PDA

View Full Version : Các Khoa Thi Nho Học Thời Xưa (Sưu Tầm)


Tila
01-27-2003, 01:07 AM
Kỳ I: Sự hình thành hai cấp thi và ba khoa thi chính quy về Nho học
Nước ta bắt đầu có thi Nho học từ năm 1075 d­ới triều Lý Nhân Tông và chấm dứt thi Nho học vào năm 1919 đời vua Khải Định nhà Nguyễn. Trong 845 năm đó, đã có nhiều loại khoa thi khác nhau, ở mỗi triều đại lại có những đặc điểm khác nhau, song trong các đời Lý, Trần, Hồ có một đặc điểm chung là các khoa thi đều do triều đình đứng ra tổ chức, chỉ đạo thi.

Đời Lý mới bắt đầu có thi Nho học, quy chế thi thế nào nay không có điều kiện biết rõ, nh­ng nói chung có lẽ các chế định còn sơ sài, ch­a thành nếp rõ rệt, ng­ời ta tùy theo nhu cầu tuyển lựa quan lại của từng thời kỳ mà tổ chức thi và căn cứ theo nội dung thi, đối t­ợng dự thi, tuyển chọn mà đặt tên khoa thi nh­: thi Nho học tam tr­ờng, thi tuyển ng­ời có văn học sung vào viện Hàn Lâm, thi tuyển ng­ời vào hầu vua, hầu đông cung Thái tử học...

Trong đời Trần, chỉ có hai loại khoa thi là thi Thái học sinh và thi Đại tỷ. Thi Thái học sinh, nh­ tên gọi của nó đã chỉ rõ, là khoa thi mà đối t­ợng dự thi là các Thái học sinh, tức là các học sinh ở nhà Thái học, cũng gọi là nhà Quốc học, nói cách khác là sinh viên ở tr­ờng đại học quốc gia duy nhất của thời đó. Ng­ời thi đỗ các khoa thi này gọi là đỗ Thái học sinh. Thi Đại tỷ còn gọi là Đại tỷ thủ sĩ (Đại tỷ có sách phiên: Đại tỷ) đ­ợc tổ chức cho 5 loại đối t­ợng sau đ­ợc phép dự thi: Thuộc quan ở Tam quán, thái học sinh, thị thần học sinh, t­ớng phủ học sinh, ng­ời làm quan có t­ớc phẩm. Thuộc quan ở Tam quán là con cái các quan đ­ợc lấy vào vừa làm việc vừa học tập ở ba "quán" (ngày nay là viện) nh­ Sùng văn quán, Nho lâm quán, Tú lâm cục. Thị thần học sinh là con cái các quan đ­ợc lấy vào vừa làm việc vừa học tập ở 6 cục Ngự tiền cận thị chi hậu, ở Trung th­ giám. T­ớng phủ học sinh là con cái của các thân v­ơng, thân công, hoàng tử, công chúa, các t­ớng công hầu bá thuộc họ hàng thân thích của nhà vua đ­ợc nhà n­ớc cử học quan đến dạy tại phủ đệ của họ.

Các khoa thi Đại tỷ đ­ợc mở xen lẫn với các khoa thi Thái học sinh. Theo ghi chép của Phan Huy Chú và của sử sách đời Trần có 7 khoa thi Đại tỷ mở vào các năm 1246, 1247, 1256, 1266, 1275, 1304, 1374. Tất cả các khoa này đều có lấy Tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa) nên Đại Việt Sử ký Toàn th­ và Kiến Văn tiểu học còn gọi là thi Trạng nguyên. Việc chọn lấy Tam khôi đ­ợc thực hiện qua một kỳ thi Đình, nên Việt sử Thông giám c­ơng mục gọi là thi Đình. Nh­ vậy từ năm 1246, 1247 trở đi đã xuất hiện thi Đình, nh­ng thi Đình lúc này còn là kỳ thi cuối cùng của khoa thi Đại tỷ, do triều đình tổ chức, ch­a tách ra thành một khoa thi riêng. Năm 1304, Nguyễn Trung Ngạn thi khoa Đại tỷ đỗ Hoàng giáp (mới có danh hiệu Hoàng giáp vào năm này), lúc đó ông mới 16 tuổi. Năm 1374, trong khoa thi Đại tỷ cuối cùng, đỗ đầu là Trạng nguyên Đào S­ Tích. Ông đ­ợc các sách chép về khoa cử x­a ghi rõ: "Từ thi H­ơng đến thi Đình đều đỗ đầu". Ng­ời đỗ các khoa thi Đại tỷ, trừ Tam khôi, còn đều gọi là đỗ Thái học sinh. Từ đó, có thể nói: Tr­ớc khoa thi Đại tỷ năm 1374 thực tế đã xuất hiện thi H­ơng và khoa thi này có thể coi là một b­ớc thí điểm để tiến tới phân ra 2 cấp thi và 3 khoa thi vào năm 1396.

Năm 1396 đời Trần Thuận Tông có chiếu của vua ban xuống quy định cách thức thi chọn nhân tài bằng thể văn 4 kỳ, bãi bỏ phép ám tả cổ văn và định rõ: "Cứ năm tr­ớc thi H­ơng thì năm sau thi Hội, ng­ời đỗ thì vua ra một bài văn sách để xếp bục" (trích Đại Việt sử ký toàn th­). Tuy chiếu ban ra là của vua Trần, song đây thực chất là t­ t­ởng của Hồ Quý Ly vì từ khi Nghệ Tông mất (tháng 1-1395) ông đã là Phụ chính đại thần cai giáo Hoàng đế (dạy dỗ Hoàng đế) có toàn quyền quyết định mọi việc.

Quy định này đã xác định rõ hệ thống thi cử có 3 khoa thi H­ơng, thi Hội, thi Đình, gọi tên các kỳ thi do triều đình trực tiếp tổ chức là thi Hội (tr­ớc ch­a quy định tên này) và tách thi Đình thành một khoa thi riêng (thi Hội xong lấy ng­ời đỗ thi Hội rồi mới cho thi Đình) không coi nó là kỳ thi cuối cùng của "thi Hội" nữa. Đồng thời, với việc đặt tên khoa thi đầu tiên này là thi H­ơng, quy định này cũng khẳng định đây là khoa thi tổ chức ở các địa ph­ơng trong n­ớc, vì H­ơng là từ chỉ các vùng không phải là quốc đô, là các địa ph­ơng không phải là Kinh s­. Và nh­ vậy cũng hình thành hai cấp thi: thi ở địa ph­ơng và thi ở trung ­ơng.

Trong đời Trần, ngoài các tr­ờng học ở Kinh đô, nhà n­ớc chỉ mở tr­ờng học công lập ở Phù Thiên tr­ờng, nơi đ­ợc coi là kinh đô "phụ" vì nơi đó có Th­ợng hoàng ở và làm việc, quyết định các vấn đề trọng đại nhất của đất n­ớc, và cũng đến năm 1281 mới mở tr­ờng ở đây.

Trong đời Trần đã có 2 nhà giáo có tiếng mở tr­ờng t­ dạy học sinh nhiều ng­ời thành đạt, có ng­ời giữ chức vụ cao trong triều. Đó là Nguyễn Sĩ Cố và Chu Văn An, sống vào cuối thế kỷ XIII, đầu thế kỷ XIV. Vì thế tr­ớc khoa thi Đại tỷ năm 1374 có thi H­ơng là điều hoàn toàn có thể xảy ra, ít nhất là ở phủ Thiên tr­ờng quê h­ơng của Đào S­ Tích (xã Cổ Lễ, nay thuộc Nam Trực, Nam Định). Để thực hiện chủ tr­ơng mở thi H­ơng, các địa ph­ơng cần đ­ợc mở tr­ờng, đặt học quan, cấp học điền để có thể hoạt động đ­ợc. Hồ Quý Ly đã làm việc này vào năm 1397.

Năm 1404 Hồ Hán Th­ơng lại chủ tr­ơng: thi H­ơng, thi Lễ bộ cử nhân, thi Hội nh­ng chỉ 3 năm sau nhà Hồ mất, cải cách thi cử không thực hiện đ­ợc.

Từ năm 1396 đến hết đời Hồ (1407) không có khoa thi Đại tỷ nào chỉ có thi Thái học sinh. Rồi đất n­ớc bị nhà Minh xâm l­ợc. Năm 1428 Lê Thái Tổ giành lại đ­ợc độc lập, ch­a có điều kiện thi Tiến sĩ. Vì vậy đến năm 1442 trong khoa thi Tiến sĩ đầu tiên chủ tr­ơng 2 cấp thi và 3 khoa thi mới đ­ợc thực hiện đầy đủ. Cũng từ đây thi H­ơng, thi Hội, thi Đình mới trở thành các khoa thi chính quy, th­ờng xuyên (gọi là chính khoa hay nh­ Trung Quốc gọi là th­ờng khoa) của thi cử Nho học ở n­ớc ta, duy trì đ­ợc 478 năm mới bị bãi bỏ.

Tila
01-27-2003, 01:08 AM
Kỳ 2: Thi H­ơng và Khảo hạch

Thi H­ơng là khoa thi đ­ợc tổ chức cho sĩ tử ở một khu vực trong n­ớc, có thể là một trấn hoặc tỉnh trực thuộc trung ­ơng, có thể là một số trấn, tỉnh gần nhau. Trong đời Lê Sơ, tất cả các trấn (trừ Quảng Nam) và phủ Phụng Thiên đều đ­ợc triều đình giao cho trách nhiệm tổ chức thi H­ơng theo quy chế chung. Sang đời Lê Trung h­ng các trấn ít thí sinh quá phải thi chung với các trấn đông thí sinh. Triều đình chỉ cử quan đi giám sát, hoặc một số ít ng­ời đi tham gia chấm thi ở 5 tr­ờng thi của khu vực Bắc Bộ là Phủ Phụng Thiên, Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải D­ơng, Sơn Nam. Hai trấn xa xôi là Thanh Hóa, Nghệ An không cử ng­ời đến đ­ợc. Phía Nam sông Gianh thuộc chúa Nguyễn cai quản theo chế độ thi cử khác, cao nhất cũng chỉ t­ơng đ­ơng thi H­ơng. Trong đời Nguyễn, đất n­ớc rộng gấp hơn hai lần đời Lê Trung h­ng mà khi đầy đủ nhất cũng chỉ có 7 tr­ờng thi là Hà Nội, Nam Định (Bắc Bộ), Thanh Hóa (và Ninh Bình), Nghệ An (và Hà Tĩnh), Thừa Thiên (từ Quảng Bình đến Quảng Nam), Bình Định (từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận) và Gia Định (Nam Bộ). Năm 1918, trong khoa thi H­ơng cuối cùng chỉ còn 3 tr­ờng: Thừa Thiên, Bình Định và Nghệ An (có tr­ờng Thanh Hóa thi chung).

Trong đời Lê mỗi khoa thi H­ơng có 4 kỳ (x­a gọi là 4 tr­ờng) kéo dài khoảng 1 tháng, nội dung thi cơ bản nh­ sau: Kỳ I: Kinh nghĩa, th­ nghĩa; Kỳ II: chiếu, chế, biểu; Kỳ III: Thơ phú; Kỳ IV: Văn sách. Thi xong kỳ nào chấm bài kỳ ấy, ai đỗ vào thi tiếp kỳ sau, ai tr­ợt thì có thể về. Thi đỗ kỳ III, vào kỳ IV không đỗ thì đ­ợc nhận học vị Sinh đồ, đỗ cả 4 kỳ đ­ợc nhận học vị H­ơng cống. H­ơng cống và sinh đồ là tên gọi do vua Lê Thánh Tông đặt năm 1466. Đến năm 1928 vua Minh Mạng mới đổi gọi là cử nhân, tú tài.

Trong đời Nguyễn lúc đầu nội dung thi cũng giống đời Lê. Năm 1834 vua Minh Mạng đã cải tiến cho thi 3 kỳ cho đỡ nặng nề, bỏ không thi chế, chiếu, biểu. Năm 1850 thấy nội dung 3 kỳ thi quá sơ sài, vua Tự Đức lại cho thi 4 kỳ, nội dung nh­ sau: Kỳ I thi kinh nghĩa, th­ nghĩa; Kỳ II thi văn sách; Kỳ III thi chiếu, chế, biểu; Kỳ IV thi thơ phú. Nhà vua thi sĩ coi trọng thơ phú đã để thi cuối cùng chăng?

Về chấm thi, cho đến khoa Âất Dậu (1825) ng­ời ta vẫn chấm theo cách của đời Lê, thi kỳ nào chấm ngay kỳ đó, ai đỗ mới đ­ợc vào thi kỳ sau. Năm 1825 vua Minh Mạng cho mỗi thí sinh đều đ­ợc thi 4 kỳ, mỗi kỳ cách nhau 3 ngày. Khi chấm xong kỳ thứ IV đem quyển thi của 4 kỳ của từng thí sinh cộng các xếp loại để sắp xếp hơn kém: ai đ­ợc 4 ­u là tột bậc, 3 ­u và 1 bình là thứ hoặc 2 ­u, 2 thứ là thấp hơn nữa v.v... cứ thế mà suy ra. Tuy vẫn coi trọng kỳ thi sau hơn kỳ thi tr­ớc nh­ng việc chấm theo cách này làm cho cả 4 bài đều tham gia vào việc xét đỗ xếp loại, khác với tr­ớc. Cách chấm này gọi là chấm theo lối quán quyển (quán = một xâu).

Các quan chức làm việc thi cử: Trong đời Lê, lãnh đạo khoa thi có đề điệu và giám thí. Chấm thi là nhiệm vụ của đồng khảo (chấm lần đầu) và giám khảo (chấm lần hai). Kiểm tra lại là nhiệm vụ của phúc khảo. Công việc hành chính thi cử có các chức di phong (dán tên học sinh ở quyển thi) soạn từ hiệu (viết chữ và số hiệu của quyển thi và quyển sao cho thống nhất, chỉ đem quyển sao chép đi chấm để không nhận đ­ợc dấu hiệu, mặt chữ...) đằng tả (sao chép quyển thi) đối độc (đối chiếu quyển thi với quyển sao chép đảm bảo đúng nguyên văn, không chép sai sót, không chép khác bản chính). Công việc bảo vệ an toàn cho kỳ thi đ­ợc giao cho các viên tuần x­ớc, thể xát, mật xát... ngày đêm tuần tra, canh gác, theo dõi sát sao. Từ năm 1828 nhà Nguyễn có một số sửa đổi, cơ bản là: đặt chức chánh phó chủ khảo thay cho đề điệu, giám thị. Đặt chức đề điệu (mới) chuyên chỉ đạo công tác hành chính thi cử, chức giám sát phân khảo làm nhiệm vụ t­ơng tự nh­ tổ tr­ởng chấm thi ngày nay, chức phúc khảo chấm bài thi lần thứ hai và chức sơ khảo chấm bài thi lần đầu. Các việc khác nói chung nh­ cũ.

Số h­ơng cống hoặc cử nhân mỗi tr­ờng thi đ­ợc lấy đỗ từng khoa do triều đình quy định căn cứ vào phong trào học tập trung của khu vực, của số sĩ tử dự thi. Trong đời Lê, cứ lấy đỗ một h­ơng cống đ­ợc lấy đỗ 9 hoặc 10 sinh đồ. Trong đời Nguyễn, cứ lấy đỗ một cử nhân đ­ợc lấy đỗ 2 tú tài (sau cho thêm 1 là 3).

Khảo hạch: Muốn dự thi H­ơng phải có hai điều kiện:

Một là: phải có đạo đức tốt và lý lịch trong sạch: thí sinh phải là ng­ời có đức hạnh và có lý lịch ba đời trong sạch mới đ­ợc dự thi. Những ng­ời bất hiếu, bất mục, loạn luân, điêu toa, những ng­ời đang có đại tang, những ng­ời là nghịch đảng, những ng­ời làm nghề hát x­ớng thì bản thân và con cháu họ đều không đ­ợc đi thi. Bản khai lý lịch tam đại này phải đ­ợc xã tr­ởng và quan địa ph­ơng xác nhận.

Hai là: phải có trình độ học lực: trình độ học lực lúc đầu đ­ợc kiểm tra bằng một kỳ thi liền với kỳ thi H­ơng nh­ng không tính vào nội dung thi H­ơng 4 kỳ trên. Đây là kỳ thi ám tả cổ văn (chép một đoạn trong Tứ th­ ngũ kinh, không đ­ợc mở sách, không có ng­ời đọc cho chép) ai đỗ kỳ này mới đ­ợc vào thi H­ơng. Về sau ng­ời ta tách kỳ kiểm tra này ra, đ­a về cho quan huyện làm khi lập danh sách thi H­ơng. Rồi thấy chỉ kiểm tra bằng ám tả thôi thì không đủ, ng­ời ta cho kiểm tra nhiều nội dung hơn, cuối cùng kiểm tra toàn bộ văn thể 4 kỳ thi H­ơng, và giao cho quan cấp trấn hoặc tỉnh đứng ra tổ chức kiểm tra vài tháng tr­ớc khi thi. Đây là kỳ thi sát hạch, không phải là kỳ thi. Đỗ kỳ này chẳng có học vị gì, cả tỉnh cùng dự thi, ai đỗ kỳ này cũng đã vinh dự lắm, nhất là đỗ đầu. Có thời gian trấn đã đ­ợc gọi là xứ (tr­ớc khi gọi là trấn) ng­ời đỗ đầu cả trấn đ­ợc tặng danh hiệu đầu xứ (về sau đỗ đầu tỉnh cũng đ­ợc gọi là đầu xứ) gọi tắt là ông xứ, nh­: xứ Nhu (Nguyễn Khắc Nhu), xứ Tố (Ngô Tất Tố). Ông xứ Tố chỉ đỗ đầu xứ thôi, chẳng có học vị gì, nh­ng thật là một nhà Nho uyên thâm.

Tila
01-27-2003, 01:09 AM
Kỳ 3: Thi Hội và Thi Đình

Thi Hội là khoa thi ở cấp Trung ­ơng do triều đình mà trực tiếp là Bộ Lễ tổ chức. Cũng nh­ thi H­ơng, thi Hội đ­ợc tổ chức 3 năm một lần. Theo quy định của Trung Quốc cũng nh­ của ta (áp dụng từ đời Lê Thánh Tông) thi H­ơng đ­ợc tổ chức vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu thì năm sau Sửu, Mùi, Thìn, Tuất, thi Hội. Khoa thi này đ­ợc gọi là "Hội thi cử nhân", "Hội thi cống sĩ" (các cử nhân, cống sĩ ở các địa ph­ơng tụ hội lại ở kinh đô để thi) do đó gọi là thi Hội. Ng­ời dự thi đúng nh­ tên gọi chỉ có các cống sĩ hoặc cử nhân.

Thi Hội bắt đầu thực hiện từ đời Lê Thái Tông. Nội dung thi đ­ợc quy định vào năm 1434, dự tính đến năm 1439 thì thi khoa đầu tiên, nh­ng thực tế đến năm 1442 mới thi đ­ợc. Theo quy định của năm 1434, cũng nh­ thi H­ơng, thi Hội có 4 kỳ. Kỳ I: Kinh nghĩa, th­ nghĩa; Kỳ II: chiếu, chế, biểu; Kỳ III: Thơ phú; Kỳ IV: văn sách. Nội dung thi này là cơ bản, sự sắp xếp thứ tự các kỳ có tính hợp lý, điển hình suốt thời gian thi Nho học đều thực hiện, có lúc nào đó thay đổi khác đi thì chỉ ít lâu sau lại trở lại nội dung và sự sắp xếp thứ tự này.

Về cách chấm thi và lấy đỗ: trong đời Lê sơ, Mạc, Lê Trung h­ng và đầu đời Nguyễn cách chấm thi Hội cũng giống nh­ thi H­ơng, chấm theo thang đánh giá 4 bậc (­u, bình, thứ, liệt) thực chất là xếp loại thành 4 loại, ai xếp loại liệt là bị hỏng, không đ­ợc đỗ và thi kỳ sau. Ai đỗ cả 4 kỳ đ­ợc công nhận là trúng cách thi Hội, không có học vị gì. Nếu không tiếp tục thi Đình hoặc vì lý do gì đó không đ­ợc thi Đình thì vẫn chỉ có học vị h­ơng cống hoặc cử nhân. Chỉ sau khi thi Đình, ng­ời trúng cách thi Hội mới đ­ợc xếp loại đỗ và mới đ­ợc công nhận là có học vị tiến sĩ các loại.

Năm 1829 vua Minh Mạng chủ tr­ơng lấy thêm học vị phó bảng để có sự phân biệt với cử nhân, có thể bổ dụng tr­ớc. Từ năm này các thí sinh đỗ thi Hội đ­ợc chia làm hai bảng theo số điểm bài thi: chánh bảng và phó bảng. Chánh bảng là đỗ chính thức, phó bảng là bảng phụ, lấy đỗ thêm. Cũng năm 1829 nhà Nguyễn chủ tr­ơng thay đổi cách chấm thi Hội, chấm theo phân số từ 1 phân đến 10 phân, thêm một bậc d­ới 1 phân (không gọi là không điểm) thành 11 bậc nh­ cách cho điểm trên 10 ngày nay. Thang đánh giá mới này nhiều bậc hơn, đánh giá chính xác hơn bài thi của thí sinh. Chỉ riêng thi Hội, thi Đình chấm theo phân số, thi H­ơng vẫn chấm theo xếp loại 4 bậc. Theo cách chấm mới, mỗi thí sinh đều đ­ợc cộng điểm của 4 bài thi lại.

Điểm đặc biệt nhất của thi Hội là thí sinh đỗ chính thức xong không có học vị, phải qua thi Đình mới đ­ợc xếp loại đỗ và mới đ­ợc nhận học vị tiến sĩ. Cho nên đó là một khoa thi ch­a hoàn chỉnh, là phần đầu của khoa thi tiến sĩ, nó phải đ­ợc hoàn chỉnh bằng khoa thi Đình. T­ cách ch­a hoàn chỉnh này chỉ đến năm 1442 mới có. Nh­ng nó vẫn là khoa thi riêng và từ 1442 trở đi mới có hội nguyên.

Thi Đình là khoa thi do Triều đình trực tiếp là vua, có một số đại thần giúp việc đứng ra tổ chức chỉ đạo chấm thi, xếp loại đỗ... khoa thi Đình là khoa thi tiếp nối của thi Hội. Theo quy định nó đ­ợc tổ chức sau khi kết thúc thi Hội một tháng, thông th­ờng thì khoảng hơn 1 tháng, có khi 2 - 3 tháng hoặc lâu hơn mới thi đ­ợc. Có khi thi Hội xong vào tháng một tháng chạp năm tr­ớc mà đến tháng hai, tháng ba, tháng t­ năm sau mới thi Đình đ­ợc. Tuy thế ng­ời ta vẫn lấy năm thi Hội để gọi tên khoa thi tiến sĩ. Điều đó cũng chứng tỏ khoa thi Đình là nửa cuối của khoa thi tiến sĩ. Nhiệm vụ của thi Đình không phải là lấy đỗ thí sinh mà chỉ là xếp loại để cho ng­ời đủ đỗ thi Hội. Thi Đình có một hệ máy lãnh đạo riêng. Thời Lê là các chức đề điệu, giám thí. Ng­ời chấm về nguyên tắc là vua. Để giúp vua chấm tr­ớc, có nhận xét và dự kiến điểm rồi báo cáo vua để vua xét và đọc một số quyển cần thiết là chức Độc quyển (đọc quyển thi) đây là chức quan đặc biệt chỉ thi Đình mới có. Bộ phận làm hành chính thi cử có các chức di phong, soạn t­ liệu, đằng lục, đối độc với số ng­ời rất ít. Trong đời Nguyễn quan chức làm thi Đình còn ít hơn. Vua đã trực tiếp chỉ đạo thi thì chức chánh phó chủ khảo không cần có, chỉ có mấy viên độc quyển, thu quyển, duyệt quyển và một số th­ lại giúp việc. Việc chấm thi Đình hoàn toàn giống thi Hội. Từ đời Lê dùng thang đánh giá 4 bậc, đến 1829 dùng thang đánh giá 10 phân nh­ thi Hội, căn cứ vào điểm thi mà xếp loại các bậc Tam khôi, Hoàng giáp, Tiến sĩ và phó bảng (xem chi tiết ở bài sau).

Điểm đặc biệt của thi Đình từ sau 1442 là: Thi Đình vừa là khoa thi riêng (tách khỏi thi Hội, có quan chức làm thi riêng, đối t­ợng dự thi riêng...) lại vừa là kỳ thi cuối cùng của thi Hội, hoàn chỉnh công việc của khoa thi tiến sĩ.

T­ cách hai mang và nhiêu khê này của thi Đình bắt nguồn từ một sự việc cụ thể đời Tống ở Trung Quốc. Năm 975 đời Tống Thái Tổ, Hàn lâm viện học sĩ Lý Ph­ơng lấy đỗ đánh hỏng không công bằng, sĩ tử tố cáo với vua và xin vua cho phúc thí. Nhà vua đã tổ chức thi lại tiện điện của hoàng đế, thân ra đề thi phúc khảo để trừ bỏ tệ lậu. Năm 977 ông lại tổ chức phúc thí lần thứ hai. Về sau cách làm này đ­ợc định chế hóa, thành một kỳ thi riêng.

Sự nhiêu khê này đ­ợc nhà vua chấp nhận là điều dễ hiểu. Nó chính là một dịp để nhà vua khẳng định vị trí tối cao và quyền uy tối th­ợng của mình, đề cao hoàng quyền, lấn át t­ớng quyền, để nhà vua hiểu biết tài năng, t­ cách của những đại trí thức chỉ ít năm nữa sẽ là cận thần của mình, sẽ là ng­ời phò tá tự v­ơng sau này. Song sĩ tử cũng rất vui lòng chấp nhận sự nhiêu khê này, vì đây là dịp để các học trò chân trắng chỉ một b­ớc đã đ­ợc "vua biết mặt, chúa biết tên", có lợi cho con đ­ờng sĩ hoạn của mình về sau, là dịp để tỏ rõ vị trí của kẻ sĩ đối với toàn xã hội, là ng­ời đứng đầu tứ dân (sĩ, nông, công, thương).

Tila
01-27-2003, 01:10 AM
Kỳ 4: Việc xếp loại đỗ đại khoa tr­ớc năm 1472. Tam giáp, tam khôi

Thông th­ờng ng­ời ta gọi những ng­ời đỗ các khoa thi do triều đình tổ chức là đỗ đại khoa để phân biệt với đỗ thi H­ơng ch­a phải là đại khoa. Khác với học vị thi H­ơng, nhằm bổ dụng ng­ời làm quan ở các địa ph­ơng, chỉ bao gồm 2 loại: bậc cao là h­ơng cống, cử nhân, bậc thấp là sinh đồ, tú tài, học vị cấp cho ng­ời thi đỗ đại khoa bao gồm nhiều loại khác nhau, đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng đa dạng hơn cho bộ máy hành chính cấp Trung ­ơng ngày càng phức tạp hơn.

Trong đời Lý, sử sách chép 9 khoa thì chỉ có 1 khoa thi con em tam giáo năm 1196 (nội dung thi: chép thơ cổ, toán, thơ phú, kinh nghĩa) là có sự phân loại thành cập đệ và xuất thân.

Trong đời Trần có 17 khoa (7 khoa thi Thái học sinh, 7 khoa thi Đại tỷ, 3 khoa thi khác lấy ng­ời hầu vua học, hầu Thái tử học và lấy ng­ời vào quán, các làm việc) thì ngay từ khoa thi đầu tiên năm 1232 đã phân loại đỗ thành 3 loại (Tam giáp) là đệ nhất giáp (loại nhất) đệ nhị giáp (loại nhì) đệ tam giáp (loại ba). Các khoa thi Thái học sinh về sau đều chia theo tam giáp nh­ vậy. Đối với thi Thái học sinh chỉ thấy lấy có 1 khôi nguyên là ng­ời đỗ đầu. Hai khoa thi Đại tỷ đầu tiên vào hai năm 1246 và 1247 cũng lấy đỗ theo tam giáp, trong đó đệ nhất giáp là Tam khôi gồm có 3 bậc (đệ) là Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa. Trong hai khoa thi Đại tỷ thứ ba và thứ t­ vào các năm 1256 và 1266 nhà Trần lại làm một việc ít thấy là lấy đỗ bậc Tam khôi 4 ng­ời trong đó Trạng nguyên có 2 ng­ời là Kinh trạng nguyên và Trại trạng nguyên. Kinh Trạng nguyên là Trạng nguyên quê ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Trại Trạng nguyên là Trạng nguyên của vùng Thanh Hóa, Nghệ An (bao gồm cả Hà Tĩnh và huyện Quảng Trạch ngày nay, đến bờ bắc sông Gianh). Hai đơn vị hành chính này đ­ợc gọi tên là Trại từ năm 1256 nên mới có tên Trại Trạng nguyên. Từ khoa thi đại tỷ năm 1275, Trại Trạng nguyên bị bãi bỏ, ng­ời đỗ Trạng nguyên khoa này là Đào Tiêu vốn là ng­ời Đông Sơn, Thanh Hóa, nên việc lấy Trại trạng nguyên trở thành vô nghĩa. Tên của 3 bậc của Tam khôi đ­ợc gọi theo Trung Quốc. Ơở Trung Quốc Trạng nguyên còn đ­ợc gọi là Trạng đầu (nguyên nghĩa là đầu). Ng­ời đi thi phải khai một bản sơ yếu lý lịch gọi là hành trạng, đem nộp cho chính quyền (đầu trạng) để đ­ợc xét cho đi thi, và thi mà đỗ đầu thì gọi là Trạng đầu hay Trạng nguyên. Bảng nhãn là mắt bảng. Lúc đầu hai ng­ời đỗ thứ hai và thứ ba đều đ­ợc gọi là mắt bảng. Thám hoa là Thăm hoa, tên gọi ngắn gọn của Thám hoa lang, ng­ời đỗ tiến sĩ trẻ tuổi nhất của khoa thi. Tất cả các tiến sĩ đều đ­ợc dẫn đi xem hoa ở v­ờn Th­ợng Uyển của vua. Về sau Thám hoa dùng để chỉ ng­ời đỗ thứ ba của khoa thi, bảng nhãn dùng để chỉ ng­ời đỗ thứ hai cho có phân biệt. Năm 1304 nhà Trần lại ban cho ng­ời đỗ đầu đệ nhị giáp danh hiệu Hoàng giáp. Ng­ời đỗ Hoàng giáp đầu tiên là Nguyễn Trung Ngạn. Học vị này đ­ợc dùng để ban cho La Tu đỗ hoàng giáp khoa thi Đại tỷ cuối cùng năm 1374. Danh hiệu hoàng giáp với t­ cách là tên chính chỉ ban cho 2 ng­ời, còn danh hiệu hoàng giáp về sau chỉ là tên thông tục để gọi những ng­ời đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ.

Đời Hồ chỉ có 2 khoa thi. Khoa thứ nhất thi Thái học sinh vào năm 1400. Lúc này ch­a thấy nói có quy định mới về thi, hẳn là theo nh­ các quy định đã có trong đời Trần về thi Thái học sinh, cũng phân ra Tam giáp và lấy ng­ời đỗ đầu là L­u Thúc Kiệm. Năm 1404, Hồ Hán Th­ơng định thế tức chọn nhân tài: "Cứ tháng 8 năm nay thi H­ơng, ai đỗ đ­ợc miễn lao dịch; tháng 8 năm sau thi ở Bộ lễ, ai đỗ thi đ­ợc tuyển bổ; lại tháng 8 năm sau nữa thi Hội, ai đỗ đ­ợc bổ Thái học sinh. Rồi năm sau nữa lại bắt đầu thi H­ơng nh­ năm tr­ớc. Bấy giờ học trò chuyên nghiệp học hành, mong đ­ợc bổ dụng nh­ng mới đ­ợc thi ở Bộ Lễ rồi gặp loạn phải thôi. Phép thi phỏng theo lối văn tự 3 tr­ờng của nhà Nguyên, nh­ng chia làm 4 kỳ, lại có kỳ thi viết chữ và thi Toán thành ra 5 kỳ (trích Đại Việt sử ký toàn th­). Theo quy định này, Hồ Hán Th­ơng tổ chức đ­ợc 1 khoa thi H­ơng vào năm 1404 và 1 khoa thi Lễ bộ cử nhân vào năm 1405 lấy đỗ 170 ng­ời. Cho Hồ Ngạn Thần (đỗ đầu) và Lê Củng Thần làm Thái học sinh lý hành (thái học sinh ch­a chính thức)...

Sang đời Lê, trong khoa thi tiến sĩ đầu tiên và thứ hai (1442, 1448) ng­ời đỗ tiến sĩ đ­ợc phân làm Tam giáp, đệ nhất giáp có Tam khôi. Cả 3 khoa này đều xếp đệ nhất giáp và đệ nhị giáp vào chính bảng và đệ tam giáp vào phụ bảng, phân ra Là đỗ chính thức và đỗ thêm. Năm 1458, Lê Nghi Dân giết mẹ con Lê Nhân Tông để c­ớp ngôi, không tổ chức thi Đình, lấy kết quả thi Hội để công nhận mà không xếp loại đỗ tiến sĩ (khoa này 4 ng­ời đỗ). Việc xếp đệ tam giáp tiến sĩ vào phụ bảng, khiến cho ng­ời đỗ đệ tam giáp tiến sĩ không hài lòng vì họ cùng thi cùng đỗ với đệ nhất, đệ nhị giáp, chỉ có mức độ kém hơn. Lê Thánh Tông lên ngôi đã sửa đổi lại, xếp thành cập đệ và xuất thân (1463). Năm 1466, không lấy tiến sĩ cập đệ, lại chia thành tiến sĩ và đồng tiến sĩ.

Năm 1472, sau khi đã định quan chế (1471), Lê Thánh Tông thấy cần thiết phải định t­ cách tiến sĩ để làm chuẩn cho việc bổ quan chức đối với các Tân khoa tiến sĩ. Ông đã làm việc này đồng thời với quy định phân loại đỗ và học vị tiến sĩ các loại. Quy định này đ­ợc áp dụng từ năm 1472 qua các đời Lê sơ, Mạc, Lê Trung h­ng và cả đời Nguyễn, cho đến tận năm 1919 khi bãi bỏ thi Nho học mới thôi.

Năm 1442 Lê Thái Tông đã quy định lập bia ghi tên danh sách tiến sĩ đỗ, nh­ng có chủ tr­ơng mà ch­a làm. Năm 1484, Lê Thánh Tông chủ tr­ơng thực hiện lập bia tiến sĩ. Từ năm 1642 đến 1484 có tất cả 10 khoa ch­a làm bia. Nh­ng việc phân loại đỗ của các khoa không hoàn toàn giống nhau. Nhân việc này Th­ợng th­ Bộ lễ Quách Đình Bảo xin đổi lại việc phân loại đỗ và tên các vị Tam khôi của các khoa tr­ớc năm 1472 cho phù hợp với quy định chung thời đó. Vì thế danh hiệu chính thức đến 1472 mới đặt mà danh hiệu đó lại dùng để chỉ ng­ời đỗ tr­ớc năm 1472 khiến cho ng­ời nghiên cứu vấn đề này cảm thấy lúng túng.

Có thể nói năm 1484 là năm hoàn chỉnh toàn bộ việc phân loại tiến sĩ và định danh hiệu tiến sĩ từ đầu triều Lê theo quy định của năm 1472.

Tila
01-27-2003, 01:11 AM
Kỳ 5: Học vị Tiến sĩ và Phó bảng

Năm 1472, Lê Thánh Tông phân loại tiến sĩ thành ba loại (tam giáp) cùng với việc định t­ cách tiến sĩ để bổ chức quan nh­ sau:

1. Loại thứ nhất (đệ nhất giáp) có tên là "Tiến sĩ cập đệ".

Loại này lại đ­ợc chia thành ba bậc (đệ) nh­ sau:

- Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, đệ nhất danh (tên cũ là Trạng nguyên) đ­ợc bổ chức quan Chánh lục phẩm, 8 t­.

- Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, đệ nhị danh (tên cũ là Bảng Nhãn) đ­ợc bổ chức quan Tòng lục phẩm, 7 t­.

- Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, đệ tam danh (tên cũ là Thám hoa) đ­ợc bổ chức quan Chánh thất phẩm, 6 t­.

2. Loại thứ hai (đệ nhị giáp) có tên là "Tiến sĩ xuất thân" (về sau th­ờng đ­ợc gọi là hoàng giáp).

Loại này không chia bậc, chỉ xếp thứ tự, ai đỗ cao hơn đ­ợc xếp ở trên. Khi bổ quan đ­ợc lĩnh chức có hàm Tòng thất phẩm, 5 t­.

3. Loại thứ ba (đệ tam giáp) có tên là "Đồng Tiến sĩ xuất thân" (về sau th­ờng đ­ợc gọi là đồng tiến sĩ, hoặc tiến sĩ).

Loại này cũng không chia bậc, chỉ xếp thứ tự, ai đỗ cao hơn đ­ợc xếp ở trên. Khi bổ chức quan đ­ợc lĩnh chức có hàm chánh bát phẩm, 4 t­.

T­ nói đơn giản là một bậc của 24 bậc thăng quan tiến chức. Từ cửu phẩm đến nhất phẩm có 9 phẩm 18 t­, mỗi phẩm 2 t­ là tòng và chánh. Cao hơn 18 t­ là 6 t­ để ban cho đại thần, r­ờng cột của triều đình.

Cập đệ một mặt có nghĩa là thi đỗ, đồng thời theo quy định lại là loại đỗ cao phải trình vua chọn bổ ngay. Trong đời Nguyễn, tiến sĩ cập đệ đ­ợc xét bổ dụng ngay, trong khi tiến sĩ xuất thân và đồng tiến sĩ xuất thân (sau thêm cả phó bảng) chỉ đ­ợc bổ chức quan để ăn l­ơng rồi vào làm việc nghiên cứu học tập thêm 3 năm, sau đó sát hạch, đủ tiêu chuẩn mới chính thức bổ làm quan để làm việc Nhà n­ớc. Xuất thân là ra làm quan với t­ cách là ng­ời đ­ợc đào tạo chính quy, có bằng cấp hẳn hoi (có xuất thân) không phải là đ­ợc tuyển dụng ngang (không có xuất thân). Nó hoàn toàn không có nghĩa là gốc gác từ đâu ra nh­ cụm từ thành phần xuất thân trong việc khai lý lịch hiện nay. Đồng nghĩa là cùng, đồng tiến sĩ có nghĩa là cùng tiến sĩ, cùng hàng cùng loại với tiến sĩ, nh­ng thứ bậc có kém hơn một chút, t­ơng tự nh­ đồng tri phủ (phó tri phủ), đồng Tri châu (phó Tri châu)...

Việc xếp loại nh­ trên đã đ­a đệ tam giáp tiến sĩ vào loại chính bảng (đỗ chính thức), không liệt họ vào loại đỗ phụ bảng (đỗ thêm) nh­ tr­ớc. Nó xóa đi cách biệt chính bảng, phụ bảng mà vẫn duy trì thứ bậc, các loại tiến sĩ một cách hợp lý.

Từ sau quy định năm 1472, tuy tên các học vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa và tr­ớc đó cả hoàng giáp đều không có duy trì chính thức nữa, nh­ng ng­ời ta vẫn dùng các danh hiệu này để gọi một cách thông tục, thành tên th­ờng gọi ngắn gọn, thay cho tên chính thức quá dài. Nh­ vậy chỉ còn đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân ch­a có tên gì ngắn gọn, mới đầu ng­ời ta gọi là "đồng tiến sĩ". Song càng ngày số tiến sĩ cập đệ và tiến sĩ xuất thân đ­ợc lấy trong một khoa thi càng chiếm tỷ lệ thấp đi, số đồng tiến sĩ xuất thân càng chiếm tỉ lệ cao lên. Cho nên đỗ đ­ợc đệ tam giáp tiến sĩ cũng là giỏi lắm, đồng tiến sĩ ngày càng đ­ợc tăng giá trị, ng­ời ta gọi ngắn hơn nữa là tiến sĩ mà chẳng sợ lẫn với các loại trên, lại tỏ lòng quý trọng họ. Nh­ng từ cách gọi thông tục, ngắn gọn này không nên suy ra rằng chỉ có đệ tam giáp đồng tiến sĩ mới có tên gọi là tiến sĩ, còn các vị khác thì không phải, rằng từ "ông Nghè" chỉ dùng để gọi các đệ tam giáp đồng tiến sĩ mà thôi.

Năm 1829, vua Minh Mạng chủ tr­ơng lấy thêm học vị Phó bảng "để bổ dụng tr­ớc cho đ­ợc phân biệt với cử nhân, giám sinh không cập cách" (trích Đại Nam thực lục) thí sinh đỗ thi Hội đ­ợc phân làm 2 bảng là chính bảng và phó bảng cách biệt khá xa. Ngày ra bảng thi Hội, bảng danh sách các chánh bảng đ­ợc đặt lên án đỏ, có khăn đoạn vàng trùm kín, che lọng đỏ. Aán khiêng đi tr­ớc, các quan giám thí tuần sát đem quân lính đi sau hộ vệ, rồi đến quan chủ khảo, quan Tri cống cử ngồi võng đi theo, đến Ngọ môn thì dừng lại đem danh sách vào trình vua theo nghi thức, sau đó lại đem ra rồi cả đoàn lại cứ thế đi đến Phu văn lâu đem bảng treo lên 3 ngày. Bảng danh sách Phó bảng chỉ đ­ợc đem treo ở Phu văn lâu một ngày, hôm sau cất đi, không có nghi lễ gì.

Điều quan trọng nhất là Phó bảng không đ­ợc dự thi Đình để xếp loại tiến sĩ. Từ năm 1851 vua Tự Đức có cho thêm một số Phó bảng có điểm số thi Hội gần với điểm chuẩn đỗ chánh bảng đ­ợc tham dự thi Đình để có thêm cơ hội phấn đấu. Nếu đạt điểm chuẩn đỗ tiến sĩ thì đ­ợc công nhận là tiến sĩ, nếu không đạt vẫn đ­ợc công nhận là Phó bảng.

Cũng năm 1829, nhà Nguyễn tổ chức chấm thi Hội theo thang đánh giá 10 phân (11 bậc) nh­ đã trình bày ở bài tr­ớc. Việc đánh giá theo thang điểm này chặt chẽ hơn thi H­ơng, nh­ng khi thi Đình tinh thần đánh giá, chấm bài còn chặt chẽ hơn nữa: "Văn đình đối sự lý quan trọng hơn, nên phân số nghiệt hơn một bậc (nh­ văn lý thi Hội đ­ợc 2 phân thì thi Điệu chỉ cho 1 phân)" (trích Đại Nam thực lục). Theo quy định của nêm 1829 khi thi Đình nếu ai:

- Đạt 10 điểm, đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ nhất danh (Trạng nguyên).

- Đạt 9 điểm, đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ nhị danh (Bảng nhãn).

- Đạt 8 điểm, đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ tam danh (Thám hoa).

- Đạt 7 và 6 điểm, đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp).

- Đạt 5 điểm trở xuống đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân (đồng tiến sĩ).

Năm 1851 khi cho một số phó bảng dự thi Đình, vua Tự Đức giữ nguyên tiêu chuẩn đỗ tiến sĩ cập đệ và tiến sĩ xuất thân, sửa lại tiêu chuẩn đỗ đồng tiến sĩ xuất thân nh­ sau:

- Đạt 5 điểm đến 4 điểm đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân (đồng tiến sĩ).

- Đạt 3 điểm trở xuống đỗ phó bảng.

Việc phân chia loại đỗ tiến sĩ và phó bảng nh­ trên chẳng khác mấy với việc phân chia các loại đỗ thành giỏi, khá, trung bình và th­ờng hiện nay.

Với tinh thần chấm thi chặt chẽ của thi Đình, lại lấy vua và đại thần có vai trò quyết định vận mệnh của đất n­ớc để chấm bài thi cho sinh viên mà nội dung bài thi bàn về việc giải quyết các vấn đề thời sự mà đất n­ớc đang phải giải quyết thì làm sao có đ­ợc điểm 10? cho nên Nhà Nguyễn không bao giờ cần phải tuyên bố không lấy Trạng nguyên mà trong thực tế không khoa thi Tiến sĩ nào lấy đ­ợc Trạng nguyên, dù vẫn có tiêu chuẩn đỗ Trạng nguyên.

Đỗ Phó bảng, đối với ng­ời có tài lớn, thật là một điều đáng buồn vì không bao giờ họ còn đ­ợc thi lại để đạt học vị tiến sĩ. Tr­ờng hợp của Vũ Duy Thanh đỗ Phó bảng năm 1851 rồi cùng năm đó lại đỗ Bảng nhãn khoa Bác học hoành tài là hết sức hiếm có. Dù sao đa số Phó bảng cũng đ­ợc an ủi là có học vị chính thức. Tr­ớc 1829 những ng­ời nh­ họ chẳng đ­ợc học vị gì hơn cử nhân.

Tila
01-27-2003, 01:13 AM
Kỳ cuối: Ng­ời đỗ đầu ở các khoa thi - Song nguyên, Tam nguyên

Khoa thi nào cũng có ng­ời đỗ đầu, còn gọi là Khôi nguyên. Đáng tiếc là sử sách đã bỏ qua không chép về ng­ời đỗ đầu của nhiều khoa thi, đặc biệt là các khoa thi h­ơng thời Lê không đ­ợc chép gì cả. Thời Lý có đến 9 khoa thi mà chỉ có 3 khoa có chép tên ng­ời đỗ đầu.

1. Đỗ đầu khoa thi H­ơng

Tên thông dụng nhất gọi ng­ời đỗ đầu khoa thi H­ơng là Giải nguyên, có sách còn gọi là H­ơng nguyên. Trong đời Nguyễn ở vùng Nam Kỳ (nay là Nam Bộ) ng­ời ta lại gọi là Thủ khoa, ví dụ Thủ khoa Nghĩa (Bùi Hữu Nghĩa), thủ khoa Huân (Nguyễn Hữu Huân). Số ng­ời đ­ợc lấy đỗ trong một khoa thi H­ơng ở một tr­ờng thi nhất định gọi là giải ngạch thi H­ơng, ng­ời đỗ đầu là Giải nguyên. Cả hai từ này đều là từ của Trung Quốc, đ­ợc ta m­ợn dùng khi tổ chức thi H­ơng theo cách làm của Trung Quốc.

Tr­ớc khi tổ chức thi H­ơng ng­ời ta phải tổ chức kiểm tra trình độ kiến thức của thí sinh bằng 1 kỳ khảo hạch, ai đỗ khảo hạch thì đ­ợc đi thi H­ơng. Ng­ời đỗ đầu kỳ khảo hạch gọi là đỗ đầu xứ, do chỗ khảo hạch đ­ợc quan cấp trấn (cũng gọi là xứ) tổ chức thi khảo cho thí sinh trong cả trấn (xứ). Trong đời Nguyễn quan cấp tỉnh đ­ợc giao nhiệm vụ khảo hạch, ng­ời đỗ đầu có lúc đã gọi là Tỉnh nguyên (đỗ đầu tỉnh) nh­ng rồi dân chúng và nho sĩ vẫn dùng từ Đầu xứ.

Giải nguyên, Đầu xứ chỉ là danh hiệu vinh dự, ng­ời đỗ Giải nguyên, Đầu xứ chẳng có quyền lợi gì hơn ng­ời khác cùng đỗ.

2. Đỗ đầu khoa thi Hội

Ng­ời đỗ đầu khoa thi Hội chỉ có một tên gọi duy nhất là Hội nguyên. Đó cũng là danh hiệu vinh dự mà thôi, không phải là học vị chính thức vì sau khi thi Hội, thí sinh ch­a đ­ợc ban cấp học vị gì. Tuy vậy cũng có một số ít khoa thi tiến sĩ chỉ có thi Hội, không có thi Đình, lấy kết quả thi Hội để xếp loại và công nhận học vị tiến sĩ. Ng­ời đỗ Hội nguyên các khoa này trong thực tế gần nh­ Đình nguyên vì mặc nhiên đ­ợc công nhận là ng­ời đỗ cao nhất của khoa thi tiến sĩ năm đó. Ngoài ra trong tr­ờng hợp Triều đình ch­a tổ chức thi tiến sĩ hoặc thi đại tỷ mà chỉ tổ chức một khoa thi t­ơng tự để chọn nhân tài thì khoa thi này đ­ợc coi nh­ t­ơng đ­ơng thi Hội, ng­ời đỗ cũng thuộc loại đỗ đại khoa và ng­ời đỗ đầu cũng mặc nhiên đ­ợc thừa nhận là ng­ời đỗ đầu đại khoa đ­ợc các sách chép tên (nếu không coi là đại khoa ng­ời ta không chép).

3. Đỗ đầu khoa thi Đình

Ng­ời đỗ đầu khoa thi Đình đ­ợc gọi là Đình nguyên, cũng là danh hiệu vinh dự cho ng­ời đỗ đầu khoa thi tiến sĩ của năm tổ chức thi. Do học vị tiến sĩ có 3 loại (tam giáp), riêng loại thứ nhất lại gồm 3 bậc, nên tùy theo khoa thi Đình năm đó lấy đến học vị nào là cao nhất mà ng­ời ta có Đình nguyên Trạng nguyên, Đình nguyên Bảng nhãn, Đình nguyên Thám hoa hay Đình nguyên Hoàng giáp, thậm chí Đình nguyên Đồng tiến sĩ. Ng­ời đỗ Phó bảng ch­a đ­ợc là tiến sĩ, cho nên không bao giờ có Đình nguyên là Phó bảng, nh­ng đã có tr­ờng hợp Hội nguyên là Phó bảng, vì thi Hội đỗ Hội nguyên nh­ng thi Đình chỉ đủ điểm đỗ Phó bảng.

Song nguyên và Tam nguyên

Song nguyên là ng­ời đỗ đầu cả hai khoa thi Hội và thi Đình trong một khoa thi tiến sĩ. Đỗ Hội nguyên và Giải nguyên hoặc Đình nguyên và Giải nguyên không phải là song nguyên. Đỗ đầu cả thi Hội, thi Đình lẫn cả thi H­ơng đ­ợc gọi là Tam nguyên. Tam nguyên có thể đỗ đầu giải nguyên khoa thi H­ơng năm tr­ớc, năm sau lại đỗ đầu thi Hội, thi Đình (nh­ Trần Bích San) có thể đỗ đầu thi H­ơng năm này, sau đó học tập ở Quốc Tử Giám 3 hoặc 6 năm sau mới thi đỗ khoa thi Hội, thi Đình (nh­ Nguyễn Khuyến, Vũ Phạm Hàm). Do nội dung của Song nguyên và Tam nguyên nh­ thế nên từ khi tách riêng thi H­ơng, thi Hội, thi Đình và có đủ các khoa này từ năm 1442 mới có đ­ợc Song nguyên và Tam nguyên. Từ 1442 đến 1919 có tất cả 165 khoa thi Hội và cũng có gần tới 165 khoa thi Đình, song chỉ có 20 vị đỗ song nguyên, phân ra nh­ sau:

- Triều Lê sơ: 1 ng­ời: Lê Nại

- Triều Mạc: 4 ng­ời: Nguyễn Thiếu, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đặng Thì Thố, Nguyễn Giáo Ph­ơng.

- Triều Lê Trung h­ng: 11 ng­ời: Giang Văn Minh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Xuân Chính, Nguyễn Đăng Cảo, Nguyễn Đình Trụ, Ngô Công Trạc, Nguyễn Quyền, Vũ Công Tể, Ngô Thì Sĩ, Hồ Sĩ Đống, Bùi D­ơng Lịch.

- Triều Nguyễn 4 ng­ời: Nguyễn Cửu Tr­ờng, Nguyễn Ngọc, Nguyễn Khắc Cần, V­ơng Hữu Phu.

Cũng từ 1442 đến 1919 có 7 vị Tam nguyên là:

- Phạm Đôn Lễ, Trạng nguyên năm 1481, quê xã Hải Trào, Ngự Thiên, Sơn Nam.

- Vũ D­ơng, Trạng nguyên năm 1493, quê Mạn Nhuế, Thanh Lâm, Hải D­ơng.

- Nguyễn Đăng, Hoàng giáp năm 1602, Đại Toán, Quế D­ơng, Kinh Bắc.

- Lê Quý Đôn, Bảng nhãn năm 1752, xã Duyên Hà, Duyên Hà, Sơn Nam Hạ.

- Trần Bích San, Hoàng giáp năm 1865, Vị Xuyên, Mỹ Lộc, Nam Định.

- Nguyễn Khuyến, Hoàng giáp năm 1871, thôn Vị Hạ, xã Yên Đổ, Bình Lục, Hà Nội.

- Vũ Phạm Hàm, Thám hoa năm 1892, Đôn Th­, Thanh Oai, Hà Nội.

Ngoài 7 vị nói trên còn 1 vị nữa Đào S­ Tích, đỗ Trạng nguyên năm 1374 đời Trần, quê ở xã Cổ Lễ, huyện Tây Chân (nay thuộc Nam Trực) phủ Thiên Tr­ờng (nay thuộc Nam Định). Ông đ­ợc sách chép: từ thi H­ơng đến thi Đình đều đỗ đầu. Tiếc rằng, nh­ Phan Huy Chú đã chép, từ 1442 mới có Hội nguyên, nên không xếp ông vào danh sách Tam nguyên đ­ợc.

(Theo Nguyễn Tiến C­ờng - báo Giáo Dục Thời Đại số 42 - 47/1998)

DANH SÁCH CÁC TRẠNG NGUYÊN DƯỚI THỜI PHONG KIẾN

Triều Trần (9 vị):

1. Nguyễn Quan Quang (đỗ năm 1246) (quê Tam Sơn, Tiên Sơn, Bắc Ninh). Trạng nguyên đầu tiên của Việt Nam.

2. Nguyễn Hiền (1247), (D­ơng Aá, Nam Thắng, Nam Trực, Nam Định).

3. Trần Quốc Lặc (1256), (Uông Hạ, Minh Tân, Nam Thanh, Hải D­ơng)

4. Tr­ơng Xán (1256) Trại Trạng nguyên (Hoành Bồ, Hoành Sơn, Quảng Trạch, Quảng Bình)

5. Trần Cố (1266), (Phạm Lý, Ngô Quyền, Ninh Thanh, Hải D­ơng).

6. Bạch Liêu (1266) Trại Trạng nguyên (Nguyễn Xá, Diễn Ninh, Diễn Châu, Nghệ An)

7. Đào Tiêu (1275) (Yên Hồ, Đức Thọ, Hà Tĩnh).

8. Mạc Đĩnh Chi (1304) (Lũng Động, Nam Tân, Nam Thanh, Hải D­ơng)

9. Đào S­ Tích (1374) (Lý Hải, Song Khê, Yên Dũng, Bắc Giang).

Triều Lê sơ (21 vị):

1. Nguyễn Trực (1442) (Bối Khê, Tam H­ng, Thanh Oai, Hà Tây)

2. Nguyễn Nghiêu T­ (1448) (Phù L­ơng, Phù T­ơng, Quế Võ, Bắc Ninh).

3. L­ơng Thế Vinh (1463) (Cao Ph­ơng, Liên Bảo, Vụ Bản, Nam Định)

4. Vũ Kiệt (1472) (Yên Việt, Thuận Thành, Bắc Ninh).

5. Vũ Tuấn Chiêu (1475) (Nhật Tảo, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội).

6. Lê Quảng Chí (1478) (Kỳ Ph­ơng, Kỳ Anh, Hà Tĩnh)

7. Phạm Đôn Lễ (1481) (Hải Triều, Phạm Lễ H­ng Hà, Thái Bình)

8. Nguyễn Quang Bật (1484) (Bình Ngô, An Bình, Thuận Thành, Bắc Ninh).

9. Trần Sùng Dĩnh (1487) (Đồng Khê, An Lâm, Nam Thanh, Hải D­ơng)

10. Vũ Duệ (1490) (Trịnh Xá, Lê Tinh, Sông Thao, Phú Thọ)

11. Vũ D­ơng (đỗ năm 1493) (Mao Nhuế, Thanh Lâm, Nam Sách, Hải D­ơng)

12. Nghiêm Viện (đỗ năm 1496) Bồng Lai, Quế Võ, Bắc Ninh).

13. Đỗ Lý Khiêm (đỗ năm 1499) (Ngoại Lãng, Song Lãng, Vũ Th­, Thái Bình)

14. Lê Iích Mộc (đỗ năm 1502) (Thanh Lãng, Quảng Thanh, Thanh Thủy, Hải Phòng).

15. Lê Nại (đỗ năm 1505) (Mộ Trạch, Tân Hồng, Cẩm Bình, Hải D­ơng)

16. Nguyễn Giản Thanh (đỗ năm 1508) (Ông Mại, H­ơng Mạc, Tiên Sơn, Bắc Ninh)

17. Hoàng Nghĩa Phú (đỗ năm 1511) (Mạc Xá, Ch­ơng Mỹ, Hà Tây).

18. Nguyễn Đức L­ợng (đỗ năm 1514) (Canh Hoạch, Dân Hòa, Thanh Oai, Hà Tây)

19. Ngô Miễn Thiệu (đỗ năm 1518) (Tam Sơn, Tiên Sơn, Bắc Ninh)

20. Hoàng Văn Tán (đỗ năm 1523) (Xuân Lộc, Tam Giang, Yên Phong, Bắc Ninh).

21. Trần Tất Văn (đỗ năm 1526) (Nguyệt Aáng, Thái Sơn, An Lão, Hải Phòng).

Đời Mạc (11 vị):

1. Đỗ Tông (đỗ năm 1529) (Lại Ôốc, Long H­ng, Mỹ Văn, H­ng Yên).

2. Nguyễn Thiến (đỗ năm 1532) (Canh Hoạch, Dân Hòa, Thanh Oai, Hà Tây)

3. Nguyễn Bỉnh Khiêm (đỗ năm 1535) (Trung Am, Lý Học, Vĩnh Bảo, Hải Phòng)

4. Giáp Hải (đỗ năm 1538) (Dĩnh Trì, Lạng Giang, Bắc Giang)

5. Nguyễn Kỳ (đỗ năm 1541) (Tân Dân, Châu Giang, H­ng Yên)

6. D­ơng Phúc T­ (đỗ năm 1547) (Lạc Đạo, Mỹ Văn, H­ng Yên).

7. Trần Văn Bảo (đỗ năm 1550) (Dứa, Đồng Quang, Nam Trực, Nam Định).

8. Nguyễn L­ơng Thái (đỗ năm 1553) (An Bình, Thuận Thành, Bắc Ninh).

9. Phạm Trấn (đỗ năm 1556) (Đoàn Tùng, Tứ Lộc, Hải D­ơng)

10. Phạm Duy Quyết (đỗ năm 1562) (Kim Khê, Cộng Hòa, Chí Linh, Hải D­ơng).

11. Vũ Giới (đỗ năm 1577) (L­ơng Xá, Phú L­ơng, Gia L­ơng, Bắc Ninh)

Đời Lê Trung h­ng (6 vị):

1. Nguyễn Xuân Chính (đỗ năm 1637) (Phù Chẩn, Tiên Sơn, Bắc Ninh).

2. Nguyễn Quốc Trinh (đỗ năm 1659) (Nguyệt Aáng, Đại Aáng, Thanh Trì, Hà Nội)

3. Đặng Công Chất (đỗ năm 1661) (Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội)

4. L­u Danh Công (đỗ năm 1670) (Ph­ơng Liệt, Đống Đa, Hà Nội)

5. Nguyễn Đăng Đạo (đỗ năm 1683) (Hoài Bão, Liên Bão, Tiên Sơn, Bắc Ninh).

6. Trịnh Tuệ (đỗ năm 1736) (Sóc Biên, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa).

Năm 1075, thời Lý Nhân Tông (1072 - 1128) mở khoa thi Nho học tam tr­ờng đầu tiên ở n­ớc ta, Lê Văn Thịnh đỗ thủ khoa kỳ thi đó (vì triều Lý ch­a lấy đỗ Trạng nguyên) cho nên Lê Văn Thịnh đ­ợc coi nh­ Thủ khoa (t­ơng đ­ơng Trạng nguyên) đầu tiên của n­ớc ta.

Xét về quê quán của 47 vị Trạng nguyên kể trên thì phân ra nh­ sau:

Bắc Ninh: 12 vị
Hải D­ơng: 8 vị
Hà Nội: 4 vị
Hà Tây: 4 vị
Hải Phòng: 3 vị
H­ng Yên: 3 vị
Nam Định: 3 vị
Bắc Giang: 2 vị
Thái Bình: 2 vị
Hà Tĩnh: 2 vị
Phú Thọ: 1 vị
Nghệ An: 1 vị
Thanh Hóa: 1 vị
Quảng Bình: 1 vị
Trong 47 Trạng nguyên, thì Nguyễn Hiền đỗ Trạng nguyên lúc mới 13 tuổi (đỗ Trạng nguyên nhỏ tuổi nhất n­ớc ta).

CAptain DaLaZBoi
01-27-2003, 01:48 AM
Good work...... thankz Tila :)

giatugiatu
01-27-2003, 08:12 PM
Thanks Tila

giatugiatu

Ize
01-28-2003, 06:21 AM
Nhìn thấy tổ tiên ta hình thành & dựng ra cả 1 hệ thống thi cử thật là nhiêu khê. Cám ơn Tila, bài này đọc thật là thú vị tuy là hơi dài & nhất là thiếu chữ ư nên đọc hơi nhức đầu, :) :).

Tila
01-29-2003, 11:56 PM
Các bạn thông cảm nhá. Có một ít lỗi spelling nhỏ và Tila cũng đả cố gắng edit lắm rồi nhưng không có thời gian để edit hết. Thôi để lần sau Tila cố gắng hơn vậy.:)

Ize
01-31-2003, 05:46 PM
Đừng nghĩ là I bắt lỗi Tila ha, chỉ nội cái công Tila ngồi typing hết nhiêu đó không cũng là quá cỡ thợ mộc rồi, cám ơn Tila còn không hết đó mà. Nếu mà ngồi đánh bằng 3 ngón tay như I thì có lẽ chắc phải 1 tuần mới xong quá, :cigar: :cigar: . Thanks again ha.

lost-dude
02-16-2003, 04:42 PM
Bài post rất hay. :)

Tila
02-17-2003, 01:51 AM
:)

luckyforever
04-20-2003, 12:57 AM
Your so funny, Ize hahaha...:D :D :D