View Full Version : Quê Hương Mến Yêu - Địa Lý - Địa Danh - Đặc Sản
BungRieu
03-21-2003, 07:32 AM
Quê Hương Mến Yêu - Địa Lý - Địa Danh - Sưu Tầm
Chào các Anh Chị và các Cô các Chú ....
BR hay lang thang trong Net mỗi khi có giờ ... thấy và học được nhiều cái hay và cũng có nhiều cái dở ... Thường thì BR bookmark lại những gì hay và có giá trị ... Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó là những cái trang web đó bị chết ... thành ra muốn kiếm lại cũng không được nữa .... vì vậy BR đánh liều mở thread này để lưu lại và cũng muốn mang về để các Anh Chị cùng được đọc...
Có nhiều Cô, Chú, Thím vẫn thường PM cho BR những sites, webpages, hoặc những tài liệu rất có giá trị ... nên BR cũng muốn share luôn ....
BR sẽ cố gắng post thật nhiều mỗi khi có thì giờ ....
Mong các Anh Chị , các Cô, các Chú , các Thím cùng đóng góp đễ mọi ngườì cùng được đọc và học hỏi ....
BR sẽ cố găng Update cái List đều đặn mỗi khi có bài đóng góp mới ....
==================================
Dưới đây là Danh Sách của những bài đã đăng trong thread này..
1. Sông Cửu Long và Môi sinh trong vùng ....
2. Lich sử Nam Tiến ....
3. Khuyển Dưỡng Nghị và Tôn Nhật Tiên ....
4. Chè bưởi Cần Thơ
5. Trà Bảo Lộc ....
6. Con Dông Thuận Hải ....
7. Daklăk - Ché rượu Cần ....
8. Đà Lạt : Sự hình thành và phát triển ...
9. Mắm Châu Đốc hương vị quê nhà ...
10. Bát Trân trong ẩm thực Viet Nam xưa
11. 12 Lễ tết cổ truyền
BungRieu
03-21-2003, 08:11 AM
Sông Cửu Long và Môi sinh trong vùng
Nguyễn Trúc Giang
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/songcuu_long.jpg
Trong những năm gần đây, chúng ta thường chứng kiến những nạn lụt tại miền đồng bằng Sông Cửu Long, thường hơn những thập niên trước, với một nhịp độ ngày càng tăng, gần như nạn lụt xảy ra hàng năm. Trong giữa năm 2002, chúng ta lại chứng kiến một việc khác thường là việc hạn hán tại một số tỉnh ven sông Cửu Long. Người ta có lúc đổ tội cho triệu chứng mà các nhà thời tính học gọi là El Nino (Ðứa bé vì nó thường bắt đầu vào mùa Giáng sinh) mà họ chưa giải thích được một cách khoa học những nguyên do. El Nino gây ra những cơn mưa thật lớn và từ đó có nhiều cơn lụt ở một số quốc gia vùng nhiệt đới quanh Thái Bình Dương. Sau triệu chứng El Nino, là triệu chứng ngược lại là El Nina là những cơn mưa dứt hẵn, tạo ra hạn hán tại nhiều nơi với hậu quả liên hệ là những cuộc cháy rừng, như vụ cháy rừng khổng lồ tại Nam Dương cách đây vài năm. Những năm gần đây, không còn triệu chứng El Nino nhưng đồng bằng sông Cửu Long vẫn bị lụt và như đã nói, năm nay lại bị hạn hán. Chúng ta phải tìm nguyên do ở nơi khác.
Sông Cửu Long, dài 4350 cây số, là con sông dài thứ 12 trên thế giới, bắt nguồn từ Tây Tạng xa xăm, để 4200 cây số sau, đổ ra biển Ðông qua 9 cửa sông, vì thế, tên Việt Nam của con sông này là Cửu Long. Từ Tây Tạng, con sông này chạy ngang qua Trung Quốc để đến Miến Ðiện, Lào, Thái Lan, sau đó Cao Miên và ngay tại thủ đô Nam Vang (Phnom Penh) chia ra hai nhánh đổ ra biển Ðông. Ðồng bằng sông Cửu Long là xứ cấu tạo của các phù sa mà dòng sông đã vun bồi suốt hàng triệu năm. Từ xưa đến nay, con sông Cửu Long, cũng như hầu hết các con sông lớn nhỏ trên thế giới, đã đóng một vai trò quan trọng cho những người dân sống ven sông (ước lượng ngày hôm nay là 70 triệu) và trên những con sông phụ lưụ Ðó là nguồn nước để làm ruộng để canh tác, đó là nguồn cá vô tận, đó là con đường lưu thông để trao đổi thương mại và nếu biết khai thác đó có thể là nguồn năng lực mà cách đây vài chục năm, các kỹ nghệ gia Tây Phương gọi là than trắng.
Sau mấy trăm năm khai khẩn vùng đồng bằng sông Cửu Long đã trở thành vựa lúa Việt Nam và là nơi trồng trọt các hoa quả nhờ một hệ thống dẫn thủy nhập điền quy mô và phức tạp biến những vùng đất phèn trở thành những vùng đất phì nhiêu, ngăn chận những luồn nước mạn của biển cả. Do đó, một sự thay đổi nào bắt nguồn từ vùng thượng lưu của con sông Cửu Long cũng có thể có những ảnh hưởng lớn lao và trầm trọng đến sự thăng bằng đã dày công tạo dựng trong hằng mấy thế kỷ. Vì thế sự khai thác của sông Cửu Long không thể nào là một sự quyết định đơn phương của một quốc gia sông ven sông mà phải là một quyết định chung của các quốc giạ Vì thế, một Ủy Ban Sông Cửu Long (Mekong River Commission) đã ra đời vào năm 1959 với sự tham gia của 4 quốc gia là Thái Lan, Cao Miên, Lào và Việt Nam. Lúc đó vì là thời chiến tranh lạnh nên Trung Quốc không tham gia.
Sau biến cố 1975, Ủy Ban này đã tạm ngưng các công việc, cho đến năm 1995, Ủy Ban này tái hoạt động với những quốc gia thành viên như trước nhưng với những thể chế mớị Trung Quốc vẫn không tham gia mặc dù ít ra 2 quốc gia trong Ủy Ban (Việt Nam và Lào) có những chánh quyền theo chế độ Xã Hội Chủ nghĩa, đang bị đảng Cộng Sản Trung Quốc kềm chế. Thật ra, Ủy Ban Cửu Long chỉ quyết định được về các đề án thuộc vùng Hạ Lưu sông và Thái Lan là đại diện để điều đình với Trung Quốc và Miến Ðiện (từ năm 1956 Tây Tạng đã bị Trung Quốc đóng chiếm) về những đề án liên quan đến vùng Thượng Lưu sông Cửu Long.
Trung Quốc dự trù xây cất 8 con đập có khả năng sản xuất 15000 MW trên vùng Thượng Lưu để phát triển vùng Vân Nam nhưng không hội ý với các quốc gia trong vùng Hạ Lưu (trừ Thái Lan vì Thái Lan đã đồng ý để xây dựng 1 trong 8 đập đó). Ðập thứ nhất, Man Wan, cao 126 thước, đã được hoàn tất vào năm 1996 và một đập thứ hai, Da chao San, cao 110 thước dự trù sẽ hoàn tất vào năm nay (2003) và lúc đó sẽ khởi công xây đập thứ ba, Xiao Wan, một trong những án khổng lồ của Trung Quốc, dự trù hoàn tất vào năm 2013. Ðập này sẽ cao 292 thước với hồ chứa nước dài 169 cây số và phải di chuyển hơn 30 000 người dân. Các công trình xây cất chỉ dựa vào những báo cáo mà không có một cuộc nghiên cứu từ Trung Quốc về những lợi hại cho vùng Hạ lưu của sông hay những ảnh hưởng môi sinh cho các thổ dân.
Ðúng ra có một báo cáo nộp cho Ngân Hàng Phát Triển Á Châu (Asian Development Bank, ADB) vào tháng 5-2000, của ông Plinston, người Anh, và một viên chức của đảng Cộng Sản Trung Quốc, ông He Daming, thuộc Ðại học Vân Nam. Báo cáo này quả quyết rằng các đập dự trù sẽ không ảnh hưởng đến vùng Hạ lưu và đề nghị nên xây thêm nhiều đập khác. Báo cáo này rất thích hợp cho ADB hay những cơ quan quốc tế tài chánh khác, để họ tiếp tục đóng vai trò cố vấn luôn luôn ủng hộ những đề án đồ sộ có đặc điểm phát triển nhất thời và không bao giờ lưu tâm đến những ành hưởng lâu dài (hơn 20 năm).
Trường hợp này đã xảy ra tại Ai Cập với đập Assouan. Song song, một báo cáo khác của ông Adamson của hãng Halcrow, một công ty chuyên về thủy lợi, cho thấy một viễn ảnh khác và viễn ành này rất là lo ngại: 50% phù sa sẽ bị chận vì các đập này, lưu lượng nước sẽ thay đổi và Cao Miên sẽ bị ảnh hưởng rất nặng nề vì Biển Hồ (Tonle Sap) sẽ không được cung cấp nước vào mùa nước lũ và sẽ không đóng được vai trò điều hòa nước vào mùa hạn, do đó vùng đồng bằng sông Cửu Long sẽ có thể bị nước mặn triền miên. Nhưng tai hại hơn hết là khi Trung Quốc xây xong những đập như dự trù, họ có khả năng, vô tình hay cố ý, làm lụt vùng hạ lưụ Ðó là chưa kể nhũng hiểm họa về môi sinh (như đã chứng kiến với đập Assouan): các loài cá sẽ thiếu những nguồn cung cấp thực phẩm vì không còn phù sa, v.v...
Những dự án của Thái Lan và Lào cũng tai hại không kém. Lào cũng dự trù xây một số đập với Thái Lan có những nguồn năng lượng để cung cấp cho các quốc gia lân cận (như Thái Lan!) và Thái Lan sẽ có những dự trữ nước ngọt (từ các đập trên sông Cửu Long hay những đập xây trên các sông phụ lưu nằm trên lãnh thổ nước Thái hay nước Lào như đập Nan Theun 2 - với sự ủng hộ của Ngân Hàng Thế Giới - trên sông Theun, một phụ lưu quan trọng của sông Cửu Long) cho vùng đông bắc Thái là vùng phát triển canh nông trong những thập niên tới. Việc tai hại là những nguồn nước cho các ruộng nương của Thái Lan sau đó sẽ thấm vào đất và sẽ đổ vào sông Chao Prayah mà sẽ không trở vào sông Cửu Long. Việt Nam cũng không kém trong cuộc thi đua làm tắt nguồn nước cho sông Cửu Long như khi xây những đập (Yali) trên sông Sesan.
Nguyên do trước mắt để xây các đập này thật sự không phải là nguồn năng lượng nhưng thật sự là gỗ mà các viên chức Lào hay Việt Nam có thể cung cấp cho ngoại quốc ngay ngày hôm naỵ Sau đó là dịp để thu được một số tiền do các cơ quan ngoại quốc tài trợ để di chuyển những người dân đang sinh sống trên các vùng sẽ bị ngập vì theo một báo cáo của cơ quan chuyên nghiên cứu về sông ngòi (International River Networks) thì đa số không nhận được tiền bồi thường.
Vấn đề sông Cửu Long là một vấn đề quan trọng và sự hợp tác quốc tế rất là cần thiết. Sự hiện diện trong các cơ quan đó chỉ có lợi khi người đại diện bảo vệ quyền lợi quốc gia mình trong việc chia xẻ những nguồn tài sản. Ðó là một việc mà chúng ta thấy là đảng cầm quyền Cộng Sản Hà Nội quên lờ đi, nhất là khi đối thoại với quan thầy Trung Quốc. Họ thích bóc lột những đồng bào nghèo đói ở vùng Tây Nguyên hơn là bảo về quyền lợi của quốc giạ Chúng ta đã thấy họ bán lãnh thổ khi họ ký Hiệp định về biên giới với Trung Quốc.
Chúng ta phải ngăn chận việc họ đang bán nguồn tài nguyên vô giá là nước vì nước là nguồn sinh sống cho mọi loài vật, cho loài người, cho người nông dân.
BungRieu
03-21-2003, 09:37 AM
Nam Tiến
Nguyên Hương
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/bandonamtien.jpg
Ngược dòng thời gian, trở lại buổi sơ khai của cuộc Nam tiến của Ông Cha chúng ta: Họ là những người không thích luồn cúi, nịnh hót, bợ đỡ; yêu chuộng tự do phóng khoáng, đi khai phá, chinh phục rừng sâu, nước độc, đầm lầy; chiến đấu với cọp, beo, cá sấu, rắn độc, muỗi mồng, đỉa vắt. Họ biến hoang vu thành làng mạc, phố xá. Tất cả đặc tính và hình ảnh trên đã được Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy diễn tả khá rỏ ràng:
Họ là những kẻ tự muôn nghìn thuở trước
Đã phá rừng,xẻ núi,lấp đồng sâu
Và làm cho những đất cát hoang vu
Biến thành một giải san hà gấm vóc.
Họ là những kẻ không nài đường hiểm hóc,
Không ngại gì hăng hái vượt trùng sơn
Để âm thầm chuẩn bị giũa cô đơn
Cuộc Nam tiến mở giang sơn lớn rộng.
Trong cái giải giang sơn lớn rộng đó,mỗi địa phương,do thiên nhiên và con người tác động , tạo nên những nét đặc thù.Do đó chúng ta có SàiGòn, Huế, Hà Nội, Đà Nẳng, Nha Trang, Đà Lạt, Biên Hòa, Tây Ninh, Gia Định, MỹTho, BếnTre, VĩnhLong, CầnThơ, Sóc Trăng, Bặc Liêu, Rạch Giá, Càmau v.v.
===============
Ðọc lịch sử Việt Nam, người ngoại quốc nhận thấy có hai nét đặc trưng nổi bật: sức sống mãnh liệt của dân tộc Việt Nam và sự tham gia, hội diện với các nền văn minh bên ngoài, đặc biệt vùng biển Nam Á là nơi họp mặt giao thương của các nước Tây Phương từ thế kỷ 16.
Sức sống mãnh liệt ấy được nhìn thấy rõ qua cuộc Nam Tiến trường kỳ và liên tục (1).
Vừa thoát khỏi vòng đô hộ Trung Hoa giành lại quyền tự chủ, người Việt Nam lần hồi bành trướng lãnh thổ, lấn đất Chiêm Thành trong lịch sử năm thế kỷ, từ đó đi lần xuống đồng bằng sông Cửu Long, đụng độ với Phù Nam-Chân Lạp, lập nên Gia Ðịnh Thành mênh mông trù phú, Nam Việt ngày nay.
Quá trình phát triển đất đai về sau lịch sử gọi là Nam Tiến, hai chữ Nam Tiến viết hoa, bao gồm không những lịch sử cận đại Việt Nam, mà cả lịch sử Chiêm Thành và Phù Nam (Chân Lạp) văn hóa phồn thịnh lâu đời. Có thể nói được rằng lịch sử cận đại Việt Nam một phần không nhỏ là lịch sử Nam Tiến mà cao điểm là thời đại Gia Long, kết thúc với triều đại Minh Mạng hình thành quốc gia Việt Nam văn hiến, hùng cường đầu thế kỷ 19. Nhìn lại lịch sử xa xưa, lãnh thổ nước ta cho đến đời nhà Lý chỉ quanh quẩn vùng núi Hoành Sơn và miền trung du sông Hồng, sông Lam trở xuống; đến đời nhà Trần, chưa vượt quá đèo Hải Vân. Ðời Hậu Lê, cùng với chừng ấy diện tích lãnh thổ, có thêm vùng Thuận-Quảng, dân số tăng gia đến mức độ nhân mãn, đất đai đồng bằng sông Nhị Hà bắt đầu già nua kiệt lực.
Ðất nước đang chuyển mình (mà dấu hiệu đầu tiên là cuộc tranh chấp Nam-Bắc Triều, họ Lê, họ Mạc), cần thêm nguồn sinh lực mới. Ðây chính là thời điểm cuộc Nam Tiến chuyển đổi giai đoạn. Mặc dù phải tận lực đương đầu khó khăn và nguy hiểm với họ Trịnh trong cuộc nội chiến Ðàng Trong-Ðàng Ngoài, các chúa Nguyễn đã khôn khéo, lợi dụng đúng lúc tình hình chính trị bất ổn vì tranh chấp nội bộ của Phù Nam-Chân Lạp, tiếp tục cuộc Nam Tiến xa hơn, từ Tiền Giang-Hậu Giang nối liền đến kinh đô Nam Vang.
Ðàng Trong vừa mở mang bờ cõi phương Nam, nới rộng ranh giới phương Tây; vừa chiếm đất từng bước, vừa khai thác kinh dinh thật sự, chắc chắn vững vàng, tạo thế lực cho một phương Nam hùng cứ khởi sắc.
Ðất đai mới đem lại yếu tố văn hóa; cuộc Nam Tiến ăn sâu bén rễ lâu ngày tạo nên sức mạnh tinh thần cho lớp di dân Ðàng Trong. Sống chung Chiêm Thành và Chân Lạp chỉ mới là lớp sóng xao động Nam Tiến bên ngoài buổi ban đầu giao lưu, sinh hóa, trưởng thành, kết tinh nền văn hóa, văn minh Phú Xuân-Việt Nam chính là điểm thành tựu sau cùng cần được các sử gia ngày nay phân tích sâu rộng.
Nếu chỉ nhìn Nam Tiến như một sự kiện cô lập trong không gian, giới hạn Nam Tiến qua những biên niên năm tháng hay địa danh, sẽ không thấy rõ hết sự nối tiếp liên tục vận động lịch sử mang dấu tích thời đại; nói rõ hơn ý nghĩa và ảnh hưởng Nam Tiến đối với quốc gia dân tộc Việt Nam.
Từ thế kỷ thứ 10, trên giải đất Việt Nam ngày nay đã có ba nền văn hóa, văn minh biệt lập: văn hóa Ðông Sơn nước Ðại Việt, văn hóa Lâm Ấp-Chiêm Thành và văn hóa Phù Nam-Chân Lạp phát triển tận cùng với đế quốc Khmer. Châu Ô, Châu Lý sát nhập vào bản đồ Ðại Việt (1306), Hóa Châu (Huế) đã trở thành địa bàn giao lưu, hội tụ hai nền văn hóa Ðông Sơn và Sa Huỳnh (Chiêm Thành) lâu dần kết tụ thành văn hóa Thuận Hóa-Phú Xuân, riêng biệt với bản sắc Huế nhưng vẫn hòa đồng với văn hóa Ð?i Việt miền Bắc.
Ði xa hơn vào phương Nam, giao thoa với văn hóa Óc Eo-Phù Nam-Chân Lạp, lần này trong một không gian văn hóa tỏa rộng đến thế giới Nam Hải với các hải đảo xa xôi mang dấu tích văn minh Ấn Ð?. Cương giới mở rộng gấp đôi so với các đời Lê, Lý, Trần, Ðàng Trong có đủ điều kiện kết tinh từ văn hóa Thuận Hóa-Phú Xuân đến văn hóa Huế-Việt Nam trong một quốc gia xây dựng trên vương triều hoàn chỉnh, một nền thống nhất to lớn thật sự lần đầu tiên từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau. Và kinh đô Phú Xuân-Huế từ nay nghiễm nhiên là trung tâm văn hóa cả nước, muôn dặm tạo cơ đồ, đời đời văn hiến, như còn ghi khắc nơi điện Thái Hòa:
Văn hiến thiên niên quốc
Xa thư vạn lý đồ...
Dưới đây trước hết là những nét đại cương về lịch sử Nam Tiến, tiếp theo bàn về ý nghĩa và ảnh hưởng công trình Nam Tiến đối với vận mệnh quốc gia Việt Nam. *
Nhìn lại lịch sử Nam Tiến
Trận chiến lớn đầu tiên Việt-Chiêm xảy ra đời Tiền Lê (905-1005): hai lần vua Lê Ðại Hành cử binh "phạt" Chiêm: Chiêm vương bỏ thành chạy, kinh đô thành trì bị quân ta đốt phá, vàng bạc châu báu tịch thu khá nhiều. Trong thế yếu, Chiêm Thành xin triều cống, nhưng rồi lại tìm cơ hội đối địch, cũng là lẽ tự nhiên xưa nay.
Nối tiếp cuộc hành quân năm 1044 đời vua Lý Thái Tông, năm 1069 vua Lý Thánh Tông thống lãnh binh mã, đổ bộ lên cửa bể Thi Lợi Bỉ Nại (Sri Banoy) tiến chiếm kinh đô Vijaya. Chế Củ (Rudravarman III) xin dâng ba châu Ðịa Lý, Ma Linh và Bố Chính (Quảng Bình-Quảng Trị) (2). Cuộc chiếm đất chỉ có tiếng vì sau đó không lâu, Chiêm Thành lại nổi lên đòi lại.
Năm 1075, Lý Thường Kiệt cử binh đánh Chiêm Thành nhưng không thành công, ngoài việc vẽ bản đồ ba châu nói trên.
Làm lễ cưới công chúa Huyền Trân, năm 1306 Chế Mân (Jaya Sinhavarman III) xin dâng hai châu Ô-Lý, một năm sau đổi thành Thuận Châu, Hóa Châu. Chế Mân chết, Chế Chỉ và Chế Năng (Chế Ðà A Ba Niên) liên tiếp nối ngôi không ngừng mưu định khôi phục Thuận Châu-Hóa Châu. Vua Trần Anh Tôn năm 1311 lại có dịp "phạt" Chiêm, bắt được Chế Chỉ (Jaya Sinhavarman IV) đem về Thăng Long. Hận thù Chiêm-Việt thêm sâu sắc kể từ đây.
Sau trận chiến Chiêm-Việt năm 1318, nội bộ Chiêm Thành chia rẽ. Thất bại trong việc tranh giành ngôi vua với anh rể Trà Hoa Bồ Ðề (năm 1342), con Chế Chỉ là Chế Mổ chạy sang cầu cứu Ðại Việt. Vua Trần Dụ Tôn cho đưa Chế Mổ về nước (1353), nhưng vừa đến Cổ Lũy (Tư Nghĩa-Quảng Ngãi) thì bị chận đánh, phải trở về Thăng Long.
Mấy năm sau Chiêm vương Trà Hoa Bồ Ðề sai sứ sang đòi lại Hóa Châu. Cuộc vận động ngoại giao không thành, và cả bằng vũ lực sau đó cũng thất bại liên tiếp mấy lần. Ðến lượt nhà Trần suy yếu và nước láng giềng phương Nam vùng dậy. Vị anh hùng của dân tộc Chiêm Thành trong giai đoạn này (1369-1390) là Chế Bồng Nga sau này ra vào Thăng Long "như chỗ không người," vua tôi nhà Trần mấy phen hãi hùng khiếp sợ phải đi lánh nạn.
Lần đầu tiên, năm 1370, thủy quân Chế Bồng Nga đổ bộ cửa Ð?i An (Ðại An hay Ðại Ác, cửa sông Ðáy) kéo lên Thăng Long, đốt sạch cung điện, thâu tóm châu báu vàng bạc đem về.
Mấy năm sau (1376) được tin Chiêm Thành chuẩn bị đánh Thuận-Hóa, từ các tỉnh Thanh-Nghệ đến Thuận-Hóa tiếp vận binh mã lương thực, vua Trần Duệ Tông thống lãnh 12 vạn quân thủy bộ tiến vào cửa Thị Nại (Thi Lợi Bỉ Nại), chiếm xong căn cứ Kỳ Mang (Y Mang) tiến lên kinh đô Ðồ Bàn (Vijaya). Bị mưu kế phục kích của Chế Bồng Nga, vua Duệ Tông tử trận, quân ta một số đầu hàng, một số (trong đó có Hồ Quý Ly) theo đường biển chạy thoát.
Lần thứ ba, tháng 5 năm Mậu Ngọ (1378), càn quét xong Nghệ An, Chế Bồng Nga thẳng đường tiến binh ra Thăng Long tàn phá như hai lần trước. Kết quả sau cùng là lãnh thổ Ðại Việt, từ Thuận Hóa-Tân Bình đến Nghệ An bị quân Chiêm Thành chiếm đóng. Khí thế Chiêm Thành uy hiếp Thăng Long vẫn đè nặng, từ năm 1380 đến năm 1382, cho đến khi Chế Bồng Nga tử trận trên sông Hoàng Giang vì sự phản bội của tùy tướng Bá Lâu Khê. Cái chết của Chế Bồng Nga không những đã cứu nguy kinh đô Ðại Việt mà còn tránh cho nhà hậu Trần khỏi phải ghi lại trang sử bi đát hơn.
Chế Bồng Nga mất, tướng Lã Khải (Ko Cheng, sử Tàu phiên âm) thừa dịp cướp ngôi. Hai con Chế Bồng Nga, Chế Ma Nô Ðã Nan và Chế San Nô chạy sang núp bóng Ðại Việt chờ cơ hội.
Sau ngày Lã Khải mất, lần thứ hai (1402) Hồ Quý Ly sai Ðỗ Mãn đem quân đánh Chiêm Thành; Chiêm vương Campadhiraya (Ba Ðích Lại) xin nhường đất Chiêm Ðộng (Indrapura, phủ Thăng Bình, Quảng Nam). Trên đà thắng lớn, Hồ Quý Ly đòi thêm đất Cổ Lũy (Quảng Ngãi). Ðất đai miền Bắc Chiêm Thành (Amaraviti) như vậy thuộc về nước ta. Bất hợp tác, người Chiêm Thành lánh cư chạy xuống miền Nam; vùng Amavariti vừa chiếm được trở thành đồng không nhà trống. Hồ Quý Ly bèn cho thi hành chính sách di dân bắt buộc đối với những người không có ruộng đất cày cấy.
Cũng với biện pháp mạnh, năm 1403 Hồ Quý Ly lại sai tướng Ð? Mãn đem hai vạn quân trở lại Chiêm Thành. Hơn chín tháng trời mới tới được thành Ðồ Bàn (Chà Bàn). Cuộc viễn chinh xa xôi tốn kém nhưng rồi binh lương thiếu thốn, bệnh tật chết chóc, hao binh tổn tướng, cuối cùng trở về không. Việc khai phá vùng đất mới đang phôi thai thì xảy ra cuộc chiến tranh chống xâm lăng nhà Minh lấy danh nghĩa "điếu phạt" nhà Hồ, tạo cơ hội cho Chiêm vương Ba Ðích Lại dùng võ lực thu hồi lãnh thổ, triệt tiêu luôn kế hoạch di dân khai phá đất đai Chiêm Thành của Hồ Quý Ly.
Tìm cơ hội hành quân "phạt" Chiêm, năm 1469 vua Lê Thánh Tông đưa yêu sách ngoại giao khác thường: lễ vật cống hiến. Là phiên vương đối với hai nước Trung Hoa và Ðại Việt, Chiêm Thành phải cống hiến lễ vật hai nước bằng nhau (3). Không chấp nhận đòi hỏi của Ðại Việt hay dựa thế nhà Minh muốn "thử sức" Ðại Việt, đạo quân Chiêm vương Trà Toàn vượt biên giới tấn công Thuận Hóa. Một cuộc hành binh thử sức thật sự vì đánh phá xong lại trở về để rồi năm sau tiếp tục hành quân lớn hơn: mười vạn quân và voi trận, chủ lực tấn công của Chiêm Thành.
Trà Toàn xâm phạm biên cương là cơ hội vua Lê Thánh Tông chờ đợi để thống lãnh 15 vạn quân tướng đổ bộ Sa Kỳ (Quảng Ngãi) chiếm luôn kinh đô Trà Bàn (Chà Bàn - Bình Ðịnh). Trà Toàn bị bắt đưa về Thăng Long nhưng vừa đến Nghệ An thì mất.
Tướng Chiêm là Bô Trí Tri cùng với tàn quân lui về giữ Phan Lung (Phan Rang - Panduranga) tự xưng làm vua, sai sứ xin trở lại thần phục nhà Lê. Núi Thạch Bi giữa hai tỉnh Phú Yên-Khánh Hòa đến mũi Varella tạm thời làm biên giới Chiêm-Việt. Vùng đất Chiêm vừa chiếm được, vua Lê Thánh Tông chia nhỏ thành ba "nước": Chiêm Thành hay Ðại Chiêm, Hoa Anh và Nam Phan (4), mấy tháng sau trở thành phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn.
Nam Tiến thời đại các chúa Nguyễn
Khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa (1558), phần cực Nam nước Ðại Việt là huyện Tuy Viễn (trấn Quảng Nam). Bên kia đèo Cù Mông (giữa Phú Yên-Bình Ðịnh) là đất đai Chiêm Thành. Năm 1611, trấn thủ Nguyễn Hoàng sai chủ sự Văn Phong vượt đèo Cù Mông mở đầu cuộc Nam Tiến thắng lợi: Ðàng Trong có thêm phủ Phú Yên (về sau đổi thành Trấn Biên) gồm hai huyện Ðồng Xuân và Tuy Hòa.
Năm 1653 đến lượt chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần đưa quân dân vượt đèo vượt núi (Thạch Bi) lấn chiếm lãnh thổ Chiêm Thành đến tận Phan Rang, đặt dinh Thái Khương với hai phủ Thái Khương (Ninh Hòa) và Diên Ninh (Diên Khánh).
Nam Tiến lại tiếp tục; năm 1692 chúa Nguyễn Phúc Chu chiếm trọn đất Phan Rí, về sau gọi là trấn Thuận Thành (tiếp sau nữa, Bình Thuận). Chiếm đóng bằng võ lực không mấy khó khăn, nhưng cai trị nước người không dễ. Ðể trấn an vỗ về người Chiêm nhiều lần nổi loạn, chúa Nguyễn Phúc Chu phong Kế Bà Tử làm phiên vương để cai trị người Chiêm, hàng năm giữ lệ cống hiến.
Từ căn cứ Thuận-Quảng, đến đây các chúa Nguyễn đã nới rộng Ðàng Trong đến tận Bình Thuận. Cho đến hết đời Kế Bà Tử, Chiêm Thành chỉ còn lại một mảnh đất nhỏ gọi là Thuận Thành và chức phiên vương không thực quyền. Ðàng Trong lập thêm ba dinh mới Phú Yên, Bình Khang, Bình Thuận:
Lịch sử Lâm Ấp-Chiêm Thành, ra đời khoảng năm 190-192 sau cuộc nổi dậy của Khu Liên chống chế độ nhà Hán, đến đây chấm dứt. Người Chiêm Thành còn đó (5), sống chung hòa đồng thuận thảo với người Việt, trở thành công dân Việt Nam nhưng quốc hiệu Chiêm Thành, Champa, Nagara Campa và trước đó Lin Yi (Lâm Ấp) độc lập hùng cường khi Giao Chỉ còn nội thuộc nước Tàu, từ nay không còn nữa trên bán đảo Ấn Ðộ Chi Na. Cuộc Nam Tiến tiếp nối sang giai đoạn khác, quan trọng hơn, ảnh hưởng lớn lao hơn, nhờ đó tạo thành một nước Việt Nam vị trí địa dư hoàn chỉnh, từ Bắc xuống Nam, hình cong chữ S, bao lơn của Thái Bình Dương...
Nước láng giềng phương Nam cùng chung văn hóa, chủng tộc với Chiêm Thành là Phù Nam-Chân Lạp (6), vì hoàn cảnh địa lý chính trị, có khi là đồng minh liên kết, có khi trở thành thù địch với Chiêm Thành, kéo dài chiến tranh đến gần thế kỷ. Phù Nam-Chân Lạp hùng mạnh ở Ðông Nam Á nhờ canh nông phát triển, nhờ tiếp xúc giao thương với Trung Hoa, Nhật Bản và các nước Tây Phương. Giáp giới Chiêm Thành và sau này với Ðàng Trong, Phù Nam-Chân Lạp dù muốn hay không đã tiếp nhận các nhóm di dân tự động Ðàng Trong lần hồi theo làn sóng Nam Tiến đến khai phá rừng hoang, khai canh lập nghiệp, đông đảo nhất vùng Mô Xoài-Ðồng Nai.
Thêm một yếu tố lịch sử thuận lợi bất ngờ: để giữ thế quân bình chính trị và quân sự với Xiêm La, triều đình Chân Lạp đang cần bang giao thân thiện với các chúa Ðàng Trong.
Từ Huyền Trân công chúa đời Trần, lịch sử Nam Tiến đến đây vinh danh thêm một giai nhân lá ngọc cành vàng khác, con gái chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, Hy Tông Hoàng Ðế. Năm 1620, vua Chân Lạp Prea Chey Chetta II đẹp duyên cùng công chúa Ngọc Vạn. Cuộc hôn nhân có ảnh hưởng lớn lao đối với vận mệnh hai nước; thuận lợi cho Ðàng Trong nước Ðại Việt nhiều hơn (7). Nhờ công nương Ngọc Vạn, triều đình Oudong đón nhận một số văn võ quan Ðàng Trong làm "cố vấn" và triều đình Thuận Hóa có thêm cơ hội can thiệp vào nội bộ Chân Lạp. Nhờ sự che chở của hoàng hậu Ngọc Vạn, người xứ Ðàng Trong tự do di dân đến Chân Lạp mỗi ngày một nhiều hơn, bảo đảm hơn.
Năm 1623, sứ bộ Ðàng Trong đến kinh đô Oudong điều đình việc lập đồn kiểm soát quan thuế tại Preykor (Sài Gòn sau này) được quốc vương Chân Lạp chấp thuận dễ dàng. Có Preykor làm đầu cầu chiến lược, việc di dân có căn bản vững chắc, tha hồ tỏa rộng nối dài.
Năm 1658, ba mươi năm sau ngày Prea Chey Chetta II mất, vì sự tranh giành ngôi báu với Nặc Ông Chân và do ảnh hưởng của thái hậu Ngọc Vạn, đám hoàng thân mất ngôi chạy sang nương nhờ chúa Nguyễn. Tướng Nguyễn Phúc Yến theo lệnh chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần đem 3000 quân đến Mô Xoài bắt Nặc Ông Chân đưa về an trí tại Quảng Bình và phong cho con trai thái hậu lên làm vua: quốc vương Batom Reacha Pontana Reja.
Năm 1674, Nặc Ông Ðài (Ang Chey) đảo chánh cướp ngôi vua, Nặc Ông Nộn (con thứ hai thái hậu Ngọc Vạn) lại trở về họ ngoại cầu cứu. Chúa Hiền sai cai cơ Nguyễn Dương hành quân tiến chiếm Sài Côn, Gò Bích, Nam Vang. Nặc Ông Ðài tử trận. Ðể tỏ ra đối xử công bằng với các hoàng thân cùng cha khác mẹ đang giành nhau ngôi báu, chúa Hiền phong cho Nặc Ông Thu (Ang Saur) làm chính vương ở Oudong, Nặc Ông Nộn làm Ðệ nhị vương đóng đô ở Sài Côn (Prey Nokor).
Năm 1679, một cộng đồng tỵ nạn Trung Hoa hơn 3000 người, những quan quân nhà Minh không chịu thần phục nhà Thanh với Tổng Binh Dương Ngạn Ðịch, phó tướng Hoàng Tiến và hai tổng, phó binh họ Trần, Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình cùng với 50 chiến thuyền đến cửa Tư Hiền và cửa Thuận an xin yết kiến chúa Nguyễn. Ðang sẵn có ý định khai khẩn vùng đất Ðồng Nai, chúa Hiền sai hai tướng Văn Trình, Văn Chiêu (sử ta không ghi họ) đưa đám quân binh nhà Minh vào Nam, chia cho Dương Ngạn Ðịch định cư ở Mỹ Tho và các tướng tá họ Trần ở Bàn Lân (Biên Hòa).
Nhờ lớp di dân Trung Hoa tỵ nạn này, hai thị trấn được thành lập: Ðại Phố Châu (Cù Lao Phố) ở Biên Hòa và Mỹ Tho đại phố, lần lần trở thành hai trung tâm thương mại phồn thịnh đón tiếp nhiều ghe thuyền ngoại quốc ra vào mua bán. Biên Hòa chính thức sát nhập vào lãnh thổ Ðàng Trong, và Mỹ Tho trên thực tế đã trở thành vùng đất Nam Tiến tự trị.
Ðồng Nai-Gia Ðịnh đã vững vàng, chúa Nguyễn Phúc Chu chính thức đặt nền cai trị trực tiếp, phân chia lãnh thổ hành chánh, thành lập hai dinh Trấn Biên (Biên Hòa) và Phiên Trấn (Gia Ðịnh), lấy đất Nông Nại (Ðồng Nai) làm huyện Phước Long, Sài Côn làm huyện Tân Bình; bổ nhiệm văn võ quan vào các chức vụ lưu thủ, cai bộ, ký lục; tổ chức quân binh theo cơ đội, bộ binh thủy binh. Thành tích được ghi nhận tốt đẹp hơn cả là chiêu mộ thêm lưu dân từ Thuận-Hóa Châu trở vào, hệ thống hóa các lớp di dân mới cũ thành làng xã, thôn ấp; ruộng đất, nhà cửa, nhân khẩu kê khai theo đinh, địa bộ, như sau này Gia Ðịnh Thành Thống Chí ghi rõ, "... đất đai mở rộng thêm 1000 dặm, dân số trên 40.000 hộ (nhà), mọi người đều được phân chia ruộng đất cày cấy..."
Việc khai phá mở mang tốt đẹp Biên Hòa-Mỹ Tho góp phần công lớn thành lập Gia-Ðịnh-Thành của hai nhóm Trung Hoa tỵ nạn Dương Ngạn Ðịch và Trần Thượng Xuyên, là món quà Nam Tiến đầu tiên hiến dâng các chúa Ðàng Trong. Như "sách trời định phần" việc Mạc Cửu tiếp sau dâng đất Hà Tiên là một tặng phẩm chiến lược độc nhất vô nhị. Uy quyền triều đình Thuận Hóa-Phú Xuân từ đây tỏa rộng từ Tiền Giang, Hậu Giang đến vịnh Xiêm La. Nhờ Hà Tiên dinh trấn, thế lực chúa Nguyễn còn đi xa hơn, nối liền Thủy Chân Lạp với Lục Chân Lạp, mở đường việc bảo hộ Cao Miên sau này.
Mạc Cửu, người Quảng Ðông, trước đây ở Sài Mạc, buôn bán kinh doanh phát đạt, tập họp lưu dân lập thành bảy xã ở Hà Tiên, thấy Chân Lạp nổi loạn liên miên bèn dâng đất Hà Tiên, thần phục triều đình Thuận Hóa-Phú Xuân. Chúa Nguyễn Phúc Chu phong cho Mạc Cửu chức Tổng binh trấn Hà Tiên làm phiên thuộc (tự trị), tiếp tục công việc khai hóa Hà Tiên; quan trọng hơn cả, canh chừng và ngăn chặn ảnh hưởng Xiêm La.
Mùa xuân năm Nhâm Tí (1732) nới rộng địa bàn hành chánh quân sự, chúa Nguyễn Phúc Trú lập dinh Long Hồ và châu Ðịnh Viễn (Long Hồ, Vĩnh Long nguyên trước là đất Mê Sa và Long Hor do Nặc Tha "xin nhượng," trên thực tế đã thuộc quyền kiểm soát của Ðàng Trong).
Năm 1753, nội tình Chân Lạp rối ren, hoàng gia Cao Miên một số theo về các chúa Ðàng Trong, một số có sẵn cảm tình chủng tộc với Xiêm La, càng thêm rắc rối hơn. Ðể ổn định tình hình, chúa Nguyễn Phúc Trú hạ lệnh cho Thiện Chánh làm thống xuất, Nguyễn Cư Trinh làm tham mưu vào Cao Miên kinh lược, trọn quyền điều động quân tướng năm dinh từ Bình Khang trở vào. Thành Nam Vang bị chiếm đóng dễ dàng; quốc vương Cao Miên Nặc Ông Nguyên chạy về Hà Tiên nhờ Mạc Thiên Tứ che chở. Ðể "chuộc tội" đã về hùa theo Xiêm La, cầu viện chúa Trịnh và nhờ Mạc Thiên Tứ tâu xin, Nặc Ông Nguyên được trở lại ngôi vua (1756) xin "dâng" hai phủ Tầm Ðôn và Xoài Rạp.
Nặc Ông Nguyên mất (1757), Nặc Ông Nhuận giữ quyền nhiếp chính, lại dâng thêm đất Trà Vinh và Ba Thát (Ba Thắc - Bassac), chẳng bao lâu lại bị Nạc Hinh giết. Cháu Nặc Nhuận là Nặc Tôn chạy sang Hà Tiên cầu cứu. Sắc phong cho Nặc Tôn làm vua Cao Miên, chúa Nguyễn Phúc Khoát sai Mạc Thiên Tứ tập họp binh mã đem Nặc Ông Tôn về Nam Vang làm lễ tấn phong. Ðể tạ ơn chúa Nguyễn, Nặc Tôn xin dâng đất Tầm Phong Long (An Giang) đồng thời cũng để cám ơn công lao Mạc Thiên Tứ, Nặc Ông Tôn đem năm phủ Vũng Thơm, Cần Bột (Kampot), Châu Sâm, Sài Mạc và Linh Quỳnh làm quà tặng thêm ân nhân Mạc Thiên Tứ. Với phần đất tặng biếu này, đất đai Hà Tiên mở rộng; Mạc Thiên Tứ theo lệnh chúa Nguyễn, đặt Rạch Giá thành đạo Kiên Giang, Cà Mâu thành đạo Long Xuyên.
Như vậy, cùng với việc thành lập trước đây (theo đề nghị của phái đoàn kinh lược Thiện Chánh Hầu và Nguyễn Cư Trinh) các đạo Ðông Nhẫn (Sa Ðéc), đạo Tân Châu ở Tiền Giang, đạo Châu Ðốc ở Hậu Giang, hầu hết đất đai Thủy Chân Lạp thuộc quyền kiểm soat của triều đình chúa Nguyễn ở Phú Xuân.
Nặc Ông Tôn triều cống người Việt; không thể ngồi yên chờ đợi, vua Xiêm La Trịnh Quốc Anh liền cử binh tiến chiếm Cao Miên. Ðại quân thủy bộ Xiêm La đem toàn lực uy hiếp Hà Tiên, Mạc Thiên Tứ và hai con chạy thoát cùng lui về Châu Ðốc liên lạc với đạo quân của Tống Phước Hạp. Chiếm xong Hà Tiên, quân Xiêm La tiến lên kinh đô Nam Vang đưa Nặc Ông Nộn lên làm vua, thay thế Nặc Tôn.
Cuộc đụng độ quân sự lớn lao nhất Việt-Xiêm khởi đầu. Ð?n lượt chúa Nguyễn không thể ngồi yên bỏ rơi Nặc Tôn. Năm 1772 triều đình Phú Xuân hạ lệnh Chưởng Cơ Nguyễn Cửu Ðàm thống xuất 10.000 quân binh thủy bộ và 30 chiến thuyền phối hợp với đạo quân Long Hồ do Nguyễn Khoa Chiêm chỉ huy tiến lên Nam Vang đánh tan quân Xiêm La, đưa Nặc Ông Tôn trở lại ngôi vua. Với cuộc hành quân chính trị này, triều đình Phú Xuân nắm đủ thời cơ thuận lợi đặt nền bảo hộ nước láng giềng Cao Miên.
Năm 1778 thành Gia Ðịnh về tay nhà Nguyễn Tây Sơn, Xiêm La trở lại chiếm đóng Nam Vang từ đó cho đến năm 1801, đến lượt vua Gia Long giành lại quyền bá chủ Chân Lạp-Cao Miên. "Quyền" bảo hộ được Xiêm La nhìn nhận, thời tổng trấn Gia Ðịnh Thành Lê Văn Duyệt, khi đội quân cuối cùng của Xiêm La phải rời khỏi Battambang, từ đó cho đến đầu triều đại vua Thiệu Trị, năm 1847 với hai sắc dụ cuối cùng cáo chung một thời vang bóng: phong Nặc Ông Ðôn làm quốc vương Cao Miên và Mỹ Lâm quận chúa làm Cao Miên Quận Chúa.
=================
Chú thích:
Yoshiharu Tsuboi: L'Empire Vietnamien face à la France et à la Chine. L'Harmattan. Paris 1987.
Về các địa danh Chiêm Thành, kinh đô thay đổi nhiều lần, xin đọc thêm Le Royaume de Champa: Georges Maspéro. EFEO Paris 1928.
Tuy rằng Ðại Việt và Chiêm Thành vẫn đi lại cống hiến Trung Hoa, sứ bộ hai nước có khi còn "chộ mệ" (gặp nhau) tại triều đình Trung Hoa, nhưng Ðại Việt vẫn coi mình là "thượng quốc" và Chiêm Thành là "phiên thuộc." Nổi tiếng giàu có về vàng bạc, ngọc ngà châu báu, lễ vật cống hiến của Chiêm Thành thường thường rất hậu hỉ, gồm có sản vật địa phương như ngà voi, sừng tê giác, giáng hương, kỳ nam, bạch đàn, nhục quế, long não... Voi và tê giác là hai (con) vật cống lễ không thể thiếu được. Lỡ thiếu, cả Trung Hoa lẫn Ðại Việt, thường "nhắc khéo" thuộc quốc, có khi trả lại không nhận!
Nhiều lần liên tiếp, Chiêm Thành cống hiến Trung Hoa mấy con voi trắng (bạch tượng) và tê giác trắng rất quý hiếm; lâu ngày thành lệ như trường hợp vua Lê Thánh Tôn bắt Chiêm Thành phải cống một cặp bạch tượng.
Tiếp sứ bộ Chiêm Thành hôm ấy, vua Lê Thánh Tôn truyền phán đại ý: "Là phiên quốc đối với Ðại Việt, Chiêm Thành phải làm đầy đủ bổn phận... lần này phải dâng thêm voi, tê giác và ngọc hỏa châu... Sứ thần Chiêm Thành tâu xin: "Tệ quốc lâu nay vẫn thần phục quý quốc, vâng theo thánh ý bệ hạ như con cái vâng lời cha mẹ. Nay bệ hạ truyền dâng thêm cống phẩm, hạ thần không thể tuân hành ngay được. Cúi xin bệ hạ ban lệnh cho sứ thần quý quốc đến tệ quốc bàn định..." (Chuyển ngữ đoạn này theo bản Pháp văn: Le Royaume du Champa. tr. 235 sđd).
Sứ Chiêm về tâu lại, Chiêm vương Trà Toàn không chấp thuận. Trà Toàn trước đây thường cho người qua Trung Hoa kiện cáo về việc Ðại Việt gây hấn Chiêm Thành, tuy có lúc vẫn cho quân xâm phạm lãnh thổ Ðại Việt. Việc yêu sách cống phẩm trên chỉ là lý do bề mặt để dò xem phản ứng Chiêm Thành. Và đúng như vua Lê Thánh Tôn dự đoán; sau khi cho người cấp báo triều đình Trung Hoa, Trà Toàn ra tay trước bằng cuộc hành quân tấn công Thuận-Hóa như đã ghi trên.
Ðể làm suy yếu thế lực Chiêm Thành, vua Lê Thánh Tôn xé nhỏ phần đất mới chiếm được thành ba nước, mỗi nước một quốc vương riêng: Ðại Chiêm hay Chiêm Ðộng (thuộc phía bắc lãnh thổ Chiêm Thành, gọi là Amaravati, tỉnh Quảng Nam ngày nay) ranh giới kéo dài từ Nam Ngãi đến Chà Bàn (Bình Ðịnh); Hoa Anh ở phía Nam Chiêm Ðộng (có thể là vùng đất Phú Yên) và Nam Phan (hay Nam Bàn) ở phía tây Hoa Anh lan rộng đến vùng núi Trường Sơn, sau này là hai nước Thủy Xá, Hỏa Xá, sách Ðại Nam Thực Lục thường nói đến.
Nên biết qua, miền Bắc Chiêm Thành (Amavarati) gồm có kinh đô (một trong những kinh đô) Indrapura và cửa bể Ðại Chiêm, Sinhapura, trên sông Thu Bồn (sông Sinhapura như người Chiêm gọi). Phần đất miền Nam Chiêm Thành còn lại gồm có từ Kanthara (Khánh Hòa), Panduranga (Phan Rang) trở vào cho đến Bình Thuận (Vijaya, sử ta gọi là Phật Thệ).
Trên thực tế lịch sử, rất khó định rõ vị trí "tam quốc" nói trên; việc chú thích gần-gần-đúng chỉ có mục đích để bạn đọc dễ theo dõi, trong khi Chiêm Thành lần lần mất hết đất đai kể từ đây.
Nước Chiêm Thành không còn nữa, một số người Chiêm chạy sang hướng Tây miền Thượng Sơn sống lẫn lộn với các sắc dân thiểu số; một số chạy sang miền đông Cao Miên, sử ta sau này gọi là người Côn Man. Số người Chiêm còn lại quy tụ ở Phan Rang, Phan Thiết gọi là người Chàm, người Hồi, hay Lồi (Thành Lồi).
Năm Minh Mạng thứ 20, nhà vua sắc dụ đổi tên thổ dân địa phương, từ nay gọi là Tân dân - dân mới - (sau này năm 1945, Việt Minh cướp chính quyền, bắt chước theo, cũng gọi đồng bào thiểu số là Việt Nam mới):
"Nguyên Thuận Thành đã được phân thiết phủ huyện... thổ dân bây giờ ăn bận đều đã giống người kinh... mới được cải cách mà đã tiêm nhiễm khá nhiều phong hóa miền kinh, biết phục dịch công vụ, đã nhạy cảm theo phong hóa mới... Từ nay về sau, phải gọi họ là tân dân (dân Việt Nam mới). Mặt khác cũng phải nói cho họ biết phải tự xưng mình là tân dân, cho biết rõ cái ý nghĩa "nhất thị" (cùng dòng giống Việt Nam như những người Việt Nam khác).
Theo G. Maspero (sđd), đầu thập niên 20 có độ chừng 60.000 người Chàm ở Cao Miên theo Hồi Giáo và ở Phan Rang, Phan Thiết trên dưới 30.000 người. Người Chàm theo Hồi Giáo ở miền Nam Trung Việt gọi là Chàm Bani, phiên âm theo tiếng Ả Rập, có nghĩa là "con cái" đấng Tiên Tri.
Gọi Phù Nam-Chân Lạp (Chân Lạp-Cao Miên) để độc giả dễ theo dõi liên tục lịch sử nước láng giềng Cao Miên ngày nay.
Chân Lạp, nguyên trước là nước Phù Nam (Fu Nan) một quốc gia hùng mạnh theo văn minh Ấn Ðộ, lãnh thổ rộng lớn bao gồm ngoài Cao Miên và Nam Việt ngày nay, còn có thêm Hạ Lào và một phần miền đông biên giới Xiêm La.
Vào giữa thế kỷ thứ 6, người Chân Lạp (Kambuja, tổ tiên người Khmer sau này) nổi lên chiếm nước, lần lần thay thế địa vị Phù Nam làm bá chủ vùng tây nam Ấn Ðộ Chi Na; định đô ở Angkor. Sau ngày Jayawarman mất, nội bộ Chân Lạp chia rẽ vì tranh giành ngôi vua. Ðến đầu thế kỷ thứ 8, Chân Lạp chia thành hai nước: Lục Chân Lạp (Cambhupura) và Thủy Chân Lạp (Viadhapura, Nam Việt sau này). Một thế kỷ sau hợp nhất lại; nước Chân Lạp thống nhất mở đầu giai đoạn thịnh trị của đế quốc Khmer cho đến giữa thế kỷ 15.
Kéo dài chiến tranh với Chiêm Thành trên một thế kỷ, tiếp đến đụng độ với Ðàng Trong, nội bộ xâu xé chia rẽ, lúc ngả theo Xiêm La, lúc theo về các chúa Nguyễn Ðàng Trong, đất nước Chân Lạp-Cao Miên biến thành bãi chiến trường hai nước Xiêm La và Ðại Việt Ðàng Trong. Từ quốc hiệu Phù Nam đến Chân Lạp đổi thành Cao Miên đầu thế kỷ 18, nước Cao Miên suy yếu dần cho đến khi trở thành thuộc quốc của Việt Nam vào cuối thế kỷ 18.
Xem: Công Nương Ngọc Vạn. Lệ Vân. T.S.H Dallas. 1992.
BungRieu
03-22-2003, 03:19 PM
Khuyển Dưỡng Nghị (Inukai Ki, Nhật) và Tôn Nhật Tiên (Sun Yat-sen, Mân Việt)
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/BanDoAnNamSmall.jpg
=================================
Nguyên tác “ New Light on a Forgotten Past” của Tíến Sĩ WILHELM G SOLHEIM II , Giáo Sư Nhân Chủng Học, Hawaii University, National Geographic, Vol. 139, No. 3 , Mar. , 1971
=================================
" ... Khi chúng tôi còn lớp nhì, lớp nhất bậc tiểu học, thầy chúng tôi là một người cách mạng, người đã từng lưu lạc qua Trung-Hoa, đã kể cho chúng tôi một câu chuyện rất lý thú. Từ ngày đó cho đến nay đã gần 50 năm, không lúc nào chúng tôi quên được.
Câu chuyện như sau:
Khi cách mạng dân quốc của Trung-Hoa chưa thành công, lãnh tụ Tôn-Dật-Tiên qua cầu viện nước Nhật, tại đây Tôn-Dật-Tiên có gặp ngài Khuyển-Dưỡng-Nghị (một chính khách Nhật cũng là một nhà mạnh thường quân của cách mạng Việt-Nam), trong câu chuyện hàn huyên, khi đề cập tới Việt-Nam, Tôn-Dật-Tiên đã bĩu môi chê dân tộc Việt-Nam, họ Tôn nói với ngài Khuyển-Dưỡng-Nghị như sau:
“ Dân An-Nam là một dân tộc nô lệ, trước họ nô lệ chúng tôi, nay họ nô lệ người Pháp, họ là một dân tộc có đầu óc nô lệ làm sao giúp họ độc lập được”
Ngài Khuyển-Dưỡng-Nghị đã cắt lời Tôn-Dật-Tiên như sau:
“ Tôi xin được phép ngắt lời ngài ở đây, ngài đã có những nhận xét không đúng về dân tộc đó (dân tộc Việt-Nam: lời người dịch), bây giờ họ thua người Pháp vì họ không có khí giới tối tân chống lại người Pháp, mai sau khi họ có khí giới tối tân họ sẽ đánh bại người Pháp ( lời tiên đoán này đúng với chiến thắng Điện-Biên-Phủ sau này). Ngài nên nhớ rằng dân tộc Lạc Việt này là một chi duy nhất còn lại của Bách Việt đã chống lại sự đồng hoá của người Trung-Hoa giữ nền độc lập của tổ tiên họ trong khi các chi Việt khác như Mân Việt đã bị đồng hoá cả ngàn năm”
Khi nghe tới đây, Tôn-Dật-Tiên đỏ bừng mặt xin lỗi ngài Khuyển-Dưỡng-Nghị và xin cáo lui. Tôn-Dật-Tiên xấu hổ vì Tôn-Dật-Tiên là người Phúc Kiến (Mân Việt) ...... " ....
===========
Truyện (thật) này tuy ngắn nhưng có nhiều hàm ý ....
Mồi người đều có thể có 1 cách nhìn và suy nghĩ khác nhau ....
Người Trung hoa chính tông thì ......
Người Phúc Kiến (Mân Việt) thì ....
Người Nhật thì ....
Người Mỹ thì ....
Còn người Việt (Lạc Việt) mình là thì sao ... một chút suy tư ... ???
BungRieu
03-23-2003, 09:40 AM
Chè bưởi Cần Thơ
Dạ Ngân
Trung thu là mùa của hồng, của bưởi. Bưởi Biên Hòa, Phúc Trạch, Đoan Hùng ngon, ăn mãi không thấy chán. Nhưng mấy ai ăn bưởi mà biết giữ vỏ lại để nấu chè? ở Cần Thơ (và bây giờ đã có mặt ở nhiều nơi khác, kể cả Hà Nội) có món chè bưởi ngon tuyệt. Giá mà bữa cỗ Trung thu, cạnh hồng, cốm và chè bà cốt, chè sen, lại có thêm một chén chè bưởi thơm ngon ấy.
Đầu tiên người ta đưa vỏ bưởi tươi ra gọt kỳ hết lớp vỏ ngoài cùng. Lại bóc sạch lớp vỏ tơi bên trong, chỉ giữ lại phần vỏ trắng và dai ở giữa. Vỏ bưởi được nhồi nhiều lần trong nước muối để làm hết vị the và đắng. Sau đó, chúng được nhồi trong nước lã, xả đến khi nào nhai thử thấy không còn hơi hướm của vỏ bưởi mới thôi.
Sau khi ráo nước, vỏ bưởi được xắt thành hình sợi, vuông cạnh, vừa tầm như sợi bột khoai. Đưa vào nấu với nước đường tinh, chốc sau đã thành nguyên liệu cho món chè không hiểu sao trước đây chỉ Cần Thơ mới có.
Chè bưởi có mặt đã lâu, cùng thời với món nem chay cũng làm bằng vỏ bưởi. Sau ngày giải phóng, nó biến mất một thời gian rồi lại trở về với thời mở cửa, lại giữ ngôi vị trong những món tráng miệng sở trường của một vùng bên kia sông Hậu.
Trong tay khách đang là một chén chè nhỏ, nhỏ đến nỗi như lọt thỏm trong tay mình. Đảo nó lên, nếu không giới thiệu trong đó là vỏ bưởi, hẳn khách sẽ ngỡ là những sợi bột khoai không mầu. ấy mới tuyệt. Khi đã biết, khách sẽ không khỏi thán phục và thú vị rồi chăm chú nhấm nháp, như lắng nghe, với tất cả lòng mình. Chao, sao mà giòn, sao mà thanh, sao mà tinh khiết như lọc từ thứ bột nào, với kỹ thuật bí truyền nào. Khách phải gọi thêm chén nữa. Giờ thì phải ngắm trước đã. Trên cùng, chè được phủ bằng một lớp nước cốt dừa sệt thơm mùi vani. Gạt lớp đó sang bên, lẫn trong nước đường pha bột mỳ tinh đặc và trong suốt là đậu xanh đãi vỏ thật khéo, khéo đến mức đậu nhừ mà vẫn nguyên vẹn hình hài, vàng sáng. Ăn chè bưởi, thực khách sẽ thầm biết ơn mẹ và chị, những người tạo nên giây phút thăng hoa khi hương vị một vùng đất thấm qua lưỡi đến tận hồn người.
Chè bưởi Cần Thơ, hình ảnh của bàn tay vén khéo và mẫn cảm của những người phụ nữ miệt vườn, hương vị của nền văn hóa miệt vườn Nam Bộ.
BungRieu
03-23-2003, 11:40 AM
Trà Bảo Lộc
Thu Thảo
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/BAOLOC-tracaphe.jpg
Khách du lịch đi Đà Lạt đa số đều dừng chân ở Bảo Lộc - Một thị trấn êm đềm xinh đẹp nằm cách Đà Lạt 120 km. Và ai ai cũng mang về làm quà cho người thân đặc sản nổi tiếng của miền cao nguyên trù phú này - Trà Bảo Lộc. Đến Bảo Lộc, chổ nào bạn cũng nhìn thấy trà: những vườn trà xanh bát ngát chạy tít tắp phía chân trời, trà bao bọc xung quanh nhà ở, trà phơi trong sân, cho đến trà trong những bao màu rực rở ở tiệm bán trà. Đến bất kỳ nhà ai ở Bảo Lộc, bạn cũng được người ta tiếp bằng thứ nước mang vị chát mát ngọt đó - nước trà.
Trong ba cây công nghiệp quan trọng ở Bảo Lộc: Trà, cà phê, dâu tằm, trà là cây công nghiệp được phát triển mạnh nhất. Người dân nào ở Bảo Lộc cũng có 1 vài sào trà để sinh sống chủ yếu. Đây là loại cây công nghiệp dễ trồng, dễ chăm sóc mà lại có sức sống vô cùng mãnh liệt. Cứ 10 ngày một lần, người ta hái trụi tất cả những chiếc đọt xanh non của nó, để rồi 10 ngày sau những chiếc đọt non xanh mơn mởn lại tua tủa đâm lên.
Trà Bảo Lộc được chuyển đi khắp các tỉnh, có những vùng nước lợ mà người ta không thể uống nước được nếu không có trà. Bất kỳ một quán giải khát, quán ăn nào cũng không thể thiếu nước trà. Đây là thứ nước giải khát lành mạnh cho mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi, ai cũng có thể thưởng thức hương vị thơm ngon, đậm đà của nước trà. Đêm mùa đông lạnh lẽo, một ly trà thơm bốc khói có thể sưởi ấm bạn trong giây lát. Xuân về tết đến, nhà ai lại không có một vài tách trà thơm để tiếp khách đến nhà mừng xuân.
Những người sành uống trà mới thấy trong cái vị đắng chát lại ngọt ngào chỉ có ở nước trà. Ở nhà, sáng nào tôi cũng pha cho ba tôi một tách trà, nước phải xanh và trong vắt thì ba mới vừa lòng. Ngồi bên tách trà thơm bốc khói, ba tôi sắp xếp công việc cho một ngày. Buổi tối cũng vậy, sau bữa cơm, ba tôi có thể ngồi hàng giờ bên ly trà xanh thoảng hương nhài. Tôi có cảm tưởng người quên hết những vất vả phiền muộn trong ngày qua làn khói bốc lên từ ly trà. Bây giờ, đi học xa nhà, tôi nhớ nhất là hình ảnh ba tôi ngồi bên tách trà bốc khói thơm nhẹ nhàng. Vào những đêm trăng sáng, ba tôi và những người bạn của ba ngồi quây quần bên tách trà bàn bạc đủ mọi chuyện trên đời. Người ta thường nói "Miếng trầu là đầu câu chuyện". Nhưng ở Bảo Lộc người ta còn nói "Tách trà là đầu câu chuyện".
Thưởng thức một ly trà thơm, có ai biết được bao vất vả khó nhọc của người dân Bảo Lộc?
Phá rừng, làm đất, dâm hạt và chăm chút cho cây trà lớn lên đã là một quá trình khó nhọc. Những đọt trà non hái mang về được luộc hoặc xào cho chín, sau đó đem vò cho xoăn lại, kế tiếp là xấy trên bếp than hồng đến khi nào trà khô và bốc mùi thơm mát là được. Trà chế biến đến đây gọi là trà mộc. Một số người thích uống trà này hơn vì nó còn mang đầy đủ hương vị của trà. Muốn thơm ngon hơn, người ta ướp thêm với các loai hoa như Sen, Sói, Lài, Ngâu, hoặc các vị thuốc khác như quế hương, cam thảo ...
Uống trà Bảo Lộc thật thú vị và những nương trà Bảo Lộc nhìn cũng thật mát mắt. Đến Bảo Lộc, từ quốc lộ 20 đi sâu vào trong, bạn sẽ thấy mênh mông bát ngát những trà là trà. Giữa những đồi trà, thỉnh thoảng bạn lại gặp những con suối chảy róc rách hoặc những thác nước tung bọt trắng xóa. Đó đây thấp thoáng những chiếc nón trắng của các cô gái Bảo Lộc xinh đẹp đang thoăn thoắt hái trà.
Mời bạn đến thăm Bảo Lộc - xứ Bảo Lộc trù phú mà thơ mộng với những nương trà xanh bát ngát. Bạn sẽ hài lòng với khí hậu ôn hòa mát mẻ, với phong cảnh xinh đẹp của miền cao nguyên và với những ly trà thơm ngon đậm đà chỉ có ở Bảo Lộc.
BungRieu
03-23-2003, 12:47 PM
Con Dông Thuận Hải ...
Đỗ Tài Thắng
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/Con_dong_phan_thiet.jpg
Trong chúng ta có lẽ ai cũng đã từng nghe bài đồng dao do các em mục đồng thường hát: " Kỳ Nhông là ông Kỳ Đà, Kỳ Đà là cha Cắc Ké, Cắc Ké là mẹ Kỳ Nhông, Kỳ Nhông là ông Kỳ Đà , " và cứ xoay vần như vậy.
Kỳ Nhông hay Dông là một loại bò sát thường sinh sống ở những vùng đồi cát ven biển hoặc đất bồi Nam Trung Bộ, đặc biệt là ở Thuận Hải quê tôi.
Thoạt nhìn con Dông những ai yếu bóng vía không khỏi có cảm giác rùng mình vì hình thù kỳ quái của nó. Hình dáng của Dông như con thằn lằn (Rắn mối), nhưng chắc khỏe hơn, lớp da của nó đầy hoa văn mang nhiều màu: xanh, đỏ, tím, Con nặng nhất cũng khoảng 100 gam. Nhưng ngược lại Dông rất hiền dù khi ta dùng tay bắt nó, và cũng cực kỳ nhát, chỉ thoáng thấy bóng người là "hắn" đã cong đuôi chạy như tên bắn chui tọt vào hang. Dông đào hang và sống dưới lòng đất, độ sâu trung bình khoảng 1-1,5 m. Dông càng lớn thì hang càng sâu, đặc biệt là Dông đực. Đường đi của hang Dông thường theo hình chử chi. Có hướng ăn sâu xuống, gây không ít vất vả cho những người đào bắt Dông. Thức ăn chính của Dông là các mầm non xanh nên hắn cũng là tay phá hoại mùa màng có cỡ, nhất là lúc hạt bắt đầu nãy mầm. Thông thường vào khoảng đầu tháng 5 khi những cơn mưa đầu mùa bắt đầu nặng hạt thì cũng là mùa Dông sinh sản, ta thường thấy hàng đàn Dông chạy lăng xăng hay ẩn mình dưới các lùm cây thấp hoặc phơi mình trên những bải cát chờ nắng lên. Chính vào mùa này các tay sành nhậu hoặc là những người chuyên nghiệp bắt đầu đi đào hay bẫy Dông, có khi họ đi thành từng đoàn, ăn ở tại chổ, khi nào bắt được thật nhiều Dông mới về.
Dông bắt về, được chế biến đủ món: Gỏi Dông, Dông chiên lăn bột, chả Dông, Dông nấu canh chua, nhưng khoái khẩu nhất đối với dân nhậu đó là món gỏi Dông, vừa ngon, vừa ngọt, vừa tiện lợi vừa rẻ tiền.
Khi làm món gỏi Dông, Dông được đem nhúng nước sôi rồi lột lớp da giấy bên ngoài (dân địa phương gọi là da đất), tiến hành rửa và "mổ bụng" (đặc biệt sau khi mổ không được rửa nước vì như vậy thịt Dông sẽ rất tanh). Sau đó Dông được đặt lên vỉ và nướng, lửa không được quá già vì như thế sẽ làm cháy Dông, khi ăn thịt Dông sẽ giảm vị ngọt. Trong quá trình nướng Dông mọi gia vị như lá me non, rau răm, tiá tô, húng …thái nhỏ chuẩn bị là vừa. Nếu có lá cóc rừng thái nhỏ thì thật là đúng "hệ", nhưng lá cóc rừng vốn khó kiếm nên ít được phổ biến. Nước mắm, gừng, tỏi, ớt, đường được chế biến thật kẹo, cay ngọt phải đậm sẽ làm tăng thêm vị ngọt của thịt Dông. Dông nướng xong, thịt được xé nhỏ (giống xé phay thịt gà) trộn đều với gia vị và rưới thêm chút dấm, như vậy ta đã có món gỏi Dông. Gỏi Dông được cuốn với bánh tráng sống (nhúng nước để cho mềm) và chấm nước mắm thì thật là tuyệt hảo.
Nếu như món gỏi Dông mang dáng dấp bình dân thì Dông chiên lăn bột hay chả Dông lại mang dáng dấp cao lương mỹ vị mà ta thường gặp trong các nhà hàng hay các tiệm ăn sang trọng. Dĩ nhiên các món này gia vị đòi hỏi phải nhiều và đắt tiền như: bột mì, trứng gà (hay trứng vịt), mỡ (hoặc bơ), bột ngọt, ngũ vị hương hay các thứ màu mè khác. Nhưng đa số người dân địa phương vẫn yêu thích những món bình dân cực kỳ ngon lành do tự tay họ chế biến.
Như trên đã nói, Dông sống nhiều ở các đồi cát ven biển nhưng có duyên nhất lại là quê tôi, nơi giáp ranh giữa hai huyện Tuy Phong và Ninh Phước. Nếu có dịp đi miền Trung và ngang qua quê tôi các bạn có thể sẽ thấy những chú Dông màu sắc sặc sỡ đang chạy tung tăng hay phơi mình trên những bãi cát vàng óng ven đường quốc lộ 1 (các bạn phải tinh mắt cơ đấy!), loài bò sát trông hơi đáng sợ nhưng thịt lại cực kỳ thơm ngon, dễ dàng chế biến các món ăn mang màu sắc dân dã nhưng đậm đà tính dân tộc.
Thuận Hải quê tôi không chỉ có nước mắm Phan Thiết nỗi tiếng, có những nguồn lợi hải sản vô cùng phong phú như tôm, mực, ốc, sò . Mà những món ăn được chế biến từ chúng được du khách vô cùng yêu thích, nhưng còn một món mà tin chắc rằng khi thưởng thức các bạn sẽ nhớ mãi vùng đất ít mưa nhiều nắng, mời bạn hãy về quê tôi và thưởng thức món Dông Thuận Hải.
BungRieu
03-23-2003, 01:56 PM
Daklăk - Ché rượu Cần ...
Võ Danh Hải
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/DCLAK2.jpg
Nhắc đến Tây Nguyên người ta sẽ nghĩ đến nhà sàn, đến đàn T'rưng, ché rượu cần và tiếng cồng đêm hội.
Chỉ có những ai đã từng sống ở Daklăk, được dự những đêm hội của người dân ở đây mới thấu hiểu hết cái không khí thiêng liêng trong đêm hội mừng bên ché rượu cần của người dân tộc cao nguyên.
Rượu cần là một loại rượu được người dân tộc làm ra từ sắn, bắp hoặc lúa gạo. Sau khi ủ men họ sẽ đem chôn một thời gian dài và được đem lên vào những dịp lễ hội hoặc mừng khách quí.
Rượu cần thường được đựng vào ché, trên miệng ché sẽ được cắm nhiều ống nhỏ dùng cho nhiều người uống. Khi uống người ta sẽ đổ nước vào ché rượu - loại nước này được lấy từ các con suối xa trong rừng.
Ché rượu cần được người dân Daklăk coi đó như một vật thiêng liêng và vô giá tương tự như chiếc vòng đeo tay và các bộ chiêng ở trong các gia đình.
Hương vị của rượu cần không thể lẫn lộn với bất cứ loại rượu nào khác. Ai đã từng một lần được ngồi uống rượu cần bên bếp lửa nhà sàn, được ngồi nghe tiếng đàn T'rưng ngân lên lúc trầm lúc bổng, lúc thánh thót như tiếng suối ngân -vào những đêm đông giá buốt của mảnh đất Tây Nguyên - Daklăk mới thấy hết được cái hương vị khó quên của rượu cần.
Đối với người dân ở đây - uống rượu cần được coi như một lễ nghi truyền thống hết sức thiêng liêng. Vào những đêm hội - rượu cần, tiếng cồng - chiêng, và tiếng đàn T'rưng sẽ quyện lấy nhau, làm cho ai đó ngây ngất đến say lòng.
Ai đã một lần đến Daklăk, được hưởng trọn vẹn cái hương vị đêm đông Cao Nguyên - bên ché rượu cần, bên bếp lữa nhà sàn, trong tiếng cồng đêm hội mới hiểu hết câu hát của người Daklăk:"Ơi! Madrăk ... Tôi đi khắp nơi ... không thấy nơi đâu - đẹp bằng quê tôi ... Ơi! Madrăk! Ơi ..."
BungRieu
03-26-2003, 05:25 AM
Sự hình thành và phát triển của thành phố Dalat ...
Hứa Hoành .
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/So_Dia_Du.jpg
Lập trên cao nguyên Lâm viên đồi núi chập chùng, Ðà lạt là một đô thị nghỉ mát xinh đẹp nằm giữa những khu rừng thông, thác nước thơ mộng: Ðà lạt là thành phố của tuổi trẻ, tình yêu và kỷ niệm. Ai đã đến đó một lần, chắc chắn sẽ giữ lại trong lòng những hình ảnh và kỷ niệm thân thương.
Tài liệu viết bài này ngoài quyển sách "Những Ðứa Con của Rừng Núi" (The Sons of Mountains) của Gerald Cannon Hickey, còn nhiều tài liệu khác mà chúng tôi sưu tầm rải rác trong sách báo cũ. Trong chương viết về Ðà lạt, tác giả G. Hickey có nhắc đến tác phẩm, bài báo kê cứu hiếm như:
- Báo Indochine năm 1943-1944
- Monographie de la province Dalat do trường Viễn Ðông bác cổ Hà nội in năm 1931.
- Tạp chí Bulletin des Amis du vieux Hué năm 1938...
Trong các Toàn quyền Ðông Dương chỉ có P. Doumer, Pasquier và Decoux để lại nhiều kỷ niệm trên đất nước ta hơn hết. Mặc dù khi tạo lập đường xá, cầu cống, tiện nghi công cộng, người Pháp không nghĩ đến phúc lợi cho người bản xứ, nhưng dầu sao đi nữa các cơ sở hạ tầng ở các thuộc địa cũng đem lại lợi ích lâu dài.
Chúng tôi còn nhớ ngày 10 tháng 12 năm 1896, Toàn quyền Rousseau lâm trọng bện và từ trần ở bịnh viện Hà nội thì P. Doumer được lịnh qua Ðông Dương kế vị. Vừa đến Việt nam, P. Doumer liền nghĩ đến một chương trình kiến thiết đầy tham vọng. Mục đích nhằm khai thác kinh tế Việt nam. Hai dự án lớn lao nhất của P. Doumer là:
- Tìm các địa điểm lập các đô thị nghỉ mát ở miền núi Trung kỳ.
- Lập lại đường xe lửa xuyên Việt.
Năm 1879, P. Doumer gặp bác sĩ Yersin là người đã hướng dẫn nhiều cuộc thám hiểm sâu vào vùng rừng núi Tây nguyên để thảo luận việc tìm kiếm những địa điểm thuận tiện có thể lập khu nghỉ dưỡng. Nơi đó phải có khí hậu mát mẻ để các kiều dân Pháp và các viên chức Pháp ở Ðông dương đến nghỉ hè thay vì mỗi năm phải về Pháp. Bác sĩ Yersin khuyến cáo nên chọn đỉnh Lâm viên (Langbian). Sau đó P. Doumer ra lệnh cho một đoàn thám hiểm quân sự tìm kiếm một con đường từ miền duyên hải lên Lâm viên. Năm 1898, Pháp lập ra tỉnh Ðồng Nai thượng, cơ sở hành chánh đặt tại Ðà lạt. Ngoài ra, còn có một tỉnh nhỏ mới thành lập ở Tánh linh, nằm trên đường mòn trao đổi hàng hóa giữa cao nguyên và đồng bằng.
Một đoàn thám hiểm khác khởi hành vào năm 1908 để phát quang dọn dẹp con đường mòn từ đồng bằng lên cao nguyên. Công việc này hoàn tất năm 1899. Với sắc lệnh 1-11-1899, người Pháp lập ra tỉnh Ðồng nai thượng với trung tâm hành chính đật tại Ðà lạt. Một tỉnh nhỏ hơn là Tánh linh với cơ sở hành chánh tại Djirinh (Di linh). Một ngôi nhà bằng thiếc đầu tiên được thiết lập coi như ngôi nhà nghỉ mát đầu tiên tại đây. Mấy năm sau, nhận thấy rằng vùng rừng núi này có nhiều vách đá dốc đứng, cheo leo, khó thiết lập đường xe lửa, nên họ chọn cách làm đường lộ cho xe hơi chạy. Từ đó, Pháp bỏ tỉnh Ðồng nai thượng, còn đại lý hành chánh Djirinh sát nhập vào tỉnh Phan thiết và Ðà lạt nhập vào Phan rang. Công việc đang tiến hành thì năm 1902, Toàn quyền P. Doumer đột ngột về Pháp, khiến nhiều chương trình kiến thiết bị đình trệ.
Tuy là một thành phố sinh non, nhưng nhiều người Pháp có đầu óc làm giàu chú ý ngay đến Ðà lạt. Lợi dụng sắc luật nhượng đất đai của chính phủ, vào ngày 1-4-1900, một người Pháp tên Gresieu được cấp cho không 885 mẫu đất thuộc Ðồng nai thượng. Ngày 18-10-1901, một người Pháp khác tên Armavon được cấp 300 mẫu ở gần Ðà lạt...
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/dalat_M2-ngoanmuc.jpg
Ngày nay du khách đi chơi Ðà lạt thường theo quốc lộ 20, từ ngả ba Dầu giây lên Ðịnh quán, Bảo lộc, rồi Di linh tới Ðà lạt, hay dùng quốc lộ 21 từ Phan rang đi lên, chớ ít ai ngờ rằng con đường lộ đầu tiên nối liền giữa Sài gòn và Ðà lạt đi qua ngả Phan thiết. Ðường ấy bắt đầu từ Ma lâm, qua đèo Datrum đến Di linh, rồi từ đó mới đi tiếp lên Ðà lạt. từ năm 1914-1915, Phan thiết là trạm dừng chân của lữ khách đi Ðà lạt. Từ năm 1908, Ðà lạt mới có ngôi nhà gạch đầu tiên là toà Công sứ Pháp. Năm 1912 Toàn quyền Albert Sarraut kế tục chương trình dang dở của P. Doumer, phát triển Ðà lạt thành một trung tâm nghỉ dưỡng. Ban đầu người Pháp khởi công làm con đường từ Phan rang lên Ðà lạt qua Ða nhim và đèo Ngoạn mục (Bellevue). Con đường ấy sau này mở rộng thành quốc lộ 21. Từ năm 1914, hãng xe hơi chở khách "Société des Correspondances Automobiles du Langbian" cho chạy những chiếc xe hiệu Lorraine-Dietrich trên lộ trình Sài gòn - Phan thiết - Di linh tới Ðà lạt. Người cố cựu cho biết rằng hồi đó người ta gọi tắt hãng xe đò này bằng chữ "SCAL". Năm sau, tỉnh Langbian thành hình vẫn lấy Ðà lạt làm tỉnh lỵ. Ðà lạt bắt đầu thu hút du khách đến nghỉ mát và săn bắn vào mùa hè. Năm 1916, Langbian Palace Hotel là khách sạn đầu tiên được xây dựng theo kiểu nhà sàn, nhưng có hành lang rộng và mái che. Cũng năm đó, Ðà lạt có trạm Bưu chính, sở Công chánh và trắc địa, toà Công sứ, Cảnh binh. Còn người Việt nam (kinh) đầu tiên đến cư ngụ Ðà lạt là những người phu khuân vác trắc địa hay những người buôn bán. Năm 1920, Pháp tái lập tỉnh Ðồng nai thượng, tỉnh lỵ đật tại Di linh, trong khi Ðà lạt trở thành một khu vực tự trị về hành chánh, do một Tổng ủy viên cai trị. Năm 1922, Ðà lạt bước qua một giai đoạn phát triển mới, kiến trúc sư được chỉ định vẽ đồ án nới rộng Ðà lạt, mở rộng thành phố thành một đô thị tân tiến. Ðặc biệt theo đồ án này không được xây cất gì che khuất đỉnh Lâm viên để giữ vẻ đẹp cho thành phố thơ mộng. Pháp muốn thành phố Ðà lạt sẽ là một góc của nước Pháp ở miền núi Alpes của A¨ châu. Do đó Ðà lạt phải có:
- Hồ nhơn tạo
- Hàng trăm biệt thự rải rác trên các sườn đồi
- Xây dựng ngôi chợ trung ương hình khối chữ nhật với tháp chuông vươn cao. Ðó là vị trí rạp hát Hòa bình hiện nay.
Kể từ năm 1930 trở đi, Ðà lạt phát triển thành một đô thị có vườn hoa xinh đẹp, nhiều công viên cây xanh, ngàn hoa khoe sắc thắm vào mùa xuân. Người Mỹ đầu tiên có mặt tại Ðà lạt là vợ chồng nhà truyền giáo Tin Lành Hebert Jackson. Ông này đến Ðà lạt năm 1930, lập nhà truyền giáo đầu tiên cho đồng bào Thượng, có một mục sư Việt nam làm thông ngôn.
Năm 1925, Ðà lạt có chương trình gắn điện các đường phố chính bằng cách xây đập thủy điện Ankroet. Dự án này không thực hiện được vì thiếu ngân sách. Năm 1929 một nhà trồng tỉa Pháp làm một máy phát điện nhỏ sử dụng thác nước Cam ly để cung cấp điện lực cho Ðà lạt. Tháng 7 năm 1932, con đường quốc lộ 20 từ Sài gòn lên Bảo lộc đi Ðà lạt hoàn thành.
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/dalatxuan.jpg
ÐÀ LẠT, MỘT TRUNG TÂM GIÁO DỤC
Các nhà khoa học đều nhận định rằng môi trường, khí hậu trong lành, mát mẻ rất thích hợp cho các hoạt động trí tuệ. Từ đó, Ðà lạt sớm phát triển thành một trung tâm giáo dục quan trọng nhất nước. Năm 1927, nhằm phục vụ cho con em người Pháp và số gia đình người Việt giàu có, Pháp cho lập ra Petit Lycée de Dalat. Ngôi trường Việt nam đầu tiên do cụ Bùi Thúc Bàng mở ra năm 1927, gần rạp Ngọc Lan. Cùng năm đó, dòng nữ tu Soeur St. Paul mở trường Crèche de Nazareth, dành riêng cho trẻ em. Trước năm 1932, trường Petit Lycée de Dalat đổi thành Grand Lycée de Dalat và chương trình học dạy tới bực Tú tài Pháp. Năm 1935, trường này lấy tên Lycée Yersin cho tới nay, để kỷ niệm bác sĩ Yersin, ân nhân của Việt nam và cả nhân loại nữa.
Cuối năm 1932, người Pháp xây dựng cơ sở giáo dục cho nhà dòng sư huynh (trường Christian Brothers) và trường Collège d'Adran cho các chủng sinh. Năm 1935, nhà dòng Notre Dames mở rộng thêm bằng cách thiết lập chương trình giáo dục đệ nhị cấp, còn gọi là "Notre Dames de Langbian" và sau này chúng ta quen gọi trường ấy là Couvent des Oiseaux. Trường nữ này dành riêng cho các thiếu nữ con các gia đình Pháp, Việt giàu có cùng các gia đình quan lại. Trường này thu nhận các nữ sinh từ Miên, Lào theo học nữa.
Ðến ngày 27-6-1939, Ðà lạt có thêm trường Thiếu Sinh quân đầu tiên dành cho các thiếu nhi và thiếu niên các gia đình quân nhân Pháp Việt. Năm 1936 bác sĩ Yersin lập ra viện Pasteur ở Ðà lạt, sau này trở thành nha Ðịa dư, nằm trên ngọn đồi gần trường Yersin và ga xe lửa Ðà lạt. Ngày 1-1-1953, trường Quốc gia Hành chánh thành lập tại Ðà lạt để đào tạo công chức cao cấp cho chính phủ. Nhiều người Việt nam tốt nghiệp khoa này, về sau đều làm tỉnh trưởng, phó tỉnh trưởng và giám đốc các công sở. Trường trung học Trần Hưng Ðạo khởi thủy lập gần chợ Hoà bình, có hoàng tử Bảo Long theo học , nên sau lấy tên là trường Bảo Long. Còn trường nữ trung học Bùi Thị Xuân, lúc mới lập lấy tên công chúa Phương Mai, sau đổi thành trường Quang Trung.
Trường Võ bị Quốc gia Việt nam nguyên thủy là trường Sĩ quan Huế, thành lập năm 1948 bên cạnh sông Hương. Năm 1950, trường này di chuyển về Ðà lạt, lấy cơ sở trường Chỉ huy Tham mưu sau này làm địa điểm. Dưới thời Tổng thống Ngô Ðình Diệm, trường này lấy tên trường Võ bị Liên quân Ðà lạt. Ðến năm 1960, trường này đổi tên thành Trường Võ bị Quốc gia Việt nam trên ngọn đồi 1515. đến năm 1967, trường này có cơ sở hiện đại nhất so với các trường võ bị Ðông Nam A¨. A¨p dụng chương trình huấn luyện quân sự và phần lớn chương trình văn hóa của trường Võ bị West Point (Hoa kỳ), trường Võ bị Quốc gia Việt nam dạy văn hóa bậc đại học 4 năm, đào tạo các sĩ quan hiện dịch đủ trình độ kiến thức chỉ huy và kiến thiết sau này. Khi tốt nghiệp, ngoài bằng cấp tốt nghiệp do trường Võ bị cấp phát, mỗi sinh viên còn được cấp bằng Cử Nhân Khoa Học Ứng Dụng. Cho tới ngày Cộng sản chiếm miền Nam, trường Võ bị đã đào tạo được 29 khóa sĩ quan hiện dịch (khóa 30 và 31 đang trong thời kỳ huấn luyện) làm nòng cốt cho Quân đội VNCH. Viện Ðại học Ðà lạt thành lập năm 1957. Tiền thân của viện Ðại học này là trường Sư huynh công giáo ở Huế do giám mục Ngô Ðình Thục thành lập với sự giúp đỡ của Hồng y Spellman ở New York. viện Ðại học Ðà lạt xây cất trên khu đất rộng 38 mẫu tây, có khoảng 1500 sinh viên theo học các phân khoa Chính trị Kinh doanh, Sư phạm, Khoa học... nằm tại số 1 đường Phù đổng Thiên vương.
Thật là một sự ngạc nhiên lạ lùng, Ðà lạt trước năm 1975 có độ 80,000 dân mà có đến 4 cơ sở giáo dục đại học: Viện Ðại học, trường Ðại học Chiến tranh Chính trị, trường Võ bị Quốc gia Việt nam. Phía Giáo hội còn có trường Giáo hoàng Pio X Ngoài ra còn có 15 trường trung học đệ nhị cấp và 56 trường tiểu học!
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/lycee2.jpg
VÀI NHÂN SĨ THƯỢNG Ở ÐÀ LẠT
Ðà lạt nguyên thủy là quê hương của người Thượng. Khi nói đến Ðà lạt mà không nhắc qua vài tên tuổi lớn người Thượng thì thất là thiếu sót. Từ cuối năm 1920, Ðà lạt phát triển bề rộng lẫn chiều sâu, mà vài người Thượng đã đóng vai trò quan trọng. Tại thung lũng Ða nhim, có bộ tộc Churu (Chru) tuy dân số ít (độ 1500 người) nhưng được coi là bộ lạc tiến bộ nhất cao nguyên Lâm viên, vì lịch sử của họ có liên hệ với lịch sử người Chiêm thành.
Là thị dân Ðà lạt, tôi chắc nhiều đồng hương còn nhớ con đường Ya Gut, nằm giữa đường Trần Bình Trọng và Hoàng Diệu, gần Trung tâm Y tế toàn khoa?
Theo Touneh Han Tho thì Banahria Ya Gut được coi như lãnh tụ người Churu nhiều thập niên đầu thế kỷ 20. Sinh năm 1870 tại một buôn làng thuộc vùng Ðơn dương ngày nay, Ya Gut kết hôn với một người chị bà con của thân phụ Han Tho; Ya Gut có một đứa con gái tên Ame Mabo, cho đến năm1975 vẫn còn sống tại làng Diom là quê hương của ông ta. Ông Ya Gut là một người có tâm hồn nghệ sĩ, môt Nguyễn Du của người Churu, từng sáng tác nhiều thên anh hùng ca cho dân tộc Churu. Tài năng ấy Ya Gut thừa hưởng của tổ tiên. Năm 1909, Pháp lập một đồn hành chánh tại Dran (Ðơn dương) và phong cho Ya Gut làm tri huyện cai trị vùng này, giống như trường hợp tù trưởng có thế lực Khunjenob cai trị tại Ban Mê Thuột. Hồi đó Ya Gut đóng vai trò trung gian giao thiệp giữa Pháp và dân chúng. Ngoài chức vụ hành chánh, Ya Gut còn đóng vai thẩm phán hoà giải các vụ xung đột, làm trọng tài giải quyết các cuộc tranh chấp của đồng bào ông ta. Theo Touneh Han Din, một người bà con với Han Tho, thì trong thời gian làm tri huyện ở Dran, nhiệm vụ căn bản của Ya Gut là chiêu mộ dân Thượng làm phu đắp đường giao thông. Dân Thượng cũng bị bắt buộc phải khiêng cáng cho các viên chức Pháp Việt và vợ con của họ. Ðối với các bà vợ công chức Việt nam, những người Thượng này gọi đùa rằng đó là các "bà đầm mũi tẹt".
Một lãnh tụ khác là Touneh Han Dang, sinh năm 1880 tại Diom, trong một gia đình có 7 anh em. Ba mẹ là người thuộc chi tộc Banahria. Cũng như cha, thuở nhỏ Han Dang theo cha làm rẫy. Thời gian nhàn rỗi cậu thường đi săn bắn thú rừng. Ðến tuổi 15, Han Dang tháp tùng theo các thường nhân người Churu buôn chuyến từ Phan rang lên Dran. Chuyến xuống họ mang mật ong, thịt rừng phơi khô, vài loại măng... xuống Phan rang đổi lấy muối, nước mắm, vải vóc. Là một thanh niên cường tráng, có chí tự lập, chỉ mấy năm sau, Han Dang tự mình tổ chức các chuyến hàng riêng biệt. Tại Phan rang có làng An phước là nơi nổi tiếng văn vật của người Chàm, có trường tiểu học. Nhờ vậy Han Dang được theo học các môn Pháp Việt và Chàm ngữ. Thấy việc học thích thú và có lợi, Han Dang rất tích cực trau dồi. Nhưng có một điều làm cho Han Dang lo lắng đó là cha mẹ cậu sợ cậu ở mãi dưới An phước sẽ lưu lạc rồi bỏ rơi ông bà. Vì thế ông bà thu xếp cho hai người anh lớn đang làm giáo viên, dạy kèm tiếng Việt và Chàm cho Han Dang tại nhà ở Diom. Hàng ngày, sau khi tập ca hát cùng các ban hợp ca trong hai giờ, Han Dang học kèm với anh, và sau đó, học võ với một võ sư người Việt.
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/RaDe2.jpg
Năm 1905, Pháp bắt đầu làm con đường từ Phan rang lên Ðà lạt. Han Dang và cha đều bị bắt đi làm sưu. thấy cha già yếu, Han Dang tình nguyện làm việc cho cả hai người, nhưng lại từ chối khiêng cáng cho các "bà đầm mũi tẹt". Con đường từ Krong Pha lên Ðà lạt có nhiều dốc cao, mỗi ngày Han Dang chỉ mang vác vượt 15 cây số thôi. Hàng hóa thường là những két rượu vang dành cho các công chức Pháp ở Ðà lạt. Trong thời gian ấy Han Dang dành dụm được một số tiền, bắt đầu mua ngà voi, mật ong ở Roglai đem xuống Phan rang bán. Năm 1907, Han Dang có ý nghĩ sẽ cải tiến đời sống người Churu. Ðầu tiên, Han Dang yêu cầu một người đàn bà Chàm đến Ða nhim dậy bộ lạc Churu dệt vải. Kế tiếp, Han Dang gởi cô em họ là Ba Cam xuống Phan rang học kỹ thuật làm nồi đất nung. Khi trở về, Ba Cam bắt đầu làm toàn bộ nồi đất mới cho cả làng. Han Dang còn học được kỹ thuật cày ruộng: cày sâu và hiệu quả hơn. Có một điều không thành công lắm là bắt đàn bà Churu mặc quần thay vì mặc váy.
Năm 1910, Han Dang được bổ làm lý trưởng Diom. Năm sau Pháp lập huyện Tân khai, sau này gọi là Di linh và Han Dang trở thành thông ngôn cho Ya Gut. Ðến năm 1919, tri huyện Ya Gut hưu trí và Han Dang được cử thay thế chức tri huyện của Ya Gut. Mãi đến ngày 22-2-1922, triều đình Huế (Khải Ðịnh) mới bổ Han Dang làm "Thổ Huyện Tân khai" và gọi là "tri huyện Mọi". Trong thời gian này, Han Dang đề nghị mở trường ở Ða nhim bị công sứ Cunhac và quản đạo Trần Văn Lý phản đối với lý do "người Mọi không cần giáo dục, vì họ chỉ làm những việc nặng nhọc, không cần đến sự khéo léo". Dù thất bại, Han Dang không nản, tiếp tục tranh đấu để cải tiến mức sống của đồng bào ông. Năm 1922, người Pháp làm đường Sài gòn đi Ðà lạt qua ngả Bảo lộc, cần nhiều phu người Thượng. Với tư cách tri huyện Mọi, Han Dang có bổn phận cung ứng dân phu, nhưng đồng thời cũng nhắc lại yêu sách mở trường học. Lần này có kết quả. Tại các buôn người Lat, người Chil, người Churu, bắt đầu có trường sơ cấp, nhưng mỗi trường chỉ có độ 10 học sinh. Cho đến năm 1927, quản đạo Trần Văn Lý liên tục bất đồng ý kiến với Han Dang, và bỏ qua các đề nghị của Han Dang về những cải cách nâng cao mức sống của đồng bào Thượng. Khi quản đạo Trần Văn Lý đi rồi, tình hình người Thượng được cải thiện hơn: Han Dang tranh đấu để tỉnh cấp tiền bạc cho học sinh, tăng chương trình học lên 4 năm, và lúc ấy có 40 học sinh theo học. Những học trò giỏi được gửi lên Ðà lạt sẽ ở trọ nhà Han Dang đi học. Những học sinh ưu tú, sau khi tốt nghiệp sẽ được gửi đi Qui Nhơn học tiếp "Collège de Quinhon".
Ngày 2-9-1925, toàn quyền Ðông dương ban tặng cho Han Dang huy chương Bắc Ðẩu bội tinh. Theo Touneh Han Tho, trong khi khánh thành đường xe lửa từ Krong Pha lên đèo Ngoạn mục, công sứ Ðồng nai thượng có ban cho Han Dang huy chương "Kim Tiền hạng 3". Sau đó, Han Dang còn liên tiếp nhận được các huy chương Bắc Ðẩu bội tinh (1929), mề đay Kim Khánh hạng 3 (1933).
Theo Touneh Han Tho, Han Dang tiếp tục tranh đấu để cải thiện mức sống của đồng bào Thượng quanh vùng Ðà lạt. Ông tranh đấu cho dân làm đường được lãnh lương cao hơn. Mội khi có những thắc mắc ông khiếu nại với các viên chức cao cấp Pháp tại Ðà lạt, nếu như không được giải quyết, không nản, ông làm đơn gởi lên hoàng đế Bảo Ðại, thủ tướng Pháp Léon Blum và cả tổng thống Pháp. Năm 1937, để phản đối viên công sứ Pháp lạm quyền, Han Dang từ quan, về làng làm lãnh tụ cho bộ lạc của ông đến ngày mãn phần.
ÐÀ LẠT: KHUNG TRỜI KỶ NIỆM
Ðà lạt năm nay vừa tròn 100 tuổi (1893-1993). Thành phố Ðà lạt cũng có cuộc sống riêng của nó. Một thế kỷ qua Ðà lạt chào đời, phát triển, phồn thịnh như một cô gái xuân đài các, bây giờ bước vào giai đoạn suy tàn.
NGUYỄN THÔNG HAY YERSIN, AI ÐÃ TÌM RA VỊ TRÍ ÐÀ LẠT?
Ðúng 100 năm trước, vào lúc 3 giờ chiều ngày 21-6-1893, vừa từ một khu rừng rậm chui ra, bác sĩ Yersin và đoàn thám hiểm ngạc nhiên đến sững sờ trước một khung cảnh thiên nhiên kỳ thú mà họ chưa bao giờ nhìn thấy trước đó. Trong nhật ký, bác sĩ Yersin đã ghi lại: "Một cao nguyên rộng lớn, không cây cối, đó đây thấp thoáng những trái đồi thấp, phủ một lớp cỏ xanh mịn màng".
Vào năm 1905,một du khách người Anh có dịp đật chân đến Ðà lạt, đã ghi lại khung cảnh thành phố buổi sơ khai: "Nhiều đồi núi thấp nằm trên một diện tích rộng lớn, không cây cối, chỉ phủ một lớp cỏ ngắn. Tất cả cùng một cao độ, tựa hồ như những đợt sóng màu xanh nhấp nhô. Ở chính giữa, đỉnh Lâm viên vượt lên như một hòn đảo lởm chởm. Ðăng kia (Dankia) nằm dưới chân dãy núi ấy, ở phía bên kia cao nguyên. Cao nguyên thật yên tĩnh và mát mẻ, không dốc đứng, không một bụi rậm. Trong các thung lũng hẹp là những rừng thông nằm xen giữa những ngọn đồi."
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/doithong.jpg
Mới đây, bên nhà, trên tạp chí Du Lịch Lâm Ðồng, tác giả Nguyễn Diệp có viết bài "Ai là người đầu tiên thám hiểm và tìm ra Ðà lạt?" nêu lên ý kiến cho rằng chính Nguyễn Thông (1827-1884) trong khi làm chức Dinh điền sứ đóng ở Bình thuận, đã có lần lên thăm vùng rừng núi cao nguyên Lâm viên ngày nay. Ông tìm ra vị trí Ðà lạt 25 năm trước khi bác sĩ Yersin đật chân tới.
Bài viết có vẻ là một phát kiến mới lạ, làm thỏa mãn tự ái người Việt, nhưng thiều những bằng chứng xác thực. Dù cho sau này chúng ta có thể tìm được thêm những chứng cớ nào đáng tin cậy hơn nữa để kết luận Nguyễn Thông là người đã khám phá cao nguyên Lâm viên, cũng không quan hệ đến sự ra đời của đô thị này. Cho dù Nguyễn Thôngtrong lúc làm Dinh điền sứ lo việc khẩn hoang có đến cao nguyên Lâm viên thực sự, rồi sau đó báo cáo về triều đình nhà Nguyễn, thì việc thực hiện công cuộc di dân lên khai phá, đặt nền tảng cho một đô thị như Ðà lạt hiện nay cũng không thể nào có được. Các khái niệm về thành phố nghỉ mát, trung tâm điều dưỡng, phải đợi người Pháp du nhập. Ngoài người Tây phương, không triều đại nào ở nước ta có thể thực hiện được.
Các thế kỷ trước khi chinh phục các quốc gia nhiệt đới làm thuộc địa, người Âu châu thường gặp phải vấn đề khí hậu oi bức so với đất nước họ. Hàng năm, các công chức thuộc địa phải về chính quốc để nghỉ hè. Việc ấy rất tốn kém thì giờ và tiền bạc. Chính vì lẽ đó mà người Anh lập thành phố Darjeeling ở Ấn độ,người Mỹ lập Baguio ở Philippines, người Hoà lan lập Bogor, rồi Thái mở rộng Chiengmai, và Pháp ở Ðông dương tìm kiếm những vị trí trên núi cao mát mẻ như Sapa, Tam đảo, Bạch mã, Bà ná, và Ðà lạt ở Việt nam ra đời.
Ðà lạt được khai sinh dưới thời Toàn quyền Paul Doumer. Khi đọc báo cáo của bác sĩ Yersin về cao nguyên Lâm viên, Doumer tỏ ra thích thú. Trong một chuyến du hành bằng ngựa từ Bắc vào Nam, Toàn quyền Paul Doumer đã yêu cầu bác sĩ Yersin dẫn mình đi quan sát địa điểm nói trên. Ðến nơi, thấy địa thế lý tưởng, khung cảnh mát mẻ, Doumer tỏ ra hài lòng. Về Hà nội, Paul Doumer liền ký sắc lệnh thành lập đô thị nghỉ mát Ðà lạt.
Một nhà nghiên cứu khác có mặt rất sớm ở Ðà lạt, đã viết trong một hồi ký nhan đề Connaissance de Dalat như sau: "Ở nơi hồ nước, có dòng suối của bộ tộc Lat chảy qua, người ta gọi là Dalat."
Lúc đó thác Cam ly (ở cuối đường Yersin trước năm 1975) là một dòng suối nhỏ, mùa mưa nước chảy khá mạnh. Tên Cam ly ngày nay bắt nguồn từ tên người tù trưởng bộ lạc Koho. Ông ta tên là K'mly, sau khi chết, bộ lạc này dùng tên ông mà đật tên cho con suối đó mà họ xem như là quê hương của người Koho ở cao nguyên Lâm viên. Về sau người Việt đọc trại thành Cam ly. Trong một tấm bưu ảnh hồi thập niên 1950 chụp thác Cam ly, phía dưới có hai câu thơ:
Cam ly nước chảy về đâu?
Cho ta nhắn gửi mối sầu cố hương.
Thác Cam ly trở thành một thắng cảnh để du khách thăm viếng bắt đầu từ năm 1912. Nằm trên ngọn đồi lộng gió gần đó là lăng ông bà Nguyễn Hữu Hào, tức ông bà Quận công Long Mỹ, nhạc phụ hoàng đế Bảo Ðại. Ông Hào là một người theo đạo công giáo, có quốc tịch Pháp, người quê ở Gò công, có nhiều đồn điền ở Ðà lạt, Cầu Ðất. Ông Hào là rể của ông Huyện Sĩ, thân phụ bà Nam Phương hoàng hậu, mất năm 1939. Trong các bài "Hoàng Triều Cương Thổ", "Nam Phương Hoàng Hậu", chúng tôi có nhắc đến chi tiết này, nay xin miễn kể thêm.
Con đường nối liền cao nguyên Lâm viên với đồng bằng Phan rang hoàn tất năm 1899, chỉ dùng cho voi, ngựa chở đồ và người đi bộ. Năm 1912 ngôi chợ đầu tiên Ðà lạt được xây cất bằng gỗ, ngay vị trí rạp hát Hòa bình bây giờ. Năm 1936 chợ Hoà bình mới với hình tháp chuông nhô lên một góc, được xây dựng lại. Ngôi chợ mới Ðà lạt do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ vẽ kiểu, xây dựng hồi năm 1958.
Khi thế chiến thứ nhất bùng nổ bên Âu châu, con đường hàng hải qua lại bị gián đọan, nên các công sứ, tham biện, thống sứ ngưòi Pháp thường lên nghỉ hè trên Ðà lạt. Năm 1923 Toàn quyền Maurice Long giao cho kiến trúc sư Hébrard vẽ đồ án mở rộng thành phố, giữ lại bối cảnh sân cù nhìn lên đỉnh Lâm viên, không cho xây dựng.
Con đường xe lửa Ðà lạt - Tháp chàm phải xây dựng trong nhiều năm, vì đèo Ngoạn mục dốc đứng, cao 980m trên mặt biển. Do đó người Pháp phải thuê kỹ sư Thụy điển là những chuyên viên làm đường sắt có răng cưa trên các triền núi cheo leo bên nước họ, qua xây dựng con đường rầy. Khởi công từ năm 1928, con đường phải chia làm nhiều đoạn, có răng cưa ở giữa cho xe leo dốc khỏi tuột, cuối cùng khánh thành vào năm 1933 cùng một lượt với nhà ga Ðà lạt. Ðó là một kiến trúc độc đáo hoàn toàn kiểu Âu châu màu đỏ, có những cửa kính hình vuông, xa trông như một toà lâu đài. Ngày khánh thành đường xe lửa Ðà lạt - Phan rang, có mặt Toàn quyền Pasquier và Khâm sứ Trung kỳ Thibaudau. Từ đó Pháp chở nhiều vật liệu nặng cho việc xây dựng các biệt điện.
Cũng như nhiều thành phố khác, tới đâu Pháp cũng lo hưởng thụ các tiện nghi. Khu vực xây dựng đầu tiên gọi là "khu phố Tây" nằm trên đồi, thuộc khu vực rạp hát Ngọc Lan, chạy qua khách sạn Thủy Tiên, tới đường Phan Ðình Phùng, với nhiều nhà phố kiểu Tây phương, trên lầu có ban công nhìn xuống đường lộ để chiều chiều họ ra đó nhìn xuống đường phố. Dinh Toàn quyền, còn gọi là Biệt điện số 2, nằm trên một ngọn đồi gần ngã tư đường Nguyễn Tri Phương và Trần Hưng Ðạo, khởi công năm 1933 có 25 phòng, ba năm sau mới hoàn thành. Biệt điện quốc trưởng dành riêng cho vua Bảo Ðại gọi là dinh số 3, nằm cuối con đường Huyền Trân công chúa. Từ lúc xây cất xong cho đến năm 1945, biệt điện được gọi là Hoàng cung Ðà lạt. Ðây cũng là chỗ để hoàng đế tổ chức lễ Vạn thọ (sinh nhật), tiếp tân các toàn quyền, khâm sứ, và sau này là Cao ủy Pháp.
Trong biệt điện chia ra nhiều phòng:
- Văn phòng Hoàng đế, có bức tượng hình người thật của nhà vua bằng thạch cao và một bức tượng khác nhỏ hơn, bằng vàng, của vua Khải Ðịnh. Sau năm 1975 tượng này đã bị VC lấy mất.
- Trong phòng này cũng có ngọc tỉ, ấn tín. Phía trên lò sưởi, ngay giữa phòng là bức chân dung hoàng đế mặc triều phục, hoàng tử Bảo Long và Nam Phương hoàng hậu.
- Tầng lầu thứ hai dành riêng cho hoàng gia họp mặt. Phòng màu vàng dành cho thái tử Bảo Long. Phòng hình bán nguyệt dành cho hoàng hậu và các con, nơi cả gia đình họp mặt.
Ngoài ra, còn Dinh số 1 nằm trên một ngọn đồi từ ngả ba Trại Hầm đi lên. Những biệt điện kể trên xây cất cách nay hơn nửa thế kỷ, nhiều chỗ hư mục nhưng không được tu bổ.VC bán vé cho du khách vào xem nhưng không bỏ tiền để tái thiết, sau khi đã vơ vét hết những tài sản qúy giá ở những nơi đó cũng như trong cấm thành ngoài Huế hồi năm 1945.
Dưới thời Ðệ nhất Cộng hoà (1955-1963), vợ chồng ông Ngô Ðình Nhu có xây một biệt thự nghỉ mát gọi là "biệt điện mùa hè" ở Ðà lạt. So với các dinh số 2, dinh số 3, biệt điện này nhỏ hơn, nhưng là một công trình kiến trúc nghệ thuật, vật liệu mua từ ngoại quốc, trang bị tối tân hơn. Lần đầu tiên, một hồ tắm kiểu vua chúa Tây phương được du nhập dành cho cấp lãnh đạo thụ hưởng. Biệt điện xây trên một ngọn đồi nhìn xuống một thung lũng thơ mộng, và đồi ấy được đật tên là Châu Lâm (Jewel Forest). Mùa hè năm 1964, khi chế độ Ngô Ðình Diệm sụp đổ, gia đình chúng tôi có ra thăm biệt điện này, chứng kiến cảnh sống vương giả của gia đình họ Ngô. Biệt điện được trang hoàng theo sở thích của từng người. Phần bà Nhu là hồ tắm bằng cẩm thạch, nước trong vắt, có máy làm nuớc nóng về mùa đông. Trong nhà, phòng ngủ, bếp nấu ăn đều trang bị những tiện nghi đắt tiên vì bà là một trưởng giả khó tánh. Phòng khách có đến năm lò sưởi. Tường, trần nhà, sàn nhà đều lót bằng những phiến gỗ tếch hình vuông, đánh bóng. Khu vườn hoa là của ông Ngô Ðình Nhu, có trên một trăm loài hoa hiếm qúy được mua từ ngoại quốc đem về. Mỗi lần ra thăm, tổng thống Ngô Ðình Diệm thường bước ra sân im lặng ngắm hoa, như theo đuổi một ý tưởng riêng. Biệt điện chỉ có độ 12 phòng nhưng phải xây dựng mất năm năm mới hoàn thành vì nhiều chỗ phải đập đi làm lại nhiều lần mới vừa lòng bà Nhu. Riêng chiếc cổng vào, phải xây lại đến lần thứ năm.
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/dalat-house3small.jpg
Cũng trong thập niên 1930, Pháp xây dựng nhiều dinh thự khác như toà công sứ, dinh quản đạo (cho tỉnh trưởng người Việt), trường trung học Yersin, trường Couvent des Oiseaux, khách sạn Du Parc, nhà thờ chính tòa gần Ðà lạt Hotel được xây dựng sớm hơn, nhưng mãi đến năm 1942 mới hoàn thành. Cây thánh giá trên nóc tháp chuông, cách mặt đất tới 47 mét, dáng dấp một giáo đường thời trung cổ bên Âu châu. Khách sạn lớn nhất là Ðà lạt Hotel nằm cùng khu vực với nhà thờ, trên đường Yersin, được xây dựng sớm nhất, từ năm 1907, có 65 phòng. Sau năm 1945 khách sạn ấy bị hỏa hoạn làm hư hại một phần.
Tới đầu thập niên, Ðà lạt trở thành một đô thị tân tiến với các dinh thự to lớn, hơn 800 biệt thự, nhà nghỉ của tư nhân, các gia đình qúy tộc, giàu có khắp nơi trong nước. Mỗi biệt thự kiến trúc khác nhau nhưng đều giống nhau ở chỗ có sân cỏ, vườn hoa, và chỗ để xe hơi. Thuở đó, người Pháp hãnh diện coi Ðà lạt như "La Petite Paris" (tiểu Paris). Năm 1949 Quốc trưởng Bảo Ðại từ Hồng kông về chấp chánh. Ðà lạt là nơi quốc trưởng cư ngụ nên trở thành thủ đô hành chánh, các chính khách rộn rịp lên xuống yết kiến ngài. Lúc đó, Ðà lạt cũng còn là một địa điểm săn bắn hấp dẫn. Chỉ cách Ðà lạt chừng hai giờ lái xe, chúng ta sẽ lạc vào những khu rừng có đầy nai, mễn, heo rừng, chim phụng hoàng, gà rừng, gấu và cọp nữa. Năm 1972 có lần chúng tôi gặp bốn người Thượng khiêng một con cọp vừa mới bẫy được, đem ra chợ Ðà lạt bán. Món thịt nai gần như ngày nào cũng có, nhất là khi trời bắt đầu mưa cho đến tháng 11 hàng năm.
Theo thời gian, chế độ Hoàng triều Cương thổ bị bãi bỏ, Ðà lạt thu hút thêm nhiều người Việt từ ba miền lên lập nghiệp. Vì có khí hậu miền ôn đới nên Ðà lạt là nơi thích hợp cho các loại hoa và rau cải, trái cây xứ lạnh. Hồi đầu thập niên, người Pháp muốn mở rộng nghề trồng rau cải và trồng hoa để phục vụ nhu cầu của họ, nên cho phép một số người có kinh nghiệm trồng rau lên Ðà lạt lập nghiệp. Theo lệnh Pháp, tổng đốc Hà đông Hoàng Trọng Phu tuyển mộ mấy mươi gia đình từ các làng chuyên canh rau cải, trồng hoa ở Ngọc Hà, Nghi Tam, Quang Ba, Tây Từ... lên Ðà lạt, được cấp đất trồng hoa. Lớp người này lập ra ấp Hà Ðông để tưởng nhớ quê hương của họ. Ấp Nghệ Tĩnh do Phạm Khắc Hoè khi làm quản đạo Ðà lạt lập ra năm 1942, cũng tập họp những người phát xuất từ hai tỉnh đó.
Dưới thời Ðệ nhất Cộng hòa, chính phủ Ngô Ðình Diệm cho thiết lập nhiều cơ sở văn hoá tại Ðà lạt. Viện Ðại học Ðà lạt thành hình năm 1957, xuất phát từ chủng viện công giáo thuộc giám mục địa phận Huế cai quản. Viện Ðại học Ðà lạt ra đời với sự đỡ đầu của Tổng giám mục Ngô Ðình Thục và sự giúp đỡ của Hồng y Spellman ở New York, phát triển liên tục cho đến năm 1975.
Về tôn giáo, một trong các ngôi chùa cổ nhất là chùa Linh Phong trên đường đi Trại Hầm, chùa Linh Sơn, chùa Thiên Vương, chùa Sư Nữ. Nhà thờ Domain là nơi tu hành của các bà sơ, chuyên làm bánh kẹo, trồng hoa để bán. Vợ của toàn quyền Ðông Dương Jean Decoux tên Suzanne Humbert là bạn của hoàng hậu Nam Phương, là người đóng góp nhiều tiền bạc cho nhà thờ này. Bà bị tai nạn xe hơi trên đường Ðà lạt nhân một chuyến lên chơi với bà Nam Phương. Thi hài được chôn phía sau nhà thờ. Nói đến chùa Linh sơn Ðà lạt, người ta nhớ đến một thầy trụ trù từ năm 1945. Thầy là người cha Nhật mẹ Việt, sinh năm 1926. Khi Nhật vào Ðông dương, thầy bị bắt đi làm thông ngôn một thời gian. Năm 1951 thầy tốt nghiệp trung học yersin. Trong thời gian trụ trì ở chùa Linh sơn, thầy vẫn cầu học, dịch kinh sách, và ghi danh theo học ở viện Ðại học Ðà lạt, phân khoa văn chương và triết học. sau đó thầy chuyên về môn văn chương Anh Mỹ, tốt nghiệp cử nhân với đề tài tiểu luận "William Faulkner" vào năm 1975!
Ngoài ra, ở Ðà lạt còn có Trung tâm Nguyên tử lực do chương trình "Nguyên tử phụng sự Hòa bình" của Mỹ viện trợ.Trung tâm này sử dụng lò phản ứng nguyên tử Triga Mark II do Hoa kỳ chế tạo, áp dụng chất phóng xạ đồng vị trong nông nghiệp. Trung tâm được khánh thành dưới sự chủ tọa của Tổng thống Ngô Ðình Diệm trước sự hiện diên của đại sứ Henry Cabot Lodge. Hai công trình quân sự tốn kém khác nhưng có tính cách văn hóa hơn là trường Võ bị Quốc gia Việt nam, nằm trên một ngọn đồi cao, kiến trúc tối tân, gồm hàng chục dãy nhà lầu ba, làm cư xá cho sinh viên, khu văn hoá, bộ chỉ huy, nhà thí nghiệm nặng... để phục vụ chương trình giáo dục bốn năm cho các sinh viên sĩ quan hiện dịch. Khi tốt nghiệp, ngoài bằng cấp quân sự, các sinh viên còn được cấp phát văn bằng Cử nhân khoa học ứng dụng. Kế đến là trường Ðại học Chiến tranh Chính trị, trường Chỉ huy Tham mưu, cung cấp kiến thức chuyên nghiệp về quân sự cho các sĩ quan.
ÐÀ LẠT, THÀNH PHỐ HOA NỞ BỐN MÙA
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/dalat_M16.jpg
Mới viếng Ðà lạt, du khách sẽ ngạc nhiên không phải vì cái khung cảnh của một thành phố Âu châu nằm lọt trong lòng một vùng rừng núi xích đạo nước ta, mà chính là cái cảm giác khoan khoái, lâng lâng như vừa bước vào một căn phòng gắn máy lạnh. Xung quanh Ðà lạt là rừng thông hai lá và thông ba lá. Tiến vào rừng sâu, người ta còn tìm thấy một vài loại cây xứ lạnh khác như tùng, tắc bá diệp, bạch đàn.
Sống ở Ðà lạt nhiều năm, tôi nghiệm ra rằng mỗi năm ở đây có hai mùa rõ rệt. Mùa nóng bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10. Lúc đó, ra đường chỉ cần khoác một chiếc áo len mỏng nhẹ. Nhưng nếu phải đi bộ lên dốc xuống đồi thì chắc chắn cảm thấy nực vì mồ hôi. Mùa lạnh từ tháng 11 trở đi, khí hậu lạnh dần cho đến hết tháng 12 là cực điểm. Mùa Giáng sinh có những đêm ở phi trường Cam ly nhiệt độ xuống đến số 0. Ban ngày, bầu trời trong vắt, nắng hanh vàng, tuy nhiên nếu ra khỏi nhà phải mặc đồ đủ ấm, nếu không sẽ bị cảm lạnh. Trời lạnh đi bộ là một cái thú, cũng là một cách nạp lại năng lượng cho cơ thể. Trước cửa nhà, nhìn qua bên kia đồi, mấy biệt thự mái ngói đỏ au. Theo một con đường đất đỏ ngoằn ngoèo đẫm ướt sương đêm là hình ảnh quen thuộc mỗi buổi sớm mai. Buổi sáng hay chiều đều có cái thú riêng của nó mà những người ở Ðà lạt lâu năm mới tìm thấy riêng cho mình. Mùa mưa, vừa thức giấc, sương mù còn tỏa trên các thung lũng một màu trắng đục. Thấp thoáng xa xa, mấy cái nhà sàn ẩn hiện như trong bức tranh thủy mạc. Trên mặt hồ Xuân hương là một màn mỏng lờ mờ cho đến khi nắng lên, sương tan dần.
Những buổi sáng mù sương là những đề tài cho các nhà săn ảnh mỹ thuật. Ở đây sương mỏng và hiền, không phải sương muối như nhiều nơi khí hậu khắc nghiệt khác. Những người làm nghề trồng tỉa cho biết lớp sương mù buổi sớm rất cần thiết cho cây trà, mà ở Cầu Ðất, trên đường từ Trạm hành đến Ðơn dương, nhiều đồn điền trà dầm dià những giọt sương sớm, lắng đọng trên cành lá. Cầu Ðất cũng có nhà máy pha chế trà của ngưới Pháp.
Có bạn ở Ðà lạt lâu năm nói với tôi rằng: "Một ngày Ðà lạt có đủ bốn mùa: sáng sớm trời lạnh, nhiệt độ còn thấp, nhiều sương phủ mờ trên thung lũng hay mặt hồ. Ðó là mùa xuân, cỏ hoa vươn mạnh, sau một đêm dầm dìa những giọt sương. Buổi trưa, mặt trời lên cao, nóng ấm, cũng là lúc giống mùa hè. Vào buổi xế, mặt trời Ðà lạt lặn sớm vì nhiều đồi núi, gió hiu hiu se lạnh, ta có cảm giác như trời vào thu. Về đêm, nhiệt độ xuống thấp nhất vào lúc nửa đêm, lạnh ngắt, đó là mùa đông." Ban đêm nhà nào cũng kéo lớp cửa kính lên để giữ nhiệt độ trong nhà được ấm. Hàng năm, trường Võ bị Quốc gia Việt nam làm lễ mãn khóa vào tuần thứ ba của tháng 12 trong không khí giá buốt. Khách đến dự lễ truy điệu vào ban đêm, súng sính trong những bộ dạ phục mùa đông đất tiền, chẳng khác gì ở những quốc gia ôn đới.
Nhưng cái hấp dẫn khác của Ðà lạt có lẽ là xứ hoa nở bốn mùa. Mùa xuân, nhiều loài hoa nở rộ, khoe hương sắc. Hoa mai nở quanh năm. Có nhiều loại hoa mai như mai đỏ, mai tứ qúy, mai hồng, và nhất chi mai. Vào tháng chạp có hoa đào báo hiệu ngày Tết. Hoa đào thuộc loại hoa qúy tộc, mầu hồng đậm nhạt. Những gia đình trung lưu ở Ðà lạt, ngày tết thường chưng một bình hoa có cành đào trong phòng khách. Còn hoa anh đào, một món quà tặng từ xứ Phù tang, được trồng ven bờ hồ Xuân hương. Hoa đào nở rộ vào hai tuần lễ cuối tháng 12. Hoa đào phơn phớt trắng hồng như má thiếu nữ khuê các. Con đường từ trước khách sạn Palace ra đến cầu ông Ðạo là cả một rừng hoa anh đào rực rỡ, tô điểm cho thành phố Ðà lạt vào xuân.
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/dalat_M8.jpg
Ðà lạt đẹp một cách kiêu kỳ lãng mạn. Nhiều thi nhân, văn sĩ về đây không tiếc lời ca ngợi Ðà lạt. Mùa này, khi nắng lên, thị dân và du khách đổ ra đường, rồi đến trưa mọi người đều đổ về công trường chợ Hoà bình. Chợ Hòa bình tràn ngập giai nhân với muôn màu áo, hãnh diện khoác tay những chàng trai kiêu hùng trong bộ quân phục với chiếc alpha màu đỏ hay đen. có những buổi sáng, khi làn sương mù còn bao phủ trên ấp A'nh sáng, tôi thường theo vợ con đi chợ. Trong khi nhà tôi dẫn con đi mua sắm, tôi thường vào cà phê Tùng, nhâm nhi tách cà phê nóng bốc khói cho ấm lòng. Ở đây cũng là chỗ hẹn hò của các văn nhân, thi sĩ, nhạc sĩ từ Sài gòn tới. Họ thường trầm ngâm, thả hồn qua khói thuốc để tìm ý thơ. Còn nhà Thủy tạ nằm trên một doi đất trước khách sạn Palace, là chỗ hẹn hò của các tình nhân, vì cái không khí tĩnh mịch lại nên thơ. Trước năm 1954 nhà Thủy tạ còn gọi là La Grenouillière.
Hồi ở Ðà lạt tôi cũng có anh bạn thân, nhà văn Ðặng Ðình Tòng, có dáng dấp một triết gia với cặp kính cận, thường mặc bộ đồ veste, che cây dù đen dạo phố. Có lần anh về thăm ông bà nhạc ở Long xuyên, bị ông nhạc nói với con gái: "Tao không gả mày cho thằng cha thầy bói đó."
Chúng tôi có cái thú uống cà phê vào những buổi chiều cuối tuần để nhìn thiên hạ dạo phố. Từng cặp, từng cặp tay trong tay, chầm chậm trên các nẻo đường. Sở thích chúng tôi là cà phê pha đậm, uống bằng tách sành (không dùng ly thủy tinh). Còn nước trà phải nấu bằng nước suối múc trên nguồn thác Datanla, hoặc không thì cũng là nước mưa. Không biết cái không khí se lạnh buổi sáng hay cái nắng hanh vàng buổi chiều thoi thóp trên cành cây làm chúng tôi thú vị như thế nào, nhưng thói quen ấy chúng tôi không bỏ trong nhiều năm. Cũng có thể chúng tôi ghiền cái không khí bạn bè của người đồng điệu. Núi rừng cao nguyên chùng xuống. Mặt hồ gợn sóng lăn tăn. Ở phía xa hướng trường Yersin và Nha địa dư, trên mặt hồ có mấy cánh buồm sọc đỏ trắng, uể oải về bến. Trước hàng rào nhà chúng tôi là một hàng cây mimosa. Ðến mùa, hoa lấm tấm vàng, nở rực theo theo suốt con đường Nguyễn Tri Phương, Trần Hưng Ðạo, Pasteur... Hoa lưu ly thảo có người nói chính "forget-me-not", cánh mỏng như giọt sương. Còn hoa pensée hay hoa tư tưởng là hoa học trò, nở vào dịp gần gãi trường. Ai đã từng đi học mà không có lấn mơ mộng, ép hoa pensée vào trang giấy học trò kỷ niệm thời cắp sách. Ngoài ra, còn có nhiều loại hoa lạ như uất kim hương, glaieul (lay ơn) hoa croquelic.
Ở Ðà lạt nhiều năm, nhưng tôi cũng không ngờ các loại hoa mimosa, hồng nhung, glaieul... do chính bác sĩ Yersin du nhập vào nước ta. Ngoài các loại hoa, bác sĩ Yersin còn mang đến nhiều giống cây lạ như cà phê, canh ky na, ca cao. Bác sĩ Yersin cũng là ân nhân của Việt nam và cả nhân loại khi tìm ra được thuốc chích ngừa bệnh dại, bệnh dịch hạch.
Người qúy phái thích hoa hồng. Tuy gọi hoa hồng nhưng thực sự nó có đủ màu sắc. Hoa hồng phấn còn mện danh là Grace Monaco, hồng vàng gọi là Joséphine, hồng nhung gọi là Brigite Bardot. Hoa cúc cũng nhiều thứ, đủ màu sắc khác nhau. Có người trồng hoa ở Liên khàng nói với chúng tôi có đến 19 loại hoa cúc cùng họ compositae như cúc vàng, cúc trắng, cúc Nhật bản, cúc đồng tiền, cúc đại đóa, cúc hoàng anh, hoa thủy, cúc qùy, thược dược, marguerite, souce... Hồi xưa, mỗi năm hoa cúc nở rộ vào tháng 9, đó cũng là mùa chia ly vì lính thú từ giã gia đình lên đường ra biên cương giữ nước.Ðến tháng 9 năm sau lại được về. Vì lẽ đó, thời kỳ đi lính thú thời xưa gọi là "hoàng hoa", và rượu để tiễn người lên đường cũng là rượu hoàng hoa. Trần Ðình Lượng, quan nhà Nguyễn, trên đường đi sứ qua Pháp đã viết bài "Như Tây Nhựt Trình" trong đó có câu:
Ðường mây sớm giục sứ trời
Paris muôn dặm, mấy lời hoàng hoa
Ngoài ra, Ðà lạt còn là quê hương của hàng trăm loại lan rừng. Theo các sách nghiên cứu về hoa lan cho biết, có đến hàng ngàn loại khác nhau. Nhiều lần đi cắm trại ở các sườn núi cao hoặc vùng thac Datanla, chúng tôi gặp một loại hoa màu đỏ tím, đó là hoa đỗ quyên nở rực cả khu rừng. Ở trên đường từ lăng Cô di Bạch mã có thác Ðỗ quyên vì trên đường đi vào thác có hoa đỗ quyên rực rỡ. Ở trên đèo Ngoạn mục về phía Sông Pha có lan cẩm bác, hoa màu vàng nhạt đốm nâu. Hoa kim châm có lá dài, cọng nhỏ, màu vàng, có thể trang hoàng hay chưng cá, xào thịt, pha chế nước sốt để ăn vịt quay rất ngon. Ðà lạt vào xuân là thiên đàng của các loài hoa nở rộ. Nào hồng lan, hoàng lan, đoản kiếm, thanh lan, hạc đĩnh, hoàng phi hạc, kim điệp, long tu, nhất điểm hồng, nhất điểm hoàng, ý hảo, tuyết ngọc, kim hài, thủy tiên... Qua mùa thu, các loại hoa như cẩm báo, tuyết nhung, bò cạp, mỹ dung, dạ lý hương, hoa đuôi cáo. Hồi đó, về đêm chúng tôi thường vô trường để trực, lúc đi ngang qua con đường từ nhà ga vô tới Chi lăng, hoa dạ lý hương nở về đêm thơm ngào ngạt. Mùa hè là thời kỳ của hoa giả hạt, lọng tán.
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/Ho_xuan_huong_-_xedapnuoc.jpg
Ðà lạt cũng có nhiều trái cây nổi tiếng như mận Trại Hầm, su Trại Mát, Trạm Hành, đào lông...
Ðà lạt cũng là quê hương của hồ và suối. Gần thì có hồ Xuân hương, xa hơn có hồ Than thở, hồ Mê linh, hồ Ða thiện, đập Suối Vàng... mỗi hồ có một vẻ đẹp riêng. Nước chảy róc rách có thác Cam ly về mùa khô, hoặc như một bức tường mỏng màu trắng đục từ trên cao phủ xuống như thác Prenn, hoặc ầm ầm từng bọt trắng xóa như thác Gougah. Hùng vĩ nhất có thác Pongour nằm sâu trong rừng, cách Ðà lạt 60km về phía nam. Nơi đây có nhiều phong lan mọc trên các ngọn cây cao. Thác Liên Khương nằm dọc theo phía trái quốc lộ 20, gần phi trường Liên khương, dòng nước chảy tràn lan trên một địa thế gãy sụp. Phía dưới thác Prenn là một cây cầu nhìn qua bức màn nước trắng xóa từ trên cao chảy xuống như một tấm màn voan mỏng. Phía dưới thác cũng là vườn thú thành lập dưới thời tổng thống Ngô Ðình Diệm. Hồ Than thở nằm trên đường từ Chi lăng vào trường Võ bị. Có lẽ vì qua lại lắm lần nên tôi không còn thấy vẻ đẹp và thơ của hồ. Nơi đây cũng chứng kiền một mối tình thơ mộng ngang trái, đầy nước mắt. Hồ Xuân hương hồi trước gọi là Grand Lac. Năm 1919 chính phủ đắp đập ngăn chỗ cầu ông Ðạo. Phía cuối sân cù là vườn Bích câu, có hàng trăm loại hoa đài các hiếm qúy. Những du khách đến Ðà lạt không ai không nghe nhắc tới thung lũng Tình Yêu nằm về phía hồ Ða thiện. Ban đầu chỗ này có tên thung lũng Hoà bình, tương truyền do chính vua Bảo Ðại đặt cho vào năm 1950. Thung lũng Tình Yêu, địa danh thơ mộng là do các sinh viên viện Ðại học Ðà lạt đặt ra, vì họ thường đưa người yêu ra đó làm chỗ hẹn hò. Tên này có từ năm 1972. Còn rừng Ái Ân nằm phía cuối con đường lên viện Pasteur, từ phía Hoàng cung nhìn qua, cũng là một nơi hò hẹn lý tưởng của những cặp nhân tình. Hồi trước, nơi đây vào những ngày cuối tuần thấp thoáng bóng tài tử giai nhân.
Cuốn băng video Ðường Về Quê Hương II của đài truyền hình Vietnam Program phát hành đem đến cho khán giả hải ngoại một thời sống ở Ðà lạt một nỗi buồn riêng khi nhìn thấy thành phố thân thương bây giờ tiều tụy. Các dinh thự, biệt thự loang lổ một màu xám xịt ảm đạm, đường phố dơ dáy, bẩn thỉu... Bây giờ Ðà lạt như một cô gái xế chiều, cố tô son trét phấn, nhưng không dấu được vẻ mệt mỏi, già nua, như nuối tiếc thời vàng son xuân sắc của mình. Bây giờ cảnh sắc Ðà lạt nhìn đâu cũng thấy ủ rũ u hoài. cũng vẫn cảnh trí thiên nhiên đó nhưng Ðà lạt bây giờ bị chính bàn tay con người phá hoại không chút xót thương. Bao nhiêu công viên bị đào bới để trồng khoai, rau muống. Cuộc chiến tranh Việt Pháp kéo dài hơn mười năm nhưng Ðà lạt vẫn không bị tàn phá. Cuộc chiến Quốc Cộng chỉ gây hư hao nhẹ, nhưng chỉ năm sau vết tích chiến tranh bị xóa mờ. Rồi Ðà lạt lại xây dựng thêm, tươi mát hơn ngày trước. Trải qua 18 năm hoà bình, Ðà lạt xuống dốc thê thảm. Nhiều kiến trúc già nua sụp đổ, thật là một sự nghịch lý khó hiểu. Cộng sản đến đâu, đất nước tan hoang đến đó. Chứng kiến cảnh Ðà lạt tiều tụy, còm cõi ngày nay, những kỷ niệm êm đềm ngày xưa sống lại mãnh liệt trong lòng người viết bài. Nhìn hình ảnh trên cuốn phim, chúng tôi xúc động nghẹn ngào,không ngờ Ðà lạt tàn tạ như vậy. Còn đâu mặt nước hồ Xuân hương trong xanh, phẳng lặng, in bóng thuở thanh bình! Còn đâu những rặng thông già cao vút, tấu khúc nhạc rừng triền miên! Bây giờ hàng thông còn đó, u buồn cúi đầu lặng im như nuối tiếc những ngày tươi đẹp đã qua. Nhớ ngày trước Ðà lạt như một thiếu nữ xuân thì đài các, từng làm cho biết bao thi nhân, văn sĩ, nhạc sĩ say đắm,để rồi khi chia tay lại bịn rịn. Bây giờ còn đâu những con đường hun hút ánh trăng với những cặp tình nhân âu yếm dìu nhau đi trong gió lạnh!
BungRieu
04-06-2003, 09:10 AM
Mắm Châu Ðốc hương vị quê nhà
http://www.angiangservice.com.vn/images/bagiaokhoe.jpg
Ðồng bằng sông Cửu Long là đất mắm với rất nhiều mắm đặc sản danh bất hư truyền: mắm tôm chà Gò Công, mắm ruốc Kiên Giang, mắm ba khía Cà Mau, mắm lòng U Minh, mắm lòng Ðồng Tháp...
Riêng ở Châu Ðốc (An Giang) có một loại tiêu biểu trong số 25 loại mắm nổi tiếng ở đây: mắm thái Châu Ðốc. Bà giáo Khỏe là tay chao mắm quái kiệt khởi nghề từ những năm 20 của thế kỷ 20 tạo nên một dòng tộc làm mắm nổi tiếng trong làng nghề mắm Châu Ðốc lừng danh.
Châu Ðốc có mắm cá linh, mắm cá cơm, mắm cá chốt, mắm cá thiểu, mắm cá lòng tong, mắm cá trèn vinh, mắm cá trèn lá, mắm cá trèn mỡ, mắm cá trèn bầu. Cá sặt làm được ba loại mắm: mắm sặt nguyên con, mắm sặt lột xương, mắm sặt xay. Cá lóc làm nhiều loại mắm: mắm lóc nhỏ (200 g trở xuống), mắm lóc trung (200 - 300 g), mắm lóc lớn (300 - 900 g), mắm lóc khứa (1 kg trở lên), mắm lóc xay, mắm thái y, mắm philê, mắm thái đu đủ... và dưa mắm đu đủ, dưa mắm dưa gang... Với kinh nghiệm hàng trăm năm làm mắm, mắm đồng Châu Ðốc có chất lượng cao. Cá làm mắm sống ở sông lớn, kênh sâu, vực rộng... Con cá lớn đẫy, thịt mình dày, thơm. Người làm mắm lại tuyển lựa cá kỹ. Ví như cá lóc chỉ lựa cá lóc trắng thịt thì mắm sẽ ngọt, thơm, không lựa cá lóc đen loại dữ, tạp ăn mầu mắm xỉn, kém mùi thơm. Kỹ thuật làm mắm cá Châu Ðốc có những kinh nghiệm như tuyệt đối không dùng nước mưa làm cá mà phải lọc nước sông dùng trong các khâu rửa cá. Khi chao mắm chỉ thắng đường thốt nốt để chao (mắm nơi khác làm đường mía, mắm U Minh chao bằng mật ong). Trong danh mục mắm Châu Ðốc đương nhiên có loại mắm lòng lừng danh làm từ những bộ lòng cá, mỡ bao ruột cá, trứng non... không gì ngon hơn.
ẨM THỰC MẮM ÐỒNG
Mắm xé - cơm nguội: Mắm cá sẵn lu TRONG BẾP. ỚT HIỂM CAY BỎNG vị mắm sống. Bên đĩa mắm có đĩa rau, xoài bằm, dứa, mít non, khế, chuối xanh cắt lát... Vị chua, chát, ngọt, cay thấm dịu cá mắm. Làm ruộng rẫy mang vắt cơm, túm mắm tiêu ớt theo. Ðến bữa hái thêm rau dừa, rau mác, cọng súng, ngọn ngò... ăn cùng với món mắm, thì vắt cơm dẻo ăn giữa đồng ấm ngọt chân răng. Mắm xé ngon nhất là mắm cá sặt, mắm cá lóc non...
Mắm chiên, mắm chưng: Cá lớn đem chiên cho se, giòn thấm mùi thơm, vị béo của dầu mỡ, khi chưng với mắm chỉ đập mấy lát gừng. Muốn tăng bổ dưỡng thì thêm trứng gà, trứng vịt hoặc thêm thịt cá.
Mắm kho: Mắm cá được nấu tan trong nước dậy mùi sả băm, tỏi chiên mỡ. Nồi nước độc đáo này để "kho" thịt, cá: cá he, cá lóc, cá ba sa, cá bông lau, thịt heo quay... Vị cá mắm thấm ngấm vào miếng cá miếng thịt. Mắm kho ăn với rau sống: cây cải, cây cần, ngọn dừa, ngọn muống, trái cà, đọt măng... đủ loại thứ ngọt, thứ chua, thứ đắng, thứ chát... Bữa thường nhật quanh nồi mắm kho mà ngon như tiệc. Cơm thơm dẻo hoặc bún trắng mềm. Không biết miếng cá, miếng thịt, rau tươi làm cho vị nước mắm kho ngon hay vị nước mắm làm thịt, cá, rau thêm ngon.
Lẩu mắm: Hơn chục năm lại đây lẩu mắm xuất hiện trong cửa hàng ăn uống. Nó chính là sự cải tiến, sáng tạo từ nồi mắm kho mà nên. Nước kho được đưa vào lẩu để giữ độ sôi sục liên tục. Thịt cá kho giờ đây là đồ tươi ướp gia vị còn sống và rau xanh xếp đĩa để thực khách nhúng. Lẩu mắm đáp ứng rộng rãi yêu cầu sở thích ăn uống của con người. Hầu như tất cả các loại thủy sản: cá, tôm, lươn, ốc... và thịt heo, bò... với rất nhiều loại rau vườn, rau đồng có trong cái lẩu mắm. Lẩu mắm Dạ Lý ở thành phố Cần Thơ hội tụ trên 30 loại rau: từ ngọn nhút, ngọn dừa, lá cù nèo, lá mác, rồi bông so đũa, bắp chuối... tới trái đậu rồng, đậu bắp, chuối chát, khế... Chưa nói đến rau thơm, gia vị.
Ngoài ra còn có món mắm cá nấu canh xiêm lo, mắm cá nêm nấu các đồ kho, món nấu, mắm cá pha chế chén nước chấm...
Mắm nhà bà giáo Khỏe
Bà giáo Khỏe có tên thời con gái là Văn Thị Lấm (1903 - 1966), sinh ở đất Vĩnh Nguơn, kết hôn cùng thầy giáo Hồ Ðắc Khỏe và sinh được chín người con. Bà học cách làm mắm của mẹ, một người làm mắm cá bán ở chợ Châu Ðốc. Mắm ngon, khách truyền tiếng mua hàng theo danh ông giáo. Nghề làm mắm phát triển, hàng mắm bà giáo Khỏe nổi tiếng dần ở chợ Châu Ðốc. Các con lớn lên cùng mẹ hành nghề, có gia đình mang nghề mắm ra riêng. Ðến nay nghề mắm đã truyền qua đời cháu, nay gần 50 người - cả một gia tộc làm mắm trong làng mắm Châu Ðốc.
Mắm Châu Ðốc hương vị quê nhà ..
Phan Thị Thúy Truyển
Hằng năm vào mùa nước nổi của Ðồng bằng sông Cửu long những đàn cá lóc, cá linh, cá trèn, cá chốt, cá sặc, cá rô...hằng hà sa số theo con nước đổ ra cung cấp nguồn thực phẩm thiên nhiên cho con người, mỗi mùa mổi cách, mỗi loại cá có cách ăn độc đáo riêng như nấu, nướng, chiên, kho...thưòng là ăn cá tươi, nhưng nhiều quá ăn không hết phải tìm cách để dành; và như thế đã có người sáng chế ra món mắm, biến những con cá thừa đã chết thành món ăn đặc sắc, ngoài cách thông thường như phơi khô, ủ muối...Mắm thì ở đâu cũng có nhưng mắm Châu Ðốc, mang nhiều nét đặc trưng độc đáo, nhất là mắm thái,là thịt mắm lóc và đu đủ xắt thành sợi, tôi cứ thắc mắc về cách gọi tên mắm thái, phải chăng đây là sản phẩm của ông cha hồi mở đất phương nam, bởi họ là lưu dân miền ngòai vào vùng Châu đốc Tân cương khẩn hoang lập làng, cũng có nghĩa gắn với giai đoạn lịch sử Thoại Ngọc Hầu đào kênh và ngôi làng được mang tên của bà vợ yêu: VĩnhTế , ngày nay ngôi lăng mộ ông bà cùng binh tướng tùy tùng nằm ở chân Núi Sam là di tích lịch sử được nhiều người chiêm ngưỡng.
Làm mắm đơn giản về nguyên liệu chỉ cần có cá, muối và thính (gạo rang thật vàng, xay nhuyển).Vấn đề là cách chế biến, cái khó là không có công thức mà hoàn toàn do kinh nghiệm, tùy con cá tươi hay ươn, to hay nhỏ, mà định lượng muối bằng tay bắng mắt; cả việc định thời gian " tới thính " ( cho thính vào cá đã muối ở vào thời gian thích hợp nhất, có tính quyết định chất lượng của mắm). Cả cách gài cá muối vào lu, cách cho thính, giở mắm đúng lúc sẽ tạo cho mắm hương vị riêng; đó chính là bí mật nhà nghề của từng thương hiệu mắm Châu Ðốc, được chăm chút giữ gìn như là bí quyết gia truyền chuyên nghiệp, đang phát đạt bằng đặc sản nổi tiếng trong và ngoài nước. Tôi chưa tìm được tài liệu để gọi tên các vi sinh vật đã làm chuyển hóa từ con cá tươi không qua nấu nướng thành con mắm có mùi vị rất riêng, rất lạ,nhưng điều chắn chắn mắm ngon phải được làm đúng cách, và đặc biệt là phải sạch, bởi vì không sạch thì mắm hư, mắm trở.
Mắm ngon, thịt cá chắc ửng hồng, không quá cứng cũng không quá mềm, mùi vị riêng của từng thương hiệu được chăm chút, nhưng chung nhất mắm ngon không còn mùi tanh của cá, không sành ăn quả là khó chọn. An toàn nhất là nên mua ở chính hiệu tập trung ở chợ trung tâm Châu Ðốc,khách có thể mua qua điện thoại sẽ được phục vụ tại chỗ.
Ăn mắm ngày nay,đã thành nghệ thuật trong văn hóa ẩm thực của người Nam bộ. Tùy cách ăn, cách chế biến, mà nó có thể thành món cao cấp ở các nhà hàng sang trọng, hoặc là thức ăn dân dã miền quê; Ai là dân Nam bộ đã có thời tuổi thơ gắn bó với dòng sông, bến nước, rặng dừa, có những buổi trưa hè cùng bạn bè ngụp lặn trong làn nước đậm màu phù sa, hoặc cùng ngả lưng dưới bóng tre mát rượi hay ngồi bó gối trên chòi nhìn mưa giăng như nối nước trên trời với mênh mông nước nổi ở dưới đất, có rổ khoai hay bắp mới luộc còn nóng hổi, còn túng lắm thì lật nồi cơm nguội rồi dở hủ mắm sặc, mắm linh nhận trong gáo dừa xé ra thịt còn đỏ ửng, cắn thêm trái ớt hiểm xanh giòn ...ăn tới no mà còn ngon miệng, hoặc kho nồi mắm với cà tím, quơ mớ rau muống rau dừa, tuốt thêm điên điển, bứt vài bông súng chấm mắm nóng lua cơm, mà nhớ hoài cái thú đồng quê, mà đem theo thành kỷ niệm trong đời.
Mắm thái ngon có mùi đặc trưng, màu vàng ánh đỏ của thịt mắm lẫn trong sợi đu đủ trong ngần màu hổ phách, nằm giửa những lát thịt trắng điểm thêm màu đỏ của tôm luộc hay nướng, rồi tỏi ớt chanh điểm xuyết ... bên cạnh là diã rau sống dưa giá đủ loại, chuối xanh, khế, khóm vàng tươi, ăn cặp với bún hoặc bánh tráng, màu mùi hòa quyện, mắm thành món ăn đặc biệt cho những bạn cũ gặp nhau, muốn tìm hương vị quê hương, hay là để đãi khách thân tình, thật ý nghiã và hấp dẫn...
Muốn ăn nóng thì dùng món lẫu, là hình thức của món mắm kho, căn bản là phải chọn được mắm sặc hay mắm linh ngon, trong khi nấu chế biến tùy khẩu vị, nhưng phải có xã, ớt, cà tím, cá đồng loại béo, thịt ba rọi, sang thì nhúng thêm tôm, mực, thịt bò, nhiều người thích ốc bươu nhúng mắm ăn vừa giòn vừa ngọt, nhưng hấp dẫn nhất của móm lẫu mắm chính là ở các món rau ăn kèm ôi thôi đủ thứ, nhất là rau dại mùa nước như, rau dừa, rau nhúc, rau muống, rau mát,...các thứ bông súng,bông bí, điên điển, các thứ đọt non kiếm ở ngoài vườn, được gọi chung là rau đồng quê; trong mâm rau của quán lẫu mắm ở Cần thơ tôi đếm được 18 loại rau để nhúng lẩu, không biết hết tên...Còn ở bửa cơm gia đình, mắm được chế biến nhiều cách: nào ăn sống, chưng, kho, chiên, với nhiều gia vị đặc biệt và các món ăn kèm phong phú.
Mắm Châu Ðốc ngày nay đã có mặt khắp nơi trong và ngoài nước, dịp Lễ hội Viá Bà chúa xứ Núi Sam vào tháng tư âm lịch hàng năm, hơn 2 triệu khách về Châu đốc, những gói mắm gọn gàng sạch đẹp được chăm chút, theo chân khách có mặt khắp nơi, có khi nó ẩn vào hộp bánh, vượt đại dương đến với người thân đang thèm nhớ hương vị quê nhà...
Ai cũng có quê hương để nhớ của riêng mình, có khi là hình ảnh cụ thể, một kỷ niệm thiếu thời, một nếp sinh hoạt làng xóm,là một món ăn độc đáo riêng có chỉ ở quê mình...Mắm Châu Ðốc, là nỗi nhớ của người Châu Ðốc, hẳn là như thế, nhưng xa hơn rộng hơn, nó đã vươn lên để làm đặc sản của người Nam bộ.
Xin được gọi lên : Mắm ! một chút hồn người Nam bộ :) ...:D ...
BungRieu
05-08-2003, 12:14 PM
Bát Trân trong ẩm thực Việt Nam xưa
Hoàng Thị Như Huy
Miếng ăn, thức uống của vua chúa không những phải ngon, đẹp, tinh, giàu chất dinh dưỡng mà còn mang tính chất y lý trong từng nguyên liệu sử dụng để đạt ssược sự trường thọ cho người ăn.
Những năm gần đây, người Tây phương có khuynh hướng hành trình về phương Đông để nghiên cứu, học tập những nét tinh túy trong ẩm thực Việt Nam Nam. Đây là một nét văn hóa đặc sắc mà phải trải qua hàng nghìn năm dân tộc ta mới vun đắp được.
Chế độ phong kiến đã tàn lụi theo quy luật phát triển tất yếu của lịch sử. Thế hệ của chúng ta hôm nay thật sự chỉ biết được quá khứ qua từng trang sách sử. Những gì được ghi chép, còn tiếp tục lưu truyền. Những gì không lưu chép, chỉ tản mạn truyền khẩu trong dân gian thì đang dần mai một... Và kiến thức về ẩm thực cung đình Việt Nam phải chăng đang đi dần vào con đường tàn lụi ấy bởi khó tìm thấy những văn bản ghi chép "Chuyện vua ăn".
Bài viết này chỉ xin cung cấp cho bạn đọc một phần kiến thức nhỏ nhoi mà người viết đã tiếp thu được từ các bậc tiền bối về "Bát trân trong ẩm thực cung đình Việt Nam xưa" với ước mong góp phần giúp người làm công tác văn hóa du lịch có thể giới thiệu cho du khách, để họ hiểu được các món ăn cung đình Việt Nam xưa kia như thế nào và trân trọng nền văn hóa ẩm thực mang tính triết lý sâu sắc của ông cha ta.
"Bát trân" là tám món ăn quý hiếm. Nó gồm:
1- Nem công: Nem là một món ăn đặc biệt của người Việt được chế biến không qua nấu nướng. Thực phẩm tự chín bằng sự lên men vi sinh do sự tác động của các gia vị có tính nóng (riềng, tỏi, tiêụ..) phối hợp vào nguyên liệu chính là thịt đùi công được giã mịn.
Làm nem, nếu biết chọn thịt đùi, nem sẽ dai ngon.
Công là một loài chim có bộ lông đẹp. Nó thường sống ở các cây cao hoặc gò cao. Đến mùa giao tình thường xòe cánh múa các vũ điệu để gọi bạn. Con người rất thích thưởng ngoạn các vũ điệu ấy. Việc săn bắt công để cung cấp thịt hàng ngày phục vụ chế biến thức ăn không phải dễ dàng.
Vì sao nem công được liệt vào danh mục "bát trân"? Có phải vì thịt công ngon chăng? Điều này cũng chỉ đúng một phần bởi cái ngon của thịt công chỉ như thịt gà. Nhưng thịt công lại có tính giải độc. Khi ăn nem công, thịt công hấp thu vào máu sẽ có khả năng giải các thứ độc tố mà người ăn lỡ ăn phải. Chính đây là điều then chốt để hiểu vì sao nem công lại là món ăn quý.
Như trên đã nói, tính mạng của các bậc đế vương luôn được đặt hàng đầu. Việc tranh giành ngôi báu khiến con người cố sát, đầu độc nhau trong lịch sử của nhiều triều đại không phải là không có. Do đó, món ăn này được xem như "thần hộ mạng".
2- Chả phụng: Chim phụng là chim đực. Chim cái được gọi là Hoàng. Loài chim phụng chỉ sống ở núi cao, ít người trông thấy. Thịt phụng được giã mịn, nêm gia vị, gói vào lá chuối thật kín rồi hấp chín. Cũng như thịt loài chim công, thịt chim phụng vừa có chất dinh dưỡng, vừa có tác dụng dược tính nhằm bảo vệ tối đa sức khỏe.
3- Da tây ngưu: Loại thú tây ngưu hay còn gọi là tê ngưu chỉ sống ở trong các rừng sâu, ăn toàn loại cây cỏ có gai. Hình dạng Tây ngưu rất xấu xí. Người xưa kể rằng, mỗi khi ra suối uống nước, Tây ngưu nhìn xuống suối, thấy bộ dạng mình xấu xí quá, con vật hổ thẹn quậy cho nước thật đục rồi mới uống (?). Da tây ngưu rất cứng, dày, duy nhất ở nách của con vật có một đám da rất mỏng. Nếu biết bắn hay đâm vào điểm ấy mới làm con vật chết. Phần da nách ấy, ngâm nước cho mềm, nấu thành món ăn rất ngon và bổ dưỡng.
4- Bàn tay gấu: Gấu đực gọi là Bi, gấu cái gọi là Hùng. Thú vật này có cổ dài, chân cao, đi được bằng hai chân. Gấu có sức mạnh, có thể dùng hai chân trước khuân cả tảng đá lớn. Chúng rất giỏi leo cây, thích ăn mật ong ở các tổ trên cành cao. Lúc đói hoặc lúc trú đông, gấu có thể ở trong hang không ra ngoài, không có thực phẩm thì chỉ liếm bàn tay (hai chân trước) để sống. Bàn tay gấu là một món ăn rất ngon và bổ dưỡng.
5- Gân nai: Loài nai lớn con hơn loài hươu. Giống nai đực có gạc. Nai ưa xuống ở núi. Vào tiết hạ chí, nai đực thường rụng sừng. Sừng non của nai gọi là lộc nhung, là một vị thuốc tráng dương, bổ thận, tăng sinh lực nhưng phải biết cách bào chế và sử dụng.
Gân nai lại được dùng để chế biến món ăn, rất ngon.
Khi làm thịt, dùng lửa thui đùi nai, cạo sạch lông. Cho giò vào nước luộc mềm. Dùng dao nhọn xẻ tách gân ra khỏi phần bắp thịt. Cho gân nai vào phiêu trong nước có ít muối và giấm cho trắng. Khi gân đã mềm, cắt khúc, hầm chung gân nai với các nguyên liệu: tôm khô, măng củ đậu, chả lụa... trong nước hầm gà đã lọc trong veo. Nêm gia vị vừa ăn khi các nguyên liệu đã chín mềm.
6- Môi đười ươi: Đười ươi là một giống khỉ lớn, có thể đi bằng hai chân như người. Theo sách An Nam chí thì đười ươi chỉ ưa sống trong hang núi, đi không bao giờ theo một đường nhất định. Muốn bắt được đười ươi, con người phải lừa đặt be rượu và các đôi dép da trên đường chúng đi qua. Giống đười ươi hay bắt chước nên uống rượu rồi mang dép như loài người mà nó đã từng thấy. Lúc này chúng vừa say vừa đi xiêu vẹo, người săn thú mới dễ dàng bắt được.
Môi đười ươi rất ngon, dùng chế biến các món sơn hào dâng vua chúa. Ngày nay, giống thú này rất quý hiếm, cần phải ra sức bảo vệ.
7 - Thịt chân voi: Voi là một loài vật to nhất trong loài thú bốn chân. Nó rất thông minh, lanh lợi. Thịt voi rất nhạt nhẽo - người đời vẫn thường nói "mười voi không được bát nước xáo". Khi voi chết, người ta thường chỉ lấy ngà voi. ở bàn chân voi có một lớp thịt gân rất mềm, chế biến thành món ăn rất ngon. Nó đã là một thực phẩm rất khó kiếm nên chỉ dành dâng vua chúa thưởng thức.
8- Yến sào: Là tổ của loài chim hải yến (én biển) là một thực phẩm cao cấp vô cùng quý giá: Việt Nam là một trong tám quốc gia trên thế giới có yến sào.
Yến sào có nhiều loại: yến huyết, quan địa, bài... mỗi loại đều có giá trị chất lượng khác nhau nhưng tất cả đều có giá trị dinh dưỡng cũng như giá trị kinh tế lớn.
Bản thân yến sào không phải là một món ăn ngon - mùi yến sào tanh tanh, vị nhạt nhạt nhưng ăn nó sẽ được bồi bổ thần kinh, gân cốt, chữa bệnh kiết, chống suy nhược và kéo dài tuổi thọ.
Xưa kia vua chúa chỉ ban yến cho hai đối tượng:
- Các sứ giả đến bang giao với Việt Nam
- Các vị tân khoa đỗ đầu
Yến sào có thể chế biến nhiều món ăn:
- Chè yến
- Chè yến sào hạt sen
- Yến thả
- Bồ câu tiềm yến sào
Ngày nay, trong tám loại thực phẩm quý hiếm trên chỉ còn yến sào là vẫn dễ dàng tìm kiếm và được phép sử dụng. Bảy thứ còn lại, một số loài đã tuyệt chủng hoặc nếu còn, đều thuộc danh mục các thú vật quý hiếm phải hết sức bảo vệ và gìn giữ. Nhưng chúng ta vẫn còn có thể tái hiện các tiệc cung đình bằng chính những nguyên liệu cao cấp mà nguồn tài nguyên phong phú của Việt nam có thể cung cấp: yến sào, vi cá, bóng cá, hải sâm, cua gạch, tôm hùm, sò huyết, bào ngư ....
BungRieu
05-14-2003, 04:20 PM
12 Lễ tết cổ truyền
1. Tết Nguyên Đán
Một năm, người Việt có nhiều lễ, tết, riêng Tết Nguyên Đán (đúng mồng một tháng giêng âm lịch) là ngày tết lớn nhất nên còn được gọi là tất cả. Đây là thời điểm kết thúc mùa màng, mọi người rảnh rỗi nghỉ ngơi vui chơi, thăm viếng lẫn nhau... và cũng là lúc giao thời của đông tàn xuân tới.
Theo phong tục cổ truyền VN, Tết Nguyên Đán trước hết là tết của gia đình. Chiều 30 tết, nhà nhà làm lễ cúng "rước" gia tiên và gia thần, thể hiện tình cảm uống nước nhớ nguồn. Trong 3 ngày tết diễn ra 3 cuộc gặp gỡ lớn ngay tại một nhà. Thứ nhất là cuộc "gặp gỡ" của các gia thần: Tiên sư hay Nghệ sư - vi tổ đầu tiên dạy nghề gia đình mình đang làm. Thổ công - thần giữ đất nơi mình ở và Táo quân - thần coi việc nấu ăn của mọi người trong nhà.
Thứ hai là cuộc "gặp gỡ" tổ tiên, ông bà... những người đã khuất. Nhân dân quan niệm hương hồn người đã khuất cũng về với con cháu vào dịp Tết.
Thứ ba là cuộc gặp gỡ của những người trong nhà. Như một thói quen linh thiêng và bền vững nhất, mỗi năm tết đến, dù đang ở đâu làm gì... hầu như ai cũng mong muốn và cố gắng trở về đoàn tụ với gia đình.
2. Tết Khai hạ
Theo cách tính của người xưa, ngày mùng Một tháng Giêng ứng vào gà, mùng Hai - chó, mùng Ba - lợn mùng, Bốn - dê, mùng Năm - trâu, mùng Sáu ngựa, mùng Bảy - người, mùng Tám - lúa. Trong 8 ngày đầu năm cứ, ngày nào sáng sủa thì coi như giống thuộc về ngày ấy cả năm được tốt. Vì vậy, đến mùng Bảy, thấy trời tạnh ráo thì người ta tin cả năm mọi người sẽ gặp may mắn, hạnh phúc.
Mùng Bảy kết thúc Tết Nguyên Đán thì cũng là lúc bắt đầu Tết Khai hạ - Tết mở đầu ngày vui để chào mùa Xuân mới.
3. Tết Thượng nguyên
Tết Thượng nguyên (Tết Nguyên tiêu) vào đúng rằm tháng Giêng-ngày trăng tròn đầu tiên của năm. Tết này phần lớn tổ chức tại chùa chiền vì Rằm tháng Giêng còn là ngày vía của Phật tổ. Thành ngữ: Lễ Phật quanh năm không bằng Rằm tháng Giêng" xuất phát từ đó. Sau khi đi chùa, mọi người về nhà họp mặt cúng gia tiên và ăn cỗ.
4. Tết Hàn thực
"Hàn thực" nghĩa là ăn đồ nguội. Tết này, vào ngày mùng Ba tháng Ba (âm lịch).
Thời Xuân Thu ở Trung Quốc, Công tử Trung Nhĩ (về sau là vua Tấn Văn Công) khi gặp cảnh loạn lạc, đói quá, được Giới Tử Thôi cắt thịt đùi mình nấu dâng cho ăn. Sau 19 năm phiêu bạt, Trung Nhĩ lại trở về nắm giữ vương quyền nước Tần. Vua ban thưởng cho tất cả những người đã cùng mình nếm mật nằm gai, nhưng lại quên mất Tử Thôi! Tử Thôi đưa mẹ vào sống ở núi Điền. Lúc vua nhớ ra, cho người tới mời mà không được. Vua sai đốt rừng để Tử Thôi phải ra. Nhưng Tử Thôi không chịu và hai mẹ con cùng chết cháy! Đau xót, vua sai lập miếu thờ trên núi. Hôm ấy đúng ngày mùng Ba tháng Ba.
Người đời thương Tử Thôi nên mỗi năm, đến ngày đó thì kiêng đốt lửa mà chỉ ăn đồ nguội đã nấu sẵn.
Từ thời Lý (1010 - 1225) nhân dân ta đã tiếp nhập Tết này và thường làm bánh trôi, bánh chay để thay cho đồ nguội. Nhưng mục đích chủ yếu là để cúng gia tiên chứ ít ai rõ chuyện Giới Tử Thôi! Hiện nay, Tết này vẫn còn đậm nét ở miền Bắc, nhất là tại các vùng thuộc tỉnh Hà Tây.
5. Tết Thanh Minh
"Thanh Minh trong tiết tháng Ba
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh"
(truyện Kiều)
"Thanh Minh" có nghĩa là trời trong sáng. Nhân có người ta đi thăm mồ mả của những người thân. Tết Thanh minh - thường vào tháng Ba âm lịch - trở thành lễ tảo mộ. Đi thăm mộ, nếu thấy cỏ rậm thì phát quang, đất khuyết lở thì đắp lại cho đầy... rồi về nhà làm cỗ cúng gia tiên.
6. Tết Đoan ngọ
Tết Đoan ngọ (Tết Đoan dương) vào mùng Năm tháng Năm (âm lịch).
Khuất Nguyên - nhà thơ, một vị trung thần - do can ngăn vua Hoài Vương không được, đã uất ức gieo mình xuống sông Mịch La tự vẫn. Hôm ấy đúng là mùng Năm tháng Năm. Thương tiếc người trung nghĩa, mỗi năm cứ đến ngày đó, dân Trung Quốc xưa lại làm bánh, quấn chỉ ngũ sắc bên ngoài (ý làm cho cá sợ, khỏi đớp mất) rồi bơi thuyền ra giữa sông, ném bánh xuống cúng Khuất Nguyên. Ở Việt Nam, ít người biết chuyện Khuất Nguyên, mà chỉ coi mùng Năm tháng Năm là "Tết giết sâu bọ"- vì trong giai đoạn chuyển mùa, chuyển tiết, dịch bệnh dễ phát sinh. Vào ngày này, dân gian có nhiều tục trừ trùng phòng bệnh. Lấy lá ngải cứu (một vị thuốc Nam), năm nào thì kết hình con vật tượng trưng năm đó (năm Thân - kết con khỉ và gọi là Hầu Tử, năm Dần - kết con cọp và gọi là Ngài Hổ...) treo lên giữa nhà để trừ tà. Về sau, khi có bệnh, lấy lá đó sắc làm thuốc. Lại có tục đi hái lá thuốc mồng năm (ích mẫu, mâm xôi, cối xay, vối) sắc uống vào giờ Ngọ, còn để dành nấu uống quanh năm.
7. Tết Trung nguyên
Tết Trung nguyên vào Rằm tháng Bảy. Người xưa tin theo sách Phật, coi hôm ấy là ngày vong nhân được xá tội, ngày báo hiếu cha mẹ... nên tại các chùa thường làm chay chẩn tế và cầu kinh Vu lan. Vào ngày Rằm tháng 7 âm lịch có 2 ngày lễ cúng:
- Lễ cúng được truyền tụng lâu đời trong dân gian: "Tháng 7, ngày rằm xá tội vong nhân" (tha tội cho tất cả người chết), nhiều người gọi là cúng cô hồn các đẳng. Quan niệm dân gian cho rằng đây là lễ cúng những linh hồn vật vờ lang thang không nơi nương tựa, không còn người thân ở trần gian để thờ phụng hoặc thất lạc, hoặc vì một oan khiên nào đó...
- Cũng ngày Rằm tháng Bảy còn có lễ Vu lan, xuất phát từ tích truyện Đại Mục Kiều Liên. Vu lan được coi là lễ cầu siêu giải thoát cho ông bà cha mẹ bảy đời, xuất phát từ lòng báo hiếu. Trong những năm gần đây, trong lễ Vu lan còn có tục "Bông Hồng cài áo" thể hiện lòng hiếu thảo của con đối với cha mẹ.
8. Tết Trung thu
Tết Trung thu vào Rằm tháng Tám. Trung thu là tết của trẻ con nhưng người lớn cũng nhân đây mà họp mặt, uống rượu, uống trà, ngắm trăng... Thường ban ngày người ta làm lễ cúng gia tiên, tối mới bày hoa quả, bánh kẹo, chè cháo để trẻ con vui chơi, phá cỗ, trông trăng, rước đèn...
9. Tết Trùng cửu
Mùng Chín tháng Chín (âm lịch) là Tết Trùng cửu. Tết này bắt nguồn từ sự tích của đạo Lão. Thời Hán, có người tên gọi là Hoàn Cảnh, đi học phép tiên. Một hôm thầy bào Hoàn Cảnh khuyên mỗi người trong nhà nên may một túi lụa đựng hoa cúc, rồi lên chỗ cao mà trú ngụ. Quả nhiên, ngày Chín tháng Chín có lụt to, ngập hết làng mạc. Nhờ làm theo lời thầy, Hoàn Cảnh và gia đình thoát nạn.
Từ xưa, nho sĩ nước ta đã theo lễ này, nhưng lại biến thành cuộc du ngoạn núi non, uống rượu cúc - gọi là thưởng Tết Trùng dương.
10. Tết Trùng thập
Đây là Tết của các thầy thuốc. Theo sách Dược lễ thì đến ngày Mười tháng Mười, cây thuốc mới tụ được khí âm dương, mới kết được sắc tứ thời, trở nên tốt nhất. Ở nông thôn Việt Nam, đến ngày đó người ta thường làm bánh dày, nấu chè kho để cúng gia tiên rồi đem biếu những người thân thuộc chứ không quan tâm mấy đến chuyện cây thuốc, thầy thuốc!
11. Tết Hạ nguyên
Tết Hạ nguyên (Tết Cơm mới) vào Rằm hay mùng Một tháng Mười. Ở nông thôn, Tết này được tổ chức rất lớn vì đây là dịp nấu cơm gạo mới - trước để cúng tổ tiên, sau để tự thưởng công cày cấy.
12. Tết Táo quân
Tết Táo quân vào ngày 23 tháng Chạp - người ta coi đây là ngày "vua bếp" lên chầu Trời để tâu lại việc bếp núc, làm ăn, cư xử của gia đình trong năm qua.
Theo truyền thuyết, xưa có hai vợ chồng nghèo khổ quá, phải bỏ nhau. Sau đó, người vợ lấy được chồng giàu. Một hôm, đang đốt vàng mã ngoài sân, thấy một người vào ăn xin, nhận ra chính là chồng cũ nên người vợ động lòng, đem cơm gạo, tiền bạc ra cho. Người chồng mới biết chuyện, nghi ngờ vợ. Người vợ đâm khó xử, lao vào bếp lửa tự vẫn. Người chồng cũ nặng tình, cũng nhảy vào lửa chết thao. Người chồng mới ân hận, đâm đầu vào lửa nốt! Trời thấy ba người đều có nghĩa nên phong cho họ làm "vua bếp". Từ tích đó mới có tục thờ cúng "Táo quân" và trong dân gian có câu: "Thế gian một vợ một chồng, không như vua bếp hai ông một ba"õ. Ngày nay cứ đến phiên chợ 23 tháng Chạp hàng năm, mỗi gia đình thường mua hai mũ ông, một mũ bà bằng giấy và 3 con cá làm "ngựa" (cá chép hóa rồng) để Táo quân lên chầu trời. Sau khi cúng trong bếp, mũ được đốt và 3 con cá chép được mang thả ở ao, hồ, sông...
vBulletin® v3.8.4, Copyright ©2000-2009, Jelsoft Enterprises Ltd.