PDA

View Full Version : Văn Học Nghệ Thuật Cổ Tích & Triết Học


BungRieu
03-20-2003, 10:33 AM
Chào các Anh Chị ...
Có rất nhiều tài liệu rất hay trong Internet ... Nhiều lúc muốn coi lại thì không tìm lại được nữa .. vì vậy BR xin đề nghị vói các ANh Chị nếu thấy tài liệu nào hay ... thì xin ... mang về để các Anh Chị khác cùng đọc ....

BR sẽ cố gắng update mỗi khi có tài liệu hoặc có đóng góp mới

=====================================

Đây là những bài đã đăng trong đề mục này - Văn Học Nghệ Thuật Cổ Tich - Triết Học ....

1. Love Quotes .
2. Danh ngôn về Phụ Nữ .
3. Huyền Thoại Ông Bàn Cổ .
4. Huyền Thoại Bà Nữ Oa .
5. Huyền Thoại Vua Thần Nông
6. Giai Thoại Văn Học -- Chuyển bại thành thắng :)
7. Huyền Thoại Thánh Dóng .
8. Triết Lý Con Cóc ...
9. Nhân Sinh Quan thằng Bờm ....
10. Chân lý sờ Voi ....
11. Dạ Cổ Hoài Lang và Vọng cổ Hoài Lang ....
12. Nho Giáo và tư tưởng Khổng Mạnh
13. Ông già Ba tri là ai ? ....
14. Cha Tôi ....
15. Nhi nữ trường tình, anh hùng khí đoản ...
16. Điển tích "Ba đào" ....
17. Vợ chồng, tuy hai mà một .. tuy một mà hai .....
18. Con Số 4 Thú Vị ...
19. Sắc bất ba đào ...
20. Cửu đỉnh, một giá trị trường tồn
21. Ba câu hỏi

.....
20. Lời Hay ý đẹp - VCB sưu Tập ( Mục này sẽ được update đều đặn mỗi khi có đóng góp mới của VCB-members --- Vì luôn được update cho nên mục này luôn ở dưới cùng ... Xin mơi các Anh Chị cùng đóng góp ) ...

BungRieu
03-20-2003, 11:13 AM
Love Quotes


A man falls in love through his eyes, a woman through her ears (Woodrow Wyatt)

A man loses his sense of direction after four drinks; a woman loses hers after four kisses (H.L. Mencken)


A man who fears nothing, loves nothing


A man's heart will never be complete without a woman's love


Absence does for love what the wind does for a flame: it extinguishes the weak, and feeds the strong


Anyone who marries for money earns every cent of it


Force and love cannot live in the same house


Great thoughts always come from the heart


Happiness is being married to your best friend


Hate never ends hate, only love can.


He who cannot love must learn to flatter (Johann W. von Goethe)


If you judge someone, you have no time to love them (Mother Teresa)


If you love something...set it free, if it comes back to you it was truly meant to be

Immature love says: "I love you because I need you." Mature love says: "I need you because I love you. It is better to have loved and lost, then never to have loved at all

It is the plain women who know about love; the beautiful women are too busy being fascinating

Let men beware of causing women to weep; God counts their tears.

Letting go does not mean giving up but accepting that there are things that cannot be.

Life is a journey, and love is what makes that journey worthwhile

Love has no control and neither does one's mind when they are in love

Love is a game two can play and both win

Love is an endless act of forgiveness, a tender look which becomes a habit.

Love is an irresistible desire to be irresistibly desired

Love is blind. Friendship closes it's eyes

Love is composed of a single soul inhabiting two bodies

Love is like a flower: Once you pick it, it slowly dies

Love is like standing in wet cement. The longer you stay, the arder it is to leave. And you can never go without leaving your shoes behind

Love is much like a wild rose, beautiful and calm, but willing to draw blood in its defense (Mark A. Overby)

Love is not a matter of counting the years...
but making the years count. (Michelle St. Amand )


Love is the history of a woman's life; it is an episode in man's (Germaine De Stael)

Love is the only kind of fire which is never covered by insurance

Love is the only thing which gives value in life. It is the deepest, the greatest, the strongest reason for living (Solar Frost)

Love is the seed of all hope. It is the enticement to trust, to risk, to try, to go on (Gloria Gaither)

Love is the triumph of imagination over intelligence (H.L.Mencken)

Love looks through a telescope; envy through a microscope (Josh Billings) Love never dies of starvation, but often of indigestion

Love today, so you will never have empty yesterdays Marriage is hen a man and woman become as one; the trouble starts when they try to decide which one Marry the one you

Love or Love the one you marry No matter how smart someone is, they'll never realize what they have, until it is gone Nobody has ever measured, even poets, how much the heart can hold (Zelda Fitzgerald)

Of all forms of caution, caution in love is perhaps the most fatal to true happiness (Bertrand Russell)

One word frees us of all the weight and pain in life. That word is love Peace is not the absence of conflict, but the presence of love

Some people will die for love, some will die because they lost it

Temptation is a woman's weapon and a man's excuse

The best and most beautiful things in the world cannot be seen or even touched. They must be felt with the heart. (Helen Keller)

The first duty of love is to listen The first symptons of love in a young man is timidity; in a girl boldness

The magic of first love is our ignorance that it can never end (Benjamin Disraeli)

The stolen kisses are always the sweetest

The supreme happiness of life is the conviction that we are loved The United Stattes is a land where men govern but women rule (John Mason Brown)

The way to love anything is to realize that it might be lost (Gilbert Chesterton)

The only way to understand any woman is to love her...
and then it isn't necessary to understand her. (Sydney J. Harris)

There are two key principles in learning to understand women, but nobody knows what they are! (Jon Kardatzke, M.D.)

To fear love is to fear life, and those who fear life are already three parts dead (Bertrand Russell, Earl Russell)

To love is nothing. To be loved is something. To love and be loved is everything To love is to place our happiness in the happiness of another (Gottfried Wilhelm von Leibnitz)

To love is receive a glimpse of heaven (Karen Sunde)

Treasure the love you receive above all. It will survive long after your gold and good health have vanished (Og Mandino)

True love begins when nothing is looked for in return. (Antoine De Saint-Exupery) ... for Anh CTD ....

True love is friendship set on fire Two things you should NEVER say to the one you love: "I love you, but..." and "If you loved me, you would..." Should you really qualify love with conditions? What do women want? To be treated like a queen; but by a king, not a pawn (James Robison)

True love will never die

True love never grows old

What is love ? It is the morning and the evening star (Sinclair Lewis)

When I say I know women, I mean I know that I don't know them (William Makepeace Thackeray)

When you love a woman, you see your world inside her eyes When you love someone all your saved-up wishes start coming out (Elizabeth Bowen) Women are made to be loved, not understood (Oscar Wilde)

Women deserve to have more than twelve years between the ages of twenty eight and forty

You don't love a woman because she is beautiful,
she is beautiful because you love her


You never lose by loving. You always lose by holding back

BungRieu
03-20-2003, 12:40 PM
Danh Ngôn Về Ðàn Bà

Trong đàn bà, tình bạn gần với tình yêu [Thomas Moore]


Khí giới của đàn bà là những giọt nước mắt. [Shakespeare]


Đàn bà hoàn toàn thấy rõ rằng họ càng vâng lời bao nhiêu thì họ càng chỉ huy bấy nhiêụ [Jules Michelet]


Khi chúng ta không theo hút được người đàn bà thì đừng đeo đuổi họ nữạ Người đàn bà chỉ bị chinh phục khi người đàn ông đủ sức hấp dẫn ho.. Một khi họ thấy bị đeo đuổi, họ sẽ từ khước .[Krassovsky]


Đối với người đàn bà, không được yêu là một tai họa; nhưng không được yêu nữa mới thực là một cái nhục. [Montesquieu]


Nơi nào có người đàn bà đẹp, thì nơi đó có người đàn ông thở dàị [Tục Ngữ Hung-Ga-Ri]


Người ta có thể quyến rũ người đàn bà bằng sự dối trá, nhưng người ta chỉ có thể chinh phục được họ với tấm lòng thành thật.[Krassovsky] ... nhớ đó nha ...hihì ...


Im lặng là vật qúi gía hơn vàng, nhưng trong tình yêu người đàn bà lại ghét cay ghét đắng.


Khen tặng người đàn bà khác trước mặt người yêu là một sự sỉ nhục không thể tha thứ được. [Bà De Stael]


Ai có thể cai trị được một người đàn bà thì người ấy có thể cai trị được một nước. [Honoré De Balzac] ...


Tiền bạc cũng như phụ nữ, muốn giữ nó thì phải săn sóc nó một chút, bằng không.... nó đi tạo hạnh phúc cho kẻ khác. [Edouart Bourdet]


Ra đời trăm trận trăm thắng, về nhà không thắng nổi người đàn bà. [Napoleon ler] ... hihì đàn bà là nội tướng mà lị ...


Hỡi ôi! Được người đàn bà yêu thì ai cũng biết là điều thích thú, nhưng dễ sợ lắm. [Lord Byron]


Phụ nữ làm cho cách xử thế ở đời được trau chuốt và khiến cho người ta chuộng sự lễ đô.. Họ là thầy dạy chân chính về mỹ quan và là người khích lệ mọi sự hy sinh. Hiếm có người đàn ông nào yêu thương họ mà lại là người man rợ [Gabriel Legouvé]


Người đàn bà nào qúi trọng đạo đức của tâm hồn mình hơn sự thông minh và bóng sắc của mình, là hạng người đứng trên đồng loại của mình. Kẻ nào qúi trọng bóng sắc của mình hơn tài đức của mình, là hạng đàn bà tầm thường. Nhưng kẻ nào qúi trọng địa vị và giai cấp của mình hơn bóng sắc của mình, là hạng người đàn bà đứng ngoài lề đồng loại của họ : họ không phải là người đàn bà. [Chamfort]


Người đàn bà sẵn sàng tự nhận mình nói quấy khi họ nói phải, hơn là khi họ nói quấỵ [Jean Charles]


Bí quyết hạnh phúc của người đàn bà là tự tin cái vui trong bổn phận [Dr. Auton]


Có một cách khen tặng người đàn bà mà họ thích nhất là nói xấu người đàn bà đối thủ của ho.. Khen tặng người đàn bà mà đồng thời cũng khen tặng một người đàn bà khác, thì sự khen tặng của mình thành vô gía tri.. [Bà De Girardin] ... cẩm nang đó ...hihì ..


Không có người đàn bà nào mà không thích nghe người khác nói xấu kẻ thù của mình hơn là nói tốt cho chồng mình. [Bà De Marie Laure De Noailles]


Mê người đàn bà thì dễ, yêu người đàn bà thì khó. [Marcel Aymé]


Người đàn bà đẹp là thiên đàng của cặp mắt, mà là địa ngục của tâm hồn. [Pope]


Cái đẹp của người đàn bà không khác nào những mùi thơm thoảng qua và tan đi rất mau chóng, hễ ngửi quen rồi thì không ai còn để ý nữa [Bà De Lambert]


Đẹp là ở con mắt người khác ngắm nhìn [Le Wallace]


Người đàn bà đẹp khó mà sống được an thân, cũng như ngọc qúi là mồi của trộm cướp [Jean Jacques Rousseau]


Người đàn bà nói thích giản dị là người ít giản dị nhất. Người đàn bà nào nói ít làm dáng chính là người làm dáng nhất đờị Người đàn bà nào nói ít trang sức lại là người khéo trang sức hơn ai hết [André Maurois]


Không có người đàn bà nào xấu cả, chỉ có những người đàn bà không biết làm cho mình được quyến rủ mà thôi [Christian Dior]


Không có gì làm đau khổ cho người đàn bà đẹp bằng thấy có người đẹp hơn mình [Philippe De Varenne]


Trước con mắt của người yêu, không có người đàn bà nào xấu cả [Ronsard]


Người đàn bà luôn luôn được coi như ngang hàng với vua chúạ Người đời nịnh bợ họ vì lợi chứ không phải vì yêu [Rochebrune]


Nếu trừng trị người đàn bà thì người đời cho là vũ phụ Còn không trừng trị người đàn bà thì bị người đời cho là sợ vợ [Scott Fitgérald]


Đàn bà cũng như cái mền về mùa hạ, đắp vào thì quá nóng nhưng bỏ ra thì lạnh. [Danh ngôn Nigri]


Sức mạnh của đàn bà là ở chỗ nói nhiều [Danh ngôn Nigri]


Người đàn bà khôn ngoan là người có nhiều điều muốn nói nhưng không nói ra . [Danh ngôn Ba Tư]


Không có lời nói dối kỳ quái nào mà người đàn bà chẳng tin, nếu đó cũng là lời khen nàng. [Khuyết Danh]


Chưa có người đàn bà nào soi gương mà thấy mình xấu cả. [Cesar Oudin]


Người con gái thích được khen dù xấụ Vì thế cho nên người đàn bà nào cũng thường hay chết vì người đàn ông am tường điều đó -- PASCAL


Lòng tự ái làm nên tai họa cho phần đông đàn bà hơn là tình yêu -- LA ROCHEFOUCAULD


Mỗi người đàn bà đều có một nét quyến rũ kỳ bí, nếu họ không kiêu hãnh và bướng bỉnh -- JOANNA BAILLIE


Người đàn bà tha thứ được những sự thiệt hại cho họ, nhưng không bao giơ quên được những sự khinh miệt -- HALIBURTON


Ánh mắt của phụ nữ nói lên với nhiều duyên dáng, một cách rất ân cần cái điều mà miệng họ không dám thốt ra -- MAURIVAUX


Tình yêu thành thật làm cho người đàn bà trở nên kín đáo và ít bộc lộ -- BARTHE


Tham vọng của người đàn bà là chiếm được lòng yêu của người những kẻ chung quanh và kế cận bên mình, chứ không cần lòng kính cẩn tôn sùng của những người xa lạ -- GINA LOMBROSO


Ðàn bà luôn luôn sẵn lòng hy sinh nếu bạn cho họ có cơ hộị . Sở trường của họ chính là nhường nhịn -- SOMERSET MAUGHAM


Đau khổ là lò un đúc tâm hồn người đàn bà để trở thành cao cả -- GINA LOMBROSO


Người đàn bà không sợ chết, không sợ đau khổ, nhưng chỉ lo sợ khi mình chết mà chưa được người mình thương yêu biết đến tình yêu của mình . -- GINA LOMBROSO


Qủa tim của người đàn bà không bao giờ gìa cỗi, và một khi nó không yêu nữa thì đó là vì nó đã ngừng đập -- P. ROCHEPEDRE


Cảm rồi yêu, đau khổ rồi lại hy sinh. Đó là những đề tài chính trong cuộc đời của người đàn bà. -- GOETHE


Rung động, yêu thương, đau khổ, hy sinh, tất cả sẽ mãi mãi là những trang tình sử của người đàn bà. -- HONORE DE BALZAC


Một người đàn bà hoặc yêu hay ghét, họ không lưng chừng. -- PUBLILIUS SYRUS .... wow ...


Nhà không có đàn bà như thân xác mà thiếu linh hồn. -- Danh Ngôn Pháp ....


Người đàn bà như cái hoa, chỉ nhả mùi thơm trong bóng tốị -- LAMENAIS


Kẻ nói tốt cho phụ nữ là kẻ chưa biết rỏ phụ nữ, còn kẻ nói xấu phụ nữ là kẻ không biết gì cả về phụ nữ. -- PIGAULT LEBRUN


Một người đàn bà chỉ có thể giử được tình yêu, không phải tình yêu mà nàng cảm hứng, nhưng là tình yêu mà nàng hoài bảo, chỉ có kim cương mới rạch được kim cương, chỉ có tình yêu mới đủ mạnh để chống lại tình yêụ -- G.Ạ CAILLAVET & R. DE FLERS


Đàn bà chỉ trao cho tình bạn cái gì mà họ mượn được ở tình yêụ -- CHAMFORT


Cái lỗi lầm lớn của người đàn bà là luôn luôn tìm cách kết bạn với người đàn ông họ yêu, thay vì kiếm một người đàn ông yêu họ -- LA BRUYERE


Nước mắt chính là tài hùng biện của đàn bà.-- Thánh EVREMOND


Một bông hoa không mùi thơm cũng chẳng được qúi trọng gì hơn một người đàn bà đẹp mà vô duyên -- ẠV. ARNAULT


Ðàn bà đẹp làm vui mắt, đàn bà hiền làm vui lòng. Người trước là một thứ nữ trang, còn người sau là một kho tàng. -- NAPOLEON ler


Trong những lần yêu đầu tiên, người đàn bà yêu người tình, nhưng trong những lần sau thì họ chỉ yêu tình yêu -- LA ROCHEFOUCAULD


Nên ca ngợi ngày đẹp trời vào lúc tối, nên ca ngợi người đàn bà đẹp vào buổi sáng -- Danh Ngôn Đức


Không phải cái đẹp của người đàn bà đã làm ta ngây dại, mà chính là tính tình cao thượng của bà ta -- EURIPIDE


Người đàn bà được khen ngợi nhiều nhất là người không được người ta nói đến bao giờ -- Danh Ngôn TRUNG HOA


Ðàn bà lương thiện mà lại xinh đẹp thì trở nên lương thiện gấp đôi -- P.J. STAHL


Ðối với đàn bà, im lặng là đồ trang sức đẹp nhất. -- JEAN JACQUES ROUSSEAU


Trong đời người đàn bà chỉ có hai lần làm cho họ điên lên, đó là khi họ bắt đầu yêu và khi họ bạc tóc -- Danh Ngôn BA LAN


Không có người đàn bà nào gìa cả. Tất cả phụ nữ ở mọi lứa tuổi, nếu họ yêu mình và họ là người tốt, thì họ sẽ đem đến cho mình những giây phút tuyệt vờị -- JULES MICHELET


Phải chọn lựa giữa hai điều: một là yêu đàn bà, hai là tìm hiểu họ -- CHAMFORT


Khen đàn bà thì cứ tha hồ nói dối, họ sẽ tin hết mình -- Danh Ngôn PHÁP ... Oh Oh ... nguy hiểm wá ....hihi


Im lặng là món nữ trang đẹp nhất của người đàn bà, nhưng ít khi họ đeo lắm -- Danh Ngôn ANH


Ðàn bà mà im lặng chính là của trời cho -- THÁNH KINH


Tranh đấu để chống lại trái tim của người đàn bà khó khăn không thua gì uống hết một biển nước -- RICHARD DE FOURNIVAL


Trong chuyện tình yêu, người đàn bà luôn luôn cố tình chịu thua -- PAUL GERALDY


Ðức tính đầu tiên và quan trọng nhất của phụ nữ là dịu dàng -- JEAN JACQUES ROUSSEAU


Người đàn bà mà không biết trang điểm thì chỉ giống như thửa ruộng khô cằn. -- Tục ngữ ẤN ĐỘ


Sắc đẹp là tặng phẩm của tạo hóa đã ban cho người đàn bà, và chính sắc đẹp cũng là vật đầu tiên mà tạo hóa cướp đi trong đời người đàn bà -- MERE

NhanhRong
03-20-2003, 04:24 PM
Người ta có thể quyến rũ người đàn bà bằng sự dối trá, nhưng người ta chỉ có thể chinh phục được họ với tấm lòng thành thật.[Krassovsky] ... nhớ đó nha ...hihì ...


Thanks BR, chị thích nhất câu đó đó
:)

qcluu
03-20-2003, 05:16 PM
Cám ơn BR đã chịu cực sưu tầm mí câu này!!! Mấy câu này hay quá hén ... Đọc câu này
Hate never ends hate, only love can.

anh nhớ tới câu anh đã được cha mẹ anh dạy từ nhỏ:

Lấy oán báo oán thì oán chồng chất
Lấy đức báo oán thì oán tiêu tan

PHU` DU
03-20-2003, 05:52 PM
Cám ơn bé Búng Riêu đã chịu khó sưu tầm những lời hay, ý đẹp này http://smilies.sofrayt.com/%5E/y/remybussi.gif
Chị cũng luôn nhủ lòng câu mà qclưu vừa nhắc đến:

Lấy oán báo oán thì oán chồng chất
Lấy đức báo oán thì oán tiêu tan

Hồi nhỏ hình như chị đọc trong sách truyện của đạo phật nên mỗi lần giận , ghét ai hay muốn khuyên ai quên đi thù hận...Chị nhớ lại câu răn dạy này mà tìm trong tâm hồn mình lòng vị tha, nhường nhịn...

Chị sẽ copy những câu danh ngôn của em sưu tầm ở trên để khi nào rảnh đem ra nghiền ngẫm ...áp dụng cho bản thân , cho cuộc sống hàng ngày của mình :)

Thương em http://smilies.sofrayt.com/%5E/y/remybussi.gif

qcluu
03-20-2003, 06:25 PM
Đúng đó chị hai câu này em nghe mẹ em nói là từ trong sách Phật ... Em giống như chị lúc nào cũng nhớ hai câu đó những lúc giận, chứ nếu không học hai câu đó chắc .... hỏng biết thân phận của những người em giận ra sao nữa :) (j/k)

BungRieu
03-21-2003, 02:33 AM
Hi các Anh Chị ....
Cám ơn các Anh Chị đã đóng góp ....
BR sẽ làm thêm môt chương trong đề mục này ...

BungRieu
03-21-2003, 02:40 AM
Lời Hay Ý Đẹp --- VCB Sưu Tập


Hate never ends hate, only love can. [QcLuu -- Sưu Tập]

Lấy oán báo oán thì oán chồng chất [QcLuu -- Sưu Tập]
Lấy đức báo oán thì oán tiêu tan


Xin mời Các Anh Chị tiếp tục .... BR Sẽ update cái list này đều đặn

BungRieu
03-21-2003, 03:12 AM
HUYỀN THOẠI ÔNG BÀN CỔ
Nguyễn Xuân Quang


Chúng ta đã nghe nhiều về ông Bàn Cổ .... bây giờ xin nhận diện chân tướng ông Bàn Cổ xem cho rõ thật hư ra sao.

Theo cổ thư Trung Hoa viết vào thế kỷ thứ ba sau Tây Lịch (nghĩa là đã rất muộn, đã liên hệ nhiều với Nam Man), thời kỳ Hỗn Mang hay Hỗn Ðộn (Chaos) vũ trụ giống như một cái trứng gà. Lúc đó đất trời chưa có. Từ trái trứng này đẻ ra ông Bàn Cổ (Bangu), thường được vẽ bằng hình một người lùn hai tay cầm cái trứng hỗn mang Âm Dương. Phần nặng của trứng lắng xuống thành đất, phần nhẹ bay lên thành bầu trời. Trong suốt thời kỳ 18 ngàn năm khoảng cách giữa trời và đất tăng dần, cứ tăng 3 mét mỗi ngày và ông Bàn Cổ cũng trưởng thành theo cái đà đó nên thân thể ông luôn luôn chống giữ được trời đất không bị xẹp lép trở lại. Khi Bàn Cổ chết những phần thân thể của ông trở thành những yếu tố thiên nhiên. Tùy theo thời kỳ, tùy theo sách vở, chi tiết về sự cấu tạo vũ trụ viết thay đổi. Về đời Hán hay trước đó ít lâu thì đầu Bàn Cổ thành Ðông Sơn (Núi phía Ðông), bao tử thành Trung sơn, tay trái Nam sơn, tay phải Bắc sơn và chân Tây sơn. Sách vở khác lại cho rằng đầu cho ra núi bốn phương, mắt cho ra trời, trăng, thịt cho ra sông biển, tóc đẻ ra cây cỏ... sách vở viết vào thời khác lại cho rằng nước mắt của Bàn Cổ tạo ra sông biển, hơi thở là gió, mắt là chớp và tiếng nói là sấm... sách khác lại nói thân Bàn Cổ cho ra bốn phương chính và năm ngọn núi chính (có liên hệ gì với Ngũ Lĩnh chăng ?), máu thành sông biển, thịt là đất đai... và bọ chét trên người ông biến thành loài người...

Với truyền thuyết về trái trứng và Bàn Cổ thấy xuất hiện rất muộn trong cổ thư Trung Hoa và viết không thống nhất rất hỗn độn vá víu... như thế rõ ràng là Bàn Cổ không phải của người Trung Hoa. Quan niệm vũ trụ là một cái trứng là của Nam Man chúng ta (ăn khớp với việc bà Âu Cơ đẻ ra trứng). Chúng tôi đã chứng minh trái trứng vũ trụ này là vị tổ tối cao tối thượng của chúng ta. Ðó chính là Mẹ Trứng Vũ Trụ Thần Nông hay Thần Nang (nang là từ nôm không phải là Hán Việt, nang ruột thịt với nàng). Trung Hoa đã lấy ông tổ thần Nang này của Hừng Việt.

Ông Bàn Cổ do trứng vũ trụ đẻ ra, tức là do Mẹ Thần Trứng Vũ Trụ Thần Nông hay Thần Nang đẻ ra. Vậy Bàn Cổ cũng phải là của chúng ta. Bắt buộc.

Thật vậy Bàn Cổ của Nam Man, của Hừng Việt.

Ta có thể tìm thấy dấu tích Bàn cổ nơi Hừng Việt Nam qua nhiều địa hạt:


1.Ngữ học

Không biết người Trung Hoa cắt nghĩa từ Bangu, Bàn Cổ như thế nào nhưng chúng tôi sẽ cắt nghĩa theo Việt ngữ. Việt ngữ Bàn Cổ có Bàn cùng âm với ban là đỏ ví dụ lên ban sởi (ban đỏ), nổi ban (nổi vẩn đỏ). Trung Nam gọi chứng bệnh sốt, nổi mần đỏ ở da là ban, trong khi người Bắc gọi là lên sởi. Ban sởi là từ ghép điệp nghĩa. Sởi = ban. Sởi là sưởi (o=uo, hồng = hường), ngày nay hiểu sưởi là hơ lửa cho ấm như sưởi ấm, lò sưởi. Vậy sưởi cũng như ban, bàn liên hệ tới đỏ, tới nóng, lửa, đỏ, tới mặt trời. Bệnh sởi là bệnh nóng sốt nổi đỏ ở da.

Từ Cổ cùng Âm với Cố. Cố là tổ như ta thường nói ông cố tổ. Vậy Bàn Cổ là ông Tổ Ðỏ, ông Tổ Mặt Trời.

Chúng ta thường gọi ông Bàn Cổ là ông Bành Tổ. Chúng ta đã nói trại đi, thật ra phải gọi là ông Bàng Tổ. Bàng là bàn, là ban, là đỏ như cây bàng là cây có lá trở thành đỏ thắm về mùa thu. Trịnh Công Sơn trong bài "Mùa Thu Hà Nội" có câu "Hà Nội mùa thu, cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ...". Bàng tổ là ông tổ đỏ. Hiểu như thế ta thấy ngay Bàn Cổ và Bàng Tổ đều là ông Tổ Ðỏ. Người Trung Hoa gọi chúng ta là Xích Quỉ, quỉ đỏ. Vậy ông Bàn Cổ, ông Bành Tổ, ông Bàng Tổ phải là của dân Ðỏ.

Bàn Cổ, Bàng Tổ là ông tổ của họ Hồng Bàng.


2. Truyền Thuyết Nam Man Hừng Việt

Việt Nam

Ở trên ta thấy ông Bàng Tổ là một người khổng lồ, lớn dần với thời gian, mỗi ngày cao thêm ba mét để chống trời. Lúc vũ trụ mới tạo lập từ cái trứng hãy còn mềm ông Bàng Tổ đã dùng thân mình làm cây cột chống trời để nóc trời không xụp xuống, xẹp lép lại. Nói một cách khác ông Bàng Tổ là một ông thần trụ trời. Bàng Tổ chính là Ông Trụ Trời trong truyện thần thoại Việt Nam:

"Thuở trời đất còn mịt mù hỗn độn, tự nhiên hiện lên một vị thần to lớn khác thường, đầu đội trời, chân đạp đất, đào đất vác đá đắp thành một cái cột to cao để chống trời lên mà phân chia ra trời đất. Trời như một cái vung úp, đất bằng như một cái mâm vuông...

Dấu vết cột chống trời ngày nay người ta cho là ở núi Thạch Môn, thuộc về tỉnh Sơn Tây, Bắc Việt cũng gọi là núi Không Lộ (Ðường Lên Trời) hay Khổng Lồ hoặc là Kình Thiên Trụ (Cột Chống Trời). Dân chúng còn câu hát lưu hành nhắc nhở đến công việc của ông trụ trời vào thuở khai thiên lập địa:

Nhất ông đếm cát,
Nhì ông tát bể,
Ba ông kể sao,
Bốn ông đào sông,
Năm ông trồng cây,
Sáu ông xây rú,
Bẩy ông trụ trời".

Hoàng Trọng Miên, Việt Nam Văn Hóa Toàn Thư tr.66)

Bài hát này kể các vị thần làm việc lúc khai thiên lập địa không theo thứ tự sinh đẻ.


3. Thần Thoại Mán

Thần thoại Mán nói về vũ trụ tạo sinh có kể rằng khi trời đất còn mù mờ đầu tiên có hai người xuất hiện là Nhiêu vương và Bàn Cổ. Hai con mắt của Nhiêu vương sinh ra mặt trời, mặt trăng. Còn loài người do tâm của Bàn Cổ sinh ra trong đó có Bàn Vũ. Bàn Vũ sau là tổ người Mán (Hoàng Trọng Miên, Việt Nam Văn Hóa Toàn Thư tr.131).

Ở đây ta thấy người Mán, một tộc Nam Man nhận đích danh Bàn Cổ là ông tổ của mình. Người Trung Hoa gọi chúng ta là Nam Man đã bóp méo nghĩa từ man đi gắn thêm nghĩa thóa mạ là mọi rợ vào. Man của Hừng Việt có nghĩa rất cao đẹp (có bài viết riêng về Man Di). Ở đây chỉ xin nói qua loa một chút thôi. Về ngữ học Mán, Mường, Mọi... đều là man cả. Thời thái cổ chúng ta là Man, là Mán, là Mường... Theo b=m ta có bàn = màn = man. Vậy Bàn cổ = man cổ = Man tổ. Ta đã biết bàn, ban, bang là đỏ vậy man cũng hàm nghĩa là đỏ. Man là Xích quỉ! Nam man là Xích quỉ phương Nam. Bàng Cổ là tổ của (Nam) Man, Xích quỉ thì đúng đứt đuôi con nòng nọc rồi.

Với đầy đủ chứng tích vừa kể, rõ như ban ngày Bàn Cổ là do Mẹ Trứng Vũ Trụ Thần Nông hay Thần Nang đẻ ra và là tổ của Hừng Việt Xích quỉ. Anthony Christie trong Chinese Mythology, Library of The World's Myths and Legends, đã hai lần xác quyết trứng vũ trụ và ông Bàn Cổ là của Nam Man: "These stories are late in the versions... and it is likely that the tradition of their southern origin is basically correct..." (p.55) ("Những truyện này muộn trong những tường thuật... và giống như là gốc gác từ miền nam của truyền thuyết có cơ bản là đúng...") và "The most extensive account of the creation, involving a giant called Pangu has survived only in texts from the third to sixth centuries A.D. and there is a good reason to think that this story was not incorporated into Chinese Tradition until after the assimilation of the southern region" (p.51) ("Cái đáng kể về tạo sinh sâu rộng nhất liên can tới một ông khổng lồ gọi là Bàn Cổ chỉ còn thấy trong các bài viết từ thế kỷ thứ 3 tới thứ 6 sau Tây Lịch và có lý do chính đáng để nghĩ rằng truyện này không được đưa vào truyền thuyết Trung Hoa cho tới sau khi đã đồng hóa miền nam.") (tr. 51).



BÀN CỔ VÀ TRIẾT THUYẾT ÂM DƯƠNG

Trong nghệ thuật tạo hình cổ Trung Hoa, Bàn Cổ thường được mô tả là một người lùn, hình thù cổ quái, cầm trong tay cái trứng hỗn mang Âm Dương.

Hình: Bàn Cổ cầm trong tay trứng Hỗn Mang (Chaos) Âm Dương, sống 18.000 năm. Thạch bản, thế kỷ 19, Bảo tàng Viện British, London.

Ðây cũng là một cái "dấu đầu lòi đuôi" của những kể nhận vơ của người khác làm của mình. Theo truyền thuyết Trung Hoa thì Bàn Cổ là một ông khổng lồ, mỗi ngày cao ba mét làm trụ chống trời. Hãy làm một con tính nhỏ, ta thấy trong 18.000 năm, Bàn Cổ cao 19.440 km (tính theo tháng âm lịch có ba mươi ngày). Trong khi đó trong các tranh vẽ, tượng, đồ gốm... Bàn Cổ là một lão lùn tịt dị dạng. Truyền thuyết và hình tượng không ăn khớp với nhau, lệch lạc, rõ ràng trống đánh xuôi kèn thổi ngược, ăn vụng không biết chùi mép.

Vì là con Mẹ trứng Không gian Thần Nông nên Bàng Tổ cầm trong tay trứng vũ trụ. Ðây là cái trứng hỗn mang (Chaos) có hai phần Aâm Dương tạo sinh ra trời đất. Ðây là nền móng của triết thuyết Aâm Dương mà từ xưa tới nay Ðông Tây vẫn cho là của Trung Hoa. Không. Trăm phần trăm là không phải người Trung Hoa sáng tạo ra thuyết Yin Yang. Người Trung Hoa đã lấy Thần Nông, đã lấy Bàn Cổ tất nhiên họ lấy luôn triết thuyết Âm Dương của Hừng Việt Nam Man thờ mặt trời.

Thật vậy chúng tôi đã khám phá ra những chứng tích nguồn cội, căn bản của thuyết âm dương còn rành rành ở các địa danh nơi đất tổ Lạc Việt cũng như như thấy ở truyền thuyết của các tộc khác thờ mặt trời họ Hồng Bàng.


Việt Nam

Mẹ trứng vũ trụ Thần Nông, Thần Nang là Âm. Trứng là tiêu biểu cho phần sinh dục nữ. Cái trứng hay noãn nang, dạ con, lỗ sinh đẻ phái nữ đều có hình hay được biểu thị bằng hình tròn hoặc chữ o tròn như quả trứng gà (với nghĩa thuôn tròn) hay chữ "o lớn" "omega" của Hy Lạp ví dụ trứng là tròng gần cận với tròn ; dạ con tương đương với lòng (lòng dạ là từ ghép điệp nghĩa) mà lòng = tròng như thế lòng, tròng gần cận với tròn; bộ phận sinh dục nữ l... có từ lỗ và cũng gần cận với lòng (dạ); Latin ovum , trứng, Anh ngữ oology , trứng học...; Pháp ngữ oeuf , trứng... đều khởi đầu bằng chữ o; Anh ngữ womb , dạ con có wom(b)= wom = vòm (khum tròn); dạ con của người trông giống và được diễn tả bằng chữ omega (sẽ có bài viết riêng)... Không gian và mặt trời khi biểu thị bằng hình tròn đều mang tính âm và đều là mẹ trứng vũ trụ và mẹ mặt trời, mẹ tròn (đi đôi với con vuông) và về toán học mẹ trứng không gian, mẹ trời hình đĩa tròn được biểu thị bằng con số không zéro.

Tóm lại chữ o, omega, vòng tròn, hình trứng (hình trái soan), hình vòm, cái lỗ biểu hiệu cho Âm.

Ông Bàng Tổ Trụ Trời với hình ảnh cái trụ chống mang hình ảnh và ý nghĩa đực hay Dương. Theo cách đọc Cổ Việt ch=tr mà một vài vùng ở Bắc Việt ngày nay còn nói, ta thấy chống (trụ) là trống (đực) như gà trống. Chống liên hệ chông (que nhọn) với chồng (ngược với vợ). Cái trụ, cái chống, cái nọc, cái nõ, cái cọc, cái que, cái cây là biểu hiệu cho bộ phận sinh dục nam, cho đực cho Dương. Ông Bàng Tổ Trụ Trời là yếu tố Dương. Về toán học ông trụ trời mang hình ảnh cái que được biểu thị bằng một cái gạch đứng như cái que, cái trụ tức là số 1. Khi nói trời là số một là ta đã nói tới trời với yếu tố Dương, phụ quyền đã lấn áp mẫu quyền.

Xin giải thích tại sao trời, vũ trụ nhiều khi dùng lẫn lộn, lúc có nghĩa là không, lúc có nghĩa là một. Thoạt đầu con người thờ Mẹ Nang, Mẹ Trời đĩa tròn sau đó với thời gian có sự "cướp quyền" giữa phụ quyền (phụ hệ) và mẫu quyền (mẫu hệ) nên đã có sự hoán đổi nghĩa trời tròn với tính phái âm nghĩa là số không với trời có nghĩa dương tức số một. Ta thấy những tộc khi còn thờ mẹ vũ trụ, mẹ trời thì trời là số không còn khi đã không còn thờ mẹ trời nữa mà chuyển qua thờ cha trời thì gọi trời chuyển sang nghĩa là một. Ví dụ các tộc Ấn Âu như Pháp, Anh, Ðức... không thờ mẹ trời nên gọi vũ trụ không gian là universe, univers, universum có un, uni có nghĩa là một; gọi mặt trời sun (Anh), soleil (Pháp), sonne (Ðức), sol (Tây Ban Nha), sole (Ý), sol (Bồ)... liên hệ với solo, seulement, solamente, sólo (Tây Ban Nha) solo, soltanto (Ý), só, somente (Bồ)... (một mình); Trung Hoa không thờ mẹ trời nên gọi không gian là vũ trụ với trụ là que là một. Trong khi đó chúng ta gọi không gian là nông, nang, tròng, lòng, trứng, không... hàm nghĩa số không. Chúng ta gọi trời là mặt cùng vần với mắt mà mắt là tròng, là tròn biểu thị bằng vòng tròn như con số không. Mặt cũng cùng vần với mất là không còn gì; với mất là chết mà chết là hết, là trở về hư vô (tức là số không).

Cái trứng tròn Âm và cái trụ chống trời Dương hòa hợp lại sinh ra vũ trụ muôn loài. Cái trứng vũ trụ âm không có "chống" (hai nghĩa) không tạo sinh, sinh nở được. Ðây là nguyên lý sâu sa của sự tạo sinh ra nhân vật Bàng Tổ Trụ Trời.

Trở lại truyền thuyết Ông Trụ Trời của Việt Nam. Dấu vết cột chống trời ngày nay người ta cho là ở núi Thạch Môn, thuộc về tỉnh Sơn Tây, Bắc Việt cũng gọi là núi Không Lộ (Ðường lên trời) hay Khổng Lồ hoặc là Kình Thiên Trụ (Cột chống trời). Núi này thuộc tỉnh Sơn Tây nằm đâu đó gần núi Tản Viên. Chúng ta đã biết theo một nghĩa Tản Viên là núi Trứng (tản, đản là trứng, chúng ta thường ăn phì tản , trứng đen ngâm thuốc Bắc trong món bát bửu đồ lạnh hay ăn với bún thang; đản bạch là lòng trắng trứng). Ðiểm này giải thích tại sao gọi núi Tản là Viên. Hiển nhiên Viên có một nghĩa là tròn. Tản Viên là Trứng Tròn.

Như vậy núi Tản Viên Trứng Tròn biểu tượng của mẹ Trứng Vũ Trụ Thần Nông và núi Kình Thiên Trụ biểu tượng cho ông Bàng Tổ Trụ Trời là hai yếu tố âm dương cốt lõi của vũ trụ quan của chúng ta.

Mặt khác chúng ta thường nghe giải thích Tản Viên là cái núi hình tán vì núi trông như cái lọng. Ðiều này cũng không sai vì tán lọng cũng có nghĩa là trứng vì phần trên tròn hay khum tròn như mặt trời hay vòm trời. Trong các đền thờ của chúng ta ngày nay còn thờ lọng đỏ biểu tượng cho mặt trời, vòm trời. Ta cũng có thể kiểm chứng lại bằng ngữ học. Tán là lọng mà lọng gần cận với lòng, tròng nghĩa là với trứng. Ta cũng có cái ô (dù) ruột thịt với tán, lọng. Trong từ ô có chữ o tròn như quả trứng gà, nghĩa là ô cũng như lọng có hàm nghĩa trứng. Trong bài "Cái Ðầu Lâu Hoa Cái Nhà Mày" khi nói đến từ mắt, chúng tôi có nói ô (lỗ nhỏ để nhìn như cửa ô) liên hệ với mắt. Mà mắt là tròng, trứng do đó ô liên hệ với trứng, với mặt trời tròn.

Như thế Tản Viên dù hiểu theo nghĩa lọng, tán cũng có nghĩa là trứng biểu tượng cho Mẹ Trứng vũ trụ Thần Nông.

Ngoài ra núi Tản Viên còn gọi là núi Nùng. Nùng là chuyển hóa với nòng, lòng, tròng nghĩa là trứng. Nùng còn có một nghĩa nữa là một (Thái ngữ nung là một), sẽ khai triển ở một dịp khác.

Trứng Tản Viên và Kình Thiên Trụ đã kết hợp lại tạo ra vũ trụ, dòng giống Việt.


Nhật Bản

Theo truyền thuyết, sau khi đứng trên cây cầu nổi trên trời dùng cái giáo quậy biển, khi nhấc lên những giọt nước rơi xuống tạo thành những hòn đảo nước Nhật ngày nay, hai anh em Izanagi và Izanami xuống đảo. Họ dựng một cây trụ trời và rồi hai người đi vòng quanh ngược chiều với ý định nếu gặp nhau họ sẽ lấy nhau...

Hai người đã đi giáp một đường hình vòng tròn. Khi gặp nhau người con gái mừng rỡ mở miệng gọi người con trai trước khiến Izanagi tức giận nên kết quả họ sinh ra hai người con tật nguyền và họ từ bỏ. Hai người về trời trở lại. Thần cho biết đó là do lỗi người con gái mở miệng nói trước và khuyên là lần này xuống đất Nhật phải để người con trai nói trước. Hai người làm đúng theo lời thần dặn nên đẻ ra đầy đàn con cháu trong đó có Oh-yashima-guni (Ðất-Tám Ðảo-Vĩ Ðại, tên cổ của nước Nhật).

Ở đây ta cũng thấy cái trứng do hai người đi vòng quanh và cây trụ. Nhưng đã viết theo tính trọng nam khinh nữ của người Nhật. Cái trụ trồng trước đi theo hình vòng tròn sau và con gái mở miệng nói trước, tỏ tình trước với trai là con gái hư.


Ai Cập

Khi viết về Thần Nông trong số trước chúng tôi đã đề Cập đến Âm Dương của Ai Cập, một tộc cũng thờ mặt trời như chúng ta. Ai Cập ngữ Ankh , life, sự sống, đời, thường biểu tượng bằng hình chữ thập trên đầu có lỗ hình quả trứng mà các học giả thường gọi là "cái chìa khóa của sự sống" ("key of life") (xem hình).

Cho tới bây giờ chưa ai biết rằng đây là biểu tượng Âm Dương của Ai Cập. Theo chúng tôi đây là trái trứng và cái cọc sinh ra đời sống. Ðây chính là biểu tượng âm dương của Ai Cập. Ai Cập ngữ Ankh liên hệ với Phạn ngữ anda (trứng).

Thêm nữa, các tác giả Tây phương ngày nay cũng đã phủ nhận Bàn Cổ và triết thuyết Yin Yang có gốc là của người Trung Hoa. Richard Cavendish trong An Illustrated Encyclopedia of Mythology cũng xác nhận Bàn Cổ, Âm Dương là của Nam Man: "A tradition from the Yangtze delta says that P'an-ku and his wife represent yang and ying, as do the two halves of the egg from which P'an-ku was born" (tr.60) (Một truyền thuyết từ vùng châu thổ sông Dương Tử nói rằng Bàn Cổ và vợ tiêu biểu cho dương và âm giống như hai phần của quả trứng từ đó Bàn Cổ được sinh ra".)

Chúng tôi cũng đã khám phá ra dấu tích của mẹ Trứng Vũ Trụ Thần Nông và Bàn Cổ trên trống đồng Ðông Sơn (sẽ viết rõ trong Bí Mật Trống Ðồng Ðông Sơn).

Như thế vũ trụ quan của chúng ta nói riêng của Hừng Việt nói chung cho thấy vụ trũ trời đất, con người sinh ra từ yếu tố âm là Mẹ Trứng Thần Nông hay Thần Nang và yếu tố dương là Bàng Tổ Trụ Trời.

Ðể kết thúc chúng tôi xin vén tấm "nhiễu điều phủ lấy giá gương" hé mở cho thấy cái bóng của Âu Cơ và Hừng Vương trong tấm gương Thần Nang Bàng Tổ.

Thần Nang Bàng Tổ tạo sinh ra vũ trụ, đất trời, trần thế, con người, Xích quỉ. Còn Âu Cơ đẻ ra Hùng Vương và các dòng vua cai trị nhân gian con người, Xích quỉ. Thần Nang là hình, Âu Cơ là bóng của Thần Nang. Cả hai đều là trứng tạo sinh. Bàng Tổ là hình, Hừng Vương là bóng của Bàng Tổ. Hãy đối chiếu vài điểm tương đồng giữa Bàng Tổ và Hừng Vương:

Bàng Tổ và Hừng Vương đều từ trứng đẻ ra

Bàng Tổ và Hừng Vương đều có nghĩa là tổ Ðỏ.

Bàng Tổ và Hừng Vương người sống 18.000 năm hay 18 thiên kỷ, kẻ có 18 đời. Cả hai gặp nhau ở con số 18.

Bàng Tổ là bình minh của vũ trụ trời đất, thế gian; Hừng Vương là rạng đông của Việt tộc, của Man, Mán, Mường... của Xích quỉ, con người v.v...
Tóm lại Bàn Cổ, Bành Tổ, Bàng Tổ là ông Trụ Trời, sinh ra thế gian và con người là của Nam Man Hừng Việt, là ông tổ Ðỏ của họ Hồng Bàng. Chúng ta còn chứng tích rành rành của Bàng Tổ nơi đất tổ lập quốc là núi Thạch Môn, Không Lộ, Kình Thiên Trụ ở tỉnh Sơn Tây. Ðộc giả theo dõi tới đây đã thấy rằng Thần Nông Trứng Vũ Trụ, Bàng Tổ Trụ Trời không phải của người Trung Hoa thì triết thuyết Âm Dương Kinh dịch nếu ai cho là của người Trung Hoa cần phải suy nghĩ lại.

BungRieu
03-21-2003, 03:46 AM
HUYỀN THOẠI BÀ NỮ OA
Nguyễn Xuân Quang


Qua hai bài viết về Thần Nông và Bàn Cổ chúng tôi đã nhận diện rõ được Trứng Nước Thần Nông là Mẹ Tổ tối thượng tối cao (Supreme Being) (cổ sử Việt Nam cũng dừng lại ở đây khi viết Ðế Minh là cháu ba đời vua Thần Nông) sinh ra vũ trụ và Bàn cổ, Bàng Tổ là ông Trụ Trời. Mẹ Trứng Nước Thần Nông và Bàng Tổ chắc chắn không phải gốc gác là người Trung Hoa. Trước khi truy tìm chân tướng Nữ Oa chúng tôi xin nói rộng ra khuôn khổ bài viết một chút để độc giả nắm được trọn vấn đề.

Chúng ta đã biết Mẹ Trứng Nước Vũ Trụ Thần Nông là yếu tố Âm, với phần trên nhẹ hơn, tinh khiết hơn, trong sáng hơn tạo ra vòm trời, không gian (kể cả mặt trời) và phần nặng lắng xuống thành nước nguyên thể (Primeval Water), trên nước chất rắn sơ tạo trôi lềnh bềnh như cá. Chất rắn sơ tạo này sẽ tạo ra đá đất. Ta thấy rõ Nước là chính và Ðất là phụ. Việt ngữ TRỨNG NƯỚC xác quyết điều này. Nước tạo ra đất. Phần nước ở dưới khi trứng tách ra làm hai, một phần đặc lại thành chất rắn, cứng lại thành đá đất. Ngôn ngữ Việt tuyệt vời cũng cho ta thấy rõ điều này. Chúng ta gọi nước đông cứng lại là đá (ice). Theo địa chất học đá băng dần dần biến thành đất. Việt ngữ đá (nước đông cứng lại) đồng âm với đá (đất) nói rõ cho thấy đá đất là do nước đông cứng đá băng tạo thành. Ðây là lý do giải thích tại sao từ đá liên hệ với đác là nước, đầm (ao), đẫm (ướt), dầm (ngâm nước), Thượng ngữ Dakto là Nước Vú (sữa)... với Anh ngữ dam, đập nước, Ba Tư ngữ darya, biển... Thoạt khởi thủy, lúc big bang xẩy ra, trái đất cũng là một "giọt" chất lỏng khổng lồ cháy đỏ nguội dần, ngày nay ruột vẫn còn là chất lỏng cháy đỏ và trên mặt đất vẫn còn nước là biển sông hồ. Tóm lại nước đẻ ra đá đất.

Nước là yếu tố chính. Xin ghi vào tâm khảm điểm Nước là yếu tố chính của Hừng Việt còn đất là yếu tố phụ này. Nước là một phần chính yếu trong trứng vì thế trong Trứng Nước Vũ Trụ Thần Nông phần nước cũng là phần chính yếu. Chính nước là yếu tố Mẹ, yếu tố Âm. Nước đã tạo sinh ra muôn loài. Khởi đầu từ những dạng hơi trong nước, sinh vật được tạo hình đi từ loài nguyên sinh bào, đơn bào, đa bào, thủy sinh vật, ốc sò, ếch nhái, bò sát, chim, thú, người... Chúng tôi rút tỉa ra qui luật Nguyễn Xuân Quang về Nước như sau "Tất cả các dân tộc nào thờ Nước, coi Nước trọng hơn Ðất đều liên hệ với Hừng Việt có tổ tối cao tối thượng là Mẹ Trứng Nước Thần Nông". Những tộc coi đất là trọng không liên hệ với Mẹ Trứng Nước Thần Nông. Nếu họ có truyền thuyết như vậy thì chẳng qua chỉ là họ bị ảnh hưởng, cóp nhặt của Hừng Việt hay là họ đã từ bỏ gốc tổ mẹ Trứng Nước đó. Ví dụ Trung Hoa với Lưỡng Nghi Trời Ðất, Tam Tài Thiên Ðịa Nhân (Trời Ðất Người) là những tộc không thể nào có mẹ tổ tối cao tối thượng là Trứng Nước. Trung Hoa và Việt hoàn toàn khác nhau. Chúng ta Hừng Việt có hai nguyên thể (primeval elements) là Nước và Vòm Trời (kể cả mặt trời) do Trứng Nước Thần Nông tách ra lúc vũ trụ tạo hình. Chúng ta coi cõi âm (Underworld) là thủy phủ, cõi ở dưới nước như thủy cung của Lạc Long Quân. Hồn người chết hay bóng của bà đồng, thầy mo... xuống âm thế bao giờ cũng phải đi qua một cái cầu... Ðịa ngục nằm dưới đất (rõ ràng với chữ địa) và âm thế khác nhau (chúng tôi sẽ khai triển khi có dịp). Xin tóm lược là Nước (Trứng Nước) là nguồn cội, là phần chính yếu của vũ trụ quan, là cốt lõi của văn minh, đời sống của Hừng Việt. Ðối với chúng ta cõi Ðất cõi Người chỉ là cõi ở giữa cõi Nước và cõi Trời.

Do đó người được coi sinh ra muôn loài nói chung hay loài người nói riêng vẫn là một người phái nữ (không phải Bàn Cổ). Người nữ này chính là bà Nữ Oa.


NỮ OA BÀ LÀ AI ?

1. Nữ Oa là người Hừng Việt

Vấn đề Nữ Oa là người Hừng Việt hay Trung Hoa không còn là vấn đề khúc mắc nữa. Chúng tôi đã nhận diện ra Thần Nông và Bàn Cổ không phải là người Trung Hoa. Hiển nhiên Nữ Oa cũng không phải là người Tầu. Không cần phải viết nhiều tốn thời giờ chỉ xin đưa ra một bằng chứng không chối cãi sau đây. Nữ Oa khi chết biến thành chim Tinh Vệ đội đá vá trời, tha đá lấp biển đông. Theo từ điển Ðào Duy Anh "Tinh Vệ là con chim nhỏ ở bờ biển. Tương truyền rằng con gái vua Viêm Ðế ngày xưa vượt biển chết chìm, hóa ra chim Tinh Vệ, nay cứ ngậm đá ở núi Tây về lấp biển Ðông cho hả giận..." Tinh Vệ là con gái vua Viêm Ðế mà Viêm Ðế là tên hiệu của Thần Nông. Nữ Oa Tinh Vệ là con của Mẹ Trứng Nước Thần Nông Viêm Ðế. Như thế rõ như hai năm là mười Nữ Oa không phải là người Trung Hoa.

Về ngữ học ta cũng thấy từ Nữ Oa là từ dịch ý từ ngôn ngữ Hừng Việt. Hán ngữ phải viết là Oa nữ giống như Long nữ mới có nghĩa là "Bà Oa, Mụ Oa, Cái Oa..." Trường hợp này giống hệt từ Thần Nông. Hán ngữ phải viết là Nông Thần mới có nghĩa là vị thần trồng trọt. Từ Thần trong Thần Nông các các sử gia Trung Hoa và Việt cho tới khi chúng tôi khám phá ra nghĩa nguyên thủy, đều đã hiểu sai. Thần ở đây không có nghĩa là thần thánh. Mẹ Trứng Nước của chúng ta là vị tổ tối cao tối thượng (Supreme Being), là Mẹ Vũ Trụ, là Thiên Mẫu chứ không thể là thần là thánh loại cắc ké được. Thần ở đây cùng nghĩa với Thận, Thân, Hán ngữ là Shen. Thần, Thận, Thân là Nước, con trăn nước. Quả thận (kidney) là cơ quan có chức vụ lọc máu liên hệ tới chất nước và chất điện giải trong cơ thể loài vật. Thần Nông nghĩa là Trứng Nước rồi theo tiến hóa thành là Trứng Thuồng Luồng, Trăn Nước, Trứng Rồng. Ðiểm này cho thấy người Trung Hoa phiên âm hay vay mượn từ Hừng Việt vì họ không có Mẹ Trứng Nước, Trứng Rồng Thần Nông và Nữ Oa.

Nữ Oa là người Hừng Việt trăm phần trăm.


2. Nữ Oa theo truyền thuyết Trung Hoa

Có rất nhiều truyền thuyết về Nữ Oa. Ðể dễ hiểu xin kể theo thứ tự con số nhưng không nhất thiết là có trước sau theo con số:

Truyền thuyết Trung Hoa thứ nhất cho Nữ Oa là em ruột và cũng là vợ của Phục Hy. Hai người sinh ra loài người. Nữ Oa là người lập ra thể chế hôn nhân, là bà mối bà mai và hướng dẫn, dậy bảo, chăm lo về tính phái, tình dục, luyến ái. Bà thường được mô tả là người có đầu người mình rắn hay cá (xem hình). Hình: Nữ Oa có mình rắn tay cầm chữ thập mà giáo sư Kim Ðịnh gọi là thập tự nhai (Hình trích lại trong Hùng Việt Sử Ca của Gs Kim Ðịnh tr.137).


Truyền thuyết thứ hai Nữ Oa tạo ra con người bằng cách nặn những hình người nam nữ bằng đất sét. Làm nhiều quá hóa nản bà lấy sợi dây nhúng vào đất sét lỏng kéo lết cho những vệt đất tạo thành người. Những người do Nữ Oa nặn ra đẹp đẽ thành những kẻ quí phái, còn những giọt đất sét kéo lết trở thành những người thường dân và cùng đinh (Richard Cavendisd, An Illustrated Encyclopedia ot Mythology, tr. 64)


Truyền thuyết thứ ba nói rằng Nữ Oa đã sửa chữa lại Trụ Trời và các góc trời bị lở sụp do Thần Nước Cung Công (Kung Kung, Gonggong) tức giận đánh nhau với Thần Lửa (Zhurong) gây ra. Ðể chống trụ trời cho vững lại, Nữ Oa đã dùng bốn chân rùa và để vá trời bà đã nấu chẩy đá ngũ sắc (Nu Kua used the feet of a tortoise and melted-down stones that turned into a five-coloured mixture). Giáo sư Kim Ðịnh cho là nấu đá ngũ hành.


Truyền thuyết thứ tư, Nữ Oa đã khống chế được Ngưu Vương (King of Oxen). Con quái vật này thường đe dọa hãm hại bằng hai cái sừng và hai tai khổng lồ. Nữ Oa khống chế bằng cách sỏ một sợi giây phép vào mũi Ngưu Vương.


Truyền thuyết thứ năm cho Nữ và Oa là hai người đầu tiên, là hai anh em, hiện ra khi núi Côn Lôn thành hình. Họ đã dâng đồ tế để xin đấng tạo hóa cho phép họ là hai anh em được lấy nhau thành chồng vợ. Sự phối hợp này được chấp nhận khi khói đốt từ lễ vật vẫn giữ nguyên dạng quện vào nhau.


Truyền thuyết thứ sáu cho rằng Nữ Oa đã xây một lâu đài tráng lệ, là khuôn mẫu cho các cung điện có thành quách bao quanh của vua chúa Trung Hoa sau này. Những vật liệu xây cất lâu đài của Nữ Oa được các Thần Núi hoàn tất chỉ trong một đêm (Encyclopedia Britanica).

3. Truyền thuyết Việt Nam

a. Thần thoại Việt Nam

Có truyện Thần Nam Thần Nữ là hai vị thần đầu tiên sinh ra con người. Thần Nam tên là ông khổng lồ Tứ Tượng và Thần Nữ là bà Nữ Oa.

Theo truyện này thì bà Nữ Oa có chồng là ông Tứ Tượng. Ông này ngỏ ý muốn lấy Nữ Oa. Bà Nữ Oa thách ông Tứ Tượng đắp núi thi, nếu ông đắp cao hơn bà sẽ lấy làm chồng. Kết quả ông Tứ Tượng đắp núi thua bà. Nữ Oa đắp một ngọn núi cao ngất trời, đứng trên đó có thể thấy khắp cõi trời đất. Dấu tích còn lại của ngọn núi cao của bà Nữ Oa đắp, dân gian cho là núi Nam giới ở Hà Tĩnh ngày nay. Ông Tứ Tượng đắp núi thua nhưng kiên gan trì chí đeo đuổi mãi, cuối cùng bà Nữ Oa cũng xiêu lòng lấy ông làm chồng. Trong dân gian ngày nay còn có câu ví:

... bà Nữ Oa bằng ba mẫu ruộng,
... ông Tứ Tượng mười bốn con sào.

Với bộ phận sinh dục khổng lồ như vậy nên Thần Nữ Nữ Oa và Thần Nam Tứ Tượng đã đẻ ra loài người.

Như thế rõ ràng theo thần thoại Việt Nam thì Nữ Oa là vị Thần Nữ đầu tiên. Và ta cũng thấy thần Nam thua tài thua sức Thần Nữ Nữ Oa. Ở đây cần nhấn mạnh ở điểm bà Nữ Oa đắp ngọn núi cao vời vợi đụng tới trời là núi Nam giới. Các nhà nho ta trọng lễ nghĩa nên dịch là núi Nam giới cho nho nhã, thật ra núi Nam giới nôm na là núi hình cái giống của nam giới. Núi Nam giới mang hình ảnh cái Trụ Chống trời Bàn Cổ. Núi Nam giới nói theo Ấn giáo là núi Linga. Ðiểm này cho thấy Nữ Oa cũng có liên hệ tình dục mật thiết với Bàn Cổ và Tứ Tượng có mang khuôn mặt của Bàn Cổ (sẽ khai triển khi có dịp nói tới).

Tóm lại Nữ Oa chính vị Thần Nữ đầu tiên sinh ra loài người, trong đó chính yếu là Hừng Việt đúng như truyền thuyết Việt Nam.


b. Theo cổ thư

"Nữ Oa sinh ở Ðồ Sơn cũng có tên là Vũ Sơn trong châu Phượng Tường. Nhiều sách nói rằng Ðồ Sơn chính là Cối Kê kinh đô Việt Chiết Giang" (Kim Ðịnh, Hùng Việt Sử Ca tr.94).


c. Qua Ngôn Ngữ Học

Nữ Oa nghĩa là gì ?

Chúng tôi lại xử dụng phương pháp truy lùng nguyên ngữ của chúng tôi. Trước hết hãy xem Oa nghĩa là gì? Hãy lật Hán Việt từ điển của Ðào Duy Anh ta thấy: Oa là nước chảy cuộn, con ốc, con ếch con nhái, cái hang, cái lỗ, con gái đẹp... Ta thấy Oa liên hệ với nước, ốc nhái cho nên Oa không thể nào bắt gốc bắt nguồn từ Hán ngữ được. Oa liên hệ với nước là một từ mà chúng tôi gọi là tiền cổ -- Homo sapiens (proto-homo sapiens language). Oa là nước, ốc vì vậy cũng là từ thuộc ngôn ngữ Tiền cổ -- homo sapiens. Nói một cách dễ hiểu ngôn ngữ này là ngôn ngữ của con người khi vừa mới thoát lốt đười thành người có tiếng nói thật sự, chưa phân tán đi khắp nơi thành những dòng tộc khác nhau với ngôn ngữ biến đổi đi. Oa cũng như nước thuộc ngôn ngữ Tiền cổ -- homo sapiens nên có trong tất cả các dòng ngôn ngữ loài người (sẽ có bài viết riêng). Chúng tôi đang thiết lập thứ ngôn ngữ Tiền cổ -- homo sapiens này. Khi hoàn thành xong thì chỉ còn một bước nhỏ nữa là tới nguồn gốc ngôn ngữ loài người. Việt ngữ đóng một vài trò chủ chốt trong việc truy tìm nguồn gốc ngôn ngữ loài người.

Ở đây để chứng minh oa không phải phát gốc ở Hán ngữ mà có trong nhiều dòng tộc ngôn ngữ khác xin hãy lấy một vài ví dụ về Oa. Anh ngữ oasis, ốc đảo (đảo nước trong sa mạc). Oasis có oa(sis) = oa = ốc. Nền văn hóa của vương quốc Phù Nam ở châu thổ sông Cửu Long, miền Nam Việt Nam tập trung ở một hải cảng mang tên là Óc Eo. Hiển nhiên ta thấy Óc là Ốc là Nước. Thành phố hải cảng Óc Eo nên mang tên Óc là Nước. Từ Eo gần gận với Ea tên vị Thần Nước của Lưỡng Hà, gần cận với Việt ngữ ao (vũng nước). Theo Bình Nguyên Lộc "mãi cho đến trào Minh Mạng mà dân ta còn gọi cửa Thuận An là Cửa Eo, tức gọi theo Chàm" (Lột Trần Việt Ngữ Tr.191). Như thế Óc Eo là một từ ghép điệp nghĩa có nghĩa là nước. Ta thấy rõ nguồn gốc Óc Eo của Phù Nam liên hệ với Việt, Chàm, Phạn, Lưỡng Hà... do đó Oa không phải phát gốc tại Hán ngữ. Rõ hơn Việt ngữ va là nước, và là ốc ví dụ cái vá là cái môi múc canh; mắm và rau là mắm nước (canh) rau, cái vại là vật đựng nước; tù và là tiếng ốc hụ (thổi vào con ốc) với và là oa, ốc (đảo Java người Trung Hoa gọi là xứ Qua Oa, va=oa).

Bây giờ ta hãy đi theo từng nghĩa một của Oa trong từ điển Ðào Duy Anh:


-- Oa là con ốc.

Con ốc sống dưới nước. Con ốc cũng mang hình ảnh cái bao cái túi, cái trứng tròn. Thấy rõ ở tên Hán Việt của một loài ốc là bào ngư, "cá bao". Cá là nước, cá liên hệ với Phạn ngữ ka, nước. Bào ngư như thế có thể hiểu là một thứ "bọc nước". Vỏ bào ngư lóng lánh ngũ sắc dùng để khảm xà cừ, Anh ngữ gọi là mother-pearl inlaid. Ðiểm này cho thấy Nữ Oa liên hệ mật thiết với bào ngư, đúng như truyền thuyết viết bà đã nấu đá ngũ sắc (chính là vỏ bào ngư) thành một hỗn hợp chất ngũ sắc để vá trời. Con ốc mang di truyền tính cái bọc nước của Mẹ Trứng Nước Thần Nông. Nữ Oa mang hình ảnh con "bọc nước", bào ngư, hình ảnh này di truyền từ phần Trứng "Nồng" của Mẹ Trứng Nước Thần Nông.

Ta có thể kiểm chứng lại một lần nữa qua từ Hán Việt (?) bạng là con trai: "bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi tiếu hi hi" [con trai con cò níu nhau, ông câu cá (bắt được) thủ lợi cười khì khì]. Bạng gần cận với bàng là cái bọng, cái bóng nước như bàng quang là bọng tiểu. Bạng liên hệ với Anh ngữ barnacle (loài sò bám vào đá gỗ chìm dưới nước). Vậy con trai con bạng là con bọc (nước, ở dưới nước). Cũng cần nói thêm tại sao chúng ta gọi con bạng là con trai. Con trai con sò tiêu biểu cho phái nữ, chỉ bộ phận sinh dục nữ nhưng con trai cũng có nghĩa là "boy" (Anh ngữ). Như thế trai có hai giống cái và đực. Ðây là một từ chúng tôi gọi là "bán nam bán nữ" (androgynous). Tại sao gọi con "đực" là con trai? Xin thưa chữ trai cùng với chữ trái một vần. Con trai là con có trái. Trái gì?. Con trai có hai trái trứng! Chúng ta còn gọi trái trứng của phái nam là hòn, hột tương ứng với Ấn Âu ngữ gọi testicles là 'balls, stones, nuts, eggs'. Hòn gì? hột gì? Hòn, hột dái. Tại sao lại gọi là dái? Chúng tôi lại dùng tới cây gậy thần qui luật chuyển hóa. Úm ba la ! Cất cái tay! Chúng tôi xin mở bát! Một. Hai. Ba. Trời đất ơi! Trái là dái! Theo chuyển hóa tr=d (trải = dải, chiếu) ta có trái = dái. Con trai có trái có dái! Dái là trái, là trứng, là hòn, là hột (Nut). Trứng dái, hòn dái, hột dái. Trong thực tế con trai là loài sò ốc có hột, có hạt gọi là ngọc trai (pearl). Chúng ta không gọi là ngọc sò, ngọc hến mà chỉ gọi là ngọc trai. Con trai (sò ngao) có hột, có hạt trai, có ngọc trai và con trai (boy) cũng có hai hột dái cũng gọi là hai hòn ngọc. Như thế rõ ràng trai và trái (hột, hạt, quả, trứng, ngọc) ruột thịt với nhau. Nếu hết bàng hoàng rồi, có người lại trở về với tính cố hữu nghi ngờ chưa chịu tin, thì chúng tôi xin kiểm chứng lại cho vững tin. Trong ngôn ngữ Ấn Âu các từ chỉ bộ phận sinh dục nam đều liên hệ với quả, trái, hột, hạt. Ngoài testicles đã thấy ở trên, ta cũng thấy 'phallus', dương vật, liên hệ với Phạn ngữ phala-, 'fruit, kernel, testicle' (quả, trái, hột, hạt, dái). Qui đầu 'glans' là trái cây dẻ rừng (sẽ khai triển thêm ở chỗ khác, rõ ràng có sự liên hệ giữa Việt ngữ và Ấn Âu ngữ nhé!).

Tại sao bộ phận sinh dục nam lại có nguồn gốc cùng tận là từ hột, hạt, trái, quả, trứng? Bởi vì tổ tiên ta đã coi vũ trụ sinh ra từ một cái trứng. Cái hột, cái quả tròng-đỏ-mặt-trời coi như là nguồn gốc nguyên khởi của dương tính của đực. Mặt trời vì thế còn được gọi là hột, quả mặt trời như chúng tôi đã viết trong một truyện ngắn không tên về Ðại Vực Grand Canyon (in trong tuyển tập Văn và Nghiệp, TSYS Canada, số 112, tháng 7, 1991 tr. 100). Nguyễn Hoodoo và người con gái da đỏ Quất Hồng Bì xuống thăm một làng da đỏ ở dưới đáy Ðại Vực. Một đêm trăng hai người tắm ở thác Mother of Waters. "Hột trăng, Quất Hồng Bì thường gọi trăng là hột trăng, vằng vặc trên mép Ðại Vực". Hoodoo đã làm bài thơ có những câu:

Trên vách vực,
Triệu tỉ cái tuyết mùa đông,
Ngủ,
Cái cầu vồng.
Cái hột trăng,
Giá băng,
Ðơn lạnh,
Trên bờ Ðại Vực. Lăn. .....

(cái tuyết: người da đỏ gọi một tuyết là một năm).
Người da đỏ ngày nay còn gọi trăng, trời là "cái hột". Ðây là địa khai ngôn ngữ của họ Hồng Bàng thờ Mặt trời.

Ta cũng thấy rõ "cái hột mặt trời " này qua từ Viêm Ðế. Tại sao Trứng Nước Thần Nông lại lấy hiệu là Viêm Ðế. Ngày nay dĩ nhiên ta hiểu Viêm là nóng là lửa nhưng nguồn cội hiệu Viêm đế chỉ hột mặt trời. Thật vậy Viêm cùng vần và chuyển hóa với Viên (tròn, hòn, hột...). Viêm đế là Viên Ðế, Ðế hòn, Ðế hột. Như thế Viêm đế là từ Hán Việt các Hán Nho đã dịch nghĩa từ chữ hòn, hột và đánh bóng đi cái mộc mạc, chất phác của Man Di thấy sao nói vậy (nhưng không có nghĩa là không sâu sắc, thâm thúy). Thấy mặt trời tròn như cái hột thì gọi là hột trời và hột còn có nghĩa thật tuyệt vời trong vũ trụ tạo sinh. Tóm lại nguyên thủy mặt trời coi như là cái hột tròng đỏ của trứng vũ trụ. Viêm đế khi nam hóa có viên, có hột, có quả, có dái.

Tổ tiên ta liên tưởng cái hột đâm chồi, nẩy mộng mọc ra cái cây, cái cọc, cái cột nên từ hột, quả, trái, trứng (nghĩa là dái) cũng mọc ra cái cột, cái cọc, cái bổ, cái mỏ (tức dương vật). Từ hột dái mọc ra dương vật cọc, cột. Ta có thể thấy chứng tích "mọc" này qua qui luật chuyển hóa h=c (cùi = hủi, heart = cart, cardio): hột > cột, cọc.

Từ trứng dái tuyệt diệu vô cùng vì cho biết Viêm đế gốc trứng rồi nam hoá biến tròng đỏ thành hột dái. Trứng cũng là một từ bán nam bán nữ. Trứng nguyên thủy là giống cái (tế bào mầm cái) như Trứng Nước thần Nông và rồi tiến hóa thành giống đực như trứng dái (trứng này tương đương với hòn, hột). Nguyên khởi trứng giống Cái chúng ta gọi Cái trứng. Ngày nay chúng ta gọi quả trứng, Trung Nam còn gọi là hột như hột gà, hột vịt, hột vịt lộn. Gọi quả, hột là đã gọi theo dương tính, đã gọi theo phụ hệ, đã trọng nam khinh nữ. Gọi quả, hột là gọi theo cái tròng đỏ Viêm đế đã nam hóa. Ðây là chứng tích của sự nam hóa của tròng-đỏ-trứng-mặt-trời-Viêm-đế.

Từ đây chúng tôi rút ra qui luật Nguyễn Xuân Quang về từ bán nam bán nữ trong Việt ngữ: "Trong Việt ngữ có những từ bán nam bán nữ vừa có nghĩa cái vừa có nghĩa đực là chứng tích của tạo sinh vũ trụ và tiến hóa của con người từ mẫu hệ sang phụ hệ. Từ mang nghĩa giống cái cổ hơn từ mang nghĩa giống đực. Ví dụ trai, trứng, cái (vừa có nghĩa là mẹ, vừa có nghĩa là "cha", chính, số một, vua).

Nói cho cùng âm dương đều do Trứng mà ra cả. Ðó là cái trứng Âm Dương Hỗn Mang của Trứng Nước Thần Nông.

Ôi ! Việt ngữ sao mà huyền diệu !

Như thế con trai (ngao, gái) Việt ngữ mang hình ảnh cái bọc nước, cái trứng di truyền từ nhiễm sắc thể X 'Nông' của Mẹ Trứng Nước Thần Nông và con trai (ngược với gái,'boy') là trái quả, hột hạt (nuts) di truyền từ nhiễm sắc thể Y quả, hột, tròng đỏ Viêm Ðế.


-- Oa là nước.

Ðã nói ở trên. Ở đây ta cũng thấy oa có nghĩa là nước chảy cuộn nghĩa là có hàm nghĩa nước. Vậy Nữ Oa mang dòng máu Nước của Mẹ Trứng Nước thần Nông. Nữ Oa sinh ra từ nửa phần trứng phía dưới.



-- Oa là hang, là lỗ.

Con ốc sống dưới nước đã dùng các "chất rắn sơ tạo" làm cái vỏ cứng như sành như đá. Nói một cách khác là từ chất rắn tan trong nước (phần lớn là chất vôi) làm thành vỏ sành vỏ đá. Ðiều này củng cố thêm và ăn khớp với điều chúng tôi nói ở trên là vũ trụ quan của chúng ta là nước có trước. Nước tạo ra đất. Ðất giữ vai trò thứ yếu so với nước. Và vì có cái vỏ sành vỏ đá bà Nữ Oa đã liên hệ mật thiết với đá, núi. Ðiều này giải thích tại sao bà đội đá vá trời, tha đá lấp biển Ðông; nấu đá ngũ sắc vá trời; giải thích tại sao bà thách đố ông Tứ Tượng đắp núi thi, nếu ông ta đắp cao hơn bà sẽ nhận cưới làm chồng; tại sao bà đắp núi Nam giới; giải thích tại sao bà sửa chữa được trụ trời Bàn Cổ bị Cung Công làm xô lệch hư hại; giải thích tại sao bà xây lâu đài mà các thần núi đã giúp bà một tay làm xong trong một đêm...

Oa có nghĩa là cái lỗ cái hang đá vì ốc sống trong cái vỏ sành vỏ đá giống như sống trong hang đá; có loài ốc gọi là ốc đá.



-- Oa là cái nồi.

Con ốc tròn, như cái bao. Có những loại ốc tròn bầu trông giống cái nồi. Ta có loại ốc bưu gọi là ốc nhồi. Với h câm nhồi >> nồi.



-- Oa là con ếch con nhái.

Tại sao ếch nhái lại liên hệ tới ốc oa.

Ta biết ốc có nghĩa là nước (đã viết trong bài "Con... Ếch Là Cậu Ông Trời"). Ta có từ ghép óc ách chỉ tiếng nước kêu: óc = ách, nước. Óc ách gần cận với ốc ếch nghĩa là ốc và ếch đều cùng nghĩa nước đều cùng nghĩa oa của Hán Tự.

Qua ngôn ngữ huyền diệu của Việt Nam ta thấy rõ được sự tiến hóa loài của loài vật. Con ốc sống dưới nước rồi lên cạn thành con sên tiến hóa thành loài lưỡng thê ếch nhái sống dưới nước và nhảy lên bờ sống trên cạn.



-- Oa là con gái đẹp.

Sẽ giải thích ở dưới.

Tất cả những ý nghĩa của Oa vừa kể đều mang ý nghĩa liên hệ tới phái nữ. Ðây là yếu tố Âm. Oa là con ốc. Con ốc liên hệ với bộ phận sinh dục nữ. Chứng tích còn lại cho thấy có sự liên hệ giữa ốc và bộ phận sinh dục nữ qua câu ca dao:

Cô lô cô lốc,
Một nghìn ghính ốc đổ l... cô.

Tại sao lại gánh ốc đổ vào "lốc", "nốc", vào đồ của cô? Ai mà chơi oái oăm vậy? Ðáng lẽ phải đổ một nghìn gánh "lăng quăng" mới hợp lý chứ. Không. Các cụ ta chí lý lắm. Ðổ ốc vào đồ cô là "châu về hợp phố". Nói tới "lốc", "nốc", tới l... là các cụ ta nghĩ ngay đến "mò ốc" nên mới hạ bút viết như vậy. Gánh ốc đổ vào ốc là đúng hết chỗ nói. Chúng tôi không nói ngoa đâu. Ốc là bộ phận sinh dục nữ. Theo qui luật chuyển hóa o=d=đ như ẩy = dẩy = đẩy ta có ốc = dốc = đốc. Theo Từ Ðiển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes "Dốc: Cơ quan sinh dục đàn bà. Lồn, dòi, bẹn, ke. Cùng một nghĩa; phải tránh những tiếng này". Cha Ðắc Lộ khuyên "phải tránh những tiếng này" là Cha khuyên các vị cha Âu châu học tiếng Việt khi nói tiếng Việt nhất là trong lúc giảng lễ phải tránh những từ đó. Ke là cổ ngữ chính là kẽ đọc thêm hơi vào ke là khe. Bộ phận sinh dục nữ cổ nhân gọi giản dị là cái kẽ cái khe vì thấy sao gọi vậy không có cái chuyện đạo đức giả gọi là ngọc môn. Ngày nay chúng ta còn gọi hạt tình (hột le, clitoris) là mồng đốc, mòng đóc nghĩa là cái mồng thịt, cái mào thịt của dốc của đốc. Tại sao dốc có nghĩa là cơ quan sinh dục nữ? Xin thưa ngày nay dốc có nghĩa là chỗ thoai thoải xuống, nguyên thủy dốc là chỗ trũng, cái khe. Thật vậy theo d=r ta có dốc = rốc = rộc. Chứng tích còn thấy trong Mường ngữ rộc là cái khe, cái rãnh:

Kéo xuống rộc bắt cua

(Trương Sỹ Hùng Bùi Thiện, Vốn Cổ Văn Hóa Việt Nam, nxb VHTT Hà Nội 1995, tập II tr.51).
Cái dốc là cái ke, cái khe, cái kẽ cái l...

đúng như trong từ điển của Cha Ðắc Lộ.
Theo d=n, dốc = nốc, cái dốc chính là cái nốc. Nốc ngày này vùng Thanh Nghệ Tĩnh vẫn còn dùng với nghĩa là ghe thuyền:

Ăn thì cúi chốc,
Kéo nốc thì than

Nguyên thủy nốc là thuyền độc mộc. Lấy một thân cây đem khoét một cái khe, cái lỗ là làm được một cái thuyền độc mộc. Theo chuyển hóa d=đ=r ta có dốc = rốc. Mường ngữ rốc là thuyền độc mộc:

Anh mo để tiếng ấy vào tâm,
Ngẫm tiếng ấy vào lòng,
Dậy đi chặt rốc dài dài
Ðẽo rốc cong cong,
Cây bơi cây chèo bằng lim bằng sến

(Trương Sỹ Hùng Bùi Thiện, Vốn Cổ Văn Hóa Việt Nam, nxb VHTT Hà Nội 1995, tập II tr.239)
Thuyền độc mộc, nốc, rốc làm từ một khúc cây lộc, nog, log (Anh ngữ).

Như thế nốc, dốc là cái rộc, cái khe. Ðiều này giải thích tại sao nốc, ghe chỉ cơ quan sinh dục phái nữ. Chúng tôi đã có dịp nói đến một cách chửi bằng cách biếu xén quà cáp. Xin vắn tắt nhắc lại. Nếu chúng ta muốn chửi ai thì giỗ tết đem biếu người đó một lá trầu, hai quả cau và ba chén chè. Lá trầu là lá đỏ (trầu là trâu là châu là chu là đỏ) cùng nghĩa với lá đa (xem Nguyễn Xuân Quang, Sự Ðời Như Cái Lá Ða). Hai quả cau là hai cái trứng (rõ ràng cau là trứng nhé) của phái nam và ba chè nói lái lại là "ghe bà". Ghe là nốc, rốc là khe. Ta có thể kiểm chứng thêm một lần nữa ghe là khe theo chuyển hóa g=c=k như gà = cà (Mường ngữ cà là gà) ta có ghe = khe, cái "khe... sanh"! Tóm lại ốc liên hệ tới dốc, nốc, rốc... tới bộ phận sinh dục nữ. Trong thiên nhiên cũng có con ốc l... porcelena.

Tiện đây cũng xin nói tới từ độc. Cổ ngữ Việt, Mường, các sắc tộc cao nguyên gọi con khỉ là con độc, dok, vọc. Ðộc liên hệ với dốc bộ phận sinh dục nữ. Tại sao khỉ độc lại liên hệ với dốc? Ta thấy ngay khỉ gần cận với khẻ, khe. Mà khe là dốc nên dốc gần cận với độc (khỉ). Chúng ta gọi khỉ là đốc vì đốc là dốc, cái lỗ đẻ, có nghĩa là đẻ là mẹ. Loài khỉ được coi là mẹ đẻ ra con người.

Cũng xin giải thích thêm về cái thắc mắc là ... của cô nào, bà nào mà chứa đủ "một nghìn ghính ốc"? Ối giời đất ơi! Sao mà đáo để thế, sao mà chua ngoa thế! Làm gì có ai mà to đến thế? Xin thưa là không, các cụ ta không chua ngoa tí nào cả. Ðó là "ba mẫu ruộng" của bà Nữ Oa. Dân Việt Nam nhất là bọn con nhà mất dậy, có học mà không có hạnh thường đem tiên tổ ngọn nguồn cha mẹ người ta ra mà bới móc. Câu ca dao này cũng vậy bới móc đến tận "ba mẫu ruộng" của "nguyên lý Mẹ Nữ Oa" (danh từ của giáo sư Kim Ðịnh).

Ðây cũng là bằng chứng "bia miệng" vững chắc cho thấy Nữ Oa là mẹ dân tộc Việt vì còn để lại hình bóng "ba mẫu ruộng" nơi người "cô lô cô lốc, một nghìn ghính ốc" này ở các bà cô chồng đáo để Việt Nam.

Ốc cùng loài với sò. Chúng ta ai cũng biết sò chỉ bộ phận sinh dục nữ. Vậy Nữ Oa chính là Con Sò. Mẹ Nữ Oa chính là Mẹ Trai Sò.



-- Oa với nghĩa cái hang đá, cái lỗ.

Ðây cũng là hình ảnh bộ phận sinh dục nữ. Sò liên hệ với sành với đá, Ainu ngữ sei là con sò và cũng là đồ sành. Ta còn thấy dấu tích của sò bộ phận sinh dục nữ liên hệ với sành, đá qua câu ví của giới dân dã Việt Nam ngày nay:

L... sành da đá, đít mảnh cong.

Mẹ Sò Nữ Oa cũng còn mang hình ảnh o tròn của cái lỗ, cái hình vòm của cái hang. Con ốc con sò sống ở trong một cái vỏ sành vỏ đá cứng dưới nước như ở trong một cái động một cái hang đá dưới nước. Vì thế mẹ Sò Nữ Oa đã xây một cung điện lộng lẫy trong một cái hang động dưới nước. Cái cung điện hang động này liên hệ với Ðộng Ðình Hồ và cũng dính dáng đến Thần thoại Mường nói tới chim Ây Cái Ứa xây tổ trong hang Hào đẻ ra trăm cái trứng... Hang Hào chính là Hang Sò. Hào, hàu là nghêu sò. Hang Hào nghĩa là cái hang của Mẹ Sò Nữ Oa. Người Ao (Âu) Naga ở Assam đã từng kết hợp với Lạc Việt thành nước Âu Việt, cho là tổ tối cao của họ là Tổ "Nhà Ðá" Lungkijangba: "Lungkijangba (stone house deity) is the great god, highest of all the gods" (William Carlson Smith, The Ao Naga Tribe of Assam tr.78) (Thần Nhà Ðá Lungkijangba là vị thần cả, cao nhất trên hết các vị thần). Không rõ "Lung" trong Naga ngữ nghĩa là gì nhưng vì Âu và Lạc là anh em đã từng kết hợp với nhau nên có thể hiểu nhau chúng tôi cắt nghĩa Lung là Ðống hay Ðộng. Lungkijangba là Thần Núi (gò đống) hay thần Ðộng Ðá, hang đá. Tác giả Smith viết theo lời thông dịch viên với tiếng Anh ăn đong dịch Lung là nhà đá. Nếu lấy theo nghĩa "nhà đá" thì Lung là động, là hang. Như thế tổ của người Âu (Việt) là Thần Hang Ðá. Hang đá là hang sò, hang ốc hang Nữ Oa... Âu và Lạc Việt cùng tổ "Hang đá Nữ Oa" thì không sai đến một li.

Oa với nghĩa là hang, động đã đẻ ra sự kiện nói trong truyền thuyết là Nữ Oa xây một cung điện tráng lệ có thành bao quanh (đúng là cái bao, cái bọc) mà vua chúa Trung Hoa về sau theo đó bắt chước theo để xây thành quách cung vua. Thành vua thường có tường bao bọc, chung quanh có hào nước giống như con bào ngư, con ốc ở dưới nước.


-- Oa là cái nồi.

Oa có nghĩa và có hình cái nồi giống cái dạ con phái nữ. Dạ con giống hình cái nồi úp ngược hay chữ "o lớn" omega. Từ nồi cùng vần với nôi. Nôi là chỗ sinh đẻ, nguồn cội ví dụ cái nôi văn hóa.

Nồi mang hình ảnh của dạ con, cái nôi của con người khi còn nằm trong bụng mẹ.


-- Oa là con ếch nhái.

Hồi nhỏ sống ở Bắc tác giả còn nhớ dân quê cũng ví ếch hay hang ếch gọi là cái mà ếch với bộ phận sinh dục nữ, thường hay dùng chữ ếch bà...

Ðiểm đáng nói thêm nữa về cái đuôi của Mẹ Trai Sò Nữ Oa. Trong truyền thuyết Nữ Oa đầu người mình rắn. Cái đuôi này khởi thủy của cái đuôi rắn, đuôi rồng sau này. Nữ Oa là ốc nên đây cũng là đuôi ốc. Tổ tiên ta cũng cho rằng ốc có đuôi. Dân ca Mường có câu hát:

Rắn đi thấy chốc, ốc đi thấy đuôi,
Ruồi bay qua cũng biết được con trống con mái...

(Vũ Ngọc Phan, Tục Ngữ, Ca Dao, Dân Ca Việt Nam tr.786).
Oa còn là con ếch con nhái. Oa thừa hưởng di truyền tính hình cái trứng của Thần Nông và cái cọc, "cái đanh thổi lửa" của Viêm Ðế. Cái trứng Nông hợp với cái Nọc thành con nông-nọc hay nòng nọc.

Nòng nọc được gọi tên như thế vì trông giống hình cái trứng có đuôi. Nòng nọc đẻ ra ếch nhái ra Nữ Oa.


-- Oa là người con gái đẹp.

Tất cả những nghĩa trên đều liên hệ đến phái nữ hiển nhiên oa cũng có nghĩa là người con gái. Nữa Oa con Mẹ Trứng Nước Thần Nông dĩ nhiên da phải trắng nõn nà như trứng gà bóc phải đẹp như tiên không cần phải giải thích gì nhiều nữa. Nữ Oa có đuôi rắn là Xà Nữ, có đuôi cá là Ngư Nữ, đều là những mỹ nhân tuyệt sắc. Nữ Oa là thần Vệ Nữ Venus của Hừng Việt (xem dưới). Nói theo Ðông phương Nữ Oa là một nàng tiên. Ðẹp như tiên. Tiên chỗ nào cũng đẹp cả. Ngay cả con sò của tiên cũng đẹp như tiên, bằng chứng người miền Nam gọi con trai (mussel) là con l... tiên. Nữ Oa là một nàng tiên nên đẻ ra Vụ tiên mẹ của Kinh Dương vương.

Ta đã thấy Oa là con Sò ăn khớp khít khao với cổ sử, truyền thuyết, ngôn ngữ học... bây giờ xem Nữ có nghĩa là gì.


Nữ là gì?

Nhìn thấy từ Nữ ai cũng cho là chỉ phái nữ. Có lẽ không phải vậy. Có đúng chăng chỉ là hợp với văn phạm Việt Nam. Nữ là gái, cái, mụ, bà, mẹ... Nữ Oa dịch từ hai chữ cái ốc, cái trai, cái sò, mợ trai, mụ sò, mẹ sò của Việt ngữ. Ðây là cách dịch từng chữ "mot par mot". Chúng tôi rất nghi ngờ, không mấy tin là vậy.


Ðiều chúng tôi tin hơn là Nữ có nghĩa khác. Theo N = Ng như nại = ngại (mưa nắng); nỡm = ngợm (đồ), ta có Nu = Ngu. Và theo u=ao như mũ = mão, ta có Ngu = Ngao. Ngao là nghêu, hến. Và từ oa chính âm là qua oa = qua như thấy Nữ Oa Tây phương phiên âm là Nu Kua, Nu Qua; điều này cũng đúng với qui luật chuyển hóa qu = 0 như queo = eo; giáo sư Lê Ngọc Trụ, trong Việt Ngữ Chính Tả Tự Vị cũng xếp oa và qua vào cùng một vần. Ta có oa = qua, quả. Như thế Nữ Oa là Ngao Quả, con nghêu hình như cái quả, cái trái.
Chúng tôi thấy có hai loài ngao ốc có tên y chang với Ngao Quả Nữ Oa. Ðó là loài Nucula thuộc họ Nuculidea, bộ Nuculacea thường gọi là ngao hạt, ngao quả, nghêu trái (nut shell). Eureka! Eureka! Eureka! Ngao Quả Nữ Oa chính là Nut shell Nucula! Giống thứ hai là Nuculana là loài nhuyễn thể sống rất lâu, thấy xuất hiện từ thời Silurian (bắt đầu khoảng 430 triệu năm trước) và ngày nay vẫn còn thấy rất nhiều ở các bãi bể (xem hình).

Hình: Ðịa khai "Nữ Oa" Nuculana lirata, thời đại Devonian (sưu tập bởi nhóm Hamilton, Marilla, N.Y., in trong Encyclopedia Britanica).

Ngao Quả, Ngao Trái chính là con trai. Con trai vừa có nghĩa là trai (ngao) vừa có nghĩa là trái (quả). Ngao Quả Nữ Oa, Nut shell Nucula chính là con trai (miền Nam gọi là con l... tiên). Ôi! Việt ngữ nhiệm mầu biết bao! Rõ như "con cua tám cẳng hai càng, một mai hai mắt rõ ràng con cua" là Nữ Oa chỉ là từ phiên âm của Ngu Quả, Nghêu Quả, Nucula. Nữ Oa Nu Kua, Nu Qua phải là Nghêu Quả tức Con Trai (Nut shell). Về di truyền học Nghêu Quả, Nghêu Trái, Trai Nữ Oa có Nghêu, Ngao, Ngu Nu là do nhiễm sắc thể X (chromosome X) Nông có nghĩa là nước, túi nước, túi (trứng, dạ con, âm đạo) của của Trứng Nước Thần Nông truyền qua và Quả là do nhiễm sắc thể Y Viêm ( viên, hòn, hột, quả tức dái) của Viêm-đế-quả-mặt-trời truyền qua. Ðúng đứt đuôi con nòng nọc... Nữ Oa!

Con trai Nut shell có Nu khiến ta liên tưởng tới Thần Vòm Trời Anu của Lưỡng Hà và Nut làm ta liên tưởng tới thần Vòm Trời Nut của Ai Cập. Và ta đã biết Thần Vòm Trời Anu và Nut có liên hệ với Mẹ Vòm Trời Trứng Nước Thần Nông.

Nu có thể là ngu, là nghêu, là nghê. Nghê theo giáo sư Kim Ðịnh "Nghê: màu đỏ ráng tức màu hồng lúc rạng đông" (Hùng Việt Sử Ca tr.85). Vũ khúc nghê thường là điệu nhẩy mà vũ nhân mặc xiêm y lông chim màu ánh sáng bình minh rực rỡ. Ðây là một điệu "sun dance". Nữ Oa có thể là con sò rạng đông Nghê Oa có vỏ hình mặt trời mọc như con sò huyết (bloody clam) hay sò viên mai (pecten).
Ta biết Nữ Oa có mang yếu tố di truyền DNA của Viêm Ðế Mặt trời nên vỏ phải có hình mặt trời giống hình sò viên mai. Nữ Oa là tổ mẫu mối mai chuyên lo chuyện vợ chồng (Patroness of matchmakers) nên là Bà Mai, Sò Mai (pecten) không phải là không hữu lý. Nữ Oa là mẹ đẻ ra loài người nên là bình minh của nhân lọai. Nghê với nghĩa màu hồng gần cận với ngao, ngầu. Ngầu với nghĩa là đỏ (đỏ ngầu) ăn khớp với Viêm là lửa, là đỏ, nên Nữ Oa cũng có thể là sò đỏ, sò huyết. Ðiểm nữa dựa vào yếu tố Nữ Oa gần âm với Nucula, tên một loài nghêu sò, có thể Nữ Oa chỉ là tên chỉ một loài nghêu sò duy nhất là Nghê Oa. Nữ không phải là từ chỉ giống phái, ta thấy rõ vì ngược với cách nói và viết của người Trung Hoa trừ phi là dịch "mot par mot" từ Việt ngữ như đã nói ở trên. Nữ Oa không phải là hai danh từ riêng rẽ, Nữ dùng như tính từ giống hệt từ Thần Nông là Trứng Nước với Thần là Nước không phải là thần thánh. Nữ Oa là Sò Rạng Ðông có những điểm song hành với Thần Vệ Nữ Venus (xem dưới). Vệ Nữ cũng được biểu thị liên hệ với sò rạng đông viên mai (pecten) như thấy Vệ Nữ đứng trên sò rạng động trong hình bìa số này. Các thi gia La Mã cũng đã viết Venus di chuyển với ánh sáng tỏa ngời như bình minh: "she moves in radiant light" (Edith Hamilton, Muthology, tr.33) Như thế Nữ Oa có thể là Ngu Oa, Nghê Oa, con Sò Rạng Ðông. Chính hình ảnh hừng rạng cuội nguồn cùng tận này (vì Nữ Oa là người sinh ra loài người) mà nhiều tộc Hừng Việt đã dựa vào đó đặt tên nước theo như nước Ngu, Ngô (Việt), U Việt (ng = O, ngù ngờ = ù ờ )... cũng như vua tổ của chúng ta đã lấy tên hiệu là Hừng Vương. Trong số trước khi vén tấm nhiễu điều phủ lấy giá gương lên, chúng tôi có nói là Bàn Cổ là ông tổ bình minh của con người đó là nói theo ý nghĩ của truyền thuyết Trung Hoa, một tộc coi cha hơn mẹ. Ðến đây, ta phải nói Nữ Oa là Mẹ Sò Hừng Rạng mới đúng theo quan niệm của tổ tiên ta thời thái cổ.

Về khảo cổ học người ta đã đào tìm được rất nhiều sò ốc nhất là những loại sò vỏ có tia như ánh sáng hừng đông trong các cổ mộ thời thái cổ. Cho tới ngày nay các học giả tây phương và đông phương thường cho rằng vỏ sò hến chôn theo người chết được dùng như tiền bạc. Sự khám ra chân tướng của Mẹ Sò Hừng Rạng Nghê Oa của chúng tôi cho thấy sò ốc là vật thờ mẹ Sò Hừng Rạng đẻ ra con người của người thái cổ, nhất là những tộc thờ mặt trời Hồng Bàng. Trong trống đồng đào được ở Vân Nam cũng có chứa vỏ sò ốc. Trong ngôi mả khai quật gần đây của vị vua-thầy-tế (priest-king) của người Moche thờ mặt trời họ hàng với người Inca Nam Mỹ châu cũng thấy rất nhiều vỏ sò có tia rạng đông. Người Âu Naga mặc dầu sống xa biển vẫn coi vỏ sò là "bửu bối", ngày nay còn trang trí vỏ sò trên áo tế và quần áo mặc thường nhật... Những vỏ sò thờ mẹ Sò Hừng Rạng được coi là bửu bối vì là vật tượng trưng cho mắn sinh, sinh lợi (fertility), sản xuất, tài lợi, tái sinh... Hán Việt bối là sò là chuyển hóa của mối, mai (b=m) và mai là buổi sáng, là hừng đông là sò viên mai. Hán Việt bối viết có hai chân tượng hình con sò viên mai hừng rạng có hai chân ở bản lề. Với chừng đó dữ kiện chúng tôi thấy Nữ Oa mang hình ảnh Nghê Oa, Sò Hừng Rạng.

Tóm lại Nữ Oa có thể là Cái Trai, Cái Sò, Bào ngư, Sò Huyết, Sò Hừng Rạng. Tuy nhiên chúng tôi cho rằng nguồn gốc cùng tận của Nữ Oa chính là Nghêu Quả, Nghêu Trái, con Trai Nuculua (Nut shell). Nữ Oa là Ngao Quả, Ngao Trái, Ngao Trai, chính là con l... tiên của miền Nam. Từ trai của Việt ngữ là một trong những từ huyền diệu nhất của ngôn ngữ loài người. Trai cho biết sự tạo sinh của vũ trụ, muôn loài. Trứng Nước Thần Nông biến hóa một phần chính thành Trai (sò, âm) và biến hóa lòng đỏ Viêm Ðế thành trai với nghĩa trái (dái, đực). Trai cho biết sự tiến hóa của sinh vật từ cái qua trạng thái cái-đực (androgenous) (một vài loài động vật bộ thấp có cả bộ phận đực cái chung, về thực vật như cây cam có cả nhụy đực và nhụy cái chung, "loạn luân" với nhau thành quả) rồi mới tiến hóa thêm tách ra thành cái và đực riêng rẽ...

Nói một cách phổ quát, chúng tôi gọi nôm na như dân dã Việt Nam Nữ Oa là Mẹ Trai hay Mẹ Trai Sò Nữ Oa.


4. Tại Sao Nữ Oa Khi Chết Biến Thành Chim Tinh Vệ?

Như đã nói Nữ Oa còn mang dòng máu Viêm Ðế, một khuôn mặt nam hóa của Thần Nông. Theo đà tiến hóa, vì nhu cầu tạo sinh phải có trống (đực), trứng mới sinh nở được nên tròng-đỏ-trứng-mặt-trời nam hóa thành dương, thành hột, thành trái, thành dái. Tròng biến thành trống (đực). Hột Viêm đế mọc ra cọc, cột, mỏ chim, "con chim". Yếu tố dương "chim" này truyền xuống cho Toại Nhân, Nữ Oa, Phục Hy và Bàn Cổ. Do đó Nữ Oa khi chết biến thành chim Tinh Vệ là chuyện tự nhiên rất hợp lý, đúng theo di truyền học. Truyền thuyết viết chim Tinh Vệ là con gái Viêm Ðế quả không sai.

Như thế Thần Nông (tên tục) mang dòng máu Nước tức Rồng và mang dòng máu chim Viêm Ðế (tên hiệu). Ðây là mấu chốt để chúng ta hiểu rõ cái mớ bòng bong của cổ sử Việt Nam và Trung Hoa. Sau đây để dễ nhớ dễ hiểu chúng tôi rút ra qui luật Nguyễn Xuân Quang về tên và hiệu của các nhân vật cổ sử Việt Nam như sau: "Khởi thủy tất cả các nhân vật trong cổ sử Việt Nam đều có một tên mẹ đẻ và một tên hiệu. Tên mẹ đẻ biểu thị nguyên tố Âm của mẹ Trứng Nước Thần Nông tức Nước. Tên hiệu là tên đặt sau nên giữ vai trò thứ yếu, biểu thị yếu tố Dương Tròng-đỏ-mặt-trời-Viêm-đế tức Lửa. Tiến hóa với thời gian khi phụ quyền lấn mẫu quyền, yếu tố dương dần dần trở thành chủ yếu"Biểu tượng của Nước của Mẹ là Nông, Nang: trứng, bọc nước, cái bọc (dạ con, âm đạo); Nường (âm hộ, bộ phận sinh dục nữ nói chung) và các loài thủy tộc như ốc, ếch, rắn, trăn nước, sấu dao... rồng. Biểu tượng của Lửa của Cha là trái, quả, hột hạt, trứng (dái) cây, cọc, dùi, mỏ (dương vật) và các loài chim. Ví dụ Nữ Oa mang dòng máu Nước (ốc) có tên thứ nhì là chim Tinh Vệ mang máu chim Viêm Ðế. Lộc Tục có tên hiệu là Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân có tên hiệu là Sùng Lãm tất cả đều mang nhiễm thể X và Y của Nông-rồng và Viêm-chim (sẽ khai triển khi viết về các nhân vật này).


HÌNH BÓNG NỮ OA TRONG TẤM GƯƠNG CỔ SỬ LƯỠNG HÀ VÀ CÁC TỘC LIÊN HỆ.

Trong khi khai quật kho tàng cổ sử Việt Nam chúng tôi đã tìm thấy nhiều điểm gần cận hay đi song song giữa cổ sử Việt Nam với cổ sử Lưỡng Hà và những tộc chịu ảnh hưởng văn hóa Lưỡng Hà. Chúng tôi đã trình bầy là vị tổ tối cao tối thượng của chúng ta là Mẹ Trứng Nước Vòm Trời Thần Nông liên hệ với Thần Vòm Trời Anung của tộc Ao (Âu) Naga ở Assam, liên hệ với Thần Nữ Vòm trời Ai Cập Nut (theo t=n, Nut = nung) và quên nói rằng Thần Nông liên hệ với vị thần vòm trời tối cao của cả khối Lưỡng Hà là Anu. (A) nu gần cận vớn nung, nông...

Chúng tôi có bài viết riêng so sánh cổ sử Việt Nam và cổ sử Lưỡng Hà, ở đây chỉ xin vắn tắt về những điểm liên hệ tới Nữ Oa với Lưỡng Hà.

Ở trên ta đã thấy Trai Nut shell Nữ Oa có Nut liên hệ với Nữ Thần Vòm Trời Nut của Ai Cập. Chúng tôi cũng đã khám phá ra Nữ Oa liên hệ với vị Thần Nước của Lưỡng Hà. Qua bài viết này chúng ta đã biết Nữ Oa biểu tượng cho nước. Nước là nguyên thể (Primeval Waters) âm chính yếu của chúng ta, đất đứng hàng thứ ba sau Nước. Nữ Oa chính là vị nữ thần Nước của chúng ta. Ta có thể thấy rõ thêm một lần nữa là Nữ Oa viết dính vào nhau thành Nuoa, đọc theo một âm rất gần cận với Nước. Thật vậy nếu thay oa = ốc, ta có Nuoa = Nuoc = Nước! Vị thần Nước của Lưỡng Hà là Ea. Ở trên đã nói Ea liên hệ vớ Oa. Nữ Thần Ea ruột thịt với Nữ Thần Nữ Oa.

Sau đây là hình bóng của Nữ Oa trong tấm gương thần thoại Tây phương.

Nữ Oa là con trai con sò. Thần Vệ Nữ Venus cũng liên hệ tới con sò. Trong bức tranh Sự Ra Ðời Của Venus (1482-1485) họa sĩ Sandro Botticelli đã vẽ Venus đứng trên con sò khi ra đời (hình bìa).


Nữ Oa là sò ốc có vỏ sành đá làm từ chất rắn nổi trên mặt nước lềnh bềnh. Thần Nông như đã biết là Trứng Nước, cái bọc nước.

Nông, nang cũng có nghĩa là cái bọc, cái túi.

Vệ Nữ còn có tên là Aphrodite. Theo Iliad nàng là con gái của vị thần tối cao tối thượng Zeus và Dione nhưng trong các thi ca về sau lại cho rằng Venus sinh ra từ bọt biển (foam). Tên Aphrodite có Aphros trong Hy Lạp ngữ có nghĩa là bọt biển. Aphrodite là "the foam-risen". Bọt nước là cái bong bóng nước gần cận với bọc nước. Bọt gần cận với bọc.

Nữ Oa theo Ðào Duy Anh, Hán Việt từ điển là người con gái đẹp.

Theo thần thoại Hy Lạp Venus là Nữ Thần Sắc Ðẹp Goddess of Beauty.


Nữ Oa người lập ra hôn nhân. Venus cũng là hình ảnh của hôn nhân. Các thi sĩ La Mã thường làm thơ về Venus trong các lễ hôn nhân và Venus thường ban cho tân giai nhân sự hứa hẹn mắn sinh và hạnh phúc. Phía trong nắp hòm cưới (cassone) thường có vẽ hình Venus nằm. Hình ảnh Venus trở thành thứ trang trí ưa chuộng trong phòng cưới.


Nữ Oa là thần sinh đẻ ra con người, thần mắn đẻ. Venus là hình ảnh của mắn sinh. Những hình tượng phái nữ biểu tượng cho mắn sinh đào được từ thời thái cổ, Tây phương đều gọi là Venus.


Nữ Oa là biểu tượng của Tình Yêu.

Nguyễn Du trong Kiều:

Ngọn triều non bạc trùng trùng,
Vời trông còn tưởng bóng hồng lúc gieo,
Tình thương bể thắm lạ điều,
Mà hồn Tinh Vệ biết theo chốn nào.

Giáo sư Kim Ðịnh giải nghĩa Tinh Vệ là chim (bảo) vệ tinh tức là Thanh Tinh (Rồng xanh) nghĩa là Phục Hy. Chúng tôi đồng ý với giáo sư Kim Ðịnh là bà Nữ Oa là Ốc là Ếch Nhái thì sức mấy mà bị chết đuối: "Huyền thoại nói chim Tinh Vệ tha đá 'lấp bể Ðông' vì đã chết đuối ở đó. Ðó là nói liều, vì Nữ Oa có nghĩa là loài ở dưới nước (nhái, ốc, cá) ta gặp hình bà đầu người mình rắn hoặc cá... làm sao chết đuối được..." (Kim Ðịnh, Hùng Việt Sử Ca, tr.121) .

"Khi chết bà hóa ra chim Tinh Vệ tha đá lấp bể đông không phải vì tức giận bị chết đuối mà vì tình yêu thương Phục Hy" (KÐ,HVSC tr.95).

Nhưng chúng tôi không tin hoàn toàn như giáo sư là vì Phục Hy mà Nữ Oa tha đá. Nữ Oa, tha đá, nấu đá sửa chữa Trụ Trời Bàn Cổ vì tình yêu với Bàn Cổ. Hán Việt bàn là tảng đá lớn như thạch bàn và theo chúng tôi cổ là cột, trụ. Bàn Cổ là trụ chống trời bằng đá. Nữ Oa tha đá sửa trụ đá chống trời vì yêu thương "cột đá" nhiều hơn yêu Phục Hy. Bàn cổ cũng là chồng của Nữ Oa (sẽ khai triển trong tương lai).

Theo thần thoại Tây phương thì Venus là Nữ Thần Tình Yêu Goddess of Love.

Biểu tượng của Nữ Oa là con chim Tinh Vệ một loài chim nước sống ở bờ biển (Ðào Duy Anh, Hán Việt từ điển). Biểu tượng của Venus là chim bồ câu, vài khi là chim sẻ và thiên nga.


Về cây cỏ Nữ Oa là thần hôn nhân, mai mối, tình yêu trai gái nên có biểu tượng là cái Lá Ðỏ có hình trái tim tức lá Trầu (trầu là châu, chu là đỏ; sau này lá đa thay nghĩa tục cho lá trầu).

Trong truyện Trầu Cau hai anh em sinh đôi Lang và Tân (Hán Việt tân lang có tân viết gần cận với binh; binh lang là cau) cùng yêu người con gái của đạo sĩ Huyên tên là Xuân Phù [Hán Việt phù là cây trầu, phù cũng có nghĩa đỏ. Chim hồng còn gọi là chim phù (Bình Nguyên Lộc, Lột Trần Việt Ngữ, tr.22). Chim phù chính là chim phụng, chim phượng]. Nhưng "người anh được kết duyên cùng nàng"... kết quả người em chết hóa thành đá, người anh Lang (nang là cau) chết thành cây cau và người vợ của Cau chết thành dây trầu có lá hình trái tim quấn quanh cây cau. Ngày nay chúng ta chỉ còn hiểu Trầu Cau thu gọn vào khía cạnh hôn nhân thật ra ý nghĩa trầu cau không phải chỉ là vậy. Chúng tôi sẽ khai triển rõ trong bài viết Ý Nghĩa Miếng Trầu Cau. Lá trầu là vật biểu về cây cỏ của Nữ Oa.

Về cây cỏ vật biểu của Venus là cây myrtle thuộc họ sim. Sim cũng biểu tượng cho tình yêu mà chúng ta thường nghe hát hay nói tới màu tím hoa sim. Sim có quả như trái tim nhỏ giống trầu có lá hình trái tim. Trong họ sim có cây ổi liên hệ với ối là đỏ (Nguyễn Xuân Quang, Nước Ðầu Ối, YTPT tháng 10-94 tr.51-52). Trái ổi đỏ cũng có thể mang hình ảnh trái tim đỏ. Ổi với oyster (hào) đều có oi, oy có nghĩa là ối là đỏ. Oyster là "cái đỏ" (hào, hầu, hấu như dưa hấu đều có nghĩa là đỏ. Với h câm hàu là au, là đỏ: au đỏ). Con sò là "cái đỏ". Rõ ràng ổi là loại myrtle vừa là biểu tượng cho Venus và cũng là biểu tượng cho "sò huyết" Nữ Oa.


Về tình dục Trai Sò Nữ Oa được tiêu biểu bằng bộ phận sinh dục dân dã thường gọi là con trai (con cò mà mổ con trai), con sò, sò huyết. Dân miền Nam đã ca tụng hết mình con sò của Nữ Oa khi gọi là con l... tiên.

Venus cũng vậy. Bộ phận sinh dục Venus cũng được Tây phương tôn thờ, tán dương. Mu âm hộ được gọi là Gò Vệ Nữ (Mont de Vénus).


Theo một truyền thuyết Nữ Oa lấy anh là Phục Hy.

Trong khi đó Venus loạn luân với con trai.


Nữ Oa là Nghê Oa là Sò Hừng Rạng, bình minh của loài người. Ở trên đã nói Vệ Nữ cũng di chuyển tỏa ra ánh sáng rạng ngời như bình minh.
....

Ðể kết thúc bài viết, tóm lại Nữ Oa là Nghêu Quả Con Trai, chính là Nut shell Nucula. Hán Việt Nữ Oa chỉ có thể là từ phiên âm của Việt ngữ Nghêu Quả hay của Nucula. Nữ Oa là Mẹ Trai Sò, Mẹ Sò Hừng Rạng, là một mẹ tiên tuyệt sắc đẻ ra loài người trong đó chính yếu là Xích Quỉ Hừng Việt. Thần Vệ Nữ Venus là hình bóng Tây phương của Mẹ Trai Sò Nữ Oa Hừng Việt. Nữ Oa cũng là Nữ Thần Nước của chúng ta. Di tích của Trai Nữ Oa là núi Nam giới ở Hà Tĩnh.

Mẹ Tiên Trai Nữ Oa trao quyền chăm sóc thế gian cho con là bà Vụ Tiên (Tiên đẻ ra Tiên). Bà này sẽ sinh ra vị vua đầu tiên của Hừng Việt là Kinh Dương Vương.

BungRieu
03-21-2003, 03:47 AM
Giai thoại văn học:

Chuyển bại thành thắng


Các chàng trai Nho học xưa thích chữ nghĩa, thì thường tìm đến các lễ hội có hát, đối ở làng quê.

Phan Bội Châu lúc trẻ cũng thường hay đi hát ở phường vải quê ông và các xã lân cận. Ông nổi danh về tài ứng đối và có những vế đối hay. Nhưng Phan cũng là người tinh nghịch và biết đùa nhả cả trong các trường hợp phải thế.

Trong tình thế phái nữ hát đố dồn phái nam vào thế bí, đấy là lúc Phan ra tay, nhưng thường chỉ "gà" cho cánh nam hát câu đáp. Sách còn ghi lại câu hát đố phường vải của nữ rất "ác" và hiểm:

Biếu anh một mẻ ngô rang
Đút mô cho mọc, đối nhang ăn thề

Ngô đã rang chín thì làm sao có thể mọc được mà trồng? Thật tắc tị. Chẳng ai trong cánh nam biết trả lời làm sao và cơ thua trí đã cầm chắc, thì Phan gà cho họ trả lời:

Chỗ nào mà nắng không khô
Mà mưa không ướt, đút vô mọc liền.

Ấy vậy mà một lần hát ở làng Xuân Hồ, Phan Bội Châu lao đao vì vế hỏi của các cô gái. Nổi tiếng về đọc sách thông kim cổ hàng nghìn quyển, chàng Phan vẫn thấy mình không đủ kiến thức trước các cô gái Xuân Hồ. Câu hỏi thế này:

Sách rằng Nghiêu hữu cửu nam,
Biết Đan Chu là một, hỏi tám chàng tên chi?

Các nàng thôn nữ dẫn sách hẳn hỏi, đâu phải chơi, đâu có thể trả lời ẩu. Các sách mà chàng Phan đọc chỉ nói rằng vua Nghiêu có 9 người con trai (cửu nam), người con cả tên là Đan Chu, còn tám người con trai thứ không thấy ghi tên tuổi ở đâu. Nếu không đối được, chẳng những cả bên nam bẽ mặt, mà "linh hồn" của cánh nam là Phan Bội Châu bẽ mặt trước hết. Hơn nữa, câu đối này nhằm vào chính Phan.

Nhớ lại bài học đối đáp của Mạc Đĩnh Chi xưa, Phan Bội Châu chuyển câu hỏi về phía "đối phương" và lập tức đọc:

Các em là phận nữ nhi,
Một Đan Chu cũng đủ, hỏi mần chi những tám người

Mới thoạt nghe các cô chưa nhận ra, nhưng nghĩ một chút nhận ngay ra ý... "tham lam", muốn những tám chàng. Vì thế, các cô đỏ mặt lúng túng, cấu chí nhau và cười, chẳng ai dám trả lời. Thế là, trên thực tế Phan bị đánh bại, nhưng đã mau chóng chuyển bại thành thắng. Các cô gái tưởng Phan biết tên cả 8 người con thứ của vua Nghiêu, nhưng không kể tên ra, mà đùa các cô. Biết đâu!

BungRieu
03-21-2003, 04:21 AM
HUYỀN THOẠI VUA THẦN NÔNG
Nguyễn Xuân Quang


Theo các bộ sử lớn viết bằng chữ Hán như Ðại Việt Sử Ký, Khâm Ðịnh Việt Sử, An Nam Chí Lược, Việt Sử Lược thì nguồn gốc dân tộc Việt Nam như sau "Ðế Minh cháu bốn đời vua Thần Nông nhân đi tuần thú phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh, kết hôn với một nàng tiên đẻ ra một người con là Lộc Tục. Vua lập đài tế cáo trời đất, phong cho con trưởng làm vua phương Bắc, tức vua Nghi, phong con thứ là Lộc Tục làm vua phương Nam..." (Trần Ðại Sỹ, Từ Triết Học Ðến Huyền Thoại Nguồn Gốc Tộc Việt, Hai Mươi Năm Văn Học Hải Ngoại tr.1046). Về nguồn gốc dân Việt là con cháu vua Thần Nông bên Tầu này đã có nhiều học giả Việt Nam tranh luận. Người cho Thần Nông là người Tầu, kẻ lại cho Thần Nông là người Việt (Hừng Việt).

Thần Nông là người Việt?

Trong các học giả cho Thần Nông là người Việt, người tiêu biểu là giáo sư Kim Ðịnh. Giáo sư Kim Ðịmh theo Mộng Văn Thông cho là Thần Nông là vua của Viêm tộc tức Việt. Theo Mộng Văn Thông trong Cổ Sử Nhân Vi, Viêm là Việt + Miêu, giáo sư Kim Ðịnh gọi là Vimê. "Theo thuyết trên thì vua Thần Nông hiệu là Viêm đế là Việt chứ không phải Tàu. Vua ấy giỏi nông nghiệp và bị một thủ lãnh của Tàu là Hiên Viên hạ sát để cướp đất và cướp luôn nền văn minh nông nghiệp đó" (Bình Nguyên Lộc, Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam tr.93).

Thần Nông Là người Tầu?

Học giả Bình Nguyên Lộc chống đối kịch liệt lại việc cho rằng Thần Nông là người Việt. Cụ cho rằng Mộng Văn Thông gọi chúng ta là Viêm là có ý đồ chính trị "sách của ông là một mưu đồ chính trị rất là thâm sâu và độc ác... Khi mà họ làm cho 700 triệu người Tàu tin rằng Tàu là Việt thì 700 triệu người ấy hẳn sẽ có khuynh hướng thống nhất ta... và khi 30 triệu người Việt cũng tin in hệt như thế thì ta mất hết cả ý chí chống xâm lăng. Hoa và Việt đã là một thì thống nhứt là đúng, còn chống làm gì nữa" (tr.91). Người Tàu có gọi ta là Viêm bang : "họ có chỉ nước ta là Viêm bang, nhưng đó là sau đời Hán" (tr.86). Cụ kết luận "như thế thì Thần Nông chỉ có thể là Tàu" (tr.103). Theo câu sử trên ta cũng thấy Ðế Minh "đi tuần thú phương nam" chứng tỏ ông là người phương bắc, tức là người Trung Hoa. Ðế Minh lấy một nàng tiên ở Ðộng Ðình Hồ, vùng núi Ngũ Lĩnh đẻ ra Lộc Tục nhưng con cả lại là Ðế Nghi như thế Long Nữ là vợ bé và Kinh Dương Vương là con vợ bé. Vua đầu tiên của Việt Nam là con vợ bé ông vua phương bắc Ðế Minh. Như thế Thần Nông là ông vua Tầu. Nguồn gốc chúng ta là người Tầu.

Thần Nông là ông tổ chung cả Tầu và Việt?

Theo câu sử trên ta cũng thấy Thần Nông là ông tổ chung của Tầu và Việt. Chúng ta là dòng con vợ bé. Bác sĩ Trần Ðại Sỹ cũng chấp nhận điều này: "Xét triều đại Thần Nông, khởi từ năm 3118 trước Tây lịch, đến đây (Ðế Minh) thì chia làm hai:

1. Thần Nông Bắc

Vua Nghi (2889-2884 trước Tây lịch)
Vua Lai (2843-2794 TTL)
Vua Ly (2795-2751 TTL)
Vua Du Võng (2752-2696 TTL)
Ðến đây triều đại Thần Nông Bắc chấm dứt, đổi sang triều đại Hoàng Ðế từ năm Giáp Tý (2697 TTL). Các nhà chép sử Trung Quốc lấy thời đại Hoàng Ðế làm kỷ nguyên. Trong Sử Ký, Tư Mã Thiên khởi chép quyển một là Ngũ Ðế Bản Kỷ, coi Hoàng Ðế là quốc tổ Trung Quốc.

2. Triều Ðại Thần Nông Nam

Thái tử Lộc Tục lên làm vua năm Nhâm Tuất (2879 TTL) hiệu là Kinh Dương, lúc mười tuổi. Sau này người Việt lấy năm này làm kỷ nguyên lập quốc. Nếu cộng chung cho tới nay là 4872 năm, vì vậy người Việt hằng tự hào là có năm nghìn năm văn hiến" (Tr.1046). Ðó là sử Việt viết về Thần Nông còn sử Trung Hoa họ nói gì về Thần Nông?

Theo truyền thuyết thì Thần Nông là vị vương thứ nhì trong tam vương: Phục Hy, Thần Nông và Yen Ti. Theo truyền thuyết thì Thần Nông là một vị thần nông nghiệp. Ông là vị thần đầu giống hình đầu bò, người dậy dân chúng cách làm ruộng, trồng trọt cũng như dùng cây cỏ làm thuốc. Ngày nay còn quyển sách thuốc có tên là Thần Nông Bản Thảo. Ông có hiệu là Viêm đế. H1: Vua Thần Nông (Shennong) đầu bò, vị vương thứ nhì của Trung Hoa, dậy con người trồng trọt và dùng dược thảo. (Bản khắc trong Sanzai tuhui (năm 1607). Ðại Học Hồng Kông.) Theo cái hiệu Viêm đế này có người cho rằng ông là vị thần "gió nóng" (burning wind). Có người cho ông là vị thần lửa. Giáo sư Kim Ðịnh theo Mộng Văn Thông cho ông là người Việt vì người Trung Hoa thời nhà Chu gọi chúng ta là Viêm bang và gọi phương nam là viêm phương.

"Theo sử Tầu thì Thần Nông làm vua được 8 đời mới bị Hiên Viên diệt" (BNL tr.104). Hiên Viên là Hoàng Ðế.

Có Hay Không Có Thần Nông?

Vì có nhiều điều không ổn về Thần Nông nên khiến chúng ta khó tin rằng Thần Nông là ông tổ của chúng ta.

Thần Nông là vị vương thứ nhì của Trung Hoa. Ông tổ của chúng ta là một người Tàu. Dĩ nhiên không thể chấp nhận được. Các học giả Việt Nam cũng biết vậy nên tìm một giải pháp dung hòa cho Thần Nông là ông vua của cả Tàu và Việt.

Thần Nông chỉ có làm vua tám đời và cách đây chừng 5.000 năm. Tổ của chúng ta quá trẻ. Như thế tổ của Thần Nông là ai? Như thế Thần Nông không phải là ông tổ tối cao thật sự theo đúng nghĩa của nó. Nhưng tại sao các nhà viết sử hay dã sử lại dừng lại tại thời điểm Thần Nông? Có một sự gì sai lạc ở đây.

Thần Nông là ông vua giỏi về canh tác làm ruộng thì là ông tổ của Hừng Việt chuyên sống về nông nghiệp sông nước là hữu lý rồi. Nhưng những khai quật khảo cổ học cho thấy việc trồng trọt cây cỏ sinh sống đã có từ lâu rồi chứ không phải chỉ mới có 5.000 năm gần đây thôi. Giáo sư về nhân chủng học Wilhelm G. Solheim II, Ðại học Hawaii trong bài New Light On a Forgotten Past (Ánh sáng mới rọi vào Quá Khứ Lãng Quên) đã tuyên bố "Tôi đồng ý với Sauer rằng những thảo mộc đã được trồng cấy thuần canh đầu tiên (first domestication of plants) trên thế giới đã được thực hiện bởi những người có nền văn hóa Hòa Bình, ở một chỗ nào đó tại Ðông Nam Á. Tôi không lấy gì làm ngạc nhiên là sự thuần canh này đã bắt đầu sớm tới 15.000 trước Tây lịch" (National Geographic, March 1971 tr.339). Như thế Thần Nông ông tổ nông nghiệp chỉ có 5.000 tuổi sai thấy rõ.

Người Trung Hoa gốc dân du mục săn bắn mà có ông tổ nông nghiệp chung với chúng ta thật là phi lý.

Vua Thần Nông chuyên nông nghiệp có hiệu là Viêm đế tức vua lửa thật là tréo cẳng ngỗng. Cái niên hiệu Viêm đế trái ngược với tên Thần Nông hiểu theo nghĩa nông nghiệp. Trồng trọt canh tác cần nước nhất. Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống. Một ông vua Nông nghiệp mà lấy hiệu là vua "nóng" vua "lửa" thì cây cỏ bị hạn hán chết hết. Viêm đế không thể nào đi với Thần Nông có nghĩa là nông nghiệp. Không ổn. Nên nhớ Thần Nông theo sử chỉ cách đây có 5.000 năm thôi mà sự phát kiến ra lửa phải là lâu đời lắm. Như thế nếu Viêm đế đúng là thần lửa thì cái tên Thần Nông hiểu theo nông nghiệp là sai và ngược lại. Chính sự không ăn khớp, trống đánh xuôi kèn thổi ngược này giúp ta tìm ra chân tướng Thần Nông là ai. Có người lại cho rằng ông vua này đem lửa vào Trung Hoa. Dĩ nhiên quá ấu trĩ. Lửa đã có từ thuở khai thiên lập địa. Con người biết tới lửa rất lâu chứ không phải mãi tới đời vua Thần Nông chỉ cách đây có 5.000 năm thôi. Lửa thiên nhiên như núi lửa, cháy rừng, cháy núi, cháy các đồng cỏ (savanna) con người khi còn là đười đã biết tới và có kinh nghiệm với lửa. Sự cháy hoang dã (wild fire) này làm côn trùng và thú nhỏ bị chết cháy rất nhiều và thú lớn chạy tản mát đi nơi khác. Muông thú đã phải đi theo sau các đám cháy này tìm mót thực phẩm. Loài đười cũng phải kiếm sống bằng cách này. Và người thái cổ đã khám phá ra thịt thú vật bị chết cháy ăn thơm ngon hơn ăn sống. Món ăn chín đầu tiên mà loài thú, loài đười và người homo sapiens nếm là món thịt nướng do những đám cháy thiên nhiên. Biết lửa từ lâu và khám phá ra món thịt nướng cháy thiên nhiên ăn ngon hơn thịt sống tanh tưởi đã khiến con người nghĩ đến cách nướng thức ăn. Do dó con người nghĩ đến việc tìm cách giữ lửa và gầy lửa. Dĩ nhiên phải mất một thời gian dài. Gần vùng hồ ngầm dưới đất Escale ở Pháp các nhà khảo cổ học tìm thấy dấu tích của lửa và của con người cư ngụ lâu đời tới 700.000 năm, tuy nhiên chứng tích rõ ràng nhất là các hố lò lửa khám phá thấy cách đây 300.000 năm. Như thế vua Thần Nông chuyên về trồng trọt lại kiêm là vua biết gầy ra lửa hay giữ lửa chỉ cách đây có 5.000 thì quá gần, không thể nào chấp nhận được Ðể giải thích sự vô lý giữa cái tên Thần Nông trồng trọt và tên hiệu Viêm đế, các học giả Trung Hoa ngày xưa đã cố thêu dệt cho ông cũng là thần "gió nóng" ("burning wind") có khả năng làm hết được hạn hán.

Thần Nông theo sử Tàu làm vua được tám đời nhưng chẳng thấy dấu tích đâu cả. Tại sao lại tám đời ?

"Cứ theo các cổ thư Trung Hoa thì vua Thần Nông đánh diệt Bổ Toại". (BNL tr.93). Nhưng Bổ Toại là ai? Nước nào? Sử không nói rõ. Vậy đây chỉ là hoang thoại? Người Trung Hoa đã cóp nhặt Thần Nông từ các chủng tộc khác? Cũng giống như đã nói trong bài Nhận Diện Danh Tính Vua Tổ Hùng Vương ở số trước vì những điểm vá víu, vô nghĩa nên Thần Nông cũng như Bàn cổ có lẽ Trung Hoa đã lấy của chúng ta rồi sửa đổi và cải danh đi.

H2: Bàn Cổ cầm trong tay trứng Hỗn Mang (Chaos) Âm Dương, sống 18.000 năm. Thạch bản, thế kỷ 19, Bảo tàng Viện British, London. Học giả Bình Nguyên Lộc cho đây chỉ là hoang thoại: "Nhưng thật ra thì vua Thần Nông không bao giờ có, thế thì Viêm đế cũng không bao giờ có. Giáo sư Kim Ðịnh cũng đồng ý với các nhà bác học Tây phương (mà ngày nay các nhà bác học Trung Hoa cũng đồng ý như vậy) là họ chỉ là một nhóm người Tàu văn minh trước các nhóm người Tàu khác mà các Chu Nho ngây thơ theo tinh thần Evhémère đã biến thành một nhân vật" (tr.105).

Thần Nông Người Là Ai?

Dù gì thì cổ sử cũng vẫn chép rằng ông tổ tối cao của chúng ta là Thần Nông. Chúng ta nhận là con cháu Thần Nông. Thần Nông có hiệu là Viêm đế rất ăn khớp với chúng ta Xích quỉ Hừng Việt thờ Mặt Trời. Viêm là nóng là lửa là mặt trời... Vậy Thần Nông người là ai? Chúng ta phải quật "mồ" người lên để nhận diện chân tướng người. Chúng tôi lại dựa vào phương pháp truy tìm tầm nguyên ngữ học của chúng tôi. Nếu chúng ta nhận Thần Nông là người Việt thì từ Nông phải là Việt ngữ. Chúng ta ai cũng biết Hán ngữ nông là làm ruộng như nông nghiệp. Vì là Hán ngữ chúng ta gạt nghĩa nông nghiệp này ra ngoài. Tổ tiên ta không thể có tên bằng Hán ngữ. Tổ tối cao tối thượng của chúng ta chưa biết làm ruộng.

Việt ngữ Nông:

Việt ngữ nông có những nghĩa sau:

Nghĩa thông thường nhất là cạn, không sâu. Ý nghĩa cạn với sâu này liên hệ tới nước (nông liên hệ với na, lã, với nỏng, lỏng).

Nông là cái bọc, cái túi, ví dụ chim bồ nông. Tại sao lại gọi là chim bồ nông? Xin thưa bồ là do bổ đọc trại đi mà thành. Theo b=m (b là dạng cổ của m như bồ hôi = mồ hôi), bổ = mổ = mỏ. Cái mỏ là cái mổ, cái bổ. Còn nông là cái bao, cái túi. Chim bồ nông là loại chim dưới mỏ và cổ có cái bao, cái bọc, cái túi để xúc cá

Nông cũng liên hệ với nọng. Trong bài "Cái Ðầu Lâu Hoa Cái Nhà Mày" khi nói về từ cổ, chúng tôi đã nói về từ nọng này. Nọng là phần thịt xệ xuống ở dưới cổ như cái nọng heo. "Ðầu trọng nọng khinh" là thịt đầu thì trọng, thịt nọng cổ thì khinh. Ở người mập thịt dưới cằm xệ xuống gọi là nọng cằm. Chim bồ nông là loài chim có cái túi, cái bao, cái nọng dưới mỏ. Tóm lại Nông với ý nghĩa liên hệ với nước và là cái bao cái túi. Nói gộp lại hai nghĩa, nông hàm chứa ý nghĩa cái bọc nước. Vậy Thần Nông là thần Bọc Nước (sẽ giải thích ở dưới). Bây giờ chúng ta mò tìm những từ gần cận với nông. Sau đây là những chữ gần cận với nông:

Nang

Theo chuyển hóa o=a (hột = hạt) ta có nông = nang.

Nang là cái bao, cái bọc, quả cau, cái trứng.

Nang là cái bọc. Thường chỉ cái bọc có nước bên trong vì nang có na(ng) là na, nã, lã, nác, nước. Danh từ y học bướu nang hay bước bọc nước dịch từ chữ cyst.

Nang là quả cau. Về hình dạng bên ngoài thuôn tròn trái soan cau trông giống quả trứng. Khi bổ ra làm đôi quả cau trông cũng giống hệt trái trứng. Quả cau có hột tròn bao quanh bởi lớp thịt trắng, trông giống lòng đỏ và lòng trắng của trứng. Bổ dọc một quả cau ra làm đôi trông giống hệt một quả trứng luộc bổ dọc làm hai. Người Mường ngày nay vẫn gọi cau là nang. Ðả Cần rằng:
"Còn thểu thứ ăn khang oỏng cloọng"
Binh Mường lể phất phất lả clù màng
Kịt kịt buồng nang clởng
Cla bao đệp, xếp bao đọi

Rằng:

"Tâu mơi ông, hỡi ông hà
Cảy nì là chù man nang
Cho ông ăn khang ỏng lọng"

(Trương Sỹ Hùng Bùi Thiện, Vốn Cổ Văn Hóa Việt Nam, nxb Văn Hóa Thông Tin Hà Nội 1995, tập II, tr.694).
Dịch ra Việt ngữ:

Ðá Cần lại rằng:

"Còn thiếu thứ ăn sang uống trọng"
Binh Mường lấy phất phất lá trầu màng,
Trĩu trĩu bẹ nang trứng,
Tra vào đệp, xếp vào đọi,

Ðưa lại rằng:

"Tâu ông ơi, hỡi ông à!
Ðây là trầu, nang,
Cho ông ăn sang, uống trọng".

(tập I tr. 810)

Ðoạn trên đây trích trong bài hát tế "Ðẻ Ðất, Ðẻ Nước" của thầy mo Mường. Ðá Cần cũng gọi là Tá Cần, con trai trưởng trong số năm mươi người ở lại trên núi với mẹ Ngu Cơ. Bẹ nang trứng là buồng cau trứng, hai tác giả dẫn trên giải thích là quả cau to tròn như quả trứng. Thật ra nang là trứng. Cau là trứng. "Nang cloọng" là từ ghép điệp nghĩa. Ta thấy rõ quả cau là quả nang, quả trứng. Mo nang là mo cau. Mã Lai ngữ pinang là cau. Nang là từ nôm. Người Trung Hoa gọi cau là binh lang, họ không thờ trầu cau và không ăn trầu cau nên nang là Việt ngữ, Mường ngữ, Mã ngữ không phải là Hán Việt. Hán Việt binh lang chắc chắn chỉ có thể là từ phiên âm của chúng ta.

-- Ta cũng có từ ghép trứng nước ví dụ phải dập tắt âm mưu từ trong trứng nước. Chúng ta nói trứng nước vì trứng là một cái bọc nước và trứng khởi đầu là một tế bào mầm có nước bên trong. Do đó nông nghĩa là bọc nước ta đã thấy ở trên cũng có nghĩa là trứng. Thần Nông là thần Bọc Nước, Thần Trứng. Như thế nang là cái bọc nước, cái trứng. Ðến đây với nghĩa của Nông và nang vừa giải thích ta thấy rõ Thần Nông là Thần Bọc Nước, Thần Trứng.

Ngoài ra cau còn có nghĩa là không qua chứng tích từ ghép trầu không.

ăn trầu không = ăn trầu cau
lá trầu không = lá trầu cau

ước lược những chữ giống nhau ở mỗi vế, ta còn lại:

không = cau

Không có một nghĩa là khoảng không, không gian, vũ trụ. Vậy cau = nang = nông = không với không có hàm nghĩa là không gian vũ trụ. Ta có thể kiểm chứng lại cho chắc ăn. Trong toán học số không (zero) biểu tượng bằng vòng tròn như chữ o. Ta ví o tròn như quả trứng gà. Như thế không = o (zero) = trứng = cau. Trái cau là trái trứng, trái không (gian). Ta cũng đã biết Pháp ngữ non (đọc là nông) có nghĩa là không là chuyển hóa của Việt ngữ không. Trong bài viết "Mỡ Ểu Áo Vàng Chẳng Có Việc" chúng tôi đã chứng minh Pháp ngữ non = không (Việt ngữ) theo qui luật chuyển hóa kh=n như khỏ (khô, trái bưởi khỏ là trái bưởi múi bị khô) = nỏ, khện = nện. Như thế nông (túi, cau, Pháp ngữ non) dù cùng nghĩa hay khác nghĩa về thanh âm cũng vẫn là chuyển hóa của không (gian, zero, chẳng) được. Vậy trái không là trái nông, trái nang, trái cau. Trầu không là trầu cau. Quả cau, quả không là hình ảnh không gian, vũ trụ. Gộp lại các nghĩa vừa có ta thấy thần nông, thần nang là thần trứng không gian, trứng vũ trụ. Tiến sâu hơn nữa, đọc thêm hơi vào cau ta có cau = chau, châu. Châu là đỏ, trời. Trái cau ăn với trầu cho ra chất nước màu đỏ. Trầu là châu cũng có nghĩa là đỏ. Phạn ngữ pan hay pahn, trầu cau. Theo p=b, pan = ban, Việt ngữ ban là đỏ như ban sởi (Nhận Diện Danh Tính Vua Tổ Hùng Vương, số trước). Trầu cau đều là đỏ nên dùng để thờ cúng Tổ Ðỏ và đây là lý do sự tích trầu cau có từ thời vua Ðỏ Mặt Trời Mọc Hừng vương. Vậy nông, nang là trứng không gian vũ trụ. Thần Nông, thần Nang là thần Trứng vũ trụ (cosmic egg).

Nung

Theo chuyển hóa o=u (tôi = tui), nông = nung. Nung là nóng, đốt, hầm lửa như nung nấu, nung gạch. Thần nông, thần nung là thần nóng, thần lửa. Thần Nông với nghĩa là Thần Nung có hiệu là Viêm đế thì đúng đứt đuôi con nòng nọc rồi.

Nong

Nong là vật đan bằng tre tròn, lớn để phơi đồ. Cái nong mang hình ảnh của mặt trời. Thần Nong là thần mặt trời, thần vòm trời.

Nồng

Nồng là nóng như nồng nực, oi nồng... Ðiều này cũng thích ứng với thần Nông, thần Nồng có tên hiệu là Viêm đế.

Nọng

Nông liên hệ với nọng như đã thấy ở trên. Ở đây xin nói tới nọng với nghĩa là lọng (n=l). Lọng là cái tán che. Lọng tròn đỏ ngày nay còn thấy thờ trong đền chùa và dùng cho vua. Chúng ta thờ lọng đỏ tiêu biểu cho mặt trời tròn đỏ, cho vòm trời. Nọng, lọng cho ra nón. Chiếc nón thúng của người Bắc tiêu biểu cho mặt trời. Người Ao (Âu) Naga ở Assam, phần cực tây của địa khối Vân Nam cũng thờ mặt trời (In a way, there is a sun worship...) (William Carlson Smith, The Ao Naga Tribe of Assam, 1925, tr.87) cũng có nón thúng hình tròn như người Bắc: "They have a large cicular hat, about three feet in diameter, made of palm leaves and bamboo strips" (William Carlson Smith, tr.19) (Họ có cái nón hình tròn đường kính khoảng ba bộ làm bằng lá gồi và nan tre). Ðường kính ba bộ dài gần một mét giống hệt nón thúng quai thao của phụ nữ miền Bắc ngày nay còn dùng. Trong các đền miếu còn thờ các loại nón thúng mặt trời này nhất là đền của các bà đồng thờ Mẹ trời.

H4: Phụ nữ miền Bắc đội nón thúng quai thao. (hình sưu tập của Poujade de Ladevèze, Femme coiffée du grand chapeau, in lại trong Những Hình Ảnh Xưa, Nguyễn Khắc Ngữ). Nơi đất tổ lập quốc của Lạc Việt ở Bắc tổ tiên chúng ta đã đặt tên cho ngọn núi cao nhất là núi Tản:

Nhất cao là núi Tản Viên

Núi Tản Viên vừa có nghĩa là núi hình "tán tròn", núi hình lọng tròn tiêu biểu cho vũ trụ, vòm trời, mặt trời vừa có nghĩa là núi Tản, núi Ðản nghĩa là núi Trứng, núi Ðẻ. Vậy thần Nông là thần Lọng, Thần Vòm Trời, Thần Mặt Trời.

Nùng

Theo o=u ta có nồng = nùng. Chúng ta có câu nói "núi Nùng sông Nhị". Núi Nùng cũng là tên gọi núi Tản. Tại sao gọi là núi Nùng? Xin thưa nùng là số một (number one). Núi Nùng sông Nhị là núi Một sông Hai. Thật vậy chứng tích còn thấy là trong Thái ngữ nung là một. Ðiều này cho thấy núi Nùng là núi Nguyên Thể (primeval mountain) tạo ra trái đất. Tại thượng du Bắc Việt có một sắc tộc nổi tiếng gan dạ là người Nùng. Sắc tộc này đã gọi mình theo thần Nông. Vậy thần Nông thần Nùng là thần số Một, thần Vũ Trụ.

Nòng

Theo n=l=tr, nòng = lòng = tròng. Ta nói lòng trứng, tròng trứng, lòng đỏ, tròng đỏ... Con mắt có tròng nâu tròn và phần trắng bao quanh trông giống cái trứng có tròng đỏ và tròng trắng nên ta cũng nói tròng, lòng mắt. Mắt là tiêu biểu cho trời. Mắt và mặt cùng một vần. Lòng còn có nghĩa là bụng, là dạ. Ta có từ ghép lòng dạ. Dạ đây không hẳn là dạ dầy mà là dạ con. Lòng-dạ-con mang nghĩa sinh đẻ tương đương với trứng. Vậy Thần Nông là thần Nòng, Lòng, thần Ðẻ, thần Mắt, thần Trứng.

Nàng, Nường

Nàng chuyển hóa với nồng. Nàng chỉ người có nang, có trứng, có "nường" (với nghĩa tục) nghĩa là phái nữ. Nàng là mẹ, là đẻ. Như thế Thần Nông là thần Nàng, là bà Thần Nông chứ không phải ông Thần Nông. Trứng tiêu biểu cho tạo sinh, sinh đẻ, giống cái. Mẹ Nông, Mẹ Nàng, Mẹ Tạo hóa, mẹ khai sinh ra vũ trụ, thế giới, con người. Chuyển hóa với nàng là nường cũng hàm nghĩa là phái nữ, mẹ, con gái ngoài ra còn chỉ bộ phận sinh dục nữ như Nõ Nường. Thần Nông là thần Nàng, thần Nường, là Mẹ tối cao tối thượng. Tóm lại Thần Nông của chúng ta là thần Nang, thần Nung, thần Nồng, thần Nùng, thần Nòng, thần Nong, thần Nàng, thần Nường, thần Lọng... thần tạo ra, đẻ ra vũ trụ, trời đất, vạn vật, là mẹ vũ trụ, mẹ trời. Với ý nghĩa là vị thần tối cao tối thượng thì thần Nông là Thần Nang là Thần Mẹ Trứng Vũ Trụ. Trứng vũ trụ (cosmic egg) bao hàm ý nghĩa vũ trụ tạo sinh, tạo ra vạn vật nhưng trong thực tế vũ trụ cũng giống hình quả trứng. Hãy ngửa mặt nhìn lên trời, chúng ta thấy vòm trời khum khum như hình vỏ trứng. Không gian trong suốt giống lòng trắng trứng. Mặt trời đỏ giống tròng đỏ trứng. Vũ trụ quả là một trái trứng. Ðể kiểm chứng lại cho đúng và để đánh tan những nghi ngờ nếu còn sót lại trong đầu những người đa nghi trong số một tỉ người Tầu và bẩy mươi lăm triệu người Việt đã bị điều kiện hóa tin Thần Nông là nông thần, y thần, chúng tôi xin đối chiếu Mẹ Trứng vũ trụ, bầu trời của chúng ta với một vị thần bầu trời của một tộc Nam Man ngày nay sống ở miền cực tây địa khối Vân Nam. Ðó là người Ao Naga. Người Ao Naga là một tộc Nam Man "săn đầu người" (head hunters) có lẽ là một tộc Âu Việt. Họ có rất nhiều điểm giống Lạc Việt chúng ta như thờ con dao (vừa là vũ khí) giống cái rào của ta (thấy trên trống đồng) họ cũng gọi y chang như chúng ta là "dao", họ cũng xâm mình, ăn trầu, có nón thúng tròn hình mặt trời như phụ nữ miền Bắc, có nhà rong (nhà rồng), nhà làng gọi là morong. Họ cũng kiêng không ăn thịt quạ và phụ nữ miền Bắc ngày nay còn chít khăn mỏ quạ. Cả hai đều tôn thờ quạ. Các người con gái Aor khi đi lấy chồng ngoài tộc vẫn giữ những biểu hiệu cũ của thị tộc của mình trên quần áo mặc hay đồ trang sức. Phụ nữ miền Bắc chít khăn mỏ quạ cũng là một truyền thống cổ giữ lại biểu hiệu cũ của thị tộc có từ ngàn xưa. Chẳng lẽ phụ nữ miền Bắc tôn thờ đội trên đầu mỏ quạ đen ăn thịt người? Dĩ nhiên là không. Quạ đây là con quạ vàng kim ô tiêu biểu cho mặt trời. Các bà đồng chít khăn đỏ, khăn điều mỏ quạ. Ngày nay phụ nữ bình dân miền Bắc đội khăn đà, khăn nâu, khăn đen cho sạch. Phụ nữ miền Bắc chít khăn mỏ quạ mà vẫn thấy đây là một tập quán đẹp không có chút gì xấu hổ và các mhà đạo đức, trí thức Việt không hề bài xích việc đội trên đầu loài chim quạ ăn thịt người, loài chim quạ biểu tượng cho chết chóc. Ðiều này chứng tỏ đây là một thứ sùng bái, một thứ tín ngưỡng, thờ phượng chim trời của chúng ta. Và còn nhiều thứ nữa chúng tôi sẽ khai triển thêm khi có dịp.

H5: Người Ao, Nagaland ở Assam

Có nhiều học giả đã giải thích từ Naga. Có hai nghĩa ăn khớp với chúng ta. Naga là rắn ăn khớp với thuồng luồng, sấu dao (dao long), rồng của chúng ta. Naga có thể là dao đã Ấn hóa (Nhận Diện Chân Tướng Vật Tổ Giao Long của Hừng Việt, YHTT xuân Bính Tý). Nghĩa thứ hai Naga là noga do gốc nog, nok, Ao ngữ nok hay noka là "people", người, liên hệ với Phạn ngữ loka, people, ăn khớp với chúng ta Mường, Mán, Mọi đều có nghĩa là Người, people. Từ Ao có lẽ là Âu. Họ gọi họ là Aor. Các nhà nhân chủng học trước đây giải thích Aor là "the going ones" (William Carlson Smith, The Ao Naga Tribe of Assam, 1925, tr.171) chỉ những người vượt qua con sông lớn Dikku ở Assam. Ta thấy Aor có nghĩa là "vượt" (sông), "bỏ đi" chính là nghĩa của Việt. Có người đã giải thích từ Việt là do người Trung Hoa gọi nhóm Xích quỉ Vượt sông Dương Tử xuôi nam. Aor và Việt đều chỉ "vượt" (sông) bỏ đi. Aor Việt mang âm Âu Việt đều là Hừng Việt. Họ cũng thờ mặt trời. Họ cũng có taboo (cấm kỵ) gọi là genna hay kenna (liên hệ với Việt ngữ kiêng, khem) là không ăn trứng chỉ những pháp sư lúc làm lễ mới ăn trứng sống (Pháp sư là những kẻ môi giới với thần linh nên ăn trứng để biến mình thành ruột thịt với thần trứng mới có thể liên lạc được với thần Trứng được). Họ treo vỏ trứng thờ thần. "When the weather is inclement for several days, the priests collect a number of eggs and going to a particular spot, break them and eat them raw, hanging up the shells for the deity. Then they implore the sun deity to grant favorable weather..." (William Carlson Smith, 1925, tr.87) ["Khi thời tiết độc địa (kéo dài) nhiều ngày, các pháp sư, thầy tế tìm nhặt trứng và tới một địa điểm đặc biệt, đập trứng ăn sống, treo vỏ lên cho thần linh. Rồi họ cầu xin thần mặt trời ban cho họ thời tiết thuận hòa..."]. Chúng ta biết con người có taboo không ăn thịt vật tổ hay vật thờ ví dụ người Ấn Ðộ thờ bò không ăn thịt bò, thờ heo không ăn thịt heo. Từ đó ta có thể suy ra người Ao Naga cũng thờ trứng nên có taboo không ăn trứng. Ông Tổ tối cao của người Aor ngày nay có một tên là Anung tsungrem ("god of the aerial expanse", thần bầu trời) (tr.78). Tsungrem là thần. Rõ ràng (A)Nung, bầu trời giống hệt mặt chữ Nung, Nông, thần trứng vũ trụ, bầu trời của chúng ta. Nếu giải thích theo Việt ngữ thì Anung có thể là Ả Nung với ả chỉ phái nữ thì Ả Nung là bà hay mẹ Nung. Thần Nông của chúng ta cũng là Mẹ Nung, Mẹ Nông, Mẹ Bầu trời, Mẹ Vũ trụ. Rõ như ban ngày là chúng ta và người Ao ở Nagaland đều thờ thần Bầu Trời Nung (Nông)/ Anung và chúng tôi đã giải thích Nung, Nông là Trứng Vũ Trụ. Nếu còn ai khó tính vẫn chưa tin, chúng tôi kiểm chứng thêm một lần nữa qua ngôn ngữ học. Ở trên ta đã biết Nung là bầu trời, không gian, trời và Nung cũng có nghĩa là một như núi Nùng là núi Một và Thái ngữ nung (one) là một. Vũ trụ giống trái trứng có nghĩa là không gian, số không (zero), hư vô nhưng trong một vài ngôn ngữ, vũ trụ lại có nghĩa hoán đổi với trời có nghĩa là một. Ví dụ Anh Pháp ngữ vũ trụ gọi là Universe. Giải tự Universe có Un, Uni (verse) là Pháp ngữ Un (một), unique (độc nhất). Trong Pháp, Anh... rõ ràng vũ trụ là số một, là đầu tiên, là trời là Nung (One). ...

Những Chứng Tích Việt Nam Thờ Thần Trứng

Chúng ta có thờ trứng vũ trụ không? Dĩ nhiên là có.

Thờ cúng trái cau (trái nang, trái trứng) vật biểu của Mẹ Trứng Vũ Trụ Thần Nông. Sự tích trầu cau có từ đời Hùng vương.

Thờ Mẹ Trứng Vũ Trụ Trống Ðồng Ðông Sơn. Vật tổ Thần Nông có khắc trên trống đồng Ngọc Lũ (sẽ nói rõ trong bài Ý Nghĩa Trống Ðồng đăng trên YHTT nay mai).

Ông Bàng Tổ được sinh ra từ một cái trứng vũ trụ. (Ông Bàng Tổ là của chúng ta xem Nhận Diện Danh Tính Vua Tổ Hùng Vương số trước).

Truyền thuyết bà Âu Cơ đẻ ra một trăm cái trứng nở ra trăm con, trăm Việt. Bà Âu Cơ là một hình bóng của Mẹ Trứng Vũ trụ Thần Nông.

Hừng vương Mặt Trời Mọc do trứng bà Âu Cơ nở ra.

Núi Tản: Tổ tiên chúng ta đã đặt tên ngọn núi cao nhất tại vùng đất lập quốc là núi Tản có nghĩa là núi Trứng.

Thờ dâm thần Nường: Tại Bắc Việt trước đây kể cả nơi đất tổ Phú Thọ, nhiều làng dân dã còn tục thờ phượng, rước lễ dâm thần. Thờ Nường (cùng với Nõ).

Ngày nay dân Việt cũng còn coi trứng là tiểu biểu cho sự đầu thai, tái sinh. Chúng ta ngày nay cũng còn tục lệ cúng người chết với một chén cơm bên trên có một quả trứng luộc bóc vỏ để kẹp giữa hai cái đũa vót còn để dăm bào xù một đầu. Ðũa đầu xù là hình thức cây nêu để hồn có chỗ đậu xuống. Người Ainu có nhiều loại nêu Inau. Một trong những inau đặc thù là loại inau chuốt còn để lại vỏ dăm bào tua tủa, xoắn tít, rũ xuống, xù ra ở một đầu gậy. Hình ảnh này thấy trong các cây nêu Việt Nam làm bằng cây tre vẫn giữ lại cành lá ở chỏm ngọn. Inau với phần xù trên đầu làm bằng nhiều mảnh dăm bào dài, xoắn, còn để dính lại gọi là inau kike... Nêu này được coi là loại có nhiều thần lực... (Nguyễn Xuân Quang, 'Cây Nêu, Một Cái "Nêu" Nhân Chủng Học', Y Tế Phổ Thông xuân Ất Hợi, tr.66-72). Ta có thể kiểm chứng lại với các dân tộc khác thờ Trứng vũ trụ như chúng ta:

A. Họ Hồng Bàng Thờ Mặt Trời

Truyền thuyết về tạo sinh vũ trụ của nhiều tộc thờ mặt trời như Nhật, Ðại Hàn, Ai cập, Thổ dân châu Mỹ... cũng chia xẻ quan niệm Mẹ Trứng Vũ Trụ Thần Nông của chúng ta.

Ai Cập

Thuyết vũ trụ tạo sinh của Ai cập cũng rất phức tạp và thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử, theo từng vùng. Ðiều này cho thấy sự thờ bái mặt trời và trứng vũ trụ có gốc gác không phải phát xuất ra từ Ai Cập mà du nhập từ ngoài vào. Bằng chứng hùng hồn nhất là chỉ vua chúa thờ bái mặt trời xây kim tự tháp còn dân dã không thờ mặt trời. Nếu sự thờ bái gốc gác ở Ai Cập thì phải được dân dã Ai Cập sùng bái.

Một con chim được cho là đẻ ra trứng vũ trụ là con cò ibis. Thần Cò có tên là Thoth. Thần Cò Thoth cũng là thần của xứ mặt trời Heliopolis.

Thần thoại về tạo sinh vũ trụ (creation myths) của Hermopolis cũng giống như Heliopolis và Memphis, khởi sự từ gò đống nguyên khởi (primeval mound) (tương ứng với núi Một, núi Nùng của chúng ta). Tại Hermopolis, đền xây gần hồ thiêng và trong hồ có một đảo nhỏ đó là gò nguyên tạo và là chỗ hành hương (great place for pilgrimages). Từ gò đống này, vào thời hỗn mang, xuất hiện một con ngỗng trời (celestial goose) "Thiên Nga". Ngỗng trời đẻ ra một cái trứng. Trứng nở ra thần Mặt Trời Ra và đấng tạo hóa (Sun god and creator of the world).

Ai Cập có nữ thần bầu trời tên Nut. Ta thấy nữ thần Bầu Trời Nut gần cận với thần mẹ bầu trời Nung (Nông) của chúng ta. Theo t=n ta có Nut = nun = nung = nông. Nữ Thần Nut gần cận với nữ Thần Nung, thần Nông của chúng ta và thần Anung của người Ao ở Nagaland.

- Những hình quả trứng vẽ trên xác ướp trong các hình tượng Ai Cập cũng tiêu biểu cho "hạt giống sinh thành" ("the seed of becoming").

- Mắt (tròng, trứng) là biểu tượng cho Mặt Trời Ra (eye of Ra). Việt Nam từ mắt chỉ khác mặt có một cái dấu và gọi trời là mặt trời và cũng có từ trời có mắt. Con của thần Mặt Trời là Ma'at, nữ thần Chân Lý và Công Lý, biểu tượng bằng cái lông chim trên đầu. Ma'at chính là Mắt, Mặt Việt ngữ. Con đò trời (solar barque, đò chở mặt trời) của Ai Cập có vẽ ở mũi thuyền hình con mắt giống y hệt các thuyền ở miền Trung Nam Việt Nam ngày nay còn vẽ con mắt ở mũi thuyền (xem hình).
Hình 6: Thần Mặt trời ngồi trên đò trời tay cầm chữ thập ankh, đời sống, thường được gọi là "chìa khóa của sự sống"

Ai Cập ngữ Ankh, life, sự sống, đời, thường biểu tượng bằng hình chữ thập trên đầu có lỗ hình quả trứng mà các học giả thường gọi là "cái chìa khóa của sự sống" ("key of life") (xem hình). Thật ra theo chúng tôi đây là trái trứng và cái cọc sinh ra đời sống. Ðây chính là biểu tượng âm dương của Ai Cập (cái que, cái cọc, biểu tượng cho sinh dục nam, trái trứng cũng tượng trưng cho dạ con, bộ phận sinh dục nữ là biểu tượng cho âm, nữ giới). Ai Cập ngữ Ankh liên hệ với Phạn ngữ anda (trứng).

Nhật Bản

Cũng như Việt Nam các vua chúa đều được đẻ ra từ một quả trứng. Theo Cổ Thư thoạt khởi thủy thế giới là một khối hỗn mang trời đất chưa tách biệt, hình dạng giống như một quả trứng nhưng không có giới hạn. Sau đó, phần tinh khiết hơn, trong sáng hơn biến thành trời (heaven). Phần nặng hơn, thô kệch hơn lắng xuống biến thành đất. Lúc này đất như cá trôi nổi trên mặt đại dương nguyên thủy (primeval ocean)... Thái Dương Thần nữ là đời thứ sáu giống hệt bà Âu Cơ cũng là con cháu dòng thứ sáu của Mẹ Trứng Vũ Trụ Thần Nông (Thần Nông, tam vương là bốn, Ðế Lai là năm, Âu Cơ là sáu).

B. Những Chủng Tộc Khác

Các chủng khác ngày nay không còn thấy rõ thờ mẹ Trời nữa như Ấn Ðộ, Trung Hoa... cũng có thuyết trứng vũ trụ.

Ấn Ðộ

Ấn Ðộ có nhiều thuyết vũ trụ tạo hình. Cổ nhất thấy trong kinh Rig Veda sáng tác bằng Phạn ngữ ở vùng Tây bắc Ấn Ðộ vào khoảng năm 1.500 trước Tây lịch. Truyền thuyết chính yếu của Rig Veda là truyền thuyết tạo sinh vũ trụ. Thêm vào đó có nhiều truyền thuyết khác viết trong Brahmanas vài thế kỷ sau. Trong kinh Rig Veda truyền thuyết cũng được diễn tả bằng nhiều cách khác nhau. . Vũ trụ thoạt đầu là một khối hỗn mang. Sau đó thần tổ Indra, vua của tất cả các thần linh và là thần mưa cùng thần mặt trời Vishnu tách ra thành trời và đất. Rồi mặt trời mọc từ rốn trái đất, tại đó dựng lên một cái trụ trời giữ trời đất tách biệt ra.

Trong kinh Rig Veda về sau lại nói tới một truyền thuyết khác về tạo sinh vũ trụ. Ðó là ông tổ vũ trụ Purusha, người tự hy sinh chặt thân thể mình tạo ra vũ trụ và bốn giai cấp xã hội (giáo sĩ, chiến sĩ, thường dân và nô lệ). Purusha tương đương với Bàn Cổ.

Dần dần dẫn đến một vị thần duy nhất được coi như là tác giả tạo ra vũ trụ. Ðó là Prajapati 'Ðấng Tạo Hóa', về sau gọi là đấng Brahma. Trong Rig Veda, thần trời loạn luân với con gái là thần rạng đông gieo hạt giống mầm sống xuống đất. Trong Brahmanas thì cho là Prajapati làm công việc này. "Hạt giống vàng" cho vào nước vũ trụ nở ra trái trứng vàng vũ trụ sau đó tách ra làm hai trời và đất. Mặt trời là lòng đỏ của trứng vũ trụ. Về sau nữa vũ trụ được gọi là trái Trứng Brahma. Phạn ngữ Brahmânda chỉ thế giới, vũ trụ; Brahmânda do Brahma-anda với anda là trứng. Ðấng tạo hóa Brahma chui ra từ cái trứng này và hóa phép cho các phần quả trứng biến thành tám con voi đứng bốn góc và bốn điểm giữa để giữ trời đất tách biệt ra.

Trung Hoa

Chúng tôi đã nói trong bài Nhận Diện Danh Tính Vua Tổ Hùng Vương số trước là thuyết tạo sinh vũ trụ của người Trung Hoa có một thuyết cho là lúc Hỗn Mang hay Hỗn Ðộn (Chaos) vũ trụ giống như một cái trứng gà. Lúc đó đất trời chưa có. Từ trái trứng này đẻ ra ông Bàn Cổ. Thuyết này xuất hiện rất muộn, không thống nhất, rất hỗn độn vá víu... rõ ràng là Bàn Cổ không phải của người Trung Hoa. Quan niệm vũ trụ là một cái trứng là của Nam Man chúng ta.

Các Dân Tộc Khác

Trong các cổ mộ thời sơ khai tiền sử người ta tìm thấy nhiều trứng bằng đất sét biểu tượng cho bất tử, tái sinh. Người La Mã chôn trứng với người chết. Người Maori ở New Zealand, trước khi giống chim Moa tuyệt chủng, có tục là để trứng của loài chim lớn này vào tay người chết. Thiên Chúa giáo cũng coi trứng là biểu tượng cho tái sinh, Phục Sinh. Biểu tượng của tái sinh nhân dịp đầu mùa xuân của lễ Phục Sinh Easter của chúa Christ với tục lệ là nhuộm hay sơn trứng đủ màu và trẻ em đi săn trứng ngày nay còn thấy ở Hoa Kỳ.


Kết Luận

Mẹ Trứng vũ trụ Thần Nông là của Hừng Việt, là một nữ thần tạo sinh ra vũ trụ là Mẹ, là Nàng. Trung Hoa đã "hấp thụ" của rợ Nam Man rồi đổi qua thành thần Nông nông thần lơ lửng trong sử Trung Hoa chẳng ăn nhập đâu vào đâu cả. Thần Nông lại vá víu với nông thần và y học và chỉ có khoảng 5.000 tuổi. Những cái gì chép nhặt bao giờ cũng đầu Ngô mình Sở (đúng là lấy đầu của Ngô Việt ghép vào đuôi Sở Việt làm thành Trung Hoa), chép nhặt bao giờ cũng dấu đầu lòi đuôi. Các nhà nho ta đã Hoa hóa Mẹ Thần Nông Trứng vũ trụ của chúng ta thành ông Thần Nông nông thần của Trung Hoa. Mẹ Trứng vũ trụ Thần Nông của chúng ta có từ khai thiên lập địa già 4.6 tỉ tuổi từ lúc thái dương hệ ra đời và trái đất thành hình.

Mẹ Trứng vũ trụ Thần Nông có hiệu là Viêm đế hiển nhiên là đúng trăm phần trăm.

Cổ sử Trung Hoa chép là thần Nông làm vua được tám đời. Cả Tầu lẫn ta đều không ai biết tám đời này là ai. Nhưng chúng tôi đã khám phá ra. Ðó là tam vương ngũ đế. Ba đời vương cộng với năm đời đế tổng cộng là 8 đời. Và chúng tôi cũng bật mí được cái bí mật là tại sao Ðế Minh là vị đế đầu tiên lại là cháu bốn đời vua Thần Nông. Rõ như ban ngày đế Minh sau tam vương nên là cháu bốn đời của Mẹ Trứng Vũ Trụ Thần Nông của chúng ta.
Tóm lại Thần Nông tuyệt nhiên không phải là Nông thần "đầu bò, đầu bướu", chuyên về canh nông và y học. Thần Nông của chúng ta là Mẹ Trứng Vũ trụ Thần Nông có hiệu là Viêm Ðế ăn khớp với với Hừng Việt, với Mặt Trời. Viêm đế phải hiểu là thần Nóng, thần Lửa có từ lúc hồng hoang "big bang". Chứng tích còn thấy là các vua Hùng cũng thờ Thần Lửa, ngày nay còn di tích ở đền Hùng: "Trên đền Trung là đền Thượng, tức Kính Thiên tĩnh điện (nơi các vua Hùng thờ Trời, Ðất và Thần Lửa)" (Bảo Vân, Trẩy Hội Ðền Hùng, YHTT, số 13, tháng 4, 1996 tr.9) Tất cả các thuyết của Trung Hoa và của ta từ trước tới nay về vua Thần Nông đều cần phải xét lại nếu không muốn nói trắng ra là sai hết cả. Xin đề nghị kể từ nay để tránh lầm lẫn nên gọi là Mẹ Trứng Vũ Trụ Thần Nông thay vì ông Thần Nông .

BungRieu
03-21-2003, 04:32 AM
HUYỀN THOẠI THÁNH DÓNG
Huyền Thoại Lửa và Mặt Trời Việt Nam: Thánh Dóng

Trần Ngọc Ninh


Truyền thuyết về Thánh Dóng được kể hằng năm ở Hội Dô, Hội Dóng. Tên chữ của làng Dóng là Phù Ðổng, nay là huyện Tiên Du, Bắc Ninh, theo sắc vua ban thì đây là nơi sinh của Dóng. Thời đản sinh và dưới triều vua Hùng thứ Sáu, nhà Hồng Bàng, tức là vào đầu khoảng thời huyền thoại dân tộc. Cả một vùng châu-thổ từ Bắc-Ninh, Vĩnh-Phú, Vũ-Ninh, đến núi Tam-Ðảo, Sơn-Tây đều có những tục truyền là những biến thái của huyền thoại. Ðến đời Nhà Lê thì chuyện Thánh Dóng được chính-thức chép, thứ nhất là bởi Ngô Sĩ Liên (tiến sĩ năm Ðại-Bảo thứ ba, đời Lê Thái Tông, Hàn-Lâm Viện-sĩ, sử quan Quốc-Sử quán) trong bộ Ðại Việt Sử Kí Toàn Thư, sau là bởi Trần Thế Pháp với sự hiệu chính của Vũ Quỳnh (1453-? Tiến Sĩ 1479, Lễ Bộ Thượng-thư) và Kiều Phú (1450-? Tiến Sĩ 1476) trong cuốn Linh Nam Chính Quái. Tập lịch sử diễn ca Thiên Nam Ngữ-lục (Tác giả khuyết danh cuối thế kỉ XVII) kể lại chuyện Thánh Dóng như một truyền kí, rồi tập Ðại Nam Quốc sử Diễn-ca (1870-1873) của Lê Ngũ Cát/Hàm Biên-tu, Án sát Cao Bằng và Phạm Ðình Toái (Cử nhân, Án sát Sơn Tây) nói đến Dóng một cách sơ lược. Hai sách diễn-ca sau đều theo thể lục-bát, tuy cũng đều có ý muốn cho thành văn thơ "tao nhã", "lịch sự", nhưng nhiều đoạn chưa đạt được và vẫn còn giọng bình dân giản dị, lại còn muốn giảng đạo đức theo kiểu Tống-Nhọ Tôi sao chép và trích lục hai sách ấy để các độc giả thấy rõ rằng các vị văn thân đời trước không những không hiểu nổi sự hùng-tráng ngang-tàng huyền-diệu của người anh-hùng huyền-thoại, lại còn muốn rồn ép người anh-hùng khai sơn phá thạch, tạo dựng văn-hóa trong thời bình-minh của dân tộc vào trong cái khuôn gỗ vuông-vắn thô-sơ của một đạo Khổng-Mạnh đã bị gọt rũa để thành một công cụ chính-quyền.

Bài của Lê Ngô Cát - Phạm Ðình Toái gồm có đúng 18 câu lục bát:

Sáu đời Hùng vận vừa suy
Vũ-ninh có giặc mới đi cầu tài.
Làng Phù-đổng có một người
Sinh ra chẳng nói, chẳng cười trơ-trơ.
Những ngờ oan trái bao giờ,
Nào hay thần tướng đợi chờ phong vân.
Nghe vua cầu tướng ra quân,
Thoắt ngồi, thoắt nói muôn phần khích-ngang.
Lời thưa mẹ, dạ cần vương,
Lấy trung làm hiếu một đường phân minh.
Sứ về tâu trước thiên đình,
Gươm vàng, ngựa sắt đề binh tiến vào.
Trận mây theo ngọn cờ đào,
Ra uy sấm sét, nửa chiều giặc tan.
Áo nhung cởi lại Linh-san,
Thoắt đà thoát nợ trần-hoàn lên tiên.
Miếu-đình còn dấu cố-viên.
Chẳng hay chuyện cũ lưu truyền có không?

(Ðại-Nam Quốc-sữ diễn ca) Bản Hoàng Xuân Hãn, 1949

Thiên Nam Ngữ Lục kể dài hơn, và cũng như truyền thuyết ở một vài nơi, đã biến Dóng thành một anh-hùng huyền-thoại (heros), lẫn lộn với một số nét còn lưu lại của huyền-thoại nguyên thủy.

Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp (Vũ Quỳnh, Kiều Phú) cũng ở trong tình trạng ấy. Tôi nhận xét rằng các thoại kể được ghi lại những năm 1968 và 1972 đều ít nhiều có pha những chi tiết hay tỉ-dụ có tính cách duy-vật thô-sơ không mác-xít, như Maxim Gorki giảng thần thoại cổ helen. Về phương diện này, các học-giả mác-xít cũng phạm lỗi-lầm của các học-giả nho gia: cả hai thuyết đều cố phá huyền và tẩy uế các huyền-thoại để thu nhận huyền-thoại vào vòng ý-hệ chính thống. Ngoài ra, các huyền thoại Việt-Nam cũng như các huyền thoại của thần-đạo Nhật-Bản, đều còn bị sửa đổi theo những tin-tưởng dính đến Phật-giáo Trung-Hoa. Vì hầu hết các người Việt-Nam cũng còn nhớ những nét chính của huyền thoại Thánh Dóng, nên tôi kể lại một thoại-thuyết tổng-hợp chỉ có những sự kiện cốt lõi, pha lẫn những nghi-thức liên hệ còn tồn tại ở địa phương, nhưng để bớt khô-khan, tôi mượn một vài câu văn vần trích lời hát xẩm trong Hội Dóng (Tháng Ba) và vài đoạn của Thiên Nam Ngữ Lục. Những phần trích lục đều in chữ ngả và ghi rõ xuất xứ.

Khi Lạc Long Quân (Lang Ða Cần, theo truyền thuyết Mường) làm xong công-việc lập ra non nước và đánh đuổi các loài quỉ dữ quấy nhiều phá phách, ăn thịt người trên đất liền và dọc bờ biển thì Ngài mất đi ("bay về trời" theo cách nói của hán văn). Trước khi đi, Ngài có dặn rằng nếu có sự nguy-nan đe dọa con cháu dòng-dõi thì có thể kêu gọi và Ngài sẽ về cứu nguy.

Từ đó ở đất Lạc, dưới sự lãnh đạo của vua (bua/bố/, tên truyền từ đời Lang-Quân) một nền văn-hiến mới được xây dựng, dân chúng sống an lạc với công việc cấy cầy.

Người người giữ pháp, nhà nhà ở yên
(TNNL)

Bỗng nhiên vào khoảng đời Hùng thứ Sáu, khắp một vùng bao gồm Kẻ Trâu, Kẻ Cáo, Kẻ Ngựa, Kẻ Sóc, từ Tiên Du, Bắc Ninh đến Tam Ðảo, Sơn Tây, giặc cướp nổi lên như rươi như bọ, cướp phá, giết hại dân lành, sự sợ hãi và bất yên lan tràn từ làng này sang làng khác không ngớt không ngơi. Thiên Nam Ngữ Lục kể cuộc loạn này như được tổ chức bởi một bọn giặc tự xưng là nhà Ân, với một tên đầu đảng tự nhận là vua:

Ân-vương sai tướng phá thành,
Binh dòng muôn đội, tướng tinh một nghìn,
Ðạp bằng Ðất Việt sơn xuyên,
Cỏ chẳng cho mọc, đường nên tuyệt người
(TNNL)

Nhưng thực sự, đây chỉ là những đám giặc cỏ nếu có, vì ngoài nhà Thương-Ân ở Trung Hoa ra, chưa có một nước nào trong cõi Ịông Á có thể đã có một quân đội đông đảo, có tổ cức (binh, tướng), có huấn-luyện (dòng, tinh) như được kệ Cái tên Nhà Ân cũng là các nhà nho đời sau đặt ra, vì nhà Ân thực còn ở tít mù trong cái khúc uốn của Hoàng-Hà, với không biết bao nhiêu bộ lạc không-tên, không-sử, chưa biết cấy lúa, ngăn cách ở khoảng giữa, rồi mới tới lãnh thổ của dân Lạc-Việt. Vua Hùng cũng chưa chắc gì đã có "thành", và huyền thoại cũng không nói gì đến binh-đội của "Nước Lạc" (?)

Lĩnh Nam Chích Quái kể rằng dân khổ quá, đêm đêm ngửa mặt lên trới mà kêu rằng: "Bố ơi! Bố ở đâu mà không về cứu các con!"

Ở Làng Sóc, có hai vợ chồng ở với nhau đã lâu mà không có con. Nhà nghèo, chỉ trồng rau trồng cà để sống. Một truyền thuyết ở vùng Nòn, nay là làng Phù Dực (Cánh Nổi), kể rằng một bữa, người vợ thấy trên đất sau vuờn rau có một vết lõm giống như dấu chân người mà to lắm. Bà ươm thử chân mình vào vết lõm. Từ đó thấy khác trong người, bụng và ngực mỗi ngày một lớn. Mười tháng sau thì sinh ra một đứa bé con trai, nhỏ hơn các trẻ sơ sinh khác nhiều.

Tuy vậy, hai vợ chồng vẫn mừng lắm. Người mẹ hàng ngày cho con bú và mớm cơm cho con, nhưng chẳng những nó không chịu ăn và không lớn lên, mà đã ba năm nó cũng vẫn "chẳng nói, chẳng cười, trơ trơ (ÐN.QSDC). T.N.N.L cũng kể như thế: đứa bé sinh ra

"Chẳng ngồi chẳng nói chẳng ăn hoài nằm"

Một bữa kia, đang ngồi chơi bên cạnh giường con trong nhà thì thấy ngoài ngõ có tiếng mõ kêu, rồi tiếng loa gọi tất cả bà con lối xóm nghe lời truyền của Vua, có giặc đang phá đất phá nước, cướp của giết người, đe dọa sự yên ổn của xóm làng, xâm phạm vào miếu thờ các Ðấng, các Ngài và cả mồ mã cha mẹ của dân; vậy khắp mọi nhà, không kể đàn ông, đàn bà, ai là người còn khỏe mạnh cũng phải đóng góp, sửa soạn, mài dao cho sắc, đẽo lao cho nhọn, để ra đánh giặc khi chúng đến gần làng.

Hai vợ chồng già nhìn nhau. Người vợ ứa nước mắt nói:

"Ông với tôi đều có tuổi cả rồi, sức đã đuối, đi lại còn phải chống gậy, làm sao đánh giặc được bây giờ?"

Người chồng thở dài nói:

"Phải chi con mình nó lớn hơn một chút, biết đi biết đứng..."

Bỗng ở trên giường tre, đứa bé đang nằm đột-nhiên ngồi dậy; từ lúc lọt lòng, chẳng biết khóc biết cười, nay cất tiếng nói:

"Bố mẹ khỏi lo buồn, ra gọi ông mõ vào đây cho con."

Ông già bà già giật mình, nửa mừng nửa sợ, cứ thế lập cập chạy ra, quên cả gậy, bỏ cả guốc, rối rít gọi người mõ đang rao ngoài ngõ vào nhà. Người làng đang xúm quanh để hỏi tin tức về thế giặc cũng kéo nhau theo vào. Chỉ thấy đứa bé, nhỉnh hơn cái nắm tay, đứng trên giường tre, rõng rạc phán:

"Này ông Mõ, ông về ngay bảo Vua:
Ðúc một ngựa sắt ngàn cân
Luyện một việt sắt người phần cả cao
(T.N.N.L)

sớm đưa lên đây, tôi kịp đi đánh giặc."

Người mõ trố mắt ra nhìn, chưa động đậy, thì người làng đứng chật trong nhà ngoài ngõ đã nhất tề reo hò vang động, dục:

"Ði đi, mau lên, còn đợi gì nữa."

Người mõ quay mình ra cửa, ba chân bốn cẳng chạy một mạch về kinh, bỏ quên cả loa, cả mỏ. Về tới nơi, xông vào cung, tâu vua tất cả sự kiện xẩy ra chỉ có một câu, và nói thêm: "Ghê quá! Mừng quá! Ngài về!" rồi gục xuống chết. Lính chạy ra khiêng người tử sĩ vào, và Vua không mất thì giờ, ra lệnh:

Truyền cho dã tượng các nơi
Bễ than lò đắp ngất trời lửa nung
Ba trăm cục chính dã công
Một tuần luyện đúc ngựa cùng việt nay
(TNNL)

và cho lính đem ngay đến làng Dóng cho Thiên-tướng.

Trong khi ấy thì ở làng, dân làng ùn ùn đến nhà Dóng. Chỉ thấy đứa bé đứng thẳng vươn vai một cái, lớn lên ngang đầu mọi người, vươn lên một cái nữa, đầu đụng vào mái nhà nhẩy xuống đất, ra ngoài sân, vươn lên một cái nữa, cao bằng ngọn tre; cất tiếng lớn như tiếng sấm giữa trời, bảo mọi người về đem cơm với cà ở các nhà đến.

Cơm thời (hãy) thổi cho đầy bảy nong,
Cà thời muối lấy ba gồng...
(Bài hát Thánh Dóng, theo Cao Huy Ðỉnh)

Cơm được khiêng, cà được gánh tới, Dóng đứng ăn.

Bảy nong cơm, ba (gánh) cà,
Uống một hơi nước cạn đà khúc sông
(theo Cao Huy Ðỉnh)

Khi ngựa và gươm (có nơi nói là rìu, có nơi kể là lao hay gậy) của Vua được lính khiêng đến, cùng với nón sắt, giầy sắt và quần áo sắt, to lớn khác thường, Dóng đón nhận và mặc vào vừa khít như đúc; thét lên một tiếng, nhảy vọt lên mình ngựa, tức thì ngựa sắt chồm lên:

Lạ thay ngựa sắt tự nhiên
Giậm lên động đất thét lên dậy trời
(TNNL)

Còn Dóng thì

Con mắt sáng như vẻ sao
Lưu linh chấp chới tót vào đẩu tinh
Ầm ầm dường tiếng lôi minh
Hổ bộ long hành nhật giác thiên tư ....

Cầm con thiết bổng múa chơi
Cán dời Ðẩu bính đuôi dời Nam minh
Tiếng ran quỉ khốc thần kinh
Thu vàng lá rụng xuân xanh hoa tàn
(TNNL)

Thế rồi người ngựa thẳng phóng vào đám giặc, chân ngựa dẫm xuống đất thành những lỗ chum sâu hoắm đến nay còn thấy, miệng ngựa phun ra lửa, cây cối hai bên đường bị cháy còn để lại vết xém đen. Dóng đứng trên mình ngựa vung gươm phạt ngang phạt dọc, giặc chết như rạ, thấy xác đầy đường. Ịến chiều thì gươm sắt gẫy, Dóng vươn tay nhổ tre rừng vung lên, quật xuống, uy thần sáng chói đầy trời:

Một mình tả đột hữu xung
Muôn quân chẳng sợ ngàn vòng chẳng lo
Ngày bằng trường dạ mịt mù
Tung hoành ngựa sắt thế như trường xà
(TNNL)

Quân giặc "nát ra như nước, tan ra như bèo". Ðến chiều thì giặc hết, nước yên, suốt một giải đất từ Tiên Du đến Tam Ðảo, không còn bóng một tên bất lương phá rối, dân chúng các làng đi theo vết chân ngựa dọn dẹp đường xá đồng ruộng sạch quang, cảnh vật lại yên tĩnh, trong sáng. Dóng cưỡi ngựa lên đến đỉnh núi Con Sóc thì cởi áo treo lên cái cây trên đỉnh núi rồi cả người lẫn ngựa bay vào đám mây ở chân trời mà biến mất.

Chuyện của Dóng được kể như vĩ tích của một vị anh-hùng cứu thế, một David Việt-Nam bé nhỏ, đã một mình đánh ngã và chặt đầu tên tướng khổng lồ Goliath, cứu dân mình khỏi cái họa diệt vong.

Trong thời trẻ tuổi, còn sống với những giấc mơ có mầu sắc anh-hùng chủ-nghĩa, chính tôi cũng nghĩ rằng Dóng là hình ảnh và biểu tượng của dân tộc, chịu đựng, nhẫn nhục (không cười, không nói), nhưng khi cần đến, có thể vươn lên, trong phút chốc thành một người khổng lồ sắt thép, với một uy-lực phi-phàm và một lòng tin vô-biên ở sức mạnh của văn-hóa (cây tre) và chính-nghĩa (dẹp giặc vì hòa bình); nhưng khi xong việc, lại bỏ hết danh-vọng, phú-quí, trở về với hư-vô.

Cái mộng tưởng lãng-mạn tiêu tan dần trong những đụng chạm và đấu tranh với những sức mạnh ngàn vạn lần lớn hơn những Goliath của Thánh-Kinh Cựu Ước hay đám giặc cỏ đời Hùng-vương; tôi mới hiểu được rằng cái nhãn-quan của huyền thoại Thánh Dóng hùng-vĩ và lớn rộng đến độ vô cùng vô tận, cao hơn mọi tưởng tượng của người thường chúng ta.


Thánh Dóng là Mặt Trời.

Trong thời tiền sử mà ta gọi theo truyền thuyết là đời Hồng Bàng hay đời Hùng-vương. Mặt Trời là Ðấng Ðại-Hùng Ðại-Ðảm, Ðại-Lực Ðại-Úy, Chí Công Chí Chính, Ðấng Sáng Tổ đầy tình thương với con cháu, một lời đã hứa ngàn đời không quên, luôn luôn, mãi mãi, đều đều trở lại, không nói, không cười, không lộ hình tích cho đến lúc cuối cùng, lúc quyết liệt, mới vùng lên một ý chí và một sức mạnh cao đến trời xanh, sáng lòa con mắt, đốt cháy và xua đuổi hết những tàn-bạo, bất-lương, quỉ-ma, mê-muội và tối-tăm ngu-dốt đã u ám con người trong dầy-đặc của đêm.

Ðó chính là con người huyền thoại của Thánh Dóng. Và là hình ảnh của Mặt Trời trong tưởng-tượng của người sơ thủy ở Việt-Nam.

Không ai đã biết mặt trời là gì cả? Người ta có thể nghĩ, như người Helen cổ rằng đó là thần Phoebut Appolo, ngồi trên một cái xe có lửa, bốn ngựa với một người đánh xe. Hoặc nghĩ rằng đó là một con quạ lửa, con cuối cùng còn sống sót sau khi chín con cùng đàn đã bị một người cung-thủ bắn rơi. Trong một đoạn trên, ta đã thấy rằng người Nhật tin là có thần nữ, hiện ra từ mắt phải của Người Nữ Nguyên-Thủy, thành Mặt Trời, và từ mắt trái đã sinh ra một Thần Nam là Mặt Trăng. Ở Việt Nam ngày nay ta gọi Mặt Trời và Mặt Trăng đều là "Ông" cả, và có nhiều lí do để nghĩ rằng ngày xưa, người Việt nguyên-sơ cũng tin như người Nhật và nhiều dân Nam Ðảo, rằng khởi thủy có hai con mắt từ trên nhìn xuống. Nhưng cũng có nơi nghĩ rằng Mặt Trời và Mặt Trăng là hai anh em, hay là hai cha con. Tạm thời, ta có thể quên những biến-thể huyền-thoại không liên hệ đến nguồn-gốc của lửa để trở về với huyền thoại Thánh Dóng. Có một thời, trong một khu vực của đất Việt Nam mà chân trời phương đông là mặt biển và phương tây là núi, người ta thấy rằng Mặt Trời đã hiện thân thành người với tên là Dóng để đem sáng và trao lửa cho người. Thời của người là thời thực, thời sống, còn thời của Dóng là thời huyền thoại.

Thời huyền thoại là không thời. Nói rằng chuyện Dóng xẩy ra vào thời Hùng vương thứ Sáu chỉ là để đặt cốt truyện vào một thời theo qui ước là thời huyền thoại không thể-huyền thoại-hơn. Bánh chưng, bánh dầy ở thời vua Hùng thứ Sáu. Trầu cau cũng ở thời vua Hùng thứ Sáu. Sơn Tinh Thủy Tinh cũng vào thời vua Hùng thứ Sáu. Thời huyền thoại là thời có thực không thể thực hơn, vì dấu tích còn đó cho đến ngày nay: vết chân ngựa sắt của Ngài cũng như miếng trầu miếng cau, như cái bánh chưng bánh dầy. Thời huyền thoại là thời tổ, lập ra tất cả. Thời huyền thoại là thời trở đi trở lại, vĩnh-cữu phục hồi. Thời huyền thoại là thời linh thiêng, thời ở ngoài thời gian uế tạp của cuộc sống.

Vì vậy nên huyền thoại Thánh Dóng có một tiền khúc là chuyện Lạc Long quân.

Lạc Long-quân lúc chết dặn dò con cháu rằng sẽ trở về để cứu con dân nếu có những tai họa lớn phải cầu Ngài.* (*) Abbé Banier-La Mythologie Expliqueé par l'Hustoni-Paris 1738,QII, trang 218. Theo Andrew Lang-Myth, Rilmel and Religin, Longman, Green....(?), London 1913, trang 18). Lạc Long-quân không phải tên thực của Ngài. Ðời khởi-thủy, không có người nào ở miền nam sông Xanh (Dương Tử) dùng hán tự làm tên cả. Ðó là các cụ nhà Nho Việt-Nam đặt ra như thế vì các cụ viết chữ Hán và không ai biết tiếng việt cổ (đã thành tử-ngữ sau thời bà Trưng). Truyền thuyết Mường còn kể đến chuyện người Bố nguyên-thủy tên là Lang Ða Cần./Lang/ có lẽ là cái chức tương-đương với/vua/, hoặc là/Ðức Thủy-tổ/. Nhưng rồi các cụ cho /cần/ là /quân/"vua", còn /lang/ phải đọc trẹo đi thành/long/ "rồng". Chỉ phiền cái là con rồng là một con vật huyền thoại, xuất xứ từ Sumer ở Lưỡng-Hà-địa (Mesopotamia). Ở Trung Hoa, nhà Thương-Ân cũng còn chưa biết đến con rồng. Sau khi diệt nhà Thương rồi thì nhà Chu mới lập con rồng làm biểu tượng huyền-thoại của quyền vua, có lẽ là do ảnh hưởng của Sumer-Babylonia truyền qua Trung-Asia, đến rợ Chu ở miền Tây-Bắc mà chưa vào đến Nhà Thương. Sau con rồng/long là con li tức kì lân, một con vật huyền-thoại cũng không có thực (mà người châu Europa gọi la ụ/Unicorne/, con Ðộc giác). Cả đến hai con cuối cùng của tứ linh là con qui, con phượng cũng không phải là sinh vật thực, mà là vật thần, không phải là con rùa thường (mà người hoa coi là một con vật xấu xa, hạ tiện) và con công, con trĩ (mà họ ăn thịt).

Lạc Long Quân, theo truyền thuyết là thủy tổ của người Việt Nam. Sách xưa chép lại như vậy; sách cổ nhất là một tập Ngoại sử, trong bộ Ðại Việt Sử Kí Toàn Thư của sử thần Ngô Sĩ Liên đời Lê Thái Tông.

Ngô Sĩ Liên là một đại nho sĩ của nước ta, nước Ðại Việt theo quốc hiệu thời đó, từ đời Lý. Ông theo gương Tư Mã Quang, một nho sĩ và một đại trí thức đời nhà Hán ở Trung Quốc, đã viết bộ Sử Kí đầu tiên của Trung Hoa, để viết bộ Sử Kí đầu tiên của Ðại Việt. Khi chép chuyện Lạc Long Quân và Ngoại-Sử của Ðại Việt, ông đã lập định hai điều mà thời nay, với sự hiểu biết mới, ta phải coi là sai lầm.

Sự sai lầm thứ nhất là để huyền thoại vào trong lịch sử, cho huyền thoại là sử kí. Ngày xưa, ở cổ Helen Euhemerus (316 T-Kt) đã thuyết rằng huyền-thoại và các thần là những chuyện thật phóng đại. Thuyết này bị bài bác trong trong thời Trung-Cổ vì các nhà tôn-giáo học bảo rằng có thần có thánh thực, thần thánh không phải là người, và Euhemerus là khôi hài. Ngô Sĩ Liên không những cho Lạc Long Quân là có thực, mà còn nhận rằng Lạc Long Quân và Âu Cơ là quốc tổ thì cũng quá dễ tính.

Sự sai lầm thứ hai là đã viết tên của một người huyền-thoại Việt Nam bằng Hán tự là /Lạc Long Quân/ như thể là đúng và đích tên của người ấy, trong khi đây chỉ là phiên âm. Do đó mà phát sinh ra cả một sâu chuỗi sai lầm, nuôi dưỡng một thứ chủ nghĩa dân tộc ấu trĩ quái nhìn về một quá khứ ảo huyễn, không những là lạc hậu mà còn tệ hại. Tôi từng đọc các bậc đại anh-hùng như Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ, các nhà cách mệnh như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, chẳng khi nào thấy có một lời bấu víu vào huyền-thoại để khêu ngọn lửa yêu nước trong quốc dân.

Tên thực, tên tiếng Việt cổ, của người anh-hùng huyền-thoại mà từ Ngô Sĩ Liên ta gọi là Lạc Long Quân, là gì, không ai biết.

Ðể vấn đề ấy và những vấn đề phức-tạp có thể gây sóng gió vô ích sang một bên, tôi xin các quí độc-giả của sách này tạm thời hãy chỉ nhận huyền thoại là huyền thoại và nhìn vào huyền thoại với nhãn quan và sự hiều biết của đời nay.

Tơi nhìn nhận huyền-thoại Lạc Long Quân trong cốt-tủy cũng là một huyền thoại mặt trời. Từ cõi hư vô lên núi (gặp cô gái dòng Âu trên núi), rồi bỏ núi để xuống biển, là đường đi của Mặt Trời. Trên đường, đánh các con tinh ở dưới đất, trong nước, trong rừng, là xua đuổi đêm tối và các lực lượng âm u ở khắp bốn phương; nhưng có một phương, sự thắng trận của Lạc Long Quân không hoàn toàn, con tinh cuối cùng chỉ bị thương mà tẩu thoát được, tôi nghĩ là vì buổi chiều tà, Mặt Trời không còn đủ sức mạnh của buổi trưa. Cuối cùng, Vịnh Hạ Long được cho là nơi Lạc Long Quân chết. Mặt trời lặn, Mặt Trời thứ nhất.

Thánh Dóng là Mặt Trời sau. Người tiền sử và thái cổ không biết rằng chỉ có một Mặt Trời; và nếu Lạc Long Quân là Mặt Trời thì Trời Thánh Dóng cũng vẫn là Mặt Trời Lạc Long Quân. Nhưng nếu đã thấy rõ Mặt Trời trước lặn ở đằng tây rồi, làm sao biết được và dám nói rằng qua đêm, vẫn Mặt Trời ấy mọc lên ở đằng đông? Tuy vậy mà trong dòng huyền-thoại Việt-Nam, Thánh Dóng được coi là hóa thân của Lạc Long Quân. Nếu ý kiến này không phải do ảnh hưởng của Phật Giáo và được ghép vào huyền-thoại nguyên-thủy của Thánh Dóng, thì quả là một trực giác lạ lùng vì sáng suốt.

Tôi không dám dựa vào cái tên của Dóng để làm cho giả thuyết mặt trời về Dóng thêm vững. Tôi biết những suy-luận về philologie (cổ-văn-khảo) của đại học giả Max Mueller (1823-1900) người đã lập ra ngữ-lí-học lịch sử với ngữ tộc ấn âu: quá say mê với những khám phá vĩ đại của mình Mueller đã thuyết rằng thần cổ-helen và các thần trong kinh Veda của dân Aryan cổ- India có chung nguồn gốc. Và ông thêm rằng tất cả là huyền thoại Mặt Trời. Ông bị một học giả khác, Andrew Lang (1844-1912) một trong những nhà dân-tộc học đầu tiên của THẾ GIỚI, một sáng lập viên của khoa-học dân gian phong tục (science of folklore), phê bình, chế riễu nặng nề, về sự dùng cổ văn khảo mà phân tích và nghiên cứu huyền thoại. A. Lang lập ra một thuyết khác, nối liền huyền thoại (myth) vào những nghi thức (ritual) để đi tới tôn giáo. Nay thì cả hai thuyết, thuyết mặt trời của Mueller và thuyết nghi thức của A. Lang, đều bị bỏ, ít nhất là trong hình thức nguyên-khởi của hai vị trưởng-tràng đối nghịch. Những điều tôi viết ở đây về hai huyền thoại Việt Nam đi cập kè với cả hai thuyết, nhưng tôi không dùng phương pháp cổ-văn hay cổ-ngữ khảo, cũng không dùng nghi-thức làm cốt-lõi của vấn đề.

Tuy nhiên tên của Dóng (hay Róng?) không khỏi nhắc nhở đến/rạng/đông (trời rạng sáng), cái ráng trời, và động từ rạng chân, rang tay, với kết quả là rộng hơn. Tiếng Việt miền Bắc không phân biệt ba phụ âm(d), (gi) và (r), đều phát âm là (z). Tiếng Việt miền Nam có phân biệt ba âm ấy, nhưng tỉ số người Việt miền Nam biết đến Thánh Dóng (Róng) có lẽ không đến một phần trăm. /Róng còn tồn tại trong hai cách nói đời nay:

róng trống (róng trống mở cờ)
róng lên một tiếng chuông

Ðộng từ /róng/ này có chung một nghĩa vị (semanteme) với động từ /rống/hét, thét, gào, kêu hoang dã, và hai từ có thể là cùng gốc (cognate). Tôi đưa ra những nhận-xét trên để bỏ ngỏ vấn-đề. Dầu là có cả một chùm bảy tiếng tương tự về cả hình thức ngữ âm và nội dung ngữ-nghĩa, tôi cũng không đưa thêm một ý nghĩ gì về ngữ-lí-học khi chưa có một nghiên-cứu nghiêm-túc về nguồn-gốc và về dạng học (morphology *, từ pháp học) việt ngữ. Hơn nữa tôi cũng không cần viện đến ngữ-lí-học.

Tôi không được biết một huyền thoại nào trong thế giới loài người tả mặt trời từ lúc rạng đông mọc lên cho đến lúc lặn đi trong ánh chiều tà mà rõ và đẹp như huyền thoại Thánh Dóng.

Chuyện Thánh Dóng được dựng lên, cô đặc như một bi-kịch cổ-helen với ba cái một = một cốt, một chỗ, một thời, nhưng là một bi-kịch biểu-tượng trong đó người anh hùng là Mặt Trời, vĩ-tích đánh giặc là nắng ngày đuổi đêm tối, chiến trường là Cõi Sống của người. Thời gian của chuyện, theo chu-trình ngắn thì là đêm-ngày, theo chu-trình dài thì là đông-xuân. Ðêm-tối là lúc mặt trời vắng mặt, tất cả tạo-vật lạnh một mầu đen. Nằm trên một trạc cây hay trong một hốc đá, nghe tiếng hổ gầm với rú lúc gần lúc xa, thỉnh thoảng sột soạt bên mình có một con chồn hay con chuột lách bụi ăn đêm. hoặc suốt đêm yên lặng chết chóc, mở mắt nhìn tròng-trọc trong tối, lâu lâu thấy giữa những chùm lá đen xì, hai con mắt lân-tinh của một con cú vọ lượn không tiếng động, hay những bóng xà xuống ngoắt lên của những con giơi lớn vừa bay vừa hú những tiếng siêu âm mà tai không nghe thấy nhưng vẫn làm váng óc. Và không biết lúc nào, một con hổ-mang hổ-lửa, một con rết độc, một con bọ cạp, một con trăn lớn, hay một vô-danh ẩn trong vô-minh, có thể đến sát mình và trong kinh hoàng thầm lặng, đưa mình từ một giấc ngủ ngon lành sang một sự chết vô nghĩa. Ngôn-ngữ và hiểu-biết, với sự tưởng-tượng sơ-thủy, làm cho con người, rất lâu về sau, ngay cả khi đã biết cấy cây lúa, trồng cây rau, dựng cái lều để nương tựa vào nhau mà sống với chút yên ổn, khi nghĩ đến những cái sợ tiền kiếp, cũng chỉ biết nói là trong bóng tối có những đe dọa đời sống không hận-thù, không duyên-cớ, tối-tăm, không đường tránh đỡ, như quỉ như ma.

Nhưng huyền thoại Thánh Dóng của Việt Nam đưa sự bi hùng lên một độ ngất trời, vì xẩy ra không phải bất cứ ở đâu, mà trong một vực nhỏ bao vây bởi núi với bể ở chân trời, của nước Việt-Nam, đứng mũi để cản cơn gió mùa của đại dương vào lục địa. Trước khi Dóng xuất hiện, là giặc cướp ở đâu tràn về, reo rắc kinh-hoàng chết-chóc khắp nơi, mà người ta bất lực, không làm gì được. Ðó là cảnh đêm tối âm-u trong những làng xóm tiền-sử, lập ra giữa những đất hoang ở bìa rừng rậm. Người ta còn thưa-thớt, đường sá không có, ngoài một hai đường mòn ngoắt nghéo giữa những tảng đá, bụi cây và những vũng nước lầy rộng hẹp, nông sâu tùy thời tiết. Trong những tháng gió mùa, giông tố đến không biết lúc nào, có khi mưa rầm rề mươi ngày, cả tháng, nước trời trút xuống như thác đổ, ngày cũng như đêm một mầu rầu rĩ xám xịt. Bão thì kinh hồn, gió rít như một ngàn con ngựa vừa bay vừa hí, gió luồng táp vào những khe nhà rung lên như muốn thốc lên trời. Ðó là không kể nước rừng tràn ra, nước sông dâng lên, và con nước tự nhiên xoắn tới, cuốn cả chum vại, nhà cửa, người, trâu bốc lên cao rồi ném đi đâu không biết. Gọi là giặc Ân, nói là cướp bóc, nhưng không phải chỉ là những kẻ bất lương, cũng không phải là hùm beo voi dữ, mà là trời long đất lở, các sức mạnh có tên và không tên của nước, của đất, của gió, của cây, của đá cùng nổi lên để phá, để đạp, để hất, để tung, để cướp, để giết cái bé bỏng yếu ớt của con người.

Dóng sinh ra một cách huyền diệu: huyền-sử thường dùng cách ấy để nói rằng người anh-hùng huyền-thoại không phải giống người. Cha mẹ Dóng đều đã quá già rồi để mẹ Dóng còn có thể thụ thai được; ngay cả sự nhận tinh của chồng cũng không còn nữa. Mẹ Dóng thụ thai sau khi ướm chân mình vào vết châm lõm trên đất: đó là sự thụ thai không-nhiễm: người đàn bà được chọn chỉ là một cái bình để vị thần-linh tối-cao tự gửi mình vào hay gửi cái "tinh" của mình vào mà thôi. Sự thụ thai linh-thiêng này là một tín-ngưỡng bình dân của Á Ðông: trong huyền-sử Việt-Nam, mẹ Ðinh Bộ Lĩnh cũng sẽ thụ thai theo lối này. Tín ngưỡng cổ Do Thái thì cho người mẹ đi quanh núi ba vòng. Tín ngưỡng cổ India thì cho con voi trắng đem hóa-thân bất-phàm đặt trong người bà mẹ. Vết chân trên mặt đất ở vườn phải được hiểu là vết giáng-lâm của Mặt Trời. Dóng sinh ra nhỏ xíu và suốt ba năm đầu không nói không cười. Ðây là lúc rạng-đông, còn nói là tinh sương, khi ở phía đông thấy đỏ ửng lên như một cái tán lọng hay một cái nia hồng từ mặt biển nơi chân trời từ từ dựng lên. Một lúc thì thấy những tia sáng như một bàn tay khổng lồ rồi một cái quạt giấy xòe ra nan quạt chọc thủng những đám mây trắng còn lơ lửng án ngữ chưa chịu tan đi theo sương muối của đêm. Rồi Mặt Trời nổi lên dần, sáng chói và trong như pha-lê, nhưng người ta còn nhìn được vì cái dĩa vàng còn bị lấp sau những chùm lá cây xanh. Và tuy sương bắt đầu tan, nhưng khí trời vẫn còn lạnh và những hạt móc đọng trên lá vẫn còn vồng lên để cố thu lấy những hình ảnh trong-trẻo tươi mát cuối cùng của đất trời.

Bỗng vụt một cái, cái đĩa tròn vành vạnh của Mặt Trời lên hẳn trên đường viền của rặng cây và mái nhà, lớn hơn thường vì so đọ với những vật dưới đất cũng có, và còn vì Mặt Trời còn thấp, tia nắng bị hkúc xạ và khuếch tán nhiều, thêm vào nữa- Dóng đã đứng dậy vươn vai, cao vọt lên và cứng mạnh trông thấy; chỉ trong phút chốc, lên trên ngọn tre, hùng dũng, chói lọi, người ta không dám nhìn nữa sợ lóe rồi đui con mắt trần tục.

Tới đây có một điểm về nghi-lễ, còn được truyền lại cho đến nay mặc dầu thời thế đổi thay, lòng người đã khác.

Sự liên hệ giữa huyền-thoại (myth) với nghi lễ (rite) hay nghi thức (ritual) là một nhận xét của nhiều nhà dân tộc-học cuối thế-kỉ trước và được đưa lên hàng lí-thuyết bởi Andrew Lang, rồi Lord Raglan. Mặc dầu những thuyết này đã bớt mạnh-mẽ đi nhiều lắm, nhưng tôi vẫn nêu lên ở đây, không phải như một ý-hệ cho khả năng chứng minh hay giảng giải, nhưng chỉ như một sự-kiện nhân học để nhấn rõ tầm quan-trọng của huyền-thoại Thánh Dóng trong tín-ngưỡng dân-gian và thiên nhiên. Nghi thức dĩ nhiên hơn nhiều khi mới được lập thành; ngày nay nó chỉ còn là một điêu-tàn, di-tích mảnh-vụn của tin-tưởng ngày xưa. Tính chất linh-thiêng và năng-lực cầu đảo của nghi thức mất dần trong thời gian và không còn nữa. Sự tồn-tại của nghi-thức chỉ là cái xác không hồn, một là vì ý-nghĩa thực của huyền-thoại đã mất và nghĩa đen của huyền-thoại không thể hợp được với nghi-thức, hai là vì chính nghi-thức cũng đã thành đồi trụy khi sự cầu đảo không hiệu nghiệm một cách liên tục. Clande Lévi-Strauss, nhà nhân học trưởng môn cơ cấu chủ-nghĩa pháp thuyết rằng khi nào huyền-thoại và nghi-thức đi song đôi với nhau, thì hai cái vận hành như một cặp đối nghịch biện-chứng. Ở khởi thủy, pháp thuật gồm một câu niệm chú và một cử chỉ gọi là sự bắt quyết; trong lễ cầu-đảo huyền-thoại là câu chú, nghi-thức là cái thủ quyết. Nay câu chú tiếng phạn bị niệm sai và cũng chẳng ai biết nghĩa nữa. Còn cái quyết của bàn tay chẳng những không đúng, mà hai bàn tay run lập-cập chỉ thấy sự sợ hãi chứ làm gì có sự quyết, sự tin. Rút cuộc thành trò úm-ba-la.

Tuy nhiên với nhà khảo-cứu nhân-học, nghi-thức trong ngày hội Thánh Dóng vẫn còn giá-trị của một chứng-tích. Nghi-thức rước lễ là hình-tích của một huyền-thoại đã được sự tin tưởng và thờ phụng trong quá khứ.

Có ba lễ nghi còn được truyền cho tới ngày nay về huyền thoại Thánh Dóng ở vùng Bắc Ninh, Sơn Tây.

Nghi lễ thứ nhất là kể lại sự-tích Thánh Dóng đồng thời với sự tham quan chiêm-ngưỡng các hình tích của cuộc hành-quân dẹp giặc thần-thánh ngày xưa. Dĩ nhiên rằng ai muốn tin thì tin, nhưng ngày nay chẳng còn mấy ai tin nữa. Giáo sư Nguyễn Thiện Lâu, dạy sử địa Ðại Học Văn Khoa Saigon, nói với tôi rằng ông đã được dân làng dắt đi xem những vết cháy đen vì lửa phun ra từ mõm và mũi con ngựa sắt của Ngài, và cả những vết chân ngựa trên đất. Ông bảo rằng làm gì có ngựa sắt biết phi, lại còn phun ra lửa. Còn những lỗ chân ngựa thì to lắm, và ông nghĩ là xưa dân làng đã đào đất sét để làm chum làm vại, rồi không lấp đi nên còn những hố rộng. Giáo sư Lâu tốt nghiệp cử nhân sử-địa ở Pháp, là một người tin ở khoa-học cổ-điển tiền-chiến, lại có tiêm nhiễm một chút chủ-nghĩa duy-vật hơi đơn sơ Ông bất đắc chí, sống nghèo nhưng không thiếu rượu, và tôi kính trọng các ý nghĩ của ông. Ông không muốn biết gì về các khoa-học nhân-văn. Ông mất hồi 1956-57. Tôi kể lại chuyện này để xác nhận rằng có những lỗ trên mặt đất, được dẫn là vết chân ngựa của Thánh Dóng. Thánh Dóng không phải là người như giáo sư Lâu. Con ngựa của Dóng cũng không phải là con ngựa thồ của ta cưỡi. Tôi hoàn toàn đồng ý.

Nghi lễ thứ hai là lễ cúng cha Thánh Dóng ngày mồng chín tháng Tư âm lịch. Ðồ cúng chỉ có bát cơm và dĩa cà muối. Trước ngày ấy, thường có giông, sấm chớp đùng đùng và mưa lớn. Dân làng tin rằng sau ngày ấy thì hết mùa mưa, hết sợ bão. Tên làng xưa là Kẻ Ðổng, sau đổi là Làng Dóng. Các người già cả trong làng truyền lại rằng Ðổng là tên cha, Dóng là tên con. Trong làng có nhiều ruộng cà. Các ruộng cà đều có cắm những tua xòe ra, gọi là "que bông"; người ta nói rằng que bông bên mỗi cây cà thì có mưa bão mà cà ít rụng. Bao giờ trong làng cũng để một sào ruộng trồng cà mà không cắm que bông. Người làng giảng rằng trước ngày lễ cơm cà thì ông Ðổng về hái cà cho con, nên làm ra giông tố do sự đi lại của ông. Ruộng nào có cắm que bông thì ông tưởng là cà mới lên bông chưa có quả, nên ông không vào. Ông chỉ hái cà ở ruộng không cắm que bông. Phải có cà đem về muối trước cho Dóng ăn thì Dóng mới lớn lên được. Dóng lớn lên thì thiên hạ thái bình và được mùa, dân gian no đủ.

Nghi-thức và huyền-thoại chưa rời xa nhau quá ở đây. Dĩ nhiên rằng hết mùa mưa thì sang mùa nắng chứ có phải là có bát cơm và dĩa cà cúng vào ngày đó thì gió mùa nghỉ thổi để mặt trời lại trở về đều đều hàng ngày, và ngọn lửa rơm ở các bếp lại tí tách nhẩy dưới đáy các nồi đầy gạo đâu?

Một nghi lễ thứ ba là Hội Dóng. Hội Dóng thường to lắm. Mấy ngày liền, với sự tham dự của dân mấy làng thuộc hai tỉnh ngày nay. Sự phân cách hành chính đương thời không chia rẽ được sự đồng lòng tiền-sử. Người ta nô nức từ mấy tháng trước; hết hội rồi người ta còn bàn cãi, chê khen, và dự định sang năm. Có một sự đua chen xây dựng giữa các làng. Già, trẻ, trai, gái cùng sống trong vui mừng và mong ước.
Nghi-thức ở bên lề của huyền thoại có hai công-việc. Một là để xây dựng huyền thoại, tạo lại phần nào tính cách siêu-nhiên nguyên-thủy của huyền-thoại. Hai là để tái lập huyền thoại. Huyền thoại không phải là một vĩ tích đơn-độc, hay một đặc-sự: dó là khác biệt căn-bản giữa huyền thoại (mythos) và truyền-kì (légende). Huyền thoại đánh dấu sự khởi thủy và kể cái nguyên-nhân của một sự trở-đi-trở lại mãi-mãi trong một nhân-gian. Huyền thoại là sự vĩnh-cữu hay phục-hồi vĩnh-cữu. Nhưng phải có một nghi-thức để nhắc nhở, để khêu gợi, để dọn đường cho sự trở-về như-xưa, như-thực của huyền-thoại. Ðó là cốt-tủy của pháp thuật: người pháp sư niệm chú và bắt quyết để làm phép, hóa phép. Khoa học và kĩ-thuật ngày nay cũng làm phép, hóa phép như thế. Nói chung, khoa-học thay thế huyền thoại và lập ra những câu chú, là những định-luật khoa-học. Kĩ thuật dựa vào khoa-học để bắt quyết và tạo ra những biến-hóa. Trong phòng thí-nghiệm, trong một cơ xưởng hay trên không-trung, cũng thế mà thôi. Trong tương lai ta sẽ xử dụng cái computer (ordinatem, điện toán cơ) như nay ta dùng cái máy đánh chữ, cái máy xay trái cây, và như ở nhà quê, người nông dân dùng cái gầu sòng, cái gầu giai để tát nước. Muốn vào một mạng lưới computer, phải biết cái mã số (là câu thần chú "Vừng vừng a! Mở cửa ra" của Ali Baba) và phải biết dùng cái máy computer cho đúng phép từ số 1 đến số n để khỏi loạn (đó là nghi thức hay nghi lễ). Sự khác biệt từ huyền thoại Thánh Dóng và Hội Dóng đến Internet và cái computer (hay khoa-học và kĩ-thuật, cặp nhau) là ở trong tâm-trí của con người. Người ngày xưa ở thời huyền-thoại không biết rằng có nhữngh định-luật tự-nhiên và tưởng rằng bất cứ một cái gì xẩy ra cũng là do "Trời" làm: "Trời mưa, trời nắng, Trời sinh ra thế". Còn người đời nay, từ Laplace đến Hwkins nói rằng "không cần đến giả thuyết Ông Trời, cũng giảng hết được các sự vật trong vũ-trụ". Các nghi-thức liên hệ với huyền-thoại Thánh Dóng, theo tôi, là những mảnh vỡ của pháp-thuật để cầu Trời, qua Thánh Dóng và vị pháp-sư đầu tiên, để được mưa thuận gió hòa sau những ngày tháng khổ sở bất an của thời giao mùa với giông-tố, gió bão và lũ lụt. Thực tế tất-nhiên phức tạp hơn; tôi chỉ đặt ra một sơ đồ đơn-giản cho dễ hiểu. Sự tưởng-tượng có thể tiểu thuyết hóa những chuyện đưa đến sự thiết-lập huyền-thoại và tạo dựng một dòng thờ tự (culte). Pháp-sư của dòng thờ này đã nhận thấy một sự đều-đặn trong thời-gian chuyền biến từ mùa mưa (thời gió mùa, từ Ấn-độ-dương và Bể Nam thổi ngược lên đến sa-mạc Gobi ở Trung-Bắc Asia qua lãnh thổ Việt-Nam) sang mùa nắng, với sự xuất hiện của mặt trời. Tuyên bố rằng hễ có rạng đằng đông thì hết mưa gió, hết giông bão, là một cách nói thông thường, dễ hiểu. Liên hệ rạng đông với mặt trời mọc và thấy rằng đến chiều thì mặt trời lặn trên đỉnh núi Con Sóc. Thấy rằng mặt trời càng lên cao thì càng sáng, càng ấm và càng hết những đe-dọa của cái thời vừa qua, không có mặt trời, ngày cũng như đêm, mây đen u-ám, gió rít không ngơi, cơn giông trận bão lúc nào cũng chực ập xuống. Cuối cùng nhận định rằng tuy mặt trời đã bay ra đằng sau núi và biến mất, đêm tối lan dần, nhưng ngày hôm sau và sau nữa, trời quang mây tạnh, không còn những ghê rợn của những ngày không có rạng đông.

Ta đừng quên rằng lúc này còn là tiền-sử, có lẽ là vào lúc đời sống chuyền từ sự nhặt-vặt săn-bắt sang sự trồng-trọt. Nói là "lúc", tưởng là ngắn, nhưng cũng phải là vài trăm năm hay trên dưới nghìn năm. Người ta chưa có lịch. Nhưng một ngày nào đó, người ta thấy rằng cứ khi nào mùa mưa sang mùa nắng thì cà có trái. Các cây cà dai mọc ở ngoài bãi, trẻ con đã biết hái ăn sống; về sau người ta mới biết trồng cà, muối cà, ăn cà với cơm khi đã có cơm ăn. Ðến khi có vườn cà rồi, người ta mới biết được cái đẹp của hoa cà, do đó có từ-ngữ hoa cà hoa cải; cải thì được chuộng hơn cà, nhưng cả cà và cải đều là thức ăn hàng ngày của người nhà nông; phơi nắng rồi muối, để lâu được mà không ủng, không thối. Vì sự quan trọng của cà trong đời sống, sự cà lên trái đã được móc vào lúc chuyển trời từ mùa mưa sang mùa nắng, tức là vào lúc xuất hiện của Thánh Dóng Mặt Trời. Nghi-thức trồng cà với que bông, phép lễ cơm với cà muối, và chuyện Dóng ăn một lúc hết

Bảy nong cơm, ba gánh cà
Uống một hơi nước cạn đà khúc sông

đều là do điển tích ấy. Ba gánh cà có lẽ là số lượng cà thu hoạch được trong một ngày hái cà trên sào ruộng thợ Ruộng này là ruộng công của làng Dóng.

Nghi-thức gắn liền với huyền thoại ở gốc nguồn một cách mật thiết như thế. Về sau, nghi-thức là một phần của pháp-thuật hay thuật phù-thủy: nghi thức được tin là có tác dụng xúc tác (catalyser) hay dị hóa (làm cho dễ) faciliter sự thực hiện của một việc hay một hiện-tượng mà người ta cầu đảo, ở đây là sự tái sinh của Mặt Trời để chấm dứt mùa mưa bão. Tôi dùng hai động-từ khoa-học hiện-đại để nói về một phép cầu đảo thái-cổ đó là một dụng-ý cố-tình, để trình bày một ý-kiến riêng có phần mới-mẽ. Tôi không đồng ý gọi những nghi-thức này như nhiều nhà dân tộc-học, là "lễ ngày mùa", "lễ nông nghiệp", v.v... Và có một phần nào tôi nghĩ rằng trước sau, ta vẫn còn là phù-thủy.

Còn vấn đề lửa. Trong huyền thoại, lửa phát ra từ mồm ngựa khi Dóng phóng ngựa vào đám quân giặc, tức là vào đêm tối lạnh lẽo. Lúc Dóng còn là đứa bé nằm ngửa trên giường, "ba năm chẳng nói chẳng cười trơ trơ" là lúc rạng đông, có ánh sáng chiếu lên mà không có hơi ấm. Chỉ khi đã vươn mình lớn lên, rồi nhảy lên mình ngựa để đi trên bầu trời thì mới có lửa, do ngựa phun ra. Ngựa là ngựa sắt, có người giảng là ngựa ô, mình đen: vẫn là cái lầm cứ muốn bình thường, vật chất hóa huyền thoại. Không có gì làm cho linh-thiêng thành uế tạp hơn là giảng hay sửa huyền-thoại cho thành những chuyện phàm-tục ở cỡ cậu ấm cô chiêu. Ngựa sắt là ngựa sắt, không phải ngựa thường, chỉ có thế thôi. Nó không phải là con ngựa nhong-nhong của mẹ thằng Cuội, cũng không phải là cái xe đạp (xe máy) mà ta cỡi đến sợ Huyền thoại gọi nó là con ngựa sắt, và nó là con ngựa của Mặt Trời Thánh Dóng mà vua Hùng thứ Sáu đã truyền bễ than lò đắp ngất trời lửa nung

Ba trăm cục chính dã công đúc ra. Ðời nay, ta gọi nó là hấp lực Newton, vô hình, bất diệt, làm cho tất cả các thiên thể xoay vần trong vũ-trụ và bẻ cong ánh sáng đi trong hấp-trường của nó.

Lửa của ngựa phun ra làm cháy cây, xém tường và đốt giặc. Lửa của Mặt Trời nhiệt-đới nóng lắm và có thể làm cho lá khô trong rừng bốc cháy. Không phải như Thái Dương Thần Nữ ở Nhật Bản, hiền lành, e lệ, lẫn trốn vào hang sâu và đóng cửa gài then. Mặt Trời Thánh Dóng cho ngựa tung vó, miệng khạc lửa, đốt hết trên đường, như gươm phạt, như gậy đập, hùng dũng, siêu phàm.

Nhưng lửa ấy đã thành lửa trần, vì Thánh Dóng đã xuống trần, vì lửa có để lại vết tích thấy được trong cảnh-vật của cõi người ta. Ðó là ngọn lửa trong bếp của mỗi nhà, đốt lên khi mùa mưa đã hết và sự thắp lửa không còn quá khó khăn nữa. Ở Việt Nam xưa không có tục thờ lửa như ở India, Trung Quốc hay Nhật Bản.

Những phần sau của huyền thoại rất dễ hiểu và rõ như bàn tay, một khi ta đã hiểu Thánh Dóng là hiện thân của Mặt Trời. Bắt đầu là Rạng Ðông trong chu trình ngắn; là cuối mùa mưa sang đầu mùa nắng vào lúc cà lên trái trong chu trình dài, Mặt Trời là thần-nhân anh-hùng đã mỗi năm, mỗi ngày trở lại cõi người ta, quét sạch đêm tối cùng với giặc cướp tà ma của vô-định, vô-minh; xua đuổi gió mưa giông bão đem trở lại ngọn lửa trời làm nắng ráo và cho mỗi nhà một đốm lửa bình-an trong bếp, lại còn đền lại cho dân được một mùa cà có lời.

Tôi nghĩ rằng đấy là ý-nghĩa nguyên-thủy và thâm-sâu của huyền thoại Thánh Dóng, mà lẽ ra ta phải gọi là huyền thoại Mặt Trời Dóng. Chữ /Thánh/. dùng ở đây tôi không ưa lắm. /Thánh/ là chữ dùng trong Ðạo Nho của Khổng-Tử, và rõ ràng rằng là đã được các nhà nho của ta phong cho Dóng trước khi vua ban cho bốn chữ Phù Ðổng Thiên Vương. Gọi là /Thần? (*Thần Mặt Trời) theo hán-văn cũng không ổn, mặc dầu xưa ta cũng nói Thần Lửa, Thần Núi, Thần Sông, Thần Cây Ða, Thần Hoàng Làng. Nhiều khi tôi nói và viết trống không là Dóng, cũng như đã bỏ, nếu không cần, những cách gọi là hủ-lậu phong-kiến Ông Mặt Trời, Ông Trăng, Ông Thổ-công v.v...

Mặt Trời vẫn tự-nhiên trở về hằng ngày và vẫn xuất hiện khi tắt gió mùa; lửa mặt trời thì nay ta cũng đã biết nhóm lên một cách dễ-dàng bằng que diêm hay cái bật lửa. Ngay từ lúc ban đầu, khi huyền-thoại được đặt ra, tính cách "phù thủy" cũng đã lộ, như ta thấy bởi sự nhân-hình-hóa mặt trời và bởi những nghi-thức đi kèm. Do những chứng tích ấy ta có thể kết luận rằng không có sự thờ lửa như đã nói ở trên và không có cả sự thờ Mặt Trời như ở Cổ-Egypt (Ai Cập) hay vài thổ dân ở America (Mĩ Châu, trước Columbut, Kha Luân Bố).

Huyền-thoại Dóng Mặt Trời, theo sự suy-luận riêng, có lẽ xuất hiện vào lúc sự nhặt-vặt chuyển sang sự trồng-trọt. Lí trí nhận xét, liên hợp, suy tư bắt đầu le lói và báo hiệu rằng, nếu những điều kiện địa-kí và lịch sử cho phép, thì khoa-học sẽ chớm nở. Thuật phù phép mở đường cho ý muốn chỉ huy Tự-nhiên bằng cách bắt chước Tự-nhiên, theo nguyên tắc "phục tòng để làm chủ" mà kĩ thuật khoa-học sẽ lấy làm của mình sau khi đã dần dần loại được sự sợ hãi, sự cam chịu, sự thần phục ra ngoài đời sống tâm thần, vật chất và xã hội.

Vì những lí do ấy, tôi chọn huyền-thoại Dóng Mặt Trời để dẫn nhập vào sách.

Mặt Trời nay không chỉ là cái khối khí hidrogen-helium ở giữa thái-dương-hệ, mà sức hấp thụ làm cho trái đất của ta vừa xoay vừa quay quanh thành đêm ngày và bốn mùa, mà sức nóng tỏa ra không những là nắng sáng và ấm, mà cả cái năng-lượng làm cho có sự sống trên mặt đất với những chất vô-cơ và hữu-cơ để giúp cho ta đỡ khó nhọc khổ sở về vật chất.

Mặt Trời nay sẽ là cái khối tư-tưởng-khoa-học-kĩ thuật của ta, giữa loài người và chỉ loài người mà thôi; lúc rạng đông, nó èo ọt, sài đẹn, không nói không cười, tưởng là chết yểu hay chỉ sống được với tật nguyền, nhưng đáp ứng các đòi-hỏi, các đe-dọa, các khó-khăn, các nguy-cơ, nó cầm cự và phấn đấu; nó đã vươn lên ba cái và lớn lên đến ngọn tre; cao hơn, mạnh hơn, làng xóm vui mừng hi vọng. Nhưng phải nuôi nó bằng những gì nó cần. Và phải hiểu rằng không phải chỉ có sung sướng, mà cũng có đau khộ Ịược ánh sáng, được ấm áp, được no đủ, được bình yên, nhưng cũng có cháy rụi, đổ vỡ, có tàn-phá, có thương-đau.

Chúng ta cũng có thể gọi Mặt Trời mới này là Dóng. Mặt Trời Dóng nay là Mặt Trời Khoa-Học, Kĩ-Thuật và Tư-Tưởng. Nó đến sau và đi theo Mặt Trời Dóng thời Hùng-Vương thứ Sáu.

Cũng như Mặt Trời Dóng trước, Mặt Trời Dóng này cũng sẽ đem lại một đời sống mới trong ánh sáng, trong ấm áp, trong no đủ và bình yên ở một độ cao hơn. Nhưng cẩn thận! Nó chói hơn, nó nóng hơn. Và nó có sức tàn phá dữ hơn gấp bội, vì nó ở ngay trên trái đất.

Kiến Vàng
03-21-2003, 04:56 AM
3 giờ sáng KV ngủ không được mò vô đây.

Cám ơn BungRieu nhiều đã chia sẽ những gì ở đây. Dài quá ..... đọc ..... tỉnh ngủ ..... liền. :D


KV có vài câu xin được đóng góp. (Không biết là có ở trên không vì chưa đọc hết).

- Cứu vật vật trả ơn, cứu nhơn nhơn trả oán.

- Làm tướng xứ ta, làm ma xứ người.

qcluu
03-21-2003, 07:23 AM
Originally posted by BungRieu
Lời Hay Ý Đẹp --- VCB Sưu Tập


Hate never ends hate, only love can. [QcLuu -- Sưu Tập]

BR ui, câu này là của em sưu tầm mà... Anh thấy hay và quote lại thui ... Anh hong dám nhận tên anh mô :) Cám ơn em!



Lấy oán báo oán thì oán chồng chất [QcLuu -- Sưu Tập]
Lấy đức báo oán thì oán tiêu tan

Cứu vật vật trả ơn, cứu nhơn nhơn trả oán. [KienVang -- Sưu Tập]

Làm tướng xứ ta, làm ma xứ người . [KienVang -- Sưu Tập]


Xin mời Các Anh Chị tiếp tục .... BR Sẽ update cái list này đều đặn

Cám ơn anh Qcluu, Kienvang .... nhiều nha ... [/QUOTE]

Mấy câu của bro KV cũng hay quá ...Cám ơn bro!

BungRieu
03-21-2003, 11:31 AM
Triết Lý Con Cóc
Ðoàn văn Khanh
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/concoctrietlysmall.jpg
Nếu mỗi người có cái triết lý riêng của mình thì mỗi một dân tộc cũng phải có một cái triết lý riêng của dân tộc đó. Dĩ nhiên khi nói đến cái triết lý này, không có nghĩa là nói đến những tư tưởng đã được hệ thống hóa bằng lý trí suy luận như trong những hệ thống triết học của các triết gia, mà chỉ là những biểu lộ tản mạn về vũ trụ, con người và cuộc đời. Những biểu lộ này tuy không hẳn là những quan niệm minh nhiên, nhưng vẫn ngấm ngầm tác động lên hành vi xã hội của con người, cho dù con người có ý thức đến điều đó hay không.

Qua kinh nghiệm sống, con người Việt nam từ hàng ngàn năm nay đã giãi bày tâm tư tình cảm của mình vào những bài ca dao hay câu truyện cổ tích để cho mọi người cùng truyền tụng. Khi con người truyền tụng với nhau những bài ca dao hay những câu truyện ấy thì chính con người cũng đã mặc nhiên bị những tâm tư tình cảm đó ảnh hưởng vào tâm tưởng khiến cho người ấy cũng có những lối hành xử mang đặc tính của những tâm tư tình cảm được xem như là chung này. Do đó, muốn tìm hiểu cái triết lý nhân sinh của dân tộc, chúng ta không thể nào không xé đến những tác phẩm của nền văn học dân gian, vì chính nơi đây mới là tấm gương thực sự phản ánh cái triết lý ẩn tàng của dân tộc.

Từ nhận định này, một bài vè Con Voi, một bài ca dao Thằng Bờm, một câu truyện Ba anh học trò dốt làm thơ Con Cóc v.v... đều có thể xem như đó cũng là những tác phẩm triết lý vì trong đó chứa đựng những cái nhìn hoặc những biểu lộ của thái độ về sự vật, con nguời và cuộc đời. Và một trong những biểu lộ triết lý bàng bạc nhưng cũng rất phổ cập trong dân gian có thể nói là cái triết lý được gói ghém trong câu truyện Bài thơ Con Cóc.

BÀI THƠ TUYỆT TÁC VỀ CON CÓC

Truyện kể rằng có ba anh học trò dốt nọ rủ nhau cùng làm một bài thơ. Ðang bí chưa nghĩ ra đề tài gì thì bỗng có con cóc xuất hiện. Một anh thấy thế liền ứng khẩu đọc lên:

Con cóc trong hang
Con cóc nhảy ra.

Anh thứ nhì nhìn thấy cóc sau khi nhảy ra khỏi hang thì ngồi thù lù một chỗ, nên cũng đọc ngay:

Con cóc nhảy ra
Con cóc ngồi đó.

Ðến lượt anh thứ ba chưa biết tiếp nối bài thơ như thế nào thì chợt thấy cóc ngồi chán lại nhảy đi, bèn ngâm luôn:

Con cóc ngồi đó
Con cóc nhảy đi

Làm xong mấy câu thơ trên, ba anh học trò lấy làm đắc ý cùng cười lăn ra mà chết.

Ðã là người Việt nam thì không thể nào không biết câu truyện cười này, cũng như không ai là không thuộc bài thơ Con Cóc. Thông thường thì mọi người vẫn lấy câu truyện này để cười cái dốt, cái dở, cái dởm đời của những kẻ bất tài mà lại ham học đòi văn chương thi phú. Tuy nhiên nếu suy nghĩ sâu xa hơn một chút, chúng ta thấy câu truyện trên có một ngụ ý triết lý, và tôi cho rằng đó cũng chính là cái triết lý tiêu biểu của dân tộc Việt nam.

Cũng giống như vô số những câu truyện dân gian, không ai có thể xác định được tác giả cũng như thời điểm câu truyện được sáng tác. Tuy nhiên, căn cứ vào nội dung thì câu truyện phải xuất hiện sau khi dân tộc Việt nam đã từng bị Trung quốc đô hộ, văn hóa và học thuật của người Hán được áp đặt vào xã hội Việt nam và xã hội đã đi vào tổ chức có kỷ cương theo mẫu mực Trung quốc nên mới có học trò nung kinh nấu sử và đua đòi thi phú.

Dân tộc Việt từ thời lập quốc, trải qua 18 đời vua Hùng là một thời gian dài hơn hai ngàn năm, nhưng tất cả những gì còn truyền lại cũng chỉ là huyền thoại. Suốt thời gian này, trình độ tri thức vẫn còn tản mạn trong những tin tưởng phiếm thần chứ chưa tiến lên lãnh vực siêu hình của lý trí suy luận. Do đó khi bị người Trung hoa đô hộ, người Việt nam tiếp xúc với văn hóa phương Bắc, thì bị ngay nền tư tưởng và học thuật của quốc gia này khống chế đến độ sau khi đã giành lại được quyền tự chủ, giới sĩ phu vẫn tiếp tục bị những hệ tư tưởng Trung hoa chi phối nên đã không sáng tạo được một hệ tư tưởng nào riêng cho mình, mà hầu như chỉ lặp lại những tư tưởng kinh điển của Trung hoa được coi như là mẫu mực.

Nhưng đó là nói riêng về giới sĩ phu. Ðối với người Việt nam nói chung thì khi tiếp xúc với nền văn hóa phương Bắc cũng là lúc dân tộc Việt nam phải làm nô lệ cho Trung quốc. Chính sách cai trị hà khắc của quan lại Trung hoa cũng như những hành động bóc lột dân lành của đám người Tàu mang đầu óc thương mại sang sinh sống trên đất Việt đã gây ra không biết bao nhiêu là kinh nghiệm thương đau và hãi hùng cho dân tộc Việt.

Vì bản chất hiền lành cho nên người Việt nam vẫn thích co cụm lại với nhau mà sống, và tìm cách an ủi nhau bằng tình cảm hơn là suy luận tìm kiếm phương thức để hành động. Do đó, để có thể sống còn, dân tộc Việt nam chỉ còn cách duy nhất là nhẫn nhục chịu đựng. Tuy nhiên, trong tâm tưởng, người Việt nam vẫn âm thầm chống lại ảnh hưởng của Trung quốc, vì sự xâm nhập của nền văn hóa này cũng đồng nghĩa với sự thống trị và sự biến đổi nếp sống cổ truyền của dân tộc. Như vậy, có thể nói người đặt ra câu truyện này phải là một người có tinh thần dân tộc, muốn chống lại sự lệ thuộc Trung hoa, nên đã bày tỏ những nhận định của mình qua hình thức một câu truyện khôi hài để có thể phổ biến dễ dàng. Người nghe truyện dù không nhận thức phần tư tưởng một cách minh nhiên, nhưng vẫn bị cái tinh thần của câu truyện tác động vào nếp suy nghĩ và hành xử của mình một cách vô thức.

Nhân vật trong câu truyện là ba anh học trò có nghĩa là những người vẫn thường được xem như là kẻ đi tìm tri thức và nắm được tri thức. Cái đề tài để làm thơ cũng giống như cái tri thức về vũ trụ mà con người muốn tìm. Nhưng ba anh học trò vốn dĩ dốt, cho nên không nghĩ ra được cái đề tài nào khác hay hơn là con cóc đang xuất hiện trước mặt. Vậy thì ba anh học trò kia cũng có thể được xem như là tượng trưng cho đại đa số người dân Việt nam, không thích suy luận, nên không nhìn thấy những nguyên lý cao siêu trừu tượng như giới sĩ phu, mà chỉ nhìn thẳng vào sự vật đang có trước mặt.

Theo cách phân tích này, chúng ta có thể nói nội dung câu truyện muốn bày tỏ một thái độ chống lại tri thức triết học có tính chất duy lý và trừu tượng. Nhưng khi một kẻ nào đó chống lại tri thức triết học duy lý, thì người đó cũng đã rơi vào cái triết lý bất khả tri, vì con người không thể nào tránh khỏi triết lý như Karl Jaspers đã từng viết trong Ðường vào Triết học. Do đó mà cái triết lý của câu truyện vẫn còn.

Câu truyện này cũng biểu lộ một khuynh hướng hoài nghi về bản chất hay yếu tính của sự vật, phát xuất từ sự nghi ngờ dân tộc thống trị, từ đó đâm ra nghi ngờ luôn tất cả những gì thuộc về tư tưởng cao siêu mà dân tộc thống trị đề ra, nên chỉ còn để ý tới cái gì mình tri giác được, tức là hiện tượng. Những điều mà ba anh học trò mô tả trong bài thơ Con cóc có thể coi như là những nhận định có tính cách hiện tượng luận và hiện sinh về vũ trụ và con người. Nguyên ủy của vũ trụ như là cái hang đầy bí hiểm, con người không thể nào tìm hiểu. Còn sự hiện hữu của cái thế giới này cũng chỉ như sự xuất hiện của con cóc trước mặt ba anh học trò. Tất cả những gì có thể biết được đều là hiện tượng, giống như mấy anh học trò chỉ nhìn thấy được "con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi". Cũng có thể xem câu truyện này như một nhận định về sự hiện hữu của con người. Con người được sinh ra, sống trên đời, rồi lại chết đi, chẳng khác nào như lời mô tả sự xuất hiện của con cóc ở trên. Con người cũng không hề biết nguyên do cũng như cứu cánh của sự hiện hữu của mình trong vũ trụ, cũng như không thể nào can thiệp vào những điều kiện gắn liền với sự hiện hữu đó. Hình như tất cả đều xảy ra theo một định luật tất yếu nào đó.

BungRieu
03-21-2003, 11:39 AM
Nhân sinh quan thằng Bờm
Ðoàn văn Khanh
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/thangbom-bom2.jpg
Quan niệm này còn được biểu lộ trong bài vè Con Voi mà nhiều người vẫn thường coi như là một bài hát dành cho trẻ em, không có nghĩa gì cả, nhưng thật ra đó cũng là một cái nhìn triết lý về cuộc đời, vì cái câu chuyện con voi kể mãi như một điệp khúc không ngừng này cũng chính là một nhận thức về cái vòng tuần hoàn của các hiện tượng trong vũ trụ.
Con vỏi con voi
Cái vòi đi trước
Hai chân trước đi trước
Hai chân sau đi sau
Cái đuôi đi sau rốt
Tôi ngồi tôi kể nốt cái chuyện con voi...
Con vỏi con voi...

Nhưng con người thì hữu hạn, cho nên cái vòng hiện tượng dù có liên tục mãi thì khả năng con người cũng chỉ tri giác được trong phạm vi giới hạn hiện hữu của mình mà thôi. Do đó cái biết của con người cũng chỉ như anh chàng kể chuyện con voi, quanh quẩn với một số hiện tượng tái diễn không bao giờ ngừng, không biết bắt đầu từ bao giờ và chấm dứt ở đâu. Con người chỉ biết rằng, hiện tượng ta hiện hữu là do cha mẹ ta sinh ra ta. Cha mẹ ta cũng do ông bà ta mà có. Ta lại sinh ra con ta, và con ta sẽ sinh ra cháu ta. Những thế hệ có trước ông bà ta, cho dù ta có muốn biết cũng không biết được, vì lúc ấy ta chưa sinh ra. Ta cũng không sống lâu để có thể nhìn thấy những thế hệ tiếp sau thế hệ con cháu ta. Thành thử trong cái chuỗi hiện tượng của những hiện hữu tiếp nối không ngừng ấy, ta cũng chỉ có thể biết được đến thế là cùng.
Cái hình ảnh con voi di chuyển này cũng đồng thời nêu lên một ý thức về trật tự trong hiện tượng, đưa đến ý tưởng về một sự an bài. Cái vòi phải đi trước hết. Hai chân trước phải đi trước hai chân sau, và cái đuôi phải là sau cùng, không thể nào có sự thay đổi hay đảo lộn. Hiện tượng hiện hữu của con người trong trần gian này cũng luôn luôn bị ràng buộc vào một số điều kiện nhất định khiến cho con người không thể nào hành động một cách khác hơn.

Nhưng tại sao con người hiện hữu thì hình như lại là câu hỏi mà người Việt nam không muốn nghĩ tới mà chỉ nghĩ tới cái thân phận con người trong cuộc sống hiện tại. Ngoài cái ý thức về tính cách hữu hạn của kiếp con người được sinh ra, lớn lên, già đi, rồi phải chết, trong đó còn kèm theo không biết bao nhiêu là hệ lụy như đói rét, đau khổ, bệnh tật v.v..., nhưng vẫn luôn luôn bám vào cuộc sống, và lúc nào cũng thấy mình cứ phải lo lắng và vất vả vì mưu sinh. Thân phận con người trong cuộc đời, nhất là khi con người đó lại là dân nước nô lệ, cũng chẳng khác nào thân phận con kiến đậu phải cành cây cọc trong bài ca dao Con kiến.

Cái kiến mày đậu cành đa
Ðậu phải cành cọc, leo ra leo vào
Cái kiến mày đậu cành đào
Ðậu phải cành cọc, leo vào leo ra

Vì thân phận hiện sinh của con người luôn luôn bị giới hạn trong một số điều kiện nhất định, cho nên nhịn nhục để sống còn như đa số vẫn làm, hoặc là "theo voi ăn bã mía", "theo đóm ăn tàn" đám người Trung hoa cai trị để mưu cầu chút bã vinh hoa như một số người khác, thì con người vẫn không bao giờ thoát ra khỏi những điều kiện giới hạn của kiếp người. Do nhận định này mà người Việt nam mỗi khi không hiểu được nguyên nhân vì sao của bất cứ một sự việc gì, vẫn thường hay đổ cho số mệnh xui ra, và hay tin vào định mệnh.
Vậy thì hệ luận của cái ý thức thân phận này là người Việt nam không thích đua tranh tìm kiếm những gì cao xa hơn là những nhu cầu thiết thực trước mắt, cho nên mới đưa đến cái quan niệm thực tế thiển cận được bộc lộ trong bài ca dao Thằng Bờm.

Thằng Bờm có cái quạt mo
Phú ông xin đổi ba bò chín trâu
Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu
Phú ông xin đổi một xâu cá mè
Bờm rằng Bờm chẳng lấy mè
Phú ông xin đổi một bè gỗ lim
Bờm rằng Bờm chẳng lấy lim
Phú ông xin đổi đôi chim đồi mồi
Bờm rằng Bờm chẳng lấy mồi
Phú ông xin đổi hòn xôi, Bờm cười

Bờm là một kẻ chỉ có mỗi cái quạt mo chẳng đáng giá gì cả. Phú ông là bậc cao sang quyền quý, có trong tay đầy đủ mọi thứ, nên không thấu hiểu được cái tâm trạng về thân phận như Bờm. Như thế thì những thứ như ba bò chín trâu v.v... mà phú ông đề ra làm vật trao đổi với cái quạt mo của Bờm có cần thiết cho Bờm không, hay chỉ là những cái phú ông đưa ra nhằm phỉnh gạt Bờm? Vì ý thức được thân phận mình nên Bờm chỉ cần cái gì có thể đáp ứng được nhu cầu thực tế của mình hơn là những thứ xa hoa, cho nên khi nói tới nắm xôi là cái cụ thể gần gũi với Bờm hơn cả thì Bờm mới cười ngụ ý thỏa thuận.
Trong lãnh vực tri thức cũng thế. Người dân thường chỉ thấy có cuộc sống trước mắt, nhưng cuộc sống đó thì lúc nào cũng đầy dẫy lo âu và bất trắc, trong khi triết học thì lại toàn bàn chuyện cao siêu của tư tưởng, đưa ra những ý niệm trừu tượng xa rời thân phận thực tế của con người. Vậy thì những tư tưởng học thuyết mà người Trung hoa dùng làm nền tảng để xây dựng xã hội và uốn nắn con người có phải là chân lý không, hay cũng chỉ là những điều con người đặt ra để lừa dối và ép buộc con người vào khuôn khổ của guồng máy thống trị? Vốn quen sống dựa vào mối quan hệ tình cảm hơn là coi xã hội phải được đặt trên căn bản của những nguyên tắc lý trí, người Việt nam lúc nào cũng coi trọng mối tương quan giữa những con người cụ thể nên đã từ chối sự suy luận triết học, chỉ vì những học thuyết triết học lúc nào cũng muốn gò bó con người vào trong mô hình của những ý niệm trừu tượng.

BungRieu
03-21-2003, 12:07 PM
Chân lý sờ Voi
Ðoàn văn Khanh
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/elephant.jpg
Từ cái triết lý bất khả tri về nguyên ủy của sự vật và ý thức về sự hiện hữu giới hạn của con người hiện sinh, người dân Việt cũng cảm thấy rằng chân lý là một điều ngoài khả năng nhận thức của con người. Vậy thì từ triết lý con cóc, nảy sinh ra chân lý sờ voi.
Câu truyện thầy bói xem voi có thể tóm lược như sau: Có năm anh thầy bói mù rủ nhau đi xem voi. Gặp phải chú quản tượng thích chơi trò oái oăm, nên chú bèn cho mỗi anh mù chỉ được rờ xem một bộ phận của voi thôi. Một anh rờ đụng cái vòi liền bảo con voi giống như một con giun lớn. Anh thứ nhì sờ nhằm tai voi liền bảo con voi giống như cái quạt. Anh thứ ba sờ trúng chân voi liền cho là voi giống như cái cột đình. Anh thứ tư sờ phải bụng voi liền cả quyết voi như cái trống. Anh cuối cùng sờ gặp đuôi voi liền tin là voi giống như cái chổi. Thế là cả năm anh cãi nhau tranh phần đúng rồi cuối cùng thì đi đến chỗ ẩu đả chỉ vì anh nào cũng khư khư với cái biết của mình.

Câu truyện có tính cách khôi hài nhưng thật ra đó cũng là một biểu lộ triết lý trong vấn đề đi tìm chân lý. Con người thì hữu hạn và khả năng tri thức cũng bị giới hạn chẳng khác nào những anh thầy bói mù. Chân lý thì như con voi. Mấy anh thầy bói mù không thể nào nhìn thấy voi mà chỉ sờ đụng một bộ phận nào đó của voi thôi. Do đó mà cái hình ảnh con voi mấy anh thầy bói mù tri giác chưa phải là voi, hơn nữa đó lại là một tri giác bằng xúc giác chứ không phải tri giác bằng thị giác nên không thể nào giống và đầy đủ như là hình ảnh của thị giác ghi nhận.

Như vậy thì cái gọi là chân lý mà con người nhận thức được bằng tri thức bị giới hạn của mình không phải là chân lý đúng và toàn thể mà chỉ là những nhận thức có tính chất chủ quan và phiến diện, do đó khi kết luận những điều nhận thức chủ quan và phiến diện ấy như là chân lý toàn thể, con người đã xa rời chân lý thật để tin vào một chân lý ảo tưởng. Do đó mà tất cả những học thuyết triết học muốn cắt nghĩa toàn thể vũ trụ này cũng chẳng khác nào những lời mô tả con voi của các anh thầy bói mù trên đây mà thôi.

Bản chất người Việt nam vẫn thiên về tình cảm nên thường nhìn sự vật qua khía cạnh hiện tượng, trong khi triết học của Trung hoa hay Ấn độ thì lại đi vào siêu hình. Do đó mà khi xã hội được tổ chức dựa theo những quan niệm triết học đặt trên căn bản yếu tính của lý trí suy luận thì con người hiện sinh bị bỏ quên để biến thành con người của những ý niệm trừu tượng. Ðây là một quan niệm không phù hợp với tâm tư của người Việt nam.

Khi nhìn vào thực tại thân phận của mình, người dân Việt nam lại phải đối đầu với những kinh nghiệm khổ đau của mình mà không có cách giải quyết nên thường quay về với những tin tưởng hoang đường để mong cầu khẩn sự phù hộ của các thần linh, những sức mạnh tuy vô hình, nhưng hình như lại có thể tác động trực tiếp lên cuộc sống của con người. Cũng vì không có tinh thần duy lý, cho nên có nhiều khi nhằm giải thích sự trùng hợp của một vài hiện tượng, người Việt nam đã không dùng lý trí suy luận để xác định đâu là nguyên nhân và đâu là hậu quả một cách chính xác, mà lại thường liên kết hai hiện tượng ngẫu nhiên thành một định luật phổ biến để biện minh cho những kết luận hoàn toàn có tính cách võ đoán của mình, khiến cho những điều sai lầm nhiều khi lại được coi như là chân lý. Ðiều này khiến cho người Việt nam dễ trở thành mê tín dị đoan, không phát triển được óc khoa học, và đó cũng là lý do khiến cho thuật bùa chú cũng như các khoa tử vi bói toán lại lôi cuốn đuợc mọi tầng lớp trong xã hội.

Ngoài ra, cái khuynh hướng muốn tìm đến với những nguồn sự an ủi hơn là tìm kiếm phương thức hành động để biến cải thân phận cũng khiến cho người dân Việt nam thích tìm đến với tôn giáo. Nhưng cũng vì mục đích thực tế thiển cận là nhằm giải cứu thân phận, cho nên người Việt nam khi tin vào tôn giáo vẫn thường hướng vào phần nghi thức cứu rỗi cho thân phận hơn là phần tư tưởng triết lý. Ngay cả Phật giáo khi truyền sang Việt nam và trở thành tín ngưỡng phổ cập trong dân gian, không phải vì người dân Việt nam lĩnh hội được cái tư tưởng vô minh cao siêu của triết học Phật giáo, mà điều chính yếu là do lòng mong muốn được cứu thoát khỏi vòng trầm luân nhờ vào sự từ bi của đức Phật. Ðó mới chính là cái điều người dân Việt quan tâm.

Suốt mấy ngàn năm sống trong nền văn minh bộ lạc, người Việt nam đã tạo cho mình những nếp suy nghĩ cũng như tình cảm ăn sâu vào tiềm thức. Do đó mà khi những hệ tư tưởng của Trung hoa cũng như của Ấn độ có tác động đến nếp sống khiến cho con người Việt nam có những tin tưởng mới, những suy tư mới, thì những điều mới này khi phổ cập vào dân gian đều được biến cải cho phù hợp với tâm tư tình cảm truyền thống của dân tộc. Do đó mà trong lãnh vực tôn giáo người Việt nam cũng không triệt để với tư tưởng triết học của một tôn giáo nào cả mà nhiều khi còn hòa đồng nhiều niềm tin khác nhau, đôi khi còn pha lẫn cả những mối dị đoan của những tin tưởng phiếm thần xa xưa còn sót lại.

Có thể nói khi trình độ tri thức của người dân Việt nam chuyển từ những tin tưởng phiếm thần qua triết học siêu hình thì cũng là lúc người dân trải qua kinh nghiệm thân phận nô lệ, cho nên đâm ra oán ghét kẻ ngoại nhân thống trị. Do đó mà người dân Việt nam mới hay có khuynh hướng bài ngoại, cũng như cái khuynh hướng muốn phản kháng cái trật tự xã hội xây dựng trên những ý niệm về triết học của ngoại nhân, và nảy sinh ra cái triết lý Con Cóc. Và từ cái triết lý Con Cóc, người dân Việt đâm ra hoài nghi mọi tri thức triết học có tính cách trừu tượng duy lý, cho nên thường không hoàn toàn chấp nhận những điều cao siêu từ lý trí suy luận, và không thích đi sâu vào lãnh vực tư tưởng.

Chính vì mang trong tâm hồn một thái độ triết lý như vậy, người Việt nam thường tỏ ra không mấy quan tâm đến những vấn đề thuộc lý trí mà chỉ chú trọng đến lãnh vực tình cảm trong cuộc sống, vì chỉ có tình cảm mới thực sự xoa dịu những nỗi khổ đau của kiếp người. Ðiều này trong quá khứ đã giúp cho dân tộc Việt nam không bị Trung hoa đồng hóa, nhưng trong hiện tại, thái độ thờ ơ với nền tảng duy lý lại chính là sự cản trở cho công cuộc cách mạng hóa tư tưỏng để xây dựng một xã hội khoa học và tiến bộ, theo những nguyên tắc tự do và dân chủ của thời đại. Tuy nhiên, dù sao thì cái bản chất thiên về tình cảm này, và cái triết lý hoài nghi mọi tri thức duy lý vẫn tiếp tục làm cho người Việt nam lúc nào cũng cảm thấy gắn bó với dân tộc mình, những con người cùng chung một ý thức về thân phận

Tudoi
03-22-2003, 07:05 AM
Tặng thêm BungRieu câu nữa nè:
Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã

Trâu thì tìm trâu, ngựa thì tìm ngựa

Ý nói hễ người nào tính nào thì kết hợp bạn có cá tính giống người đó.

Bên phương Tây có câu tương tự:

Hãy cho tôi biết người bạn của bạn là ai, tôi sẽ cho bạn biết tính tình bạn như thế nào.

BungRieu
03-22-2003, 10:09 AM
Lời Hay Ý Đẹp --- VCB Sưu Tập



Lấy oán báo oán thì oán chồng chất
Lấy đức báo oán thì oán tiêu tan
[QcLuu -- Sưu Tập]

Cứu vật vật trả ơn, cứu nhơn nhơn trả oán.
[KienVang -- Sưu Tập]

Làm tướng xứ ta, làm ma xứ người .
[KienVang -- Sưu Tập]


Họa hổ hoạ bì nan họa cốt
Tri nhân tri diện bất tri tâm
Tạm dịch:
Vẽ cọp vẽ được da bên ngoài chứ khó ai vẽ được xương cọp
Biết người biết mặt chứ không ai có thể biết được rõ lòng người.
[TuDoi ---Sưu Tập]

Trâu thì tìm trâu, ngựa thì tìm ngựa
Ý nói hễ người nào tính nào thì kết hợp bạn có cá tính giống người đó.
Bên phương Tây có câu tương tự:
Hãy cho tôi biết người bạn của bạn là ai, tôi sẽ cho bạn biết tính tình bạn như thế nào.
[TuDoi ---Sưu Tập]

Làm thầy thuốc lầm thì giết một người. Làm thầy địa lý lầm thì giết một họ. Làm chính trị lầm thì giết một nước. Làm văn hóa lầm thì giết cả một đời.
[Lão Tử ]

Chiếm được thành, phá được địch, chưa gọi là thắng, nếu không chiếm được lòng dân.
[Tôn Tử ]

Người ta sợ lửa hơn sợ nước, cho nên chết cháy thì ít mà chết đuối thì nhiều.
[Ngạn ngữ ]

Đừng khinh việc nhỏ. Lỗ nhỏ làm đắm thuyền.
[Quan Doãn Tử ]

Kẻ biết người là người khôn. Kẻ biết mình là người sáng.
[Lão Tử ]

Ba người cùng đi tất có một kẻ làm thầy ta được.
[Khổng Tử ]

Trong thiên hạ có ba cái nguy:
Đức ít mà được ân sủng nhiều.
Tài kém mà ở địa vị cao.
Thân không lập công to mà bổng lộc nhiều.
[Hoài Nam Tử ]








Xin mời Các Anh Chị tiếp tục .... BR Sẽ update cái list này đều đặn [/B][/QUOTE]

Cám ơn anh Qcluu, Kienvang .... nhiều nha ...
Cám ơn Chú Tư nha ...

BungRieu
03-22-2003, 10:16 AM
Dạ Cổ Hoài Lang và Vọng Vổ Hoài Lang
Việt Hùng
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/dacohoailang.jpg
http://www.geocities.com/hanllian/dacohoailang.rm
Nhiều khi server bị bận ... nên không nghe được ...

Bài ca này có thể download ở đây ....để nghe off-line ...
1. http://www.geocities.com/hanllian/dacohoailang.rm
2. http://www.geocities.com/bungrieu4444/Nhac/DaCoHoaiLang2.rm

Vọng cổ là một thể điệu cổ nhạc mang tính chất đặc thù, không pha không mượn của dân tộc Việt Nam. Đối với dân miền Nam, vọng cổ được coi như tiếng nói, như hơi thở. Bản vọng cổ đã từ thôn quê chinh phục được thành thị, để rồi từ thành thị tỏa rộng các thôn quê. Sự ra đời của bản vọng cổ vốn là tiết trinh của lòng hiếu thảo, của tình chồng vợ, nghĩa phu thê. Chính sự tiết trinh của những tình, những nghĩa này, đã vô tình khiến một người nghệ sĩ nông thên trở thành cha đẻ của bản vọng cổ yêu chuộng trăm năm, ngàn năm.

Người sáng tác ra bài vọng cổ lúc đau mang tên là "Dạ cổ hoài lang" này là ông Cao Văn Lầu, tục danh là "Sáu Lầu." Ông Sáu Lầu là một thanh niên ở Bạc Liêu. Ông sanh năm 1890. Ông có vợ vào năm 20 tuổi. Nhưng vợ chồng ăn ở suốt 10 năm vẫn không có mụn con nào. Sợ dòng họ bị tuyệt tự, cha mẹ ông buộc ông phải bỏ vợ để lấy vợ khác, hòng có con nối dői tông đường. Vì chữ hiếu, ông đành lòng phải làm tờ để vợ . Nhưng lòng thương vợ tràn đấy, ông không còn thiết làm ăn gì hết. Ông đem gạo muối, vào ở trong một căn chòi, giữ vịt ở trong ruộng. Đêm đêm bốn bể gió lọng, tiếng ếch nhái thảm thương, khiến cho ông thêm quặn thắt vì tình nghĩa phu thê, vì chạ hiếu mà phải đứt gánh giạa đường. Ông nhớ lại những lời xót xa đứt ruột mà vợ ông nói lúc chia tay. Sẵng cây đờn, ông chút tâm sự vào đường tơ, phím nhạc. Ông Sáu Lầu lấy lời tâm sự của vợ, phổ thành bài "Dạ Cổ Hoài Lang."

"Dạ Cổ" là nghe tiếng trống, "Hoài Lang" là nhớ chồng. Đêm năm canh, nằm sầu thắt, tiếng trống đây là tiếng trống sang canh. Bài "Dạ Cổ Hoài Lang" ra đời từ năm 1920. Tính đến nay đã hơn 75 năm. Lúc đầu chỉ có 2 nhịp, bây giờ trở thành 128 nhịp. Lúc đầu ca bằng giọng Bắc, bây giờ biến thành giọng Nam pha hơi "oán." Lúc đầu đờn bằng dây Bắc chắn, bây giờ đờn bằng dây Bắc oán. Và quan trọng hơn hết bài "Dạ Cổ Hoài Lang" đã đổi tên thành "Vọng cổ Hoài Lang", tức là đợi tiếng trống sang canh, nhớ chồng. Nói lên tâm sự của người vợ, đêm đêm nhớ chồng, thao thức năm canh, đợi sáng. 75 năm sau, từ 2 nhịp, trở thành 128 nhịp, bài vọng cổ đã bước những bước khá dài. Trên cuộc hành trình này, bài vọng cổ đã được lưu lại tên tuổi của những tài danh ... ....

BungRieu
03-22-2003, 02:19 PM
Nho Giáo và Khổng Mạnh
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/ongdo.jpg
Nho Giáo thường được gọi là Khổng Giáo. Mặc dầu cách gọi này không đúng nhưng với thời gian nó đã thành chính thức. Từ khi có trao đổi giữa phương Đông và phương Tây thì danh xưng Khổng Giáo đã thay thế hẳn danh xưng Nho Giáo, vì người phương Tây chỉ biết đến danh xưng Khổng Giáo (Confucianism) mà thôi.

Đức Khổng Tử (huý là Khổng Khâu) thường được gọi là Khổng Phu Tử . Người á Đông, nhất là người Trung Quốc và người Việt nam, coi ông như một vị thánh tổ của Nho Giáo ....có rất nhiều tác phẩm nói đến Đạo Khổng.

Đức Khổng Tử sinh năm 551 trước Tây lịch và mất năm 479 trước Tây lịch, nghĩa là ngay chính giữa một thời đại dài 500 năm (722-221 trước Tây lịch) mà lịch sử gọi là thời Xuân Thu Chiến Quốc. Lúc đó Trung Quốc đã có gần bốn ngàn năm lịch sử rồi. Theo sử Trung Quốc thì vị vua đầu tiên là Phục Hi (4480-43 65 trước Tây lịch) đã đặt ra tám quẻ bói toán để dò ý trời đất, quỉ thần. Niên đại có thể không được chính xác, nhưng sự kiện này chứng tỏ rằng ngay từ một thời đại rất xa xưa, khi hầu như cả nhân loại còn rất bán khai thì xã hội Trung Quốc đã tiến hóa đến mức những băn khoăn siêu hình đã xuất hiện. Từ quá trình lịch sử rất dài đó đã hình thành một sinh hoạt văn hóa và chính trị có nền nếp: Nho Giáo .

Thời đại của Khổng Tử là thời Xuân Thu Chiến Quốc, cũng là thời nhà Chu, một triều đại kéo dài hơn 900 năm, từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 3 trước Tây lịch. Nửa đầu nhà Chu rất ổn định, nhưng từ nửa sau thế lực của chính quyền trung ương suy yếu đi, đến độ phải dời đô về phương Đông để tránh giặc. Các nước chư hầu không còn thần phục trung ương nữa, mặc sức tranh giành và thôn tính lẫn nhau. Khổng Tử sinh sống trong nửa sau này. Lúc đó Nho Giáo đã thành hình từ rất lâu rồi.

Nho Giáo trong thời Chiến Quốc Xuân Thu dã không còn là Nho Học có Giáo Dục nữa mà chỉ là một nhóm ba phải không có lập trường ..." thế Chiến Quốc thế Xuân Thu .. gặp thời thế, thế thời thời phải thế " và chỉ là là một hệ thống giáo dục và đào tạo những người phục vụ cho các vua chúa, quan tước thố nát thời đó mà thôi ...... Chữ Nho trong tiếng Trung Quốc gồm một chữ Nhân, có nghĩa là người, bên cạnh một chữ Nhu có nghĩa là cần thiết. Như vậy chữ Nho có nghĩa là người hữu dụng cho sơn hà xã tắc .

Nho Giáo là một triết lý. Nho Giáo là sự giảng dạy những đức tính và kiến thức phải có để được trở thành người hữu ích ..

Nhưng nếu Người theo Nho học mà không được Giáo Huấn hẳn hoi thì tác dụng của Nho học nhiều khi có tác dung rât tai hại ...
Vì thế hễ nói đến Nho thì phải nói đến Giáo, hai căn bán này không thể tách rời ....

Vào thời nhà Chu và trước đó, những người được chọn để ra làm quan được gọi là Sĩ và được đặt dưới quyền quản lý của một quan tư đồ; họ được huấn luỵện sáu nghề: Lễ (các nghi thức), Nhạc, Xạ (võ và bắn cung), Ngự (điều khiền xe, ngựa), Thư (ghi chép tài liệu) và Sổ (bói toán)... Nếu lấy hình ảnh thời nay thì Sĩ là những học viên của một trường quốc gia hành chính.
(trong thời kỳ này vì Giáo không được lưu tâm bằng Nho cho nên nhiều vấn đề không đẹp đã xảy ra trong thời phong kiến này ...)

Xã hội phong kiến Trung Quốc từ ngày lập quốc đến khá lâu sau khi Khổng Tử ra đời và mất đi, cần nhấn mạnh là rất lâu sau khi Khổng Tử mất, được chia làm ba giai cấp vương hầu, quân tử và tiểu nhân.

Sự phân chia này thuần túy dựa vào chỗ đứng trong xã hội chứ không mang một nội dung đạo đức nào. Vương hầu là những quí tộc giàu có, có đất đai và nông nô. Tiều nhân, còn gọi là dân, là nhưng nông nô bần cùng sống dưới sự thống trị của giai cấp quí tộc, dĩ nhiên giai cấp tiểu nhân chiếm tuyệt đại đa số trong xã hội. Quân tử là giai cấp trung gian giúp giai cấp quí tộc thống trị giai cấp tiểu nhân.

Sự phân biệt giai cấp của thời phong kiến như vậy là bất công và ky thị .... vi vậy Đức Khổng Tử đã ghi lại nhân sinh quan của ngài trong sách Luận Ngữ. Trong sách này thế nào là quân tử thế nào là tiểu nhân được phân biêt rõ ràng và hợp lý ....

Nghĩa của những từ ngữ quân tử và tiểu nhân ở vào thời đại này (và rất lâu sau khi Ngài đã qua đời) rất là Phong kiến và hủ lậu ... và hiểu bậy .... người ta thường hay coi sĩ và quân tử là những giá trị tinh thần, biểu tượng của một nhân cách, một đạo đức và họ hay đồng hóa sĩ và quân tử với sự cao thượng. Thực ra Nho lúc đó chỉ là những người học để ra làm quan, Sĩ là những Nho được tuyền chọn để được huấn luỵện thành Quan, Quân Tử là một giai cấp, giai cấp của kẻ Sĩ ... Còn tiểu nhân chỉ có nghĩa là quần chúng mà thôi. Có thể với thời gian ý nghĩa của những danh từ tiểu nhân, quân tử đã biến đổi, nhưng ở vào thời đại của Khổng Khâu và rất lâu sau khi ông đã qua đời đó chỉ là những thành phần xã hội ....

Giai cấp quân tử, hay sĩ, do đâu mà có? Đó có thể là những người trong giai cấp tiểu nhân may mắn được các vua chúa tin dùng, nâng đỡ rồi nhờ chức vụ mà đạt tới sự hiểu biết hơn quần chúng. Đó cũng có thể là những quí tộc sa sút, hay những người thua trận được kẻ chiến thắng dùng làm tay chân.....

Tư tưởng Khổng Giáo, là một sự xếp đặt hợp lý và chú trọng vào Nề Nếp Trật Tự, xây dựng con người có Trách Nhiệm và giữ Đạo Đức trong Gia Đình và ngoài Xã Hôị ...Hướng chỉ đạo đời sống con người theo Khổng Giáo có thể tóm lược vào bốn chữ "Ngũ Luân, Ngũ Thường" được gọi là Luân Thường Đạo Lý . Ngũ Luân là tình vua tôi, tình cha con, tình vợ chồng, tình anh em, tình bè bạn. Ngũ Thường là nhân, lễ, nghĩa, trí, tín.


Khổng Tử là một Sĩ Phu. Ông là con của một vị quan nhỏ nước Lỗ tên là Thúc Lương Ngột. Năm 19 tuổi ông được bổ nhiệm vào chức vụ một quan thu thuế, Vào thời đại đó, cúng tế trời đất quỉ thần là một việc quan trọng hàng đầu. cúng là việc quan trọng nhất. Các triều đình có hai loại quan, loại quan Chúc lo việc cúng tế và loại quan Sử lo việc lo việc thường ngày; nhưng quan Chúc cao hơn quan Sử vì cúng tế được coi là cao nhất. vì vậy mà ông không được trọng dụng ....
Mãi tới năm 51 tuổi, một tuổi rất cao vào thời đó, Khổng Tử mới được bổ nhiệm vào chức Trung Đô Tể và sau đó thăng dần tới chức tướng quốc, chức vụ đứng đầu các quan. Theo sách sử thì ông trị nước rất nghiêm minh và đã đem lại ổn định và phồn thịnh cho nước Lỗ.

Nhưng chỉ một năm sau khi nhận chức tướng quốc, ông từ chức vì ... chịu không nổi nhưng tranh giành xôi thịt trong thời phong kiến ... nên đã từ chức để đi chu hành qua rất nhiều nước trong thời đó ... sau 11 năm dài sông trong nhiều nước khác nhau ... Ngài đã về nước khi ông 68 tuổi, tập trung cố gắng để viết sách.

Ngài cũng đã nói rõ là "Ta chỉ thuật lại mà không phóng tác, ta tin và thích những gì của đời xưa (thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ)".
Đó là một câu nói rất ư khiêm tốn, vì nếu không só sự hiểu biết uyên bác của ngài thì làm so mà người thường sao có thể biết mà chọn tốt loại xấu để chúng ta có được nhưng sách vở của Luân thường đạo lý như vậy .

Đức Khổng Tử viết được 5 cuốn sách được gọi là Ngũ Kinh, Kinh Dịch (dich số), Kinh Thư (văn từ ), Kinh Thi ( Thơ Ca), Kinh Lễ (lễ nghi tôn chỉ) và Kinh Nhạc. Ngoài ra ngài còn soạn ra bộ sách Xuân Thu chủ yếu kể chuyện về các thời đại vua chúa thời bấy giờ.

Các cuốn kinh này đều đã bị thất lạc. Đến khi nhà Hán trọng nho học mới cho tìm lại nhưng không được bao nhiêu. Các đệ tử của ngài đã hoàn chỉnh thêm tạo thành năm cuốn sách gọi là Ngũ Kinh: Kinh Dịch, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Thi và Kinh Xuân Thu. (riêng Kinh Nhạc chỉ còn lại một chương được cho vào Kinh Lễ ).

Các nho sĩ đời sau còn viết ra bốn cuốn sách khác là Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ và Mạnh Tử. Bốn cuốn sách này, được gọi chung là Tứ Thư . Đại Học (do người học trò của Ngài là Tăng Tử viết), Trung Dung (do học trò của Tăng Tử là Khổng Cấp viết).
Luận Ngữ (do Tăng Tử và các môn đệ soạn) ghi chép lại những lời dạy của Khổng Tử; Mạnh Tử là cuốn sách do Mạnh Tử viết, (Mạnh Tử tên thật là Mạnh Kha, sinh ra hơn một trăm năm sau ngày Khổng Tử mất, và các môn đệ của ông, chép lại những lời nói của Mạnh Tử ).

Tứ Thư và Ngũ Kinh được coi như những cuốn sách căn bản của Nho Giáo, trong đó Luận Ngữ quan trọng hơn cả. Khổng Giáo, hay đúng hơn là Nho Giáo, đã được nhiều đóng góp của nhiều nho sĩ qua nhiều thời đại. Trong nhưng nho sĩ này, người nổi tiếng nhất là Mạnh Tử; tên Mạnh Tử được ghép liền với Khổng Tử, Khổng Giáo vì thế còn được gọi là đạo Khổng Mạnh. Sau Mạnh Tử khoảng nửa thế kỷ còn một nho sĩ rất xuất sắc khác là Tuân Tử. Tuân Tử vừa có khả năng lý luận xuất chúng lại vừa có óc phê phán, ông bài bác tinh thần thủ cựu của những người đi trước đả phá sự mê tín vào thần linh, đề cao vai trò của giáo dục. Tuân Tử rất phóng khoáng, đi rất sâu vào tâm lý con người và phân tích khá cặn kẽ về sự hiểu biết. Ông là một triết gia thực sự và đã phải mở đường cho Nho Giáo đổi mới và tiến lên. Tiếc rằng ông bị cả một khối nho sĩ thời phong kiến chê bai, các vua chúa dĩ nhiên cũng không chấp nhận sự phóng khoáng của ông nên Tuân Tử không được coi là thánh hiền và tư tưởng của ông không được đề cao.

Sau thời Đông Chu Liệt Quốc, những đóng góp quan trọng nhất cho Nho Giáo là của Đồng Trọng Thư và Dương Hùng dưới thời nhà Hán (202-220 trước Tây lịch); Vương Thông vào thời nhà Tùy (581-618), Hàn Dũ vào thời nhà Đường (618-906); Vương An Thạch, Chu Đôn Di, Trương Tái, Trình Hạo, Chu Di vào thời nhà Tống (960-1280); Vương Dương Minh đời nhà Minh (1368- 1648). Những đóng góp đó đã khiến các học giả bối rối khi bàn về Nho Giáo và thường đặt câu hỏi Nho Giáo nào? Hán Nho, Đường Nho, Tống Nho hay Minh Nho?.....

Tuy nhiên, các thay đổi này chỉ là những thay đổi về cách diễn đạt và áp dụng mà không thay đổi bản chất và tinh thần của Nho Giáo.... Nho Sĩ mà không có Giáo Dục thì chỉ là mấy ông Hủ Nho vô tích sự mà thôi

Đối với Nho Giáo ...đức Khổng Tử là người đã vạch ra Đạo để người sau lấy đó mà làm chuẩn . Nho Giáo đã đươc thật sự hoàn chỉnh nhờ những đóng góp thêm của các Nho sĩ sau này .. đáng kể nhất là Mạnh Tử .... vì vây mà hậu thế sau này đã gọi Nho Giáo là đạo nghĩa Khổng-Mạnh.

BungRieu
03-22-2003, 02:42 PM
Ông Già Ba Tri

BR đã từng nghe và đọc sách thấy danh từ "ông già ba tri " hay được xử dụng ... nhưng không được rõ ràng cho mấy ... nay tình cờ thấy được sự tích này ... thấy hay nên mang về để các anh chị cùng coi ....

============================

Ông Già Ba Tri: Tên thật Thái Hữu Kiểm, cháu nội Ông Thái Hữu Xưa, gốc người Quảng Ngải, đã sanh cơ lập nghiệp tại Ba Tri từ thế kỷ 18; đã có công giúp Chúa Nguyễn Ánh và được phong chức Trùm Cả An Bình Đông quận Ba Tri. Năm 1806, Cả Kiểm dựng chợ Trong nằm bên cạnh rạch Ba Tri, đấp đường xá; chợ càng ngày càng tấp nập phát triển. Chợ có trước là chợ Ngoài, cách chợ Trong 3 KM. Ông Xã Hạc ở chợ ngoài chơi ép, đấp đập ngăn chận ghe thuyền từ sông Hàm Luông không vào được chợ Trong. Bị hiếp đáp, Cả Kiểm kiện , Phủ Huyện địa phương xử chợ Trong bị thua với lập luận: ”Mỗi làng đều có quyền đấp đập trong địa phận làng mình” Dân chợ Trong không chấp phán quyết bất công trên, cử Cả Kiểm cùng hai kỳ lão:
Nguyễn Văn Tới và Lê Văn Lợi, tất cả khăn gói lên đường đi bộ từ Ba Tri ra Huế - đường dài trên 1000 cây số- để thượng tố lên Vua xin phúc thẩm lại phán quyết bất công của địa phương!

Ba ông già này .. đi bộ đến Huế, Vua Gia long vừa băng hà, Vua Minh Mạng thụ lý và phán: ”Dù là làng riêng, nhưng rạch là rạch chung, là đường giao thông chung của cả chợ Ngoài lẩn chợ Trong. Phủ Huyện phải cho dẹp bỏ đập” ...

Do lòng cương quyết, không ngại đường xa, được hun đúc bởi ý chí tranh đấu cho lẻ phải và công bằng; phái đoàn do Cả Kiểm hướng dẫn làm xong nhiệm vụ là dẹp bỏ được đập ngăn chận rạch BaTri từ chợ Ngoài! Từ đó, dân BếnTre gọi Cả Kiểm là “ Ông Già Ba Tri” và hiện nay, khi nghe nói đến BếnTre là liên tưởng đến vùng đất của Ông Già Ba Tri ..... 1 ông già ba tri gốc Quảng ... :) ..:D ... hai ông người Ba Tri ... cộng lại là ba ông già ba tri ... :) .... đi bộ từ Bến Tre ra Huế .....:rolleyes: :cool: :D ....
Không thấy ai đả động gì đến việc đi về ... chắc có lẽ vua cho xe đi về ....:D .....

BungRieu
03-23-2003, 12:30 PM
Cha Tôi
Nguyễn Đình Liễu
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/deltahouse.jpg
Nói về nghèo, phải thú thật rằng, nhà tôi thuộc hạng nghèo nhất, nhì trong làng: một căn nhà tranh lụp xụp, một cái bàn gỗ cũ kỹ kê ở giữa nhà và hai cái giường tre nằm cũng là hai cái ghế. Nghèo lắm, nhưng cha mẹ tôi vẫn quyết tâm cho anh em tôi ăn học - cha mẹ tôi nghĩ mình đã thất học rồi, lại nghèo, mà còn để con dốt nữa thì tội đời chúng nó.

Mẹ tôi tần tảo nuôi con lợn, con gà, cha tôi suốt ngày làm lụng ngoài đồng. Tất cả là để cho chúng tôi ăn học. Thế nhưng, cái chết đến với con người thật bất ngờ, nào ai biết trước được. Năm 1972, mẹ tôi bị chiến tranh cướp mất đi, để lại cho cha tôi bốn đứa con, đứa em út nhỏ nhất của tôi khi ấy mới được hai tháng rưởi tuổi. Cha tôi, và anh em tôi đau đớn vô cùng. Anh em chúng tôi bày tỏ ý định nghỉ học để ở nhà phụ giúp công việc gia đình, nhưng ông gạt ngay và bảo:

- Các con phải tiếp tục việc học cho đến khi nào cha không đủ sức nữa hãy hay.

Thế là cha tôi vừa nuôi đứa em hai tháng tuổi của chúng tôi, vừa lo cho chúng tôi đi học. Anh em tôi vừa đi học, vừa phụ giúp công việc nhà bớt những khi rảnh rỗi. Cảnh gà trống nuôi con thật vất vả, cực nhọc và cảm động biết bao!

Thời gian trôi đi, trôi đi, anh em tôi mỗi năm lên một lớp. Điều làm cho cha tôi mừng và hãnh diện là năm nào, anh em tôi cũng được phần thưởng. Điều đó như tiếp thêm sinh lực cho cha tôi rất nhiều.

Khoai sắn, rau muối qua ngày, cuộc sống cứ tiếp tục khó khăn, vất vả, nhưng rồi năm tháng cũng qua đi. Đứa em út của tôi, nhờ trời cũng sống được, rồi lớn lên, rồi đi học. Thế là đỡ bớt gánh nặng, cha tôi dồn hết sực lực vào làm lụng, cốt làm sao cho chúng tôi được ăn học đến nơi đến chốn. Anh em tôi cũng đã lớn, có thể tham gia công việc đồng áng cùng cha tôi sau những buổi đi học. Nhờ đó, cha tôi đỡ vất vả phần nào.

Những năm anh em tôi thi đậu lớp 9 và thi đậu luôn vào lớp 10, cha tôi mừng khôn xiết. Ông ôm chúng tôi vào lòng mà nước mắt rơi lã chã. Chúng tôi hiểu những giọt nước mắt ấy là những giọt nước mắt mừng vui sung sướng.

Ba năm học cấp ba là ba năm trời đấy gian khổ, vất vả đối với anh em tôi. Nhà nghèo, không sắm được xe đạp, chúng tôi đành đi bộ ngày ngày hai mươi cây số đi, về. Dù vậy, anh em tôi vẫn cố gắng học hành để cha tôi vui lòng.

Gian khổ nào rồi cũng phải lùi bước nếu ta có chí - Ba năm học đầy gian khổ rồi cũng trôi qua, và hãnh hiện làm sao, anh em tôi thi đậu tốt nghiệp và rồi cũng đậu luôn vào sư phạm. Chao ôi, không bút mực nào tả được nỗi vui sướng của cha tôi lúc đó. Và có lẽ chẳng bao giờ anh em tôi quên được gương mặt rạng rỡ của người lúc ấy...

Giờ đây, tôi và anh tôi là hai ông giáo trường làng. Hai đứa em nhỏ của tôi cũng đã qua lớp chín và có nghề nghiệp - Cha tôi đã đến tuổi bảy mươi - cái tuổi "cổ lai hy" mái tóc đã bạc trắng và nhà tôi vẫn nghèo như xưa, nhưng có một điều làm cha tôi sung sướng, hãnh diện và mãn nguyện là đã nhìn thấy con cái ăn học đến nơi đến chốn trong một hoàn cảnh hết sức vất vả cực khổ. Và chúng tôi, chúng tôi cũng tự hào là có được một người cha biết lo cho con cái một cách chu toàn đến thế.

Mẹ tôi dù không còn nữa, nhưng mẹ ơi, nếu mẹ còn sống đến bây giờ, thì con tin chắc rằng mẹ cũng rất vui lòng khi nhìn thấy con mẹ được lớn khôn, ăn học nên người như hôm nay!

Ngày xưa, mẹ ước ao sao các con học cho thành ông Tú; bây giờ, các con đã là ông giáo cả rồi, vượt quá cái ước mơ ngày nào của mẹ rồi đó, mẹ ơi!

Tất cả, tất cả đều nhờ vào người cha đáng kính, người cha trăm quý ngàn yêu của chúng con đó mẹ!

Tudoi
03-25-2003, 08:45 PM
Tặng bé Búng Riêu hai câu này nhưng không giãi nghĩa, nếu mà giãi nghĩa hay BR biết được chắc khoái tỉ lắm:

Vũ vô thiết tỏa năng lưu khách
Sắc bất ba đào dị nịch nhân.

BungRieu
03-26-2003, 03:28 AM
Originally posted by Tudoi
Tặng bé Búng Riêu hai câu này nhưng không giãi nghĩa, nếu mà giãi nghĩa hay BR biết được chắc khoái tỉ lắm:

Vũ vô thiết tỏa năng lưu khách
Sóng bất ba đào dị nịch nhân.

Cám ơn Chú Tư nha ....

Hihì ...Chú Tư ui .... BR bí xị rùi ...

BR chỉ biết :
Vũ = mưa; Vô = không; Kiềm = kim loại;Toả = bao vây , khóa ..; Sóng = sóng ;bất = chẳng ... ba đào = sóng lớn ..sóng bạc đầu ...;
dị nịch nhân = làm chết người ....

BR dịch tầm xàm nha .. :D ..:D ..:D

Mưa ơi, lưu luyến đi chẳng đặng ...
khẽ động, còn đâu hỡi anh hùng ...

BR hiểu 2 câu này ...nhưng chỉ thoang thoáng thui ...không rõ lắm ... chỉ hiểu kiểu "giống" như người "Tầu" biết tiêng "Tàu" thui .. chớ chưa hiểu được sâu xa như mấy ông đồ Nho ...

Khoan đã ... đợi giờ Pause BR hỏi Chị Thảo rùi BR sẽ tiếp rõ ràng hơn ... hai câu này có lẽ hai câu này rất là hay ... và co' điển tích hay lắm nếu không nêu điển tích ra thì bị hiểu sai đó ...

chiều về .. BR sẽ viết tiếp nha ...

Tudoi
03-26-2003, 04:15 AM
Còn câu này cho BR đi hỏi chị Thảo luôn :p

Nhi nữ trường tình, anh hùng khí đoản.

BungRieu
03-26-2003, 11:09 AM
Nhi nữ trường tình, anh hùng khí đoản .
Lý Ngư .
=============================================
BR đã hỏi ... thay vì trả lời chú trực tiếp BR mượn bài của Lý Ngư để cho các Anh Chị khác cùng đọc ..
=============================================

Các cụ xưa đã dạy : ....

Giúp đạo lý nhân luân làm người theo nền nếp
Tử sinh dành cho mặc khách tao nhân có dịp luận bàn.

Con người sinh ra ở đời lúc nào cũng vất vả, phiền muộn trăm chiều, không mảy may được thư nhàn sung sướng. Theo lời các nhà nho xưa, thì cái vật phía dưới eo phụ nữ chính là cánh cửa sinh ra ta mà cũng là nấm mồ chôn ta.

Trong dân gian, chỉ có kẻ thường dân là sống lâu, còn bậc nội giám nào đã ai trăm tuổi. Thế mới biết hai chữ Nữ Sắc vốn không làm hại gì ai, chẳng qua vì trong Bản Thảo Cương Mục không từng có ghi vị thuốc này, cho nên việc chú giải không định rõ. Người cho là thuốc bổ, kẻ gọi là thuốc độc, nhưng xét cho kỹ thì quả có bồi dưỡng con người. Dược tính của nó chẳng khác nhân sâm phụ tử, có thể dùng chung với các vị thuốc này. Có thể dùng như sâm mà không thể gọi là cơm. Nếu không dể ý tới phân lượng, không quan tâm tới giờ giấc, chỉ cốt sao cho thật no say thì thường là hại.

Cái lợi, cái hại của nữ sắc cũng thế. Trường phục thì âm dương đều hòa, đa phục thì xung khắc như nuớc với lửa, biết dùng như thuốc thì giải được ẩn uất, ăn như cơm thì hại tinh huyết.

Nếu người đời biết dùng nữ sắc như vị thuốc, không thưa thớt quá mà cũng không dồn dập quá, thì không thể không tốt, mà cũng không thể quá tốt. Lúc chưa gần nữ sắc, trong bụng nghĩ rằng vị thuốc này không độc tại sao lại sợ. Khi đã gần nữ sắc rồi, trong bụng nghĩ rằng vị thuốc này không phải là cơm thì sao cứ đắm đuối say mê.

Như thế thì không những dương không quá, âm không bí, không có người chết non, mà có thể giúp cho trai có vợ, gái có chồng đúng theo vương đạo, không phải là vô ích. Chỉ có điều, vị thuốc này dược tính giống như nhân sâm, phụ tử, nhưng nơi sản xuất, cách sử dụng thì có khác đôi chút, người dùng không thể không thấu.

Muốn tìm cho ra diễm sắc, thì phải đến "ngoại môn". Gà nhà vị lạt, thịt không tươi bằng gà đồng, ta gọi đó là "ngoại địa". Gặp hạng phụ nữ này thì không khỏi đêm mơ tưởng, nghĩ cách chiếm đoạt cho bằng được. Tìm vật khêu gợi, rồi đem tặng nhau, hoặc trèo tường để đến hẹn, hoặc đào hang để tư tình. Nhi nữ tình trường, anh hùng khí đoản, kẻ mày râu vì xung động nhất thời mà sa vào vực thẳm khôn lường, đương đầu với mối họa phi thường, đã âm thầm làm tổn thương âm đức mà cũng trắng trợn mất phẩm giá, có khi đến nỗi bị giết hại. Mình chết đã không có người đền mạng, mà vợ nếu còn sống, cũng bị thất tiết. Bao nhiêu tai họa thê thảm biết chừng nào, thế mới biết con người ở đời đối với hai chữ Nữ Sắc ra sao.

Rõ ràng là không thể bỏ cái gần mà tìm cái xa, kén cái tinh mà chọn cái béo, chê cái bình thường mà cầu cái quái dị.

Thưa độc giả, xưa nay không thiếu gì sách thánh hiền khuyến thiện. Nhưng con người vẫn hay ưa tìm sách phong lưu mà đọc, trái với tôn chỉ thánh nhân, xem đó thì người đời đã chán ngán cổ thư,chỉ càng tìm sách chi tiết về trữ tình chừng nào càng được chuộng chừng đó, đến thành một xã hội phi luân

Xưa vua Vũ trị thủy, công cuộc khó thay, "... ngài đắp mãi đê cho cao tới đỉnh núi, nhìn xuống khắp chốn bao la, mới thấy sự rộng lớn, thuận thời thuận sóng mà khai rạch khai mương thoát thủy ra biển, cứu dân thoát nạn lụt".

Thời bây giờ cũng thế, ai muốn khai mở bế tắc luân thường đạo lý cũng phải nương theo sóng tình mà cải biến lòng người. Nương theo chuyện vô luân mà khuyến thiện vậy. Làm cách này không xong, như thánh nhân, phải làm cách kia vậy.. Thiếu gì người ham hố chuyện phong lưu gái đẹp, nhưng biết đâu chả có lúc thấy ra, là không có gì bằng thê thiếp tại gia.

Người đọc hãy tự tìm lấy việc này. Ðó là cách tiền nhân dùng lửa trị lửa, khuyến người bằng tính người. Sen tự nở trong bùn mà ra.

BungRieu
03-26-2003, 11:41 AM
Hihì ... BR đã hỏi rùi ... phải ngồi hết cả tiếng để nghe kể về điển tích lận đó .....:) ....

Chị Thảo nghĩ răng chú đánh máy lộn chữ Sắc ra chữ Sóng ... nên đã sửa lại như sau :
Vũ vô thiết tỏa năng lưu khách
Sắc bất ba đào dị nịch nhân.

BR chỉ biết :
Vũ = mưa; Vô = không; Kiềm = kim loại;Toả = bao vây , khóa ..; Sóng = sóng; sắc = sắc đẹp ;bất = chẳng ... ba đào = sóng lớn ..sóng bạc đầu ...; dị nịch (có lẽ là Tịch chứ không phải là Nịch)= làm chết ; nhân = nguời ...
dị nịch nhân = làm chết người ....

BR dịch tầm xàm đại nha .. :D ..:D ..:D

Mưa ơi, lưu luyến đi chẳng đặng ...
khẽ động, còn đâu hỡi anh hùng ...

BR hiểu 2 câu này ...nhưng chỉ thoang thoáng thui ...không rõ lắm ... chỉ hiểu kiểu "giống" như người "Tầu" biết tiêng "Tàu" thui .. chớ chưa hiểu được sâu xa như mấy ông đồ Nho ...
Sau khi được bà đồ nho Thảo diễn dịch .... thì thấy là BR dich cũng hông sai mấy .... hihì ... (hông có đuôi mà vẫn cứ khen mình dài ...)

Hai câu của chú có nghĩa là :
Mưa không có bó buộc người , nhưng người vẫn ở lại (ý là việc ở lại là tự người chớ không phải tự mưa ) ....
Sắc đẹp đâu phải là sóng lớn nhưng bao Nam tử đã chết ...:) ...

Hai câu thơ này ... có kem 1 điến tích rất có triết lý .. ai cũng biết "ba đào" là "sóng lớn" ...nhưng nếu không hiểu điển tích thì không thể hiểu được trọn ý đâu ... BR sẽ đăng cái điển tích "ba đào" đó trong bài tiếp theo trong mục này ....

Dịch dzị được chưa chú Tư ... chắc hổng sai mí đâu .... BR fái 2 câu đó lém hihì ... :) .....

Tudoi
03-26-2003, 02:18 PM
OK, chú viết lộn nên đã edit rồi.

Chị Thảo là ai mà biết rành vậy, có thể giới thiệu cho chú hân hạnh được làm quen không ??? :p :p :p

Hai câu trên cho chú dịch sát nghĩa hơn nghe:

Vũ vô thiết tỏa năng lưu khách
Sắc bất ba đào dị nịch nhân

Mưa không phãi là dây xiềng sắt nhưng cầm chân được khách ở lại

Sắc đẹp của ngưởi phụ nữ không phãi là sóng gió (lớn) nhưng cũng nhận chìm được nhiều đấng mày râu như chú chẳng hạn j/k :p

Vì thấy cháu ca tụng phụ nữ nên tặng cháu các câu này đó

Tudoi
03-26-2003, 02:33 PM
Trước hết chú xin hỏi Lý Ngư là ai, người đời xưa hay một người viết nào đó như chú trên Internet. Chú đọc rồi, Lý Ngư chỉ bình luận về nữ sắc chứ không giải nghĩa chính xác hai câu này. Chú xin phép dịch luôn cho cháu:

Nhi nữ trường tình, anh hùng khí đoản

Tình của người phụ nữ càng dài (ở đây có nghĩa là sâu đậm) thì chí khí anh hùng của ngươi đàn ông càng ngắn (ở đây có thể hiểu là mất đi chí khí hay nhuệ khí của ngươi đàn ông)

Một ví dụ cụ thể:

Trước khi lên đường đi chiến đấu mà người yêu tiễn đưa cứ bịn rịn khóc lóc thì người lính khó lòng dứt áo ra đi đền nợ nước.

BungRieu
03-26-2003, 02:44 PM
Hi Chú Tư ...
Ủa bộ Chú hông biết hả ...
BR đã kể rùi mà ...
mí anh chị lớn trong này ai cũng biết hết á .....
mà thui ...kể lại nha ...

Chị Thảo là người VN chánh "Tông" ... lớn hơn BR mấy tuổi ...
mới VN qua ... còn đang học tiếng Hoà lan ... chị T rành vì ở nhà bị nghe hoài nên nhập tâm .. và là cô giáo (tiểu học) dạy Việt văn ... nên rành tiếng Việt lắm ... BR dạy chị T tiếng Hoà Lan , Chị T dạy BR tiếng Việt ( còn chữ Hán thì BR chỉ học chơi thui ... dzị mà cũng gần được 200 chữ rùi đó nha ) ... mai mốt BR sẽ post hết những gì BR đã học được để mọi người cùng tham khảo ...

Chị T không có vô VCB thường đâu ... BR dzẫn cho chị T xài chung Nick của BR đó ... cả tháng may ra Bả mí dzô 1 lần ... và Chị ấy chỉ chú trọng coi mí cái thực đơn trong bêp chị PD thui ... Còn nhạc ấy hả thì BR cho chị ấy hết những gì BR có .... Nhất cử lưỡng tiện mà ...hihì ....

Tudoi
03-26-2003, 02:56 PM
Chú đề nghị nhe

Nói với chị Thảo của cháu post hình chị Thảo lên cho mọi người chiêm ngưỡng dung nhan của chị Thảo, nhất là chú rất tò mò muốn biết mặt chị Thảo

BungRieu
03-26-2003, 03:06 PM
Hihì ... cái dzụ này BR không có ý kiến à nha ...
để BR nói lại cho Chi T biết ... hy vọng rất ư là mong manh ... :) ..:D ...:D ....
Chị T không có ham quậy như BR đâu ... :D ..

BungRieu
03-26-2003, 04:12 PM
Điển tích "Ba đào".....
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/hoc-tro_va_ong_do_-BADAO_.jpg
=============================================

Chữ Ba đào đã thuần quen trong văn học VN ... đến nỗi không cần viết chữ hoa người ta cũng hiểu ba đào là sóng lớn ....Thật ra "Ba đào" là 1 chuyện điển tích đã đi sâu vào trong chữ Hán , chữ Nôm, văn xuôi ....

============

"Ba đào" trong chữ Nôm ta ...

Truyện Kiều là một kiệt tác của Nguyễn Du, là linh hồn của văn học Việt Nam, điều đó hẳn không ai dám phủ nhận. Cũng bởi giá trị có một không hai của nó mà khi nói đến Nguyễn Du, người ta nói ngay đến Truyện Kiều. Do vậy ít người để ý đến phần còn lại trong văn nghiệp của ông. Thực ra, Truyện Kiều là tác phẩm diễn nôm, nói theo cách của một nhà nghiên cứu, "lỡ tay" mà thành Kiệt Tác, còn thơ chữ Hán mới đích là sáng tác, nên xem nó là phát ngôn viên chính thức của Nguyễn Du.

Gặp cơn bình địa ba đào,
Vậy đem duyên chị buộc vào duyên em.[Kim vân Kiều]

====================
"Ba đào" Trong Hán Thi :

Học giả Mai Quốc Liên có lần viết : "Thơ chữ Hán Nguyễn Du là những áng văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý nghĩa. Nó mới lạ và độc đáo trong một nghìn năm thơ chữ Hán của ông cha ta đã đành, mà cũng độc đáo so với thơ chữ Hán của Trung Quốc nữa"....

Quả đúng như vậy. Ai đã có may mắn được đọc hết gần 250 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du, thì sẽ thật sự bội phần kính phục nhà Đại thi hào dân tộc này ....

Để không ra ngoài lề ... xin đọc bài :

Minh nguyệt chiếu cổ tỉnh
Tỉnh thủy vô ba đào
Bất vị nhân khiên xả
Thử tâm chung bất giao
Túng bị nhân khiên xả
Nhất giao hoàn phục chỉ
Trạm trạm nhất phiến tâm
Minh nguyệt cổ tỉnh thủy".

(Trăng trong lòng giếng cổ,
Nước giếng không ba đào.
Chẳng bị người khuấy động,
Lòng nầy không chút xao.
Dù bị người khuấy động,
Xao rồi trở yên lặng.
Vằng vặc một mảnh lòng,
Giếng trong trăng giọi bóng) Quach Tấn dịch

Bài thơ tuyệt diệu. Nhưng đây là ý về lòng, ý về trăng, mượn trăng để diễn ý, không phải mặt trăng đang chiếu trên trời. Tôi ngắm rất lâu trăng tròn trong lòng giếng và tôi ngần ngại : hay đây cũng là trăng thật, thật đâu kém trăng trên trời ? Thế nhưng, lòng nầy không chút xao làm hiện người giữa lòng giếng, không phải trăng. Người là thật, lòng là thật, tâm là thật ; trăng là hình, là ảnh, là bóng, là ẩn dụ. Trong mối quan hệ giữa người và cảnh, cảnh bay trọn vào lòng người, vào nội tâm.

Làm thế nào để người đừng nuốt cảnh, cảnh đừng nuốt người, cảnh với người đều hiện hữu, nhưng không phải tách biệt ra làm hai ? Tôi muốn tìm thấy trong thơ cảm giác kinh ngạc của tôi khi trực diện với mặt trăng trong những lúc bất ngờ nhất : thức giấc giữa khuya nhìn qua cửa sổ, bước ra vườn đêm nhìn lên mái nhà, quanh co đường đèo nhìn lên đỉnh núi... Trăng bất thần hiện ra, rạng rỡ, sáng quắc. Mắt của nó và mắt của tôi như chạm nhau, sững sờ, không nói được. Thơ có nói được thay tôi không ?

====================

Nói đến Hồ xuân Hương .. ta liền nghĩ đế những vần thơ Nôm đã làm các tao nhân mặc khách dở khóc dở cười với nhưng bài thơ vô tiền khoáng hậu của Nữ sĩ này ...

Thật ra khi làm thơ chữ hán thì bà rất là mẫu mực ...

...Những sự ba đào xeo tấc lưỡi,
Nam Bắc xa xa mấy dặm đây,
Hải sơn ước để ngàn năm mãi,
Bức tranh khôn vẽ tấm lòng ngay.....

Thiên hạ nhân gian chá ai hiểu được tai sao ... khi làm thơ chữ hán thì sao nhiêm trang, hào khí thế ..nhưng khi làm thơ nôm thì bà lại hóm hỉnh vô tả ...
Có lẽ chính vì vậy mà những mà mới có câu ...

"Nôm na la cha xách mé" (có sách viết sai đi là mách qué ...) ...
mà thiệt nha ... có lẽ Bà xách mé thiệt tình đó ... ấy thế mà chả ai hó hé được ... thế mí đau chít đi được ... và ngọng hết với bà ...

====================

"Ba đào" trong văn xuôi:
Bùi Giáng nhắc đến thơ của chính ông như một sự so sánh:
"...Thơ tôi làm...là một cách dìu ba đào về chân trời khác. Ði vào giữa trung tâm bão giông một lúc thì lập thời xô ngôn ngữ thoát ra, phá vòng vây áp bức....."

=============
vậy Ba đào là gì vây .... là sóng lớn ???! ... xin tham khảo điển tích dưới đây thì sẽ tường tận hơn ...

Điển tích "Ba đào"- sóng lớn - trong sách Dị Văn lục: Triều Huệ Đế đời nhà Minh, tại huyện Tề Hàng, tỉnh Sơn Nam, có hai vợ chồng Trần Hoá Chiêu, Lương Tiểu Ngạ Tiểu Nga là con một gia đình thúc nho lễ giáo, nổi tiếng là một trang quốc sắc thiên hương; thuở nhỏ được cha mẹ cho theo đòi bút nghiên, mười hai tuổi đã biết làm thơ phú, đọc thông các sách thánh hiền. Hoá Chiêu là học trò của cha Tiểu Nga; cậu học trò nghèo, mồ côi cha, thông minh, ham học, mặt mày khôi ngô, được thầy thương, gả con gái và cho ở rể. Sống chung với nhau được ba năm, thì bố mẹ vơ, lần lượt qua đời, để lại cho vợ chồng một căn phố và ít vốn liéng để mở một tiệm tạp hóa.

Đời sống cũng được êm đềm. Trong vùng, các văn nhân thỉnh thoảng đến mua hàng và cùng vợ chồng Trần Hóa Chiêu xướng họa ngâm thơ. Cũng không ít khách lai vãng thường xuyên đến đó vờ vĩnh mua hàng, để được dịp chiêm ngưỡng dung nhan Tiểu Nga; có phú hộ Trát Hiếu Sắc cũng thuộc loại khách này.

Nhưng không như những mối tình câm kia, đến nhìn để rồi thầm yêu trộm nhớ, Hiiếu Sắc đã manh tâm chiếm hữu người đàn ba này cho được. Phú hộ tìm hiểu, biết vợ chồng vì ham thích thơ văn , nên buông lỏng chuyện mua bán, vốn liếng cụt dần. Phú hộ ra tay hào hiệp, cho mượn vàng bạc để gầy dựng lại. Ngại ngùng lần đầu, nhưng rồi tiếp những lần sau, Hoá Chiêu cầm vàng bạc mượn đi buôn bán xa, chuyến nào cũng lời khẫm. Lần nào, vợ chồng cũng nài nỉ hoàn lại vốn và trả lời, nhưng Hiếu Săc đều từ chối lấy lãi.

Cứ vậy, hai năm họ trở thành bạn thâm giao. Hiếu Sắc luôn tỏ ra mình là người đàng hoàng, nghiêm túc, không bao giờ đến nhà bạn trong lúc vắng mặt Hoá Chiêu; những lúc tiếp chuyện với Lương Tiểu Nga, luôn luôn giữ thái độ đứng đắn. Vợ chồng Hoá Chiêu vui mừng có được người bạn hiền, hào phóng. Khi tự xét lý lịch "nằm vùng" của mình đã đến lúc kết nạp được, Hiếu Sắc đề nghị chung vốn làm ăn lớn. Vợ chồng Hóa Chiêu hoàn toàn tin tưởng, hớn hở nhận lời ngay.

Việc buôn bán phất lên nhanh, nhưng Hiếu Sắc vẫn cương quyết không bao giờ nhận chia lãi, nại lý do để giúp vợ chồng bạn.

Một lần, Hiếu Sắc bàn với Hóa Chiêu phải đi buôn một chuyến lớn ở Hàng Châu xa xôi và thuê thuyền xong, cả hai cùng lên đường. Ròng rã cả tháng trời thuyền mới đến Hàng Châu vào một đêm trăng thanh gió mát. Hai người đem rượu ra mũi thuyền đối ẩm tâm sự Hoá Chiêu, tình thật, ngâm một câu thơ, lại ngậm một chén rượu ; Hiếu Sắc thì cứ làm động tác giả, hắt rượu qua vai. Quá nửa đêm, Hoá Chiêu rụng, người mềm nhũn. Lúc bấy giờđám gia nhân dưới thuyền cũng đã ngủ saỵ Hiếu Sắc lôi Hóa Chiêu, xô xuống sông. Đôi ba lần Hoá Chiêu ngoai ngóp trồi đầu lên, Hiếu Sắc lại dùng sào dìm xuống cho đến khi mặt nước không còn sủi bọt nữa.

Không cần phải buôn bán chi, Hiếu Sắc cho thuyền quay về Tề Hàng ngay. Mẹ Hoá Chiêu và Tiểu Nga đau lòng với nỗi bất hạnh, nhưng vần cảm kích Hiếu Sắc đã bỏ cả chuyến hàng lớn để vội vàng trở về báo hung tin.

Rồi sau đó, đều đều, Hiếu Sắc lui tới thăm viếng và cấp dưỡng cho mẹ Hoá Chiêu và cô vợ góa trẻ. Và lần nào nước mắt phú hộ hào phóng cũng đầm đìa.

Người đời càng nể trọng hơn khi thấy Hiếu Sắc ân cần chăm sóc mẹ của Hoá Chiêu chu đáo hơn vợ bạn, khiến mẹ già cũng có phần đăm chiêu

Ba năm sau, mãn tang. Hiếu Sắc cho người đến thưa chuyện với mẹ Hóa Chiêu xin cưới Tiểu Nga lam vợ. Bà mẹ đã đăm chiêu nhiều, nên thuận tình ngay, khuyên nhủ con dâu nên bước thêm bước nữa.

Lương Tiểu Nga vốn là gái hiền thục, vẫn còn thương yêu người chồng vắn số, nhưng vẫn phải vâng lời mẹ chồng, tái giá.

Cưới được Lương Tiểu Nga rồi, Hiếu Sắc vẫn một mực chăm sóc mẹ Hoá Chiêu; bà cũng an lòng nghĩ rằng con dâu mình có được bóng mát cho cuộc đời còn lại.

Vợ chồng ăn ở vơi nhau được mười năm, sinh được hai mụn con. Đời sống an nhàn. Một đêm trăng vào hạ, vợ chồng ra ngồi hóng mát bên ao sen. Hiếu Sắc nhấm rượu, và ngấm rượu; Đương lúc đó, có con ếch nhảy lên một lá sen. Tiểu Nga đưa cây sào thọc cho con ếch nhảy đi. Sào thọc xuống thì con ếch lặn, cất sào lên, nó lại trồi lên. Tiểu Nga phải thọc vào con ếch mấy lần nữa, nó mới chịu lặn chìm mất.

Bất giác, Hiếu Sắc buột miệng ngâm:

"Hồi ức thập tam niên tiền sự
Huyên tợ hà mô lục thủy thờị.
Nhớ chuyện mươi ba năm trước đây
Mường tượng ngày nay ếch ngóp ngoai

Nghe lời thơ lạ, Tiểu Nga bảo chồng lập lại để mình họa theo. Hiếu Sắc lè nhè đọc lại rồi cao hứng nói vợ lấy giấy bút cho mình chép lại làm thủ bút. Thôi rồi, kẻ hào hiệp chung chăn gối với mình mười năm nay, thì ra là một kẻ nham hiểm thâm độc.

Không thể để cho Hoá Chiêu chết oan, Tiểu Nga đã nắm lấy vật chứng là hai câu thơ thủ bút của Hiều Sắc, đem đi trình quan.

Bị bắt tra vấn, Hiếu Sắc khai hết sự thật câu chuyện hơn mười ba năm trước, vì đã cuồng si nhan sắc của Lương Tiểu Nga nên đóng trò đạo đức, rồi bày mưu giết chồng đoạt vợ Trát Hiếu Sắc bị xử tội tử hình.

Đúng là sắc bất ba đào dị nịch nhân, nhan sắc đâu phải là sóng lớn mà cũng dìm chết người, hai người chồng đều phải tức tưởi lìa đời.

Sắc đẹp là tội lỗi, nàng đã đến công đường, xin xử tội cái nhan săc nàỵ Nhưng luật pháp có bao giờ lại tử hình một hồng nhan. Có chăng thì lạ gì bỉ sắc tư phong, hồng nhan phải tự mang lấy cái nghiệp chướng đa truân.

đến đây chắc là Nghĩa và Bóng của Ba đào đã rõ ....

Chinh vì vậy mà nhiều người Tầu đã phải gứi con theo học mấy ông đồ nho việt ở làng quê là vậy đó ... theo học đây không phải là họ nói hay học viết mà là theo học cái việc hiểu cao biết rộng của các cụ Đồ ... học (nghe giảng) các điển tích để hiểu chữ mà xử dụng cho chuẩn đích ... Như đã nói trên truyên Kim Vân Kiều vì lỡ tay" mà thành 1 tuyệt tác ... trong truyện Kiều hầu như mỗi giòng thơ là có 1 điển tích ... điêu ây.. chứng tỏ sự uyên bác của cụ Nguyễn Du .. nhà Đại Thi Hào của nước Việt ....

BungRieu
03-27-2003, 09:48 AM
Vợ chồng, tuy hai mà một .. tuy một mà hai
Phan Thanh Bình
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/dichoc-BR-VCB.jpg
=============================================
KHÁC NHAU

Vợ chồng mà cứ "suy bụng ta ra bụng người" là trật-lất. Vợ chồng ước-mong "mình với ta tuy hai mà một", nhưng phải nhận biết "ta với mình tuy một mà hai". Thời xa xưa, chúng ta dễ chấp-nhận nhau vì thường "an-phận" và tin vào số-mệnh. Nhưng nay, ở vào cái thời-đại "cái tôi" (Me-generation) hay "tôi muốn" ("I want"- generation) thì khó an-phận.

Bước vào tình yêu, người nữ không còn thủ-phận chờ đợi

Thân em như tấm lụa đào
Phất-phơ giữa chợ biết vào tay ai.

Nhưng có ngay một số tiêu-chuẩn lựa-chọn, không đạt đến "lý-tưởng", thì ít nhứt cũng phải hiệp với mình quá 50 phần trăm.

Bước vào tình yêu, người nam không còn lấy mẫu "nội-trợ" mà đo, nhưng lại tìm người cùng sở-thích để bước song-song ở mọi định-hướng.
Cái thể-thức "ngưu tầm ngưu, mã tầm mã" dường như được cơ phát triển mạnh trong tình-trường. Số người sống độc thân và đồng tính luyến-ái ngày càng tăng, có lẽ vì cớ "sợ" khác biệt trong tình yêu. Một cụ đã kể cuộc tình hạnh-phúc của mình: Thời trai-trẻ tôi đã yêu một cô. Tôi ngỏ lời cầu hôn và cô đó trả lời: Không. Thế là hai đứa tôi sống hạnh-phúc đến già....

Không người nào sống trong cô-đơn lại có hạnh-phúc trong tình yêu. Tiếng vỗ tay chỉ vang ra khi hai bàn tay ngược chiều vỗ vào nhau. Nam-nữ không giống nhau nhưng chấp-nhận nhau là tình yêu nẩy-nỡ. Ðiều quan-trọng trong đời sống vợ chồng là biết chấp-nhận những điều khác với mình và cả nể-trọng những điều khác nhau đó.

Các nhà tâm-lý học đã đưa ra một lô sự-kiện để chúng ta thử nhận-định về sự khác nhau giữa nam và nữ. Quí vị có thể đánh dấu phần nào quí vị đồng ý và bỏ trống phần nào quí vị không đồng ý.

1. Xương sọ và da phái nam dày hơn phái nữ; nam có ít nhất 20% hồng huyết cầu nhiều hơn nữ. Phái nữ có dạ-dày, thận, gan và ruột dư lớn hơn nam giới. Nhưng phổi và tim nam giới lớn hơn.

2. Bình-thường thai nhi nữ môi và miệng cử động nhiều hơn nam; bé gái biết nói trước bé trai, đến khi đi học, bé gái học sinh-ngữ nhanh hơn bé trai. Vợ nói hay và hay nói hơn chồng Trung-bình người đàn bà nói 25,000 tiếng mỗi ngày, trong khi người đàn ông nói độ 10,000 tiếng. Hai anh chồng khoe tài ăn nói của vợ.
- Vợ tôi, vấn-đề gì bà ta cũng có thể nói cả giờ.
- Vợ tôi hay hơn, bà ta không cần vấn-đề gì cả vẫn có thể nói cả giờ.

Nhiều chuyện vui-cười về cái khả-năng nói nhiều của phái nữ lắm. Có chàng nhìn vợ với thân-hình mảnh-mai 120 "pao" mà chỉ thấy 120 "pao" hủ-tiếu dai trong nhà, chỉ vì cái thân-hình 120 "pao" ấy "nói ngày không đủ, tranh-thủ nói đêm, nói thêm ngày nghỉ, nói kỹ mới thôi, nói rồi ... nói nữa, lại thêm vừa hay rắc rối, vừa hay mè nheo, vừa hay lắm điều". ...:) ....

3. Ngoài ra nhờ học-môn nữ estrogen, phụ-nữ có biệt tài đánh hơi. Họ nhìn rõ hơn phái nam trong đêm tối. Và nhờ thị lực rộng hơn, họ nhìn thấy nhiều hơn. Phụ-nữ dễ-dàng ghi-nhận khoảng 70% cái gì họ nhìn thoáng qua.

4. Phong-tục và tập-quán làm cho nam nữ khác nhau nhiều hơn là thân-thể.

5. Nam cần suy-nghĩ trước, cảm-xúc sau, rồi mới nói; trong khi nữ nhảy cảm trước, rồi mới suy-nghĩ và phát ngôn ngay.

6. Nam gây cảm-tình để tiến dần đến tình dục; Nữ dùng cách gợi dục để gây cảm-tình.

7. Bộ óc của người nam cấu-trúc khác hơn người nữ.

8. Nam quên chuyện khó-khăn bằng cách không thèm bàn tới nó nữa; Nữ dầu không tìm ra cách giải-quyết khó-khăn vẫn cứ đem ra nói hoài.

9. Nam ít nhìn nhận mình sai lầm, dầu đã hơi nghi điều mình làm sai lầm. Nữ dễ thừa nhận mình sai lầm trước khi người khác biết sự sai lầm của mình.

10. Việc quan-trọng, nam quyết-định lẹ hơn nữ.

11. Nam không thích tranh-chấp với nữ; nữ thích tranh-chấp với nam.

12. Nam không thích lụy vợ - "Núp bóng quần hồng".

Khổ thay cái tướng nhờ lưng vợ
Tiếng ấy anh-hùng há chịu đâu

13. Nữ giữ chặt chồng - "núp bóng tùng quân".

Của tôi, tôi giữ, tôi ràng
Chẳng cho ai đó loàng-choàng của tôi

14. Nam ưa tỏ ra khác biệt với ngươi khác. Nữ thích dung-hòa với người khác.

15. Nam cho việc mình làm không sai. Nữ cho việc mình làm là đúng.

16. Nam rất muốn có nam tính trọn-vẹn, rất ngại có chút nữ tính. Nữ rất ngại có nữ tính trọn-vẹn, rất mong có chút nam tính.

17. Nam tấn-công, hướng-dẫn, chinh-phục (trong lãnh-vực chinh-phục phái nữ). Ưa công-việc, khám-phá, tìm-tòi, xây-dựng, chịu trò chơi nguy-hiểm. Thời thơ-ấu không có ý-thức làm cha, song có ý-thức làm chồng, chơi trò đám cưới, vợ chồng. Khó thích hợp môi-trường mới. Bản tánh khó thay đổi,
Nữ chấp-nhận, chịu-đựng. Niềm hãnh-diện không phải là công-việc ở sở mà là công-việc ở nhà. Nội-tướng, nội-trợ. Hợp-tác với nam giới để tìm sự đắc-thắng. Thời thơ-ấu không ý-thức làm vợ, song ý-thức làm mẹ rất mạnh. Thích chơi búp-bê. Thay đổi dễ-dàng, dễ thích-nghi với hoàn-cảnh.

17. Bước vào tình yêu. Nam chú-ý đến thể-xác phái nữ 99%, chỉ 1% lưu tâm đến tâm-hồn - Nàng đẹp quá!
Nữ chú-ý đến tâm-hồn và tài năng của giới nam 90% và 10% thể-xác - Chàng tốt quá, giỏi quá!

18. Nhưng khi đã thành vợ chồng, thì người nam chú ý 90% vào tâm-hồn và tài-năng. Sắc đẹp chỉ còn 10%.
Nhưng khi đã thành vợ chồng thì người nữ chú-ý 100% vào đức-độ và tài-năng của chồng.

19. Nam được gọi là phái mạnh, nữ được gọi là phái yếu, dầu mạnh yếu không tùy thuộc vào phái tính.


Có lẽ các nhà tâm-lý cứ sưu-tra và đưa ra nhiều điều khác-biệt nữa. Ngay cả cách ngồi, lối nhìn cũng khác nhau. Chúng ta không cần biết chi cho lắm. Biết sơ-sơ như vầy cũng đủ mệt để dung-hòa.

Nhưng Thượng Đế dựng nên loài người chúng ta - nam- nữ khác nhau, Người không có ý-định nam-nữ dung-hòa trong đời sống, nên ai muốn dung-hòa là đi ngược với định- luật của Thượng Đế nên "mệt" là phải.

Thượng Đế dựng nên nam-nữ khác nhau để bổ-túc cho nhau và hỗ-trợ nhau. Khi Người kết-hiệp người nam và người nữ thành vợ chồng với sự huyền-nhiệm "nên một thịt" cũng không mang ý-nghĩa dung-hòa.

Mỗi người khác nhau, nên tuy là vợ chồng - đã "trở nên một thịt" thì vẫn khác nhau.

Hiểu được sự khác nhau, nên không tìm cách bắt anh phải giống em, em mới chịu....
Hiểu được sự khác nhau, nên không tìm cách bắt em phải giống anh, anh mới vui lòng...
Hiểu được sự khác nhau, nên nhiều lúc bực mình đấy chỉ chép miệng: đàn ông mà....
Hiểu được sự khác nhau, nên nhiều lúc không hợp ý vẫn mỉm cười: Rõ đàn bà....

BungRieu
04-06-2003, 09:58 AM
Con Số 4 Thú Vị
Phụng Nghi

http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/nhung_con_so_4_vcb.jpg
=============================================


Tiền nhân ta thường nghiền ngẫm những hiện tượng quan trọng, lập đi lập lại trong cuộc sống để đánh giá, tổng kết và sắp hạng ưu tiên. Mục đích là để người đương thời và hậu thế noi theo, ứng dụng trong đời sống. Phần lớn những nhận xét đến nay vẫn còn giá trị, nhưng cũng có một số đã lỗi thời, theo biến chuyển của thời gian. Ngoài ra, dân gian thỉnh thoảng cũng tham gia ý kiến và sắp hạng với một tinh thần bông lơn, trào phúng. Có một điều thú vị là dân ta thường dùng con số 4 để sắp hạng những nhận định của mình. Cũng có lúc dùng các con số 2, 3, 5, 6, 7... nhưng ít hơn.

I. Nhận định về hiện tượng thiên nhiên

1. Về phương hướng có tứ phương : Ðông, Tây, Nam, Bắc.
2. Về thời tiết có tứ quí (cũng gọi là tứ thời) : xuân, hạ, thu, đông.
3. Có 4 loại cây tiêu biểu cho 4 mùa : mai, lan, cúc, trúc.
4. Tứ hải. Thời xưa người Trung Hoa cho rằng 4 mặt chung quanh đất liền là biển cả. Thuở ấy, người xưa chưa biết Trái Ðất là một quả cầu tròn vĩ đại, gồm nhiều lục địa, bao quanh bởi nhiều biển, chứ không phải chỉ có 4 biển mà thôi. Cho nên họ nói, cả nước, thậm chí cả thiên hạ (tức là cả thế giới) đều là "tứ hải". Do đó mới có các thành ngữ sau đây:
- Tứ hải giai huynh đệ : Trong bốn biển đều là anh em, tất cả loài người là đồng bào.
- Tứ hải vi gia : Bốn biển là nhà, nghĩa bóng là nói về con người giang hồ, đi phiêu lưu khắp đó đây, không ở nơi nào cố định.

II. Nhận định về hiện tượng xã hội

1. Về ngành nghề, theo quan niệm xưa, có 4 thứ hạng, gọi là tứ dân : sĩ, nông, công, thương. Vào thời đại quân chủ, người ta trọng kẻ sĩ, nhưng lúc mất mùa đói kém, thứ tự bị đảo lộn:
Nhứt sĩ nhì nông
Hết gạo chạy rong
Nhứt nông nhì sĩ.
Thời đại ngày nay, đặc biệt là tại nước Cộng Sản Việt Nam, việc sắp hạng trên đã lỗi thời. Làm "quan", làm người trí thức và nhứt là làm nhà văn, nhà báo, nhà giáo đều trở thành nhà nghèo. Thôi thì giải nghệ, làm "ông thương nghiệp", tức là làm nhà doanh nghiệp, buôn bán móc ngoặc, mánh mung cho khỏe tấm thân. Cho nên, có người đổi lại cách sắp hạng là : Nhứt thương, nhì công, tam nông, tứ sĩ.
Hiện nay (1998), tại Việt Nam, sinh viên chọn các môn học sau đây để tiến thân : Nhứt kinh, nhì tin, tam Anh, tứ luật (Kinh tế, tin học, Anh văn, luật khoa).
2. Về nghệ thuật có 4 ngành : cầm, kỳ, thi, họa.
3. Về nghề lao động có : ngư, tiều, canh, mục. Tức là nghề đánh cá, nghề đốn củi, nghề làm ruộng, nghề chăn nuôi. Ngày nay, ta gọi là ngư nghiệp, lâm nghiệp, nông nghiệp (gồm cả trồng trọt và chăn nuôi).
4. Trong nghề nông có 4 yếu tố sau đây vẫn còn giá trị : Nhứt nước, nhì phân, tam cần, tứ giống.
5. Tứ thi. Bốn bộ sách được coi là kinh điển của Nho giáo : Ðại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh Tử.
6. Tứ bảo. Bốn đồ vật quí báu của người trí thức : Giấy, bút (lông), mực, nghiên. Ngày nay, máy điện toán (computer) đã thay thế ba đồ vật ngày xưa (trừ giấy).
7. Tứ táng. Thời phong kiến 4 cách an táng người chết : Thủy táng, hỏa táng, thổ táng, điểu táng.
Tức là ném thi hài xuống sông, đốt thành tro, chôn dưới đất, phơi cho chim ăn.
8. Tứ đại đồng đường. Cha, con, cháu, chít, dân chúng rất xa lạ về cách sống này. Xưa kia, Việt Nam đã trải hơn 1000 năm Bắc thuộc, bị ảnh hưởng sâu xa về văn hóa Trung Hoa, cho nên trong xã hội ngày nay, "nhị đại đồng đường" và "tam đại đồng đường" vẫn còn phổ biến.
9. Tứ sắc là một trò chơi bài có 112 quân với 4 màu : xanh, vàng, đỏ, trắng.
10. Trong sinh hoạt thời trước tại nước ta, có 4 việc mà ta nên cẩn thận, không nên tùy hứng sáp vô, vì hậu quả có thể đem lại nhiều phiền toái :
Ở đời có bốn cái ngu,
Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu.

III. Nhận định về con người

1. Ở Trung Quốc, vào thời quân chủ, người ta quan niệm về trách nhiệm của một công dân như sau : Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. (Trau dồi bản thân, lo việc gia đình, điều khiển đất nước, đem lại hòa bình cho nhân loại).
2. Ðạo đức của con người, theo quan niệm xưa :
Ðối với phái nam : hiếu, đễ, trung, tín (thờ cha mẹ, trọng người lớn, hết lòng với nước, trọng lời hứa)
Ðối với phái nữ : Công, dung, ngôn, hạnh (Nữ công, nét mặt, nói năng, tánh nết).
3. Tứ duy. Ðạo đức xưa để duy trì lòng người : Lễ, nghĩa, liêm, sỉ.
4. Theo quan niệm của Phật giáo, có :
a. Tứ vô lượng tâm là tiêu chuẩn cho lối sống của người Phật tử : Từ, bi, hỉ, xả (Từ : tình thương, cứu khổ; Bi : thương xót, ban vui; Hỉ : vui mừng; Xả : bông bỏ, tha thứ)
b. Tứ diệu đế là 4 lẽ mậu nhiệm của Phật giáo : Sinh, khổ, diệt, đạo.
c. Tứ khổ là 4 cảnh khổ của đời người : sinh, lão, bịnh, tử.
5. Tứ bất tử.
a. Theo quan niệm duy tâm, có 4 hạng người bất tử : Thần, Tiên, Phật, Thánh.
b. Trong đời thường có 4 hạng người cũng được xem là bất tử:
- Người có đạo đức lớn
- Người có sự nghiệp lớn
- Người có tác phẩm văn học bất hủ lưu truyền lâu dài
- Người có công lao lớn
6. Tứ linh. Theo quan niệm xưa, có 4 con vật linh thiêng : long, lân, qui, phụng.
7. Tứ đổ tường. Bốn điều ham mê tai hại: Tửu, sắc, tài, khí (rượu, gái, đánh bạc, hút thuốc phiện)
8. Con người có 4 điều khác thường về diện mạo và ngoại hình : Nhứt lé, nhì lùn, tam hô, tứ móm
9. Tứ khoái. Con người có 4 khoái cảm :
Cữu hạn phùng cam vũ
Tha hương ngộ cố tri
Ðộng phòng hoa chúc dạ
Kim bảng quải danh thì
Nghĩa : Nắng lâu ngày gặp mưa ngọt, tức khổ lâu ngày gặp được sướng. Sống xa quê hương gặp bạn cũ. Ðêm tân hôn của vợ chồng. Tên được yết trên bảng vàng, tức bản đề tên các thí sinh đậu tiến sĩ trong thời đại khoa cử ngày xưa.

Tudoi
04-06-2003, 02:50 PM
Chú Tư công nhận cháu Búng Riêu có những công trình sưu tầm đáng giá về Văn hóa VN. Có thể thưởng cho cháu mề đay Bắc đẩu bội tinh về công việc này.

TruSiNang
04-16-2003, 12:06 PM
Thân chào các bạn,

Thấy đề mục này vui, nên TSN xin được góp bài chung vui với các bạn :)

Sắc Bất Ba Ðào

Ðến chơi nhà người quen, gặp lúc trời mưa, ra về không được, chúng ta thường mỉm cười nói với chủ nhà:

Vũ vô kềm tỏa năng lưu khách!

Cơn mưa không xiềng, không xích mà giữ khách ở lại được. Khi nói đến chữ "vô kềm vô tỏa" chúng ta nhớ ngay câu đối lại:

Sắc bất ba đào dị nịch nhân.

Sắc đẹp của người đàn bà không phải là sóng gió mà vẫn làm cho người ta chìm đắm. Nạn nhân nhiều lắm, kể sao cho xiết, nói sao cho cùng!

Vụ án tình xưa nhất mà lịch sử Việt Nam có ghi chép tường tận là chuyện Trọng Thuỷ - Mỵ Châu.

Trọng Thủy là con của Triệu Vũ Vương (Triệu Ðà) có nhiệm vụ giúp cha thôn tính nước Âu Lạc của An Dương Vương.

An Dương Vương có người con gái rất đẹp là Mỵ Châu, giỏi nghề chế tạo cung đồng và mũi tên bằng đồng.

Triệu Vũ Vương đã hơn một lần thua chạy trước những mũi tên đồng của quân Thục. Sai con là Trọng Thủy đến xin ở gởi rể với vua Thục và lén học nghề chế tạo cung đồng, tên đồng. Học nghề xong Trọng Thủy xin cáo biệt trở về đất Bắc. Lúc lâm biệt, chàng trao một tấm nệm lông ngỗng cho vợ và dặn rằng:

Ngày sau chắc có sự giao binh giữa hai nước, anh sợ vợ chồng ta sẽ thất tán, không tìm gặp lại nhau được. Em hãy nhận tấm lông ngỗng này, chạy đi đâu, em nhớ đánh dấu đưòng bằng vài sợi lông cho anh biết nơi mà tìm tới.

Sự việc sau này diễn tiến đúng như lời tiên liệu của Trọng Thủy.

Quân Triệu và quân Thục đánh nhau, Thục An Dương Vương thua, phải bỏ thành Cổ Loa mà chạy. Nhà vua vẫn đèo công chúa ái nữ phía sau yên. Quân Triệu truy kích bén gót. Nhà vua nghi ái nữ đồng tình với giăc, liền tuốt kiếm giết nàng, rồi tự trầm ở bờ biển Mộ Dạ (Nghệ An)

Tuy quân Triệu chiến thắng, song Trọng Thủy buồn tình, thất vọng đâm đầu xuống giếng sâu ở thành Cổ Loa mà thác.

Chuyện tình yêu bi đát được các nhà bình luận quân sự, văn học xưa nay góp ý phê phán khá nhiều.

Tuỳ Viên thi thoại phê rằng:

Bản dịch của Nguyễn Trọng Cẩn :

Cha con vua Triệu mở non sông,
Một đóa Lan Châu thực khéo trồng
Ba ngàn cung đồng theo chú rể,
Gớm cho lòng gái vị nhà chồng!

Chu Mạnh Trinh có bài "Quá Cổ Loa, Yết Mỵ Châu miếu, đề bích" (Qua thành Cổ Loa, yết miếu Mỵ Châu, đề thơ trên vách tường)

Bản dịch:

Tình chồng vốn nặng đức cha dầy
Mang mối kỳ oan mãi đến nay.
Thần trảo không thiêng rùa cũng mất
Minh châu ứa lệ, bạng chìm đây.
Bia tàn cây cỗi nghìn năm cũ
Bể biếc trời xanh một dạ này!
Quạnh quẽ ngôi đền, ngoài miếu điện
Tiếng quyên kêu đứt bóng trăng chầy.

Tương truyền rằng Trọng Thủy gieo mình xuống giếng sâu ở thành Cổ Loa. Nước giếng này có đặc tính rửa ngọc trân châu rất sáng đẹp. Nước Việt ta vẫn phải tiến cống thứ nước quý lạ đặc biệt này để cho các bà hậu phi bên Tàu rửa ngọc. Việc đài tải gian nan quá đỗi. Một sứ thần nước Việt Nam làm gan đổ thứ nước này đi, múc nước giếng thường thế vào. Ngọc rửa bằng nước giếng thường không sáng đẹp. Vua Tàu hỏi thì sứ giả đáp rằng:

- Ấy là vì tại lâu ngày, khí thiêng đã biến mất đi!

Thế là nước ta tránh khỏi phải cái nạn nước rửa ngọc.

Còn chuyện tên đồng thì có thực trăm phần trăm. Năm 1959, ở thành Cổ Loa khai quật được hàng vạn mũi tên đồng ba cạnh sắc bén. Các nhà khảo cổ đã dùng phương pháp C14 để minh định niên đại và xác nhận đó là những mũi tên đồng được chế tạo cách bây giờ gần 2000 năm.

Mối tình Trọng Thủy - Mỵ Châu là mối kỳ oan muôn thuở, nhắc lại đủ xuôi khiến người đời phải xúc động, bùi ngùi.

Tình chàng cùng với nghĩa cha,
Bên thì nghĩa trọng, bên thì tình thâm
Nỗi oan dai dẳng ngàn năm,
Ngọc Châu nước giếng tiêu trầm được sao ?


Nguyễn Quang Trứ
Truyện Hay Trong Sử Việt

BungRieu
05-08-2003, 12:53 PM
Cửu đỉnh, một giá trị trường tồn
Anh Chi
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/cuudinh.jpg
=============================================
Bộ đỉnh đồng gồm 9 chiếc đặt trước sân Thế Miếu ở thành nội Huế là bộ bảo vật rất nổi tiếng của triều Nguyễn, là sáng tạo độc đáo của những người thợ thủ công đúc đồng Việt Nam đầu thế kỷ XIX.

Theo sử sách triều Nguyễn, thì việc đúc cửu đỉnh là do vua Minh Mạng cho làm, khởi công từ cuối năm Minh Mạng thứ 16, ất Mùi (1835). Những người thợ tài hoa và cần mẫn làm việc liên tục cho đến giữa năm đinh Dậu (1837) thì hoàn thành. Chín chiếc đỉnh đồng - con số 9 biểu thị số nhiều nhất, và đồng là chất bền vững trường tồn - dụng ý của người cho tạo tác thật sâu xa. Và các đỉnh được đặt tên lần lượt là Cao, Nhân, Chương, Anh, Nghị, Thuần, Tuyên, Dụ, Huyền, dụng ý là mỗi đỉnh ứng với một triều vua Nguyễn. Dù ý của vua Minh Mạng vậy, nhưng thực tế, chỉ mới có 6 đỉnh ứng với các triều vua: Gia Long - đỉnh Cao, Minh Mạng - đỉnh Nhân, Thiệu Trị - đỉnh Chương, Tự đức - đỉnh Anh, Kiến Phúc - đỉnh Nghị và đồng Khánh - đỉnh Thuần. Ba đỉnh Tuyên, Dụ, Huyền chưa ứng với vua nào, bởi các sự kiện đầy biến động trên đất nước ta và rồi nước Việt Nam mới ra đời. Tuy vậy cả bộ cửu đỉnh đã được đúc hoàn tất và đặt trước sân Thế Miếu, thành 2 hàng: hàng trước chỉ một đỉnh cao, và hàng sau, gồm 8 đỉnh.

Với ý tưởng mỗi đỉnh biểu trưng một đời vua trong cửu tộc; mở đầu là Cao, tức người khởi dựng, và kết thúc ở Huyền, thế hệ sau cùng, ứng với nơi sâu thẳm; bảy thế hệ ở giữa gắn với bảy đức tốt: Nhân là lòng tốt, Chương là sự gương mẫu, Anh là tài giỏi vinh hạnh, Nghị là ý chí kiên cường, Thuần là sự hoàn thiện, Tuyên là sự hài hòa và Dụ là nền tảng sự thịnh vượng. Chính bởi vậy, mà những đôi chữ trên mỗi đỉnh được khắc nổi thành khối vuông vức, nét chữ vừa sắc khỏe vừa mềm mại. Từng đôi chữ tên đỉnh đẹp sâu sắc, có thể coi như một bức tranh chữ vậy. đôi chữ tên đỉnh ở vị trí giữa thân đỉnh, khi đặt vào vị trí, thì hướng vào phía án thờ trong nhà Thái Miếu. đối xứng với tên đỉnh, ở phía bên kia là những chạm khắc hình tượng vũ trụ: mặt trời, mặt trăng, các tinh tú kim mộc thủy hỏa thổ, và mây, gió mưa...

Ngoài hai mảng điêu khắc quan trọng như vừa nói trên, ở mỗi đỉnh còn 17 mảng chạm khắc bố trí hài hòa trên thân đỉnh. Mỗi mảng chạm khắc theo từng chủ đề riêng, có thể coi là những tác phẩm điêu khắc đồng khá hoàn chỉnh. Với những nội dung được người thợ đúc đồng và chạm khắc mô tả trên cửu đỉnh, có thể coi cửu đỉnh là bộ bách khoa thư về đất nước Việt Nam thống nhất và có chủ quyền. Những hình chạm khắc đề cập nhiều chủ đề cơ bản. Như về vùng trời vùng biển, có khắc hình biển đông, biển Tây, biển Nam, cửa Thuận An, cửa đà Nẵng, cửa Cần Giờ, cả dải Ngân Hà và Cầu Vồng. Như về sông ngòi, có những hình khắc tiêu biểu Sông Hương, Sông Hồng, Sông Lô, Sông Cửu Long, Sông Bến Nghé, Sông Gianh, Sông Bạch đằng, Sông Mã... Còn về các núi tiêu biểu với những chạm khắc núi Thiên Tôn, núi Ngự Bình, Hồng Lĩnh, Tản Viên, đại Lãnh, Hoành Sơn, ải Quảng Bình, ải Hải Vân... Rồi đến những đặc sản của đất nước có những bức chạm khắc cây cỏ, hoa trái, động vật, chim muông quý đẹp... Có những mảng mô tả các phương tiện giao thông của nước ta thời bấy giờ, chủ yếu là đường thủy, như các loại thuyền, các loại tàu lớn kể cả tàu bọc mũi đồng, rồi các loại xe vận tải bộ, xe tứ mã... Lại cả những mảng chạm khắc mô tả khả năng quân sự của đất nước hồi đó, những đại pháo, đại bác có xe kéo, súng trường, gươm giáo, tên nỏ...

Những tác phẩm chạm khắc đồng trên cửu đỉnh được các tác giả thể hiện tỉ mỉ, cẩn thận, sắc sảo đến từng chi tiết, và đặc biệt là hài hòa trong một tổng thể. Nghệ thuật chạm khắc và bố cục trên cửu đỉnh rất gần gũi với tạo hình chạm khắc dân gian. đó chính là cái đẹp tuyệt đỉnh trong điêu khắc cửu đỉnh. Và, đáng nói hơn, là tầm cỡ, kích thước và nội dung liên hoàn trên cả 9 chiếc đỉnh đồ sộ này, là một giá trị hoàn chỉnh thống nhất. Chiếc đỉnh lớn nhất, là đỉnh Cao, nặng tới 2,6 tấn. Tám đỉnh khác, nhỏ hơn một chút. Hãy hình dung, từ một trăm sáu mươi năm trước, công việc đúc đồng tạo tác cửu đỉnh còn được truyền tụng: để đúc mỗi đỉnh người thợ phải hiệp 60 lò nấu đồng lại, mỗi lò chỉ nấu chảy được 30 đến 40 cân đồng. Khuôn đúc lật ngược và người thợ rót nước đồng nóng chảy vào chân đỉnh. đúc xong đỉnh mới gắn đôi quai và các hình chạm nổi. Hàng trăm nghệ nhân của nghề đúc chạm đồng được huy động từ các phường nghề ở Huế và các phường nghề danh tiếng khắp nước. Lượng đồng đã đúc cửu đỉnh tới hơn 20 tấn. Kết quả lao động là đã ra đời một bức tranh hoành tráng về đất nước Việt Nam, rất hiện thực, nhưng mô tả được những điều thiêng liêng, sâu xa nhất đối với con người Việt Nam.

=================================================================

Tài nghệ của thợ đúc Cửu Đỉnh ở Huế

Nguyễn Thị Minh Tâm
Chỉ dụ của vua đặt tên cho từng đỉnh, theo thứ tự; Đỉnh lớn, ở giữa là "Cao Đỉnh" tượng trưng cho sự vĩ đại, đỉnh cao 2 m 02, đường kính 1,61 m. Tiếp theo là Nhân Đỉnh, tượng trưng cho lòng Nhân, cao 1,90 m, đường kính 1,62m.

"Chương Đỉnh" - (ánh sáng) - cao 1,88 m, đường kính 1,60 m.
"Anh Đỉnh" (hiển đạt) - cao 1,875 m, đường kính 1,61 m.
"Nghị Đỉnh" (cương nghị) - cao 2,08 m, đường kính 1,63 m.
"Thuần Đỉnh" (tinh khiết) - cao 1,88 m, đường kính 1,60 m.
"Tuyên Đỉnh" (sáng tỏ) - cao 1,89m, đường kính 1,63 m.
"Dũ Đỉnh" (phong phú) cao 1,88m, đường kính 1,61 m.
"Huyền Đỉnh" (sâu xa), cao 1,88m đường kính 1,61 m.

Chưa ai giải thích vì sao chiều cao, đường kính của các đỉnh sau Cao Đỉnh lại khác nhau và không theo một trật tự ưu tiên nào?

Ông Chovet Hiệu trưởng trường Bách Công Huế vào đầu thế kỷ, trong tập san B.ẠV.H (Những người bạn Cố Đô Huế, tiếng Pháp) năm 1914, đã có bài mô tả kỹ thuật đúc Cửu Đỉnh xưa. Tài liệu cho bài viết của P.Chovet do Thị Lang Nguyễn Xuân Thiều từng phụ trách việc đúc tiền của Triều đình cung cấp.

Theo P.Chovet những người thợ Huế đã đúc kim loại theo phương pháp từng mảnh nhỏ. Hệ thống gồm có lò bệ và lò nấu. Lò bệ gồm 2 ống gắn trên cái bệ. Bên trong có pittông, có hộc nén khí và có 2 ống thổi nối với lò nấu. Lò nấu đồng là loại lò nhỏ, chiều cao không quá 1 mét. Lò nồi này bằng đất sét đặt trên 2 thanh gỗ để kê và cho mẻ đúc chảy qua. Phía trong là một hỗn hợp đất và than củi nghiền với nhau làm nhiên liệu. Để nấu lò nồi ấy phải có một ống tròn bằng đất đặt trên, trong đó có một ống tròn nhỏ nối với lò bệ để thụt thổi gió vào. Người ta chất than củi, mồi lửa và thổi gió. Khi tất cả đã đỏ đều thì cho những mảnh đồng vào.

Nồi nấu chứa kim loại nấu chảy được làm sạch bụi than rồi đem đến gần nồi đúc theo các đường ray riêng. Đồng lỏng được đổ vào khuôn. Các loại lò đúc nhỏ ấy chỉ nấu được khoảng 35 kg đồng. Muốn đúc một đỉnh hơn 2.000 kg phải nấu một lúc 50 đến 60 lò. Lò đúc nếu đặt cao hơn mặt đất người ta phải làm giàn giáo hay mặt phẳng nghiêng để vận chuyển đồng lỏng lên.

Phức tạp và tinh xảo nhất là công đoạn làm khuôn. Xưởng làm khuôn đúc ngày xưa đặt tại vùng Canh Nông (Đại học nông lâm Huế bây giờ). Theo P.Chovet thì cách xây các khuôn đúc của những người thợ Việt Nam lúc bấy giờ có trình độ điêu luyện như những thợ đúc châu Âu. Các khuôn đúc các cỡ đúng theo tranh vẽ đã được đúc sẵn trên bệ gỗ, chạy tròn theo trục đứng của đỉnh. Người ta nhồi đất vào, nén theo dáng hình đúc. Khuôn đúc làm bằng nhiều mảnh, khi đúc thì ghép lại rất khớp theo bản vẽ. Các chân và quai thì đúc riêng rồi khớp với đỉnh ở khuôn chung. Việc chạm trổ và đánh bóng chiếm nhiều thời gian nhất do khối lượng công việc lớn, đòi hỏi tỉ mỉ, chính xác. Công việc nấu đồng, làm khuôn và đổ đồng vào khuôn phải có sự chỉ dẫn của các quan phụ trách để đảm bảo chính xác và ăn khớp.

Cửu Đỉnh được đúc trong 6 tháng từ tháng Chạp 1835 đến 6-1836, sau đó trang trí chạm trổ thêm 9 tháng nữa, đến 3-1837. P.Chovet cho biết: "Các cách làm của các thợ chạm An Nam không khác biệt các phương pháp áp dụng của thợ chạm châu Âu. Có một chi tiết khá hay: là các giũa và dao chạm đều do thợ tự làm bằng tay một cách thô sơ bằng cách dùng búa tán"!

Bằng tất cả sự khéo léo tài nghệ, thợ đúc đồng đã đúc nên tuyệt tác Cửu Đỉnh làm cho người châu Âu thời đó phải kinh ngạc thán phục.

boteo
05-08-2003, 02:10 PM
Hôm nay mới đọc cái thread này có nhắc đến "Vũ, sắc" bt có đọc 1 qua giai thoại về câu đó này, giờ kể ra mong ý kiến đóng góp của các anh chị.

Theo như bài bt đọc thì chuyện này xảy ra tại 1 lớp học. Hôm đó đến giờ về, bổng nhiên trời mưa nên các trò không về nhà. Vị thầy thấy thế mới ra câu đối
Vũ vô thiết tỏa năng lưu khách

Một học trò liền đáp:
Nguyệt hữu cung thương bất xạ nhân
Đại ý: Mặt trăng cũng có cung thương, nhưng chẳng bắn ai bao giờ.

Một người khác tinh nghịch đã đối:
Phẩn bất uy quyền dị sử nhân
phẩn chẳng có oai quyền gì nhưng làm người ta ghê tởm

Và sau cùng có một trò đáp:
Sắc bất ba đào dị nịch nhân

Vị thầy giáo ưng ý câu đối thứ 3 nhất. Theo baì viết bt đọc vị thầy khả ái trên còn dựa vào 3 câu trên để đoán giải tương lai của 3 trò. Và lời tiên đoán hình như ứng nghiệm hết. Người đối câu thứ ba giàu tình cảm, về sau cũng vì "sắc" mà bị trảm. Vị câu thứ 3 sau này 1 quan to đầy nhân hậu bất xạ nhân, còn người thứ hai thì lận đận vì thiếu nghiêm túc

Không biết giai thoại trên có thật hay chỉ là thêu dệt, gán ghép của người đời sau ????

qcluu
05-08-2003, 02:43 PM
Bài viết hay!!! Cảm ơn anh bt nghen!!!
Hỏng biết sao cứ mỗi lần nghe tới "Vũ vô thiết tỏa năng lưu khách", là Q nhớ hoài câu này trong "Đoạn Tuyệt", Dzũng đọc khi Dzũng sắp từ giả Loan ra về trong lúc trời đang mưa!!!

Mấy câu đối của anh cũng hay lắm! Trước giờ Q. chỉ biết có hai câu thuị
"Vũ vô thiết tỏa năng lưu khách
Sắc bất ba đào dị nịch nhân "

Giờ học hỏi thêm vài câu nữa! :p

boteo
05-09-2003, 10:19 AM
Q. sư huynh, nghe sư huynh khen mà bt nhìn lại thấy mình ... keo quá :p. Anh miệt mài gỏ loạt bài về điển tích trong truyện Kiều tốn thời gian và công sức biết bao, bt đã bao lần ra vô đọc ké ... rồi lại len lẻn ra đi không để lại lời cám ơn, thiệt là .... Được anh thích mấy câu này bt thấy cũng an ủi 1 tí, coi như trả được anh tí nợ ... mà ở đây bt nợ nhiều người lắm :D. Hỏng biết làm sao trả :( .

Hihi lúc ngồi ghi, bt suy nghĩ không biết có nên đưa câu thứ hai vào hay không sợ sẽ làm "bẩn" :) chốn thanh tao này của BR. Nhưng của Cesar thì trả lại Cesar. Huynh khen hay chắc tính huynh phóng hkoáng lắm hihi cuối tuần rồi cụng bia nha. Mời huynh :cheer: :cheer:

TruSiNang
05-10-2003, 10:56 PM
Thân chào các bạn,

Góp vui với các bạn về giai thoại liên hệ đến cơn mưa và Nguyễn Công Trứ (hồi còn bé gọi là Củng)

Cống Nghè

Một hôm về mùa hè, trời nóng nực quá, thầy dạy học dẫn lũ trẻ đi tắm cho mát. Khi đi qua đường, thấy có một cái cống xây ghép bằng thứ đá xanh, thầy thử trò:

“Ðá xanh ghép cống, hòn dưới chống hòn trên.:

Trò Củng đối ngay:

“Ngói đỏ lợp nghè, lớp sau đè lớp trước”

Tắm xong, thầy trò kéo nhau ra về. Gặp trời mưa, tất cả vào trú ở quán nước, lại gặp một người đàn ông đi cắt cỏ cũng vào trú mưa . Tạnh mưa, người đàn ông gánh cỏ ra đi trước . Thấy vậy, thầy lại thử trò, bảo làm ngay hai câu thơ vịnh (tức cảnh). Thầy chưa dứt lời, Củng nhà ta lại ứng ngay:

“Tạnh cơn phong vũ lò ngay mặt.
Sẵn gánh càn khôn ghé thẳng vai”

Theo Lê Xuân Giáo

BungRieu
05-13-2003, 08:53 AM
Ba câu hỏi

http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/socrate.jpg


=============================================

Ở Hilạp cổ xưa, nhà triết học Socrate vốn nổi tiếng thông thái và
uyên bác. Ngày nọ, một người quen đến gặp nhà triết học vĩ đại
này và nói: " Ông có muốn biết những gì tôi mới nghe được về
người bạn của ông không?"

- Chờ một chút - Socrate trả lời - Trước khi kể về người bạn của
tôi, tốt nhất anh nên suy nghĩ một chútvà chọn lọc những gì anh
định nói. Chính vì thế tôi muốn anh trả lời 3 câu hỏi.

Câu hỏi thứ nhất về sự thật. Anh có hoàn toàn chắc chắn
rằng những điều anh sắp kể là sự thật không?

- Ồ không - Người kia nói - Thật ra tôi chỉ được nghe nói về điều
đó thôi và...

- Được rồi - Socrate nói - Bây giờ là câu hỏi thứ 2, câu hỏi
về sự tốt đẹp. Có phải anh sắp nói những điều tố đẹp về người
bạn của tôi không?

- Không, mà ngược lại là...

- Thế à - Socrate tiếp tục - Còn một câu hỏi cuối cùng, câu
hỏi về sự hữu ích. Tất cả những điều anh sắp nói về bạn tôi thật
sự sẽ cần thiết cho tôi chứ?

- Không, cũng không hoàn tòan như vậy.

- Vậy đấy - Socrate kết luận - Nếu những gì anh muốn kể không
có thật, cũng không tốt đẹp, thậm chí cũng chẳng cần thiết cho
tôi thì tại sao anh lại phải kể?

-----------------------------

Có thể những điều trên đây, bạn đã đọc ở đâu đó một lần rồi,
nhưng mà nó thật sự có ích phải không các bạn. Hi vọng bạn sẽ
bình tĩnh hơn khi nghe ai nói về người bạn của bạn nếu bạn đã
đọc câu chuyện trên !

BungRieu
05-14-2003, 08:47 AM
Chữ Tín
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/chu_tin.jpg
=============================================


1. CÁI ĐỈNH

Nước Lỗ có một cái đỉnh rất quí. Nước Tề bắt phải đem dâng. Vua Lỗ tiếc lắm, cho làm một cái đỉnh giả đưa sang.

Vua Tề bảo: "Phải có Nhạc Chính Tử đem đỉnh sang nói, thì ta mới tin".

Vua Lỗ cho gọi Nhạc Chính Tử đến, bảo đị

Nhạc Chính Tử hỏi: "Sao không đưa cái đỉnh thật"?

Vua Lỗ nói: "Ta quí cái đỉnh ấy lắm".

Nhạc Chính Tử thưa: "Nhà vua quí cái đỉnh ấy thế nào, thì tôi quí cái đức "Tín" của tôi như thế".

Sau vua Lỗ phải đưa đỉnh thật, Nhạc Chính Tử mới chịu đị



2. THANH GƯƠM

Quí Trát là con vua nước Ngô đi du lịch các nước. Khi qua nước Từ vào thăm vua Từ. Vua Từ thấy Quí Trát có thanh gươm báu, muốn xin, mà chưa dám nóị Quí Trát trong bụng cũng định cho, mà chưa dâng đươ.c, vì cuộc du lịch chưa xong. Khi ở nước Tần về, thì vua Từ đã mất rồị Quí Trát không biết làm thế nào, đành phải đem thanh gươm đến treo chỗ gốc cây bên mộ vua Từ, rồi mới về.

(Sử ký)



GIẢI NGHĨA:

Lỗ: Một nước chư hầu nhỏ thời Xuân Thu Chiến quốc, ở vào địa phận tỉnh Sơn Đông bây giờ.

Tề: Một nước chư hầu lớn, thời Xuân Thu Chiến quốc cũng ở vào địa phận tỉnh Sơn Đông bây giờ.

Nhạc Chính Tử: Người nước Lỗ thời Xuân Thu, học trò giỏi thầy Tăng Tử.

Quí Trát: Con út vua Ngô, một bư.c danh nhân thời Xuân Thụ

Du lịch: Đi chơi trải qua nhiều nơi để xem nhân dân phong tục.

Ngô: Tên nước thời Xuân Thu, bây giờ ở vào địa phận phía nam sông Hoài, sông Tư? cho đến tỉnh Thiết Giang.

Tấn: Một nước đời Xuân Thu, đến đời Chiến Quốc bị họ Hàn, họ Triệu, họ Ngụy lấy mất và chia làm ba nước, ở vào tỉnh Sơn Tây và một phần Trư.c Lệ bây giờ.



LỜI BÀN:

Nhạc Chính Tử không chịu đem đỉnh giả, Quí Trát không chịu về không cho gươm, đều là những người biết trọng chữ "Tín" cả. Giả không nói là thật đã quí, mới hứa trong bụng mà cố làm cho đươ.c, lại quí hơn nữạ Ôi! xưa nay chữ tín có giá biết ngần nào! Chữ tín liệt rõ trong ngũ thường người ở đời giao thiệp cốt lấy chữ tín làm chủ. Cho nên cổ nhân có những câu như: "Nhân vô tín bất lập" (Khổng Tử) nghĩa là người không có tín thì không đứng đươ.c ở đờị

"Tín vì quốc chi bảo" (Tấn Văn Công) nghĩa là tín là cái báu của cả nước

TruSiNang
05-21-2003, 12:38 PM
Xuất Xứ Của Câu Ðối.

Có hai câu thơ tuy bằng chữ Nho, nhưng đã đi sâu vào ngôn ngữ của dân tộc Việt Nam:

Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách
Sắc bất ba đào dị nịch nhân

(mưa không then khóa hằng lưu khách
Sắc chẳng phong ba dễ đắm người),

Kẻ viết bài này may mắn được biết rõ xuất xứ của hai câu đó, vậy xin biên chép dưới đây để quý vị đồng hương nhàn lãm .

Sự tích của hai câu này được ghi rõ trong cuốn Kiến Văn Lục, viết bằng chữ Hán, của Lê Quý Ðôn, đã được trung tâm Học Liệu Bộ Quốc Gia Giáo Dục, dịch ra Việt Ngữ và in thành sách giáo khoa vào năm 1960 . Hai câu này là hai câu đối, người ra đối là Ðàm Thận Huy, một trong 28 vị trong Tao Ðàn đời vua Lê Thánh Tôn, người đối là Nguyễn Giản Thanh, một người học trò của Ðàm Thận Huy và sau này đỗ Trạng Nguyên năm Mậu Thìn 1508, tục gọi là Trạng Me .

Danh tính của Ðàm Thận Huy và Nguyễn Giản Thanh đã được ghi vào lịch sử và văn chương của quốc gia dân tộc Việt Nam . Ðàm Thận Huy là một nghĩa sĩ đời Lê có tên trong cuốn Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim. Nguyễn Giản Thanh thì có tên trong cuốn Việt Nam Văn Học Sử Yếu của Dương Quảng Hàm.

Ðàm Thận Huy, một vị Tiến sĩ làm Lại Bộ Thượng Thư và nhân viên hội thơ Tao Ðàn dưới triều Lê, khi về trí sĩ mở trường dạy học.

Một hôm, sau buổi học, trời trở mưa, các học trò không về đuợc. Ông thầy Ðàm Thận Huy mới ra một câu đối tức cảnh để thử tài các học trò . Câu đối như sau:

Vũ vô quan tỏa năng lưu khách

Quan tỏa, chớ không phải kiềm tỏa. Quan nghĩa là cửa. Tỏa nghĩa là cái khóa. (Mưa không có cửa, không có khóa mà cũng giữ được khách, không cho khách về.)

Người học trò đầu tiên đối được là Nguyễn Giản Thanh, đối rằng:

Sắc bất ba đào dị nịch nhân

(Sắc đẹp không có sóng gió, mà cũng dễ làm say đắm lòng người.)

Nguyên do là ông thầy Ðàm Thận Huy có cô con gái đẹp, anh học trò Nguyễn Giản Thanh mới đối như vậy, để gián tiếp tỏ tình và ướm lòng, vì Nguyễn Giản Thanh muốn ngấp nghé con gái của ông thầy. Nhưng Ðàm Thận Huy là một người nghiêm nghị, tuy phục tài Nguyễn Giản Thanh nhưng có ý không bằng lòng về tính lẳng lơ của người học trò này. Một số học trò khác có mặt lúc đó tỏ vẻ không bằng lòng về thái độ của Nguyễn Giản Thanh, vì theo quan niệm của Khổng Giáo ngày xưa, ông thầy có một địa vị rất cao quí trong xã hội, chỉ kém có vua (quân, sư, phụ). Nhắc tới việc tình ái trước mặt thầylà một điều vô lễ đối với ông thầy. Do đó, một người học trò khác là Nguyễn Hữu Nghiêm đối rằng:

Phẩn bất kinh quyền, dị khiếp nhân .

(Phân không có quyền thế, nhưng có thể làm cho người ta khiếp sợ.)

Một người học trò khác mới hỏi Nguyễn Hữu Nghiêm:

- Sao anh lại dùng chữ phẩn, nghe thô tục quá ?

Nghiêm trả lời rằng:

- Tôi đối câu đó để dằn mặt Nguyễn Giản Thanh, vì hắn đã dám vô lễ đối với thầy, nói tới tình ái trước mặt thầy .

Về sau Nguyễn Hữu Nghiêm đậu Thám Hoa năm mười tám tuổi và cũng là một nghĩa sĩ có tên trong cuốn Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim.

Trong số những học trò của Ðàm Thận Huy, có rất nhiều người về sau đỗ đạt to, đủ mặt tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhỡn, Thám hoa). Ðàm Thận Huy gả con gái cho một học trò về sau này đỗ Bảng Nhỡn . Người học trò này là người đã đối như sau:

Nguyệt hữu loan cung bất xạ nhân
(Mặt trăng có cái cung nhưng không bắn người).

Ðàm Thận Huy khen người trung hậu và gả con gái cho (gả khi người học trò còn là bạch diện thư sinh, chưa đỗ đạt gì). Người học trò nầy tên là nguyễn Chiêu Huấn. Về sau, con cháu ngưòi học trò nầy cũng rất hiển đạt, nhiều đời đậu tiến sĩ .

Ðông Ngàn
Truyện Xưa Nay