View Full Version : Danh Nhân Nước Việt - sưu tầm ...
BungRieu
03-20-2003, 09:15 AM
Chào các Anh Chị ...
BR thích các Danh Nhân VN .. nên vẫn mò mẫm trong net ... thấy nhiều bài viết rất hay ... nên mang về để các Anh chị cùng đọc ...
BR sẽ cố gắng nếu thấy đâu có Danh Nhân Việt Nam .. BR sẽ ráng mang về VCB để VCB của mình ngày thêm phần phong phú ....
Nếu các Anh Chị nào có thấy ở đâu có những bài viết về những Danh nhân VN .. xin bỏ chút công mang về để cho mọi người cùng được đọc ....
===========================================
Sau đây là danh sách các Danh nhân VN đã đăng trong đề mục này :
01. Nguyễn Khuyến ...
02. Nguyễn Công Trứ (http://www.vietcyber.net/forums/showpost.php?p=498418&postcount=2) ..
03. Ông Đồ Chiểu (http://www.vietcyber.net/forums/showpost.php?p=498424&postcount=3)
04. Nguyễn Trãi (http://www.vietcyber.net/forums/showpost.php?p=498432&postcount=4) ...
05. Phan Bội Châu (http://www.vietcyber.net/forums/showpost.php?p=498439&postcount=5) ..
06. Trần Tế Xương (http://www.vietcyber.net/forums/showpost.php?p=498592&postcount=6) ...
07. Hồ Xuân Hương (http://www.vietcyber.net/forums/showpost.php?p=498620&postcount=7) (see also 25)
08. Nguyễn Gia Thiều (http://www.vietcyber.net/forums/showpost.php?p=498629&postcount=8) ...
09. Hưng Đạo Vương - Trần Quốc Tuấn (http://www.vietcyber.net/forums/showpost.php?p=498657&postcount=10)
10. An Tư Công Chúa
11. An Thường Công Chúa
12. Ấu Triệu
13. Bát Nàn Công Chúa .
14. Bình Khương Phu Nhân
15. Trưng Nữ Vương ... Anh Thư Khởi Nghĩa Mở Đường ...
16. Bùi thị Xuân ....
17. Cô Bắc ...
18. Cô Giang ...
19. Cô Tâm
20. Cô Nguếch Rừng
21. Chân Thị Bát
22. Đặng Thị Nhu
23. Đinh Phu Nhân
24. Đoàn Thị Điểm (1705-1746)
25. Hồ Xuân Hương (see also 07)
26. Mơ Thành Người Quang Trung
27. Phát Huy Tiếng Nước Nhà - Quốc Học và Sùng Chính Viện Tây Sơn
28. Lập Ðức
29. Ngọc Vân Công Chúa
30. Huyền Trân Công Chúa
31. Bà Huyện Thanh Quan
32. Ngoc Hân Công Chúa - Lê Ngọc Hân
33. Kiến Quốc Phu Nhân
34. Lam Anh
35. Lê Chân
36. Mai Thiện Hoàng Thái Hậu
37. Năng Văn Nữ Sĩ
38. Ngô Chi Lan
39. Nguyễn Nhược Thị 1830-1909
40. Năng Văn Nữ Sĩ
41. Ngô Chi Lan
42. Nguyễn Nhược Thị 1830-1909
43. Nguyễn Thị Bích Châu
44. Nguyễn Thị Kim
45. Nguyễn Thị Khuê
46. Phủ Ba
47. Phan Bội Châu
48. Worldwide Guide to Women in Leadership ; Heads of State of Vietnam
49. Thơ hội, Phan Bội Châu :Hội Trường Ca - Hưng Đạo Ra
50. Văn Lý Và Ngụy Biện, Chơi Chữ
51. Ba Người Trung Liệt
52. Bà Triệu
53. Thánh Thiên Công Chúa
54. Từ Dũ
55. Võ Thị Quyền
56. Thánh Thiên Công Chúa
57. Thúc Khanh Công Chúa
58. Từ Dũ
59. Võ Thị Quyền
60. An Dương Vương
61. An Thuyên Đại Sư
62. Âu Cơ
63. Âu Dương Lân
64. Bích Khuê
65. Bốn Ông (Cai Lậy)
66. Nguyễn Công Trứ
67. Lý Ông Trọng
68. Thần Thoại Lạc Long Quân
69. Phù Ðổng Thiên Vương
70. Đại nghĩa và Dân chài
71. Nguyễn Thái Học
72. Bạch Hoa
.
.
.
.
.
.
100. Danh Ngôn và Thi Văn yêu nước ...(tiết mục này sẽ update đều đặn ...)
BR sẽ cố gắng update mỗi khi có tài liệu ...
Mong các Anh Chị cung đóng góp ....
==========================================
Tuần này ... đặc biệt là cụ:
Tam Nguyên Yên Đổ - Nguyễn Khuyến
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/nguyenkhuyen.jpg
Nguyễn Khuyến lúc nhỏ tên là Thắng, sinh năm Ất Mùi (1835) ở quê mẹ, làng Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định; nhưng ông lớn lên và sống chủ yếu ở quê cha, làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Thủa nhỏ chăm học. Năm 17 tuổi, ông đi thi cùng một khóa với cha, nhưng bị hỏng. Sau đó cha mất, nhà nghèo, Nguyễn Khuyến phải đi dạy học để kiếm sống và nuôi mẹ. Ông nghè Vũ Văn Lí, học trò cũ của ông bác Nguyễn Khuyến thương tình cảnh của Nguyễn Khuyến, đem về nuôi cho ăn học tiếp.
Năm 1864, Nguyễn Khuyến thi hương đậu giải nguyên (đậu đầu); năm sau thi hội bị hỏng, ông vào kinh theo học trường Quốc Tử Giám. Năm 1871, ông thi lại lần nữa và đỗ liền cả Hội nguyên và Đình nguyên. Nguyễn Khuyến đậu đầu cả ba kỳ nên người ta thường gọi ông là ông Tam nguyên hay Tam nguyên Yên Đỗ.
Ông Tam nguyên Yên Đỗ đã từng làm ở nội các Huế, rồi làm Đốc học Thanh Hóa, Án sát Nghệ An, rồi Biện lí bộ Hộ,... Thời gian Nguyễn Khuyến ra làm quan, Pháp đánh chiếm sáu tỉnh Nam Kỳ và đang đánh ra miền Bắc.
Cuối năm 1883, Nguyễn Khuyến được cử làm quyền Tổng đốc Sơn Tây thay cho Tổng đốc Nguyễn Đình Nhuận đã bỏ Sơn Tây lên Hưng Hóa chống thực dân Pháp, nhưng Nguyễn Khuyến từ chốị Sau đó Hoàng Cao Khải Kinh lược sứ Bắc Kì mời ông đến nhà dạy học, rồi Lê Hoan - Tuần phủ Hưng Yên tổ chức thu vịnh Kiều cũng mời ông làm giám khảọ Hoàng Cao Khải, Lê Hoan là những kẻ cộng tác với thực dân Pháp. Từ chối lời mời của họ ông biết sẽ sinh chuyện lôi thôi nên đành miễn cưỡng nhận lờị
Nguyễn Khuyến làm quan tất cả hơn 10 năm, rồi từ quan về nhà. Phần lớn cuộc đời của Nguyễn Khuyến là ở thôn quệ Ông mất năm 1909, thọ 75 tuổị
SỰ NGHIỆP THƠ CA:
Sáng tác của Nguyễn Khuyến hầu hết được làm sau lúc từ quan, hiện còn khoảng hơn 400 bài, gồm thơ, văn, câu đối bằng chữ Hán và chữ Nôm. Có bài ông viết bằng chữ Hán rồi tự dịch ra chữ Nôm, cả hai đều rất điêu luyện. Sáng tác của ông chủ yếu xoay quanh ba nội dung:
- Bộc bạch tâm sự của mình;
- Viết về con người, cảnh vật và cuộc sống ở quê hương - một vùng đồng chiêm nghèo ở Bắc Bộ;
- Chế giễu, đả kích những kẻ tham lam, ích kỉ, tùy thời, cơ hội lúc bấy giờ.
Nguyễn Khuyến là một nhà thơ được đào tạo theo khuôn mẫu của đạo đức của Nho giáọ Đối với ông, con người sinh ra ở đời sau khi học hành, đỗ đạt thì phải ra làm quan để "thờ vua giúp nước", thực hiện nghĩa vụ "trí quân trạch dân" (vừa giúp vua, vừa làm cho dân được nhờ) mà đạo lý nhà nho đã quy định.
Trong một thời buổi bình thường chắc Nguyễn Khuyến sẽ trở thành một ông quan thanh liêm, mẫu mực. Nhưng thời Nguyễn Khuyến sống, Pháp đang đánh chiếm Việt Nam, triều đình vì bạc nhược nên đã lần lượt đầu hàng giặc. Trong một bối cảnh như thế nếu Nguyễn Khuyến cứ làm quan thì không khác nào tiếp tay cho giặc, đó là điều mà các nhà nho chân chính rất sợ. Nguyễn Khuyến lúng túng trong thái độ ứng xử. Cuối cùng ông quyết định từ quan.
Trong thơ ông có rất nhiều bài thể hiện cái tâm trạng ấỵ Lúc đầu ông do dự "mình bỏ nước về nhưng bạn bè đâu phải không có người ở lạị Và về như thế chắc gì con cháu đã khen".
Về sau ông mới dứt khoát cho rằng lui về là phải, và ông tiếc là một số bạn bè đã không hành động như ông. Có điều thời cuộc thì mỗi ngày một xấụ Thực dân Pháp ngày một lấn tới, bọn cơ hội, tùy thời lúc đầu còn rụt rè, về sau thì công khai ra cộng tác với giặc. Nguyễn Khuyến cảm thấy buồn vô hạn. Ông viết về tiếng con cuốc kêu và đó cũng là tiếng lòng của ông đối với non sông đất nước:
Năm canh máu chảy đêm hè vắng,
Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ.
Có phải tiếc xuân mà đứng gọi,
Hay là nhớ nước vẫn nằm mợ
Và cho đến lúc nghĩ là mình sắp từ giã cuộc đời, trong bài Di chúc, ông vẫn nói:
Ơn vua chưa chút báo đền
Cúi trông hổ đất, ngửa lên thẹo trời!
Phần lớn cuộc đời của Nguyễn Khuyến là ở nông thôn. Quê ông là một miền đồng chiêm nghèo trũng nước. Nguyễn Khuyến sống ở quê và quan hệ thân tình với mọi ngườị Ông làm thơ tặng bạn bè, tặng anh vợ, tặng ông hàng thịt,... làm câu đối viếng người làng, viếng người thợ rèn, mừng đám cưới, mừng nhà mới,... Nguyễn Khuyến viết nhiều về con người, về thiên nhiên, cảnh vật ở nông thôn. Trước Nguyễn Khuyến, trong văn chương Việt Nam thỉnh thoảng có những tác phẩm viết về nông thôn, nhưng hình ảnh nông thôn trong văn học nói chung còn mờ nhạt. Có thể nói, với Nguyễn Khuyến lần đầu tiên nông thôn Việt Nam mới thực sự đi vào văn học.
Nguyễn Khuyến xứng đáng được gọi là nhà thơ của nông thôn. Dưới ngòi bút của ông, cuộc sống ở nông thôn dường như lúc nào cũng khó khăn, túng thiếu:
Sớm trưa dưa muối cho qua bữa,
Chợ búa, trầu cau chẳng dám mua .
(Chốn quê)
Nỗi ám ảnh thường xuyên của người nông thôn là lo mất mùa, lụt lội:
Năm nay cày cấy vẫn chân thua,
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùạ
(Chốn quê)
Hay:
Quai Mễ Thanh Liêm đã vờ rồi,
Vùng ta thôi cũng lụt mà thôị
(Nước lụt Hà Nam)
Ngày tết đến, nếu là năm được mùa thì còn có chút vui:
Trong nhà rộn rịp gói bánh chưng,
Ngoài cửa bi bô rủ chung thịt.
(Cảnh tết)
nhưng chẳng may gặp năm mất mùa thì tết nhất lại càng thê thảm:
Dở trời mua bụi còn hơi rét,
Nếm rượu tường đền được mấy ông?
Hàng quán người về nghe xáo xác,
Nợ nần năm hết hỏi lung tung.
(Chợ Đồng)
Trong thơ Nguyễn Khuyến, thiên nhiên được miêu tả cũng là một thiên nhiên nông thôn rất rõ. Cảnh mùa thu trong thơ của ông không phải là mùa thu ở miền nào, thời nào, mà là mùa thu ở quê ông, vùng đông chiêm Bắc Bộc lúc bấy giờ. Ta có thể nhận thấy điều ấy qua cái màu "xanh ngắt" của bầu trời, đến cái nước "trong veo" của ao cá; hay từ cái "Lưng giậu phát phơ màu khói nhạt, Làn ao lóng lánh bóng trăng loe". Và cũng phải đến Nguyễn Khuyến, trong thơ Việt Nam mới có những bữa trưa đặc biệt nông thôn như:
Chuông trưa vẳng tiếng người không biết,
Trâu thả sườn non ngủ gốc câỵ
(Nhớ cảnh chùa Đọi)
Viết về nông thôn với những tình cảm đằm thắm như thế, không phải trước mà sau Nguyễn Khuyến cũng hiếm có người nào viết được như ông.
Một mảng sáng tác khác cũng rất có giá trị của Nguyễn Khuyến là mảng thơ trào phúng, đả kích. Nguyễn Khuyến thấy khá rõ cái xấu của xã hội đương thờị Là một nhà nho đã từng làm quan, ông chú ý trước hết đến cái xấu của đám nho sĩ, của bọn quan lạị Đi thi, làm quan trong thời buổi nước mất nhà tan thì có gì là thực chất, thì làm được việc gì? Ông gọi là "tiến sĩ giấy", là "phỗng đá", là anh hề chèọ Ông vạch trần bọn quan lại chỉ lo cho túi mình đầy ắp và bất chấp tất cả mọi sự khen che của dư luận. Ông đả kích thói rởm đời lố lăng, thứ con đẻ của cã hội thực dân. Ngòi bút đả kích của Nguyễn Khuyến trở nên chua xót, cay đắng khi ông thấy chính nhân dân bị bọn thực dân lừa gạt đã tham gia một cách vô ý thức vào những trò chơi làm hạ phẩm giá của mình. Ông tả cảnh ngày "Hội Tây" lúc bấy giờ và kết luận:
Khen ai khéo vẽ trò vui thế,
Vui thế bao nhiêu, nhục bấy nhiêụ
Thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến ngoài bộ phận hướng vào cái xấu của cã hội để đả kích, ông còn dành một số bài để tự chế giễu cái bất lực, cái bạc nhược của bản thân mình. Trong những bài thơ này, cái cười của ông thường trở nên chua chát, tội nghiệp.
Thơ Nguyễn Khuyến không những có nội dung thâm thúy mà nghệ thuật cũng rất đặc đắc. Ông là người đã đưa chất trào phúng vào thờ chữ Hán, và dùng cả "điển cố" lấy từ ca daọ
Trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến, ngôn ngữ dân tộc được nhà thơ sử dụng là thứ ngôn ngữ hằng ngày giải dị, nhưng rất sinh động, tinh tế, Nhà thơ khai thác được giá trị tạo hình của nhiều từ lấp láỵ Bút pháp của Nguyễn Khuyến trong thơ về cơ bản là hiện thực trữ tình, thỉnh thoảmg có điểm xuyết những yếu tố trào phúng. Cái cười trong thơ Nguyễn Khuyến không vang lên thành tiếng, mà thường là cái cười kín đáo, thâm trầm. Ông đã sử dụng hầu hết các thể loại thơ ca cổ mà thể loại nào cũng rất thành công
================================
Thu Vịnh
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiụ
Nước biếc trông như tầng khói phủ
Song thưa để mặc ánh trăng vàọ
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào ?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông đàọ (1)
(1) Ông đào: tức đào Tiềm, tự Uyên Minh, từ quan về ở ẩn đời nhà Tấn, nổi tiếng thanh caọ
Thu điếu
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teọ
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèọ
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo,
Tựa gối, buông cần lâu chẳng được.
Cá đâu đớp động dưới chân bèọ
Thu Ẩm
Năm gian nhà cỏ thấp le te,
Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòẹ
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,
Làn ao lóng lánh bóng trăng loẹ
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt ?
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoẹ
Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy,
độ năm ba chén đã say nhè.
Ngày Xuân Răn Con Cháu
Tuổi thêm thêm được tóc râu phờ
Nay đã năm mươi có lẻ ba !
Sách vở ích gì cho buổi ấy ?
Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già.
Xuân về ngày loạn còn lơ láo,
Người gặp khi cùng cũng ngất ngợ
Lẩn thẩn lấy chi đền tấc bóng ?
Sao con đàn hát vẫn say sưa
Về Hay Ở
Văng vẳng tai nghe tiếng chích chòe;
Lặng đi kẻo động khách lòng quệ
Nước non có tớ càng vui vẻ,
Hoa nguyệt nào ai đã đắm mê ?
Quyên đã gọi hè quang quác quác,
Gà từng gáy sáng tẻ tè tẹ
Lại còn giục giã về hay ở ?
Đôi gót phong trần vẫn khỏe khoe
Lên Lão
Ông chẳng hay ông tuổi đã già,
Năm lăm ông cũng lão đây mà.
Anh em làng xóm xin mời cả,
Xôi bánh, trâu heo cũng gọi là.
Chú Đáo bên làng lên với tớ,
Ông Từ xóm chợ lại cùng tạ
Bây giờ đến bậc ăn dưng nhỉ,
Có rượu thời ông chống gậy rạ
Tự Trào
Cũng chẳng giàu mà cũng chẳng sang,
Chẳng gầy, chẳng béo chỉ làng nhàng.
Cờ đương dở cuộc không còn nước,
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng.
Mở miệng nói ra gàn bát sách,
Mềm môi chén mãi tít cung thang.
Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ,
Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng.
Tự Thuật
Tháng ngày thấm thoát tựa chim bay,
Ông ngẫm mình ông, nghĩ cũng haỵ
Tóc bạc bao giờ không biết nhỉ ?
Răng long ngày trước hãy còn đâỵ
Câu thơ được chửa, thưa rằng được,
Chén rượu say rồi, nói chửa saỵ
Kẻ ở trên đời lo lắng cả,
Nghĩ ra ông sợ cái ông nà
Mẹ Mốc
So danh gía ai bằng Mẹ Mốc,
Ngoài hình hài, gấm vóc cũng thêm ra,
Tấm hồng nhan đem bôi lấm xoá nhoà,
Làm thế để cho qua mắt tục.
Ngoại mạo bất cầu như mỹ ngọc,
Tâm trung thường thủ tự kiên kim. (1)
Nhớ chồng xa muôn dặm khôn tìm ,
Giữ son sắt cho tròn một tiết.
Sạch như nước, trắng như ngà, trong như tuyết,
Mảnh gương trinh vằng vặc quyết không nhơ;
Đắp tai, ngoảnh mặt làm ngơ,
Rằng khôn cũng kệ, rằng khờ cũng thâỵ
Khôn em dễ bán dại này ! (2)
(1) Ngoài mặt không cần đẹp như ngọc; Trong lòng vẫn giữ bền như vàng.
(2) Mẹ Mốc quê ở gần làng Yên Đổ. Cô còn trẻ, có nhan sắc, có vốn liếng, mà chồng lại đi xạ Trong hạt nhiều chàng chòng ghẹo toan ép liễu nài hoạ Cô bèn giả điên dại, thoa tro than vào người, xé rách quần áo, chủ ý che mặt bọn kia để khỏi bị quấy nhiều trong khi chờ chồng về. Nguyễn Khuyến sau khi cáo quan về nghỉ ở nhà, người Pháp luôn tìm mọi cách để mời ông ra giúp. Ông phải viện mọi lẽ để từ chốị Nhân thất Mẹ Mốc giả điên dại, ông bèn làm bài ca trù này để ký thác tâm sự của mình
Ông Phỗng Đá
Ông đứng làm chi đó hỡi ông ?
Trơ trơ như đá, vững như đồng.
Đêm ngày gìn giữ cho ai đó ?
Non nước đầy vơi có biết không ?
Hỏi Phỗng Đá
Mưỡu
Người đâu tên họ là chi ?
Hỏi ra trích trích tri tri (1) nực cườị
Vắt tay ngoảnh mặt trông đời,
Cũng toan lo tính sự đời chi đây ?
Nói
Thấy lão đá lạ lùng muốn hỏi,
Cớ sao mà len lỏi đến chi đây ?
Hay mảng vui hoa cỏ nước non này,
Chừng cũng muốn dang tay vào hội Lạc (2)
Thanh sơn tự tiếu đầu tương hạc,
Thương hải thùy tri ngã diệc âụ (3)
Thôi thôi đừng nghĩ chuyện đâu đâu,
Túi vũ trụ mặc đàn sau gánh vác.
Duyên hội ngộ là duyên tuổi tác,
Chén chú, chén anh, chén tôi, chén bác,
Cuộc tỉnh say, say tỉnh một vài câu,
Nên chăng đá cũng gật đầu !(4)
(1) trích trích tri tri: trơ trơ không chuyển.
(2) hội Lạc: đời nhà Tống, Tiến sĩ Văn Ngạn Bác, làm quan đến Thái sư, khi về hưu trí nhà ở Lạc Dương, cùng với Tư Mã Quang, Phú Bật và nhiều học giả cao niên khác lập ra Lạc Dương Kỳ Anh Hội để đàm đạo văn chương.
(3) Núi xanh tự cười đầu sắp trắng như chim hạc; Biển xanh ai biết ta cũng như chim âu (ý ví người ẩn dật). Ý lấy từ hai câu thơ của Trương Dưỡng Hạo đời nhà Nguyên:
Vân sơn tự tiếu đầu tương hạc
Doanh hải thùy tri ngã diệc âu
(4) Tương truyền Nguyễn Khuyến làm bài ca trù Hỏi Phỗng Đá này trong buổi lễ mừng thọ năm mươi của quan Kinh lược sứ Hoàng Cao Khảị
Đêm Mùa Hạ
Tháng tư đầu mùa hạ,
Tiết trời thật oi ả.
Tiếng dế kêu thiết tha,
Đàn muỗi bay tơi tả.
Nỗi ấy biết cùng ai ?
Cảnh này buồn cả dạ
Biếng nhắp năm canh chầy,
Gà đà sớm giục giã.
Hội Tây
Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo
Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo !
Bà quan tênh hếch xem bơi trải,
Thằng bé lom khom ghé hát chèọ
Cậy sức, cây đu nhiều chị bám;
Tham tiền, cột mỡ lắm anh leọ
Khen ai khéo vẽ trò vui thế,
Vui thế bao nhiêu, nhục bấy nhiêụ
Vịnh Kiều
Kiều nhi giấc mộng, bặt như cười
Tỉnh dậy: xuân sanh quá nửa rồi !
Số kiếp bởi đâu mà lận đận ?
Sắc tài cho lắm cũng lôi thôị
Cành hoa vườn Thúy duyên còn bén,
Giọt nước sông Tiền nợ chửa xuôị
Không trách chàng Kim đeo đẳng mãi,
Khăng khăng vớt lấy một phần đuôị
Văn Tế Ngạc-Nhi
Than ôi !
Một phút sa cơ
Ra người thiên cổ
Nhớ ông xưa:
Cái mắt ông xanh,
Cái da ông đỏ,
Cái tóc ông quăn,
Cái mũi ông lõ,
Đít ông cưỡi lừa
Miệng ông huýt chó.
Lưng ông đeo súng lục liên,
Chân ông đi giầy có mỏ.
Ông ở bên Tây,
Ông sang đô hộ.
Đánh giặc Cờ Đen,
Để yên con đỏ.
Nào ngờ:
Nó bắt được ông,
Nó chặt mất sỏ.
Cái đầu ông đây
Cái mình ông đó.
Khốn nạn thân ông,
Đù cha mẹ nó !
Tôi :
Vâng lệnh quan trên,
Cúng ông một cỗ,
Này chuối một buồng
Này rượu một hũ,
Này xôi một mâm,
Này trứng một rổ,
Ông có linh thiêng,
Mời ông xơi hộ,
Ăn uống no say,
Nằm yên một chỗ.
Ối ông Ngạc Nhi ôi !
Nói càng thêm khổ.
Bạn Đến Chơi Nhà
Đã bấy lâu nay bác tới nhà,
Trẻ thì đi vắng, chợ thời xạ
Ao sâu, sóng cả, khôn chài cá;
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.
Cải chửa ra cây, cà mới nụ;
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoạ
Đầu trò tiếp khách, trầu không có,
Bác đến chơi đây, ta với tạ
Vịnh Tiến Sĩ Giấy
I
Rõ chú hoa man (1) khéo vẽ trò,
Bỡn ông mà lại dứ thằng cụ
Mày râu mặt đó chừng bao tuổi,
Giấy má nhà bay đáng mấy xu ?
Bán tiếng mua danh thây lũ trẻ,
Bảng vàng bia đá vẫn nghìn thụ
Hỏi ai muốn ước cho con cháu,
Nghĩ lại đời xưa mấy kiếp tụ
II
Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đaị
Cũng gọi ông nghè có kém aị
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng, (2)
Nét son điểm rõ mặt văn khôị (3)
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ ?
Cái giá khoa danh thế mới hờị (4)
Ghế tréo, lọng xanh, ngồi bảnh chọe,
Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơị
(1) hoa man: người thợ làm nghề hàng mã.
(2) giáp bảng: bảng đề tên từ học vị tiến sĩ (thi đình) hay cử nhân (thi hương) trở lên. Trái với ất bảng đề tên những người đỗ phó bảng (thi đình) hay tú tài (thi hương).
(3) văn khôi: đầu làng văn, chỉ người đỗ đạc cao
Khóc Bạn
Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng tạ
Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,
Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhaụ
Kính yêu từ trước đến sau:
Trong khi gặp gỡ, khác đâu duyên trờị
Cũng có lúc chơi nơi dặm khách;
Tiếng suối nghe róc rách lưng đèọ
Có khi từng gác cheo leo,
Khúc vui con hát lựa chiều cầm xoang.
Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp:
Chén quỳnh tương (1) ăm ắp bầu xuân.
Có khi bàn soạn câu văn,
Biết bao đông bích điển phần (2) trước saụ
Buổi dương cửu (3) cùng nhau hoạn nạn,
Miếng đẩu thăng (4) chẳng dám than trời,
Tôi già, bác cũng già rồi:
Biết thôi, thôi thế thời thôi mới là.
Đường đi lại, tuổi già thêm nhác,
Trước ba năm , gặp bác một lần,
Cầm tay, hỏi hết xa gần,
Mừng rằng bác vẫn tinh thần chưa can.
Tuổi tôi kể còn hơn tuổi bác,
Tôi lại đau trước bác mấy ngày,
Làm sao bác vội về ngay,
Chợt nghe tôi những chân tay rụng rời !
Ai chả biết chán đời là phải,
Vội vàng chi đã mải lên tiên.
Rượu ngon, không có bạn hiền,
Không mua, không phải không tiền không muạ
Câu thơ nghĩ đắn đo không viết,
Viết đưa ai, ai biết mà đưạ
Giường kia treo những hững hờ, (5)
Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn !
Bác chẳng ở, dẫu van chẳng ở;
Tôi tuy thương, lấy nhớ làm thương,
Tuổi già, hạt lệ như sương,
Hơi đâu ép lấy hai hàng chưá chan ?
BungRieu
03-20-2003, 09:34 AM
Nguyễn Công Trứ
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/nguyencongtru.jpg
Cụ Nguyễn Công Trứ (1778-1858), tự là Tồn Chất, hiệu là Ngộ Trai, biệt hiệu là Hi Văn, người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, tư chất thông minh, tính người hào phóng. Cụ xuất thân trong một gia đình khoa bảng. Cụ thân sinh là Nguyễn Tần, đỗ Hương Cống đời nhà Lê .
Buổi thiếu thời, dù sống trong cảnh hàn vi, cụ luôn cố công trau dồi kinh sử để mong thi đỗ ra làm quan giúp dân, giúp nước. Sau nhiều lần thi hỏng, Cụ cuối cùng đậu Tú Tài năm 1813 và đậu Giải Nguyên năm Gia Long thứ 18 (1819) và đến năm Minh Mệnh nguyên niên 1820, bắt đầu ra làm quan, bấy giờ Cụ đã 42 tuổi . Cụ trải thờ ba triều: Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức.
Từ chức hành tẩu Sử quán, thăng lên đến Binh bộ thượng thư lãnh chức Tổng đốc (bởi vậy tục thường gọi là Cụ Thượng Trứ). Nhưng hoạn lộ của Cụ lên voi xuống chó, chìm nổi nhiều phen: mấy lần bị giáng chức, một lần bị cách tuột; kết cục lúc về hưu (Tự Đức nguyên niên, 1848) chỉ còn lại hàm Thừa Thiên phủ doãn. Bấy giờ Cụ đã 71 tuổi . Khi về hưu, lúc Cụ ở quê nhà , lúc Cụ ở chùa, lúc Cụ đến ở hai huyện Kim Sơn, Tiền Hải là nơi Cụ đã có công khai thác, gác bỏ việc đời, ngao du sơn thủy, sinh hoạt trong cảnh an nhàn. Cụ mất ngày 7 tháng 12 năm 1858 tại chính quán, thọ 81 tuổi, được phong tước Dinh Bình Hầu .
Cụ tuy làm quan văn, nhưng có tài thao lược, nên Cụ từng đi đánh giặc nhiều phen, giúp triều đình nhà Nguyễn đàn áp nhiều cuộc khởi nghĩa lớn (Lê Duy Lương, Nông Văn Vân, Phan Bá Vành ...). Nhưng cái công nghiệp to nhất của Cụ lúc làm Doanh Điền Sứ, giúp dân khai khẩn đất hoang (1828) ở vùng bãi biển tỉnh Nam Định và tỉnh Ninh Bình để lập ra hai huyện Tiền Hải (nay thuộc Thái Bình) và Kim Sơn (vẫn thuộc Ninh Bình).
Cụ có biệt tài về văn nôm. Văn Cụ làm đủ các lối, (chữ Hán (câu đối, sớ) cũng như chữ Nôm (thơ, hát nói, phú, câu đối, ca trù ...), nhưng sở trường nhất là lối hát nói . Văn Cụ lỗi lạc khác thường; không thiên về tình buồn như phần nhiều các thơ ca của ta; trái lại, Cụ thường khuyên người ta phải gắng gổ làm tròn phận sự, lập nên công nghiệp và lúc nào cũng nên vui vẻ, dầu gặp cảnh nghèo khó cũng vậy . Lời văn lại hào hùng và ngạo nghễ, biểu lộ một bản lĩnh vững chắc, một chí khí mạnh mẽ, và thái độ cầu tiến, vươn lên, thật rõ là khẩu khí của một người suốt đời hăng hái làm việc cho đời, tận tụy với chức vụ .
===========================
Gánh Gạo Ðưa Chồng
Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
Lộ diệc vũ trùng trung chi nhất
Thương cái cò lặn lội bờ sông
Tiếng nỉ non gánh gạo đưa chồng
Ngoài nghìn dặm, một trời, một nước.
Trông bóng nhạn, bâng khuâng từng bước,
Nghe tiếng quyên, khắc khoải năm canh.
Nghĩa tép tôm ai nỡ dứt tình,
Ơn thủy thổ phải đền cho vẹn sóng,
Trường tên đạn, xin chàng bảo trọng.
Thiếp lui về nuôi cái cùng con.
Cao Bằng cách trở nước non,
Mình trong trắng có quỉ thần a hộ .
Sức bay nhảy một phen năng nổ
Đá Yên Nhiên còn đó chẳng mòn,
Đông Hưu rạng chép thẻ son,
Chàng nên danh giá, thiếp còn trẻ trung.
Yêu nhau khăng khít giải hồng.
Cây Thông
Ngồi buồn mà trách ông xanh,
Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười.
Kiếp sau xin chớ làm người,
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.
Giữa trời, vách đá cheo leọ
Ai mà chịu rét thời trèo với thông
Vịnh Cảnh Nghèo
Chẳng phải rằng ngây chẳng phải đần
Bởi vì nhà khó hóa bần thần.
Mấy đời thầy kiện mà thua mẹo,
Nghĩ phận thằng nghèo phải biết than.
Số khá bĩ rồi thời lại thái
Cơ thường đông hết hẳn sang xuân.
Trời đâu riêng khó cho ta mãi,
Vinh nhục dù ai cũng một lần.
Đi Thi Tự Vịnh
Đi không há lẽ trở về không ?
Cái nợ cầm thư phải trả xong.
Rắp mượn điền viên vui tuế nguyệt
Dở đem thân thế hẹn tang bồng.
Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông.
Trong cuộc trần ai, ai dễ biết
Rồi ra mới rõ mặt anh hùng.
Chí Làm Trai
Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc.
Nợ tang bồng (1) vay trả, trả vay.
Chí làm trai Nam, Bắc, Đông, Tây,
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể.
Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh. (2)
Đã chắc rằng ai nhục ai vinh,
Mấy kẻ biết anh hùng khi vị ngộ.
Cũng có lúc mưa dồn sóng vỗ,
Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong.
Chí những toan xẻ núi lấp sông,
Làm nên tiếng anh hùng đâu đấy tỏ.
Đường mây rộng thênh thênh cử bộ,
Nợ tang bồng trang trắng, vỗ tay reo
Thảnh thơi thơ túi rượu bầu.
(1) Tang bồng: từ "tang bồng hồ thỉ" -- cung bằng gỗ dâu, tên bằng cỏ bồng. Theo Lễ Kinh: cha mẹ mới sinh con trai, lấy cung tên bằng gỗ dâu và tên bằng cỏ bồng treo ở ngoài cửa, có ý mong cho con mình sau này lấy cung tên làm nên sự nghiệp vang thiên hạ.
(2) Hai câu thơ trong bài Quá Linh Đinh Dương của Văn Thiên Tường đời Tống. Người ở đời chẳng ai mà không chết, phải làm sao lưu lại tấm lòng son soi trong sử xanh.
Phận Sự Làm Trai
Vũ trụ chức phận nội (1)
Đấng trượng phu một túi kinh luân. (2)
Thượng vị đức, hạ vị dân, (3)
Sắp hai chữ "quân, thân" mà gánh vác,
Có trung hiếu nên đứng trong trời đất
Không công danh thà nát với cỏ cây.
Chí tang bồng hồ thỉ (4) dạ nào khuây,
Phải hăm hở ra tài kinh tế (5)
Người thế trả nợ đời là thế
Của đồng lần thiên hạ tiêu chung,
Hơn nhau hai chữ anh hùng.
(1) Chức phận mình ở trong vũ trụ.
(2) Kinh luân: Trong việc kéo tơ, lấy tơ chia ra gọi là kinh, hợp những sợi tơ lại mà se thì gọi là luân (chỉ những người giỏi việc chính trị).
(3) Trên vì người có đức (tức vua), dưới vì dân hưng lơ.i.
(4) tang bồng hồ thỉ: cung bằng gỗ dâu, tên bằng cỏ bồng. Theo Lễ Kinh: cha mẹ mới sinh con trai, lấy cung tên bằng gỗ dâu và tên bằng cỏ bồng treo ở ngoài cửa, có ý mong cho con mình sau này lấy cung tên làm nên sự nghiệp vang thiên hạ.
(5) Kinh tế: từ cụm từ kinh bang tế thế -- giúp nước cứu đời.
Chữ Tình
Mưỡu:
Chữ tình là chữ chi chi,
Dẫu chi chi cũng chi chi với tình.
Sầu ai lấp cả vòm trời,
Biết chăng chăng biết hỡi người tình chung ?
Nói:
Đa tình là dở,
Đã mắc vào đố gỡ cho ra !
Khéo quấy người một cái tinh ma,
Trói buộc kẻ hào hoa biết mấy !
Đã gọi người nằm thiên cổ dậy,
Lại đưa hồn lúc ngũ canh đi.
Nực cười thay lúc phân kỳ,
Trông chẳng nói, xiết bao nhiêu biệt lệ.
Tình huống ấy dẫu bút thần khôn vẽ,
Càng tài tình càng ngốc, càng si.
Cái tình là cái chi chi ?
Tương Tư
Tương tư không biết cái làm sao,
Muốn vẽ mà chơi vẽ được nào ?
Lúc đứng, khi ngồi, khi nói chuyện,
Lúc say, lúc tỉnh, lúc chiêm bao.
Trăng soi trước mặt ngờ chân bước,
Gió thổi bên tai ngỡ miệng chào.
Một nước một non người một ngả,
Tương tư không biết cái làm sao ?
====================
Kẻ Sĩ ....
Trần Hy ....
Nói tới Khổng Giáo thì phải nói ngay tới kẻ sĩ. Mục đích duy nhất của Khổng Giáo là đào tạo ra kẻ sĩ. Kẻ sĩ được coi là một lý tưởng mà mọi người phải hướng tới....
Sau đây xin mời các ACE đọc 1 bài viết do một kẻ sĩ chân chính viết về chính kẻ sĩ. Đó là Nguyễn Công Trứ qua bài Kẻ Sĩ của ông. Kẻ sĩ không thể có một đại diện nào hoàn hảo hơn Nguyễn Công Trứ. Ông trải qua tất cả tiến trình học tập, sống và hành động của một kẻ sĩ lý tưởng. Ông cũng là một mẫu mực thành công của kẻ sĩ. Cả văn nghiệp lẫn võ nghiệp của ông ít ai bì kịp, ông cũng rất dũng cảm và thanh liêm. Điều làm người ta quí mến ông hơn nữa là ông lại phóng khoáng và đầy nghệ sĩ tính. Ông là một trong những kẻ sĩ lỗi lạc nhất và đáng kính phục nhất trong lịch sử Việt nam. Nguyễn Công Trứ trải qua một thời thanh niên lận đận, ông đậu Giải Nguyễn (thủ khoa kỳ thi hương) năm đã 43 tuổi. Sự muộn màng này không phải do ông không thành công trong các bài thi mà vì quan trường thấy giỏi quá sợ ông thành kiêu căng nên đánh rớt ông để tập cho ông tính khiêm nhường. Nguyễn Công Trứ mất hơn hai mươi năm cường tráng nhất của đời minh vì chữ khiêm của kẻ sĩ ông theo đúng phương châm vững lòng tin, chăm học, kiên trì, cải thiện trình độ nho học (độc tín, háo học, thủ tử, thiện đạo) trong lúc chưa gặp thời. Sau đó ông thi đậu rồi làm quan và làm tướng một cách thật xuất sắc, thăng lên những chức vụ rất cao, đánh Nam dẹp Bắc lập những chiến công thật lẫy lừng. Ông cũng đã đem dân đi dinh điền lập ra nhiều huyện trù phú tại tỉnh Thái Bình. Nguyễn Công Trứ rất hài lòng về sự nghiệp của mình, ông tự thuật như sau:
Khi thủ khoa, khi tham tán, khi tổng đốc Đông
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng
Lúc bình Tây cờ đại tướng...
Hoạn lộ của ông khá nhiều gian truân. Có lúc ông bị gièm là có ý làm phản, có lúc ông bị cách chức tuột xuống làm lính, nhưng Nguyễn Công Trứ vẫn kiên trì bày tỏ tài năng và lòng trung nghĩa và rồi lại vươn lên. Ông về hưu sau ba mươi năm hoạt động mãnh liệt. Nhưng mặc dầu công việc dồn dập ông vẫn để lại một văn nghiệp to lớn về cả phẩm lẫn lượng.
Tác giả đã đặc sắc như vậy, bài Kẻ Sĩ cũng đặc sắc không kém. Nó tóm gọn một cách đẹp đẽ tất cả nhân sinh quan của kẻ sĩ. Nó lại được viết bằng một thể văn đặc biệt, thể hát nói. Đó là loại thơ được sáng tác trong lúc hát cô đầu, lúc kẻ sĩ phóng khoáng nhất. Cái gì quá đẹp thì khó đúng, có thể bức chân dung kẻ sĩ của Nguyễn Công Trứ không trung thực vì đã được lộng lẫy hóa quá đáng. Kẻ sĩ mà Nguyễn Công Trứ mô tả là kẻ sĩ tráng lệ nhất. Nên nhớ là Trung Quốc không có bài thơ hay bài văn nào mô tả kẻ sĩ đẹp đẽ và hùng tráng hơn bài Kẻ Sĩ sau đây của Nguyễn Công Trứ, và xin chép lại nguyên văn :
1. Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt
2. Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên
3. Có giang sơn thì sĩ đã có tên
4. Từ Chu, Hán vốn sĩ này là quí
5. Miền hương đảng đã khen rằng hiếu nghị
6. Đạo lập thân phải giữ lấy cương thường
7. Khí hạo nhiên chí đại, chí cương
8. So chính khí đã đầy trong trời đất
9. Lúc vị ngộ hối tàng nơi bồng tất
10. Hiêu hiêu nhiên điếu Vị, canh Sằn
11. Xe bồ luân dầu chưa gặp Thang Văn
12. Phù thế giáo một vài câu thanh nghị
13. Cầm chính đạo để tịch tà, cự bí
14. Hồi cuồng lan nhi chướng bách xuyên
15. Rồng mây khi gặp hội ưa duyên
16. Đem quách cả sở tồn làm sở dụng
17. Trong lăng miếu ra tài lương đống
18. Ngoài biên thùy rạch mũi Can Tương
19. Làm sao cho bách thế lưu phương
20. Trước là sĩ sau là khanh tướng
21. Kinh luân khởi tâm thượng binh giáp tàng hung trung
22. Vũ trụ chi gian giai phận sự
23. Nam nhi đáo thử thị hào hùng
24. Nhà nưóc yên mà sĩ được thung dung
25. Bấy giờ sĩ sẽ tìm ông Hoàng Thạch
26. Dăm ba chú tiểu đồng lếch thếch
27. Tiêu dao nơi cùng cốc thâm sơn
28. Nào xe, nào ngựa, nào địch, nào đờn
29. Đồ thích chí chất đầy trong một túi
30. Mặc ai hỏi mặc ai không hỏi tới
31. Nhắm cuộc đời mà ngẫm kẻ trọc thanh
32. Này này, sĩ mới hoàn danh.
Bài thơ này dùng khá nhiều chữ Hán nên có lẽ một số độc giả cần vài giải thích.
Hai câu (1) và (2) nói rằng trong năm tước quan (công, hầu, bá, tử, nam), kẻ sĩ đều có mặt và trong bốn giai cấp xã hội (sĩ, nông, công, thương), kẻ sĩ đứng đầu. Thật là hãnh diện được làm kẻ sĩ.
(1) Tước có năm bậc thì sĩ cũng dự vào; dân có bốn nghề thì sĩ đứng đầu tiên.
Quả như vậy, trong năm tước, công, hầu, bá ,tử, nam của vua ban cho, thì Sĩ đã đứng trong hàng ngũ ấy. Kẻ Sĩ là chuyên viên của một triều đại. Hơn nữa là những chuyên viên đào tạo, rèn đúc nên từng thế hệ. Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên. (Dân có bốn hạng, thì sĩ là trước hết).
Trong câu (4), Chu và Hán là hai triều đại lớn của Trung Quốc gần sát nhau, từ thế kỷ 12 trước Tây lịch tới thế kỷ 3 sau Tây lịch.
Hai câu (5) và (6): ở xóm làng (lưỡng đảng), kẻ sĩ đã được tôn kính là người có lý luận (hiếu nghị) nên phải sống đúng tam cương (quân, sư, phụ hay bổn phận đối với vua, với cha mẹ và với thầy dạy học) và ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín).
Hai câu (7) và (8): Bản chất của kẻ sĩ (khí hạo nhiên) rất lớn và rất vững (chí đại, chí cương), tinh thần (chính khí) của kẻ sĩ đầy trời đất.
Hai câu (9) và (10): Khi chưa gặp (lúc vị ngộ) được minh chúa thì ở yên (hối tàng) trong lều cỏ (bồng tất) nghèo nàn, cứ thanh thản mà vui chơi bằng cách câu cá trên sông Vị (điếu Vị) hay trồng trọt trên đất Sằn (canh Sẵn). Đầu đời nhà Chu, Khương Tử Nha ngồi câu cá trên sông Vị đợi minh chúa tới năm đã ngoài 80 tuổi mới được Chu Văn Vương đem xe đến đón về làm quan. Trước đó một nhân vật huyền bí khác của Trung Quốc, làm ruộng ở đất Sằn cho đến khi được minh chúa tới đón. Tất cả những hoạt động câu cá, trồng trọt này không có mục đích sản xuất (Chương Tử Nha câu cá bằng lưỡi câu thẳng) mà chỉ có mục đích chờ thời mà thôi.
Hai câu (11) và (12): Dù chưa gặp được các minh chúa như vua Thang, vua Văn đem xe có quấn cỏ vào bánh (bờ luân) cho êm tới đón về, vẫn giữ đạo nho bằng cách nói lên những lời đúng (thanh nghị).
Ba câu (13), (14) và (15): Giữ vững chính đạo, tức Khổng Giáo, để tiêu diệt những tà thuyết (tịch tà), chống lại những khó khăn của cuộc sống (cự bi). Quyết tâm quay ngược lại sóng dữ (hồi cuồng lan) ngăn nước của cả trăm con sông.
Năm câu từ (16) đến (20): Khi đã được ra làm quan (kẻ sĩ được làm quan cũng sung sướng như rồng gặp mây) thì đem lết cả tài mình có (sở tồn) ra sử dụng. Trong triều đình (lăng miếu là mộ các vua, thường chôn ở ngay triều đình, kẻ sĩ coi là một diễm phúc được nhìn mộ các vua trước) thì trổ tài làm quan (tài lương đống), ngoài trận mạc biên thùy thì vung gươm báu (Can và Tương là một cặp vợ chồng thời xưa ở Trung Quốc làm nghề luỵện kiếm và đã hy sinh vì kiếm báu). Làm thế nào để cả trăm thế hệ về sau biết đến tiếng thơm (bách thế lưu phương) mới hay. Trước là làm đẹp hình ảnh kẻ sĩ, sau là làm quan lớn (khanh tướng).
Ba câu (21), (22) và (23) tóm lược thế nào là một người trai anh hùng: phải có kiến thức trị nước (kinh luân) ở sẵn trong đầu (tâm trương) và phải chứa sẵn tài cầm binh ở trong bụng (binh giáp tàng hung trung). Khắp nơi đều là phạm vi hoạt động (vũ trụ chi gian giai phận sự). Làm trai như thế mới đúng là anh hùng hào kiệt. Những câu cuối nói rằng khi đã làm tròn phận sự thì kẻ sĩ lại rút về ở ẩn ngao du danh lam thắng cảnh, hưởng thể đàn hát và không màng đến xã hội nữa. Như thế là kẻ sĩ hoàn tất một cuộc đời đẹp (hoàn danh).
Và dĩ nhiên chỉ có người con trai mới đáng kể, phụ nữ không thể là kẻ sĩ vì thế không đáng đếm xỉa tới ....
Nguyễn Công Trứ là tinh hoa của lịch sử Việt nam, là người đã có công lớn với đất nước và cũng là những người mà chúng ta có thể tự hào.
Nguyễn Công Trứ và vô số kẻ sĩ lỗi lạc khác nếu thi thố được hết tài năng và sáng kiến của mình thì còn vĩ đại gấp trăm lần và còn cống hiến cho đất nước những thành quả to lớn gấp trăm lần. Nhưng họ là kẻ sĩ và đã phải chấp nhận cuộc sống vong thân của kẻ sĩ.
Tâm lý kẻ sĩ vẫn còn hiện diện mạnh lắm trong chúng ta. Không thiếu những người rất đáng quí trọng hiện nay ao ước được sống như kẻ sĩ hay hãnh diện đã sống như kẻ sĩ.
Nhiều người đã viết kháng thư trách chính quyền cộng sản đối xử tệ bạc với trí thức mà họ coi là những kẻ sĩ của thời nay.
Chúng ta có nên làn như vậy không ... nếu chúng ta muốn một tầm vóc khác cho đời mình và một tương lai khác cho đất nước.
BungRieu
03-20-2003, 09:41 AM
Nguyễn Đình Chiểu
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/nguyen-dinh-chieu.jpg
Nhân dân Lục tỉnh quen gọi Nguyễn Đình Chiểu một cách thân mật là Đồ Chiểu .
Đồ Chiểu sinh ngày 1/7/1822 tại làng Tân Khánh, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (thuộc thành phố Sài Gòn ngày nay). Cụ Nguyễn Đình Huy người Thừa Thiên, vào làm thư lại trong dinh Lê Văn Duyệt ở Gia Định, lấy bà Trương Thị Thiệt người làng Tân Thới (gần Sài Gòn) sinh ra Nguyễn Đình Chiểu .
Năm 1833, sau cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi, Nguyễn Đình Huy đưa Nguyễn Đình Chiểu về gửi một người bạn ở Huế để ăn học. Khoảng 1840, Nguyễn Đình Chiểu trở về Nam và đến 1843 thi đỗ tú tàị Năm 1846, ông lại ra Huế để chuẩn bị thi tiếp. Nhưng năm 1849, sắp thi thì được tin mẹ mất. Ông bỏ thi để về Nam chịu tang mẹ. Dọc đường vất vả, lại thương mẹ khóc nhiều, ông bị đau nặng và mù cả hai mắt. Sau đó ông vừa dạy học, vừa bốc thuốc, vừa làm thơ, sống giữa tình thương và lòng hâm mộ của bà con, cô bác. Hồi ông mới đậu tú tài, có nhà phú hộ hứa gả con gái chọ Nay ông bị mù lòa, gia đình kia bội ước. Về sau, có người học trò cảm nghĩa thầy đã gả em gái chọ
Năm 1859, Pháp đánh chiếm Gia Định, Nguyễn Đình Chiểu bị mù, không trực tiếp cầm gươm giết giặc được. Nhưng ông vẫn cùng với các lãnh tụ nghĩa quân như Trương Định, Đốc binh Là bàn mưu định kế. Giặc đánh vào quê ông, ông lui về quê vợ. Pháp cướp ba tỉnh miền Đông, ông lánh về ở Ba Trị Giặc chiếm hết cả Lục tỉnh, ông sức yếu lại bệnh tật, đành ở lại trong đấy giặc chiếm.
Biết ông là người có uy tín lớn, Pháp tìm mọi cách mua chuộc. Nhưng ông vẫn nêu cao khí tiết, không chịu khuất phục.
Năm 1888, ông từ trần. Cánh đồng Ba Tri rợp khăn tang khóc thương Đồ Chiểụ
Trong một Đồ Chiểu có 3 con người đáng quý: một nhà giáo mẫu mực, đặt việc dạy người cao hơn dạy chữ, một thầy lang lấy việc chăm lo sức khỏe cỷa nhân dân làm y đức, một nhà văn coi trọng chức năng giáo huấn của văn học trên cơ sở sáng tạo nghệ thuật và là ngọn cờ tiêu biểu cho bền văn học yêu nước chống Pháp.
SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG:
1.Nguyễn Đình Chiểu đã để lại nhiều tác phẩm văn học quý báụ Có ba tác phẩm dài: Lục Vân Tiên, Dương Từ - Hà Mậu, Ngư Tiều y thuật vấn đáp. Có một số bài văn tế nổi tiếng như: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn Tế Trương Định, Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh... và nhiều bài thơ Đường luật.
Văn chương của Đồ Chiểu không có loại thuần túy giải sầụ Văn chương của ông nhằm mục đích chiến đấu, bảo vệ đạo đức của nhân dân và quyền lợi của Tổ quốc:
Học theo ngòi bút chí công,
Trong thơ cho ngụ tấm lòng Xuân Thụ
Hay:
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm,
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.
Đồ Chiểu còn viết:
Văn chương ai chẳng muốn nghe,
Phun châu nhả ngọc báu khoe tinh thần
nghĩa là văn chương vừa phải có ý đẹp, vừa phải có lời haỵ
2.Tác phẩm Lục Vân Tiên viết trước khi Pháp xâm lược, xứng đáng là khúc ca chiến thắng của những người kiên quyết vì chính nghĩa mà chiến đấụ Người đọc xưa nay yêu thích Lục Vân Tiên vì chàng là người con rất mực hiếu thảo, người thanh niên có lý tưởng cao cả sẵn sàng quên hết mọi lợi ích riêng tư, dũng cảm đánh cướp Phong Lai cứu dân, đánh gai(.c Ô Qua bảo vệ đất nước; yêu quý Kiều Nghuyệt Nga vì nàng có tấm lòng chung thủy son sắt; yêu quý Hớn Minh vì Hớn Minh bất chấp quyền uy, trừng trị thẳng tay hạng người ỷ thế làm càng; yêu quý ông Quán vì ông Quán biết yêu ghét rạch ròi theo lợi ích của nhân dân:
Quán rằng: "Ghét việc tầm phào,
Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm.
Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm,
Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang.
Ghét đời U, Lệ đa đoan,
Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần".
(Lục Vân Tiên)
Tác phẩm Lục Vân Tiên cũng là bản án kết tội những kẻ bất nhân, phi nghĩa: gia đình Võ Công lật lọng đến tàn bạo, viên Thái sư hiểm ác, Trịnh Hâm phản trắn, Bùi Kiệm máu dệ..
3.Giặc đánh chiếm quê hương đất nước, thơ văn Đồ Chiểu chuyển từ đề tài đạo đức sang đề tài đánh giặc cứu nước. Ngọn bút của ông càng hăng hái "chở đạo" và "đâm gian". Trong thơ văn, ông đã phơi bày tất cả thảm họa của đất nước:
Các bậc sĩ nông công cổ, liền mang tai với súng song tâm;
Mấy nơi tổng lí xã thôn, đều mắc hại cùng cờ ba sắc.
(Văn tế nghĩa dĩ trận vong Lục tỉnh)
tố cáo tội ác của giặc ngoại xâm:
Phạt cho đến người hèn kẻ khó, thâu của quay treọ Tội chẳng tha con nít đàn bà, đốt nhà bắt vật.
Kể mười mấy năm trời khốn khổ, bị khảo, bị tù, bị đày, bị ghết, trẻ già nghe nào xiết đếm tên;
Đem ba tấc hơi mọn bỏ liều, hoặc sông, hoặc biển, hoặc núi, hoặc rừng, quen lạ thảy đều rơi nước mắt.
(Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh)
nguyền rủa bọn người: "...theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn; ...ở lính mã tà, chiu rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ." (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)
nhiệt liệt biểu dương những bậc anh hùng hi sinh chiến đấu bảo vệ Tổ quốc:
Làm người trung nghĩa đáng bia son,
Đứng giữa càn khôn tiếng chẳng mòn.
Cơm áo đền bồi ơn đất nước,
Râu mày giữ vẹn phận tôi con.
Tinh thần hai chữ phau sương tuyết,
Khí phách ngàn thu rỡ núi non...
(Thơ điếu Phan Tòng)
đặc biệt ca ngợi những người nông dân vốn "cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó", nhưng khi có giặc thì đã xông lên:
Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ.
(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)
và kêu gọi quyết tâm đánh giặc đến cùng:
Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kiạ..
(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)
Sau ngày Nam Kỳ mất trọn, phải sống trong vòng vây của giặc, ngọn bút của Đồ Chiểu vẫn sáng ngời chủ nghĩa yêu nước. Trong Ngư Tiều y thuật vấn đáp, nổi lên hình ảnh đẹp đẽ của Nhân Sư "...chẳng kh+'ng sĩ Liêu, xông hai con mắt bỏ liều cho đui", bởi:
Thà cho trước mắt mù mù,
Chẳng thà ngồi thấu kẻ thù quân thân.
(Ngư Tiều y thuật vấn đáp)
Trong những ngày cuối đời, hoàn cảnh đất nước, quê hương càng gặp nhiều đau thương, Đồ Chiểu buồn và thơ Đồ Chiểu ít nhiều cũng buồn theọ Nhưng trong nỗi buồn này đã ánh lên những hy vọng lớn:
Chừng nào thánh đế ân soi thấu,
Một trận mưa nhuần rửa núi sông.
(Xúc cảnh)
4.Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, mới thoáng đọc, tưởng như nghệ thuật không caọ Nhưng thật ra nó là một loại "vì sao có ánh sáng khác thường... con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy và càng nhìn thấy càng sáng". Văn chương Đồ Chiểu không óng mượt, nõn nà mà chân chất, phác thật, có chỗ tưởng như thô kịch. Nó không phải là vẻ đẹp của những cây lúa xanh uốn mình trong gió nhẹ. Nó đẹp vẻ đẹp của đống thóc mẩy vàng. Nó không phải là qủa vải thiều của Hải Dương ai ăn cũng thấy ngon miệng. Nó là trái sầu riêng của Nam Bộ, với một số người không dễ gì quen, nhưng chính là "bậc vương giả" trong thế giới trái cây ở đâỵ Ngôn ngũ và hình tượng nhân vật của Đồ Chiểu có sắc thái miền Nam độc đáọ Những nhân vật tích cực ở đây trọng nghĩa khinh tài, cương trực, dứt khoát đến như nóng nảy, nhưng lại rất sâu nặng ân tình. Nguyễn Đình Chiểu làm thơ văn để giáo huấn đạo đức, mà có sự rung động cực độ của cảm xúc. Do đó, ở thơ văn Đồ Chiểu, cái chất trữ tình - đạo đức đã trở thành một nét phong cách hiếm có. Nhất là đến phần thơ văn yêu nước, chất trữ tình - đạo đức gắn với chất trữ tình - yêu nước, kết hợp nhuần nhuyễn với chất hiện thực nóng hổi, tạo ra một sức mạnh nghệ thuật bề thế, vững vàng.
Trong thơ văn Đồ Chiểu, không phải không có ít nhiều hạn chế. Nhưng với những giá trị tư tưởng và nghệ thuật như trên, thơ văn Đồ Chiểu xứng đáng là "ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc", là ngọn cờ tiêu biểu của thơ văn chống thực dân Pháp thời kỳ nửa sau thế kỉ XIX. Ngày nay, đọc thơ văn Đồ Chiểu, không chỉ thấy tâm huyết và tài nghệ của nhà thơ mà còn thấy lại cả một thời đại lịch sử, thấy lại cả dân tộc ta trong một thời kỳ đau thương nhưng vĩ đạị Thơ văn của Đồ Chiểu mãi mãi vẫn là món ăn tinh thần quý báu của người Việt Nam.
BungRieu
03-20-2003, 09:45 AM
Nguyễn Trãi
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/nguyen-trai.jpg
TIỂU SỬ
Nguyễn Trãi sinh năm 1380, hiệu là Ức Trai, quê ở Chi Ngại (Chí Linh, Hải Dương) sau dời về Nhị Khê (Thường Tín, Hà Tây). Cha là Nguyễn Phi Khanh, một học trò nghèo, học giỏi, đỗ thái học sinh (tiến sĩ). Mẹ là Trần Thị Thái, con Trần Nguyên Đán, một Qúy Tộc đời Trần.
Lên sáu tuổi, mất mẹ, lên mười tuổi, ông ngoại qua đời, ông về ở Nhị Khê, nơi cha dạy học. Năm hai mươi tuổi, năm 1400, ông đỗ thái học sinh và hai cha con cùng ra làm quan với nhà Hồ. Năm 1407, giặc Minh cướp nước tạ Nguyễn Phi Khanh bị chúng đưa sang Trung Quốc. Nguyễn Trãi và một người em đi theo chăm sóc. Nghe lời cha khuyên , ông trở về, nhưng bị quân Minh bắt giữ. Sau đó, ông tìm theo Lê Lợị Suốt mười năm chiến đấu, ông đã góp công lớn vào chiến thắng vẻ vang của dân tộc.
Đầu năm 1428, quét sạch quân thù, ông hăm hở bắt tay vào xây dựng lại nước nhà thì bỗng dưng bị nghi oan và bắt giam. Sau đó ông được tha, nhưng không còn được tin cậy như trước. Ông buồn, xin về Côn Sơn. Đó là vào những năm 1438 - 1440. Năm 1440, Lê Thái Tông mời ông trở lại làm việc và giao cho nhiều công việc quan trọng. Ông đang hăng hái giúp vua thì xảy ra vụ nhà vua chết đột ngột ở Trại Vải (Lệ Chi Viên, Bắc Ninh). Vốn chứa thù từ lâu đối với Nguyễn Trãi, bọn gian tà ở triều đình vu cho ông âm mưu giết vua, khép vào tội phải giết cả ba họ năm 1442.
Nỗi oan tày trời ấy, hơn hai mươi năm sau, 1464, Lê Thánh Tông mới giải tỏa, rồi cho sưu tầm lại thơ văn ông và tìm người con trai sống sót cho làm quan.
Nhìn chung, ở cuộc đời Nguyễn Trãi nổi lên hai điêm cơ bản sau:
Nguyễn Trãi là bậc đại anh hùng dân tộc và là một nhân vật toàn tài hiếm có của lịch sử Việt Nam trong thời đại phong kiến. Ở Nguyễn Trãi có một nhà chính trị, một nhà quân sự, một nhà ngoại giao, một nhà văn hóa, một nhà văn, một nhà thơ tầm cỡ kiệt xuất.
Nhưng Nguyễn Trãi cũng là một người đã phải chụi những oan khiên thảm khốc, do xã hội củ gây nên cũng tới mức hiếm có trong lịch sử.
SỰ NGHIỆP THƠ VĂN
Nhà văn, nhà thơ lớn: là anh hùng dân tộc, Nguyễn Trãi còn là nhà văn, nhà thơ lớn. Ông còn để lại nhiều tác phẩm có giá trị. "Quân trung từ mệnh tập" là những thư từ gửi cho các tướng giặc và những giấy tờ giao thiệp với triều đình nhà Minh, nhằm thực hiện kế "đánh vào lòng", ngày nay gọi là địch vận. "Bình Ngô đại cáo" lấy lời Lê Lợi tổng kết 10 năm chống giặc, tuyên bố trước nhân dân về chính nghĩa quốc gia, dân tộc, về qúa trình chiến đấu gian nan để đi đến chiến thắng vĩ đại cuối cùng giành lại hòa bình cho đất nước. "Lam Sơn thực lục" là cuốn sử về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. "Dư địa chí" viết về địa lý lịch sử nước tạ "Chí Linh sơn phú" nói về cuộc chiến đấu chống giặc Minh gian khổ và anh hùng. Các tác phẩm ấy đều là văn bằng chữ Hán.
Về thơ, có hai tập: "Ức trai thi tập" bằng chữ Hán, "Quốc âm thi tập" bằng chữ Nôm, tức chữ Việt, đó là thơ cả một đời, từ lúc trẻ đến tuổi già, nhiều nhất là khoảng 10 năm tìm đường và thời gian về nghỉ ở Côn Sơn. Nội dung thấy rõ trong đó là tâm tình đối với quê hương, gia đình, với nước, với dân, với bao éo le trong cuộc đờị..
Tình yêu quê hương gia đình: Nội dung thơ văn ông rất phong phú. Đây chỉ nói vắn tắt một vài khía cạnh. Nét đầu tiên là niềm tha thiết với thiên nhiên ở quê hương. Bắt đầu là những cái nhỏ nhặt, tưởng như không đâu, nhưng chan chứa thân thương. Rau muống, mồng tơi, râm bụt, cây chuối, cây đa, cây míạ.. đều thành vần điệụ Đào, liễu, tùng, trúc cao sang đứng liền bên cạnh rau muống, mồng tơi quê mùa một cách tự nhiên. Không chút gì phân biệt sang hèn. Tất cả đều được lòng ông trìu mến. Ông nói một cách trang trọng: "Hái cúc, ương lan, hương bén áo, Tìm mai, đạp nguyệt, tuyết xâm khăn", mà cũng vừa vui tươi chân chất: "Ao cạn, vớt bèo cấy muống, Trì thanh, phát cỏ ương sen". Ông phát hiện ra cái đẹp bình dị rất bất ngờ: Đêm trăng gánh nước thì gánh luôn trăng đem về ("Chè tiên nước ghín nguyệt đeo về"). Bầu trời không mây, trong suốt một màu xanh, ông thấy đó là một bầu ngọc đông lại ("Thế giới đông nên ngọc một bầu"). Thuyền bè chen nhau gối đầu lên bãi, ông nhìn thành một đám tằm lúc nhúc ("Tằm ươm lúc nhúc thuyền đầu bãi"). Con rùa, con hạc, núi, chim, mây, trăng, ông coi là con cái, là láng giềng, là anh em: "Rùa nằm, hạc lẩn nên bầy bạn, U ấp cùng ta làm cái con...", "Núi láng giềng, chim bầu bạn, Mây khách khứa, nguyệt anh tam". Có lúc, ông như hòa tan mình vào thiên nhiên đến mức dòng suối, tảng đá phủ rêu, vòm thông tán trúc như hòa nhập với ông làm một: "Côn Sơn có suối rì rầm. Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai, Côn Sơn có đá rêu phơi, Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm, Trong lèn thông mọc như nêm, Tha hồ muôn lọng ta xem chốn nằm, Trong rừng có bóng trúc râm, Giữa màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn"... (Côn Sơn ca - dịch).
Tiếp theo là niềm tha thiết với bà con thân thuộc ở quê nhà. Thời còn giặc Minh, nhiều năm ông phải lẫn tránh khắp nơi, xa nhà, xa quê, xa bà con thân thuộc với bao nỗi buồn rầụ Đêm thu, xa nhà, bên ngọn đèn khuya, ông day dứt: :Gió thu đến, lá rụng rồị mình vẫn lận đận quê người, Đêm mưa, bên ngọn đèn leo lét, hồn mộng cứ vẫn vơ mãi nơi đất khách" (Đêm thu đất khách - dịch). Tiết Thanh minh đến, theo tục, con cháu phải về thăm mồ mã ông bà, sửa sang, bồi đắp, thắp nén hương tưởng nhớ, cho đúng đạo làm con cháu, thế mà đã bao năm ông không về được. Ông chỉ não lòng: "Thân mình xa ngàn dặm, mồ mã ông bà ở quê không sao giẫy cỏ thắp hương, Mười năm đã qua, những nguời ruột thịt, quen thân cũ đã chẳng còn ai, Đành mượn chén rượu ép mình uống, không cho lòng cứ ngày ngày xót xa nỗi nhớ quê" (Thanh minh - dịch).
Ông mất mẹ lúc mới lên sáụ Lòng con thương mẹ càng nồng. Ông bà ngoại, cậu, dì đều ở Côn Sơn. Quê nội nhiều đời cũng ở đó. Một lần đi thuyền về thăm, ông ôn lại bao nỗi đắng cay trong những ngày lưu lạc. Nghe sao mà tha thiết: "Mười năm rồi mình trôi dạc như cánh bèo, Đêm ngày nổi nhớ quê cứ như giày vò trong lòng, Bao lần đã gửi hồn tìm về quê cũ, Nhưng rồi đành nhỏ nước mắt thấm máu mà gội rửa trong tưởng tượng nấm mồ mẹ, mồ mã ông bà, còn xóm làng, bà con, trong lúc giặc giày xéo thì tránh sao được những hành vi bạo tàn của chúng! mà mình thì cứ đang phải thương xót suông, Trời: biết làm sao đây! Một đêm trôi qua bên gối, không cách nào nhắm mắt được" (viết trên thuyền về Côn Sơn - dịch).
Đời sống trong sạch, suốt đời một lòng vì nước vì dân: Trở về với nông thôn, ông yên lòng và tự hào: "Quê cũ nhà ta thiếu của nào, Rau trong nội, cá trong ao". Cấy cày là niềm vui: "Một cày một cuốc thú nhà quề, Áng chúc lan chen vãi đậu kê". Người dân bùn lấm đáng được biết ơn: "Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày". Cuộc sống giản dị, nghèo mà thanh: "Bữa ăn dầu có dưa muối, Áo mặc nài chi gấm là", "Hài cỏ đẹp chân đi đủng đỉnh, Áo bô quen cật vận xềnh xoàng", xa lánh chốn lợi danh nham hiểm: "Co qoe thay bấy ruột ốc, Khúc khuỷu làm chi trái hòe". Ông ca ngợi chi tiết của tùng, trúc, mai, ba cây không chịu khuất phục trước giá lạnh mùa đông và ông luôn giữ một tấm lòng trong sạch, một tấm "lòng thơm".
Lòng thơm ấy là lòng yêu nước thương dân. Có khi ông gọi đó là "lòng trung hiếu", "lòng ưu ái". Nó suốt đời sôi nổi: "Bui có một lòng trung liễn hiếu, Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen", "Bui một tấc lòng ưu ái cũ, Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông". Nó dựa trên lý tưởng nhân nghĩạ Nhân nghĩa là một tư tưởng cao qúy xuyên thấm cuộc đời và thơ văn ông. Đối với ông, nhân nghĩa là "yên dân", "trừ bạo" hay "Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược". Được như vậy mới thực sự "Có nhân, có trí, có anh hùng". Nhân trí, anh hùng ấy thuộc lòng yêu nước cao cả của ông, yêu nước bằng tư tưởng, tình cảm, bằng hành động cứu nước lo dân tuyệt vờị , cái nhân, cái nghĩa lớn nhất là phấn đấu đến cùng chống ngoại xâm, diệt bạo tàn, vì độc lập của nước, hạnh phúc của dân. Đất nước bị ngoại xâm, nó hiện thành lòng lòng căm thù giặc cao độ và ý chí kiên trì, gang thép tiêu diệt quân thù: "Căm giặc nước thề không cùng sống", "Nếm mật nằm gai, há phải một sớm hai tối, Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh". Quân giặc quét sạch rồi, nó là khát khao xây dựng một đất nước hưng thịnh, nhân dân đời đời ấm no hạnh phúc: "Xã tắc từ đây bền vững, Giang sơn từ đây đổi mớị.., Muôn thuở nền thái bình vững chắc".
======================================
Gia Huấn Ca
Lời mở đầu
Đặt quyển sách, vắt tay nằm nghĩ,
Hễ làm người dạy kỹ thì nên,
Phấn son cũng phải bút nghiên,
Cũng nhân tâm ấy há thiên lý nào.(*)
Dạy Vợ Con
Nhân thong thả lựa vần quốc ngữ,
Làm bài ca dạy vợ nhủ con:
Lời ăn nết ở cho khôn,
Chớ nên đa quá, đa ngôn chút nào!(*)
Ăn mặc chớ mỹ miều chải chuốt,
Hình dung đừng ve vuốt ngắm trông,
Một vừa hai phải thì xong,
Giọt dài giọt ngắn cũng không ra gì?(*)
Khi đứng ngồi chứ hề lơ lẳng,
Tiếng nhục nhằn nữa nặng đến mình,
Hạt mưa chút phận lênh đênh,
Tấm son tạc lấy chữ trinh làm đầu.(*)
Kìa mấy kẻ làu làu tiết ngọc,
Đem sắt đanh nguyện lúc lửa châm,
Con hiền cha mẹ an tâm,
Một nhà khen ngợi, nghìn năm bia truyền.(*)
Nọ những kẻ nước nguyền non hẹn,
Thấy mùi hoa bướm nghển, ong chào,
Miệng đời dê diếu biết bao,
Đông ra quốc pháp, nhục vào gia thanh.(*)
Đem người trước lấy mình ngắm lại,
Khôn ba năm đừng dại một giờ,
Đua chi chén rượu câu thơ,
Thuốc lào ngọt nhạt, nước cờ thấp cao.
Đám dồi mỏ ra vào săn sóc,
Lại bài phu, tam cúc, đánh đinh,
Đố mười, chẵn lẻ, đố kinh,
Tổ tôm, kiệu chắn, sám quanh tứ chiều.
Đi đứng đắn, chớ điều vùng vẫy,
Khi tối tăm đèn phải phân minh,
Hoặc khi hội hát linh đình,
Được lời dạy đến thì mình hãy ra.
Ra phải có mẹ già em nhỏ,
Đừng đánh đàn, đánh lũ không hay,
Nói đừng chau mặt, chau mày,
Nghe ra ngậm đắng nuốt cay hay nào!
Của tằn tiện, chắt chiu hàn gắn,
Khách buôn tàu chưa hẳn nơi đây !
Cũng đừng vắt nước cổ chày,
Tiếp tân tế lễ là ngày nên hoang.(*)
Ăn ở chớ lòng mang khoảnh khắc,
Mua bán đừng điêu trác đong đưa,
Mua đừng ráo riết quá lừa,
Bán đừng bo xiết, ích ta hại người.
Chớ tắt mắt của người kém cỏi,
Đừng đảo điên có nói làm không,
Giàu sang cũng chớ khoe ngông,
Miễn mình ấm phận chớ lòng khinh ai.
Khó khăn chớ vật nài oán hối,
Hết bĩ rồi tới buổi thái lai,(*)
Cầm cân, tạo hóa đổi dời,
Giàu ba họ, khó ba đời mấy ai?(*)
Đừng học cách tham lời đặt lãi,
Lợi kẻ cho thì hại kẻ vay,
Dễ dàng nợ phải lay nhay,
Đến đầu đũa quá, e cay đắng nhiều.(*)
Hoặc lỡ thiếu phải điều lĩnh tạm,
Dù ít nhiều liệu sớm tính xong,
Chẳng nên mê mẩn hơi đồng,
Qua lần cho khỏi thì lòng mới nguôi.
Thói mách lẻo, ngồi rồi bỏ hết,
Hễ điều gì nói ít mới hay,
Lân la giắt rợ, giắt rây,
Đã hư công việc, lại dày tiếng tăm.(*)
Việc chợ búa chăm chăm chúi chúi,
Buổi bán xong liệu vội ra về,
Cửa nhà trăm việc sớm khuya,
Thu va thu vén mọi bề mới xong.
Phòng những kẻ có lòng gian vặt,
Nhỡ xảy ra một mất mười ngờ,
Tiếc thầm đứng ngẩn, ngồi ngơ,
Đau buồn thôi lại đổ cho tại trời.
Từ chốn ở, nơi ngồi thay thảy,
Rác ngập đường nhìn vậy chan chan,
Ai vào rác ngập ước chân,
Bát mâm tơi tả chiếu chăn đầy giường.
Tuy khó rách, giữ gìn thơm sạch,(*)
Có hay gì chiếu lệch bụi nhơ,
Đồ ăn thức nấu cho vừa,
Thường thường giữ lấy muối dưa ngon lành.
Nghề bánh trái chiều thanh vẻ lịch,
Cũng học dần thói cách người ta,
Vá may giữ nếp đàn bà,
Mũi kim nhỏ nhặt mới là nữ công.
Thủa tại gia phải tòng phụ giáo,(*)
Khi lấy chồng giữ đạo chính chuyên,(*)
Lại là hiếu với tổ tiên,
Những ngày giỗ tết không nên vắng nhà.
Đồ cúng cấp hương trà tinh khiết,(*)
Theo lễ nghi khép nép, khoan thai,
Ăn nhiều ăn ít cho rồi,
Nhớ điều ghẻ lạnh lễ thôi lại về.
Với Cha Mẹ
Dù nội, ngoại hai bề cũng vậy,
Đừng trành hanh bên ấy, bên này,
Cù lao đội đức cao dày,
Phải lo hiếu kính đêm ngày khăng khăng.
Bởi thương đến mới năng mắng quở,
Muốn cho ta sáng sủa hơn người,
Ân cần kẽ tóc, chân tơ,
Tấm lòng chép để mấy lời tạc ghi.
Đừng nặng nhẹ, tiếng chì tiếng bấc,
Đ ừng vùng vằng mặt vực, mặt lưng,
Có thì sớm tiến trưa dâng,
Cơm ngon canh ngọt cho bằng chị em.
Dù chẳng có thì yên một phận,
Người trên ta há giận ta sao!
Hoặc khi lầm lỗi điều nào,
Đánh đằng cửa trước, chạy vào cửa sau.
Khi ấm lạnh ta hầu coi sóc,
Xem cháo cơm, thang thuốc mọi bề,
Ra vào thăm hỏi từng khi,
Người đà vô sự, ta thì an tâm.
Việc báo hiếu phải chăm chữ hiếu,
Kiệm hay phong cũng liệu tùy ngơi,(*)
Đừng điều tranh cạnh chia bai,
Xấu trong làng nước, để cười mai sau.
Với Chồng
Đạo vợ chồng tình sâu nghĩa ái,
Lại chẳng nên mặt tái, mày tăm,
Chuyện đâu bỏ đấy cho êm,
Đừng đem bên ấy về gièm bên ta.
Sách có chữ "nhập gia vấn húy",(*)
Khi nói năng phải kỹ kiêng khem,
Dịu dàng tiếng thuận lời mềm,
Cứ lời chồng dạy mới yên cửa nhà.
Chớ nên cậy mình ta tài sắc,
Chồng nói ra nhiếc móc chê khen.
Nói càn như ở bậc trên,
Thường khi động đến tổ tiên quá lời.
Cơn giận đến, sự đời ngang ngửa,
Dở dói ra nát cửa tan nhà,
Chữ "tùy" là phận đàn bà,
Nhu mì để dạ, chua ngoa gác ngoài.
Dù lỗi phận gặp người tửu sắc,
Hay gặp người cờ bạc lưu liên,
Nhỏ to tiếng dịu lời êm,
Dần dà uốn mãi may mềm được chăng !
Phải chồng ngược, cắn răng chịu khổ,
Chớ nghiêng đầu, ngảnh cổ thiệt thân,
Duyên may gặp được văn nhân,
Thuộc câu "tương kính như tân" làm lòng.(*)
Nghiệp đèn sách khuyên chồng sập sã,
Tiếng kê minh gióng giả đêm ngày,
Khuyên chồng nhớ đến đạo thầy,
Vật dâng lớn nhỏ gọi nay lễ thường.
Với Vợ Lẻ
In lấy chữ tao khang chi nghị,(*)
Đừng mang câu đố kỵ chi thường,
Dây bìm cho tựa cành vàng,(*)
Trước chàng đẹp mặt, sau nàng đỡ tay.
Câu "đường cái" xưa nay cũng vậy,
Trai làm nên lấy bảy lấy ba,(*)
Lấy về hầu hạ nhà ta,
Thêm hòe, nẩy quế có là con ai?(*)
Cũng da thịt cũng tai mắt thế,
Kém ta nên phận ế hoa ôi,
Nghĩ tình ăn cạnh nằm ngoài,
Ấm no nên xót lấy người bơ vơ.
Thế mới phải phép thờ phu tử,
Ấy mới là đạo xử hài hòa,
Chữ "Tùy" rắn khúc nghi gia,
Môn đường thong thả, một nhà vẻ vang.
Với Bạn Hữu Của Chồng
Kìa những đứa mặt thường cau có,
Khách đến nhà chửi chó mắng mèo,
Cất lời nặng cỡ đá đeo,
Đã ra thét tớ lại vào mắng con.
Khách về đoạn sợ mòn mất chiếu,
Chồng ra đường chẳng kẻo mặt mo!
Hễ ngày bạn hữu giao du,
Sai người trải chiếu, sắp đồ tiếp ra.
Dù trăm giận thì ta để bụng,
Có trọng người mới trọng chồng ta.
Tùy người thết đãi rượu trà,
Nhớ rằng: Của gửi chồng ta đi đường!
Với Chị Em
Ấy là vẹn cương thường bằng hữu,
Lại phải tường trong đạo chị em,
Đạo em thì phải trông lên,
Đạo chị trông xuống cho êm đẹp chiều.
Miếng bùi ngọt chia đều như một,
Khi nắng mưa ấm sốt đỡ tay,
Với nhau như bát nước đầy,
Lá lành đùm bọc bóng cây rườm rà!
Đạo thúc tẩu một nhà minh bạch,
Lánh hiềm nghi tăm tích rõ ràng,
Trộm trông bóng đuốc Vân Trường,
Nức danh ba nước treo gương muôn nhà.
Với Trong Họ Ngoài Làng
Cả trong ngoài cùng là đàn cháu,
Xem như con yêu dấu chẳng sai,
Đồng quà, tấm bánh hôm mai,
Chớ điều dằn vật, chớ lời gieo đanh.
Từ họ mạc, láng giềng, hàng xóm,
Cũng ở cho trong ấm ngoài êm,
Tiếng chào, tiếng hỏi cho mềm,
Chẳng khinh ai cũng chẳng hiềm oán ai.
Với Những Khi Sản Dục
Ấy ngôn hạnh các lời hằng giữ,
Lại cần điều cư xử cho tuyền,
Hễ ngày sóc, vọng, hối, huyền,(*)
Cùng ngày nguyệt tín phải khuyên dỗ chồng.
Khi thai sản trong phòng gìn giữ,
Học cổ nhân huấn tử trong thai,
Dâm thanh chớ để vào tai,
Ác ngôn chớ chút bợn lời sam sưa!
Từ xuất nhập, khởi cư, hành động,(*)
Có lễ nghi nghiêm trọng đoan trinh,(*)
Đứng ngồi chính đại quang minh,(*)
Cho bằng phẳng thế, chớ chênh lệch mình.
Chớ vịn cao cũng đừng mang nặng,
Đừng ăn đồ cay đắng canh riêu,
Đừng ăn ít, chớ ăn nhiều,
Nuôi từ trong dạ khỏi điều lo xa.
Khi sinh nở thai hòa vô sự,
Cẩn từ khi trong cữ ngoài tuần,
Chiều sương chớ để áo quần,
Đỉnh đầu phải cúi, bước chân phải dò.
Nơi bếp vách đừng cho hơ lửa,
Ngọn đèn hoa chớ quở quá ngôn,(*)
Kiêng khem trăm sự vuông tròn,
Trước mình yên dạ, sau con ít sài.
Với Con Cái
Ngày con đã biết chơi biết chạy,
Đừng cho chơi cầm gậy, trèo cao,
Đừng cho chơi búa chơi dao,
Chơi vôi, chơi lửa, chơi ao có ngày.
Lau cho sạch không hay dầm nước,
Ăn cho vừa, đừng ước cao lương,
Mùa đông tháng hạ thích thường,
Đừng ôm ấp quá, đừng suồng sã con.
Dạy từ thuở hãy còn trứng nước,
Yêu cho đòn bắt chước lấy người,
Trình thưa, vâng dạ, đứng ngồi,
Gái trong kim chỉ, trai ngoài bút nghiên.
Gần mực đen, gần đèn thì sáng,
Ở bầu tròn, ở ống thì dài,
Lạ gì con có giống ai,
Phúc đức tại mẫu là lời thế gian.(*)
Làm mẹ chớ ăn càn, nói dở,
Với con đừng chửi rủa quá lời,
Hay chi thô tục những người,
Hôm nay cụ cụ, ngày mai bà bà.
Gieo tiếng ra chết cây, gãy cối,
Mở miệng nào có ngọn có ngành,
Đến tay bụt cũng không lành,
Chồng con khinh rẻ, thế tình mỉa mai!
Ấy những thói ở đời ngông dại,
Khôn thì chừa, mới phải giống người,
Sinh con thì dạy thì nuôi,
Biết câu phải trái lựa lời khuyên răn.
Với Dâu Rễ
Tuổi cả khôn, hôn nhân trạch phối,(*)
Giàu đừng tham, khó đói chớ nề,
Dâu hiền, rể thảo tìm về,
Xem tông xem giống kẻo mê mà lầm.(*)
Xử với rể một niềm kính trọng,
Dù dở hay, đừng giọng mỉa mai,
Với dâu, dạy bảo phải lời,
Bắt khoan bắt nhặt, biết ai cho vừa!
Với Tôi Tớ
Gương giáo tử nhường đưa mặt nhận,
Mực trì gia đặt hẳn ân uy,
Bọt bèo là phận nô tỳ,
Dạy nghiêm, ở thảo hai bề vẹn hai.
Có câu ví "Chiều người lấy việc",
Chẳng há nên ráo riết người ta,
Hay thì nó ở lâu ra,
Dở thì nó bước nào ta bận gì.
Một đôi kẻ phải khi lỡ độ,
Có thì cho chẳng có thì thôi,
Chẳng nên nhiếc mắng nhiều lời,
Cơ hàn hầu dễ có ai muốn gì.
BungRieu
03-20-2003, 09:57 AM
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/phan-boi-chau.jpg
Sào Nam - Phan Bội Châu (1867-1940)
Phan Bội Châu sinh vào tháng Chạp năm Ðinh Mão, tức là năm Tự Ðức thư 20 (1867), cha mẹ đặt tên là Phan Văn San. Về sau, vì sợ phạm húy với Hoàng tử Vĩnh San, tức vua Duy Tân, con thứ của vua Thành Thái, nên đổi lại là Phan Bội Châụ Bội-Châu có nghĩa là đeo ngọc.
Sinh trưởng trong một gia đình lễ giáo, thân phụ ông là Phan Văn Phổ, một nhà nho chân chính rất trọng chữ thanh cần. Thân mẫu ông là bà Nguyễn Thị Nhàn, một nữ sĩ được tiếng là người đức hạnh.
Phan Bội Châu quê ở xã Ðông Liệt, tỉnh Nghệ An. Năm lên 3 tuổi, ông phải theo cha mẹ về ở nơi quê của nội tổ ở làng Ðan Nhiệm, tổng Xuân Liễm, huyện Nam Ðàn, tỉnh Nghệ An.
Từ thuở bé, Phan Bội Châu đã được hấp thụ một nền giáo dục rất chặt chẽ nhờ vào sự đảm đang nuôi nấng, dạy dổ của mẫu thân, nhưng phần lớn cũng nhờ vào sự nghiêm khắc của thân phụ, lúc bấy giờ làm nghề dạy học.
Phan Bội Châu rất mực thông minh. Năm lên 6 tuổi được cho đi học, chỉ trong ba ngày, ông học hết cuốn Tam Tự Kinh. Lên bảy tuổi học đến sách Luận ngữ, ông đã mô phỏng để làm cuốn Phan tiên sinh luận ngữ, có ý mỉa mai chúng bạn nên bị phụ thân quở phạt. Năm 1874, ở Nghệ An có phong trào Văn Thân, dù chỉ mới là một đứa bé lên tám, Phan Bội Châu cũng muốn noi gương của Trần Quốc Toản xưa đã giúp Hưng Ðạo Vương để đại phá quân Nguyên ở Bến Chương Dương nêu cao lá cờ phá cường tặc báo hoàng ân nên ông đã tụ tập bọn trẻ con lại để tập trận giả bằng những súng đạn do chính ông làm ra.
Năm 1885, hưởng ứng phong trào Cần Vương, Phan Bội Châu tổ chức Sĩ-tử Cần Vương đội. Nhưng nhận thấy rằng công cuộc Cần Vương chỉ có thể đem lại kết quả tốt đẹp khi nào người lãnh đạo là một nhân vật có chân khoa bảng xuất thân, nhất là phải có danh vọng, ông phải đành quay về với lối học cử nghiệp.
Dù rất thông minh và hay chữ, Phan Bội châu thi Hương bao nhiêu lần vẫn trượt. Sở dĩ có chuyện lạ như thế vì :
* Lối văn khoa cử không thích hợp với người đã có sẵn một tinh thần cách mạng. Do đó, Phan Bội Châu không chịu ép mình trong khuôn khổ của trường quy.
* Nhà nghèo, ông thường làm bài mướn để lấy tiền tại trường thị Ðã có lần vì phạm húy, ông bị bôi tên trong danh sách thí sinh trọn đời. Về sau, nhờ sự vận động của quan Tế-Tửu Trường Quốc Tử Giám là Khiêu Năng Tĩnh, thầy học của ông, ông được đi thi lại. Khóa thi Hương năm Canh Tý (1900), ông thi đỗ Thủ Khoa tại trường thi Nghệ An lúc bấy giờ ông đã 33 tuổi.
Năm 1901, ông có thi Hội nhưng không đỗ, ông cũng chẳng màng đến công danh nữa. Con đường cử nghiệp đối với ông chỉ là phương tiện giúp cho ông mưu đồ việc lớn, chớ chí khí của nhà cách mạng lão thành Phan Bội Châu đâu đã chịu gởi nơi trường khoa danh.
Tiếng tăm hay chữ và mảnh bằng Giải nguyên đã giúp Phan Bội Châu có uy tín trong việc lãnh đạo công cuộc khởi nghĩa Cần Vương. Ông bắt đầu hoạt động mạnh trong nước.
Sau khi Phan Ðình Phùng mất, phong trào Cần Vương xuống dần và cơ hồ tan rã, Phan Bội Châu đã nối chí nhà lãnh đạo tiền bối. Phan Bội Châu đứng ra kêu gọi dân chúng ở miền Thượng du khởi nghĩa.
Nhận thấy con đường cử nghiệp làm cho dân tộc đi đến chổ yếu hèn, Phan Bội Châu kêu gọi canh tân. Ðể khích động lòng ái quốc của nhóm sĩ phu và nhân dân trong nước, ông đã viết ra tập Lưu cầu huyết lệ tâm thư. Ông đã vào Nam ra Bắc để liên lạc với những nhà ái quốc trong nước để vận động cho cuộc cách mạng có kết quả.
Lúc bấy giờ, những người cùng chí hướng với Phan Bội Châu ở miền Trung như Ðặng Nguyên Cản, Ðặng Thái Thân, Trần Quý Cáp, Ngô Ðức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Chu Trinh, Nguyễn Cần, ở miền Bắc có Nguyễn Thượng Hiền, Lê Ðại, Nguyễn Quyên, Lương Văn Can, ở miền Nam có Nguyễn Thần Hiến, Trần Chánh Chiếu. Phan Bội Châu cũng đã lên tận Yên Thế xin gặp Hoàng Hoa Thám. Ðể cho công cuộc Cần Vương được thống nhất, ông bàn với ông Tiểu La Nguyễn Văn Thành đồng tôn Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể lên làm Hội Chủ.
Nhận thấy còn phải có sự viện trợ của ngoại bang trong việc cách mạng kháng Pháp, ông bàn với các bạn cho ông được xuất dương.
Năm 1905, Phan Bội Châu xuống tàu, giả làm thương khách qua Tàu rồi sau đó sang Nhật.
Sau khi xuống tàu sang Hương Cảng rồi đến Nhật, Phan Bội Châu đến gặp Lương Khải Siêu, người lãnh đạo công cuộc duy tân của Trung Hoa và sau cuộc chính biến phải lưu vong sang Nhật. Tại đây, Lương Khải Siêu giới thiệu Phan Bội Châu với những vị chính khách Nhật như Bá tước Ðại Ôi và Khuyển Dương Nghị. Hai vị này khuyên ông nên về nước mời Kỳ Ngoại Hầu sang Nhật. Sau đó ít lâu, ông lại sang Nhật.
Năm 1906, Kỳ Ngọai Hầu Cường Ðể và nhiều du học sinh sang Nhật. Phan Bội Châu lại xin cho các du học sinh vào học ở Chấn Võ Học Hiệu và Ðồng Vạn Thư Viện. Cũng trong năm ấy, ông Phan Chu Trinh sang Hương Cảng và qua Nhật. Hai nhà cách mạng cùng họ Phan đã gặp nhau và luận bàn quốc sự. Dù Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu có bất đồng ý kiến, nhưng cả hai đều rất quý mến nhau .
Cuối năm 1906, Phan Bội Châu lại về nước một lần nữa để dọ đường hầu để chở khí giới về cho Hoàng Hoa Thám ở Yên Thế.
Năm 1907, Phan Bội Châu lại trở sang Nhật. Sau khi ký thương ước với Pháp xong (năm 1908) chính phủ Nhật đã ra lệnh trục xuất những nhà cách mạng Việt Nam ra khỏi lãnh thổ. Phan Bội Châu và các chiến hữu phải trở lại Trung Hoa hoạt động.
Năm 1912, do theo lời yêu cầu của các bạn, Phan Bội Châu qua Xiêm (Thái Lan) một thời gian. Cũng trong năm này, cuộc cách mệnh Tân Hợi của Trung Hoa thành công. Từ Xiêm, ông trở lại Trung Hoa, lập ra Việt Nam Quang Phục Hội chủ trương theo chính thể dân chủ.
Năm 1912, Trung Hoa Dân Quốc được thành lập, Phan Bội Châu được đốc quản tại Thượng Hải là Trần Kỳ Mỹ và đô đốc Auq?ng Tây là Hồ Hán Dân giúp đỡ về tài chánh và tinh thần. Trong thời gian này, Phan Bội Châu giữ chức quyền Tổng lý Việt-Nam-Quang-Phục Hội.
Năm 1913, nhân việc ném bom ở Thái Bình HàNoi Hotel, Hội đồng Ðề Hình của thực dân Pháp xử tất cả 14 án chém, Phan Bội Châu và Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể đứng đầu sổ.
Quân lính ở tỉnh thành Quảng Ðông gây biến, Long Tế Quang đem binh đến dẹp và nhậm chức đô đốc Quảng Ðông. Vì ăn của lót của thực dân Pháp, Long Tế Quang bắt Phan Bội Châu giam vào ngục. Chính trong thời gian bi giam giữ, ông đã viết ra tập Ngục Trung Thư Cuộc thương thuyết của Pháp và Long Tế Quang chưa xong thì chiến cuộc Âu châu bùng nổ (1914-1918), Long tế Quang bị hạ, đảng cách mạng Trung Hoa cứu Phan Bội Châu ra khỏi ngục Quảng Châụ
Năm 1914, Phan Bội Châu lập tại Quảng Châu một cơ quan lấy tên là Tâm Tâm Xã dùng làm nơi liên lạc với những chiến hữu và dự định viết sách gởi về nước để giục lòng yêu nước của đồng bào và tuyên truyền tinh thần dân nước.
Trong tháng ba năm ấy, được biết tin toàn quyền Merlin sang công cán bên Nhựt, Phan Bội Châu liền triệu tập các chiến hữu quyết đón đường hạ sát Merlin. Phạm Hồng Thái được chọn thì hành việc này. Quả bom ở Sa-Ðiện nổ, tuy không giết được Merlin nhưng đã thức tỉnh được sự say ngủ của đồng bào trong nước và gây một tiếng vang khắp thế giới đều biết.
Năm 1925, nghe theo lời Lý Thụy và Lâm Ðức Thụ, Phan Bội Châu gia nhập vào tổ chức Toàn thế giới bị áp bức nhược tiểu dân tộc nhưng sau đó Lý Thụy và các chiến hữu lập mưu bắt Phan Bội Châu nộp cho thực dân Pháp để :
1. Tổ chức lấy được một số tiền thưởng (vào khoảng 15 vạn bạc) hầu có đủ phương tiện hoạt động.
2. Gây một ảnh hưởng sâu rộng trong việc tuyên truyền tinh thần ái quốc trong quốc dân.
Thế là Phan Bội Châu bị bắt tại Thượng Hải, bị giải về Hương Cảng rồi về Hải Phòng, sau cùng bị giam tại nhà giam Hỏa Lò, Hà Nội. Ðể tránh việc làm cho dư luận quá xôn xao về tin Phan Bội Châu bị bắt, thực dân Pháp gắn cho ông cái tên tù quốc phạm là Trần Văn Ðức.
Hội Ðồng Ðề Hình nhóm xử ngày 25 tháng 11 năm 1925 dưới sự chủ tọa của viên giám đốc Brida, Ðốc lý Hàno^.i là Dupuy và đại úy Bollie làm phụ thẩm, Boyer làm bồi thẩm và Arnoux Patrick làm lục sự. Hội Ðồng Ðề Hình cử luật sư Bona ở Hànoi và luật sư Larre ở Hải Phòng biện hộ cho Phan Bội Châu.
Trước những lời lẽ buộc tội gắt gao của Hội Ðồng Ðề Hình, Phan Bội Châu ung dung và chẫm rãi đối đáp một cách rõ ràng khúc chiết. Ðể bênh vực cho hành động hợp lý và quang minh chính đại của mình.
Sau khi hay tin Phan Bội Châu bi án tử hình, phong trào vận động ân xá cho ông nổi lên rầm rộ. Hội Thanh Niên Việt Nam in ra bốn ngàn lá đơn gởi đến các cơ quan chính phủ Pháp, các sứ thần liệt quốc ở Ba Lê, các tổ chức quốc tế yêu cầu can thiệp. Việt kiều ở Pháp họp đại hội bênh vực Phan Bội Châu, gởi điện tín kháng nghị hoặc yêu cầu tới những cơ quan có liên hệ đến vụ án Phan Bội Châu .
Trước sự công phẩn của quốc dân, ngày 24/12/1925, Toàn quyền Varenne, sau khi đề nghị về Pháp, quyết định xin ân xá cho nhà chí sĩ yêu nước. Sau khi được ân xá, Toàn quyền Varenne đưa Phan Bội Châu về an trí ở miền sông Hương núi Ngự (Huế) gọi là để di dưởng tuổi già nhưng kỳ thật chúng định giam lỏng ông.
Tuy nhiên, tấm lòng thiết tha yêu nước của ông không vì thế mà chịu lu mờ. Ông đã âm thầm nhận lãnh chức Cố vấn của Việt-Nam-QuốcDDân Ðảng. Ðã có lần V.N.Q.D.DD định âm mưu đem ông trốn thoát ra ngoại quốc nhưng không thành vì không sao thoát được sự dòm ngó của thực dân Pháp.
Năm 1940, khi phái bộ Nhật tiến vào Ðông Dương thì cũng chính là lúc thời cuộc đã chuyển sang giai đoạn mới cho cuộc Cách mạng dân tộc. Tiếc thay, trong giờ phút nghiêm trọng của lịch sử này, nhà cách mạng lão thành Phan Bội Châu đã lìa bỏ cõi đời theo tiền nhân về bên kia thế giới, lưu lại cho hậu thế một tấm gương sáng và nổi niềm thương nhớ không nguôi.
Trước giờ sắp lâm chung, ông đã cố gắng lấy hết hơi tàn và góp nhặt thần trí, đọc lên một bài khẩu chiếm có những lời lẽ thống thiết như sau :
Nay đang lúc tử thần chờ trước của
Có vài lời ghi nhớ về sau
Chúc phường hậu tử tiến mau.
Phan Bội Châu mất vào ngày 29/10/1940.
Ông đã để lại nhiều bài học cho hậu thế thành công. Phan Bội Châu sử dụng rất nhiều thể loại văn hoûc: thơ, phú, câu đối, ca trù, truyện, văn bia, văn tế... để vận động cách mạng. Phan Bội Châu không coi văn chương là sự nghiệp, ông hay nhắc tới câu thơ của Tùy Viên Lập thân tối hạ thị văn chương . Ông dùng văn chương làm phương tiện vận động giác ngộ để đạt mục đích giải phóng dân tộc. Chủ đề lớn nhất, luôn luôn sôi nổi nồng nhiệt trong ông là lòng yêu nước. Giọng thơ Phan Bội Châu không phải là giọng cảm khái. Cảm khái chưa phải là thái độ của hành động. Phan Bội Châu là người hành động. Thơ ông thức tỉnh tâm và trí người đọc Khi bi, khi hùng, khi nào cũng lôi cuốn thuyết phục, dựng người dậy, lôi cuốn người đi:
Mõ chuông là cái lưỡi đây
Lôi đình trên ngọn bút này nổi lên
Thơ của ông là máu là nước mắt của người thương nước viết nên câu có sức rung động hàng triệu đồng bào. Thơ của ông cũng là nghĩa khí hào hùng của người chiến đấu.
Nghĩ lắm lúc bầm gan tím ruột
Vạch trời cao mà tuốt gươm ra
Chất trữ tình trong thơ Phan Bội Châu là trữ tình cứu nước, trữ tình công dân. Đời ông, như chính ông nhận định, cả trăm lần thất bại chưa một lần thành công, nhưng lúc nào cũng cuồn cuộn lòng yêu đất nước. Có câu thật bình dị: Yêu gì hơn yêu nước nhà ta. Có câu thật thống thiết: Hồn cố quốc biết đâu mà gọi, nhưng bao giờ lòng yêu nước ấy cũng thức tỉnh người ta đứng dậy, đấu tranh đầy khí phách:
Ai ơi tỉnh dậy đừng mê
Xin đem thù nhục mà thề non sông.
Thơ Phan Bội Châu là thơ của ngọn lửa thiêng bất diệt, của lòng thương nòi giống, của một tình cảm lớn lao, dấn thân, chấp nhận mọi đầy ải lao lung, kể cả cái chết, để giành độc lập tự do cho dân cho nước. Thơ viếng người hy sinh vì nước có sự xót đau của không gian rộng lớn trời biển núi sông:
Trời xanh lồng lộng, biển mênh mông
Một lá thư đưa lệ vạn dòng;
lại có sự ca ngợi chân thành cao cả của lòng người:
"Đầu giận sao không rơi trước bạn".
Ngay trong tình thế bi đát ấy, ý chí chiến đấu của Phan Bội Châu cũng không hề nao núng. Ước có vạn tay vung vạn kiếm.
Trong 15 năm cuối đời, bị giam lỏng ở Huế, Phan Bội Châu "Ông già Bến Ngự" không có điều kiện duy trì hành động bạo lực, ông đã tận dụng con đường văn hóa, trước tác, dịch thuật, khảo cứu nhằm nâng cao dân trí, hun đúc ý chí thanh niên và tổng kết kinh nghiệm, cổ vũ hành động.
Xếp bút nghiên mà tu dưỡng lấy tinh thần
Đừng ham chơi, ham mặc, ham ăn
Dựng gan góc để đánh tan sắt lửa,
Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ.
(Bài ca chúc tết thanh niên năm 1927)
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/phanboichau2.jpg
Sống
Sống tủi làm chi đứng chật trời?
Sống nhìn thế giới hổ chăng ai?
Sống làm nô lệ cho người khiến?
Sống chịu ngu si để chúng cười?
Sống tưởng công danh, không tưởng nước.
Sống lo phú quý chẳng lo đời,
Sống mà như thế đừng nên sống!
Sống tủi làm chi đứng chật trời?
BungRieu
03-20-2003, 01:09 PM
Trần Tế Xương
Trần Tế Xương (1870-1907), hiệu Vị Thành, là người làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Ông xuất thân từ một gia đình thanh bạch nhưng cũng có vai vế ở Vị Xuyên.
Đường khoa cử của ông lận đận: đi thi từ năm 15 tuổi nhưng hỏng hoài, mãi tới năm 24 tuổi (1894) mới đổ Tú Tàị Sau đó ông lại trượt Cử Nhân 5 khoa liền.
Nhà nghèo, con đông, nghề dạy học lại bấp bênh trong thời kỳ Nho Học suy tàn xuống dốc, ông chỉ còn biết trông cậy vào bà vợ đảm đang ``quanh năm buôn bán ở mom sông''.
Trong lúc đang còn bị ám ảnh bởi cơn mộng khoa cử, ông đột ngột qua đời năm 1907 lúc mới 37 tuổị
Tác phẩm ông để lại gồm nhiều thể loại -- thơ, phú, câu đối, hát nói ... -- phần lớn đều bằng chữ Nôm.
Nếu như các cuộc nội chiến tàn khốc thời Lê mạt Nguyễn sơ đã sản sinh những Nguyễn Du, Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiềụ.. thì vận mệnh đất nước long đong thời thuộc Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã khơi thông thi tứ cho Tú Xương. Thơ văn ông giản dị, bình dân, nhưng tự nhiên và linh hoạt. Nhiều sáng tác trình bày tâm sự đau đớn, xót xa; hoặc mỉa mai, ngạo đời một cách chua chát, cay đắng; hoặc gửi gấm tấm lòng yêu nước thương nòi một cách kín đáo và sâu sắc
====================================
Chúc Tết
Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau:
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râụ
Phen này ông quyết đi buôn cối
Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầụ
Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàu:
Trăm, nghìn, vạn mớ để vào đâu ?
Phen này, ắt hẳn gà ăn bạc
Đồng rụng, đồng rơi, lọ phải cầụ
Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang:
Đứa thì mua tước; đứa mua quan.
Phen này ông quyết đi buôn lọng,
Vừa bán vừa la cũng đắt hàng.
Lẳng lặng mà nghe nó chúc con:
Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn.
Phố phường chật hẹp, người đông đúc
Bồng bế nhau lên nó ở non.
Bắt chước ai ta chúc mấy lời
Chúc cho khắp hết ở trong đời
Vua, quan, sĩ, thứ, người muôn nước
Sao được cho ra cái giống ngườị
Đi Thi Tự Vịnh
Tấp tểnh người đi tớ cũng đi,
Cũng lều, cũng chỏng, cũng vô thi .
Tiễn chân, cô mất ba đồng lẻ;
Sờ bụng, thầy không một chữ gì.
Lộc nước cũng nhờ thêm giãi nghạch ,
Phúc nhà may được sạch tràng quy .
Bốn kỳ trọn vẹn thêm kỳ nữa,
Á, ớ, u, âu, ngọn bút chì.
Thi Hỏng
Mai không tên tớ, tớ đi ngay,
Giỗ Tết từ đây nhớ lấy ngày
Học đã sôi cơm nhưng chửa chín
Thi không ăn ớt thế mà cay .
Sách đèn phó mặc đàn con trẻ,
Thưng đấu nhờ tay một mẹ màỵ
Cống hỉ, mét xì, đây thuộc cả,
Chẳng sang Tàu, tớ cũng sang Tây .
Khoa Thi
Nhà nước ba năm mở một khoa,
Trường Nam thi lẫn với trường Hà .
Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ,
Ậm ọe quan trường miệng thét loạ
Xe kéo rợp trời: quan sứ đến;
Váy lê phết đất, mụ đầm ra .
Sao không nghĩ đến điều tu sỉ ?
Ngảnh cổ mà xem lại nước nhà.
Giời Nực Mặc Áo Bông
Bức sốt nhưng mình vẫn áo bông,
Tưởng rằng ốm dậy, hóa ra không.
Một tuồng rách rưới, con như bố,
Ba chữ nghêu ngao, vợ chán chồng.
Đất biết bao giờ sang vận đỏ ?
Trời làm cho bỏ lúc chơi ngông.
Gần chùa, gần cảnh, ta tu quách;
Cửa Phật quanh năm vẫn áo sồng.
Cái Học Nhà Nho
Cái học nhà nho đã hỏng rồi,
Mười người đi học, chín người thôị
Cô hàng bán sách lim dim ngủ,
Thầy khóa tư lương nhấp nhỏm ngồị
Sĩ khí rụt rè gà phải cáo,
Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôị
Tôi đâu dám mỉa làng tôi nhỉ ?
Trình có quan tiên thứ chỉ tôi [1].
Cái Chữ Nho
Nào có ra gì cái chữ Nho,
Ông nghè, ông cống cũng nằm co
Sao bằng đi học làm thầy Phán ?
Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò.
Khen Vơ .
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ đàn con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên hai nợ, thôi đành phận,
Năm nắng mười mưa, dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không.
Ông Cò
Hà Nam danh giá nhất ông Cò,
Trông thấy ai ai chẳng dám ho .
Hai mái trống Tung, đành chịu dột;
Tám giờ chuông đánh, phải nằm co .
Người quên mất thẻ, âu trời cãi;
Chó chạy ra đường, chủ phải lo .
Ngơ ngẩn đi xia, may vớ được,
Chuyến này ắt hẳn kiếm ăn to !
Đùa Ông Phủ
Tri phủ Xuân Trường được bốn niên,
Nhờ Giời hạt ấy được bình yên.
Chữ "y", chữ "chiểu" không phê đến,
Ông chỉ phê ngay một chữ "tiền".
Lắm Quan
Ở phố hàng Song thật lắm quan:
Thành thì đen kịt, Đốc thì lang.
Chồng chung, vợ chạ kìa cô Bố;
Đậu lạy, quan xin, nọ chú Hàn.
Hỏi Ông Tiến Sĩ Mới
Tiến sĩ khoa này được mấy người ?
Nghe chừng hay chữ có ông thôị
Nghe văn mà gớm cho văn mãi,
Cờ biển vua ban cũng lạ đờị
Giễu Người Thi Đỗ
Một đàn thằng hỏng đứng mà trông,
Nó đỗ khoa này có sướng không ?
Trên ghế, bà đầm ngoi đít vịt,
Dưới sân, ông cử ngỏng đầu rồng.
Sông Lấp Nam Đi.nh
Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
Đêm nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò
Than Cùng
Lúc túng toan lên bán cả trời,
Trời cười thằng bé nó hay chơị
Cho hay công nợ là như thế,
Mà vẫn phong lưu suốt cả đờị
Tiền bạc phó cho con mụ kiếm,
Ngựa xe chẳng thấy lúc nào ngơi .
Còn dăm ba chữ nhồi trong ruột,
Khéo khéo không mà nữa lại rơi !
Nhớ Người Xưa
Ta nhớ người xa cách núi sông.
Người xa, xa có nhớ ta không ?
Sao đương vui vẻ ra buồn bã ?
Vừa mới quen nhau đã lạnh lùng.
Lúc nhớ, nhớ cùng trong mộng tưởng;
Khi riêng, riêng cả đến tình chung.
Tương tư lọ phải là trai gái,
Một ngọn đèn xanh, trống điểm thùng.
Mất Ô
Đêm qua anh đến chơi đây
Giày dôn anh diện, ô tây anh cầm.
Rạng ngày sang trống canh năm,
Anh dậy em hãy còn nằm trơ trơ
Hỏi ô, ô mất bao giờ,
Hỏi em, em cứ ỡm ờ không thưa ...
Chỉ e rày gió mai mưa
Lấy chi đi sớm về trưa với tình ?
Tự Trào
Vị Xuyên có Tú Xương,
Dở dở lại ương ương.
Cao lâu thường ăn quịt,
Thổ đĩ lại chơi lường.
Ba Thứ Lăng Nhăng ...
Một trà, một rượu, một đàn bà,
Ba thứ lăng nhăng nó quấy ta .
Chừa được thứ nào hay thứ ấy,
Có chăng chừa rượu với chừa trà !
BungRieu
03-20-2003, 01:38 PM
Hồ Xuân Hương
Tiểu sử
"Bà Chúa thơ Nôm" là con của Hồ Sĩ Danh (1706-1783), quê ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, và một người thiếp quê ở Hải Dương.
Năm sinh, năm mất, thân thế, cuộc đời, và thơ văn của bà đến nay vẫn còn vướng mắc nhiều nghi vấn. Ta chỉ biết bà sống vào thời Lê mạt Nguyễn sơ, người cùng thời với Nguyễn Du (1765-1820), Phạm Đình Hổ (tức Chiêu Hổ, 1768-1839).
Bà là em cùng cha với Hồ Sĩ Đống (1738-1786), đậu Hoàng Giáp, làm quan đến Hành Tham Tụng, tước Quận Công, cùng Bùi Huy Bích đứng đầu phủ chúa Trịnh Sâm, Trịnh Khảị
Tác phẩm nổi bật nhất của bà là số thơ Nôm trong Xuân Hương Thi Tập (dù có đôi bài đáng nghi vấn). Ngoài ra bà còn để lại tập thơ chữ Hán tựa đề Lưu Hương Ký.
Thơ văn bà có ý lẳng lơ, mai mỉa, tinh nghịch, táo bạo, nhưng chứa chan tình cảm lãng mạn, thoát ly hẳn với những lễ giáo phong kiến thời bấy giờ.
Cách tả cảnh, tả tình, cách dùng từ... trong thơ Nôm của bà có một không hai, vô cùng sống động và đặc sắc. Xuân Diệu đánh giá thơ Hồ Xuân Hương là "tót vời của nguồn thơ nôm na bình dân".
========================================
Quả Mít
Thân em như quả mít trên cây
Da nó xù xì, múi nó dầy
Quân tử có thương thì đóng cọc,
Xin đừng mân mó, nhựa ra taỵ
Ốc Nhồi
Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi,
Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi.
Quân tử có thương thì bóc yếm,
Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi.
Con Cua
Em có mai xanh, có yếm vàng,
Ba quân khiêng kiệu, kiệu nghêng ngang.
Xin theo ông Khổng về Đông Lỗ,
Học thói Bàn Canh nấu chín Thang.
Bánh Trôi Nước
Thân em vừa trắng, lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Lớn nhỏ mặc dù tay kẻ nặn,
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
Mời ăn Trầu
Quả cau, nho nhỏ, miếng trầu ôi,
Này của Xuân Hương đã quệt rồi.
Có phải duyên nhau thì thắm lại
Đừng xanh như lá, bạc như vôi.
Đền Thái Thú
Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo,
Kìa đền Thái Thú đứng cheo leo.
Ví đây đổi phận làm trai được,
Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu.
Tức Cảnh Tề Sở
Đằng quốc tôi nay vốn nhỏ nhen,
Hai bên Tề Sở giữa mà len,
Ngảnh mặt lại Tề e Sở giận,
Quay đầu về Sở sợ Tề ghen.
Đồng Tiền Hoển
Cũng lò cũng bể, cũng cùng than,
Mở mặt vuông tròn với thế gian.
Kém cạnh cho nên mang tiếng hoẻn,
Đủ đồng ắt cũng đóng nên quan.
Dỗ Bạn Khóc Chồng
Văng vẳng tai nghe tiếng khóc chồng.
Nín đi kẻo thẹn với non sông.
Ai về nhắn nhủ đàn em nhé.
Xấu máu thì khem miếng đỉnh chung.
Sư Bị Ong Châm
Nào nón tu lờ, nào mũ thâm,
Đi đâu chẳng đội để ong châm.
Đầu sư há phải gì bà cốt,
Bá ngọ con ong bé cái lầm.
Sư Bị Làng Đuổi
Cái kiếp tu hành nặng đá đeo,
Vị gì một chút tẻo tèo teo.
Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc,
Trái gió cho nên phải lộn lèo.
Bọn Đồ Dốt
Dắt díu nhau lên đến cửa chiền,
Cũng đòi học nói, nói không nên.
Ai về nhắn bảo phường lòi tói,
Muốn sống, đem vôi quét trả đền
Cảnh Thu
Thánh thót tầu tiêu mấy hạt mưa,
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ,
Xanh ôm cổ thụ tròn xoe tán,
Trắng xóa tràng giang phẳng lặng tờ.
Bầu dốc giang sơn say chấp rượu.
Túi lưng phong nguyệt nặng vì thơ.
Ơ hay, cánh cũng ưa người nhỉ,
Ai thấy, ai mà chẳng ngẩn ngơ.
Bà Lang Khóc Chồng
Văng vẳng tai nghe tiếng khóc gì ?
Thương chồng nên khóc tỉ tì ti.
Ngọt bùi, thiếp nhớ mùi cam thảo,
Cay đắng, chàng ơi, vị quế chi.
Thạch nhũ, trần bì, sao để lại,
Quy thân, liên nhục, tẩm mang đi.
Dao cầu, thiếp biết trao ai nhỉ ?
Sinh kỳ, chàng ơi, tử tắc quy.
Đánh Đu
Tám cột khen ai khéo khéo trồng,
Người thì lên đánh, kẻ ngồi trông.
Trai đu gối hạc khom khom cật,
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng.
Bốn mảnh quần hồng bay phất phới.
Hai hàng chân ngọc duỗi song song.
Chơi xuân ai biết xuân chăng tá!
Cột nhổ đi rồi, lỗ bỏ không.
Tát Nước
Đang cơn nắng cực chửa mưa tè,
Rủ chị em ra tát nước khe.
Lẽo đẽo chiếc gầu ba góc chụm,
Lênh đênh một ruộng bốn bờ be.
Xì xòm đáy nước mình nghiêng ngửa,
Nhấp nhỏm bên bờ đít vắt ve.
Mải miết làm ăn quên cả mệt,
Dang bang một lúc đã đầy phè.
Hỏi Cô Hàng Sách
Cô hàng lấy sách cắp ra đây!
Xem thử truyện nào thú lại say.
Nữ tú có bao xin xếp cả,
Phương hoa phỏng liệu có còn hay ...?
Tuyển phu mặc ý tìm cho kỹ,
Chinh phụ thế nào bán lấy may.
Kỳ ngộ bích câu xin tiện hỏi,
Gía tiền cả đó tính sao vay.
Hỏi Trăng
Trải mấy thu nay vẫn hãy còn,
Cớ sao khi khuyết lại khi tròn.
Hỏi con bạch thố đà bao tuổi,
Hở chị Hằng Nga đã mấy con?
Đêm tối cớ chi soi gác tía?
Ngày xanh còn thẹn với vừng son.
Năm canh lơ lửng chờ ai đó?
Hay có tình riêng với nước non?
Đền Trấn Quốc
Ngoài cửa hành cung cỏ dãi dầu,
Chạnh niềm cố quốc nghĩ mà đau!
Một tòa sen lạt hơi hương ngự,
Năm thức mây phong điểm áo chầu.
Sóng lớp phế hưng coi vẫn rộn.
Chuông hồi kim cổ lắng càng mau.
Người xưa, cảnh cũ đâu đâu tá?
Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu.
Giễu Quan Hậu
Tình cảnh ấ, nước non này,
Dẫu không Bồng Đảo cũng tiên đây.
Hoành Sơn mực điểm đôi hàng nhạn,
Thúy lĩnh đen trùm một thức mây.
Lấp ló đầu non vừng nguyệt chếch,
Phất phơ sườn núi lá thu bay.
Hỡi người quân tử đi đâu đó?
Đến cảnh sao mà đứng lượm tay.
Chùa Quán Sứ
Quán sứ sao mà cảnh vắng teo,
Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo?
Chày kình tiểu để suông không đấm,
Tràng hạt vãi lần đếm lại đeo.
Sáng banh không kẻ khua tang mít,
Trưa trật nào người móc kẽ rêu.
Cha kiếp đường tu sao lắt léo,
Cảnh buồn thêm ngán nợ tình đeo.
Hang Cắc Cớ
Trời đất sinh ra đá một chòm,
Nứt làm hai mảnh hỏm hòm hom.
Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn,
Luồng gió thông reo vỗ phập phòm.
Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm,
Con đường vô ngạn tối om om.
Khen ai đẽo đá, tài xuyên tạc,
Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm.
Chùa Hương
Bầy đặt kìa ai khéo khéo phòm,
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom.
Người quen cõi Phật chen chân xọc,
Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm.
Giọt nước hữu tình rơi thánh thót,
Con thuyền vô trạo cúi lom khom.
Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại,
Rõ khéo trời già đến dở dom.
Hang Thanh Hóa
Khen thay con tạo khéo khôn phàm,
Một đố dương ra biết mấy ngoàm.
Lườn đá cỏ leo, rờ rậm rạp.
Lách khe nước rỉ, mó lam nham.
Một sư đầu trọc ngồi khua mõ,
Hai tiể lưng tròn đứng giữ am.
Đến mới biết rằng hang Thanh Hóa,
Chồn nhân, mỏi gối, hãy còn ham.
Chợ Trời
Khen thay con Tạokhéo trêu ngươi.
Bày đặt ra nên cảnh chợ Trời!
Buổi sớm gió đưa, trưa nắng đứng,
Ban chiều mây họp, tối trăng chơi.
Bầy hàng hoa quả tư mùa sẵn,
Mở phố giang sơn bốn mặt ngồi.
Bán lợi, buôn danh nào những kẻ,
Chẳng nên mặc cả một đôi lời.
Đài Khán Xuân
Êm ái, chiều xuân tới khán đài,
Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai.
Ba hồi chiêu mộ chuông gầm sóng,
Một vũng tang thương nước lộn trời.
Bể ái nghìn trùng khôn tát cạn,
Nguồn ân muôn trượng dễ khơi vơi.
Nào nào cực lạc là đâu tá?
Cực lạc là đây, chín rõ mười.
Chùa Xưa
Thày tớ thung dung dạo cảnh chùa,
Thơ thì lưng túi, rượu lưng hồ.
Cá khe lắng kệ, mang nghi ngóp,
Chim núi nghe kinh, cổ gật gù.
Then cửa từ bi chen chật cánh,
Nén hương tế độ cắm đầy lô.
Nam mô khẽ hỏi nhà sư tí,
Phúc đức như ông được mấy bồ?
Quán Nước Bên Đường
Đứng tréo trông theo cảnh hắt heo,
Đường đi thiên thẹo, quán cheo leo.
Lợp lều, mái cỏ tranh xơ xác,
Xỏ kẽ, kèo tre đốt khẳng kheo.
Ba trạc cây xanh hình uốn éo,
Một dòng nước biếc, cỏ leo teo.
Thú vui quên cả niềm lo cũ,
Kìa cái diều ai thả lộn lèo.
Qua Kẽm Trống
Hai bên thì núi, giữa thì sông,
Có phải đây là kẽm Trống không?
Gió đập cành cây khua lắc cắc,
Sóng dồn mặt nước vỗ long bong.
trong hang đá hơi còn hẹp,
Ra khỏi đầu non đã rộng thùng.
Qua cửa mình ơi, nên ngắm lại,
Nào ai có biết nỗi bưng bồng.
Đèo Ba Dội
Một đèo, một đèo, lại một đèo,
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo.
Cửa son đỏ loét tùm hum nóc,
Hòn đá xanh rì lún phún rêu.
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,
Đầm đià lá liễu giọt sương gieo.
Hiền nhân, quân tử ai là chẳng ...
Mỏi gối, chồn chân vẫn muốn trèo.
Giếng Nước
Ngõ sâu thăm thẳm tới nhà ông,
Giếng ấy thanh tân, giếng lạ lùng.
Cầu trắng phau phau đôi ván ghép,
Nuớc trong leo lẻo một dòng thông!
Cỏ gà lún phún leo quanh mép,
Cá giếc le te lách giữa dòng.
Giếng ấy thanh tân ai đã biết?
Đố ai dám thả nạ rồng rồng
Nhà Sư
Chẳng phải là Ngô, chẳng phải ta,
Đầu thì trọc lốc, áo không tà.
Oản dâng trước mặt, năm ba phẩm,
Vãi mọp sau lưng, bảy tám bà.
Khi cảnh, khi tiu, khi chũm choẹ,
Giọng hì, giọng hí, giọng hi ha.
Tu lâu có lẽ lên sư cụ,
Ngất nghểu tòa sen nọ đó mà!
Quan Thị
Mười hai bà mụ ghét chi nhau?
Đem cái xuân tình vứt bỏ đâu?
Rúc rích thây cha con chuột lắt,
Vo ve mặc kệ cái ong bầu.
Đố ai biết được vông hay chóc,
Còn kẻ nào hay cuống với đầu.
Thôi thế thì thôi, thôi cũng được,
Nghìn năm khỏi bị tiếng nương dâu.
Thiếu Nữ Ngủ Ngày
Mùa hè hây hẩy gió nồm đông,
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng.
Lược trúc chải cài trên mái tóc,
Yếm đào trễ xuống dưới nương long.
Đôi gò Bồng đảo sương còn ngậm,
Một lạch Đào nguyên nước chửa thông.
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt,
Đi thì cũng dở, ở không xong.
Cảnh Làm Lẽ
Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng,
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung!
Năm thì mười họa, nên chăng chớ,
Năm thì mười họa, nên chăng chớ,
Một tháng đôi lần, có cũng không ...
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hỏng,
Cầm bằng làm mướn, mướn không công.
Tha6n này ví biết dường này nhỉ,
Thà trước thôi đành ở vậy xong.
Thương
Há dám thương đâu kẻ có chồng,
Thương vì một nỗi hãy còn không.
Thương con cuốc rũ kêu mùa Hạ,
Thương cái bèo non giạt bể Đông.
Thương cha mẹ nhện vương tơ lưới,
Thương vợ chồng Ngâu cách mặt sông.
ấy thương quân tử thương là thế,
Há dám thương đâu kẻ có chồng.
Duyên Kỳ Ngộ
Nghìn dặm có duyên sự cũng thành,
Xin đừng lo lắng hết xuân xanh.
Tấc gang tay họa thơ không dứt,
Gần gụi cung dương lá vẫn lành.
Tên sẵn bút đề dường chĩnh chện,
Trống mang dùi cắp đã phanh phanh.
Tuy không thả lá trôi dòng ngự,
Chim tới vườn đào thế mới xinh.
Chửa Hoang
Cả nể cho nên hóa dở dang,
Nỗi niềm có thấy hỡi chăng chàng?
Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc,
Phận liễu sao đành nẩy nét ngang
Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa?
Mảnh tình một khối thiếp xin mang.
Quản bao miệng thế lời chênh lệch,
Không có nhưng mà có mới ngoan.
Gìa Kén Kẹn Hom
Bụng làm dạ chịu trách chi ai,
Già kén kẹn hom ví chẳng sai.
Tiếc đĩa hồng ngâm cho chuột vọc,
Thừa mâm bánh ngọt để ngâu vầy.
Miệng khôn trôn dại đừng than phận,
Bụng ỏng lưng eo chớ trách trời!
Đừng đứng núi này trông núi nọ,
Đói lòng nên mới phải ăn khoai.
Dệt Vải
Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau,
Con cò mấp máy suốt đêm thâu.
Hai chân đạp xuống năng năng nhắc,
Một suốt đâm ngang thích thích mau.
Rộng, hẹp, nhỏ, to, vừa vặn cả.
Ngắn, dài, khuôn khổ cũng như nhau.
Cô nào muốn tốt ngâm cho kỹ,
Chờ đến ba thu mới dãi mầu.
Tranh Hai Tố Nữ
Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình?
Chị cũng xinh mà em cũng xinh.
Đôi lứa như in tờ giấy trắng,
Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh.
Phiếu mai chi dám tình trăng gió,
Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh.
Còn thú vui kia sao chẳng thấy,
Trách ông thợ vẽ khéo vô tình!
Cái Quạt Giấy (Bài 1)
Một lỗ sâu sâu mấy cũng vừa,
Duyên em dính dáng tự ngàn xưa.
Vành ra ba góc da còn thiếu,
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa.
Mát mặt anh hùng khi tắt gió,
Che đầu quân tử lúc sa mưa.
Nâng niu ướm hỏi người trong trướng,
Phì phạch trong lòng đã sướng chưa ?
Cái Quạt Giấy (Bài 2)
Mười bảy hay là mười tám đây?
Cho ta yêu dấu chẳng rời tay.
Mỏng dầy chừng ấy chành ba góc,
Rộng hẹp dường nào cắm một cây.
Càng nóng bao nhiêu càng muốn mát,
Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày.
Hồng hồng má phấn duyên vì cậy,
Chúa dấu vua yêu một cái này.
Tự Tình (Bài 1)
Canh khuya văng vẳng trống canh dồn.
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu hương đưa, say lại tỉnh,
Vừng trăng bóng xế, khuyết chưa tròn.
Xuyên ngang mặt đất, rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con.
Tự Tình (Bài 2)
Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom,
Oán hận trông ra khắp mọi chòm.
Mõ thảm không thua mà cũng cốc,
Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om?
Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ,
Sau giận vì duyên để mõm mòm.
Tài tử , văn nhân ai đó tá?thThân này đâu đã chịu già tom.
Tự Tình (Bài 3)
Chiếc bánh buồn vì phận nổi nênh,
Giữa dòng ngao ngán nỗi lêng đênh.
Lưng khoang tình nghĩa dường lai láng,
Nửa mạn phong ba luống bập bềnh.
Cầm lái mặc ai lăm đỗ bến,
Giong lèo thây kẻ rắp xuôi ghềnh.
ấy ai thăm ván cam lòng vậy,
Ngán nỗi ôm đàn những tấp tênh.
Đánh Cờ
Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc,
Đét đồn lên đánh cuộc cờ người.
Hẹn rằng đấu trí mà chơi,
Cấm ngoại thuỷ không ai được biết.
Nào tướng sĩ dàn ra cho hết,
Để đôi ta quyết liệt một phen.
Quân thiếp trắng, quân chàng đen,
Hai quân ấy chơi nhau đà đã lửa.
Thọat mới vào chàng liền nhảy ngựa,
Thiếp vội vàng vén phứa tịnh lên.
Hai xe hà, chàng gác hai bên,
Thiếp thấy bí, thiếp liền ghểnh sĩ.
Chàng lừa thiếp đương khi bất ý,
Đem tốt đầu dú dí vô cung,
Thiếp đang mắc nước xe lồng,
Nước pháo đã nổ đùng ra chiếu.
Chàng bảo chịu, thiếp rằng chẳng chịu
Thua thì thua quyết níu lấy con.
Khi vui nước nước non non,
Khi buồn lại giở bàn son quân ngà.
Chiếc bách
Chiếc bách buồn về phận nổi nênh
Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh
Lưng khoang tình nghĩa dường lai láng
Nửa mạn phong ba luống bập bềnh
Cầm lái mặc ai lăm đỗ bến
Giong lèo thây kẻ rắp xuôi ghềnh
ấy ai thăm ván cam lòng vậy
Ngán nỗi ôm đàn những tấp tênh
Dệt cửi
Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau
Con cò mấp máy suốt đêm thâu
Hai chân đạp xuống năng năng nhắc
Một suốt đâm ngang thích thích mau
Rộng hẹp nhỏ to vừa vặn cả
Ngắn dài khuôn khổ cũng như nhau
Cô nào muốn tốt ngâm cho kỹ
Chờ đến ba thu mới dãi màu
Tranh Tố nữ
Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình
Chị cũng xinh mà em cũng xinh
Đôi lứa như in tờ giấy trắng
Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh
Xiếu mai chi dám tình trăng gió
Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh
Còn thú vui kia sao chẳng vẽ
Trách người thơ vẽ khéo vô tình
BungRieu
03-20-2003, 01:44 PM
Nguyễn Gia Thiều
Nguyễn Gia Thiều sinh năm 1741, không rõ ngày tháng nào, ở làng Liễu Ngạn, tổng Liễu Lâm, huyện Siêu Loại, phủ Thuận Thành, xứ Kinh Bắc, nay là huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, trong một gia đình đại qúy tộc, có nhiều người làm tướng, làm quan cho triều đình.
Ông thân sinh của Nguyễn Gia Thiều là Nguyễn Gia Cư, một võ quan cao cấp được phong tước hầụ Mẹ Nguyễn Gia Thiều là quận chúa Quỳnh Liên, con gái An Đô vương Trịnh Cương. Nguyễn Gia Thiều gọi chúa Trịnh Doanh đang cầm quyền lúc bấy giờ là cậu ruột, và là con cô cậu với chúa Trịnh Sâm.
Vì gia đình bên ngoại thuộc họ nhà chúa, nên từ lúc lên năm lên sáụ Nguyễn Gia Thiều đã được vào học trong phủ chúạ Ông nổi tiếng là người thông minh, học rộng, văn võ kiêm toàn. Ông lại còn tinh thông nhiều bộ môn nghệ thuật như âm nhạc, hội họa, kiến trúc, trang trí. Về âm nhạc, Nguyễn Gia Thiều sở trường các bài ca, bài tán. Ông là tác giả các bản "Sơn trung âm" và "Sở từ điệu". Về hội họa, ông có bức tranh lớn "Tống sơn đồ", dâng vua xem được khen thưởng. Về kiến trúc, trang trí, ông là người được chúa Trịnh giao cho trông nom việc trang hoàn phủ chúa và điều khiển xây tháp chùa Thiên Tích. Các công trình nghệ thuật của Nguyễn Gia Thiều đến nay không còn một cái nào, nhưng trong sáng tác văn học thì những tri thức về nghệ thuật của ông được phản ánh một cách khá rõ...
Nguyễn Gia Thiều là một người rất được chúa Trịnh tin dùng. Năm 1759, mười tám tuổi, ông giữ chức Hiệu úy, quản Trung mã tả đội; sau đó ông làm chỉ huy Thiêm sự, năm 1782 thăng Tổng binh coi giữ xứ Hưng Hóa, và vì có quân công ông được phong tước hầu - Ôn Như hầụ Các em ông cũng lần lược được phong tước hầu, tước bá, như Nguyễn Gia Thưởng là Thưởng Vũ bá; Nguyễn Gia Xuyên là Du Lãnh hầụ
Thời gian làm Tổng binh ở Hưng Hóa, mặc dù có công được khen thưởng, Nguyễn Gia Thiều vẫn thường hay bỏ về nhà riêng ở gần hồ Tây để vui chơi, làm thơ và bàn luận về triết học. Ông tự xưng là Hy Tôn tử và Như ý thiền, lấy biệt hiệu là Tân Thi viện tử và Sưu Nhân. Có người bảo giai đoạn này chúa Trịnh không còn tin ông như trước, mới đẩy ông đi trấn giữ Hưng Hóa, và Nguyễn Gia Thiều biết điều đó, nên ông chán nản bỏ về.
Năm 1786, Tây Sơn kéo quân ra Bắc diệt Trịnh, Nguyễn Gia Thiều trốn lên miền núi xứ Hưng Hóạ Năm 1789, Nguyễn Huệ đại thắng quân Thanh, lập ra triều đại mớị Vua Quang Trung trọng người tài, thu dụng một số quan lại cũ của triều đình Lê - Trịnh, Nguyễn Gia Thiều được mời ra cộng tác, nhưng ông cáo bệnh từ chốị Nguyễn Gia Thiều về lại làng cũ, sống ở đấy, hằng ngày uống rượu tiêu sầu, giả ngây giả dại và đến ngày 9 tháng 5 Mậu ngọ, tức ngày 22 tháng 6 năm 1798 thì mất, thọ 57 tuổị
Về sáng tác, Nguyễn Gia Thiều có hai tập thơ chữ Hán là "Ôn Như thi tập" có đến nghìn bài, hiện không tìm thấỵ Phần viết bằng chữ Nôm ngoài "Cung oán ngâm khúc" là tác phẩm nổi tiếng nhất, Nguyễn Gia Thiều còn có "Tây hồ thi tập" và "Tứ trai thi tập", hiện cũng chỉ còn vài ba bài chép trong tập "Tạp ký" của Lý Văn Phức.
"Cung oán ngâm khúc" của Nguyễn Gia Thiều là một tác phẩm chịu ảnh hưởng sâu sắc bản dịch "Chinh phụ ngâm" của Đoàn Thị Điểm, từ thể loại ngâm khúc viết bằng song thất lục bát đến cách phát triển chủ đề cũng như bút pháp nghệ thuật. Có thể nói sự ra đời của "Cung oán ngâm khúc" cùng với sự ra đời của "Chinh phụ ngâm đã khẳng định một cách vững chắc thể ngâm trong văn học của giai đoạn nàỵ
convitcon
03-20-2003, 01:46 PM
cám ơn chị Búng Riêu :D
hông biết đến đời nào tên ConVitCon mới được lên trên này :(:(
BungRieu
03-20-2003, 02:09 PM
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/tran_hung_dao1.jpgÐức Thánh Trần Hưng Đạo Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn 1226-1300
Là con của An Sinh Vương Trần Liễu gọi vua Trần Thái Tông bằng chú. Ông làm đến chức Quốc Công Tiết chế thống lĩnh toàn quân, tước Hưng Ðạo Đại Vương, dân gian thương gọi ngài là Đức thánh Trần hay Trần Hưng Ðạo hoặc Hưng Đạo Vương cho gọn...
========================================
Niềm Hãnh Diện của Dân Việt
Hưng Đạo Vương, Danh tướng kiệt xuất duy-nhất thời Trung-cổ.
Gần đây, Hội Hoàng-Gia Anh-Quốc, tức Viện Khoa-Học Hoàng Gia (Royal Society) đã triệu tập một phiên họp gồm 478 nhà khoa-học về lịch-sử quân-sự của các nước, phần đông cũng là các nhà quân-sự có vai vế của thế-kỷ để bầu ra 10 vị tướng soái kiệt xuất nhất trong lịch-sử nhân loại, qua các thời đại : Thượng cổ, Trung cổ, cận và hiện đại. Mục đích là để chuẩn bị cho việc xuất bản cuốn Bách Khoa Toàn Thư.
Sau khi liệt-kê 98 vị thống soái tài ba nhất cuả các nước trên thế-giới, đại hội đã bầu ra 10 vị: Thời Thượng Cổ 3 vị, cận đại 4 vị và hiện đại 2 vị.
Đa số các vị thống-soái chỉ được 70% số phiếu bầu.
Riêng thời Trung-Cổ, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là vị tướng soái duy-nhất được chọn với tuyệt đại đa số phiếu 100%.
Điểm đáng chú ý là trong số phiếu còn ghi rõ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là người đã đánh thắng kẻ thù mạnh nhất thế-giới là quân Nguyên Mông.
Như vậy có nghĩa là giờ đây thế-giới đã phải khách-quan nhìn nhận rằng việc đại thắng quân Nguyên Mông của Hưng Đạo Vương nói riêng, của người Việt-Nam nói chung, có tầm ảnh hưởng lớn lao đến nền an-ninh toàn cầu, nói khác đi, dân tộc Việt-Nam đã có công lớn đối với nền an-ninh thế giới, với nhân loại.
Đức Thánh Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là anh-hùng của thế-giới và là niềm tự-hào của dân tộc Việt.
(theo sách Vẻ Vang Dân Việt, tập III và Encyclopedia Britannia).
===== Nguyên văn tiếng anh =====
The Pride or the Viets
HUNG DAO VUONG
PEERLESS GENERAL OF THE MIDDLE AGES
Recently,the British Royal Society convened a meeting in which 478 military historians representing many different countries took part. Most of the participants also were distinguished military figures of this century. Their charge was to name the top ten generals in human history, in the ages of : antiquity, the middle ages, contemporary times, and the present. The results would be published in a new edition of Encyclopedia Britannia.
After compiling a list of the ninety-eight greatest generals of all time, the meeting participants narrowed the list to ten : Three from antiquity, four from contemporary times, and two from the present were voted in,
most of whom received only about seventy percent of the ballots cast.
But the one general selected from the middle ages, the Vietnamese Hung Dao Vuong Tran Quoc Tuan (Tran Hung Dao), was an unanimous choice (100%)
The ballots revealed a shared reason : Hung Dao Vuong had defeated the Mongol Army, the world's most formidable adversary of its era, and one whose fearsome reputation stands out to this day.
Thus the world community has objectively acknowledged that the great victory over the Mongols by Hung Dao Vuong in particular, and by the Vietnamese people in general, had a profound impact on global security. In other words, the Vietnamese have done their part to contribute to world peace and protect humankind from aggressors.
( The Pride of the Vietnamese, Selection III and Encyclopedia Britannia.)
========================================
Trong đời Trần Quốc Tuấn đã trải qua một lần gia biến, ba lần nạn nước. Nhưng ông lại càng tỏ ra là người hiền tài, một vị anh hùng cứu nước. Ông luôn đặt lợi nước lên trên thù nhà, vun trồng cho khối đoàn kết giữa tông tộc họ Trần, tạo cho thế nước ở đỉnh cao muôn trượng đủ sức đè bẹp quân thù.
Trong lần quân Nguyên sang xâm lược lần thứ ha, thấy rõ ngành trưởng, ngành thứ xung khắc, giữa ông và Trần Quang Khải không chung sức chung lòng thì kẻ thù có lợi chỉ có thể là quân giặc. Bởi vậy, Quốc Tuấn đã chủ động giao hảo hòa hiếu với Trần Quang Khải, tạo nên sự thống nhất ý chí của toàn bộ vương triều Trần,
Chuyện kể rằng, một lần ở biển Đông, Quốc Tuấn mời Thái sư Trần Quang Khải sang thuyền mình trò chuyện chơi cờ và sai người nấu nước thơm tự mình tắm rửa cho Trần Quang Khải, vĩnh viễn xóa nỗi hiềm khích giữa hai người, đầu mối của hai chi họ Trần (Quốc Tuấn là con Trần Liễu, Quang Khải là con Trần Cảnh)...
Lần khác, Quốc Tuấn đem việc xích mích dò ý các con, thì Trần Quốc Tảng có ý kích ông nên cướp ngôi chi thứ. Ông nổi giận rút gươm toan chém chết Quốc Tảng. May nhờ các con và những người tâm phúc van xin, ông bớt giận dừng gươm nhưng bảo rằng: "Từ nay cho tới khi ta nhắm mắt, ta sẽ không nhìn mặt thằng nghịch tử, phản thần này nữa '' ...
Trong chiến tranh, Ngoài việc điều hành binh sĩ và trực tiếp lâm trân kháng chiến, ông luôn bên cạnh để hộ giá bên vua, tay chống gậy bịt sắt. Dư luận xì xào sợ ông giết vua. Ông liền bỏ luôn phần bịt sắt, chỉ chống gậy để tránh hiềm nghi, làm yên lòng quân dân.
Ba lần chống giặc Nguyên Mông (1257-1285-1288) các vua Trần đều giao cho ông quyền Tiết chế (Tổng tư lệnh quân đội) vì ông biết dùng người tài, thương yêu binh lính, do vậy tướng sĩ hết lòng tin yêu ông. Đạo quân cha con ấy trở thành đội quân bách chiến bách thắng.
Trần Quốc Tuấn là bậc tướng trụ cột của triều đình. Ông đã soạn hai bộ binh thư: Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp Tông bí truyền thư để răn dạy các tướng cầm quân đánh giặc. Khi giặc Nguyên lộ rõ ý đồ xâm lược, Trần Quốc Tuấn viết Hịch tướng sĩ, truyền lệnh cho các tướng, dạy bảo họ lẽ thắng trận, tiến lui. Hịch tướng sĩ rất hùng hồn, thống thiết, khẳng định văn chương của một bậc "đại bút".
Công đức đức Thánh Trần ai mà không rõ ... nên BR không dám kể lể dài dòng thành ra nhàm ... Nhân sinh quan, con người và sự nghiệp của Đức thánh Trần đã phản ảnh sự :
1. Đoàn kết: bảo bọc lẫn nhau của toàn thể dân quân ta thời ấy:
".. giặc Nguyên kéo đến vây bọc bốn mặt, may được vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước đấu sức lại mà đánh, mới bắt được tướng kia, . " .....
2. Quyết Tâm:
Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn đã cỡi voi đến sông Hóa Giang, voi của ngài bị lún sình, ngài đứng trên mình voi chỉ gươm xuống dòng sông Hóa mà thề rằng: " - Chuyến đi này, nếu ta không đánh tan giặc, ta thề sẽ không trở về. " ...
3. Trách NhiệmVì sợ dân chúng điêu linh vua Trần Nhân Tôn đã nói với Hưng Đạo Vương nghĩ đến chuyện đầu hàng quân giặc, Hưng Đạo Vương trả lời: "Lời của bệ hạ quả thật chí tình và đạo đức, nhưng đạo làm tướng, trước hết là phải giữ gìn giang sơn và Tổ Quốc, nếu bệ hạ muốn hàng thì hãy xin chém đầu thần trước đã". Cảm phục tinh thần bầt khuất, vua không còn nghĩ đến chuyện đầu hàng nữa.
4. Khiêm Nhượng : " ...cả nước đấu sức lại mà đánh ... cũng là trời giúp ta mới được thế...".
5. Dân chủ: một hội nghị quan trọng nhất trong lịch sử gồm có đủ mọi giai tầng xã hội các cấp, các bô lão đã được triệu tập tại Diên Hồng để trưng cầu dân ý và cùng quốc dân bàn kế về kế sách diệt ngoại xâm ....
6. Nhân sinh quan của một Đại Tướng :
Là tướng Nhân, ông thương dân thương quân, chỉ cho họ con đường sáng ....
Là tướng Nghĩa, ông coi việc phải hơn điều lợi ....
Là tướng Trí, ông biết lẽ đời sẽ dẫn tới đâu ....
Là tướng Dũng, ông xông pha nơi nguy hiểm để đánh giặc, tạo những trận như Bạch Đằng oanh liệt nghìn đời...
Là tướng Tín, ông bày tỏ trước cho quân lính theo ông sẽ được gì, trái lời ông thì gặp họa. Cho nên, cả 3 lần đánh giặc Nguyên Mông, ông đều được giao trọng trách điều bát binh mã và đều lập công lớn ...
7. ... còn nhiều nữa ...BR sẽ viết tiếp sau ...
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/bachdang2.jpg
Ngài không những là một danh tướng, một nhà lãnh đạo quân sự tài ba lỗi lạc, mà còn là một chính khách sáng suốt. Với tài kinh bang tế thế, Ngài đã giúp nhà Trần cải tổ nền kinh tế trong chương trình "Khuyến Nông Sùng Học". Quả thật ngài xứng đáng được tôn vinh là "Đông A Đế Trụ", hai chữ Đông A ghép lại với nhau có nghĩa là Trần, ý muốn nói Ngài là trụ cột của triều đại nhà Trần, không những có công gây dựng cơ nghiệp nhà Trần mà còn bảo vệ được nước ta thoát khỏi gót giầy xâm lược của Đế quốc Nguyên - Mông, một đế quốc hùng mạnh và tàn bạo nhất trong lịch sử nhân loại, nó đã từng xoá tên nhiều quốc gia trên bản đồ thế giới vào thời bấy giờ.
Đức Trần Hưng Đạo húy là Trần Quốc Tuấn, song thân là ông An Sinh Vương Trần Liễu và bà Nguyệt. Ông Trần Liễu là anh của vua Trần Thái Tôn nên Ngài gọi vua Trần Thái Tôn bằng chú. Là một tôn thất của nhà Trần, Ngài sinh quán tại làng Túc Mạc, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Tư chất thông minh, đầu óc thiên phú văn võ song toàn, ngài đã giúp nhà Trần cải tổ hệ thống quốc phòng, phát triển kinh tế; nhờ đó vào thời bấy giờ, nước ta đã có một nền kinh tế vững mạnh, một đội quân tinh nhuệ sẵn sàng giáng trả bất cứ một kẻ thù nào muốn lăm le nhòm ngó nước ta.
Bối cảnh lịch sử nước ta là như vậy; trong khi đó tại phương Bắc, đội quân tinh nhuệ của Mông Cổ ở Hoa Bắc đã diệt xong nhà Tống và lập ra nhà Nguyên, đồng thời xua quân đánh chiếm nhiều quốc gia từ Á sang Âu, uy thế lừng lẫy. Trong hoàn cảnh nước Việt Nam nhỏ bé của chúng ta chẳng khác gì một cái gai mà quân Mông cổ cần phải nhổ để cản trở đường xuống phương Nam của chúng. Với ý đồ đó, nước ta không thể nào tránh khỏi đại nạn, và đây chính là cơ hội để cho vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo phô triển tài ba thao lược, phò vua giúp nước chống lại quân xâm lăng Mông cổ trong 3 lần đánh nước ta vào thế kỷ thứ XIII.
Đại phá quân Nguyên lần thứ I
Vào năm Đinh Tỵ 1257, nhà Nguyên sai sứ sang dụ nước Nam đầu hàng. Nhờ ở thế đã chuẩn bị sẵn, ta có thực lực hơn nữa để gây uy tín cho mình và đồng thời tỏ cho quân thù thấy rõ ý chí bất khuất của dân ta; triều đình không những đã bác bỏ lời dụ dỗ mà còn bắt giam luôn sứ bộ của nhà Nguyên (khi quân giặc tiến vào thành Thăng Long bỏ ngõ, chúng còn thấy sứ của chúng đang bị xiềng trong ngục). Quốc gia được đặt trong tình trạng chiến tranh, vua Trần Thái Tôn chiếu lời đề nghị của Thái Sư Trần Thủ Độ phong cho Trần Quốc Tuấn làm Tiết Chế thống lãnh quân đội. Giặc Mông cổ sĩ nhục quá, tức giận liền xua quân từ Vân Nam tràn vào lãnh thổ nước ta. Buổi đầu khí thế địch quá mạnh, thấy trực tiếp đối đầu chưa lại. Hưng Đạo Vương bèn lệnh cho quân lui về phía tây sông Hồng. Để khích lòng quân sĩ, vua Trần Thái Tôn đã ngự giá thân chinh. Nhưng bước đấu địch quá mạnh và quá hung hản, vua tôi nhà Trần đành phải rời bỏ kinh đô dời về huyện Đông An, Hưng Yên. Ít lâu sau, thấy địch vì không hạp thủy thổ, chúng bị viêm nhiệt và thấm mệt; mặt khác quân ta đã có kinh nghiệm chiến đấu, đồng thời đã nghiên cứu được kỹ thuật tác chiến của địch nên Hưng Đạo Vương ra lệnh tổng phản công bằng cách áp dụng chiến thuật "lấy đoản trận đánh trường trận" tức là dùng du kích chiến, tỉa dần và phân tán mỏng lực lượng địch, đặc biệt phục kích đánh vào các đoàn vận lương. Giặc mất khí thế, Hưng Đạo Vương bèn ra lệnh cho quân ta ồ ạt đánh vào các cứ điểm. Giặc Nguyên thua to, phải theo đường sông Thao thoát chạy về Tàu.
Các nhà khoa-học về lịch-sử quân-sự của các nước cho HDV Trần Quốc Tuấn là Thánh Tổ của Du Kích Chiến ....
Đại phá quân Nguyên lần thứ II
25 năm sau, giặc Nguyên kiếm cớ "mượn đường nước Nam để đánh nước Chiêm Thành". Vua tôi nhà Trần đã thấy rõ ý đồ đen tối của giặc nên từ chối, đồng thời để chuẩn bị ứng chiến, vua Trần Nhân Tôn liền cho vời các vương hầu ở Bình Than để chuẩn bị đánh nhau với giặc. Một lần nữa lại cử Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn làm Tiết Chế thống lãnh quân ta. Mùa thu năm Qúy Mão 1283, con của Nguyên Chúa Hốt Tất Liệt là Thái Tử Thoát Hoan đã thống lãnh một đạo đại binh là 500,000 quân vượt biên thùy vào đánh nước ta. Một hội nghị quan trọng nhất trong lịch sử gồm có đủ mọi giai tầng xã hội các cấp, các bô lão đã được triệu tập tại Diên Hồng để trưng cầu dân ý và cùng quốc dân bàn kế về kế sách diệt ngoại xâm. Tất cả toàn dân và toàn quân đều nức lòng đánh giặc, khí thế cao độ đến nỗi một thiếu niên mới 16 tuổi còn nhỏ chưa được họp bàn quốc sự, quá tức giận đã bóp nát quả cam đang cầm trong tay. Kết qủa muôn người như một, đều một lòng quyết chiến và tận trung báo quốc. Ngay cả thiếu niên Trần Quốc Toản cũng đã lập riêng một đạo quân với cờ hiệu "Phá Cường Địch, Báo Hoàng Ân" để tham gia đánh giặc. Cũng như lần trước, để tránh khí thế ban đầu của giặc đang còn mạnh, hơn nữa lại được đích thân điều khiển bởi chính con trai của Nguyên Chúa Hốt Tất Liệt là Thái tử Thoát Hoan, lại thêm cả Toa Đô, một hung thần và là một chiến tướng của quân Nguyên trong trận diệt Tống. Lần nầy quân Mông Cổ nghĩ rằng sẽ dễ dàng ăn tươi và nuốt gọn nước Nam nhỏ bé, nhưng với tài ba thao lược, đức độ cũng như uy tín của Tiết Chế Trần Hưng Đạo kèm theo một niềm tin vững chắc và một quyết tâm cao độ của toàn dân nên dù đã một đôi phen hao tổn binh mã, thua thiệt, nhưng với ý chí sắt đá, với tinh thần "Huynh đệ chi binh", Hưng Đạo Vương đã cổ võ toàn quân và toàn dân cầm cự để chờ cơ hội quật khởi. Có lần thấy toàn dân đã quá nhiều hy sinh, sợ đánh thêm lâu ngày sẽ khổ cho dân, vua Trần Nhân Tôn đã nói với Hưng Đạo Vương nghĩ đến chuyện đầu hàng quân giặc, Hưng Đạo Vương trả lời: "Lời của bệ hạ quả thật chí tình và đạo đức,nhưng đạo làm tướng, trước hết là phải giữ gìn giang sơn và Tổ Quốc, nếu bệ hạ muốn hàng thì hãy xin chém đầu thần trước đã ". Cảm phục tinh thần bầt khuất, vua không còn nghĩ đến chuyện đầu hàng nữa. Trước ý chí quyết thắng của vị Tổng Tư Lệnh, quân sĩ ai nấy đều nức lòng giết giặc lập công, trên tay mỗi người đều khắc hai chữ Sát Đát. Một trong những danh tướng của ngài là Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng vì quá ngưỡng mộ đức độ và tinh thần bất khuất của ngài nên chẳng may thất thế bị giặc bắt, không những không để cho địch dụ hàng mà còn khẳng khái chửi vào mặt quân thù: "Ta thà làm quỷ nước Nam, không thèm làm Vương đất Bắc ". Hành động của Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng là một tác động tinh thần lớn lao cho toàn quân và toàn dân. Thấy quân địch chiến đấu đã lâu, mệt mỏi, phần không hạp với thủy thổ, ngã bệnh rất nhiều, Hưng Đạo Vương ra lệnh phản công và mở đầu bằng một cuộc hải chiến phá vỡ thủy quân của giặc mà chiến công lại do hai danh tướng Trần Quang Khải và Phạm Ngũ Lão tại bến Chương Dương. Thừa thắng, Trần Nhật Duật đánh bại Ô Mã Nhi tại Vạn Kiếp. Những chiến thắng liên tiếp khiếp đảm phải mở đường máu thoát thân bằng cách chui vào trong ống đồng để trốn chạy về Tàu. Chính vị thiếu niên Trần Quốc Toản đã phát huy tài năng giúp Trần Quang Khải phá giặc tại bến Chương Dương và Hàm Tử Quan.
Trong lịch sử nhân loại chưa bao giờ có trân chiến nào có tầm mức To lớn, Tập trung và tốc chiến tốc thắng như trân này ...
Đại phá quân Nguyên lần thứ III
5 năm sau, tức là năm 1287, lòng tham lam muốn cướp nước Nam của quân Mông Cổ vẫn còn chưa bỏ, Nguyên chúa một lần nữa lại sai Thái Tử Thoát Hoan dẫn 30 vạn tinh binh tràn qua biên giới đánh nước ta. Rút kinh nghiệm qua hai cuộc chiến lần trước. Hưng Đạo Vương lệnh cho toàn quân rút lui về phía Hà Nam, đồng thời rước vua lui về Thanh Hoá để bảo toàn lực lượng và tránh khí thế ban đầu của địch. Về phía giặc Nguyên, chúng càng dễ dàng tiến sâu vào nội địa bao nhiêu, chúng càng kiêu căng và tỏ ra khinh địch bấy nhiêu. Đợi địch phân tán mỏng với ý định chiếm đất đễ đặt nền móng đô hộ lâu dài, lúc đó vị Tổng Tư Lệnh Quân Đội mới ra tay đánh phủ đầu bằng một cuộc phục binh tại cửa bể Lục Thủy Dương (cửa Lục ngày nay), với tài thủy chiến, danh tướng Trần Khánh Dư cùng với sự phò tá của hai chiến sĩ can trường có biệt tài bơi lặn là Yết Kiêu và Dã Tượng, quân ta đã đánh tan đoàn thủy quân tiếp tế cho đạo quân của Thoát Hoan do hai tướng Ô Mã Nhi và Trương Văn Hổ hộ tống. Quân ta tịch thu và phá hủy toàn bộ khí giới và lương thực mà Nguyên chúa tiếp tế cho Thoát Hoan. Mất khí giới, thiếu lương thực, hệ thông tiếp vận bị cắt đứt, đại quân Mông Cổ bèn nghĩ đến chuyện lui binh. Chính đây là thời cơ mà người lãnh đạo quyết định chiến cuộc. Thoát Hoan tính gì, Hưng Đạo Vưong đều đã biết rõ, vì thế bài học lịch sử của Ngô Vương Quyền trước đây lại một lần nữa được áp dụng. Hưng Đạo Vương ra lệnh cho quân lấy gỗ đẽo nhọn, bịt sắt cắm xuống lòng sông Bạch Đằng, đợi lúc nước thủy triều lên và quân Mông Cổ đến liền đưa quân ra khiêu chiến rồi giả cách thua thoát chạy, đợi cho nước thủy triều xuống, ngài bèn ra lệnh cho toàn quân dốc toàn lực ra đánh. Thủy quân của giặc mắc cạn, bị quân ta phá hoại và tịch thu trên 400 chiến thuyền, thây giặc trôi đầy và loang đỏ cả một giòng sông. Thoát Hoan quá kinh hoàng khi nghe thủy quân bị đại bại bèn mở đường máu chạy về Tàu.Nhưng một đạo quân khác đã được Hưng Đạo Vương bố trí và mai phục chờ sẵn đợi đến khi tàn quân của giặc đến thì xông ra đánh. Thoát Hoan kinh hồn tán đởm thoát thân được chạy về Tàu chấm dứt vĩnh viễn một cuộc xâm lăng mà đã 3 lần quân giặc vẫn cứ tưởng rằng chúng sẽ làm cỏ được nước Nam, không ngờ chúng đã bị thảm bại thê thảm, vì thế người đời sau đã có câu:
"Nực cười châu chấu đá xe
Tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng" .
Trong lịch sử Nhân Loại chưa có trận Thuỷ Chiến nào to lớn như vậy ...
và Ba lần ... thì tởn tới muôn đời ... hết dám ngó nghé ....
Từ đó ... Ngài trớ thành Thánh tổ của Hải Quân ...
=======================================
Hịch Tướng Sĩ
Ta thường nghe: Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Ðế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than, báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước. Kính Ðức một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thái Sung; Cảo Khanh một bầy tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc. Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào chẳng có? Ví thử mấy người đó cứ khư khư theo thói nhi nữ thường tình thì cũng đến chết hoài ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách cùng trời đất muôn đời bất hủ được?
Các ngươi vốn dòng võ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ. Thôi việc đời trước hẵng tạm không bàn. Nay ta lấy chuyện Tống, Nguyên mà nói: Vương Công Kiên là người thế nào? Nguyễn Văn Lập, tỳ tướng của ông lại là người thế nào? Vậy mà đem thành Ðiếu Ngư nhỏ tày cái đấu đương đầu với quân Mông Kha đường đường trăm vạn, khiến cho sinh linh nhà Tống đến nay còn đội ơn sâu! Cốt Ðãi Ngột Lang là người thế nào? Xích Tu Tư tỳ tướng của ông lại là người thế nào? Vậy mà xông vào chốn lam chướng xa xôi muôn dặm đánh quỵ quân Nam Chiếu trong khoảng vài tuần, khiến cho quân trưởng người Thát đến nay còn lưu tiếng tốt!
Huống chi, ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan. Lén nhìn sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình; đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ. Ỷ mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để phụng sự lòng tham khôn cùng; khoác hiệu Vân Nam Vương mà hạch bạc vàng, để vét kiệt của kho có hạn. Thật khác nào đem thịt ném cho hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau.
Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm.
Các ngươi ở lâu dưới trướng, nắm giữ binh quyền, không có mặc thì ta cho áo; không có ăn thì ta cho cơm. Quan thấp thì ta thăng tước; lộc ít thì ta cấp lương. Ði thủy thì ta cho thuyền; đi bộ thì ta cho ngựa. Lâm trận mạc thì cùng nhau sống chết; được nhàn hạ thì cùng nhau vui cười. So với Công Kiên đãi kẻ tỳ tướng, Ngột Lang đãi người phụ tá, nào có kém gì?
Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo; thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức; nghe nhạc thái thường đãi yến sứ ngụy mà không biết căm. Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích. Có kẻ chăm lo vườn ruộng để cung phụng gia đình; có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước; có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân. Có kẻ thích rượu ngon; có kẻ mê giọng nhảm. Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không đủ thi hành mưu lược nhà binh. Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng; vợ con bận không ích gì cho việc quân quốc. Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc; chó săn tuy hay không đuổi được quân thù. Chén rượu ngọt ngon không làm giặc say chết; giọng hát réo rắt không làm giặc điếc tai. Lúc bấy giờ chúa tôi nhà ta đều bị bắt, đau xót biết chừng nào! Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng thuộc về tay kẻ khác; chẳng những gia quyến của ta bị đuổi mà vợ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị kẻ khác giày xéo mà phần mộ cha ông các ngươi cũng bị kẻ khác bới đào; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến trăm năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là tướng bại trận. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui chơi thỏa thích, phỏng có được chăng?
Nay ta bảo thật các ngươi: nên lấy việc đặt mồi lửa dưới đống củi nỏ làm nguy; nên lấy điều kiềng canh nóng mà thổi rau nguội làm sợ. Phải huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho ai nấy đều giỏi như Bàng Mông, mọi người đều tài như Hậu Nghệ, có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt dưới cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhaị Như thế chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền mà bổng lộc các ngươi cũng suốt đời tận hưởng; chẳng những gia thuộc ta được ấm êm giường nệm, mà vợ con các ngươi cũng trăm tuổi sum vầy; chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu mà tổ tiên các ngươi cũng được bốn mùa thờ cúng; chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí, mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm; chẳng những thụy hiệu ta không hề mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu truyền. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui chơi, phỏng có được không?
Nay ta chọn lọc binh pháp các nhà hợp thành một tuyển, gọi là Binh Thư Yếu Lược. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời ta dạy bảo, thì trọn đời là thần tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời ta dạy bảo thì trọn đời là nghịch thù.
Vì sao vậy? Giặc Mông Thát với ta là kẻ thù không đội trời chung, mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn rửa nhục, không lo trừ hung, lại không dạy quân sĩ, chẳng khác nào quay mũi giáo mà xin đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi đây, sau khi dẹp yên nghịch tặc, để thẹn muôn đời, há còn mặt mũi nào đứng trong cõi trời che đất chở này nữa?
Cho nên ta viết bài hịch này để các ngươi hiểu rõ bụng ta.
Huệ Chi chú thích :
Kỷ Tín: tướng của Hán Cao Tổ Lưu Bang. Khi Lưu Bang bị Hạng Vũ vây ở Huỳnh Dương, Kỷ Tín giả làm Hán Cao Tổ ra hàng, bị Hạng Vũ thiêu chết. Hán Cao Tổ nhờ thế mới thoát được.
Do Vu: tướng của Sở Chiêu Vương thời Xuân Thu. Theo Tả Truyện, Sở Chiêu Vương bị nước Ngô đánh phải lánh sang phương Ðông, một đêm bị cướp vây đánh. Do Vu đã chìa lưng ra đỡ giáo cho vua mình.
Dự Nhượng: gia thần của Trí Bá thời Chiến Quốc. Trí Bá bị Triệu Tương Tử giết, Dự Nhượng bèn nuốt than cho khác giọng đi, giả làm hành khất, mưu giết Tương Tử để báo thù cho chủ.
Thân Khoái: quan giữ ao cá của Tề Trang Công thời Xuân Thu. Trang Công bị Thôi Trữ giết, Thân Khoái bèn chết theo chủ.
Kính Ðức: tức Uất Trì Cung đời Ðường. Khi Ðường Thái Tông (bấy giờ còn là Tần Vương Lý Thế Dân) bị Vương Thế Sung vây, ông đã lấy mình che chở, hộ vệ cho Thái Tông chạy thoát.
Cảo Khanh: họ Nhan, một bề tôi trung của nhà Ðường. Khi An Lộc Sơn nổi loạn, đánh đuổi Ðường Huyền Tông và Dương Quý Phi, ông đã cả gan chưởi mắng An Lộc Sơn và bị cắt lưỡi.
Vương Công Kiên: tướng tài nhà Tống, giữ Hợp Châu, lãnh đạo quân dân Tống cầm cự với quân Mông Cổ do Mông Kha chỉ huy ở núi Ðiếu Ngư suốt bốn tháng trời. Mông Kha cuối cùng bị loạn tên chết, quân Mông Cổ đành phải rút lui.
Ðiếu Ngư: tên ngọn núi hiểm trở ở Tứ Xuyên, ba mặt nhìn xuống sông. Ðời Tống, Dư Giới đắp thành ở đó.
Mông Kha: tức Mongka, anh của Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt, làm Ðại Hãn Mông Cổ từ năm 1251. Mông Kha trực tiếp chỉ huy cuộc viễn chinh sang Trung Quốc và các nước phía Ðông. Ông bị tử trận năm 1259 dưới chân thành Ðiếu Ngư trong cuộc vây hãm đội quân Tống do Vương Công Kiên chỉ huy.
Cốt Ðãi Ngột Lang: tức Uriyangqadai, tướng giỏi của Mông Cổ, con của viên tướng nổi tiếng Subutai. Cốt Ðãi Ngột Lang nhận lệnh của Mông Kha, cùng Hốt Tất Liệt đánh chiếm nước Nam Chiếu. Cốt Ðãi Ngột Lang cũng là viên tướng chỉ huy đạo quân Mông Cổ xâm lược Ðại Việt lần thứ nhất (1258).
Xích Tu Tư: chép Xích theo Hoàng Việt Văn Tuyển. Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư chép Cân. Hai chữ gần giống nhau, không biết quyển nào chép nhầm. Hiện nay, chưa có tài liệu nào nói gì về viên tướng này, và việc khôi phục lại tên Mông Cổ từ Hán tự cũng không phải là chuyện đơn giản.
Nam Chiếu: nước nhỏ nằm ở khoảng giữa tỉnh Tứ Xuyên và Vân Nam ngày nay; thủ đô là Ðại Lý, thuộc Vân Nam.
Hốt Tất Liệt: tức Qubilai, em ruột và là tướng của Mông Kha. Sau khi Mông Kha tử trận ở Ðiếu Ngư, Hốt Tất Liệt tự xưng làm Ðại Hãn ở Khai Bình, khiến xảy ra cuộc nội chiến tranh giành ngôi báu với em ruột là Ariq-Buka. Năm 1264, Ariq-Buka đầu hàng, Hốt Tất Liệt bèn dời đô về Yên Kinh (tức Bắc Kinh ngày nay), xưng Nguyên Thế Tổ, lập nên nhà Nguyên.
Vân Nam Vương: tức Hugaci hay Thoát Hoan, con ruột Hốt Tất Liệt, được phong làm Vân Nam Vương năm 1267 với nhiệm vụ khống chế các dân tộc thiểu số vùng này cũng như mở rộng biên cương nhà Nguyên về phía Nam. Thoát Hoan là người chỉ huy quân Nguyên xâm lược Ðại Việt lần thứ hai năm 1285 và lần thứ ba năm 1287-1288.
Nghìn thây ta bọc trong da ngựa: điển tích lấy từ câu nói của viên tướng khét tiếng Mã Viện đời Hán chép trong Hậu Hán Thư (Ðại trượng phu dương tử ư cương trường, dĩ mã cách khỏa thi nhĩ: Bậc đại trượng phu nên chết ở giữa chiến trường, lấy da ngựa mà bọc thây.)
Thái thường: tên loại nhạc triều đình dùng trong những buổi tế lễ quan trọng ở tông miếu. Bấy giờ là thời kỳ ngoại giao căng thẳng giữa ta và quân Nguyên, trong những buổi yến tiệc tiếp sứ Nguyên, triều đình nhà Trần nhiều khi phải buộc dùng đến nhạc thái thường để mua vui cho sứ giả. Trần Quốc Tuấn xem đó là một điều nhục nhã.
Thái ấp: phần đất vua Trần phong cho các vương hầu.
Đặt mồi lửa dưới đống củi nỏ: từ câu văn trong Hán Thư (phù bão hỏa, thố chi tích tân chi hạ nhi tẩm kỳ thượng, hỏa vị cập nhiên nhân vị chi an. Ôm mồi lửa, đặt dưới đống củi rồi nằm lên trên, lửa chưa kịp cháy vẫn cho là yên.)
Kiềng canh nóng mà thổi rau nguội: xuất xứ từ một câu văn trong Sở Từ trừng ư canh nhi xuy tê hề. Người bị bỏng vì canh nóng, trong lòng đã e sợ sẵn, dù gặp rau nguội đi nữa, cũng vẫn thổi như thường.
Bàng Mông: danh tướng đời nhà Hạ, có tài bắn cung trăm phát trăm trúng.
Hậu Nghệ: một nhân vật bắn cung giỏi nữa trong thần thoại Trung Quốc.
Cảo Nhai: nơi trú ngụ của các vua chư hầu khi vào chầu vua Hán ở Trường An.
Mãi mãi vững bền: nguyên văn chữ Hán là vĩnh vi thanh chiên. Sách Thế Thuyết chép chuyện Vương Tử Kính đêm nằm ngủ thấy bọn trộm vào nhà sạch sành sanh vét mọi vật. Ông từ tốn bảo chúng rằng: cái nệm xanh (thanh chiên) này là đồ cũ của nhà ta, các ngươi làm ơn để lại. Tác giả dùng điển tích này để chỉ những của cải được lưu truyền từ đời này sang đời khác.
Binh Thư Yếu Lược: tức Binh Gia Diệu Lý Yếu Lược, nay đã thất truyền. Tác phẩm với đầu đề tương tự được lưu truyền hiện nay không phải là văn bản thực thụ, trong đó có vài đoạn chép các trận đánh thời Lê Nguyễn sau này.
Dẹp yên nghịch tặc: nguyên văn chữ Hán là bình lỗ chi hậụ Các dịch giả Dương Quảng Hàm, Trần Trọng Kim đoán Bình Lỗ là tên đất ở đâu đó vùng Phù Lỗ thuộc tỉnh Vĩnh Phú ngày nay. Ở đây, chúng tôi theo Ngô Tất Tố và Phan Kế Bính dịch thoát là bình định nghịch tặc nói chung.
============================
Năm 1206, Thành Cát Tư Hản đưa vó ngưạ Mông Cổ dẩm nát hơn 1/2 phần đất của thế giới. Nhiều quốc gia Âu Châu và Á Châu đã bị Mông Cổ chiếm giữ và cai tri. Cả một đế quốc Trung Hoa dưới triều Tống cũng bị đại bại và thần phục dưới những người lính Mông Cổ thiện chiến nhất hoàn cầu. Câu nói nổi tiếng của người Mông Cổ đã được thế giới chứng nghiệm. "Nơi nào vó ngựa quân Mông Cổ đi qua thì cỏ cây cũng hết sống".
Vậy mà vó ngưạ Mông Cổ đã bị đại bại dưới lòng can đảm và tài dụng binh có một không hai của quân Tướng nước Nam. Gần 30 năm liên tục , không chỉ đem quân có một lần, mà ba lần vượt biên giới Trung Viêt, ba lần quân nhà Nguyên (Mông Cổ) đã phải ôm đầu máu mà chạy dài. Từ Thoát Hoan, Toa Ðô cho đến Ô Mã Nhi, danh tướng nhưng trở thành bại tướng, quân Mông Cổ, đoàn quân chưa bao giờ bại trận đã kiêng phục và đại bại trước lòng yêu nước và ý chí quật cường của dân tộc Việt.
BungRieu
03-20-2003, 03:44 PM
Originally posted by convitcon
cám ơn Búng Riêu :D
hông biết đến đời nào tên ConVitCon mới được lên trên này :(:(
mấy ngưòi trong đây toàn là những người hồi xưa không à ...đầu có ai còn sống nhăn răng như anh đâu ... :) ....
Mỗi người hữu ích vào mỗi việc khác nhau ...
Văn quan cầm bút an thiên hạ,
Võ tướng đề đao định thái bình.
Anh cứ lo tu tâm dưỡng tánh .. dùi mài kinh sử ... làm thơ văn nhiều vô ... rồi để hậu thế quyết đoán ... ai biết đâu đó ... :flower:
NhanhRong
03-20-2003, 04:22 PM
Thanks BR
CVC, cái tên ông có trong the most wanted được không?:D :D
convitcon
03-21-2003, 02:02 PM
dzị là lúc sống hỏng quý, mất rồi mới biết quý sao ??? :cry:
BungRieu
03-21-2003, 03:06 PM
Originally posted by convitcon
dzị là lúc sống hỏng quý, mất rồi mới biết quý sao ??? :cry:
Anh CVC ơi ...BR không biết nói sao nữa ... BR xin chôm danh ngôn đễ trả lời anh ...
1. "Hổ tử lưu bì, nhân tử lưu danh" ... người ta chỉ sờ được da cọp khi cọp đã chết ... còn sống lớ wớ dzô là chít ...
2. "Khi bạn sinh ra trên đời, bạn thì khóc còn mọi người lại cười .
Hây sống sao cho khi bạn ra đi, bạn mỉm cười còn mọi người đều khóc .." ... vô danh ....
Còn sống mà khóc ít wá chỉ có một :cry: thì đâu có nhằm nhò chi .....
muốn được cười thì bây phải khóc nhiều như vầy nè .. :cry: :cry: :cry: :cry: :cry: :cry: :cry: ....
Originally posted by BungRieu
2. "Khi bạn sinh ra trên đời, bạn thì khóc còn mọi người lại cười .
Hây sống sao cho khi bạn ra đi, bạn mỉm cười còn mọi người đều khóc .." ... vô danh ....
BR, câu này thiệt là hay...có thể tìm ra ai đã nói câu này không?
BungRieu
03-21-2003, 04:35 PM
Anh DHT, ...BR chịu Thua ..... Người Lớn PM cho cân này ..trong đó cũng đề là Vô Danh .. thiệt mà ....
Without_U
03-21-2003, 05:34 PM
"Hổ tử lưu bì, nhân tử lưu danh" ... người ta chỉ sờ được da cọp khi cọp đã chết ... còn sống lớ wớ dzô là chít ...
tr`oi... co' ddung khong vay? vay muh WoU cu nghi~....
"Con cop khi chet roi thi cai duy nhat no' dde lai la` da... co`n con nguoi... khi che't cai duy nhat dde lai la`... danh tie'ng"
convitcon
03-21-2003, 07:33 PM
2. "Khi bạn sinh ra trên đời, bạn thì khóc còn mọi người lại cười .
Hây sống sao cho khi bạn ra đi, bạn mỉm cười còn mọi người đều khóc .." ... vô danh ....
một câu tuyệt vời !!!!!
Tudoi
03-22-2003, 12:20 AM
Nói về da cọp gì đó, trong sách chữ nho có câu này hay hơn:
Họa hổ hoạ bì nan họa cốt
Tri nhân tri diện bất tri tâm
Tạm dịch:
Vẽ cọp vẽ được da bên ngoài chứ khó ai vẽ được xuơng cọp
Biết người biết mặt chứ không ai có thể biết được rõ lòng người.
BungRieu
03-22-2003, 05:37 AM
Cám ơn chú Tư đã cho cháu biết thêm về hai câu chữ Nho này ..... rất là có nhiều ý nghĩa .....
Cháu sẽ update 2 câu này bên mục văn hoá nha ...
=========================
Cám ơn Anh WOY nha ... 2 câu đó ở quê mình .. hay dạy là Cọp chết để Da , Người ta chết để Tiếng .... BR chỉ dzỡn anh CVC với 1 hàm ý khác ..bây giời thì ổng dữ lắm (Cọp) ... khi chết thì hết (tất cả ) ... chỉ đùa (anh em) cho vui thui..chứ kô hề ngụ ý chi hít đâu á ...
=========================
Cám ơn anh CVC ....:) ....
anh em nói chuyện cho vui thôi...đừng nghĩ lung tung...BR có cái nào hay khác post lên cho anh em đọc với.
Without_U
03-22-2003, 06:48 PM
Họa hổ hoạ bì nan họa cốt
Tri nhân tri diện bất tri tâm
cau na`y... no^.i cua WoU hay no'i hi` hi`... bay gio xa no.i roi`... chac con lau moi zde tham no.i dduoc. Nho' !
lost-dude
03-23-2003, 06:47 PM
Wow!!!!!!!!!!!!!! Great collection, BunRieu!
I enjoyed reading the poems and biographies. I didn't know what Nguyen Cong Tru looks like until now. I love this thread so much!!! About Gia Huan Ca, many people believe that it's not by Nguyen Trai (I love his Binh Ngo Dai Cao, almost memorized the Nho version). There is an article in portable document format (*.pdf) in www.viethoc.com about this. :)
BungRieu
03-24-2003, 01:05 AM
Hi Anh Lost-dude ...
Thank for your encouragement ...
BR appreciated that very much ...
Các Cô Chú trong VCB have given BR lots of valuable Documents, sites, webpages ...
BR want to share as much as BR can ... and BR will post them everytime when BR have time ....
If Anh also have ... pls post ... you and everyone are very much welcome ...
==========
Anh DHT ui ...:) ...
BR sẽ cố gắng post thêm vào cuối tuần hoặc mỗi khi rảnh ... chịu khó đợi 1 chúc nha ... sao mùh có vẻ nôn nóng wá nha .... :) .... hổng biết có họ hàng gì với Trương Phi hông đây ? ...:D :D ...
lost-dude
03-25-2003, 03:21 PM
Hi BungRieu,
Lost-dude có cuốn Việt Nam Danh Nhân Tự Điển của Nguyễn Huyền Anh, ̉644 trang tiểu sử. BungRieu có cần tiểu sử của ai thì cho Lost-dude biết, sẽ type cho. :)
Mỗi lời thơ của Cha Ông ta sao thống thiết như tiếng chim Quốc gọi nửa đêm, như từng mũi kim đâm sâu vào tim, như từng hạt cát rơi vào sâu trong mắt của những người có quê hương mà đã mất quê hương .......
:cry: :cry: Nhớ quê hương quá. :cry: :cry:
Tudoi
03-25-2003, 08:24 PM
Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông
(Nguyễn bá Học)
Đã làm trai sống trong trời đất
Phãi có danh gì với núi sông
(Nguyễn công Trứ)
BungRieu
03-26-2003, 02:27 AM
Anh Lostdude ....
BR không biết sách đó nha ...
Danh nhân Nước Việt mình nhiều lắm ... sách bút nào mà kể cho hết được ...
Anh thích Vị nào thì anh đăng và đóng góp để mọi người cùng đọc ..
(nói nhỏ nha ... Anh viết về mấy Nữ nhân VN đi .... :) ..:) ....)
Xin cám ơn anh trước nha .....
======================
Chú Tư ơi ...
Cám ơn chú Tư đã đóng góp ...
Những lời của những vị anh hùng này ... hay quá ..
BR sẽ update cái danh sách liền ....
convitcon
03-27-2003, 01:38 PM
Lâu rồi mới được đọc lại những bài này .
Lần nào đọc, trong lòng tôi cũng dâng lên một nỗi nghẹn ngào khó tả !!!!
BungRieu
03-27-2003, 03:06 PM
Lý Thường Kiệt
Năm 1019 tại căn nhà của một võ quan ở phường Thái Hoà, con trai đầu lòng của ông Ngô An Ngữ và bà họ Hàn ra đời đặt tên là Ngô Tuấn.
Năm Thiên Thành đời Lý Thái Tông, ông An Ngữ được cử đi tuần vùng phía nam Thanh Hoá, ít lâu sau bị lâm bệng qua đời.
Chồng của cô ruột là Tạ Ðức đem ông về nuôi dậy văn võ. Năm 18 tuổi mẹ mất (1036), Ngô Tuấn cùng em lo đủ tang lễ mai táng. Hết tang, ông được bổ chức kỵ mã hiệu uý. Do tính siêng năng, cần mẫn lại hết lòng trung thành, càng được vua tin yêu thăng thưởng dẫn lên đến chức Ðô Tri và được đổi sang họ Vua gọi là Lý Thường Kiệt.
Năm 1061, ông được Vua cử vào trấn giữ vùng núi Thanh - Nghệ hiểm trở, ông đã vỗ về nhân dân chăm lo sản xuất, khai khẩn đất hoang làm cho nhân dân no ấm, biên cương được bảo vệ vững vàng.
Năm 1075, Nhà Tống do Vương An Thạch làm Tể tướng âm mưu chuẩn bị xâm lược nước ta, Thái uý Lý Thường Liệt tâu với Thái hậu ý Lan rằng "Ngồi yên đợi giặc, không bằng đưa quân ra trước ", Thái Hậu đồng ý cho Lý Thường Kiệt và Tông Ðản đem quân sang đánh phá các căn cứ tập kết lương thực, vũ khí của Nhà Tống ở Châu Khâm, Châu Liêm, Châu Ung (Quảng Ðông, Quảng Tây) rồi chủ động rút quân về nước. Lập phòng tuyến chống giặc Tống xâm lược ở bờ nam sông Cầu.
Ðầu năm 1077 Quách Quỳ và Triệu Triệu Tiết dẫn hơn 10 vạn quân tiến vào xâm lược nước ta, quân xâm lược bị quân và dân ta chặn lại bên bờ bắc sông Cầu hơn 2 tháng.
Chính trên phòng tuyến sông Cầu, Lý Thường Kiệt đã cho ra đời bài thơ:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tạI thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!
Ðấy chính là "Bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của dân tộc ta". Quân Tống phải rút chạy về nước, bờ cõi nuớc ta lại vững bền.
Lý Thường Kiệt đã có công đánh thắng nhà Tống, lại có công bình Chiêm. Tháng 6 năm ất Dậu (1105), Ðôn Quốc Thái uý Lý Thường Kiệt mất, thọ 87 tuổi, nhà Vua truy tặng chức; nhập nội điện đô tri hiển hiệu thái uý bình chương quân quốc trọng sự, tước Việt quốc công.
lost-dude
03-27-2003, 04:57 PM
An Tư Công Chúa
Con gái út vua Trần Thái Tông. Vào mùa xuân năm Ất Dậu (1285; Trần Nhân Tông, Trùng Hưng nguyên niên), khi giặc Mông Cổ xâm lấn nước ta, thế lực hết sức mạnh mẽ (quân Nam liên tiếp thua luôn mấy trận ở Vạn Kiếp, Phả Lại, rồi kinh đô Thăng Long thất thủ, bại quân ở Nghệ An, ở sông Đại Hoàng…), trước tình thế cấp bách, vua Nhân Tông sai Trung Hiếu Hầu Trần Dương và quan hầu cận là Đào Kiện đưa người cô là An Tư Công Chúa về Thăng Long dâng cho Thái tử Mông Cổ là Thoát Hoan để thư nạn nước.
An Tư Công Chúa là người đàn bà đã hy sinh cho nước nhà trong cuộc kháng Nguyên ở hậu bán thế kỷ XIII.
Tài liệu: Nguyễn Huyền Anh. Việt Nam Danh Nhân Từ Điển, trang 12.
Lời bàn (do Lost-dude):
Vì ba lần đánh bại quân xâm lăng bách chiến bách thắng của Mông Cổ, nhà Trần đã lập ra những trang sử hào hùng, không những cho con cháu về sau, mà cho cả thế giới biết đến tinh thần chống ngoại xâm của dân tộc ta. Tuy vậy, cái giá phải trả cho nền tự chủ ấy rất cao; vua nhà Trần đã phải vị đại nghĩa mà hy sinh cả người thân tộc. Đọc tiểu sử của An Tư Công Chúa và những vị anh hùng anh thư thời kháng Nguyên, ta mới hiểu tại sao ông bà ta vẫn muốn tôn nhà Trần lên làm vua sau khi Lê Quí Ly phế cháu ngoại của ông ta là Trần Phế Đế và lập ra triều đại nhà Hồ (1400-1407). Cái câu “giặc đến nhà đàn bà phải đánh” thật thấm thiết. Từ thời lập nước đến nay, phụ nữ đóng một vai trò tương xứng với những bậc mày râu trong công cuộc dựng nược, xây nước và giữ nước; đôi khi dẫu chỉ là sự hy sinh thầm lặng của các ngài.
…
Giống Hồng Lạc Hoàng Thiên đã định,
Mấy nghìn năm suy thịnh đổi thay.
Trời Nam riêng một cõi này,
Anh hùng hiệp nữ xưa nay kém gì.
…
(Trích trong bài “Hai Chữ Nước Nhà” của Á Nam Trần Tuấn Khải).
lost-dude
03-27-2003, 05:18 PM
An Thường Công Chúa
Con gái thứ tư vua Minh Mạng; tức chị ruột Tuy Lý Vương.
Trước tên Tam Xuân, sau được đổi la Lương Đức.
Rất thông minh và hiếu hạnh. Năm lên chín, sinh mẫu bị bệnh, nhằm lễ Vạn thọ, Công chúa được đến dùng cơm với vua cha. Có món vịt vú dê, vua chia cho ăn, Công chúa ng̣ậm không nuốt. Vua cha lấy làm lạ, truyền hỏi. Công chúa khóc mà thưa rằng: “Mẹ con có bệnh, không được đội ơn; con nghe vị này bổ lắm nên con giữ đem về để dâng mẹ con.” Vua cha nghe nói, khen lắm, liền truyền lấy riêng một khay nhỏ thịt vú dê sai người đưa sang cho mẹ Công chúa.
Khi vua Minh mạng băng hà (1840), bà lên ở tại lăng chua trọn hiếu ba năm.
Lấy chồng, thờ mẹ chồng rất hiếu, dạy con rất nghiêm, thật xứng đáng là tấm gương cho hạng thần thoa.
Bà mất năm Tân mùi (1871).
Tài liệu: Nguyễn Huyền Anh. Việt Nam Danh Nhân Từ Điển, trang 12.
Lời bàn:
“Làm tôi phải trung, làm con phải hiếu.” Tấm gương của An Thường Công Chúa dạy cho chúng ta phải nhớ rằng dẫu chúng ta có cao sang, học vấn thâm hậu hay phú quí cỡ nào đi nữa, thì đạo làm con lễ hiếu phải ghi. Là con cái, chúng ta phải luôn nghĩ đến công ơn của hai đấng sinh thành, và cố gắng làm sao cho quảng đời còn lại của cái ngài được thoải mái, êm đẹp và vui vầy. Và xin đừng đem cái bằng Engineer, Lawyer hay Doctor về rồi “con nuôi cha mẹ con kể từng ngày.” Làm ơn đừng tống cha mẹ già chúng ta vào viện dưỡng lão, dẫu chúng ta đến thăm thường xuyên cỡ nào, hay là Anh văn của các ngài lưu loát ra sao; tiền tài danh vọng, mất rồi tìm lại được, mất mẹ mất cha, hỏi thế gian có mấy ai tìm lại được.
lost-dude
03-27-2003, 05:47 PM
Ấu Triệu
Nữ đảng viên Việt Nam Quang Phục Hội đã vì nước tuẫn thân.
Tên thật là Nguyễn Thị Đang (có nơi chép là Lê Thị Đàn). Sinh trưởng trong một gia đình bình dân ở xã Thế Lại Thượng, thuộc tỉnh Thừa Thiên (Trung phần). Gia nhập Việt Nam Quang Phục Hội từ khi Hội mới thành lập. Đắc lực góp phần thoạt động cho phong trào thanh niên Dong du và tham gia phong trào kháng thuế tại các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Nam, và Quảng Ngãi vào năm 1908.
Đầu năm 1910, bị Pháp giam giữ và tra tấn hết sức tàn nhẫn, bà nhất thiết không khai một lời nào, sau dùng dây lưng thắt cổ chết trong ngục.
Nhà chí sĩ Phan Bội Châu, sau này, để tỏ lòng thương tiếc bậc liệt nữ, đã đặt câu đối hùng hồn bi tráng như sau:
“Tấm thân trót gả giang san Việt; tấc dạ soi chung nhật nguyệt Trời.
“Tơ nhân sợi nghĩa dây lưng trắng; dạ sắt lòng son nét màu hồng.”
Tài liệu: Nguyễn Huyền Anh. Việt Nam Danh Nhân Từ Điển, trang 13 và 14.
Lời bàn:
Bọn thực dân Pháp một bề giảng đạo thánh Chúa Trời, một bề giết ông bà ta không chớp mắt. Ấy mới thấy dưới bóng mặt trời này, không một dân tộc nào mà ngu dại hy sinh cho dân tộc khác (như chính quyền Bush đang tuyên truyền). “Sự tiến hóa của một dân tộc là do cái chí nguyện, lòng nhẫn nạy, kiên trì và tranh đấu của mỗi người dân,” sử gia Trần Trọng Kim đã nhũ. Trong thời kháng Pháp, biết bao nhiêu nữ sĩ trong Việt Nam Quang Phục Hội và Việt Nam Quốc Dân Đảng đã mang chung một số mạng với anh thư Ấu Triệu. Mỗi tất đất của nước Việt ta đã thấm nhoà với những giọt máu thiêng của cái ngài. Nhờ các ngài mà chúng ta mới có một đất Việt để sinh ra; những giọt nước ngọt ngào, những dòng sửa tươi mát và sinh khí mà ta đã hưởng thụ, từng giọt một, chúng ta nợ các đấng sinh thành ra ta và những đấng anh linh nước Việt cả.
lost-dude
03-27-2003, 06:20 PM
Bát Nàn Công Chúa
Không rõ tên húy.
Nữ tướng của Trưng Vương.
Theo thần tích làng Tiên La (thuộc huyện Duyên Hà, tỉnh Thái Bình, Bắc phần), chồng bà là Lạc Tướng Trương Quán, một bậc danh sĩ uy vọng thời Hán thuộc. Căm phẫn trước chính sách tàn bạo của Thái thú Tàu là Tô Định, hai vợ chồng liền phất cờ khởi nghĩa chống giặc ngoại xâm.
Khi Thi Sách, chồng của Trưng Trắc, bị hại ở Châu Diên, thì chồng của Bát Nàn Công Chúa cũng bị giết ở Duyên Hà.
Theo về Hai Bà, Bát Nàn Công Chúa đã lập được nhiều chiến công oanh liệt.
Sau khi đánh đuổi được Tô Định chạy về Tàu, bà không chịu nhận quan tước, chỉ xin đem đầu quân thù về làng Tiên La để tế chồng, rồi từ đó xuất gia đầu Phật.
Vào ngày 16 tháng 3 âm lịch bà mất tại chùa.
Về sau, dân làng Tiên La thờ Bát Nàn Công Chúa làm thành hoàng.
Tài liệu: Nguyễn Huyền Anh. Việt Nam Danh Nhân Từ Điển, trang 15 và 16.
Lời bàn:
Các Bà trong vài tháng mà lấy lại được mấy mươi thành trì khiến cho bọn thực quân Tàu phải kinh hồn. Danh của Bát Nàn Công Chúa không được thế hệ chúng ta biết đến nhiều, thật là uổng. Cũng đã gần hai ngàn năm rồi, danh của Hai Bà Trưng và những bật nữ sĩ như Bát Nàn Công Chúa vẫn bừng sáng bất diệt trong lòng dân tộc. Cụ Nguyễn Trãi trong bài “Bình Ngô Đại Cáo,” bản tuyên ngôn độc lập thời Hậu Lê, có viết rằng, “song hào kiệt thế vị thường phạp (anh hùng hiệp nữ đời nào cũng có)” nhưng ngại cho những bật mày râu, không mấy ai con lưu danh hậu thế như Trung Trắc, Trưng Nhị thời xưa.
Ghi chú: Thành hoàng là một bậc thần của một làng. Ngày xưa, làng nào cũng có một vị thành hoàng để cúng thờ. Các vị thần ấy đều do triều đình (lễ bộ) ban cữ. Các vua co quyền phong thần cho những vị đã mất mà có công trạng với nước. Thần thì chia ra nhiều loại thần, như là Nhất Đẳng thần, Đệ Nhị thần…
lost-dude
03-27-2003, 06:56 PM
Bình Khương Phu Nhân
Liệt nữ đời Hồ. Không rõ họ tên.
Theo truyền thuyết, bà là vợ một viên Cống sinh ở quanh vùng Tây Đô. Khi Hồ Quí Ly ra lệnh xây thành Tây Đô (tức thành nhà Hồ), chồng bà cũng bị bắt đi theo số dân phu để khiêng đá đắp thành. Vì yếu ốm đấp không đủ số 3 thước đá cao như đã định, người chồng bị tên đốc phu đánh chết rồi chôn vào chỗ tường xây thiếu. Hay tin, bà vội chậy đi tìm chồng; dưới chân thành, quá phẫn uất, bà đập đầu vào tấm đá để tự vẫn.
Về sau, cư dân trong vùng cảm thương người tiết phụ, khiêng tấm đá ra ngoài thành để lập miếu thờ. Các triều vua đều phong bà là nữ thần, gia hiệu Bình khương Phu nhân.
Danh sĩ Nhữ Bá Sĩ dưới đời vua Tự Đức triều Nguyễn có làm 2 bài thơ vịnh bằng chữ Hán như sau:
I.
Khẳng khái quyên khu xúc thạch cương,
Tòng phu thê chỉ Đốn sơn dương
Tử nhi vị tử tâm kiên thạch,
Sinh bất tử sinh tiệt ngạo sương.
II.
Xích chủy quân vương tri dả vô?
Đầu lư xúc thạch thệ tòng phu.
Túng nhiên địa lão thiên hoang hậu,
Thạch tích niên niên chỉ hậ Hồ!
(Bài dịch của Lam Giang)
I.
Quăng nằm xương mai chọi đá tường,
Non ngàn xin chứng tấm lòng thương.
Tiết trinh một thác bền hơn đá,
Nghĩa tiệt muôn đời sáng tựa gương.
II.
Mỏ đỏ vua Hồ có biết không?
Xương tan thiếp nguyện chết theo chồng.
Dầu cho trời đất thanh tro bụi,
Sắc giận nghìn thu vẫn ửng hồng.
Tài liệu: Nguyễn Huyền Anh. Việt Nam Danh Nhân Từ Điển, trang 16 và 17.
Lời bàn:
Hồ Quý Ly ngày xưa, tuy là một nhà cải cách tài ba, nhưng cũng không tránh được tai tiếng tiếm ngôi và làm lòng người oạn hận. Đáng ghét thay cái tên đốc phu kia, người cùng chung máu mủ mà nở tàn ác đến thế; cư xử với người cùng giống nòi mà còn như thế, thì việc quân Tàu bắt ông bà ta đem chiêng để lấy mở, bắt xây thành đấp lũy, lên rừng tìm ngà, xuống biển mò châu, thuế má gắt gao cũng là lẽ thường tình. Tấm lòng tinh khiết của Bình Khương Phu Nhân, một viên đá vọng phu sáng ngời.
XuanMaiVaCo
03-28-2003, 03:53 AM
Cám ơn BungRieu va lost-dude về tất cả những thread trong forum. Có nhiều điều XM đã tìm mờ con mắt mà không thấy, bây giờ mới gặp tại đây.
Nếu BR hoặc lost-dude có tiểu sử Hai Bá Trưng thì cho XM xin.
Nơi Hai Bà tự vẫn là quê của XM đó. Đền thờ Hai Bà vân còn tại xã Hát Môn.
BungRieu
03-28-2003, 11:35 AM
...Lần nào đọc, trong lòng tôi cũng dâng lên một nỗi nghẹn ngào khó tả !!!!
Anh CVC ơi ...
..có vậy mà cũng không hiểu và khó tả hả ....
Anh có biết tai sao tâm hồn Anh lúc đó lại như vậy không ???
Người Việt chân chính mình ai cũng có (không ít thì nhiều) 1 chút lòng yêu nước cho nên mỗi khi đọc lại những lời lẽ khí khái của Cha Ông thì ai cũng phải mủi lòng .... Vì vậy BR biết chắc chắn Anh phai là người Việt chánh tông ...
BR cũng vậy .. mỗi khi đọc là một lần sôi máu và ướt mắt (Ướt thôi chớ không nhè đâu .. BR thuộc loại super Lì à nha ....) ... BR là con gái mà còn mủi lòng .. thì huống chi là mấy Anh Nam giới ...
=============================================
Anh Lost-dude ơi ...
Wow ... hay quá nha Anh ... Cám ơn Anh đã chịu khó bỏ công ra để viết bài ... cho mọi ngươi cùng đọc ... để cùng nhau sôi máu và duy trì truyền thống tranh đấu bất khuất của Cha Ông mình ...
Mong các Anh Chị tiếp tục đóng ghóp ....
============================================
Chị Xuân Mai Vá cờ (XuanMaiVaCo) ơi
Hihì ... Đến bi giờ thì BR mí rõ tại sao có người đàn bà mà tâm hồn và nghĩa khí còn sôi nóng và cao cả hơn cả nam giới ... Té ra chị là người giòng giống quê hương của hai Bà ... hihì BR hít tắc mắc rùi ....:) ...:D ....
BR đã có tài liệu hai bà rồi ... sẽ đăng ngay sau cái post này ...
Riêng tặng cho Chị và tất cả Các Chị khác trong VCB ....
BungRieu
03-28-2003, 11:39 AM
TRƯNG NỮ VƯƠNG (40-43)
Anh Thư Khởi Nghĩa Mở Đường...
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/trungvuong.jpg
Anh Thư Khởi Nghĩa Mở Đường
Năm Giáp Ngọ (34) là năm Kiến Võ thứ 10, vua Quang Vũ sai Tô Định sang làm Thái thú quận Giao Chỉ. Tô Định là người bạo ngược, thường sử dụng những thủ đoạn chính trị tàn ác, nên bị người Giao Chỉ rất oán giận.
Hai Bà Trưng là con gái của một lạc tướng huyện Mê Linh(làng Hạ Lôi, huyện Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên), một trong 12 huyện của quận Giao Chỉ. Hai Bà thuộc giòng giõi Vua Hùng, mẹ Hai Bà là bà Man Thiện Trần Thị Ðoan. Chồng bà Man Thiện mất sớm, bà ở vậy trồng dâu nuôi tằm, chăm lo nuôi dạy hai con gái và cho con học võ nghệ với ông Ðỗ Năng Tế (khi Hai Bà phất cờ khởi nghĩa, ông thầy dạy võ nầy trở thành vị tướng đắc lực của Hai Bà).
Dưới thời Ðông Hán, chánh sách đồng hóa vô cùng khốc liệt xuyên vào các đơn vị làng kẻ của người Việt. Chính quyền cho mở các trường dạy chữ Hán để dùng người địa phương làm tay sai. Từng lớp trí thức và một số người Việt đã bắt đầu tiếp thu văn hóa Hán và học đòi lễ nghi, cung cách ứng xử của người Hán. Nhưng cũng có các trí thức yêu nước nhân cơ hội nầy mở các lớp học bên ngoài dạy chữ Hán nhưng bên trong truyền bá lòng yêu nước trong giới trẻ. Bà Man Thiện hết lòng khuyến khích con gái nhân dịp nầy cố gắng giao thiệp rộng, tiếp xúc với các lạc hầu, lạc tướng chung quanh vùng hầu chuẩn bị cho việc khởi nghĩa sau nầy.
Năm 19 tuổi Bà Trưng Trắc về làm vợ ông Thi Sách, một lạc tướng huyện Chu Diên (phủ Vĩnh Tường, trước thuộc về Sơn Tây, nay thuộc tỉnh Vĩnh Yên). Sự kết hôn giữa hai gia đình danh giá của hai huyện Mê Linh và Chu Diên tạo ra uy danh lớn trong quận Giao Chỉ. Ông Thi Sách và Bà Trưng Trắc đã hiệp lực vạch ra sách lược khởi nghĩa chống quân cai trị nhà Hán giành lại độc lập và bảo vệ nòi giống Việt.
Ông bà đã bí mật hình thành một tổ chức có tên là Núi Tản - Sông Cái. Tổ chức được đa số nhân dân các quận ủng hộ. Ðể tránh sự dòm ngó của Tàu, người trong tổ chức truyền nhau mật lệnh và các dấu hiệu để nhận nhau. Khi ra đường họ nhận nhau bằng cách chào quyết tâm, bốn ngón tay của bàn tay trái nắm lấy lóng thứ nhất ngón cái của bàn tay trái và để ngón cái bàn tay phải lên lóng thứ hai của ngón cái bàn tay trái, ba ngón kia để xen kẽ giữa các ngón tay của bàn tay trái và ngón út bàn tay phải nằm trên ngón út bàn tay trái. Trong nhà họ nhận nhau bằng tấm khăn điều phủ lên giá gương hay trên bài vị
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng
Tổ chức bí mật nầy dần dà mở rộng khắp các quận trên đất Việt. Ðâu đâu người dân cũng đều đợi chờ ngày khởi nghĩa để giải phóng dân tộc ra khỏi lầm than và nô lệ. Nhưng chẳng bao lâu, tổ chức bí mật Núi Tản Sông Cái bị bại lộ, ông Thi Sách bị Tô Ðịnh bắt giết. Tin buồn chấn động khắp các châu quận làm dân chúng càng thêm căm hận.
Hai Bà cố nén đau thương cùng cực, nắm lấy cơ hội phát động ngay cuộc khởi nghĩa và lập Đàn Thề tại vùng sông Hát (Hát Môn, Phúc Lộc , tỉnh Sơn Tây) chiêu tập binh sĩ ... thấy nếu cứ để các nơi đơn độc chống đỡ với kẻ thù, không có sự liên kết với nhau, thì kẻ thù sẽ lần luột tiêu diệt từng nơi, như bẻ từng chiếc đũa. Thấy rõ nguy cơ đó, Hai Bà Trưng đã truyền hịch cứu nước và cử người đi khắp nơi để tập hợp lực lượng dưới ngọn cờ chỉ huy thống nhất của Trưng Nữ Vương. Các nơi đã nhiệt liệt hưởng ứng, kéo quân hoặc cử đại biểu về Mê Linh tụ nghĩa.
Mùa xuân năm Canh Tý (3-40), Trưng Nữ Vương hội quân ở Hát Môn làm lễ tế cờ chính thức phát động nhân dân cả nước khởi nghĩa đuổi giặc Hán, lật đổ ách thống trị của ngoại tộc. Nhân dân cả nước nhất tề đứng dậy dưới cờ lệnh của Trưng Nữ Vương.
Trưng Trắc ra lệnh nổi trống đồng họp binh quyết trả thù cho chồng, rửa nhục cho nước. Nghe tiếng trống ầm ào nổi lên, dân Mê Linh cung nỏ, dao búa, khiên mộc, giáo lao trong tay cuồn cuộn đổ về nhà làng. Trên bành voi cao, nữ chủ tướng Mê Linh mặc giáp phục rực rỡ. Dân Mê Linh trông thấy nữ chủ tướng đẹp đẽ, oai phong lẫm liệt thì hò reo dậy đất, ào ào bám chân voi, theo chủ tướng mà xốc tới. Trước khí thế ngút trời của đoàn quân khởi nghĩa, toà đô úy trị của nhà Hán trên đất Mê Linh phút chốc đã tan tành.
Sức mạnh đại đoàn kết của dân ta được nhân lên gấp bội, khí thế ngút trời, như triều dâng thác đổ, làm cho kẻ thù không kịp chống đỡ, chỉ trong một thời gian ngắn, 65 thành trì đã lần lượt về tay nghĩa quân, chỉ còn thành Luy Lâu, sào huyệt cuối cùng của Tô Ðịnh ...
Quân dân ta đạp bằng dinh lũy giặc tiến xuống Luy Lâu. Trong khi đoàn quân trẩy đi phá quận Giao Chỉ của nhà Hán, ngày càng có thêm nhiều đoàn quân từ các nơi đổ về. Thành Luy Lâu cũng không đương nổi cuộc công phá của một biển người ào ào xung sát, dũng mãnh theo hiệu trống đồng của Trưng Trắc, Trưng Nhị. cuối cùng cũng bị phá vỡ trước sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân ta, Tô Ðịnh kinh hoàng đến nỗi phải bỏ giáp, cắt râu, cắt tóc và quẳng cả ấn tín tìm đường lẩn trốn về nước ... mới thoát chết về chịu tội với vua Hán.
Tin thắng trận dồn dập bay đi. Nỗi vui mừng quá lớn khiến cho người dân Việt nhiều đêm liền không ngủ. Trải qua hàng chục đời, nay đất nước của vua Hùng mới được khôi phục, nợ nước thù nhà của chủ tướng Mê Linh đã được trả. Trai gái rìu đồng, giáo sắc nắm chắc trong tay, những chiếc lông chim cắm ngất ngưởng trên đầu, bộ áo lông chim xòe rộng theo nhịp trống đồng dồn dập như không bao giờ dứt. Tin thắng trận bay đi. Các quận Nam Hải (đảo Hải nam ngày nay), Cửu Chân (Bắc Việt ngày nay), Nhật Nam (Trung Việt ngày nay) , Hợp Phố (Quảng Đông ngày nay) cũng nổi lên theo về với Hai Bà Trưng.
Ðất nước sạch bóng quân thù, cả nước suy tôn Trưng Trắc lên là Trưng Nữ Vương đóng đô ở Mê Linh. Trưng Nữ Vương ra lệnh miễn thuế khóa cho dân hai năm.
===============
Năm Tân Sửu (41) vua Quang Vũ sai Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, Lưu Long làm Phó tướng quân cùng với quan Lâu thuyền tướng quân là Đoàn Chí sang đánh Trưng Vương.
Mã Viện là một danh tướng khét tiêng của nhà Đông Hán, lúc bấy giờ đã ngoài 70 tuổi, nhưng vẫn còn mạnh, đem hơn 20 vạn quân đi men bờ bể phá rừng đào núi làm đường sang đến Lãng Bạc, Trưng Nữ Vương và các tướng lĩnh của Hai Bà Trưng đã đưa quân ra chống giặc từ biên giới, ...
Đánh mãi không thắng ... Mã Viện xin tăng cường thêm quân rồi tiếp tục kéo binh xâm lược ... quân ta đã anh dũng chiến đấu, các trận chiến ác liệt đã diễn ra ở Lãng Bạc, Ðông Triều, Yên Phong, Hà Bắc, ... trước thế giặc quá đông và hung hãn, hai Bà đã thu quân rút về giữ ở Cấm Khê (Thạch Thất - Quốc Oai) để tử thủ. Hàng vạn người Việt đã ngã xuống trong các trận chiến đấu ác liệt để bảo vệ Tổ quốc thiêng liêng của mình.
Sau một thời gian dài cầm cự ... trước thế giặc quá mạnh và đông, Trưng Nữ Vương phải bỏ Cấm Khê lui quân về đến Hát Giang ( xã Hát Môn, huyện Phúc Lộc (nay là huyện Phúc Thọ), tỉnh Sơn Tây), ... nơi đây vì quân ít, ... đến thế bức quá, sau khi đã bắn hết cả tên nỏ ... hai vị anh thư không muốn rơi vào tay quân địch bèn gieo mình xuống sông Hát (chỗ sông Đáy tiếp vào sông Hồng Hà) tự tận, chớ không thèm đầu hàng giặc,.. các nữ tướng theo bà bấy lâu đều tự vận theo ... Bấy giờ là ngày mồng 6 tháng 2 năm Quý Mão (năm 43). Theo Nam Sử, Trưng Trắc hưởng dương 29 tuổi.
Một số những tướng của Hai Bà là nhóm Đô Dương chạy vào giữ huyện Cư Phong thuộc quận Cửu Chân. Sau Mã Viện đem quân vào đánh, nhóm Đô Lương cũng đều phải ra hàng.
Sau ngọn cờ khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, đất nước lại rơi vào thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai kéo dài đến 5 thế kỷ (43-544).
Ngày nay, ngoài quê hương Mê Linh, tại bãi Đồng Nhân ở vùng ngoại ô thành phố Hà Nội có ngôi đền cất từ năm Nhâm Tuất (1142) thờ Hai Bà Trưng rất lớn ....
Tại xã Hát Môn (là nơi lập đàn ăn thề, là nơi tế cờ khởi nghĩa và cũng cùng là nơi hai bà tự tận) có Miếu Hát thờ Hai Bà Trưng, theo dân gian, nơi nầy rất linh thiêng ...
Người ta truyền tụng rằng đền thờ hai bà rất linh thiêng. Đời vua Anh Tông nhà Lý, gặp năm trời đại hạn, ruộng đất không cấy được, nhà vua sai Uy Tĩnh thiền sư đến đền thờ hai bà để cầu mưa. Quả nhiên giữa hôm ấy trời mưa tầm tã, vua thấy linh ứng hiển nhiên bèn ra lệnh cho xây lại đền thờ hai bà thêm nguy nga và phong tặng là Trinh Linh Nhị Phu Nhân. Đến đời nhà Trần lại gia phong là Uy Liệt Chế Thắng Thuần Trinh Bảo Thượng Lưỡng Phu Nhân.
Để tỏ lòng tôn kính, hàng năm vẫn tổ chức lễ kỷ niệm hai vị anh thư Trưng Trắc và Trưng Nhị vào ngày mùng 6 tháng 2 Âm lịch.
===============
Hai Bà họ Trưng làm vua được 3 năm, nhưng lấy cái tài trí người đàn bà mà dấy được nghĩa lớn như thế, khiến cho vua tôi nhà Hán phải lo sợ, ấy cũng là đủ để tiếng thơm lại muôn đời. Ngày nay có rất nhiều nơi lập đền thờ Hai Bà để ghi tạc danh tiếng hai người nữ anh hùng của nước Việt Nam ta.
Đây là hai vị nữ lưu đầu tiên trong lịch sử nước nhà đã dấy lên ngọn cờ khởi nghĩa, chống trả ách xâm lược của Bắc Phương.
Trong “Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca” có bốn câu:
Bà Trưng quê ở Châu Phong
Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên
Chị em nặng một lời nguyền
phất cờ nương tử, thay quyền tướng quân...
Sách “Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập” có những vần thơ vịnh Hai Bà Trưng:
Giúp dân dẹp loạn trả thù mình
Chị rủ cùng em kết nghĩa binh
Tô Định bay hồn vang một trận
Lĩnh Nam mở cõi vững trăm thành.
Mới dày bảo vị gia ơn trọng
Đã đội hoa quan xuống phúc lành
Còn nước, còn non, còn miếu mạo
Nữ trung đệ nhất đấng tài danh ..
Vua Tự Đức đã đề cập về hai vị nữ anh thư:
Hai Bà Trưng là khách quần thoa, thế mà lóng hăng việc nghĩa, còn làm rung động được triều đình nhà Hán! Dẫu thế lực yếu, thời vận ngửa nghiêng, cũng đủ dấy dức lòng người, rỡ ràng sử sách...
===============
Sử gia Lê Văn Hưu nói rằng: "Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà nổi lên đánh lấy được 65 thành trì, lập quốc xưng vương dễ như trở bàn tay. Thế mà từ cuối đời nhà Triệu cho đến đời nhà Ngô hơn một nghìn năm, người mình cứ cúi đầu bó tay làm tôi tớ người Tàu, mà không biết xấu hổ với hai người đàn bà họ Trưng!".
Hai Bà Trưng trong lịch sử Việt Nam và lịch sử các dân tộc trên thế giới đã xảy ra một sự kiện lịch sử thật kỳ lạ (và chỉ xảy ra có một lần trong lịch sử của nhân loại -- Phụ nữ nổi lên lãnh đạo khởi nghĩa vũ trang để giải phóng dân tộc ). Ðó là ngay thế kỷ đầu Công Nguyên (39-40) dân tộc ta đã theo lời kêu gọi của hai người phụ nữ trẻ tuổi (Trưng Trắc, Trưng Nhị) nổi lên nắm quyền lãnh đạo khởi nghĩa vũ trang để giải phóng dân tộc, giảu phóng đất nước. Có lẽ do khí thiêng sông núi, do truyền thống bất khuất và tinh thần thượng võ của dân tộc ta mới hun đúc và sản sinh ra hai vị nữ anh hùng kiệt xuất và hàng chục nữ tướng tài ba như vậy.
Hai Bà Trưng đã được sử sách đời đời ghi chép công ơn, còn hơn hai mươi nữ tướng của Hai Bà Trưng tài ba lỗi lạc tuy chưa được ghi trong chính sử, song sự tích kỳ tài của các nữ tướng anh hùng đó đã được tạc trên bia đá, ghi vào thần phả và được nhân dân ta đời đời truyền tụng.
Sau đây là danh sách các vị nữ anh hùng đó để minh họa cho sự kiện lịch sử đặc biệt oanh liệt dưới thời Hai Bà Trưng.
1. Thánh Thiên Nữ Tướng Anh Hùng: Khởi nghĩa ở Yên Dũng, Bắc Ðái - Bắc Giang. Ðược Trưng Vương phong làm Thánh Thiên Công Chúa. Hiện có đền thờ ở Ngọc Lâm, Yên Dũng, Bắc Giang.
2. Lê Chân - Nữ Tướng Miền Biển: Khởi nghĩa ở An Biên, Hải Phòng, được Trưng Vương phong là Nữ tướng quân miền Biển. Hiện có đền Nghè, ở An Biên, Hải Phòng thờ.
3. Bát Nạn Ðại Tướng: Tên là Thục Nương, khởi nghĩa ở Tiên La (Thái Bình), được Trưng Vương phong là Bát Nạn Ðại tướng, Trinh Thục công chúa. Hiện có đền thờ ở Phượng Lâu (Phù Ninh, Phú Thọ) và Tiên La (Quỳnh Phụ, Thái Bình).
4. Nàng Nội - Nữ Tướng Vùng Bạch Hạc: Khởi nghĩa ở Bạch Hạc (Phú Thọ) được Trưng Vương phong là Nhập Nội Bạch Hạc Thủy công chúa. Hiện TP Việt Trì có đền thờ.
5. Lê Thị Hoa - Nữ Tướng Anh Hùng: Khởi nghĩa ở La Sơn (Thanh Hóa) được Trưng Vương phong là Nữ tướng quân. Hiện ở Nga Sơn -Thanh Hóa có đền thờ.
6. Hồ Ðề - Phó Nguyên Soái: Khởi nghĩa ở Ðộng Lão Mai (Thái Nguyên) được Trưng Vương phong là Ðề Nương công chúa, lãnh chức Phó Nguyên soái. Ðình Ðông Cao, Yên Lãng (Phú Thọ) thờ Hồ Ðề.
7. Xuân Nương, Trưởng Quản Quân Cơ: Khởi nghĩa ở Tam Nông (Phú Thọ), được Trưng Vương phong là Ðông Cung công chúa chức Nhập nội trưởng quẩn quân cơ nội các. Hiện có đền thờ ở Chương Nha (Tam Nông), Phú Thọ.
8. Nàng Quỳnh - Nàng Quế - Tiên Phong Phó Tướng: Khởi nghĩa ở Châu Ðại Man (Tuyên Quang) được Trưng Vương phong làm Tiên phong phó tướng. Hiện ở Tuyên Quang còn có miếu thờ hai vị nữ anh hùng.
9. Ðàm Ngọc Nga - Tiền Ðại Tả Tướng: Khởi nghĩa ở Thanh Thủy, Thanh Sơn - Phú Thọ. Ðược Trưng Vương phong làm Nguyệt Ðiện Tế Thế công chúa giữ chức Tiền đạo tả tướng quân.
10. Thiều Hoa - Tiên Phong Hữu Tướng: Khởi nghĩa ở Tam Thanh - Phú Thọ. Ðược Trưng Vương phong là Ðông Cung công chúa giữ chức Tiên phong hữu tướng. Hiện ở xã Hiền Quan, Tam Nông, Phú Thọ có miếu thờ.
11. Quách A - Tiên Phong Tả Tướng: Khởi nghĩa ở Bạch Hạc, Phú Thọ. Ðược Trưng Vương phong là Khâu Ni công chúa giữ chức Tả tướng tiên phong. Hiện có đền thờ ở trang Nhật Chiêu (Phú Thọ).
12. Vĩnh Hoa - Nội Thị Tướng Quân: Khởi nghĩa ở Tiên Nha (Vĩnh Phúc). Ðược trưng Vương phong là Vĩnh Hoa công chúa giữ chúc Nội thị tướng quân. Ðình Nghênh Tiên, xã Nguyệt Ðức, huyện Yên Lạc Vĩnh Phúc thờ Vĩnh Hoa.
13. Lê Ngọc Trinh - Ðại Tướng: Khởi nghĩa ở Lũng Ngòi, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc. Ðược Trưng Vương phong là Ngọc Phượng công chúa giữ chức Ðại tướng quân. Hiện có miếu thờ ở Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc.
14. Lê Thị Lan - Tướng Quân: Khởi nghĩa ở Ðường Lâm - Sơn Tây. Ðược Trưng Vương phong là Nữ tướng quân. Hiện ở Hạ Hòa, Phú Thọ có miếu thờ.
15. Phật Nguyệt - Tả Tướng Thủy Quân: Khởi nghĩa ở Thanh Ba, Phú Thọ. Ðược Trưng Vương phong làm Phật Nguyệt công chúa giữ chức Thao Giang thượng Tả tướng thủy quân.
16. Phương Dung - Nữ Tướng: Khởi nghĩa ở Lang Tài (Bắc Ninh). Ðược Trưng Vương phong là Phương Dung công chúa giữ chức Nữ tướng quân.
17. Trần Nang - Trưởng Lĩnh Trung Quân: Khởi nghĩa ở Thượng Hồng (Hải Dương). Ðược Trưng Vương phong là Hoàng công chúa giữ chức Trưởng lĩnh trung quân. Hiện ở Yên Lãng, Phú Thọ có đền thờ.
18. Nàng Quốc - Trung Dũng Ðại Tướng Quân: Khởi nghĩa ở Gia Lâm, Hà Nội. Ðược Trưng Vương phong làTrung Dũng đại tướng quân. Hiện ở Hoàng Xá, Kiêu Kỵ, Gia Lâm thờ Nàng Quốc.
19. Tam Nương - Tả Ðạo Tướng Quân: Ba chị em Ðạm Nương, Hồng Nương và Thanh Nương khởi nghĩa ở Quất Lưu, Bình Xuyên, Vĩnh Phúc. Trưng Vương phong Ðạm Nương làm Tả đạo tướng quân, Hồng Nương và Thanh Nương làm phó tướng. Ðình Quất Lưu, Vĩnh Phúc thờ Tam Nương.
20. Quý Lan - Nội Thị Tướng Quân: Khởi nghĩa ở Lũng Ðộng, Chí Linh (Hải Dương). Ðược Trưng Vương phong là An Bình công chúa giữ chức Nội thị tướng quân. Hiện ở Liu sơn, Lập Thạch, Vĩnh Phúc có đền thờ.
===============
Hôm nay ôn lại trang sử oai hùng của Hai Bà Trưng, chúng ta không khỏi tự hào về một dân tộc hơn bốn ngàn năm đấu tranh để tồn tại mà chúng ta còn tri ân các bà mẹ Việt. Truyền thống Âu Cơ đã bền bỉ chịu đựng, cần cù nhẫn nại nuôi dưỡng các thế hệ anh hùng. Ðể khỏi phụ lòng và công ơn của tiền nhân, chúng ta đừng để vật chất cám dỗ, hãy chuẩn bị tâm tư và nhân cách để đứng lên làm tròn nhiệm vụ lịch sử giao phó. Chúng ta đừng đòi hỏi đất nước làm gì cho chúng ta mà hãy tâm niệm rằng chúng ta đã làm gì cho đất nước. Mỗi người chúng ta chỉ cần một bàn tay nhỏ bé đủ đẩy quả núi ù lì chắn bước tiến của dân tộc sang bên để đem lại hạnh phúc an vui cho mọi người còn hơn nhìn quá khứ trong tiếc nuối.
Ðể kết luận, xin ghi lại lời tuyên bố dõng dạc của bà Triệu Thị Trinh (Bà Triệu Ẩu) cách đây hơn 1700 năm:
"Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá tràng kình ở bể Ðông, quét sạch bờ cõi để cứu dân ra khỏi nơi đắm đuối chứ không thèm bắt chước người đời cúi đầu cong lưng để làm tỳ thiếp người ta."
lost-dude
03-28-2003, 02:18 PM
BúngRiêu lẹ tay quá. Cái hình đẹp quá BR, cám ơn nhen.
Lost-dude copy cái exert này từ quyển Việt Nam Sử Lược của ông Trần Trọng Kim:
[hr]
TRƯNG-VƯƠNG
(40-43)
1. Trưng-Thị khởi binh
2. Mã Viện sang đánh Giao-chỉ
1. Trưng-Thị khởi binh. Năm giáp-ngọ (34) là năm Kiến-võ thứ 10, vua Quang-vũ sai Tô Định sang làm thái thú quận Giao-chỉ. Tô Định là người bạo ngược, chính trị tàn ác, người Giao-chỉ đã có lòng oán giận lắm. Năm canh-tí (40) người ấy lại giết Thi Sách người ở quận Châu-Diên (phủ Vĩnh tường, trước thuộc về Sơn Tây, nay thuộc về tỉnh Vĩnh yên). Vợ Thi Sách là Trưng-Trắc con gái quan lạc tướng ở huyện Mê-linh (àng Hạ-lôi, huyện Yên-lãng, tỉnh Phúc-yên) cùng với em gái là Trưng-Nhị,nổi lên đem quân về đánh Tô Định. Bọn Tô Định phải chạy trốn về quận Nam Hải.
Lúc bấy giờ những quận Cửu-chân, Nhật-nam và Hợp-phố cũng nổi lên theo về với hai bà Trưng-Thị. Chẳng bao lâu quân hai bà hạ được 65 thành-trì. Hai bà bèn tự xưng làm vua, đóng đô ở Mê-linh, là chỗ quê nhà.
2. Mã-Viện sang đánh Giao-Chỉ. Năm tân-sửu (41) vua Quan-vũ sai Mã Viện làm Phục-ba tướng-quân, Lưu Long làm phó tướngcùng với quan Lâu-thuyền tướng quân là Đoàn Chí sang đánh Trưng-vương.
Mã Viện là một danh-tướng nhà Đông-Hán, lúc bấy giờ đã ngoài 70 tuổi, nhưng vẫn còn mạnh, đem quân đi men bờ để phá rừng đào núi làm đường sang đến Lãng-bạc, gặp quân Trưng-Vương hai bên đánh nhau mấy trận. Quân Trưng-vưng là quân ô-hợp không đương nổi quân Mã Viện, đã từng đánh giặc nhiều phen. Hai bà rút quân về đóng ở Cẩm-khê (phủ Vĩnh tường, tỉnh Vĩnh-yên). Mã Viện tiến quân lên đánh, quân hai bà vỡ tan cả. Hai bà chạy về đến xã Hát-môn, thuộc huyện Phúc-lộc (nay là huyện Phúc Thọ tỉnh Sơn-tây), thế bức quá, bèn gia mình xuống sông Hát-giang (chỗ sông Đáy tiếp vào sông Hồng-hà) mà tự tận. Bấy giờ là ngày mồng 6 tháng 2 năm quí - mão (43).
Những tướng của hai bà là bọn Đô Dương chạy vào giữ huyện Cư phong thuộc quận Cửu-chân. Sau Mã Viện đem quân vào đánh, bọn Đô Dương đều phải ra hàng.
Hai bà họ Trưng làm vua được 3
năm, nhưng lấy cái tài-trí người đàn bà mà dấy được nghĩa lớn như thế, khiến cho vua tôi nhà Hán phải lo sợ, ấy cũng đủ để cái tiếng thơm về muôn đời. Đến ngày nay có nhiều nơi lập đền thờ hai bà để nghi-tạc cái danh-tiếng hai người nữ anh-hùng nước Việt-nam ta.
Sử-gia Lê văn Hưu nói rằng: "Trung Trắc, Trưng Nhị là đàn bà nổi tiếng đánh lấy được 65 thành trì, lập quốc xưng vương dễ như giở bàn tay. Thế mà từ cuối đời nhà Triệu cho đến đời nhà Ngô hơn một nghìn năm, người mình cứ cúi đầu bó tay làm tôi-tớ người Tàu, mà không biết xấu-hổ với hai người đàn-bà họ Trưng!"
BungRieu
03-28-2003, 03:01 PM
Mấy Bà là thần tượng của BR mà .... phải lẹ mí được ...
BR có mấy tài liệu này từ lâu rồi này mới góp lại để đăng đó ...
lost-dude
03-28-2003, 03:01 PM
Bùi Thi Xuân
Vợ của danh tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu.
- Người ở thôn Xuân Hoà, xã Bình Phú, quận Bình Khuê, tỉnh Bình Định (Trung phần).
Có tài binh bị, bà thường tòng chinh chống địch, lập được nhiều chiến công. Là một nữ tướng rất dũng cảm và có độ lượng, bà không bao giờ giết những quân đã chạy hay đầu hàng.
Đến hồi nhà Tây Sơn suy mạt, khi thành Phú Xuân lọt vào tay chúa Nguyễn, bà theo vua Cảnh thịnh chạy ra Nghệ an, rồi tự đem 5.000 quan can đảm chống giữ lũy Trấn ninh. Tháng giêng năm nhâm tuất (1802), hay tin thủy quan Tây sơn bị phá ở Nhật lệ, bà phải lui quân.
Bấy giờ Trần quang Diệu và Võ văn Dũng không thể giữ Qui nhơn, đưa quân theo ngả thượng đạo ra Nghệ an để hội với vưa Tây sơn lo việc chống giữ. Vừa đến huyện Hương sơn, được tin thành Nghệ an thất thủ, Trần quang Diệu bèn cùng với Bùi thị Xuân đi về huyện Thanh chương. Được mấy hôm, cả hai vợ chồng đều bị bắt. Sau bà cùng với chồng và hai con gái chịu tội chết: Trần quang Diệu bị lột da, còn bà và con gái bị voi dày.
- Giao sĩ La Bissachère, mục kích cuộc hành hình nữ tướng Bùi thị Xuân, đã tả trong cuốn ký sự của ông như sau:
“Bùi thị Xuân, mặt không đổi sắc, tiến đến trước mặt voi nhp chọc tức nó. Mấy tên lịnh thét la om sòm bảo Thị Xuân quì xuống, nhưng bà vẫn thản nhiên tiến bước. Voi lùi lại; bọn lính phải lấy giáo thọc vào đùi voi. Bấy giờ voi mới quặp lấy Thị Xuân tung lên trời… Bùi thị Xuân chết rồi, bọn lính liền lấy dao cắt lấy tim, gan, thịt ở cánh tay bà mà ăn sống, vì muốn được can tường như bà.”
Bà Bùi thị Xuân đã để lại tấm gương dũng liệt, và đến nay, tại nơi quê hương bà còn truyền lại bài thơ ca tụng tài đức bậc anh thư như sau:
Xưa nay khăn yếm vượt mày râu,
Bùi thị phu nhân đứng bậc đầu.
Chém tướng, chặt cờ, khoe kiếm sắc,
Vào thần, ra quỷ, tỏ mưu sâu.
Quên nhà, nợ nước, đem toan trước,
Vì nước, thù nhà, để tính sau.
Tài đức nghìn thu còn nức tiếng,
Non còn chảy ngọc biết vì đâu.
_____________________________
Lời bàn:
Thiết nghĩ, bộ hình nhà Nguyễn thật quá ác độc. Những hình phạt như tứ mã phanh thây, lột da, voi dày… thật quá ác ôn. Nhà Đinh tuy là gay gắt, nhưng cũng không như nhà Nguyễn; đàn bà con nít cũng không tha. Vua Quang Trung băng hà rồi (miếu hiệu Thái tổ Võ hoàng đế), mà còn lấy cốt lên để bỏ tù. Cái câu “chết là hết” so với họ không là gì cả. Những người theo đạo Công Giáo, hàng ngàn người cũng phải đi qua con đường bà Bùi thị Xuân đã đi. Cái hiệu “Thánh tổ nhân hoàng” của vui Minh mạng thật là một điều mỉa mai thiên hạ.
BungRieu
03-28-2003, 03:14 PM
Thơ vịnh về Bà Bùi Thị Xuân ...
Người đời sau có vịnh thơ :
Vận nước đang xoay chuyển
Quần thoa cũng vẫy vùng
Liều thân lo cứu chúa
Công trận quyết thay chồng.
Khảng khái khi lâm nạn!
Kiên trinh lúc khốn cùng
Ngàn thu gương nữ liệt
Gương sáng hãy soi chung.
lost-dude
03-28-2003, 03:15 PM
Cô Bắc
Tên thật là Nguyễn thị Bắc. Nữ đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng; chị ruột cô (Nguyễn Thị) Giang. Sinh trưởng trong một gia đình cách mạng tỉnh Bắc giang. Cùng với cô Giang đảm nhiệm việc tuyên truyền cho VNQDĐ vào hồi phát động cuộc khởi nghĩa Yên Bái.
Bị bắt và đem xử trước Hội đồng Đề hình họp ngày 28-3-1930 tại Yên Bái, cô Bắc tỏ ra có khí phách phi thường với lời nói bất hủ: “Chúng mày về nước Pháp mà kéo đổ tượng Gian Đạc đi thôi.”
______________________________
Tượng Gian Đạc = tượng Jeanne d’Arc?
lost-dude
03-28-2003, 03:33 PM
Cô Giang
Tức Nguyễn thị Giang; em ruột cô Bắc. Nữ chiến sĩ cách mạng; vị hôn thê của Nguyễn thái Học. Cô Giang là người có công tuyên truyền đắc lực cho VNQDĐảng hồi phát động cuộc khởi nghĩa Yên Bái.
Khi Nguyễn Thái Học bị bắt đưa lên đoạn đầu đài tại Yên Bái, cô Giang đau đớn đến tuyệt vọng, dùng súng lục tự kết liễu đời mình, để lại hai bức thư tuyệt mệnh với lời lẽ hết sức thống thiết. Qua bức thư sau, cả một tấm lòng tha thiết đối với tiền đồ Đất nước của bậc nữ kiệt đã được bộc lộ rõ ràng, và là những di ngôn quý báu cho đám thế hệ phải bảo toàn lấy đời sống tự do của Dân tộc:
“Anh đã là người yêu nước!
Không làm tròn được nghĩa vụ cứu nước. Anh giữ lấy tấm linh hồn cao cả để về mà chiêu binh, rèn lính ở dưới suối vàng.
Phải chịu đựng nhục nhã mới có ngày mong được vẽ vang! Các bạn đồng chí phải sống lại sau Anh để đánh đổ cường quyền mà cứu lấy đồng bào đau khổ.”
Kèm theo bài thơ:
Thân không giúp ích cho đời!
Thù không trả được cho người tình chung.
Dẫu rằng đương độ trẻ trung,
Quyết vì dân chúng thề lòng hy sinh.
Con đường tiến bộ mông mênh,
Éo le hoàn cảnh buộc mình biết sao?
Bây giờ hết kiếp thơ đào,
Gian nan bỏ mặc đồng bào từ đây.
Dẫu rầng chút phận thơ ngay,
Sổ đồng chí đã có ngày ghi tên.
Chết đi dạ những buồn phiền,
Nhưng mà hoàn cảnh truân chuyên buộc mình.
Quốc kỳ phất phới trên thành,
Tủi thân không được chết vinh dưới cờ.
Cực lòng nhỡ* bước sa cơ,
Chết sầu, chết thảm, có thừa xót xa!
Thế ru? Đời thế ru mà?
Đời mà ai biết? Người mà ai hay?
______________________________________
*Nhỡ = lỡ.
XuanMaiVaCo
03-28-2003, 04:46 PM
Cám ơn BungRieu và lost_dude, XM đã đọc một cách say mê, có lúc tưởng rằng mình đang đi trong đoàn quân của Hai Bà.
- Đền thờ Hai Bà rất thiêng,nhiều người từ những tỉnh xa xôi đã tối để cầu xin và đây cũng là một điểm để khách du lich tới thăm, nhưng rất ít vì đền thờ có ý nghĩa về lịch sử nhiều hơn là thắng cảnh.
- Hàng năm ngày 6.2 âm lịch , xã Hát Môn làm lễ rất lớn, coi như một ngày hội, dân chúng tại các xã chung quanh đều tới dự rất đông.
- XM sẽ tìm vài tấm hình đền thờ Hai Bà, để bổ túc cho phần tài liệu của BungRieu và lost_dude.
Và cám ơn BR về những lời tâm huyết:
Hôm nay ôn lại trang sử oai hùng của Hai Bà Trưng, chúng ta không khỏi tự hào về một dân tộc hơn bốn ngàn năm đấu tranh để tồn tại mà chúng ta còn tri ân các bà mẹ Việt. Truyền thống Âu Cơ đã bền bỉ chịu đựng, cần cù nhẫn nại nuôi dưỡng các thế hệ anh hùng. Ðể khỏi phụ lòng và công ơn của tiền nhân, chúng ta đừng để vật chất cám dỗ, hãy chuẩn bị tâm tư và nhân cách để đứng lên làm tròn nhiệm vụ lịch sử giao phó. Chúng ta đừng đòi hỏi đất nước làm gì cho chúng ta mà hãy tâm niệm rằng chúng ta đã làm gì cho đất nước. Mỗi người chúng ta chỉ cần một bàn tay nhỏ bé đủ đẩy quả núi ù lì chắn bước tiến của dân tộc sang bên để đem lại hạnh phúc an vui cho mọi người còn hơn nhìn quá khứ trong tiếc nuối.
BungRieu
03-29-2003, 12:27 PM
.. Hihì ..nhừng lời viết trong những gì BR post ...không phải của BR
đâu ...mấy người lớn viết rồi gởi cho BR đó ..BR chỉ gom góp lại rồi
đăng lên thôi ....
Nêu Chị có hình Đền thờ hai Bà xin chị post cho BR coi với nha ...
BR chỉ có hình vẽ không à ... hình chụp thật thì chưa thấy bao giờ ..
lost-dude
03-29-2003, 12:45 PM
VietCyberians ơi,
Khi nào Lost-dude có thời gian sẽ post thêm tiểu sử của những bậc nữ hào kiệt nước Việt cho mọi người cùng đọc. (Mấy hôm nay thì hơi bận một tí.) Lost-dude ghi theo mẫu tự ABC, nếu ai có muốn request thì Lost-dude type cho; còn không thì Lost-dude post từ từ.
Keep up the good work, BungRieu! :)
lost-dude
04-11-2003, 11:52 PM
Cô Tâm
Tên thật là Đỗ thị Tâm. Nữ đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng. Quán ở Dư Hàng (gần Hải Phòng, Bắc phần).
Là con gái của nhà cách mạng Đỗ Chân Thiết (bị Pháp giết năm 1914).
Quyết tâm trả thù nhà, đền nợ nước, cô gia nhập Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái bị thất bại, cơ quan của VNQDĐ ở Hàng Bột (Hà Nội) bị bao vây, cô Tâm cùng các đồng chí dùng súng chống kịch liệt. Cuối cùng, bị bắt, bị tra tấn tàn nhẫn, phải nuốt dải yếm cho tắt hơi mà tự tử. Năm ấy cô mới 18 tuổi.
lost-dude
04-12-2003, 12:06 AM
Cô Nguếch Rừng
Danh hiệu người thuộc Nghĩa đảng Cần Vương tôn gọi người vợ thứ của nhà ái quốc Phan Đình Phùng.
Bà họ Trần, không rõ tên. Em ruột quan Lại bộ Tham tri Trần Trạm ở Huế.
Suốt thời gian cụ Phan xông pha đeo đuổi chí hướng cách mạng cứu nước, bà luôn luôn theo chồng hầu hạ, không quên gian lao khổ cực. Cho đến ki chủ tướng đảng Cần Vương mắc bệnh lỵ mà mất (1895), cử hành tang lễ xong, theo lời di huấn, bà cùng con xuống đầu thú ở đồn Linh Cảm.
Bị áp dẫn vô Huế, bà bị cầm giữ một thời gian, rồi với các con cháu được thả cho về ở làng Đông Thái.
Người ở vùng Nghệ Tĩnh dùng chữ “nguếch” để chỉ người đàn bà đẻ con gái đầu lòng; “rừng” chỉ lòng kiên trì của bà vợ theo hầu hạ chồng trong chổ rừng thẳm.
lost-dude
04-12-2003, 12:16 AM
Chân Thị Bát
Bậc tiết hạnh dưới thời Lê mạt.
Có nhan sắc; lấy lẻ quan Thượng thư Hồ Phi Tích. Chồng mất rồi, bà thủ tiết thờ chồng. Có lần tướng cướp phá trong làng, định bắt bà đem theo về làm vợ; bà hẹn để cho đến nhà thờ lạy chồng rồi xin theo. Tại nhà thờ, khóc lại xong, bà lên lấy con dao dấu sẵn trong tay áo tự vận mà chết.
Trong “Ngự chế Việt sử Tổng vịnh,” vua Tự Đức có đề thơ khen như sau:
Nhất tiếu khuynh thành túy tặc tâm,
Ứng cơ thiện đãi thục năng xâm.
Phu từ bái biệt tương an thích,
Tự hữu long tuyền dĩ tại khâm.
(Lam Giang dịch)
Ngàn vàng một nụ cười hoa,
Dẫu trong nguy biến vẫn là kiên trinh.
Giữ cho giặc khỏi phạm mình,
Biệt ly một lễ dâng tình sắt son.
Gươm linh dấu sẵn bên sườn,
Dứt tuần hương khói, máu tuôn giọt đào.
lost-dude
04-12-2003, 12:22 AM
Đặng Thị Nhu
Vợ thứ ba của Đề Thám. Có tài võ, thường giúp chồng trong việc đánh giặc Pháp, mong cứu nước ra khỏi cảnh nhục nhã lầm than.
lost-dude
04-12-2003, 12:35 AM
Đinh Phu Nhân
Liệt nữ gốc ở Thuận Hóa; không được rõ tên họ (vì là vợ của một vị quan họ Đinh, nên đương thời gọi là Đinh Phu nhân).
Theo sách Việt Nam Nghĩa Liệt Sử của Phan Sào Nam* thì bà hoạt động cho phong trào Đông du và gia nhập Việt Nam Quang Phục Hội, phụ trách hộ tống cán bộ giao thông tin tức từ Quảng Nam ra Hà Nội và Hải Phòng, bên cạnh ông Ngư hải Đặng Thái Thân.
Có lần, không may bị mật thám Pháp xét thấy giấy tờ quan trọng, bà bị bắt giam ở lao Thừa Phủ (Huế). Bị tra tấn cực hình, bà vẫn cương quyết không tiết lộ điều gì về hành tung của mình; sau sức cùng, bà thắt cổ chết trong lao.
lost-dude
04-12-2003, 12:51 AM
Đoàn Thị Điểm (1705-1746)
Hiệu Hồng Hà Nữ Sĩ, biệt hiệu Ban Tang. Nữ sĩ đời Lê.
Người xã Hiến Phạm, huyện Văn Giang, xứ Kinh Bắc (nay là tỉnh Bắc Ninh, Bắc phần).
Có nhan sắc xinh đẹp, tư chất lại thông minh, giỏi văn thơ, khắp vùng đều biết tiếng. Cha và anh (Tiến sĩ Đoàn Trác LuânĐ mất sớm; để tránh sự áp bức của kẻ quyền thế, bà đến Sài Trang làm Giáo thọ dạy cho một bà cung tần ở hậu cung dược vua Lê sủng ái. Thôi làm Giáo thọ, bà đưa gia đình sang ở làng Chương Dương (Hà Đông) mở trường dạy học. Mãi ngoài 30 tuổi bà mới kết duyên với Tả thị lang Nguyễn Kiều, người làng Từ Liêm (Hà Đông). Ăn ở với chồng được 6 năm; đến năm Bính dần (1746), vì ông Nguyễn Kiều phải đổi vào trấn nhậm ở Nghệ An, bà đi theo chồng, giữa đường nhuốm bệnh, đến Nghệ An thì mất.
Văn phẩm của bà Đoàn thị Điểm gồm có: “Tục Truyền Kỳ” (còn gọi là “Truyền Kỳ Tân Phả”) bằng Hán văn và bản dịch khúc “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn ra Quốc âm (412 câu thơ theo thể song thất lục bát), có một giá trị rất lớn cùng chiếm một địa vị rất cao trên nền văn học sử nước nhà.
lost-dude
04-12-2003, 01:06 AM
Hồ Xuân Hương
Nữ sĩ có biệt tài về lối thơ Nôm, sống khoảng thời kỳ Lê mạt Nguyễn sơ.
Người làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, xứ Nghệ An (Trung phần); đời cha mẹ dời đến ở tại phường Khán Xuân thuộc huyện Vĩnh Thuận (gần Hồ Tây, Hà Nội), sau khi Hồ Xuân Hương khôn lớn lại đến ở thôn Tiên Thị, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương, Hà Nội.
Học giỏi, có tài thơ văn, nhưng duyên phận long đong, sau Hồ Xuân Hương phải lấy lẽ ông Tri phủ Vĩnh tường. Chẳng được bao lâu, ông Phủ mất, bà lại kết duyên với ông Cai tổng Cóc. Nhưng rồi Cai tổng Cóc cũng lìa trần; từ đó bà tìm thú vui ở các nơi thắng cảnh và lấy văn thơ ngâm vịnh để khuây khoả nổi buồn. Trong thời kỳ này, bà thường tiếp xúc với các văn nhân thi sĩ nổi tiếng đương thời, trong số đó có Chiêu Hổ (tức Phạm Đình Hổ, tái giả “Vũ Trung Tùy Bút”) là tương đắc hơn cả.
So với các nhà thơ khác, Hồ Xuân Hương có một lối diễn đạt ý tứ hết sức mới mẻ phóng khoáng và ẩn chứa một tính cách trào lộng đặc biệt.
TruSiNang
04-13-2003, 03:22 AM
Thân chào các bạn,
Ði ngang qua đây thấy khu này vui vui, nên ghé lại góp vài bài lịch sử Việt Nam, để tỏ lòng cảm ơn cho các bài viết của các bạn. Hy vọng các bạn không chê:
Hai đứa trẻ ngồi xuống. Dưới bóng mát của giàn hoa giấy, Chương còm dựa lưng vô tường, nhớ lại bài học lịch sử mà thầy giáo đã giảng dậy...
"... Các con lắng tai nghe đây! Ta tả cho các con nghe một vị anh hùng bách chiến bách thắng trong lịch sử nhân loại. Vị anh hùng đó là hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ. Nước ta, thuở ấy, loạn ly đau khổ. Dân tộc ta bị phân cách bởi dòng sông Gianh. Ngoài Bắc, chúa Trịnh lấn áp vua Lê, chuyên quyền đàn áp dân hiền. Quan liêu hống hách, thẳng tay vơ vét tài sản mồ hôi, xương máu của dân. Hết loạn này đến loạn khác. Thanh niên bị bắt đi lính không phải để diệt Chiêm Thành hay chống quân Tầu mà để vào Nam đánh giết đồng bào mình. Trong Nam, chúa Nguyễn nhu nhược, quyền bính lọt vào tay tên độc tài Trương Phúc Loan. Bao nhiêu trung thần bị họ Trương hãm hại. Trương Phúc Loan vơ vét, tham ô không kém gì bọn quan liêu ngoài Bắc. Giặc giã nổi lên tứ tung. Dân tình đói khổ. Ấy thế mà vẫn phải đánh nhau với quân chúa Trịnh. Cuộc chiến tranh huynh đệ kéo dài ròng rã một trăm năm chưa chịu chấm dứt.
Bấy giờ, ở đất Tây Sơn, nẩy sinh một vị cứu tinh dân tộc. Vị cứu tinh xuất hiện sừng sững như một trái núi khổng lồ mọc trên đất Bình Ðịnh. Vị cứu tinh là Nguyễn Huệ đó, các con ạ! Nguyễn Huệ dựa lưng vào Ai Lao, Cao Miên, quay mặt ra Nam Hải. Ngài vươn tay trái, ngai vàng của chúa Trịnh miền Bắc sụp đổ. Ngài vươn tay phải, ngai vàng của chúa Nguyễn miền Nam tan rã. Bọn quan liêu tham nhũng, chuyên quyền chết như sâu bọ. Ngài đạp chân phải, hai vạn quân Xiêm La chết khốn nạn ở miền Nam. Ngài đạp chân trái, hai mươi vạn quân Thanh chết nhục nhã ở miền Bắc. Ngài vươn mình, Việt Nam lớn lên, hãnh diện vẻ vang và dòng sông Gianh không còn ngăn cách tình người Việt Nam nữa.
Các con ơi,
Các con yêu dấu của ta ơi.
Nay đã già nua mà mỗi lần đọc sử tranh đấu, ta vẫn mơ được làm tên lính quèn dưới cờ vua Quang Trung. Ta mơ được quỳ dưới chân Nguyễn Huệ, nâng áo bào khét lẹt mùi thuốc súng của ngài mà hít hà lần ngài ra Thăng Long đuổi loài rợ Mãn Thanh. Các con, các con phải biết mơ thành người Quang Trung các con nhé!..."
- Dạ.
- Bồn lừa hốt hoảng:
- Mày dạ cái gì mà dạ bự vậy ?
Chương còm cười xòa:
- Tao dạ thầy tao.
- Thầy mày đâu ?
- Trong giấc mơ.
- Thầy mày dạy gì ?
- Mơ Thành Người Quang Trung.
Và Chương còm vỗ tay vào đùi làm nhịp, hát lớn:
- "... Nhị Hà còn kia, Nhị Hà còn đó. Lũ quân Tầu sang sập cầu trôi đầy sông... Ôi Thăng Long, ối Thăng Long, ôi Thăng Long!... Cờ khoe sắc phất phới, loa vang xa, chiêng thu không, tiếng bát ngát trong chốn thành... Gần xa hò hét Thăng Long, Thăng Long, Thăng Long thành..."
Bồn lừa hỏi:
- Tao mơ thành người Quang Trung được không ?
Chương còm đáp:
- Ðược chứ. Tất cả trẻ con Việt Nam đều phải biết mơ thành người Quang Trung. Thầy tao dạy thế. Tụi mình sẽ cho thằng Jack biết trẻ con Việt Nam "chì" hơn trẻ con Mỹ.
Duyên Anh
Mơ Thành Người Quang Trung
:) :)
TruSiNang
04-13-2003, 03:30 AM
Quốc Học và Sùng Chính Viện Tây Sơn
Nhà Tây Sơn hưng khởi ở miền Tuy Viễn châu Vijaya, từ vua Thái Ðức đến vua Quang Trung không ai thông thạo nhiều về Hán văn cả. Bất quá chỉ biết được một số chữ cần dùng. Vua quang Trung không hề lấy điều này làm một mặc cảm tự tị Trái lại, nhà vua càng thấy việc xây dựng quốc học là chuyện trọng đại và cần thiết vô cùng nên cho thành lập Sùng Chính Viện.
Thời Nhị Nguyễn tranh hùng, quốc âm, quốc văn đã chứng tỏ được năng lực thuyết phục và huy động dân chúng. Vua Quang Trung đã có lần thử tài 4 ông cống vừa mới thi đỗ bằng một đề tài rất nôm nạ Ðầu đề là con cóc, vần Bàm. Ông cống thứ nhất ứng ngay một câu:
Nghiến răng lừng cõi Bắc
Rồi ung dung bước lên điện như thể lệ cuôc thi đã cho phép.
Ông thứ hai tiếp theo liền:
Hét tiếng dậy trời Nam.
Hai câu này gợi ý nhắc lại chiến công phá quân Xiêm ở Rạch Gầm - Xoài Mút và phá quân Thanh ở Ðống Ðạ
Ông thứ ba đọc một câu rất thật thà:
Ấy nó là con cóc
Nhờ vậy mà ông thứ tư hạ được tử vận “bàm”
Chẳng phải quả bàm bàm.
Bàm bàm là một thứ quả hoang dại ở núi rừng Vân Nam, rụng trôi xuống sông Nhĩ vào mùa nước lũ. Vua tôi đều vui sướng thưởng thức bài thơ và người bình dân ghi nhớ dễ dàng giai thoại
Lúc phải đề cập đến vấn đề quân quốc trọng đại, các tướng lĩnh Tây Sơn dùng văn Nôm.
Phía Nguyễn Vương Phúc Ánh tuy không phải là kẻ xướng xuất việc dùng chữ Nôm, song sự thế bắt buộc phải dùng chữ Nôm trong nội trị và dùng cả trong việc ngoại giao nữạ Như việc Nguyễn Vương đem uỷ thác Vương Tử Nguyễn Phúc Cảnh cho giám mục Bá Ða Lộc đem qua Pháp để cầu viện Pháp Hoàng Louis XVỊ
Rồi như đến việc tế Võ Tánh, Ngô Tùng Châu chết ở thành Bình Ðịnh, văn tế làm bằng chữ Nôm do Ðặng Ðức Siêu soạn thảo, nghe cũng lâm ly thống thiết lắm!
Cứ cái đà đại dụng chữ Nôm này mà tiến thì quốc văn Việt Nam chắc sẽ đến trình độ cao thành một thứ ngôn ngữ đủ sức diễn đạt triết học, văn học.
Rất đáng tiếc là sau khi nhà Nguyễn Gia Long thắng trận, bao nhiêu tài liệu,sách vở của Sùng Chính Viện Tây Sơn đều bị phá hủy tơi bờị
Rồi Hán Văn lại chiếm ưu thế độc tôn suốt đời nhà Nguyễn Gia Long cho đến năm 1919, năm bãi bỏ khoa cử ở Trung kỳ. Hán Văn lui bước nhường chỗ cho Pháp văn ngự trị.
Con đường tiến triển của quốc văn sao mà nhiều trở lực chông gaỉ!
Nguyễn Quang Trứ
Truyện Hay Trong Sử Việt
:) :)
BungRieu
04-13-2003, 08:31 AM
Cám ơn Anh TruSiNang nhiều nha ...
Bài Anh viết hay quá ... đọc xong BR cũng thấy rất khích lệ và cũng muốn mơ luôn đó .. công nhận ông Duyên Anh viết truyện cho trẻ nhỏ (BR cũng chưa lớn mí đâu ) hay ghê ...đọc rất dễ hiểu ..
Hễ Anh có nữa .. Mong Anh đóng góp thêm nữa nha ...
Chúc Anh vui mạnh .... BR
TruSiNang
04-13-2003, 12:05 PM
Chào Búng Riêu và các bạn,
Chúc các bạn vui vẻ và khỏe mạnh !
Xin góp thêm bài cho vui đây:
Lập Ðức
Người trồng cây cảnh người chơi,
Ta trồng cây đức để đời về sau.
Ðạo đức Việt hoàn toàn là một sự chọn lựa nguyên lý cái đạo làm người, cái lẽ trời, trên căn bản “dĩ nghĩa vi lợi” và “chỉ ư chí thiện”. Không phải cho đời nay thôi mà còn cho đời sau nữa, không phải cho cá nhân mình thôi mà còn cho cả tập thể nữa.
Tại huyện Nam Sang tỉnh Hà Nam, dân đều nhớ truyền thuyết về cụ Tam Nguyên Yên Ðỗ Nguyễn Khuyến như sau:
Hồi còn trẻ, Nguyễn khuyến cùng với đám đồng môn ra sông tắm gặp đoàn thuyền giấy trên có voi, ngựa và hình nhân của dân cư cúng cô hồn và lễ quan ôn cầu mát, lễ xong bỏ sông trôi vào chỗ anh em tắm. Có người gạt ra thuyền giấy lại trôi vào. Nguyễn Khuyến liền nói đùa: “ Thuyền bè lính tráng, voi ngựa oai hùng thế kia sao không vượt sông ra bể phù dân giúp nước trong lúc quốc gia hữu sự này lại luẩn quẩn đây cầu ăn con gà nắm xôi”.
Nguyễn Khuyến vừa nói xong thì đoàn thuyền giấy đó dạt ngay sang phía sông bên kia, sau đó dân làng bị đau ốm như bị ma quỷ quấy nên người ta phái người sang cầu cứu ông nghè.
Cụ nghè liền gọi Nguyễn Khuyến và bọn học trò tắm sông hôm đó hỏi đầu đuôi câu chuyện và bảo phải ra khuấn khứa cho đoàn thuyền trôi đi. Ông Nguyễn Khuyến liền tới bờ sông hô to yêu cầu đoàn thuyền đi nơi khác. Sau đấy dân cư đều khỏi ốm đau và được bình an như thường.
Xem thế đủ biết, con người chết đi vất vưởng mà thành lũ cô hồn còn biết liêm sỉ, cảm thấy đau khổ khi có người nói đến cái thân phận vô dụng của mình, huống nữa là con người lúc đang sống ở trong trời đất.
Phần người sống là Nguyễn Khuyến, sau khi đỗ đầu cả ba khoa thi Hương, Hội, Ðình cụ được bổ nghiệm Ðốc học rồi Bố chánh. Cụ là một nhà văn quan có tiếng hay chữ, có tiếng liêm khiết lại mẫn cán và thao lược. Mẹ Nguyễn Khuyến càng khắc khe, nghiêm ngặt cùng ông về sự liêm khiết. Mỗi lần thấy ông dâng tặng một chút lễ mọn là bà cụ liền hỏi căn nguyên lễ vật ấy ở đâu mà có. Nếu không chứng minh được rõ ràng thì mặc dầu con có hiếu thảo dâng, bà cũng vẫn từ chối, còn trách mắng nữa là khác. Bà cụ thường bảo: “ Con lấy lễ của dân mà tặng cho cha mẹ tức là lấy của cha mẹ mà tặng thì đâu còn lòng hiếu thảo nữa”.
Ðức hạnh của ông đã cảm hóa được lòng người. Trong việc chấp đạo an dân, ông đã tỏ rõ một bậc khéo khuyên răn dân chúng cải tà qui chánh. Triều đình mấy lần cử ông vào những trọng trách lớn hơn, ông đều chối từ vì lúc đó ông nhận thấy có một số quan lại quá mục nát kéo bè kéo cánh làm càn. Can ngăn không được, dân tình than oán, ông liền dâng sớ về nghỉ nhưng vua Tự Ðức không cho và bổ nhiệm ông là Tổng Ðốc ba tỉnh Sơn Tây, Hưng Hóa và Tuyên Quang. Nhưng hồi này, ông thấy bọn thực dân Pháp càng ngày càng bành trướng, một số bọn triều thần bán nước đã a dua với ngoại nhân mưu đồ phú quí chẳng nghĩ gì đến dân đến nước. Nhiều bạn học của ông như các ông nghè Du Lâm, Nguyễn Kham, Nguyễn Xuân Ôn đều đã tử tiết không chịu theo giặc.
Hết sức buồn phiền, ông liền giả đau mắt từ quan rút lui về chốn điền viên để giữ cho trọn vẹn danh tiết.
Sau này thực dân Pháp muốn dùng ông để lợi dụng thanh thế ông mà thu phục nhân tâm mới giao cho tên mãi quốc Hoàng Cao Khải tới mời, ông nhất định không chịu. Biết không thể lấy mồi phú quí lay chuyển được lòng son sắt, bọn thực dân liền bảo Hoàng Cao Khải kiểm soát gắt gao mọi hành động của ông bằng cách giam lỏng tại tư dinh của quan Kinh Lược.
Châu chấu làm sao dám đá voi
Ðứng xem ai chẳng bật lên cười
Sun xoe nhẩy lại dương hai vế
Ngứa ngáy không hề động tí đuôi
Say tỉnh cuộc này ba chén rượu
Ðược thua chuyện ấy một trò chơi
Cả gan cũng sợ cho mình nhỉ
Theo đít còn hơn một lũ ruồi.
Ðó là bài thơ của ông Nguyễn Khuyến để vịnh cái việc ông nhất định không chịu ra làm quan với Pháp, nó chính là cái tinh thần đạo đức: Tri kỳ bất khả vi nhi vi chi, biết rằng không thể chống nổi mà vẫn chống, thế chẳng hơn bọn ruồi nhặng theo đít voi sao ? Tuy nhiên, thái độ của Nguyễn Khuyến không phải là vô ích vì nhờ tinh thần ấy mà sau này đã ra cảnh:
Nực cười châu chấu đá voi
Châu chấu đá mãi voi lòi ruột ra.
Những Quy luật Chính Trị Trong Sử Việt
Vũ Tài Lục
:) :)
duongthi
04-15-2003, 02:20 PM
Có ai có Ngọc Hân Công Chúa và Ai Tư Vãn , làm ơn cho ĐT đọc với . Thanks:flower:
lost-dude
04-17-2003, 12:39 AM
Ngọc Vạn Công Chúa
Con gái thứ hai của Sãi Vương Nguyễn Phước Nguyên (1613-1635). Gã về cho vua Cao Miên Chei Chetta II (1618-1628), Ngọc Hân Công Chúa được phong làm Hoàng hậu với danh hiệu Somdach Prea Peachcacyo Preavoreace Ksattrey (1620). Do cuộc hôn phối này, sự giao hiếu giữa Việt Nam và Cao Miên được khắng khít hơn và người Việt được phép di dân vào đất Chân Lạp để sinh sống.
Về sau, đến đời vua Réam Thip Dei Chan (1642-1659), em của Chei Chetta II, bà Ngọc Hân đã xin cho người Việt được quyền khai thác xứ Biên Hoà (năm 1658).
lost-dude
04-17-2003, 12:52 AM
Huyền Trân Công Chúa
Con gái vua Trần Nhân Tông. Chịu kết hôn với vua Chiêm Thành là Chế Mân (Jaya Shibavarman III tức Po Devada Svor) để đổi lấy hai châu Ô, Lý (gồm khoảng đất từ phía nam Quảng Trị đến phía bắc Quảng Nam) và thắt chặt tình giao hiếu giữa hai dân tộc Việt – Chiêm.
Tháng sáu năm bíng ngọ (1306; Trần Anh Tông, Hưng Long thứ 14), Công Chúa lên đường vào Nam. Về Chiêm Thành, Huyền Trân Công Chúa được phong làm Hoàng Hậu với mỹ hiệu Paramecvari.
Lấy chồng chưa đầy một năm thì chông mất (tháng 5 năm đinh mùi, 1307); vua Trần liền sai quan Nhập-nội Hành-khiển Thượng-thư Tả-bộc-sa là Trần Khắc Chung và An-phủ-sứ là Đặng Văn sang Chiêm Thành nói thác để điếu tang rồi lập mưu đưa Công chúa về Thăng Long để bà khỏi tuẫn tán trên hỏa đàn theo tục lệ Chàm.
lost-dude
04-17-2003, 12:55 AM
Bà Huyện Thanh Quan
Nổi tiếng là nhà thơ hoài cổ, có nghệ thuật thơ điêu luyện, trang nhã.
Tên thật là Nguyễn Thị Hinh, người phường Nghi Tàm, huyện Vĩnh Thuận, trên bờ Hồ Tây, Hà Nội bây giờ.
Chồng bà là Lưu Nguyên ¤n, người làng Nguyện Áng, huyện Thanh Trì, nay thuộc Hà Nội, từng làm tri huyện Thanh Quan. Có lẽ thế, mọi người quen gọi bà là Bà Huyện Thanh Quan.
Sáng tác của bà là những bài thơ nôm theo thể Đường luật. Được truyền tụng nhiều là những bài:
"Qua đèo Ngang", "Thăng Long thành hoài cổ", "Chiều hôm nhớ nhà", "Chùa Trấn Quốc"... tả cảnh thiên nhiên, có những nét chấm phá như tranh thuỷ mặc và có tính ước lệ, nhưng thường được gửi gắm tình cảm gợi lên được cái cảm giác nhớ thương lưu luyến đối với quá khứ.
Có kiến thức rộng, bà đã từng được vua Minh Mệnh mời vào cung dạy học cho cung phí, công chúạ ở trong cung, bà có dịp xướng hoạ thơ và bình văn với các vua nhà Nguyễn.
Bà Huyện Thanh Quan là một nữ sĩ có tiếng tăm trên lĩnh vực văn học dân tộc ta ở nửa đầu thế kỷ 19.
[source: http://www.vietmedia.com/literature/vanthisi/?ID=18]
allena
04-17-2003, 07:46 AM
Lost_dude ơi...Allena nghĩ rằng ĐThi muốn biết về Công Chúa Lê Ngọc Hân , Bắc Cung Hoàng Hậu của Vua Quang Trung _ Nguyễn Huệ đấy , vì bài Ai Tư Vãn là một bài thơ Nôm mà Công Chúa Ngọc Hân viết sau khi Vua Quang Trung băng hà.
BungRieu
04-17-2003, 08:53 AM
Ngoc Hân Công Chúa - Lê Ngọc Hân (1770-1799)
Mà nay áo vải cờ đào,
Giúp dân dựng nước xiết bao công trình...
Lê Ngọc Hân là con vua Lê Hiển Tông và bà Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền. Bà có nhan sắc, thông minh, lại giỏi thơ văn.
Năm 1786, anh hùng "áo vải cờ đào" Nguyễn Huệ ra Bắc với chiêu bài "phù Lê diệt Trịnh". Ngọc Hân vâng mệnh vua cha kết duyên cùng Nguyễn Huệ và theo ông về Thuận Hóa.
Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế trước khi ra Bắc lần thứ ba để diệt quân Thanh, lấy niên hiệu Quang Trung, phong Ngọc Hân làm Hữu Cung Hoàng Hậu.
Năm 1789, sau khi đại thắng quân Thanh, Nguyễn Huệ lại phong bà làm Bắc Cung Hoàng Hậu.
Năm 1792, Quang Trung Hoàng Đế đột ngột băng hà. Bà viết Tế Vua Quang Trung và Ai Tư Văn để bày tỏ nỗi đau khổ cùng cực cũng như nỗi tiếc thương vô hạn cho người chồng anh hùng vắn số.
Tác phẩm Ai Tư Văn chịu nhiều ảnh hưởng của bản dịch Chinh Phụ Ngâm của Đoàn Thị Điểm, nhưng cũng không hiếm những đoạn, những câu rất ư cảm động tha thiết, làm rung động lòng người.
Có nhiều giả thuyết về cái chết của Ngọc Hân Hoàng Hậu, song thuyết đáng tin cậy nhất là bà mất vào năm 1799 từ bài văn tế bà do Phan Huy Ích viết, có chép trong Dụ Am Văn Tập.
===========================================
Ai Tư Vãn
1. Gió hiu hắt phòng tiêu lạnh lẽo
Trước thềm lan, hoa héo ron ron.
Cầu Tiên khói tỏa đỉnh non,
Xe rồng thăm thẳm, bóng loan dàu dàu.
5. Nỗi lai lịch dễ hầu than thở
Trách nhân duyên mờ lỡ cớ sao ?
Sầu sầu, thảm thảm xiết bao...
Sầu đầy giạt bể, thảm cao ngất trời !
Từ cờ thắm trỏ vời cõi Bắc,
10. Nghĩa tôn phù vằng vặc bóng dương.
Rút dây vâng mệnh phụ hoàng,
Thuyền lan chèo quế thuận đường vu quỵ
Trăm ngàn dặm quản chi non nước;
Chữ "nghi gia" mừng được phải duyên.
15. Sang yêu muôn đội ơn trên,
Rỡ ràng vẻ thúy, nối chen tiếng cầm.
Lượng che chở, vụng lầm nào kể.
Phận đinh ninh cặn kẽ mọi lờị
Dẫu rằng non nước biến dời,
20. Nguồn tình ắt chẳng chút vơi đâu là.
Lòng đùm bọc thương hoa đoái cội,
Khắp tôn thân cùng đội ơn sang.
Miếu đường còn dấu chưng thường,
Tùng thu còn rậm mấy hàng xanh xanh.
25. Nhờ hồng phúc, đôi cành hòe quế
Đượm hơi dương dây rễ cùng tươi
Non Nam lần chúc tuổi trời,
Dâng câu Thiên Bảo, bày lời Hoa Phong.
Những ao ước trập trùng tuổi hạc,
30. Nguyền trăm năm ngõ được vầy vuị
Nào hay sông cạn, bể vùi,
Lòng trời giáo giở, vận người biệt lỵ
Từ nắng hạ, mưa thu trái tiết,
Xót mình rồng mỏi mệt chẳng yên.
35. Xiết bao kinh sợ, lo phiền,
Miếu thần đã đảo, thuốc tiên lại cầụ
Khắp mọi chốn đâu đâu tìm rước,
Phương pháp nào đổi được cùng chăng ?
Ngán thay, máy Tạo bất bằng,
40. Bóng mây thoắt đã ngất chừng xe loan.
Cuộc tụ, tán, bi, hoan kíp bấy,
Kể sum vầy đã mấy năm nay ?
Lênh đênh chút phận bèo mây,
Duyên kia đã vậy, thân này nương đâu ?
45. Trằn trọc luống đêm thâu, ngày tối,
Biết cậy ai dập nỗi bi thương ?
Trông mong luống những mơ màng,
Mơ hồ bằng mộng, bàng hoàng như saỵ
Khi trận gió hoa bay thấp thoáng,
50. Ngỡ hương trời bãng bãng còn đâu:
Vội vàng sửa áo lên chầu,
Thương ôi, quạnh quẽ trước lầu nhện giăng.
Khi bóng trăng, lá in lấp lánh,
Ngỡ tàn vàng nhớ cảnh ngự chơị
55. Vội vàng dạo bước tới nơi,
Thương ơi, vắng vẻ giữa trời tuyết sa !
Tưởng phong thể xót xa đòi đoạn,
Mặt rồng sao cách gián lâu nay,
Có ai chốn ấy về đây,
60. Nguồn cơn xin ngỏ cho hay được đành ?
Nẻo u minh khéo chia đôi ngả,
Nghĩ đòi phen, nồng nã đòi phen.
Kiếp này chưa trọn chữ duyên,
Ước xin kiếp khác vẹn tuyền lửa hương.
65. Nghe trước có đấng vương Thang, Võ,
Công nghiệp nhiều tuổi thọ thêm cao;
Mà nay áo vải cờ đào,
Giúp dân dựng nước xiết bao công trình !
Nghe rành rành trước vua Nghiêu, Thuấn,
70. Công đức dày, ngự vận càng lâu;
Mà nay lượng cả, ơn sâu,
Móc mưa rưới khắp chín châu đượm nhuần.
Công dường ấy, mà nhân dường ấy,
Cõi thọ sao hẹp bấy hóa công ?
75. Rộng cho chuộc được tuổi rồng,
Đổi thân ắt hẳn bõ lòng tôi ngươị
Buồn thay nhẽ, sương rơi gió lọt,
Cảnh đìu hiu, thánh thót châu sạ
Tưởng lời di chúc thiết tha,
80. Khóc nào nên tiếng, thức mà cũng mê.
Buồn thay nhẽ, xuân về hoa ở,
Mối sầu riêng ai gỡ cho xong,
Quyết liều mong vẹn chữ tòng,
Trên rường nào ngại giữa dòng nào ẹ
85. Con trứng nước thương vì đôi chút,
Chữ tình thâm chưa thoát được đi,
Vậy nên nấn ná đòi khi,
Hình tuy còn ở, phách thì đã theo;
Theo buổi trước ngự đèo Bồng Đảo,
90. Theo buổi sau ngự nẻo sông Ngân,
Theo xa thôi lại theo gần,
Theo phen điện quế, theo lần nguồn hoạ
Đương theo bỗng tiếng gà sực tỉnh,
Đau đớn thay ấy cảnh chiêm bao !
95. Mơ màng thêm nỗi khát khao,
Ngọc kinh chốn ấy ngày nào tới nơi ?
Tưởng thôi lại bồi hồi trong dạ,
Nguyệt đồng sinh sao đã kíp phai ?
Xưa sao sớm hỏi khuya bày,
100. Nặng lòng vàng đá, cạn lời tóc tơ.
Giờ sao bỗng thờ ơ lặng lẽ,
Tình cô đơn, ai kẻ xét đâu ?
Xưa sao gang tấc gần chầu,
Trước sân phong nguyệt, trên lầu sính cạ
105. Giờ sao bỗng cách xa đôi cõi,
Tin hàn huyên khôn hỏi thăm nhanh.
Nửa cung gẫy phím cầm lành,
Nỗi con côi cút, nỗi mình bơ vơ !
Nghĩ nông nỗi ngẩn ngơ đòi lúc,
110. Tiếng tử quy thêm giục lòng thương.
Não người thay, cảnh tiên hương,
Dạ thường quanh quất, mắt thường ngóng trông.
Trông mái đông: lá buồm xuôi ngược,
Thấy mênh mông những nước cùng mây,
115. Đông rồi thì lại trông tây:
Thấy non cao ngất, thấy cây rườm rà.
Trông Nam thấy nhạn sa lác đác,
Trông bắc thời ngàn bạc màu sương.
Nọ trông trời đất bốn phương,
120. Cõi tiên khơi thẳm, biết đường nào đị
Cậy ai có phép gì tới đó,
Dâng vật thường xin ngỏ lòng trung,
Này gương là của Hán cung
Ơn trên xưa đã soi chung đòi ngàỵ
125. Duyên hảo hợp xót rày nên lẽ,
Bụng ai hoài vội ghẽ vì đâu ?
Xin đưa gương ấy về chầu,
Ngõ soi cho tỏ gót đầu trông ơn.
Tưởng linh sảng nhơn nhơn còn dấu,
130. Nỗi sinh cơ có thấu cho không ?
Cung xanh đang tuổi ấu xung
Di mưu sao nỡ quên lòng đoái thương ?
Gót lân chỉ mấy hàng lẫm chẫm
Đầu mũ mao, mình tấm áo gai,
135. U ơ ra trước hương đài,
Tưởng quang cảnh ấy chua cay lòng nàỵ
Trong sáu viện ố đào, ủ liễu
Xác ve gầy, lỏng lẻo xiêm nghê
Long đong xa cách hương quê,
140. Mong theo: lầm lối, mong về: tủi duyên.
Dưới bệ ngọc hàng uyên vò võ
Cất chân tay thương khó xiết chị
Hang sâu nghe tiếng thương bi,
Kẻ sơ còn thế, huống gì người thân.
145. Cảnh ly biệt nhiều phần bát ngát,
Mạch sầu tuôn ai tát cho vơi ?
Càng trông càng một xa vời,
Tấc lòng thảm thiết, chín trời biết chăng ?
Buồn trông trăng, trăng mờ thêm tủi,
150. Gương Hằng Nga đã bụi màu trong.
Nhìn gương càng thẹn tấm lòng,
Thiên duyên lạnh lẽo, đêm đông biên hà.
Buồn xem hoa, hoa buồn thêm thẹn,
Cánh hải đường đã quyện giọt sương.
155. Trông chim càng dễ đoạn trường
Uyên ương chiếc bóng, phượng hoàng lẻ đôị
Cảnh nào cũng ngùi ngùi cảnh ấy
Tiệc vui mừng còn thấy chi đâu ?
Phút giây bãi bể nương dâu,
160. Cuộc đời là thế biết hầu nài sao ?
Chữ tình nghĩa trời cao, đất rộng,
Nỗi đoạn trường còn sống còn đau.
Mấy lời tâm sự trước sau,
164. Đôi vầng nhật nguyệt trên đầu chứng cho.
duongthi
04-17-2003, 10:08 AM
BungRieu nhanh tay quá...Thanks:flower:
Làm ơn check lại dùm ĐThi nhé , Ai Tư Vãn hay là Ai Tư Văn ???
Cái nào đúng ???:confused: :confused:
BungRieu
04-17-2003, 11:20 AM
Hi Chị DT ...
Sorry nha BR type sai VÃN mí đúng ...:) ...:D ....
lost-dude
04-17-2003, 01:08 PM
:D Xin lỗi bà con, Lost-dude viết lộn tiểu sử của Ngọc Vạn Công Chúa. Lost-dude xin bổ túc thêm vào bài BúngRiêu đăng:
Ngọc Hân Công Chúa (1770-1803)
Tục gọi Chúa Tiên. Con gái út vua Lê Hiển Tông (1740-1786).
Thông kinh sử, thạo âm luật và sành văn quốc âm. Năm bính ngọ, 1786, được gả cho Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ khi Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc tỏ ỵ́ phò Lê diệt Trịnh. Năm mậu thân, 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, bà được phong làm Bắc Cung Hoàng Hậu.
Vua Quang Trung mất năm nhâm tí, 1792; tính ra bà ăn ở với nhà vua được 6 năm, sinh hạ được 1 trai và 1 gái.
Có thuyết cho rằng sau khi nhà Tây Sơn đổ, bà đem hai con vào sống lẩn lút trong tỉnh Quảng Nam; sau vì có người chỉ điểm, bà cùng với các con đều bị nhà Nguyễn bắt giết.
Trương truyền bà có làm rất nhiều thơ văn, nhật là thơ quốc âm, nhưng nay phần lớn đều bị thất tán, chỉ còn lưu lại hai áng văn với lời lẽ lâm ly thống thiết phơi bày tấm lòng đau đớn thương nhớ của bà đối với chồng: đó là bài “Văn Tế Vua Quang Trung” và bài “Khóc Vua Quang Trung” (Tức “Ai Tư Vãn”).
lost-dude
04-17-2003, 01:23 PM
Kiến Quốc Phu Nhân
Nữ tướng thời Lê sơ; vợ của tướng Đinh Tuấn.
Người làng Chuế Cầu, tổng Tứ Mặc, huyện Ý Yên (nay thuộc tỉnh Nam Định, Bắc phần).
Chính bà đã phá được thành Cổ Lộng của quân Minh trên bờ sông Đáy (bấy giờ gọi là sông Ninh Giang), giúp Bình Định Vương Lê Lợi công không nhỏ trong việc đại định.
___________
Lost-dude nhớ là bà ta và chồng mình đã vào trong thành rồi nữa đêm mở cửa thành cho quân kháng chiến của ngài Lê Lợi vô phá thành. Cũng tương tự như Nguyễn Nhạc nhà Tây Sơn sau này.
lost-dude
04-17-2003, 01:26 PM
Lam Anh
Nữ sĩ; tác giả tập “Chiếu Cổ Đường.” Là con gái ông Phạm Hữu Kỉnh, một bậc cự nho dưới triề̉u Nguyễn.
________
Chỉ có hai câu thôi à. :(
lost-dude
04-17-2003, 01:37 PM
Lê Chân
Nữ tướng của Trưng Nữ Vương.
Người làng An Biên (tục gọi là làng Vẻn), huyện Đông Triều (thuộc tỉnh Hải Dương, Bắc phần).
Cha bị hại về tay Tô Định, đến năm kỷ hợi, 39 sau Công Nguyên, bà hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Nhị Trưng, từ Đổng Triều đến xin gia nhập vào đội Nghĩa Binh. Được thâu dụng và giữ chức Tiên Phong Nữ Tướng Quân, bà đem quân đánh Tô Định lập được nhiều chiến công oanh liệt.
Ngày mùng 6 tháng 2 năm quý mão, 43, khi Hai Bà tuẫn tiết ở Hát Giang, bà cũng tự trầm chết theo.
Có chổ chép khác: Bà Lê Chân thua quân ở hồ Lãng Bạc, vừa đánh vừa lui quân, và cuối cùng bỏ mình dưới lưỡi gươm thù tại Mai Động.
Ở Hải Phòng, người ta lập đền thờ bà Lê Chân gọi là đền Nghè.
lost-dude
04-17-2003, 02:10 PM
Mai Thiện Hoàng Thái Hậu
Có sách chép tên húy là Trần Thị Đoan.
Nữ kiệt chống giặc xâm lăng hồi tiền bán thế kỷ 1.
Người làng Cổ Lai, huyện Châu Diên, đất Mê Linh, quận Phong Châu, bộ Giao Chỉ.
Là mẹ của Hai Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị. Khi bà Trưng lên ngôi, bà được tôn làm Hoàng Thái Hậu.
Vốn dòng dõi Hùng Vương. Gặp lúc loạn lạc, chồng mất sớm, bà cầm quyền cai trị thị tộc, tỏ ra là một người lãnh đạo giỏi.
Đau lòng trước nạn nước điêu linh, bà đã cùng với con rễ là Thi Sách xướng nghĩa chống xâm lăng, sau lại giúp Trưng Nữ Vương rất đắc lực trong việc đáng đuổi giặc Đông Hán. Là người có sức vóc mạnh mẽ, lại có tài thao lược, bà thường xuất trận điều khiển binh sĩ.
Sau khi Trưng Nữ Vương thua quân ở Mê Linh, rồi mất thế ở Cấm Khê, bà thu nhặt tàn quân ở huyện Lộc Phúc hợp với các huyện khác quanh vùng Mê Linh định đến giải vây. Nhưng, thất trận vì bị tướng Tàu là Lưu Long đánh tập hậu, cùng đường, vào ngày mùng 10 tháng chạp năm nhâm dần, 42, bà nhảy xuống sông ở làng Nam Nguyễn (hay Nam An) để tự trầm.
lost-dude
04-17-2003, 02:17 PM
Năng Văn Nữ Sĩ
Không rõ tên. Là con gái của Đức Ngạn Hầu Nguyễn Công Tấn và là chị ruột của danh sĩ Nguyễn Công Trứ.
Co nhan sắc, văn thơ xuất chúng; góa chồng từ năm 19 tuổi, bà thủ tiết thờ chồng. Trong vùng có vị quan lớn định dùng uy quyền vây bắt, bà trốn thoát được, sau đó bà xuất gia quy y ở chùa.
Đến đời Minh Mạng (1820-1840) bà được tuyên dương “Tiết hạnh khả phong.”
lost-dude
04-17-2003, 02:22 PM
Ngô Chi Lan
Nữ sĩ đời Lê Thánh Tông.
Người làng Phù Lỗ, huyện Kim Anh (thuộc tỉnh Phúc Yên, Bắc phần).
Nổi tiếng giỏi về thi ca, từ khúc. Chồng là Phù Thúc Hoành, làm quan đến chức Đông các Đại học sĩ. Bà thường được vua Lê triệu vào hầu thơ và được phong chức Phù gia nữ học sĩ và sai dạy các cung nữ.
Bà mất năm 41 tuổi.
Thơ văn của bà đều chép ở “Mai Trang Tập” (thất lạc); hiện nay chỉ còn truyền lại bài thơ “Vịnh Bốn Mùa”.
lost-dude
04-17-2003, 02:39 PM
Nguyễn Nhược Thị 1830-1909
Chính tên là Nguyễn thị Bích, tự Lang Hoàn. Là tác giả tập ký truyện “Loan Dư Hạnh Thục Quốc Âm Ca” (gọi tắc là “Hạnh Thục Ca”) một sử liệu quý giá chép việc vua Hàm Nghi đi lánh nạn khi Kinh đô Huế thất thủ năm 1885.
Người huyện An Phước, đạo Ninh Thuận (nay thuộc tỉnh Ninh Thuận, Trung phần). Con gái quan Bố chánh Nguyễn Nhược San.
Lúc nhỏ bà đã tỏ ra rất thông minh mẫn tiệp, có tiếng hay chữ. Năm 19 tuổi, được tiến vào cung. Vua Tự Đức mến tài, cho sung chức Thượng Nghi Viên Sư. Lần hồi, được phong làm Tài nhân (1850), Mỹ nhân (1860), rồi Quí nhân. Đến năm Tự Đức thứ 21 (1868), được tấn phong làm Tiệp dư. Vì dạy học cho hai Hoàng tp̉ Cháng Mông Ưng Sý (tức vua Đồng Khánh) và Dưỡng Thiện Ưng Đăng (tức vua Kiến Phước), cho nên cũng được gọi là Tiệp dư Phu tử.
Sau khi vua Tự Đức qua đời, phàm ý chí của Lưỡng Tôn cung (tức bà Từ Vũ, mẹ vua Tự Đức; và bà Trang Ý, vợ vua Tự Đức) đều do bà thảo ra.
Đến đời Thành thái năm thứ hai (1892), bà được tấn phong làm Tam giai Lễ tân.
Năm Duy tân thứ ba (1909) bà mất, thọ 80 tuổi.
lost-dude
04-17-2003, 02:54 PM
Nguyễn Thị Bích Châu
Bậc mẫu nghi đời Trần; vợ vua Trần Duệ Tông (1374-1377).
Bà là tác giả bài “Kê minh Thập sách”, một bản điều trần dâng lên vua chồng để tỏ bày sự lợi hại trong việc cai trị dân. Kết quả là vua Trần tuy có ban khen, nhưng không đem thi hành những phương sách trong bản văn.
Khi vua Duệ Tông thân chinh Chiêm thành năm 1376, bà cùng với các ông Trương Đỗ, Lê Tích dâng sớ khuyên can, nhưng không được nghe theo. Trận ấy, nhà vua bỏ mạng ở thành Đồ Bàn.
Trong “Kê minh Thập sách”, đại ý bà nêu ra 10 điểm nên áp dụng trong việc chính trị để cho quốc gia càng thêm vững mạnh:
1. Bền gốc nước, trừ bạo thì dân chúng được yên.
2. Giữ nếp xưa, việc phiến bỏ thì triều cương không rối.
3. Trị kẻ lạm quyền để trừ mọt nước.
4. Đuổi bọn nhũng lại để bớt vơ vét dân.
5. Mở lối nho phong để ngòi lửa đóm được rạng soi.
6. Tìm lời trực gián để đường ngôn luận được mở rộng như cửa thành.
7. Trong việc kén quân nên lấy hạng có dũng lực hơn là hạng có vóc dạ lớn.
8. Chọn tướng nên dùng người thao lược hơn là bậc thế gia.
9. Khí giới cốt tinh nhuệ hơn là hoa hoè.
10. Tập trận pháp cần chỉnh tề, không cần múa nhảy.
lost-dude
04-17-2003, 03:15 PM
Nguyễn Thị Kim
Hoàng phi, vợ vua Lê Chiêu Thống. Bậc tiết phụ thời Lê mạt.
Người làng Tùy hà, huyện Lang tài, trấn Kinh bắc (Bắc phần).
Khi vua Lê sang Tàu lánh nạn, bà theo không kịp, phải ẩn núp ở đất Kinh Bắc.
Mãi hơn 13 năm sau, hay tin chồng, mẹ chồng và con đều mệnh vong ở Trung hoa và bọn di thần sắp đem linh cửu về nước, bà lên tận quan ải để đón rước. Từ đó cho đến khi về Thăng Long, bà nhịn ăn, cả ngày gục lên linh cửu cố quân gào khóc rất thảm thiết.
Ngày 12 thang chạp năm nhâm tuấ, 1802, làm lễ tế vua Lê xong, bà bảo người xung quanh rằng: “Ta nhẫn nhục ở nơi quê nhà kể ngót mười mấy năm trời, một lòng mong đợi tin Thái hậu cùng vua ta và con ta. Nay Thái hậu và vua ta đã mất, con ta cũng chết, linh giá đã đưa về nước; thế là lòng hy vọng của ta cũng mất. Giờ đây ta nên chết theo, để xuống hầu hạ ở chốn sơn lăng.” Sau đó, bà uống thuốc độc tự tử.
Thi thể Hoàng phi được đem về an táng tại Bàn Thạch, cạnh lăng vua Lê chiêu Thống.
Về sau, theo lời tâu xin của Bắc thành Tổng trấn là Nguyễn Văn Thành, vua Gia Long cho lập đền thờ Nguyễn Hoàng phi tại làng Tùy Hà, lại ban cấp ruộng tế cùng tha thuế cho cả làng đó và có lập bia khắc mấy chữ: “Khâm tứ An trinh Thuận nghĩa Nguyện thị Kim chi mộ.”
“Việt Sử Tổng Vịnh” của vua Tự đức có bài thơ khen:
Ky đích thông mang thống mạc truy,
Thoa điền kinh bố, cữu mê ly.
Triêu triêu tuyệt lạp triều qui tẫn,
Nhất trãn phên sương cạnh dư tùy.
Bản dịch của Bửu Cầm:
Theo giá không may lạc lại sau,
Dãi gai áo vải đã mày lâu.
Chẳng ăn nhiền bữa chầu linh cữu,
Một chén nhân ngôn để xuống hầu.
Nhà thơ Dương bá Trạc, trong thi phẩm “Trai Lành Gái Tốt” đã ca tụng đức độ Hoàng phi Nguyễn thị Kim qua bài thơ vịnh sau đây:
Giong ruổi quan hà lạc Chúa công,
Ngọn mây non Bắc tịt mù trông.
Bồng mao tạm lúc nương thân liễu,
Kinh khuyết mai sau thấy mặt rồng.
Thác nghĩa đã ghi cùng sắt đá,
Sống thừa còn hẹn với non sông.
Thôi thôi nước cũ đây là hết,
Năm lạy linh tiền chứng thiếp trung.
lost-dude
04-17-2003, 03:21 PM
Nguyễn Thị Khuê
Biểu tự của bà là Sương Nguyệt Anh, con gái thứ năm của danh sĩ Nguyễn Đình Chiểu.
Rất hay chữ, giỏi thơ, bà từng làm chủ bút tờ “Nữ Giới Chung” (Saigon), tờ báo phụ nữ đầu tiên ở nước ta.
Tiết liệt đoan trang, chồng chết sớm, bà một mực thủ tiết thờ chồng. Lại có một tinh thần yêu nước rạt rào, thật xứng đáng là con cháu bà Trưng, bà Triệu và nêu một tấm gương sáng cho chi em bạn gái.
lost-dude
04-17-2003, 03:32 PM
Phủ Ba
Nữ sĩ học rộng thơ hay. Vì làm vợ lẻ thứ ba ông Phủ Nguyễn Danh Kế, nên tục gọi là bà Phủ Ba.
Bà la thân mẫu của thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu
TruSiNang
04-17-2003, 03:43 PM
Cụ Phan (Bội Châu) và Lòng Dân
Vào khoảng 1925, làng tôi – Làng Phương Khê - tỉnh Sơn Tây còn là một nơi lạc hậu nhất miền Trung Du Bắc Việt. Không có lấy một trường sơ học. Cả làng chỉ có mấy anh em tôi nhờ tổ tiên có nhà ở Hà Nội nên được học chữ Pháp, còn thì đều học trường các cụ đồ trong làng. May lắm được độ mươi ông tổng lý biết đọc chữ quốc ngữ, chứ chưa chắc biết viết, mà đọc thì chắc cũng chậm lắm, nếu không phải đánh vần từng chữ và nếu có lục khắp làng thì cũng chỉ được vài cuốn Kiều, Nhị Ðộ Mai của nhà in Xuân Lan. Tôi không hiểu họ học vần Quốc ngữ ở đâu, vì trường các cụ đồ không dậy mà cũng chẳng có một cuốn vần nào cả. Chắc họ cho cái chữ đó không cần phải học – văn tự hay gia phả đều dùng chữ Nho hết – và ai có muốn học chơi cho biết thì hỏi những người đã biết rồi, mỗi ngày một chút, mò riết rồi cũng ra.
Tôi sở dĩ kể dài dòng như vậy để các bạn biết rằng dân làng tôi hồi đó quanh năm tuyệt nhiên không được đọc một tờ báo . Thấy thì họ có thấy: những khi tôi ở Hà Nội về vẫn thường dùng báo cũ để gói đồ, nhưng chẳng ai đọc cả; mà cũng chẳng bao giờ có ai nhắn đem báo cũ về cho coi, có nhắn thì chỉ nhắn mua những thỏi mực Tàu và những ngọn bút lông thỏ ở các tiệm Trung Hoa phố hàng Ngang hay hàng Ðào.
Vậy mà Tết năm đó vào tháng giêng hay tháng hai dương lịch 1926, tin “cụ Phan” bị bắt ở Trung Hoa, giải về giam ở Hỏa Lò Hà Nội rồi bị kết án tử hình, rồi toàn dân sôi nổi đòi ân xá cho cụ, v.v... dân làng tôi đều biết hết. Chắc chắn họ không đọc báo, có người nào đó xuống phủ, xuống tỉnh nghe đồn rồi về làng kể lại. Ðiều đó không có gì lạ. Ðiểm thích thú là trong mấy ngày Tết, lại nhà nào cũng nghe la lớn: “Cụ Phan!” rồi tiếp theo là một tràng những tiếng cười ròn rã như tiếng pháo. Từ xóm Ðình tới xóm Chùa, xóm Giếng tới xóm Ðồng đỗ, đâu đâu cũng vang lên hai tiếng “cụ Phan” .
Có gì đâu. Tết thì nhà nào ở quê Bắc chẳng đánh tam cúc như trong này đánh tứ sắc, và năm đó dân làng tôi gọi quân tướng điều là “cụ Phan” . Một vài nhà hơi có học phân biệt tướng điều là cụ Phan Bội Châu, tướng đen là cụ Phan Chu Trinh, nhưng đại đa số chỉ gọi tướng điều là cụ Phan.
Tôi không biết mấy làng bên cạnh có gọi như vậy không, cũng không nhớ ở Hà Nội có gọi như vậy không, vì khi tôi xuôi Hà Nội học thì đã qua Tết rồi, không còn ai chơi tam cúc nữa. Nhưng tôi đoán rằng đó không phải là sáng kiến của riêng dân làng tôi; chắc nó phải đồng thời xuất hiện ở nhiều nơi trong nước, vì còn gì tự nhiên cho bằng dùng quân bài quí nhất, vô địch trong cỗ tam cúc để trỏ cụ Phan. Nó tự nhiên quá nên rất phổ biến, tới nỗi ngay các tổng lý – tôi không chê gì bà con của tôi, nhưng thực sự tôi phải công nhận rằng họ chẳng hơn gì các ông Chánh ông Phó trong các truyện Việc Làng, Tắt Ðèn của Ngô Tất Tố là bao – cũng vui vẽ hãnh diện có được một “cụ Phan” . Và tôi nghĩ hồi đó giá có một tên “trành” nào bán nước mà ngồi vào chiếu tam cúc, khi hạ quân tướng điều xuống chiếu thì cũng vỗ đùi đến đét một cái mà cười ha hả: “cụ phan” .
Những ván bài tam cúc Tết đó quả là vui, vui nhất trong đời sống dân làng tôi.
Những năm 1920-1925 có thể nói là thời của quyền lực của thực dân Pháp ở nước ta vững nhất, triều đình Huế thì nhu thuận, Khải Ðịnh chết tháng 11 –1925, Bảo Ðại còn nhỏ ở Pháp; mà trong lòng dân chúng không có một cuộc nổi dậy nào, Pháp lại mới thắng Ðức, nên dám cho cụ Phan Chu Trinh về nước (tháng 3 –1926 cụ mới mất). Kinh tế thì chưa khủng hoảng và bộ máy hành chánh của họ sau nửa thế kỷ tổ chức và cải thiện, lúc này chạy đều hơn bao giờ hết. Tình hình thật phẳng lặng như mặt hồ thu. Ấy vậy mà cụ Phan đã làm khuấy động toàn dân. Những nông dân tại những miền lạc hậu mà bọn thực dân vẫn khinh bỉ là ngu dốt, nhút nhát, bấy giờ đã ngàn người như một, tỏ rõ thái độ trong ván bài tam cúc. Họ vẫn tiêu tiền Khải Ðịnh, trên văn tự hay đơn từ họ vẫn đề “Khải Ðịnh đệ ... niên” . Nhưng Khải Ðịnh không phải là tướng điều tướng đen, cũng chẳng được làm tốt đen tốt đỏ nữa vì tướng thế kia đâu có dùng cái hạng tốt này. Họ không biết Khải Ðịnh. Không có Khải Ðịnh trong cỗ bài tam cúc.
Thực dân dùng sức mạnh đàn áp họ thì tạm thời họ chịu khuất phục, nhưng đời cha cho đến đời con, chẳng ai bảo ai, trong thâm tâm, trong từng thớ thịt, sợi tóc, giọt máu của họ, họ vẫn hướng về những vị tướng điều, tướng đen, vẫn mong có những tướng điều, tướng đen đuổi xâm lăng cho họ, và chỉ những vị nào lãnh sứ mạng ấy thì họ mới gọi là tướng. Dù bị đô hộ một trăm, một ngàn năm, dân Việt Nam vẫn còn tinh thần Việt Nam, trong thâm tâm vẫn không chịu thừa nhận chính quyền ngoại nhân. Chính quyền ngoại nhân bao giờ cũng như một miếng da cấy vào một cơ thể khác, thế nào rồi cũng bị đẩy ra. Có thể nói dân tộc Việt Nam “allergique” với mọi chính quyền ngoại lai. Tôi không rõ đó có phải là tính tự nhiên chung của các dân tộc thuộc địa không, nhưng nhất định là tính tự nhiên của dân tộc ta. Cứ xét các ông vua triều Nguyễn được Pháp đưa lên thì biết: Ông nào tư cách thì cũng chỉ ít tháng là chống lại họ, còn ông nào ngồi lâu được thì đều không đáng làm tốt đen, dân không thèm biết tới.
Người Pháp năm 1925 chắc chán là biết lòng dân Việt Nam ngưỡng mộ cụ Phan ra sao, nhưng họ không rút ra được một bài học, để đến nỗi năm 1945 lại sa vào lỗi trước, thí nhiệm hết với Hoạch, với Hữu, với Bảo Ðại, với Tâm ... cứ đưa những bọn không đáng làm tốt đen mà đòi mong được dân Việt Nam coi là tướng điều, cho nên mới phải chịu nhục ở Ðiện Biên Phủ.
Tại họ tham đã đành rồi, nhưng một phần cũng tại họ có tài phân tích xã hội, lịch sử ... một cách thông thái quá. Mười mấy năm trước, tôi có đọc một cuốn trong đó tác giả (tôi quên mất tên) phân tích, lí luân, chứng minh một cách rất khoa học rằng các dân tộc phương đông trước khi chịu ảnh hưởng của tây phương, không có tinh thần ái quốc mà chỉ biết trung quân, mà quan niệm về quốc gia, dân tộc là do phương Tây mang lại. Gần đây tôi lại thấy một nhà cầm bút Việt Nam lập lại y hệt. Tôi tự hỏi năm 1925 dân làng Phương Khê chúng tôi không đọc sách báo Việt chứ đừng nói là Pháp, thì được ai tiêm cho tinh thần quốc gia, dân tộc mà sao chúng tôi không “trung” với Khải Ðịnh, mà lại ngưỡng mộ cụ Phan như vậy ?
Nhưng nào phải chỉ có Pháp mới ngốc .
13 –10 1967
(Trích trong tập Kỉ Niệm 100 năm năm sinh Phan Bội Châu)
Nguyễn Hiến Lê
:) :)
lost-dude
04-17-2003, 03:48 PM
Worldwide Guide to Women in Leadership
Heads of State of Vietnam
39-43 Queen Trúng Trac
39-43 Queen Trúng Nhi
The two sisters lead a defending army against the Chinese occupation-forces, they ruled over a territory until they were defeated. They are today seen as national heroes and known as Hai Ba Trung (The Trung Sisters)
112-113 Regent Dowager Queen Cu-Thi of Nam-Viêt
Murdered together with son.
Ca. 222-248 Trieu Au (Trieu Thi Trinh)
She is sometimes referred to as the „Vietnamese Joan of Arch“. She was a rebel leader at the time when Vietname was a territory of China. She led an army from the mountains which won more than 30 major battles against the Chinese. She then set up her own administration in the freed territory, which she kept independent for several months. She was defeated in 248 and committed suicide. Also known as Ba Trieu – Lady Trieu.
Until 653 Queen of the Champa Kingdom
Her name have been lost. Her predecessor ruled from 845.
1224-25 Empress Lý Chieu Hoang
Her father Ly Hue Tong abdicated in her favor. Tran Thu Do, now a lover of her mother, ex-queen Tran Thi, arranged a marriage between Empress Ly Chien Hoang with his nephew, the seven-year old Tran Canh, who became founding Emperor Tran Thai Tong of the now Tran Dynasty in 1225. Tran Thu Do then arranged for the death of remaining members of the Ly family, including the retired ex-emperor Ly Hue Tong. In 1236, Thu Do forced the young emperor to abandon his wife, who was childless, in favor of her older sister, who was already married to another member of the Tran family and already pregnant. In protest Tran Thai Tong, a fervent Buddhist fled the capital and sought refugee at a Thien Buddhist monastery on nearby Mount Yen Tu, after witch he was deposed by Thu Do.
1442-53 Regent The Dowager Empress Le….
1981-87 Member of the Council of State Nguên Thi-Binh
1987-2002 Vice-president
In 1968 Spokesperson of the National Liberation Front by the Peace Negotiations in Paris, 1969-76 Minister of Foreign Affairs in the Provisorial Government of North-Vietnam, 1976-87 Minister of Education. From 1992 she has been the only Deputy Head of State. (b. 1927-)
2002- Vice-President Truong My Hoa
Vice-President of the National Assembly 1994- 2002 and Ca. 1995-2002 President of the National Committee for the Advancement of Women.
TruSiNang
04-17-2003, 03:56 PM
Hội Trường Ca - Hưng Đạo Ra !
Ra ! Ra ! Ra !
Diên Hồng tiếng trống đã bừng vang,
Rồng Sào Nam liền ngỏ ý chào mừng .
Xuân ơi xuân, xuân đã có thấy chăng ?
Vui gió sông, mừng mây núi, sáng trời trăng,
Ba mươi năm tới sẽ còn bao thay với đổi .
Trời đất nay ra lòng che chở,
Tháng ngày vươn dậy lũ đầu xanh .
Thưa bà con, quí vị, bậc tiên rồng :
Đời đã mới, chúng mình nên đổi mới .
Mở mắt thấy rõ ràng người Việt tới,
Nhờ dịch vụ đóng góp hội trường ta .
Ðến được lợi, ở vẹn tình, nghĩa khởi ra,
Gây đoàn kết quyết đua tranh thành công mãi .
Chuyện lâu dài từ nay nên hợp lại,
Ðến kiếm thêm mà nuôi dưỡng lấy gia đình .
Có kế hoạch, có chuẩn bị, có làm ăn .
Ở trung tâm sinh hoạt tình cá nước,
Khởi niềm tin xóa tỵ hiềm lúc trước,
Mới thế này là mới hỡi dân ta,
Mừng rằng: Hội trường ca, Hưng Ðạo ra !!!
Ngủ Yên Trư Si Nặng
lost-dude
04-17-2003, 03:59 PM
BungRieu oi,
On the list on the first page, BungRieu change number 29 to "Ngọc Vạn Công Chúa" for Lost-dude nha. Lost-dude will type the biography for Từ Dũ, Thánh Thiên Công Chúa, Thúc Khanh Công Chúa, Triệu Trinh Nương/Triệu Ẩu/Triệu Thị Trinh/Bà Triệu and Võ Thị Quyền. BungRieu can add them to the list also. That's all the heroins I can find. What do you want me to do after this? Maybe "Chien si chong Phap" or something.
You've done an amazing job, keep up the good work. I really enjoy the posts in here as well as in the other threads you opened.
:) :) :)
lost-dude
04-17-2003, 04:02 PM
TruSiNang,
If you have time, could you please post the history of the "Dong Du Movement" lead by Sao Nam Phan Boi Chau? Thank you very much in advance, and thanks for the posts! :)
TruSiNang
04-18-2003, 03:23 AM
Chú Bé Lạc Lầm,
Ðể TSN từ từ sẽ đăng lên những chuyện liên quan đến Phan Bội Châu và thời kỳ kháng Pháp . :)
Văn Lý Và Ngụy Biện, Chơi Chữ
Kinh thành Huế, trước điện Cần Chánh có treo một câu đối:
Thần khả báo quân ân
Tử năng thừa phụ nghiệp
Cần chánh là siêng năng, lo việc chính trị. Bầy tôi báo đáp được ơn vua, kẻ làm con giữ gìn, tiếp tục được sự nghiệp của ông cha, như vậy phúc cho nước phúc cho nhà. Tư tưởng đúng với nho học. Vậy mà Cao Bá Quát dám cầm bút phê rằng:
- Hảo hề ! Hảo hề ! Phụ tử quân thần điên đảo !
Nghĩa là: Tốt vậy thay! Tốt vậy thay! Cha con vua tôi lộn xộn!
Vua tôi lộn xộn là vì chữ thần đặt trên chữ quân. chữ tử đặt trên chữ phụ. Vua Tự Ðức, ông vua tự phụ thường cho rằng tài là văn của mình đáng đậu trạng nguyên, thấy lời phê của Cao Bá Quát, tức lắm, bảo ông cứ chữa lại coi thử. Cao Bá Quát sửa ngay rằng:
Quân ân thần khả báo
Phụ nghiệp tử năng thừa.
Cũng chỉ mười chữ đó thôi nhưng cách đặt câu đảo trang, túc từ ở trên chủ từ và động từ làm cho khí thế câu văn mạnh mẹ hẳn lên. Còn như đặt câu theo lối bình thường thì nghe có vẻ tầm thường lắm.
Tự Ðức là một ông vua thích chơi thơ, chơi chữ. Một hôm nhà vua cao hứng bảo các quan rằng:
- Ðêm vừa qua, trẫm mơ màng làm được hai câu thơ thật lạ:
Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ.
Dã ngoại đào khoa lấm tấm khai
Cái đáng tức cười là xen những chữ "khề khà, lấm tấm" vào hai câu thơ chữ Hán. Cao Bá Quátnghe xong liền tâu rằng đêm qua, thần cũng nằm mộng thấy có vị thần đọc cho nghe một bài thơ. Rồi ông ứng khẩu đọc ngay rằng:
Bảo mã tây phong huých hoác lai
Huynh hoang nhân tự thác đề hồi
Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ
Dã ngoại đào hoa lấm tấm khai.
Xuân nhật bất văn sương lộp độp
Thu thiên chỉ kiến vũ lài nhài !
Khù khờ thi tứ đa nhân thức.
Khệnh khạng tương lai vẫn tú tài.
Câu nào cũng có hai tiếng nôm xen vào cả, theo đúng cái kiểu nhà vua xướng xuất. Cao Bá Quát lại chêm thêm một câu rằng:
- Vị thần đọc xong, bảo đó là thơ của Ðức Hoàng Ðế!
Vua Tự Ðức biết ngay rằng Cao Bá Quát lỡm mình song vì tự nhà vua đề xướng nên đành làm thinh. Sự thực bài thơ ngô nghê chứ có ý hay lạ đâu!
Một đoàn ngựa quí về theo gió thu. Người dắt dây kéo đoàn ngựa về. Trong vườn chim oanh hót. Ngoài đồng hao đào nở. Mùa xuân không nghe sương rơi. Trời thu chỉ thấy mưa bay. Ý thơ đã có nhiều người biết. Sao còn đem đi hỏi vị tú tài ?
Chẳng qua là có đệm tiếng Nôm nên nghe qua cũng có vẻ ngộ ngộ, vui vui vậy thôi. Ðâu có gì quan trọng mà nói giữa buổi chầu. Thời giờ đáng nghẽ phải để dành bàn về những việc lớn có liên quan đến dân, đến nước.
Một hôm khác, nhà vua đọc cho quân thần nghe một bài thơ con muỗi mà người ta dễ tuởng lầm là chuyện sử nhà Hán.
Tiêu hà tả hán khởi ư phong
Sấn nhập trùng vi nhiễu tướng trung
Bất luận huân tiêu phàn khoái lực
Hốt văn hàn tín tự tiêu không.
Tiêu hà là bẹ chuối, tàu lá sen đồng âm với Tiêu Hà, công thần khai quốc của nhà Tây Hán. Phong là gió, đồng âm với phong là đất khởi nghiệp của Lưu Bang. Phàn Khoái là hun đốt, đồng âm với Phàn Khoái, tên một dũng tướng bên Hán. Hàn tín là tin lạnh đồng âm với Hàn Tín vị nguyên soái phá sở.
Diễn nôm bài thơ bề ngoài hình như vịnh sử ấy như sao:
Bẹ chuối đài sen nổi cánh rung,
Bay vào màn trướng quấy lung tung
Chẳng cần phải tốn công hun đốt
Hơi lạnh vừa đưa tẩu tán cùng.
Lại như bài thơ "Soi ếch" cũng có nhiều chữ "lắt léo, dễ khiến người ta hiểu lầm từ nghĩa này sang nghĩa khác. Bài nguyên tác Hán Văn:
Lâm vũ lâm ly lý lý trường
Minh minh bỉnh chúc chiếu âm dương
Trì khu thượng hạ công danh quán
Khứ thủ ly bì đắc kỷ cương ?
Diễn nôm:
Vườn mận đêm mưa nước ngập nhầy
Thắp đèn soi khắp chỗ kêu đây
Bắt trên tóm dưới xâu từng chuỗi
Chặt thủ lộn da mấy trã đầy.
Trong lúc vua tôi vui đùa như thế thì tiếng súng Tây Dương nổ ở Cần Giờ, đạn trái phá bắn vào thành Gia Ðịnh, đất nước lâm nguy! Ở đó mà thơ với thẩn !
Nguyễn Quang Trứ
Truyện Hay Trong Sử Việt
TruSiNang
04-25-2003, 11:25 AM
Liệt Sĩ là những người hy sinh vì danh nghĩa lớn như chính nghĩa của dân tộc.
Hán Việt tự điển của Ðào Duy Anh định nghĩa như sau:
Liệt sĩ: Người chí sĩ trượng nghĩa (heros)
Chú thêm chữ Pháp là ông Ðào chú đó.
Cuối thế kỷ 19, sĩ phu Bắc kỳ, Trung kỳ thường kể cho nhau chuyện ba người trung liệt: Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Nguyễn Cao.
Nguyễn Tri Phương có tài thao lược, trấn định phiến loạn, đánh bình các đám giặc cướp ở miền Tây Lục Tỉnh, được phong là An Tây trí dũng tướng.
Ông đánh nhau với quân Pháp ở Ðà Nẵng rồi vào Nam làm chức Nguyên Soái, đắp đồn Kỳ Hòa chống nhau với quân Pháp ở Gia Ðịnh. Quân ta tuy thua, em ruột ông là Nguyễn Duy tử trận nhưng trận Kỳ Hòa quân ta cũng giết được tướng Pháp là Vassoigne.
Triều đình Huế hòa nghị với Pháp. Ông ra Bắc kỳ đánh dẹp bọn thổ phỉ ở Tuyên Quang, Hải An.
Năm 1873, lúc bấy giờ bọn lái buôn Ðồ Phổ Nghĩa (Jean Dupuis) và bọn gian thương Tàu là Bành Lợi Hý, Quan Tá Ðình buôn muối trái phép sang Vân Nam, đại úy Pháp là Francis Garnier (phiên âm là Ngạc Nhi hay An Nghiệp) đơn phương tuyên bố mở sông Hồng Hà cho Pháp, Trung Hoa, Tây Ban Nha tiện đường buôn bán.
Ngày rằm tháng mười năm Quý Dậu (1873) Francis Garnier đánh thành Hà Nội. Nguyễn Tri Phương cùng với con là phò mã Nguyên Lâm hết sức chống cự. Nguyễn Lâm chết theo non nước. Nguyễn Tri Phương bị thương nặng, không chịu để cho Pháp chữa thuốc, nhịn ăn mà chết.
Hoàng Diệu tên chữ là Quang Viễn, người huyện Duyên Phước, tỉnh Quảng Nam. làm quan đến chức tổng đốc Hà Nội. Ngày 8 tháng 3 năm Nhâm Ngọ, đại tá Pháp là Henri Rivière đánh thành Hà Nội, đến trưa thì hạ được thành. Hoàng Diệu chết theo non nước.
Nguyễn Cao, người Quế Dương, tỉnh Bắc Ninh, năm 1873, khi Hà thành thất thủ, ông mộ quân nghĩa dũng đánh giặc Pháp. Triều đình Huế giảng hòa với Pháp, ông phải giải binh rồi đi làm Bố Chính ở tỉnh Thái Nguyên.
Năm 1882, Pháp đánh Hà Nội lần thứ hai, ông lại chiêu mộ nghĩa quân chống với quân Pháp. Năm 1885, ông hưởng ứng mạnh mẽ hịch Cần Vương. Ðược ít lâu, giặc Pháp bắt được ông, dụ hàng không được, chúng đem giam ông ở Hà Nội. Trong ngục, ông lớn tiếng mắng chửi giặc rồi rạch bụng tự tử.
Hà thành chính khí túc tam trung.
Ðủ ba tấm gương anh hùng lỡ vận không còn đất thì phơi bầy tấm gan trung cho người đời sau soi chung.
Phô bày tấm gương nghĩa khí trung kiên cũng là một cách duy trì sinh lực của dân tộc. Sức sống ấy như các lớp sóng trường giang có sự diễn tiến thường xuyên và liên tục.
Người ta hay nói đến khí thiên sông núi. Khí thiên ấy đã thể hiện qua khí phách của những nghĩa sĩ anh hùng. Sự tử tiết của Tam Trung "Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Nguyễn Cao" đủ biểu dương sinh lực của dân Việt.
Vũ Công Tự ghi chép lại sự việc Hà Thành thất thủ như sau:
Quý Dậu Ký Sự
Pháo thanh tứ ngũ thặng không thành
Lâu thượng tam tài xí dĩ canh!
Thực dụng kỷ tằng nghiêm tự trị ?
Hư truyền thủ thứ hỗ tương kinh
Nhất hàng lõa bạn Nam lai ý
Cửa bệ quân vương Bắc cố tình
Ðảo để vị năng phù nhất tốt
Ngạc Nhi hưu thuyết thiện binh danh.
Chúng tôi tạm dịch cho đủ ý như sau:
Năm ba tiếng súng vang lừng
Ngoảnh trông ba sắc cờ tung mặt thành.
Mấy ai lo việc trị mình
Phao trù đồn nhảm cho kinh xa gần
Một đoàn lũ lượt về Nam,
Vời trông đất Bắc vua căm giận nhiều !
Nào ai bắt giặc bao nhiêu,
Ngạc Nhi thôi nói biết điều cầm binh.
Quân Tây thắng được quân ta chỉ vì súng đạn của họ mạnh hơn súng cò đá và đại bác nạp tiền của ta. Thêm nữa chỉ có lão tướng Nguyễn Tri Phương liều chết giữ thành còn các quan đồng liêu khác thì lo tháo chạy ... Họ lại còn phao đồn tin tức huyên thiên, vô tình họ đã giúp cho Ngạc Nhi trấn áp sĩ khí và dân khí nước Việt!
Ngạc Nhi cũng đâu tài giỏi gì lắm! Chỉ một trận xáp lá cà ở Ô Cầu Giấy là viên quan ba này tiêu mạng ngay. Dư luận Pháp cũng không bận tâm về hắn nhiều lắm.
Còn Tam Trung của bên ta thì sử sách Pháp chú ý đến nhiều hơn. Ðối với Nguyễn Tri Phương, các sách Pháp đều nói là ông già nhiều nghị lực can đảm.
Sĩ dân Nam kỳ vẫn coi Nguyễn Tri Phương là lão tướng anh hùng Phương Minh thi tập của Phan Văn Ái có bài:
Vịnh Ba Liệt Sĩ
Núi Thái lông hồng đọ với nhau
Nước đau nào quản đến thân đau
Một nền chính khí trơ mưu gió
Ba khối hùng tâm chọi bể dâu.
Nợ với giang sơn đành phải trả
Người mà xà hủy kể vào đâu!
Lòng trung chỉ có lòng trung biết
Ðổ Phủ ngày xưa khóc Vũ Hầu !
Người ta thường nói "chính nghĩa tất thắng".
Nhưng mà ... trên thực tế, nhiều khi chính nghĩa không thắng mà lại còn thảm bại nữa. Như trường hợp Tam Trung vậy.
Ngày xưa Ðổ Phủ điếu tang Gia Cát Lượng (truy điệu qua cảm hứng vịnh sử) có câu:
Xuất sư vị tiệp thân tiên tử,
Trường sử anh hùng lệ mãn khâm!
Dịch:
Ra quân chưa thắng thân đã thác,
Khiến bọn anh hùng lệ chứa chan!
Ðiều này chắc chắn là cái tên Gia Cát Lượng còn sống mãi với thời gian, qua không biết bao nhiêu tấn tuồng dâu biển.
Danh hiệu Tam Trung trong sử Việt cũng vậy.
Ðó mới thực là cái chết nặng như thái Sơn. Sau cái chết là sự trường tồn vĩnh viễn trong tâm hồn những người yêu nước.
Nguyễn Quang Trứ
lost-dude
05-02-2003, 03:39 PM
Bà Triệu
Sử xưa, nhất là sử Trung Hoa thường chép là Triệu Ẩu; sử ta có nơi chép tên Triệu Thị Trinh. Là bậc anh thư vào khoảng tiền bán thế kỷ III đã dấy binh chống lại quân Đông Ngô xâm lăng.
Người ở quận Cửu Chân (thuộc vùng Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá, Trung phần hiện nay).
Sử chép: Thuở nhỏ, cha mẹ mất sớm, bà ở với anh là Triệu Quốc Đạt, một thanh niên anh tuấn, có lòng thiết tha với tiền đồ xứ sở.
Người dị tướng – sử chữ Nho chép bà Triệu “v-́ dài ba thước vắt ra sau lưng.” Tính cương cường, lớn lên, bà tỏ ra có khí phách khác thường, muốn theo đuổi chí hướng của anh để cứu nước ra khỏi vòng nhục vong. Người anh nhiều lần can ngăn để cho em gái khỏi phải lăn lưng vào chốn gian truant khổ ải. Năm bà 20 tuổi, Quốc Đạt muốm tìm nơi xứng đáng tác thành cho bà, nhưng bà khẳng khái bảo rằng: “Tôi muốn cỡi con gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá tràng kình ở biển Đông, quét sạch bờ cõi, cứu dân ra khỏi nơi đắm đuối, chứ thèm gì lại bắt chước người đời cúi đầu, khom lưng làm tì thiếp người ta!”
Từ đó, bà vào ở trong núi, chiêu mộ được hơn 1.000 nghĩa dũng để làm thủ hạ.
Năm 248, Triệu Quốc Đạt khởi binh đánh quận Cửu Chân; bà đem quân phụ lực giúp anh. Quân sĩ của Triệu Quốc Đạt thấy bà cầm quân giỏi, tỏ ra một vị tướng có tài thao lược, quyền biến, mới tôn bà lên làm chủ tướng.
Ra trận, bà thường mặc áo vàng, xưng là Nhụy Kiều Tướng Quân.
Lúc đầu, bà đánh đâu thắng đó, chẳng bao lâu thì chiếm giữ được quận Cửu Chân. Quân Tàu khiếp sợ bà, tôn xưng là Lệ Hải Bà Vương.
Thứ sử Giao Châu là Lục Dận đem quân vào đánh. Bà Triệu chống nhau với giặc hết sức mãnh liệt trong vòng 6 tháng; nhưng cuối cùng, vì quân ít thế cô, phải thua, bà đem quân chạy đến xã Đồ Điền (tức xã Phú Điền, thuộc huyện Mỹ Hóa, tỉnh Thanh Hóa ngày nay), rồi tự sát. Bấy giờ bà mới 23 tuổi.
Đến đời vua Nam Đế nhà Tiền Lý (544-548), có lập miếu thờ Bà Triệu tại xã Phú Điền và phong là Bật Chính Anh Liệt Hùng Tài Trinh Nhất Phu Nhân.
• Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập có bài thơ vịnh thân thế và sự nghiệp hiển hách của Triệu Trinh Nương như sau:
Người cao một trượng, cả mười vừng,
Bỏ tóc ngang lưng, v-́ chấm sừng.
Họp chúng rừng xanh, oai nao nức,
Cưỡi đầu voi trắng, tiếng vang lừng.
Mác dài trỏ vẫy tan đàn giặc,
Ngôi cả lăm le học họ Trưng.
Ví có anh hùng duyên định mấy,
Thời chi Đông Hán dám lung lăng.
Tài liệu: Nguyễn Huyền Anh. Việt Nam Danh Nhân Từ Điển, trang 592-594.
lost-dude
05-02-2003, 03:40 PM
Thánh Thiên Công Chúa
Nữ tướng anh kiệt của Trưng Nữ Vương. Họ Nguyễn; không rõ tên húy.
Người làng Bích Uyển, phủ Kinh Môn (Hải Dương, Bắc phần hiện nay).
Con ông Nguyễn Huyến, cựu thần nhà Triệu. Lúc đầu theo cậu là Nam Thành Vương khởi nghĩa chống lại quân Đông Hán, tự xưng là Thiên nữ, đóng quân tại Ký Hợp.
Nam Thành Vương kháng cự với Tô Định không nổi, tử trận; Thiên Thánh Công Chúa, để báo thù cho cậu, đã tận công thặng Tô Định một trận thật oanh liệt tại sông Thiên Đức.
Sau về theo với Hai Bà, được phong làm Bình Tây Đại tướng và lập được nhiều công trận. Trưng Vương lên ngôi, phong cho bà làm Thái bảo Chư hầu, sai lên trấn thủ mạn Bắc, đóng phủ tại Hợp Phố.
Đến khi Trưng Vương thất thế tự trầm tại Hát Giang, Thiên Thánh Công Chúa liền xuất tàn quân cầm cự hết sức mãnh liệt với quân nhà Hán dưới quyền chỉ huy của tướng Lưu Long. Bị vây ở xã Ngọc Lâm, cố liều chống cự, Thánh Thiên Công Chúa và hơn trăm dũng sĩ đều chết trận.
Về sau dân xã Ngọc Lâm (phủ Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang) thờ bà làm Thành Hoàng.
Tài liệu: Nguyễn Huyền Anh. Việt Nam Danh Nhân Từ Điển, trang 528-529.
lost-dude
05-02-2003, 03:41 PM
Thúc Khanh Công Chúa
Hiệu Mai Hoa; nữ sĩ tài hoa, tác giả “Diệu Liên Thi Tập.” Bà là con gái của Thánh Tông Nhân Hoàng Đế (vua Minh Mạng).
Tài liệu: Nguyễn Huyền Anh. Việt Nam Danh Nhân Từ Điển, trang 532.
lost-dude
05-02-2003, 03:43 PM
Từ Dũ
Một bậc hiền phụ ở nước ta vào cuối thế kỷ thứ XIX.
Tên Phạm Thị Hàng (hoặc Phạm Thị Hào). Trưởng nữ của công thần triều Nguyễn là Phạm Đăng Hưng và bà Phạm Văn Thị (không rõ tên). Vợ của Hiến Tổ Chương Hoàng Đế (vua Thiệu Trị).
Sinh ngày 19 tháng 5 năm 1810. Quán Gò Công, huyện Tân Hoà, tỉnh Gia Định (Nam phần).
Lúc nhỏ đã tinh thông kinh sử, có tiếng là hiền đức và chí hiếu.
Từ năm 14 tuổi, bà được Thuận Thiên Cao Thái Hoàng Thái Hậu, vợ kế vua Gia Long, tuyển triệu vào chầu cháu trai là Hoàng thái tử Miên Tông ở tại Tiềm Để.
Năm 1841, khi Miên Tông lên ngôi, tức vua Thiệu Trị, bà được phong làm Cung tân. Hai năm sau, năm 1843, được sắc phong làm Thành phi. Qua đầu năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), được phong làm Quí phi, rồi Nhất giai phi.
Ở nội cung, bà hết sức chăm lo nuôi dạy các Hoàng tử và các Công chúa, thường được ban khen.
Năm Thiệu Trị thứ bảy, 1847, nhà Vua bệnh nặng; chưa kịp sách lập cho bà làm Hoàng hậu thì vua mất.
Vua Tự Đức nối ngôi, nhiều lần ngỏ ý định tấn tôn cho mẹ, nhưng bà Từ Dũ nhất mực từ chối. Mãi đến ngày 15 tháng 4 năm Tự Đức thứ 2 (1849), nhân khánh thành cung Gia Thọ, bà mới thuận nhận tôn hiệu Hoàng Thái Hậu.
Tính nhân từ, vào dịp ngũ tuần, khi vua Tự Đức cùng đình thần dâng sớ khẩn thỉnh tấn tôn huy hiệu mỹ tự, bà dụ rằng: “…Ta đã được thiên hạ phụng sự, thì nên lo những việc thiên hạ đương lo. Năm nay chưa đều đặng mùa, nhân dân chưa đều được vui sướng, chính lúc Hoàng đế phải lo chăm, lòng ta nào nỡ thản nhiên. Vả lại tánh ta vốn kiệm ước chẳng chuộng phù hoa, không ngờ ngày nay hưởng được tôn vinh, ta thường e sợ, tu chỉnh chẳng rồi, huống chi còn gia thêm cho hư danh, để ta còn nặng cái lỗi thất đức hay sao? Vậy thì sớ thỉnh ấy nên bãi đi. Chỉ nguyện chư công và quần thần lo giúp chính trị giáo dục thế nào cho ta được thấy thạnh trị thái bình, thì không chi vui bằng…”
Lo lắng đến cuộc sống của nhân dân, bà thường hỏi vua Tự Đức về việc quan lại đắc thất và bảo ban những điều hết sức thiết thực về chính trị. Năm 1874, khi hay tin Pháp xâm chiếm toàn cõi Nam Kỳ và buộc Triều đình Huế ký hoà ước nhượng địa, bà bỏ cả ăn uống, mặt ủ mày chau theo vận nước ngữa nghiêng.
Tháng 6 năm 1883, vua Tự Đức mất, để di chiếu tôn bà làm Từ Dũ Thái Hoàng Thái Hậu.
Kinh thành thất thủ năm 1885, bà cùng với hai bà Hoàng Thái Hậu, và Hoàng Thái Phi, vợ vua Tự Đức, theo vua Hàm Nghi xuất bôn. Ra đến Quảng Trị, theo lời tâu của vua Hàm Nghi, bà và Lưỡng cung lại trở về Huế.
Vua Đồng Khánh lên ngôi, phong bà mỹ hiệu là Từ Dũ Bác Huệ Thái Hoàng Thái Hậu.
Ngày mồng 5 tháng 4 năm 1901, bà bệnh chung, thọ 93 tuổi; tôn thụy là Nghi Thiên Tán Thành Từ Dũ Bác Huệ Trai Túc Tuệ Đạt Thọ Đức Nhân Công Chương Hoàng Hậu.
Tài liệu: Nguyễn Huyền Anh. Việt Nam Danh Nhân Từ Điển, trang 520-522.
lost-dude
05-02-2003, 03:44 PM
Võ Thị Quyền
Tục gọi Cô Ba Bàn; vợ của nhà chí sĩ Trần Cao Vân. Một bậc nội tướng đắc lực, một đồng chí chân thành giúp đỡ chồng hoàn thành sứ mệnh cách mạng cứu quốc.
Người làng Đại Giang, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (trung Phần).
Đảm đang, trong những lúc cụ Trần Cao Vân bôn ba ở các tỉnh Bình Định, Phú Yên, bà theo chồng, chịu bao nỗi gian lao.
Theo vụ “Trung Thiên Dịch” chồng bị 3 năm tù khổ sai, bà cũng lãnh án 2 năm tù ở.
Những lần sau, khi chồng bị bắt, bà ở ngoài lo buôn bán tần tảo để tiếp tế cho chồng và nuôi nấng 2 con.
Sau khi cụ Trần Cao Vân lãnh án chém, gia sản bị tịch thu, bà đưa gia đìng vào sinh sống tại Bình Định.
Xẩy ra vụ treo cờ có ký tên con là Trần Cao Phong, bà cùng 2 con bị bắt.
Ở tù một năm, phải giao về Quảng Nam cho thân nhân lãnh nhận. Từ đó, bà về quê chồng ở làng Tư Phú sống quãng đời cuối cùng trong câu kinh tiếng kệ.
Tài liệu: Nguyễn Huyền Anh. Việt Nam Danh Nhân Từ Điển, trang 638-639.
lost-dude
05-03-2003, 12:06 AM
An Dương Vương
Hiệu xưng của Thục Phán, người khai sáng cơ nghiệp cho nhà Thục. Làm vua từ năm 257 trước Tây Lịch đến năm 207 tr. TL thì mất ngôi về Triệu Đà.
Sử chép: Năm 257 tr. TL, Thục Phán vì có thù cũ với Hùng Vương, nhân vua Hùng bỏ trễ việc nước chỉ lấy rượu mượn chè làm thú vui, mới đem quân đánh lấy nước Văn Lang, xưng là An Dương Vương, cải quốc hiệu là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khuê (nay thuộc huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên, Bắc phần); vào năm 255 tr. TL thì xây Loa thành.
Đến năm 208 tr. TL, An Dương Vương bị Triệu Đà, quan Ủy ở quận Nam Hải, dùng mưu giả kết nghĩa hoà thân để rồi đánh lấy nước Âu Lạc.
Bị đuổi chạy đến núi Mộ Dạ, tức trí cùng đường, An Dương Vương nhảy xuống sông tự tận.
Ở trên núi Mộ Dạ, gần xã Cao Ái, huyện Đông Thành, tỉnh Nghệ An có đền thờ An Dương Vương (tục gọi là Đền Công hay Đền Cuông, vì nơi đây chim công đến ở rất nhiều).
Hiện nay, Quân đội Việt Nam Cộng Hoà tôn An Dương Vương làm Thánh tổ ngành Công binh, lấy tích Ngài đã dùng trí lự tuyệt xảo để xây dựng thành Cổ Loa, kinh đô kiên cố đầu tiên của nước ta.
Tài liệu: Nguyễn Huyền Anh. Việt Nam Danh Nhân Từ Điển, trang 11.
___________________________________________
An Dương Vương. Vào đời Hùng Vương, có Thục Vương nước Tần muốn cưới Mị Nương nước Văn Lang nhưng khi đính hôn, bị vua Hùng khước từ. Vua Thục đem lòng oán hận và nhủ con cháu ngày sau kéo binh trả thù. Vào năm 258 tr.TL, đời vua Hùng Vương thứ mười tám, người cháu của Thục Vương tên Thục Phán biết được tình thế nước Nam nên đem quân sang đánh. Lúc bấy giờ vua Hùng Duệ Vương chỉ mê việc rượu chè trai gái, bỏ bê việc nước. Lại cậy rằng mình có quân đội cường dũng mà không lo phòng bị. Khi quân giặc đến cửa thành thì mới minh mẩn ra. Không thể chống thủ, vua Hùng đành chạy; bi quân giặc rược đuổi, Duệ Vương phải nhảy xuống giếng tự tử để giữ mình.
Năm 257 tr.TL, Thục Phán dẹp yên mọi nơi rồi, xung là An Dương Vương, cải quốc hiệu là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê (nay thuộc huyện Ðông Anh, tỉnh Phúc An). Hai năm sau là năm 255 tr.TL An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Thành ấy cao và từ ngoài thì xoáy trôn ốc, cho nên mới gọi là Loa thành (hiện nay vẫn còn di tích ở là Cổ Loa).
Khi An Dương Vương làm vua nước Âu Lạc bên này thì bên Tàu, vua Hỉ Hoàng nhà Tần đã nhất thống thiên hạ. Năm 214 tr.TL Hỉ Hoàng sai tướng là Ðồ Thư đem quân đi đánh nước Bách Việt (phần đất thuộc tỉnh Hồ Nan, Quảng Ðông và Quảng Tây bây giờ). An Dương Vương cũng xin thần phục nhà Tần. Nhà Tần mới chia nước Âu Lạc và Bách Việt ra thành ba quận, gọi là Nam Hải, Quế Lâm, và Tượng Quận, tức là hai tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây nước Tàu và Bắc Việt. Tuy vậy, người bản xứ không chịu để nhà Tần cai trị. Nhiều người trốn vào rừng ở. Ðược ít lâu quân của Ðồ Thư, vốn là người phương bắc, không chịu được thủy thổ, bị bệnh mất rất nhiều. Bấy giờ người Bách Việt mới thừa thế nổi lên giết được Ðồ Thư.
Chẳng bao lâu thì nhà Tần suy, nước Tàu có nhiều giặc giã, ở quận Nam Hải có quan úy là Nhâm Ngao thấy cơ hội, muốn mưu đánh lấy nước Âu Lạc để lập một nước tự chủ ở phương nam. Nhưng việc chưa thành thì Nhâm Ngao mất. Khi sắp mất, Nhâm Ngao giao binh quyền lại cho Triệu Ðà để thay mình làm quan úy quận Nam Hải.
Năm 208 tr.TL là năm thứ năm mươi đời vua An Dương Vương, Triệu Ðà đem quân sang đánh lấy nước Âu Lạc, lập ra nước Nam Việt.
Tục truyền rằng An Dương Vương xây Loa Thành, có những yên quái quấy nhiễu, xây mãi không được. An Dương Vương mới lập đàn lên cầu khấn, có thần Kim Qui hiện lên bày phép cho vua trừ những yêu quái đi, bấy giờ mới xây được thành. Thần Kim Qui lại cho An Dương Vương một cái móng chân, để làm cái lẫy nỏ. Lúc nào có giặc thì đem cái nỏ ấy ra bắn một phát, giặc chết hàng vạn người. Cái nõ ấy do Cao Lỗ vuốt nên.
Cũng nhờ có cái nõ thần ấy nên Triệu Ðà đánh không được An Dương Vương. Triệu Ðà dùng kết, cho con là Trọng Thủy sang lấy Mị Châu là con gái vua Thục, giả kết nghĩa hoà thân để do thám tình thực.
Trọng Thỉ lấy được Mị Châu rồi, hỏi vợ rằng, “Bên Âu Lạc có tài gì mà không ai đánh được?” Mị Châu nói chuyện cái nõ, và lấy cho chồng xem. Trọng Thỉ bèn lấy cái móng của Kim Qui đi, làm cái lẫy giả thay vào, rồi định về báo tin cho cha biết. Khi sắp đi, Trọng Thỉ hỏi Mị Châu rằng, “Anh về, mà lỡ có giặc giã đánh đuổi, thì rồi anh biết đâu mà tìm em?” Mị Châu thưa rằng, “Thiếp có cái áo lông ngỗng, hễ khi thiếp có chậy về đâ, thiếp sẽ lấy lông ấy mà rắc ra ở dọc đường thì rồi sẽ biết.”
Trọng Thỉ về kể lại với Triệu Ðà tình đầu mọi sự, Triệu Ðà bèn khởi binh sang đánh Âu Lạc. An Dương Vương cậy có cái nõ, không phòng lo gì cả, đến khi quân giặc đến gần chân thành mới đem cái nõ ra bắn, thì không thấy hiệu nghiệm nữa. An Dương Vương mới đem Mị Châu lên ngựa mà chạy về phía nam. Chạy đến núi Mộ Dạ (huyện Ðông Thành, tỉnh Nghệ An) gần bờ bể, vua thấy giặc đuổi kíp quá, mới khấn Kim Qui lên cứu. Kim Qui lên nói rằng, “Giặc đang ngồi sau lưng nhà vua đấy!” An Dương Vương tức giận quá, rút quân ra chém Mị Châu đi, rồi nhẩy xuống biển mà tự tận.
Tài liệu: Lệ Thần Trọng Kim. Việt Nam Sử Lược, (quyển I)trang 17-20.
lost-dude
05-03-2003, 12:07 AM
An Thuyên Đại Sư
Danh tăng đời Nguyễn. Tác giả bộ “Đạo Giáo Nguyên Lưu”, làm dưới đời vua Minh Mạng (1820-1840).
Tài liệu: Nguyễn Huyền Anh. Việt Nam Danh Nhân Từ Điển, trang 12.
lost-dude
05-03-2003, 12:14 AM
Âu Cơ
Vợ vua Lạc Long Quân thuộc họ Hồng Bàng, vua nước Xích Quỷ (tên nước ta vào thời lập quốc).
Theo truyền thuyết, bà sinh ra được 100 người con trai. Khi các con đã khôn lớn, theo lời Lạc Long Quân, bà đem 50 người con lên núi, còn 50 người giao cho chồng đem xuống định cư ở cùng đồng bằng. Câu chuyện đượm vẻ thần thoại huyền hoặc nhưng cắt nghĩa được nỗi đau đớn của dân Bách Việt, cùng một giống nòi, trước sự uy hiếp của Hán tộc, phải chia ly, đem nhau đi tìm đất sống.
Con của Lạc Long Quân và Âu Cơ sau này làm vua nước Văn Lang, xưng hiệu là Hùng Vương. Hùng Vương là tỵ tổ của dân ta.
Tài liệu: Nguyễn Huyền Anh. Việt Nam Danh Nhân Từ Điển, trang 13.
lost-dude
05-03-2003, 12:18 AM
Âu Dương Lân
Anh hùng kháng Pháp ở miền Nam hồi hạ bán thế kỷ XIX.
Khởi nghĩa tại Định Tường đồng thời với Thủ khoa HUân, thanh thế không kém lẫy lừng.
Phong trào chống xâm lăng lần hồi bị đàn áp. Khoảng tháng 4 năm 1860, ông bị tên Việt gian Trần Bá Lộc bắt được.
Tiếp đó, nhà ái quốc Âu Dương Lân đền nợ Nước bên bờ sông Mỹ Tho.
Tài liệu: Nguyễn Huyền Anh. Việt Nam Danh Nhân Từ Điển, trang 13.
lost-dude
05-03-2003, 12:30 AM
Bích Khuê (1916-1946)
Tên thật là Lê Quang Lương. Thi sĩ cận đại.
Sinh ngày 24-3-1916 tại làng Phước Lộc, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi (Trung phần). Làm thơ Đường luật từ năm 12 tuổi. Thơ đăng trên các báo “Tiếng Dân” (Huế), “Tiểu Thuyết Thứ Năm” (Hà Nội), “Người Mới” (Sài Gòn) với bút hiệu Bích Khuê hoặc Lê Mộng Thu.
• Thi phẩm: - đã xuất bản: “Tinh Tuyết” (1939); chưa xuất bản: “Tinh Hoa” (1938-1944); “Đẹp” (1939); “Ngũ Hành Sơn”; Mấy Dòng Thơ Cũ” và một thiên tự thuật: “Lột Truồng”.
Tài liệu: Nguyễn Huyền Anh. Việt Nam Danh Nhân Từ Điển, trang 16.
lost-dude
05-03-2003, 12:53 AM
Bốn Ông (Cai Lậy)
Tên gọi chung bốn vị liệt sĩ hy sinh vì Tổ quốc tại Cai Lậy (Nam phần).
Bốn vị ấy là Nguyên soái Thân Văn Nhiếp và các phó tướng tên Long, Đước và Rồng (không rõ họ).
Nhiệt thành yêu nước, gặp lúc người Pháp đặt bước xâm lăng tại miền Nam hồi hạ bán thế kỷ XIX, Bốn Ông phát khởi cuộc kháng chiến trong vùng Định Tường.
Nghĩa quân đặt căn cứ tại Cai Lạy, dưới quyền Nguyên soái Thân, nhờ sự phò tá đắc lực của các ông Long, Đước và Rồng, đi đánh phá nhiều nơi, đáng kể hơn hết là trận đột kích vào tỉnh thành Mỹ Tho ngày 1-5-1868 và trận tấn công đồi Cai Lậy vào đêm 24-12-1868.
Tuy nhiên, sau đó, bị quân Pháp và bọn tay sai ra sức dẹp trừ, Nghĩa quân phải tan rã. Bốn Ông bị tên Việt gian Trần Bá Lộc bắt sống và bị xử giảo tại chợ Cai Lậy.
Hiện nay tại Cay Lậy còn có mộ phần và đền thờ của Bốn Ông Thân, Long, Đước và Rồng.
Tài liệu: Nguyễn Huyền Anh. Việt Nam Danh Nhân Từ Điển, trang 18.
TruSiNang
05-05-2003, 03:50 AM
Người Dù Không Biết, Trời Ðà Biết Cho .
Là con người của bao trò chọc ghẹo, vì tính vốn không ưa trò đời nhí nhố, giả dối, với các quan lại bị ông đã phá là chuyện thường, nhưng ngay đến cả vua, ông cũng không từ. Chả là, hồi còn làm Doanh điền sứ, công lao của ông thật to lớn, nên khi ông đã về hưu, nhân dân hai huyện Tiền Hải, Kim Sơn có mời ông ra dự lễ khánh thành các sinh từ (đền thờ sống) ông và cúng cơm mới ngày mùa ... Ðó là năm Nhâm Tý, Tự Ðức thứ năm (1852) . Nhưng do bị xúc xiểm là có ý làm phản, ông bị vua Tự Ðức cho triều hồi về kinh. Thế rồi mất bao nhiêu thời gian, phải chờ cho triều đình tra xét, luận “tội” . Con người như ông từng được vua Minh Mạng đánh giá: “Hà Tôn Quyền giỏi mưu kế, Hoàng Tế Mỹ giỏi văn chương, Nguyễn Công Trứ giỏi chiến trận, trong triều không nên để vắng ba người ấy” . Ðã từng được vua Minh Mạng mời rượu, lại là loại rượu trân cam hiếm có, nhưng ông không thích nên ông vẫn từ chối, thì hẳn nhiên về gặp Tự Ðức trong tình cảnh bị nghi oan như vậy, làm sao Nguyễn Công Trứ không hậm hực, bực mình được ?
Trong buổi bệ kiến, vua hỏi:
- Ở hạt Kim Sơn, Tiền Hải, dân tình làm ăn thế nào ?
- Tâu bệ hạ, dân hai huyện ấy trăm họ thái bình, ngày chăm lo cày cấy, tối về đập lúa, hò hát vui vẻ, họ đặt ra nhiều câu hát đố hay lắm, thật tài tình .
Vốn là ông vua sính thơ hay chữ, Tự Ðức hỏi:
- Có câu gì hay không ?
- Tâu bệ hạ, cho phép thần được nói, như câu này :
“Ngả lưng cho thế gian ngồi
Chẳng ơn thì chớ, lại xiểm lời là bất trung”
Tự Ðức hỏi:
- Vậy cái đó là cái gì ?
- Tâu bệ hạ là cái phản (bộ ngựa) để nằm ạ .
Tự Ðức hỏi tiếp:
- Còn câu gì không ?
Tâu bệ hạ :
“Trên vì nước, dưới vì nhà
Người dù không biết, trời đà biết cho. ”
- Vậy nó là cái gì ?
- Dạ thưa nó là cái máng xối ạ .
Vốn biết Nguyễn Công Trứ là một lão thần khảng khái, và Tự Ðức cũng thừa hiểu là Nguyễn Công Trứ đang thanh minh về bị xúc xiểm, nhưng vua vẫn thử tài tiếp xem sao .
Nguyễn Công Trứ lại đọc:
“Một lòng vì nước mà thôi
Nắng mưa chẳng quản, đầy vơi không chừng.”
Vua hỏi:
- Ðó là cái gì ?
- Dạ thưa là cái bể cạn ạ !
Còn gì nữa không ? vua hỏi.
- Dạ thưa, cò nhiều câu hát ví hay lắm, hạ thần chỉ xin đọc vài câu thôi:
“Thật vàng chẳng phải thau đâu
Ðừng đem thử lửa mà đau lòng vàng. ”
“Vàng thì thử lửa thử than
Chuông đồng thử tiếng người ngoan thử lời”
“Bắc cân thiên tạo mà cân
Vàng thì nặng ít, ái ân nặng nhiều.”
Ðến đây thì vua đã quá hiểu rồi. Tự Ðức động lòng trắc ẩn, thấy thêm quí vị lão thần, nhà vua cảm thấy có chút gì đó ân hận dấy lên trong lòng ...
Chỉ đợi có thế, Nguyễn Công Trứ dứt điểm luôn:
“Chuông già đồng điếu chuông kêu
Anh giả lời nói em xiêu tấc lòng
Quốc sĩ vô cương là người Hàn Tín
Anh nỏ thương mình anh tới chi đây
Bốn bề rồng ấp lấy mây.”
Ngó thấy đại thần Trương Ðăng Quế đứng gần, con người lâu nay chỉ quẩn quanh chốn triều đình mà vẫn được nắm quyền cao chức trọng, Nguyễn Công Trứ đọc luôn bài đồng dao do mình sáng tác:
“Con mèo nằm bếp lo xo
Ít ăn thì lại ít lo, ít làm .
Con ngựa đi bắc, về nam
Hay ăn thì lại hay làm, hay lo.”
Ðám quần thần đứng chung quanh ớn cả người vì cái tánh cương trực của quan Kinh doãn trí sĩ Nguyễn Công Trứ, sau đó, vua còn sai người biếu cụ Trứ mấy nén bạc để làm lộ phí ra về.
Khi Nguyễn Công Trứ mất, Tự Ðức còn gởi đôi câu đối về để phúng điếu ông:
“Tả hữu nghi văn nghi võ
Tử sinh danh tướng danh thần”.
(theo Chu Trọng Huyến, sđd)
Nguyễn Công Trứ Ông Hoàng Hát Nói
Nguyễn Viết Ngoạn
lost-dude
05-08-2003, 04:24 PM
Ðời Hùng Vương thứ mười tám, nước ta có kẻ lỡ tay làm chết người, nên bị tội tử hình; nhưng vua Hùng thấy là người kỳ dị, mãnh dũng với thân hình to lớn khác thường và sức mạnh vô địch, nên không nỡ giết. Người ấy tên là Lý Thân, sử sách sau này gọi là Lý Ông Trọng; nguyên quán ở huyện Từ Liêm, quận Giao Chỉ.
Ðến đời An Dương Vương, Tần Thủy Hoàng muốn xua quân sang đánh nước ta, vua Thục bèn đem Lý Thân cống hiến cho vua Tàu để tránh việc giao binh. Thủy Hoàng được Lý Thân mừng lắm, liền phong làm Tư lệ Hiệu úy. Sau, vua Tần sai ông đem quân ra trấn Lâm Thao; quân Hung Nô (loài Mông Cổ) trông thấy hình thù Lý Thân, kiếp sợ, không dám quấy phá.
Tần Thủy Hoàng lại phong cho Lý Thân làm Vạn Tín Hầu rồi cho phép được về Nam thăm xứ sở.
Ít lâu sau, vì Hung Nô đến quấy rối ở biên thùy, vua Thủy Hoàng cho sứ sang Văn Lang vời Lý Thân. Lý Thân không chịu đi làm tôi mọi cho nước người một lần nữa, bèn bỏ trốn vào rừng. Thục Dương Vương phải nói dối là đã chết rồi... Tần đế đòi lấy cho bằng được xác Lý Thân. Bất đắt dĩ, Lý Thân phải tự tử.
Tần Thủy Hoàng được xác Lý Thân rồi, liền cho đúc đồng làm tượng đem dựng ở cửa thành Tư Mã, đất Hàn Dương, gọi là tượng Lý Ông Trọng. Hung Nô lầm tưởng Lý Thân còn sống, sợ oai mà không dám xâm nhập Trung Quốc.
Ðến đời Ðường, Triệu Xương sang đô hộ đất Giao Châu, có lập đền thờ Lý Thân ở làng Thụy Hương. Rồi khi Cao Biền quan đánh Nam Chiếu, cho trùng tu ngôi đền và tạc tượng để thờ gỏi là đền Lý. Hiệu úy của làng Thị Hiện, huyện Từ Liên, bên bờ sông Cái, cách thành Ðại La (Hà Nội ngày nay) về phía tây trên 50 dặm.
Sách Hồng Ðức Quốc Âm Thi Tập có bài vịnh Lý Ông Trọng như sau:
Tầm cả tầm cao chỉn xuất quần,
Khí thiêng quang nhạc cấu mười phân.
Phò nam dẹp bắc, tài văn võ,
Trấn nước dầy non sức quỉ thần.
Vòi vọi Thụy Hương, từ đã dựng,
Nhơn nhơn Tư Mã tiếng còn rân.
Chàng Cao, gã Triệu, chiêm bao tỏ,
Càng sợ An Nam có thánh nhân.
Tài liệu: Nguyễn Huyền Anh. Việt Nam Danh Nhân Từ Điển, trang 202-203.
lost-dude
05-08-2003, 04:34 PM
Thần Thoại Lạc Long Quân
Ngày xưa, sau khi dựng nên trời đất không biết bao nhiêu đời, vào thời thượng cổ, ở vùng châu thổ sông Hồng Hà, Việt tộc đã định cư tại đây, sinh hoặt bằng nghề làm ruộng theo nước thủy triều lên xuống và chài lưới. Hồi bấy giờ đất Lạc Việt có xuất hiện mộng thần tên gọi là Lạc Long Quân.
Tục truyền rằng Lạc Long Quân là cháu mấy đời của Thần Nông ở phía bắc núi Ngũ Lĩnh, con của Kinh Dương Vương, vua nước Xích Quỉ. Mẹ của Kinh Dương Vương là con gái thần núi Ngũ Lĩnh tức là bà Vụ Tiên. Kinh Dương Vương lấy con gái thần Ðộng Ðình Hồ, rồi sự phối hợp giữa trai Thần Núi và con gái Thần Nước sinh ra Lạc Long Quân. Con gái Ðộng Ðình Hồ vốn thuộc giòng tiên, nên con trai được di truyền nhiều tính chất của mẹ mà lấy hiệu là Lạc Long Quân, vốn tên thất là Sùng Lãm.
Lạc Long Quân lớn lên được Kinh Dương Vương cho cai quản đất Lạc Việt. Bờ cõi đất Xích Quỉ bấy giờ, phía bắc Ðộng Ðình Hồ ( Hồ Nam, Trung Quốc) , phía Nam giáp nước Hồ Tôn ( Trung Việt ngày nay ), phía tây giáp nước Ba Thục ( Lào ), phía Ðông giáp bể Nam Hải.
Theo sách Lĩnh Nam Thích Quái thì Lạc Long Quân tính ưa ở nước, và vùng đất Lạc là một nơi khí hậu không nóng quá, không rét quá, có nhiều sông ngòi, sát bờ bể, lại lắm cảnh vậy kỳ lạ, cầm thú dị thường. Lạc Long Quân đi về phía đông nam, đóng dọc theo mạn bờ biển.
Hồi bấy giờ dân cư ở miền duyên hải đang bị một con cá to lớn đã sống không biết bao nhiêu đời thành tinh phái hại khủng khiếp.Con Ngư Tinh này thường quanh quẩn ở trong vịnh Bắc Việt để gây tay họa cho người ta. Mìng nó dài ngoài năm mươi trượng, đuôi nó như một cánh buồm căng gió, miệng mỗi lần há rộng có thể nuốc một chiếc thuyền con. Nó lại có phép thuật biến hóa dị kỳ, mặc sức cho tung hoành chẳng ai làm gì nổi. Ngư tinh có tính thích a8n thịch người, đã có biết bao nhiêu kẻ sống ở về nghề chài lưới bị nó giết hại. Chỗ ở của nó là một cái hang lớn thông xuống đáy biển, bên trên là một dãy núi đá ngăn cách vùng duyên hải ra làm hai nơi. Ngư Tinh lấy đá lấp ngang làm cho eo biển hẹp lại.
Dân chúng đôi bên muốn qua lại với nhau phải đi thuyền theo con đường độc nhất đó, chứ vượt núi thì khó khăn hiểm trở, mà đi thuyền thì phải qua miệng con cá yêu nằm ở hang đá chực sẵn, đánh thấy hơi người thì là làm nổi sóng lên cho thuyền lật để ăn thịt.
Người ta kể lại răng đã có lần thần Trời xuống đục núi mở đường cho dân sự hai bên qua lại để tránh khỏi làm mồi cho Ngư Tinh. Con quái vật bèn hoá làm một con gà trắng bay lên ngọn núi gáy ba tiếng, làm cho thần Trời đang đào lối tưởng rằng trên Thie^n Ðình gọi nên bỏ dở công việc mà về trời. Dấu vết đục đá dở dang ở dẫy núi sừng sững ấy còn lại đến ngày nay, người ta vẫn gọi là đường Phật đào.
Khi Lạc Long Quân đến nơi, nghe kể chuyện tác hải của Ngư Tinh mới quyết ra tay diệt trừ. Thần bảo đóng một chiếc thuyền lớn, che rèn một khối sắt to nung đỏ rồi chèo đến phía cửa hang con thủy quái. Ngư Tinh quen thói há miệng ra chực đón mồi, không ngờ Lạc Long Quân liệng khói sắt nóng đỏ vào. Con quái vật chồm lên, điên cuồng chống trả, đánh lại Long Quân. Cuộc giao chiếc ác liệt giữa thần đất Lạc và con thủy tinh làm sôi nổi sóng gió, cuồn cuộn nước tung toé cả một vùng. Ðôi bên đánh nhau liên tiếp ba ngày đêm. Long Quân được Thần Biển giúp sức ngăn bão táp, lại chặn đường không cho Ngư Tinh thoái ra khỏi biển cả. Bị một khối sắt đỏ bất ngờ ném ngay vào cổ họng, lại phải tay địch thủ lợi hại, Ngư Tinh ban đầu còn vùng vẫy phản công dữ dội, nhưng rồi khí thế yếu dần, chống trả không xong toan kiếm đường chạy. Lạc Long Quân nhất thiết không tha, rượt theo chém chết Ngu6 Tinh, chặt ra làm ba đoản, máu đỏ ngầu cả một vùng biển. Khúc đuôi Ngư Tinh bị lột da căng lên một hòn đảo giữu biển, nay gọi là đảo Bạch Long Vĩ (Ðảo Ðuôi Rồng Trắng). Ðầu Ngư Tinh hoá làm con hải cẩu, bị Lạc Long Quân rượt theo chém chết, vứt đầu lên núi đá, nay còn gọi là Cẩu Ðầu Sơn (Núi Ðầu Chó). Ðoạn mình của Ngư Tinh bị sóng trôi dạt ra xứ Mạn Cầu ngày nay người ta gọi là Cẩu Mạn Cầu.
Trừ xong được Ngư Tinh o7̉ miền bể, Lạc Long Quân được dân chúng ở trong nội địa mời đến trừ một con quái vật khác, gọi là Cu6̣u Vĩ Hồ Tinh (con cáo chín đuôi).
Bấy giờ ở đất Long Biên (Hà Nội ngày nay) về mạn phía tây, sát sông Hồng Hà, có một hòn núi đá có hang sâu rộng người ta vẫn gọi là Lỗ hồ cống vì trong ở trong hang có một con con cáo chín đuôin chiếm giữ lâu ngày. Tục truyền rằng con cáo sống trên một nghìn năm, đã hoá thành tinh, có đủ phép biến hoá thành người, thành vật, thường trà trộn trong dân chúng để bắt đàn bà con gái đưa về trong hang hãm hiếp. Có khi con quái vật hoá ra quỷ trêu ghẹo cho người ta mắc bệnh đến chết. Dân sự lo sợ, hoang mang, vì Hồ Tinh thường lẫn lộn với người, phá rối đủ cách, khiến họ phải bỏ cả đai nhà cửa tránh xa các vùng ở gần hang nó. Thấy dân chúng càng sợ hải, Hô Tinh càng làm lộng thêm, tìm đến nơi người Mán ợ để phá quấy.
Có một bộ lạc người Mán bấy lâu vẫn sống yên ổn quanh vùng núi Tản Viên, dệt vải may một kể áo trắng riêng để mặn, nên người ta vẫn gọi là Mán áo trắng. Họ trồng lúa theo lối đốt rẫy làm nương, dùng lửa thế cày, sinh hoạt giữa một thiên nhiên màu mỡ nên đời sống thanh nhàn, sung sướng, thường vui chơi ca hát quanh năm. Hồ Tinh tìm đến, hoá làm người trai trẻ, hoạc con gái xinh tươi, trà trộn vào bộ lạc Mán aó trắng cùng ca hát, rồi quyết rũ người về hang bắt hầu hạ hay cưỡng bức cho đến chết. Sau dân chúng hạ bản, đến lượt người Mán phải khốn đốn vì con quái vật.
Lời ta thán của dân đến tai Lạc Long Quân, thần tìm đến động huệt Hồ Tinh. Thấy có người táo bạo đến hang, Hồ Tinh xông ra làm dữ, bị Lạc Long Quân chặn lại. Một cuộc giao chiến khủng khiếp diễn ra. Hồ Tinh giở các phép thuất biến hóa ra nhiều hình trạng toan hại đối phương, song gặp phải tay địch thủ cao cường, mưu trí, con quái vật biết không làm gì nổi, nên cuốc cùng đành bỏ chạy. Lạc Long Quân đã cho bao vây kín chạt quanh cửa hang, nổi lửa làm hàng rào chặn Hồ Tinh lại, dùng gươm sắt chém chết con quái vật, hiện ra nguyên hình là một con cáo to lớn có chín đuôi.
Những người bị Hồ Tinh bắt giữ trong hang được Long Quân giải cho về. Ðộng con quái thì bị bộ hạ của Thần dẫn nước sông Cái vào phái hủy. Nước tràn vào mấy ngày đêm soáy mạnh vào hang, đào sâu thành một cái hồ rộng, làm mất tích cả hòn núi đá. Người ta gọi nơi đó là Lỗ Hồ Ðàm (đầm Con Cáo) hay đầm thay Con Cáo về sau đổi là Hồ Tây (một trong những cái hồ lớn tại Hà Nội bây giờ).
Dân sự bấy lâu trốn nạn Hồ Tinh được gọi về ở trên khoảng đất cao cạnh hồ, trồng trọt làm ăn ở cánh đồng pha0̉ng bờ phía tây hô Con Cáo, ngày nay còn giữ tên là lang Hồ. Sau khi trừ xong hai con quái vật ở nước và ở đồng bằng , Lạc Long Quân lại nghe đến sự phái hại của một con yêu khái tại Phong Châu.
Nguyên nơi đây có một cây cổ thụ đã mấy ngàn năm, vô cùng to lớn, um tùm che khuất cả một vùng, gọi tên là cây Chiêu Ðàn. Sau một trận bão to cây bị trốc gốc, tinh cây biến thành một con yêu quái, khi ẩn, khi hiện phá phách khắp nơi. Người ta gọi tên nó là Mộc Tinh, thích bắt người ăn sống, giết hại dân gian vô kể.
Lạc Long Quân quyết ra tay trừ hại, song gặp phải Mộc Tinh phép thuật thần thông, đánh nhay mấy ngày đêm cũng không nao núng. Bộ hạ của Long Quân xông vào vào cũng không làm gì nổi Mộc Tinh. Thấy không thắng nổi yêu quái, Lạc Long Quân bèn cậy đến cha là Kinh Dương Vương. Gặp phải đối thủ cao cường hơn, Kinh Dương Vương lại có con trợ chiến, nên Mộc Tinh bị trong thương phải tìm đường bỏ chạy. Nó lê về phía tây nam rồi hóa thành quỷ, gọi là quỷ Xương Cuồng.
Quỷ Xương Cuồng ẩn náu trong rừng núi được ít lâu rồi lại quấy nhiễu dân chúng, rình mò đến các nơi hẻo lánh bắt người ăn thịt. Dân cư ở thượng du hàng năm phải lần lượt nộp mỗi nơi một người sống cho nó đỡ phá hại. Sau có một thầy pháp cao tăng bày kế mở một hội lớn làm trò cho quỷ đến xem, rồi thừa lúc bất ngờ rút dap chém chết.
Từ khi trừ được các mối hại cho dân, Lạc Long Quân đóng đô xuôi, bắt đầu xây dựng cung điện ở đất liền và dưới nước. Lạc Long Quân dạy dân cách ăn mặc, cày cấy, thường xuống ở Thủy Phủ, dặn về sau khi có việc gì thì cứ gọi: “Bố ơi, sao không đến dạy vẽ chúng con?” Long Quân tức thời đến ngay.
Bấy giờ Ðế Lai trị ở phương Bắc, vốn giòng dõi thần Nông, nhân dân thiên dạ thái bình, bè đi thăm nước Xích Quỉ ta ở phía Nam. Trong lúc Long Quân ở Thủy phủ, Ðế Lai để con gái yêu là Ău Cơ ở lạo rồi đi thăm các địa phương. Dân chúng phải khổ sở vì những nỗi nhiền nhiễu của người họ hàng phương Bắc của Lạc Long Quân, bè nhau to tiếng gọi: “Bố ơi ở đâu? Sao để cho chúa phương Bắc đến xâm nhiễu chúng dân?” Long Quân đến thấy Ău Cơ một mình ở hành tại, nhan sắc đẹp đẽ thì đem lòng yêu, Long Quân biến làm một chàng trai khoẻ đẹp, phong độ, hiện ra trước cửa, đàn hát tỏ tình cùng Ău Cơ. Ău Cơ trông thấy có cảm tình, vui theo. Lạc Long Quân đưa Âu Cơ về Long Trang, lâu đài xây trên một hòn núi đá cao đẹp.
Ðến khi Ðế Lai về không thấy Âu Cơ, sai bộ hạ đi tìm kiếm mọi nơi không được, đành trở vê phương Bắc.
Long Quân và Âu Cơ ở với nhau, cách một năm thì sinh ra được bọc trứng, nở ra một trăm người con trai. Lũ trẻ chóng lớn khác thường, khoẻ mạnh, trí dũng hơn người. Long Quân thường ở Thủy triều để Âu Cơ cùng các con sống trong điện trên đất. Xa chồng, Âu Cơ đâm ra nhớ quê cũ, bèn dẫn các con về thăm phương Bắc. Bấy giờ Ðế Lai đã bị Hoàng Ðế (vua nhà Hiên Viên 2700-2600) tiêu diệt. Nghe tin Âu Cơ đưa con trai tới bờ cõi, Hoàng Ðế sợ đến báo thù, bèn đem binh ra ra ngăn. Âu Cơ cùng các con quai lại phía Nam, gọi Long Quân đến.
Vợ chồng cha con gặp nhau ở đồng Cổn. Âu Cơ nói:
- Thiếp ăn ở cùng chàng, sinh được trăm đứa con. Nay chàng bỏ thiếp mà đi, khiến cho con không cha, vộ không chồng, chỉ tự bi thương mà thôi. Xin cho cùng theo chàng.
Long Quân nói:
- Ta thuộc giống rồng, nàng giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, người thích ở cạn, kẻ ưa ở nước, tính tình đôi bên khác nhau, không cùng đôi bên ở chung với nhau lâu được. Bây giờ một nữa con theo tôi về Thủy phủ, còn một nữa thì ở lại với nàng. Tuy ta đôi bên kẻ ở rừng, người ở biện, song khi có việc gì thì tin cho nhau, không được bỏ nhau.
Trăm con trai dều cùng nghe lệnh rồi chia tay nhau mà đi, năm mươi theo mẹ về núi, năm muơơi theo cha về biển, chia nhau cai quản các nơi. Tổ tiên của người Lạc Việt bắt đầu từ đó. Âu Cơ cùng năm mươi người con ở Phong Sơn, nay là huyện Bạch Hạc, cho người con trưởng làm vua, gọi là Hùng Vương, tức là thủy tổ của dân Việt Nam.
Tài liệu: Đỗ Văn Gia. Việt Nam Văn Học Sử, trang 40-46.
lost-dude
05-08-2003, 08:02 PM
Phù Ðổng Thiên Vương
Tục truyền rằng vào đời vua Hùng Vương thứ VI (Hùng Huy Vương), dân cư đang sống trong cảnh thái bình thì bổng giặc Ân từ phương Bắc vô cớ đem quân sang xâm lấn nước ta. Giặc Ân bên Tàu đây chỉ là một nước nhỏ trong số tám trăm nước ở Trung hoa lúc đó dưới thời Ðông châu liệt quốc. Vua Hùng bèn cho quan quân rao truyền khắp nước tìm nhân tài đứng ra chống giặc.
Ở làng Gióng, thuộc tỉnh Hưng Yên bây giờ, có vợ chồng nông dân kia, nghèo khổ, lam lũ nhưng sống rất hạnh phúc, chỉ có điều 2 vợ chồng có một mụn con trai tới nay đã được 3 tuổi nhưng vẫn chưa biết nói, biết cười, cả ngày chỉ nằm một chỗ mặc dầu vẫn khỏe mạnh nhưng rõ ràng là có vẽ như bị tật bẩm sinh, hoàn toàn không đi đứng được như trẻ con bình thường. Tuy nhiên hai vợ chồng vẫn tự an ủi rằng đó là số Trời cho sao thì chịu như vậy, không hề than vãn gì hết.
Ngày hôm có quan quân đến làng Gióng để chiêu mộ nhân tài, tiếng loa rao vang đầu ngõ là trong nhà hai vợ chồng nông dân bổng có sự lạ xảy ra. Ðứa trẻ, trước giờ không đi, đứng, nói, cười gì được bổng trở mình nói với cha mẹ bảo rước quan quân vào nhà cho cậu nói chuyện. Cha mẹ cậu bé sợ mất mật! Giỡn mặt với cửa quân đâu phải là chuyện đùa! Nhưng cậu bé cố nài mãi nên cha cậu đành nghe theo chạy ra đón quan quân lại kể câu chuyện và xin rước họ về nhà. Người dân trong làng, ai cũng biết cậu bé bị tật bẩm sinh, nay tự dưng biết nói chuyện mà còn nói một cách chững chạc nữa nên cũng góp lời, nài quan quân đi theo về nhà hai vợ chồng nông dân xem sao. Tới nhà, viên quan gặp cậu bé đang ngồi đàng hoàng trên chỏng tre giữa nhà, đợi mẹ dọn cơm ăn. Và khi bà mẹ bưng nồi cơm thường lệ cho hai vợ chồng lên thì cậu bé nói ít quá không đủ cho cậu ăn một mình. Thế là cậu ăn một hơi hết nồi cơm. Ðồng thời cậu còn lớn lên một chút sau nồi cơm đó! Thấy viên quân triều đình ở đó, cậu quay lại nói với ông ta là cậu cần một con ngựa sắt thật to, to hơn cả con trâu cổ trong làng để cậu cởi và một cây gậy cũng bằng sắt và cũng thật to (và dĩ nhiên rất nặng) to như cây cột đình làng Gióng vậy để cậu cầm ra đánh nhau với giặc! Nghe chuyện lạ tai, quan quân triều đình cũng lấy làm nghi kỵ lắm nhưng rõ ràng trước mặt, cậu bé vẫn còn than đói. Nhà không còn gạo, hai vợ chồng van xin hàng xóm thêm cơm, hàng xóm nấu com mang sang, mang bao nhiêu sang là cậu bé ăn hết sạch bấy nhiêu và qua mỗi nồi cơm là cậu lại to thêm lên. Quan quân triều đình vội về lo chuẩn bị đúc rèn ngựa sắt và gậy sắt cho cậu vì cậu bé cho biết giặc đã gấp rút như vậy sao còn cứ chần chừ?
Khi ngựa và gậy đã đúc xong đưa đến làng Gióng thì cậu bé 3 tuổi, không ăn nói gì cả hôm trước nay đã to lớn dình dàng. Cậu leo lên lưng ngựa sắt, tay cầm cây gậy nặng kinh hồn mà thúc vó ngựa. Ngựa sắt phun lửa ào ào, tung vó xông ra trận địa. Chỉ một trận đánh long trời là giặc Ân đã tan như xác pháo. Tàn quân giặc rút chạy về bên kia biên giới...
Giặc tan, cậu bé làng Gióng cho biết cậu là tướng Trời sai xuống để giúp nước, nay xong việc rồi thì cậu phải trở về chầu Trời, sau khi lạy cha mẹ cậu để cám ơn dung dưỡng cậu 3 năm, cậu cởi ngựa sắt, cầm gậy sắt bay thẳng lên Trời và biến mất. Tục truyền ngày cậu về Trời là ngày mồng 9 tháng 4 và dân ta tôn xưng cậu là Thánh Gióng hay là Phù Ðổng Thiên Vương ( tướng nhà Trời xuống giúp nước )
TruSiNang
05-12-2003, 01:22 PM
Các nhà quân chính khi làm một việc gì lớn lao thường phải lo giảng luận vấn đề danh nghĩa. Tuy có binh lực mạnh trong tay nhưng nhiều lúc họ vẫn e ngại dùng dằng, sợ cái cái sự xuất vô danh ra quân không có gì danh nghĩa, thẹn mặt với dư luận đương thời, đắc tội với sử sách ngàn thu .
Danh nghĩa dễ nhận thức, nhất là Ðại Nghĩa Dân Tộc. Kẻ thù đến xâm chiếm đất nước mình, mình có bổn phận phải đánh đuổi bọn nó đi. Còn như đánh nổi hay không thì đó lại là một việc khác. Vấn đề được đặt ra là dám làm hay không dám làm. Ðại sự trong thiên hạ không có gì lớn hơn việc đánh đuổi quân xâm lược .
Thực dân pháp xâm lược nước ta. Năm 1862, chúng đã nuốt được ba tỉnh Miền Ðông. Chưa thỏa mãn túi tham. năm 1867, chúng nuốt luôn ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên ở Miền Tây nữa. Thế là mất trọn 6 tỉnh Nam Kỳ !
Những người yêu nước bừng bừng nổi giận. Trong số ngưòi dám nổi giận này có một gã dân chài. Và gã đã lập được hai chiến công làm vinh rạng rỡ sử sách
Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên điạ
Kiếm bạt Kiên Giang khốc quỷ thần !
Nghĩa là: ngọn lửa hồng ở vàm Nhật Tảo làm nổ chiến thuyền Espérance của giặc, tiếng nổ vang dội đến Chợ Lớn còn nghe. Lưỡi gươm sáng loáng vung lên ở kiên giang, quỷ thần cũng phải kinh hoàng gào khóc !
Hai chiến công này làm cho lịch sử Việt Nam sống động hẳn lên . Thiệt là những chiến công vô song mà sử sách đã được vinh hạnh ghi chép. Vận nước gặp hồi truân chuyên, ít nhất cũng phải có một quốc sĩ dám vùng lên. Vùng lên, giáng cho quân thù những đòn quyết liệt rồi có chết cũng cam tâm. Người dân chài - quốc sĩ ấy là Nguyễn Trung Trực .
Ngày 17-6-1868 (Năm Mậu Thìn, 27 tháng 4 nhuận) thiếu tướng Ohier đem quân đi tàn sát Miền Tây. Ðến Sóc Trăng, nghe tin dân chúng sắp khởi nghĩa, thiếu tướng vội vàng sai người báo tin cho quân Pháp hay. Nhưng đã trễ rồi !
Ðêm ấy, Lâm Quang Ky xuất phát từ Tà Niên (xã Vĩnh Hoà Hiệp quận Kiên Thành) do đường biển sang Rạch Gía phối hợp với quân của xã Tấn ở Hòn Chông dưới sự chỉ huy của Nguyễn Trung Trực. Kết quả trận kỳ tập: 5 sĩ quan Pháp, 67 binh sĩ địch bị giết, chỉ có một lính Pháp chạy trốn, sống sót là Du Pleissis .
Nghĩa quân làm chủ tình hình Rạch Giá được ba ngày .
Ðến ngày 21, Pháp đem lực lượng hùng hậu từ Vĩnh Long xuống, mở trận phản công .
Lâm Quang Kỳ rút lui về vùng Kim Quy (Cà Mâu) Nguyễn Trung Trực rút ra Phú Quốc .
Pháp đem tàu Le Goelaud chở 125 lính mã tà đổ bộ lên Hàm Ninh. Tên việt gian, Huỳnh Công Tấn buộc dân làng phải làm hướng đạo cho chúng truy kích nghĩa quân. Bị giặc bao vây và hết lương thực, Nguyễn Trung Trực đành phải chịu nạp mình để cho giặc đắc thắng rút lui. Một số nghĩa quân nhờ đó mà trốn thoát, duy trì ngọn lửa chiến đấu...
Ngày 27.10.1868, Nguyễn Trung Trực bị Pháp hành quyết ở Rạch Giá .
Cái chết của vị anh hùng tuẫn quốc này gây một mối xúc cảm sâu xa trong lòng dân chúng. Mặc dầu sống dưới chính quyền thuộc địa, dân chúng vẫn bí mật tìm cách thờ phụng Nguyễn Trung Trực như ở đình Vĩnh Thanh Vân (Rạch Giá). Người quốc sĩ – dân chài được dân thờ chung với Nam Hải tướng quân (danh hiệu cá voi theo tín ngưỡng miền biển).
Lại có đền thờ ở làng Vĩnh Hoà (Vĩnh Hoà Hiệp) nữa .
Cúc Nông Tiên Sinh có bài thơ tứ ngôn ghi lại sự tích và chiến công:
Ủy bỉ ngư nhân
Hùng tai quốc sĩ!
Hỏa Nhật Tảo thuyền,
Ðồ Kiên Giang lũy,
Ðịch khải đồng cừu,
Ðam đam Bạch Quỷ!
Cổ miếu lâm lưu,
Chương ngã trung nghĩa!
Chúng tôi phỏng dịch như sau:
Thương kẻ dân chài,
Mạnh thay quốc sĩ
Nhật tảo đốt thuyền,
Kiên Giang phá luỹ.
Thề với lòng son .
Ðuổi quân Bạch Quỷ
Miếu cũ nhìn sông
Rạng lòng trung nghĩa .
Ngọn lửa chiến đấu được chuyển sang tay Quản Hớn ở Hóc Môn, Ðỗ Thừa Tự ở U Minh, Trần Văn Thành ở Thất Sơn .
Toàn những tấm gương phấn dũng làm rạng rỡ sử sách. Tưởng niệm những anh hùng tuẫn quốc là nhiệm vụ của tất cả chúng ta .
Nguyễn Quang Trứ
Truyện Hay Trong Sử Việt
BungRieu
05-13-2003, 09:47 AM
Nguyễn Thái Học
Không Thành Công Thì Thành Nhân
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/ngthoc.jpg
Trước cơ nguy tan rã vì khủng bố của thực dân Pháp, VIỆT NAM QUỐC DÂN ÐẢNG quyết định khởi nghĩa với hy vọng nhờ đó giữ vững được lửa đấu tranh trong lòng người dân. Tại hội nghị Võng La ngày 26/01/30 đưa đến quyết định sinh tử đó, Nguyễn Thái Học, chủ tịch Ðảng, đã động viên các đồng đội mình bằng một câu để đời: "Chúng ta không thành công thì thành nhân, có gì mà ngần ngại".
Câu nói đã trở thành một di ngôn lịch sử.
Nó cũng là đề tài luận bàn không riêng cho giới chính trị. Tuy nhiên, cho tới nay, người ta chỉ xoay quanh việc khai triển ý nghĩa của câu nói. Thế nào là "thành công", thế nào là "thành nhân"? Trong tình thế bó buộc, nên chọn thành công hay thành nhân ? Trong điều kiện nào thì "thành công" phải được ưu tiên ? Có người vượt khỏi mạch nghĩa thông thường bào chữa rằng chữ "nhân" ở đây không có nghĩa là "người" mà là "nhân tố", "hạt mầm", nghĩa là theo họ, không thành công thì cũng trở thành một "hạt mầm" để người sau ươm tiếp, noi theo.
Dù diễn dịch thế nào đi nữa thì trong con mắt mọi người xưa nay, Nguyễn Thái Học, ngoài tấm gương yêu nước, đã đi vào lịch sử với mẫu mực đạo lý "thành nhân" đó.
Ðã không ai nhìn ra, hoặc để ý đến con người xã hội của nhà cách mạng trẻ. Nói khác đi, đã không ai đặt câu hỏi cái gì đã thôi thúc Nguyễn Thái Học trong cơn nguy biến thốt ra tư tưởng đó.
Khi động viên, hẳn ông muốn nhắc nhở các đồng chí của mình về đạo sống của người quân tử. Nhưng cách phát biểu di ngôn kia đồng thời cũng nói lên tâm tư ông một tâm tư bị dằn vặt trước hai con đường "thành công" và "thành nhân", kết quả của hai nền giáo dục truyền thống và tân học giao nhau vào thuở đó. Không riêng họ Nguyễn, mà cả thế hệ đồng thời với Ông, sinh ra trong khoảng đầu thế kỷ 20, đều cùng trong một hoàn cảnh giao thời đầy thách đố và cùng mang nỗi thao thức chung với phát biểu kia, có thể nói, cũng là phản ảnh tâm trạng chung của cả thế hệ đương thời.
Mẫu mực của hai nền giáo dục
Năm 1917 là năm toàn quyền Albert Sarraut cải cách giáo dục, xóa hẳn nền nho học vẫn song hành bên cạnh chương trình "Pháp-Việt". Chương trình của Sarraut chấm dứt năm 1945, nhưng tinh thần của nó trên thực tế vẫn ảnh hưởng mãi trên các chính sách giáo dục về sau này. Ðặc điểm của cái học mới nầy là phần đức dục bị đẩy xuống thứ yếu. Cả nền nho học, có thể nói, là một bài đức dục. Tiêu đích của nó là "đạt nhân quân tử", nói khác đi, là đào tạo con người trở thành kẻ sĩ (Kẻ sĩ không đồng nghĩa với Nho sĩ. Nho sĩ là người học nho, còn Kẻ sĩ là người đạt lý tưởng sống của đạo nho). Kẻ sĩ có thể văn võ chưa toàn, nhưng đức độ phải vẹn. Trước khi bước ra "trị nước, bình thiên hạ" kẻ sĩ phải hoàn thành "tu thân", nghĩa là phải "thành người" trước đã. Thành người để giúp đời (tiếc rằng "đời" nầy đã bị tống nho bẻ cong thành "vua chúa"), nên gương đạo lý cho người, ấy là cùng đích của kẻ sĩ. Với lý tưởng đó, kẻ sĩ sẵn sàng hy sinh mạng sống (sát thân thành nhân) cho giá trị mình theo đuổi.
Bị đối phương săn đuổi, Chúa trịnh Tông lưu lạc vào một vùng đất lạ gặp Lý Trần Quán. Quán trước đây là viên quan nhỏ trong triều. Tông nuốn nhờ Quán hộ vệ ra khỏi địa giới. Quán không rõ đường nên nhờ người học trò là Trang thay mình hộ vệ Chúa. Nhưng Trang phản, thay vì dẫn Tông thoát, lại mang về nộp cho địch. Quán hay tin, tìm tới Trang mắng trách: "Chúa là chúa chung thiên hạ, mà ta là thầy mày. Nghĩa cả vua tôi sao mày nỡ thế? Trời ơi, tôi giết chúa tôi, trời có biết không". Khi Trang đưa Tông ra kinh, Quán quay về sai chủ trọ mua cho mấy thước vải trắng, sắm cho một cỗ áo quan đặt xuống huyệt thuê người đào sẵn. "Bề tôi làm cho nhỡ vua, tội đáng phải chết. Nếu ta không chết, thì cái bụng ta vẫn không tỏ được với trời đất". Nói rồi, với mũ áo chỉnh tề, Quán bước xuống nằm trong quan tài và sai chủ trọ đậy nắp quan, lấp đất (xem Ngô Thời Chí: Hoàng Lê Nhất Thống Chí, 1969, trang 90 tt). Ðó là chuyện xa. Gần hơn, có Nguyễn Cao.
Tán Cao khởi nghĩa bị thực dân bắt. Chúng dụ hàng, Cao từ chối rồi cắn lưỡi, lấy miểng sành rạch bụng moi ruột chết. Bài thơ trước khi chết:
Sống mà đắm chìm trong vòng dê chó
Thà chết đi cùng trời đất đi về
Ðừng vội lấy con mắt ngày nay mà định giá những hành động trên. Dù sao, những cái chết thật nhẹ nhàng, thanh thản, đương nhiên. Chết vì trung, vì nghĩa.
Nếu phải chọn giữa hai giá trị, kẻ sĩ không ngần ngại "thành nhân". Nguyễn Thông kể:
Sau khi nghe Trương Ðịnh dựng cờ, Hồ Huấn Nghiệp đến hội kiến. Trở về nhà thì gặp bạn là Hài. Hài hỏi: "Trương Ðịnh khởi nghĩa, hào kiệt tới đông như vậy, không biết việc có thành không?". Nghiệp trả lời: "Hễ làm việc nghĩa, không kể thành bại." Nguyên tắc nầy là nguyên tắc sống của Nghiệp. khi lên máy chém của thực dân, Nghiệp ung dung đọc bốn câu thơ, câu đầu: "Kiến nghĩa minh cam dũng bất vi". (Kẻ sĩ cốt tranh lấy nghĩa, hễ thấy nghĩa thì mạnh dạn làm). Lịch sử cận đại ghi biết bao thí dụ khác. Nho học cuối thời Hậu Lê và dưới thời Nguyễn đã tha hóa. Dù vậy nó vẫn là lò sản xuất những tấm gương kẻ sĩ lưu truyền sử sách.
Bước vào nền giáo dục mới, đạo lý vắng bóng. Cái học của các toàn quyền, và cả về sau, không còn chú trọng "thành nhân". A. Sarraut hô hoán mục tiêu giáo dục của mình là nhằm đào tạo một thế hệ vừa tài (homme de science) vừa đức (homme de bien). Nhưng chủ đích thực sự của ông ta là hướng tới sản xuất những tay sai nữa nạc nữa mỡ "d'autant collaboratrice que francisce" (vừa hợp tác vừa Pháp hóa) (Feray, Le Vietnam au XX Siècle, Paris 1979, trang 109). Sản phẩm của nền học mới, mà ta gọi là tân học, không còn gọi là "nho sĩ", mà là "trí thức". Trí thức chủ yếu là người có nhiều kiến thức hoặc chiếm được học vị cao, nói tắt lại là người có "tài". Thế thôi, Còn "đức", đối với họ, không bó buộc vì chẳng còn thuộc nội dung giáo dục. Ðích của trí thức không phải là "đạt nhân", mà là thành công vật chất. Khác với nhà nho hành xử theo đạo trung dung, dựa trên mẫu mực quá khứ và chọn lựa ưu tiên theo tiêu chuẩn đạo đức. Căn bản hành động của Trí thức là hoàn toàn tự do, hướng về thành quả tương lai, thúc đẩy bởi tư lợi và dựa trên tính toán hơn thiệt. Tóm lại, lý tưởng của Trí thức là thành công. Xã hội ngày nay kính trọng Trí thức vì nghĩ họ là mẫu mực tiếp nối Kẻ sĩ ngày trước. Trong khi đó tác phong đạo đức của đa số Trí thức xem ra bất cập, dù rằng nhờ vốn kiến thức họ vẫn chiếm được chỗ cao trong xã hội.
Một hành vi tính toán thành công tiêu biểu là việc Nguyễn Ái Quốc bán Phan Bội châu cho Pháp năm 1925. Trong "Việt Nam Niên Biểu" (viết Khoảng năm 1929) Cụ Phan nghi cho thơ ký mình là Nguyễn Thượng Huyền (cháu của Nguyễn Thượng Hiền) phản bội. Trên một bài báo năm 1960, Huyền phản lại mối nghi đó. Theo Vương Thúc Oánh và Lâm Ðức Thụ (cả hai đều là thân tín của Quốc, tức Hồ Chí Minh), Thụ là đồng phạm với Quốc trong vụ buôn bán đó nên đã bị bỏ rọ dìm xuống sông Thái Bình năm 1949 vì họ Hồ muốn giữ bí mật cho riêng mình. Sỡ dĩ Hồ hành động như vậy là vì muốn triệt hạ uy tín của cụ Phan không cùng chí hướng và là lực cản đường tiến thân của Hồ: "Cụ Phan ái quốc thật nhưng đã quá già, đầu óc khó hấp thụ những trào tư tưởng lưu mới" (lời của Hồ). Trào lưu tư tưởng nào ông Hồ muốn nói tới? Cuối năm 1920, dưới lá cờ đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn Tất Thành đưa tay tuyên thệ hiến hết thân mình cho Quốc tế vô sản, thề sống chết cho cuộc đấu tranh giai cấp. Cùng lúc đó tại Trung Hoa, họ Phan từ chối làm tay sai cho Cộng sản quốc tế.
Thách đố của một thế hệ
Nguyễn Thái Học sinh năm 1902. Năm lên bốn, bắt đầu thụ giáo Hán văn tại nhà một cụ Tú. Lúc 11 tuổi, Ông bỏ bút lông chuyển sang bút sắt khi nhà nước thiết lập trường tiểu học Pháp việt tại phủ Vĩnh Tường. Năm 20 tuổi, vào Cao đẳng Sư phạm, sau đó sinh viên trường Cao đẳng Thương mại. Như vậy, cho tới ngày nghị hội Võng La, cả tuổi thanh xuân của ông tắm gội trong dòng tân học. Ảnh hưởng tân học với mẫu mực "thành công" lẽ ra như vậy phải giữ phần ưu thế trong tâm tư ông. Nhưng những suy nghĩ và lựa chọn của ông cũng như các đồng chí (tân học) của ông, trái lại, cho thấy giá trị Nho học vẫn còn thắng thế. Do đâu? Hẳn là bởi môi sinh tinh thần của thế hệ Nguyễn Thái Học vẫn còn thấm đượm không khí Nho giáo. Dù rằng tân học lúc đó đã thắng thế trong học đường và trên đường tiến thân, nhưng cuộc sống xã hội nói chung vẫn còn bị trói buộc bởi các giá trị truyền thống.
Thế hệ Nguyễn Thái Học là thế hệ tân học đầu tiên. Thế hệ bị vần vũ trong xung khắc của hai nền giáo dục giao thời, biểu tượng cho sự xung đột của hai nền văn hóa Ðông Tây. Trận chiến văn hóa này đã xuất hiện nơi một số minh nho thuộc lớp nho học cuối cùng trước đó, với những Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Lương Văn Can, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng... mà ta gọi là thế hệ "Duy tân". Các giá trị xã hội mới như dân chủ, dân quyền, bình đẳng, tân học, tự cường, dân trí, học nghề thực dụng... đã thắng thế trong tâm tưởng của những nhà nho duy tân.
Báo "Tribune Indochinoise" (1907, trang 1368) ghi lại: "Khi nghe nhà nho duy tân Trần Tấn Bình nói chuyện về chế độ dân chủ ở Pháp và khả năng áp dụng tại Việt Nam, các thính giả phấn chấn đến nỗi nhào lên xé nát tấm áo ngoài của ông, chia nhau mỗi người một mảnh giữ làm kỷ niệm"! Ðó là vào năm 1907, chuyện xảy ra tại Thái Bình, ông Bình vừa du lịch Pháp về. (Xem thế, dân chủ đã là thao thức nóng bỏng ngay từ đầu thế kỷ, chứ không phải như mấy lão ông ở Ba đình quẫn trí khư khư rằng Việt Nam không cần dân chủ!). Thực ra mặt trận duy tân thời đó không dễ dàng như buổi nói chuyện trên đây. Song đã vô cùng gay go, phải trả giá bằng máu (Cờ Ðộc Lập Phải Nhuộm Bằng Máu, Hoa Tự Do phải Tưới Bằng Máu: Di ngôn của Nguyễn Thái Học).
"Theo mới hoàn toàn theo mới". Với khẩu hiệu đó, Tự Lực Văn Ðoàn - thế hệ trí thức đầu tiên sống sót sau biến cố khởi nghĩa 1930 - đã đưa cuộc đấu tranh giữa Mới và Cũ tới dứt điểm. Lực lượng bảo thủ từ đây bị đẩy vào hậu trường, Ðất nước khoác bộ mặt mới với sự thắng thế của giá trị mới. Trong trận chiến văn hóa hồi đầu thế kỷ, đã có một phân công vô hình giữa hai thế hệ bản lề. Vua Duy Tân công phá cơ cấu vĩ mô, nghĩa là tấn công tầng lớp vua quan, phá vỡ vòng vây ý thức hệ phong kiến và mở ra nhận thức mới. Tự Lực Văn Ðoàn đi vào lùng dịch trong cơ cấu làng xã, gia đình, các hủ tục xã hội. Không có đợt sóng Duy Tân, nỗ lực của Tự Lực Văn Ðoàn hẳn đã không dễ dàng thành công. Bỏ ngoài một vài yếu tố tiêu cực có tính cách phụ thuộc ra, nhờ hai cuộc vận động Duy tân và Tự lực mà một "tân Việt Nam" (Phan Bội Châu) đã hình thành; đất nước bừng tỉnh sau cơn mê ngàn năm để bước vào thời đại tân tiến. Ngày hôm nay, phải có vận động nào đây với thế hệ lãnh đạo để đưa đất nước thoát khỏi vòng vây "phong kiến biến tướng" (Hà Sĩ Phu) để ngẩng mặt với thế giới?
Tuy thoát thai từ hai nền giáo dục khác nhau, lớp minh nho cuối mùa và thế hệ tân học đầu tiên vẫn còn mang nhiều đặc tính chung: yêu nước, theo mới và nhất là trên bình diện đạo sống làm người. Lý tưởng quân tử vẫn là mẫu mực chưa suy chuyển nơi họ. Những cuộc sống gương mẫu, những cái chết uy dũng của họ đã minh chứng điều này. Rút kinh nghiệm thất bại của phong trào Cần Vương, thế hệ Duy Tân đã bắt đầu thao thức về giá trị "thành công". Vì thế mà họ đã đổi chiến thuật đấu tranh để thắng lợi. Nhưng thao thức kia chưa trở thành một cuộc đấu tranh tư tưởng nơi các cụ. Bởi vì truyền thống Kẻ sĩ không cho phép đặt ra vấn đế lựa chọn nầy. Nhưng, với thế hệ tân học sau các cụ. "thành công" đã trở thành vấn nạn ray rứt đòi hỏi phải có quyết định.
Và quyết định đó là di ngôn của Nguyễn Thái Học thốt ra trong căng thẳng tận cùng của tâm trí. "Không thành công thì thành nhân", nghĩa là "thành nhân" vẫn ưu tiên, vẫn thắng. "Anh em ở lại nhé... Chúng tôi đi trả nợ nước đây", lời trối vang lên từ ngục thất Hỏa lò trong đêm bị thực dân mang đi hành hình ở Yên bái đã cụ thể hóa lý tưởng thành nhân của ông và của cả thế hệ thanh niên đương thời.
Thách đố cho mọi thời đại
Lý tưởng thành nhân của thế hệ Nguyễn Thái Học, tiếc thay, đã không còn giá trị nữa nơi các thế hệ tiếp nối về sau. Hơn nữa thế kỷ qua người Việt đua nhau mải mê chạy theo con đường thành công, tưởng đó là con đường của "đỉnh cao trí tuệ": thực tế, đúng đắn, văn minh, chắc chắn nhất đưa nước đi lên. Tiêu biểu là người Cộng sản hằng tự hào với phương châm "mục đích biện minh cho phương tiện" của họ. Phải thành công bằng mọi giá kể cả giá vô nhân. Họ phê phán và khinh khi những cái chết Yên báy là "lãng mạn", "tiểu tư sản", "vô ích". Nhưng đất nước trong tay thành công của họ đã không khá hơn, mà trái lại càng ngày càng phá sản.
Hôm nay thực tế đất nước tang thương bắt ta đặt lại vấn đề. Nhận định lại thách đố và chọn lựa của thế hệ cha ông. Thành công hay thành nhân? Câu hỏi của gần 70 năm trước vẫn mới, vẫn nhức nhối cho thế hệ hiện nay. Và có lẽ cả cho mọi thế hệ tương lai Việt Nam.
Thành công hay thành nhân???
Không có gì mang lợi cho tha nhân mà lại không khỏi đi từ căn bản thành người, căn bản mà một Nguyễn Trãi đã thể hiện với "chí nhân", Phan Bội Châu qua tấm lòng "vì dân", Nguyễn Thái Học nơi tâm vọng "thành người".
Nếu Anh Chị nào muốn tìm hiểu thêm về Việt Nam Quốc Dân Đảng thì xin vô đây
Việt Nam Quốc Dân Đảng (http://vnqdd.org/index.htm)
Phạm Hồng Lam
danden
05-28-2003, 08:49 PM
Xin có lời ca ngợi Bạn Bún Riêu ! Mục này rất hay và vô cùng ý nghĩa chưa có Forum nào thực hiện được
Tuổi trẽ tài cao !
Già Tui lại lần nữa ! xin gửi vài lời ca ngợi !
Dân Ta phải biết sử Ta !
BungRieu
06-06-2003, 10:26 AM
Chào Bác danden,
Mong Bác tha lỗi , BR dạo này bận học thi nhiều lắm
nên mãi cho đến nay mới vào đây để hồi âm cho Bác đây .
Cám ơn Bác đã quá lời khen, Thiệt ra là BR chỉ tải đăng những tài
liệu mà các Anh Chị khác cho BR mà thôi ...
Cháu thích đọc sử VN mình lắm ... Cha Ông mình đã hy sinh
bao xương máu đế tạo nên mảnh đất thân yêu đó ...
Vậy mà bọn họ (CSVN) đã bán nhượng cho ngoại bang ...
Cháu sẽ viết thêm về vấn đề này ...sau kỳ thi này
Chúc Bác và các Anh chị cuối tuần vui mạnh ...
lost-dude
06-06-2003, 02:12 PM
Good luck with the exams, BR. I'm very proud of you too. :) :dance: :)
BungRieu
06-11-2003, 04:31 PM
Danh Ngôn Việt Nam
Tôi muốn cỡi cơn gió mạnh , đạp luồng sóng dữ, chém cá Hải kình ở biển Ðông, quét sạch bờ cõi để cứu dân ra khỏi nơi đắm đuối, chớ không thèm bắt chước người đời cúi đầu cong lưng để làm tỳ thiếp người ta - [Triệu Thị Trinh = Bà Triệu ...]
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,
Gieo thái sơn nhẹ tựa hồng mao. - [Đoàn Thị Điểm ]
Ngồi yên đợi giặc không bằng trước hãy đem quân ra phá thế mạnh của giặc- [Lý Thường Kiệt]
Ðầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo - [Trần Thủ Ðộ]
Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã - [Trần Quốc Tuấn]
Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc - [Trần Bình Trọng]
Phá cường địch, báo Hoàng ân ( Giết giặc mạnh , đền ơn Vua) - [Trần Quốc Toản ]
Ðại trượng phu sinh ra ở đời để phò nguy cứu khổ lưu tiếng lại nghìn năm, chớ đâu để làm tôi tớ cho người - [Lê Lợi]
Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây - [Nguyễn Trung Trực]
Chỉ có Không đầu tướng quân chứ không có Ðầu hàng tướng quân - [Mai Xuân Thưởng]
Tay dơ lấy nước rửa, Nước dơ lấy Máu rửa - [Vua Duy Tân (lúc 7 tuổi) ]
Chặt đầu Tây, tứ hải thái bình - [Vua Thành Thái]
Sống không phải là ký sinh trùng của thế gian, sống để mưu đồ một công cuộc hữu ích gì cho đồng bào tổ quốc - [Phan Chu Trinh]
Không thành công thì thành nhân - [Nguyễn Thái Học]
Thơ Văn Yêu Nước
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lổ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành đã định tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bây sẽ bị đánh tơi bời
[Lý Thường Kiệt]
" ...Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
Như nước Ðại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc nam cũng khác.
Từ Triệu, Ðinh, Lý Trần, bao đời gây nền độc lập,
Cùng Hán, Ðường Tống, Nguyên, mỗi bên hùng cứ một phương
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có..."
[Nguyễn Trãi - Bình Ngô Ðại Cáo .]
"...Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa. Chỉ căm tức rằng: chưa xả thịt lột da moi gan uống máu quân thù, dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng nguyện xin làm ..."
[Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn - Hịch Tướng Sĩ ].
"Đánh cho được để tóc dài
Đánh để cho được nhuộm răng đen
Đánh cho nó chích luân bất phản
Ðánh cho nó phiến giáp bất hoàn
Ðánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ"
[Vua Quang Trung - Nguyễn Huệ]
Ðoạt sáo Chương Dương độ
Cầm Hồ Hàm Tử Quan
Thái bình tu trí lực
Vạn cổ thử giang san ...
Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên nổ lực
Non nước này nghìn thu .
[Thượng Tướng - Trần Quang Khải]
Hoành sáo giang san cáp kỷ thu
Tam quân tỳ hổ khí thôn ngưu
Nam nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu .
Vạch giáo non sông trải mấy thu
Ba quân khí mạnh nuốt sao Ngưu
Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu ...
[Phạm Ngũ Lão]
" ... Quốc thù vị phục đầu tiên bạch
Kỹ độ long tuyền đới nguyệt ma"
Thù trả chưa xong đầu đã bạc
Dưới trăng mấy độ tuốt gươm mài
[Ðặng Dung]
Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông
- Nguyễn bá Học - [TuDoi - Sưu Tập ]
Đã làm trai sống trong trời đất
Phãi có danh gì với núi sông .
- Nguyễn công Trứ - - [TuDoi - Sưu Tập ]
Dù đui mà giữ đạo nhà
Còn hơn có mắt ông cha không thờ .
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Ðâm mấy thằng gian bút chẳng tà .
[Nguyễn Ðình Chiểu - Ngư Tiều y thuật vấn đáp]
...Anh hùng nhược ngộ vô dung địa
Bảo hận thâm cừu bất đái thiên.
...Anh hùng gặp phải hồi không đất
Thù hận chang chang chẳng đội trời
[Nguyễn Trung Trực - Tuyệt mệnh ca]
Ta đã về đứng bên bờ Pắc Nậm.
Mặc heo may quấn quít hồn cố hương,
Thấm hàng cây lấp ló những ven tường.
Hòa làn khói mơ màng bao nhớ ước.
Cách dòng nước ta là người mất nước,
Nước non ta, ai ngăn trở ta về?
[Lý Đông A ....]
================================================================
Mỗi lời thơ của Cha Ông ta sao thống thiết quá, ... nghe như tiếng chim Quốc gọi nửa đêm,... giống từng mũi kim đâm sâu vào tim, ... như từng hạt cát rơi vào sâu trong mắt của những người có quê hương mà đã mất quê hương ...
**** Phần Danh Ngôn VN này sẽ được update nếu BR có thêm tài liệu ****
lost-dude
07-06-2003, 11:42 AM
Thi xong chưa nề bé BúngRiêu? :)
TimCT
08-28-2003, 11:12 AM
Bạch Hoa
Có sách chép là Ngọc Hoa, con gái Hùng Vương thứ XVIII, nổi tiếng sắc nước hương trời. Nhân vật gây nên cuộc "tranh hôn kết oán" trong thời Văn Lang.
Huyền sử truyền rằng:
Gần bờ cõi Văn Lang có người của bộ lạc do Thục Phan lãnh đạo có lần đến cầu hôn con vua Hùng mà không thành. Gã cố oán, khi sắp mất dặn lại cháu Thục Phán phải đánh lấy nước Văn Lang, rửa hận.
Đồng thời, có Nguyễn Tùng là nhân vật lỗi lạc ở ẩn trên ngọn núi Tản Viên cũng đến cầu hôn. Lại có một thanh niên anh tuấn ngụ ở ven biển đến cầu hôn nữa.
Hùng Vương chẳng biết chọn ai, bèn giao hẹn:"Ngày mai ai đưa đủ lễ vật quí giá đến trước thì gả con cho".
Nguyễn Tùng y hẹn đến trước và dâng lễ vật trọng hậu, Bạch Hoa vâng mạng vua cha theo Nguyễn Tùng về núi. Chàng trai ở biển nổi nóng, đánh phá dữ dội.
Câu chuyện tranh hôn kết oán trong đời Hùng Vương thứ 18 này, huyền sử gọi là chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh.
Cuộc tình duyên của Bạch Hoa, chẳng những khiến hai chàng trai ở biển và ở núi sinh thù gây biến, mà họ Thục cũng oán. Do đó nước Văn Lang mất về tay Thục Phán vào năm Giáp Thìn 257 trước công nguyên.
Sửa đổi: Angie 4/1/2002 12:22:48 AM
lost-dude
11-14-2003, 11:44 AM
(1746 – 1803)
Hàng năm con dân nước Việt kỷ niệm chiến thắng Ðống Ða oanh-liệt (xuân Kỷ-Dậu 1789) mà chúng ta không nhắc đến bậc đại-trí Ngô-Thì-Nhậm đã đóng góp những ý-kiến mang giá-trị chiến lược trong thời Tây-Sơn, quả là một thiếu sót lớn.
NHÀ KHOA-BẢNG
Tên thật của ông là Ngô Thì Nhậm, nhưng vì húy kỵ, đời Nguyễn đã đọc sai tên ông thành Ngô Thời Nhiệm. Ông sinh sinh ngày 11 tháng 9 năm Bính Dần (25/10/1746) tại làng Tả-Thanh-Oai, huyện Thanh-Oai, nay là thôn Tả-Thanh-Oai, xã Tả-Thanh-Oai thuộc huyện Thanh-Trì, tỉnh Hà-Ðông (Hà Nội).
Ông là trưởng nam của nhà thơ kiêm sử-gia Nhị-Thanh Ngô-Thì-Sĩ thời lê mạt (1726 – 1780) và còn là một danh sĩ đất Bắc-Hà ham mê đạo Phật.
Lúc nhỏ, Ngô-Thì-Nhậm theo học với cụ tổ là Ðan-Nhạc Ngô-Trân, đến 15 tuổi theo học với cha. Ông sớm nổi tiếng là người rất thông minh. Mới 16 tuổi dưới sự hướng dẫn cuả cha, ông bắt đầu đi vào con đường viết sử. Ðến năm 1765, ông thi Hương đỗ Giải-Nguyên đúng 19 tuổi. Bốn năm sau, ông đỗ đầu khoa Sĩ-vọng được triều-đình bổ chức Hiến-sát Phó sứ Hải-Dương. Rồi năm 1775 đời Lê-Hiển-Tông, ông đỗ Tiến-sĩ đệ-tam-giáp cùng với em rể là Phan-Huy-Ích, đươc thuyên bổ chức Ðốc-đồng (phụ trách việc hình sự) Kinh-Bắc và Thái-Nguyên.
Năm 1779, ông được thăng Ðông-các hiệu-thư, Hán-lâm-viện hiệu-thảo.
Trên bước đường hoạn-lộ, Ông không những đánh giặc giỏi mà còn là một vị quan thanh-liêm, chánh-trực khiến Chúa Tĩnh-Ðô-Vương Trịnh-Sâm rất quý trọng. Kiến thức rộng-rãi, chính xác của ông qqua những đề nghị cải-cách kinh tế, hành chánh và quân sự đều được Chúa tin dùng.
Thời đó, vua Lê không co thực quyền, hầu hết thực lực cai trị quớc-gia đều ở trong phủ Chúa Trịnh-Sâm. Ngay như cha của ông đang làm Ðốc-trấn Lạng-Sơn cũng bị Huy-quận-công Hoàn-Ðình-Bảo bức-bách, trù ếm và cách chức; ông chán nản cũng xin cáo quan. Nhất là sau khi chúa Trịnh-Sâm mất, Thăng-Long thành rơi vào cảnh loạn kiêu-binh (1782) vì vụ quân Tam-phủ phế Trịnh-Cán, lập Trịnh-Tông (Tùng); cuộc đời Ngô-Thì-Nhậm lại đi vào một khúc quanh, ông phải lẩn trốn về quê vợ ở Sơn-Nam, tỉnh Thái-Bình để lánh nạn 6 năm trời.
BẬC ÐẠI TRÍ.
Khi ra Bắc lần thứ hai vào đầu tháng 5 năm 1788 để trừ Vũ-Văn-Nhậm, Bắc-Bính-Vương Nguyễn-Huệ thu phục được Ngô-Thì-Nhậm, Phan-Huy-Ích, Ninh-Tốn, Nguyễn-Bá-Lân...Riêng Ngô-Thì-Nhậm được Nguyễn-Huệ hết sức ái mộ khi mời hợp tác với câu: “Có lẽ ý trời muốn để dành ngươi cho ta dùng”, và được phong ngay chức Tả-thị-lang Bộ-lại, tước Tình-phái-hầu cùng với các võ tướng Ðại-tư-mã Phan-Văn-Sở, Nội-hầu Phan-Văn-Lân, Ðô-đốc Nguyễn-Văn-Tuyết ở lại Bắc-Hà lo việc cai quản và bình-định toàn dân. Ngay khi tìm được minh chủ, không những cá-nhân Ngô-Thì-Nhậm dâng hiến cả cuộc đời mình cho Nguyễn-Tây-Sơn mà ông còn động-viên bè-bạn góp công sức vào việc xây dựng triều-đại này. Sự cống hiến đầu tiên về chiến-tranh chính-trị của ông khi giữ chức Tả-thị-lang ít được ai biết đến, trong thời gian mà tinh-thần chiến đấu của đạo quân giải-phóng Tây-Sơn đang chiếm đóng Thăng-Long bắt đầu suy sụp vì hầu hết phải sống xa gia đình, nhớ quê hương. Ði đâu người lính đàng trong cũng nghe dân chúng kinh thành còn hoài vọng nhà Lê, ngâm nga Chinh-phụ-ngâm của Ðặng-Trần-Côn và Ðoàn-Thị-Ðiểm làm nhớ nhà não-nuột. Trước tình hình quân sĩ muốn đào ngũ như vậy, Ngô-Thì-Nhậm đã phối hợp với Ðại-Tư-mã Sở cho phát động rầm-rộ chiến-dịch “ kể chuyện tiếu lâm có giải thưởng trong quân ngũ Tây-Sơn” (Nhiều chuyện tiếu-lâm ý nhị thâm trầm về Thạc-quận-công Hoàng-Phùng-Cơ xuất phát từ bối cảnh này được truyền khẩu đến ngày nay). Phản đòn đúng thời điểm, Ngô-Thì-Nhậm đã giữ vững lại tinh-thần chiến đấu của quân đội xa nhà và ông đáng được coi là ông tổ của môn “chuyện vui quân ngũ”.
Ðến cuối năm, trước thế lực hung-hản của quân Mãn-Thanh ào ạt tràn qua biên giới, Ngô-Thì-Nhậm đề nghị các tướng rút quân về đèo Tam-Ðiệp (đèo Ba-Dội) để bảo toàn lực-lượng đồng thời làm cho giặc tăng thêm tính khinh địch, kiêu căng, chờ vua Quang-Trung ban lệnh tổng phản công. Tại Phú-Xuân, Vua Quang-Trung nhận định: “ Thoạt nghe quân rút về Tam-Ðiệp, ta đoán là mưu của Ngô-Thì-Nhậm. Người có tài tùy cơ ứng biến đưọc ta đặt đúng chỗ, thật không lầm”.
Việc rút quân có tầm chiến lược quan trọng là để toàn dân nhìn thấy bộ mặt phản quốc, cõng rắn cắn gà nhà của Lê-Chiêu-Thống mà đồng tâm hợp sức chống ngoại xâm. Như vậy, ông đã tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc tiến binh tốc-chiến tốc-thắng đánh tan quân Thanh của Quang-Trung Hoàng-Ðế vào mùa xuân Kỷ-Dậu 1789.
Sau xuân Ðống-Ða oanh-liệt, Nhô-Thì-Nhậm được giao trách nhiệm tiến hành kế hoạch ngoại giao với Thanh triều kiêm nhiệm luôn Thượng-thư Bộ-binh (Bộ trưởng quốc phòng) và Tổng-tài Quốc-sử-quán (Biên soạn Việt-sử).
Văn tài uyên-bác, địch-vận thâm sâu của ông khiến Vua Càn-Long phải khâm phục và nể trọng vua quan nước Việt nên bỏ ý định hưng binh trả thù.
Tháng 8 năm 1792, Vua Quang-Trung đột ngột băng-hà. Ngô-Thì-Nhậm đau khổ đại diện triều đình đi sứ lần thứ ba qua Yên-Kinh báo tang. Trên đường về nước, ông buồn bã ghé thăm lầu Hoàng-Hạc (Tọa lạc trên bờ Ðộng-Ðình-Hồ, thành phố Vũ-Xương, tỉnh Hồ-Bắc). Phong cảnh hữu tình, bài thơ tuyệt-tác Hoàng-Hạc-Lâu của Thôi-Hiệu đề trên vách, thần tượng Tây-Sơn đã vĩnh-viễn ra đi ...Tất cả rung cảm này cấu tạo thành bài phú Ðăng Hoàng-Hạc-Lâu mà ông sáng tác với điệp ngữ “CHỪ” thật độc-đáo:
“ Rửa danh lợi, chừ lòng tục,
Vẳng tiếng hạc, chừ xa xa.
Người tiên kia, chừ im lặng,
Ta tự hiểu, chừ lòng ta ”
Sau này tài năng và sở học của ông không được Vua Quang-Toản tin dùng. Tình hình chính sự thời Cảnh-Thịnh lại suy đồi vì những lục-đục tranh quyền-bính giữa các quan nên năm 1798 Ngô-Thì-Nhậm cáo quan về mở thiền-viện Trúc-Lâm để thuyết giảng đạo Thiền.
Năm 1802, Nguyễn Ánh đánh bại Tây-Sơn chiếm được Thăng-Long. Vì nóng lòng được nhà Thanh phong Vương sớm, Nguyễn-Ánh muốn đích thân lên tận cửa Nam-Quan nhận lễ cầu phong, gọi ông vào trong trướng hỏi ý. Ngô-Thì-Nhậm trả lời việc Vua nước Nam đến cửa Nam-Quan xin phong là điều chưa từng nghe nói từ trước tới nay. Nguyễn-Ánh xấu hổ, lệnh cho Ðặng-Trần-Thường đánh ông trước Văn-Miếu Hà-Nội đến chết, ngày 26 tháng 2 năm Quý-Hợi (9/3/1803), thọ 57 tuổi.
Phải chăng những câu thơ mang chữ “ CHỪ ” trong bài phú Ðăng Hoàng-Hạc-Lâu của ông đồng nghĩa với câu lúc ông bị làm nhục:
“ Gặp thời thế, thế thời phải thế ”
Thảm kịch xảy ra kết liễu cuộc đời anh hùng Ngô-Thì-Nhậm làm hậu thế xót xa, tiếc nuối một thiên tài và nguyền rủa bạo quyền chiến thắng không biết quý trọng giá trị con người.
TRƯỞNG LÀNG VĂN HỌC TÂY-SƠN
Ngô-Thì-Nhậm, tự Hy-Doản ( hy vọng làm nên việc lớn để đời như Y-Doản ), hiệu Ðạt-Hiên là bật kỳ tài về chữ Hán lẫn chữ Nôm trong nhiều lãnh-vực văn học, chính trị, triết học, quân sự, sử học, đồng thời với Phan-Huy-Ích, Ninh-Tốn, Nguyễn-Huy-Lượng, Ðoàn-Nguyễn-Tuấn, Cao-Huy-Diệu, Ngọc-Hân Công-chúa, Vũ-Huy-Tấn đều là những văn tài trong thời kỳ Tây-Sơn. Nhưng một mình Ngô-Thì-Nhậm, với những trứ-tác của ông cũng đủ tiêu-biểu cho cả nền văn học Tây-Sơn.
Ông viết rất nhiều đủ mọi thể loại từ thơ phú đến chiếu biểu cho Quang-Trung Hoàng-Ðế, từ văn-từ chính trị ngoại giao lẫn kinh-kệ và triết học về giáo lý Phật, Nho.
Ngoài khối lượng trứ-tác lớn-lao như vậy, Ngô-Thì-Nhậm còn là một khuôn mặt tiêu biểu cho những sắc thái tiến bộ nhất của dân tộc.
Những cống hiến của ông cho đất nước làm chúng ta liên tưởng đến một bậc anh hùng dân tộc 360 năm về trước là Ức-Trai Nguyễn-Trải.
Tác phẩm của Ngô-Thì-Nhậm bi thất truyền khá nhiều nhưng cũng còn lại một khối lượng lớn chưa được giới thiệu sâu rộng với đời sau như:
· Ðại-Việt sử ký tiền biên ( do phụ thân ông khởi soạn ).
· Hàn các anh hoa.
· Hy-Doản thi văn tập.
· Bang giao hảo thoại.
· Xuân thu quản kiến.
· Trúc-Lâm tông chỉ nguyên thanh.
· Công vụ hành thư.
· Thánh triều hội giám.
· Thủy vân nhàn vịnh.
· Kim mã hành du.
· Ngọc đường xuân khiếu.
· Hoàng hoa đồ phả ( hay Sứ trình thi họa ).
· Cẩm đường nhàn thoại.
· Thu cận dương ngôn.
Nhứt-Bảo-Bình
Sydney, tháng 11 năm 2002
Tài liệu tham khảo:
1- Việt Nam sử lược của Trần-Trọng-Kim.
2- Việt sử toàn thư của Phạm-Văn-Sơn.
3- Việt sử xứ đàng trong của Phan-Khoang.
4- Quang-Trung Nguyễn-Huệ, anh hùng dân tộc của Hoa-Bằng.
5- Việt Nam danh nhân tự điển của Nguyễn-Huyền-Anh
6- Quân sử Việt Nam ( Quyển II phần Trịnh Nguyễn phân tranh ).
7- Lịch sử nội chiến ở Việt Nam của Tạ-Chí Ðại-Trường.
8- Ngô-Thì-Nhậm, bậc đại trí thời Tây Sơn của Nguyễn-Thức.
9- Các nhà khoa bảng Việt Nam của nhà xuất bản Văn-học.
10- Tự hào là người Việt Nam của Cao-Thế-Dung.
openbsd
11-14-2003, 11:25 PM
Theo mi`nh ddo.c sa'ch li.ch su+? du+.ng nu+o+'c Vie^.t Nam thi` mi`nh ca?m tha^'y Ngo^ Quye^`n la` ngu+o+`i gio?i nha^'t, vi` Ngo^ Quye^`n la` ngu+o+`i dda^`u tie^n sau ho+n 1000 na(m bi. le^. thuo^.c nha` Ha'n dda~ bi. dda'nh tha'o cha.y xu't qua^`n... gia`nh la.i ddo^.c la^.p cho da^n to^.c Vie^.t la^`n dda^`u tie^n. Ma('.c du` co' ra^'t nhie^`u cuo^.c kho+?i nghi~a kha'c nhu+ Hai Ba` Tru+ng, Mai Thu'c Loan, Phu`ng Hu+ng, Du+o+ng Thanh, Khu'c Thu+`a My~, vv.. nhu+ng nhu+~ng cuo^.c kho+?i nghi~a chu+a ddu+o+c hoa`n toa`n tha`nh co^ng thi` dde^`u bi. gia(.c Ha'n de.p ddi sau 1 tho+`i gian nga(n. Nhu+ng Ngo^ Quye^`n thi` kha'c, o^ng dda~ dda.i tha('ng trong tra^.n Ba.ch DDa(`ng, cha^'m du+'t tho+`i ky` le^. thuo^.c Trung Quo^'c, mo+? dda^`u cho tho+`i ky` tu+. chu? trong li.ch su+? cu?a da^n to^.c Vie^.t Nam.
lost-dude
11-15-2003, 07:55 AM
Mình cũng đồng ý với openbsd về điểm trên. Tuy Ngô Quyền dành lại độc lập cho nước nhà, nhưng nhà Ngô thì quá ngắn ngủi nên không tạo nên một sự ảnh hưởng lớn trong lòng người dân, tỉ dụ như về mặt kinh tế, an ninh... Khác với nhà Hậu Lê - triều đại đã dành lại độc lập (Lê Thái Tổ) và canh tân đất nước về nhiều phương diện (Lê Thánh Tông) - nên Ngô Vương Quyền và triều đại nhà Ngô không có một sự ảnh hương mãnh liệt trong dân gian. Nhưng xét về công, thì như bạn đã nói, ông ta là người có công lớn nhứt vì trước ông chưa ai đã từng làm được như vậy. Nhưng mà, hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi; không có ngày lễ giỗ toàn quốc nào cho Ngô Quyền cả; chỉ có một vài nơi ngoài bắc cúng viếng ở lăng đền của ngài thôi.
LD và vài ACE trong này có bàn về địa vị của Ngô Quyền, bạn vào cái page sau để đọc:
http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&threadid=47392&highlight=Ng%C3%B4+Quy%C3%AA%CC%80n
lost-dude
04-01-2004, 11:47 AM
Lê Khôi là một vị tướng biên phòng tài giỏi thời vua Lê Nhân Tông, từng có công dẹp yên phản loạn, trấn giữ biên thùy ở đất Châu Hóa xưa. Đền Chiêu Trưng Đại Vương ở Cửa Sót (Hà Tĩnh) được nhân dân lập nên để thờ ông cũng là một ngôi đền nổi tiếng với kiến trúc và cảnh quan hài hòa.
Lê Khôi người làng Lam Sơn (Thanh Hóa), là con anh thứ hai của vua Lê Thái Tổ. Sử ca ngợi: "Ông là người độ lượng, nhân hậu và nhã nhặn, ít nói, ít cười, từng theo vua Thái Tổ đi đánh dẹp, lập được nhiều công lao".
Năm 1430, vua thấy thế nước mới ổn định, đất Châu Hóa thường có người quấy rối, bèn sai ông cầm quân đến trấn thủ biên cương. Khi vừa tới, ông bãi trạm gác, bỏ xét hỏi nghiêm ngặt, chỉ chăm chiêu mộ những dân lưu tán, khuyên bảo làm ruộng, trồng dâu, huấn luyện quân sĩ, giữ yên bờ cõi. Đường biên ngày một yên ổn, đức vọng của ông vang lừng, vượt ra khỏi biên giới.
Biên thùy yên ổn được hai năm thì lại có lực lượng gây rối, vua Lê Nhân Tông sai Tư đồ Lê Thận, Đô đốc Lê Xí đem binh đi đánh, đồng thời sai ông đem quân trấn đi tăng viện, chỉ một ngày dẹp yên. Năm 1433, ông lại cầm quân đi trước, quân triều đình hậu ứng, dẹp yên phản loạn. Đang ca khúc khải hoàn dọc đường, ông lâm bệnh nặng, qua đời ở chân núi Long Ngâm, cửa biển Nam Giới (tức Cửa Sót, Hà Tĩnh ngày nay).
Nghe tin buồn, vua lập tức bãi triều ba ngày, tăng phong ông lên chức Nhập nội Đô đốc, sau truy tặng Nhập nội kiêm hiệu Tư không bình chương sự, tên thụy là Vũ Mục Công.
Sau khi chôn cất ông, dân Châu Hoan vô cùng thương xót, lập đền thờ ngay nơi mất. Do được vua tiến phong tước vương nên đền thờ ông thường được gọi là đền Chiêu Trưng Đại vương.
Ở xứ Nghệ xưa nay có câu: "Cờn, Quả, Bạch Mã, Chiêu Trưng". Đó là bốn ngôi đền nổi tiếng, quy mô to lớn và có giá trị nghệ thuật nhất vùng. Nằm ở sườn phía nam ngọn Long Ngâm, đền tướng quân Lê Khôi được người xưa dựng theo lối tiền miếu, hậu lăng (trước đền thờ, sau lăng mộ). Ngay sát bến đá nơi cửa sông là tam quan với hai cột nanh đường bệ, phía trên có nghê chầu. Qua tam quan, men theo thế núi 23 bậc đá là vọng lâu.
Mặt tiền tầng trên của vọng lâu có bức đại tự: "Chiêu Trưng Đại vương" bằng chữ Hán. Trên các cột trụ của vọng lâu khắc nhiều câu đối ca ngợi công lao và uy danh của ông (tạm dịch): Trăng sáng chiếu soi khắp vũ trụ/ Đất lưu uy phục cùng núi sông. Và: Đức dày tiếng thơm ghi sử sách/ Phúc yên lưu dấu thấm nhân dân... Gần điện thờ là hai nhà bia đối xứng nhau. Bia bên tả khắc bài thơ thất ngôn luật bằng chữ Nôm của vua Lê Thánh Tông ban tặng:
Dẹp yên tám cõi mới buông tay
Rờ rỡ thai sinh một đóa mây
Tể tướng bếp tàn mai lạnh vạc
Tướng quân dinh trắng liễu chau mày
Phong lưu phú quý ba đời thấy
Sự nghiệp công danh bốn bể dày
Thương ít tiếc nhiều khôn kể xiết
Miếu đường nào biết cột nào thay
Bia bên trái là bức hoành phi vua ban bốn chữ Nam Thiên Tuấn Vọng (Đức cả trời Nam).
Đền tướng quân Lê Khôi gồm ba tòa: thượng, trung, hạ, được dựng hoàn toàn bằng gỗ với nghệ thuật chạm trổ đạt đến mức điêu luyện. Bên cạnh các bức chạm lộng các đề tài truyền thống như tứ linh, bát bảo, lưỡng long chầu nguyệt, lưỡng long tranh châu... là các đề tài mang đậm phong cách dân gian như vũ nữ, tiên, hạc, đánh cờ, mục tử...
Những đường nét tinh tế, uyển chuyển và bố cục phóng khoáng, gợi mở làm cho các bức chạm sống động và rất có hồn. Ở thượng điện có pho tượng tướng quân tạc bằng gỗ trầm hương rất đẹp, đường nét tinh tế, trang nhã, người chiêm ngưỡng có thể hình dung ra ông vừa uy nghiêm, vừa phúc hậu.
Lăng mộ của ông ở phía sau thượng điện, đã yên vị ở đây ngót 600 năm. Sau hương án là lối vào, có lưỡng hổ chầu hai bên tả hữu, hai bên cột nanh khắc câu đối: Yên chức hào kiệt/Chiến tích anh hùng.
Tuy nhiên, cái đẹp của đền thờ tướng quân Lê Khôi không chỉ ở các đường nét kiến trúc mà còn ở sự hài hòa giữa các công trình kiến trúc, không gian kiến trúc và cảnh quan thiên nhiên.
Theo thế núi, không gian kiến trúc của ngôi đền cao dần, dẫn khách thập phương đến ngưỡng vọng và ngắm cảnh.
Ngọn Long Ngâm có dáng đầu rồng cúi đầu uống nước biển Đông, mặc cho quanh năm bạc đầu sóng vỗ. Sông Hoàng Hà (sông Sót) quanh năm ra vào chảy mãi cho thế gian giao hòa với biển cả.
Ở chốn phong ba hùng vĩ ấy, đền tướng quân Lê Khôi trầm mặc, thấp thoáng trong rừng xanh để quanh năm ngắm non trông bể, lắng nghe âm thanh của tạo hóa, hòa âm cùng sóng biển với gió rừng. Trải qua đạn bom của chiến tranh, khắc nghiệt của khí trời, ngôi đền thờ vị tướng biên phòng uy danh một thuở đã hư hỏng khá nhiều, phải xây đi, sửa lại mấy bận nhưng niềm tin và lòng biết ơn của nhân dân đối với bậc Anh hùng cứu quốc, chăm dân thì còn mãi mãi.
THÁI BÌNH
_______________________________________
Attachment: Cổng lên đền tướng quân Lê Khôi.
lost-dude
07-14-2005, 05:33 PM
Trạng nguyên Lương Thế Vinh là người chế ra bàn tính gẩy đầu tiên ở nước ta. Ông quê ở thôn Cao Hương, huyện Thiên Bản (nay là thôn Cao Phương, xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Ðịnh).
Năm 23 tuổi, ông đỗ Ðệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên) khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận 4 (1463) (*) đời Lê Thánh Tông. Làm quan đến chức Hàn lâm viện Thị giảng, Chưởng viện sự, Nhập thị kinh diên, Tri Sùng văn quán. Phàm các văn thơ, từ lệnh bang giao với nhà Minh đều do ông soạn thảo. Tiếng tăm lừng lẫy Trung nguyên. Sinh thời, không sách nào ông không đọc.
Từ bé, Lương Thế Vinh nổi tiếng thần đồng, Vinh học rất mau thuộc, mau hiểu, mà chơi cũng rất tài tình. Cậu thích thả diều, câu cá, bẫy chim cùng với lũ trẻ chăn trâu. Diều của Vinh thường lên cao hơn, hình dáng cũng rất lạ, vừa giống "cánh thoi" lại vừa giống "cánh tiên", Vinh làm hẳn một bộ sáo diều to nhỏ bốn chiếc, khi diều thả lên, tiếng trầm xen lẫn tiếng bổng rất du dương vui tai, người lớn trẻ em cũng say mê lắng nghe.
Dân chúng ca ngợi Trạng nguyên Lương Thế Vinh và gọi ông là Trạng Lường vì ông không chỉ giỏi về văn học mà còn giỏi toán, ông đã có nhiều phát minh khoa học ứng dụng vào đời sống. Ông đã soạn cuốn "Ðại thành toán pháp". Mở đầu cuốn sách Lương Thế Vinh đề bài thơ khuyên mọi người học toán:
Trước thời biết cách thương lường,
Tính toán bình phân ở Cửu chương,
Thông hay mọi nhẽ điều vinh hiển,
Học lấy cho tinh giúp thánh vương!
Ông còn chế ra bàn tính gẩy, lúc đầu bằng đất rồi bằng trúc, sau làm bằng gỗ, sơn mầu khác nhau vừa đẹp, vừa dễ tính, dễ nhớ.
Một lần sứ nhà Minh là Chu Hy sang nước ta. Vua Lê Thánh Tông sai Lương Thế Vinh ra tiếp. Chu Hy nghe đồn nước Nam có ông trạng đã nổi tiếng văn chương, âm nhạc, mà còn tinh thông cả toán học nên có lần mới hỏi Lương Thế Vinh:
- Có phải ông làm ra sách "Ðại thành toán pháp", định thước đo ruộng đất, chế ra bàn tính của nước Nam đó không?
- Lương Thế Vinh đáp:
-- Dạ, đúng thế.
- Nhân có con voi rất to đang kéo gỗ trên sông. Chu Hy hỏi:
-- Trạng thử cân xem con voi kia nặng bao nhiêu!
-- Xin được!
-Dứt lời, Vinh xăm xăm cầm cân đi cân con voi.
-- Tôi e chiếc cầu của ông quá nhỏ so với con voi đấy! - Chu Hy cười nói.
-- Thì chia nhỏ voi ra - Vinh thản nhiên trả lời.
-- Ông định mổ thịt voi à? Cho tôi xin miếng gan nhé!
Lương Thế Vinh tỉnh khô không đáp. Ðến bên sông, Trạng chỉ chiếc thuyền bỏ không, sai lính dắt voi xuống. Trạng cho lính lội xuống đánh dấu mép nước bên thuyền rồi dắt voi lên.
Kế đó, Trạng ra lệnh đổ đá hộc xuống thuyền. Thuyền lại dằm xuống dần cho tới đúng dấu cũ thì ngừng đổ đá.
Thế rồi Trạng bắc cân lên cân đá. Trạng cho bảo sứ nhà Minh:
- Ông ra mà xem cân voi !
Sứ nhà Minh vẫn còn thử tài tiếp:
- Ông cũng giỏi đấy chứ! Tiếng đồn quả không ngoa! Ông đã cân được voi to, vậy ông có thể đo được tờ giấy này dày bao nhiêu không?
Sứ nói rồi xé một tờ giấy bản rất mỏng từ một cuốn sách dày đưa cho Lương Thế Vinh, Hy lại đưa luôn một chiếc thước.
Giấy thì mỏng mà ly chia ở thước lại quá thưa. Vinh nói:
- Ngài cho tôi mượn cuốn sách!
Sứ nhà Minh đưa ngay cuốn sách và hỏi kháy:
- Ông nghĩ sách có dạy cách đo chăng?
Lương Thế Vinh lấy thước đo bề dày cuốn sách, tính nhẩm một lát, rồi nói bề dày tờ giấy.
Kết quả rất khớp với con số của sứ nhà Minh ghi sẵn ở nhà. Nhưng sứ nhà Minh nói:
- Ông đoán mò cũng giỏi đấy!
- Thưa không. Việc đo này rất dễ, ta chỉ cần đo bề dày cả cuốn sách, rồi chia đều cho số tờ. Việc đó có khó gì đâu!
Sứ nhà Minh ngửa mặt lên trời than:
- Nước Nam quả lắm người tài !
Thời ông sống người ta thường coi những người hát xướng là "xướng ca vô loài". Vậy mà Lương Thế Vinh làm quan to lại rất thích hát tuồng chèo, thi ca nhạc. Ông sáng tác nhiều mà còn trực tiếp biểu diễn nữa. Ông đã viết bộ sách "Hý phường phả lục". Ông cũng được vua Lê Thánh Tông giao cho cùng Thân Nhân Trung, Ðỗ Nhuận chế định ra các lễ nhạc của triều đình.
Lúc về trí sĩ, ông vẫn thích la cà nơi thôn dã, thích hát ca.
(*) Khoa thi Quý Mùi (1463) lấy đỗ 44 Tiến sĩ.
(1247-1308)
Minh quân và đạo sĩ
"Nhà ta vốn là dân hạ bạn,
đời đời ưa chuộng việc hùng dũng..”
(Trần Nhân Tông)
Trong lịch sử Việt Nam, có những vị vua giỏi giang cáng đáng và lãnh đạo nước trong những tình huống khó khăn. Trần Nhân Tông là một trong những vị vua đầu khai triều và xây dựng nhà Trần. Triều ông là giai đoạn cực thịnh nhất của nhà Trần. Ông lãnh đạo nước trong những thời kỳ gay cấn nhất của lịch sử Việt Nam: chiến tranh xâm lược của đạo quân Mông Cổ reo rắc kinh hoàng ở khắp lục địa Á-Âu.
Trong hai cuộc xâm lăng của Mông Cổ lần hai và lần ba, ông đã cùng tướng sĩ và nhân dân đối phó và đánh bại giặc. Ông là người mở ra Hội nghị Diên Hồng hỏi ý kiến toàn dân và cùng nhân dân đối kháng địch. Trần Nhân Tông không những là vị vua cương chính và gần dân mà còn là một đạo sĩ Phật giáo hiền tài, một trong ba sư tổ sáng lập ra trường phái Trúc Lâm duy nhất ở Việt Nam.
1- Con người và sự nghiệp
(a) Bản chất con người
Thái tử Trần Khâm tức Trần Nhân Tông lên ngôi vua thay thế Thượng Hoàng Thanh Tông năm 1279. Ông là một vị vua có cốt ở dân và có một târn hồn Việt cội rễ. Ẩn tàng trong ông là ý thức về nguồn, gợi nhớ gốc tổ Rồng Tiên, như lời ông từng nói với con Trần Anh Tông và Quốc Công Trần Quốc Tuấn: "Nhà ta vốn là dân hạ bạn, đời đời ưa chuộng việc hùng dũng... thích hình rồng vào đùi để tỏ ra không quên gốc." Tục xâm hình rất phổ biến trong dân gian Việt Nam từ thời Hùng Vương, đến đời Trần Nhân Tông thì phát triển mạnh mẽ. Từ vua quan đến quân dân đều vẽ xâm hình rồng trước bụng, sau lưng và hai vế đùi. Lúc này người ta chẵng những quan niệm xâm hình rồng để khi xuống nước không bị giao long làm hại mà còn ngầm nhắc nhở nhau về một nguồn gốc như lời vua nhắn nhủ.
Tục này thịnh hành đến nổi người Trung Hoa trông thấy gọi là "thái long" tức rồng vẽ. Theo sứ nhà Nguyên Trần Phụ, thì mỗi người dân Đại Việt còn thích chữ "Nghĩa di quyền phụ, hình vu báo quốc" (Vì việc nghĩa mà liều thân, vì ơn nước mà báo đền). Điều này cho thấy dưới đời vua Trần Nhân Tông, quân dân đều một lòng và tụ tập quanh một ông vua có căn cơ là gốc dân.
(b) Tư cách lãnh đạo
Nhân Tông là một vị vua anh minh, biết dùng và trọng dụng nhân tài. Đời ông, nhân tài, anh hùng, tuấn kiệt lũ luợt kéo ra giúp nước, lòng người như một. Bên ông, về quốc triều có Thái sư Trần Quang Khải, về binh sự có các danh tướng Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật .., về văn học có các văn thi sĩ uyên bác như Nguyễn Thuyên, Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi. Riêng Nguyễn Thuyên là người khởi đầu dùng chữ Nôm làm thơ phú, văn hay như Hàn Dũ bên Trung Quốc ngày xưa nên Nhân Tông cho đổi tên là họ Hàn.
Sự hiểu người và dùng người của ông được thể hiện qua một câu chuyện tiêu biểu sau. Trong không khí khẩn trương, khi con trai của Hốt Tất Liệt là Thái tử Thoát Hoan đang sôi sục căm hờn điều động binh mã ở biên thùy để sửa soạn tràn vào Đại Việt. Vào một ngày cuối năm Nhâm Ngọ (1282), tại bến Bình Than có một cuộc họp lịch sử giữa vua Trần Nhân Tông và các tướng sĩ. Giữa lúc vua Nhân Tông và mọi người đang bàn bạc sôi nổi, vua chợt nhìn ra ngoài sông và thoáng thấy một chiếc thuyền lớn chở đầy than theo dòng đổ về xuôi. Nhác thấy trên thuyền có một người đội nón lá, mặc áo ngắn, ngộ ngộ trông như người quen, vua bèn chỉ và hỏi quan thi thần:
- Người kia có phải là Nhân Huệ Vương không?
Rồi lập tức sai quân cheo thuyền nhỏ đuổi theo. Nhưng lát sau chỉ thấy quân trở về không, tâu với vua là ông lái ngang bướng ấy không chịu đến mà chỉ trả lời rằng:
- Lão già này là người bán than, có việc gì mà vua gọi đến!
Nghe thấy thế, các quan rất đổi ngạc nhiên và lo cho người bán than, cái tội khi quân mạn thượng này dù xử nhẹ cũng phải dăm chục trượng là ít. Nhưng Nhân Tông vẫn tươi cười mà rằng:
- Thế thì đúng là Nhân Huệ Vương rồi, người thường không dám trả lời ta như thế!
Rồi sai nội thị đi gọi: lần này "lão ta" chịu đến. Vua quan nhìn ra thì đích thị không sai. Người lái thuyền bán than đó chính là Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư. Đội chiếc nón lá và bận tấrn áo nâu ngắn bạc phếch, quần sắn tới đầu gối, trông ông ta thật phong trần. Nhưng lạ thay, cuộc sống lam lũ vẫn không làm mất được cái vẽ tinh anh quắc thước và dáng dấp hiên ngang ở người tướng vũ dũng của cuộc kháng chiến chống Mông Cổ năm xưa, vì nóng tính và trót phạm lỗi với triều đình nên bị cách chức và tịch thu gia sản. Chuyến đi hôrn nay của ông tình cờ lại hóa hay
- Thế nào, liệu khanh còn đủ sức đánh giặc hay không? – Nhân Tông ướm hỏi.
Nghe thấy hai chữ "đánh giặc", mắt Trần Khánh Dư vụt sáng:
- Dạ, thần còn đủ sức. Mấy năm nay vung rìu đẵn gỗ, cánh tay thần xern ra còn rắng rỏi hơn xưa.
Nhân Tông cười vui vẽ và ngợi khen:
- Quả là gan Trần Khánh Dư còn bền hơn sắt đá. Được rồi còn phải xem khanh lập công chuộc tội ra sao?
Đoạn xuống chiếu tha tội cho Trần Khánh Dư, ban mũ áo, phong làm phó tướng quân rồi cho ngồi ở ghế cuối hàng vương để bàn việc nước. Thế là triều đình lại có thêm được một người tài giỏi đứng ra phò vua giúp nước.
Sự dùng người của Nhân Tông như thế xứng đáng phong cách của một người lãnh đạo: hiểu và dùng người đúng chỗ.
(c) Cách cư xử người
Trần Nhân Tông là một vị vua khí khái và nhân đức. Đối diện với bao phong ba bão táp, ông lãnh đạo tướng sĩ và nhân dân chống đỡ những cơn hiểrn nguy. Nhưng không lúc nào là ông không để ý đến tình trạng của quân dân.
Khi quân Mông Cổ với khí thế hung tàn tràn vào Đại Việt, Hưng Đạo Vương Trần Quoc Tuấn vì kém thế thua chạy rút về Vạn Kiếp. Nhân Tông nghe Hưng Đạo Vương thua, liền ngự một chiếc thuyền nhỏ xuống Hải Dương rồi cho vời Hưng Đạo Vương đến bàn việc, nhân thấy quân mình thua, trong bụng không yên, mới bảo Hưng Đạo Vương rằng:
- Thế giặc to như vậy, mà chống nó thì dân sự tàn hại, hay là trẫm hãy chịu hàng đi để cứu muôn dân?
Hưng Đạo Vương tâu rằng:
- Bệ hạ nói câu ấy thì thật là nhân đức, nhưng mà tôn miếu xã tắc thì sao? Nếu bệ hạ muốn hàng, xin trước hãy chém đầu tôi đi đã, rồi sau sẽ hàng.
Nhân Tông nghe lời nói trung liệt như vậy, trong bụng mới yên.
Cũng vậy, đối với quân thù, trong trận chiến thắng lịch sử của quân ta ở Tây Kết (Khoái Châu, Hải Hưng), tướng giặc là Toa Đô bị trúng tên chết và Ô Mã Nhi phải chốn chui xuống thuyền vượt biển chạy về Trung Quốc. Khi các tướng thắng trận đưa đầu Toa Đô về nộp, Nhân Tông thấy người dũng kiện mà lại hết lòng với chúa, nên xúc động mới than rằng: "Làm bầy tôi nên như người này" rồi cởi áo ngự bào đắp vào đầu Toa Đô, sai quân dùng lễ mai táng cho tử tế.
Khi bóng quân Mông Cổ không còn trên đất Nam, triều đình bắt được một tráp chứa các biểu hàng của một số quan. Số là khi quân giặc đang cường thịnh, triều thần lắm kẻ hai lòng, có giấy má đi lại với chúng. Đình thần muốn lục tráp ra để trị tội, nhưng Nhân Tông và Thánh Tông Thượng Hoàng nghĩ xa đến sự hoà giãi dân tộc nên sai đem đốt cả tráp đi cho yên lòng mọi người và cùng nhau xây dựng lại cố đô. Duy chỉ những người thực sự hàng và hợp tác với giặc mới bị trị tội.
(d) Trị nước
Trách nhiệm giữ nước đã xong, Nhân Tông còn phải lo việc ngoại giao với giặc và xây dựng lại đất nước và con người. Với nhà Nguyên, Mông Cổ, vua không kiêu căng khi thắng, mà hoà khí, khiêm nhượng nhưng nhân chính. Sự tàn phá của quân Mông Cổ thật nặng nề đến nổi, lúc chiến thắng trở về Thăng Long, vua không còn cung điện để ở mà phải tạm trú ở Lăng thị vệ. Trong tờ biểu gởi Hốt Tất Liêt, Nhân Tông đã phải viết: "đốt phá hết chùa miếu trong nước, khai quật phần mộ tổ tiên, cướp bóc dân gian, phá phách sản nghiệp trăm họ, mọi tàn ác không việc nào trừ ...".
Hậu quả của chiến tranh tan khốc như vậy cho nên phải có chính sách an dân và ủy lạo dân. Sau cuộc chiến, Nhân Tông xuống chiếu đại xá cho thiên hạ. Nơi nào bị địch đốt phá thì tha tô ruộng và tạp dịch toàn phần, các chổ khác thì xét miễn giảm theo thứ bậc khác nhau. Chinh sách khéo léo và có tầm nhìn xa này, thể hiện một tinh thần thương dân và ở một đầu óc có tư tưởng đầu tư xây dựng lâu dài, đã được kể lại trong quyển "Long thành dật sự" như sau:
Sau chiến tranh, thành Thăng Long nhiều đoạn bị san bằng, vua Nhân Tông định hạ chỉ gấp rút xây lại thành trì. Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn can rằng: "Việc sửa lại thành trì không cần kíp lắm. Việc cần kíp của triều đình phải làm ngay không thể chậm trễ được là việcc ủy lạo nhân dân. Hơn 4 năm, quân giặc hai lần tràn sang quấy rối, từ nơi núi rừng đến nơi đồng ruộng, đều bị tàn phá hầu hết. Vậy mà nhân dân vẫn một lòng hướng về triều đình, xuất tài, xuết lộc, đi lính và đóng thuế, làm nên một lực lượng mạnh cho triều đình chống nhau với giặc. Nay nhà vua được trở về yên ổn. Việc làm trước hết là chú ý ngay đến dân, những nơi nào bị tàn phá, tuỳ tình trạng nặng nhẹ mà cứu tế; nơi nào bị tàn phá quá nặng, có thể miễn tô thuế mấy năm. Có như thế dân mới nức lòng càng quy hướng về triều đình hơn nữa. Người xưa đã nói: "chúng chí thành thành" nghĩa là ý chí của dân là một bức thành kiên cố. Đó mới là cái thành cần sửa chữa ngay, xin nhà vua xử lý."
Vua Nhân Tông vui vẽ nghe theo lời khuyên của Trần Quốc Tuấn. Đây cũng là một bài học quan trọng mà gần đây chúng ta đã không nắm mà nguy hơn nữa là đã làm ngược lại.
Cũng vậy để cải tổ bộ máy hành chánh, và thúc đẩy nền kinh tế giúp dân giàu mạnh. Trần Nhân Tông quyết định giảm thủ tục, các quan lộc và quan liêu trong nước. Trước một bộ máy quá lớn và quá nặng nề từ Thượng thư sảnh, Môn hạ sảnh, Nội mật viện, đến các quan, cac lục bộ, các cục (Nội thư hoả cục, Chi hậu cục..), các đài (Ngự sử đài), các viện (Khu mật viện, Hàn lâm viện, Thẩm hình viện, Quốc sử viện, Thái y viện,..), các ty .. khiến Trần Nhân Tông phải thốt lên :
" Sao một nước bé bằng bàn tay mà phong nhiều quan thế! "
Lại một lần nữa, vấn đề này cũng là vấn đề mà hiện nay chúng ta đang trực tiếp đối diện
(e) Trung hiếu và gia huấn
Trần Nhân Tông coi việc trung hiếu là quan trọng hàng đầu. Đối với thượng hoàng và các bề trên ông đều hết lòng đáp nghĩa. Ông thường lễ long trọng hàng năm trước các lăng tiền bối. Bài thơ của ông làm lúc về bái yết lăng ông nội Trần Thái Tông vẫn còn để lại trong sử sách.
Trượng vệ thiên môn túc
Y quan thất phẩm thông ..
(Qua nghìn cửa chào nghiêm túc,
Đủ áo mũ các quan của bảy chức ..)
Khi ông là Thượng hoàng, đối với con ông là Trần Anh Tông, ông để tự do nhưng đều khuyên bảo những điều nhân đức về phép trị dân. Sử sách chép rằng, Anh Tông là người có hiếu nhưng thường uống rượu và lẽn đi chơi đêm khắp kinh thành, đến gà gáy mới về. Vì thế có lúc Nhân Tông phải có thái độ cứng rắn.
Tháng năm năm Kỷ Hợi (1299), vua Anh Tông uống rượu xương bồ say quá. Thượng hoàng Nhân Tông từ phủ Thiên Trường (Nam Định), nơi các Thượng hoàng thường ở an dưỡng, về kinh sư, quan trong triều không ai biết cả. Nhân Tông thong thả xem khắp các cung điện, từ sáng đến trưa. Người trong cung dâng cơm, Nhân Tông ngoãnh trông, không thấy vua, ngạc nhiên hỏi ở đâu?
Cung nhân vào đánh thức nhưng vua say quá không tỉnh. Ông giận lắm, trở về Thiên Trường ngay, xuống chiếu cho các quan ngày mai đến họp ở phủ Thiên Trường. Đến chiều, vua Anh Tông mới tỉnh, biết Thượng Hoàng về kinh, sợ hải quá, vội vàng chạy ra ngoài cung gặp một người học trò tên Đoàn Nhữ Hài, mượn thảo bài biểu để dâng lên tạ tội, rồi cùng với Nhữ Hài xuống thuyền đi suốt đêm đến phủ Thiên Trường. Nhân Tông xem biểu rồi quở mắng một lúc, và tha lỗi cho Anh Tông. Từ đó vua Anh Tông không uống rượu nữa.
2- Xuất thế và thơ văn
Sau khi quân xâm lăng Mông Cổ không còn dám có tham vọng chiếm Đại Việt, năm năm sau (1293) Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con ở Thăng Long rồi rút về Thiên Trường đi ngao du và bắt đầu xuất thế. Trước lúc đó, ông đã là một nhà đạo sĩ và thi văn nổi tiếng đời Trần. Đời của ông lúc này chuyển qua một giai đoạn khác, việc nước và gia đình đã xong giờ đến việc mình và đời sống tinh thần của bản thân.
Ông cùng các đệ tử của mình lên núi Yên Tử (Quảng Ninh) xây dựng các chùa. Một trong những chùa nổi tiếng nhất là chùa Hoa Yên. Ông là vị "tổ" đã có công lớn trong việc xây dựng nên phái Phật giáo ở vùng Yên Tử Sơn này. Trần Nhân Tông, cùng sư Pháp Hoa và sư Huyền Quang là tam tổ của trường phái Trúc Lâm và thường được goi là phái Trúc Lâm Tam Tổ vì chỉ riêng ở Việt Nam mới có.
Sự nhập thiền của Trần Nhân Tông không phải là một tiêu cực yếm thế. Thiền Trúc Lâm mang một hình thái nữa có nữa không, nữa thực nữa hư và có một tinh thần biện chứng tích cực. Một thiền Phật giáo nhập thế mà tất cả mọi người dân đều có thể áp dụng theo đuổi ở mọi nơi, mọi lúc trong đời sống không phải chỉ ở cửa chùa. Bắt nguồn từ thiền Vô Ngôn thông, quan điểm cơ bản của thiền Trúc lâm là “tức tâm tức Phật”, Phật ở tâm, ở trong ta, khi đốn ngộ thì ta là Phật và Phật là ta. Từ Yên Tử Sơn, lâu lâu Nhân Tông đi ngao du các nơi, thăm thắng cảnh thanh bình của quê hương mình. Lúc qua Thiên Trường vào một buổi chiều, trong cảnh tranh tối tranh sáng của đồng quê Việt Nam, dưới con mắt Thiền của mình, ông đã xúc cảm làm một bài thơ tựa đề "Thiên Trường vãn vọng"
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên
Bán vô bán hữu tịch dương biên
Mục đồng địch lý quy ngưu tận
Bạch lộ song song phi hạ điền
(Xóm trước thôn sau tựa khói lồng
Bóng chiều dường có lại dường không
Mục đồng sáo vẵng trâu về hết
Cò trắng từng đôi hạ xuống đồng)
Những buổi chiều của đồng quê Việt Nam đẹp đẽ và yên tỉnh như kia là một hiện thực, đã có từ nghìn năm nay trong đời sống nhân dân, và đã tác động mạnh mẽ vào một tam hồn Việt cội rễ của đạo sĩ Trần Nhân Tông.
Danh tiếng của đạo sĩ Trần Nhân Tông vang lừng khắp Đại Việt đến tận đất Chiêm Thành. Trong cuộc thăm viếng lịch sử chưa từng có của một Thượng hoàng nước Đại Việt, cả Chiêm Thành từ vua quan đến nhân dân một lòng tôn kính một hiền sĩ từ phương xa ghé vào. Nhân Tông cũng xúc động và học hỏi nhiều từ một nền văn minh khác. Đối với ông, con người đâu đâu cũng vậy. Biên giới chỉ là một hàng rào giã tạo đặt ra bởi sự không thông hiểu giữa con người. Ông đã nhìn xa và muốn thắt chặt tình thân hữu anh em của hai dân tộc Việt-Chiêm. Ông đề nghị với vua Trần Anh Tông kết hợp con gái Nhân Tông (tức em gái Trần Anh Tông) là công chúa Huyền Trân với vua Chiêm Thành. Cả Chiêm Thành, từ sự kính trọng đối với một đạo sĩ hiền tài này, đã hoan hỷ chấp nhận. Vua Chiêm là Chế Mân (Jaya Sinhavarman III mà trước đây là thái tử Harijit đã cùng đồng minh Đại Việt chống quân Nguyên đổ bộ ở Chiêm Thành) đã tặng Đại Việt hai châu Ô và châu Rí trong cuộc hôn nhân lịch sử này. Nhưng tiếc thay sau khi Chế Mân và Trần Nhân Tông mất, chiến tranh lại tái diễn giữa hai dân tộc.
Năm 1308, Thượng hoàng Trần Nhân Tông băng hà ở am Ngọa Vân, núi Yên Tử. Sư Pháp Hoa thiêu xác ông, nhặt hỏa cốt và hơn ba ngàn hạt xá lị để vào hộp, mang về chùa Từ Phúc ở kinh sư.
Mùa thu năm 1310, linh cửu chứa hỏa cốt Thượng hoàng được rước về chôn ở làng Quý Đức, Phủ Long Hưng (Thái Bình). Khi nghe tin ấy, cả nước đều muốn tiễn linh cửu người Việt hiền tài này lần cuối cùng. Trước hết, tạm quàn Nhân Tông ở điện Diên Hiền, khi sắp phát dãn, đã đến giờ rồi mà quan liêu dân chúng đứng xem đầy khắp cung điện, ngay cả tể tướng cầm roi xua đuổi mà cũng không thể giản ra được. Vua cho gọi Trịnh Trọng Tử đến bảo rằng: "Linh cửu sắp phát dẫn mà dân chúng đầy nghẽn như thế này thì làm thế nào ?". Trọng Tử là người có tiếng là nhiều tài năng trí xảo nhất Thăng Long và cũng rất giỏi về âm nhạc. Trọng Tử lập tức đến thềm Thiên Trì gọi quan Hải khấu và quan Hổ dực do Trọng Tử trông coi đến ngồi la liệt ở thềm, sai hát mấy câu hát Long Ngâm. Mọi người đều ngạc nhiên, kéo nhau đến xem, cung điện mới giãn người, linh cửu mới rước đi được. Long Ngâm khúc là một lối hát vãn, giọng bi ai, nghe rất cảm động ... Suốt mấy ngày ấy từ Thăng Long đến Thái Bình, Long Ngâm khúc của cả nước theo linh cửu của ngài đến nơi an nghĩ cuối cùng.
Một ngôi sao sáng đã vụt tắt trên bầu trời nước Đại Việt. Mặc dầu thể xác ông không còn và đã tan thành tro bụi như ông muốn, nhưng hồn ông vẫn còn trong lòng dân tộc Việt.
Lời bạt:
Trong lịch sử trên thế giới rất hiếm người tài vừa là vua trị vì vừa là một hiền triết. Văn minh La Mã có Marcus Aurelus, hoàng đế triết gia, vừa minh trị an độ nhân dân, độ lượng với mọi người và để lại tác phẩm triết học nổi tiếng “Meditations”. Ở phương đông hơn mười hai thế kỷ sau có Trần Nhân Tông, cũng một minh quân, sáng lập trường phái thiền Trúc Lâm Việt Nam với tác phẩm thiền “Khoá Hư lục”(1) không kém sâu sa.
Thiền Trúc Lâm Yên tử tuy không còn, nhưng dư âm vẫn còn vọng: cuối thế kỷ 18, Ngô Thì Nhậm mong tái lập lại dòng thiền này với tác phẩm “Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh”, gần đây chùa Trúc Lâm ở Đà Lạt là một cố gắng mong muốn khôi phục dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Hoàng thành cổ Thăng Long nay đã được khám phá, một ngày nào đó tôi hy vọng là điện Diên Hiền sẽ được hồi phục. Nguời người sẽ được đến tận nơi vua làm việc, đãi yến, nơi linh cửu vua tạm quàn, hình dung cảnh quan và tưởng nhớ mùi hương thiền toả ngát sáu trăm năm mươi năm trước và tưởng tượng trở lại thời vàng son của thiền Việt Nam với minh quân Trần Nhân Tông. Núi Yên Tử giờ đã có cáp treo, nhưng đi hành hương đường dốc bộ vẫn là tốt nhất theo dấu chân của Thượng hoàng Nhân Tông.
(1) Theo Thiều Chửu và một số nhà nghiên cứu cho là Trần Nhân Tông là tác giả “Khóa hư lục” chứ không phải Trần Thái Tông
Tham khảo
(1) Đại Việt Sử Ký toàn thư, Quyển 5 và 6, Kỷ Nhà Trần, Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam, 1993
(2) Khuyết danh, Thiền uyển tập anh, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1990
(3) Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, http://www.quangduc.com/lichsu/17vnpgsuluan.html
Nguyễn Đức Hiệp, E-Mai: nguyenduchiep@khoahoc.net
vBulletin® v3.8.4, Copyright ©2000-2009, Jelsoft Enterprises Ltd.