sĩ hát giúp vuị Ngoài ngan nướng đặt trước, chúng tôi gọi lại món ưa thích cơm lam và gà nướng chanh như hôm trước, thêm bò lúc lắc, súp cơm cháy với rau muống xào tỏị Món nào cũng xuất sắc. Trong khi thực khách ăn uống thì các cô ca sĩ luân phiên hát trên sân khấu hoặc đến tận từng bàn. Khi đến bàn chúng tôi, vừa bắt đầu hát cô ca sĩ một tay cầm micro tay kia trao cho nhà tôi một nhánh hoa hồng. Nhà tôi chuyển ngay cho tôị Tôi tần ngần chả biết phải làm sao thì L. kín đáo nhắc nên lấy một tờ giấy bạc cuốn dọc theo cành hoa rồi đưa tặng lại cô ca sĩ. Gọi là bồi dưỡng. Tôi lật đật làm theọ Hát xong cô cảm ơn và hỏi chúng tôi có muốn yêu cầu bản nhạc nào không. Nhà tôi lúng túng nói đại tên một bản nhạc của đoàn Chuẩn-Từ Linh. Dăm phút sau một cô khác đến tận bàn hát bài "Gửi người em gái" đã yêu cầụ Lại tái bản mục trao cành hoa hồng. Lại bồi dưỡng. Lại được nghe nhạc yêu cầụ Vui quá. Ngồi mãi đến mười giờ không thấy T. đến. đành trả tiền ra về.
Buổi sáng chúng tôi đang loay hoay xếp hành lý vật dụng vô va li thì T. đến. Cậu bẽn lẽn xin lỗi đã quá chén ngày hôm qua nên đã không đi dự tiệc. Trên đường vô sở T. ghé qua tặng gói quà nhờ đưa cho mẹ tôi và một cân vải thiều sấy khô cho chúng tôị Tôi đưa tặng T. phong bì đựng vài tấm ảnh chụp hôm trước tại nhà. Hàn huyên một lúc T. cáo từ và chúc chúng tôi thượng lộ bình an. Mươi phút sau chúng tôi đem túi xách va li xuống dưới làm thủ tục trả phòng. Xong xuôi ngồi uống trà chuyện vãn đến hơn 9 giờ dón taxi ra phi trường. đến nơi làm thủ tục xong vào phòng đợi độ nửa tiếng sau lên xe buýt chở đến bãi đậu phi cợ Hơn tiếng sau chiếc Boeing 767 chở chúng tôi hạ cánh tại phi trường Tân Sơn Nhất.
Chuyến đi quá ngắn. Gần năm ngày mà mất hết hai ở Hạ Long nên tôi có cảm tưởng mình chưa biết gì về Hà Nội cả. Ấn tượng ghi lại không nhiều vì muốn biết rõ danh lam thắng cảnh ắt phải sống đây thời gian dàị Chỉ quanh quẩn vài khu phố cổ và mới như chúng tôi quả rất khó lòng ghi lại đầy đủ cảnh sinh hoạt của người Hà Nội được. Dẫu sao với mắt thấy tai nghe trong thời gian ngắn ngủi, vài nét chấm phá ghi lại chút kỷ niệm mà chắc chắn chúng sẽ hằn đậm trong trí tôi suốt đời .
- Phú Lê (10/98)
Tammy Nguyen
12-10-2002, 05:34 PM
Hội Thổi Cơm Thi Làng Phù Đổng
Mạnh Hà
~~~~~~~~~~~~~~~~
(vietmedia)
Trong các lễ hội cổ truyền còn được bảo tồn đến nay, hội thổi cơm thi ở thôn Lương Quy, xã Xuân Nộn, huyện Đông Anh, cách nhau khoảng 25km về phía Bắc có thể nói là độc đáo và hấp dẫn.
Cụ Nguyễn Thế Thỉ 86 tuổi, người cao tuổi nhất thôn Lương Quy kể lại: vào đời Hùng Vương thứ sáu, khi Thánh Gióng trên đường đuổi giặc ¢n đi qua thông Lương Quy thì rất đông trai làng theo ông đánh giặc. Để kịp cho các hàng trai của quê hương được ăn uống no nê trước lúc ra trận, các bô lão trong làng đã họp bàn khẩn cấp, chỉ huy mọi người tích cực chuẩn bị nấu cơm để khao quân.
Được quê hương cổ vũ, 50 chàng trai hăng hái lên đường cùng Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc. Sau khi chiến thắng trở về, ba trai làng giỏi nhất được triều đình phong tước "Tam vị Đức Đại Vương". Cũng từ đấy hội nấu cơm thi ra đời bảo tồn đến ngày naỵ Vào ngày 6 tháng 2 âm lịch hàng năm, nhân dân Xuân Nộn và khách thập phương tổ chức lễ hội cúng tế "Tam vị Đại Vương".
Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi đời sống của nhân dân "phong đăng hoa cốc", tức là được mùa, khoảng từ 3 đến 5 năm nhân dân mới tổ chức hội thổi cơm thị Đến đầu những năm 1990, đời sống nhân dân nơi đây đã có những khởi sắc, hội thổi cơm thi lại được tổ chức trong khoảng thời gian từ 3-5 năm một lần vào ngày 6 tháng 2 âm lịch.
Cuộc thi được tổ chức tại sân đình, có 4 giáp trong làng: Đông, Tây, Nam, Bắc tham dự. Mỗi giáp cử năm chàng trai khoẻ mạnh, xưa thì mặc áo dài đen, đầu đội khăn nhiễu, lưng thắt khăn xanh; ba cô gái mặc áo mớ ba, quần lĩnh, yếm đào, lưng thắt khăn điềụ Ngày nay trang phục có đơn giản hơn: nam mặc áo đỏ, đầu quấn khắn đỏ, nữ mặc áo dài trắng, cuộc thi chủ yếu dành cho nam, còn nữ dự thi têm trầu cánh phượng.
Một hồi trổng nổi lên, trên sân đình các chàng trai, cô gái đại diện cho các giáp ra mắt dân làng. Khi có ba hồi trống điểm, những lá cờ hội được các trai làng phất lên, chia làm ba cánh tượng trưng cho ba đạo quân của của ba Đức Đại Vương khi phất cờ đánh giặc ¢n. Cờ tung bay phấp phới khi ba vị vinh quy bái tổ. Tiếp đến là biểu diễn múa kiếm thể hiện uy lực của các đạo quân. Khi ba hồi trổng tiếp nổi lên, cuộc thi chính thức bắt đầu: đại diện các giáp chạy lên lấy thẻ. Các thiếu nữ của các giáp lên nhận trầu cau để thi têm trầu cánh phượng, cuộc thi đòi hỏi mỗi người phải có bàn tay khéo léo, kỹ thuật thuần thục để tạo nên những miếng trầu như đôi cánh phượng đang baỵ
Khi các thiếu nữ thể hiện tài năng của mình trong cuộc thi bổ cau, têm trầu, thì trai làng các giáp bắt đầu thi chạy lấy nước được dựng trong các nồi đất nhỏ, địa điểm lấy nước cách xa trên 1 km. Khi về đến sân đình, các giáp nhận thóc để giã gạo bằng cối đá. Tiếp đến các chàng trai chuẩn bị thanh giang hoặc thanh nứa cọ xát vào những thanh xoan ngâm nước được phơi khô đè lên rơm (hoặc rác) để tạo ra lửạ Đây là nét độc đáo của hội thổi cơm thi: bằng kỹ thuật điêu luyện, bằng kinh nghiệm để tạo ra lửa nhanh trong thời gian ngắn nhất. Khi đã có lửa, các hàng trai thi bắt gà được ban tổ chức thả ra để làm thịt lễ thánh. Đồng thời các chàng trai lại phải nhanh chóng vo gạo nấu cơm. Nồi nấu cơm được kẹp chặt bằng những thanh tre già, trong tiếng trống rộn ràng, tiếng cổ vũ của người xem, từng giáp một vừa đi vừa thổi cơm vòng quanh sân đình, người cầm bó đuốc, người cầm nồi cơm, người canh chừng cơm sôi, cứ như thế cho đến khi hết thời gian và phần đóm qui định. Sau đó, dùng khăn ướt nắm cơm thành từng nắm. Cơm yêu cầu phải chín, dẻo, thơm .... Mỗi công đoạn của cuộc thi đều được điểm, giáp nào giành thắng lợi chung cuộc sẽ được làng ban thưởng, phần lớn là các phần thưởng tượng trưng.
~~~~~~~~~~~~~~~~
Ho^.i này cũng thịnh hành ở Hanội, và phần đông tất cả các tỉnh ngoài Bắc ngày xưa, theo lời kể của Bà Nội của T.
Tammy Nguyen
12-10-2002, 05:38 PM
Bánh Cuốn
Vũ Bằng
(Trích từ Hương Vị Quê Hương, vietmedia)
~~~~~~~~~~~~~~~~~~
Có ai ở Hải Phòng, Nam Định, Thanh Nghệ chẳng hạn, về Hà Nội, mà đã có lần được thưởng thức món bánh cuốn Thanh Trì ăn với đậu rán sốt, tất càon lâu lắm mới có thể quên được món quà đặc biệt Hà Nội đó.
Khắp các nẻo đường, người ta vẫn được thấy những người đàn bà mặc áo nâu dài, đội cái món quà đó đi bán từ lúc trời vừa hừng sáng.
Cơ nghiệp của họ không có gì: một cái thúng đội đầu, trên có đậy một cái mẹt. Anh gọi, người bán hàng hạ thúng ở trên đầu xuống. Anh nhìn vào sẽ cũng chẵng thấy gì lạ hơn: một chai nước mắm, một chai giấm, một chén ớt, dăm cái chén, cái đĩa và mưoi đôi đũạ
Thế thôi, nhưng thưởng thức vài lần món bánh cuốn Thanh Trì rồi, anh sẽ thấy nhớ mãi món quà đó và nhớ từ cái dáng người bán hàng đội bánh nhớ đi, nhớ thứ nước chấm, nhớ cái cảm giác bánh trơn trôi nhẹ vào trong cổ... nhớ quá, nhớ khôn nguôi !
Hồi còn tạm lánh ở một làng vắng vẻ Khu Ba, có những buổi sáng êm trời, tôi vẫn vọng phía Thanh Trì nghĩ đến những hàng bánh cuốn đó và thấy thèm như thèm một hương yêụ
Nỗi "sầu Hả Nội" làm cho lòng người ta rã rời, se sắt. Lúc đó, mặc hết cả, người ta chỉ còn biết cầm lấy cái gậy mà đi ngay, đi đến bất cứ chợ quê nào cũng được, miễn là có hàng bánh cuốn để ngồi sà xuống một cái ghế nào đó, ăn một đĩa bánh xem có thể vơi được phần nào sự thèm khát miếng ngon Hà Nội không.
Không tài nào vơi được. Tôi đã đi nhiều chợ quê, ăn thử hết các mặt bánh cuốn, nhưng hoặc là bánh tráng dày quá, hoặc là bột xay nồng quá, hoặc là hành mỡ gia thô quá nên bánh nào cũng vậy chỉ làm cho t6o nhớ hơn thứ bánh cuốn Thanh Trì.
Bánh cuốn Thanh Trì đặc biệt nhất ở chỗ tráng mỏng, hành mỡ thoa vào muớt mặt mà nếm thì thanh nhẹ, mát rượi đị ờ trong thúng, bánh được xếp thành lớp kiểu như bực thang, trên những lá chuối xanh trong màu ngọc thạch; sắc trắng của bánh nổi bật lên nhưng nổi bật lên một cách hiền lành; và người ta tưởng tượng đến những người con gái bé nhỏ đứng ở dưới tầu tiêu đẹp một cách kin đáo và lành mạnh.
Ngay từ lúc trông thấy bàn tay người bán bánh bóc từng chiếc một, rồi cuộn lại một cách lơ là, bày trên những chiếc đĩa khiêm nhường, ta đã thấy yêu ngay những cái bánh óng ả, mềm mại đó rồị Có khi đương cầm đũa, ta muốn bỏ ngay ra để lấy ngón tay nhón từng chiếc bánh đưa lên cho khẽ chạm lấy môi ta như kiểu một cái hôn yêu trong buổi trao duyên thứ nhất.
Bánh thơm dìu dịu, êm êm. Cầm một chiếc, dầm vào trong chén nước chấm rồi đưa lên miệng, ta sẽ thấy cả một sự tiết tấu nhịp nhàng của bánh thơm dịu hòa với nước chấm dịu hiền, không mặn quá, không chua quá, mà cũng không cay quá.
Pha được một thứ nước chấm vừa ngon như thế, cũng đáng kể là tàị Có biết bao nhiêu nhà, nước mắm thì dùng nước mắm gia dụng, giấm thì chọn thứ giấm thực của Tây, mà pha một chén nước chấm như của người bán bánh không tài nào được.
Vì thế, nhiều người ăn bánh chuyên chú nhất về nước chấm rồi mới xem đến bánh có mỏng và óng mướt không. Đương ăn ngon, mà gần hết, thiếu đi mất một tí nước mắm, phải pha lấy ở nhà, có thể coi như là hỏng một bữa quà.
Nhà pha lấy, không tài nào được, dù là đã pha một chút nước sôi và đường vào nước mắm rồi; nước mắm đó thể nào cũng có một cái gì ng1ng, hoặc mặn quá, hoặc chua quá, cứng quá hay có khi nhạt quá.
Để làm nổi hẳn vị của nước chấm lên, người hàng bánh thường gia thêm vào chai nước chấm một hai con cà cuống băm nhỏ, nó đem đến cho ta một cái thú đậm đà hơn là cái thú cà cuống nước bán tứng ve nhỏ ở các hiệu bán đồ nấu ở phố Hàng Đường.
Ai muốn ăn nước mắm không giấm, nhưng vắt chanh xin tùy ý; ớt, lấy cay lắm hay vừa, cứ việc theo sở thích của từng ngườị
Ta chấm chiếc bánh trắng vào trong chén nước chấm màu hổ phách, đua lên miệng và chưa nhai đã tưởng như bánh"chưa đếm môi đã trôi đến cổ" mất rốị..
Cái ngon của nó dịu hiến, óng mướt, nhưng đối với một số người thì có lẽ như thế hơi có ý "thanh nhã" quá nên người ta thỉnh thoảng đã điểm vào một miếng thịt quay ba chỉ, bì giòn tan . Một thứ thì mềm mà thanh, một thứ thì nục nạc mà lại giòn, tạo ra một "mâu thuẫn" cũnh hơi là lạ.
Nhưng ăn bánh cuốn Thanh Trì, không gì trác tuyệt hơn là điểm vào mấy miếng đậu thật nóng, rán thật phồng trông óng a óng ánh như kim nhủ.
Chẳng hiểu bây giờ ở Thanh Nghệ, Nam Định, Hải Phòng đã có ai làm được đậu phụ ngon chưa, chớ vào khoảng mười lăm năm trở lại đây thì cái thứ đậu phụ rán thật phồng, ăn bùi mà không chua, quả là một thức ăn đặc biệt Hà Nội, không nơi nào làm được.
Tôi còn nhớ vào khoảng ba mươi năm trước đây có một ông ở Nam Định, sành đi hát cô đầu và sành ăn, mỗi tháng thế nào cũng đảo lên Hà Nội một lần. Cố nhiên, ông đi lên như thế không phải vì công việc, mà chính là để "đổi không khí" cô đầu, nhưng sau những đêm hành lạc, thể nào ông cũng phải về thật sớm ở nhà để ăn quà. Ấy là vì nhà tôi trông sang phố Hàng Hòm, mà ở đầu phố Hàng Hòm thời đó có một hàng cơm chuyên rán đậu thật sớm để bán cho những người ăn bánh cuốn Thanh Trì.
Củi trong lò nhóm to, mỡ đầy lòng chảo reo hò lách tách. Một người đàn bà ngồi trong bóng tối lấy đũa vớt những cái đậu rán đã già rồi đập đập vào bên thành chảo mấy cái, đặt lên hai thanh tre bắc ngang chảo để cho mỡ rỏ xuống cho kỳ hết. Nhưng có bao giờ đậu để được lâu đâu: mẻ này chưa xong thì đã có người đến mua mẻ khác rồị Quang cảnh vừa ấm nóng lại vừa yên vui đáo để.
Hàng đậu rán ấy bây giờ không còn nữạ Cùng với cửa hàng đó, cái thứ đậu thái dài bằng ngón tay cũng không còn. Bây giờ, ở các chợ cũng có người bắc chảo rán đậu để bán, nhưng đậu thái một kiểu khác, to bản hơn mà cũng có vẻ dày hơn xưa, tuy vậy ăn với bánh cuốn vẫn hãy còn ngon lắm.
Nói như vậy thì muốn thưởng thức bánh cuốn Thanh Trì với đậu rán sốt, người ta cứ là phải ở gần chợ hay saỏ
Nhiều nhà, ăn uống cẩn thận, thường mua đậu đem về rán lấỵ Bánh cuốn và nước chấm xếp đặt đâu đấy cả rồi thì trong nhà rán đậu vừa chín, bưng ra từng mẻ nhỏ, dăm ba chiếc một, để nhà ngoài ngồi ăn.
Ăn hết đến đâu thì lại bưng thêm lên đến đấỵ Như thế, đậu nóng hổi mà lại giòn. Ăn bánh cuốn cần phải thế; trong cái giòn của vỏ đậu lại có cái mềm của lòng đậu, thành thử lúc nhai, cái nóng hòa hợp với cái mát, cái giòn hòa hợp với cái mềm, tạo thành một cái gì vừa dẻo, tiết tấu như bản nhạc nhẹ nhẹ, trầm trầm.
oo00oo
Ngoài bánh cuốn Thanh Trì ra, còn có nhiều bánh cuốn khác, mỗi thứ có một vị khác nhaụ Bánh cuốn nhân mộc nhĩ, thường bán gánh, dày mình mà ăn vào hơi thô, nhưng nhai sậm sựt cũng có một cái hay riêng.
Thứ bánh cuốn trong có chiên một ít hành tai tái, ăn hôi mà mất vẻ thanh. Đáng kể hơn là thứ bánh cuốn nhân thịt hiện nay bán nhiều ở các nẻo đường, trong những gian nhà thấp bé, tối tăm; một người con gái nhà nghèo ngồi bên cạnh một hai nồi nước nóng, trên có căng một mảnh vải phin mỏng, múc từng thìa bột xay sẵn, tãi ra trên vải, rồi tra nhân vào bánh, cuộn lại rồi hấp lên.
Nhân thứ bánh này làm bằng thịt lợn băm nhỏ, gia hành với một chút mộc nhĩ vàọ
Bánh làm xong, người ta phết một chút mỡ rồi rắc một ít ruốc tôm lên mặt bánh.
Bánh này ăn nóng, bùi, ngẫm nghĩ thì cũng có một cái ngon riêng, nhưng chóng chán. Có lẽ cũng vì thế mà người ta luôn luôn tìm cách đổi vị đi: ai thích lạp xường thì có thứ nhân lạp xường, ai thích thịt gà thì có nhân thịt gà - và có nhà treo biển ở cửa gọi thế là "bánh cuốn nhân cải cách"! Buổi sáng mùa thu, đi qua một hàng bánh cuốn "cải cách" đó, thấy khói tỏa nghi ngút từ nồi nước hấp bánh lên như phủ những cái bánh đã hấp rồi trong một lớp the mơ hồ, khách đi đường cũng thấy nở lên một cái thú dùng thử dăm ba chiếc.
Ăn vào đến đâu, ấm ngay lòng đến đấỵ Thú hơn một bực là mình được ngồi ngay đầu quán mà ăn, được chiếc nào, ăn chiếc đó, thiếu nước chấm thì gọi lấy thêm ngaỵ
Ở nhà, mỗi lúc đâu đã có cái thú tự nhiên như vậỷ Mình lại thấy bắt thương cho những ông khệnh khạng, ăn một miếng, giữ gìn một miếng, chỉ sợ ngồi ở "đầu đường xó chợ" thì "nhĩ mục quan chiêm".
Ôi chao ! cứ ăn cho thích cái thần khẩu đã ! Những lúc đó mình thấy ái ngại cho những vị tổng trưởng, bộ trưởng và giám đốc, không biết có bao giờ được thưởng thức quà như thế này không.
Thường thường, bánh cuốn nhân thịt vẫn bán vào bửi sáng, nhưng ban đêm những cửa hàng bánh cuốn đó mở cửa để bán cho khách chơi đêm, những con bạc hay những ông vua "ăn thuốc" không phải là không có nhiềụ
Trong những cửa hàng này, đươc nói đến nhiều nhất là hàng bánh "bà hai Tàu" ở chợ Hôm. Đó là một gian hàng bé nhỏ và tiều tụy, ngoài bán đồ thiếc, ngổn ngang những tấm tôn kêu loảng xoảng. Hàng bánh cuốn dọn ở bên trong.
Một cái bàn con để người bán hàng bày những cái bát nhân và cạnh đấy, một cái bàn khác và bốn cái ghế tồi để cho khách ngồi: đó là tất cả cửa hàng. Nếu ông là người thấy khung cảnh đẹp thì xơi quà mới ngon miệng, xin đừng vào ! Người khách vào ăn ở đây bình dân lắm, nhất là phải biết chờ đợi, chứ vào mà muốn ăn ngay, không được.
ooOOoo
Bà hai Tàu bán một ngày hai buổi bánh: buổi sớm từ sáu, bảy đến mười giờ và buổi tối từ chín, mười giờ đến một giờ khuyạ Thường thường, cả hai buổi đó đều đông đảo khách ăn, phần đông là những người cầm bát đĩa đến mua về nhà, ai đến trước mua trước, ai đến sau mua sau, có khi phải sắp hàng, thành thử có khi mười giờ mình đến trông thấy người ta mua về kìn kìn, mà mình cứ phải ngồi đợi thèm nhỏ nước miếng, bực không thể nào chịu được.
Đặc điểm của bánh cuốn ở đây là bột bánh nhỏ mà mịn - áng chừng là gạo dùng để xay thành bột được nhà hàng chọn toàn thứ gié cánh, tám thơm.
Ngoài ra, nhân bánh cũng như các nhà hàng khác, hoặc thịt lợn mông, hoặc thịt gà, còn nước chấm thì cũng tạm vậy, không có gì đặc biệt.
ooOOoo
Thích dùng bánh cuốn nhân, mà thật là muốn chiều vị giác, người ta cần phải hơi cầu kỳ một chút: xuống phố Lê Lợi, tìm đến một hiệu riêng - hiệu Ninh Thịnh - chuyên bán mấy thứ quà Việt Nam: bánh cuốn, xôi vò, chè đường. Ăn ở đây, người ta có cảm tưởng ăn quà ở ngay chính nhà mình. Một phòng khách kê cái sập, bộ xa lông, tường vẽ hoa xanh đỏ; đây đó, một vài bức vẽ lồng trong khung kính. ở ngoài không có cửa hàng. Ông bà biết thì vào dùng thử mấy món quà, chớ không có bày bán hay kêu la ầm ĩ.
Bánh cuốn nhà này đặc biệt về điểm nhân thịt nhưng không ăn nóng, mà ăn nguộị Hình dáng cũng khác hẳn mọi nơi: không tròn, không to, cũng không phải hình chữ nhật, nhưng vừa xinh, dài khoảng một ngón tay cái, mặt bánh muôn muốt, nhân không nhiều, nhưng thơm ngon mà thỉnh thoảng nhai lại giòn.
Vì là thứ quà ăn nguội, nên nhà không có lò tráng, mà cũng chẳng có nồi nước sôi hấp bánh. Bánh làm sẳn từ buổi sáng, có khách đến, cứ việc xếp đem rạ Nước mắm thì pha giấm hay chanh, tùy ý, cà cuống nước để ngoài, ai muốn gia ít hay nhiều đều được.
Thứ bánh này ăn dẻo mà mát, nên hợp với buổi trưa trong ngày, những ông nào nhàn rỗi, nghĩ trưa xong đi chơi dăm ba bước trong một trời gió phây phây rồi tà tà đi vào thưởng thức dăm ba chiếc, rõ thực là thần tiên đấỵ
Ăn từ từ, nhấm nháp thôi, đừng vội và ông sẽ thấy bột bánh mướt đáo để, mà nhân bánh thì tinh vi, tương tự phong vị nhân bánh bẻ. Thứ bánh này không có ruốc tôm bày ở trên, ăn không chóng ngấy, nhưng nếu ông thích đậm miệng hơn một chút thì vẫn có thể điểm vào đó một hai chiếc chả lợn của một cửa hàng gần đấy, đã nục lại không pha bột, rán cứ vàng ửng lên như da đồng.
Không hiểu đối với các khách khác ra sao, chứ riêng tôi thấy thì thứ bánh nguội này dễ ăn hơn bánh khác. Những khi đi thưởng thức bánh này, tôi thường nhớ lại một quãng thời gian đã qua rồi, khoảng ba mươi nhăm, ba mươi sáu năm naỵ Cứ vào khoảng hai ba giờ chiều, có một bà cụ đội một thúng bánh cuốn nhân thịt đến bán cho những nhà ăn quen ở phố tôi - một phố xưa cũ có bán những pho kinh đóng bằng bìa cậy và những truyện Kiều Cung oán chữ nôm in mộc bản, bày bán trên những giàn sắt bằng trẹ Bà cụ ấy già lắm, lưng lại còng, đội thúng bánh đi bán, trông lại càng còng quá.
Vì thế người ta gọi cụ là "cụ Còng" và bánh cuốn của cụ - độc nhất trong hồi đó - là bánh cuốn cụ Còng - chớ chẳng gọi là bánh cuốn nhân thịt, nhân tôm gì hết.
Bây giờ, mỗi khi ngồi thưởng thức bánh cuốn Ninh Thịnh, nhai nhè nhẹ rồi ngồi mà suy nghĩ, tôi lại tưởng thấy lại ở đầu lưỡi cái dư vị bánh cuốn cụ Còng - ăn cứ êm lừ: nhân làm thanh cảnh, mà lại chấm với nước mắm ô long hảo hạng, chết thật ! ngon đến thế là cùng...
Tức một nỗi là cái ngon đó nó thoang thoảng như da thịt của một người đàn bà đẹp vừa gội đầu bằng nước nấu lá mùi; người ta mang mang tự hỏi không biết mùi thơm đó từ đâu ra, từ hương nư ớc tắm hay từ da thịt? Hương đó thoảng qua, rồi mất đi, rồi hiện lại, không ai còn biết lấy gì làm chuẩn đích để níu cái hương đó lại và phân tách xem saọ Cũng thế, hương vị thứ bánh cuốn cụ Còng cũng thoang thoảng như vậy, không thể lấy riêng một món nào để làm tiêu chuẩn cho sự ngon lành.
Có lẽ tất cả bánh, nước chấm và nhân cùng hỏa hợp lại mà tạo ra một cái ngon "toàn diện", chớ không phải riêng bột ngon hay là nhân ngon.
Mọi thứ đều tiết tấu như thế, người ăn bánh, nếu gia nhiều ớt quá vào nước chấm, có thể làm hại cho sự quân bìnhcủa cái ngon. Vì thế, bà cụ Còng không thích để cho khách hàng pha lấy nước chấm và hễ thấy ai gia nhiều ớt quá thì cụ ngăn tay lạị
Không phải là cái chuyện hà tiện quả ớt đâu, nhưng phàm ăn cay quá thì cái cay nó bắt người ta để hết tâm não vào nó thành quên mất cái ngon của bánh. Mà tội vạ gì lại ăn cay quá? Nó chỉ hại mắt, chứ ích lợi quái gì !
Tôi còn nhớ lúc đó mỗi khi thầy tôi dùng bánh thì tôi thỉnh thoảng lại được thí cho hai chiếc - và có hai chiếc, không hơn ! Trông bánh thèm quá, muốn ăn thêm một chiếc mà không tài nào có tiền ! Biết bao hôm, ăn xong hai chiếc bánh, vào nhà trong nằm võng kẽo cà kẽo kẹt, tôi đã ức ngầm về nỗi không hôm nào được ăn bánh cho thõa thích. Bánh này, thả ra, phải ăn cả một thúng mới đã đời !
Ba mươi mấy năm qua rồi, bà cụ Còng nay đã chết, nhưng bánh cuốn của cụ, tôi lại thấy hiện ra ở trong bánh của nhà Ninh Thịnh, tuy rằng hình dáng có khác nhau chút ít - một thứ gói tròn và một thứ gói vuông.
Có lẽ cách làm của hai thứ bánh này cũng chẳng khác nhau mấy tí; nhưng không hiểu tại bột, tại thịt hay tại nấm hương, mộc nhĩ bây giờ không được bằng thời trước, hay chỉ tại người mìnhcùng với ngày tháng có suy đi, mà tôi không thể nào thấy cái thèm muốn ăn cả một thúng hàng trăm cái bánh như ngày trước nữa !
Tammy Nguyen
12-10-2002, 05:40 PM
cám ơn các bạn chúc mừng cô chủ quán HN này nha , T. đang ráng đi vòng vòng , mượn đỡ hay chôm chĩa bài viết và tìm hiểu nhiều món ăn để đánh trống tưng bừng khai trương cho Quán Bắc Kỳ này .
Này này hỡi anh dundy nhà ta đó ơi !!!:D, anh trốn đâu mất rồi ? Anh cũng là gốc Bắc, Nam Định, nhận đại là Hà Nội đi, vô đây phụ T. một tay xem nào ? :p
Tammy Nguyen
12-10-2002, 06:14 PM
Phở Tàu bay
Vũ Mai Hoa Sơn
Khoảng năm 1938 - 1939, ở vườn hoa Hàng Kèn, trước cửa Sở hưu bổng Đông Dương (nay là Sở Y tế Hà Nội) xuất hiện một người Hoa thấp bé, vui tính, bán phở gánh rất ngon. Lúc đầu chỉ có nhân viên Sở hưu bổng, các bà buôn trong chợ Ngọc Hà, các bác tài xế ở bến xe Kim Mã đến ăn. Lâu dần "hữu xạ tự nhiên hương", khách ăn khắp Hà Nội, có người ở tận chợ Mơ cũng tìm đến thưởng thức. Chẳng ai biết tên ông hàng phở, thấy ông đội chiếc mũ cát két cũ xin được của một phi công, nên tiện thể gọi là phở Tàu bay, để mách nhau đến ăn cho tiện. Viên Chánh Sở hưu bổng người Pháp không thích ồn ào, muốn bắt phở Tàu bay dọn đi nơi khác. May sao có ông chủ sự người Việt là Đỗ Phúc Lâm thân sinh ra Nhạc sĩ Đỗ Thiếu Liệt (cùng lứa bạn bè với các nhạc sĩ tài danh Đoàn Chuẩn, Đỗ Thế Thiệt...) vốn là người rất mê ăn phở Tàu bay, đã xin chánh sở cho được bán như cũ. Cảm cái ơn ấy, nên mỗi lần ông Lâm đến ăn phở, nhà hàng lại kín đáo thái thêm vài miếng thịt, chút gầu gân ở phía sau vai ách con bò và mấy lát hành tây. Gặp hôm trời rét, lất phất mưa bụi, hàng phở Tàu bay hẹn ông Lâm đi làm sớm, đãi hẳn món đặc sản là tấm bánh phở bằng hai bàn tay cuộn bên trong ít thịt bò ướp xì dầu, tỏi, gừng non và quế chi, thêm ít rau thơm, tiêu, ớt. Chủ với khách mỗi người một cái nom như chiếc nem, ngồi nhâm nhi ly rượu nếp cái hoa vàng có mùi hương của cùi trái ổi găng thoảng nhẹ, rất quyến rũ. Loại rượu thơm rất lạ này chỉ có ở gánh phở Tàu bay, độc nhất vô nhị.
Việc đời có nhiều chuyện tình cờ mà nên nghĩa bạn bè tri kỷ tri âm, ân tình sâu đậm. Sau năm 1945, ông Lâm mất việc ở Sở hưu bổng của Pháp, gia đình đông con gặp cảnh gieo neo. Đầu năm 1946, ông phở Tàu bay khuyên ông Lâm mở hiệu phở ở số nhà 20 phố Nguyễn Trãi (nay là phố Nguyễn Văn Tố, gần chợ Hàng Da). Ông Lâm được bạn cho dùng tên hiệu phở Tàu bay, lại sai cả đứa cháu ruột đến giúp việc, hướng dẫn bí quyết làm hàng nên khách sành ăn kéo đến ngày một đông, nhiều sáng không còn chỗ phải ngồi tràn ra vỉa hè. Chiến tranh bùng nổ, phở Tàu bay theo chân ông Lâm và gia đình tản cư về chợ Chồ, xã Hậu Hiền, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh.
Cách chợ Chồ khoảng 2 km còn có trường Trung học Nguyễn Thượng Hiền đặt ở đình làng Ngò thuộc xã Ngô Xá. Nhiều học giả, văn nghệ sĩ, luật sư, bác sĩ tản cư về làng Ngò. Có lẽ vì vậy nên phở Tàu bay của ông Lâm thơm ngon, nức tiếng, đông khách nhất vùng. Danh tướng Nguyễn Sơn đã từng mấy lần vào quán ông Lâm ăn phở tấm tắc khen ngon. Nhạc sĩ Phạm Duy lúc về già sống cô đơn nơi đất Mỹ, viết hồi ký có đoạn: "Tại Hậu Hiền có gia đình nghệ sĩ khác, người con trai là Đỗ Thiếu Liệt chơi violon, bố mở quán phở Tàu bay rất nổi tiếng. Trên vách tường bên ngoài quán phở ghi mấy câu thơ quảng cáo theo lối hài hước, người đi đằng xa nửa kilômét cũng đọc được". Nghệ sĩ Mai Thảo vẫn nhớ mấy câu thơ này:
Những ai qua phố Hậu Hiền
Hễ có đồng tiền đến phở Tàu bay
Giá tuy đắt đắng, đắt cay
Ngon chẳng đâu tày, nức tiếng gần xa.
Chẳng biết phở Tàu bay của ông Đỗ Phúc Lâm ngon đến mức nào mà "đắt đắng, đắt cay" vẫn đông khách. Hồi ấy tôi còn bé tí, chưa vào xứ Thanh, chỉ có thể theo cha đến thưởng thức phở Tàu bay chính hiệu ở cửa đền cây si phố Sơn Tây, gần bến xe Kim Mã vào năm 1953 - 1954. Cha tôi là chỗ bạn bè với ông Lâm nên với ông chủ hàng phở Tàu bay người Hoa cũng có chút thân tình. Đến tận bây giờ đã gần 50 năm, tôi vẫn nhớ hương vị phở Tàu bay ấy. Cha tôi bảo ăn phở ngon phải chậm rãi thong thả từng thìa để mà thưởng thức. Gắp một ít bánh, một miếng thịt, chút hành vào thìa, nhúng xuống tận giữa lòng bát cho xâm xấp nước rồi nhẹ nhàng đưa thìa lên môi. Vị ngọt của xương, chất ngầy ngậy của gối gân thấm vào lưỡi. Hương thơm của gừng, thảo quả, đinh hương và các gia vị thoang thoảng quanh mép và đưa lên mũi, vừa kịp lúc hơi nóng của ớt, hồ tiêu toát lên từ trong ruột làm ấm rực cả người. Nghe cha tôi chuyện trò với chủ quán lúc thưa khách vài lần, tôi lõm bõm hiểu qua về nghệ thuật phở Tàu bay: Muốn cho phở ngon đương nhiên phải nấu nhiều xương. Thịt phải lọc màng, bóc mỡ cho kỹ. Trước khi luộc phải châm chế các loại gia vị, ướp xì dầu nước mắm đủ độ rồi mới đem bó lại cho khéo để khi thái miếng thịt vừa mỏng vừa nổi thớ đẹp như hoa và có vị đậm đà, thơm ngậy. Xương đem ninh cũng phải gọt gối cho kỳ hết các lớp mỡ bều, ướp với nước mắm, đường vàng, thảo quả, đinh hương, gừng non (tối kỵ gừng già) và mấy thứ khác nữa. Tất cả phải châm chế đúng tỷ lệ, có cái ướp từ lúc sống để tiền sinh hương, có cái bỏ vào lúc đun giữa chừng để hậu sinh hương... Dấm và tương ớt dùng cho khách ăn phở cũng phải hợp cách. Phở ăn càng nóng càng ngon nên tương ớt phải cay, nhưng cần có cách khử vị hăng bằng một loại thuốc bắc để không xộc lên mũi làm khách hắt hơi khó chịu. Dấm chua phải làm bằng chuối tây hay chuối lá có thêm một nải chuối ngự chín mõm trên cây để có mùi thơm lạ. Mới hay một bát phở ngon cũng lắm công phu!
Trước ngày ông phở Tàu bay người Hoa di cư vào nam tôi còn theo cha đến ăn phở lần cuối cùng vào một sớm mùa thu xao xác gió heo may, hoe hoe vài vạt nắng. Thế rồi 21 năm sau, tôi vào thăm ông chú , được nghe phở Tàu bay mở tại đường Lý Thái Tổ quận Nhất, cho đến đầu năm 1975 thì đi Hồng Kông. Thời trước, ở Sài Gòn có nhiều tiệm phở Bắc trong khu Khánh Hội, quanh chợ Ông Tạ và khu Ngã Sáu, Ngã Bảy.. nhưng không đâu địch được với phở Tàu bay. Năm 1997, nhạc sĩ Việt kiều Đỗ Thiệu Liệt, con trai cụ Lâm về thăm quê, gặp lại bạn bè cùng học cùng lứa Thành chung ở Nam Định và Trung học kháng chiến Nguyễn Thượng Hiền. Ông Liệt tâm sự, không ngờ biển hiệu phở Tàu bay lại chu du sang tận Mỹ và Canada. Tại khu người Việt, bang Califonia có nhà hàng Anh Đào treo biển quầy phở Tàu bay chính hiệu trên đường Santa Clara San Jose tại San Francisco, khu Tenderlvin cũng lại treo biển phở Tàu bay chính hiệu 100% của tiệm phở Lý Thái Tổ - Sài Gòn truyền nghề. Lại nữa, gần đây ở Orange Country bỗng có thêm tấm biển quảng cáo phở Tàu bay Lý Thái Tổ - Sài Gòn chính hiệu 100%... Tôi nghe chuyện thầm nghĩ tên hiệu dễ đặt, nhưng hương vị phở Tàu bay mấy ai theo được. Ngay giữa Hà Nội, mấy chục năm qua hễ đâu có phở ngon là tôi tìm đến, ước chừng hai chục quán. Khẩu vị ở đời mỗi người một ý. Riêng tôi thấy có phở Tý (Phất Lộc), phở Hải (bến xe Phùng Khoang) và phở Thìn (Hàng Tre) tạm theo được dăm phần hương vị phở Tàu bay. Thế thôi!
--------------------------------------------------------------------------------
nguồn: Người Hà Nội
bạn đọc (sưu tầm)
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
Ông Nội & Bà Nội của T. đã từng ăn phở tàu bay chính hiệu do ông chủ đội chiếc mũ két này bán, và bà của T. cũng hay kể chuyện này cho anh em T. nghe hoài cho nên bài viết này rất là đặc biệc và có nhiều ý nghĩa với T. nên muốn chia sẻ cùng các bạn
Tammy Nguyen
12-10-2002, 06:17 PM
Bánh tôm Hồ Tây
Nguyễn Huy Cường
Chẳng biết bánh tôm Hồ Tây có từ bao giờ. Chỉ biết có người Hà Nội phiêu bạt làm ăn mãi tận Sài Gòn hay tận Australia, tận Pháp, ngày về thăm quê vẫn tìm đến hỏi "bánh tôm Cổ Ngư".
Gọi là bánh tôm Hồ Tây, nhưng nơi làm và bán thứ bánh độc đáo này lại nằm trên bờ hồ Trúc Bạch, cách biệt hẳn với Hồ Tây bằng đường Thanh Niên rộng thoáng. Nghe nói ngày trước, ở đây chỉ có vài cái quầy lụp xụp, đơn sơ vừa bán bánh tôm vừa bán bia hơi, trời mưa khách chả biết chạy đâu, đành chịu đứng giữa trời cho mưa xối. Nay bánh tôm Hồ Tây được phục vụ trong một nhà hàng bề thế mấy trăm chỗ ngồi, thấp thoáng trong những tán cây si, cây đa râm mát lộng gió.
Cách thức làm ra cái bánh tôm có vẻ như đơn giản. Bột mỳ, thêm ít bột ủ chua, ít bột nở, ít bột ca-ri nghệ, hòa với nước cho sền sệt. Tôm tươi cắt râu, rửa sạch. Chảo mỡ nóng già, quệt bột lên khuôn, gắn một hai con tôm, thả vào. Cái bột, cái mỡ gặp nhau, chỉ sau mấy phút reo hò mừng rỡ trong chảo là cái bánh tôm đã nổi lên, chờ một lúc cho bánh già, vớt ra để ráo mỡ rồi đem ra phục vụ khách ngay. Nói thì đơn giản thế, nhưng nghề này cũng có lắm công phu. Nào lượng bột bao nhiêu, lượng nước ít nhiều, giữ tôm tươi, lửa lò nóng sao cho bánh không non quá cũng không bị cháy đen... ấy là bí quyết của nhà hàng. Có thế mới giữ được khách, mới bán được hàng.
Cũng cần kể đến nước chấm bánh tôm, nó cũng gần giống nước chấm bún chả vậy, phải đủ các vị chua, cay, mặn, ngọt. Nhưng chỉ vừa đủ, để chúng hòa vào nhau, thành một thứ nước chấm ngon lành đến độ uống suông cũng hết cả bát. Nhà hàng cũng phải có công thức nước chấm riêng, bao nhiêu năm trời vẫn pha một cách ấy.
Bánh tôm được bán theo suất. Một suất mấy cái cũng được tính cả. Có người khen cái suất ở đây khéo quá, ăn hết miếng cuối cùng là không muốn ăn thêm nữa. Thường thì người ta cắt hai suất vào một đĩa (vì khách cũng thường đi có đôi). Một đĩa bánh, kèm một đĩa rau sống đặt giữa bàn ăn, mỗi người một bát nước chấm riêng để trước mặt. Nhìn vào bàn ăn món bánh tôm thấy được sự hài hòa của mầu sắc. Cái bánh vàng rộm điểm con tôm đỏ tươi nổi bật trên nền men sứ trắng. Rau xà lách xanh nõn nà, rau thơm xanh thẫm. Trong bát nước chấm nổi những miếng đu đủ thái mỏng trắng xanh chen với dăm lát ớt đỏ mọng. Cái cách người sành ăn là thế.
Lại nói đến cách ăn. Khách cầm đũa gắp một miếng bánh tôm, kèm mấy lá rau xanh thả vào bát nước chấm. Đừng mải chuyện, cái bánh dầm lâu trong nước chấm nhũn ra, mất ngon. Bây giờ gắp cái bánh lên, bỏ cho gọn vào mồm đừng để giây nước chấm ra mép. Thế... và bạn sẽ cảm thấy được cái giòn tan của bột, cái béo của mỡ, cái bùi của tôm, cái mát của rau, cái giòn ngọt của đu đủ, thấy được sự hài hòa chua-cay-mặn-ngọt đang tan trên đầu lưỡi. Và bạn sẽ chỉ nói được một lời, rằng: - Ngon!
Bánh tôm Hồ Tây - một thứ quà giản dị - cũng góp phần làm nên bản sắc riêng cho đất Thăng Long nghìn năm văn hiến.
--------------------------------------------------------------------------------
nguồn: bạn đọc góp bài
bạn đọc (sưu tầm)
Tammy Nguyen
12-10-2002, 06:20 PM
In memories of Bà Nội của T.
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
Xôi lúa làng Tương Mai
Nguyễn Quốc Khương
--- địa phương: Hà Nội ---
Mỗi đặc sản ở Hà Nội đều gắn với tên làng đã sản sinh ra nó như bánh cuốn Thanh Trì, giò Chèm, nem chợ Vẽ hay xôi lúa làng Tương Mai. Xôi lúa làng Tương Mai được biết đến như một món quà sáng được người dân Hà thành ưa thích.
Xôi lúa được làm từ gạo nếp, ngô, đậu xanh và hành khô. Gạo phải là thứ gạo nếp thật thơm, thật dẻo; đậu xanh phải được ngâm kỹ tách vỏ và đồ chín; ngô phải là hạt ngô nếp dẻo và luộc qua nước vôi để hạt ngô thơm có mầu trắng. Trước khi đồ, gạo và ngô được ngâm vào nước nghệ tươi để xôi có mầu vàng óng của nghệ, vừa đẹp lại vừa bổ. Đậu xanh sau khi đồ chín giã thật nhuyễn rồi nắm chặt thành từng nắm to. Hành khô thái lát phi với mỡ đến độ chín vàng, mùi thơm nức là được.
Để có một thúng xôi, người làng thức dậy từ 2 - 3 giờ sáng, bận rộn với các công đoạn thổi xôi để xong trước 6 giờ sáng. Sau đó họ tỏa về các ngõ phố khắp Hà Nội. Người Hà Nội từ trẻ em đến người lớn tuổi đều biết ăn xôi lúa. Xôi lúa không đắt bằng phở và nó được người dân ưa chuộng bởi hương vị đậm đà. Xôi lúa bán chạy nhất vào mùa thu và mùa đông trong tiết trời Hà Nội bắt đầu lành lạnh.
Nói đến xôi lúa không thể thiếu hành khô và mỡ. Dù xôi có dẻo đến đâu, đậu có bùi đến mấy mà thiếu ít hành khô phi thơm, thìa mỡ nước thì vẫn không ngon và chưa đúng vị. Một gói xôi lúa phải đủ cả xôi, lớp đậu xanh thái mỏng, rắc một nhúm hành khô phi thơm lên lớp đậu và sau cùng là thìa mỡ nước tạo thêm vị béo của gói xôi. Xôi lúa được ăn điểm tâm buổi sáng chứ ít thấy ai ăn vào buổi trưa hay buổi tối.
Bây giờ có thêm món xôi ba tê, xôi trứng, xôi chả... nhưng không vì thế mà xôi lúa mất đi vị trí của nó trong hàng quà sáng. Và, sáng sáng quanh thúng xôi của người phụ nữ làng Tương Mai là người ngồi ăn, người đứng đợi gói mang về những gói xôi lúa nóng hổi, thơm phức.
thu trang
(Tạp chí Du lịch)
Phở Tuy Hòa
Mỗi lần nghe ai đấy hỏi: "ở Phú yên quê cậu, món ăn gì được gọi là đặc sản?".
Tự nhiên tôi nghĩ đến phở Tuy Hòa, Không dám cho phở là đặc sản quê hương, vì bây giờ đâu mà chẳng có phở, nhưng tôi đã có nhiều phen đi xa, ăn phở nhiều nơi, nhưng vẫn thấy phở Tuy Hòa có vị ngon riêng.
Con đường Nguyễn Công Trứ được mệnh danh là "phố phở" của Tuy Hòa, chẳng quán nào để bảng tên, chỉ ghi "phở bò tái, nạm". Người dân Phú Yên cũng chỉ khoái phở bò, còn phở gà, phở heo thì lắm lúc cũng ăn chơi đổi món chứ không ghiền. Vào quán, chỉ cần gọi: "Cho tô phở" là sẽ được một tô phở vừa tái vừa viên. Nhưng ở "phố phở" này chỉ một quán được coi là ngon nhất, đông khách nhất mà lại chẳng có bảng hiệu gì ráo, nằm đối diện với rạp chiếu bóng Đại Nam cũ, khách đến ăn gọi riết thành quen: phở Đại Nam. Quán phở Đại Nam là một quán bình dân, nhưng như nhiều người nói, ăn phở mà ăn ở một quán sang trọng thì không ngon, chất lượng chưa chắc bằng phở Đại Nam mà giá lại đắt hơn. Có người lại bảo, ăn phở ngon và đúng cách" là ăn phở gánh, phở ngồi bệt như người miền bắc... Tôi nhớ một người bà con xa là Việt kiều, lúc mới về nước, rủ tôi đi thị xã ăn phở. Tôi định chở đến một tiệm sang ở đường Trần Hưng Đạo cho lịch sự, nhưng cậu ta bảo: "Cứ chở đến quán Đại Nam cho em". Lần đó cậu xơi một lúc 3 tô, rồi nhe răng cười: "Lâu rồi không được ăn, thèm quá! Không no thì còn có thể "dứt" nữa cho đã!". Một người bạn tôi từ Sài Gòn ra, ăn phở Đại Nam xong, cho ý kiến: Bánh phở dai, ăn thật ngon miệng. Nghe như thế, tôi tự nhiên thấy tự hào về quê hương.
ăn phở cũng phải có "nghệ thuật" của nó"gia vị" cho phở chỉ là rau, ớt và ít mắm. Rau thường chỉ có hai loại xà lách và rau thơm, giữa chừng có thể gọi thêm đĩa giá trụng. ớt phải được xắt lát. Trộn đều những gia vị đó, vắt nước lát chanh tươi thì tô phở sẽ có mùi vị khác ngay.
Phở ăn phải thật nóng và thật cay, sao cho nước mắt, nước mũi rơm rớm mới là ngon. ăn xong một tô phở là người phải nóng lên.
Đâu chỉ là chuyện ẩm thực. Một tô phở Đại Nam giá 4.000 đồng, nếu tô nhỏ sẽ chỉ tốn 3.000 đồng thôi. Vì thế mà phở Đại Nam lúc nào cũng đông khách. "Thường ngày, đông nhất là lúc sáng sớm đến 8 giờ rồi lai rai trưa xế; từ 6 giờ chiều đến 9 giờ đêm cũng đông không kém - ông hàng phở Đại Nam tiết lộ - Tết, quán tôi chỉ nghỉ ngày 30 và mồng 1, còn bắt đầu mồng 2 là quán đã chật cứng.
Tất nhiên, chuyện ăn uống cũng "chín người mười ý", món này ngon đối với người này thì cũng có thể dở đối với người nọ và ngược lại, đó là tùy theo khẩu vị của từng người. Cậu em tôi trước khi về Mỹ, nói: "ước chi mang được phở Đại Nam sang Mỹ. Còn tôi, trong thâm tâm cứ nghĩ: Phở Tuy Hòa - trong đó có phở Đại Nam, là đặc sản Phú Yên.
--------------------------------------------------------------------------------
nguồn: Đại đoàn kết
bạn đọc (sưu tầm)
Tammy Nguyen
12-10-2002, 06:21 PM
Bánh cốm Hàng Than
Băng Sơn
Bánh cốm Hàng Than là một trong những món quà quý và ngon. Mỗi năm chỉ cần ăn nó một lần để đỡ nhớ mong là đủ và khi ta đón heo may về, nhìn sóng loang mặt hồ, ngắm những chiếc lá bàng đã đỏ sậm lìa cành, nhớ đến người đã đi xa và cắn miếng bánh cốm đầu mùa ta ngẫm nghĩ, ta hoài niệm, ta mông lung về những cánh đồng lúa chín, về những bãi chuối ven sông xạc xào lá gió, về những sợi lạt hồng như màu thắt lưng bao người con gái quê hương... bạn cứ thử mà xem...
Khi những làn gió heo may đầu tiên báo hiệu cho nam thanh, nữ tú tìm ngày lành tháng tốt để hợp cẩn nên duyên, khi những con chim ngói ngu ngơ xáo xác tiếng cánh màu nâu bạc gợi mùa Cơm Mới; ấy là lúc những hạt cốm (đặc biệt là cốm vòng) bắt đầu được khai sinh từ những bông lúa nếp vừa ngậm sữa, hoá thân trên lửa nồi rang, chịu đau đơn trong cối giã rồi nằm êm êm trong hương lá sen ngát thơm, đi vào trong phố những đôi quang có chiếc đòn gánh gia truyền cong một đầu như mũi thuyền đuôi én khoả mái chèo vô hình vào sương sớm để Hà Nội gặp lại tri âm từ thu trước tới thu nay.
Cốm vòng chỉ xuất hiện mỗi năm một ít ngày rồi lại bẵng đi như những làn mây lãng đãng cuối trời để lại niềm nhớ nhung thoang thoảng mơ hồ.
Đầu thế kỷ này có một người phụ nữ giỏi gia chánh, nguyên gốc làng Yên Ninh, một làng cổ ven hồ Tây (khoảng phố Yên Ninh ngày nay), mỗi năm nâng hạt cốm trên lòng bàn tay đưa lên đầu lưỡi, băn khoăn nghĩ làm thế nào có thể giữ hạt cốm lại với người lâu hơn nữa... Chè cốm, cốm xào cũng chỉ để ăn trong ngày. Bà thử chế biến nó thành một món bánh xem sao! Cốm được xào lên với đường, lấy đỗ xanh làm nhân, nhưng quan trọng là phải giữ được màu sắc và hương vị của thứ đặc sản kỳ lạ này. Nó phải khác bánh gai, bánh mật, bánh ít, bánh đậu, bánh khảo. Thế là mùa chuối xanh còn tươi được dùng để làm tấm áo xanh cho bánh cốm, thêm một chút điểm trang bên ngoài bằng sợi lạt nhuộm cánh sen...
Thế là một món tay ăn thấy ngon, đẹp và sang trọng, giữ được nâng niu khen ngợi. Bà phát triển nó thành một món quà đặc biệt Hà Nội, lấy tên là bánh cốm Nguyên Ninh, hàm ý giữ nguyên hương vị cốm và do người làng Yên Ninh nghĩ ra.
Đến nay, gần trăm mùa thu đã lướt qua Hà Nội, bánh cốm đã thành món quà sang trọng, mang một chút hồn riêng Hà Nội đi về trăm nẻo dọc ngang nam bắc khắp đất nước. Nó được dùng trong đám sêu, đám hỏi, đám cưới (kèm theo bánh phu thê gọi trệch ra là bánh xu xê) như hình tượng của âm dương, của lứa đôi, của sum vầy, khi màu xanh lá chuối có chữ thập bằng lạt đỏ, tạo ra ấn tượng khăng khít trinh nguyên sự sống còn xanh với màu tươi vui sắc đỏ.
Bóc vài ba lượt lá chuối xanh tươi mới thấy cái ruột bánh lấp lánh xanh ngọc xinh đợi chờ. Qua lớp vỏ bánh cốm hiện lên lớp nhân đỗ xanh đã nhuyễn vàng ươm, ngọt lừ mềm mại. Có người chê là bánh độn nhiều lá quá. Đâu phải thế. Bánh cốm đâu cần ăn nhiều, nó là thứ chỉ ăn lấy hương lấy hoa, ăn lấy thời tiết, ăn để cảm xúc, để hoà mình vào thiên nhiên tạo vật, một hai miếng là đủ cho ta gặp lại mùa thu nguyên lành hương vị. Một chiếc bánh xắt tư, ăn hai miếng đã là đủ, là vừa, là ngon, là rân rân cảm giác...
Bánh cốm nếu không gói nhiều lượt lá thì nó khó thành hình, bởi nó được sinh ra một hình vuông như chiếc bánh chưng xanh thu nhỏ, và chính vì vừa ngon vừa đẹp như thế mà nó còn được người con hiếu thảo gửi về quê xa làm quà cho cha mẹ cao niên, cho chú bác, cô dì lâu ngày không gặp, gọi là chút lòng thơm thảo của người xa - nhất là người xa ấy lại là Hà Nội và món quà ấy là quà Hà Nội.
Hiệu bánh cốm Nguyên Ninh có hàng mấy chục cái chum đại để để danh cốm, nên tết Nguyên Đán cũng có bánh cốm mang nguyên sắc xanh rờn lá chuối quê hương.
Trong một số bữa cỗ trang trọng của người Hà Nội cũng có thể dùng bánh cốm làm món tráng miệng thay cho món xôi vò, chè đường hay cam, chuối (đương nhiên cỗ thì không thể dùng cà phê như tiệc). Mỗi mâm chỉ cần một chiếc bánh, cắt tư, bốn góc bánh, thanh lịch, tao nhã, ít nơi nào sánh kịp.
Chính nhạc sĩ Duy Quang, người có nhiều bài hát hay cho thiếu nhi, là con trai của người phụ nữ Yên Ninh tài hoa ấy, và hãng bánh Nguyên Ninh vẫn đang tồn tại tại số nhà 11 phố Hàng Than, vì thế mà người ta quen gọi bánh cốm, dù sản xuất ở đâu, cũng là "bánh cốm Hàng Than". Mà cũng có lý, lâu nay phố Hàng Than không chỉ có riêng một nhà Nguyên Ninh, nó đã phát triển ra những hàng bánh cốm bình dân bao quanh bằng lá dừa bán trong chợ Đồng Xuân, làm bằng cơm nếp nhuộm phẩm, chỉ làm quà chợ cho trẻ bé...
Thời đại ny lông, người ta thấy xuất hiện màng mỏng trong chiếc bánh cốm. Bánh được bọc ny lông rồi mới gói lá chuối bên ngoài. Cầm thứ bánh này, tự nhiên thấy mất đi một cái gì giống như giữa tranh phố Phái đột ngột nhà bê tông mái bằng, hay thiếu nữ bên hoa huệ chợt khoác thêm chiếc áo vét. Có lẽ là bớt đi hương mùa thu, và cái chân chất mộc mạc của dân tộc.
--------------------------------------------------------------------------------
nguồn: bạn đọc góp bài
bạn đọc (sưu tầm)
ctd2002
12-10-2002, 06:29 PM
Này cô chủ quán, cho tụi này xem hình nữa chứ, sao mà chữ nghĩa không hà, đọc mỏi mắt quá !!! :D
HÀ NỘI 36 PHỐ PHƯỜNG, ctd chỉ biết có chừng đó thôi (hehehehehe) - tại bảo ngộ là dân Sài Gòn chính tông mà !!! :D
ctd2002,
MY-LINH
12-10-2002, 07:53 PM
My-Linh củng là Bắc-Kỳ nhưng là Bắc-Kỳ con nên biết nhiều về Hà-Nội
My-Linh có vài Sưu-Tầm mời Các Bạn Thưởng Thức
ĐẶC SẢN Ô MAI
(theo DLVN)
Mỗi khi ra nước ngoài hay có dịp đi đâu xa, người Hà Nội thường gửi cho nhau món quà thật ý vị, đó là quả ô mai. Quả ô mai sẽ giúp người Hà Nội luôn nhớ về hương vị của quê hương được gửi gắm trong đó.
Và từ lâu người Hà Nội cũng rất quen thuộc với các con phố mà tên gọi của nó gắn liền với nhiều mặt hàng kinh doanh khác nhau nhưng lại rất quen thuộc với các món quà ô mai như: phố Hàng Đường, Ngõ Gạch, Hàng Giày, Nguyễn Siêu, một số ở Hàng Buồm, Hàng Điếu, phố Huế, chợ Đồng Xuân… Mỗi dịp Tết đến, người ta lại xếp hàng dài trước mỗi cửa hàng quen thuộc và nổi tiếng trên đoạn phố này như: cửa hàng Thanh Giang ở Ngõ Gạch, Tiến Thịnh, Toàn Thịnh, Gia Thịnh ở Hàng Đường… để chờ mua cho được loại ô mai đặc sản của Hà Nội để kịp gửi làm quà cho người thân ở xa, hay để thưởng thức trong ngày Tết cổ truyền của dân tộc. Giá của các loại ô mai này cũng rất phong phú. Những loại ô mai ngon và phổ biến ở Hà Nội được nhiều người ưa thích như: ô mai mơ gừng, mơ xào gừng, mơ cay thì có giá từ 40.000-45.000đ/kg; ô mai mơ cam thảo, mơ chua cay mặn ngọt, mơ mặn ngọt từ 50.000-60.000đ/kg, ô mai mận cơm, khế gừng, sấu gừng, quả sơri từ 20.000-25.000đ/kg, các loại ô mai bằng quả tươi dầm, ướp như: cóc dầm, xoài dầm, sấu dầm, khế dầm… có giá 40.000đ/kg. Thông thường ở Đồng Xuân, Hàng Giầy giá bán mỗi loại có thể rẻ hơn từ 5.000-10.000đ/kg.
Có thể nói, đa số những cửa hàng, cửa hiệu này trên phố Hàng Đường đều có "nghề cha truyền con nối". Họ vừa là người trực tiếp làm ra các sản phẩm ô mai, vừa lại lo khâu tiêu thụ sản phẩm. Đôi khi họ còn phân phối, bán buôn cho các tỉnh, địa phương xung quanh Hà Nội như Hà Tây, Nam Định, Hải Phòng. Người chủ cửa hàng ô mai Thanh Giang cho biết: "Cái khó nhất của nghề vẫn là làm sao phải chế biến ra được mỗi loại ô mai mang màu sắc, hương vị đặc trưng riêng". Hầu hết các loại ô mai được làm từ nhiều loại quả sẵn có và phổ biến như: mơ, mận, me, cóc, đào, sấu, trám, quất, khế, xoài, mít… Từ mỗi loại quả này người ta có thể làm ra được 4-5 loại ô mai và mứt khác nhau. Tuỳ theo mùa vụ của các loại trái cây trong năm mà người ta có thể chọn các loại quả thích hợp làm nguyên liệu để chế biến ra các sản phẩm ô mai. Thường các chủ hàng hay chọn đúng thời điểm giữa vụ để lựa chọn, thu mua các loại quả, trái cây vì nó sẽ ngon và rẻ hơn. Các loại hoa quả sau khi thu mua về sẽ được rửa sạch, sơ chế qua, sau đó ướp muối và phơi khô hay hấp sấy. Công đoạn thứ hai quan trọng nhất là sao tẩm, chế biến ô mai kèm theo các gia vị khác như: đường, muối, gừng, ớt, phẩm màu tự nhiên… Mỗi chủ hàng phải có bí quyết riêng trong cách chế biến, pha trộn các nguyên liệu, hương liệu để làm tăng thêm tính đặc trưng, hấp dẫn cho sản phẩm của mình. Mỗi lần có dịp, người Hà Nội lại gửi cho bạn bè, người thân ở xa những cân ô mai đặc sản của Hà Nội làm quà. Không những thế quả ô mai còn giúp người Hà Nội được thưởng thức hương vị của các loại quả quanh năm mà không phải phụ thuộc theo mùa.
http://dactrung.com/phorum/upfiles/2290/Jh16556.gif
Miếng ngon nhớ lâu, Cơ cầu nhớ dai
Ăn vây, ăn bóng, ăn hải sâm, bào ngư, gì rồi cũng chán. Một buổi sáng kia, thấy nản về sự tiêu hoá, ta chợt nhớ rằng cơm trắng vẫn là lành và hợp với tạng phủ ta. Một bát phở khói bốc lên nghi ngút, một mẹt bún chả thơm ngào thơm ngạt, hay một đĩa bánh cuốn Thanh Trì, để bên cạnh một đĩa đậu rán phồng nóng rẫy lên, tự nhiên làm cho ta nhớ ra rằng những cái đó đã tạo nên một phần nào linh hồn của Hà Nội; sở dĩ ta thấy không thể quên được Hà Nội cũng vì những thức ăn đặc biệt Hà Nội đó.
Có những người đã qua cái tuổi hai mươi, bị những bóng dáng yêu kiều của đô thị văn minh xô đẩy, đã bỏ cái mái nhà yên ấm của mình đi theo tiếng gọi của một tình yêu mới, êm ái hơn, thắm tươi hơn.
Hương bốn mùa có thể làm cho họ say sưa, nhưng một buổi chiều đông kia, người đàn ông lạc phách trở về thấy gia đình ấm cúng, chân thật, bỗng thấy lòng ân hận, vì đến lúc bấy giờ mới cảm thấy chỉ có người vợ tấm mẳn mới là người chung thủy với mình.
Một cái quàng tay, một cái nhìn âu yếm, cả một thời ái ân xưa kia tưởng đã tan biến, bây giờ lại trở về, có phần thơm ngát hơn xưa. Một hơi thở, một miệng cười gợi lại cả một mối tình êm dịu mà kín đáo, cũng như một người xa quê lâu ngày, ngửi thấy mùi lúa chín ở cánh đồng, lại thấy nở ra trong trí bao nhiêu kỷ niệm tươi đẹp nơi đồng áng.
Miếng ngon Hà Nội, vì thế, nhiều khi làm cho ta yêu Hà Nội thấm thía, nhớ Hà Nội ê chề, và làm cho ta cảm giác ta là người Hà Nội hơn... Có ai đã xa Hà Nội lâu ngày, một chiều hiu hắt vọng về Hà Nội nhớ từng cái ngõ, từng cái nhà, nhớ từng vườn Bách Thảo, hồ Hoàn Kiếm nhớ đi, nhớ từ những hoa sấu rụng ở trên đường đầu thu nhớ xuống, mà tự nhiên ở đâu có người tìm đến mang "một chút quà Hà Nội" đến cho mình, người ấy mới có thể biết "quà Hà Nội" giá trị như thế nào!
Kể về đồng tiền thì cũng chẳng lấy gì làm đắt đâu. Một lọ cà cuống không to hơn một ngón tay; vài cái bánh cốm, bên một lạng chè mạn sen, hay một lọ vừng hoặc một chai nước mắm; mấy thứ đó tính theo thời giá, không quá măm chục bạc. Thế nhưng mà những cái quà đó đã đem đến cho lòng ta bao nhiêu sự đắm say, bao nhiêu thú vị, bao nhiêu cảm giác mông lung, nhã lịch! Ta cầm lấy mà thấy như ôm một chút hương hoa của đất nước vào lòng. Ai đã bảo ăn uống là một nghệ thuật? Hơn thế, ăn uống là cả một nền văn hóa đấy.
Nhiều người viết về ảnh hưởng huyền diệu của văn chương đã nhận rằng đọc một quyển sách hay có như sống hẳn một kiếp khác vì được làm bạn với thánh hiền.
Người sành ăn, người biết ăn ngon cũng thế, ăn một miếng ngon của đất nước thấy bừng lên ở trong lòng một mối hạnh phúc, vì đã được ăn vào trong mình một chút gì của đất nước, một tinh túy truyền từ năm, tháng nọ sang tháng, năm kia.
Có phen ta đã ăn qùa Nhật, ta dùng cơm Tây, ta lại ăn tiệc Tàu. Mỗi miếng ngon của một nước biểu lộ một phần nào cá tính cuả nước đó, cũng như uống nước trà năm giờ là đặc biệt Ăng-lê, ca-ry dê, ca-ry gà là đặc biệt Ấn Độ, hay ăn cơm rang với thịt bò trộn đường là đặc biệt Phù Tang.
Bây giờ có lẽ cũng đã xa rồi, nhưng vào cái thời 1946-1947, ở biên khu chạy loạn, tôi quả đã nhớ đến những miếng ngon Hà Nội, có khi đau nhói ở tim. Ăn một bát phở ở Chợ Đại, tôi lại nhớ tới anh phở Sứt ở trong cái ngỏ cụt Tràng Tiền; ăn nem chả thì nhớ nem chả ở đình Hàng Vải Thâm; bún thì bún chợ Bằng; miến lươn trên chợ Đồng Xuân; bánh đậu, nhớ bánh đậu Hải Dương; kẹo mè Thiều Châu, rồi thì bánh cốm Nguyên Ninh, chả Hàng Hài, và cốm Vòng, và nhãn Cót, và bánh lam Lim, và chả nướng Ghềnh, và bánh giầy Quán Gánh!
Bởi vì phàm thức quà gì ngon nhất, thảy thảy đều phải "có mặt" ở Hà Nội cả. Nhớ đến những quà ấy, không phải là nhớ đến Hà Nội mà thôi, nhưng là nhớ tất cả một dải đồng bằng phì nhiêu Bắc Việt, có sáo sậu nhảy trên lưng bò, với những người nhà quê vạm vỡ cầy ruộng, với những cô gái vừa hát vừa quay tơ, với những đứa trẻ chăn trâu, mặt mày lem luốc nhưng trông duyên dáng biết bao!
Chao ôi, những sự nhớ nhung đó, sao mà đằm thắm, sâu xa thế! Lòng người ta buồn nhè ønhẹ, có phải một phần cũng vì thấy nhớ nước, yêu nước và thương nước hơn không?
Ai bảo rằng sau bao nhiêu cuộc bể dâu, nước Việt Nam vẫn còn tồn tại là vì một nền văn hóa cổ truyền đã ăn sâu như những cái rễ vào trong dân tộc?
Tôi thấy rằng ví bây giờ mà tôi có bị mẹ mìn bắt đem đi đất lạ một nghìn năm, tôi cứ vẫn là người Việt Nam vì không bao giờ quyên được những miếng ngon Hà Nội và tôi thường thích nghĩ rằng những miếng ăn đó thật quả là giống như những tác phẩm văn chương bất hủ.
Thế giới mỗi ngày mỗi tiến hơn thì tư tưởng cũng thế, không đứng nguyên một chỗ. Vì thế có những tác phẩm hợp với thời đại này mà không hợp với thời kia, hay với người thời này mà không hay với người thời khác; nhưng bên cạnh những cái đó, há ta chẳng thường thấy những áng văn gọi là "cổ điển" mới luôn luôn, mới mãi mãi, đời nọ truyền đời kia mà không lúc nào lạc hậu đó sao?
Đó là những tác phẩm của Voltaire, của Dickens, của Ôn như Hầu, của Shakespeare, của Đoàn thị Điểm; hơn thế nữa, truyện Kiều của Nguyễn Du có 4.000 câu thơ, mà có nhà học giả dám đoan quyết không thể thay đổi đi một chữ!
Nhiều "miếng ngon Hà Nội" có thể cũng ví như tác phẩm của Nguyễn Du. Không thể khéo hơn được, không thể ngon hơn được, vì thế, không thể thay đổi được. Nếu ta muốn nhại Nguyễn văn Vĩnh, sao ta lại không thể nói được rằng :"Nước Việt Nam còn thìø miếng ngon Hà Nội vẫn còn?" cũng như ông đã viết :"Truyện Kiều còn thì nước Nam còn!"
Từ trước đến nay, nhiều người đã phân tách và giải thích truyện Kiều cũng như các tác phẩm văn chương khác cuả Việt Nam.
Phần tôi, bắt đầu từ đây, tôi muốn đem phân tách và giải thích"miếng ngon Hà Nội", những miếng ngon mà người Việt Nam ăn vào thấy ngát mùi đất nước Việt Nam, thấy mình Việt Nam hơn, và thấy thích thú, kiêu hãnh được trời cho làm người Việt Nam.
Vũ Bằng
Miếng Ngon Hà Nội,
Nam Chi Tùng Thư, Sài Gòn,1960
CHÙA MỘT CỘT - TINH THẦN TÍN NGƯỠNG THỜI LÝ
http://www.vov.org.vn/chuyenmuc/hanoi/hinhanh/Chua_Mot_Cot_1.jpg
Lý Công Uẩn cũng như các vua Lý kế tiếp, đã xây dựng một quốc gia tiến bộ, khác hẳn Đinh, Lê ở trước, mà các triều đại sau cũng khó sánh bằng. Thời đại nhà Lý là thời đại toàn thịnh của Phật giáo mà cũng là thời đại có ý thức dân tộc rất cao, tinh thần quốc gia hùng mạnh trong lịch sử độc lập của nước Việt. Chùa Một Cột đã xuất hiện một cách tự hào, độc đáo trong cái tinh thần đó.Theo truyền thuyết chùa Một Cột hình thành từ một giấc mộng của vua Lý Thái Tông: "Tháng Hai, mùa xuân năm Kỷ Sửu (1049) đổi niên hiệu là Sung Hưng Đại Bảo năm đầu. Trước đó vua nằm mộng thấy Phật Quan Âm ngồi trên đài hoa sen, dẫn vua lên đài, khi tỉnh dậy, vua nói chuyện lại với triều thần, có người cho là điềm xấu, nhưng thiền sư Thiền Tuệ thì khuyên vua nên xây chùa, dựng cột đá giữa hồ, xây đài hoa sen có tượng Phật Quan Âm ở trên, đúng như hình ảnh đã thấy trong mộng. Các nhà sư chạy đàn xung quanh, tụng kinh cầu sống lâu và đặt tên là chùa Diên Hựu". (Lý Kỷ - Toàn thư).
Như vậy thì chùa Một Cột lấy nguồn cảm hứng từ giấc mộng đài sen với Phật Quan Âm. Cảm hứng từ mộng là một loại tâm lý nghệ thuật của các dân tộc phương Đông, và hình dáng chùa đã bao năm nhiều ý nghĩa nghệ thuật tôn giáo. Từ thời nhà Đinh đã dựng cột bia đá gọi là cột "nhất trụ" để cầu tuổi thọ, cầu cho vận nước cường thịnh lâu dài. Cái ý niệm đó tượng trưng bằng hình "Một Cột" cũng mang một ý nghĩa với nguyên lý sinh thành của địa mẫu, hay nguồn sống vũ trụ. Đến đời nhà Lý thì cái cột "Nhất Trụ" ấy lại bao trùm nhiều ý nghĩa hơn nữa khi vua Lý Thái Tông (1028-1054) đã biến hình "Nhất Trụ" thành hình hoa sen, bằng cách cho xây trên đỉnh cột một cái điện nhỏ bằng gỗ lợp ngói mái cong để trở thành chùa Diên Hựu (tức Một Cột). Chùa có hình dáng một hoa sen, nếu nhìn từ xa thì đúng đó là một hoa sen lớn, mọc lên từ hồ nước, chiếc cột là cọng sen. Hình ảnh hoa sen đã có trong tinh thần dân tộc từ thời nhà Đinh: Đinh Bộ Lĩnh ở cạnh đền Sơn Thần, ngoài cửa có đám sen núi, có dấu chữ thiên tử. Mẹ Lê Hoàn có mang nằm mộng thấy trong bụng sinh hoa sen. Năm 1058, tháng 6, niên hiệu Long Thị Thái Bình thứ 5, vua Lý Thánh Tông cho xây điện Linh Quang, bên trái dựng điện Kiến Lễ, bên phải dựng điện Sùng Nghi, phía trước điện dựng lầu gác chuông Một Cột sáu cạnh hình hoa sen. Trong quan niệm của người quân tử thì hoa sen luôn mang một ý nghĩa đẹp, tượng trưng cho những gì cao quý nhất trên đời. Nơi nào có hoa sen là nơi đó có Phật ngự trị. Nơi nào có dấu sen là nơi đó có dấu vết hiền nhân. Nơi nào có hồ sen phải là nơi thanh tịnh. Hoa sen đã được người bình dân tôn quý, ví với những người có tâm hồn thanh cao, sống nơi bụi trần mà không bị danh lợi ô uế, ràng buộc, cám dỗ:
"Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn".
Cũng vì hoa sen mang một ý nghĩa như thế, nên hễ người ta nói tới hoa sen là nói tới Phật, sen là chỗ Phật ngự, toà sen là toà Phật. Vì vậy mà vua Lý Thái Tông đã mộng thấy hoa sen với Phật Quan Âm đứng trên đài sen và giấc mộng ấy đã được hiện thực bằng ngôi chùa Một Cột có hình dáng hoa sen với tượng Phật Bà Quan Âm được thờ trong đó.
Tín ngưỡng Phật Bà Quan Âm trong dân tộc Việt cũng là một tín ngưỡng đặc biệt, nó biểu hiện cho lòng yêu thương vô bờ của Mẹ, hoà đồng với tín ngưỡng sùng bái Nữ Thần trong tư tưởng bình dân Việt Nam. Người bình dân Việt Nam với tâm hồn chất phác, chân thật, luôn luôn có khuynh hướng nguyện cầu một đấng từ bi cứu khổ, cứu nạn như Bồ Tát Quan Âm hay là Nữ Thần Địa Mẫu của họ. Họ nương tựa vào đó như một nơi an lành, như đứa trẻ cảm thấy được yên ổn trong đôi tay của mẹ... Họ luôn luôn yên tâm khi tin tưởng có Quan Âm Bồ Tát ở bên cạnh che chở, độ trì.
Xem thế, chùa Một Cột quả là một tác phẩm nghệ thuật tân kỳ, thể hiện trọn vẹn cái tâm linh độc đáo của dân tộc. Với chiếc cột độc nhất dựng sừng sững giữa hồ biểu hiện cho tín ngưỡng về nguồn sống vũ trụ, về Âm Dương hoà hợp sáng tạo... và với tượng Phật Bà Quan Âm tượng trưng cho tình mẹ, cho Thánh mẫu từ bi luôn cứu độ chúng sinh, chùa Một Cột quả là gói ghém hoàn toàn cái tinh thần tín ngưỡng đặc biệt của Việt Nam thời Lý. Tinh thần đó đã dung hoà với các tư tưởng vừa trí thức, vừa bình dân, nhất là nó thể hiện một cái tinh thần hợp sáng nhưng độc lập của quốc gia./.
Phạm Vũ Dương
http://www.vov.org.vn/chuyenmuc/hanoi/hinhanh/Chua_Mot_Cot_1.jpg
PHIM VÀ NHỮNG RẠP CHIẾU PHIM ĐẦU TIÊN Ở HÀ NỘI
Bộ phim đầu tiên sản xuất ở Hà Nội là phim "Kim Vân Kiều" làm vào năm 1921 do các diễn viên Tuồng Quảng Lạc đóng. Phim quay ngoại cảnh ở vùng Bưởi, dài 1.500m, do hãng IFFC (Indochine Films et cinémas) sản xuất. Nhưng năm 1925 mới là một năm có ý nghĩa ít ra với điện ảnh Hà Nội. Đó là việc ông Nguyễn Lan Hương, tức ông chủ hiệu ảnh Hương Ký thuê một người Pháp dạy nghề làm phim rồi mua thiết bị và máy quay phim, tự làm lấy phim. Ông dựng hai phim: Một phim có tên là "Một đồng kẽm tậu được ngựa" cốt truyện dựa theo ngụ ngôn "Perrette et le pot" của La Fontaine, dài 200m. Phim thứ hai do ông quay tại Huế, có tên "Ninh Lăng" dài 2.000m, ghi lại đám ma vua Khải Định. Phim thứ ba là "Tấn tôn đức Bảo Đại" cũng quay ở Huế, dài 800m. Các phim do ông Hương Ký sản xuất được chiếu ở rạp cinéma Tonkinois phố Hàng Quạt (nay là trụ sở Đoàn Ca múa Hà Nội, phố Lương Văn Can). Năm 1927, có phim "Bà Đế" dài 1.000m, do một tác giả người Pháp là Paul Munier viết kịch bản, đạo diễn cũng là một người Pháp: Georges Spacht, vai chính là Nguyễn Hữu Kim và cô bé Léonor Gilles.
Rạp chiếu bóng được xây đầu tiên ở Hà Nội là rạp Palace ở phố Paul Bert nay là phố Tràng Tiền, vào năm 1920. Sau đổi tên là Eden, nay là rạp Công Nhân. Sau đó có các rạp Les Variétés sau đổi là Pathé (nay không còn vốn ở bên đền Bà Kiệu đối diện đền Ngọc Sơn), Cinéma Tonkinois (nay là Đoàn Ca múa Hà Nội phố Lương Văn Can), Family (nay không còn, vốn ở phố Hàng Buồm), Majestic (nay là rạp Tháng Tám ở phố Hàng Bài), Olympic (nay là rạp Hồng Hà ở phố Hàng Da)./.
Tô Hoài - Nguyễn Vinh Phúc
http://www.vietcyber.net/main/images/xmastree.gif
-hoangminh-
12-10-2002, 08:08 PM
trưa muh vô đây ...rùi thôi ...chết đời tui :D :D :D
kéo ghế ngồi đọc ..wow... :)
HM mới biết thêm nhiều món ngon wá xá ở Hà Nội đó nghen
thankz chị Tammy and Mỹ Linh
:dance: :dance:
giatugiatu
12-10-2002, 08:57 PM
Hà Nội băm sáu phố phường
Hàng Gạo hàng Đường hàng Muối trắng tinh
Saigonian
12-10-2002, 10:10 PM
Bài Phở Tàu Bay thật thú vị Tammy!
ngocmai99
12-10-2002, 11:02 PM
nm sanh ra và lớn lên ở miền trung, nói đến Hà Nội là điếc luôn , chỉ nghe bố mẹ nói đến nhưng chưa có cơ hội về thăm lại quê cha đất tổ nên không biết nói gì ,chỉ có mấy tấm hình chôm được ,nó thay mình để nói lên tất cả những điều mình muốn. Những hình này ở Hà Nội, nhưng không biết nơi nào ? - Đồ chôm mà :D
http://ngocmai99.0catch.com/HN4.jpg
http://ngocmai99.0catch.com/HN2.jpg
http://ngocmai99.0catch.com/HN3.jpg
http://ngocmai99.0catch.com/HN1.jpg
ctd2002
12-11-2002, 01:16 AM
Hello NM,
Cám ơn bạn đã post lên vài tấm hình cho xem để mình có thể hình dung ra Hà Nội. Cái hình cuối là Hồ gì mà đẹp ghê vậy NM? CTD nghe nói sở dĩ Hà Nôi giữ được vẻ cổ kính và nên thơ của nó cũng một phần vì không có nhiều modern development quá (There is not a supermarket in sight within the entire city. Could you believe it ???!!!)
Nếu ví VN là Cali, thì Hà Nội như là Sacramento và Sài Gòn như là Los Angeles vậy đó !!! Is that a fair comparison ?
ctd2002,
ctd, Hà Nội không thể nào compare với lại Sài Gòn được, mà có thể so sánh với Huế, vì đó là những cố đô xưa kia của VN nên thành phố cổ kính. Còn Sài Gòn là thành phố công nghiệp phát triển về sau này, nếu so sánh về sầm uất cổ xưa thì Sài Gòn thua xa lắm. Nhưng nếu nói về những phát triển kinh tế khác thì không đâu bằng SG cả.
ngocmai99
12-11-2002, 09:22 AM
Hi ctd nm không biết cái hồ tên là gì ? vì hình không có đề tên.
Ize Chắc Ize đọc quá lẹ nên miss cái main points của ctd rùi.
ctd muốn nói nếu Việt Nam là Cali thì Hà Nội sẽ là Sacramento ( thủ phủ của Cali - Ở mỹ họ luôn chọn thành phố nhỏ làm thủ đô vì khi có chiến tranh, thành phố lớn sẽ là 1 chỗ rất dễ để target, và khi có cuộc biểu tình thì chính quyền có nhiều thời gian để chuẩn bị đối phó hơn )
Còn Saigon ví như là Los, vì Los 1 thành phố công nghiệp , và cũng là thành phố lớn thứ 2 , 3 của Mỹ sau NY hoặc Chicago- Sự so sánh của ctd rất logic
ngocmai99
12-11-2002, 01:16 PM
Hồ Hoàn Kiếm vào 1 đêm xuân
http://ngocmai99.0catch.com/Tet%20tren%20ho%20hoan%20kiem.jpg
kinder18
12-11-2002, 04:32 PM
To*' cu~ng Ba('c Ky` da^y, nhu*ng to*'i sanh tru*o*?ng trong Nam ne^n kho^ng bie^'t nhie^`u ve^` Ha` No^.i cho la('m. Nhu*ng hi vo.ng giu'p i'ch do^i chu't nhe'.
In the fall of 1010, King Ly Thai To (Ly Cong Uan) moved the capital from Hoa Lu to Dai La. On the way, the king saw a vision of a golden dragon ascending from the Red river ( song Hong). The King decided to change Dai La to Thang Long (Ascending Dragon). Thang Long remained the capital city until the end of the Tran dynasty when in 1397, the capital city was moved to Thanh Hoa -Tay Do (Western Capital) and Thang Long became Dong Do (Eastern Capital).
Ha means river and Noi means within - Ha Noi means within the river.
kinder18
12-11-2002, 04:42 PM
36 Pho Phuong cua Ha Noi. Pho^' la` cho^~ buo^n ba'n. Phuong means a district or a guild of artisans specializing in a particular trade
Pho^' Hang Bun (Vermicelli)
Pho Hang Ma~ (paper product)
Pho Hang Ba.c (Jewelry)
PHo Hang Bong(Flower)
..kho^ng bie^'t,
kinder18
12-11-2002, 04:45 PM
Ho Hoan Kiem (Lake of the Return Sword)
ctd2002
12-11-2002, 05:29 PM
Thanks bé kinder18,
That was very informative. Để CTD về hỏi lại mấy người lớn trong nhà, hỉnh như họ nhớ hết tên 36 phố phường đó, rồi CTD sẽ post ra đây cho các bạn.
Nói là Phố vậy chứ nó nhỏ như một con hẻm ở Chợ Lớn hà, không có lớn lắm đâu. Chợ Đồng Xuân chỉ cở như chợ Tân Định hà chứ không được như Chợ Bến Thành đâu.
Để CTD ráng về sưu tầm rồi post lên cho các bạn xem nhé.
Hình đẹp lắm kinder18. Thanks for posting.
ctd2002,
Tudoi
12-11-2002, 06:15 PM
Chào mừng quán cô Tám (bánh) Mì nghe. Thiệt là, quán mới mở mà đồ ăn nhiều ghê, phong phú và đa dạng. Khách vô ủng hộ nườm nượp. Điệu này, đọc những tài liệu của cô Tám và các bạn ở đây mệt nghĩ.
kinder18
12-11-2002, 07:35 PM
Ne1, qua'n co^ Ta'm ne`. La`m pho*? thi` ngo'n do'...Nhu*ng co^ co' bo? thuo^'c PHo.cMo^n cho ba'nh pho*? dai kho^ng the^'?
kinder18
12-11-2002, 08:25 PM
Ho^` Ta^y (West Lake)
kinder18
12-11-2002, 08:27 PM
Phu Tay Ho (see picture) is one of the more popular shrine on the shore of Ho Tay. During the first and fifteenth day of the lunar month, people from all over Ha Noi pour to the shrine to pay respect to the deities. On these days, the roads are filled with people dressed in colorful attire heading to the narrow road leading to the shrine. Phu Tay Ho is also famous for the Bun Oc cu?a chi. Tammy (escargot vermicelli soup) and Banh Tom (shrimp cakes) sold in stalls along the way.
kinder18
12-11-2002, 08:34 PM
Va(n Mie^'u (Temple of Literature)
Van Mieu (http://www.vietscape.com/travel/hanoi/vmieu.html)
kinder18
12-11-2002, 08:37 PM
Chua Mo^.t Co^.t (One Pillar Pagoda)
Mot Cot (http://www.vietscape.com/travel/hanoi/motcot.html)
MY-LINH
12-11-2002, 10:07 PM
HÀ NỘI CÓ BAO NHIÊU PHỐ BẮT ĐẦU BẰNG CHỮ "HÀNG"?
Cứ theo thực trạng hiện nay, Hà Nội có 53 phố và ngõ bắt đầu bằng chữ Hàng, nếu xếp theo a,b,c thì là Hàng Bạc, Hàng Bài, Hàng Bè, Hàng Bồ, Hàng Bông, Hàng Bột (ngõ), Hàng Buồm, Hàng Bún, Hàng Chai, Hàng Cháo, Hàng Chỉ (ngõ), Hàng Chiếu, Hàng Chĩnh, Hàng Chuối, Hàng Cỏ (ngõ), Hàng Cót, Hàng Da, Hàng Dầu, Hàng Đào, Hàng Đậu, Hàng Điếu, Hàng Đồng, Hàng Đường, Hàng Gà, Hàng Gai, Hàng Giày, Hàng Giấy, Hàng Hành, Hàng Hòm, Hàng Hương, Hàng Khay, Hàng Khoai, Hàng Lược, Hàng Mã, Hàng Mành, Hàng Mắm, Hàng Muối, Hàng Ngang, Hàng Nón, Hàng Phèn, Hàng Quạt, Hàng Rươi, Hàng Than, Hàng Thiếc, Hàng Thùng, Hàng Thịt (ngõ), Hàng Tre, Hàng Trống, Hàng Vải, Hàng Vôi. Nhưng trong thực tế lịch sử thì còn nhiều phố Hàng nữa. Có điều là đã bị thay thế dần cùng thời gian. Ví dụ ngày trước còn có Hàng Hài (nay là đoạn đầu Hàng Bông), Hàng Mụn (nay là Hàng Bút). Còn Hàng Bút vốn là đoạn cuối của phố Thuốc Bắc. Hàng Bừa và Hàng Cuốc (nay gộp lại là phố Lò Rèn), Hàng Tàn tức Hàng Lọng (nay là đoạn đầu phố Lê Duẩn), Hàng Bột (nay là phố Tôn Đức Thắng), Hàng Chè (nay là đoạn đầu phố Đinh Tiên Hoàng), phố Hàng Giò (đoạn đầu phố Bà Triệu), Hàng Kèn (đoạn phố Bà Triệu từ ngã năm Trần Hưng Đạo đến ngã năm Nguyễn Du), phố Hàng Đàn (nay là phố Hàng Quạt), phố Hàng Màn (nay là đoạn đầu phố Hàng Giày), phố Hàng Lam (đoạn đầu phố Hàng Ngang), phố Hàng Lờ (cuối Hàng Bông), phố Hàng Nâu (nay là Trần Nhật Duật), phố Hàng Tiện (nay là đoạn đầu Hàng Gai), phố Hàng Sơn (nay là Chả Cá), phố Hàng Đẫy (nay là đoạn đầu phố Nguyễn Thái Học), phố Hàng Mã dưới và phố Hàng Mây (nay gộp lại thành phố Mã Mây), phố Hàng Trứng (đoạn cuối phố Hàng Mắm), phố Hàng Gạo (phố Đồng Xuân), phố Hàng Thêu (nay là đoạn cuối Hàng Trống), phố Hàng Sắt (nay là đoạn đầu phố Thuốc Bắc)...
Như vậy là có đến trên hai chục phố có tên bắt đầu bằng chữ Hàng, song nay đã đổi ra tên khác hoặc gộp vào thành một phố dài. Có một số phố vẫn giữ được mặt hàng truyền thống như Hàng Bạc còn đó với một số hiệu vàng, bạc mà xưa kia là nơi sản xuất vòng, xuyến, kiềng, vàng cho lớp người giàu sang. Hàng Khay vẫn còn một số thợ khảm trứ danh từ mảnh gỗ, vỏ trai mà tạo nên tác phẩm thực sự, óng ánh... Hàng Than nổi tiếng với món bánh cốm ngon lạ thường chỉ có Hà Nội mới có, gợi nhớ đến mùa cưới của người Hà Nội. Hàng Đào vẫn phấp phới màu sắc của quần áo nhắc nhở đến những phiên chợ tơ năm xưa. Hàng Trống cho đến ngày nay còn một số nhà có nghề làm trống cổ truyền, dựng tang trống, thuộc da, lên mặt trống đều bằng phương pháp thủ công. Hàng Mành vẫn làm mành. Hàng Thiếc làm thùng tôn, cắt kính. Hàng Mã vẫn bán đồ chơi Trung thu cho trẻ em... Bên cạnh đó, nhiều phố mang tên cũ nhưng không còn một ai làm nghề cũ như Hàng Gà, Hàng Cá, Hàng Gai, Hàng Bún, Hàng Cót, Hàng Bồ...
Qua những chữ "Hàng" chúng ta thấy nét đặc trưng riêng của phố Hà Nội, một khía cạnh của không gian văn hoá cổ Thăng Long Hà Nội - Thủ đô hôm qua và mai sau./.
Tô Hoài - Nguyễn Vinh Phúc
http://www.vietcyber.net/main/images/xmastree.gif
MY-LINH
12-11-2002, 10:10 PM
RAU GHÉM HÀ NỘI
Bà Lan béo ở ngõ chợ phố Vũ Ngọc Phan, một nhánh phố mới trên con đường lớn Láng Hạ, cả nhà sinh sống bằng nghề bán bún riêu, bún ốc. Chỗ ngồi khá khuất nẻo, thế mà khách đâu đâu cũng tìm đến, xe máy đỗ chật lối vào. Người đi ôtô thì phải đỗ hơi xa xa một chút. Khách ăn mê bát bún bà Lan béo, có lẽ không chỉ vì hàng quán sạch sẽ, tinh tươm, nồi nước canh thơm dấm bỗng, miếng gạch cua đặc sánh, con ốc mẩy giòn, mà còn vì chính đĩa rau ghém, mùa nào thức nấy, bao giờ cũng tươi roi rói, và quan trọng hơn, là đúng với khẩu vị của người Hà Nội.
Bà Lan kể: Rau ghém ăn bún riêu, bún ốc trước đây các cụ nhà ta thường dùng rau diếp xoăn thái chỉ, nó có chút nhựa trắng, ăn hơi nhần nhận, đăng đắng nhưng rất hợp vị cua ốc nấu chua. Nhưng không hiểu sao món rau ấy không còn nữa. Bây giờ thì nhà vẫn làm rau xà lách thái nhỏ, trộn thêm mấy cánh rau thơm, tía tô, canh giới, ngổ ba lá, rau răm. Mùa đông có thêm rau mùi ta, mùa hè có thêm rau muống chẻ và bi chuối lá, thân chuối hột thái mỏng, ngâm trong chút nước dấm hay chút nước phèn chua, cho giữ được màu trắng.
Cứ kể ra, hồi xa xưa, khi mẹ tôi nấu canh riêu cua, bao giờ cũng cố chuốc bằng được cho bố tôi vài ba chùm sung non để làm món đưa cay, mới cho là hài lòng kia đấy.
Như vậy đó, khác với người dân trên các vùng miền khác, nói đến rau ghém, tức là chỉ có đúng một kiểu rau như nhau, ăn món nào cũng một rổ tú hụ, thập cẩm, trong vườn ngoài chợ có gì cho nấy: bạc hà, húng dổi, dấp cá, mùi gai, rau ngổ, giá sống, hành chẻ... thì người Hà Nội, món ăn nào, rau ghém ấy, không thể lẫn lộn, xập xí xập ngầu. Chẳng thế mà có một người đầu bếp Pháp của khách sạn Sofitel Metropol khá nổi tiếng rất say mê món ăn dân tộc Việt Nam, ông đã nhận xét rằng, đặc trưng nổi trội nhất của món ăn Hà Nội chính là rau gia vị. Phi rau gia vị bất thành món ăn Hà Nội!
Cách đây hàng ngàn năm ở đất Kinh kỳ, đã có hẳn một làng nghề chuyên trồng rau gia vị tiến vua và đem bán trong nội thành nội thị. Đó là làng Láng với những vạt rau xanh ngút ngàn bên sông Tô Lịch.
Rau thơm, rau húng, rau mùi
Thìa là, cải cúc, đủ mùi hành hoa
Nghệ sĩ Phan Thị Phúc của Nhà hát Tuổi trẻ, một phụ nữ gốc Hà Nội cho biết sự tinh tế trong cách thức sử dụng rau gia vị của người Kẻ Chợ lâu đời. Rau ăn dấm cá, riêu cua không thể giống với rau ăn bún nem, bún chả, rau trộn nộm khác với rau ăn cuốn. Rau ăn mắm tép khác với rau dùng mắm rươi. Còn khác thế nào thì phải để ý một chút.
Có người nói rằng, khi mâm cơm dọn ra, chỉ cần nhìn bát nước dấm và đĩa rau ghém là đủ biết có phải mâm cơm của bà nội trợ Hà Nội hay không.
Bây giờ nói đến món rau sống ăn kèm bún nem, bún chả, hai món ăn khá nổi tiếng của người Hà Nội. Thì đại thể cũng gồm xà lách, thơm, mùi, tía tô, canh giới. Nhưng so với rau ghém bún riêu, bún ốc, dấm cá thì không có ngổ ba lá, thân chuối hột, bi chuối... tức thị là không cần đến những thức rau có vị chan chát, đăng đắng để lấn át cái vị tanh nuốm hơi bùn nguyên thuỷ của đồ thuỷ sản. Ngày trước, cái rổ rau ghém của hàng bún chả Hàng Mành là rất đúng lối, hấp dẫn vô cùng. Nhưng lâu nay, chắc là do chiều theo khẩu vị của các vị khách bốn phương trời, nên có lẫn cả vài thứ rau khác như húng dổi, ngổ ba lá, thành ra cũng có phần nào bay vợi mất chút hương độc đáo của một món ăn ngon nổi danh đất Hà thành.
Nhưng đến rau sống ăn với món thịt chó thì ngoài mấy lát dổi, lá mơ tam thể và ngổ ba lá. Có thể thiếu mấy thứ rau khác, song thiếu ba thức rau ấy, sao có thể gọi là thịt chó để mà "sống ở trên đời...". Mà cái lá húng dổi đi với anh thịt vịt, thịt ngan cũng đẹp đôi làm sao? Cái mùi thơm lộng lấy ấy lại ra chiều vừa lấn át, vừa tôn vinh cái hương vị đặc biệt mà nhiều người có vẻ ngài ngại của hai loài thuỷ cầm ấy. Chứ như thịt gà luộc, chặt vuông, úp lật, thì nào có thể thiếu mấy sợi lá chanh non thái chỉ xanh nõn thả liêu phiêu trên những ô vuông vàng óng ánh.
Phong phú nhất phải là rổ rau ghém ăn gỏi cá. Thế này nhé, lá sung, lá lộc vừng, lá đinh lăng, lá mơ tam thể, lá vọng cách, lá dấp cá và tất thảy các loại rau lá thơm mùi khác. Nhưng lại trừ ra thân chuối hột và bi chuối tây, thế thì cũng dễ thuộc bài, đâu đến nỗi khó khăn gì mà kêu ca. Những thức rau ấy, đi với món gỏi cá sống thì còn là các vị thuốc dân gian phòng tránh bệnh đường ruột đấy.
Ăn mắm rươi thì ngoài vỏ quýt thái chỉ, ắt phải có rau cần, cải cúc, hành chẻ. Ăn mắm tép thì ngoài rau, hành, húng láng, mùi, nhất thiết phải có khế chua, chuối chát, gừng sống. Trái lại, có những món ăn chỉ đòi hỏi một vài loại rau gia vị như phở cần hành hoa, thơm hay mùi, cuốn tôm thịt và bún thang cần hành ta, rau răm, rau mùi. Đĩa bún đậu rán mắm tôm chanh, thì nhất hạng có mấy lá tía tô, canh giới. Đĩa bánh cuốn rắc mấy nhánh thơm, mùi. Thêm bất cứ thứ rau gì khác cũng đều là lạc vị.
Chứ là người Hà Nội, nếu mà chỉ thuộc lòng mỗi câu ca cũ kỹ mà dân các vùng miền khác vẫn ngâm nga, thì nghe nó bình thường quá đi thôi, còn đâu là nét đặc sắc riêng có của nghệ thuật ẩm thực đất Thăng Long ngàn năm văn hiến.
Con gà cục tác lá chanh
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi
Con chó khóc đứng khóc ngồi
Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng giềng./.
Huy Vũ
http://www.vietcyber.net/main/images/xmastree.gif
MY-LINH
12-11-2002, 10:16 PM
Chè cám và cốm cháy
Đây không phải là chè cốm, là thứ quà nhà của người Hà Nội mỗi độ heo may về. Chè đường nấu bột sắn dây, cốm thả, đủ mềm, mà không nở trương ra như gạo cháo, ngon lành, thanh cảnh, ăn gẩy gót từng thìa nhỏ, nhiều người thích, nhưng với tôi thì chỉ vầy vậy. Có cái gì không được hòa hợp lắm, lại có phần hoài của trời khi đem cốm nấu chè. Bột sắn dây ướp hoa bưởi, mùi xuân ấy làm át hết cái hương thu phảng phất trong từng hạt cốm bọc lá sen già, phí những xuân thu. Cốm, với nhiều người phải là nguyên vị, không ăn kèm chuối, không đúc chả trứng, không nấu chè đường. Mộc, mềm, ngọt nhạt, và thơm mùi gió heo may lang thang rải trên những cánh đồng đầm sen vào cữ thu về.
Nhưng cốm nói đây là cốm cháy. Cốm cháy nhấm nhót cùng (nước) chè cám.
Cả hai, chè cám và cốm cháy, đều là thứ phẩm của cốm và chè. Đây quyết chẳng phải là món ngon Hà Nội.
Nhưng mà ngon, ngon thật, ngon đến phải nhớ kỹ, nhớ lâu. Ông Thạch Lam, ông Vũ Bằng, ông Nguyễn Tuân tiếng vậy mà có lẽ cũng chưa khi nào được nếm chè cám và cốm cháy.
Chè là thứ chè xuân Thái Nguyên thượng hạng, hái về, bắc chảo sao ngay trên lửa nhỏ. Bận việc này việc nọ mà hái về bỏ đó không làm ngay, chè sẽ đỏ nước về sau, mà uống thì có mùi ngai ngái giống thứ chè bồm Phú Thọ. Nước của chè xuân Thái Nguyên xanh anh ánh, rất trong, ngỡ như nước chè tươi uống bằng tách nhỏ, thoáng nhìn tưởng pha không đậm, chè chưa ngấm, nước không đủ nóng, nhưng hãy thử một hớp con con. Bất chợt rùng mình vì cái nóng hôi hổi, cái vị chát khiêu khích, cái vị ngọt sâu thẳm làm khô vòm miệng, và trên hết là mùi hương hết sức dịu dàng. Nhấp một chén trà như thế, nhỏ thôi, vào lúc sáng sớm, và đừng nhấm nháp thêm bất cứ chút gì, sẽ thấy dường như tim đập nhanh lên một chút. Như cái lúc ngóng chờ một tiếng gõ cửa ngập ngừng của ai, như cái lúc mở một phong thư, nét chữ thì quen nhưng câu mở đầu lại bất ngờ dịu dàng khác lạ, hay lúc đạp xe lang thang, một mình, phố nhỏ, chiều gió, thấy góc đường đằng kia thoáng như có bóng áo người. Chao ơi! Những cảm giác của một thời hăm hở, xa xôi quá rồi, có thể trở về, quyến vờn cùng làn khói mong manh bốc lên từ chén trà buổi sớm.
Thứ nước chè uống khi ăn cốm cháy chính là thứ chè Thái Nguyên nhất hạng ấy, nhưng là thứ cuối chảo, không phải là búp chè khô tự co mình lại như những móc câu nho nhỏ, mà vụn như bột. Đấy là đoạn cuối đời của những búp chè non nhất, nên dễ cháy nhất, được giữ lại dùng trong nhà.
Pha thì cũng như thường, nghĩa là chụm mấy đầu ngón tay mà bốc ang áng, nhưng vì là chè cám, nên cái sự ang áng này càng xa chính xác. Thường là hơi bị nhiều. Nước chè cám vì thế thường cực đặc, không được trong, và thoảng khét. Không phải người quen uống chè, không thể kham nổi cái dung dịch này.
Chát thế thì phải có thứ làm dịu lại. Chè tươi thì đã có kẹo lạc, kẹo vừng, rẻ hơn thì có thứ kẹo bột đậm mùi gừng thường chỉ bán ở nhà quê từng chục cái cho các bà đi chợ phiên mang về lót tay trẻ mỏ trong nhà. Cái thứ kẹo cực ngon này chắc giờ tuyệt chủng rồi. Cà phê thì có sôcôla, hay miếng bánh ngọt nho nhỏ. Chè móc câu Thái Nguyên thì không đi được cùng những thức ấy. Kẹo lạc thì còn tạm cho qua, chứ sôcôla, không thể, vì kệch cỡm. Phải là một lát mứt gừng nhà làm, còn giữ đủ độ cay chứ không nhạt thèo như bán ngoài hàng. Mà ngon nhất thì là dăm ba hạt mứt sen trần.
Ấy vậy mà mứt sen trần vẫn không đi được cùng chè cám. Chưa đủ ngọt để trấn áp cái chát quánh kia. Phải là cốm cháy.
Thì cũng là thứ cuối chảo. Cốm xào đường làm bánh. Những hạt non nhất, mềm nhất thường bị cháy, và trở thành thứ cốm tôi kể ở đây. Nhà hàng cũng để lại dùng trong nhà. Nguội rồi, cốm cháy trở thành cứng, dai, dẻo, và ngọt sắc, đôi miếng còn hơi đăng đắng. Cái thứ cháy cốm ấy, bạn tôi, vốn con cháu nhà làm bánh cốm nổi tiếng từ cái thời Hà Nội ba sáu phố phường đi vào tâm hồn vô chừng nhạy cảm của Thạch Lam, thỉnh thoảng lại mang đến cho tôi một nắm. Ăn phải dùng dao mà chặt, và cũng không thể ăn nhanh ăn nhiều được. Ngọt quá, dẻo quá. Thứ cốm cháy này hòa hợp đặc biệt với nước chè cám, là thứ nhà tôi độ trước thường được bà con cho rất nhiều.
Những năm tháng xa xôi, mà gần gũi, vì đã trở thành một phần của đời sống hôm nay. Chè nhà trồng đấy, sao lấy đấy, mà lúc xuôi tàu về lại Hà Nội làm việc muốn mang theo một hai cân cũng phải có tờ giấy chứng nhận của uỷ ban xã. Cốm đấy, món ăn bình dị ấy cũng thành một món xa xỉ, vì là thứ ăn chơi, không làm no lòng. Nói gì đến bánh cốm, bánh cốm Nguyên Ninh, đã đi vào tạp bút của Thạch Lam, đã cưỡi máy bay qua tận nước Pháp để phái đoàn Hà Nội dùng chiêu đãi nhân dịp ký hiệp định Paris. Nhưng miếng ăn, dẫu có là lúc đói thì cũng chẳng phải vì làm no mà thành ngon.
Tôi đã uống chè cám và ăn cốm cháy, những cuối trưa Hà Nội, ngoài kia mùa thu xao xác trở mình, nghe hơi thở mình đã bắt đầu khó nhọc vì hanh hao, bất chợt nhìn trang sách mà không thấy chữ... Bất chợt nghe tiếng gõ ngập ngừng, tiếng chân xê dịch ngập ngừng... Lòng chùng lại sau bao nhiêu vật vã, một cảm giác biết ơn kỳ lạ tràn ngập trong lòng. Biết ơn tất cả, vì tất cả. Không biết vì sao.
Hay những đêm đông Hà Nội, trong ánh đèn điện không lấy gì làm sáng, và đôi lúc, trong bóng đèn dầu vì mất điện, bên bè bạn. Nhón một miếng cốm cháy, hớp một hớp nước chè cám, chia nhau chút ánh sáng, cắm đầu vào trang sách... thỉnh thoảng ngửng lên, nói một điều tưởng vu vơ, nhưng biết rằng bạn mình hiểu cả. Nghe trong gần gũi cảm biết về xa xôi, của những chân trời không bao giờ đến được cùng nhau mãi mãi còn đâu đó...
Cốm cháy và chè cám, không phải là món ngon Hà Nội hay của bất kể miền đất nào. Chỉ là món ngon của riêng một người, là những sâu nặng của riêng một người. Nhưng... " Đời đáng yêu nhiều lúc có gì đâu..."
Xuân Diệu đấy.
Thế đấy !
Mọi người ơi !
http://www.vietcyber.net/main/images/xmastree.gif
Tammy Nguyen
12-11-2002, 10:58 PM
wow , cám ơn chị Mỹ Linh đã sưu tầm nhiều bài viết về Hà nội . Nhiều qúa, mỗi trưa T .in ra một ít để đọc đi đọc lại ngẫm lại những lời dạy , những mẫu chuyện nhỏ thời xưa mà bà nội T. hay kể cho anh em T. nghe . Khi đó nghe rồi thì bỏ qua tai, bây giờ đọc lại mấy bài viết này , mới thấy "hương vị quê hương " mình thật là phong phú .
Cám ơn bé kinder18 đã cho T. cái link nha . T. nghi~ mi`nh dịch từ tiếng anh ra tiếng việt không được xuôi tai lắm, cho nên không try đâu .
xin để link này , nếu anh chị em nào thích xin mời vào đọc :
http://www.vietscape.com/travel/hanoi/pho.html
MY-LINH
12-11-2002, 11:47 PM
Không dịch ra được thì mình bỏ hình lên cho bà con coi chơi
CẢNH ĐƯỜNG PHỐ HÀ-NỘI
http://www.vietscape.com/travel/hanoi/images/street2.jpg
http://www.vietscape.com/travel/hanoi/images/street1.jpg
http://www.vietscape.com/travel/hanoi/images/pho1.jpg
HỒ HÒAN KIẾM
http://www.vietscape.com/travel/hanoi/images/hkiem1.jpg
ĐỀN NGỌC-SƠN
http://www.vietscape.com/travel/hanoi/images/ngocson.jpg
http://www.vietscape.com/travel/hanoi/images/tayho1.jpg
http://www.vietscape.com/travel/hanoi/images/vmieu12.jpg
http://www.vietscape.com/travel/hanoi/images/muppet16.jpg
http://www.vietscape.com/travel/hanoi/images/hanoi.jpg
http://www.vietet.com/hoahau2002/photos/contestants.jpg
Bài của chị ML đặc sắc quá, thật là hay ghê. Cám ơn chị nhiều nha. Cám ơn chị & Kinder đã cho xem nhiều hình đẹp. Cũng cám ơn Tammy cho mấy bài trước.
BungRieu
12-12-2002, 05:15 AM
Dưa khú cá trê ...
Ai làm cho cải tôi ngồng,
Cho dưa tôi khú, Cho chồng tôi tôi chê,
Chồng chê thì mặc chồng chê,
Dưa khú nấu với cá trê ngọt lừ ....:p ....
http://www.ekenken.com/images/seafood-fs/fs-016a.jpg
Bài ca dao ấy chứa một bí quyết trong văn hóa ẩm thực Việt Nam
và đây mới là vấn đề chính mà bài viết này muốn lạm bàn.....
Món ngon này gồm hai thứ nguyên liệu chính: cây rau cải quả là
"đại công thần" trong công cuộc "dĩ thực vi tiên" của dân ta....
Dù quả cà được gọi là "tương cà gia bản", nhưng quả cà rất chật
vật khi đi vào đất phương Nam.
Trong khi đó, rau cải có mặt ở mọi miền, món dưa cải, người, kẻ
hèn đều trọng dụng, từ bát cơm nguội chan nước dưa đến đĩa
dưa để ăn kèm thịt cá trong các bữa tiệc mâm cao, cỗ đầy ngày
giỗ ngày tết. Do đó, thời xưa hầu như không có người phụ nữ nào
không biết muối dưa cải.
Dưa cải muối đủ độ mặn thì dần dần chuyển sang màu vàng
rượm , bẹ lá cải cứng giòn, bốc mùi thơm.
Nếu bị thiếu muối, không diệt hết vài loại vi khuẩn gây ôi, dưa sẽ
bị thâm, bẹ cải hơi nhũn và có mùi khăm khẳm, gọi là dưa khú.....
Vậy thì, cớ sao cô nàng kia lại lớn tiếng hỏi: "Ai làm?". E rằng
chính cô ta đã cố tình làm món dưa khú đó thôi. ..... :D ...?...
Nhưng tại sao cô ta lại cố tình làm như vậy? Nhớ lại cách đây hơn
nửa thế kỷ, khi đóng quân ở ngoại thành Hà Nội, một vùng nhiều
đầm ao bùn sau lún quá gối, môi trường sống lý tưởng của cá trê
vàng. Anh đầu bếp của đơn vị rất thạo chế biến món đặc sản này;
nướng, pha nước mắm gừng; kho với thịt ba chỉ, và đặc biệt là
món nấu với dưa cải.
http://www.tvl.net.vu/~ghales/Chinese_cabbage.JPG
Ðúng hôm chúng tôi ăn món cá trê nấu dưa cải thì bà lão chủ nhà
nơi đóng quân ... kẽo kẹt ru cháu bằng câu ca dao nói trên.
Thế là chúng tôi xoay ra bàn về sự nghịch lý của món "dưa khú
nấu với cá trê".
Người thì cho rằng, dưa khú hợp với cá trê nên món ăn sẽ ngon
hơn nếu nấu với dưa không bị khú.
Người thì cho rằng, người thiếu phụ trong bài ca dao ấy bị chồng
chê ngượng quá đã nói liều, chứ làm gì có chuyện "dưa khú nấu
với cá trê ngọt lừ!". Ðến đây, bà lão ngừng ru cháu tham gia câu chuyện.
Bằng thực tế của cả đời nấu món ăn truyền thống này, bà khẳng
định: cá trê phải nấu với dưa khú mới ngon, nó đem lại một vị
ngọt thâm trầm, nuốt vào rồi vẫn còn đọng lại nơi cổ họng, nơi đầu lưỡi. ...
Dưa không bị khú nấu lên thấy dưa đi đàng dưa, cá đi đàng cá,
nước canh không đậm đà. Không thể cắt nghĩa được nguyên
nhân, bà mượn câu chuyện truyền miệng từ xa xưa: có đôi vợ
chồng nghèo ngày làm thuê, ăn cơm của chủ, chiều về nhà,
thường chỉ có niêu cơm với bát dưa. Một hôm, cô vợ làm dưa khú,
chồng nói nặng lời làm cho nàng phẫn chí nhảy xuống sông .
Người chồng ân hận nhảy theo mò tìm rồi cùng chết đuối và hóa
sinh ra giống cá trê vàng. Ðể chuộc lỗi tiền kiếp, con cá trê vàng
hễ gặp dưa khú là hòa quyện thành một món ngon ngọt khoái khẩu.
Ðem câu chuyện cá trê dưa khú hỏi nhà dinh dưỡng học thì được
giải thích rằng: dưa khú có chứa một số acid khi đun nấu nó trung
hòa làm biến mất mùi tanh của cá và mùi khú của dưa. Dưa khú
ngấu hơn dưa không bị khú, cho nên dễ ngấm chất đạm rất giàu
của thịt cá trê vàng đem lại vị ngọt lừ riêng biệt. ...
http://www.ivietnam.com/Vn/Specials/xuan2002/IMAGES/AnTet-DuaKhuCaTre.jpg
Ðến đây thì ta có thể hiểu được nàng thiếu phụ tài hoa trong
khoa ẩm thực Việt Nam. Ðừng sợ quá lời khi gọi nàng là tài hoa,
bởi vì nàng là người duy nhất đã phát kiến ra món ăn truyển
thống ẩn chứa một bí quyết cho mâm cơm ngon mà bài ca dao
đẹp đó mãi mãi lưu truyền....
"Chồng chê thì mặc chồng chê", đó không phải là thái độ bất cần
mà là sự tự tin có pha chút kiêu hãnh. Là người đây bản lĩnh, nàng
đoan chắc rằng, người chồng do hiểu lầm đã nông nổi vội bỏ đi,
sẽ có một ngày không xa, nhớ lại vị ngọt lừ của món canh không
ai nấu được mà trở về với nàng .... :D ...:D ...:D ...
BR ăn trộm trong net về ..:D ...
BungRieu
12-12-2002, 08:37 AM
NHỮNG TÊN GỌI CỦA HÀ NỘI QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ...
THĂNG LONG - HÀ NỘI là kinh đô lâu đời nhất trong lịch sử Việt
Nam. Mảnh đất này từ trước khi trở thành kinh đô của nước Ðại
Việt dưới triều Lý (1010) đã là đất đặt cơ sở trấn trị của quan lại
thời kỳ nhà Tuỳ (581 - 618), Ðường (618 - 907) của phong kiến phương Bắc.
Từ khi hình thành cho đến nay, Thăng Long - Hà Nội có nhiều tên
gọi, được chia thành hai loại: chính thức và không chính thức, theo
thứ tự thời gian như sau:
1.Tên chính thức: Là những tên được chép trong sử sách do các
triều đại phong kiến, Nhà nước Việt Nam chính thức đặt ra:
Long Ðỗ: Truyền thuyết kể rằng, lúc Cao Biền nhà Ðường,
vào năm 866 mới đắp thành Ðại La, thấy thần nhân hiện lên tự
xưng là thần Long Ðỗ. Do đó trong sử sách thường gọi Thăng
Long là đất Long Ðỗ. Thí dụ vào năm Quang Thái thứ 10 (1397)
đời Trần Thuận Tông, Hồ Quý Ly có ý định cướp ngôi nhà Trần nên
muốn dời kinh đô về đất An Tôn, phủ Thanh Hoá. Khu mật chủ sự
Nguyễn Nhữ Thuyết dâng thư can, đại ý nói: "Ngày xưa, nhà Chu,
nhà Nguỵ dời kinh đô đều gặp điều chẳng lành. Nay đất Long Ðỗ
có núi Tản Viên, có sông Lô Nhị (tức sông Hồng ngày nay), núi cao
sông sâu, đất bằng phẳng rộng rãi". Ðiều đó cho thấy, Long Ðỗ
đã từng là tên gọi đất Hà Nội thời cổ.
Tống Bình: Tống Bình là tên trị sở của bọn đô hộ phương
Bắc thời Tuỳ (581-618), Ðường (618 - 907). Trước đây, trị sở của
chúng là ở vùng Long Biên (Bắc Ninh ngày nay). Tới đời Tuỳ chúng
mới chuyển đến Tống Bình.
Ðại La: Ðại La hay Ðại La thành nguyên là tên vòng thành
ngoài cùng bao bọc lấy Kinh Ðô. Theo kiến trúc xưa, Kinh Ðô
thường có "Tam trùng thành quách": Trong cùng là Tử Cấm thành
(tức bức thành màu đỏ tía) nơi vua và hoàng tộc ở, giữa là Kinh
thành và ngoài cùng là Ðại La thành. Năm 866 Cao Biền bồi đắp
thêm Ðại La thành rộng hơn và vững chãi hơn trước. Từ đó, thành
này được gọi là thành Ðại La. Thí dụ trong Chiếu dời đô của vua
Lý Thái Tổ viết năm 1010 có viết: "... Huống chi thành Ðại La, đô
cũ của Cao Vương (tức Cao Biền) ở giữa khu vực trời đất..." (Toàn
thư, Tập I, H, 1993, tr 241).
Thăng Long (Rồng bay lên): Ðây là cái tên có tính văn
chương nhất, gợi cảm nhất trong số các tên của Hà Nội.
Sách Ðại Việt sử ký toàn thư cho biết lý do hình thành tên gọi này
như sau: "Mùa thu, tháng 7 năm Canh Tuất (1010) vua từ thành
Hoa Lư, dời đô ra Kinh phủ thành Ðại La, tạm đỗ thuyền dưới
thành, có rồng vàng hiện lên ở thuyền ngự, nhân đó đổi tên
thành gọi là thành Thăng Long" (Toàn thư, Tập I, H, tr 241).
Ðông Ðô: Sách Ðại Việt sử ký toàn thư cho biết: "Mùa hạ
tháng 4 năm Ðinh Sửu (1397) lấy Phó tướng Lê Hán Thương (tức
Hồ Hán Thương - TM) coi phủ đô hộ là Ðông Ðô" (Toàn thư Sđd - tr 192).
Trong bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, sử thần nhà
Nguyễn chú thích: "Ðông Ðô tức Thăng Long, lúc ấy gọi Thanh
Hoá là Tây Ðô, Thăng Long là Ðông Ðô" (Cương mục - Tập 2, H 1998, tr 700).
Ðông Quan: Ðây là tên gọi Thăng Long do quan quân nhà
Minh đặt ra với hàm nghĩa kỳ thị Kinh đô của Việt Nam, chỉ được ví
là "cửa quan phía Ðông" của Nhà nước phong kiến Trung Hoa. Sử
cũ cho biết, năm 1408, quân Minh đánh bại cha con Hồ Quý Ly
đóng đô ở thành Ðông Ðô, đổi tên thành Ðông Quan.
Sách Ðại Việt sử ký toàn thư chép: "Tháng 12 năm Mậu Tý (1408),
Giản Ðịnh đế bảo các quân "Hãy thừa thế chẻ tre, đánh cuốn
chiếu thẳng một mạch như sét đánh không kịp bưng tai, tiến đánh
thành Ðông Quan thì chắc phá được chúng" (Toàn thư Sđd - Tập 2, tr224).
Ðông Kinh: Sách Ðại Việt sử ký toàn thư cho biết sự ra đời
của cái tên này như sau: "Mùa hạ, tháng 4 năm Ðinh Mùi (1427),
Vua Lê Lợi từ điện tranh ở Bồ Ðề, vào đóng ở thành Ðông Kinh,
đại xá đổi niên hiệu là Thuận Thiên, dựng quốc hiệu là Ðại Việt
đóng đô ở Ðông Kinh. Ngày 15 vua lên ngôi ở Ðông Kinh, tức là
thành Thăng Long. Vì Thanh Hoá có Tây Ðô, cho nên gọi thành
Thăng Long là Ðông Kinh" (Toàn thư - Sđd. Tập 2, tr 293).
Bắc Thành: Ðời Tây Sơn (Nguyễn Huệ - Quang Trung 1787-
1802). Vì kinh đô đóng ở Phú Xuân (Huế ) nên gọi Thăng Long là
Bắc thành"(Nguyễn Vinh Phúc - Trần Huy Bá - Ðường phố Hà Nội -H. 1979, tr 12).
Thăng Long(Thịnh vượng): Sách Lịch sử thủ đô Hà Nội cho
biết: "Năm 1802, Gia Long quyết định đóng đô ở tại nơi cũ là Phú
Xuân(Huế), không ra Thăng Long, cử Nguyễn Văn Thành làm Tổng
trấn miền Bắc và đổi kinh thành Thăng Long làm trấn thành miền
Bắc.
Kinh thành đã chuyến làm trấn thành thì tên Thăng Long cũng
cần phải đổi. Nhưng vì tên Thăng Long đã có từ lâu đời, quen
dùng trong nhân dân toàn quốc, nên Gia Long thấy không tiện bỏ
đi ngay mà vẫn giữ tên Thăng Long, nhưng đổi chữ "Long" là
Rồng thành chữ "Long" là Thịnh vượng, lấy cớ rằng rồng là tượng
trưng cho nhà vua, nay vua không ở đây thì không được dùng
chữ "Long" là "rồng" (Trần Huy Liệu (chủ biên). Lịch sử thủ đô Hà Nội, H. 1960, tr 81).
Việc thay đổi nói trên xảy ra năm 1805, sau đó vua Gia Long còn
hạ lệnh phá bỏ hoàng thành cũ, vì vua không đóng đô ở Thăng
Long, mà hoàng thành Thăng Long lại lớn rộng quá.
Hà Nội: Sách Lịch sử thủ đô Hà Nội cho biết: "Năm 1831,
vua Minh Mạng đem kinh thành Thăng Long cũ hợp với mấy phủ
huyện xung quanh như huyện Từ Liêm, phủ Ứng Hoà, phủ Lý
Nhân Và phủ Thường Tín lập thành tỉnh Hà Nội, lấy khu vực kinh
thành Thăng Long cũ làm tỉnh lỵ của Hà Nội". (Trần Huy Liệu (chủ
biên). Lịch sử thủ đô Hà NỘI. H. 1960, TR 82).
2. Tên không chính thức: Là những tên trong văn thơ, ca dao, khẩu
ngữ... dùng để chỉ thành Thăng Long - Hà Nội:
Trường An (Tràng An): Vốn là tên Kinh đô của hai triều đại
phong kiến thịnh trị vào bậc nhất của nước Trung Quốc: Tiền Hán
(206 tr CN - 8 sau CN) và Ðường (618 - 907). Do đó, được các nhà
nho Việt Nam xưa sử dụng như một danh từ chung chỉ kinh đô.
Từ đó cũng được người bình dân sử dụng nhiều trong ca dao, tục
ngữ chỉ kinh đô Thăng Long.
Thí dụ:
Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An
Rõ ràng chữ Tràng An ở đây là để chỉ kinh đô Thăng Long.
Phượng Thành (Phụng Thành): Vào đầu thế kỷ XVI, ông
Trạng Nguyễn Giản Thanh người Bắc Ninh có bài phú nôm rất nổi tiếng:
Phượng Thành xuân sắc phú (Tả cảnh sắc mùa xuân ở thành Phượng).
Nội dung của bài phú trên là tả cảnh mùa xuân của Thăng Long
đời Lê. Phụng thành hay Phượng thành được dùng trong văn học
Việt Nam để chỉ thành Thăng Long.
Long Biên: Vốn là nơi quan lại nhà Hán, Nguỵ, Tấn, Nam
Bắc triều (thế kỷ III, IV, V và VI) đóng trị sở của Giao Châu (tên
nước Việt Nam thời đó). Sau đó, đôi khi cũng được dùng trong thơ
văn để chỉ Thăng Long - Hà Nội. Sách Quốc triều đăng khoa lục có
đoạn chép về tiểu sử Tam nguyên Trần Bích San (1838 - 1877);
ghi lại bài thơ của vua Tự Ðức viếng ông, có hai câu đầu như sau:
Long Biên tài hướng Phượng thành hồi
Triệu đối do hi, vĩnh biệt thôi!
Dịch nghĩa:
Nhớ người vừa từ thành Long Biên về tới Phượng Thành.
Trẫm còn đang hy vọng triệu ngươi và triều bàn đối, bỗng vĩnh biệt ngay.
Thành Long Biên ở đây, vua Tự Ðức dùng để chỉ Hà Nội, bởi vì bấy
giờ Trần Bích San đang lĩnh chức Tuần phủ Hà Nội. Năm 1877 vua
Tự Ðức triệu ông về kinh đô Huế để sung chức sứ thần qua nước
Pháp, chưa kịp đi thì mất.
Long Thành: Là tên viết tắt của Kinh thành Thăng Long.
Nhà thơ thời Tây Sơn Ngô Ngọc Du, quê ở Hải Dương, từ nhỏ theo
ông nội lên Thăng Long mở trường dạy học và làm thuốc. Ngô
Ngọc Du là người được chứng kiến trận đại thắng quân Thanh ở
Ðống Ða - Ngọc Hồi của vua Quang Trung. Sau chiến thắng xuân
Kỷ Dậu (1789), Ngô Ngọc Du có viết bài Long thành quang phục
kỷ thực (Ghi chép việc khôi phục Long thành).
Hà Thành: Là tên viết tắt của thành phố Hà Nội được dùng
nhiều trong thơ ca để chỉ Hà Nội. Thí dụ như bài Hà Thành chính
khí ca của Nguyễn Văn Giai, bài Hà Thành thất thủ, tổng vịnh
(khuyết danh), Hà Thành hiểu vọng của Ba Giai?...
Hoàng Diệu: Ngay sau 1945, đôi khi trong các báo chí của
cộng sản Việt Nam sử dụng tên này để chỉ Hà Nội.
Ngoài ra, trong cách nói dân gian, còn nhiều từ được dùng để chỉ
Thăng Long - Hà Nội như: Kẻ Chợ: "Khéo tay hay nghề đất
lề Kẻ Chợ - Khôn khéo thợ thầy Kẻ Chợ "...Thượng Kinh: tên
này để nói đất kinh đô ở trên mọi nơi khác trong nước, dùng để
chỉ kinh đô Thăng Long "Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, Chẳng
lịch cũng thể con người Thượng Kinh"...Kinh Kỳ: tên này nói
đất có kinh đô đóng "Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến".
Loại tên không chính thức của Thăng Long - Hà Nội còn nhiều
được sử dụng khá linh hoạt trong văn học, ca dao... kể ra đây
không hết được ....
Tường Minh (Tạp chí Xưa và Nay)
Tammy Nguyen
12-12-2002, 05:07 PM
Phố Bờ Sông
Vũ Lãng Du
--------------------------------------------------------------------------------
Có nhà văn đã ví phố cũ bờ sông như vạt áo vá của một bà mẹ nghèo tần tảo kiếm sống và sông Hồng như dải thắt lưng...
Tôi sinh ra và lớn lên ở phố bờ sông, tuổi thơ tôi từng tắm nước phù sa thấm mát vào thịt da nâu bóng. Những chiều hè, tôi cùng bọn trẻ trần truồng xúm xít ở bến sông, vừa bơi lội đùa reo té nước vào nhau.
Những buổi trưa, chúng tôi chạy chơi luồn lách dọc bãi ngô xanh, dâu biếc lồng lộng gió sông Hồng, gió miên man, phóng khoáng, hiền hòa thoảng mùi ngô sữa và mùi gỗ, nứa ngâm nước bến sông. Ôi, cái mùi cần lao, lam lũ khơi gợi ký ức về những năm tháng vất vả nhưng đáng nhớ.
Phố bờ sông thân yêu với những tên: Phúc Tân, Hàm Tử, Chương Dương, Bạch Đằng. Những ngôi nhà phố xưa lở loét vôi tường, ngả xiêu vách nứa. Những mái cao mái thấp nhô ra, thụt vào, lợp tôn chắp vá, lợp ngói xi-măng sứt mẻ, lợp lá cọ, giấy dầu đơn sơ. Những ngõ hẻm chen chúc những căn nhà ổ chuột tối tăm, chật chội. Rải rác dọc phố những quán nước, hàng quà, những hiệu may, hiệu cắt tóc, hiệu chữa xe đạp, cửa hàng bán áo quần, xưởng xẻ gỗ với những tải mùn cưa, vỏ bào chất đống, cửa hàng bán tre, nứa lá gồi xếp ngổn ngang.
Dân buôn bán làm ăn sinh sống ở đây phần đông là những người nghèo buôn thúng bán mẹt, gánh cá, thịt, rau, quả bán rong. Những thợ làm thuê, gánh mướn, phu phen khuân vác, người chở ba gác, xích lô. Ông lão tẩm quất lầm lũi bước đi, thỉnh thoảng lại buông ra một tiếng rao to: "Tẩm quất đi!" khiến cho người đi đường bất ngờ giật mình. Bà già sống độc thân tay cắp thúng đi quanh quẩn men theo mép nước bờ sông nhặt củi vụn, nứa mẩu rơi vãi. Bác công nhân bến phà với dáng đi mệt mỏi, mặt lấm bụi than. Chị mua lông vịt, giẻ rách lững thững gánh quang thúng đi rao. Anh đèo bao tải đồng nát, sắt vụn bằng chiếc xe đạp rỉ quẹn. Thằng bé đánh giày tay xách chiếc hòm gỗ con tong tả bước đi. Ngoài ra là bóng dáng lờ vờ củanhững kẻ lang thang, người khất thực, cơ nhỡ nằm ngồi ở vỉa hè, lều chõng bến sông.
Có khi tình cờ tôi bắt gặp trong quán rượu một anh chàng tứ chiếng say nghiêng ngả bên bàn, ngồi chống tay vào cằm, thỉnh thoảng lại gân cổ, lên giọng hát nghêu ngao, méo mó... Ngoài bờ đê một cô gái giang hồ bước thất thểu, nét mặt bơ phờ, áo quần tiều tụy, đêm đi, ngày về với căn nhà chật hẹp, tối tăm trong ngõ phố lầy bùn.
Mùa nước lên, sông Hồng rộng mênh mông, bát ngát. Sóng cuồn cuộn lớp lớp đuổi nhau cuốn băng băng những bọt bèo, rác rưởi, củi mục, xác súc vật trôi lềnh bềnh. Những nền nhà ngập nước phù sa ngấm đỏ quanh tường. Những cánh buồm to lừng lững lướt qua cửa sổ các ngôi nhà. Đôi khi một chiếc thuyền nan xoay tròn, cưỡi chồm trên sóng lũ với đôi vợ chồng cứng tay chèo lái. Những xoáy nước sâu như tròng mắt tử thần khiến tôi nhớ đến truyện ngắn: Anh phải sống... của nhà văn Nhất Linh, nói về một thảm họa sóng lũ lật úp con thuyền của đôi vợ chồng nghèo vớt củi trôi. Người vợ bị đuối sức không muốn cả hai vợ chồng cùng chết, bỏ lại lũ con thơ. Trước khi buông tay lìa khỏi người chồng, người vợ đã thốt lời trăng trối...
Phải chăng những thiên phóng sự sống động như: Tôi kéo xe của Tam Lang và truyện ngắn "Gió đầu mùa" của Thạch Lam đã được thai nghén từ cuộc sống của những người dân nghèo khổ xưa ở phố bờ sông này trong những thập kỷ qua?
[...]
Những người dân phố bờ sông tiễn đưa những tốp con em nhập ngũ đi chiến trường xa với nét mặt hân hoan và lời dặn dò tha thiết động viên. Những con em ra đi gửi về trong thư nỗi nhớ phố bờ sông đêm đêm lấp lánh ánh đèn như sao sa. Trong giấc ngủ chen vào nỗi nhớ tiếng còi tàu hỏa rầm rập chạy qua cầu Long Biên rung chuyển. Sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, phố bờ sông đã khởi sắc đổi đời. Những ngôi nhà hai tầng, ba tầng đẹp đẽ, khang trang quét sơn, vôi tươi sáng thay thế cho những ngôi nhà lụp xụp, ẩm thấp trước đây. Cửa hàng ăn, quán cơm bụi, quán nước giải khát nối tiếp nhau. Cửa hàng bán gỗ phiến, gỗ tấm. Xí nghiệp sản xuất gỗ xoèn xoẹt tiếng máy cưa, xẻ gỗ rộn rã. Cửa hàng bán vật liệu xây dựng như gạch men, gạch hoa, sắt tròn các loại, cửa gỗ, cửa sắt. Có nơi bến bãi cho những người hợp tác kinh doanh bán gạch, vôi tôi, cát, sỏi chất từng đống.
Vật liệu xây dựng có xe ô-tô vận tải thuận tiện nhanh chóng thay thế cho sức người vận chuyển bằng bè, mảng, thuyền theo đường sông từ ngược về xuôi trước đây, nên không còn cảnh khênh gỗ, vác nứa lam lũ nặng nhọc ở bến sông.
Cầu Chương Dương bề thế, vững chắc thành tuyến đường thiết yếu qua sông Hồng cho các loại xe ô-tô, xe máy đông đúc, tấp nập, rộn rã ngày, đêm vận chuyển hàng hóa đi, về với Hà Nội và phố bờ sông.
Do sinh hoạt chuyển đổi từ lao động chân tay sang mở hàng quán kinh doanh, buôn bán kiếm sống, nên con người ở phố bờ sông đã thay da, đổi thịt, tươi mới áo quần. Phần lớn các nhà đều có máy thu hình, cassette... Những người có nhà ở góc phố gần gậm cầu Long Biên và chợ, kiếm sống bằng phương tiện đón những chuyến xe buýt, xe khách từ Gia Lâm, Hải Hưng, Bắc Ninh chở gà, vịt, ngan, ngỗng, chó, chim, tôm, cá hoặc quả chín bốn mùa để mua buôn trao tay, đem vào thành phố, chợ bán.
Vẫn đứng bên sóng gió, nhưng cuộc sống con người ở phố bờ sông không còn bồng bềnh, chao đảo như những con thuyền mỏng manh trên sóng lũ, mùa nước những năm xưa.
Phố bờ sông, cái phố gắn bó đan xen với bao kỷ niệm của đời tôi. Cái phố có một quá vãng đầy mặc cảm và xúc động. Hồi tưởng lại quá khứ, lòng tôi càng thêm gần gũi, mến yêu những người dân phố bờ sông đang sinh hoạt, đổi mới từng ngày với sớm, chiều náo nhiệt, người xe qua, lại, mua, bán, hỏi chào. Những đêm trăng vàng lấp lánh đầy sông. Gió đưa tiếng hát tiếng cười khúc khích từ một mui thuyền ngoài sông xa vẳng lại làm tiêu tan nỗi mệt nhọc của thể xác và tâm hồn tôi sau một ngày miệt mài lao động.
Phố bờ sông cái phố của tâm tình tôi trăn trở, bồi hồi mỗi khi đi xa, về gần .
~~~~~~~~~~~
Đặc trưng .net
Tammy Nguyen
12-12-2002, 05:09 PM
Chùa DÂU
Võ Văn Tường - Huỳnh Như Phương
--------------------------------------------------------------------------------
Dù ai đi đâu về đâu,
Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về.
Dù ai buôn bán trăm nghề,
Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu.
Mấy câu ca dao trên gợi lên nỗi nhớ về một ngôi chùa thuộc vào loại cổ nhất nước ta, được xây dựng vào đầu thế kỷ III sau Công nguyên, nằm ở trung tâm của cố đô Luy Lâu, nay thuộc thôn Khương Tự, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc, cách Hà Nội khoảng 30km. Đó là chùa Dâu hay Pháp Vân Tự, đời Lý mang tên Cổ Châu, đời Trần mang tên Thiền Định, đời Lê mang tên Diên Ứng.
Vào những thế kỷ đầu Công nguyên, chùa Dâu đã chứng kiến sự phát triển của một khu buôn bán sầm uất nằm trên giao điểm những con đường lớn thời xưa mà nay chỉ còn lại di tích đổ nát là thành Luy Lâu nằm ở ngã tư Thuận Thành (Hà Bắc) giữa hai tỉnh lộ : một về phía Bắc đến Đông Triều - Phả Lại, một về phía Nam đến Khoái Châu - Hải Hưng.
Lịch sử chùa Dâu gắn liền với huyền thoại Man Nương, người trinh nữ làng Mãn Xá bên sông Đuống từ lúc 12 tuổi đã bỏ từ bờ Nam sang bờ Bắc để học đạo với Thiền sư Khâu-đà-la người Thiên Trúc (Ấn Độ) ở chùa Linh Quang (xã Phật Tích, Tiên Sơn). Khâu-đà-la là một Thiền sư đã kết hợp việc truyền giảng Phật giáo Mật Tông với tín ngưỡng dân gian nên có ảnh hưởng rộng lớn trong cư dân Luy Lâu. Nhưng con đường học đạo của Man Nương bị dở dang vì một hôm, đang lúc nàng đang ngủ, Khâu-đà-la sau giờ hành lễ đã bước qua người nàng khiến nàng thụ thai. Một năm hai tháng sau, nhằm ngày 8 tháng 4 âm lịch, Man Nương sinh một bé gái và mang trả cho Thiền sư, Khâu-đà-la bồng đứa bé đến một cây đa cổ thụ ven sông, niệm thần chú. Khi nhà sư dùng thiền trượng gõ vào, gốc cây nứt ra, đứa bé được đặt vào, vết nứt liền khép lại và một mùi hương thơm ngát tỏa ra. Kỷ vật cuối cùng mà Thiền sư trao cho Man Nương là cây thiền trượng. Theo lời dặn của Khâu-đà-la, mỗi khi trời hạn hán, đất đai khô nẻ, mùa màng thất bát, Man Nương lại cắm cây thiền trượng xuống đất, cất lời cầu nguyện, thì phép màu lại hiện ra : trời đổ mưa. Một đêm mưa to gió lớn, cây đa cổ thụ nơi gởi xác đứa con gái của Man Nương, bỗng đổ xuống sông và xuôi theo dòng nước trôi về làng Dâu. Dân làng không ai khiêng nổi cây, may có Man Nương dùng dải yếm đào kéo được cây lên bờ. Đêm ấy dân làng được thần nhân báo mộng khuyên nên đem cây tạc tượng thờ. Từ đó ra đời 4 pho tượng thờ bốn vị nữ thần Mây, Mưa, Sấm, Chớp : Pháp Vân (tức bà Dâu, thờ ở chùa Thiền Định), Pháp Vũ (tức bà Đậu), thờ ở chùa Thành Đạo), Pháp Lôi (tức bà Tướng, thờ ở chùa Phi Tướng), Pháp Điện (tức bà Dàn, thờ ở chùa Phương Quang).
Huyền thoại Man Nương, người mẹ đồng trinh trở thành Phật Mẫu sinh ra Tứ Pháp, đã khiến cho hàng năm vào ngày 8 tháng 4 âm lịch, các vị sư tăng và khách thập phương về chùa Dâu mở hội như câu thơ trên kia đã nói. Hội chùa Dâu không chỉ là dịp để các Phật tử hành hương về nơi cửa Phật mà còn để tham dự những nghi thức văn hóa của cư dân nông nghiệp. Hội diễn ra khắp cả tổng với đám rước tưng bừng (gồm rước chào, rước đón, rước đưa) thỉnh các tượng bà Đậu, bà Tướng, bà Dàn về qui tụ với chị cả là bà Dâu ở chùa Diên Ứng. Sau lễ múc nước, dâng nước và múa gậy, đám rước lại thỉnh 4 tượng về bái vọng Phật Mẫu Man Nương ở chùa Tổ Mãn Xá. Vào ngày hội, trên bãi chùa Dâu người ta có thể xem múa sư tử, múa hóa trang rùa và hạc, múa trống, đấu vật, đánh cờ người.
Nằm trên một khu đất rộng ven sông Dâu - một nhánh của sông Đuống - Chùa Pháp Vân đã từng là một trung tâm Phật giáo nổi tiếng cả nước. Chính đây là nơi tu trì và thuyết pháp của các Thiền sư danh tiếng : Ti-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci, người Nam Thiên Trúc sang Việt Nam năm 580, dịch bộ kinh Tổng Trì Đại Thừa), Pháp Hiền, Quan Duyên, Trì Bát, Định Không, Thiện Hội ? Sách Thiền Uyển Tập Anh còn ghi lại cuộc hội ngộ và tâm truyền độc đáo giữa Ti-ni-đa-lưu-chi và Pháp Hiền diễn ở chùa Dâu, đánh dấu sự xuất hiện của Thiền trong đời sống văn hóa dân tộc.
Vốn là một ngôi đền mang tên Pháp Vân, chùa Dâu đã được sửa chữa và trùng tu nhiều lần : giữa thế kỷ XIII vào đời Lý, cuối thế kỷ XIII và thế kỷ XIV vào đời Trần, thế kỷ XVIII vào đời Lê, cuối thế kỷ XIX vào đời Nguyễn. Ngôi chùa ngày nay còn mang nhiều dấu ấn của kiến trúc thời Hậu Lê. Ông Mạc Đĩnh Chi đã đứng ra tổ chức trùng tu lớn ngôi chùa vào năm 1313 như Đại Nam Nhất Thống Chí đã ghi lại : "Đời Trần, Mạc Đĩnh Chi dựng chùa trăm gian, tháp chín tầng và cầu chín nhịp, nền cũ nay vẫn còn". Chùa làm theo kiểu "Nội công ngoại quốc". Từ tiền đường, đi qua một sân gạch có tháp Hòa Phong ở giữa, sẽ đến Đại bái đường và Phật điện, sau lưng là Hậu đường. Tất cả nằm giữa bốn dãy nhà dài vây quanh theo hình chữ "Quốc". Trong Phật điện, tượng bà Pháp Vân thờ ở gian giữa cao gần 2m ngồi trên tòa sen. Đặt liền hai bên tượng bà Pháp Vân là tượng Kim Đồng và Ngọc Nữ cao 1,57m mang đặc trưng phong cách nghệ thuật điêu khắc thế kỷ XVII - XVIII.
Nói đến kiến trúc chùa Dâu, không thể không nhắc đến ngọn tháp Hòa Phong vượt trên mái ngói nâu nổi bật giữa màu xanh của nền trời và bóng che. Được Thiền sư Pháp Hiền xây dựng vào cuối thế kỷ VI để giữ gìn các di tích xá lợi, tháp Hòa Phong vốn có 9 tầng. Thời gian làm cho đổ nát, nay tháp chỉ còn 3 tầng, cao 17m, tầng chân tháp hình vuông mỗi cạnh 7m, tường dày, trổ 4 cửa vòm cuốn. Hai cửa chính nhìn ra hướng Đông và hướng Tây có bậc cấp lên xuống. Hai bên bậc cấp là hai con sóc đá trong tư thế nằm dài từ thềm xuống sân mang phong cách rất gần với điêu khắc cổ Chăm-pa và điêu khắc thú tượng trưng trong kiến trúc lăng mộ đời nhà Tùy. Tháp Hòa Phong được trùng tu vào năm 1737 vào đời Lê. Trong tháp có chuông lớn đúc dưới triều Cảnh Thịnh và khánh lớn bằng đồng đúc năm 1837 dưới triều Minh Mạng.
Được xây bằng gạch mộc to bản, xưa kia tháp Hòa Phong cao chót vót như một thạch trụ chặn cản luồng gió nghiệp chướng từ cõi vô minh thổi tới.
~~~~~~~~~~~~~
Đăctrưng .net
Tammy Nguyen
12-12-2002, 05:13 PM
Quà Đêm Hà nội
Phương Khánh
Thời nay, quà đêm Hà Nội không chỉ co cụm ở các phố trung tâm, bên bờ Hồ Gươm như mấy chục năm trước kia. Cũng không phải từ khi có phố ẩm thực, mới có hàng quà đêm ở đó, mà Hà Nội đã "tự thân vận động” để làm vừa lòng bao thực khách, cần thưởng thức những bữa quà đêm đầy hứng thú.
Người thợ tan ca đứng máy, chị lao công sau khi đã làm cho mặt đường quang quẻ, không còn lá rơi, rác bẩn. Các nghệ sĩ vừa toát mồ hôi trên sàn diễn và cả những người vừa thưởng thức món ăn tinh thần do các nghệ sĩ sáng tạo. Những người khách ở tỉnh xa về Hà Nội thăm thú, được người thân dẫn đi dạo phố đêm. Và đông nhất là tầng lớp trẻ tuổi, đó là thanh niên sinh viên cũng không thể thiếu thực khách đang tuổi “vừa trẻ con vừa người lớn”.
Các con phố dưới ánh đèn đêm, dẫu sáng trắng màu thuỷ ngân cao áp, hay đỏ hồng rực rỡ đã làm cho buổi thưởng thức quà đêm thêm ấm cúng. Bên cạnh tiếng rao "bánh mì, bánh dầy, bánh giò" rong ruổi là hàng ngàn quán quà đêm. Từ trên các ngõ phố kéo dài ra các phường ven ngoại, nơi có các cửa ô, có chợ Mơ, chợ Bưởi, chợ Cầu Giấy sầm uất suốt ngày.
Lâu lâu lại thấy xuất hiện một phố có mòn quà đêm mới tụ tập. Vài người bán đắt hàng, mấy người khác cùng dọn đến, dân sở tại kêu, đài báo nhắc nhở, dẹp đi một dạo rồi lại tụ họp. Nào món mực nướng thơm lừng, với chén cay đưa đẩy. Có ai ăn no được vài sợi mực nướng chấm tương ớt? Thú thì ăn. Vừa tợp rượu, vừa nhai nhanh nhách, vừa nói chuyện tào lao. Vài đôi tình nhân ngồi ghế đá tâm sự chưa hết chuyện, kéo nhau đến hàng mực nướng, ngồi xổm mà xé mực cho nhau, cùng nhai, cũng thú lắm. Rồi món nem cuốn, chân gà, cánh gà tẩm đủ thứ mật ong thuốc bắc để nướng cũng vậy.
Quà đêm Hà Nội phần lớn là món ăn nóng, càng nóng càng ngon, toát mồ hôi sau khi ăn vẫn chấp nhận vui vẻ. Phở đêm trong các quán, các nhà hàng là chuyện "xưa rồi". Nay tuy nhiều hàng phở đêm nhưng chỉ dành cho những người thích "chắc dạ", vừa qua buổi lao động cật lực. Nhưng chẳng mấy ai ăn phở đêm lại gọi thêm một hai quả trứng chần, bởi dư thừa chất sẽ ấm ách không ngủ được. Các món ăn ban ngày có vị chua, thì ban đêm cũng vẫn nhiều như bún bung, bún ốc, bún riêu. Nhiều món ăn đêm nóng bỏng lưỡi vẫn đắt hàng như quẩy nóng, bánh gối đang sôi sục trong chảo dầu, với thứ nước chấm chua chua ngọt ngọt cùng với đĩa dưa góp hấp dẫn. Món chè cháo cho nhẹ dạ cũng làm cho quà đêm thêm phong phú. Thôi thì đủ loại cháo, cháo gà, cháo tiết, cháo hoa, nhưng chẳng mấy ai ăn cháo lòng lúc gần nửa đêm. Chè đậu đãi, đậu xanh, chè bưởi, thập cẩm ngũ vị đủ cả. Có món chè cô hàng xúc đến hơn mười loại thực phẩm vào cốc, chẳng biết gọi là chè gì nữa, trân châu có, hạt sen có, lại dừa, lạc, đậu... người sành ăn kháo nhau ở phố Trần Hưng Đạo có món chè ấy ngon nhất.
Bánh trôi Tàu muốn thưởng thức phải kéo tới phố Hàng Giầy, đó là cửa hàng của vợ chồng một nghệ sĩ hài. Quán mở cửa bán cả ngày nhưng tới đêm thì đông khách hơn. Nhưng Hà Nội cũng có tới mấy chục quán bánh trôi Tàu như thế, tiện đâu ăn cũng được, miễn sao vị bánh vừa béo vừa bùi, chè lại nồng thơm vị gừng cay cay mới thú.
Bốn mùa xuân hạ thu đông đều có quà đêm. Trời nắng nóng thì đi ăn quà đêm là để thư giãn, đón nhận vài ngọn gió mát ven hồ, dọc phố. Ngày đông giá rét, ngồi thu lu dưới mái hiên rộng, nhẩn nha bắp ngô nướng vừa nóng vừa thơm. Mùa thu gió hây hây ăn quà đêm vào quãng 9, 10 giờ tối là thú nhất, lúc ấy trăng đã lên cao, nơi ánh đèn không chiếu tới, mà được ngắm trăng lơ lửng, với ánh đèn dầu tù mù để khêu ốc thì thú hơn là đèn neon ắc quy. Người đời thường có ác cảm với ánh sáng nhập nhoạng, nhưng ngồi thu lu ăn uống kiểu dân dã mờ mờ tỏ tỏ lại có cái thích thú riêng. Cũng chẳng ai phải xấu hổ khi ăn, nhưng thực khách ăn uống bỗ bã lại có nét độc đáo khác lạ, không những dân ta mà cả tây ba lô cũng xì xà xì xồ khoái lắm.
Quà đêm Hà Nội từ lâu đã thành nét văn hoá ẩm thực, gắn liền với cuộc sống của dân đô thành. Có lúc thăng lúc trầm, nhưng nay thì nở rộ bao quán quà đêm, gánh quà đêm, với đủ các món ăn vừa dân dã truyền thống, vừa có món mới du nhập, cải tiến. Chợt nghĩ nếu thành phố ta thiếu vắng hàng quà đêm, thì có còn là Hà Nội không nhỉ?./.
Phương Khánh
~~~~~~~~~~~~~
Đặc Trưng .net
Tammy Nguyen
12-12-2002, 05:16 PM
CHỢ ĐÊM HÀ THÀNH
Phạm Huy
--------------------------------------------------------------------------------
Chợ Cây
Trước kia, Hà thành có hai chợ phiên nổi tiếng là Mơ và Bưởi. Chợ Mơ họp phiên vào ngày 3, ngày 8 và chuyên bán con giống. Chợ Bưởi ngày 4, ngày 9, chuyên bán cây. Ngày nay, do nhu cầu chăn nuôi đã giảm thiểu nên chợ Mơ không còn tấp nập như xưa. Vậy là chợ đêm lâu đời nhất Hà thành chỉ còn đông vui nơi dốc Bưởi.
Trời đêm đang còn hầm hập hơi nóng của ngày hôm qua, bà An đã lụi cụi dọn hàng bán nước. Cuộc đời bà có hai cái gắn bó: Hà Nội và điện ảnh. Trước một con người tuy rằng tóc đã bạc như ước, nhưng lại thừa chất lạc quan, pha chút ngoa ngoắt đáng yêu, luôn tạo cho người đối diện cảm giác dễ chịu, chắc chắn chẳng ai muốn hỏi đến tuổi tác. Bà An là thế. Dường như lúc nào bà cũng sống với tuổi đôi mươi. Bà kể, hồi trẻ, nhà ở trên phố, bà thường được mẹ giao nhiệm vụ một mình đi phiên chợ Bưởi mua cây. Con đường Hoàng Hoa Thám lúc bấy giờ đã làm gì có đèn cao áp. Tối thui tối chột. Trời mùa hè, đạp xe, mồ hôi ra đầm đìa mà vẫn run. Qua nhà máy rượu bia Hà Nội, thấy ánh sáng đèn điện le lói trước cổng bảo vệ, mừng hơn bắt được vàng. ở chợ Bưởi ngày ấy, người ta chủ yếu bán giống cây trồng phục vụ cho bữa ăn hàng ngày. Bởi đời sống ngày ấy chưa sung túc, một mảnh đất rơi rớt giữa phố xá, vài ống đất treo lủng lẳng ngoài ban công, cũng trở thành nơi tăng gia.Những lớp hậu sinh chỉ được biết chợ Bưởi của thời kinh tế thị trường. Chợ họp từ nửa đêm, tức là lúc những người ngủ muộn cũng đã êm êm vào giấc. Người bán hàng kìn kìn chở cây từ Hưng Yên, Nam Định, Hà Nam, Vĩnh Phúc... về bày suốt dọc nửa con đường Hoàng Hoa Thám. Bà An kể, ngày trước chợ cây họp ngay trong chợ Bưởi. Bây giờ các ki-ốt đã đẩy chợ ra đường. Cái thú đi chợ cây thật khó lột tả hết. Chỉ biết, giữa lòng thành phố thời hiện đại, tự nhiên ta như lạc vào một thế giới xanh. Lớn, nhỏ, cao, thấp, trồng ngoài trời, trồng trong nhà, đặt trong góc, trưng ngoài hiên... thứ gì cũng không thiếu. Hơn thế, giữa cảnh tĩnh mịch của đêm, bị sương níu kéo, hương các loại hoa càng lúc càng đậm theo từng bước chân. Hít lìm lịm tràn màng phổi, thân thể lâng lâng một cảm giác tinh khôi. Đi chợ mua cây là cách để người thành phố tìm kiếm cho mình chút màu xanh thiên nhiên giữa những khối bê tông cốt thép. ở chợ Bưởi, nếu liệt kê hết tên các loài hoa, cây, thì có lẽ cần nguyên một số báo để in. Ai muốn tìm một chậu Vạn Tuế để trang hoàng tiền sảnh. Ai muốn tìm chút nồng nàn của Dạ Hương, chút man mác của hoa Cau, chút say sưa của hoa Mộc... đến chợ Bưởi, có hết! Bởi vậy mà người Hà thành đã không chỉ coi chợ Bưởi đơn thuần là nơi giao dịch buôn bán. Nó đã trở thành một nét văn hoá, một phần máu thịt trong cuộc sống hàng ngày.
Chợ hoa
Để làm đẹp nhà, đẹp cửa, rõ ràng người ta không chỉ cần đến cây. Còn phải cả hoa nữa chứ! Hơn thế, dường như ở đất thành thị, người ta càng cần thứ vật phẩm tinh thần này. Hoa của Hà thành chủ yếu trồng tại khu vực Nghi Tàm rồi sang Quảng Bá. Bởi vậy mà nơi đây đã hình thành một chợ hoa.
Chợ hoa Nghi Tàm có từ bao giờ ư? Có lẽ từ lúc người thành phố bắt đầu yêu hoa và những người dân ở đây biết trồng hoa. Và tất nhiên, để có thể hưởng thụ trọn vẹn thứ tinh tuý của đất trời này, ta chỉ nên đi chợ vào thời điểm cuối đông đầu thu. Lúc ấy ngàn hoa đua nở!
Chả biết tên bà lão ấy là gì. Vì khi được hỏi, bà chỉ móm mém cười. Trên đôi vai gầy guộc là một gánh loa kèn cùng ít thạch thảo. Sức nặng từ hai đầu chưa đủ làm chiếc đòn gánh cong xuống, thế mà bà lão vẫn phải dồn hết sức lực vào những bước chân chệch choạc. Bà là người đến chợ sớm nhất. Không phải để cạnh tranh với những người bán hàng khác. Không phải sợ ế hoa. Bà muốn những bông kèn sớm đến được tay người yêu hoa, sớm được cắm vào nước để có thể tươi lâu. Loa kèn của bà trông không giống lắm với thứ hoa của người thiên hạ. Tất cả đều là kèn đơn, nụ mập tròn, trắng xanh, thân ngắn. Nó là thứ kèn trồng hoàn toàn theo cách thức truyền thống. Cho dù không ít người chê là khó cắm, bà vẫn không muốn thay đổi. Bởi, số hoa bà có đáng là bao. Cả vụ, chỉ dăm gánh ra chợ là hết. Bây giờ người ta trồng kèn theo kiểu thâm canh, sử dụng tối đa các chất hoá học. Những ngày giá, các ruộng kèn còn được sưởi ấm bằng đèn điện. Trồng kiểu ấy gọi là "kèn làm". Một cành có thể mọc ra cả chục bông, thân dài, bông dài nhưng sắc hoa hơi ngả màu vàng đùng đục. Vì thế, người kén hoa, lại cắm khéo, không bao giờ chọn loại này.
Muộn hơn chợ Bưởi, phải đến tận 3-4 giờ sáng, chợ hoa Nghi Tàm mới họp. Bây giờ người ta đã đem bán thêm nhiều loại hoa mới, du nhập tít tận Đà Lạt, Pháp, Hà Lan, như đồng tiền Hà Lan, baby, rum... Và cho dù là ngoại lai, là Ðông đứng bên Tây, hoa cũ hoa mới vẫn hoà hợp, tạo nên một thế giới sắc màu phong phú. Sở dĩ như thế là vì cuộc sống ngắn ngủi của hoa chỉ có một mục đích. ấy là làm đẹp cho thế giới cả tự nhiên lẫn con người. Tuy thế, những người thuộc lớp "cổ lai hy" đất Hà thành khi đi chợ hoa vẫn không khỏi có chút nuối tiếc. Dường như, hương hoa càng ngày càng nhạt đi!./.
Phạm Huy
~~~~~~~~~~~~~~~
Đặc trưng .net
Tammy Nguyen
12-12-2002, 05:20 PM
Món giả cầy
Mai Khôi
--------------------------------------------------------------------------------
Món giả cầy ra đời nhờ những người không muốn ăn thịt cầy nhưng vẫn muốn thưởng thức hương vị đặc trưng của cầy thật đã nghĩ ra. Chân giò lợn đốt cho vàng đều, thái miếng, ướp mẻ, riềng, mắm tôm, để ngập nước rồi ninh. Giả cầy ăn với bún Phú Đô là món ăn ưa thích của người dân đồng bằng Bắc Bộ.
Có những cái giả, cái rởm bị người đời lên án nhưng món giả cầy hay nói cho đúng hơn là món "cầy rởm" thì chẳng chê vào đâu được.
Nghi Tàm, Nhật Tân rồi trăm quán, Hàng Hòm, Hàng Lược, Bát Đàn, Ô Quan Chưởng, chợ Châu Long đều là những địa danh khét tiếng một thời vì hương vị cầy tơ.
Thế thì cần gì phải sinh ra cái món cầy giả hiệu nữa? Thưa rằng, thịt cầy ngon đấy nhưng chỉ ngon với đấng mày râu thích đánh chén, còn cái món lợn nấu giả hao hao giống miếng thịt chó lại rất hấp dẫn giới nữ. Món giả cầy ra đời nhờ những người không muốn ăn thịt chó nhưng vẫn muốn thử cái hương vị cực ngon của thịt chó chính hiệu đó nên đã phải giả tạo cái thứ gì hao hao như vậy. Và từ đó, ai cũng thích cái món giả cầy.
Trong gia đình muốn cải thiện bữa ăn, các bà nội trợ đã chẳng tiếc công nấu món này cho gia đình thưởng thức trong ngày nghỉ lễ. Mà có gì khó khăn đâu. Một cái chân giò xách về lúc nửa buổi là xong, nhưng phải là cái chân giò sau mới "nây" thịt và mua thêm vài ba chiếc móng giò. Hai thứ đốt lên cho vàng đều, sau đó thì cạo sạch rửa kỹ. Phần thịt thái miếng bằng bao diêm. Phần móng chẻ đôi, chặt thành khúc nhỏ. Xong xuôi ướp mẻ lọc, mắm tôm rây và riềng củ giã nhỏ. Rưới tí nước hàng cho thịt đỡ nhợt rồi ướp gia vị ít nhất một tiếng đồng hồ cho đủ ngấu. Vài giờ sau trút cả vào nồi, đổ ngập nước, đặt lên bếp. Lúc đầu lửa to, sau khi sôi rút bớt lửa. Cũng là một lối ninh nhưng khác với ninh xương cũng chẳng giống chân giò luộc ăn kèm bún bung mà phải ninh sao cho khi ăn còn có thể được gặm hoặc phải xé như đùi chó mới ngon. Nước giả cầy phải sền sệt để mỗi lần mở vung lại ngửi thấy một lần bốc thơm chẳng phải mùi thịt chó, cũng chẳng ra mùi thịt lợn mà là một thứ mùi riêng của thịt lợn giả chó mới tài tình.
Nấu xong, múc ra bát to ăn với bún Phú Đô (1), một loại bún có tiếng ở Hà Nội, cạnh bên là đĩa lạc rang nóng ròn còn vỏ áo. Người ăn tuỳ thích gắp nạc hay gắp mỡ, gắp sụn hay gắp xương của cái chân giò đã ninh kỹ ăn kèm với những cuộng rau ngổ tươi non, mập mạp. Rau thơm nào ăn với món ăn nào đã thành "luật định". Chọn cái mà ăn mới là người sành, lịch lãm.
Hương thơm chân giò nướng đã ninh kỹ trộn hoà với mùi thơm của riềng, của mẻ xông lên mũi, lúc đang bốc hơi, đố ai có thể bỏ đi mà không thể dùng bữa, không ăn cầy tơ mà cứ như đang nếm náp cầy tơ, món giả cầy nấu đến mức kỹ thuật điêu luyện, không thể chê vào đâu được.
Mai Khôi
~~~~~~~~~~~~~~~~~
Đặc trưng .net
Tu-Uyen
12-13-2002, 11:44 AM
================================
Dưa khú cá trê ...
Orginal posted by Bungrieu
==============================================
Ai làm cho cải tôi ngồng,
Cho dưa tôi khú, Cho chồng tôi tôi chê,
Chồng chê thì mặc chồng chê,
Dưa khú nấu với cá trê ngọt lừ
Bài ca dao ấy chứa một bí quyết trong văn hóa ẩm thực Việt Nam
và đây mới là vấn đề chính mà bài viết này muốn lạm bàn.....
==========================================
TU cũng có nhớ bài ca dao sau đây cũng nói lên cách nấu ăn hay ẩm thực của VN:
Con gà cục tác lá CHANH ( thịt gà mà có lá chanh mới thơm)
Con lợn ủn ỉn mua HÀNH cho tôi ( thịt heo mà không có hành thì hỏng kiểu)
Con chó khóc đứng khóc ngồi
Chị ơi đi chợ, mua tôi đồng GIỀNG (Thịt chó mà thiếu Giềng Mẻ thì vất đi)
Hay là
A.. B.. C.. là xề bánh Đúc
U..C úc là cục mắm Tôm
Bánh Đúc hay Đậu phụ mà chấm mắm tôm vắt chanh thì ngon..tuyệt ...
Tammy Nguyen
12-13-2002, 12:22 PM
đúng rồi đó TU , chỉ có bắc kỳ gộc mình thì mới nhớ mấy câu ca dao này , T. nghe bà nội ru mấy đứa cháu , lâu quá rồi mới nghe lại, c'am ơn TU nhìu :p
Bà luôn nói là món "cờ tây " là lúc nào cũng phải có giềng .
Lá chanh là để làm gỏi gà hay sao đó
Con thịt heo hay thịt lợn thì luôn đi đôi với hành
co`n mẻ thì có phải là gạo để cho hơi thiu thiu và thính trộn vào không TU ? Cái đó nhà hay nấu giả cầy , nhưng không bao giờ làm "cầy " thiệt hết đó , vì bà nội T. ăn chay , tuyệt đối kiêng thịt chó .
có ông chú đi lính --đại úy , lâu lâu hay đi đêm vô khu chợ cũ hay chợ cũi gì đó, chuyên môn bán đồ nhậu ác ôn như là thịt chó, thịt khỉ, rắn, rùa, etc... lâu lâu ông làm một chén rựa mận .
Tối về bà mà ngửi thấy mùi mẻ hay giềng là bà tống cổ ra ngoài đường luôn, khỏi cho vô nhà !! :D:p
Tu-Uyen
12-13-2002, 01:10 PM
co`n mẻ thì có phải là gạo để cho hơi thiu thiu và thính trộn vào không TU ? Cái đó nhà hay nấu giả cầy , nhưng không bao giờ làm "cầy " thiệt hết đó , vì bà nội T. ăn chay , tuyệt đối kiêng thịt chó .
============================================
TU chỉ nhớ rằng muốn nuôi con Mẻ thì trước hết phải xem ai có con Mẻ sẵn cái thì xin một ít mang về rồi bỏ trong cái lọ thủy tinh đậy bằng vải màn để trong xó bếp ít ánh sáng. Mổi ngày hay cách ngày nuôi con Mẻ bằng cơm nguội chứ không phải gạo hay thính. Khi cần nấu thì lấy một ít ra cái bát rồi cho tí nước lã vào khuấy cho đều rồi lọc lấy nước mà thôi, còn bã thì bỏ đi..
TU từ trước tới giờ chỉ có thử Giả Cầy của mẹ nấu mà thôi ..chứ chưa dám thử thịt chó thật ..
Tammy Nguyen
12-15-2002, 06:41 PM
Hồ Hoàn Kiếm
Tammy Nguyen
12-15-2002, 06:44 PM
Hát chèo
Tammy Nguyen
12-15-2002, 06:46 PM
Nhà Hát Lớn
allena
12-15-2002, 06:48 PM
Cô chủ quán Hà Nội giỏi thiệt nghe , đắt hàng quá chừng ...:flower:
Tammy Nguyen
12-15-2002, 06:49 PM
Cổng Làng
Tudoi
12-15-2002, 06:50 PM
Hội chợ đêm Hà Nội - Một sự thất vọng
Người ta lại thấy trên đường phố trưng lên những băng rôn quảng cáo về hội chợ đêm Hà Nội, có thể nói cái tên gọi ấy đã thực sự hấp dẫn được người tiêu dùng của thủ đô, người ta mường tượng một hội chợ đêm với những sắc thái đa dạng của nó... và vì thế sẽ không kém phần thi vị xen lẫn yếu tố thương mại của một loại hình hội-chợ. Thế nhưng những gì được chứng kiến ở đây lại không khỏi làm người ta thất vọng.
Tối thứ bảy (ngày 07/12) tôi náo nức đi hội chợ, ở phía sau của cung văn hoá Hữu Nghị đông nghịt người vào ra, bãi đỗ xe chật cứng tuy mới chỉ nhét được vài chục chiếc xe máy, người giữ xe lạnh lùng nói: Hết chỗ.
Tôi và bao nhiêu người khác ngán ngẩm quay ra, chẳng biết để xe ở đâu nhưng cũng không thể quay về mà chưa được ' thưởng thức' đêm Hà Nội nên nhiều người cứ để bừa xe ngay trước khu vực cửa vào hội chợ mà chẳng có ai trông. Tôi thấy vậy cũng liều làm theo mặc dù trong bụng nơm nớp lo. Khi ra bàn mua vé vào cửa, tôi hỏi một cô bán vé: 'Chị ơi, ở đây không có chỗ gửi xe à?' Chị này không thèm ngẩng lên, trả lời: 'Người ta cứ để đầy ở sân ấy mà, chẳng cần trông'. Câu trả lời ấy không làm tôi yên tâm hơn chút nào nhưng cứ đưa vé cho người soát cửa và bước vào. Một không khí ngột ngạt, khó chịu vây lấy tôi do phòng hội chợ quá hẹp mà lượng khách lại rất đông, mọi người chen chúc nhau để cố tìm cho ra một cái gì thật sự hấp dẫn ở các mặt hàng hay nét mới trong phần 'hội' để xứng với cái tên gọi lãng mạn của nó vậy mà chẳng có gì thoả mãn được mong muốn ấy. Tôi nghe thấy một chị đứng bên cạnh thở dài đánh thượt một cái và nói: thà vào siêu thị còn hơn...
Hội chợ đêm Hà Nội hay đêm Trung Quốc?
Tôi cứ đi tìm một cái gì đó của Hà Nội, hay ít ra là đặc trưng của người Hà Nội trong hội chợ này nhưng hầu như chẳng có gì. Những cửa hàng quần áo thì chủ yếu là hàng nhập của Trung Quốc, đồ gia dụng cũng vậy, nhưng đáng nói hơn là lại thấy sự xuất hiện của tới 50 gian hàng (chiếm phân nửa diện tích) dành cho đồ gốm sứ Giang Tây (Trung Quốc) - khi mà cách đây hơn 1 tuần, ở cả cung Hữu Nghị và trung tâm triển lãm Vân Hồ đã diễn ra hội chợ giới thiệu sản phẩm này gần cả tháng trời. Đi một vòng chẳng có gì để xem, chẳng có gì để mua, người ta lục tục kéo về trong sự thất vọng tràn trề. Mất công đi, mất toi 2.000 đồng/người cho tiền vé vào cửa chỉ chuốc thêm sự bực mình. Có người còn 'chua' thêm một câu cho bõ cái sự bực tức : toàn những đồ ế ẩm, kém chất lượng nên mới phải đem bán về đêm!
Liệu có nên tiếp tục 1 hội chợ như thế?
Người ta đến hội chợ không chỉ đơn thuần vì mục đích mua sắm mà còn với mong muốn tìm đến một nét đẹp văn hoá của các phiên chợ từ xa xưa đồng thời còn vì muốn hoà chung trong sự đổi mới của nếp sống đô thị, trong sự phồn thịnh, tấp nập của bán-mua; Người ta đến hội chợ còn để được ngắm nghía những gian hàng đẹp mắt từ những sản phẩm trong nước... Chính vì vậy bất cứ ban tổ chức hội chợ nào cũng không được phép tuỳ tiện tổ chức hội chợ chỉ đơn thuần vì mục đích kinh doanh mà quên đi ý nghĩa truyền thống của nó. Không phải cứ chọn cho nó một cái tên nghe thật kêu rồi để cho mọi đối tượng tư thương vào buôn bán gì tuỳ thích, hàng thật, hàng giả, hàng kém chất lượng... đánh lừa người tiêu dùng được bày bán trong hội chợ đã không còn là hiện tượng hiếm nữa. Nếu cứ để những hội chợ như 'đêm Hà Nội' tiếp diễn thì chẳng bao lâu sẽ 'loạn hội chợ' và lúc ấy người dân sẽ quay lưng lại với loại hình kinh doanh vốn rất giàu tính văn hoá này.
Tuyết Mai - Giáo dục & Thời đại
(Trích E-Viet Online)
Tammy Nguyen
12-15-2002, 06:52 PM
cám ơn chị allena nha . T. cố làm là để giữ lại kỷ niệm của Bà Nội của T. sống lại một phần nào trong trí nhớ của mình .
Tammy Nguyen
12-15-2002, 07:10 PM
Temple of Literatures
~~~~~~~~
Tiếng Việt hình như là Văn Miếu Quốc Tự Giám
Tammy Nguyen
12-15-2002, 07:16 PM
Áo Dài phố
Tammy Nguyen
12-15-2002, 07:18 PM
Áo dài của thời nay
Tammy Nguyen
12-16-2002, 09:51 AM
Hàng Mã
Tammy Nguyen
12-16-2002, 09:56 AM
Ngoài Bắc, gần Hà Nội
Tammy Nguyen
12-16-2002, 09:58 AM
tranh thiếu nữ Hà Nội
Tammy Nguyen
12-16-2002, 10:00 AM
Trái cây của chợ Hà Nội --không biết chụp ở chỗ nào :confused:
Tuong-Vi
12-16-2002, 10:15 AM
wow cám các anh chị và bé BR, đặc biệt là chị tammy, đã viết và sưu tầm nhiều bài hay và nhiều hình đẹp về Hanoi.. làm cho tuongvi học hỏi được nhiều và very prepared for VN... tuongvi xin cám ơn rất nhiều nhiều nhiều
Saigonian
12-16-2002, 11:35 AM
Nói tới món giả cầy, tuần qua SG được bà già vợ tương lại cho ăn thiệt là không chỗ nào chê được.
BangHuu
12-16-2002, 11:39 AM
Quán Hà Nội của cô chủ T. có nhiều mục hay và hấp dẫn lắm,nhưng xin khiếu nại cô chủ có cách nào post hình mà khi đọc mình không phải roll screen qua lại không ?Vì đọc như vậy hơi mất sướng!(cái này cũng hỏi chung cho mấy chổ khác luôn,vì thấy cô chủ khá rành về ba cái vụ này:p )
Tammy Nguyen
12-16-2002, 12:21 PM
Hehe, cái này phải hỏi QT .tại vì cái design layout của board hơi lớn . Còn vụ hình thì chắc phải làm cho size nhỏ lại , rồi nếu anh BH muốn post thì phải upload image vô cái site nào đó
xong rồi nếu muốn center nó thì đánh vài cái space in the front,
xong rồi mới copy cái hàng link image vô thì nó sẽ nằm ngay chính giữa trang . Chứ còn nếu mà anh xài upload thẳng từ cái post reply button onto the desktop thì cái đó already pre-set by the board, mình hông có làm cho tấm hình nhúc nhích được , hay center được đâu , dạo này T. hết tiền rùi , hông trả cho ranchoweb nên thích upload thẳng lên đây
~~~~~~~~~~~~~~~
Chùa Một cột
Tammy Nguyen
12-16-2002, 12:32 PM
Hồ Hoàn Kiếm, nhìn từ góc cạnh khác
Tammy Nguyen
12-16-2002, 12:34 PM
Vịnh Hạ Long
Tường Vi đừng có miss chỗ này nha, :p
Tammy Nguyen
12-16-2002, 02:41 PM
Đền Ngọc Sơn, gần Hồ Gươm
Tammy Nguyen
12-16-2002, 02:47 PM
Thành Cổ Loa, gần Hà Nội
Tammy Nguyen
12-16-2002, 02:48 PM
Khuê Văn Miếu
BangHuu
12-16-2002, 06:25 PM
Hihì ..bây giờ coi hình và đọc chữ thấy "sướng " rồi.
Cám ơn cô T. nghe,công nhận cô cái gì cũng hay hết á :flower: :flower: .
Mấy hình sau cảnh đẹp nhưng đáng lẽ mấy phó nhòm nên chụp một cô với một chàng thì có vẻ"tình"hơn :p
NhanhRong
12-19-2002, 06:02 PM
Cô chủ quán này coi bộ làm ăn thấm khá qúa. NR có vài tấm ảnh cho cô chủ quán Tammy và các bạn thưởng thức nè.:)
NhanhRong
12-19-2002, 06:31 PM
Here is the pix
Hồ Gươm trong đêm giao thừa
NhanhRong
12-19-2002, 06:34 PM
Ven Hồ Hoàng Kiếm
NhanhRong
12-19-2002, 06:38 PM
Hoa Đào Làng Nhật Tân
NhanhRong
12-19-2002, 06:41 PM
Một góc công viên Thủ Lệ
NhanhRong
12-19-2002, 06:43 PM
Hang Trống, Hạ Long Bay
NhanhRong
12-19-2002, 06:45 PM
Trước cửa Hang Bồ Nâu, Hạ Long Bay
NhanhRong
12-19-2002, 06:47 PM
Núi Bình Phong, Hạ Long Bay
NhanhRong
12-19-2002, 06:50 PM
Phong Cảnh Vinh Ha Long
NhanhRong
12-19-2002, 09:07 PM
Mến tặng cho cô chủ quán Bắc nè:
Có phải em, người anh mơ ước
Cô Bắc Kỳ tha thướt tóc buông
Sợi mềm, từng sợi chảy xuông
Bên bờ vai nhỏ, gợi nguồn tim anh
Phải là em, anh dành tình ái
Cô Bắc Kỳ, mềm mại dáng đi
Mắt tròn, khẽ chớp làn mi
Thẹn thùng e ấp mĩm chi nụ cười
Là em đó, hoa tươi nồng thấm
Giữa xuân hồng tỏa lắm sắc hương
Cho anh kẻ lạ bên đường
Thương hoài một đóa giữa vườn hoa xuân
(Antonio)
:) :)
Tammy Nguyen
12-20-2002, 10:14 AM
wow , cám ơn sis NR đã phụ tay cho chủ quán nha .
Bài thơ dễ thương quá, cám ơn sis muahhhhhhz nhiều,
bắc chước PD, cap, SG đó (là mi nhiều nhiều, chóc chóc dzậy nè )
:p
allena
12-20-2002, 02:10 PM
Ba Mươi Sáu phố phường Hà Nội
Hàng Buồm chẳng còn cánh buồm
Thuyền đậu nơi nào em đến
Sông Hồng cách xa biền biệt
Bãi ngô cát trắng mùa Xuân .
Hàng Chuối .
Đâu còn có chuối
Vài cây cơm nguội trăm tuổi
Lác đác những chú chim sâu.
Hàng Nâu
Rồi sang Hàng Lược
Lược chải tóc em ngày xưa
Áo trắng tóc dài trên phố
Hương chanh hương cốm mùa thu
Hàng Đào hoa đào mấy độ ?
Hàng bạc tìm thợ làm vàng
Hàng Cót rẽ về hàng Than
Hàng Da em tìm giày dép
Hàng Nón nón trắng dập dờn
Hàng Bông nào còn bông vãi
Hàng Gai đàn ai đêm tối
Văng vẵng mấy giọng hát đào
Hàng mã chợ hoa ngày tết
Hoa hồng đào thế Nhật Tân
Run run rét về trong mắt
Mê hồn những sắc những hoa
Ta yêu mái nhà phố Phái
Nguệch ngoạc đơn sơ tài hoa
Ta yêu hàng cây bờ cỏ
Tháp Bút viết suốt ngàn năm
Hồ Gươm - Rùa vàng đã nổi
Mùa xuân em có về không ?
Ba sáu phố phường Hà Nội ...
Thái Thăng Long
Milou
12-20-2002, 06:59 PM
Milou không ngờ Phở Tàu Bay lại do một người Hoa sáng chế. Hồi còn nhỏ, ở Saigon Milou thường được dẵn đi ăn, mỗi lần vào tiệm là Milou thấy tỉnh người liền :p. Tinh thần ăn uống lúc nào cũng lên cao mà :D. Ở đó phở có cái mùi thơm đặc biệt mà tìm mãi bên này vẫn chưa có.
Lại học thêm một điều lý thú nguồn gốc của cái tên "phở Tàu Bay". Đúng là "lên Internet một ngày đàng, học một sàng khôn" :p
Đọc bài nói về Ô-mai của chị My-Linh làm Milou thèm wá. Bắt đền chị ML :(.
allena
12-28-2002, 02:57 PM
Gởi về Quan Họ
Mưa xuân giăng mắc miền quan họ
Cánh nón quai thao lấp lững chờ
Đêm ấy sông Cầu tha thiết gió
Anh về hôn rét một câu thơ
Chiếc khăn hoa lý choàng duyên nợ
Lấm tấm tầm xuân dọc nỗi buồn
Ai khép ơ hờ câu hát thế ?
Để mình quán Dốc với anh thương
Mười năm dan díu tình anh lại
Thấm thoát heo may lối tuổi thề
Đuôi mắt đa tình mưa ướt đấy
Ngại ngùng hai vạt áo so le
Trương Nam Hương
:flower: Riêng gởi chị HV
hongvan
12-30-2002, 10:42 AM
Hồng Vân thân chào cô chủ quán Làng Văn Hà Nội tại VCB
Hông Vân thân mến chào Allena, con chim Vàng Anh quanh năm líu lo những cung điệu tươi sống trong gia đình VCB
Allena thân mến:
Hồng Vân cảm động và vô cùng xúc động khi nhận được món qùa tinh thần cuối năm của 1 thân hữu mà mình đã từ lâu "thầm thương, trộm mến". Cái thương mến này nó chân chính bắt nguồn từ tình người, tình thân hữu, tình đồng bào, những kẻ có cùng trái tim, khối óc, và đặc biệt là đã cùng có "những cái chung về niềm đau không tên của những kẻ tha hương nhận định về một đất nuớc, con người. Nơi đó, chỗ đó mình đã được cuu mang, được sống và có trí khôn để rồi 1 hôm nào mình mới bất chợt thấy lại được như trong giấc mơ". Hồng Vân đã theo dõi chuyến đi Việt Nam mới đây qua loạt bài ký sự của Allena. Phần kết luận của em, Allena đã mang cho HV cả mấy đêm trằn trọc. Những trằn trọc này chính là những cái đau đớn không bao giờ nguôi được. Những đớn đau này phát xuất từ 1 căn bệnh không thể và "chưa tìm ra cho được liều thuốc nào để mà trị liệu cho nó cả". Nếu nói như vậy thì HV xin tạm "nhịn đau" và không nói về chuyện đó nữa nghe Allena.
Hồng Vân xin được cám ơn Allena về bài thơ "Gởi về Quan Họ" của Trương Nam Hương. Xin cảm tạ Chim vàng Anh đã chịu khó bay lượn từ cầu Long Biên, để về sông cầu, rồi ghé quán Dốc, mà thăm vùng quê Hồng Vân. Hơn 50 năm qua rồi mà sao cảnh cũ vẫn còn dấy động trong tâm hồn của kẻ viễn xứ. Allena đã cho HV được sống lại trong giây phút cái thuở nào trong những xúc động về những nỗi nhớ, niềm nhung mà chả có giọt nuớc mắt nào có thể diễn đạt được cái thương, cái yêu xót xa đó. Xin cám ơn Allena, xin cảm tạ chân tình của bé vàng anh đã hót lại những điệp khúc quê hương "Quan Họ". Cái tình tự đó ra đời bằng con số: một, chín, ba, tư, năm mà Hồng Vân vừa mới biết ca hát tiếng khóc chào đời đầu tiên tại Làng Nội Duệ, Huyện Tiên Du, Phủ Từ Sơn, Tỉnh Bắc Ninh.
Allena à! địa danh nơi chị sinh quán đã đánh dấu một giai đoạn "kỳ tích Văn Thơ" trong Văn Học Sử Việt Nam nhất là những bài hát Quan Họ Bắc Ninh như em mới tặng chi vào những ngày cuối năm Nhâm Ngọ này. Cho đến bây giờ quê chị vẫn còn là những dấu tích Văn Học không thể quên được mà em là 1 chứng nhân đã nói lên và minh chứng cho những cái mà chị đã nói ở trên.
May mắn thay và cũng đau đớn thay, nơi chị sinh trưởng đã 1 thời lẫy lừng với câu hát, giọng hò:
Trai Cầu Vồng Yên Thế
Gái Nội Duệ, Cầu Lim
Câu đầu tiên có ý nói là Trai ở Cầu Vồng Yên Thế thì ai ai cũng là anh hùng cả. Là thanh niên trai tráng thì ai cũng biết múa côn, đánh quyền để giữ nuớc. Chả thế mà 1 Hoàng Hoa Tham đã trờ thành 1 Hùm Thiêng Yên Thế, Đề Thám làm kinh sợ bọn Tây cướp nước ta trong những ngày tháng lịch sử trước đây.
Còn câu thứ hai thì ....., thì .... em có có biết nghĩa của nó như thế nào không!!!??? Vắn tắt để em biết là họ liệt bọn đàn bà con gái làng Nội Duệ của chị là bọn Bà Chằng!!!!! Ai mà về Bắc Ninh thời đó lỡ chả may không biết mà trêu ghẹo phải bọn gái Nội Duệ, Cầu Lim thì chỉ có nước đi tìm nha sĩ để mà làm răng gỉa hoặc tìm thày thuốc Bắc để mà nắn lại xương cốt cho nó vào khớp cũ. Đó! em thấy gái làng chi nó "kinh hồn" chưa!!!??? Bởi vậy các cô ế chồng cả đám vì trai các làng bên họ sợ bọn gái như beo, như cọp dữ. Nói chung thì gái làng chị đa số ai ai cũng biết võ nghệ cả. Thật là 1 hãnh diện cho làng chị trong công cuộc cứu nước và giữ nước, nhưng cũng thật là xấu hổ và đau đớn thay cho phận đàn bà trong làng chị không có được cái may mắy làm "dâu hiền" như vùng quê em ở ngoài Thừa Thiên chả hạn.
Đó! chuyện Quan Họ và chuyện của Hồng Vân ở Bắc Ninh là như vậy đó. Hy vọng HV đóng góp được phần nào trong kho tàng văn học nghệ thuật mà em đang sưu tầm để làm sốnng lại những cái hay, cái đẹp, cũng như cái không được đẹp của dân tộc ta, quê hương ta.
Thân mến cùng Cô bé Chủ Quán Hà Nội và Cô bé Vàng Anh Allena.
Hồng vân
Tudoi
12-31-2002, 01:21 AM
DU có môn võ khóc nhè hiệu nghiệm rồi không cần học môn võ khác đâu.
NhanhRong
12-31-2002, 06:22 AM
Cô Hàng Xén
Cô hàng xén nhà xóm Đông
Tháng mười phiên chợ sang sông cả mười
Gửi thuyền, buộc bến nhà tôi
Để tôi thấp thỏm những lời gửi thưa
Để tôi ngày nắng mong mưa
Cứ chờ che nón mà đưa em về.
(Nguyên Linh)
Buznet
12-31-2002, 09:19 AM
Originally posted by Tudoi
DU có môn võ khóc nhè hiệu nghiệm rồi không cần học môn võ khác đâu.
Phu Du năm 2003 chớ không phải ngày xưa nữa. :D :D :D
hongvan
12-31-2002, 10:21 AM
...... Té ra con gái Làng Nội Duệ còn "ngầu" hơn nhiều. Đứa nào mà động tới bà...bà xăn tay áo, xăn cạp quần...nhảy đành đạch...chúng mày không xéo kịp là chít với bà .....Chửi vậy giống gái Làng Nội Duệ hông sư tỷ?
Cái ACTION này thông thường thì chúng ta thường thấy ở các bạn hàng tôm, hàng cá tại mấy chợ búa ở VN ta. Nói 1 cách khác đi thì mấy bà bán tôm, bán cá thường hay chanh chua, dụng võ này như vậy ở ngoài chợ để đối phó với những người "xỉ nhục" họ, hoặc ăn hiếp, hoặc tranh giành buôn bán với họ.
Cám ơn sư muội Phù Du.
.....Sư tỷ hông fải gái Bình Định mà sao cũng "chằng" wá xá
Thực ra ngày xưa vì dân tộc ta qua bao năm bị ngoại xâm quấy rối hết thế hệ này tới thế hệ khác. Thành phần nữ giới bị ảnh hưởng nhiều nhất khi nước ta bị kẻ thù xâm lược. Nào là không vì đau đớn phải xa chồng , lìa con thì cũng có khi trở thành mẹ góa con côi. Nói 1 cách khác đi thì nếu không thành "Hòn Vọng Phu" thì cũng là "góa phụ" đã hy sinh chồng con mình cho công cuộc giữ nước và dựng nuớc VN ta. Chính vì vậy chúng ta --- những người đang vui chơi trong VCB forum và đồng bào mọi nơi trên thế giới --- đã nhờ đó mà được tồn tại đền ngày hôm nay.
Tuy nhiên, cái đau đớn nhất cho những người phụ nữ VN bị ảnh hương sâu nặng là mỗi khi có ngoại xâm đến là họ thường - hoặc luôn luôn --- bị giặc hãm hiếp. Bởi vậy người phụ nữ VN đã trở nên những người đàn bà can trường và có sức chịu đựng hy sinh nhất so với các bạn nữ cùng phái trên 5 châu, 4 biển. Họ chả thà mất đi những người thân yêu nhất của mình để giữ nhà, giữ nước còn hơn là bị giặc làm nhục đến thân thể trong trắng của họ. Cái trong trắng NGÀ NGỌC này theo các cụ thì chỉ có 1, và chỉ một người mà thôi. Đó là người mà họ chịu "xuất gía" và "nâng khăn sửa túi" suốt cuộc đời họ, cho dù họ có gặp phải bao đắng cay, gian truân, ngang trái, khổ đau phủ xuống cuộc đời nữ nhi chân yếu tay mềm của họ.
Từ những căn bản đó, nhiều nơi trong nước ta, người phụ nữ không chịu làm kẻ yếu đuối chờ giặc tới thảm sát, hãm hiếp, cướp bóc mà họ đã vùng lên cùng nam giới học quyền, đánh côn, .... để chen vai thích cánh với nam nhi, trai tráng cùng giết giặc giữ giang san VN thân yêu cho chúng ta đến ngày nay. Chjính vì vậy, văn học bình dân trong dân gian còn truyền tụng đến ngày nay cho chúng ta câu:
Giặc đến nhà đàn bà phải đánh
Ngoài 1 số nữ Anh Hùng, Hào Kiệt mà chúng ta đã được đọc và học trong sử sách, giới quần thoa cũng không thua kém bọn mày râu thì phải kể đến Phụ Nữ làng Phú Phong , Qui-Nhơn, Tỉnh Bình Định. Chính nơi đây cũng đã sản sinh ra 1 vị đại anh hùng dân tộc cùng 1 thời với Nã Phá Luân Đại Đế bên Âu Châu - Napoleon vào thời điểm 1779-1789 thì phải??? Đó là người anh hùng áo vải Tây Sơn Đại Đế Nguyễn Huệ. Là người Việt thì chúng ta ai ai cũng hãnh diện với chiến thắng hiển hách của Ngài. Người không những đã dùng một chiến thuật, chiến lược "tốc quyết,tốc thắng đệ nhất vô nhị, vô tiền khoáng hậu, tự cổ chí kim" vang danh trên sử sách thế giới là đã cả phá đai quân Mãn Thanh, 1 hùng bình thao lược mạnh nhất Đông Nam Á thời bấy giờ. Ngoài ra Ngài còn làm cho Vua Mãn Thanh Càn Long phải bở vía, khiếp đảm, kinh hồn mà phải nghị hòa với Việt Nam ta và không dám bén mảng đến quây phá nhân dân ta 1 thời gian dài. Nói đến đây chúng ta phải nghiêng mình trước hồn thiêng sông núi và vong hồn các anh hùng liệt sĩ, những người đã vì đại nghĩa dân tộc xả thân cứu nước không kể nam hay nữ giới và nhất là ghi nhớ công ơn Tây Sơn Đại Đế. Nếu chúng ta là người VN thì ai cũng ước mơ "Làm Người Nguyễn Huệ"cả.
Nếu ở đây, tại VCB, có đồng hương nào là người quán tại làng Phú Phong, Bình Định thì còn biết đến 1 tục lệ truyền thống của làng Phú Phong. Đó là hàng năm cứ vào dịp Tết Nguyên Đán thì ngưòi dân PP đều có trò chơi đá gà. Cái trò chơi này đã thể hiện được tinh thần "dũng cảm chiến đấu" của họ. Chính vì vậy mà phụ nữ làng này cũng ảnh hưởng nặng cái tinh thần "thượng võ" đó mà họ đã trở những nữ anh hùng sẵn sàng đứng lên bảo vệ nước khi cần đến họ. Nói chung thì phụ nữ làng này hầu hết đều biết múa côn, đi quyền không thua gì nam giới cả. Tuy vậy, đối với gia đình chồng con thì họ cũng là những người phụ nữ "đảm đang" không thua kém gì các phụ nữ VN bình thường khác.
Vài lời lắm chuyện, góp ý với sư muội Phù Du về cái gọi là "Gái Bình Định" để cho vấn đề này được thêm phần sáng tỏ và hứng khởi
Thân ái cùng sư muội và chúc muôi cùng tất cả các bạn VN đều có được nhiều niềm vui trong năm mới nhất là khi nói, và nhắc về cái tính DÂN TỘC BẤT DIỆT của Tiền Nhân ta, xứ sở ta, cũng như các tập quán đáng yêu, đang qúi của đồng bào ta ngoài những cái mà chúng ta cho là "hủ lậu" như Hồng Vân chả hạn.
Hồng Vân kính bút
allena
12-31-2002, 01:53 PM
Chị Hồng Vân kính mến.
Trước hết xin cho phép Allena Vàng Anh được cám ơn chị về một bài viết đầy ưu ái dành cho vàng Anh . Đọc xong bài của chị thì hình ảnh của người thường được chị PD gọi là Sư Tỷ dường như cũng trở nên thật thân thương đối với em . Em không biết viết những lời ngon ngọt hay đoán được ý của người khác nhưng khi viết những dòng nầy cho chị , em có thể cảm nhận được sự thương mến chị dành cho em ( chắc là có ít thôi , không thôi bị cà nanh :p ) Đó là một hân hạnh cho em khi được biết chị , như ai đó dã viết " gặp nhau trong vinh dự của cuộc đời ".
Trên VCB , em không biết chị là ai và chị chắc cũng không hay Vàng Anh là người nào , nhưng qua một vài lần đọc được những gì chị viết cho anh HVinh , anh XLộc , anh BHữu và nhất là cho chị PD , em chỉ có thể đoán được chị là người lớn tuổi ,rất nghiêm trang , trí thức và rất quan tâm đến lớp người trẻ .Nhưng càng ngày em lại càng thấy chị như một người chị lớn đầy bao dung , rất nghiêm mà cũng rất tếu và cũng rất tình cảm .
Chị Hồng Vân kính mến.
Rất cám ơn chị đã theo dõi loạt bài về VN của em , và rất cám ơn chị khi bày tỏ tâm ý của mình mà khi đọc em cho là như một tri kỷ . Em hay nhắc đến câu " Mắt xanh khó chọn..." nhưng trong loạt bài nầy , duy nhất chỉ mình chị chia sẽ với em những cảm xúc , nỗi đau không nói nên lời . Cám ơn chị đã là nguời Xanh Mắt .
Về quê hương Quan Họ của chị ...
Eo ơi...sao chị diễn tả mấy cô gái làng Nội Duệ - Tiên Du- Bắc Ninh dữ thế ???:D Thật ra em không biết gì nhiều về quê hương chị , chỉ biết Bắc Ninh đẹp với Sông Cầu , với hội Lim , với những câu hát quan họ nỗi tiếng trong văn học dân gian và trong ca dao từ xưa đến nay . Không những thế , đất BNinh là nơi sản sinh những tên tuổi lớn của lịch sữ VN . Ngoài anh hùng Yên Thế , em được biết thêm hai người nửa là :
1- Vua khai sáng nhà Lý - Lý Công Uẩn là người làng Cổ Pháp - Từ Sơn - Bắc Ninh.
2-Nguyên phi Ỷ Lan - vợ vua Lý Thánh Tôn , người làng Siêu Loại , BNinh . Người đàn bà nổi tiếng trong lịch sử VN nầy xuất thân từ một thôn nữ , trở thành Nguyên phi , Giám Quốc khi vua Thánh Tôn đi đánh Chiêm Thành ,Vua thất bại trở về , trên đường nghe nguời dân đồn rằng bà Nguyên Phi ở nhà giám quốc rất giỏi , đã tự thẹn rồi quay trở lại đánh thêm một lần nửa , lần nầy vua thắng trận , bắt được vua Chiêm Thành là Chế Củ , lấy được 3 châu Địa Lý , Bố Chánh , Ma Linh ...là đất Quãng Bình , Quãng Trị bây giờ .
Đất Bắc Ninh địa linh nhân kiệt , mà người đại diện hiện nay trong VCB cũng rất tài giỏi . Với tuổi tác ấy , sức khoẻ ấy mà hàng ngày chị vẫn cố gắng để vào đây với chúng em, cùng vui , cùng buồn , cùng chia sẽ , hướng dẫn chúng em . Chúng em hy vọng sẽ được chị luôn tiếp tay trong forum Đất Nước Con Người , hy vọng ở chị với những kinh nghiệm , hiểu biết , kiến thức của mình giúp thêm cho chúng em , những người sinh sau đẻ muộn, lớp người xa xứ..qua sự chỉ dẫn của chị để hiểu biết thêm về nguồn cội , nơi đó mình đã được sinh ra , lớn lên và được yêu thương .
Hôm nay là ngày cuối cùng của năm 2002 . Qua Năm Mới em cầu chúc cho chị sức khoẻ luôn viên mãn , nhiều nghị lực và tinh thần lthông tuệ . Xin ơn trên luôn phù hộ chị .
Thân kính cùng chị
Allena Vàng Anh
hongvan
01-07-2003, 11:26 AM
Cô Chủ Quán Hà Nội 36 Phố Phường , Bé Vàng Anh , và các em Việt Nam thân thương.
HV xin được trích 1 tiểu đọan phần viết của Allena ra đây để chúng ta cùng tâm tình nhe:
Chúng em hy vọng sẽ được chị luôn tiếp tay trong forum Đất Nước Con Người , hy vọng ở chị với những kinh nghiệm , hiểu biết , kiến thức của mình giúp thêm cho chúng em , những người sinh sau đẻ muộn, lớp người xa xứ..qua sự chỉ dẫn của chị để hiểu biết thêm về nguồn cội , nơi đó mình đã được sinh ra , lớn lên và được yêu thương ......
Cám ơn lời mời gọi của em. Trong thâm tâm HV thấy đây là 1 phát biểu chân thành nảy sinh và xuất phát 1 cách tự nhiên như 1 qui luật sống từ em, từ 2 tiếng Việt Nam, từ 1 dòng máu đỏ, da vàng đưa chúng ta về cái mà chúng ta luôn nhớ và vĩnh viễn không thể quên được. Đó chính là cái mà chị muốn được trao đổi cùng các em để hiểu biết thêm về nguồn cội , nơi đó mình đã được sinh ra , lớn lên và được yêu thương ...... Vâng, Chị xin cám ơn em lời nhắc nhở, cám ơn sự ân cần ưu ái đó của em đã dành cho chị. Theo HV thiển nghĩ thì đây chính là cái tất yếu cần phải có trong đời sống tình cảm hàng ngày giữa chúng ta, con người với con người. Đặc biệt hơn nữa chúng ta lại "bị tiêm nhiễm, lệ thuộc" 1 phần nào về đức hiếu hòa, hiếu khách của dân tộc ta trải dài bao thế kỷ suốt 4000 năm Văn Hiến. Chính vì vậy lời mời gọi đôi khi không là một khách sáo mà lại là một cần thiết để vun đắp tình cảm dân tộc và sự hợp quần giữa chúng ta.
Các em VN thân mến,
Chắc không ít thì nhiều các em cũng hiểu phần nào về chuyện cá nhân của HV thì phải??? Với 1 người mà đã đến tuổi "cổ lai hy" thì các em cũng nên hiểu cho là HV vô cùng khó khăn trong các sinh hoạt bình thường tối thiểu của 1 con người. Ngoài ra HV còn bị 1 chứng bệnh nan y hàng ngày cần phải có medical service trợ giúp mà chỉ có Phù Du, Xuân Mai, Cô Độc là những người biết trước đây. Nhân đây, HV xin được cám ơn sự giúp đỡ tinh thần của các bạn đã dành cho HV bấy lâu. Nói chung thì sức khỏe của HV vô cùng yếu kém cộng thêm tuổi tác ngày càng chất nặng. Chị tự thầm hỏi là nếu các em lâm vào trường hợp của chị thì các em và gia đình sẽ đánh gía vấn đề này như thế nào!!!??? Tuy nhiên với 1 tấm lòng kiên quyết chiến đấu của 1 người sinh ra ở Bắc Ninh, lớn lên ở Hà Nội, rồi có trí khôn, học vấn ở Saigòn, HV đã cố thắng tử thần bao lần đến với chị. Việc tham gia sinh hoạt công đồng là mối buồn phiền quan tâm to lớn đè nặng gia đình chị, những người yêu thương HV. Tuy vậy, mọi người đều chịu sự hy sinh này, cùng chấp nhận cho HV được bay bổng theo những cái vui sau cùng bên đàn em trẻ dại từ gia đình, đến cộng đồng VN, điển hình VCB là một. Do vậy HV đã chọn Computer Forum là chỗ mà chị có thể đóng góp được phần nào kiến thức và kinh ngiệm bản thân cho các em VN đến hơi thở cuối cùng. Để tâm sự với các em bên Computer Forum, có lần HV đã nói ra cái suy nghĩ của mình như sau:
........ Thật ra việc lấy SW của mấy đứa cháu để giúp cộng đồng là 1 trong những tâm nguyện của HV trước đây khi HV tham gia mấy Việt Sites. Cái mà HV chủ trương bắt nguồn từ mấy điểm sau đây:
Tích cực tham gia COMPUTER FORUM vì đây là chỗ thực tế nhất có thể trao đổi và giúp các em VN trau dồi vể Khoa học kỹ thuật để làm rạng danh dân tộc Việt ở xứ người.......
Đóng góp với cộng đồng việc bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc qua qúa trình vận động hóa Việt Ngữ.
Khuyến khích tiếng Việt được dùng làm ngôn ngữ chính trong phương tiện truyền thông đồng thời qua đó truyền bá tư tưởng Văn Hóa Tư Tưỡng, Đạo Lý xứ mình với các em sinh trưởng tại quốc ngoại hay có em vì quên đi theo thời gian.....
Tuyệt đối không lợi dụng diễn đàn để bôi lọ lẫn nhau hoặc dùng cơ quan ngôn luận làm phương tiện để khoa trương, đánh bóng "cá nhân chủ nghĩa", chia bè phái, đả kích lẫn nhau, gây hận thù dân tộc....
Đó Hồng vân Sư Tỷ của các em là như thế đó. Các em có biết không, mỗi lần viết 1 bài như thế này chị phải nghỉ hết mấy ngày mới hồi phục. Đã có nhiều lần HV tích cực tham gia, đóng góp vào các tiêu đề sẵn có của các thành viên qua thi ca, Văn Học Sử VN bằng những bài phiếm luận. Nhưng tiếc thay, thảm thương thay khi dẫn chứng thì lại sai be, sai bét vì tuổi tác và trí nhớ đã không còn được minh mẫn như xưa. HV đã được sụ ưu ái của Bằng Hữu nhắc nhở và đã sửa lại nhiều lần cho đúng. Vì vậy HV đã hứa với lòng là không làm phiền các em nữa.
Các em VN thân thương,
Phàm là con người, và nhất là người Việt, thì có những cái để mà thương, để mà nhớ, và để mà không muốn nhớ. Hà Nội là những kỷ niệm của những ngày tháng mà HV đã lớn lên với đầy ký ức muộn phiền đau đớn. Phù Du hơn chị là đã có can đảm nói được ra cái ẩn ức để mà giải thoát tâm linh. Riêng HV thì lại không có cái dũng khí ngất trời đó để mà tâm tình với các em được. Ở đời đôi khi sự im lặng cũng chính là 1 cách giải thoát duy nhất tuy đây là 1 phương pháp tiêu cực. Nói thì là như vậy nhưng thực hiện thì lại là 1 điều rất ư là khó. Bởi vậy mỗi lần vào VCB, HV có dịp ghé ngang qua "Hà Nội Quán" thì lại tần ngần, lòng se thắt. Vào đây rồi vừa đặt tay sử dụng keyboard được vài chữ thì nuớc mắt lại quanh tròng nên đành lại thôi vậy !!! Thật ra HV có rất nhiều chuyện, nhiều cái biết về Hà Nội để có thể tâm tình trao đổi với các em, nhưng mỗi khi muốn nhắc lại thì lòng lại quặn đau không nói được nên lời.
Hồng Vân hy vọng và ước nguyện rằng, qua tâm sự lần này các em sẽ hiểu hơn về 1 người mà HV đã có lần được cái hân hạnh đón nhận 2 chữ "kính mến" từ bé Vàng Anh Allena. Vì cái lịch sự đòi hỏi tối thiểu của 1 con người khi Allena đề tặng HV bài thơ "Quan Họ Bắc Ninh", nên đã "động lòng gìa" này phải vào đây để được ra mắt cùng cô chủ quán Tammy Nguyễn và đối thoại vói Allena dù chỉ 1 lời tri ân nhỏ bé. HV mong sao các em hiểu được cái suy nghĩ, cái đấu tranh nội tâm, cũng như sư đấu tranh thường nhật của 1 con người phải chống đỡ tật bệnh và ưu phiền mà tha thứ cho Hồng Vân. Ước mong sao các em không thấy đây là 1 cách diễn đạt ấu trĩ như 1 trẻ lên 3 qua phần bày tỏ tâm tình với các em. Hồng Vân luôn quan niệm rằng 1 khi mình đánh gía 1 sự việc, 1 con người mình chỉ nhìn theo 1 khía cạnh chủ quan chứ không nhận định được đâu là sự thật mà mình phải và nên biết. Đôi khi chỉ vì xúc động nhất thời --- tất yếu của 1 con người, kẻ thích, người ưa, kẻ được quảng bá quần chúng ủng hộ, và kẻ thấy mình bị đào thải --- và tự mãn để nhận định cái "trẻ con của một người nhưng chính bản thân mình thì lại không thấy được cái non dại mà mình đang phô diễn còn khôi hài hơn thế nữa". Chân lý luôn luôn được tỏa sáng và được tập thể chấp nhận qua hai chữ "đa số" Theo chị nghĩ cái gì mà được đa số của 1 tập thể, 1 cộng đồng cùng chấp nhận thì cái đó chính là "chân lý và đạo đức" để mọi người tuân theo. Chị xin phép được theo các em để cùng các em làm những điều mà "đa số mọi người ưa thích và hợp lý"
Thân mến cùng các em.
Hồng Vân
NhanhRong
01-08-2003, 02:01 AM
Thấy cô HongVan hay nhắc đến hát quan họ rồi hát Trống Quân, cháu xin phép chép ra bài hát Trống quân để tặng cô và các anh chị. Ngày xưa cháu đã có lần nghe bà nội hát qua một hai lần lúc còn rất bé. Suy nghĩ ra thì cháu là người ba miền. :)
HÁT TRỐNG QUÂN
Trong kho tàng dân ca Việt Nam, trống quân là một loại hát rất bình dân và phổ biến tại miền Bắc; và đặc biệt hát trong các dịp hội hè mùa thu, nhất là trong những đêm trăng sáng đẹp của trung tuần tháng tám.
Nguồn gốc hát Trống Quân có nhiều thuyết:
Các nhà Nho VN cho rằng "Trống Quân" do hai chữ "Tống Quân" (tiễn bạn) mà ra. Theo tương truyền ngày xưa khi một ông quan rời tỉnh nầy đi tỉnh khác, bạn bè tiễn đưa một quãng đường. Lúc sắp chia tay, người đi đưa đặt một cái trống xuống đất rồi vừa nhịp trống vừa hát bài tiễn bạn trong đó có câu: "Tống quân nam phó thương như chi hà" (khi ta tiễn bạn đi về phía nam, lòng đau đớn thế nào ai rõ được). (Theo G. Cordier).
Có thuyết cho rằng: Trống quân bày ra từ đời Nguyễn Huệ. Nguyên khi ra Bắc đánh bọn xâm lược Thanh (cuối thế kỷ 18), quân sĩ lắm kẻ nhớ nhà, vua Quang Trung Nguyễn Huệ mới bày ra một cách cho đôi bên giả làm trai gái hát đối đáp với nhau để cho quân sĩ vui lòng. Đang khi hát có đánh trống làm nhịp cho nên gọi là Trống quân. (Phan Kế Binh).
Có thuyết gần giống như thuyết thứ hai, cho rằng: hát Trống quân có nguồn gốc từ lối hát "Trung quân" một điệu hát của quân lính đi theo nhịp trống. Mà quân đây là quân Nghệ Tĩnh của đạo binh Nguyễn Huệ kéo ra Bắc đánh Thanh xâm lăng, cõng nhau rong ruổi ngày đêm không nghỉ. Về sau khi chiến tranh đã qua, nhân dân đem lối hát nầy vào những buổi hội hè gọi là hát Trống-quân (Phạm Duy).
Có thuyết cũng cho rằng loại hát nầy phát xuất từ những điều kiện lịch sử gần giống như hai thuyết vừa kể, chỉ khác về mặt thời gian, là Trống quân có từ đời Trần lúc chống giặc Nguyên xâm lược (thế kỷ thứ 13). Tục truyền rằng: những lúc đóng quân để nghỉ ngơi, muốn giải trí, binh sĩ Việt-Nam ngồi thành hai hàng đối diện nhau, gõ vào tang trống mà hát. Cứ một bên "hát xướng" vừa dứt thì bên kia lại "hát đối". Sau khi đuổi được quân xâm lăng khỏi bờ cõi, hòa bình được lập lại, điệu hát Trống quân được phổ biến trong dân gian. Có nơi gõ nhịp vào tang trống; có nơi căng một dây thép thật thẳng để đánh nhịp (Vũ Ngọc Phan).
Người ta chưa tìm được thuyết nào là đúng.
Hát Trống quân cũng như hát Quan họ không phải thuộc hát lao động, mà thuộc về loại hát lễ hay hát hội. Người hát thuộc về mọi tầng lớp trong xã hội nông thôn. Nhà nho, thư sinh hát với con cái gia đình kỳ mục, giàu có hay gia đình thường dân. Họ hoàn toàn không phải ca sĩ chuyên nghệ mà chỉ là "tài tử" nghiệp dư sính hát, biết hát........Phần đông là trai và gái đến tuần cập kê, đi hát hội để tìm gặp tài sắc, ước định tương lai.
Từ hai tỉnh Quảng-bình, Quảng trị vào Nam không có hát Trống quân. Từ Thanh Hóa trở ra, loại hát nầy chỉ để hát vào dịp thu, nhứt là trong tháng tám. Nhưng không hát ban ngày mà chỉ hát vào những đêm trăng, nhứt là đêm rằm.
Hát hội có hai hình thức: hát vui chơi và hát thi lấy giải. Nơi hát có thể là nhà riêng, giữa làng, đầu xóm hay trên sân đình Thành Hoàng.
Thi hát có khi tổ chức giữa hai nhóm trai và gái, có khi giữa hai thanh nam thanh nữ. Ngoài mấy cuộc thi hát tại nhà, trai gái nông dân tự động tổ chức nhiều hội hát trên đám đất rộng giữa làng, bên bờ ruộng hay ở đầu cổng xóm. Trai gái ngồi ra hai bên cách nhau chừng mươi thước. Giữa hai toán có một cái "trống quân" mà ngày xưa gọi là "thổ cổ". Trai hát xướng lấy que tre đánh vào dây kêu bình bình; gái hát đáp gõ cái sênh kêu cách cách làm nhịp.
Trống quân, cũng như hầu hết các loại dân ca khác, vay mượn nhiều nơi kho tàng phong dao. Văn thể Trống quân là thơ lục bát. Nhưng khi hát, câu 6 chữ và câu 8 chữ biến thể là cứ sau tiếng thứ hai ở mỗi câu, người hát đệm tiếng thời, thì, hay này v..v..Và, cứ đến tiếng thứ tư ở mỗi câu thì lên giọng và thêm vào mấy tiếng í a hay ứ ư; có khi người hát lặp lại chữ chót của câu 8 chữ. Thí dụ:
"Trên trời (này) có đám (ứ ư) mây xanh
Giữa thì (này) mây trắng (ứ ư) chung quanh mây vàng
Ước gì (này) anh lấy được nàng
Thì anh (này) mua gạch Bát tràng (đem) về xây.
Xây dọc (rồi) anh lại xây ngang
(Chứ) Xây hồ (này) bán nguyệt (để) cho nàng (chân) rửa chân.
Nên ra (thì) tình ái nghĩa ân
Chẳng nên (thì) phú giả (ứ) về dân (tràng) Bát (ừ) tràng.
Những tiếng như: thời, này, rồi, rằng, mà, ấy, mấy nó, cái, con, anh, em, v..v...thêm vào khi hát gọi là tiếng đệm; và những tiếng như í, a, ư, ứ, ừ...gọi là tiếng đưa hơi dùng để ngân nga. Âm hưởng dịu dàng hay réo rắt của tiếng đệm và tiếng đưa hơi làm sao giọng Trống quân mang sức truyền cảm mạnh mẽ.
Đó là đặc điểm quan trọng của Trống quân về hình thức. Đặc điểm nầy lại phù hợp với nội dung Trống quân là biểu lộ được nỗi vừa vui vẻ vừa chứa chan cảm động, và nói lên được những thích thú cao thượng của sự sinh hoạt nông thôn, những cảnh đẹp đẽ của quê hương, những điều trù phú đặc biệt của đất nước. Trống quân còn là một loại hát tình tứ, hoặc nói đến nghĩa bạn bè, nhất là hay đề cao tình luyến ái giữa trai gái nông dân.
Trống quân có tính chất đối thoại. Nó là một lối hát đối giữa trai và gái, một lối đối đáp hỏi trả qua lại. Thí dụ:
Bên trai đố:
"Anh đố em câu nầy em giảng làm sao?
Cái gì (mà) thấp cái gì (mà) cao;
Cái gì (mà) sáng tỏ (ứ) hơn sao (ở) trên trời.
Cái gì (mà) em giải (cho) anh ngồi,
Cái gì (mà) thơ thẩn (ứ) ra chơi (ừ) (đào) vườn đào.
Cái gì (mà) sắc hơn dao (ứ)
Cái gì (mà) phơi phới (ứ) lòng đào (thì em) bảo anh".
Bên gái trả lời:
"Anh đã đố thì em xin giảng ra,
Dưới đất (thì) thấp, trên giời (thì) cao
Ngọn đèn (thì) sáng tỏ (ứ) hơn sao (ở) trên trời.....
Chiếu hoa (này) em giải (cho) anh ngồi (mà)
Đêm nằm (thì) mơ tưởng (ứ) ra chơi (ư) (đào) vườn đào.
(Chứ) Nước kia thì (nó) sắc hơn dao
(Chứ) Trứng gà (thì) phơi phới (ứ) lòng đào (thì em) bảo anh".
Hát Trống quân, trai gái bao giờ cũng thiên về tình cảm. Hoặc bằng câu ướm hỏi, thử thách, hoặc bằng lời tâm sự. Do đó, Trống quân có tính chất trữ tình, tính chất giao duyên rất sâu sắc. Vì đối đáp, hỏi trả, nên hát Trống quân đòi hỏi người hát phải có tài mẫn tiệp, xuất khẩu thành thi, đột xuất nhanh trí......nhưng bao giờ cũng vẫn giữ thái độ phong nhã, lời không sám sỡ, lố lăng.
Trống quân không phải là một loại trống, mà là một sợi mây dài độ 3, 4 thước tây và dầy độ 1 phân tây. Người ta cắm hai đầu sợi mây dưới đất bằng 2 cây cọc nhỏ bằng gỗ hay bằng tre. Ngay chính giữa sợi mây, người ta đào một lỗ vuông độ 4 tấc mỗi bề, rồi bịt lỗ ấy bằng một miếng ván mỏng. Có khi người ta dùng một khúc tre, một đầu chống lên sợi mây, một đầu chịu trên mặt gỗ.
Có khi người ta cột sợi mây với mặt ván. Người đánh trống quân dùng 2 chiếc đũa con đánh lên sợi mây. Sợi mây rung làm mặt ván rung, và tiếng mây rung nhờ lỗ đất làm vang thêm nghe thình thùng thình như tiếng trống. Có khi người ta đào một lỗ miệng tròn và hình giống như một cái chum, và đậy miệng lỗ bằng một miếng ván tròn và mỏng.
Có khi người ta để trong lỗ đất một thùng dầu hỏa. Trên miệng thùng có tấm ván và cây cọc để chống chính giữa sợi mây. Có thùng nầy tiếng vang càng mạnh. Có khi người ta để trong lỗ một thùng dầu lửa, quay miệng về phía dưới, phía trên có cây cọc chống đáy thùng và căng sợi mây. Không cần dùng tấm ván nữa. Có khi người ta không đào lỗ, chỉ lật úp thùng dầu lửa trên mặt đất và căng dây lên trên thùng.
Tóm lại, Trống quân là một loại hát hội vấn đáp giữa nam nữ thanh niên, khuyến khích họ giãy bày tình cảm, thông minh và cốt cách qua trung gian của nghệ thậut, trong không khí vui vẻ tưng bừng của hội thu.
(Nguyen Tu Quang)
:)
hongvan
01-08-2003, 06:34 PM
Bé NhanhRong thương mến:
Cám ơn bé NhanhRong đã có lòng viết về Hát Trống Quân của miền Bắc Việt Nam ta. Mỗi một miền của quê hương chúng ta đều có cái "tình cảm văn vần" đặc sắc của nó, thấm vào lòng người, quyện vào tự tình dân tộc. Tất cả được gom góp lại thành những di sản tinh thần của nhân dân ta gọi là nền Văn Hóa dân tộc. Nó là cái đặc thù không giống 1 quốc gia nào trên thế giới cả. Bởi vậy chúng hãnh diện về những cái chúng ta có vì nó đã thể hiện được "tính dân tộc và tính độc lập" của tổ quốc ta. Cái mà HV muốn nhắc nhở các em là hầu hết nền văn hóa, văn học nước ta đều bắt nguồn từ dân gian (giới bình dân) mà ra cả. Tại sao lại như vậy hả em??? Như em biết, 95% đồng bào ta sống về nông nghiệp. Trong qúa trình lao động sản xuất để sinh tồn, họ cần phải có những cái gọi là "văn nghệ" để biểu lộ, khuyến khích, cổ võ chính tập thể nhà nông trong công việc đồng áng, mùa màng. Chính vì vậy mà khi chúng ta đọc ca dao, phong dao, ngụ ngôn, cổ tích, các thể loại dân ca của ba miền ... chúng ta đã thấy được đa số đều bắt nguồn từ một trình tự sản suất nông nghiệp và đời sống tình cảm của đồng bào ta mà ra cả. Văn học và nghệ thuật nuớc nhà cũng bắt nguồn từ đó. Nói xa hơn thì mỗi quốc gia trên thế giới cũng đều có những dân ca tương tự như của VN ta, nhưng cái khác là cái mà mình có thì là của mình và "không hề bắt chước" một quốc gia nào cả. Nói chung thì Văn học dân gian Việt Nam đã phản ánh đời sống tình cảm và qúa trình sản suất của Ông Cha ta trong những ngày lập quốc. Hay nói một cách văn hoa hơn thì qua Văn học nghệ thuật dân gian, chúng ta thấy được cách suy nghĩ, tình tự dân tộc thể hiện qua câu hát, điệu hò.
Như chị đã nói ở trên thì mỗi miền quê hương đều có cái riêng mà chung của nó về mặt nghệ thuật dân gian. Như ở Bắc thì có hát Lý Ðò Ðưa, hát cò lả, hát Trống Quân, Hát Quan họ Bắc Ninh..... Miền Trung thì có Hát Lý, Lý Ngựa Ô, Hò Mái Ðẩy, Hò Giã Gạo Bình Trị Thiên, Hát Bà Chòi ở Phú Phong Bình Định ...... Còn miền Nam thì nào là cải lương, Lý Con Sáo, và vô số kể không sao nói ra đây cho hết được......
Để kết luận bài góp ý với em về chủ đề "Hát Trống Quân", Hồng Vân xin được trích ra đây hai câu hát truyền khẩu được phổ biến từ đời này đến đời khác, thấm sâu vào tâm hồn mọi giai cấp quần chúng trên quê hương ta.
Trống quân (này) trống quít (ứ ư) trống còi
Mình bao (này) nhiêu tuổi (ứ ư) - mà - mình đòi lấy (ứ ư) ta
A, à, a, á a ..........
Bé Nhanh Rong à!
Chị hy vọng rằng qua phần góp ý ở trên, chị đã đóng góp được phần nào với chủ đích đáng kính của bé Nhánh Rong. Việc làm của em đã gây cho chị một xúc động mạnh mẽ mà chị không thể nào không vào đây để chuyện trò với em được. Nếu vì gìa cả lẩn thẩn, có gì sai trái xin em "Đại xá" cho "bà chị" nhe cưng.:)
Xin cám ơn em thật nhiều.... Cho phép chị bắt chuớc bé Hoàng Minh MUAHHHHAZZZ em nhiều và thật nhiều.
Thương mến cùng bé Nhanh Rong.
Nhân đây chị xin thân tặng em bài hát "Trống Quân" được biên soạn lại bằng lời và nhạc để em làm tài liệu tham khảo. Chị hy vọng em vui lòng nhận cho. Xin cám ơn trước tấm lòng rộng rãi của em. Xin ơn trên gia hộ cho bé Nhánh Rong và gia đình vạn sự cát tường trong mùa xuân đến.
hongvan
01-08-2003, 08:18 PM
Riêng Tặng Cô Chủ Quán Hà Nội 36 Phố Phường
Đồng thân tặng:
Phù Du, Ngôi sao Mệnh Bạc
Allena, Vàng Anh Thừa Thiên Điểu
Nhánh Rong, Kiều Nữ Tình Si
và tất cả các bạn đã có công đóng góp cho "Thăng Long Quán thêm phần phong phú.
Thân kính
Hồng Vân
ngocmai99
01-09-2003, 12:00 AM
http://www.ibiblio.org/pub/multimedia/pictures/asia/vietnam/scenery/buoisang.jpg
http://www.ibiblio.org/pub/multimedia/pictures/asia/vietnam/scenery/catba.jpg
http://www.ibiblio.org/pub/multimedia/pictures/asia/vietnam/scenery/caumay.jpg
ngocmai99
01-09-2003, 12:00 AM
http://www.ibiblio.org/pub/multimedia/pictures/asia/vietnam/scenery/caylua.jpg
http://www.ibiblio.org/pub/multimedia/pictures/asia/vietnam/scenery/chuahng.jpg
http://www.ibiblio.org/pub/multimedia/pictures/asia/vietnam/scenery/hoguom1.jpg
ngocmai99
01-09-2003, 12:01 AM
http://www.ibiblio.org/pub/multimedia/pictures/asia/vietnam/scenery/hotay.jpg
http://www.ibiblio.org/pub/multimedia/pictures/asia/vietnam/scenery/laichau.jpg
http://www.ibiblio.org/pub/multimedia/pictures/asia/vietnam/scenery/sapa.jpg
http://www.ibiblio.org/pub/multimedia/pictures/asia/vietnam/scenery/thehuc.jpg
ngocmai99
01-09-2003, 12:10 AM
http://www.ibiblio.org/pub/multimedia/pictures/asia/vietnam/scenery/bandoc.jpg
http://www.ibiblio.org/pub/multimedia/pictures/asia/vietnam/scenery/binhan.jpg
http://www.ibiblio.org/pub/multimedia/pictures/asia/vietnam/scenery/binhminh.jpg
NhanhRong
01-09-2003, 03:23 AM
Cháu xin cảm ơn cô HongVan về bài hát trống quân và cái tên Kieu Nu Tinh Si. Cái tên nghe dễ thương chi loạ:) Chúc cô luôn dồi dào sức khỏe để dìu dắt chúng cháu và các anh chị. Mong xuân sang sẽ xua đi tất cả những bệnh tật của cô.
Cháu
NhanhRong:)
Cháu đã chép xong bài Trống Quân rồi đó.
hongvan
01-09-2003, 08:26 AM
Bé Nhánh Rong Thương mến:
Trả lời bé về việc tại sao HV cho bé cái tên: Kiều Nữ Tình Si" vì HV có đọc mấy cái post của bé thấy bé NR đa sầu đa cảm giống như Phù Du, hồng nhan đa truân. Cuộc đời của mấy cô đẹp gái thì thường hay bị trời xanh ghen ghét và đôi khi trở thành ngôi sao khổ mạng như nàng Thúy Kiều trong Đoạn Trường Tân Thanh của Đại Thi Hào Nguyễn DU vậy. Ngoài ra trong cái Signature của bé NR cũng có những câu thơ hơi hướng như Phù Du vậy tuy không đến nỗi qúa thảm tệ như PD. Chính vì những điểm đó mà HV đã cưỡng ép 4 chữ Kiều Nữ Tình Si" vào với cái tên nhánh rong cũng hơi như bọt bèo Phù Du vậy. Nếu bé NR không thích và "không muổn nghe chi sao lọa dửa!!!" thì HV sẽ rút lại và xin bé "Đại Xá" nhe!!! HV đang đợi chờ nghe ý kiến của bé NR.
Nhân thấy bé NR và Bé Allena trước đây có đề cập đến dân ca cổ truyền miền Bắc của dân tộc Quan Họ Bắc Ninh mà HV vẫn chưa có dịp đóng góp nhiều. Hôm nay thấy bé NR chịu khó ghi chép lại bài "Trống Quân" thì làm cho HV thêm phần hứng khởi như một ngọn đèn dầu sắp tắt thì chợt bùng lên trước khi tàn lụi nên vội vàng đăng lên đây cho bé thưởng lãm bài Quan Họ Bắc Ninh vì sợ là sau này không có dịp nữa. Mong bé nhận nó như 1 tình tự dân tộc giữa 1 gìa 1 trẻ, 2 thế hệ nhưng chung 1 tâm hồn, tất cả được cô đọng nơi đây trong những tương thông tình cảm "máu chảy ruột mềm" ----- Phù Du đang lâm nạn bé NR có biết không???!!!----- Hy vọng bé NR nếu có thì giờ thì hãy đến với cô ta giải tỏa bớt muộn phiền hư ảo của cõi phù du trần tục để mà trôi đi như một nhánh rong đến một phuơng trời có định hướng hơn là tuyệt vọng ngút ngàn.
Hồng Vân cám ơn mấy tấm hình rất đẹp của Ngọc Mai 99 và Nhánh Rong về miền Bắc VN nơi HV sinh trưởng và vĩnh viễn xa rời.
Thân mến cùng NM99 và Nhánh Rong (không biết có đươc thêm phần sau không!!!????)
Hồng Vân và những ngày vui bên bé NR .....
NhanhRong
01-09-2003, 02:13 PM
Cô HongVan, cháu rất thích cái tên đó. Nghe nó hay hay mà cũng có phần giống cháu. Cô cứ tự nhiên thêm vào đi nhé. :) Cháu cũng có hiểu sơ sơ về hoàng cảnh của chị PhuDu và cháu thật sự thương chị PD thật nhiều. Cháu có tâm sự với chị PD nhiều lần lắm. Mong rằng cô cũng có thể giúp cho chị PD vơi đi một phần phiền muộn. Cháu xin cảm ơn cô về bài hát quan họ "Ngoi Tua Song Dao"
Kính mến
Cháu NhanhRong (Kieu Nu Tinh Si):)
Hà Nội vào hè sớm hơn các vùng quê. Bởi thiếu những không gian xanh, lại bị giam hãm trong những khối gạch ngói, bê tông, dưới một khung trời nhỏ hẹp. Báo hiệu cho mùa hè là những cành phượng vỹ nặng trĩu những chùm hoa lửa. Và nhất là những cánh ve sầu râm ran, ra rả suốt ngày.
Vào đầu thập niên 30, nhà khoa học Nguyễn Công Tiễu đã phát huy sáng kiến tiêu diệt lũ ve sầu chỉ được cái nỏ mồm nhưng vô tích sự ấy. Rút cuộc chúng vẫn sống nhăn. Thế là cái đám người giàu có ở trong các khu phố Tây đành ngậm bồ hòn làm ngọt, để cho chúng tiếp tục quấy rối giấc ngủ trưa của họ.
Cùng với những tiếng ve sầu là tiếng rao của các hàng quà rong mà cái âm thanh réo rắt hoặc cộc lốc của họ đã tắt lịm trong một thời gian dài từ mùa đông trải qua hết mùa xuân. "Ai kem một xu đi !", "Chè Trân Châu" , "Lát xe" (Glacé), "Xệch cấu !" Tiếng rao pha trộn cả ba thứ tiếng Ta, Tây & Tàu. Nhưng "xệch cấu" là cái gì ? Một thứ kem trắng như tuyết xốp, ăn tới đâu mát rượi tới đó. Ra hỏi các ông Tàu Hàng Buồm người ta mới biết đó là từ ngữ thạch cao phát âm theo tiếng Quảng Đông. Còn món bánh cuốn hấp tại sao lại gọi là "lốc bỉu" thì người ta đành chịu thua, không hiểu nổi nó xuất xứ từ một phương ngữ nào ở bên Tàu.
Ngay từ tinh mơ, người Hà Nội đã bị đánh thức bởi những tiếng rao ơi ới. "Lạp xường lồ mái phàn". Những đĩa xôi nóng hổi với những lát lạp xưởng mỏng tanh tưởng chừng gió thổi cũng bay mất. Phải có một đôi tay điêu luyện mới thực hiện được những thao tác chính xác như thế để cho miếng lạp xưởng không bị vỡ và hình thù của nó không bị lệch lạc.
Hàng "Cà Phê Ô Le" (càfé au lait) bánh Tây xuất hiện sớm nhất, khi thành phố hãy còn đỏ đèn. Còn tiếng rao buồn thảm nhất "Bánh dầy bánh gi..ò..ò.." vỗ vào một không gian vắng lặng như báo cho mọi người biết rằng đêm đã về khuya, Nhưng cũng có những hàng quả chẳng bao giờ thèm cất tiếng rao. Như bún chả. Người đàn bà chít khăn mỏ quạ, ngồi ở một góc phố ngồi quạt phànhp hạch vào cái bếp than. Trong một chốc lát mùi thịt nướng toả ra thơm phưng phức. Giờ ăn quà chiều của những người Hà Nội trung lưu. Hoặc như bún ốc. Với đôi quang gánh kĩu kịt trên vai, người phụ nữ buôn Tần bán Sở biết rõ những nơi nào mình dừng lại. Hai món quà này bán theo từng mẹt. Bún cũng được cuốn lại thành từng lọn tròn như cái bánh dày Quán Gánh, để khi đưa vào miệng cùng với con ốc thì vừa gọn 1 miếng. Khi nào có khách tới ăn, người ta mới nhễ ốc, chứ không nhễ đại sẳn cả một rổ như thường thấy sau này, trông mất cả ngon !
Người bán quà rong lười rao nhất là các ông hàng phở. Năm thì mười hoạ mới nghe vẳng lên một tiếng "phơ ... ở" .....
Người bán quà rong lười rao nhất là các ông hàng phở. Năm thì mười hoạ mới nghe vẳng lên một tiếng "phơ ... ở !". Điểm đặc biệt của họ là cái mũ đội trên đầu. Nếy là mũ phớt (feutre) chí ít cũng vài ba cái lỗ thủng & màu dạ cũng bạc phếch. Nếu là mũ cát (casque) thì cái chóp cũng không còn nữa. Và từ những lỗ thủng ấy lòi ra những sợi tóc. Người Hà Nội gọi đó là những cái mũ phở.
Những tiệm phở ngon của thành phố có thể đếm được trên đầu ngón tay. Phở Mi xô (Michaud), phở Nghi Xuân, phở Cầu Gỗ ... Thông thường thì chỉ có mấy món tái, chín, gầu. Sau này người ta mới vẽ ra những thứ tái sách, tái bắp, rồi nạm, vè, sụn. Nhưng ly kỳ nhất là phở ... chó. Dĩ nhiên nó chỉ xuất hiện ở một vài vùng ngoại thành hoặc một vài nơi phố huyện miền quê.
Thời bấy giờ cả Hà Nội chỉ có vài ba tiệm thịt chó tại phố Hàng Hòm, nơi sản xuất những chiếc vali & hòm bằng gỗ. Ít lâu sau mới mọc thêm một tiệm nữa ở phố Hàng Đồng. Lui tới những chốn này thường là những tay giang hồ tứ chiến,dân anh chị hoặc là những người lao động. Họ xắn quần móng lợn, quấn khăn đầu rìu, đi chân đất, cười nói oang oang trông như các hảo hán Lương Sơn Bạc. Thưở ấy, hình như người Hà Nội chưa biết thưởng thức cái thú "sống ở trên đời ăn miếng dồi chó, chết xuống âm phủ biết có hay không ?". Nhất là các tiểu thư. Chỉ nghe người ta nói đến những chuyện ăn uống ấy là rùng mình rùng mẩy. Nhưng hôm nay thì các cô cũng chơi búa xua ! Bước vào khu phố thịt chó trên đê Nhật Tân, người ta thấy tác phong nhậu nhẹt của họ không thua gì các bậc tu mi nam tử. Nhưng thay vì đế, họ uống bia Carlberg.
Vào giữa những năm 30, Hà Nội vắng tiếng ồn. Có khi cả ngày không nghe một tiếng còi ô tô. Mỗi khi thấy một thằng Tây râu xồm cưỡi mô tô phóng đi vun vút, trẻ con lại ùa nhau ra xem. Chúng gọi đó là những chiếc xe bình bịch. Và người lớn cũng bắt chước theo, để khỏi phải dùng tiếng Tây.
Mùa hè đã thổi vào thành phố một luồng sinh khí mới, để cho nó ầm ĩ hẳn lên, thoát ra khỏi giấc ngủ đông xuân dằng dặc. Nắng hạ reo vui trên những tàng cây bàng, toả sáng trên mặt hồ gợn sóng thuỷ tinh, tráng bạc trên những cành liễu, soi rọi vào những hang cùng ngõ hẹp để cho khung cảnh bớt tối tăm.
Mùa hè mới đích thực là mùa của thiếu nhi. Nhất là đối với các em con nhà nghèo. Bước ra đường, chúng không còn phải co ro trong chiếc áo trấn thủ, hai hàm răng va vào nhau lập cập. Nắng hạ tạo cho chúng cái điều kiện "đầu đội trời, chân đạp đất". Thời đó hiếm có em nào được đi dép, huống chi là giày. Thông thường, chỉ đi guốc. Nhưng cái dụng cụ ấy lại rất bất tiện mỗi khi chạy nhảy. Các em bèn đi chân trần. Cũng nên biết cách đây 6, 7 thập kỷ, các cụ sinh đẻ ... không có kế hoạch.
Người chồng nghĩ sẳn một hai vế chữ Hán, để cho các bà vợ cứ theo đó mà đặt tên con : "Lực năng cử đỉnh, thế khả bạt sơn" hoặc "Tu thân tề gia, trị quốc, bình thiên hạ". Nếu người đàn bà cứ tiếp tục sinh sản thì người chồng sẽ lại nghĩ thêm những chữ khác. Càng nhiều anh chị em, các em lại càng ít được chăm sóc chu đáo.
Hà Nội 36 phố phường có tới mười mấy cái ngõ với bảng tên đường đàng hoàng. Ngõ Trạng Trình, ngõ Huyện, ngõ Tràng An, ngõ Trạm, ngõ Tạm Thương, ngõ Tố Tịch, ngõ Phất Lộc, ngõ Gạch, ngõ Hàng Đũa, ngõ Yên Thái, ngõ An Chung, ngõ Văn Chương, ngõ Nam Ngư, ngõ Cấm (nay trở thành một trung tâm ăn uống ban đêm) ... Đó là chưa kể những xóm.
Đó là chưa kể những xóm. Như xóm Vạn Thái với những tiếng chát tiếng tom cùng tiếng đàn tiếng phách, để thi đua với khu Khâm Thiên có cả một dãy nhà cô đầu. Như xóm Hạ Hồi mà đa số là những biệt thự kín cổng cao tường, ở đó người ta sống trong sự yên ắng, xa lìa hẳn những tiếng động. Tuy nhiên, vào lúc quá trưa về chiều cũng thấy vẳng lên tiếng rao của một người đàn bà "Ai có chai bao chè, đồng nát, lông vịt, tóc rối đổi kẹo không !". Người Hà Nội gọi họ là những bà đồng nát.
Nhưng ồn ào nhất là khu Đường Thành. Bởi nó nằm kế cận các trại lính. Tiếng kèn rê vầy (réveil) từ trong thành vọng ra mở đầu cho một ngày mới. Trẻ con dựa vào làn điệu ấy để đặt thành câu hát "Con bò kéo xe, con bò kéo xe, con bò xe kéo". Và tiếng kèn ngủ đánh dấu sự khép lại của một ngày "Trèo tường mà ra, trèo tường mà ra". Sau tiếng kèn này, các chú lính ba gai thường rủ nhau trèo tường ra ngoài chơi, rồi trở về sau nửa đêm.
Hàng Buồm có một sắc thái sinh hoạt riêng biệt của nó. Tiếng rao của các hầu sáng báo cho nhà bếp biết những món ăn mà họ phải thực hiện. Tiếng chặt thịt quay, thịt ngỗng - hạ xuống cái thớt với bề dày cả gang tay & to bằng cái mâm đồng có chân - của chú khách Tân Phúc Điền. Tiếng hô "can pê" (cạn ly) của những tửu đồ người Hoa sau khi đã đánh ngã vài ba chai Mao Đài hay Mai Quế Lộ. Tại phố này có 2 tiệm ăn nổi tiếng: Mỹ Kinh & Đông Hưng Viên với cái cầu thang thếp vàng sáng loé được gọi là "Escalier d'or". Một số học sinh ở cở tuổi 14, 15 tới đây sau khi ăn xong thường ném bớt những cái đĩa trống xuống dưới khu đất bỏ hoang ở phía dưới. Khi thanh toán, người bồi chỉ căn cứ vào những dĩa còn lại để tính tiền.
Đặc biệt hơn cả là khu tam giác Hàng Bạc - Sầm Công - Quảng Lạc. Với ba rạp hát Hiệp Thành, Quảng Lạc & Sáng Nhiên Đài, nơi trình chiếu hai bộ phim Việt Nam đầu tiên "Cánh đồng ma" & "Trận phong ba". Nó cũng là nơi cắm chốt của gánh hát Kim Chung sau này. Tối tối, họ khua thanh la, não bạt rồi trống rong cờ mở để quảng cáo cho những đào kép của họ.
Sở thú Mini của cô Ba Tí nằm ở phố Hàng Bạc. Trong chuồng không có hổ, báo mà cũng chẳng có voi như ở vườn bách thú, nhưng có gấu, lợn lòi, rồi vượn & khỉ. Vào những ngày nữ chủ nhân ngồi hầu bóng, người ta nghe thấy tiếng đàn phưng phưng & tiếng hát õng ẹo của anh kép chầu văn. Những trẻ em láu lỉnh tìm cách lọt qua cửa ải gác cửa sẽ được cô Ba ban tài phát lộc.
(Còn tiếp)
danden
07-03-2003, 10:23 PM
Làng Kỷ Lục Sinh Đẻ
,Trên địa bàn tỉnh Bắc Giang có một làng chài chiếm kỷ lục về tỉ lệ sinh đẻ. Làng được hình thành 5 thập niên, 100 gia đình nhưng có đến hơn 1,100 con người. Báo Giáo Dục-Thời Đại viết về làng chài này như sau.Làng chài Nguyệt Đức (xã Vân Hà - Việt Yên - Bắc Giang) 100 hộ dân nhưng đã có tới 1125 nhân khẩu. Trung bình mỗi gia đình ở đây có 11 thành viên sống quây quần bên nhau. Theo lời của ông phó thông Nguyễn VănViệt : Làng chài Nguyệt Đức đến nay có "tuổi đời" được 50 năm. Thủa đó, làng chỉ có vẻn vẹn có 12 hộ, với gần 100 nhân khẩu. Nay, sau nửa thế kỷ đẻ vô tư, đẻ vô tội vạ, đẻ bao giờ hết trứng thì thôi, làng đã có sự "thay da, đổi thịt", dân số tăng gấp 10 lần! Phóng viên cùng ông Việt đi đò ra thăm nhà chị L. khi cả nhà đang quây quần bên bữa cơm trưa. Trên chiếc thuyền xi măng đã oải đang hiện hữu 17 con người. Con chị L, đứa lớn nhất đã ở tuổi "thèm" lấy vợ, đứa nhỏ nhất đang chập chững tập đi. Kỷ lục của chị L sẽ bị phá trong nay mai, vì làng chài Nguyệt Đức đang có xu hướng "chuyển đổi ngành nghề", từ "đánh cá sang vận tải đường thuỷ". Nói thế cho oai chứ tôm cá ngày càng khan hiếm, nên nhiều gia đình đã nhạy bén tìm hướng đi mới, bỏ nghề cá quay sang nghề chở gạch, đá, vôi, vữa thuê cho các công trình xây dựng. Làm "vận tải đường thuỷ" phải sắm thuyền lớn, phải cần nhiều lao động. Hai điều kiện trên lại phù hợp với truyền thống đẻ của làng. Dường như đã thành lệ ở làng, con trai lấy vợ, con gái lấy chồng đều ở vào cái tuổi "trăng náu, trăng tròn". Theo họ thì lấy chồng tuổi ấy có nhiều điều lợi. Thứ nhất khỏi phải đăng ký kết hôn lằng nhằng, thứ hai có nhiều thời gian để đẻ! Đến làng chài Nguyệt Đức, đừng ai sửng sốt khi thấy những đôi uyên ương mới ở tuổi 29-30 đã có 5-6 đứa con. Gia đình nào hiếm hoi nhất, biết kế hoạch nhất cũng 6-7 đứa con rồi. Ông Việt vắt óc nghĩ mãi mà chẳng tìm thấy một ai ở làng đi học chuyên nghiệp từ khi lập làng đến nay. Tốt nghiệp phổ thông trung học, làng có vài người, đếm đi đếm lại cũng chưa hết đầu ngón tay. Ở làng, số trẻ em chưa một lần đến lớp, hoặc học chưa xong cấp 1 chiếm tới 80%. "Học để làm gì! Quăng chài, thả lưới, giăng câu... không cần cái chữ." Dân Nguyệt Đức tuyên bố chắc như ván đóng thuyền. Bạn,Báo quốc nội viết tiếp: Không được chữ nghĩa khai sáng thì cứ đẻ, cứ đẻ thì cứ nghèo, cứ nghèo thì thất học, cứ thất học thì cứ đẻ... Cái vòng luẩn quẩn đã bao đời nay cứ bám lấy mỗi con thuyền của các gia đình làng chài Nguyệt Đức, làm cho đời sống của họ chẳng thể ngóc đầu lên được.
danden
07-03-2003, 11:28 PM
LÀNG TIẾN SĨ (ĐÀO ĐỨC CHƯƠNG)
(06/13/03 )
Từ quốc lộ 5 Hà Nội đi Hải Phòng, lần lượt qua các thị trấn Bần Yên Nhân, Mỹ Hào của tỉnh Hưng Yên rồi vượt ranh giới sang tỉnh Hải Dương, xuyên qua huyện Cẩm Giàng để đến tỉnh lị. Dọc theo con đường ấy, trong địa phận Hải Dương về phía Nam có con sông Đình Đào chảy vòng ra hướng đông rồi quặt xuống nam, phân ra một vùng đất có bốn mặt sông. Đó là huyện Đường An thuộc phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương, gồm 10 tổng chia ra 66 làng, trong đó có làng Mộ Trạch thuộc tổng Thì Cử. Ngày nay, thôn Mộ Trạch thuộc xã Tân Hồng, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
Theo Đại Nam nhất thống chí, vào đời Hùng Vương, đất Mộ Trạch thuộc bộ Thang Tuyền; đời Tấn thuộc Tượng Quận; đời Hán thuộc quận Giao Chỉ. Đến đời Đường Hội Xương có Vũ Hồn sang làm Thứ sử Giao Châu, tinh thông khoa địa lý, thấy cuộc đất vùng này rất tốt, bèn lập nghiệp luôn và dặn con cháu phải giữ làng này làm nguyên quán thì đời đời sẽ tiến phát về đường khoa bảng. Bèn đặt tên huyện là Đường An, làng là Khả Mộ, sau đổi là Lạp Trạch, sau nữa lại ghép thành Mộ Trạch, tên nôm là làng Chằm và giữ mãi hai tên ấy cho đến ngày nay. Vũ Hồn cho rằng cả vùng Hải Dương là một đại cuộc, huyện Đường An là huyệt trường và làng Mộ Trạch là huyệt kết.
Lịch sử đã chứng minh cả vùng này rất phát về văn, có nhiều dòng họ được truyền tụng là thế khoa như họ Vũ, họ Lê, họ Nhử..., ca dao còn lưu lại:
Bút nghiên, đèn sách, văn phòng
Hồng Châu, Nam Sách nhiều dòng thi thơ.
Hồng Châu, Nam Sách đều là phủ thuộc trấn Hải Dương (1). Tên đất Hồng Châu có từ xa xưa, đến đời Trần chia làm hai châu Thượng Hồng và Hạ Hồng. Từ đời Lê Thánh Tông, niên hiệu Quang Thuận (1460 - 1469) đổi hai châu này thành hai phủ. Năm Minh Mạng thứ 3 (1822), đổi tên Thượng Hồng thành phủ Bình Giang lãnh ba huyện Cẩm Giàng, Đường An và Đường Hào. Năm Tự Đức thứ 5 (1852) lãnh thêm huyện Thanh Miện, nâng phủ này gồm bốn huyện.
Nếu tính riêng huyện Đường An từ năm 1075 đến năm 1919 đã thấy 23 trên 66 làng có người đậu đại khoa với 85 vị, vượt hẳn các huyện lân cận. Căn cứ vào Các nhà khoa bảng Việt Nam của Ngô Đức Thọ và các tài liệu khác (2) có thể tổng kết như sau:
Làng Ngọc Cục: 5 Tiến sĩ, 2 Hoàng giáp.
Làng Hoạch Trạch: 3 Tiến sĩ, 1 Bảng nhãn và 1 Hoàng giáp. Tuy số người đậu ít hơn làng Ngọc Cục nhưng vị thứ cao hơn nên vẫn được coi “Hoạch Trạch khí tàng, anh hùng xuất thế”.
Làng Hòa Đường:3 Tiến sĩ, 1 Hoàng giáp.
Làng Thì Cử: 2 Tiến sĩ, 1 Bảng nhãn.
Làng Đan Luân: 2 Tiến sĩ, 1 Thám hoa.
Các làng Đào Xá, Tuy Lai mỗi làng có 1 Hoàng giáp và 2 Tiến sĩ.
Làng Lỗi Dương:2 Hoàng giáp.
Các làng Hương Giản, Nhử Xá mỗi làng có 1 Hoàng giáp và 1 Tiến sĩ.
Các làng Đình Tổ, Tông Thanh mỗi làng có 2 Tiến sĩ.
Làng An Đê: 1 Thám hoa
Làng Châu Khê:1 Hoàng giáp
Các làng Bì Đổ, Lôi Khê, Mỹ Thự, Phù Vân, Phúc Khê, Triều Đông, Tuấn Kiệt: mỗi làng có 1 Tiến sĩ.
Ngoài ra còn có hai vị Tiến sĩ thời Lê Thánh Tông người huyện Đường An nhưng không rõ tên làng. Đó là Đỗ Chính Lạc đậu khoa Ất Mùi (1475) và Vũ Nguyên Trinh đậu khoa Tân Sửu (1481).
Nhưng so với làng Mộ Trạch thì các thành tích trên chưa thấm vào đâu, vì Mộ Trạch có đến 35 vị đại khoa gồm 1 Trạng nguyên, 11 Hoàng giáp và 22 Tiến sĩ, đạt kỷ lục là 41, 18% toàn huyện. Tiếng tăm khoa bảng Mộ Trạch tức làng Chằm, đời đời đã khẳng định qua câu phương ngôn:
Thóc làng Nhử, chữ làng Chằm.
Có thể nói đây là lò đúc Tiến sĩ, tiếng đồn lan rộng sang Trung Hoa, người Tàu gọi làng này là Tiến Sĩ Sào, tức là ổ Tiến sĩ của nước Nam.
Căn cứ vào các tài liệu trên, tính từ khoa Nho học đầu tiên của nước ta có tên là khoa Tuyển Minh kinh Bác học cập Nho học Tam trường, gọi tắt là khoa Minh kinh Bác học mở vào tháng 2 năm Ất Mão (1075) niên hiệu Thái Ninh thứ 4 đời Lý Nhân Tông, đến khoa thi Hội cuối cùng vào năm Mậu Ngọ (1919) Khải Định thứ 3 đời Nguyễn Hoằng Tông thì làng Mộ Trạch đã cống hiến cho đất nước một danh sách Tiến sĩ sau đây:
1. Vũ Đức Lâm: Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân (gọi tắt là Tiến sĩ) khoa Mậu Thìn (1448), niên hiệu Thái Hòa thứ 6 đời Lê Nhân Tông. Ông là vị Tiến sĩ đầu tiên của làng Mộ Trạch và cả huyện Đường An, làm quan đến Thượng thư.
2. Vũ Hữu (1444 - 1530) tự Ước Trai, đậu Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (tức Hoàng giáp) lúc 20 tuổi, khoa Quý Mùi (1463), niên hiệu Quang Thuận thứ 4 đời Lê Thánh Tông. Ông nổi tiếng thanh liêm, làm quan đến chức Thượng thư trải 5 bộ, tước Tùng Dương hầu (có sách chép là Dương Tùng hầu). Ông viết Lập thành toán pháp chỉ dẫn cách đo ruộng đất, xây nhà cửa và thành lũy. Có thể nói Vũ Hữu và Lương Thế Vinh (sinh năm 1441, tác giả quyển Đại thành toán pháp) là hai nhà toán học đầu tiên của nước ta. Thời ấy, thành Thăng Long xây dựng từ niên hiệu Thuận Thiên thứ 1 (1010) đời Lý Thái Tổ, lâu ngày các cửa thành đổ nát, Lê Thánh Tông giao cho Vũ Hữu tính toán vật liệu cần dùng vào việc trùng tu thành quách. Ông đã áp dụng hình học vào việc chiết tính, đưa ra con số chính xác vật liệu xây dựng, nhất là gạch không dư không thiếu một viên, được vua khen là Thần toán và ban thưởng 100 mẫu ruộng.
3. Vũ Ứng Khang đậu Hoàng giáp khoa Nhâm Thìn (1472), niên hiệu Hồng Đức thứ 3 đời Lê Thánh Tông, làm quan đến chức Hộ khoa Đô cấp sự trung.
4. Vũ Quỳnh (1453 - 1497) tự Thư Phác, Viên Ôn; hiệu Đốc Trai, Yến Xương. Ông đậu Hoàng giáp lúc 26 tuổi, khoa Mậu Tuất (1478), niên hiệu Hồng Đức thứ 9 đời Lê Thánh Tông, làm quan đến Thượng thư bộ Lễ, bộ Công, bộ Binh. Là một sử gia, năm 1510 ông vâng mệnh Lê Tương Dực soạn bộ Đại Việt thông giám thông khảo, gọi tắt là Việt giám thông khảo, gồm 26 quyển, chia thành Ngoại kỷ chép từ Hồng Bàng đến hết nhà Ngô, Bản kỷ từ Đinh Tiên Hoàng đến đầu thời Lê Thái Tổ. Theo Phan Huy Chú, bộ sách này được Lê Nại đánh giá là quy mô và đúng với kinh, trúng với sử. Ông còn hiệu đính và đề tựa (1492) sách Lĩnh Nam chính quái và soạn Tố cầm tập, Phan Huy Chú khen là lời thơ thanh thoát. Hiện còn ba bài thơ của ông được chép trong Hoàng Việt thi tuyển do Bùi Huy Bích (1744 - 1818) sưu tầm và biên soạn.
5. Vũ Đôn: cháu của Vũ Hữu, đậu Hoàng giáp khoa Đinh Mùi (1487) niên hiệu Hồng Đức thứ 18, đời Lê Thánh Tông.
6. Vũ Tụ (1466 - ?) 28 tuổi đậu Hoàng giáp khoa Quý Sửu (1493) niên hiệu Hồng Đức thứ 24 đời Lê Thánh Tông. Theo Lịch triều hiến chương (Nhân vật chí, bản dịch, trang 372) Vũ Tụ người làng Mộ Trạch, làm quan đến chức Tả thị lang bộ Hình. Lúc bấy giờ vua Lê Thánh Tông muốn thử lòng các quan, mật sai người cải trang làm thường dân đem lụa đến biếu, các quan đều nhận cả, chỉ có ông là cự tuyệt. Người biếu cố nài nỉ:
- Tập tục lễ vật bây giờ đã thành thói quen, chút lễ mọn này có đáng là bao, không thể hại đến đức liêm, xin ngài chớ nỡ từ chối.
Ông nghiêm nét mặt nói:
- Người đời đục cả, chỉ mình ta trong. Nay mày lại tìm lời ngon ngọt xúi ta đánh mất tiết tháo ư? Nói xong, ông đuổi ra.
Sự việc trình lên, vua khen ông là người tiết tháo, ban cho hai chữ “Liêm Tiết” gắn trên cổ áo mỗi khi vào chầu.
7. Vũ Thuận Trinh (1464 - ?), đậu Hoàng giáp lúc 36 tuổi khoa Kỷ Mùi (1499), niên hiệu Cảnh Thống thứ 2 đời Lê Hiến Tông.
8. Vũ Cán (1475 - ?) tự Tùng Hiên, đậu Hoàng giáp năm 28 tuổi khoa Nhâm Tuất (1502), niên hiệu Cảnh Thống thứ 5 đời Lê Hiến Tông. Ông là cháu ngoại của Tiến Sĩ Nhử Mậu Tổ và là con của Hoàng giáp Vũ Quỳnh, làm quan đến Thượng thư bộ Lễ, năm Canh Ngọ (1510) đi sứ Trung Quốc. Tác phẩm có Tùng Hiên thi tập (5 quyển) và Tùng Hiên văn tập (12 quyển) gồm đủ thể loại: ký, thuyết linh, luận, truyện, biện ... bàn về sử, địa, sinh hoạt xã hội. Ông còn sưu tập các bài tứ lục thành quyển Tứ lục bị lãm và làm thơ xướng họa với Trạng Trình.
9. Lê Nại (1479 - ?): Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất danh (Trạng nguyên) năm 27 tuổi, khoa Ất Sửu (1505) niên hiệu Đoan Khánh thứ 1 đời Lê Uy Mục. Ông là con rể của Hoàng giáp Vũ Quỳnh và cháu nội của danh thần Lê Cảnh Tuân đã tuẫn quốc dưới thời Minh thuộc. Ông có tiếng hay chữ, thi Hương, thi Đình đều đỗ đầu, làm quan tới chức Hữu thị lang bộ Hộ.
10. Lê Tư đậu Hoàng giáp khoa Tân Mùi (1511), niên hiệu Hồng Thuận thứ 3 đời Lê Tương Dực, làm quan tới chức Đoán sự. Ông là bào đệ của Trạng nguyên Lê Nại.
11. Vũ Lân Chỉ đậu Tiến sĩ khoa Canh Thìn (1520), niên hiệu Quang Thuận thứ 5 đời Lê Chiêu Tông, làm quan đến chức Công khoa Đô cấp sự trung.
12. Lê Quang Bí (1504 - ?) tự Thuần Phu, hiệu Hối Trai. Đậu Hoàng giáp lúc 23 tuổi khoa Bính Tuất (1526), niên hiệu Thống Nguyên thứ 5 đời Lê Cung Hoàng. Ông là con trai trưởng của Trạng nguyên Lê Nại, cháu bốn đời của danh thần Lê Cảnh Tuân và cháu ngoại của Hoàng giáp Vũ Quỳnh. Năm Mậu Thân (1548) ông vâng mệnh Mạc Phúc Nguyên cầm đầu sứ bộ sang Tàu, bị vua Minh Thế Tông bắt giam vào ngục ở Nam Ninh suốt 19 năm, đến năm Đinh Mão (1567) mới được tha về. Mạc Mậu Hợp đón ông rất trọng vọng, khen là công thần tiết nghĩa, ví ông như Tô Vũ đời Hán đi sứ Hung Nô, cũng bị đày suốt 19 năm mới được trở về nước. Làm quan đến chức Lại bộ Thượng thư, truy tặng tước Tô quận công. Tác phẩm để lại có Tư hương vận lục, gồm nhiều bài thơ vịnh sử và danh nhân.
13.Nhử Mậu Tổ: Tiến sĩ khoa Bính Thân (1526) niên hiệu Thống Nguyên thứ 5 đời Lê Cung Hoàng, làm quan với họ Mạc đến chức Lễ bộ Tả thị lang. Hoàng giáp Vũ Quỳnh là con rể, Hoàng giáp Vũ Cán là cháu ngoại của ông.
14. Vũ Tĩnh (1525 - ?): 38 tuổi đậu Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất (1562), niên hiệu Quang Bảo thứ 9 đời Mạc Phúc Nguyên. Được cử đi sứ nhà Minh, làm quan đến chức Tả thị lang, khi mất được truy tặng Thượng thư.
15. Vũ Đường (1528 - 1592), đậu Tiến sĩ lúc 38 tuổi, khoa Ất Sửu (1565), niên hiệu Thuần Phúc thứ 4 đời Mạc Mậu Hợp, làm quan tới chức Lễ bộ Hữu thị lang.
16. Vũ Bạt Tụy (1602 - ?) đậu Đình nguyên và lãnh học vị Hoàng giáp lúc 33 tuổi, khoa Giáp Tuất (1634) niên hiệu Đức Long thứ 6 đời Lê Thần Tông, làm quan tới chức Lại khoa Đô cấp sự trung.
17. Vũ Lương (1606 - 1676) đậu Tiến sĩ lúc 38 tuổi, khoa Giáp Mùi (1643), niên hiệu Phúc Thái thứ 1 đời Lê Chân Tông, làm quan tới chức Hình bộ Hữu thị lang, là cháu nhiều đời của Hoàng giáp Vũ Hữu.
18. Vũ Trác Oánh (1635 - ?), năm 22 tuổi đậu Tiến sĩ khoa Bính Thân (1656), niên hiệu Thịnh Đức thứ 4 đời Lê Thần Tông, làm quan tới chức Tham chính, tước Nam.
19. Vũ Đăng Long (1635 - ?) cũng đậu Tiến sĩ lúc 22 tuổi, cùng năm với Vũ Trác Oánh, làm quan đến chức Giám sát.
20. Vũ Công Lượng (1624 - ?), đậu Tiến sĩ năm 33 tuổi, cùng khoa với hai người trên, làm quan đến chức Hình khoa Đô cấp sự trung.
21. Vũ Cầu Hối (1618 - ?), đậu Tiến sĩ lúc 42 tuổi khoa Kỷ Hợi (1659), niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 2 đời Lê Thần Tông, làm quan đến chức Tham chính. Ông là em út của Hoàng giáp Vũ Bạt Tụy.
22. Vũ Bật Hài (1629 - ?), năm 31 tuổi đậu Tiến sĩ khoa Kỷ Hợi (1659), niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 2 đời Lê Thần Tông. Năm 1673, đi sứ sang triều Thanh Thánh Tổ, làm quan đến chức Lại bộ Tả thị lang, có tác phẩm Vũ tộc khoa hoạn phả. Ông là cháu của Hoàng giáp Vũ Bạt Tụy và Hoàng giáp Vũ Cầu Hối.
23. Vũ Công Đạo (1629 - 1714), đậu Tiến sĩ lúc 31 tuổi, khoa Kỷ Hợi (1659), niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 2 đời Lê Thần Tông. Là một Ngự sử cương trực, hạch tội lộng thần nhưng không được vua chúa nghe theo, ông đập đầu vào cột giữa triều để tỏ khí tiết. Làm quan đến chức Thượng thư bộ Công, xin về trí sĩ mở trường dạy học, có tiếng dạy giỏi đào tạo nhiều nhân tài như Bảng nhãn Phạm Quang Trạch, Thám hoa Vũ Thạnh và Hội nguyên Tiến sĩ Nguyễn Danh Dự. Ông là anh của Tiến sĩ Vũ Công Lượng. Thơ ông hiện còn 3 bài chép trong Toàn Việt thi lục.
24. Lê Công Triều (1630 - ?), đậu Tiến sĩ lúc 30 tuổi, khoa Kỷ Hợi (1659) niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 2 đời Lê Thần Tông, làm quan đến chức Tham chính. Ông thuộc dòng dõi của Hoàng giáp Lê Quang Bí, Trạng nguyên Lê Nại, Hoàng giáp Lê Tư.
25. Vũ Duy Đoán (1621 - 1684), đậu Hương nguyên, Hội nguyên, lãnh học vị Tiến sĩ lúc 21 tuổi khoa Giáp Thìn (1664), niên hiệu Cảnh Trị thứ 2 đời Lê Huyền Tông. Làm quan tới chức Công bộ Thượng thư. Vì nói thẳng, trái ý chúa Trịnh Tạc nên bị bãi chức. Về quê mở trường dạy học và sáng tác. Là con của Hoàng giáp Vũ Bạt Tụy, cháu của Tiến sĩ Vũ Cầu Hối và em họ của Tiến sĩ Vũ Bật Hài. Ông lấy hiệu Quế Am, nổi tiếng văn chương, tác phầm có: Kim gián lục (khuyên Chúa Trịnh lúc ông còn tại chức), các bài phú như Phạm Lãi du Ngũ hồ, Hàn Tín điếu thành hạ, Dị văn ký, Mộ Trạch thôn phong cảnh và Nông gia khảo lịch. Người đời khen : “Trước đời Trung Hưng có Vịnh Kiều Hầu (tức Hoàng Sĩ Khải, người Bắc Ninh), sau đời Trung Hưng có Đường Xuyên Tử (tức Vũ Duy Đoán.)
26. Vũ Công Bình (1640 - ?) đậu Tiến sĩ lúc 25 tuổi khoa Giáp Thìn (1664), niên hiệu Cảnh Trị thứ 3 đời Lê Huyền Tông, làm quan đến chức Hiến sứ.
27. Vũ Đình Lâm (1640 - 1707), đậu Hoàng giáp năm 31 tuổi khoa Canh Tuất (1670), niên hiệu Cảnh Trị thứ 8 đời Lê Huyền Tông, làm quan đến Lễ khoa Đô cấp sự trung. Ông là con của Tiến sĩ Vũ Lương, dòng dõi của Hoàng giáp Vũ Hữu.
28. Vũ Duy Khuông (1644 - ?) tự là Bách Am, đậu Tiến sĩ năm 27 tuổi khoa Canh Tuất (1670), niên hiệu Cảnh Trị thứ 8 đời Lê Huyền Tông, làm quan đến Lễ khoa Đô cấp sự trung. Ông là cháu nội Hoàng giáp Vũ Bạt Tụy và con của Tiến sĩ Vũ Duy Đoán. Tác phẩm lưu lại là 8 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục.
29. Vũ Đình Thiều (1658 - 1727), đậu Tiến sĩ lúc 23 tuổi khoa Canh Thân (1680), niên hiệu Vĩnh Trị thứ 5 đời Lê Huy Tông, làm quan đến chức Công bộ Cấp sự trung. Ông là cháu nội Tiến sĩ Vũ Lượng, cháu họ của Hoàng Giáp Vũ Đình Lâm.
30.Vũ Trọng Trình (1639 - ?) đậu Tiến sĩ khoa Sĩ vọng lúc 47 tuổi năm Ất Sửu (1685), niên hiệu Chính Hòa thứ 6 đời Lê Hy Tông, làm quan đến chức Hiến sát.
31. Nguyễn Thường Thịnh ( 1676 - ?), đậu Tiến sĩ năm 28 tuổi khoa Quý Mùi (1703), niên hiệu Chính Hòa thứ 24 đời Lê Hy Tông, làm quan đến chức Cấp sự trung.
32. Vũ Đình Ân (1680 - 1747), đậu Tiến sĩ lúc 33 tuổi khoa Nhâm Thìn (1712), niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 8 đời Lê Dụ Tông. Ông được giao trọng trách xác định các cột mốc biên giới với nhà Thanh. Chức vụ sau cùng là Lễ bộ Thượng thư, khi mất được tặng hàm Thái Bảo. Ông là con Tiến sĩ Vũ Đình Thiều, dòng dõi Hoàng giáp Vũ Hữu và Tiến sĩ Vũ Lương.
33. Vũ Huyên (1670 - ?) thi Hương đậu Giải nguyên, 43 tuổi đậu Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn (1712), niên hiệu Vĩnh Trị thứ 8 đời Lê Dụ Tông. Làm quan đến chức Đông các hiệu thư. Thuộc dòng dõi Hoàng giáp Vũ Đôn, nguyên quán làng Mộ Trạch, trú quán làng Đan Luân cùng huyện. Ông có tiếng về thi văn và xuất chúng về môn cờ tướng.
Tương truyền sứ nhà Thanh sang nước ta quen thói hống hách, lại tự phụ giỏi cờ, thách đấu với vua nước ta. Vua theo kế của Vũ Huyên, hẹn với sứ giả đấu cờ tại sân rồng vào đầu giờ ngọ, mỗi bên chỉ để một tên lính cầm lọng đứng hầu. Vũ Huyên giả làm tên lính đứng hầu nhà vua, trên tàn lọng xoi một lỗ rất nhỏ đủ cho tia nắng xuyên qua làm hiệu, lựa lúc chiếu vào các quân cờ để mách nước cho vua. Nhờ kế ấy, vua nước ta thắng ba ván liên tiếp, sứ Tàu rất khâm phục và không dám hống hách nữa. Nhờ công lao ấy, ông được vua ban cho danh hiệu “Đấu kỳ Trạng nguyên” và trong dân gian còn có câu ca dao truyền tụng:
Trạng cờ Mộ Trạch càng ghê
Sứ Yên thua cuộc rút xe về thành.
34. Vũ Phương Đề (1698 - ?) đậu Tiến sĩ năm 39 tuổi khoa Bính Thìn (1736), niên hiệu Vĩnh Hựu 2 đời Lê Ý Tông, làm quan đến Đông các Học sĩ, dòng dõi Vũ Hữu. Ông là tác giả Công dư tiệp ký (1775) gồm 43 truyện ghi chép các chuyện mắt thấy tai nghe, chia làm 12 mục: Thế gia, danh thần, danh nho, tiết nghĩa, chí khí, báo ác, tiết phụ, ca nữ, thần quái, âm phần, danh thắng, thú loại.
35. Vũ Huy Đỉnh (1730 - 1789) tự Ôn Kỳ, hiệu Di Hiên, đậu Tiến sĩ lúc 25 tuổi khoa Giáp Tuất (1754), niên hiệu Cảnh Hưng 15 đời Lê Hiển Tông. Ông có tài về văn thơ, chính trị và ngoại giao. Năm 1772 đi sứ nhà Thanh, làm quan đến Lễ bộ Hữu thị lang, tước Hồng Trạch hầu.
Tác phẩm của ông gồm: Bách đài tập, Hoa trình tạp thi, Kỷ thắng tập, Nam trung tập, Quang thương tiền tập, Sơn Tây tập, Trình tuyết tập, Thanh Hóa tiền hậu tập, Tùng vịnh tập, Tuyên Quang tập.
Trong số 35 vị đại khoa của làng Mộ Trạch, họ Vũ chiếm đa số tuyệt đối với 9 Hoàng giáp và 20 Tiến sĩ. Trong lúc họ Lê có 1 Trạng nguyên, 2 Hoàng giáp và 1 Tiến sĩ.
Cùng lập nghiệp tại một làng có huyệt chính của cuộc đất phát văn, nhưng họ Vũ hầu như trọn hưởng cái tinh hoa của vùng đất, tương truyền vì có ngôi mộ tổ được táng treo ngay trong làng. Con cháu họ Vũ đã bốc hài cốt vị tổ vào một cái quách nhỏ bằng sành, khằn kín kỹ lưỡng rồi treo lơ lửng dưới một cành đa cổ thụ, dùng rễ đa bó chung quanh. Chùm rễ này ăn sâu xuống đất, lớn dần thành một thân cây khổng lồ ôm chặt hài cốt ở giữa.
Thành tích khoa bảng huy hoàng nhất của làng Mộ Trạch nói chung và họ Vũ nói riêng là khoa Bính Thân (1656) niên hiệu Thịnh Đức 4 đời Lê Thần Tông có 3 vị tân khoa Tiến sĩ là Vũ Trác Oánh, Vũ Đăng Long và Vũ Công Lượng. Tiếp đến khoa Kỷ Hợi (1659) niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 2 đời Lê Thần Tông, Mộ Trạch lại một lần nữa chiếm kỷ lục. Khoa ấy cả nước lấy đậu đại khoa 20 vị thì riêng làng Mộ Trạch đã có 4 Tiến sĩ: Vũ Cầu Hối, Vũ Bật Hài, Vũ Công Đạo và Lê Công Triều.
Mộ Trạch còn có Trạng vật Vũ Phong, em ruột Hoàng giáp Vũ Hữu. Ông tướng ngũ đoản, có biệt tài về đô vật, đã quật ngã các đô lực sĩ hộ vệ vua Lê Thánh Tông trong một cuộc thử sức, lại có tiếng chính trực và tháo vát, được vua tin dùng, cho làm Chỉ huy sứ Cẩm y thị vệ. Có lần ông được sung vào sứ bộ sang nhà Minh biểu diễn tài đô vật. Ông đã thắng các tay đô vật nổi tiếng của Tàu, đem lại vẻ vang cho dân tộc, khiến vua Minh Hiến Tông phải khen ngợi, gọi ông là “Lý Tôn Hiến An Nam”, ý sánh ông với danh tướng họ Lý đời Đường Hy Tông, cũng vóc người nhỏ bé nhưng giỏi võ và sức mạnh phi thường, có công dẹp yên loạn Hoàng Sào. Người đương thời tôn xưng Võ Phong là Trạng Vật. Còn Hoàng giáp Lê Quang Bí liệt ông vào các nhân vật lịch sử và có thơ vịnh:
Ngũ đoản tằng xưng tướng mạo kỳ,
Tang bồng hồ thỉ hảo nam nhi.
Nhất môn bá trọng quang tiên nghiệp
Thiên tải minh lương kết chủ tri
Ứng biến đạt tài thi hữu chính,
Xứng bình lịnh dữ bá vu thì.
Tử tôn vinh thịnh đoan phi ngẫu,
Chủng đức cao dao thị ngã si (sư).
Bản dịch trong Tự điển Nhân vật lịch sử Việt Nam:
Tướng xem ngũ đoản thật phi thường
Hồ thỉ làm trai chí bốn phương
Nếp cũ thêm tươi hàng bá trọng,
Ngàn xưa được gặp chúa minh lương.
Khen tay chính trị tài thông biến,
Giữ mực công minh tiếng chẳng thường.
Con cháu vinh hoa âu cũng bởi,
Ai trồng cây đức để làm gương.
Mộ Trạch còn đóng góp cho triều đại Lê sơ một vị tướng can trường, trung hậu. Đó là Vũ Dự, cùng họ hàng với Hoàng giáp Vũ Hữu. Theo Đại Nam nhất thống chí, Vũ Dự cùng với Cương quốc công Nguyễn Xí lật đổ Nghi Dân, dẹp xong bọn phản loạn Phạm Đồn, Phan Ban, Trần Lăng, Lê Đắc Minh; rồi tôn Bình Nguyên Vương Tư Thành lên ngôi vua, lập ra một triều đại cực thịnh trong lịch sử nước ta. Ông được vua Lê Thánh Tông phong làm Minh Nghĩa công thần, Tả Phủ Đô đốc, tước Tri Lê bá.
Mộ Trạch cũng sản sinh một danh thần tuy không xuất thân từ hàng khoa bảng mà vẫn được nể trọng. Đó là Vũ Duy Chí (1604 - 1678). Theo Lịch triều hiến chương (Nhân vật chí, bản dịch, trang 277) nhờ ân đức của người mẹ trả lụa cho người bỏ quên mà năm anh em ông đều rạng danh với đời. Vũ Tự Khoái (con trưởng) là công thần đời chúa Trịnh Tráng (1623 -1657), Vũ Bạt Tụy (con thứ) đậu Hoàng giáp, Vũ Đức Chí là công thần dưới thời chúa Trịnh Tạc (1657 - 1682), Vũ Phương Trượng làm đến Thượng thư, tước Quận công, Vũ Cầu Hối (con út) đậu Tiến sĩ.
Khoảng niên hiệu Cảnh Trị đời Lê Huyền Tông (1663 - 1671) Vũ Duy Chí được thăng Lễ bộ Thượng thư, tước Phương quận công. Khi làm Tể tướng, trong triều có người chê ông xuất thân từ chân lại, Dương vương Trịnh Tạc đã đem các nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa như Tiêu Hà, Tào Tham (đời Hán Cao Tổ), Phòng Huyền Linh, Đỗ Như Hối (đời Đường Thái Tông) cũng từng làm lại để biện hộ cho ông. Tuy được nhà Chúa tin dùng, ông vẫn giữ lòng ngay thẳng, tôn trọng lẽ phải và trung hậu khiến Chúa rất nể trọng.
Nhân ngày Nguyên Đán, Chúa truyền các quan văn võ sau khi chầu Vua thì vẫn giữ nguyên phẩm phục sang phủ lạy mừng Chúa. Ông bèn nói ngay: “Nhà Chúa từ xưa tới nay vẫn một niềm tôn phù hoàng gia. Vậy lễ ngày hôm nay chỉ nên mặc áo thanh cát, không nên dùng triều phục, sợ trái với lệ cũ.” Chúa cho là phải và bỏ việc ấy. Tận tụy với việc nước đến năm 73 tuổi (1676) ông mới về hưu, được gia thăng Lại bộ Thượng thư, Quốc lão Thiếu phó. Chúa tặng ông lá cờ có thêu câu đối:
Nhất đại tông thần Tiêu tướng quốc;
Lưỡng triều nguyên lão Triệu Hàn vương.
Bản dịch Lịch triều hiến chương loại chí:
Làm quan đầu triều một đời, như tướng quốc Tiêu Hà
Trải làm nguyên lão hai triều, như Hàn vương Triệu Phổ.
Ông mất năm Mậu Ngọ (1678) thọ 75 tuổi. Được truy tặng Thái phó.
Mộ Trạch còn cống hiến cho đất nước một nhà ngoại giao tài ba Vũ Huy Tấn (1749 - 1800). Ông là con của Tiến sĩ Vũ Huy Đỉnh, đậu Giải nguyên khoa Mậu Tý (1768) niên hiệu Cảnh Hưng 29 đời Lê Hiển Tông, được bổ làm Thị nội ở viện Hàn lâm. Khi vua Quang Trung ra Bắc, ông theo giúp, làm quan đến Công bộ Thượng thư. Hai lần được cử đi sứ sang Tàu, ông tỏ ra là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp và có khí phách, bảo toàn được danh dự quốc gia. Trong lần đi sứ cùng giả vương Phạm Công Trị, quan nhà Thanh gọi đoàn sứ giả ta là “di quan”, ông đã khẳng khái phản đối đúng nguyên tắc bình đẳng ngoại giao, khiến họ phải nể trọng. Vì thế Vũ Huy Tấn và Phan Huy Ích được đặc cách đến gần vua Càn Long (Thanh Cao Tông) và chính tay nhà vua rót rượu mời; một sự kiện hiếm có đối với sứ giả các nước. Ngoài sở trường về ngoại giao, ông còn sáng tác nhiều thơ văn đề cao lòng tự hào dân tộc, với bút hiệu Nhất Thủy, ông có tác phẩm Hoa nguyên tùy bộ tập.
Nhưng trên hết, Mộ Trạch là đất địa linh nhân kiệt, cống hiến cho tổ quốc những con người kiên trung. Chí sĩ Lê Cảnh Tuân, thân phụ của tướng Lê Thiếu Dĩnh trong hàng ngũ chống Minh của Bình Định Vương, là nội tổ Trạng nguyên Lê Nại và Hoàng giáp Lê Tư, là tằng tổ của Hoàng giáp Lê Quang Bí. Theo Lịch triều hiến chương loại chí, Lê Cảnh Tuân đậu cử nhân khoảng niên hiệu Xương Phù (1377 - 1388) đời Trần Phế Đế; còn theo Đại Nam nhất thống chí thì ông đậu Thái học sinh đời Trần. Dù với học vị nào, ông vẫn là người khai khoa của làng Mộ Trạch. Khi quân Minh sang chiếm nước ta, ông viết Vạn ngôn thư (bức thư vạn chữ) khuyên người bạn cũ là Bùi Bá Kỳ đang làm Tham nghị cho giặc, nên đòi họ giữ lời hứa lập lại nhà Trần. Bức thư có đoạn: “Nhà Minh đã sắc phong cho Ngài (Bùi Bá Kỳ) theo quân họ sang đánh, chờ bắt được nhà Hồ, chọn lập con cháu họ Trần, gia thêm tước để giúp nước. Thế mà nay chỉ thấy họ lập ty Bố chánh, phong Ngài tước cao, còn nhà Trần thì chỉ cho người quét dọn miếu thờ. Vậy nếu Ngài có thể lại tâu lên, xét lời nói của các quan lại, kỳ lại bày tỏ việc con cháu họ Trần chưa tuyệt, để họ tuyên chiếu khác sắc phong cho họ Trần. Đấy là thượng sách. Không thể thì Ngài xin thôi chức, chỉ xin làm viên quan coi miếu nhà Trần, đấy là trung sách. Còn nếu Ngài nhận chức quan cao, ăn lộc nhiều, thì là hạ sách vậy. Như Ngài theo thượng sách, thì tôi xin làm các vị nhân sâm, cam thảo, chỉ xác, trần bì sung vào giỏ thuốc để cho Ngài dùng. Theo trung sách thì tôi xin bưng khay chén đi lại trong miếu cũng để ngài sai bảo. Còn nếu theo hạ sách thì tôi sẽ đi cày ruộng nơi tịch mịch, nhàn hạ, để cho trọn những năm sống thừa mà thôi.”
Sau đó Bùi Bá Kỳ bị một tội khác, quân Minh xét nhà thấy có Vạn ngôn thư, ra lệnh tầm nã ông. Lê Cảnh Tuân phải cải dạng đổi tên đi trốn. Nhưng năm 1411 quân Minh lập Giao Châu học hiệu tại Thăng Long ông giả làm khách ra kinh đô nhận chức dạy học để có dịp kết nạp sĩ phu ngầm việc cứu nước. Bởi tiếng tăm ông nhiều người biết nên các con ông hết sức khuyên can nhưng ông quả quyết; “Nhà ta đời đời ăn lộc. Một bức thư vạn ngôn đã bị tiết lộ, không thành. Nay ta hết lòng báo ơn nước, dù chết còn vinh, ta có sợ gì!”
Can ngăn không được, người con trưởng là Lê Thái Diên phải theo cha hầu hạ phòng việc bất rắc. Quả nhiên ông bị bắt giải về Yên Kinh cùng với người con. Vua Minh Thánh Tổ hỏi:
- Mày khuyên Bá Kỳ âm mưu làm phản, vì sao vậy?
Lê Cảnh Tuân khẳng khái đáp:
- Người Nam thì mong nước Nam còn. Chó của ông Trích thì cắn người không phải chủ nó. Hỏi làm gì!
Vua Minh giận lắm, ra lệnh giam cha con ông vào ngục tối ở Kim Lăng. Ngày Tết nhớ về cố hương, Lê Cảnh Tuân gửi nỗi lòng mình trong bài Nguyên Nhật (Ngày đầu năm), Bùi Huy Bích (1744 - 1818) sưu tầm, chép vào Hoàng Việt thi tuyển:
Lữ quán khách nhưng tại
Khứ niên xuân phục lai
Quy kỳ hà nhật thị,
Lão tận cố hương mai.
Đinh Văn Chấp dịch (Nam Phong tạp chí, 1927):
Đất khách ngày bao trải
Trời xuân năm thứ hai
Kỳ về còn chưa định,
Quê cũ đã chồi mai.
Nhưng ngày về không còn! Năm năm sau, ông và người con trưởng chết trong ngục tối.
Lịch triều hiến chương của Phan Huy Chú đã trân trọng xếp ông vào 7 người bề tôi tiết nghĩa đời Trần, và Đại Nam nhất thống chí thì liệt ông vào 13 nhân vật lịch sử nổi tiếng của tỉnh Hải Dương dưới thời Trần.
*
Tóm lại, Mộ Trạch chỉ là một làng quê nhỏ bé nhưng có cả một đội ngũ nhân tài đồ sộ tầm cỡ quốc gia.
Ngày xưa, Lê Thiếu Dĩnh tự là Tử Kỳ theo Lê Thái Tổ khởi nghĩa, làm đến Thiêm tri Viện sự, để lại tập thơ Tiết Trai được Phan Huy Chú khen là giản dị, cổ kính. Trong đó có bài Trạch thôn cố viên, tả làng Mộ Trạch khi làng này chưa xuất hiện những vị khoa giáp và nhân tài:
Mỗ khâu mỗ thủy cựu hương lư,
Tiên trủng quy lai bái tảo sơ
Tang tử niên thâm do ốc nhược,
Tùng thu thụ lão dĩ sâm như...
Bản dịch Hoàng Việt thi tuyển:
Khe kia cồn nọ, cảnh hương quê
Viếng mộ cha ông mới trở về
Tang tử năm xưa còn tốt đẹp
Tùng thu gốc lão vẫn sum sê...
Với cảnh sắc ấy, Mộ Trạch đã là chiếc nôi nuôi dưỡng nhân tài Việt Nam suốt thời đại nhà Lê (1428- 1788). Có điều đáng suy ngẫm, từ năm 1822 đến năm 1919 nhà Nguyễn mở 39 khoa tiến sĩ (không kể khoa Ất Dậu 1885, chưa kịp truyền lô thì kinh đô thất thủ), lấy đậu 558 lượt người, gồm 292 trúng cách Chính bảng và 266 trúng cách Phó bảng. Thế nhưng, làng Mộ Trạch không một ai đỗ đại khoa và cả huyện Đường An chỉ có Vũ Đức Khuê người xã Hoa Đường đậu Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân.
Vấn đề đặt ra, Mộ Trạch có mãi còn là đất phát văn? Và bây giờ, nhân tài Mộ Trạch nơi đâu?
ĐÀO ĐỨC CHƯƠNG
CHÚ THÍCH
(1) Năm Tân Mão (1831) Minh Mạng thứ 12, đổi trấn thành tỉnh, từ ấy trấn Hải Dương gọi là tỉnh Hải Dương.
(2) Các sách tham khảo:
- Các nhà khoa bảng Việt Nam, Ngô Đức Thọ chủ biên, nxb Văn Học, Hà Nội 1993.
- Quốc triều khoa bảng lục của Cao Xuân Dục, người dịch Lê Mạnh Liêu, nxb Văn Học, 2001.
- Trạng nguyên, Tiến sĩ, Hương cống Việt Nam; nhóm biên soạn Bùi Hạnh Cẩn, Minh nghĩa, Việt Anh, nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội 2002.
-Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, nhóm Đỗ Mộng Khương dịch, nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội 1992.
- Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, Phạm Trọng Điềm dịch, nxb Thuận Hóa, Huế 1992.
- Việt Nam Danh nhân từ điển của Nguyễn Huyền Anh, nhà sách Khai Trí tái bản và phát hành, Sài Gòn 1972.
- Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam của Nguyễn Quang Thắng và Nguyễn Bá Thế, nxb Khoa học Xã hội, Sài Gòn 1992.
- Thành ngữ điển tích Danh nhân từ điển của Trịnh Vân Thanh, Sài Gòn 1966, Đại Nam tái bản tại California.
- Từ điển Văn học của nhóm biên tập Đỗ Đức Hiếu, nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội 1883.
- Văn hóa Việt Nam tổng hợp, Trần Độ chủ biên, Hà Nội 1989.
- Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch của Ngô Đức Thọ, nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội 1993.
- Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX, Dương Thị The và Phạm Thị Thoa dịch và biên soạn, nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội 1981.
- Văn học từ điển của Thanh Tùng, Khai Trí phát hành, Sài Gòn 1973; Xuân Thu tái bản, California 1990.
==========================
Don't Links so many Pictures on one page !!
vBulletin® v3.8.4, Copyright ©2000-2009, Jelsoft Enterprises Ltd.