PDA

View Full Version : Bích Câu Kỳ Ngộ - Ðặng-Trần Côn


BungRieu
04-06-2003, 10:14 AM
BR thấy trong Net mang về ... để các Anh Chị cùng đọc ...

=============================================

Bích Câu Kỳ Ngộ - Ðặng-Trần Côn

Truyện này kể một sự tích ở nước ta, tức là việc một người học trò tên Trần Tú Uyên gặp một nàng tiên ở đất Bích-câu, bởi thế mới đặt tên truyện là "Bích câu kỳ-ngộ" (sự gặp gỡ lạ lùng ở Bích-câu). Bích-Câu (ngòi biếc) trước thuộc làng Yên-Trạch, tổng Yên-hoà, huyện Thọ-Xương, tỉnh Hà-Nội; nay là phố Cát-Linh. Hiện còn đền thờ Tú-Uyên, bên cạnh nhà Văn-Miếu, là cái di tích của câu chuyện hoang đường này.
Truyện này gồm 648 câu, có thể chia làm 4 hồi:

I- Tú-Uyên gặp Giáng-Kiều, về ốm tương-tư (1 - 272):

Trần-tú-Uyên, một người học trò nghèo, thường hay đi chơi những nơi thắng-cảnh; một lần đến đất Bích-câu, thấy phong cảnh đẹp, bèn làm nhà ở đấy học. Một hôm, ông đi xem hội làm chay ở chùa Ngọc-Hồ (tức chùa bà Ngô ở phố Sinh-từ Hà-Nội). Chiều đến, sắp về, chợt thấy bay đến trước mặt một bài thơ có ý ghẹo mình. Trông ra cửa Tam-quan, thấy một người con gái rất đẹp. Ông bèn đi theo, đến Quảng-văn-đình (nay là chợ cửa Nam Hà-Nội) thì chợt người ấy biến mất. Từ đấy, Tú-Uyên sinh ra ốm tương-tư.

II- Tú-Uyên kết duyên cùng Giáng-Kiều (273 - 428):

Sau Tú-Uyên đến đền Bạch-mã (nay là phố Hàng Buồm) cầu mộng. Đêm thần bảo ông sáng hôm sau ra đợi ở Cầu Đông (nay ở phố hàng Đường) thì gặp người con gái ấy. Hôm sau ra đợi mãi đến chiều, chỉ gặp một ông lão bán bức tranh một tố nữ giống hệt người đã gặp hôm trước. Ông bèn mua về, treo ở nhà, cứ đến bữa ăn, dọn hai cái bát, hai đôi đũa, mời người trong tranh ăn. Một hôm, ông đi học về, thấy có mâm cơm dọn sẵn, trong bụng sinh nghi. Hôm sau, ông rình ở một chỗ, thấy người trong tranh bước ra, ông vội chạy lại hỏi, thì người ấy nói tên mình là Giáng-Kiều ở trên cung tiên xuống, xin kết duyên cùng ông. Giáng-Kiều làm phép biến chỗ nhà của ông thành nguy nga tráng lệ.

III- Giáng-Kiều giận Tú-Uyên bỏ đi, sau lại trở về nhà (429 - 558):

Tú-Uyên lấy Giáng-Kiều được ba năm, thường cứ rượu chè say sưa, nàng can ngăn, ông không nghe, lại còn đánh đập. Một lần, nàng quá giận, bỏ ông biến đi. Đến lúc tỉnh, ông đi tìm đâu cũng không thấy, chỉ than khóc thương tiếc. Một hôm buồn quá, ông toan tự vận; chợt nàng Giáng-Kiều hiện ra, ông bèn từ tạ, hai bên đoàn tụ như xưa.

IV- Tú-Uyên và Giáng-Kiều lên cõi tiên (559 - 648):

Từ bấy giờ Tú-Uyên đối đãi tử-tế với Giáng-Kiều. Sau sinh được một đứa con trai đặt tên là Chân-Nhi. Nàng Giáng-Kiều bèn khuyên ong nên lên cõi tiên và trao cho bùa tiên cùng thuốc tiên để ông tu luyện. Rồi một hôm sau khi đã dặn dò Chân-Nhi ỏ lại cõi trần. hai vợ chồng cùng cỡi hạc bay lên cõi tiên.

Bốn hồi trên có thể chia ra làm 29 đoạn:

1/ Mở đầu
2/ Cảnh Bích câu
3/ Trần công tử Tú-Uyên
4/ Nỗi buồn của Tú-Uyên sau khi cha mẹ mất
5/ Tú-Uyên nổi tiếng thi-hào
6/ Tú-Uyên đi xem hội chùa
7/ Tú-Uyên gặp mỹ nhân
8/ Tú-Uyên đối thoại với mỹ-nhân dưới cây đa
9/ Sự nghi-hoặc của Tú-Uyên sau khi mỹ-nhân biến đi
10/ Tú-Uyên trở về mang bệnh tương-tư
11/ Hà-Sinh đến thăm bạn, Tú-Uyên kể rõ sự tình
12/ Hà-Sinh nhắc lại chuyện Lê-Thánh-Tông gặp tiên
13/ Hà-Sinh khuyên bạn không nên mơ-tưởng hão
14/ Tú-Uyên xem bói thẻ và nằm mộng
15/ Gặp người bán tranh, Tú-Uyên mua về treo
16/ Tú-Uyên với bức tranh tố-nữ
17/ Tố-nữ trong tranh hiện thành người thực
18/ Tú-Uyên cùng Giáng-Kiều chuyện trò
19/ Giáng-Kiều dùng phép tiên biến hoá
20/ Tú-Uyên cùng Giáng-Kiều kết duyên
21/ Tú-Uyên say sưa rượu chè, Giáng-Kiều can không được
22/ Giáng-Kiều bị ngược đãi, giận bực bỏ đi
23/ Sau khi tỉnh ra, Tú-Uyên hối hận
24/ Hà-Sinh khuyên-giải Tú-Uyên
25/ Tú-Uyên toan tự-ải, Giáng-Kiều bỗng hiện về
26/ Sau khi tái-hợp, vợ chồng Tú-Uyên sinh Chân-Nhi
27/ Giáng-Kiều khuyên Tú-Uyên tòng tiên
28/ Giáng-Kiều thuyết về tiên đạo, Tú-Uyên tỉnh ngộ dần
29/ Sau khi trao nhận tiên phù, hai người cùng cỡi hạc lên tiên


===========================================

1.- Mở đầu (câu 1- câu 8)

Mấy trăm năm một chữ tình,
Dưới trời ai kẻ lọt vành hoá-nhi
Cơ duyên ngẫm lại mà suy,
Trời Nam nào có xa gì cõi Tây.
Tương duyên kỳ ngộ xưa nay,
Trước kia Lưu, Nguyễn; sau này Bùi-Trương.
Kìa ai mê giấc đài Dương,
Mây mưa là chuyện hoang-đường biết đâu?

2.- Cảnh Bích-câu (câu 9 - câu 16)

Thành Tây có cảnh Bích-câu,
Cỏ hoa góp lại một bầu xinh sao!
Đua chen thu cúc, xuân đào,
Lựu phun lửa hạ, mai chào gió đông,
Xanh xanh dãy liễu, ngàn thông,
Cỏ lan lối mục, rêu phong dấu tiều.
Một vùng non nước quỳnh-giao,
Phất-phơ gió trúc, dặt-dìu mưa hoa.

3.- Trần công-tử Tú-Uyên (câu 17 - câu 34)

Triều Lê đương hội thái hòa,
Có Trần công-tử tên là Tú Uyên.
Phúc lành nhờ ấm xuân-huyên,
So trong tài mạo kiêm tuyền kém ai.
Thông minh sẵn có tư trời,
Còn khi đồng ấu mải vui cửa Trình.
Trải xem phong cảnh hữu tình,
Lâm-toàn pha lẫn thị thành mà ưa.
Liền khu trùm một lầu thơ,
Lau già chắn vách, trúc thưa giủ rèm.
Thừa hư đàn suối ca chim,
Nửa song đèn sách, bốn thềm gió trăng.
Của chung huy-hoắc đâu bằng.
Chứa kho vàng cúc, chất từng tiền sen.
Khắp so trong cõi ba nghìn,
Yên-hà riêng nửa, lâm-tuyền chia đôi.
Thú vui bốn bạn thêm vui,
Khắp trong bể thánh, đủ ngoài rừng tao.

4.- Nỗi buồn của Tú-Uyên sau khi cha mẹ mất (câu 35 - câu 50)

Thoi đưa ngày tháng sương sao,
Ngô vừa rụng lá lại đào nẩy hoa.
Trời hôm giục bóng dâu tà,
Xuân già e tuyết, huyên già ngại sương.
Não người thay! nỗi tang thương,
Trông vùng mây trắng ngất đường non xanh.
Vai còn đôi gánh thâm tình,
Bầu Nhan đã sạch-sành-sanh còn gì!
Mấy phen hạ tới thu về,
Lọt mành nắng rõ, quanh hè tuyết xây.
Chiều trời lạnh ngắt hơi may,
Mai tàn trước gió, liễu gầy sau sương!
Lơ-thơ nửa mái thảo-đường,
Phên thềm lọt gió, vôi tường thấm mưa!
Phong-quang lạ khác dấu xưa,
Ao tù sen rũ, rào thưa, cúc cằn.

5.- Tú-Uyên nổi tiếng thi-hào (câu 51- câu 70)

Sinh từ gặp bước gian-truân,
Vinh khô gọi nếm mùi trần chút chơi.
Cùng thông dù mặc có trời,
Nguôi dần bể khổ, san vơi mạch sầu.
Lôi thôi cơm giỏ nước bầu,
Những loài yến-tước biết đâu chí hồng.
Thề xưa đã nặng với lòng,
Dẫu sau trắng nợ tang bồng mới thôi.
Ao nghiên giá bút thảnh thơi,
Tây-hồ tiên-tích mấy nơi phẩm bình.
Thi-hào dậy tiếng Phượng-thành,
Vào phen Lý, Đỗ, nức danh Tô, Tào.
Ngửa nghiêng lưng túi phong tao,
Nước, non, mây, gió, chất vào còn vơi.
Châu ken chữ, gấm thêu lời,
Vàng gieo tiếng đất, hạc khơi bóng thuyền.
Đã người trong sách là duyên,
Mấy thu hạt ngọc Lam-điền chưa giâm.
Lửng lơ chiếc lá doành nhâm,
Cắm thuyền đợi khách, ôm cầm chờ trăng.

6.- Tú-Uyên đi xem hội chùa(câu 71- câu 90)

Ngọc hồ có đám chay tăng,
Nức nô cảnh Phật, tưng-bừng hội xuân.
Dập dìu tài-tủ giai-nhân,
Ngổn ngang mã tích xa trần thiếu ai.
Thưởng xuân sinh cũng dạo chơi,
Thơ lưng lưng túi, rượu vơi vơi bầu.
Mảng xem cây phạm thú mầu,
Vầng kim ô đã gác đầu non tê.
Tiệc thô ai nấy cùng về,
Gió chiều lay bóng hoa lê la đà.
Bân cầu đàn lũ năm ba,
Thần tiên trưóc mắt ai là kẻ hay!
Sinh vừa tựa liễu nương cây,
Lá hồng đâu đã thổi bay lại gần.
Mắt coi mới tỏ dần dần,
Mấy giòng chũ viết ba vần bốn câu.
Trông qua lặng ngắt giờ lâu,
?y ai thả lá doành câu ghẹo người.
Vừa toan họa lại mấy lời,
Gió hương đâu đã bay hơi nồng nàn.

7.- Tú-Uyên gặp mỹ-nhân (câu 91- câu 108)[/B]

Thấy người trước cửa tam-quan,
Theo sau ba bảy con hoàn nhởn nhơ.
Lạ lùng con mắt người thơ,
Hoa còn phong nhụy, trăng vừa tròn gương.
Rành rành xuyến ngọc thoa vàng,
Quần Nghê tha thưót, sóng Tương rượm rà.
Mỉa chiều nét ngọc làn hoa,
Cá chìm mặt nước, nhạn sa lưng trời.
Gần xem vẻ mặt thêm tươi,
Mùi hương thoang thoảng thơm rơi ít nhiều.
Làn thu lóng lánh đưa theo,
Não người nhăn chút lông nheo cũng tình.
Vốn mang cái bệnh Trương-sinh,
Gặp người nghiêng nước nghiêng thành biết sao?
Đưa tình một nét sóng đào,
Dẫu lòng sắt đá cũng xiêu, lọ người.
Nhân duyên ví chẳng tự trời,
Từ-lang chưa dễ lạc vời non tiên.

8.- Tú-Uyên đối thoại với mỹ-nhân dưới cây đu (câu 109 - câu 142)

Dù mặt lạ đã lòng quen,
Cả liều đến gốc thu-thiên ướm nàng:
"Quá vui nên trót sỗ-sàng,
"Thử tình cho kẻo bẽ bàng với hoa."
Khách rằng: "Trong hội Vô-già,
"Cửa không, ngàn giác đấy là từ-bi.
"Gió bay những tiếng thị phi,
"Trót lầm thôi có trách gì đến ai"
Giọng kiều nghe lọt vào tai,
Đã gần bể sắc, khôn vơi sóng tình.
Thưa rằng: "Chút phận thư-sinh,
"Đèn từ soi đến tấm thành với nao!
"Chi-viên nỡ hẹp-hòi sao,
"Mở đường phương tiện chút nào được chăng?"
Răng: "Đây về đạo kim-thằng,
"Trăng hoa sao khéo nói năng những lời.
"Bến từ có hẹp chi ai,
"Giốc đem thuyền giác độ người bến mê.
"Ngán cho bên cõi bồ-đề,
"Phải đưòng ong bướm đi về đấy sao?
"Đoá hoa sẵn nhạc vàng treo,
"Tiếng oanh chỉ để lao-xao trên cành."
Lặng nghe lọt đến giọng tình,
Lòng tham quanh cả bên mình mỹ-nhân.
Rằng: "Đây lầm xuống mê tân,
"Tiền duyên xin để kim thân tu đền.
"Ba sinh cho vẹn mười nguyền,
"Nhờ tay kim-tướng, đưa duyên xích-thằng.
"Gậy linh mượn phép cao-tăng,
"Phá thành sầu-khổ cho bằng mới cam.
"Chày sương đợi khách cầu Lam,
"Phẩm tiên may bén tay phàm biết đâu.
"Nước bèo dù có duyên sau,
"Bên sông thử bắc nhịp cầu từ đây."


9.- Nỗi nghi hoặc của Tú-Uyên sau khi mỵ-nhân biến đi (câu 143- câu 160)

Người còn cợt gió, đợi mây,
Gót tiên khách đã trở giầy làm thinh.
Ngóng theo đến Quảng-văn đình,
Bóng trăng trông đã trên cành lướt qua.
Mượn người thăm hỏi gần xa,
Hồng lâu tử các đâu mà đến đây?
Hay là quán nước, làn mây,
Gió xuân thổi xuống chốn này đấy sao?
Dám xin trỏ lối cho nao,
Tới non Ngọc dễ ai nào về a!
?n lòng nhắm liễu thăm hoa,
Biết đâu sắc sắc vẫn là không không.
Thoắt thôi lẩn bóng ngàn thông,
Hương trầm còn thoảng cánh hồng đã khơi.
Xe loan gió cuốn lưng trời,
Tiên về động bích, tình rơi cõi trần.
Ngửa trông năm thức mây vần,
Hồn chưa đến chốn non thần đã mê.

10.- Tú-Uyên trở về mang bệnh tương tư (câu 161 - câu 190)

Lần trăng ngơ ngẩn ra về,
Đèn thông khêu cạn, giấc hoè chưa nên.
Nỗi nàng canh cánh nào quên,
Vẫn còn quanh quẩn người tiên khéo là?
Bướm kia vương lấy sầu hoa,
Đoạn tương-tư ấy nghĩ mà buồn tênh!
Có khi gẩy khúc đàn tranh,
Nước non ngao-ngán ra tình hoài nhân.
Cầu hoàng tay tựa nên vần,
Tương-Như lòng ấy, Văn-Quân lòng nào.
Có khi mượn chén rượu đào,
Tiệc mồi chưa cạn, ngọc dao đã đầy.
Hơi men chưa nhấp đã say,
Như xông mùi nhớ, như gây giọng tình.
Có khi ngồi suốt năm canh,
Mõ quyên điểm nguyệt, chuông kềnh nện sương.
Oỏi tai những tiếng đoạn trường,
Lửa tình dễ nguội, sông Tương khôn hàn.
Có đêm ngắm bóng trăng tàn,
Tiếng quyên hót sóm, trận nhàn bay khuya.
Ngổn ngang cãnh nọ tình kia,
Nỗi riêng, riêng biết, dãi dề với ai!
Vui xuân chung cảnh một trời,
Sầu xuân riêng nặng một người tương tư.
lòng yêu tay tả nên thơ,
Mảnh tình phong với mảnh tờ đưa theo.
Aả Hằng ví nặng lòng yêu,
Rẽ mây mở lối tinh-thiều cho nao !
Hỏi cho giáp mặt hoa đào,
Vườn xuân chẳng lẽ ngăn rào mãi ru !

11.- Hà-Sinh đến thăm bạn, Tú-Uyên kể sự tình (câu 191 - câu 218)

Đồng song có gã họ Hà,
?ớm tình mới hỏi lân-la gót đầu.
Cớ sao chuốc não mua sầu,
Bữa thường ngao-ngán như màu nhớ ai?
Bấy nay vắng vẻ thư-trai,
Vóc sương nghe đã kém vài bốn phân.
Nguồn cơn ngỏ với cố nhân,
Hoạ may sẽ giúp được phần nào chăng?
Điều đâu thực khéo như rằng,
Nói vào hợp ý, khôn bưng lòng người.
Song mà tình chẳng riêng ai,
Bệnh tương tư có trải mùi mới hay.
Người ngu đấng thánh xưa nay,
Tình chung chẳng ở vòng này hay sao?
Nói dù nghe cũng thế nào,
Lặng dù, nghe cũng nao-nao chẳng đành.
Bệnh căn khôn lẽ dấu quanh,
Cầm tay mới kể đinh ninh mọi điều.
Nói bao nhiêu, tưởng bấy nhiêu,
Ghê cho sắc ngọc dễ xiêu lòng vàng.
Những là tiếc phấn say hương,
Nên vò lưới nhện mà vương tơ tằm.
Sầu dường bể, khắc như năm,
Xương mai chịu được mấy lăm mà gầy!
Nghìn xưa âu cũng thế này,
Gánh sầu san-sẻ ai đầy ai vơi?
Lạ cho cái giống hương trời,
Biết năm biết thuở, biết đời nào quên.

12.- Hà-Sinh nhắc lại chuyện Thánh-Tông gặp tiên (câu 219 - câu 244)

Hà nghe nói hết căn nguyên,
Nghĩ xem chuyện ấy quả nhiên rằng kỳ.
Chẳng thần nữ, cũng tiên-phi,
Duyên xưa còn có chút gì hay không.
Lá hồng ra mối chỉ hồng,
Nước bèo kia cũng tương phùng có phen.
Ngọc-Liên nghe có Hoa-tiên,
Thánh-Tông thủa trước qua miền ấy chơi.
Lầu chuông bỗng gặp môt người,
Ngâm câu thần kệ, vịnh bài quốc âm.
Ngự khen tú khẩu cẩm tâm,
Mến riêng vì sắc, yêu thầm vì thơ.
Rước về rắp gạn tóc tơ,
Gót tiên bỗng thoắt bao giờ còn đâu?
Mười lăm năm nọ chưa lâu,
Còn di tích đó là lầu vọng tiên.
Lạ tai nghe những chẳng tin,
Thử coi cho thấy nhỡn tiền mà ghê.
Nhận ra trong lá thơ đề,
Bút tiên chi để điểm mê lòng phàm.
Những là én bắc nhạn nam,
Cánh hoa mặt nước dễ làm sao đây?
Tuy rằng cách trở đông tây,
Dẫu xa, xa cũng có ngày gần nơi.
Gác xuân cách mấy dặm khơi,
Nhân duyên đành để gió trời thổi đưa.

13.- Hà-Sinh khuyên bạn không nên mơ tưởng hão (câu 245 - câu 272)

Hà rằng: "Hương lửa duyên ưa,
"Có khi tình trước còn chờ hội sau.
"Đành rằng ký ngộ nan cầu,
"Biết đâu non thẳm doành sâu mà tìm.
"Biết đâu nhắn cá gửi chim,
"Vớt trăng dưới nước, mò kim trong doành.
"Biết đâu ả Tố, nàng Quỳnh,
"Cớ chi nhớ quẩn sầu quanh khéo là.
"Chuốc mua lấy nợ phong hoa,
"Mối tơ phó mặc trăng già phải nao!
"Xuân sang xuân đã già nào,
"Chờ sau mai nở thì đào chẳng lâu."
Vắt tay ngẵm nghĩ xưa sau,
Như ai cất hẳn gánh sầu thoảng không.
Nói cười tươi tắn thong dong,
Đổi lòng phong nguyệt ra lòng vân-thiên.
Thôi mong khách, lại chờ tin,
Thư hồng ngày mỏi, chăn uyên đêm dài.
Bâng khuâng một mối viễn hoài,
Khi trong sân tuyết, khi ngoài trời tây.
Ngày thường ngắm cảnh am mây,
Người buồn xui cả cỏ cây cũng buồn.
Còn trời, còn nước, còn non,
Mây xanh nước biếc vẫn còn như xưa.
Hoa đào còn đó trơ trơ,
Mà người năm ngoái bây giờ là đâu?
Vù vù gió thổi rèm lau,
Càng như chất mối tơ sầu vào thêm.

14.- Tú-Uyên xem bói thẻ và nằm mộng (câu 273 - câu 290)

Chạnh đâu nhớ chuyện bốc tiêm,
Tới đền Bạch-mã, giải niềm cầu duyên.
Khấn rồi ra góc tây hiên,
Nén hương tắt đỏ, ngọn đèn nhỏ to.
Bóng trăng vừa xế cành ngô,
Giấc hoè dìu-dịu, chăn cù êm êm.
Thấy người cao mũ rộng xiêm,
Tay cầm thiết bảng, trang nghiêm khác vời.
Trước sân sang sảng dạy lời,
Rằng: "Mai sớm đợi ta ngoài sông Tô;
"Lọ là oanh yến hẹn-hò,
"Cầu Đông sẵn lối, cầu ? đó mà!"
Vội mừng chợt tỉnh giấc hoa,
Sao vừa nhàn-nhạt, trời vừa eo eo.
Lòng yêu phải bước chân theo,
Xăm xăm ra đó vắng teo thấy gì.
Nước trong vắt, cỏ xanh rì,
Thạch-kiều thấy đó giai kỳ nào đâu?

15.- Gặp người bán tranh, Tú-Uyên mua về treo (câu 291 - câu 304)

Trông mong đã suốt giờ lâu,
?m cây mãi thế, ra màu cũng quê.
Chán chiều thơ thẩn ra về,
Xem tình dở tỉnh dở mê nực cười.
Bỗng may lại gặp một người,
Tay mang tranh vẽ, gót dời đường hoa.
Liền tay xin lĩnh xem qua,
Truyền-thần một tượng Tố-nga rành rành.
Dịu dàng vẻ đạm màu thanh,
Như người gặp Quảng-văn đình ngày xưa.
Càng nhìn nét bút càng ưa,
Chàng Vương dẫu mạc bao giò cho nên.
Mua về treo chốn thư-hiên,
Như ai đem ngọc giải phiền lại cho.

16.- Tú-Uyên với bức tranh Tố-nữ (câu 305 - câu 327)

Mưa hoa khép cánh song hồ,
Sớm khuya với bức họa đồ làm đôi.
Mâm chung một, đũa thêm hai,
Thơ trao dưới nguyệt, rượu mời trước hoa.
Tưởng gần thôi lại nghĩ xa,
Có khi hình ảnh cũng là phát phu.
?m trời vừa tiết trăng thu,
Ngàn sương rắt bạc, lá khô rụng vàng.
Chiều thu như gợi tấm thương,
Lòng người trông xuống sông Tương mơ hình.
Kề bên năn nỉ bày tình,
Nỗi nhà thuở trước, nỗi mình ngày xưa.
Từ phen giáp mặt đến giờ,
Những là ngày tưởng đêm mơ đã chồn.
?ấy ai điểm phấn tô son,
Để ai ruột héo, gan mòn vì ai?
Buồn đào nửa bước chẳng rời,
Nghìn vàng đổi được trận cười ấy chăng?
Rày xin bẻ khoá cung trăng,
Vén mây mở mặt chi Hằng, chút nao!
Chợt trông mấp máy miệng đào,
Mặt hoa hớn-hở dường chào chúa Đông.

17.- Tố-nữ trong tranh hiện thành người thực (câu 327 - câu 340)

Cho hay tình cũng là chung,
Khách tiên chưa dễ qua vòng ái ân!
Một khi ra việc tràng văn,
Trở về đã thấy bát trân sẵn sàng.
So xem phong vị khác thường,
Mùi hoa sực nức, mùi hương ngạt-ngào.
Bếp trời sẵn đấy hay sao?
Của đâu thấy lạ, lòng nào chẳng nghi?
Rạng mai cứ buổi ra đi,
Liệu chừng thoắt trở lại nhà thử coi.
Sẩy đâu thấy sự lạ đời:
Trong tranh sao có bóng người vào ra?
Nhơn nhơn mày liễu mặt hoa,
Này người khi trước, đâu mà đến đây?

18.- Tú-Uyên cùng Giáng-Kiều trò chuyện (câu 341 - câu 374)

Nàng đương trang điểm nào hay,
Cửa ngoài sẽ hé cánh mây bước vào.
Vội-vàng đánh tiếng ra chào,
Bên mừng, bên lệ, xiết bao là tình!
Rằng:"Bấy lâu một chữ tình,
"Gặp đây xin tỏ tính danh cho tường".
Nàng rằng: "Bồ liễu phận thường,
"Vì mang má phấn, nen vương tơ điều.
"Vốn xưa thiếp khách thanh-tiêu,
"Tiên-thù là hiệu, Giáng-Kiều là tên.
"Ba sinh đã nặng vì duyên,
"Đem thân liễu yếu, kết nguyền đào thơ.
"Nhân duyên đã định ngày xưa,
"Tơ trăng xe đến bây giờ mới thân.
"Cũng là nhờ đức tiên-quân,
"Đoá hoa biết mặt chúa xuân từ rày."
Sinh rằng: "Trong bấy lâu nay,
"Nhắp sầu, gối muộn, có ngày nào ngơi!
"Đã rằng: Tác hợp duyên trời,
"Lám chi cho vẩn lòng người lắm nau?"
Nàng rằng: "Xin quyết gieo cầu,
"Tấm son thề với trên đầu xanh xanh.
"Dám đâu học thói yến oanh,
"Mặn tình trăng gió, nhạt tình lửa hương.
"Gieo thoi trước đã dở dang.
"Sau nên nát đá phai vàng như chơi.
"Mái Tây còn để tiếng đời,
"Treo gương kim cổ cho người soi chung.
"Lạ chi hoa với gió đông,
"Tiếc hương, vả cũng nể lòng chim xanh.
"Một mai mưa gió bất tình,
Vóc tàn, nên để yến oanh "hững hờ.
"Nghĩ trong thân-phận yếu thơ,
"Làm chi để tiếng sờ-sờ lại sau?"

19.- Giáng-Kiều dùng phép tiên biến hoá (câu 375 - câu 400)

Nói thôi rút chiếc trâm đầu,
Biến hình liền thấy đôi hầu theo ra.
Tưng bừng sắm sửa tiệc hoa,
Bình trầm đưa khói, chén hà đậm hương.
Giọng tình sánh với quỳnh-tương,
Giả say sinh mớ toan đường lần khân.
Thưa rằng: "Túc trái tiền nhân,
"Không dưng dễ xuống cõi trần làm chi.
"Song còn mấy bạn tương tri,
"Bấy lâu chưa có chút gì là đâu.
"Trước xin từ biệt cùng nhau,
"Chữ duyên này trở về sau còn dài."
Nghe lời nói cũng êm tai,
Chìu lòng chi nỡ ép nài mưa mây.
Trước sân mừng cuộc tỉnh say,
Tiếng vui đãi nguyệt, tiệc bày đối hoa.
Bóng mâ bỗng kéo quanh nhà,
Thảo am thoát đã đổi ra lâu đài.
Tường-quang sáng một góc trờ,
Nhởn nhơ áo, mũ, xiêm, hài, biết bao!
Người yểu điệu, khách thanh-tao,
Mỗi người một vẻ, ai nào kém ai.
Lả-lơi bên nói bên cười,
Bên mừng cố hữu, bên mời tân-lang.
Đong đưa khoe thắm đua vàng,
Vũ-y thấp-thoáng, Nghê-thường thiết tha.

20.- Tú-Uyên cùng Giáng-Kiều kết duyên (câu 401 - câu 428)

Yến tân chuốc chén năm ba,
Người còn vui tiệc, khách đà cáo say.
Kẻ ra nương bánh xe mây,
Người vào trong gấm vui-vầy bạn loan.
Lả-lơi cười với hoa-nhan,
Trải chăn thúy-vũ, buông màn phù-dung.
Phòng tiên dìu-dặt chén đồng,
Rèm tương giủ thấp, trướng hồng treo cao.
Ngẩn-ngơ hé cửa động đào,
Mây tuông bể ái, mưa rào sông ân.
Mấy vàng đổi được khắc xuân.
Xưa nay tài-tử, giai-nhân lạ gì?
Cho hay thiên tải giai kỳ,
Trăng già xe đã phải thì đào non.
Cũng là môt mốt tơ son,
Năm-trăm năm cũng vuông tròn từ đây.
Đàn cầm từ thủa bén dây,
Khi đằm thắm đã, bỏ ngày nhớ nhung!
Khi gió mát, lúc trăng trong,
Bầu tiên chuốc rượu, tơ đồng nối dây.
Khi tuyết xuống, lúc hương bay,
Câu thơ trên gác, bàn vây bên bình.
Tài hoa-quốc, sắc khuynh thành,
Cầm, kỳ, thi, tửu, đủ vành trần duyên.
Ngươi tao-nhã, khách thuyền-quyên,
Phong, hoa, tuyết, nguyệt, là tiên trên đời.
Nhà lan sum-họp ban mai,
Đã trong tần-tảo, lại ngoài ty-ca.

21.- Tú-Uyên say đắm rượu chè, Giáng-Kiều can ngăn không nổi (câu 429 - câu 444)

Dần dần năm đã kể ba,
Hạnh và độ thắm, liễu và phần son.
Duyên ai tính đã vuông tròn,
Nào hay nợ trước chút còn dở-dang.
Trần-sinh từ thủa gặp nàng,
Vui-vầy mê-mả nên càng quá xưa.
Môt ngày say mấy canh thừa,
Khuyên can nàng mới ngỏ thưa ít nhiều.
Rằng: "Xin gửi một hai điều,
"Thân trăm-năm nỡ bỏ liều thế ư!
"Thiếu gì những chuyện ngày xưa,
"Còn bia miệng đó trơ trơ chưa mòn!
"?ấy ai dỗi gót bên non,
"Bóng trăng Thái-thạch là hồn ai say!
Ví còn lầm trước chưa hay,
"Thì đem gương ấy sau này mà soi."

22.- Giáng-Kiều bị ngược-đãi giận bực bỏ đi (câu 445 - câu 476)

Ngán thay khuyên-nhủ đến lời,
Nưóc kia dội đá có mùi gì đâu.
Thôi ngày trọn, lại đêm thâu,
Cạn chung Lý-Bạch, nghiêng bầu Lưu-Linh.
Ma men quanh-quẩn bên mình,
Cho đàn trễ phím, cho bình nhạt hương.
Mải-mê say tỉnh tâm-trường,
Liệu bài nàng lại tìm đường van-lơn.
Trái tai vả lại ngứa gan,
Đang tay nỡ dập hoa tàn tả-tơi.
Dây đồng đứt hẳn làm đôi,
Cánh bèo theo ngọn nước trôi cũng rầu!
Nàng càng tầm-tả tuôn châu,
Ngán nhân tình khéo ra màu thắm phai.
Rằng: "Thôi, tôi đã quá lời,
"Xui lòng nghĩ lại một hai kẻo mà..."
Sinh đang vui chén la đà,
Vẩn-vơ tính qủi hồn ma biết gì.
Nói thôi, nói cũng chi chi,
Nghe ra tiếng nặng như chì, giọng say!
Nàng rằng: "Duyên-nợ bấy nay,
"Thương ôi nước đổ bốc đầy được đâu
"Tiếc cho nỗi vợ chồng Ngâu,
"Doành thu nên để bắc cầu mấy phen!
"Sá chi nữa, cái hoa hèn,
"Nghĩ làm chi nữa cái duyên cũ-càng.
"Đã lòng rẻ thúy chia hương,
"Đành lòng rẫy ngọc, ruồng vàng thì vâng.
"Thôi thôi, thôi cũng cầm bằng,
"Tơ hồng phó trả bà trăng cho rồi."
Lạy rồi, đứng lại sân ngoài,
Bên bàn say tỉnh mặc người ngồ trơ.

23.- Sau khi tỉnh ra Tú-Uyên hối-hận (câu 477 - câu 516)

Sinh còn đương cuộc nào ngờ,
Tỉnh dần dần lại, bây giờ biết sao?
Biết phương nào, biết chước nào.
Có chăng còn lúc chiêm bao họa là!
Non thần mấy dặm đường xa,
Khói mây man-mác dễ mà hỏi, vay!
Cát vàng bụi bạc xa bay,
Mây trên mặt đất, non xây chân trời.
Ngắt chừng bể thẳm doành khơi,
Đường xa bao nả tình dài bấy nhiêu.
Buồn trông quãng vắng đường queo,
Gió lay nhẹ lá, sương gieo nặng cành.
Buồn trông cửa bể mông-mênh,
Con thuyền thấp-thoáng cuối ghềnh ngổn-ngang.
Buồn trông cuối phố hàng Đường,
Cánh hồng man-mác, hạt sương đầm-đìa.
Buồn trông theo giải Tô-khê,
Chim kêu bụi rậm, trâu về đồng không.
Cảnh buồn như giục tấm lòng,
Lại thêm vấn-vít mấy vòng tơ vương.
?ấy ai phải vía chàng Trương,
Non tiên cách một bước đường nên xa.
Hay là lỗi sổ Hằng-Nga,
Đêm đông vò-võ bóng tà sao thưa.
Nghĩ tình nên những ngẩn-ngơ,
Ai lên đường ấy, ai chờ đợi ai?
Dần dần trăng tối gió may,
Nghĩ sao cho xiết sự đời phôi-pha!
Trêu ngươi chi bấy trăng già,
Xe dây mỏng-mảnh ỡm-ờ mà chơi.
Cho nên cách trở đôi nơi,
Hoa trôi cửa động, nước xuôi cõi trần.
Nghĩ riêng, riêng những ăn-năn,
Phấn hồ, còn đó, tinh-thần nào đâu?
Càng thêm ngao-ngán trăm chiều,
Giấc nào nào nhắp, bữa nào nào ngon.
Xác ve ngày một héo mòn,
Xác gan con vượn, mơ hồn cái quyên.
Tả lòng tay thảo mười thiên,
Mấy câu mấy chữ, mấy nghìn câu rơi.

24.- Hà-Sinh khuyên-giải Tú-Uyên (câu 517 - câu 536)

Hà-sinh phải buổi sang chơi,
Xót tình khế-hữu liêu bài giải-khuyên:
"Biết đâu rằng quỉ rằng tiên,
"Một may một rủi thôi phiền não chi.
"Dù tiên duyên đã mãn kỳ,
"Chờ cho duyên hợp châu về mõn hơi!
"Hãy xin gắng-gượng làm tươi,
"Gánh sầu trút cả cho người phải nao!
"Lỡ ra khi đến thế nào,
"Mà cho mắt tục trông vào sao nên."
Rằng: "Xưa trót đã nặng nguyền,
"Phải đem vàng đá mà đền mới xuôi.
"Cũng đành cho thế-gian cười,
"Còn hơn cam phụ với người tri-âm.
"Duyên xưa âu chẳng xe lầm,
"Bao giờ kéo hêt tơ tằm mà hay!
"Công đâu nghĩ mướn lo vay,
"Dẫu mòn bia đà khôn lay tấc lòng."
Xem chiều nói cũng như không,
Hà-sinh ra ý sượng-sùng cáo lui.

25.- Tú-Uyên toan tự-ải, Giáng-Kiều bỗng hiện về (câu 437 - câu 570)

Khách đà về chốn tây-trai,
Một mình một bóng đứng ngồi sao yên.
Quyết tìm khắp nước non tiên,
Đem duyên giai lão đính nguyền lai sinh.
Giải là giủ sẵn bên mình,
Cũng liều trắng nợ, trần tình thử xem!
Gió hương đâu bỗng lai rèm,
Bóng hoa đâu đã trước thềm lả-lơi.
Đương khi rằng một rằng hai,
Sịch hài nàng đã tớ nơi bao giờ!
Mặt trông mặt, hãy ngẩn ngơ,
Nào hay đã tỉnh còn ngờ rằng mê.
May sao may khéo đi về,
Chậm chân chút nữa còn gì là ai!
Mắt nhìn chung cả con ngươi,
Bên lòng mừng tủi, bên lời hợp tan,
Sinh rằng: "Từ vắng phương-nhan.
"Lòng theo trăng, bể, mây ngàn thiếu đâu.
"Quản bao bể rộng sông sâu,
"Đã toan quên cả cái cầu tư-sinh.
"Dám đâu riêng phụ với tình,
"Dưới vàng có đất, trên xanh có trời.
"Kể chi những sự đã rồi,
"Sắt son ghi tạc một lời từ đây."
Thưa rằng: "Cầm đã bén dây,
"Có tri âm đó, cuốn dây sao đành.
"Cũng công hương lửa ba sinh,
"Nguồn ân chưa cạn, sóng tình còn xao."
Đinh ninh gắn bó tất giao,
Trước sau nối gót trướng đào song song.
Vườn xuân hoa đã quen ong,
Từng xa-xôi lắm, lại nồng nàn thêm.
Mấy thu gối ấm chăn êm,
Cửa cài then nghĩa, phòng niêm khoá tình.

26.- Sau khi tái hợp, vợ chồng Tú-Uyên sinh Chân-Nhi (câu 571 - câu 576)

Trên đào vừa thấy tinh oanh,
Gốc giao sớm đã nối cành quế Yên.
Chân Nhi rơi chút dấu tiên,
Một mai dành để dõi truyền thi thư.
Sinh càng chăm-chút sớm trưa,
Cá mong rẽ sóng, rồng chờ tung mây.

27.- Giáng-Kiều khuyên chồng tòng tiên (câu 577 - câu 608)

Đường trời chưa mỏi cánh bay,
Thung-dung nàng lại giãi-bày một hai.
Rằng: "Coi cho thấu sụ đời,
"Giam danh khoá lợi, những người thế-gian.
"Trời thu mây hợp, lại tan,
"Ngày xuân hoa nở, hoa tàn mấy lăm.
"Gẫm trong tám, chín mươi năm,
"Bóng câu cửa sổ, dễ cầm mãi ru!
"Thịt xương gửi đám Diêm-phù,
"Sinh sinh hóa hóa trong lò hồng-quân.
"Đố ai vượt khỏi lòng trần,
"Sông mê chìm nổi, thế-nhân đã đầy.
"Anh hùng những mặt xưa nay,
"Trăm năm nát vớt cỏ cây cũng là.
"Dần dần tháng trọn ngày qua,
"Má hồng mấy chốc đã ra bạc đầu.
"Thôn hoang mấy nắm cổ khâu,
"ấy nền Đồng-tước, hay lầu Nhạc-dương.
"Chưa đầy một cuộc tang thương,
"Non đồng cũng lở, núi vàng cũng nghiêng.
"Sao bằng ngày tháng cung tiên,
"Vui chung tám cõi, xuân riêng bốn mùa.
"Dọc ngang bốn bể, năm hồ,
"Khắp trong ba cõi chín châu mặc dầu.
"Ra vào kim khuyết quỳnh-lâu,
"Treo tranh yên-thủy, giắt bầu kiền-khôn.
"Đi về tuyết điếm hoa thôn,
"Thông rền nhịp phách, suối tuôn ngón đàn.
"Một này trong thú thanh-nhàn,
"Mấy trăm mươn cảnh nhân-hoàn đọ sao!
"Khuyên chàng sớm nghĩ lấy nao,
"Gà lồng, hạc nội, bên nào là hơn?"

28.- Nghe Giáng-Kiều thuyết về tiên đao, Tú-Uyên tỉnh ngộ dần (câu 609 - câu 630)

Mảnh riêng sinh những bàng hoàng,
Tuy say cõi tĩnh, chưa tan lòng phàm.
Trót xưa túi sách con gươm,
Ví ta Sào, Hứa, ai làm Y, Chu?
Thưa rằng: "Đã tiếng trượng-phu,
"Sụ đời vinh nhục chi cho bận lòng.
"Ví ham nghìn tứ, muôn chung,
"Con chim bay mãi cũng trong khuôn trời.
"Làm chi cho bạn tiên cười,
"Ai vui viên hạc, ai vui yên-hà,
"Vẩn-vơ trong đám phồn hoa,
"Ba mươi sáu động, ai là chủ nhân?"
Sinh nghe tỉnh chuyện tiền-nhân,
Rửa dần bụi tục, tỏ dần lối mê.
Rằng: "Xưa Hoàng-Đế, An-Kỳ,
"Nào phương thoát hoá tu từ sao đây?"
Nàng rằng: "Thiên đạo nhiệm thay,
"Kiều, Tùng xưa cũng thế này chứ sao!
"Vả chàng dự bậc thanh-tao,
"Mà xem trong sổ Tiên-tào có tên.
"Học sao cho hết chân truyền,
"Tu sao cho hết tinh-huyền thì tu."

29.- Sau khi trao nhận tiên-phù, hai người cùng cỡi hạc lên tiên (câu 631 - câu 648)

Tay trao một đạo tiên-phù,
Môt phương hỏa-tảo, một lò kim-đan.
Đường tu sẵn cách khảo bàn,
Rượu sen thắm giọng, trà lan thơm lòng.
Dần theo gió liễu, trăng đồng,
Thân phàm như chấp cánh lông nhẹ nhàng.
Đương khi lốt trắng điểm vàng,
Tỉnh say Vương-mẫu, mơ-màng Lão-quân.
Mây đưa năm sắc tường vân,
Hạc đâu đôi chiếc, trước sân đón người.
Dang tay cỡi hạc cả cười,
Nhủ Chân-Nhi lại nối lời thề xưa:
"Còn kỳ dậy gió tuôn mưa,
"Mai sau gặp gỡ bấy giờ sẽ hay!"
Nói rồ thẳng rẽ đường mây,
Trông theo cánh hạc về tây tuyệt vời.
Bồng lai riêng một bầu trời,
Màn hoa, cầu đá, mấy nơi thiên thành.

qcluu
04-06-2003, 10:19 AM
Wow!!! BR tìm đâu ra mí bài này hay và giá trị quá ... Cám ơn BR nhiều nghen :)

Chim Viet
04-06-2003, 01:35 PM
Thân gởi BungRieu:
Trước,anh xin cám ơn BR đã post truyện BCKN lên cho mọi người cùng thưởng thức nhưng đồng thời anh cũng có một thắc mắc .
Từ trước đến nay khi học cũng như đọc trong tất cả các nguồn về BCKN thì tất cả đều ghi tác giả là Khuyết danh (hay chưa biết tác giả là ai).Nay đọc ở trên thấy BR ghi tác giả là
Đặng Trần Côn (ông là người viết Chinh Phụ Ngâm bằng Hán văn và đã được Đoàn Thị Điểm diễn Nôm) vậy BR có thể giúp anh cho biết lấy tài liệu này ở đâu không(anh cũng tra cứu lại sau khi đọc bài của BR nhưng không thấy ở đâu nói ĐTC là tác giả của BCKN).
Anh chỉ hỏi với lòng thành thật chứ không có ý gì khác vì nhiều khi các nhà nghiên cứu văn học mới biết điều này nhưng mình chưa được biết đến.
Cám ơn BR .
Chúc BR luôn được vui.
Chim Việt.

BungRieu
04-06-2003, 03:28 PM
Chào Chú Chim Việt ...

Cháu thấy trong đây nè ...

1. http://www.convit.com/cv05%20kieu02.html
2.http://www.hue.vnn.vn/vanhocvn/van_hoc_viet/tg_tp/dang_tran_con.htm
3.http://www.qghc.org/bantin/TH1102.htm

Chim Viet
04-06-2003, 07:33 PM
To BR,
Anh xin cám ơn BR đã chịu khó đễ lại cho anh những cái address trên,để cho công bằng anh cũng để lại những website trong đó có nói không rõ tác giả của BCKN là ai.
http://www.thuyhu.com/thoco/bichcaukyngo/
http://www.evietonline.com/Tho/details.asp?IDNews=4847

Đặng Trần Côn là tác giả thật sự của Bích Câu Kỳ Ngộ.
Có lẽ đây là một phát hiện mới của các nhà nghiên cứu văn học chăng?Nhưng sau khi đọc anh thấy có những điểm đáng nghi ngờ,anh xin lấy mấy đoạn trong đó ra để tham khảo.(anh xin nhắc lại là anh không có ý nói BR sai đâu vì anh em ta ai cũng theo sách vở mà thôi,chỉ nêu ra đây để bàn luận cho vui thôi)

1-Đoàn thị Điểm với những áng thơ bất hủ Bích Câu Kỳ Ngộ và Chinh Phụ Ngâm diễn nôm từ bản Hán văn của Đặng Trần Côn, bất hủ cả về tư tưởng lẫn văn chương.

2-Danh sĩ Đặng Trần Côn trong tác phẩm Bích Câu Kỳ Ngộ dịch từ nguyên bản chữ Hán của Bà Huyện Thanh Quan,

-Đoạn 1 nói bà Đoàn Thị Điểm diễn Nôm BCKN từ bản Hán văn của Đ. T.Côn nhưng đoạn 2 lại cho rằng Danh sĩ Đặng Trần Côn trong tác phẩm Bích Câu Kỳ Ngộ dịch từ nguyên bản chữ Hán của Bà Huyện Thanh Quan, ? Thiệt không ăn khớp nhau và bây giờ anh cũng không chắc ai là tác giả thật sự của BCKN nữa.
-Còn một điều vô lý nữa là chúng ta đều biết Đặng Trần Côn,là một danh sĩ nhà Lê (1715-1750) còn Bà Huyện Thanh Quan sống dưới thời nhà Nguyễn(chưa ai biết năm sinh,mất của bà nhưng biết cha của bà là danh nho Nguyễn Lý (1755-1837) như vậy cho thấy ông Đặng T. Côn đã mất trước khi Bà Huyện Thanh Quan được sinh ra thì làm sao dịch được tác phẩm của BHTQ được :confused:
Thật là khó hiểu :( .

Nhưng thôi chúng ta cũng chẳng biết làm sao hơn,chỉ tiếc cho những người làm văn hoá mà không nghiêm túc và không có lương tâm nghề nghiệp phải không BR.:mad:
Đây là một đoạn nói về BHTQ:
Tiểu sử Bà Huyện Thanh Quan

Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh. Bà sinh trưởng vào cuối nhà Lê đầu nhà Nguyễn. Bà là con của vị danh nho Nguyễn Lý (1755-1837) vốn là một cựu thần nhà Lê.

Chồng bà là Lưu Nguyên Ôn bút hiệu Lưu Ái Lan (có sách còn chép là Lưu Nghi hay Lưu Nguyên Uẩn). Ông mất năm 1847. Ông vốn người làng Nguyệt Áng, Thanh Trì (Hà Đông); đỗ cử nhân khoa Mậu Tí triều Minh Mệnh, và được bổ làm tri huyện Thanh Quan (nay thuộc Thái Ninh, tỉnh Thái Bình) nên bà được gọi là Bà Huyện Thanh Quan, đôi khi có người còn gọi bà là bà Lưu Ái Lan.

Năm 1849, bà vào kinh giữ chức Cung Trung Giáo Tập để dạy học cho các công chúa và hậu phi. Tám năm sau, 1857, bà xin phép về quê nghỉ hưu, công chúa Mai Am đã tặng bà bài thơ "Tống Ái Lan Thất Nguyễn Thị Lưu Hà Nội"

Thơ bà lúc còn sinh tiền hẳn là rất nhiều, nhưng nay chỉ còn dăm bài lưu lại.
(theo Nữ sĩ Việt Nam - Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền)

Còn đây là về Đoàn thị Điểm và Đặng Trần Côn.
Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm sinh năm 1705 tại làng Giai Phạm, huyện Văn Giang, xứ Kinh Bắc (nay là tỉnh Bắc Ninh) mất năm 1748 tại tỉnh Nghệ An. Bà có tài, có sắc, thông minh từ nhỏ, học vấn uyên bác, viết nhiều tác phẩm bằng chữ Hán và chữ Nôm. Tác phẩm nổi tiếng nhất của bà là bản dịch Chinh phụ ngâm (Khúc ngâm của người vợ có chồng đi chiến trận). Khúc ngâm này nguyên tác bằng chữ Hán của nhà thơ Đặng Trần Côn (1715-1750) quán làng Nhâm Mục (làng Mọc) thuộc Kinh thành Thăng Long.
Đặng Trần Côn viết Chinh phụ ngâm để ghi nhận một hiện thực lịch sử của đất nước. Trải bao thế kỷ, dân tộc ta phải đương đầu chống giặc ngoại xâm, trai tráng trong nước phải tòng quân giết giặc, những người phụ nữ phải đảm nhiệm công việc gia đình, đồng ruộng. Và kiên trì chờ đợi ngày về của người lính chiến. Tình trạng ấy cũng diễn ra trong đời sống của tác giả và dịch giả là thời Trịnh Nguyễn phân tranh, nạn binh hỏa liên miên không dứt.

Một lần nữa ,cám ơn BR nhiều.

Chim Việt.

BungRieu
04-07-2003, 11:03 AM
Hi Anh CV ...

Có người lớn cho BR hai bài thơ
bài thứ nhất là bài QUA ĐÈO NGANG của Bà Huyện Thanh Quan .
bài thứ hai là bài CẢNH BÍCH CÂU trích ra trong Bích Câu Kì Ngộ ...

BR tải đăng lên đây ... để Anh và các Anh Chị tham khảo ....

Qua đèo Ngang

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà.
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi tiều vài chú.
Lác đác bên sông rợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc.
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Dừng chân đứng lại: trời, non, nước.
Một mảnh tình riêng ta với ta.
( Bà Huyện Thanh Quan )

Giải nghĩa:
Ðèo Ngang : tên một đèo của dãy núi Trường Sơn trong tỉnh Quãng Bình.
Tiều: người đốn củi.
Rợ : người thiểu số
Quốc : loài chim có tiếng kêu "quốc", "quốc." Hai câu nầy ám chỉ lòng nhớ nước bị mất.


Cảnh Bích Câu

Thành Tây có cảnh Bích Câu ,
Cỏ hoa góp lại một bầu xinh sao !
Ðua chen Thu cúc, Xuân đào,
Lựu phun lửa Hạ, mai chào gió Ðông.
Xanh xanh dãy liễu ngàn thông,
Cỏ lan lối mục, rêu phong dấu tiều .
Một vùng non nước đìu hiu.
Phất phơ gió trúc, dặt dìu mưa hoa.
( Bích Câu Kỳ Ngộ )

Giải nghĩa:

Lối mục : lối đi của bọn chăn trâu.
Rêu phong : rêu che phủ

Dấu tiều: dấu chân của người kiếm củi.

==============================

1. Giả thiết Ông DTC là người dịch thơ của bà HTQ ...thì không được hợp lí vì ... như Anh đã nói ... bà HTQ là người thời sau ... vậy mình loại bỏ trường hợp này nha ...

2. Có rất nhiều tương đồng trong 2 áng thơ ... Và nếu xét theo bình diện văn học ... thì vấn đề đặt ra ở đây không phải là Ai (nhiều người) là tác giả của BCKN .. mà chỉ là (2 người) Ông ĐTC hay là Bà HTQ là tác giả của BCKN mà thôi ...
Vì thế nói tác giả của BCKN là khuyết danh ... thì BR hổng chịu à nha ...:) ... chỉ có 2 người là candidate mà thôi .....

3. Đọc kĩ Chinh Phụ Ngâm (ĐTC biên - BHTQ dịch) và BCKN thì thấy cách xử dụng Điển Tích và cách dụng chữ và hành văn ... thì rất tương đồng .... nên chỉ có hai giả thiết :
a) nếu xét về điển tích thì tác giả của BCKN phải là Ông ĐTC ..
b) nếu xét về cách dụng ngữ và hành văn thì mọi người sẽ nghiêng về bà HTQ ....

4. Trong Hán văn ... viêc xử dụng điển tích làm tăng sự bao quát và uyên bác cũng như mạch lạc và phong phú hóa bài văn ... Viết Hán văn ra thì đã khó ... nhưng biết và biết cách xử dụng Điển Tích trong thơ văn thì lại là 1 chuyện khó khăn hơn ... chỉ có nhưng ai có tài học uyên bác mới có thể viết được .... và vì bởi có nhiều điển tích Tương Đồng trong CPN và BCKN nên ... có lẽ là Ông ĐTC đó ... có thể nói là cách xử dụng điển tích của 1 nhà văn xưa biếu hiện cái khí khái và sự sảng khoái của ngưòi đó vậy ... cũng giống như chỉ tay trong căn cước vậy đó ... khó mà sai lắm ... nếu có thì rất ư là hãn hữu ....

===============================
BR sẽ cố gắng chạy đi hỏi thêm mí Cô Chú lớn tuổi xem sao ... và sẽ ráng tìm thêm về tài liệu này ....

Note: phần lí luận 1,2 ,3 4, ... là của 1 member lớn tuổi trong VCB đó ... chớ hông phải là của BR đâu à nha ....:) ..:D ...

Dù sao .. BR cũng đã học hỏi được rất nhiều ....
Ca'm ơn anh về những sites trên ... và những chi tiết về con người của Ông ĐTC và bà HTQ

Tu-Uyen
04-07-2003, 02:13 PM
Cảm ơn BR đã post tiểu sử của TU ...:) :) :)

contraixau
04-07-2003, 03:02 PM
cám ơn các anh chị nghe , đã cho em biết thêm một ít nữa:cool: :cool: :cool: