View Full Version : Kinh Vọng Phu
TruSiNang
04-18-2003, 03:43 AM
Kinh Vọng Phu
1. Chính Kinh
Ngày xưa, có hai vợ chồng, vừa sinh một đứa con, thì người chồng phải ra đi vì việc nước. Người vợ ở lại nuôi con và chăm sóc việc nhà.
Chiều chiều nàng bồng con đứng ngóng chồng, rồi hóa thành núi đá sừng sững ngàn năm.
Ngày nay, nhiều đồi núi được gọi là Hòn Vọng Phụ
:flower: :flower: :flower:
TruSiNang
04-18-2003, 03:46 AM
2. Tính cách Phổ Cập
2 . 1 Ðịa Danh và Sự Tích.
Trên quê hương ta, nhiều núi đá đã được gọi là Hòn Vọng Phụ Từ Ðồng Ðăng ở Lạng Sơn, xuống tới Thanh Hóa, Bình Ðịnh, Khánh Hòa, vào tới mãi Hà Tiên, và ra tận Côn Sơn, nơi nào cũng có Hòn Vọng Phụ Trên khắp đất nước và trong suốt dòng lịch sử, không có một sự tích nào lại được đem đặt tên cho nhiều danh sơn thắng cảnh như thế.
Sự tích Vọng Phu cũng nhiều, với nhiều lai lịch và chi tiết đôi khi đến vô lý, vô luân. Nhưng điểm cốt yếu của mọi tích vẫn là người vợ chung tình bồng con chờ chồng tới hóa thành đá.
2 . 2 Tầm quan trọng.
Sự phổ biến sâu rộng của chuyện tích, và nhất là việc trở thành địa danh cho nhiều đồi núi trên toàn đất nước, chứng tỏ kinh Vọng Phu đã chiếm một địa vị quan trọng trong tâm hồn và nếp sống dân Việt.
Ngoài ra, cũng như người em ở trong kinh Trầu Cau, nàng Vọng Phu cũng hóa thành đá, nhất là hóa thành ngọn núi cao, là dấu chỉ của biểu tượng những bài học quí báu của Tổ Tiên.
TruSiNang
04-18-2003, 03:50 AM
3. Giới Thiệu Gia Ðình
3 . 1 Chủ Ðích Của Kinh.
Nhìn chung trong Bộ Kinh Việt, điểm đặc biệt của Kinh Vọng Phu là sự hiện diện của một đứa con . Trừ Kinh nền tảng Tiên Rồng, không có Kinh nào khác đề cập tới con cái .
Như vậy, chủ đích của Kinh này không chỉ để nói về tình trai gái như Kinh Trương Chi, cũng không nói riêng về tình vợ chồng như Kinh Trầu Cau, mà cũng không dạy về cách hai vợ chồng chung sống như Kinh Chữ Ðồng.
Sự có mặt của đứa con nói lên tính cách trọn vẹn của một gia đình đúng nghĩa, khác hẳn cảnh hai vợ chồng son .
3 . 2 Tình Yêu Thể hiện.
Ðứa con vừa là hình ảnh hạnh phúc gia đình, vừa là biểu hiệu của vinh dự và trách nghiệm. Vật chất lẫn tinh thần, của những người được diễm phúc sinh dựng thêm một con người .
Với đứa con, tình yêu phối hiệp của hai vợ chồng được sống thực và kết quả. Nơi đứa con, hai cuộc sống, hai tâm hồn, hai con người, đã hòa hiệp thành một sự sống tự tại mớị Ðứa con là tình yêu thể hiện của hai vợ chồng, là thực tại của Tiên Rồng Song hiệp.
Vì vậy, chẳng những đứa con đã không ngăn trở, mà còn tăng thêm sự kết hiệp của hai vợ chồng, trong tình yêu cũng như trong cuộc sống.
TruSiNang
04-18-2003, 03:56 AM
3.3 Chung nhau cuộc sống.
Qua hình ảnh đứa con, Kinh Vọng Phu giới thiệu một gia đình trọn vẹn, với đầy đủ hạnh phúc và bổn phận, của hai con người đã hiệp nhất, đã chung nhau cuộc sống. Chẳng những họ được làm người, mà còn được làm vợ làm chồng, và làm mẹ làm cha .
4. Chức Năng Nam Nữ
4 . 1 Lý Do Ra Ðị
Hai vợ chồng sung sướng bên đứa con thơ, cuộc sống thực tuyệt vời . Nhưng hạnh phúc của gia đình đầm ấm đã không làm hai người quên đi những bổn phận khác.
Ðã quen với nếp sống nâng đỡ đùm bọc nhau của đại gia đình và của làng xóm, họ nhận biết rằng sở dĩ họ được yên vui là nhờ nhiều người khác đang tham gia vào việc chung. Cũng vì vậy, họ luôn sẳn sàng đóng góp phần của họ. Và rồi, khi tới dịp, người chồng đã ra đi làm bổn phận.
4 . 2 Việc Nước.
ạ Nhìn chung trong bộ Kinh Việt, việc người chồng ra đi nhắc nhớ chuyện Chữ Ðồng và An Tiên ra biển. Rồng thì ra biễn vẫy vùng, đi lo việc nước. Chữ Ðồng đi đem tài trí phát triển nước, An Tiêm đi lập làng mới .
Với Kinh An Tiêm, với thể chế làng nước và với nếp sống ngàn năm của xã hội Việt, ra đi vì nước chính là đại diện cho làng đi làm bổn phận của một dân trong nước.
b. Ở các văn hóa khác, việc làng nước, việc chung thường được coi là công tác phục vụ cho giai cấp thống trị.
Trái lại, trong văn hóa Việt, với chủ trương chánh đáng về bổn phận vua quan và thể chế làng nước, việc chung được quan niệm và thực sự là việc giúp ích cho mọi người .
Khi vua quan cư xử như cha mẹ, đem hết tâm hồn và tài trí chăm lo cho người dân được hạnh phúc, (Kinh Chữ Ðồng, Tiết Liêu), và khi người dân được thật sự sống trong tự do và dân chủ đúng nghĩa, (Kinh An Tiêm), thì đóng góp vào việc chung chính là một đồng tâm hiệp lực, một tương trợ cần thiết, để bảo đảm lớp sống hạnh phúc chung của nhau .
Ði làm việc chung chính là đem tài trí giúp ích cho đời .
c. Tuy nhiên việc chung nhiều khi lại vượt quá nếp sống thường ngày và ít có kết quả lợi lộc ngay trước mắt. Vào thời loạn, gánh vác việc chung còn kèm theo cả nguy hiểm tính mạng. Do Ðó việc chung thường đòi hỏi tầm nhìn xa rộng, và cũng thường làm nhiều người ái ngại .
Vì vậy, việc cưỡng bách, dưới một số hình thức, cũng là chuyện thường tình. Và cũng vì vậy, dấn thân làm việc chung luôn được mọi người coi là hành động đáng khâm phục.
Nam Thiên Nguyễn Ðức Sách
TruSiNang
04-21-2003, 12:28 PM
Hưng Đạo Ngâm
Ngủ Yên Trư Si Nặng
Thuở trời đất tạo muôn sinh hoạt,
Khách tiên rồng nhiều nét hay hay!!
Trung tâm hưng đạo từ nay,
Vì ai gây dựng ra ngay hội trường .
Trống Diên Hồng tưng bừng nhật nguyệt,
Khói Hồng Bàng nghi ngút gió mây,
Chín lần pháp báu trao tay,
Đức Ông truyền hịch, vua Bà xuất chinh .
Nước thanh bình năm ngàn năm tới,
Áo chinh nhân thay mới, từ đây .
Sứ trời tuyên cáo sách hay,
Núi sông phân định, đông tây đổi trào
Thời dựng nước tiên rồng hoan lạc,
Buổi thêm nhà Âu Lạc phân ra !
Da vàng, máu đỏ xa xa,
Danh vang biển ngoại, quyền oai đất trời .
Người tuổi trẻ vốn nòi Bách Việt,
Giữ sĩ nông, thêm việc công thương,
Thành tâm tin tưởng tiên rồng,
Thước sông tấc núi, biết luôn giữ gìn !
Chí làm nên chiêu hiền, triệu ngựa,
Xem mọi người thân tựa đồng bào,
Cả nhà dựng tấm bảng cao:
Hội Trường Hưng Đạo - Nước Nhà Việt Nam .
Thơ Hội
Từ Chinh Phụ Ngâm
:) :)
TruSiNang
04-22-2003, 12:49 PM
4 . 3 Việc Nhà
a . Vì các Kinh khác đã nói nhiều về kẻ ra đi, nên Kinh Vọng Phu chú trọng đến người vợ hiền đang ở lại nhà.
Tâm trạng và công việc của người ở nhà cũng không phải nhẹ nhàng. Chồng đã ra đi, người vợ phải tự lo liệu cho cuộc sống của chính nàng.
Trước kia, khi chồng ở nhà, có nhiều việc nàng không cần động tay, không cần nghĩ đến. Giờ đây, một mình nàng phải cán đán tất cả. Trước kia thì chồng cầy vợ cấy, bây giờ để “em cày cấy mặc lòng em đây“. Công việc chẳng những nặng nhọc hơn, mà còn cô quạnh buồn tẻ hơn nhiềụ
b. Nỗi cô đơn đó còn tăng thêm gấp bội, khi nàng phải một mình chăm sóc con thơ. Chẳng những phải lo ăn mặc thuốc men, mà còn phải dạy dỗ cho con nên ngườị Trước kia nàng chỉ là bà mẹ hiền, giờ đây nàng phải gánh luôn vai trò của người cha nghiêm ... Công việc, trách nhiệm và nỗi cô đơn vây bọc người ở nhà.
Ngoài ra, nàng còn có trách nhiệm đối với đại gia đình. Dĩ nhiên, nàng cũng được họ hàng thân thích vui tay đỡ đần. Nhưng không phải vì vậy mà nàng có thể quên phần vụ của mình trong đại gia đình. Lấy chồng gánh vác giang san nhà chồng.
Nam Thiên
TruSiNang
04-22-2003, 12:53 PM
4 . 4 Chia Nhau Công Tác.
Ở thời suy thoái, quan niệm gái việc nhà trai việc nước đã bị cực hoá đến độ phụ nữ bị nhốt trong bốn bức tường. Trong khi đó, đàn ông lộng hành, coi mình vượt xa trên nữ giới .
Tuy nhiên, ca dao tục ngữ, cũng như quan niệm và nếp sống bình dân, tức là những phản ảnh trung thực của văn hóa Việt, luôn luôn thể hiện tinh thần Kinh Vọng Phu .
Anh ơi phải lính thì đi,
Cửa nhà đơn chiếc đã thì có em .
Anh ơi giữ lấy việc chung,
Ðể em cầy cấy mặc lòng em đây .
Mau lên anh, em xin lãnh việc nhà,
Nợ non nước ta chung vai gánh vác.
Người vợ Việt luôn ý thức rõ ràng bổn phận của mỗi người, của chồng cũng như của chính nàng, đối với việc chung .
Nhưng nàng cũng ý thức rằng trong thực tế, chàng có nhiều điều kiện hơn nàng để lo việc chung, cũng như nàng có nhiều thuận lợi để lo việc nhà hơn chàng. Vì vậy, thay vì mỗi ngưòi phải tự mình làm tròn nhiệm vụ vừa đối với nhà vừa đối với nước, người phụ nữ Việt đã mạnh dạn thúc dục chồng ra đi lo việc nước, gánh thêm phận vụ việc chung của nàng, trong khi nàng khẳng khái đứng ra lãnh phần chu toàn việc nhà thay cho chàng .
Mỗi người tuỳ theo cấu trúc và điều kiện thuận hợp riêng, mà chu toàn công tác ứng hợp với khả năng mình .
Chính nhờ chia nhau công tác, nhờ phân công theo chức năng, mà cuộc sông bớt khó khăn, bớt nặng nhọc, và thêm vui tươi, thêm trọn vẹn, thêm hạnh phúc .
Nam Thiên
TruSiNang
04-25-2003, 02:32 AM
4.5 Bổ Túc Hổ Tương
Như vậy, Kinh Vọng Phu xóa bỏ sự phân cách giả tạo giữa những đặc tính nam và nữ.
Vì không thấy Con Người trong phối hiệp vợ chồng, mà chỉ thấy từng cá nhân đơn độc, nên những dị biệt nam nữ đã trở thành dấu hiệu chia cách, hơn là sự mời gọi hiệp nhất.
Sự phân cách đó đã đưa tới hậu quả tai hại như trọng nam khinh nữ, coi việc chung là đặc quyền của nam nhi, coi phụ nữ chỉ xứng đáng quay mặt vào bếp, nuôi con thờ chồng.
Trái lại, Kinh Vọng Phu nhấn mạnh tới hiệp nhất bổ túc hỗ tương giữa nam và nữ. Chàng đi lo việc nước, không phải chỉ vì đó là bổn phận của người trai, mà còn vì chàng được nàng ủy thác. Cũng vậy, chàng ra đi không phải để trốn tránh việc nhà, mà vì đã có nàng gánh vác thay chàng.
Trong chàng có nàng và trong nàng có chàng. Mỗi người đều ủy thác và nhận ủy thác. Họ phân công trong toàn bộ, trong liên nhiệm của hai người đã hiệp nhất THÀNH MỘT ÐƠN VỊ xã hội .
Nam Thiên
:) :)
TruSiNang
04-25-2003, 02:38 AM
Chinh Phụ Ngâm
Đoàn Thị Điểm
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên .
Xanh kia thăm thẳm tầng trên,
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này ?
Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt,
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây .
Chín tầng gươm báu trao tay,
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh .
Nước thanh bình ba trăm năm cũ .
Áo nhung trao quan vũ từ đây .
Sứ trời sớm giục đường mây,
Phép công là trọng, niềm tây sá nào .
Đường giong ruổi lưng đeo cung tiễn,
Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa .
Bóng cờ tiếng trống xa xa,
Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng .
Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt,
Xếp bút nghiên theo việc đao cung .
Thành liền mong tiến bệ rồng,
Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời .
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao .
Giã nhà đeo bức chiến bào,
Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu .
:cry: :( :)
TruSiNang
05-03-2003, 02:28 PM
Hai Ðám Tế Và Viếng Người Còn Sống
Nguyễn Đông Thành
Ðám tế sống một người sắp bị hành hình đã được nhà cầm quyền Pháp cho phép cử hành giữa pháp trường thiết lập tại chợ Thân Trung (Bến Tranh, Ðịnh Tường) năm 1875, theo lời đề nghị của Ðốc phủ sứ Trần Bá Lộc, một tên tay sai cực kỳ trung thành của họ. Người xuýt được tế sống bửa đó là một thủ lãnh quân kháng chiến, ông Thủ Khoa Nguyễn Hữu Huân .
Quán làng Tịnh Hà, huyện Kiến Hưng, tỉnh Ðịnh Tường (Mỹ Tho) Nguyễn Hữu Huân đỗ Thủ khoa trường Gia Ðịnh năm Nhâm Tý 1852, giữ chức Giáo thụ huyện Kiến Hưng, rồi thăng lên Phó Quản đạo (theo Ðại Nam Liệt Truyện, quyển 41). Năm Tân Dậu (1861), tỉnh Ðịnh Tường mất vào tay quân Pháp, ông vứt bỏ ngọn bút mền để cầm gươm giết giặc rồi đánh du kích trên một địa bàn rộng lớn, từ Tân An đến tỉnh lỵ. Tháng 6-1863, sau trận tấn công thất bại vào thành Mỹ Tho, lực lượng kháng chiến dưới quyền ông bị truy kích đến tận vùng Châu Ðốc rồi tan vỡ, ông bị giặc bắt được. Pháp sai Trần Bá Lộc, cũng người Ðịnh Tường, dụ ông đầu hàng nhưng ông cự tuyệt nên năm sau bị đầy ra đảo Reunion. Không nản chí vì sự thất bại và cảnh tù đầy, người anh hùng sa cơ nói thẳng ra ý định thua keo này bầy keo khác trong bài thơ làm hồi mới bị chuyển tới nhà lao ở Saint Denis:
Muôn việc cho hay ở số trời,
Cái thân chìm nổi biết là nơi !
Mấy hồi tên đạn ra tay thử,
Ngàn dặm non sông dạo gót chơi .
Chén rựơu Tân đình không ghé miệng,
Câu thơ cố quốc chẳng ra lời .
Cương thường bởi biết nên mang nặng,
Chưa chết, thề không vỡ nợ đời ...
TruSiNang
05-07-2003, 03:16 AM
Vì đã quyết tâm là thua keo nầy bày keo khác nên sau ba năm tù ở đảo Reunion Thủ Khoa Huân đành ưng chịu sự phóng thích có điều kiện khi Ðỗ Hữu Phương đề nghị là bảo lãnh cho ông được thả ra để về ngồi dậy học tại tư dinh của hắn trong Chợ Lớn .
Sinh trưởng ở Chợ Lớn, Ðổ Hữu Phương có mặt trong số mấy người Việt Nam đầu tiên ra làm tay sai cho quân pháp: đồn Kỳ Hoà vừa thất thủ (1861) là hắn từ nơi tản cư ở Bà Ðiểm mò về Chợ Lớn trình diện với Francis Garnier, hồi ấy phụ trách về việc bình định vùng đó. Hắn lập được nhiều công trạng với quân xâm lược và vơ vét thật đầy túi nên về sau trở thành người giầu có thứ hai ở nước ta, tên được nói đến trong câu vè, “nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ Bưởi.” Nhưng trong số bốn tên Việt gian bị coi là có tội nặng nhất với tổ quốc hồi giặc Pháp xâm lược sáu tỉnh Gia Ðịnh, Ðỗ Hữu Phương lại được xếp hàng cuối trong ca dao hài tội bọn họ:
Trời Nam đương hội mở mang,
Bổng nhiên mắc lũ giặc loàn Tây Dương,
Chó săn có lũ thằng Tường,
Thằng Lộc, thằng Tấn, thằng Phương một đoàn .
Tôn Thọ Tường bị đưa lên đầu bảng tội nhân chỉ vì là một người có học thức và xuất thân từ nhà gia thế chứ không thuộc loại “vô học nên không biết đạo lý” như ba tên đứng sau. Nhưng so với Trần Bá Lộc, Huỳnh Công Tấn thì Ðỗ Hữu Phương cũng chẳng lương thiện gì hơn, chỉ có điều là hắn khôn ngoan, bề ngoài làm ra vẻ hiền lành nên tương đối có ít người hận thù mà thôi. Trong khi Trần Bá Lộc giết hại đồng bào không gớm tay, thủ đoạn quen dùng của hắn là “bắt cha mẹ vợ con người kháng chiến để buộc đương sự ra hàng nếu không muốn con tin bị chặt đầu” thì Ðỗ Hữu Phương cũng lập công với Pháp bằng việc cưỡng ép người ta quy thuận nhưng với những phương cách tương đối mền mỏng hơn. Hắn bảo lãnh cho Thủ Khoa Huân chẳng phải là vì cảm phục khí tiết của người đã chọn con đường đi đầy biệt xứ thay vì con đường dẫn tới áo mũ xênh xang và cũng không phải là vì cần người dạy chữ nho cho con cháu hắn. Mục đích của hắn là phơi bày cho quan thầy Pháp nhận ra rằng hắn đắc lực hơn địch thủ Trần Bá Lộc, đồng thời lại định dùng ông Thủ Khoa Huân làm một thứ hàng mẫu để trưng ra cho đồng bào thấy là đã tới lúc những người vẫn kiên quyết chống đối như nhân vật ấy cũng phải chịu từ bỏ con đường đã chọn .
TruSiNang
05-12-2003, 03:44 AM
Thủ Khoa Huân dĩ nhiên đã nhìn rõ hai mục đích của người “hảo tâm” Ðỗ Hữu Phương và ông chẳng hề thay đổi chí hướng. Nhưng ông không đành chôn vùi cuộc đời còn có thể hữu dụng cho đại cuộc ở một nơi lưu đầy không cách gì vượt thoát nên nghĩ rằng việc cần trước hết là về nước đã rồi sẽ liệu kế lấy lại tự do hoàn toàn. Ông nhận điều kiện của Ðỗ Hữu Phương, hồi ấy giữ chức Ðốc phủ sứ ở Vĩnh Long, nhưng chưa tìm được cách thoát thân ra khỏi cảnh tù giam lỏng trong tư dinh của hắn ở Chợ Lớn, cũng đã nhất quyết không để cho hắn lợi dụng sự hiện diện của mình tại nơi đó mà tuyên truyền xuyên tạc.
Ðỗ Hữu Phương tổ chức một bữa tiệc lớn, nói là để thân hào nhân sĩ xứ Nam Kỳ chào mừng người mới hồi hương nhưng mục đích chính là trưng bày thắng lợi của hắn trong nhiệm vụ chiêu dụ người chống đối. Trước cử tọa đông đảo, nhân được mời làm thơ ghi lại cảm tưởng trong dịp tái ngộ nhiều người quen biết từ trước, Thủ Khoa Huân giãi bày luôn quyết tâm không chịu khuất phục của mình và đồng thời mỉa mai những kẻ đã theo giặc vì tham bả lợi danh:
Tùng cúc tuy mừng hãy đặng còn,
Râu mày thêm thẹn với sông non.
Miếu đuờng cách trở bề tôi chứa,
Gia thất riêng mang nỗi vợ con .
Áo Hán nhiều thần thay vẻ lạ,
Rượu Hồ một mặt đắm mùi ngon .
Giang đông mảng tiếng đa tài tuấn,
Cuốn đất kia ai dám hỏi đon .
Nguyễn Ðông Thành
TruSiNang
05-27-2003, 11:31 AM
Vì đã quyết không bận lòng nghĩ tới chuyện riêng tư và cũng muốn lừa cho Ðỗ Hữu Phương tin rằng mình cắt hết liên lạc với bên ngoài, Thủ Khoa Huân ở trong tư dinh của hắn ngót ba năm mà không cho phép vợ con, thân thích đến thăm . Ông làm như dành trọn thời giờ cho việc học mà chính ông biết rõ hơn ai hết là hoàn toàn vô ích vì con cháu gia chủ đang sửa soạn để trở thành người Pháp, từ ngôn ngữ, cách sinh hoạt đến tâm hồn . Ông che đậy khéo léo đến mức một kẻ lập công lớn với quân cướp nước chỉ nhờ ở cái tài làm mật thám mà chẳng hay biết chi hết về việc ông dùng ngay chính tư dinh của hắn làm nơi liên lạc với mấy Hoa Kiều trong tổ chức Thiên Ðịa Hội địa phận Chợ Lớn rồi được tổ chức giúp đỡ cho đào thoát về Tân An .
Hổ về được rừng lại vẫy vùng một cõi, Thủ Khoa Huân nối lại liên lạc với Âu Dương Lân, lực lượng 3,000 kháng chiến quân dưới quyền hai ông đánh cho quân giặc nhiều trận thất điên bát đảo ở ngay giữa một vùng đồng không có địa thế thuận lợi gì lắm cho chiến thuật du kích .
Quân Pháp đánh dẹp ròng rã ba năm không “bình định” được tỉnh Ðịnh Tường là địa bàn hoạt động của Thủ Khoa Huân nên đến đầu năm Ất Hợi 1875 lại phải triệu dụng hung thần Trần Bá Lộc mà chính họ cũng đã ghê tỏm những thủ đoạn tàn ác do hắn thi thố bốn năm trước ở vùng Sa Ðéc, Phú Quốc, Cái Bè, v.v...
Ðược dịp trả thù Ðỗ Hữu Phương về bàn chơi gác năm nào, Lộc tâu với chủ Pháp là hắn nghi ngờ Phương thông đồng với Thủ Khoa Huân nên yêu cầu giam lỏng vào một nơi cho kế hoạch hành quân khỏi bị tiết lộ. Ðỗ Hữu Phương vốn được chủ tin dùng hơn Trần Bá Lộc, hắn lại mới lập thêm được công lớn là cung cấp cho chủ bản danh sách các nhà ái quốc sắp sửa nổi dậy ở miền tây nên vừa được ban thưởng chức Hội viên hội đồng thành phố Chợ Lớn, âm mưu hãm hại của Lộc vì thế không đạt được kết quả . Nhưng để lấy lòng tên tay sai rất đắc lực trong việc đánh dẹp đồng bào yêu nước, tướng Frantz (quyền Tổng tư lệnh quân xâm lược) cũng buộc chân Ðỗ Hữu Phương ở Chợ Lớn bằng cách chỉ định hắn làm phụ tá cho viên Ðốc Lý, chức vụ không cho phép hắn vắng mặt ở thành phố ấy .
Ðể chứng tỏ với chủ rằng mình có đủ khả năng đánh thắng một khi bí mật quân sự không bị Phương tiết lộ cho địch biết trước, Trần Bá Lộc xua quân càn nát tỉnh Ðịnh Tường trong mấy tháng liên tiếp, dữ dội đến mức gây ra cảnh động rừng, dã thú tràn vào làng và kháng chiến quân không còn được lấy một ngày nào có thể ở yên một nơi . Kết cục là lực lượng hao mòn gần hết, Thủ Khoa Huân bị giặc bắt được ở vùng Chợ Gạo sau khi thất bại với trận đánh cuối cùng vào Mỹ Tho và bị truy kích ráo riết. Trần Bá Lộc lại trổ tài dụ hàng nhưng lại thất bại thêm một lần nữa nên quyết định xử tử ông để dứt hẳn mối lo cho chủ Pháp .
Nguyễn Ðông Thành
TruSiNang
06-12-2003, 12:52 PM
Ðầu mùa thu năm Ất Hợi, Lộc tổ chức cuộc hành quyết tại chợ Thân Trong ở gần làng Tịnh Hà, sinh quán của tử tù mà hắn vừa căm giận vừa sợ hãi. Vì muốn nhân dịp ấy để trấn áp nhân tâm và gỡ tiếng xấu là chỉ quen thói giết hại thân nhân người dám dương đầu với hắn, Trần Bá Lộc đã ngầm đạo diễn hai tấn tuồng khá lạ mắt.
Một mặt hắn cho giải ông Thủ Khoa Huân tới nơi hành quyết bằng đường thủy và sai lính vào các làng ở hai bên bờ sông Tho lùa dân chúng ra xem . Từ Mỹ Tho ông bị chở bằng thuyền đến Bến Tranh, chân tay đã bị xiềng chặt mà cổ còn phải đeo cái gông bằng gỗ lim nặng chĩu. Thuyền không có mui che, Lộc cho mấy thủ hạ đi kèm để đánh trống, khua chiêng từng chặp rồi dịch loa khoe khoang công lớn của quan Ðốc phủ là “triệt hạ tên phản thần để tiêu trừ tai ách cho dân chúng Ðịnh Tường.” Người anh hùng sa cơ biết rằng tên đại Việt gian hạ nhục mình để uy hiếp tinh thần nhân dân chúng nên quyết định tức thì cách hóa giải thủ đọan hèn mọn nhưng thâm độc của Lộc. Bài thơ dưới đây được ông ứng khẩu đọc lên và ông ngâm đi ngâm lại trên suốt đoạn đường ra pháp trường:
Hai bên thiên hạ thấy hay không ?
Một gánh cương thường há phải gông !
Oằn oai đôi vai quân tử trúc,
Nghêng ngang một cổ trượng phu tòng.
Thác về đất Bắc danh còn rạng,
Sống ở thành Nam tiếng bỏ không .
Thắng bại, dinh hư, trời đất chịu.
Phản thần ? Ð.M. đứa cười ông .
Trên khúc đường ngắn ngủi từ bến đò ra chợ Thân Trong ông Thủ Khoa Huân vẫn ngâm thơ sang sảng, tuyệt nhiên không tỏ ra sợ hãi trước cái chết thảm khốc đang chờ mình ở đầu đường như Trần Bá Lộc dự đoán sai lầm vì chỉ quen suy bụng ta ra bụng người . Hắn không đạt được mục đích đầu tiên là uy hiếp tinh thần người chiến bại anh hùng và dân chúng rồi thì tấn tuồng thứ hai do hắn đạo diễn là cuộc tế sống cũng chỉ làm cho hắn tốn công thôi .
Nguyễn Ðông Thành
lost-dude
06-12-2003, 04:46 PM
Thanks, TruSiNang! :)
TruSiNang
06-22-2003, 02:02 PM
Chào Lost-Dude,
You are welcomed !
Ông Thủ Khoa Huân lập gia đình rất sớm nhưng đến năm đã 27 tuổi mới có con trai đầu lòng, năm sau phu nhân lại sinh thêm một cậu nữa. Khi ông vứt bút cầm gươm giết giặc, cậu con mới tròn hai tuổi nhưng trong suốt mười bốn năm sau đó, dù tung hoành ngay ở tỉnh nhà hay chịu tù túng ngoài hải đảo cũng như trong tư dinh của Ðỗ Hữu Phương ở Chợ Lớn, ông tuyệt nhiên không liên lạc với gia đình vì không muốn bận tâm đến chuyện riêng tư trong lúc còn phải dành hết tinh thần và thế lực cho nghĩa vụ với Ðất Nước. Bà Thủ Khoa Huân và hai cậu con thơ ấu đã phải rời quê nhà đi nơi khác vì sợ thủ đoạn giận cá chém thớt mà giặc Pháp và tay sai rất quen dùng, nhưng đến năm Ất Hợi 1875 thì Trần Bá Lộc cũng dò ra được tung tích. Hồi mới nhận lệnh của tướng Frantz và đoan kết là sẽ thủ thắng, hắn đã tính dùng thủ đoạn sở trường nên cho tay sai lùng tìm ráo riết nhưng tìm ra được rồi lại đổi ý vì biết rằng có bắt giữ vợ con ông làm con tin cũng chẳng bức bách nổi ông Thủ Khoa Huân ra hàng mà còn bị địch thủ Ðỗ Hữu Phương dèm pha với chủ chung là không đủ tài sức để đánh thắng nên mới dùng đến thủ đoạn hèn mọn như thế. Bà Thủ Khoa Huân và hai con vì vậy còn được Lộc để cho sống yên ổn thêm mấy tháng. Chỉ tới khi đã bắt được người thất bại anh hùng và chiêu dụ hết lời vẫn không đạt kết quả Trần Bá Lộc mới lập kế lợi dụng họ.
Ngày và nơi hành quyết liền được thông báo cho họ biết, Lộc cho tay sai tới xúi dục bà Thủ Khoa Huân tổ chức cuộc tế sống phu quân tại pháp trường. Bà ngay tình nên nghe theo ngay vì nghĩ rằng đó là cơ hội duy nhất còn lại cho bà và hai con nhìn lại mặt chồng, người cha khả kính lần cuối cùng. Tên tai sai của Trần Bá Lộc mang đạo nghĩa ra thuyết phục bà Thủ Khoa Huân, đồng thời cũng ca tụng chủ là người có độ lượng và biết tôn trọng cương thường nên mới đứng ra “ thương lượng với quý quan đại Pháp” để họ đồng ý cho phép cử hành nghi lễ ấy; nhưng thật ra thì Lộc có hậu ý khác hẳn. Ðã muốn nhân dịp đó mà gián tiếp cải chính những tin đồn khắp xứ là hắn chỉ quen đối xử một cách dã man với cha mẹ vợ con và bản thân những người đương đầu với hắn. Lộc hy vọng rằng ông Thủ Khoa Huân sẽ vì mềm lòng khi thấy vợ con vào phút chót mà chịu hàng để bảo toàn tính mạng.
Người thất bại anh hùng cũng nhìn ra ngay chỗ dụng tâm của Trần Bá Lộc. Ông khựng lại một bước khi thoạt trông thấy bà vợ đứng chờ bên cạnh hai cậu thiếu niên mà ông đoán là con mình-cha con đã xa cách mười bốn năm, từ khi cậu lớn mới được hai tuổi-cả ba đều khăn áo đại tang. Chiếc hương án uy nghi và phường bát âm dàn hai bên cho ông biết là cuộc tế sống đã được xắp đặt chu đáo, đó là một vinh dự mà xưa nay chưa có một tử tù nào được hưởng trước khi bị hành hình. Ông Thủ Khoa Huân vốn không hám chuộng hư vinh nhưng chắc không khỏi xúc động mảnh liệt trước tình sâu nghĩa nặng của bà vợ thủy chung mà ông đã đành phải bỏ mặc với cảnh “chồng có như không” vì đã quyết đặt nợ nước lên trên tình nhà. Dường như vì sợ rằng mình sẽ mềm lòng trước cảnh vợ con tế sống nên ông xua tay gạt đi rồi xăm xăm bước tới thẳng về chỗ tên giám trảm quan đang đứng chờ. Hai tên lính tập kèm sát hai bên bèn níu ông lại, nhưng người tù nhân của chúng không đứng vững nữa mà ngã vật xuống máu từ bên mép chảy ra dòng dòng.
Theo sách Bài Ngoại Liệt Truyện, ông Thủ Khoa Huân đã ba lần dấy binh đánh quân xâm lược, kiên trì chiến đấu mười năm ròng rã và đến lúc sa tay giặc ông cắn lưỡi tự sát tại pháp trường chứ không chịu để cho bọn phản quốc chém đầu ông dâng cho chủ Pháp của chúng. Sách ấy ghi lại bài thơ của người đương thời vịnh ông:
Cũng kẻ râu mày giữa núi sông,
đắm chìm há nỡ đứng mà trông ?
Ba phen chống chỏi mười năm trọn,
Trăm trận gian nan một phút cùng!
Chí quyết chết cho tan đởm giặc,
Lẽ đâu sống chịu đứt đầu ông .
Lạp Man đất cổ, người thiên cổ,
Một bậc tài hoa, một bậc hùng .
Nguyễn Ðông Thành
vBulletin® v3.8.4, Copyright ©2000-2009, Jelsoft Enterprises Ltd.