View Full Version : Những điển tích trong Truyện Kiều
qcluu
04-20-2003, 11:57 AM
Kính chào quí anh chị em trong gia đình Vietcyber,
QCLuu mở ca’i thread này ra nhằm chia xẽ phần nào những điển ti’ch được dùng trong truyện Kiều mà qcluu sưu tầm được sau khi xem quyển “Điển Ti’ch Trong Truyện Kiều” (Ta’i bản lần thư’ nhâ’t) của ta’c giả Trần Phương Hồ do Nhà Xuâ’t Bản Đồng Nai thực hiện năm 1997. QCLuu hy vọng được hân hạnh đo’ng go’p một chu’t gì đê’n vơ’i qui’ ACE muô’n biê’t thêm về Truyện Kiềụ
Vì là viết lại từ quyển sách nói trên, nên chắc không khỏi nhữ thiếu sót vô tình trong lúc viết. QCLuu kính mong được sự chỉ giáo từ quí bậc trưởng thươ.ng. QCLuu xin cám ơn trước.
Và sau đây là một phần trong “Thay lời tựa” cuả ta’c giả
“Quyển sa’ch này chỉ trình bày những điển ti’ch được dùng trong truyện Kiều mà thôi, không giải nghĩa hê’t những từ ngữ kha’c; vì sự hiểu biê’t của soạn giả cũng chỉ co’ giơ’i hạn.
Xin ca’c bậc thư’c giả vui lòng chỉ bảo cho những điều thiê’u so’t, để Vương Thu’y Kiều từ ngàn xưa cho mãi đê’n ngàn sau vẫn luôn là người yêu “y’ hợp tâm đồng” không chỉ riêng của Nguyễn Du, mà chung cả dân tộc”
Để qui’ ACE dễ tìm, sau đây là phần mục lục của những điển ti’ch. QCLuu sẽ từ từ edit cái post này để link tới những điển tích.
Kính,
qcluu
===========
Bể dâu (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=537304#post537304)
Hồng nhan, bạc mệnh (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=538467#post538467)
Tô’ Nga (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=538663#post538663)
Mai cô’t ca’ch (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=538966#post538966)
Khuôn trăng đầy đặn (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=541706#post541706)
Nghiêng nươ’c nghiêng thành (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=542635#post542635)
Tường đông (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=543028#post543028)
Thuyền tình (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=543870#post543870)
Châu sa (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=544884#post544884)
Suô’i vàng (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=549067#post549067)
Đồng tươ’c (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=550378#post550378)
Sen vàng (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=551010#post551010)
Đào nguyên, Thiên thai (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=555975#post555975)
Đoạn trường (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=558644#post558644)
Này mười bài mơ’i… (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=559634#post559634)
Tu’ khẩu cẫm tâm (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=562291#post562291)
Hương thừa (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=564200#post564200)
Màu hoa lê hãy (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=565311#post565311)
Mạch tương, Sông tương (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=567279#post567279)
Ba sinh (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=571115#post571115)
Hồ cầm, Chiêu Quân (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=572699#post572699)
Lam kiều, Quỳnh Tương (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=575561#post575561)
Chim xanh, La’ thă'm, chỉ hồng (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=583231#post583231)
Châu về Hợp phô’ (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=583270#post583270)
Trọng nghĩa khinh tài (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=594643#post594643)
Bậc Mây, Thang mây (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=594870#post594870)
Trần trần một phận â’p cây (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=596325#post596325)
Đa’ vàng (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=599647#post599647)
Tâ’t giao (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=601070#post601070)
Tri âm, Chung Kỳ (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=623825#post623825)
Nàng Ban, Ả Tạ (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=654352#post654352)
Bội Ngọc, Kim môn (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=655759#post655759)
Giải kết (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=677978#post677978)
Trướng huỳnh (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=680620#post680620)
Giấc hòe (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=683107#post683107)
Đỉnh Giáp, Non Thần, Mây Mưa (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=687701#post687701)
Chiêm bao (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=688293#post688293)
Tay nâng ngang mày, Bố kinh (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=693582#post693582)
Tư Mã Phượng Cầu (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=701185#post701185)
Kê Khang, Quảng Lăng (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=709720#post709720)
Yêu đào (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=709725#post709725)
Trên Bộc trong dâu (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=715958#post715958)
Thôi, Trương, Mái Tây (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=719397#post719397)
Chắp cánh liền cành (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=731666#post731666)
Gieo thoi (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=733440#post733440)
Trao tơ, gieo cầu (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=735106#post735106)
Ông tơ (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=735945#post735945)
Băng nhân (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=759443#post759443)
Nàng Oanh, Ả Lý, Cõi Xuân, Tuổi Hạc (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=764919#post764919)
Trúc Mai (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=767827#post767827)
Khối tình (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=771701#post771701)
Giao loạn (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=772506#post772506)
Rụng Cải rơi Kim (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=777105#post777105)
Bồ Liễu (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=778395#post778395)
Giọt hồng (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=779918#post779918)
Lầu xanh, Lầu hồng, Bạc tình (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=784217#post784217)
Một cười ... nghìn vàng (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=806168#post806168)
Nước vỏ lựu, máu mào gà (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=809938#post809938)
Thần mày trắng (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=812174#post812174)
Hàn thực, Nguyên tiêu (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=814971#post814971)
Tựa cửa, quạt nồng ấp lạnh, sân Lai (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=816198#post816198)
Rèm châu, Cách tường ... (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=817606#post817606)
Tháo củi sổ lồng (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=818208#post818208)
Tường Đông lay động bóng cành (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=821757#post821757)
Kết cỏ ngậm vành (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=823493#post823493)
Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=823625#post823625)
Lăn lóc đá (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=859238#post859238)
Lá gió cành chim, Tống Ngọc, Tràng Khanh (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=864177
#post864177)
Sân hoè, Cù mộc (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=916755
#post916755)
Liễu Chương Đài (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=946770
#post946770)
Hoa khôi, Gieo ngọc trầm châu (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=953164
#post953164)
Nối điêu (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=999813
#post999813)
Hàm sư tử (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=1002771
#post1002771)
Giấm chua (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=1017665
#post1017665)
Mặt sắt (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=1024224
#post1024224)
Châu Trần (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=1035944
#post1035944)
Cát lũy, Tao khang (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=1036867
#post1036867)
Sông Tần, Dương quan (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=1077523
#post1077523)
Rừng phong, Mấy ngàn dâu xanh (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=1077525
#post1077525)
Duyên đằng (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=1179626
#post1179626)
Thuần vược (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=1185479
#post1185479)
Hoàng lương
Giết người không dao
Nhà vàng
Đẫm tràng áo xanh
Con tằm đến thác ...
Lan đình
Điếm nguyệt cầu sương
Gươm đàn, Vô định, Hoàng sào
Mắt xanh
Bình Nguyên Quân
Tri kỷ
(còn nữa ...)
qcluu
04-20-2003, 11:58 AM
Trải qua một cuộc BỂ DÂU
Những điều trông thâ’y mà đau đơ’n lòng
(Câu 3 và 4, mở đầu)
BỂ DÂU tư’c là biển xanh ruộng dâu (Thương hải tang điền) y’ để chỉ sự hay đổi trong vũ trụ Và trong đờI sô’ng của đời ngườị
Sa’ch Thần Tiên truyện của Trung Hoa No’i rằng “tam thập niên vi nhâ’t, thương hải biê’n vi tang điền”. Nghĩa là cư’ ba mươI năm một lần; biển xanh lại hoa’ thành ruộng dâụ
Sa’ch “Tầm Nguyên” kể chuyện co’ một ông lão sô’ng đủ một trăm tuổi, thường no’i vơ’i con cha’u rằng:
Ta đã sô’ng đủ một trăm tuổị . Trong đời ta, ta đã thâ’y bie6’t bao lần co’ sự thay đổI trong vũ trụ như biển cả so’ng vỗ muôn trùng rồI biê’n thành nơ’i đâ’t bồi để ngườI ta đem dâu ra trồng. Rồi co’ nơi ruộng dâu lại biê’n thành biển cả, nươ’c xanh so’ng vỗ.
Sa’ch “Tha’I Bình Ngự Lãm” đờI Tô’ng lại co’ kể câu chuyện như sau: Trên biển cả co’ vị lão nhân cao tuổI lu’c gặp nhau ba vị tuần tự hỏI tuổI của nhau, rồI chuyện vãn. Ông lão thư’ nhâ’t bảo rằng thưở còn nhỏ ông gặp ông Bàn Cổ.
Ông lão thư’ hai bảo là ông đã nhiều lần thâ’y biển xanh hoa’ thành ruộng dâụ Cư’ mỗI lần chư’ng kiê’n cảnh â’y thì ông đê? ra một ca’I que để nhơ’. Bây giờ thì sô’ que â’y đã châ’t đầy chật một gian nhà.
Ông lão thư’ ba no’i rằng thầy của ông sau khi ăn tra’I bàn đào, quăng hột ở chân nu’i Côn Luân, đê’n bây giờ hột đào â’y đã thành một cây bàn đào cao lơ’n bằng nu’i Côn Luân.
Sa’ch Tam Ngôn truyện kể vàI câu chuyện sau đây để minh chư’ng cho sự thay đổi đời ngườI trong cõi nhân gian:
Chuyện 1:
Đặng Thông là tôi thần yêu của vua Ha’n Văn Đê’. Một hôm ĐĂng Thông nhờ tươ’ng sư Hư’a Phục xem tươ’ng. Hư’a Phụ bảo thê’ nào rồI Đặng Thông cũng bị chê’t đo’ị Ha’n Văn Đê’ không cho lờI â’y là đu’ng, pha’n rằng:
Đặng Thông là triều thần của trẫm, phu’ quy’ của Đặng Thông do trẫm đi.nh. Trẫm co’ thể cho Đặng Thông cả một nu’i đồng để đu’c tiền thì làm sao mà chê’t đo’I được.
Về sau khi Ha’n Văn Đê’ băng hà, vua Cảnh Đê’ bă‘t Đặng Thông hạ ngục, tịch thu hê’t tàI sản. Ha’n Cảnh Đê’ còn ra lệnh không cho Đặng Thông ăn uô’ng gì cả. Thê’ là Đặng Trần Côn chê’t đo’I thật.
Chuyện 2:
Chu A’ Phu là quan Tha’I thu’ đâ’t Hà Nam, cũng nhờ Hư’a Phụ xem tươ’ng chọ Hư’a Phụ bảo:
- Ba năm nữa ông được phong hầụ Năm năm nữa ông làm Tể Tươ’ng. Mười năm nữa thì ông chê’t đo’ị
Chu A’ Phu cườI mà rằng:
- Đã phu’ quy’ đê’n tột đỉnh như thê’, sao lại còn chê’t đo’i ?
Hư’a Phụ đa’p:
- Ông co’ tươ’ng “dằng xà nhập khẩu” là tươ’ng chê’t đo’ị
Về sau Chu A’ Phu làm đê’n Tể Tươ’ng Triều vua Ha’n Cảnh đê’, nhưng đê’n lu’c chi’nh trị biê’n động, ông bị giam trong ngục năm ngày không ăn và thổ huyê’t mà chê’t….
Còn nhiều câu chuyện nữa mà ta’c giả kể trong sa’ch nữa nhưng qcluu hong nhơ’ hê’t cũng như hong co’ thờI gian viê’t tiê’p.
qcluu
04-21-2003, 08:54 AM
Lạ gì bỉ sắc, tư phong
Trời xanh quen thói MÁ HỒNG đánh ghen
(Câu 5,6. Mở đầu truyện Kiều)
"Phận HỒNG NHAN có mong manh
Nửa chừng xuân thoát gãy cành thiên hương"
(Câu 65, 66. Vương Quan dẫn giải về Đạm Tiên)
"Phũ phàng chi bấy hoá công
Ngày xanh mòn mỏi, MÁ HỒNG phôi pha"
(Câu 85, 86. Kiều khóc Đạm Tiên)
Rằng: HỒNG NHAN tự nghìn xưa
Cái điều BẠC MỆNH có chừa ai đâu".
(Câu 107, 108. Kiều trả lời Thuý Vân ở mộ Đạm Tiên)
"Tuồng chi là giống hôi tanh
Thân nghìn vàng để ô danh MÁ HỒNG"
(Câu 853, 854. Kiều nghĩ khi đã bị Mã Giám Sinh phá thân)
"Số còn nặng nợ MÁ ĐÀO
Người đà muốn quyết, trời nào đã cho"
(Câu 997, 998. Đạm Tiên nói với Kiều trong mơ)
"PHẬN sao BẠC chẳng vừa thôi
Khăng khăng buộc mãi lấy ngườiHỒNG NHAN"
(Câu 1763, 1764. Kiều than thở khi ở nhà Hoạn bà)
Rằng: "Nàng chút phận HỒNG NHAN
Gặp cơn binh cách nhiễu nàn cũng thương".
(Câu 2541, 2542. Hồ Tôn Hiến nói với Kiều)
"Bấy lâu nghe tiếng MÁ ĐÀO
Mắt xanh chẳng để ai vào phải không".
(Câu 2181, 2182. Từ Hải hỏi Kiều)
"Thúy Kiều sắc sảo khôn ngoan
Vô duyên là phận HỒNG NHAN đã đành".
(Câu 2659, 2660. Tamp hợp đạo cô nói với Giác Duyên)
"Nàng đà gieo ngọc trầm châu
Sông Tiền Đường đó, ấy mồ HỒNG NHAN".
(Câu 2963, 2964. Kim và Vương được trả lời về Kiều).
"Còn chi là cái HỒNG NHAN
Đã xong thân thế, còn toan nỗi nào".
(Câu 3101, 3102. Kiều nói với Kim Trọng)
"Canh khuya bức gấm rũ thao
Dưới đèn tỏ rạng, MÁ ĐÀO thêm xuân".
(Câu 3141, 3142. Kim Kiều hội ngộ)
==============================================================
"Khúc nhà tay lựa nên chung
Một thiên BẠC MỆNH nghĩ càng não nhân".
(Câu 33, 34. Khúc đàn của Kiều)
"Đau đớn thay, phận đàn bà
Lời rằng BẠC MỆNH cũng là lời chung".
(Câu 83, 84. Kiêu tỏ lời thương xót Đạm Tiên)
"Anh hoa phát tiết ra ngoài
Ngàn năm BẠC MỆNH một đời tài hoa".
(Câu 415, 416. Kiều tâm sự với Kim Trọng)
"Dù em nên vợ, nên chồng
Xót ngườiMỆNH BẠC, ắt lòng chẳng quên".
(Câu 737, 738. Kiều cậy Thúy Vân gá nghĩa với Kim Trọng)
Sinh rằng: "Thật có như lời
HỒNG NHAN BẠC MỆNH, một người nào vay".
(Câu 1095, 1096. Thúc Sinh bào chữa cho Kiều).
Tiểu thư rằng: "Ý trong tờ
Rắp đem MỆNH BẠC xin nhờ cửa Không".
(Câu 1909, 1910. Hoạn Thư nói với Thúc Sinh)
Thưa rằng: "BẠC MỆNH khúc này
Phổ vào đàn ấy, những ngày còn thơ".
(Câu 2575, 2576. Kiều đàn dưới trướng Hồ Tôn Hiến).
"Cung cầm lựa những ngày xưa
Mà gương BẠC MỆNH bây giờ là đây".
(Câu 2577, 2588. Kiều đàn cho Hồ Tôn Hiến nghẹ)
HỒNG NHAN, MÁ HỒNG, MÁ ĐÀO cùng một nghĩa để chỉ người phụ nữ có nhan sắc hơn đờị
MỆNH BẠC hay BẠC MỆNH là số phận mỏng manh, không được hưởng sự suông sẻ, hạnh phúc
trong đời sống; thường gặp những điều bất trắc, khổ đau tột cùng ...
Bạc mệnh thường đi chung với hồng nhan và đã trở thành một thành ngữ thông tục. Nhà thơ Tô Đông Pha đời nhà Tống đã bảo "tự cổ hồng nhan đa bạc mệnh" (Từ xưa khách má hồng thì phần nhiều là phận mỏng). Sách Tình sử cũng có câu "Tạo vật đố hồng nhan"; nghĩ là tạo hoá hay ghen ghét người đàn bà đẹp.
Hồng nhan mà để trở thành mệnh bạc thì không phải chỉ cần có sắc đẹp không thôị Đẹp hơn người đã đành, nhưng phải là người thông minh, tài hoa, mẫn tiệp đa tình... Nếu đẹp mà ngu, bất tài thì chả ai thèm nhìn đến; thế thì làm sao mang lấy kiếp bạc mệnh được. Cái lý bạc mệnh của hồng nhan là do sự thông tuệ tài tình nê mới gây thành sóng gió...
Theo luật "Tài mệnh tương đố" (Tài và mệnh đố kỵ nhau, người đàn bà có được ưu điểm ở phương diện này thì phải bị khuyết điểm ở phương diện khác (phong vu bỉ, sắc vu thử).
Trong lịch sử những người đẹp trên thế gian này xưa nay, không biết bao nhiêu người sắc nước hương trời, tài hoa tuyệt diệu phải lâm vào cảnh bạc mê.nh. Thế cuộc đời của những khách hồng nhan bạc mệnh như thế nào ? Chết non yểụ Sớm goá buạ . Làm thân nàng hầu, lẽ mọn. Liễu ngõ hoa tường, thanh lâu kỹ viện, bèo dạt hoa trôi ...
Tự sát chết thì có hai bà Nữ Anh và Nga Hoàng, vợ vua Thuấn; nàng Lục Châu ái thiếp của đại phú thương Thạch Sùng. Uống thuốc độc chết thì có Vương Chiêu Quân, Triệu Hợp Đức là Chiêu Nghi của Hán Thành Đế; Maryline Moonro nữ tài tử màn bạc Mỹ. Bị giết chết có Dương Quý Phi của vua Đường Huyền Tông ; Triệu Phi Yến chánh cung của Hán Thành Đế; Yên Hậu vợ Tào PHi; Marie Antoinette hoàng hậu của vua Louis 16 nước Pháp. Chết vì sầu khổ triền miên thì có Tề Cẩm Vân, Hồng Hồng ca nữ, Vương Ấu Ngọc kỹ nữ. Bèo dạt hoa trôi thì cóLâm Tứ Nương, Ngư Huyền Cơ, Ngọc Đường Xuân. Làm thân tì thiếp thì có Điêu Thuyền đời Tam Quốc (một trong tứ đại mỹ nhân của Trung Quốc), Vương Triều Vân, Hồng Tuyến Nữ. Dâm đãng lăng loàn thì có Tề Văng Khương, Tây Thái Hậu, Trương Lệ Hoa, Phan Kim Liên.
Các điển tích sau đây cho chúng ta thấy rõ kiếp bạc mệnh của người hồng nhan:
1. Tô Đông Pha, một danh sĩ và là một vị quan lớn của Tống triều, vì bất đồng chính kiến với Tể Tướng Vương An Thạch nên bị biếm đi Hàn Châụ
Lúc sắp lên đường, nhà thơ được người bạn thân họ Tưởng đến tiễn biệt. Tô Đông Pha sai người thiếp yêu là Xuân Nương thiết tiệc đãi bạn. Trong lúc uống rượu, khách hỏi:
- Chẳng hay quý nhân có đi theo ngày chăng ?
Tô Đông Pha đáp:
- Đường xa xôi vạn dặm, có lẽ Xuân Nương theo không tiện. Tại hạ định cho nàng về với song đường.
Khách nghe thế, ngỏ ý đem con ngựa bạch của mình đổi lấy mỹ nhân. Tô Đông Pha thuận ngaỵ Xuân Nương nghe thếbèn bước đến sửa áo thưa rằng:
- Thiếp trộm nghe, ngày xưa vua Tề Cảnh Công định chém người con ngựa mà Án Tử còn can ngăn. Đức Khổng Tử bị cháy chuồng ngựa, chỉ hỏi đến người chớ không hỏi ngựạ Các điều ấy chứng tỏ người quý hơn vật. Nay Học sĩ đem người đổi lấy ngựa vậy Học sĩ xem vật quí hơn ngườị
Đoạn, nàng ứng khẩu đọc một bài từ:
"Làm người thì chớ làm đàn bà
Mọi điều sướng khổ, quyền người ta
Nay mới biết người còn kém vật
Oán ai, thôi sống cũng bằng thừạ"
Rồi Xuân Nương bước xuống thềm và đập đầu vào thân cây hoè tự tận. Tô Đông Pha hối hận, thương tiếc vô cùng. Nhưng than ôi, Xuân Nương nhan sắc và tài hoa đâu còn nữa...
=========
2. Ngày xưa đã có nhiềi khách má hồng phận bạc như thế. Còn ngày nay thì sao ? Thời nào và ở đâu, cái kiếp mệnh bạc vẫn luôn đeo đẳng lấy người hồng nhan.
Trong thập niên 1930 ở tỉnh Quảng Đông Trung Quốc có nàng kỷ nữa Kim Kiều nổi danh tài sắc. Tiếng tăm của Kim Kiều vang dội khắp nơị Người ta chỉ cần nhớ đến hai tiếng Kim Kiều chớ không cần biết tên họ thật của nàng là gì. Vừa có nhan sắc nhạn sa cá lặn mà lại vừa đa tình nên ai trông thấy nàng cũng đâm ra mê mẩn ngaỵ Không biết bao nhiêu trang phong lưu công tử, bao nhiêu đạt quan quý nhân thời bấy giờ điên đảo vì nàng. Họ sẵn sàng ném tiền qua cửa sổ để mua lấy những "cuộc vui suốt sáng, trận cười thâu đêm" với nàng kỷ nữ tài hoa ấỵ
Cuộc đời của nàng Kim Kiều tưởng như luôn luôn được chiều chuộng, thoả mãn trong cảnh vàng son. Nào ngờ đâu một đêm kia, hoả hoạn xảy ra thiêu rụi cả xóm yên hoa và Kim Kiều bị chết cháy trong ngọn lửa vô tình, với tất cả tài sản của nàng.
Tin Kim Kiều chết được loan truyền đi khắp Trung Hoạ Thật đúng là cái cảnh "nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương". Không biết khách tài hoa phong lưu ở khắp nơi đổ xô về Quảng Châu để thương hương tiếc ngọc. Người ta bới trong đóng tro tàn tìm thấy nắm xương của Kim Kiều đem chôn cất và xây cho nàng một ngôi một thật khang trang.
Sau đó, các giới văn nghệ sĩ còn sáng tác kịch, bài ca nói về cuộc đời nàng để phổ biến trong dân chúng.
qcluu
04-21-2003, 11:47 AM
Đầu lòng hai ả TỐ NGA
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.
(Câu 15,16. Giới thiệu chị em Kiều)
Tố NGA:Tố là trắng. Nga là đẹp. Bài Nguyệt phú của Tạ Trang có lời chú: "Thường Nga thiết dược bôn nguyệt; nguyệt sắc bạch, cố vân Tố Nga" (Thường Nga lây trộm thuốc tiên, thoát lên cung trăng; mặt trăng sắc trắng cho nên nói là Tố Nga). "Thần Tiên truyện" chép rằng: Thường Nga là vợ Hậu Nghê.. Hậu Nghệ xin thuốc trường sanh của bà Tây Vương Mẫụ Hậu Nghệ là người tính tình không tốt, hay làm việc phản bạn, Thường Nga khuyên chồng mãi mà không được. Nàng giận thừa cơ uống trộm thuốc tiên và bay lên cung trăng.
Lại có truyền thuyết nói rằng vua Đường Minh Hoàng (tức Đường Huyền Tông) lên chơi nguyệt điện thấy có mười người con gái mặc toàn trắng và cỡi hạc trắng múa hát; cho nên nhà vua dùng chữ Tố Nga để chỉ mặt trăng và cũng để chỉ người con gái đẹp.
qcluu
04-21-2003, 02:47 PM
MAI CỐT CÁCH, tuyết tinh thần.
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười
(Câu 17 và 18. Phẩm chất chị em Kiều)
MAI CỐT CÁCH là thân hình mảnh mai, yếu đuối như cây maị Đây là quan niệm của người xưa, người con gái được coi là đẹp phải có thân mình ẻo lả mảnh mai như thế.
Điển hình cho người đẹp "mai cốt cách" là nàng Mai Phi, một người phi sủng ái của vua Đường Huyền Tông khi ông chưa có nàng Dương Quý Phị
Mai Phi tên thận là Giang Thái Tần, chào đời và lớn lên ở Mai Hoa thôn. Nàng được Thái gaím Cao Lực Sĩ tuyển chọn vào cung dâng cho vua Đường Huyền Tông. Nàn có nhan sắc diểm lệ và thân hình mảnh dẻ gió thổi cũng baỵ Hơn nữa, nàng rất yêu thích hoa mai nên được nhà vua đặt là Mai Phị
Va`o cung, Mai Phi đã được vua Đường Huyền Tông sủng ái rất mực một thờị Đến khi nhà vua có được Dương Quý Phi thì Mai Phi bị thất sủng. Nàng sầu khổ lâm bệnh và cuối cùng chết đi như một cành hoa mai héo hắt.
Cùng mẫu người "mai cốt cách" như Mai Phi còn có Đào Hoa Nữ trong bài thơ của Thôi Hộ, nàng Thôi Oanh Oanh trong Tây Sương Ký và nàng Lâm Đại Ngọc trong Hồng Lâu Mô.ng.
Loại phụ nữ như thế chỉ là một loại hoa quý để cấm trong bình cho người khác thưởng thức chứ không thể là mẫu người làm vợ lý tưởng được. Tại saỏ Vì thân thể họ nhuyển nhược, mềm yếu quá có làm nên chuyện gì đâủ Nhất nhất chuyện gì họ cũng đều trông cậy vào người khác mà thôị Và mẫu người như thế thường là "hồng nhan bạc phận", sớm bị yểu vọng chứ không thể trường thọ được
======
Nhân vật chính trong truyện Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần là Lâm Đại Ngọc, cũng là một mẫu người "mai cốt cách". Lâm Đại Ngọc tự là Tần Khanh, biệt hiệu là Tiêu Sương Phi Tử quê quán ở Tô Châu; xuất thân trong một gia đình quan chức suốt bốn đờị
Ngoài thân hình yếu đuối "mai cốt cách", Lâm Đại Ngọc còn là một người mang nét "mã diện sầu dung" luôn luôn. Trông phong thái nàng thật là u nhàn, thanh tĩnh như một cành hoa soi bóng nước; lại thêm tính tình cũng rất thanh cao trang nhã.
Mồ côi mẹ năm mười tuổi, Lâm Đại Ngọc ở với bà ngoại và rất được bà cưng chiềụ Sống chung và chơi đùa chung với nhau bao nhiêu năm trời là Giả Bảo Ngọc, người anh họ của nàng. Do đó, tình cảm yêu thương ngày càng nẩy nở giữa Lâm Đại Ngoc. và Giả Bảo Ngọc nhưng cả hai chẳng dám thố lộ cho nhau, chỉ nghe ngóng động tĩnh của nhau để vui buồn với nhau mà thôị
Sau một thời gian chung sống ở vườn Đại quan, Giả Bảo Ngoc. dọn về Di Hồng, còn Lâm Đại Ngọc thì đến Tiêu Sương quán. Sự xa cách này khiến hai người thương nhớ nhau và tìm cách trao tình cho nhau nên mối tình thầm kín của họ bị lô.. Lâm Đại Ngoc. ngày càng thêm u sầu, ai oán. Cứ chiều là nàng ra vườn gom những cánh hoa rụng và đem chôn; lại làm hai câu thơ táng hoa rằng:
"Ngã kim táng hoa nhân tiếu si
Tha niên táng ngã tri thị thuỳ"?
(Nay ta chôn hoa, người cười ta dại
Sang năm ta chết, ai người chôn ta).
Sau đó, mẹ Giả Bảo Ngọc cưới Tiết Bảo Thoa cho chàng. Lâm Đại Ngọc thổ thuyết chết ngay trong đêm động phòng hoa chúc của người yêu ...
boteo
04-22-2003, 03:47 PM
Chạy vào hoan hô anh qcluu 1 cái :dance:
le te chạy ra để anh yên tỉnh mà ... gõ tiếp. Cám ơn anh 2 chữ "tượng thanh" của "Đục như nước suối". Nói nhỏ với huynh nè, Truyện Kiều quả là đoạn trường bt cố măi mà vẫn không đọc hết :(
qcluu
04-22-2003, 04:21 PM
Originally posted by boteo
Chạy vào hoan hô anh qcluu 1 cái :dance:
Cám ơn anh Boteo nha :)
le te chạy ra để anh yên tỉnh mà ... gõ tiếp.
Đâu có sao đâu nè ... Từ từ mà đi anh, chạy coi chừng vấp té :) Q. chưa có mua bảo hiểm cho cái thread này đó à nha :)
Cám ơn anh 2 chữ "tượng thanh" của "Đục như nước suối".
Đau^u có gì anh phải "cám ơn". Học hỏi nhau thôi mà hén :) "tiếng suối", "nước suối", Q bị fân vân quá. Q. tạm thời dùng "tiếng suối" đó anh... Như anh nói, có vẻ "tượng thanh" đúng hơn :)
Nói nhỏ với huynh nè, Truyện Kiều quả là đoạn trường bt cố măi mà vẫn không đọc hết :(
Đúng vậy, càng đọc thì càng thấy thêm cái hay! :) Cụ Nguyễn Du tài thiệt!!!
qcluu
04-22-2003, 09:14 PM
Vân xem trang trọng khác vời
KHUÔN TRĂNG ĐẦY ĐẶN NÉT NGÀI NỞ NANG
(Câu 19 val` 20. Nhan sắc Thúy Vân)
Cổ tướng thư nói: "Diện như mãn nguyệt, mi nhược ngoạ tàm"; nghĩa là mặt như trăng tròn, lông mày như con tằm nằm ngang. Đây là một cách tả ước lệ của người xưa về đoan trang của người phụ nữ.
Cũng sách Cổ tướng thi còn ghi: "Diện như mãn nguyệt, thanh tú nhi thần thái xạ nhân gia vi chi chiêu hà chí diện, nam chủ công hầu tướng, nữ chủ hậu phi phu nhân". (Mặt như trăng rằm thanh tú, tinh thần rực rỡ sáng sủa gọi là cái mặt của ráng trời buổi sớm, con trai công hầu, con gái hậu phi, phu nhân).
Người phụ nữ được cái tướng như thết là tốt, đoan trang hiền thục mà lại phúc hậu; có thể yên tâm là có một cuộc đời an nhàn. Vạn nhất, nếu sống trong một xã hội tao loạn, có vì gia biến hay một hoàn cảnh đặc biệt nào đó mà phải lưu lạc bèo dạt hoa trôi thì cũng chỉ là nhất thời mà thôị Và cuộc sống cũng không quá lao đao lận đận như phần đông ca nhi, kỹ nữ khác.
Câu chuyện sau đây có thể chứng minh được cho điều đó:
Lý Sư Sư là một kỹ nữ danh tiếng ở king đô Khai Phong đời vua Tống Huy Tông. Mặt mày đầy đặn phương phi, tánh tình ôn nhu hoài thuận. Tuy là kỸ nữ nhưng rất chững chạc đoan trang.
Khách hàng chơi vặn mặc thảy đều tỏ ý tiếc cho nàng. Ai ai cũng nghĩ có lẽ nàng xuất thân con nhà đường hoàng nhưng vì một hoàn cảnh gì đó mà phải đem thân vào chốn kỹ viện. Do đó, tuy là kỹ nữ nhưng Lý Sư Sư rất được khách hào hoa tôn tro.ng.
Tiếng tăm nàng đến tai Huy Tông hoàng đế khiến nhà vua trẻ tuổi, đa tình này cũng háo hức muốn gặp nàng. Một hôm Huy Tông Hoàng đế cải dạng thường dân đến kỹ viện tìm nàng.
Lần đầu tiên gặp gỡ, Huy Tông cứ nghĩ rằng Lý Sư Sư cũng chỉ là một kỹ nữ như bao nhiêu kỹ nữ khác nên Hoàng Đế tỏ ra suồng sã với nàng. Lý Sư Sư liền bỏ đi, không tiếp. Nhà vua cho thị vệ chạy theo rỉ tai nàng, bảo cho nàng biết ông chính là đương kim Hoàng Đế. Dù biết là Hoàng Đế nhưng Lý Sư Sư cũng mặc, nhất định không thèm tiếp một người thô tục, có cữ chỉ khiếm nhã. Tống Huy Hoàng đế đành phải chiu thua kỹ nữ Lý Sư Sư và ra về.
Về sau nhà vua phải mất một thời gian khá lâu dài mới chinh phục lại được cảm tình của nàng kỹ nữ họ Lý ấỵ Rồi nhà vua cho triệu nàng vào cung.
Khi nhà Tống bị Mông Cổ xâm lăng, tướng Mông Cổ cho đòi Lý Sư Sư đến hầu rượu, nàng cũng nhất định không nghẹ Để tránh bị ô nhục, Lý Sư Sư bẻ cây trâm cài đầu nuốt vào cổ để tự tận...
qcluu
04-23-2003, 02:39 PM
Một hai NGHIÊNG NƯỚC, NGHIÊNG THÀNH
Sắc đành đòi một, tài đành hoạ hai.
(Câu 27, 28. Tài sắc Thúy Kiều)
"Ví chăng duyên nợ ba sinh
Làm chi những thói KHUYNH THÀNH trêu ngươi!".
(Câu 257, 258. Kim Trọng than thở)
"Lạ cho cái sống KHUYNH THÀNH
Làm cho đổ quán, xiêu đình như chơị"
(Câu 1301, 1302. Thúc Sinh đam mê Kiều)
Nhìn một cái xiêu thành người, nhìn một cái đổ nước ngườị Ý là muốn nói đến cái nhan sắc cực kỳ đẹp khiến người ta say mê đến mất thành mất nước mà cũng không haỵ
Câu này Nguyễn Du dịch lời ca của Lý Diên Niên trong tích Hán Vũ Đế tuyển người đẹp.
Năm Nguyên Sóc, Hán Vũ Đế cho xây dựng đền Minh Quang và kén chọn hai ngàn gái đẹp ở vùng Yên, Triệu đưa vào ở trong đó. Những người đẹp được tuyển chọn này chỉ tuổi từ mười lăm trở lên, nhưng quá ba mươi thì bị thải hồị
Ngoài Đền Minh Quang, Hán Vũ Đế còn nhiều nơi khác để chứa gái đẹp. Tổng cộng số gái đẹp của nhà vua này lên đến một vạn tám ngàn. Ấy mà Hán Vũ Đế vẫn còn cho là thiếu.
Một hôm ca nhân Lý Diên Niên hát cho Hán Vũ Đế nghe rằng:
"Bắc phương hữu giai nhân
Tuyệt thế nhi độc lập.
Nhất cố khuynh nhân thành,
Tái cố khuynh nhân quốc.
Ninh bất tri khuynh thành dữ khuynh quốc,
Giai nhân nan tái đắc".
(Phương BẮc có người đẹp
Tuyệt vời đứng riêng bậc
Một nhìn, người nghiêng thành
Hai nhìn, người nghiêng nước.
Há rằng chẳng biết nước thành nghiêng,
Chỉ vì người đẹp khó tìm được.)
Hán Vũ Đế bèn hỏi:
- Thế gian có người đẹp đến thế sao ?
Tả hữu thưa:
- Tâu bệ hạ, người đẹp trong bài ca ấy chính là cô em gái của Lý Diên Niên vậỵ
Hán Vũ Đế bèn ra lên cho Lý Diên Niên đưa em gái vào cung. Nhà vua rất sùng ái nàng và bắt cả triều thần phải gọi nàng là Lý phu nhân. Vua lại phong cho Lý Diên Niên từ chức Cẩn Giám lên chức Hiệp Đô Uý.
Lý phu nhân ở với Hán Vũ Đế hơn một năm thì sinh được một con trai, tức là Sương Ấp Vương sau nàỵ
Một thời gian sau Lý phu nhân bị bệnh nă.ng. Hán Vũ Đế tự đến thăm hỏi nhưng không được nàng tiếp. Nàng trùm chăn kín mít và nói với nhà vua:
- Thiếp bị đau nặng đã lâu, hình dung tiều tuỵ lắm, không dám đem cái nhan sắc héo úa ra mắt nhà vuạ Chỉ xin gởi lại nhà một người con trai và mấy người anh em.
Hán Vũ Đế nói:
- Phu nhân bệnh nặng e khó qua, hãy mở chăn nhìn ta mà ký thác con và anh em có phải hơn không?
Lý phu nhân vẫn trùm khăn kín mà nói:
- Theo lễ, đàn bà mặt mũi không sạch, không nên được trông thấy đấn quân phụ
Nhà vua cố nài nỉ:
- Phu nhân hãy ra mắt trẫm một lần này thôi, trẫm sẽ ban cho phu nhân nghìn vàng, cho con và anh em của phu nhân làm quan tọ
Lý phu nhân vẫn một mực khước từ:
- Cho làm quan là quyền ở nhà vua, không do sự ra mắt của thần thiếp.
Nói đoạn, Lý phu nhân quay vào vách, thở dài rồi nín lă.ng. Hán Vũ Đế cả giận, đứng phắt dậy bước ra ngay, không nói thêm tiếng nàọ
Các người thân thích biết chuyện, đến trách Lý phu nhân rằng:
- Sao quý nhân không mở mặt ra cho đấng quân vương trong thấy, rồi đem con và anh em ký thác có phải hơn không ? Sao làm cho nhà vua tức giận đến thế ?
Lý phu nhân đáp:
- Đàn bà là kẻ lấy nha sắc thờ ngườị Nay nhan sắc đã kém tất nhiên tình yêu phải phai nhạt. Tình yêu đã phai nhạt thì sẽ không còn ân huệ gì nữạ Bấy lâu nhà vua sủng ái ta là chỉ vì ta còn nhan sắc. Nay ta đã ốm nặng, nhan sắc tiều tuỵ, nếu để nhà vua trong thấy thì thử hỏi ngài còn yêu ta như trưỚc nữa không. Dĩ nhiên khi tình yêu không còn thì làm sao ngài còn thương đến anh em ta nữạ Nay ta không ra mắt nhà vua là muốn gởi gấm anh em một cách thiết tha vậỵ
Ít hôm sau Lý phu nhân từ trần. Hán Vũ Đế cho chôn cất nàng rất hậụ Nhà vua lại sai hoạ nhân vẽ ảnh nàng treo trong cung Cam Tuyền để ngày ngày nhìn ngắm. Nhà vua cũng phong cho các anh em của Lý phu nhân làm quan caọ
Hán Vũ Đế ngày đêm thương nhớ Lý phu nhân khôn nguôị Nhà vu sai người đào ao Côn Linh, đóng thuyền hình chim phượng để ở ao ấỵ Ngài tự chế bài hát, lên thuyền đi chơi bắt các cung nhân hát để giải buồn.
Một hôm, ca nhi hát bài "Lá rụng ve kêu" như sau:
"Xuyên vòng im bặt tiếng kêu
Thềm son mấy đợt bụi rêu lờ mờ
Phòng không lạnh ngắt như tờ,
Gió đưa lá rụng phất phơ cửa ngoàị
Bấy lâu tướng háo mong hoài,
Trông ai chẳng thấy, bùi ngùi lòng ta..."
Vũ Đế nghe bài hát càng buồn rầu thêm, sai lấy nến mỡ rồng soi trong khoang thuyền để tìm hình ảnh Lý phu nhân. Rồi ngài ôm mặt khóc nức nở như một đứa trẻ con ...
qcluu
04-23-2003, 08:49 PM
Êm đềm trướng rũ, màn che
TƯỜNG ĐÔNG ong bướm đi về mặc ai
(Câu 37, 38. Nề nếp của Thúy Kiều và Thúy Vân)
"Sông hồ cửa khép cánh mây
TƯỜNG ĐÔNG hé mắt, ngày ngày hằng trông."
(Câu 283, 284. Kim Trọng đi tìm Thúy Kiều)
TƯỜNG ĐÔNG nghĩa đen là bức tường ở phía Đông, nghĩa bóng là nơi có gian nhân cư ngụ
Sách Mạnh tử có câu: "Du đông lân nhi lâu kỳ xử tử" (Trèo sang nhà láng giềng ở phía Đông để dụ dỗ con gái nhà người ta). Đường thi cũng có câu: "Đông lân Tống Ngọc tường" là để ám chỉ nơi trai gái giao tình với nhau vì chàng Tống Ngọc (1) người nước Sở thời Chiến quốc là một thanh niên đẹp trai, thơ hay phú giỏi và tánh tình trăng hoa, ong bướm, đã làm cho bao nhiêu người đẹp phải ôm mối hận tình với chàng tạ
Trong một bài phú tự tình gởi lên vua nước Sở, Tống Ngọc có viết:
"Thiên hạ chi giai nhân, mạc nhược Sở quốc
Sở quốc chi lệ giá, mạc nhược thần lý
Thần lý chi mỸ giá, mạc nhược thần đông gia chi tứ"
(Người đẹp trong thiên hạ không đâu bằng nước Sở.
Người đẹp trong nước Sở không đâu bằng ở xóm hạ thần.
Người đẹp trong xóm hạ thần không ai bằng nàng con gái láng giềng ở phía tưỜng đông nhà hạ thần).
Nhà thơ Lý Bạch thời Đường cũng có câu:
"Tự cố hữu tự sắc
Tây Thi do đông lân".
(Từ xưa có nhan sắc
Tây Thi ở xóm đông).
Hai chữ Tường Đông đã có một trang tình sử lâm ly như sau:
Nước Sơ/ có loạn, nhà vua sai đại thần Vương Trung đem binh dẹp loạn. Vì chậm trễ viê.c quân, Vương Trung không cứu vãn được tình thế nên bị vua giáng chức, làm Thiên hộ vệ quân tại Nam Dương. Vương Trung đem cả gia quyến theo mình đến nhiệm sở mớị
Bấy giờ Vương Trung có người con gái rất đẹp, tên Vương Kiều Loan, chẳng những đẹp mà còn thông mình và rất giỏi văn mặc, cho nên đã tới tuổi cặp kê mà mắt xanh vẫn chưa để ai vàọ Vương Trung có người em gái tên Tào Di sớm bị goá bụa, nên đem về ở chung trong gia đình để sớm hôm bầu bạn với Kiều Loan.
Năm họ vào tiết Thanh Minh, Kiều Loan cùng Tào Di và thi nữ đi ngoạn cảnh bên ngoàị, Khi ra khỏi nhà thì Kiều Loan phát hiện ở phía tường đông có một chàng trai đang nhìn mình đăm đăm không chớp mắt. Đôi mắt của ai kia sao đầy vẻ tình tứ khiến tiểu thư họ
Vương không kihỏi bối rối trong lòng, đôi má ửng hồng e thẹn. Kiều Loan vội núp sau lưng người cô và giục Tào Di trở vào, không muốn đi chơi nữạ
Khi Vương Kiều Loan đã trở về nhà, chàng trai kia thở dài ngẩn ngơ tiếc rẻ. Chợt chàng trông thấy dưới một gốc hoa kia có chiếc khăn the của người đẹp đánh rơi lạị Chàng vội bước đến nhặt chiếc khăn lên, mùi hương còn thoang thoảng. Bỗng chàng nghe bên trong tường vào Vương phủ có tiếng động, rồi có bóng một thiếu nữ hiện rạ Chàng trai vội vàng núp vào một khóm hoa theo dõi bóng người con gáị Thì ra cô gái ấy là một cô hà^u của tiểu thư Vương Kiều Loan, đi ra ngoài tìm chiếc khăn của tiểu chủ đánh rơi lúc nãỵ Chàng trai đứng lên và mạnh dạn đánh tiếng:
- Cô nương ơi, đừng tìm kiếm cho mất công., Chiếc khăn của tiểu thư đã vào tay kẻ khác rồị
Cô gái nhìn chàng trai lạ từ đầu đến chân và nhận thấy hàng có vẻ phong lưu tuấn tú, bèn đến gần kính cẩ hỏi:
- Thưa công tử, nếu quả thật công tử đã nhặt được chiếc khăn của tiểu thư tôi, thì dám xin công tử vui lòng cho xin lại Ơn ấy tiểu thư tôi chắc không quên.
Chàng trai không đáp. Cô gái nói tiếp:
- Xin ân nhân cho biết tôn danh để tiểu thư tôi còn tạ ơn
Chàng trai đáp:
- Tôi họ Tống tên Ngọc, người quận Ngô Châu, hiện cư ngụ ngay phía sau tôn phủ. Còn tiểu thư của nàng là ai vậỷ
- Dạ tiểu thư tôi tên Vương Kiều Loan, con gái của quan Thiên Hộ
Tống Ngọc cười:
- Tên của tiểu thư nàng thật đẹp, thế còn nàng tên gì?
Cô gái e thẹn đáp:
- Dạ, tiện nữ tên gọi Minh Hà.
Tống Ngọc cười, trêu chọc:
- Cả thầy lẫn trò đều đẹp cả. Vậy bây giờ tôi nhờ nàng trao cho tiểu thư Kiều Loan một bức thư có được không ?
Minh Hà ý không muốn nhận, nhưng sợ làm phât lòng Tống Ngọc thì chàng ta không trả lại chiếc khăn cho chủ mình, nên nói:
- Xin vâng, công tử cứ trao thư cho tôị
- Vậy nàng ở đây chờ tôi một chút, tôi sẽ quay trở lại ngaỵ
Tống Ngọc nói xong, quay g'ót đi liền. Một lúc sau chàng trở lại trao cho Minh Hà một tờ hoa tiên. Minh Hà thấy Tống Ngọc trao thư mà không trả khăn, trong lòng không vui nên nói:
- Công tử không trả khăn mà chỉ gởi thư, tôi không dám nhận đâụ
Tống Ngọc cười nói:
- Nàng đừng lọ Nếu tiểu thư chịu phúc đáp thì tức khắc vật sẽ hoàn cố chủ.
Bất đắc dĩ Minh Hà phải nhận tờ hoa tiên của Tống Ngọc và quay vào phủ.
Vương Kiều Loan đang ngồi đợi Minh Hà trong phòng, cảm thấy lòng bồn chồn không yên.
Minh Hà vừa vào tới, Kiều Loan vội hỏi ngay:
- Thế nào, có tìm ra chiếc khăn của ta không?
Minh Hà ấp úng:
- Thưa tiểu thư, chiếc khăn đà lọt vào tay ... chàng công tử nhìn trộm tiểu thư lúc ban chiều rôị
Kiều Loan nghiêm mặt hỏi:
- Tai sao em không đòi lại cho ta ?
- Em có đòi nhưng chàng trai lần khân không chịu trả, lại còn gởi cho tiểu thư tờ hoa tiên này nữạ
Minh Hà vừa nói vừa lấy tờ hoa tiên trao cho Kiều Loan. Vương tiểu thư vừa nhận tờ hoa tiên vừa nói:
- Chàng trai ấy có xưng tên học và nói quê quán ở đâu không?
Minh Hà đáp:
- Chàng ta họ Tống, tên Ngọc, người Ngô quận. Hiện chàng ta cư ngụ sát vách sau phủ đường tạ
Kiều Loan có vẽ xúc động, mở tờ giấy ra xem. Trong tờ hoa tiên có bài thơ sau:
"Phạ xuất qui nhân phận ngoại hương
Thiên công giao phó hữu tình lang.
Ân cần kỳ thú tương tư cú
Nghi xuất hồng ty xuất động phòng".
(Khăn rơi mỹ nữ đượm mùi hương
Tạo hoá xui chi kẻ vấn vương
Gởi khúc tương tư tình tha thiết
Chỉ hồng buộc chặt mối lương duyên).
Kiều Loan xem xong bài thơ tứ tuyệt rồi nói:
- Từ nay em đừng đòi chiếc khăn ấy nữa mà sinh lôi thôị Nếu chàng có nhờ đưa thư nữa thì em cũng đừng nhận, coi như không có việc gì.
Tuy làm ra vẻ bình thản như thế nhưng thật ra lòng Vương Kiều Loan vô cùng xúc đô.ng.
Nàng đi nằm để trấn tĩnh lòng, nhưng chỉ một lúc sau ngồi lên đi quanh quẩn trong phòng. Rồi cuối cùng nàng lấy tờ hoa tiên ra đề thơ phúc đáp:
"Thiếp thân nhất điểm ngọc vô hà
Linh thị hầu môn tướng tướng gia
Tình ly hữu thân đồng đối nguyệt
Nhàn trung vô sự độc khán hoa
Biệt ngô chi hứa lai kỳ phượng
Thúy trúc nan dung nhập lãi hoa
Kỳ dữ dị hương cô lãnh khách
Mặc tương tâm sự loạn như ma"
(Thân em như khối ngọc trong lành
Khuê các sớm chiều với tuổi xanh
Ngày vắng dạo xem hoa dưới mát
Đem thanh thưởng thức nguyệt bên mành
Cành ngô phượng vĩ chen màu biếc
Khóm trúc ô môn đượm mảnh tình
Nhắn nhủ phượng xe người lữ khách
Đừng trao tâm sự rối ren lòng).
Vương Kiều Loan trao thơ cho Minh Hà, dặn đi ngõ sau trao cho Tống Ngọc và đừng để ai trong thấỵ Minh Hà theo lời dặn của chủ, ra ngõ sau và gặp Tống Ngọc. Chàng Tống hỏi:
- Vương tiểu thư có phúc đáp thư tôi chứ ?
Minh Hà gật đầu đáp:
- Có, nhưng công tử phải trả lại chiếc khăn trước đã.
Tống Ngọc cười nói:
- Tiểu thư cô đã phúc đáp thư; thì thiết tưởng chiếc khăn kia không còn cần thiết nữạ Cô hãy đưa thư cho tôi rồi sẽ haỵ
Minh Hà đành trao thư cho Tống Ngọc. Chàng Tống xem bài thơ của Vương Kiều Loan, rất khâm phục tài văn chưƠng của nàng. Chàng ta nói:
- Cô hãy đợi tôi ở đây một chúc để tôi viết thư phúc đáp cho tiểu thự
Rồi chàng ta vào phòng viết một bài thơ tứ tuyệt đem ra đưa cho Minh Hà nhờ trao lại cho Vương Kiều Loan.
Từ đó, qua sự trung gian của Minh Hà, Vương Kiều Loan và Tống Ngọc thơ qua thơi lại luôn luôn. Và mối tình của hai người ngày càng thêm khắng khít.
Một thời gian sau, Kiều Loan gợi ý Tống Ngọc nên tính chuyện mai mối hỏi cưới nàng, nhưng Tống Ngọc cứ lần khân mãi, viện cớ song đường bận làm việc không rảnh rang.
Mặt khác, chàng ta lại tỏ ý muốn gần gũi Kiều Loan về thể xác.
Một hôm Tống Ngọc trèo tưỜng vào vườn hoa trong phủ của Kiều Loan gặp nàng và tỏ ý muốn vào phòng nàng. Kiều Loan từ chối, Tống Ngọc đành ra về. Nhưng sau đó Kiều Loan lại sai Minh Hà đem cho Tống Ngọc một tờ hoa tiên. Chàng mở ra xem:
"Ám tương tế ngữ ký anh tài
Tháng hướng nhân tiên mạc loạn khai
Kim dạ hương khuê xuân bất toá
Nguyệt di hoạ ánh, ngọc nhân lai".
(Đôi lời xin ngõ cùng ai
Nỗi riêng chớ để người ngoài thị phi
Phòng xuân mở rộng đêm nay
Bông hoa rung động, gót hài rẽ sang).
Tống Ngọc xem xong lòng mừng vui như mở cờ. Đêm hôm ấy trời vừa sụp tối Tống Ngọc đã treo qua tường đông để đến với Kiều Loan. Lúc ấy Vương Kiều Loan đang đi đi lại lại trong phòng. Khi Minh Hà dẫn Tống Ngọc vào thì Kiều Loan nghiêm nét mặt sai Minh
Hà đi mời cô Tào Di đến để hội kiến. Tống Ngọc lòng đang rạo rực tưởng nghĩ đến chuyện vu sơn cùng người ngọc, bỗng thấy thái độ Kiều Loan nên đâu ra lo lắng, mặt mày xám ngắt.
Kiều Loan tỏ ý thương hại, mỉm cười nói:
- Thiếp vốn là người đoan chính, mong chàng cũng không phải là kẻ phàm phụ Sở dĩ ngày nay chúng ta yêu nhau là do sắc tài gắn bó. Đã yêu chàng thì thiếp còn tiếc chi nữa, song vườn xuân cánh bướm, biết lòng kia có giữ được lời nguyện ước cho chăng ?
Vậy chúng ta hãy cùng thề chung thủy với nhau đến đầu bạc răng long. Nếu không thề thì chàng chỉ là kẻ muốn ân aí mà không nghĩ đến nghĩ đá vàng.
Tào Di vào phòng, chứng kiến lời thề nguyện của Tống Ngọc và Kiều Loan. Sau đó, rượu và quả được dọn ra, Tào Di, Kiều Loan và Tống Ngọc ăn uống vui vầy say sưa đến khuyạ Tào Di cáo biệt. Kiều Loan và Tống Ngọc đưa nhau vào phòng bày cuộc ái ân.
Trời vừa tảng sáng, Kiều Loan thẹn thùng với tình lang.
- Cuộc đời và tấm thân thiếp đã trao cho chàng rồi, chỉ mong chàn giữ lấy lời thề để cành hoa không vì gió đông mà phai sắc nhạt hương. Từ nay về sau nếu có dịp thiếp sẽ sai Minh Hà đến đón chàng, chúng ta chớ nên phóng túng quá mà sinh ra điều dị nghị
Rồi Kiều Loan sai Minh Hà đưa Tống Ngọc ra về. Đôi mắt của người tỳ nữ đượm vẻ buồn u ẩn nào ai hiểu được nguyên dọ
Từ đó, đôi trai tài gái sắc không còn xướng hoạ thi thơ với nhau nữa; mà chỉ trao nhau tình yêu xác thịt Cứ vài bốn hôm Kiều Loan lại sai Minh Hà đi đón Tống Ngọc đến để ái ân.
Khổ thay, Minh Hà là một cô gái cũng đang độ phơi phới xuân tình, làm sao chịu đựng nổi cảnh yêu đương, ân ái của cô chủ mình và chàng trai hào hoa phong nhả kiạ Một ngày kia không cầm lòng được, Minh Hàđàn thố lộ lòng mình với Tống Ngọc. Thế là chàng trai phóng đãng ấy "cuỗm" luôn cô tớ gái của người tình. Cuộc tình tay ba vẫn âm thầm diễn ra theo thời gian, không ai hay biết trừ Tao Dị
Rồi một ngày kia, Tống Ngọc ngỏ ý cầu hôn Kiều Loan. Vương Thiên Hộ lâu nay đã từng nghe tiếng Tống Ngọc là một tay trăng hoa ong bướm, một tay đã bẻ biết bao cành thiên hương, nên nhất định không chịu gả Kiều Loan cho chàng. Nhưng Vương Trung có biết đâu rằng trong ba năm qua, tường đông nhà ông đã bị ong bướm quậy tưng bừng. Và chính con gái của ông là Kiều Loan cũng đã góp phần mua vui cho chàng trai đàng điếm Tống Ngọc.
Bị Vương Trung từ hôn, Tống Ngọc cũng buồn nên chàng cất bước giang hồ từ đó, mặc cho Vương Kiều Loan ôm mối tương tự Rồi Vương Kiều Loan ngã bệnh, ngày càng nặng thêm. Hình dáng gầy gò và sức lực ngày một kiệt dần đến mỗi người con gái đáng thương ấy phải lìa bỏ cõi đời ...
======================
(1) Tống Ngọc, người nước Sở thời Xuân Thu Chiến Quốc, học trò của Khuất Nguyên; lại là học trò giỏi nhất.
Tiểu sử của Tống Ngọc rất mơ hồ. Người ta chỉ biết rằng từ khi Khuất Nguyên chết, nước Sở còn lại có ba người rất giỏi về Sở từ, đó là Tống Ngọc, Cảnh Sai và
Đường Lặc.
Tác phẩm của Tống Ngọc để lại gồm có các thiên Chiêu hồn, Đại Chiêu và Cửu biện cùng nhiều bài phú. Tống Ngọc có tài miêu tả, văn điêu luyện; mở đầu cho thế phú đời Hán về saụ
qcluu
04-24-2003, 01:50 PM
THUYỀN TÌNH vừa ghé đến nơi
Thì đà trâm gãy bình rơi bao giờ
(Câu 69, 70. Vương quan nói về Đạm Tiên)
Hai câu này lấy ý từ hai câu thơ cổ:
"Nhất phiến tình chu dĩ đáo ngạn
Bình trâm hoa chiết dĩ đa thời".
(Một chiết thuyền tình vừa mới tới bến,
Cái bình đã chìm, cành hoa đã gãy tự bao giờ).
Hai câu thơ ấy diễn tả tình yêu của đôi trai gái không được thoả mãn theo ước mong.
THUYỀN TÌNH là chiếc thuyền chở tình yêu, có một câu chuyện thương tâm sau đây:
Đào Sư Nhi là một kỹ nữ nổi tiếng đời Đường được chàng lãng tử Vương Sinh yêu thương rất mực. Mẹ Vương Sinh biet^' con trai mình yêu kỹ nữ không bằng lòng nên ngăn cấm hai ngưỜi không được gặp nhaụ Vì thế mối tình của Vương Sinh và Đào Sư Nhi không được thoả mãn.
Ngày kia, Vương Sinh đưa người yêu đi chơi Tây Hồ, chỉ có một tớ trai và một hầu theo cùng. Thông thường mọi người đi chơi thuyền trên Tây Hồ thì sáng đi chiều về. Nhưng Vương Sinh và Đào Sư Nhi đã có hẹn ước trước nên cứ cho thuyền đi mãi đến khi trời tối mịt nới chịu cặp vào bờ. Lúc bấy giờ cổng thành đã đóng nên không thể trở về nhà được. Vương Sinh nói với đứa tớ rằng:
- Đêm nay trăng sáng rất đẹp, ta đi chơi suông thế này thì thú vị gì. Mày đi mua rượu và thức nhắm ngon về đây, chúng ta thả thuyền ra giữa hồ thưởng thức trăng trong.
Tên đày tớ vâng lệnh đi mua rượu thịt về. Vương Sinh cho thuyền đi ngang dọc ra tận giữa hồ, cùng Sư Nhi, đứa tớ và con hầu ăn uống say sưạ Đến khuya, đứa tớ và con hầu mệt mỏi nằm nghỉ. Vương Sinh cho thuyền ghé bến Tĩnh Tự, vào sâu trong đám sen, rồi cùng Sư Nhi ôm nhau nhảy xuống nước tự trầm. Đứa tớ trai và con hầu gái hay ra thì không còn cứu kịp nữa ...
Giới văn nhân ở kinh thành biết chuyện, bèn làm hai bài hát "Trường kiều nguyệt" và "Đoạn kiều nguyệt" phổ biến trong dân chúng. Còn chiếc thuyền của đôi trai gái ấy trở thành đồ phế bỏ, cột một nơi trơ gan cùng tuế nguyệt, chẳng còn ai dám đụng đến nữạ
Một năm và tiết Hàn thực, trai thanh gái lịch kinh thành rủ nhau đi chơi rất đông, thuyền bè san sát bên trên mặt Tây Hồ. Có một chàng trai trẻ từ phương xa đến, lên lầu Phong Nhạc ngắm nhình cảnh vật. Rồi chàng ta nổi hứng muốn thuê một chiếc thuyền để du ngoạn trên hồ nhưng lúc ấy chẳng còn một chiếc thuyền dư nào cả; ngoài chiếc thuyền của Vương Sinh và Đào Nhi đi trước kia nay bị bỏ phế một chổ. Chàng trai muốn dùng con thuyền ấy để du ngoạn nhưng có người mách chuyện Vương - Đào trước kia và khuyên chàng không nên dùng chiếc thuyền ấy, e có chuyện không hay xảy rạ Chàng trai cười lớn bảo:
- Thế thì tuyệt quá đi thôị Chính tôi cũng muốn được như thế đấỵ
Rồi chàng ta mướn ngay chiếc thuyền ấy, mua rượu thịt đem xuống bơi đi chơi khắp mặt hồ và lấy làm thỏa thê lắm. Từ đó dân chúng ở kinh thành càng truyền tụng gai thoại Vương - Đào và tranh nhau thuê chiếc thuyền ấy đi du ngoạn trên mặt hồ; không còn ai tỏ ý sợ gì cả.
qcluu
04-25-2003, 07:56 AM
Lòng đâu sẵn món thương tâm
Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm CHÂU SA
(Câu 81,82. Kiều khóc trước mộ Đạm Tiên)
"Lại càng ủ dột nét hoa,
Sầu tuôn đứt nối, CHÂU SA ngắn dàị"
(Câu 103, 104. Kiều khóc trước mộ Đạm Tiên)
"Ngại ngùng một bước một xa
Một lời trân trọng, CHÂU SA mấy hàng".
(Câu 561, 562. Kim Kiều chia tay)
CHÂU SA là nước mắt rơi xuống. Nước mắt của người đẹp được ví như hạt châu theo tích xưa sau đây:
Đời Thượng Cổ dưới bể Nam Hải có một giống người gọi là Giao Nhân. Giống người này hàng năm lên bờ sinh sống, buôn bán với người trần thế, đến cuối năm phải trở về đáy biển để chầu vua Thủy Tề.
Những lần chia tay từ biệt người trần thế, những Giao Nhân thân tình với người trần đều khóc lóc thảm thiết, tỏ ra quyến luyến lắm. Những Giao Nhân này khóc bao nhiêu thì nước mắt rơi ra trở thành ngọc châu hết bấy nhiêụ
Do tích này mà về sau giới văn nhân thi sĩ ví nước mắt như giọt châu mà gọi là Châu Sa.
qcluu
04-28-2003, 04:10 PM
"Gọi là gặp gỡ giữa đường
Hoạ là người dưới SUỐI VÀNG biết cho"
(Câu 93,94. Kiều than thở trước mộ Đạm Tiên)
"Nợ tình chưa trả cho ai
KHối tình mang xuống TUYỀN ĐÀI chưa tan".
(Câu 709, 710. Kiều than thở một mình)
"Chị dầu thịt nát xương mòn
Ngậm cười CHÍN SUỐI hãy còn thơm lây".
(Câu 732, 733. Kiều tâm sự với Thúy Vân)
"DẠ ĐÀI cách mặt khuất lời
Rảy xin chén nước cho người thác oan"
(Câu 747, 748. Kiều nói với Thúy Vân)
"Trên Tam đảo, dưới CỬU TUYỀN
Tìm đâu thì cũng biết tin rõ ràng."
(Câu 1685, 1686. Tài ba của thầy phù thủy)
"Kiếp này duyên đã phụ duyên
DẠ ĐÀI còn biết sẽ đền lai sinh."
(Câu 2787, 2788. Vương ông nói với Kim Trọng)
"Minh, dương đôi ngã chắc rồi
Cõi trần mà lại thấy người CỮU NGUYÊN."
(Câu 2999, 3000. Kim Kiều sắp tái họp)
Suối vàng, Tuyền đài, Chín suối, Dạ đài, Cữu tuyền và Cữu nguyên đều cùng một nghĩa; là nơi linh hồn người đã chết cư ngụ
Sách Đông Châu Liệt Quốc kể rằng:
Trịnh Trang Công chiều ý mẹ là Khương thị phong đất Kinh thành cho em là Cung Thúc Đoạn. Khương thị vốn yêu thương Đoạn hơn Ngộ Sanh (tên húy của Trịnh Trang Công) và từ trước đã có ý muốn Đoạn làm vua nước Trịnh nhưng không được
Khi Đoạn chào từ biệt mẹ để đi nhận đất phong, Khương thị bày mưu cho Đoạn chiếm lấy nước Tri.nh. Sau đó không lâu Đoạn khởi sự nhưng việc không thành, phải chạy về Cung thành là đất phong cũ rồi tự sát.
Trịnh Trang Công xét trong mình Đoạn thấy có bức thư của mẹ hẹn làm nội ứng thì giận lắm, lấy bút phê vào câu "Bất cập hoàng tuyền, vô tương kiến giả" (Nếu không phải là chốn suối vàng, thì vĩnh viễn không gặp nhau) rồi gởi trả thư cho mẹ Nhận được thư, Khương thị xấu hổ bèn rời cung ra ở đất Dĩnh.
Tring Trang Công về cung không thấy mẹ, lòng buồn thầm nghĩ "Ta đã ép lòng làm hại đứa em, nay nỡ nào làm hại đến mẹ nữạ Nhưng đã lỡ thề rồi, biết làm sao".
Dĩnh Khảo Thúc là quan trấn Dĩnh ấp, nổi tiếng là người con có hiếu; nghe chuyện Trịnh Trang Công từ bỏ mẹ lấy làm bất bình than rằng:
- Dù mẹ có lỗi đến đâu, phận làm con cũng không nên bất hiếụ Chúa công làm thế là trái đạo vô cùng...
Ít hôm sau Khảo Thúc nghĩ được kế răng vua, bèn bắt mây con chim cú đem dâng cho Trịnh Trang Công và nói rằng:
- Đây là giống chim cú, ban ngày dù vật to bằng quả núi nó vẫn không thấy, nhưng đến đêm dù vật nhỏ bằng sợi tóc nó cũng trông rõ. Nó là giống vật chỉ thấy cái nhỏ mà không thấy cái lớn. Thứ đến, lúc còn nhỏ nhờ chim mẹ tìm mồi cho ăn nhưng lớn lên thì lại không biết gì đến mẹ; thật là một giống chim bất hiếu nên bắt làm thịt ăn.
Trịnh Trang Công nghe thế ngồi lặng thinh. Ngay lúc ấy thị vệ bưng mâm thịt vào dâng vua nhắm rượụ Trịnh Trang Công cắt một miếng thịt ban cho Dĩnh Khảo Thúc. Khảo Thúc không ăn ngay mà lại cắt ra một phần gói lại vào tay áọ Nhà vua hỏi:
- Khanh làm vậy để chi thế?
- Tâu chúa công, mẹ tôi già mà lại nghèo khó, ít khi nào được ăn miếng ngon vật lạ Nay đội ơn Chúa công ban thưởng, tôi phải dành phần cho mẹ thì mới ăn ngon miệng được
Trịnh Trang Công thở dài bảo:
- Ngươi thật là con hiếu thảO, tiếc rằng ta không được như ngươị
Dĩnh Khảo Thúc làm bộ ngạc nhiên hỏi:
- Quốc mẫu vẫn được an khang quý thế, cớ sao Chúc công buồn bã làm vậy ?
Trịnh Trang Công bèn đem việc Cung Thúc Đoạn tạo phản nói cho Khảo Thúc nghe, và tỏ ý hối hận vì lời thề nên không chăm sóc mẹ được.
Nghe xong, Dĩng Khảo Thúc tỏ ý buồn mà tâu rằng:
- Cung Thúc Đoạn đã mất, tình cốt nhục chia lìa, nay chi>? còn Quốc mẫu mà Chúa công bỏ bề phụng dưỡng e lỗi đạo làm con. Nếu Chúa công lỡ lời thề, tôi xin dâng một kế nhỏ có thể giải lời thề cho Chúa công được
Trịnh Trang Công tỏ ý mừng rỡ, nói:
- Nhà ngươi có kế hay mau giúp trẫm.
- Chúa công thề khi nào xuống suối vàng mới gặp lại mẹ ?
Trịnh Trang Công gật đầụ Dĩnh Khảo Thúc nói tiếp:
- Vậy bây giờ Chúa công hãy cho đào một con suối sâu tận mạch nước rồi cho làm một cái nhà dưới hầm và coi đó là suối vàng. Chúa công cho rước Quốc mẫu đến đóđể hai mẹ con cởi mở tấm lòng. Thế là Chúa công không phạm lời thề gì cả.
Trịnh Trang Công nghe theo, cho Dĩnh Khảo Thúc đem năm trăm tráng dân đến Khúc vị đào một cái hầm dưới chân núi Ngưu Kỳ, cất một cái nhà gỗ trên mặt nước rồi cho rước Khương thị đến. Trịnh Trang Công đến sụp lạy mẹ và nói:
- Ngộ Sanh này bất hiếu, cúi xin mẫu hậu rộng tình dung thạ
Khương thị buồn vui lẫn lộn trong lòng, ứa nước mắt nói:
- Ấy là lỗi của mẹ, con nào có tội gì...
Hai mẹ con ôm nhau khóc ròng...
qcluu
04-29-2003, 02:13 PM
"Vẫn nghe thơm nức hương lân
Một nền ĐỒNG TƯỚC khoá xuân hai Kiều"
(Câu 155, 156. Kim Trọng gặp Kiều)
ĐỒNG TƯỚC là tên một cái đàị Câu "Một nền Đồng Tước khoá xuân hai Kiều" là Nguyễn Du dịch từ câu thơ của Đổ Phủ "Đồng Tước xuân thâm toả nhị Kiều" trong bài Xích Bích hoài cổ của thi nhân.
Trong thời Tam quốc, Tào Mạnh Đức (Tào Tháo) cho xây trên bờ sông Chương Giang thuộc tỉnh Hà Nam một cái đài và đặt tên là Đồng Tước.
Trong lễ khánh thành đài Đồng Tước, con trai thứ của Tào Tháo là Tào Tử Kiến (Tào Thực) là một người văn chương trác tuyệt, đã làm một bài phú vịnh đền Đồng Tước; trong đó có câu:
"Liên nhị kiều ư đông tây hề
Nhược trường không chi nhuế đống"
(Bắc liền đông tây hai cây cầu nổi lên như cái cầu vồng giữa lưng trời).
Sau đó, khi chiến trạnh Nguỵ Ngô sắp xảy ra, Thừa Tướng nước Thục là Khổng Minh (Gia Cát Lượng) sang Ngô du thuyết để liên kết Thục, Ngô chống Ngụỵ Bấy giờ quyền hành ở Đông Ngô nằm trong tay Đại Đô Đốc Châu Du, mặc dù Tôn Quyền là chúd Đông Ngộ
Khổng Minh biết Châu Du và Tôn Sách (anh Tôn Quyền) là hai anh em bạn rể. Tôn Sách lấy Đại Kiều, Châu Du lấy Tiểu Kiều là hai ngườ con gái của Kiều Công, nổi tiếng đẹp nhất Giang Đông thời bấy giờ.
Để khích Châu Du căm hận Tào Tháo hầu dốc toàn lực liên kết với Thục đánh Ngụy, Khổng Minh kể cho Châu Du nghe việc Tào Tháo cho xây đền Đồng Tước, rồi hỏi:
- Tướng quân có biết Tào Mạnh Đức cho xây nền Đồng Tước với mục đích gì chăng ?
Châu Du lắc đầu đáp:
- Du tôi làm sao hiểu được dụng ý của Tào A Man.
Khổng Minh điềm nhiên nói:
- Hiện nay Tào Tháo đang cho luyện tập thủy binh ráo riết để chuẩn bị đánh Đông Ngô
- Điều ấy tôi biết.
Khổng Minh chậm rãi nói tiếp.
- Cùng với việc luyện tập thủy binh, hò Tào cho xây đài Đồng Tước với mục đích là sau khi thắng Đông Ngô, sẽ bắt Đại Kiều và Tiểu Kiều đem về đài Đồng Tước hưởng lạc.
Nghe đến đây Châu Du nổi giận phừng phừng, hỏi lớn:
- Tiên sinh lấy bằng cớ đâu mà nói như thế ?
Biết Châu Du đã mắc mưu mình, Khổng Minh cười nhẹ nói:
- Đô Đốc hãy bình tĩnh nghe tôi đọc bài phú vịnh đài Đồng Tước của Tào Tử Kiến để mà biết rõ thâm ý của Tào Tháọ
Rồi Khổng Minh đọc bài phú vịnh đền Đồng Tước. Đến câu "Liên nhị Kiều ư Đông Tây hề, Nhược trường không chi nhuế đống" thì vị Thừa tướng nước thục sửa lại thế này: "Lãm nhị Kiều ư Đông Nam hề, Lạc triêu tịch chi dữ cộng". (Bắt hai nàng Kiều ở Giang Nam về để sớm tối chung vui). (1)
Châu Du vì không biết rõ bài phú của Tào Thực vịnh đài Đồng Tước nên tinh ngay lời Khổng Minh là thật. Lòng căm hận Tào Tháo dâng cao, Châu Du quyết định liên kết với Thục để cùng đánh Ngụỵ Rồi sau đó, trên sông Trường Giang, với sự tham mưu của Khổng Minh Gia Cát Lượng, Châu Du đã chỉ huy quân Đông Ngô đánh tan tám mươi ba vạn quân Tàọ Tào Tháo đại bại, tạo cơ hội cho Lưu Bị chiếm lấy Kinh Châu và tiến vào Lưỡng Xuyên.
Trận hoả công trên lửa cháy ngất trời, nung đỏ vách núi nên về sau người ta gọi là núi Xích Bích.
Nhà thơ Đỗ Phủ (2) đời Đường, khi qua chơi Xích Bích có làm bài thơ hoài cổ, có hai câu:
"Đông phong bất dữ Chu lang tiện
Đồng Tước xuân thâm tỏa nhị Kiều"
(Nếu gió đông không giúp phương tiện cho chàng Châu Du thì đền Đồng Tước sẽ nhốt kín hai nàng Kiều).
========
(1) Chữ "nhị kiều" của Tào Thực dùng trong bài phú là chỉ hai cây cầụ Còng chữ "nhị Kiều" do Khổng Minh sửa lại là chỉ hai nàng Kiều, tức Đại Kiều và Tiểu Kiềụ
(2) Theo link này thì gọi là Đỗ Mục http://thivien.maihoatrang.com/tho.php?ref=do_muc&p=poem&sid=116&nid=11
BangHuu
04-29-2003, 06:45 PM
Chào QCLuu :)
Trước hết xin cám ơn Q. đã bỏ công đễ đưa những điển tích này lên đây cho anh em cùng đọc,hay quá chừng luôn mà nhất là BH mê mấy cái thứ này lắm:flower:
Bây giờ đến phiên BH đóng góp nhe,trong cái tích về "Đồng Tước" có nói 2 câu :
"Đông phong bất dữ Chu lang tiện
Đồng Tước xuân thâm tỏa nhị Kiều"
là củaĐỗ Phủ ,BH không biết sách của Q. in lộn hay Q. đọc lầm vì BH biết chắc rằng 2 câu này lấy từ bài "Xích bích hoài cổ" của Đỗ Mục đó.Đây là một bài thất ngôn tứ tuyệt,nguyên tác:
Chiết kích trầm sa thiết vị tiêu
Tự tương ma tẩy nhận tiền triều
Đông phong bất dữ Chu Lang tiện
Đồng Tước xuân thâm tỏa nhị Kiều
Dịch Nghĩa
Mũi kích gãy nằm trong cát, sắt chưa mòn hết
Tự tay mình mài rũa, đã nhận thấy dấu vết triều đại vừa qua
Gió đông ví không thuận tiện cho chàng Chu Du
Thì cảnh xuân thâm nghiêm của đài Đồng Tước đã khóa chặt hai nàng Kiều
Dịch Thơ
Xích Bích hoài cổ
Cát vùi lưỡi kích còn trơ,
Rũa mài nhận dấu triều xưa rõ ràng
Gió đông ví phụ Chu Lang
Một nền Đồng Tước khóa xuân hai Kiều
Bản dịch:Tương Như
--------------------------
Giáo chìm, sắt vẫn còn trơ,
Rửa xem nhận biết triều xưa rõ ràng.
Gió Đông không giúp Chu Lang,
Khóa xuân Đồng Tước đã giam hai Kiều.
Bản dịch: Trần Trọng San
BH biết Q. là người không chấp nhất nên xin được góp ý đôi chút :p
Chúc Q. vui :)
qcluu
04-29-2003, 07:53 PM
Originally posted by BangHuu
Chào QCLuu :)
Trước hết xin cám ơn Q. đã bỏ công đễ đưa những điển tích này lên đây cho anh em cùng đọc,hay quá chừng luôn mà nhất là BH mê mấy cái thứ này lắm:flower:
Hong có chi anh BangHuu!!! Cám ơn anh đã cho Q. biết cái hay của nó :) Q rất mừng khi biết có ít nhất 1 người đọc, và mừng hơn nữa là khi biết anh "mê mấy cái thứ này lắm"!!! :)
Bây giờ đến phiên BH đóng góp nhe,
Hong có chi anh cứ tự nhiên mà. Q luôn muốn có cơ hội học hỏi từ anh, như anh phần nào đã biết :)
trong cái tích về "Đồng Tước" có nói 2 câu :
"Đông phong bất dữ Chu lang tiện
Đồng Tước xuân thâm tỏa nhị Kiều"
là củaĐỗ Phủ ,BH không biết sách của Q. in lộn hay Q. đọc lầm vì BH biết chắc rằng 2 câu này lấy từ bài "Xích bích hoài cổ" của Đỗ Mục đó.Đây là một bài thất ngôn tứ tuyệt,nguyên tác:
Trong sách Q đang có (và đã đọc đi đọc lại nhiều lần) thì hong có nói rõ tên của ba`i thơ mà chỉ nói :
Nhà thơ Đỗ Phủ đời Đường, khi qua chơi Xích Bích có làm bài thơ hoài cổ, có hai câu:
Còn tên của thi sĩ là Đỗ Phủ y chang như trong sách, chứ không phải là Đỗ Mục (như anh nói). Vì Q không biết rành về bài này và chỉ dựa vào sách nên em hong biết có phải lỗi lầm nhà xuất bản hay không nữa ... Vì không dám copy sai lại những gì trong sách và thấy sự đóng góp cũng anh cũng đầy đủ chi tiết, nên Q xin để hai tên lên trên đó nếu anh cho phép.
Chiết kích trầm sa thiết vị tiêu
Tự tương ma tẩy nhận tiền triều
Đông phong bất dữ Chu Lang tiện
Đồng Tước xuân thâm tỏa nhị Kiều
Dịch Nghĩa
Mũi kích gãy nằm trong cát, sắt chưa mòn hết
Tự tay mình mài rũa, đã nhận thấy dấu vết triều đại vừa qua
Gió đông ví không thuận tiện cho chàng Chu Du
Thì cảnh xuân thâm nghiêm của đài Đồng Tước đã khóa chặt hai nàng Kiều
Dịch Thơ
Xích Bích hoài cổ
Cát vùi lưỡi kích còn trơ,
Rũa mài nhận dấu triều xưa rõ ràng
Gió đông ví phụ Chu Lang
Một nền Đồng Tước khóa xuân hai Kiều
Bản dịch:Tương Như
--------------------------
Giáo chìm, sắt vẫn còn trơ,
Rửa xem nhận biết triều xưa rõ ràng.
Gió Đông không giúp Chu Lang,
Khóa xuân Đồng Tước đã giam hai Kiềụ
Bản dịch: Trần Trọng San
BH biết Q. là người không chấp nhất nên xin được góp ý đôi chút :p
Chúc Q. vui :)
Q. hong có ý gì đâu anh. Anh cứ tự nhiên mà... Hơn nữa đây là cơ hội để Q học thêm cho nên xin thành thậ t đa tạ sự đóng góp vô giá của anh. Q. xem như đây là một hân hạnh được anh đóng góp đó! Luôn mong được sự đóng góp từ anh cũng như quí anh chị em khác trong những điển tích sau nàỵ
Chúc anh luôn vui vàcám ơn anh nhiều lắm,
qcluu
BangHuu
04-29-2003, 08:06 PM
BH rất thích khi được trao đổi với những người hiểu biết và hoà nhã như QCLuu.Mong anh em mình sẽ còn có dip học hỏi lẫn nhau nhiều hơn.
Còn nếu chưa chắc thì cứ đễ nguyên tên tác giả như Q. đã viết về bài "Xích bích" cũng được,người đọc sẽ tự tìm hiểu lấy và có cơ hội đọc thêm thơ văn:p
qcluu
04-29-2003, 08:31 PM
"Sương in mặt, tuyết pha thân
SEN VÀNG lãng đãng như gần như xạ"
(Câu 189,190. Kiều mơ thấy Đạm Tiên)
"Thì trân thức thức sẵn bày
GÓT SEN thoăn thoắt dạo ngay mái tường."
(Câu 377, 378. Kiều đến với Kim Trọng)
"Giác Duyên lên tiếng gọi nàng
Buồng trong vội dạo SEN VÀNG bước rạ"
(Câu 3007, 3008. Giác Duyên gọi Kiều ra gặp gia đình).
SEN VÀNG hay là GÓT SEN là tiếng chỉ gót chân người đàn bà đẹp mỗi khi bước đị
Đời Nam Bắc triều bên Trung Quốc, Đông Hôn Hầu làm vua nước Nam Tề, rất sủng ái nàng Phan Phị Nhà vua cho thợ kim hoàn làm những đóa hoa sen bằng vàng ròng lót nền nhà cho Phan Phi bước đị
Mỗi lần Phan Phi cất bước tới lui, nhà vua nhìn ngắm ra vẻ thích thú lắm, rồi cười nói:
- Ôi, thật tuyệt diệu, mỗi bước chân của quý phi đều nở ra một đóa hoa sen.
Chris-T
04-30-2003, 12:18 AM
Rất hay & có ý nghĩa - Cám ơn bro qcluu + anh BH :flower:
qcluu
04-30-2003, 07:16 AM
Originally posted by Chris-T
Rất hay & có ý nghĩa - Cám ơn bro qcluu + anh BH :flower:
Cám ơn mỹ ý của bro Chris-T nhiều !!! :) Q. cũng thích học hỏi mí cái "món" này lắm nên viết hoài hong chán! :)
allena
04-30-2003, 07:20 AM
Làm sao qcluu lại cho rằng ít nhất cũng có một người đọc vậy ???
lộn rồi đó nghe ,,, cho nói lại đó :) Tại vì A thấy có tới mấy trăm viewes rồi tề :D
qcluu
04-30-2003, 07:35 AM
Originally posted by allena
Làm sao qcluu lại cho rằng ít nhất cũng có một người đọc vậy ???
lộn rồi đó nghe ,,, cho nói lại đó :) Tại vì A thấy có tới mấy trăm viewes rồi tề :D
Chi Allena,
Q. hong biết mí cái view này là từ Q hay từ người khác nữa đó!... :) Q. tưởng mí cái view đó là từ Q không chớ (tự mình đọc cho đở tủi thân!) :)
Mà Q cũng hong nhớ là Q đọc đi đọc lại bao nhiêu lần nữa để check coi mình có viết sai gì hong đó chị :)
allena
04-30-2003, 07:40 AM
Vừa thôi nhé cậu !!! hổng lẽ mỗi lấn chị A đọc thì pm cho qcluu sao ???
Verygood work...qcluu :flower:
( Nói nhỏ nghe nè ...chị A hôi xưa từng ghiền cuốn Thành Ngữ Điển Tích ...bây giờ không có sách mà có người post lên cho coi...thank you :) )
qcluu
04-30-2003, 07:51 AM
Originally posted by allena
Vừa thôi nhé cậu !!! hổng lẽ mỗi lấn chị A đọc thì pm cho qcluu sao ???
Chị đâu cần đâu nè :) Có người đọc hong có người đọc cũng hong sao đối với Q :) Q. xem như đây là cơ hội cho Q. viết và học hỏi thêm đó chị :) Chính vì lẽ đó mà Q. nói với anh BH là "it' nhất" có 1 người đọc còn số nhiều là bao nhiêu thì Q. không biết :)
Verygood work...qcluu :flower:
Cám ơn chị :) Q. cũng đang đọc mí cái lịch sử của chị đó... hay quá chừng luôn... Mấy bài đó quí quá mà chưa bao giờ Q. được có cơ hội đọc qua!
( Nói nhỏ nghe nè ...chị A hôi xưa từng ghiền cuốn Thành Ngữ Điển Tích ...bây giờ không có sách mà có người post lên cho coi...thank you :) )
Dzị hả chị Q. cũng thích Kiều lắm, nhưng sự hiểu biết vẫn còn cạn lắm. Nên xem đây như là một hân hạnh cho Q. học thêm, chị đừng lọ Quyển này cũng dài, nên Q sẽ cố gắng và mong sự kiên nhẫn ở quí anh chị em.
qcluu
04-30-2003, 08:03 AM
Originally posted by PHÙ DU
PD cũng dzô đọc lén rùi đi ra đó nhen :p (Tại kiến thức không có mấy nên hổng dám hó hé thui ) :p
Muốn "khai báo" thì PD "khai báo" nè :p
Chị PD,
Q. đâu có nói là "muốn khai báo" gì đâụ chi... Không sao đâu mà chị !!! Q. cũng vẫn âm thầm "lén lúc" post lên thui!!! hrm... Chắc là Q. bị hiểu lầm rùi :(
qcluu
04-30-2003, 08:23 AM
Originally posted by PHÙ DU
Chời !!!
Chị nói giỡn mà Q cũng tưởng thiệt saỏ
Đâu có đâu chị Q. chỉ ngại là hỏng biết Q. có viết cái gì hay không mà sao tự nhiên chị lại "khai báo" làm Q hơi lo lo, sợ bị hiểu lầm tí thôi :) ... Q. phải chạy coi lại mí cái post coi có phật lòng ý ai hong đó mà :)
Thật sự thì chị cũng hay vô đây đọc ké lắm nhưng không biết gì để dóng góp hay xía dzô nên im re bà rè :p
Cám ơn chị !!! :D Đâu có sao đâu chị Chính Q. viết mà nhiều khi Q. còn hong rành hết đó chị :) Giống như "Trời sai thiên lôi", sách có sao viết vậy !!! :)
Mong Q vẫn tiếp tục viết cho chị học hỏi thêm nên say hí lô 1 tiếng :p
Q hiểu lầm câu nói đùa thì chị xin rút lại :)
Hong có sao đâu chị. Chị với Q. thì chắc khó mà hiểu lầm lắm hén !!! :D Q sẽ tiếp tục viết mà, chị đừng lo. Lâu quá hong có dịp nói chuyện với chị, hy vọng chị vẫn fẻ hén :)
Chúc chị vui !!!
I vào bắt ghế ngồi trong góc nghe giảng thơ & tích xưa, I không ngu gì mà đứng dựa cột, anh Q nói là sẽ còn dài lắm đứng mỏi chân chết, lấy ghế ngồi chắc ăn hơn.
Anh Q hay thiệt, Đông Chu Liệt Quốc I đọc cũng đã 5 lần rồi, nhưng điển tích nhiều quá thêm vào nhiều vị lại mang trùng tên tuy là họ khác nhau thật là khó nhớ, do đó chắc là I ... phải đọc lại thêm vài lần nữa mới được. I có 1 ý nghĩ là (anh Q không giận nha) nếu thơ văn tích cũ gì mà đụng đến giai nhân mỹ nữ là anh Q nhớ hết mà còn rành rõi nữa là đằng khác, :) :).
Nhưng mà nói thiệt nha, khi I lớn lên, thơ Kiều I không có cơ hội học hỏi qua vì bị bắt học thơ của 3 con rùa tố hữu, hcm & tên gì đó,trong khi thơ văn nỗi tiếng cũa nước nhà như cũa Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, bà Hồ Xuân Hương thì không được học & phân tích, nếu có thì cũng chỉ lướt sơ qua thôi, thật là tiếc. Vậy nay mời anh Q, anh BH, chị Allena & anh chị nào hay giỏi thơ thì chỉ bảo thêm dùm, :), I không có khách sáo đâu, tại I không biết thiệt nên chui vào góc lấy ghế ra ngồi liền học hỏi thêm. :) :), I xin cám ơn các ACE trước.
BangHuu
04-30-2003, 11:03 AM
Originally posted by PHU` DU
Chời !!!
Chị nói giỡn mà Q cũng tưởng thiệt sao? Thật sự thì chị cũng hay vô đây đọc ké lắm nhưng không biết gì để dóng góp hay xía dzô nên im re bà rè :p
Mong Q vẫn tiếp tục viết cho chị học hỏi thêm nên say hí lô 1 tiếng :p
Q hiểu lầm câu nói đùa thì chị xin rút lại :)
Anh biết tánh Q. "dễ thương " lắm,(dù mới quen biêt),chắc Q. cũng chỉ giỡn chứ không hiểu lầm gì đâu PD ,đừng buồn mà oan cho Q.,mà cũng đừng rút lui sớm nhe:p
qcluu
04-30-2003, 02:21 PM
Anh BangHuu,
Cám ơn anh đã "hiểu" Q., dù mình chỉ mới biết :)
Originally posted by Ize
I vào bắt ghế ngồi trong góc nghe giảng thơ & tích xưa, I không ngu gì mà đứng dựa cột, anh Q nói là sẽ còn dài lắm đứng mỏi chân chết, lấy ghế ngồi chắc ăn hơn.
Anh Ize,
Cứ tự do thoải mái nghen bro... Nếu muốn nằm cũng được cho Q. biết Q đem nệm vô cho. Cần bia rượu gì thì cứ nói nghen :)
Anh Q hay thiệt, Đông Chu Liệt Quốc I đọc cũng đã 5 lần rồi, nhưng điển tích nhiều quá thêm vào nhiều vị lại mang trùng tên tuy là họ khác nhau thật là khó nhớ, do đó chắc là I ... phải đọc lại thêm vài lần nữa mới được. I có 1 ý nghĩ là (anh Q không giận nha) nếu thơ văn tích cũ gì mà đụng đến giai nhân mỹ nữ là anh Q nhớ hết mà còn rành rõi nữa là đằng khác.
Q. đâu có hay gì đâu bro :) Sách viết sao, mình viết ra y chang dzị thôi :) Đã nói là "trời sai thiên lôi" mà :) Q thích thơ/truyện nào có một vài giai nhân thui cho có hồn để mình có hứng thú học hỏi thêm chứ hong dám nhận chữ "rành" đâụ Mình tôn sùng cái đẹp, hy vọng hong fải là cái tội hén bro :)
"Giai nhân tự cổ như danh tướng" mà :)
Nhưng mà nói thiệt nha, khi I lớn lên, thơ Kiều I không có cơ hội học hỏi qua vì bị bắt học thơ của 3 con rùa tố hữu, hcm & tên gì đó,trong khi thơ văn nỗi tiếng cũa nước nhà như cũa Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, bà Hồ Xuân Hương thì không được học & phân tích, nếu có thì cũng chỉ lướt sơ qua thôi, thật là tiếc. Vậy nay mời anh Q, anh BH, chị Allena & anh chị nào hay giỏi thơ thì chỉ bảo thêm dùm, :), I không có khách sáo đâu, tại I không biết thiệt nên chui vào góc lấy ghế ra ngồi liền học hỏi thêm. :), I xin cám ơn các ACE trước.
Q. thích truyện Kiều lúc đi học đó bro, nhưng không sao khai thác hết được vì truyện Kiều có quá nhiều cái hay, và hơn nữa chương trình học sau này (1975) giới hạn truyện Kiều vì lý do chính trị (giống như bro kể) nên mình hong có cơ hội học hỏi thêm.... Cho nên sau này có cơ hội học hỏi được là chóp liền :)
TruSiNang
05-01-2003, 04:35 AM
Thân chào các bạn,
Xin được góp một bài vào mục đề này cho vui !
Mười bài thơ đoạn trường
Thúy Kiều, con của viên ngoại họ Vương, người ở Bắc Kinh. Nàng yêu kiều diễm lệ, có một thái độ phong lưu, tính thích hào hoa, thích âm luật, sở trường về hồ cầm. Vốn đa cảm, giàu tình, nàng sáng tác bài "Bạc mệnh oán" để hát theo khúc hồ cầm, khi gảy lên nghe rất não nùng, ai cũng sa nước mắt .
Một hôm, nhân tiết Thanh Minh, Thúy Kiều cùng hai em đi tảo mộ và nhân tiện xem hội Đạp Thanh. Lúc trở vê, Kiều nhìn bên dòng nước có một nấm mồ hoang cô lạnh, hỏi ra mới biết đó là mồ của nàng ca nhi tên Lưu Đạm Tiên. Trước sống mua vui cho khách làng chơi, chết làm ma không chồng trong nấm mồ vô chủ .
Kiều cảm động, rơi nước mắt, khóc cho kiếp hồng nhan .
Về nhà, đêm khuya vắng vẻ, nàng cảm thấy một nỗi buồn man mác xâm chiếm cõi lòng. Nghĩ phận người lại nghĩ phận mình, hay kiếp hồng nhan rồi phải chung mạng bạc !
Nàng tựa ghế thiu thiu, rồi ngủ say lúc nào không biết. Giữa lúc ấy, thấy một thiếu nữ tiến đến chào và hỏi rằng:
- Này chị Thúy Kiều, đương lúc ngày xuân phơi phới sao không hỏi liễu tìm hoa, mà lại chịu ngủ ở nhà như vậy ?
Kiều nghe nói, vội vàng đứng dậy, sửa áo đón mời, nhìn thấy thiếu nữ má đào, môi hạnh, dáng điệu như tiên. Sau khi hai bên cùng ngồi, Kiều vội hỏi:
- Chẳng hay nương tử ở tại cung nào mà xe loan thình lình hạ cố đến đây ?
Thiếu nữ tươi cười đáp:
- Thiếp đây nào phải ai đâu xa lạ, nhà thiếp ở phía tây cầu bên dòng nước chảy. Chiều nay chị đã vãng qua, sao mà mau quên như thế? Hôm nay, thiếp ở trong "Hội đoạn trường", trước mặt Giáo Chủ, thiếp có khen đến tài hoa của chị. Giáo Chủ rất vui mừng và cho biết rằng chị cũng có chân trong hội ấy. Rồi người trao cho thiếp 10 cái đầu đề đoạn trường, bảo đem lại cho chị vịnh. Vậy yêu cầu chị thảo ngay để cho thiếp xếp vào tập "Đoạn trường sách" .
Kiều hỏi:
- Em xin lãnh ý, nhưng xin chị cho biết Đoạn Trường Giáo Chủ là ai? Có thể đưa em đến yết kiến được không ?
Thiếu nữ mỉm cười đáp:
- Lúc này chị không cần hỏi kỹ, một ngày khác, chị sẽ hiểu rõ đấy mà .
Đoạn, nàng trao tập đầu đề. Kiều tiếp lấy, mở ra xem. Đây là 10 đầu đề: Tích đa tài, Liên bạc mạng, Bi kỳ lộ, Ức cố nhân, Niệm nô kiều, Ai thanh xuân, Ta kiển lộ, Khổ linh lạc, Mộng cố viên, Khốc tương tư .
Kiều xem xong, vui vẻ nói:
- Đầu đề rất hay, vậy em xin thảo ngay. May bài của em chiếm khôi nguyên trong tập, thì khỏi phải phụ công chị giới thiệu .
Vừa nói vừa viết thao thao bất tuyệt. Chỉ trong giây lát, đủ ca 10 bài từ khúc theo lối hồi văn:
I
Tích đa tài
Tờ oanh nỡ bỏ hoài,
Hợp hoan ngày tháng phổ cho ai?
Tương tư mình gác để ngày mai .
Để ngày mai!
Tiếc cho tài!
II
Thương bạc mạng
Đêm đêm một mình lạnh,
Nhà vàng nghe nói để A Kiều
Một mặt nghe chừng khó hân hạnh.
Khó hân hạnh!
Thương bạc mạng !
III
Thương kỳ lộ
Khúc đường quanh co thật khó đi,
Đường khổ chưa bằng tâm em khổ!
Một bước sai thời ngàn bước lỡ!
Ngàn bước lỡ !
Thương kỳ lộ .
IV
Nhớ cố nhân
Tóc bạc nhưng tình vẫn chưa thân!
Cần gì trước phải lên tận mây xanh!
Cưỡi xe đội nón mới là chân (*)
Mới là chân !
Nhớ cố nhân !
V
Nhớ cô hầu!
Soi gương hồn biến đâu ?
Ta thấy ai vẫn còn than thở!
Son phấn thôi đừng giễu cợt nhau .
Giễu cợt nhau.
Nhớ cô hầu !
VI
Xót thanh xuân
Cành hoa giống mỹ nhân,
Xuân sắc núi rừng, ôi đẹp đẽ!
Muốn mượn mưa xuân tưới hoa thần .
Tưới hoa thần !
Xót thanh xuân !
VII
Than cảnh ngộ
Giấc mơ tỉnh rồi đó,
Đâu phải gặp ai cũng kêu thương .
Chỉ vì lầu son lối cũ chưa tỏ.
Lối cũ chưa tỏ !
Than cảnh ngộ !
VIII
Khổ linh lạc
Thân nầy hết đường bước,
Lìa cành hoa rụng khắp đông tây.
Nhạn lạc đàn bay quanh hiên trước.
Quanh hiên trước !
Khổ linh lạc !
IX
Mơ vườn xưa
Hồn về cậy ai đưa ?
Cảnh cũ cúc tùng không thấy nữa .
Bạch vân phương thảo lặng như tờ .
Lặng như tờ !
Mơ vườn xưa !
X
Khóc tương tư
Nghẹn ngào đã nhiều khi,
Lòng đau không giữ nổi tiếng khóc.
Đất cũ tình thâm luống sầu bi .
Luống sầu bi !
Khóc tương tư !
Thúy Kiều viết xong 10 bài, trao lại thiếu nữ. Xem qua, thiếu nữ tấm tắc khen rằng:
- Quả thực mỗi chữ khác gì ôm mối hận. Nếu đem vào tập "Đoạn trường", chắc rằng sẽ đoạt giải nhất.
Đoạn thiếu nữ đứng dậy, từ giã. Kiều nói:
- Hôm nay chị đã có lòng chiếu cố, đôi ta ắt có tiền duyên, sao lại nỡ vội vàng như vậy? Vả lại lần này ly biệt, biết bao giờ lại được gặp nhau .
Thiếu nữ nói:
- Nếu chị tình thâm mà thiếp cũng không tình bạc, thì sông Tiền Đường đó, ta sẽ hẹn về sau .
Nói xong đi thẳng .
Kiều chạy theo giữ lại thì bỗng có trận gió làm khua động bức mành. Nàng sực tỉnh, mới hay là giấc chiêm bao .
Về sau, Kiều phải 15 năm lưu lạc, thân thế lắm nỗi đoạn trường. Cuối cùng trầm mình dưới sông Tiền Đường, ứng như điềm mộng .
Truyện trên viết theo Thanh Tâm Tài Nhân. Cụ Nguyễn Du dựa theo, viết thành quyển "Đoạn trường tân thanh" bằng thể lục bát. Đoạn này, Nguyễn Du diễn tả:
Này mười bài mới, mới ra,
Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời.
Kiều vâng lĩnh ý đề bài,
Tay tiên vẩy đủ mười khúc ngâm .
"Mười khúc ngâm" tức 10 bài "đoạn trường" đó.
Nguyễn Tử Quang
qcluu
05-01-2003, 06:15 AM
Cám ơn sự đóng góp của anh Trusinang. Q. định chờ viết xong tích "Đào Nguyên, Thiên Thai" rồi sẽ đến điển tích Đoạn Trường cho theo đúng thứ tự trong mục lục, nhưng không ngờ anh post trước :) Nhưng không sao nhiều cách nhìn khác nhau sẽ giúp đọc giả mở rộng thêm!!!
Cám ơn anh,
qcluu
qcluu
05-02-2003, 02:44 PM
"Rước mừng, đón hỏi, dò la
ĐÀO NGUYÊN lạc lối đâu mà đến đây ?"
(Câu 191, 192. Kiều mơ thấy Đạm Tiên)
"Xắn tay mở khoá ĐỘNG ĐÀO
Rẽ mây trông tỏ lối vào THIÊN THAỊ"
(Câu 391, 392. Kim Kiều tương ngộ)
ĐÀO NGUYÊN có nghĩa là gốc đàọ Hai tiếng này cò có thể gọi là ĐỘNG ĐÀO hay ĐỘNG BÍCH; để chỉ nơi tiên cảnh, nơi mà con người có cuộc sống anh nhàn, thanh thản, không bị ràng buộc bởi những điều phiền nhiễu của cuộc đờị
Truyện truyền kỳ Trung Quốc kể rằng vào đời nhà Tấn, ở huyện Vũ Lăng có một ông lão làm nghề chài lưới dọc theo khe núị
Một hôm trong lúc hành nghề, ông lão trông thấy một đóa hoa đào trôi từ trên nguồn xuống. Ông lão nhủ thầm "Hoa đào trôi trên dòng nước chứng tỏ nơi phát nguyên dòng nước này phải có hàng xóm, nhà cửa của dân cư; và chắc chắn phải có nhiều loại hoa quý".
Nghĩ đến thế, ông lão cứ chèo thuyền ngược dòng nước để tìm cho ra chổ đào nguyên.
Thuyền đi mãi và cuối cùng ông lão cũng tìm thấy một xóm có dân cư đông đúc và có trồng rất nhiều loại hoa quý , nhất là hoa Đàọ Ngư ông cột thuyền và lên bờ đi vào xóm, trông thấy vườn đào san sát nhau; dân chúng thì ăn mặc y phục theo kiểu nước Tần thời Chiến Quốc.
Ông lão lên tiếng hỏi thăm những người trong vùng Đào nguyên ấy thì được trả lời rằng những người cư ngụ ở đây vốn là gốc dân nước Tần trước kiạ Tổ tiên họ không chịu được sự hà khắc của vua Tần Thủy Hoàng và quan Tướng quốc Lý Tư nên phải di cư lên đây đã mấy đời rồị Dân chúng bây giờ là đám hậu duệ của những người di cư trước kiạ
Ông lão chài lưới lưu lại chốn Đào nguyên chơi vài bốn hôm mới từ giã dân chúng ở đấy mà trở về.
Khi về đến nhà, bà con làng xóm xúm lại hỏi ông đi đâu mất tích cả mấy hôm. Ông lão thuật lại cho mọi ngươì nghe chuyện ông lạc vào chốn Đào Nguyên. Ai nấy nghe nói thảy đều náo nức tỏ ý muốn đến chốn Đào Nguyên cho biết.
Sau đó, ông lão chài lưới lại chèo thuyền lên chốn Đào Nguyên một lần nữạ Nhưng đến nơi ông chẳng thấy cảnh Đào Nguyên như lúc trước, mà chỉ còn lại là rừng núi thâm ụ Và người dân ở huyện Vũ Lăng cũng không thấy ông lão trở về nữạ Người ta bảo nhau rằng ông lão chài lưới đã lạc vào cảnh tiên rồi ...
=====
Cũng thời nhà Tấn, nhà thơ Đào Tiềm (1) tức Đào Uyên Minh là một người không màng danh lợi, sẵn sàng rũ áo từ quan để đi tìm cảnh Đào Nguyên.
Đào Uyền Minh tự là Nguyên Lượng làm quan Huyện lệnh đất Bành Tra.ch. Khi đi trấn nhậm, ông để con trai mình ở lại quê nhà rồi cho một người tớ cầm thư về dặn dò con rằng:
"Con ở n hà sớm tối nhọc nhằn với chuyện ruộng nương vườn tược, ta cho con một người hầu về giúp đỡ con và có bạn. Con phải xem người hầu như người thân trong gia đình, chớ bạc đãi người ta mà trái đạo làm người".
Đào Tiềm ra làm quan chẳng được bao lâu thì nước Tấn bị nước Tống đánh chiếm. Bao nhiêu quan lại của nước Tấn đều ra phò tân triềụ Riêng Đào Uyên Minh tự nghĩ: "Mình làm quan không đủ tài giúp nước để nước bị mất, thật là một sự ô nhục. Nay nếu đem thân thờ nước khác thì còn gì là thể diện".
Nghĩ thế nên Đào Tiềm không hợp tác với tân triều, rũ bỏ công danh tìm nơi va9'ng vẻ ẩn dật, nuôi dưỡng cái khí hạo nhiên của mình. Ông đã tìm được nơi vừa ý, hàng ngày chắm sóc hoa kiểng, chơi đàn không dây, câu cá bằng lưỡi câu ngay không móc mồi và làm thơ...
Thơ của Đào Tiềm được người đời sau truyền tụng nhất là hai bài "Quy khứ lai từ" và "Đào Nguyên ký". Trong bài "Đào Nguyên ký" thi nhân tỏ ý mong được sống ở chốn Đào Nguyên, lánh xa những phiền nhiễu tục luy...
======
(1) Đào Tiềm (365-427) tên chữ Uyên Minh, tự Nguyên Lượng, hiệu là Ngũ Liêu tiên sinh. Ông sinh ra trong cảnh nhà nghèo và gặp thời loạn lạc. Lớn lên, ba lần làm quan đều chán cảnh luồn cuối nên từ quan.
Đào Tiềm được người đời sau xưng tụng là một thi nhân vĩ đại cuối đời Đông Tấn và xứng đáng đứng đầu thời Lục Triềụ
========
THIÊN THAI, tên một hòn núi ở tỉnh Triết Giang, Trung Quốc. Thiên Thai thường được dùng để chỉ cảnh tiên, cõi tiên.
Theo truyền thuyết Trung Hoa, hai chàng Lưu Thần và Nguyễn Triệu đi hái thuốc núi bị lạc vào Thiên Thai, không biết đường về.
Suốt mười ba ngày quan quẩn chung quanh núi Thiên Thai, hai chàng Lưu, Nguyễn chịu đói, chỉ uống nươ"c suối cầm hơị Nhưng may mắn thay, hai chàng chợt nhìn thấy một cây đào trên núi có trái chín, bèn gắng sức trèo lên hái mấy trái mà ăn. Ăn xong mấy trái đào, chẳng những không còn đói mà haì chàng còn cảm thấy sức lực mình được tăng thêm. Ăn xong lại mon men đến dòng suối uống nước.
Lạ thay, trên dòng suối trong vắt Lưu và Nguyễn nhìn thấy các cành lá tưƠi thắm đang trôi; mà ở giữa lại có một chén cơm muối vừng. Hai chàng bảo nhau rằng có lẽ có người ở gần đâu đâỵ Cả hai cùng men theo dòng suối đi ngược lên. Đi được một lúc, Lưu, Nguyễn nhìn thấy bên bờ suối có hai cô gái tuyệt đẹp đang nhìn họ, vì trên tay một trong hai chàng còn đang cầm chiếc chén không (chén cơm muối vừng nhặt đưỢc và cả hai đã ăn hết).
Hai cô gái đẹp đồng thanh gọi:
- Hai chàng Lưu, Nguyễn, hãy mang chén lại đâỵ
Hai chàng không khỏi sửng sốt nhưng chân vẫn cứ bước tới phía sau hai nàng. Hai cô gái đẹp vồn vã hỏi:
- Sao hai chàng đến muộn thế?
Đoạn hai cô ngỏ ý mời hai chàng về nhà mình. Một cô dắt Lưu Thần đi về hướng Nam và một cô dẫn Nguyễn Triệu đi về hướng Đông; nhưng vẫn gần nhaụ Nhà các nàng đều màn che trướng rũ, trên vách treo các thứ trang trí bằng sừng tê, vàng bạc trong rất sang trọng, lộng lẫỵ
Thị nữ trong nhà dọn tiệc, đầy đủ cao lương mỹ vị nhưng vẫn có món muối vừng. Lưu Thần và Nguyễn Triệu tuy ở hai nhà riêng của hai nàng nhưng đều đưỢc tiếp đãi giống nhau như thế. Trong bữa cơm không thiếu rượu ngon. Yến tiệc xong thị nữ dâng đào nói là để mừng chàng rể cô dâụ Nhã nhạc tấu đến đêm. Về khuya, cả Lưu Thần, Nguyễn Triệu đều được hai cô gái đẹp ấy đưa vào phòng, hoan lạc tuyệt thú.
Ở nơi thiên thai được mười ngày, cả Lưu và Nguyễn đều ngỏ ý cáo từ hai người đẹp để trở về nhà. Hai nàng cố năn nỉ họ hở lạị Lưu, Nguyễn xiêu lòng đành ở lạị Ở Thiên Thai, khí hậu không bao giờ thay đổi, cây cỏ luôn luôn xanh mướt tốt tươi và chim chóc hót véo von hết ngày này sang ngày khác. Thật là một cảnh lúc nào cũng xuân.
Lưu Thần và Nguyễn Triệu ở đó thêm nửa năm nữa thì cảm thấy nhớ nhà quá, không còn chịu nổi; bèn nằng nặc đòi được trở về. Hai người vợ ở chốn Thien Thai biết không thể cầm hai chàng ở lại được nữa, đành phải đưa ra tiễn hai chàng xuống núi và chỉ đường cho về.
Hai chàng Lưu, Nguyễn trở về quê cũ thì thấy cảnh vật hoàn toàn khác lạ và cũng chẳng tìm được một người quen cũ nào, vì nửa năm hai chàng ở chốn Thiên Thai thì dưới quê hương họ đã trải qua mấy đời rồị Hai chàng tìm những người cao tuổi nhất trong làng để hỏi thăm về gia đình của mình trước kia thì chẳng ai biết gì cả. May thay có một cụ già đầu tóc bạc nói rằng:
- Cách đây mấy mươi năm, hồi lão còn nhỏ có nghe ông của lão kể rằng trong dòng họ có một người lên núi hái thuốc bị mất tích, không thấy trở về. Năm nay lão đã hơn tám mươi tuổi rồi nhưng cũng chẳng biết rõ người trong dòng họ của đời trước ấy là aị
Lưu Thần và Nguyễn Triệu quá bỡ ngỡ với cảnh và người lạ ở chốn quê hương mình, bèn tìm đường trở lại Thiên Thaị Nhưng than ôi, đường lên Thiên Thai đã mất rồi, còn đâu nữa mà trở lại chốn non tiên...
====
Ở nước ta cũng có chuyện người trần lạc non tiên và lấy vợ tiện Đó là chuyện Từ Thức trong sách "Truyền Kỳ Mạc Lục" của Nguyễn Dữ (1).
Từ Thức người đất Hoá Châu, năm Quang Thái đời Trần Thuận Tông được bổ làm Tri huyện Tiên Dụ Bên cạnh huyện đường có một ngôi chùa danh tiếng trồng rất nhiều hoa mẫu đơn. Cứ mỗi lần hoa nở thì dân chúng kéo đến xem đông lắm.
Tháng hai năm Bính Tý niên hiệu Quan Thái thứ 9, hoa mầu đơn rộ nở. Trong đám ngu8ời đi xem hoa nơ/ có một cô gái tuổi đổ đôi tám, má hồng phơn phớt, lỡ tay làm gãy một cành hoa nên bị người của nhà chùa giữ lạị Ngày gần hết mà cô gái không có người nhà đến nhận. Từ Thức cũng có mặt trong lúc ấy động lòng thương nên cởi áo lông cừu trắng chuộc tội cho cô gái . Mọi người đêu khen quan huyện là người hiền đức.
Từ Thức vốn tính tình phóng dật, thích rượu thơ hơn là việc quan trường nên thường ỏ bê công việc ở huyện đường. Có lần quan trên quở trách, Từ bèn cởi áo từ quan, về huyện Tống Sơn cất nhà sát bên hang động mà ở. Thường ngày cắp một cây đàn, một bầu rượu và một túi thơ, dắt theo một đứa tiểu đồng ngao du đây đó.
Một hôm Từ đến Thần Phù, nhìn xa ra khơi mấy mươi dặp thấy có một đám mây ngũ sắc, kết lại giống một đóa hoa sen lớn. Từ ngạc nhiên cho cheò thuyền ra thì nhận rõ là một trái núi nổi lên trên mặt biển rất đẹp. Từ cho buộc thuyền và bước lên. Thấy vách đá cao nghìn trượng, sừng sững đứng thẳng, bèn ngẫu hứng đề vào vách một bài thơ:
"Thiên chương bích thụ quái triêu đôn
Hoa tháo nghênh nhân nhập động môn
Nhiễu gián dĩ vô tăng thái dược
Duyên lưu thặng hữu khách tầm ngươm
Lữ du tư vị cầm tam mộng
Điếu đính sinh nhai tứu nhất tôn
Nghi hướng Võ lăng ngư tử vấn
Tiền lai viễn cận chúng đào thôn".
(Triêu dương bóng trái khắp ngày xanh
Hoa có cười tươi đón rước mình
Hái thuốc nào đâu sư kẽ suối
Tìm nguồn duy có khách bên ghềnh
Lang thang đất lạ đàn ba khúc
Trôi nổi thuyền câu rượu một bình
Bến Võ chàng ngư tìm thử hỏi
Thôn đào chi hộ lối loanh quanh.) (2)
Từ Thức đề thơ xong, thẫn thờ ngắm cảnh vật. Bỗng chàng nhìn thấy một cửa hang nên không ngần ngại vén áo bước vàọ Đi được non một dặm thì cảm thấy đường đi dốc ngược lên và càng lên cao càng thấy rộng rãị Từ Thức lên đến đỉnh núi thì thấy trời quan đãng, chung quanh toàn những lkâu đài nguy ngạ
Bỗng có hai người con gái áo xanh xuất hiện, bảo với nhau rằng:
- Lang quân nhà ta đã đến.
Rồi hai nàng tiến đến bên Từ Thức, nói rằng:
- Phu nhân của ta mời chàng vào chơị
Từ Thức theo hai người con gái áo xanh đi vòng qua một bức tường gấm rồi bước vào một toà cung điện bằng bạc . Trước cửa đie6.n có bản đề ba chữ "Điện Quỳnh Hư", bên trên là bảng đề "Gác Dao Quang". Từ Thức vào điện thấy có một vị phu nhân mặc áo trắng ngồi trên giường thất bảọ Bên cạn h còn có một cái giường nhỏ bằng gỗ đàn hương. Vị phu nhân chỉ chiếc giường nhỏ mời Từ Thứ ngồi rồi nói rằng:
- Có lẽ tiên sinh cũng được thoả nguyện bình sinh với chuyến đi chơi này ? Nhưng còn mối duyên kỳ ngộ, tiên sinh có nhớ chăng ?
Từ Thức thưa:
- Tại hạ là một kẻ dật sĩ ở Tống Sơn. với chiếc thuyền nan và cánh buồm gió rong chơi giang hồ, đâu biết rằng nơi đa có Tử phủ Thanh độ Nay tại hạ đê;'n được đây, chẳng khác nào mọc cánh mà bay đến chốn non tiên vậỵ Song lòng trần còn mờ tối, chưa biết tiền đồ ra sao, dám xin phu nhân chỉ bảo chọ
Phu nhân áo trắng nói:
- Đây là núi Phù Lai, động tiên thứ sáu trong ba mươi sáu đô.ng. Còn tôi đây là Ngụy phu nhân, địa tiên ở Nam Nhạc. Vì thấy tiên sinh là ngươì cao nghĩ, sẵn lòng cứu giúp người nguy khốn nên làm phiền mời tiên sinh đến đâỵ
Đoạn Ngụy phu nhân ra hiệu cho một a hoàn đứng hầu một bên. A hoàn vào trong dắt ra một ngươiù con gáị Từ Thức nhìn lên, nhận ra người con gái ấy chính là cô gái làm gãy cành mẫu đơn được chàng chuộc bằng chiếc áo hồ cừu ngày trước. Ngụy phu nhân lên tiếng:
- Con gái tôi đây tên gọi Giáng Hương, ngày trước mắc nạn trong lúc xem hoa, được tiên sinh cứu giúp. Nay tôi xin cho nó kết duyên cùng tiên sinh để đền ơn khi trước.
Ngay đêm ấy Từ Thức và giáng Hương làm lễ giao bái động phòng. Ngày hôm sau có quần tiên đến dự tiệc chúc mừng cho họ
Từ Thức kết duyên cùng Giáng Hương đã được một năm, bỗng chạnh lòng nhớ đến quê hương, làm xóm. Một hôm trong ra bể thấy một chiếc thuyền buồm dong về phương Nam, Từ chỉ cho vợ xem và nói:
- Nhà tôi ở về hướng chiếc thuyền đang đi ấy, nhưng trời nước bao la, nào có biết đâu là đâu... Tôi bước khách bơ vơ, lòng quê bịn rịn, dám xin nàng thể tình cho tôi tạm về thăm quê hương. Nhân thể thu xếp việc nhà cho yên ổn rồi sẽ trở lại đây cùng nàng tháng ngày yên hưởng cảnh làng mây bến nước.
Giáng Hương sa nước mắt nói:
- Thiếp chẳng dám vì tình phu phụ mà cản trở lòng nhớ quê hương của chàng. Song cõi trần nhỏ hẹp, kiếp trần ngắn ngủi nay chàng về chỉ e cảnh cũ người xưa không còn nữa...
Rồi Giáng Hương thưa với phu nhân. Phu nhân nói:
- Không ngờ Từ lang còn nặng lòng trần đến vậỵ
Phu nhân ban cho Từ một cỗ xe Cẫm Vân để trở về trần thế. Giáng Hương trao cho chàng một bức thư viết lên khăn lụa, nói:
- Ngày khác trông thấy vật này, xin đừng quên mối tình cũ.
Hai người bịn rịn chia tay nhaụ
Từ Thức về đến quê cũ thì thấy quả thật là vật đổi sao dờị Thành quách, nhân gian đều không còn như xưa nữạ Chỉ có cảnh núi khe, hang động không thay đổi mà thôị
Từ nói họ tên mình ra với những người già cả trong làng để hỏi thăm về gia đình thì một cụ già trả lời rằng:
- Thưở tôi còn bé có nghe ông cụ tam đại nhà tôi cũng có tên giống như ông, đi vào núi mất tích đến nay đã hơn tám mươi năm rồị
Từ Thức ngậm ngùi, muốn lên xe mây trở lại non tiên thì xe mây đã hoá thành con chim phượng bay mất rồị Chàng mở thư của Giáng Hương ra xem thấy vỏn vẹn một câu: "Kết lứa phượng trong mây duyên xưa đã hết, tìm non tiên trên bể dịp khác còn đâu".
Từ Thức buồn quá, bèn mặc áo cừu nhẹ, đội nói lá ngắn mà đi vào núi Hoành Sơn; rồi về sau không biết đi đâu mất biệt
====================
(1) NGUYỄn DỮ người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, nay là huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Hưng. Ông thuộc dòng dõi khoa bảng, có đi thi nhưng bất mãn thời cuộc không ra làm quan, ẩn cư nơi núi rừng vùng Thanh Hóạ
Không có tài liệu nào cho biết Nguyễn Dữ sinh và mất năm nàọ Tuy nhiên, ngưỜi ta biết rõ ông sống đồng thời với thầy học là Nguyễn Bỉnh Khiêm và bạn đồng song là Phùng Khắc Khoan; tức vào khỏang thế kỷ thứ XVI
(2) Ý nói đến ông lão đánh cá đời Tấn ở Võ Lăng, đến Đào Nguyên.
qcluu
05-04-2003, 09:02 PM
"Vâng trình hội chủ xem tường
Mà xem trong sổ ĐOẠN TRƯỜNG có tên".
(Câu 199, 200. Đạm Tiên nói với Kiều trong mơ)
"Ví đem vào tập ĐOẠN TRƯỜNG
Thì treo giải nhất chi nhường cho ai"
(Câu 209, 210. Đạm Tiên nói với Kiều trong mơ)
"ĐOẠN TRƯỜNG là số thế nào
Bai ra thế ấy, vịnh vào thế kia".
(Câu 231, 232. Kiều trải lời Vương bà khi tỉnh mộng).
"Rủi may âu cũng sự đời
ĐOẠN TRƯỜNG lại chọn mặt người vô duyên".
(Câu 817, 818. Kiều lọt vào tay bọn buôn người)
"Rõ rằng: "Nhân quả dở dang
Đã toan trốn nợ ĐOẠN TRƯỜNG được sao"?
(Câu 995, 996. Đạm Tiên nhủ Kiều trong cơ mê)
"Lần lần thỏ bạc, ác vàng
Xót người trong hội ĐỌAN TRƯỜNG đòi cơn."
(Câu 1269, 1270. Kiều ở thanh lâu lần thứ nhất)
"Nàng càng ủ dột thu ba
ĐOẠN TRƯỜNG lúc ấy giở mà buồn tênh."
(Câu 1323, 1324. Kiều và Thúc Sinh trò chuyện)
"Tiểu thư lại thét lấy nàng:
Cuộc vui gảy khúc ĐOẠN TRÀNG ấy chi"?
(Câu 1859, 1860. Hoạn Thư mắng Kiều)
"Sụt sùi giở nỗi ĐOẠN TRƯỜNG
Giọt châu tầm tã, đẫm tràng áo xanh."
(Câu 1943, 1944. Thúc Sinh khóc với Kiều ở Quan Âm Các).
"Người sao hiếu nghĩ đủ đường
Kiếp sao, rặt những ĐOẠN TRƯỜNG thết thôi".
(Câu 2653, 2654. Giác Duyên hỏi Tam Hợp đạo cô)
"Ma dẫn lối, quỷ đưa đường
Lại tìm những chốn ĐOẠN TRƯỜNG mà đi"
(Câu 2665, 2666. Tam Hợp đạo cô trả lời Giác Duyên)
"Làm cho sống đọa thác đày
ĐOẠN TRƯỜNG cho hết kiếp này mới thôị"
(Câu 2675, 2676. Tam Hợp trả lời Giác Duyên)
"ĐOẠN TRƯỜNG sổ, rút tên ra
ĐOẠN TRƯỜNG thơ, phải đón mà trả nhau"
(Câu 2721, 2722. Đạm Tiên nói với Kiều khi Kiều được vớt dưới sông Tiền Đường)
"Nàng Rằng: "Vì chút nghề chơi
ĐOẠN TRƯỜNG tiếng ấy hại người bấy lâu".
(Câu 3211, 3212. Kiều đáp lời Kim Trọng sau khi gảy đàn lúc sum họp)
ĐOẠN TRƯỜNG: nghĩ đen là đứt ruột. Nghĩ bóng là chỉ sự đau khổ cùng cực mà con người phải chịu đư.ng. Nỗi đau khổ ấy có thể khiến người ta đứt từng đoạn ruột hay là chết đi được vậy
Sách "Đường thi kỷ sự" chép chuyện nàng Mạnh tài nhân của vua Đường Vũ Tông như sau:
Đường Vũ Tông khi đau nặng biết mình không thể qua khỏi, nhìn Mạnh tài nhân nói rằng:
- Ta chết thì không sợ, nhưng thương ngươi chẳng biết sẽ ra saỏ...
Mạnh tài nhân khóc', chỉ vào chiếc túi vải đựng ống sáo mà thưa với vua:
- Thần thiếp xin lấy đó mà tự ải để được chết theo bệ hạ
Vũ Tông nghe thế lấy làm cảm động đến ứa nước mắt. Mạnh tài nhân lại nói:
- Thần thiếp thường ngày thạo ca hát, nay xin phép được hát một bài để tỏ nỗi bi phẫn của thần thiếp trước mặt bệ hạ
Nhà vua bằng lòng, Mạnh tài nhân lie6`n hát hai bài Cung từ của Trương Hộ(1). Nàng hát dứt bài thì đứt hơi, đứng sững luôn một chỗ. Nhà vua sai Ngự y khám. Ngự y khám xong, tâu:
- Mạch của tài nhân vẫn còn ấm, nhưng nàng đã bị đứt ruột chết rồị
Vua nghe nói thương xót quá liền băng hà ngaỵ Đến khi cử hành lễ mai táng thì linh cữu nhà vua quá nặng, đội quân khiêng không thể nhất lên nổị Cóngười thấy thế liền nói:
- Có lẽ Hoàng thượng còn đợi Tài nhân chăng?
Các quan bèn sai đưa quan tài cu?a Mạnh tài nhân rạ Quả nhiên linh cữu nhà vua không còn na(.ng trịch nữạ
Trương Hộ nghe chuyện ấy xúc động, bèn làm một bài thơ thương tiết cho Mạnh tài nhân, tựa rằng "Tài nhân vì lòng thành nên đứt ruột mà chết, nhà vua vì lòng thành mà ban mệnh những kẻ khích liệt vì nghĩa mà chết ngày trước cũng không hơn được". Và bài thơ như sau:
"Ngẫu nhiên ca bãi vịnh kiều tần
Truyền xướng cung trung nhị thập xuân
Khước vị nhất thanh Hà Mãn Tử
Hạ tuyền tu điếu cựu Tài nhân"
(Ngẫu nhiên tàn tiệc vịnh đôi vần
Truyền bới trong cung hai chục xuân
Lại bới một câu Hà Mãn Tử
Tuyền đài phái điếu bậc Tài nhân).
=====
(1) Trương Hộ tự Thừa Cát, người Thanh Hà, rất giỏi về Từ khúc. Khi đến ngụ ở Nam Dương, có lần được Lện Hồ Sở tiến cử với Đường Hiếng Tông. Nhưng lúc Trương tới kinh thì lại có đều thất ý nên trở về.
Lúc tráng niên, Trương đi ngao du sơn thủỵ Khi về già ẩn cư đất Khúc A, trồng cây, đọc sách.
qcluu
05-05-2003, 02:14 PM
"NÀY MƯỜI BÀI MỚI, mới ra
Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời"
(Câu 203, 204. Đạm Tiên nói với Kiều trong mơ).
Mười đề mục thơ của "hội đoạn trường" là: Tiếc đa tài, Thương mệnh bạc, Buồn lối rẽ, Nhớ người xưa, Nhục con đòi, Thương thanh xuân, Than lỡ bước, Khổ tan tác, Mộng vườn nhà và Khóc tương tự
Kiều đã vịnh mười đề mục ấy theo lối Hồi Văn như sau:
1. Tiếc đa tàị Hoa tiên chẳng nở hoàị
Trăm năm hương lứa bao đằm thắm.
Trong cõi lòng riêng trạnh nhớ aị
Trạnh nhớ aị Tiếc đa tàị
2. Thương mệnh bạc. Lẻ loi canh vắn đêm dài
Xưa nha nhà vàng, người ngọc ở.
Nhưng sự đời kia khó gặp may,
Khó gặp maỵ Thương mệnh bạc.
3. Buồn lối rẽ. Quanh co khó vượt qua,
Đường hiểm sao bằng ngư*`i lận đận.
Một khúc quan co, ngàn dặm xa,
Ngàn dặp xạ Buồn lối rẽ.
4. Nhớ cố nhân. Mắt trông đầu trắng ngần
Nào khi nhẹ bước đường mây tá?
Kẻ quý người khinh thực rõ rành,
Thực rõ rành. Nhớ cố nhân.
5. Nhục con đòị Gương soi bỗng rụng rời,
Luống những ngậm ngùi thân liễu yếu
Nỡ đem son phấn mỉai mai đời,
Mỉa mai đờị Nhục con đòị
6. Thương thanh xuân. Hoa đẹp tựa gia nhân,
Gặp lúc núi rừng xuân sắc tốt.
Xin cho mưa gió đượm hoa thần.
Đượm hoa thần. Thương than xuân.
7. Than lỡ bước. Mộng đẹp trôi theo nước,
Nào phải gặp ai cũng khấn cầụ
Vì lối cửa son không biết được,
Không biết được. Than lỡ bước.
8. Khổ tha phương. Thân không chốn tựa nương,
Lìa cây, tan tác hoa rơi ru.ng.
Chiếc nhạn lạc đàn trong đêm sương,
Trong đêm sương. Khổ than phương.
9. Mộng vườn nhà. Ai dắt dẫn hồn ta ?
Lều cũ, cúc tùng ngơ ngác lạ,
Cỏ thơm mây trắng hững hờ quạ
Hững hờ quạ Mộng vườn nhà.
10. Khóc tình sị Thổn thức cơn biệt lỵ
Đau lòng đòi đoạn khôn im tiếng,
Tình sâu đất cũ luống sầu bị
Luống sầu bị Khóc tình sị
qcluu
05-06-2003, 09:46 PM
"Xem thơ nấc nở khen thầm:
Giá đành TÚ KHẨU CẪM TÂM khác thường"
(Câu 207, 208. Đạm Tiên khen tài Kiều trong mơ)
TÚ KHẨU, CẪM TÂM: Miệng thêu, lòng gấm; ý nói người có tài văn chương, lời hay ý đẹp.
Trong lịch sử văn học Trung Quốc, có bốn người văn chương trác tuyệt được đời xưng tụng là "tú khẩu, cẫm tâm". Đó là Hàn Dũ, Liễu Tôn Nguyên, Âu Dương Tu và Tô Tuân.
HÀN DŨ (768 - 824) tự là Thoái Chi; người đời sau thường gọi là Hàn Xương Lệ Hàn Dũ người quán Nam Dương tỉnh Hồ Bắc, mồ côi sớm, học rất giỏị Năm 25 tuổi Hàn Dũ đỗ tiến sĩ, làm Giám Sát Ngự Sử, Sử quán Tu soạn rồi Hình Bộ Thị Lang.
Hàn Dũ là người tôn sùng giáo lý Khổng Mạnh, nhưng thời bấy giờ vua Đường Hiến Tôn lại tôn trọng đạo Phật. Hàn Dũ làm sớ khuyên vua bà xích đạo Phật và đốt xương Phật nên bị giáng làm Thứ sử Triều Châụ Ông có làm bài thơ tự thán như sau:
"Nhất phong triều tấu cữu trùng thiên,
Một trích Triều Châu lộ bát thiên.
Dục vị Thánh triều trừ tệ chính,
Cám tương suy hú tích tàn niên".
(Sớm dâng tờ sớ tấu thiên nhan,
Chiềyu biếm Triều Châu dặp tám ngàn.
Muốn giúp Thán triều trừ tệ chính,
Dám đem lão bệnh tiếc thân tàn").
Về sau ông được triệu về kinh phục chức, rồi thăng Kinh Triệu Doãn.
LIỄ TÔN NGUYÊN (773 - 819) tự là Tử Hậu, người Hà Đông; đồng tời với Hàn Dũ và cũng chủ trương phục cổ như Hàn.
Liễu Tôn Nguyên đỗ Tiến sĩ và BÁc học Hoằng tử, làm quan đếm Giám Sát Ngự sử. Sau bị tội nên bị giáng xuống làm Tư Mã Vĩnh Châu, rồi Liễu Châu Thứ sử.
ÂU DƯƠNG TU (1007 - 1072) tự Vĩnh Thúc, người đất Tô Lăng đời Tống. Ông đỗ Tiến sĩ, học rộng, văn tài trác tuyệt, làm quan đến Binh bộ Thượng thự
Âu Dương Tu tánh tình ngay thẳng nên làm quan bị nhiều người ghét. Ông thuộc phái "Cựu đảng" của Tư Mã Quan chống "Tân pháp" của Tể Tướng Vương An Thạch nên phải về trí sĩ khi chưa tới tuổi hưụ Âu Dương Tu là tác giả bộ Tân Ngũ Đại Sử, và hợp soạn chung với Tống Kỳ bộ Tân Đường Thị
TÔ TUÂN (1009 - 1066) tự Minh Doãn, người đất My Sơn đời Tống. Tô Tuân không xuất thân khoa bảng nhưng ông lại là một danh sĩ. Năm 27 tuổi ông mới bắt đầu việc học. Năm 37 tuổi có đi thi một lần, không đỗ. Ông buồn đi ngao du đây đó mấy năm mới chịu về nhà và từ đó nhất định không đi thi nữạ
Tô Tuân là cha của Tô Thức (Tô Đông Pha) và Tô Triệt. Năm 1059, Tô Tuân được triều đình đặc cách chức Hiệu Thư lang chuyên chép chuyện các đời vua nhà Tống. Ông tỏ ra khônhg mấy thích công việc này, vì phải khen mà không được chê các tiên vương.
Về sau ông đổi ra làm Chủ Bạ huyện Văn An, soạn bộ Thái Thường nhân cách lễ gồm một trăm quyển. Sách vừa soạn xong thì ông cũng qua đờị
qcluu
05-07-2003, 08:05 PM
"Trông theo nào thấy đâu nào,
HƯƠNG THỪA dường hãy ra vào đâu đây"
(Câu 215, 216. Kiều mơ màng nghe mùi hương của Đạm Tiên).
Câu này lấy ý ở "Tây Sương Ký": "Lan xạ hương nhưng tại" nghĩa là người đi rồi mà mùi hương hãy còn phảng phất.
Đây là cảnh thứ IV, hồi I của phần thứ nhất tuồng Tây Sương Ký, tả cảnh Trương Quân Thụy trông thấy Thôi Oanh Oanh trong vườn hoa tư dinh họ Thôi phía Tây chùa Phổ cứụ Thôi Oanh Oanh đã vào nhà rồi mà Trương Quân Thụy còn ngẩn ngơ nhìn theo tiếc nuối:
"..........
Vườn hoa lê đóng khúc nào
Tường cao, cao quá, kế cao bằng trờị
Trách trời sao chẳng chiều người
Làm khuây chẳng được, đứng lười không đang.
Nghĩ hươu, tính vượn, trăm đường,
HƯƠNG LAN CÒN THOẢNG, TIẾNG VÀNG ĐÃ XẠ
Gió lay cành liễu la đà,
Tơ hồng vướng vít, cánh hoa tơi bờị
Rèm châu lấp lánh mặt trời,
Nuốt thầm nước bọt, trông hoài nẻo xa..."
.............
Langtucodon
05-07-2003, 10:56 PM
Xin đóng góp vài ý kiến nếu có gì thiếu sót xin bỏ qua cho nhé về điển tích ĐOẠN TRƯỜNG
Đúng như qcluu giải thích về nghĩa đen của từ ĐOẠN TRƯỜNG là ruột bị đứt thành từng đoạn, như tại sao lại có điển tích này.
Khi các thợ săn đi săn trong rừng thấy được hai con khỉ : con khỉ mẹ và con khỉ con. Họ bắt được con khỉ con còn con khỉ mẹ chạy thoát được lên trên cây. Họ làm thịt con khỉ con liền tại chỗ, con khỉ mẹ trên cây ngó xuống nhìn con mình bị giết, thảm thiết đau lòng quá khóc ròng và xúc động quá té xuống chết, các thợ săn khi làm thịt con khỉ mẹ, mổ bộ lòng ra thấy khúc ruột của con khỉ mẹ bị đứt từng đoạn vì quá thương tâm khi thấy con mình bị giết. Từ đó người ta dùng từ và điển tích này để nói lên nỗi đau khổ trong lòng mà không bút mực nào có thể diễn tả được hết. :( :( :(
qcluu
05-08-2003, 07:26 AM
Originally posted by Langtucodon
Xin đóng góp vài ý kiến nếu có gì thiếu sót xin bỏ qua cho nhé về điển tích ĐOẠN TRƯỜNG
Đúng như qcluu giải thích về nghĩa đen của từ ĐOẠN TRƯỜNG là ruột bị đứt thành từng đoạn, như tại sao lại có điển tích nàỵ
Khi các thợ săn đi săn trong rừng thấy được hai con khỉ : con khỉ mẹ và con khỉ con. Họ bắt được con khỉ con còn con khỉ mẹ chạy thoát được lên trên câỵ Họ làm thịt con khỉ con liền tại chỗ, con khỉ mẹ trên cây ngó xuống nhìn con mình bị giết, thảm thiết đau lòng quá khóc ròng và xúc động quá té xuống chết, các thợ săn khi làm thịt con khỉ mẹ, mổ bộ lòng ra thấy khúc ruột của con khỉ mẹ bị đứt từng đoạn vì quá thương tâm khi thấy con mình bị giết. Từ đó người ta dùng từ và điển tích này để nói lên nỗi đau khổ trong lòng mà không bút mực nào có thể diễn tả được hết. :( :( :(
Chào Langtucodon,
Điển tích này cũng hay quá !!! Cám ơn Langtucodon rất nhiều đã chia xẻ câu chuyện trên để làm rõ thêm ý nghĩa "Đoạn Trường" ... Nghe xong câu chuyện thương tâm này, mình cũng cảm thấy xe thắt trong lòng một cái gì đó :( :( :(
Luôn mong được học hỏi thêm những chia xẻ quí báu từ Langtucodon và quí ACE!
qcluu
05-08-2003, 01:06 PM
"Cớ sao trằn trọc đêm khuya
MÀU HOA LÊ HÃY DẦM DỀ GIỌT MƯA ?"
(Câu 225, 226. Kiều thổn thức một mình)
Hai câu 99 và 100 trong bài thơ Trường Hận ca (1) của thi sẽ Bạch Cư Dị (2) đời Đường:
"Ngọc dung tịch mịch lệ lan can
Lê hoa nhất chi xuân đái vũ"
có nghĩa là: "Mặt ngọc ủ ê, nước mắt dầm dề như hoa lê mùa xuân bám mấy giọt nước mưa". Nguyễn Du đã lấy hai câu ấy dịch thành "Màu hoa lê hãy dầm dề giọt mưa".
NGYM đã dịch hai câu thơ trên như sau:
"Nét rầu, hồng lệ lâm ly
Hạt mưa gieo nặng cành lê, não nùng".
Còn Vô Danh thì dịch như sau:
"Vẻ ngọc buồn tràn nước mắt
Ngày xuân mưa trĩu một cành lê".
======
(1) TRƯỜNG HẬN CA: Vua Đường Huyềng Tông sùng ái Dương Quý Phị
Tướng An Lộc Sơn cũng mê đắm nhan sắc Dương Quý Phi nên nổi loạn, khiến nhà vua và triềyu thần phải bỏ kinh đô Tràng Anh chạy vào đất Ba Thục. Đến gò Mã Ngôi, quân sĩ không chịu tiến vì cho rằnbg bởi Dương Quý Phi nên mới có loạn. Đường Huyền Tông phải chiều theo ý tướng sĩ giết Tể tướng Dương Quốc Trung và cho thắt cổ Dương Quý Phị Nhà thơ Bạch Chư Dị viết bà Trường Hận ca để tả lại nỗi hận về chuyện ấỵ
(2) BẠCH CƯ DỊ (772 - 846) tự Lạc Thiên, người Hạ Khuê, Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây; là một nhà thơ lớn thời Thịnh Đường.
Năm 27 tuổi đời Nguyên Hoà, ông đỗ Tiến sĩ và nhậm chức Hàn Lâm học sĩ. Ông làm quan tánh cương trực, hay vạch lỗi kẻ khác nên bị nhiều đồng liêu ghét.
Trong thời gian cư tang mẹ, Bạch Cư Dị có làm bài thơ "Thưởng Hoa". Kẻ thù của nhà thơ biết được nên tâu với vua Đường Hiến Tông rằng Bạch là một vị quan to mà "bất hiếu" làm tổn thương danh giáọ Thế là Bạch Cư Dị bị đày đi làm Tư mã ở đất Giang Châụ Sau đó ông đi làm Thứ sử ở Tô Châu, rồi Hàng Châụ Cuối cùng cũng được về triều và được thăng Hình bộ Thương thự
Bạch Cư Dị là người tánh tình phóng khoáng, thích nhà hạ và rượụ Khi về hưu thường chống gậy rúc đi chơi ở Hương Sơn, uống rượu say rồi ngâm thơ nên tự lấy cho mình hai biệt hiệu là Hương Sơn cư sĩ và Túy Ngâm tiên sinh.
Ông để lại cho đời một tập thơ gồm 71 quyể, chứa gần 4000 bài thợ Hai bài thơ nổi tiếng nhất và được truyền tụng rộng rãi của Bạch Cư Dị là Tỳ Bà Hành và Trường Hận Cạ
qcluu
05-09-2003, 03:36 PM
"Vâng lời khuyên giải thấp cao
Chưa xong điều nghĩ đã dàu MẠCH TƯƠNG".
(Câu 237, 238. Kiều sau giấc mơ thấy Đạm Tiên)
"MÀNH TƯƠNG phơn phớt gió đàn
Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình."
(Câu 255, 256. Kim Trọng tương tư Kiều)
"SÔNG TƯƠNG một giải nông sờ
Bên trông đầu nọ, bên chờ cuối kiạ"
(Câu 365, 366. Tâm trạng Kim, Kiều)
MẠCH TƯƠNG để chỉ nước mắt của người đàn bà. Sách Tương Xuyên chép rằng:
Vua Thuấn đi tuần thú phưo8Ng Nam, bằng hà ở đất Thương Ngộ Hai bà vợ của nhà vua là Nga Hoàng và Nữ Anh (hai chị em ruột ) thương tiếc chồng đến sông Tiêu Tương than khóc thảm thiết. Nước mắt của hai bà rơi vào bụi trúc bên bờ sông khiến tất cả những cây trúc đều nổi vân lên rất đẹp. Từ đó về sau, tất cả trúc trên bờ sông Tiêu Tương đề có vân.
Tiêu Tương là chổ sông Tiêu và sông Tương hiệp lại trong tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Sông TươNg phát nguyên từ Dương Hải thuộc tỉnh Quảng Tây, chảy đến tỉnh Hồ Nam, qua huyện Trường Sa vào Động Đình hồ.
Tiêu Tương là một danh thắng của Trung Quốc. Hoạ sĩ Tống Địch có vẽ tám bức tranh tả cảnh Tiêu Tương là:
1. Bình sa lạc nhạn (Đàn nhạn đáp xuống bãi cát)
2. Sơn thị bình lam (Chợ chiều dưới chân núi)
3. Viễn phố qui phàm (Thuyền ở xa trương buồm về)
4. Ngư thôn tịch chiếu (Bóng chiều ở xóm chài)
5. Yên tự văn chung (Nghe tiếng chuông chùa trên núi)
6. Động đình thu nguyệt (Trăng thu trên hồ Động Đình)
7. Giang thiên một tuyết (Tuyết rơi trên bờ sông về chiều)
8. Tiêu Tương dạ vũ (Mưa đêm trên sông Tiêu Tương)
Về tích hai bà vợ của vua Thuấn khóc chồng, người đời sau có lập đền thờ hai bà ở Đông Tương. Và nàng Lý Thục làm bài "Ban trúc oán" như sau:
"Vua Thuấn băng, hai phi dõi lối
Xuân phương Nam đến tận Tương Sơn.
Lệ thương tưới trúc trên cồn,
Sông Tương đốm trúc vẫn còn đến naỵ
Miếu Cữu Nghé, sớm mây thăm thẳm,
Non Thương Ngô, ác lặn trời chiềụ
Sông cồn chứa hận còn nhiều,
Dòng còn cuộn cháy thưở nào hết đây"?
MÀNH TƯƠNG: Tấm mành che cửa làm bằng trúc có vân ở bờ sông Tiêu Tương. Vì nước mắt của hai bà Nga Hoàng và Nữ Anh làm cho trúc trên bờ sông Tiêu Tương nổi đốm nên những người thợ làm mành cửa ở vùng Hồ Nam thường đến sông mua loại trúc có vân ấy để làm thành mành.
Bởi tích M.ach Tương bi thiết như trên, nên Mành Tương là tấm màn che ngụ ý chỉ sự cách trở yêu thương của trai gáị
SÔNG TƯƠNG (Tương Giang): một con sông xuất phát từ huyện Ninh Lăng tỉnh Hồ Nam.
Tích Sông Tương dùng để chỉ sự chia cắt tình yêu của đôi trai gáị Ngoài điển tích hai bà Nga Hoàng và Nữ Anh khóc chồng là vua Thuấn trên bờ sông Tương, nước mắt làm cho các bụi trúc nổi vân, thì sông Tương còn có một truyện tích như sau:
Đời nhà Chu thời Ngũ Quý, nàng Lương Ý Nương là con gái Lương Tiêu Hồ thường đi lại giao thiệp với Lý Sinh, người anh bà con cô cậu với nàng. Hai người có sự liên hệ khắng khít nên yêu nhaụ Tình yêu của họ ngày càng thắm thiết tưởng như không thể nào rời ra đưỢc.
Vào tiết trung thu năm nọ, hai người cùng đi chơi thưởng trăng thu rồi tư thông với nhaụ Việc bị bại lộ, Lương Tiêu Hồ cả giận đuổi Lý Sinh về nhà chàng, cắt đứt mối tình bất chính với nàng Lương Ý Nương. Nhà của Lý Sinh ở tận trên phía Bắc sông Tương, còn gia đình nàng Lương Ý Nương thì ở dưới phía Nam sông Tương. Từ đó hai người cách xa nhau luôn cả ba năm dàị Cả hai cùng ôm mối khổ đau của nỗi tuyệt tình trong lòng.
Vì quá thương nhớ người yêu, cứ mỗi chiều chiều nàng Lương Ý Nương thường ra bờ sông Tương nhìn dòng nước chảy mà thổn thức ngậm ngùi... Nàng Lương khóc than thương nhớ người yêu, rồi dùng hai bàn tay bụm nước sông Tương mà uống. VÀ nàng tưởng tượng rằng ở trên mạn bắc đầu sông Tương, người yêu của nàng là Lý Sinh cũng cùng tâm trạng với ngàng, cũng ra bờ sông để thương nhớ nàng và uống nước sông Tương như nàng vậỵ
Nỗi đau khổ cực cùng của mốiu tuyệt tình đã khiến nàng Lương Ý Nương làm nên một bài thơ bất hủ như sau:
"Nhân đạo TươNg giang thâm
Vị để Tương giang bạn
Giang thâm chung hữu để
Tương tư vô biên ngạn.
Quân tại Tương giang đầu
Thiếp tại Tương giang vĩ
Tương tư bất tương kiến
Đồng ẩm Tương giang thủy"
(Người bảo sông Tương sâu
Chưa bằng lòng mong nhớ
Sông sâu còn có đáy
Lòng nhớ lại không bờ
Chàng ở đầu sông Tương
Thiếp ở cuối sông Tương
Nhớ nhau mà không thấy
Cùng uống nước sông Tương).
=======
Một điển tích thứ hai về Tương giang diễn tả mối tuyệt tình của nàng kỹ nữ Vương Ấu Ngọc cũng rất thương tâm. Chuyện như sau:
Thành Hoành Dương treT^n bờ Tương giang là một thành phố thương mãi nổi tiếng thời nhà Đường. Nơi đây có rất nhiều kỹ viện. Trong số những kỹ nữ thời danh hồi ấy, Vương Ấu Ngọc là một kỹ nữ trội nhất của vùng Tưo8Ng giang. Nàng Vương chẳng những trội về nhan sắc, lại có tài đàn hát rất giỏi và có nhiều tiền của . Nhiều đạt quan quý nhân, nhiều khách phong lưu văn mặc từ kinh đô Tràng An đổ xô về Hoanh Dương của vùng Tương giang đê/ tìm cuộc vui với kỹ nữ Vư*ng Ấu Ngọc. Nhưng không phải ai tìm đến nàng Vương cũng tiếp, mặc dù nàng chỉ là một kỹ nữ. Nhiều người đã khuyên nàng, với tài sắc như thế, nàng nên về kinh đô Tràng An để dễ bề tiến thân hơn; nhu(*ng nàng Vương không cho những lời khuyên ấy là phải! Trong thâm tâm, Vương Ấu Ngọc đâu có muốn mình luôn là một đóa hoa trong chốn phong trần, mà nàng chỉ mong kiếm được một tấm chồng xứng đáng đê/ tạo lập hạnh phúc gia đình; hiềm gì chưa gặp được bạn tri kỷ tri âm...
Một chiều kia, có một khách hào hoa phiều lãng tên Liễu Phú từ Lạc Dương tới và đã gặp kỹ nữ Vương Ấu Ngọc. Chỉ qua một đêm thờ va rượu, Liễ và Vương đâu quyến luyề'n nhau và không còn muốn rời xa nhau nữạ Vương Ấu Ngọc đề nghị tự nguyện làm vợ Liễu Phú, nhưng Liễu lặng thinh không đáp.
Sáng hôm sau hai người chia taỵ Liễu Phú thay vì xuôi thuyền đi Lĩnh Nam như ý định trước kia thì bây giờ không đi nữạ Chàng ở lại Hoành DươNg và neo thuyên trên một khúc Tương giang vắng vẻ, nhưng cũng không trở lại kỹ viện để gặp nàng Vương. Lý do là Liễu đã cạn tiền.
Mấy hôm sau, Vương Ấu Ngọc được tin Liễu Phú vẫn còn ở lại HOành Dương nên nàng tức tốc đi tìm. Rồi nàng cũng gặp được chàng trên một khúc sông Tương vắng vẻ. Hai người ôm nhau mừng mừng tủi tủi .... Cùng ngồi trên thuyên thả trôi chầm chậm trên dòng Tương giang, Liễu Phú giải thích lý do chàng nín lặng khi nghe Vương đề nghị cuộc sống lứa đôị Liễu Phúc không ngần ngại thố lộ chuyện đời tư của mình cho người yêu nghẹ Thì ra trước đây vì một chuyện bất bình, Liễu Phú can tội sát nhân có một người đàng bà chứng kiến. Người đàn bà ấy buộc Liễu phải lấy bà ta làm vợ nếu không thì bà ta sẽ đi tố cáo Liễụ Vì không muốn vương vào vòng tù tội nên Liễu PHú đành chấp nhận lấy người đàn bà ấy làm vợ, sống chung với nhau ở Trường Sa; nhưng chẳng có hạnh phúc gì cả.
Nghe xong chuyện của người yêu, Vương Ấu Ngoc. bằng lòng bỏ ra hai trăm vạn tiền cho Liễu Phú giải quyết dứt khoát với người đàn bà ấy để chung sống với nàng. Để có được số tiền đó Vương Ấu Ngọc phải bán hết tư trang của nàng cộng với số tiền nàng dành dụm bấy lâụ
Liễu Phú trở về Trường Sa dứt khoát với vợ rồi quay lại Hoành Dương chung sống với Vương Ấu Ngọc. Bấy giờ tiền bạc của cải đã hết sạch, Vương Ấu Ngọc đành phải lưu lại kỹ viện để tiếp khách. Tuy nhiên, cuộc sống của Vương và Liễu rất hạnh phúc. Vương định rằng vài bốn năm sau, khi đã dành dụm đưo8.c một số vốn kha khá thì nàng sẽ giã từ kỹ viện đễ cùng Liễu Phú xây dựng một cuộc sống vợ chồng bình thường như bao nhiêu cặp vợ chồng bình thường khác trên đờị
Hai người hư*?ng hạnh phúc với nhau chưa đư*.c bao lâu thì Liễu Phú nhận được tin cha chàng qua đờị Vậy là Liễu phải về Lạc Dương để cư tang chạ Lúc chia tay nhau, Vương Âu Ngọc nói:
- Thiếp sẽ chờ chàng, dù thời gian bao lâu thiếp cũng vẫn chờ.
Sau đó Vương Ấu Ngọc cũng dành dụm được một số ít của cải, nàng mạnh dạn rời bỏ kỸ viện, mướn một căn nhà nhỏ ở ngoại vì thành Hoành Dương sống âm thầm chờ đợi Liễu Phú, với nghề may thuê vá mướn.
Liễu Phú đi đã nửa năm mà chẳng có một tin tức gì cho Vương Ấu Ngọc khiến nàng sầu khổ vô cùng. Bạn be của Vương cho rằng Liễu Phú là kẻ bạc tình, khuyên Vương nên trở lại kỹ viện thi thố tài năng. Vương Ấu Ngọc không nghe và nhất định bênh vực người yêu, cho rằng Liễu Phú không phải là một kẻ bạc tình bội nghĩạ
Rồi một năm trôi qua, Liễu Phú vẫn bặt vô âm tín. Bấy giờ Vương Ấu Ngọc cắt một lọn tóc bỏ vào phong thư thuê người về La,.c Dương tìm Liễu Phú. Niều ưu uất của sự tương tư đã làm cho Vương Ấu Ngọc bắt đầu tiều tụy, võ vàng...
Về phần học Liễu, quả thật chàng không phải là kẻ bạc tình. Khi từ giả Vương Ấu Ngọc về tới Lạc Dương thì Liễu bị bắt hạ ngục, vì sự tố cáo của người đàn bà mà chàng dứt khoát trước kiạ Thế là từ đó chàng bị cắt đứt hoàn toàn với bên ngoài thì làm sao liên lạc với Vương Ấu Ngọc được ?
Người được Vương Ấu Ngoc. thuê đi tìm Liễu Phú cũng chẳng biết tung tích của chàng ở đâu nên đành về không. Vương Ấu Ngọc quá đau khổ nên một ngày kia nàng ngã bê.nh. Tiền bạc ngày một vơi đi mà bệnh tình thì trầm trọng thêm chớ không thuyên giảm
Chuyện tình khổ đau của VươNg Ấu Ngọc được lan truyền khắp vùng Tương giang. Nhiều tay phú thương vốn si mê nàng từ lâu, nay nhờ mai mối đến xin kết hôn với nàng nhưng tất cả đều bị Vương từ chốị Nàng nhất định giữ lòng chung thủy với Liễu Phú. Tiền bạc cạn sạch, Vương đành ôm đàn ra đứng ở đầu chợ đàn hát kiếm ăn độ nhật.
Giữa lúc ấy thì có một thương nhân từ Lạc Dương tới, tìm Vương Ấu Ngọc và trao cho nàng một bài từ của Liễu Phú gởi cho nàng. Bài từ rằng:
"Nhân gian tối khổ, tối khổ thị phân ly
Quân đi ngã, ngã ái quân, thanh tháo nga đầu nhân độc lập
Hoa thuyền đông khứ lỗ thanh trì
Sở thiên đê, hồi vọng xứ lưỡng y y
Hậu hội dã tri câu hữu nguyện, vị tri hà nhật thị giai kỳ, tâm hạ sự loạn như ti,
Hảo thiên lương dạ hoàn hư hoá, cô phụ ngã, lưỡng tâm tri nguyện quân gia, ai trường tại nhất song phị"
(Điều khổ nhất nhân gian là cánh phân ly
Tôi yêu em, em yêu tôi, ngọn cỏ xanh mướt đầu sông, một mình đứng ngóng trông con thuyền lặng lẽ xuôi về đông, tiếng bơi chèo chầm chậm.
Trời nước Sở nặng u buồn, người đứng vọng phía xa lòng cô tịch,
Ngày nào gặp nhau chúng ta sẽ hiểu, nhưng bao giờ chúng ta mới được hội ngộ, tâm sự rối như tơ,
Hôm nay đêm mai trôi mãi, dù em có phụ tôi thì tâm hồn tôi vẫn nguyện được cùng em như chim liền cánh).
Biết người yêu vẫn còn tưởng nhớ đến mình, Vương Ấu Ngọc lấy làm sung sướng lắm và nàng đã học thuộc bài từ của chàng. Nàng hy vọng một ngày nào đó sẽ được tái ngộ người yêụ Hàng ngày Vương Ấu Ngọc vẫn ôm đàn ra chợ hát ca với niềm phấn khởi trong tâm hồn, mặc dù bệnh tình của nàng không hề thuyên giảm. Nàng hát bài từ của Liễu Phú khiến ai nghe cũng mũi lòng khó cầm được nước mắt.
Nửa tháng sau ngày nhận được tin tức người yêu, Vương Ấu Ngọc trút hơi thở cuối cùng vì bịnh tình đã quá trầm tro.ng. Trong cây đàn của người kỹ nữ tài sắc ấy, người ta tìm thấy bài từ ai oán của người yêu nàng...
Tin Vương Ấu Ngọc từ trần khiến cả htành Hoành Dương xônn xaọ Từ bạn bè cho đến những kẻ ái mộ nàng lâu nay, không ai là không tỏ lòng thương tiếc. Người ta chun g tiền xây cho nàng một ngôi mộ tuyệt đẹp, dựng một tấm bia đơn giản: "Liễu thị phu nhân chi mộ".
boteo
05-11-2003, 02:20 PM
"Sông tương một giải nông sờ
Bên trông đầu nọ, bên chờ cuối kia"
Bt đọc cái câu này thấy hình như có cái gì đó không có ổn Qcluu sư huynh. Con sông nông, cạn đến "sờ" đến đáy được thì có cách trở gì mà hổng sang ? Hổng lẻ chàng Kim sợ Vương viên ngoại (nuôi cho dzữ :p) nên lòng muốn mà chân hổng dám đi ????
qcluu
05-11-2003, 08:18 PM
Cám ơn anh Boteo đã chỉ ra những điểm hay này! QCLuu coi kỹ lại sách thì hai câu này là đúng y chang như vậy đó anh Boteo! Như anh Boteo nói, nếu sông tương mà cạn như vậy thì sao Kim và Kiều hong mau mau mà đi qua gặp nhau chứ đâu phải chịu cảnh "Bên Trông đầu nọ, bên chờ cuối kia". Có phải chăng sự chia cách kia là một sự chia cách vô hình nào đó như anh đã nói ??? Cũng như lời của tác giả đã nói ở post đầu tiên “Quyển sa’ch này chỉ trình bày những điển ti’ch được dùng trong truyện Kiều mà thôi, không giải nghĩa hê’t những từ ngữ kha’c; vì sự hiểu biê’t của soạn giả cũng chỉ co’ giơ’i hạn."
Hơn nữa, Q. không rành về tình tiếc khúc này cho lắm và chỉ muốn đưa ra một vài câu thơ đề cặp đến "Sông Tương" để nói rõ thêm về điển tích này, nên nếu ACE nào rành rõ thêm về tình tiết này xin đóng góp thêm để mình cùng nhau học hỏị QCLuu xin cám ơn trước.
qcluu
05-12-2003, 08:38 PM
"Ví chăng duyên nợ BA SINH
Làm chi những thói khuynh thành trêu ngươị"
(Câu 257, 258. Kim Trọng tương tư Kiều)
Dạy rằng: "Hương lửa BA SINH
Dây loan xin nối cầm lành cho ai"
(Câu 2581, 2582. Hồ Tôn Hiến nói với Kiều)
BA SINH: Ba kiếp sống luân hồi của con người theo thuyết nhà Phật là quá khứ, hiện tại và tương laị
Sách Truyền Đăng lục chép: Có một người nằm mộng thấy mình đến một chân núi đá no.. Ở đo; có một nhà sư đang ngồi và trước mặt nhà sư có một cây hương. Nhà sư bảo người nọ rằng: "Cây hương này chính là của ông kết nguyện đấỵ Hương còn cháy mà ông đã trải qua bao đời rồi".
Sách "Cam Trạch Dao" lại có câu chuyện như sau:
Lý Nguyên và Viên Trạch là người đời Đường. Một hôm hai người đi chơi núi Tam Giáp, gặp một người đàn bà gánh nước giếng. Viên Trạch chỉ người đàn bà ấy và nói với Lý Nguyên:
- Người đàn bà ấy là nơi thác thân của tôiụ Mười hai năm sau, tôi sẽ gặp lại anh tại mé ngoài chùa Thiên Trúc ở Hàng Châụ
Đêm hôm ấy Viên Trạch mất.
Mười hai năm sau, Lý Nguyên nhớ lời nói của Viên Trạch thưở xưa nên đến ngay nơi hẹn ước của Viên. Đến nơi, Lý Nguyên trông thấy một đứa trẻ chăn trâu hát nghêu ngao rằng: "Tam sinh thạch thượng cựu tinh hồn, thử thân tuy dị tà'nh trường tồn". (Hồn tinh anh cũ gởi đá ba sinh, thân này tuy khác nhưng tính tình vẫn như xưa). Lý Nguyên biết ngay đứa trẻ chăn trâu ấy chính là Viên Trạch thác sinh.
Duyên nợ ba sinh hay hương lửa ba sinh là ý nói duyên nợ vợ chồng do tiền định
KHUYNH THÀNH: Xem tích "Nghiêng Nước, Nghiêng Thành (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=542635#post542635)"
qcluu
05-13-2003, 07:35 PM
Cung thương làu bậc ngũ âm
Nghề riêng ăn đứt HỒ CẦM một chương.
(câu 31, 32. Tài nghệ của Kiều)
"Quá quan ngày khúc CHIÊU QUÂN
Nửa phần luyến chúa, nửa phần tư giạ"
(Câu 379, 340. Kiều gảy đàn cho Kim Trọng nghe).
HỒ CẦM và CHIÊU QUÂN: cây đàn Tì bà và nàng Chiêu Quân. Sở dĩ cây đàn Tì bà được gọi là Hồ Cầm là vì khi nàng Chiêu Quân khi bị cống sang Phiên Quốc (Rợ Hồ) thường dùng cây đàn ấy để giải sầụ
Chiêu Quân tên thật là Vương Tường, người Nam quận đời Hán Nguyên Đế. Mười bảy tuổi đã nổi tiếng nhan sắc nết na; được tuyển vào cung vuạ
Thời bấy giờ số cung nhân quá nhiều, Hán Nguyên Đế không làm sao "dùng" hết và cũng chẳng biết phải chọn ai, bỏ aị Nhà vua bèn sai bọn hoạ nhân của Mao Diên Thọ vẽ hình các cung nhân, để khi nào nhà vua thấy thích nàng nào thì cho đòi nàng ấy và mà "ngự hạnh". Vì vậy, đám cung nhân đua nhau đút lót tiền bạc cho bọn Mao Diên Thọ để được bọn hoạ nhân tô chuốc cho đẹp thêm, hầu được giáp mặt đấng quân vương. Riêng nàng Vương Tường cậy vào nhan sắc hơn người nên không thèm xu phụ, đút lót bọn hoạ nhân. Vì thế bọn hoạ nhân vẻ ảnh nàng xấu đi nên nàng không được nhà vua chiếu cố đến.
Nhân dịp chúa Thiền Vu nướng Hung Ngô vào chầu Nguyên đế, tỏ ý muốn xin một người con gái Trung nguyên làm vợ và được nhà vua bằng lòng ban chọ Vua ra lệnh trong đám cung nhân của ngài ai muốn sang Hung Nô làm vợ Thiền Vu thì ngài cho đị
Vương Chiêu Quân tiến cung đã mấy năm nhưng chưa hề một lần được hưởng ơn mưa móc nên có lòng hờn oán nhà vua, tìn nguyện sang Hồ.
Lúc sắp lên đường, Nguyên đế cho mở tiệc lớn ở sân triều đình, đòi Chiêu Quân đến cho Thiền Vu nhận mặt. Chiêu Quân trang điểm lộng lẫy và xuất hiện. Dung nhan của nàng đã làm cho cả triều thần của Nguyên đế choáng ngợp. Cả Hán Nguyên Đế, bây giờ mới biết được dung nhan thật của chiêu Quân thì cảm thấy tâm hồn ngất ngây, tiếc nuối vô cùng. Nhưng đã lỡ hứa với Thiền Vu rồi nên nhà vua phải giữ uy tín, bấm bụng để cho Chiêu Quân ra đị Hơn nữa, lúc ấy rợ Hung Nô đang ở thế mạnh, Hán Nguyên Đế cũng hơi ớn, không muốn có cuộc ca qua xảy ra giữa hai nước.
Sau cuộc trình diện ở sân triều, Chiêu Quân thay xiêm y bằng nhung phục, ôm đàn tỳ bà cỡi ngựa theo Thiền Vu về đất Hung Nộ Ra khỏi cửa ải, Chiêu Quân gửi về Hán Nguyên Đế một bức thư, lời lẽ như sau:
"Thần thiếp trước kia được tuyển vào dịch đình, những tưởng tấm thân bồ liễu này được nương bóng nhật nguyệt, thì dù có chết cũng còn được thơm lâỵ Chẳng ngờvì thất ý với bọn hoạ nhân, đến nỗi phải nổi trôi ra miền tuyệt vực, thật là một sự oan uổng vô cùng. Nếu như phải bỏ tấm thân hèn này mà đền đáp một chút ơn của đấng quân vương thì thần thiếp cũng không quản ngạị Chỉ tiếc cho công việc truất trắc, nhà vua lại giao cho bọn thợ hèn, để nay thần thiếp phải ngoảnh mặt về phía Nam, trông bóng cửa ải nhà Hán mà không sao khuây được nỗi đớn đaụ Nay ở nhà thần thiếp còn cha và em, cúi xin bệ hạ rũ chút lòng thương chiếu cố ..."
Hán Nguyên Đế xem thư càng thương tiếc Chiêu Quân, rồi đâu ra tức giận bọn Mao Diên Thọ nên hạ lệnh giết chết hết bọn ấỵ
Sống trên đất Hồ, Vương Chiêu Quân còn làm một bài thơ như sau:
"Lá vàng điếm bóng lá xanh
Con chim trên núi đậu cành cây dâu
Chim nuôi lông cánh từ lâu,
Hình dung ngày một thêm màu tươi xanh
Một phen vượt lối mây xanh
Phòng sâu, cung thẳm nép mình ở trong
Tấm thân đã hết vẫy vùng
Ăn ngon khôn chuộc nỗi lòng đau thương.
Biết sao, đi lại trái thường
Chiếc thân con én, đất mường xa baỵ
Ngọn núi cao, nước đong đầy
Mẹ cha có thấu lòng này cho chăng?
Đường xa xa tít muôn trùng
Lòng thơ siết nỗi bâng khuâng ngậm ngùi..."
Vương Chiêu Quân ăn ở với Thiền Vu sinh được một đứa con trai, đặt tên là Thế Vị Khi Thiền Vu chết, Thế Vị nối ngôi cha làm vua Hung Nộ
Theo tục lệ của Hung Nô, cha chết thì con trai phải lấy mẹ làm vợ Chiêu Quân là người Hán tộc làm sao chấp nhận được sự loạn luân ấỵ Nàng hỏi con:
- Mày muốn làm người Hán hay làm người Hung Nô ?
Thế Vị đáp rằng muốn làm người Hồ nên Chiêu Quân uống thuốc độc tự tận. Trên dãy đất Hung Nô mênh mông, tất cả cỏ luôn luôn có màu vàng úa; chỉ riêng cỏ trên nắm mồ Vương Chiêu Quân lúc nào cũng một màu xanh. Truyền thuyết dân gian bảo rằng đó có lẽ do tấm lòng phẫn uất của nàng mà ra...
qcluu
05-15-2003, 05:05 PM
"Nghề riêng nhớ ít tưởng nhiều
Xăm xăm đè nẻo LAM KIỀU lần sang."
(Câu 265 - 266. Kim Trọng đi tìm Kiều)
Chén hà sánh giọng QUỲNH TƯƠNG
Dải là hương lộn bình gương bóng lồng.
(Câu 453-454. Kim Kiều tương ngộ)
"CHÀY SƯƠNG chưa nện CẦU LAM
Sợ lần khân quá ra sờm sỡ chăng"?
(Câu 457-458. Kim Kiều tương ngộ)
Rằng: "Mua ngọc đến LAM KIỀU
Sinh nghi, xin dạy bao nhiêu cho tường"?
(Câu 643-644. Mã Giám Sinh mua Kiều)
LAM KIỀU: Cây cầu bắc qua sông Lam thuộc tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc
QUỲNH TƯƠNG: tên một loại rượu quý
CHÀY SƯƠNG: Chày ngọc để giã thuốc Huyền Sương.
Truyện tích Chày sương, Cầu lam theo sách Tình sử như sau:
Năm Trường Khánh đời vua Mục Tông nhà Đường, có chàng Tú Tài tên Bùi Hàng thường mặc áo xanh Tư mã Giang Châu đi chơi đây đó với mục đích kén vợ
Một ngày kia Bùi Hàng đi về hướng Tây Bắc tỉnh Thiểm Tây, trông thấy một người đàn bà trạc tứ tuần nhưng nhan sắc còn khá mặn mà, đang ngồi tỉa hoa trong một túp lều tranh. Họ Bùi bèn xuống ngựa, lân la hỏi thăm những ngưo8`i chung quanh thì được biết thiếu phụ ấy là Vân Kiều phu nhân.
Phần Vân Kiều phu nhân, vố từ lâu cũng biết anh chàng Tú Tài họ Bùi kia rày đây mai đó để tìm người đẹp se tơ kết tóc. Trong khi Bùi Hàng còn đang đứng ngắm nhan sắc của Vân Kiều một cách say sưa thì nàng viết bốn câu thơ vào giấy rồi sai người nhà đem ra trao cho họ Bùị Thơ rằng:
"Nhất ẩm Quỳnh tương bách cám sinh
Huyền sương đáo tận kiến Vân Anh
Lam Kiều bán thị thần tiên quật
Hà tất kỳ khu thượng ngọc kinh".
(Uống chén Quỳnh tương trăm cánh sinh
Giã tan sương tím, thấy nàng Anh
Cầu Lam chốn ấy thần tiên ở
Cần chi vất vả đến Ngọc kinh).
Bùi Hàng xem thơ rất lấy làm ngạc nhiên, không hiểu tại sao Vân Kiều phu nhân lại biết rõ tâm can mình. Theo lời thơ thì rõ ràng Vân Kiều phu nhân bảo mình tới Lam kiều, sẽ gặp nàng Vân Anh nào đó và sẽ thành duyên giai ngẫụ Thế là chàng lên đường và cứ hỏi thăm hướng Lam kiều mà tiến.
Đi mãi đến lúc trời tối mà vẫn không thấy Lam kiều đâu, Bùi Hàng đành vào trọ ở một quán nhỏ bên đường. Đêm hôm ấy Bùi Hàng không thể nào chợp mắt được vì lòng cứ rạo rực với những lời thơ của Vân Kiều phu nhân.
Sáng sớm hôm sau Bùi Hàng tiếp tục lên đường. Đi được một đỗi đường chàng quay nhìn lại thì không còn trông thấy ngôi quán đâu cả, sau lưng chàng chỉ là một rừng cây bát ngát. Còn trước mặt chàng lại hiện ra một con sông lớn có một chiếc cầu bắc ngang. Trước cảnh lạ lùng ấy Bùi Hàng rất lấy làm phân vân trong lòng nhưng cứ giục ngựa tiến bước.
Tiến tới gần bên chiếc cầu, Bùi Hàng trông thấy hiện ra một chiếc quán lá nhỏ giữa một vườn dâụ Chủ quán là một bà lão đầu tóc bạc phơ nhưng dáng dấp có vẻ thanh thoát như tiên. Bùi Hàng xuống ngựa, cột ngựa vào một gốc cây rồi ung dung bước vào quán xin nước uống.
Lão bà chủ quán niềm nở chào khách và gọi co gái đem nước rạ Từ sau vườn dâu, mộ,t người con gái tuyệt đẹp bước ra khiến Bùi Hàng nhìn ngơ ngẩn không nháy mắt. Người con gái đẹp hai tay bưng chén ngọc đựng nước mời Bùi Hàng uống. Bùi Hàng ngây ngất và mở lời hỏi thăm tông tích người đẹp thì bà lão vội vàng lên tiếng:
- Con bé này tên là Vân Anh, em của Vân Kiều phu nhân, người đã tặng cho cậu bài thơ ngày hôm qua đó.
Bùi Hàng nghe thết mừng quá, vội vàng lấy bài thơ của Vân Kiều trao cho bà lão xem và ngỏ xin cưới Vân Anh làm vợ
Bà lão cưỜi nói:
- Ta chỉ có hai người con gái, Vân Kiều đã nên gia thất rồi, chỉ còn có Vân Anh đây sớm hôm hầu hạ .Nếu quả là duyên tiền định thì mụ đây cũng không ngăn trở. Nhưng cậu muốn cưới con gái mụ thì phải nạp sinh lễ đấỵ
Bùi Hàng mừng như mở cờ trong bụng, hỏi ngay:
- Xin bà lão đây cho tiểu sinh biết phải nộp bao nhiêủ
Bà lão hấp háy mắt, lên tiếng:
- Sính lễ không phải là vàng bạc nhưn là một chiếc chày ngọc đễ giả thuốc Huyền sương của mụ
Rồi bà đưa ra một chiếc cối ngọc và nói tiếp:
- Cái chày phải hợp với cái cối nàỵ
Bùi Hàng nhìn kỹ chiếc cối ngọc một lúc rồi xin cáo từ lão bà và Vân Anh để lên đường tìm chày ngọc. Một người một ngựa, viên Tú Tài họ Bùi rong ruỗi khắp nơi không biết mỏi mệt. Sau nhiều ngày tháng đi khắp đó đây, một ngày kia Bùi Hàng lại gặp một chiếc quán nhỏ bên đường. Chàng dừng chân vào quán xin nghỉ qua đêm thì thật may thay, trông thấy bà lão ngồi giữ quán tay cầm một chiếc chày ngọc mà miệng hát nghêu ngao rằng:
"Chày sương ta có
Ai muốn cần dùng
Duyên thắm chỉ hồng
Cầu Lam đợi khách".
Bùi Hàng mừng rỡ vội vàng thi lễ trước mặt bà lão, nói:
- Dám thưa lão bà, tiểu sinh đã cực khổ mấy tháng trời nay đi tìm chày ngọc để làm vật sính lễ ở cầu Lam. Nay may mắn được gặp lão bà có chày ngọc, xin lão bà thương tình giúp cho tiểu sinh được toại nguyện.
Bà lão cười đáp:
- Chày ngọc không phải là thứ dễ tìm, nếu kẻ đi tìm nó không thành tâm thiện ý. Nay ta thấy công tử là người kiên tâm bền chí thì quả là công tử có duyên tiền định với nàng Vân Anh. Vậy tao cũng không hẹp lượng gì mà chẳng giúp công tử.
Bào lão nói xong liền trao chiếc chày ngọc cho Bùi Hàng. Sáng hôm sau Bùi Hàng tạ từ bvà lão đem chày ngọc trởi lại Lam kiềụ Cũng giống như lần trước, đi một đỗi đường quay mặt nhìn lại thì Bùi Hàng không còn thấy chiếc quán đâu cả, mà chỉ thấy một rừng dâu xanh ngắt một màụ Còn trước mặt chàng thì cũng lại một dòng sông uốn khúc. Bùi Hàng men theo ven sông và về đến Lam Kiềụ Chàng dâng chiếc chày ngọc cho mẹ của Vân Anh.
Và cụ đem cối ra ướm chày vao thì rất hợp. Bà vui mừng cho Bùi Hàng làm lễ thành hôn với con gái mình là nàng Vân Anh.
qcluu
05-21-2003, 03:15 PM
"Thâm nghiêm kín cổng, cao tường
Cạn dòng LÁ THẮM, dứt đường CHIM XANH"
(Câu 267, 268. Kim Trọng đi tìm Kiều)
"Dù khi LÁ THẮM, CHỈ HỒNG
Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha".
(Câu 333, 334. Kiều trò chuyện với Kim Trọng)
Nàng rằng: "HỒNG THIỆP, XÍCH THẰNG
Một lời cũng đã tiếng rằng tương tri".
(Câu 459, 460. Kiều nói với Kim Trọng)
"Vẻ chi một đoá yêu đào
Vườn hồng đâu dám ngăn rào CHIM XANH".
(Câu 503, 504. Kiều nói với Kim Trọng)
Cạn lời khách mới thưa rằng:
"Buộc chân thôi cũng XÍCH THẰNG nhiệm trao".
(Câu 903, 904. Mã Giám Sinh nói với Vương ông)
Tan sương vừa rạng ngày mai
TIỆN HỒNG nàng mới nhắn lời gởi sang.
(Câu 1083, 1084. Kiều nhắn Sở Khanh)
Duyên em dù nối CHỈ HỒNG
May ra khi đã tay bồng tay mang.
(Câu 2243, 2244. Kiều nhớ nhà)
LÁ THẮM hay LÁ HỒNG (Hồng Diệp) là để chỉ sự liên lạc thư từ giữ trai, gái mà kết nên tình duyên vợ chồng với nhaụ
Có rất nhiều điển tích về chuyện Lá Thắm:
1. Chuyện lương duyên của Hàn phu nhân gốc ở: Thi Thoạị Hàn phu nhân tên là Hàn Thúy Tần, cung nhân của vua Đường Hy Tông (Phu nhân là tước vua ban). Vì nhà vua có rất nhiều cung nhân (hơn ba ngàn người) nên Hàn thị dù đã được tiến cung lâu rồi mà vẫn chưa được hưởng ơn "mưa móc".
Quá buồn duyên tủi phận, một hôm Hàn thị thơ thẩn dạo chơi bên ngòi ngự trong cung. Nhình dòng nước chảy ra ngoài thành, lòng Hàn Phu nhân càng cảm xúc bâng khuâng bèn nhặt một chiếc lá úa, lấy bút đề thơ vào đấy rồi thả trôi theo dòng nước. Thơ rằng:
"Nước trôi sao vội dường này
Cung sâu luống những nguy ngày ngồi không.
Ân cần khuyên chiếc lá hồng
Mau mau đi quách ra dòng nhân gian"
Chiếc lá có đề thơ ấy trôi ra ngoài thành và được một chàng trai trên Vu Hựu bắt gặp. Vu Hựu xem thơ biết là của cung nhân than thân trách phận. Chàng cất chiếc lá ấy vào trong rương rồi lấy một chiếc lá khác cũng đề thơ vào rồi lên trên đầu ngòi thả chiếc lá cho trôi vào cung. Thơ rằng:
"Đã hay lá thắm đề thơ
Thơ đề trên lá, định đưa người nào ?"
Chiếc lá của Vu Hựu trồi vào ngòi ngự trong cung và Hàn phu nhân lại bắt gặp. Nàng lấy làm lạ lắm bèn đem chiếc lá cất kỹ.
Mười năm sau, Đường Hy Tông thải bớt một số cung nữ ra khỏi cung, cho đi lấy chồng. Hàn phu nhân may mắn nằm trong số cung nhân được thảị
Lúc bấy giờ Vu Hựu là môn khách của Hàn Vịnh, một viên quan của triều đình. Hàn Vịnh lấy tình đồng họ với Hàn Thúy Tần nên đứng ra làm mối nàng nên duyên cầm sắt với Vu Hựụ
Trong đêm hợp cẩn, Hàn Thúy Tần và Vu Hựu cùng lấy hai chiếc lácó đề thơ trao cho nhau xem và cùng nhận rằng quả là duyên tiền đi.nh. Hàn Thúy Tần cao hứng ứng khẩu đọc mấy câu thơ:
"Một đôi thi cú theo dòng nước
Mười mấy xuân thu nhớ dẫy đầy
Mừng bấy ngày nay loan sánh phượng
Cũng nhờ lá thắm khéo làm mai"
==========================
2. Câu chuyện tình trắc trở của đôi trai tài gái sắc Kim Ngọc và Kiều Nga được sách Tình sử kể như sau:
Thời Chiến Quốc, Kiều Công Di làm quan Thái Thú đất Tây Đô thuộc nước Sở . Kiều Thái Thú có một cô con gái tuyệt đẹp tên là Kiều Ngạ
Một ngày nọ, tiểu thư Kiều Nga bị "tiếng sét ái tình" với một chàng thư sinh tên Kim Ngọc ở ngoài thành. Hai người thương cảm nhau nhưng Kim Ngọc vốn là một thư sinh nghèo không thể nào gần gũi Kiều Nga đê? trút lời tâm sự được. Hàng ngày Kim Ngọc chỉ biết ra đứng trên bờ sông ngoài thành nhìn dòng nước chảy mà buồn cho thân phận. Rồi chàng thư sinh nảy ý hái lá cây đề thơ trên đó thả xuống dòng nước cho trôi vào trong thành.
Phần tiểu thư Kiều Nga ở trong thành cũng thương nhớ ý trung nhân khôn nguôị Ngày nào nàng cũng ngồi trên bờ sông bên trong thành để nhìn nước chảy cho khuây khoả nỗi niềm tâm sự Rồi nàng vớt được chiế lá của Kim Ngọc có thơ thả trôi từ ngoài vàọ Nàng lại há'i lá đề thơ và thả xuống nước cho trôi trở rạ Bên ngoài thành, Kim Ngọc vẫn ngày ngày ngồi nơi bờ sông và vớt được chiếc lá đề thơ của tiểu thư Kiều Ngạ Thế là sông ấy đã trở thành một dòng Lá Thắm để cho đôi tình nhân Kim Ngọc, Kiều Nga ngày ngày thư từ cho nhaụ
============================
3. Chuyện chàng Lư Ốc: Cũng thời nhà Đường, triều vua Tuyên Tông, có chàng Lư Ốc là một thư sinh, vớt được lá có đề thợ Năm ấy chàng Lư Ốc đến kinh đô Tràng An để thi HỘi, chàng vớt được dưới dòng ngòi trong kinh thành một chiếc lá có đề một bài thợ Chàng Lư không cho là việc lạ nhưng vẫn giữ kỹ chiếc lá có đề thơ ấỵ
Về sau triều đình thải một số cung nhân. Lư Ô;c cưới vợ và lại cưới nhằm một trong số những cung nhân được xuất cung. Điều ngẫu nhiên hơn nữa là chính vợ Lư Ốc là tác giả của bài thơ đề trên lá mà chàng vớt được trước đâỵ
==============================
4. Chuyện danh sĩ Hầu Kế Đô: Cũng đời Đường, danh sĩ Hầu Kế Đô một hôm đi vãng cảnh chùa Đại Từ ở kinh đô Tràng Anh. Khi chàng đang đứng trên lầu chuông nhìn ngắm cảnh vật chung quanh thì có một chiếc lá ngô đồng lớn từ đâu bay tới và rơi xuống cạnh chân chàng. Hầu nhặt chiếc lá lên và thấy trên mặt chiếc lá có một bài thợ Chàng giữ chiếc lá có đề thơ ấy đem về cất kỹ.
Vài bốn hôm sau, Hầu Kế Đô cưới nàng Lâm thị làm vợ Khi Lâm thị thấy chồng khoe chiếc lá đề thơ mà trước kia chàng nhặt được trên lầu chuông chùa Đại Từ, thì nàng Lâm nhận mình là tác giả bài thơ ấỵ Rõ ràng chiếc lá có đề thơ đó là bà mai mối của cuộc tình Hầu - Lâm.
================================
CHIM XANH: đê? chị việc truyền tin tức từ xạ
Tích Hán Vũ Đế một hôm ngự vườn Thượng uyển, bỗn có hai con chim xanh từ đâu bay đến đậu gần. Nhà vua lấy làm lạ, Đông Phương Sóc bèn tâu rằng:
- Đó là sứ giả báo tin bà Tây Vương Mẫu sắp đến đấỵ
Quả nhiên một lúc sau có bà chúa tiên là Tây Vương Mẫu đến thật.
=================================
Tích thứ hai về Chim đưa tin là chuyện Tô Vũ chăn dê ngoài ải Bắc nướ Hồ (Hung Nô).
Tô Vũ tự là Tử Khanh, người đất Đỗ Lăng đời Hán Vũ Đế, vâng lệnh nhà vua đi sứ Hung Nộ Bấy giờ ở Hung Nô có Lý Lăng và Vệ Luật là hai tôi thần nhà Hán nhưng đã đầu hàng rợ Hồ rồị
Khi Tô Vũ sang đến Hung Nô, chúa Thiền Vu bảo Lý Lăng và Vệ Luật dụ hàng Tô Vũ nhưng họ Tô không thuận. Thiền Vu nổi giận, cho bắt Tô Vũ giam vào hang, ba ngày không cho ăn uống để Tô Vũ đói mà chết. Tô Vũ vuốt sương đọng trên ngù cờ treo ngoài miệng hang uống nên không chết.
Thiền Vu thấy Tô Vũ không chết, tướng ông là thần thánh nên không dám mưu hại nữa; nhưng lại đày ông lên ải Bắc chăn dê và bảo rằng khi nào dê đực đẻ được thì mới cho Tô Vũ về.
Tô Vũ ở ngoài ải Bắc, viết thư buộc vào chân chim nhạn gửi về cho Hán Vũ Đế. Nhờ vậy mà vua biết Tô Vũ còn sống.
Mười chín năm sau, nhà Hán và Hung Nô mới hoà thuận lại với nhạ Bấy giờ Tô Vũ mới được chúa Thiền Vu tha cho về cố quốc.
=================================
CHỈ HỒNG (XÍCH THẰNG): là sợi chỉ đỏ, chỉ sự kết nối, ràng buộc lương duyên chồng vợ
Truyện Vi Cố: Vi Cố, người đất Đỗ Lăng đời nhà Đường mồ côi cả cha lẫn mẹ từ thưở nhỏ. Lớn lên Vi Cố muốn lấy vợ sớm để có người nâng khăn sửa túị
NăM Trinh Quán thứ hai đời Đường Hy Tông, Vi Cố đi chơi Thanh Hà, gặp ngưo8`i quen ngỏ ý muốn làm mai chàng cho con gái của quan Tư mã Thanh Hà. Người ấy hẹn Cố sáng sớm hôm sau đến chùa Long Hưng ở phía Nam thành Thanh Hà để tính chuyện ấỵ
Khuya hôm sau, Vi Cố đã có mặt trước chùa Long Hưng. Dưới ánh trăng vằng vặc, Cố trông thấy nơi thềm cổng chùa có một cụ già ngồi xem sách, bên cạnh cụ già có một chiếc bọc lớn. Vi Cố tò mò đến gần cụ già và nhìn vào sách nhưng không đọc được chữ nào cả. Chàng bèn hỏi ông già:
- Thưa cụ, cụ đọc sách gì ạ ? Tiểu sinh vốn sách đèn từ nhỏ nhưng nhìn các chữ này thấy lạ quá, không hiểu được.
Cụ già cười đáp:
- Không phải sách của cõi thế gian, làm sao anh hiểu được.
- Vậy là sách gì, thưa cụ ?
- Sách của cõi u minh đấỵ
Vi Cố lại hỏi:
- Cụ là người của cõi u minh, sao lại đến được chốn nàỷ
Cụ già cười đáp:
- Tại cậu đi sớm quá đấy chứ, giờ này còn là giờ của cõi u minh mà. Quan lại của cõi u minh thường làm việc xem xét việc của người sống cõi trên thế gian.
- Vậy thì cụ coi việlc gì ạ?
- Lão coi việc hôn nhân của thiên ha..
Vi Cố mừng rỡ nói:
- Thưa cụ, cháu mồ côi từ nhỏ, muốn lấy vợ sớm để rộng đường nối dõi, nhưng đã mười năm nay tìm khắp nơi mà vẫn không được toại ý. Hôm nay có người quen hẹn cháu đến đây để bàn chuyện hôn phối với con gái quan Tư mã họ Phan, xin cụ xem giùm coi lần này việc có thành hay không?
Ông già lắc đầu, đáp:
- Việc không thành đâụ Vợ anh năm nay mới lên ba tuổi làm sao lấy chồng. Phải đến năm cô ấy mười bảy tuổi thì mới thành vợ anh được.
Nhìn chiếc bọc lớn bên cạnh ông già, Vi Cố lại hỏi:
- Còn chiếc bọc kia, cụ đựng gì trong ấy ?
- Toàn là những sợi dây đỏ để buộc chân những ai có duyên nợ vợ chồng với nhaụ Chính nhờ những sợi dây đỏ này nên dù ai sinh trong hai gia đình thù nghịch, dù ai nghèo giàu khác nhau, dù ai góc biển chân trời cũng nên nghĩa trăm năm với nhau được. Rồi ông già nhìn thẳng vào mặt Vi Cố,nói tiếp:
- Chân anh đã được buộc dây đỏ rồi, dù anh có đi tìm ở đâu cả trăm lần nữa cũng chẳng được gì đâụ
Nghe ông già nói thế, Vi Cố kính cẩn thưa:
- Vậy thưa cụ, xin cụ làm ơn cho con biết vợ con ở đâu và gia thế ra sao ạ?
- Vợ anh là con gái mụ bán rau ở cổng Bắc chợ Thanh Hà nàỵ
- Cháu cóthể gặp mặt ngay được không ạ ?
Ôn già gật đầu:
- Được. Hãy theo lão, lão sẽ chỉ chọ
Trời đã tờ mờ sáng. Người hẹn với Vi Cố hôm qua không đến. Ông già bỏ cuốn sách vào bọc vải, đứng lên. Vi Cố liền đi theo ông già.
Đến chợ, Cố trông thấy một mụ bán rau lem luốc, tay bế một đứa bé gái ba tuổi, dơ bẩn, xấu xí. Ông già chỉ vào đứa bé, nói với Vi Cố:
- Đấy vợ của anh đấỵ
Vi Cố vừa xấu hổ vừa tức giận, hỏi ông già:
- Cháu giết nó chết đi có được không?
Ông già cười đáp:
- Con bé ấy có mện ăn lộc lớn của trời, làm sao mà giết được.
Nói rồi ông già biến mất.
Vi Cố về nhà mài bén một con dao rồi tìm môt tên giết mướn và bảo:
- Nếu mày chịu vì tao mà giết chết con bé ba tuổi của mụ bán rau ngoài cổng bắc chợ Thanh Hà thì tao sẽ cho mày vạn tiền.
Tên giết mướn nhận lờị Sáng hôm sau nó thủ dao trong người, ra chợ vào lúc đông người và đến ngay mụ bán raụ Thừa lúc ngưo8`i qua kẻ lại chộn rộn, tên giết mướn đâm vào mặt đứa bé một dao rồi bỏ chạy về nhà, nói với Vi Cố:
- Tôi định đâm vào bụng nhưng trượt tay trúng vào mặt.
Vi Cố lại tiếp tục đi tìm vợ, cũng có bao nhiêu vụ mai mối nhưng rốt cuộc không thành.
Thời gian vẫn trôi quạ Mười bốn năm sao, Vi Cố làm việc cho quan Thứ sử VưƠng Tháị HỌc Vương thấy Vi Cố là người hay chữ và mẫn cán nên đem lòng thương, gả con gái chọ Con gai quan Thứ sữ năm ấy mười bảy tuổi, dung nhan diễm lệ
Vi Cố lấy đưỢc vợ đẹp, yêu lắm nhưng có điều chàng lấy làm lạ là nàng luôn luôn cài trên mái tóc một cái hoa trễ xuống, che kín một bên lông mày; kể cả lúc nàng đi tắm cũng giữ như thế.
Một hôm Vi Cố gạn hỏi nguyên dọ Vương tiểu thư nói:
- Thiếp vốn là con nuôi của quan Thứ sử. Năm lên ba lâm cảnh gia biến nhờ có bà vú ẳm chạy trốn nên thoát chết. Để mưu sinh, hàng ngày bà vú ẵm thiếp đi bán rau ngoài chợ Thanh Hà. Một ngày kia có tên vô lại đâm vào mặt thiếp, may mà lưỡi dao chỉ trượt qua thôi, nhưng cũng để lại vết sẹọ Lưu lạc thêm mấy năm nữa thì chú thiếp làm quan Thứ Sử đây tìm được đem về nuôi dưỡng đến ngày nay và gả thiếp cho chàng.
Nghe hết câu chuyện, Vi Cố giật mình hỏi:
- Có phải bà bán rau đó họ Trần không?
Vương tiểu thư gật đầu đáp:
- Vâng, nhưng sao chàng lại biết?
Vi Cố nói:
Đoạn chàng kể lại đầu đuôi câu chuyện cho vợ nghẹ Từ đó, tình yêu của vợ chồng Vi Cố càng gia tăng gấp bộị
============================
TIỆN HỒNG: cũng có nghĩa như Chim Xanh vì ngày xưa hay buộc thư từ, tin tức vào chân chim Hồng nhạn để nó mang đị
qcluu
05-21-2003, 03:38 PM
"Thoa này bắt được hư không
Biết đâu HỢP PHỐ mà mong CHÂU VỀ"
(Câu 305, 306. Kim Trọng đánh tiếng làm quen Kiều)
CHÂU VỀ HỢP PHỐ hay Châu hoàn Hợp phố hoặc có thể nói Hợp phố hoàn châu; có nghĩa là hạt ngọc châu (hay ngọc trai) trở về xứ Hợp phố.
Theo lịch sử Vietnam ta, vào thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất (111 trước CN - 39 sau CN), vào năm canh Ngọ (111 - tr. CN) vua Vũ Đế nhà Hán sai tướng Lộ Bác Đức làm Phục Ba tướng quân đem quân sang đánh nhà Triệụ Triệu Ai Vương thua chạy, nhà Hán chiếm lấy Nam Việt cải làm mGiao Chỉ bộ chia làm 9 quận là:
1. Nam Hải (Quảng Đông)
2. Thương Ngô (Quảng Tây)
3. Uất Lâm (Quảng Tây)
4. Hợp Phố (Quảng Đông)
5. Giao Chỉ (Bắc Bộ và mấy tỉnh ở Bắc Trung bộ)
6. Cửu Chân
7. Nhật Nam
8. Châu Nhai (đảo Hải Nam)
9. Đạm Nhĩ
Ở mỗi quận, nhà Hán đều đặt quan Thái Thú và quan Thứ sử cai trị Các quan lại nhà Hán cai trị ở Giao Châu bộ rất tàn ác. Tương truyền rằng thuở ấy ở quận Hợp Phố có rất nhiều ngọc trân châu (tức ngọc trai). Quan lại cai trị ở đấy thường bắt dân chúng lặn xuống bể mò ngọc trai nộp cho chúng. Vì thế nên bao nhiêu trai ở Hợp Phố đều bỏ đi nơi khác cả.
Về sau có quan Thái Thú tên Mạnh Thường cai trị Hợp Phố có lòng nhân chính hơn các vị quan trước, không bắt dân chúng mò ngọc trai nữa nên các con trai lại trở về vùng Hợp Phố.
qcluu
05-29-2003, 02:32 PM
"Chiếc thoa nào của mấy mươi
Mà lòng TRỌNG NGHĨA KHINH TÀI xiết bao"
(Câu 309, 310. Kiều đáp lời Kim Trọng)
TRỌNG NGHĨA KHING TÀI: Coi trọng nghĩ khí, xem rẻ tiền bạc.
Thời Chiến quốc, Tín Lăng Quân tức công tử Vô Kỵ, con út của Nguỵ Chiêu Vương nổi tiếng là người trọng nghĩ khinh tài, tiếp đãi mọi người rất sốt sắng không phân biệt hèn sang.
Bấy giờ nước Ngụy có một vị ẩn sĩ tên là Hầu Danh, tuổi ngoài bảy mươi, nhà nghèo, làm chân giữ cửa ở Di Môn. Tín Lăng Quân nghe tiếng Hầu Danh là người hiền, liền tự mình đem xe đến nhà kiến; lại dùng hai mươi nén vàng ròng làm lễ ra mắt.
Hầu Danh tiếp Tín Lăng Quân nhưng từ chốiu của lễ nói:
- Lão pu suốt đời nghèo hèn, nhưng quyết không nhận lễ vật của bất cứ aị
Tín Lăng Quân nài ép cách gì cũng không được. Sau đó, để tỏ lòng kính trọng Hầu Danh, Tín Lăng Quân mở một đại yến, mời đủ mặt các công tôn, đại quan đến dư.. Chàng dành một chỗ ngồi danh dự bên tả mình cho Hầu Danh, rồi đích thân đánh xe đến Di Môn đón họ Hầu:
Hầu Danh nhận lờị Khi xe đi ngang chợ, Hầu Danh nói
- Tôi có người bạn tên Chu Hợi làm nghề bán thịt trong chợ, muốn ghé thăm. Công tử có thể đi cùng tôi được chăng?
Tín Lăng Quân tức công tử Vô Kỵ đáp:
- Tôi xin theo tiên sinh
Hầu Danh xuống xe vào chợ đến hàng thịt trò chuyện cùng bạn. Vô Kỵ đứng một bên chờ, sắc mặt vẫn bình thản. Rồi hai người lại lên xe về phú của Vô Kỵ
Vô Kỵ giới thiệu Hầu Danh với khách khứa có mặt. Mọi người biết họ Hầu chỉ là một người giữ cửa ở Di Môn nên tỏ ý xem thường.
Hầu Danh ngồi ngay chẳng nhún nhường. Đoạn ông bưng ly rượu uống cạn rồi nói:
- Lão là quê này phận nghèo hèn, dốt nát nhưng được công tử hạ mình đến đón, chờ lâu trong chợ, lại cho ngồi trên các tân khách. Lẽ ra tôi pha>?i tự xét phận mình không đáng được như thế, nhưng sỡ dĩ tôi không từ chối là cốt để công tử được tiếng là người quý mến kẻ hiền sĩ, là người biết trọng nghĩa khinh tài vậỵ
Các tân khách nghe Hầu Danh nói thế đều cười thầm. Tiệc tan, Hầu Danh giới thiệu với Vô Kỵ bạn mình, Chu Hợi là người hiền. Tín Lăng Quân lại vào chợ yết kiến Chu Hợi nhưng Họ Chu tuyệt nhiên không đáp lễ. Thế mà Vô Kỵ vẫn không tỏ ra buồn phiền, oán trách chi cả.
Người đời sau cho Vô Kỵ Tín Lăng Quân là người biết trọng nghĩ khinh tàị
=========
Ngũ Viên tự là Tử Tu, dắt Công tử Thắng (con Thái tử Kiến) rời Sở trốn sang Ngô để mưu việc báo thù.
Ngũ Viên là một nhân tài của nước Sở thời Chiến Quốc, ai nghe danh cũng đem lòng kính phục. Khi Ngũ Viên bỏ trốn, Sơ Linh Vương truyền vẽ hình bố cáo khắp nơi, hễ ai bắt được Ngũ viên thì được trọng thưởng.
Ngũ Viên nhờ Đông Cao Công lập kế đưa qua khỏi ải Chiêu quan. Trên đường trống sang Ngô, Ngũ Viên và Công tử Thắng gặp một dòng sông lớn, nghĩ rằng khó thoát khỏị Trong lúc đang lo lắng thì chợt thấy một ông lão đánh cá chèo chiếc thuyền con hiện rạ Ông lão hát:
- Ý a... Ý a... Mặt trời đã xế ngang đầu, đôi ta hẹn nhau ý a a... trong bụi laụ
Ngũ Viên mừng rỡ toan gọi ông lão nhưng chợt hiể ra ý nghĩa của câu hát, bèn dắt Công tử Thắng xuống thẳng mé sông, tìm một bụi lau rậm mà chun vàọ Một lúc sau ông lão ghé thuyền vào bờ, lại cất tiếng hát:
- Mặt trời đã xế ý ... a ... lòng ta mong đợi ý .... a ... lòng ta mong đợi ý ... a ... kẻ sang đò.
Ngũ Viên và Công tử Thắng từ trong bụi lau chui rạ Ông lão mời hai người xuống đò rồi nhanh nhẹn chèo thuyền lướt trên dòng nước. Sang đến bờ bên kia, ông lão nói:
- Đêm qua lão nằm mộng thấy sao rơi trong thuyền, biết là hôm nay sẽ có quý nhân sang sông nên phải đón. Vậy tướng quân là ai, xin vui lòng cho lão biết.
Ngũ Viên nói thực tên họ của mình và Công Tử Thắng, cùng hoàn cảnh của mỗi ngườị Ông lão đánh cá nói:
- Trông nét mặtg của nhị vị Tướng quân, lão biết là hai vị đang đói lắm, vậy để lão vào xóm xin cơm cho hai vị dùng đỡ.
Nói xong ông lão cột thuy^`n vào gốc cây rồi nhanh nhẹn đi vào xóm. Ngũ Viên và công tử Thắmng ngồi chờ lâu quá đâm ra sốt ruột. Ngũ Viên nói:
- Lòng người khó lường lắm, chắc gì lão không đi gọi mọi người đến bắt chúng ta ?
Hai người lại bỏ thuy^`n và tìm bụi lau mà núp. Một lúc sau, ông lão trở lại, không thấy hai người khách bèn gọi lớn:
- Hỡi quý nhân, lão không hề có ác tâm, sao quý nhân lại bỏ trốn ?
Ngũ Viên và Công tử Thắng bò ra khỏi bụi laụ Ngũ Viên nói:
- Tánh mạng của chúng tôi hiện thời ở trong tay lão trượng nên chúng tôi phải dè dặt.
Ông lão dọn cơm lên thuyền, Ngũ Viên và Công tử Thắng cùng ngồi vào ăn ngon lành. Sau đó, Ngũ Viên cởi thanh kiếm mang trong người trao cho ^ng lão và nói:
- Thanh kiếm này của tiên vương bao đời trước ban cho dòng họ tôị Ông, cha tôi đeo thanh kiếm này đã ba đời rồị Kiếm báu đáng giá trăm nén vàng ròng, nay tôi xin dùng nó để đền ơn lão trươ.ng.
Ông lão cười lớn, nói:
- Lão nghe vua Sở treo giải, hễ ai bắt được Ngũ Viên thì được thưởng năm trăm nén vàng ròng và phong làm Thượng tướng. Nếu lão là kẻ tham giàu sang phú quý thì đâu có thi ân với Tướng quân. Tướng quân hã giữ thanh kiếm để dùng trong lúc cần thiết. Ngũ Viên lại nói:
- Nếu lão trượng không nhận thanh kiếm thì xin vui lòng cho biết họ tên để sau này tiểu bối còn hậu tạ
Ông lão có vẻ giận nói:
- Lão biết Tướng quân bị hàm oan nên sẵn lòng giúp đỡ. Tướng quân lại coi thường lão, đem ân nghĩ mà xử sự như thế, thật đáng trách.
Ngũ Viên nói:
- Người thi ân bất cầu báo, nhưng kẻ thọ ân không báo đáp tất không bằng lòng.
Ông lão đáp:
- Tướng quân là kẻ có tội với vua Sở bỏ trốn, còn lão là người phiêu lãng trên mặt sông để sinh nhai, tất khó gặp nhau được nữạ Tuy nhiên, nếu sau này chúng ta còn cơ duyên gặp lại nhau thì lão sẽ gọi tướng quân là "người trong bụi lau" và Tướng quân gọi lão là "người đánh cá". Thế cũng là đủ lắm rồi:
- Nếu có quan quân đuổi theo, xin lão trượng chớ tiết lộ
Ông lão đánh cá thở dài đáp:
- Lão đã làm ơn cho tướng quân, sao tướng quân lại còn nghi hoặc. Vậy lão phải chết đi thì tướng quân mới hiểu được lòng lãọ
Ông lão nói xong, quăng mái chèo, lật úp thuyền và trầm mình tự tận. Ngũ Viên hét lớn một tiếng, ngậm ngùi than:
- Ôi thương thay, ta nhờ lão mà sống, còn lão vì ta mà chết.
Đời sau cho ông lão đánh cá là một người trọng nghĩa khinh tàị
qcluu
05-29-2003, 06:30 PM
BẬC MÂY dón bước ngọn tường,
Phải người hôm nọ rõ ràng, chăng nhe ?
(Cầu 319, 320 Kim Trọng và Kiều gặp nhau)
BẬC MÂY hay THANG MÂY (Vân Thê) là một cái thang cao để bắt lên trường thành. Điển cố Trung Hoa chép chuyện thang mây như sau:
Thời Chiến Quốc, Sở Kinh Vương chuẩn bị đánh nước Tống, bảo Công Thâu Ban chế tạo thang mây để công thành nước Tống.
Mặc Tử là người chủ trương thuyết "Kiêm Ái", biết chuyện vội đến ngăn vua Sở, nói rằng:
- Nước Sở lớn, nước Tống nhỏ. Nay Chúa công lấy lớn hiếp nhỏ thì phỏng hay ho gì ?
Sở Kinh Vương chưa kịp trả lời thì Mặc Tử lại nói tiếp:
- Nước Sở giàu, nước Tống nghèo, Chúa công đánh nước Tống thì được lợi lộc gì ?
Vua Sở nói:
- Nhưng ta đã cho chế tạo thang mây thì phải đi công thành chứ.
Mặc Tử cười nói:
- Có thang mây cũng chưa hẳn chiếm được nước Tống đâụ
Sở Kinh Vương nói:
- Công Thâu Ban là thợ mộc giỏi nhất thiên hạ, chiến cụ của ông ta chế tạo há công mà không phá được thành nước Tống ư ?
Mặc Tử đáp:
- Vậy hãy để tôi thủ thành cho Công Thâu Ban tấn công thử xem ông ta có thể phá thành được chăng.
Thế rồi Mặc Tử dùng thuật riêng của mình mà phòng ngự Công Thâu Ban dùng thang mây của mình chế tạo mà công thành. Liên tiếp chín lần tấn công, Công Thâu Ban đều bị Mặc Tử đẩy lui, không sao phá thành được.
Sở Kinh Vương thấy vậy nổi giận bảo với Mặc Tử rằng:
- Dù vậy, ta đây vẫn có biện pháp để thắng được.
Mặc Tử nói:
- Biện pháp của nhà vua là giết chết tôi chứ gì ? Nhưng cũng chẳng lợi gì đâu, bởi vì học trò của tôi đã học và áp dụng được thuật thủ thành của tôi rồị
Sở Kinh Vương nghe Mặc Tử bảO như thế, bèn bỏ ý định đánh nước Tống.
qcluu
05-30-2003, 11:35 PM
Tháng tròn như gửi cung mây
TRẦN TRẦN MỘT PHẬN ẤP CÂY ĐÃ LIỀU
(Câu 327, 328. Kim Trọng than thở với Kiều)
Câu thơ trên Nguyễn Du mượn ý của câu chuyện "Thủ châu đãi thố" (Ôm cây đợi thỏ): ý Kim Trọng chờ đợi mãi mà chẳng nhận được một "tín hiệu" gì về tình yêu của Kiềụ
Sách Hàn Phi Tử kể rằng:
Có người nước Tống khi đang cày ruộng bỗng thấy có một con thỏ từ trong ruộng chạy ra va phải gốc cây gãy cổ chết. Người cày ruộng tỏ ý mừng, bèn bỏ dở việc cày chạy đến gốc cây nhặt con thỏ chết. Rồi anh ta cứ ngồi luôn bên gốc cây để chờ thêm những con thỏ khác, không chịu tiếp tục cày ruộng nữạ Từ đó, ngày ngày người thợ cày vẫn ra ruộng nhưng không phải để cày mà để ôm gốc cây chờ đợi bắt thỏ. Nhưng thỏ đâu không thấy, chỉ thấy rằng thửa ruộng của anh ta không được cày bừa gì cả. Thỏ va vào gốc cây chết chỉ là chuyện ngẫu nhiên chứ nào phải chuyện thường xuyên như việc cày ruộng của người thợ cày kia...
HoangDung
05-31-2003, 11:14 PM
Rất cảm ơn anh qluu đã san sẻ những kiến thức quý báu cho tụi em! Có đọc truyện Kiều mới thấy sự uyên bác của Nguyễn Du . Điển tích Kim Vân Kiều thì vô số , anh Q thiệt chịu khó, chẳng bù với HD :cigar: :p
Có 1 điểm mà anh Bằng Hữu đã nhắc đến và HD cũng đồng ý với ảnh đó là tác giả bài thơ "Xích Bích Hoài Cổ" là của Đổ Mục (dựa theo quyển "Lược khảo kinh thi" của học giả Trần Trọng San xuất bản 1953).
qcluu
06-01-2003, 11:01 AM
Originally posted by HoangDung
Rất cảm ơn anh qluu đã san sẻ những kiến thức quý báu cho tụi em! Có đọc truyện Kiều mới thấy sự uyên bác của Nguyễn Du . Điển tích Kim Vân Kiều thì vô số , anh Q thiệt chịu khó, chẳng bù với HD :cigar: :p
Cám ơn những mỹ ý của HD. Q. xem đây là một trong những nguồi vui cũng như cơ hội cho Q. học hỏi thêm từ quí ACE thôi mà :)
Có 1 điểm mà anh Bằng Hữu đã nhắc đến và HD cũng đồng ý với ảnh đó là tác giả bài thơ "Xích Bích Hoài Cổ" là của Đổ Mục (dựa theo quyển "Lược khảo kinh thi" của học giả Trần Trọng San xuất bản 1953).
Một lần nữa, cám ơn sự đóng góp của HD nghen! :) Như HD đã thấy, Q. cũng hong có ý bỏ qua ý kiến hay của anh BH, nên đã để cái đính chánh phía dưới của cái post đó (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=550378#post550378) với hy vọng đọc giả sẽ tự tìm hiểu và cũng như có cơ học học thêm thơ văn :) Hy vọng có dịp, Q. sẽ chia xẻ những đóng góp của quí ACE đến với nhà xuất bản để mình cùng học hỏi thêm.
Chúc HD luôn vui,
Q.
qcluu
06-02-2003, 06:04 PM
"Đã lòng quân tử đa mang
Một lời vâng tạc ĐÁ VÀNG thủy chung".
(Câu 351, 352. Kiều nói với Kim Trọng)
Từ phen ĐÁ biết tuổi VÀNG
Tình càng thắm thiết, dạ càng ngẩn ngợ
(Câu 363, 364. Tâm trạng Kim và Kiều)
"Ví dù giải kết đến điều
Thì đem VÀNG ĐÁ mà liều với thân".
(Câu 421, 422. Kim Trọng nói với Kiều)
"Mây mưa đánh đổ ĐÁ VÀNG
Quá chiều nên đã chán chường yến anh"
(Câu 513, 514. Kiều nói với Kim Trọng)
"Cũng là lỡ một lầm hai
ĐÁ VÀNG sao nỡ ép nài mây mưa"
(Câu 1007, 1008, Tú bà dỗ dành Kiều)
Sớm đào tối mận lân la
Trước còn trăng gió, sau ra ĐÁ VÀNG
(Câu 1289, 1290. Thúc Sinh mê Kiều)
Đã gần chi có đường xa
ĐÁ VÀNG cũng quyết, phong ba cũng liềụ
(Câu 1365, 1366. Thúc Sinh thề thốt với Kiều)
"Cùng nhau thề thốt đã nhiều
Những điều VÀNG ĐÁ, phải điều nói không".
(Câu 2813, 2814. Kim Trọng than với Vương Ông)
Bởi lòng tạc ĐÁ ghi VÀNG
Tưởng nàng, nên lại thấy nàng về đâỵ
(Câu 2855, 2856. Kim Trọng nhớ Kiều)
"Bấy lâu đáy bể mò kim
Là nhiều VÀNG ĐÁ, phải tìm trăng hoạ"
(Câu 3175, 3176. Kim Trọng nói với Kiều lúc sum họp).
ĐÁ VÀNG: Chỉ sự thủy chung trong tình yêu của trai gáị
Truyện Truyền kỳ của Trung Quốc kể chuyện Đá Vàng như sau:
VÀo năm Chí Nguyên đời Nguyên Thết tổ, ở phủ Tùng Giang có người học trò tên Lý Ngạn Trực tự là Ngọc Lang, mười lăm tuổi đã nổi tiến văn hay chữ đẹp.
Trong khuôn viên và ở sau nhà học của Ngọc Lang có một cái lầu cao, đứng trên đó có thể nhìn bao quát cảnh vật chung quanh. Lý Ngạn Trực vẫn thường hay tập hợp bằng hữu lên lầu đọc sách, ngâm thợ Bên ngoài khuôn viên nhà Trực có một số kỹ viện, suốt ngày vang rền tiếng sên phách, đàn sáọ Ngạn Trực đã nghe quen nên cũng chẳng lấy làm khó chịụ
Có một lần bạn bè của Ngạn Trực cùng quây quần với nhau uống rượ trên lầụ Nghe tiếng đàn sáo và tiếng hát du dương của ca nhi ngoài các kỷ viện vọng vào, một người bạn lên tiếng:
- Cái cảnh này mới thật là đúng với câu ngạn ngữ "Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình" đâỵ
Lý Ngạn Trực cười lớn, nói tiếp:
- Nhưng cũng có lúc "Kiến kỳ hình bất thưởng kỳ thanh".
Cả bọn cùng cười, cho hai câu nói ấy là hay và cùng đồng ý lấy làm đề tài để cùng xướng hoạ . Đang trong lúc mọi người vui đùa thì có tinh báo là thầy học của họ đến, còn đứng ngoài cổng. Ngạn Trực vội đút bài thơ vào túi áo rồi xuống lầu đón thầy lên nhập tiệc. Sau đó Ngạn Trực đi thay áo, rồi vo tròn tờ giấy có viết bài thơ ném xuống đường ngoài khuôn viên.
Bài thơ rơi xuống hành lang căn lầu nhỏ của kỹ viện của một người đàn bà họ Trương. VÀo lúc ấy, con gái bà Trương là Lệ Dung tự Thúy Mi đang ngồi hóng mát, nhặt được tờ giấy vo tròn của Ngạn Trực. Nàng mở ra xem thì biết ngay đó là thủ bút của chàng học trò họ Lý nên thích thú lắm. Vốn là một cô gái có học và cũng khá hay chữ, Lệ Dung liền hoạ lại bài thơ trên một chiếc khăn lụa trắng. Ngày hôm sau, Lệ Dung canh lúc Ngạn Trực lên lầu liền ném chiếc khăn có bài thơ hoạ của nàng sang cho chàng học trò họ Lý. Ngạn Trực xem bài thơ hoạ, biết là Lệ Dung có cảm tình với mình liền bước ra hành lang nhình sang. Hai ngưỜi cùng nhìn nhau mỉm cười và bắt chuyện với nhaụ Lệ Dung nói:
- Lý quân ơi, chàng cũng đã lớn rồi sao chưa chịu lấy vợ ?
Ngạn Trực cười đáp:
- Tôi chỉ chờ gặp được người tài sắc như nàng thì mới tính đến chuyện trăm năm.
- Chỉ e Lý quân chẳng thèm đoái hoài, chứ thiếp tôi nào dám làm caọ
Từ đó, hai người tình bén duyên ưa, rồi trao lời thề hẹn.
Ngạn Trực ngỏ ý với cha mẹ xin cưới Lệ Dung làm vợ nhưng cha chàng cho Lệ Dung là con nhà không tử tế nên gạt đị Lý Ngạn Trực buồn bã, không thiết tì đến chuyện sách đèn nữạ Rồi chàng ngã bê.nh. Cha chàng thấy thế đâm ra lo lắng nên đành chiều ý con, sắm sanh lễ vật và cậy mai vong xin ho>i cưới Lệ Dung cho chàng. Bà Trương cũng thuận tình gả và hai bên còn đang chọn ngày để làm lễ thành hôn cho Ngạn Trực và Lệ Dung.
VÀo thời điểm ấy, quan tham chính địa phương là A Lỗ Thai vừ mãn hạn, chuẩn bị về kinh sự Bấy giờ ở kinh sư, quan Hữu Thừa tướng Mác Nham là một kẻ tham quan lại nắm cả quyền hành. Y đặt lệ cho các quan địa phương mã nhiệm kỳ muốn về kinh sư thì phải cung hiến tiền của cho y cả vạn. Nếu vị quan địa phương nào không lo đủ thì sẽ klhông được hồi kinh. A Lỗ Thai làm quan ở phủ Tùng Giang hơn chín năm nhưng gom góp tài sản cũng không đủ số cống nộp cho Bác Nham nên lấy làm lo lắm. Viên xá nhân của A Lỗ Thai bèn hiến kế:
- Nếu ngài không có đủ của cải để nộp cho quan Hữu Thừa tướng, thì nên tuyển vài ca kỹ tài sắc vẹn toàn mà dâng cho quan lớn; phí tổn quá chỉ độ ngàn vàng mà lại đẹp lòng quan lớn nữạ
A Lỗ Thai cho kế ấy là hay, bèn giả mệnh Hữu Thừa tướng Bác Nham tuyển ca kỹ đẹp và giỏị Chẳng may cho Lệ Dung, nàng là một trong số các ca nhi được A Lỗ Thai tuyển.
Lệnh quan trên đã bạ xuống, phận người dân không thể cưỡng cầu được. Khổ đau tràn ngập trong lòng, Lệ Dung đành viết thư tạ lỗi với người yêu, xin thề lấy cái chết để đền ơn tri ngộ của Ngạn Trực. Rồi nàng tuyệt thực để được chết. Bà Trương sợ con gái chết sẽ mang tội liên luỵy nên theo dỗ dành mãi, Lệ Dung vi ` chữ hiếu đành phải ngưng tuyệt thực.
Ngày Lệ Dung xuống thuyền theo A Lỗ Thai tiến kinh, Lý Ngạn Trực chạy bộ theo ở trên bờ, than khóc thảm thiết khiến ai nấy trông thấy đều mủi lòng. Ngày lại tháng qua trong thời gian thuyền tiến kinh, Ngạn Trực mòn mỏi và một hôm chàng chết gục bên đường. Lệ Dung ở dưới thuyền nhình thấy liền ngất xỉụ A Lỗ Thai có lẽ cũng động lòng trắc ẩn nên cho thuyền dừng lại và sai trạo phu chôn cất Ngạn Trực bên bờ sồng. Đêm hôm ấy, Lệ Dung thắt cổ để chết theo người yêụ
A Lỗ Thai vừa căm tức vừa buồn rầu vì tiền mất mà người cũng không còn thì làm sao dám gặp mặt Bác Nham. Tuy nhiên ông ta cũng cho gói ghém thi thể Lệ Dung và hoả thiêu trên bờ sông. Thi hài Lê Dung cháy thành than nhưng lạ thay, trái tim nàng không cháy, vẫn còn nguyên vẹn, đỏ tươị A Lỗ Thai nổi giận dùng chân xéo lên trái tim thì từ trong trái tim ấy văng ra một vật nhỏ bằng ngón taỵ Ông ta cho trạo phu rửa sạch vật ấy thì nó hoá thành một hình nhân nam nhi có đủ cả mũ áo, gương mặt hình nhân giống y gương mặt Ngạn Trực. A Lỗ Thai lấy làm kinh hãi, cảm thán:
- Than ôi, tinh thành kết lại như thế này sao ?
Viên xá nhân của ông ta bèn xui nên kiểm lại thi hài Ngạn Trực xem saọ A Lỗ Thai cho quật mồ Ngạn Trực và thiêu xác chàng. Lạ lùng thay, xác chàng cháy hết nhưng vẫn còn lại trái tim tươi hồng như của Lệ Dung. A Lỗ Thai lại xéo lên trái tim của Ngạn Trực và từ trong tim ấy cũng văng ra một hình nhân; ấy là hình của Lệ Dung. A Lỗ Thai cả mừng nói với viên xá nhân rằng:
- Ta không nộp sống được Lệ Dung nhưng có hai vật này quả là báu vật trên đời .
Ông ta sai người lấy hương thơm tẩm vào hai hình nhân, dùng gấm quý bộc kín lại và viết lên sáu chữ "Tâm kiên kim thạch chi bảo" (Trái tim kiên định vàng đá bảo vật). Rồi ông ta cho thuyền tiếp tục tiến kinh.
Đến kinh sư, A Lỗ Thai tiến dâng bảo vật cho Hữu Thừa tướng BÁc Nham và trình bày cặn kẽ câu chuyện. Bác Nham nghe chuyện đẹp lòng, đích thânmở bảo vật ra xem. Nhưng hỡi ôi, hai hình nhân Lệ Dung và Ngạn Trực không còn là hai hình nhân nữ, mà chỉ là hai cục máu hôi tanh. Quan Hữu Thừa tướng nổi trận lôi đình, ghép A Lỗ Thai vào tội cướp đoạt vợ người và đem xử theo đạo luật.
Bản án của triều đình nhà Nguyên kết luận rằng: "Nam nữ tư tình, lòng bền chí vững mà trước sau không được toại nguyện cho nên nỗi niềm uất hận không tan, chung đúc thành hình như thế. Nếu được hợp lại một nơi, tình tại khí hoà thì hình hài trở lại như cũ".
Cái lý là như thế nhưng cũng không ai giải được cơn giận lệch đất nghiêng trời của quan Hữu Thừa tướng Bac' Nham, thế cho nên A Lỗ Thai phải chịu rơi đầụ
qcluu
06-03-2003, 06:36 PM
Một lời gắn bó TẤT GIAO
Mái sau dường có xôn xao tiếng người
(Câu 359, 360. KIM KIỀU hẹn ước nhau)
TẤT GIAO: Sơn và keo, hai vật có tính cánh bền vững, khắn khít với nhaụ Ở đây dùng để chỉ sự hẹn ước, kết tình của Kim Trọng và Thúy Kiềụ
Theo truyện Truyền Kỳ Trung Quốc, xưa có hai người bạn học tên Lôi Nghĩa và Trần Trọng chơi với nhau rất thân. Cả hai cùng đi thi, Lôi Nghĩa thi đậu nhưng Trần Trọng rớt, Lôi Nghĩa nhường sự thi đậu của mình cho Trần Trọng nhưng không được quan trường chấp nhận. Chàng bèn giả điên không nhận sự thi đậu để không làm quan.
Đên khoa thi sau, cả hai cùng đi thi nữa và cả hai đều đổ. Bấy giờ cả hai người cùng nhận lảnh chức vụ của triều đình ban chọ
Để ca tụng tình bạn keo sơn của Lôi Nghĩa và Trần Trọng, người đời có câu:
"Tất giao vi kiên, bất như Lôi dữ Trần"
(Keo sơn báo là bền, chẳng bằng Lôi với Trần)
Tản mạn về khía cạnh đạo đức của Truyện Kiều.
Cảo thơm lần giở trước đèn
Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh
Những lúc nhàn rỗi không có gì thú vị bằng được đọc một cuốn truyện hay, nghe ai đó ngâm lên một bài thơ lãng mạn bên tách trà nóng thơm ngon, hay cùng một vài người bạn ngắm hoa quỳnh khoe hương, khoe sắc trong một buổi sáng tinh sương, cái hạnh phúc nó rất đơn giản mà làm lòng người như dịu lại tưởng như mình đang trong một giấc kê vàng. Tôi say mê truyện Kiều ngay từ thuở nhỏ, mỗi lần đọc lại thấy cái hay, cái lạ khác nhau, từ kết cấu câu chuyện, đến cách tả tình, tả cảnh, tả người của cụ Tố Như thật tuyệt vời, đó là cả một công trình nghệ thuật toàn hảo, ý nghĩa đậm đà, xếp đặt khéo léo, thi vị, mang đầy mầu sắc dân tộc. Không phải ba trăm năm mà cả ngàn năm sau cũng không ai sánh kịp, cũng chẳng phải:
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như
Tôi nghĩ, cả ngàn năm sau Đoạn Trường Tân Thanh vẫn là quốc hồn quốc túy của dân tộc Việt Nam. Tố Như sừng sững như một cây cổ thụ trong văn học sử, chả thế mà cụ Phạm Quỳnh đã phải thốt ra: "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn nước ta còn". Từ khi truyện Kiều lưu truyền trong dân gian cho tới nay, người khen truyện Kiều có rất nhiều, truyện Kiều đã được phiên dịch ra hàng chục thứ ngoại ngữ và nhiều người ngoại quốc thán phục; hơn thế nữa truyện Kiều cũng được mang vào giảng dậy trong chương trình trung học và đại học tại Việt Nam. Truyện Kiều còn được phổ biến rộng rãi trong giới học giả cũng như bình dân, người ta bói Kiều, lẩy Kiều. Những nhân vật trong truyện Kiều được quần chúng hóa trong đời sống hàng ngày như Tú bà, Sở Khanh, Hoạn Thư. Cụ Phạm Quí Thích sau khi đọc xong Đoạn Trường Tân Thanh đã phải thốt ra:
Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy
Tân Thanh đáo để vị thùy thương
(Tài tình mối lụy muôn đời
Tân Thanh khúc ấy vì ai đau lòng)
Có nhiều người còn cho rằng truyện Kiều là quốc hồn, quốc túy, thánh kinh, hiền truyện của nền văn học Việt Nam. Hơn thế nữa, đứng về phương diện văn chương, nghệ thuật, trong một chừng mực nào đó, truyện Kiều là một kiệt tác trong văn học sử Việt Nam không ai có thể chối cãi được, nhưng đứng về phương diện đạo đức, luân lý, truyện Kiều đã từ lâu bị nhiều người chê bai, bỉu mỏ, chẳng qua đây chỉ là một thứ .. dâm thư (!) không hơn không kém:
Đàn ông chớ đọc Phan Trần
Đàn bà chớ đọc Thúy Vân, Thúy Kiều.
Quan niệm đạo đức của các cụ ta ngày xưa rất khe khắt. Đàn bà con gái có một số truyện dâm tình lãng mạn, hoặc gợi cảm, khiêu khích bị cấm đọc đã đành. Đàn ông cũng bị cấm những truyện tình ủy mị, nhu nhược ảnh hưởng tới chí nam nhi:
Làm trai cho đáng nên trai
Xuống đông, đông tĩnh, lên đoài, đoài yên.
Truyện Phan Trần là một trong những chuyện các cụ cấm không cho đàn ông đọc vì chàng Phan Sinh chỉ vì quá yêu nàng Trần Kiều Liên mà sinh ra ốm tương tư rồi toan bề tự vận, làm trai không thể yếu đuối, ươn hèn như vậy!! Chê bai truyện Kiều trong dòng văn học Việt Nam hàng chục năm qua không phải là truyện mới lạ, phe khen truyện Kiều dù có nhiều bao nhiêu đi chăng nữa thì phe chê truyện Kiều cũng không phải là ít, bên tám lạng, bên nửa cân. Trong phạm vi bài này chúng tôi không phê bình hoặc chê bai truyện Kiều chỉ xin được tản mạn vài dòng về khía cạnh Đạo Đức của Đoạn Trường Tân Thanh (không dám lạm bàn về khía cạnh văn chương), hay giá trị văn học của một tác phẩm đã được hàng triệu triệu người nâng niu như một viên ngọc quý. Ngay như các cụ
thời xưa mặc dù xuất thân từ Nho học nhưng đã bị ảnh hưởng nhiều của Tây học cũng vẫn chê bai truyện Kiều về phương diện luân lý, đạo đức, điển hình là các cụ Ngô Đức Kế, cụ Huỳnh Thúc Kháng và sau này có nhà văn tân học như Thạch Lam. Chúng ta hãy xét thử những điều đáng trách về truyện Kiều:
1. Truyện Kiều xây dựng trong một xã hội phong kiến, thối nát. Có thể có người cho rằng tôi nói hơi quá hoặc phóng đại một sự thật để chê bai một đại tác phẩm đã được nhiều người ưa thích, tuy nhiên sự thật vẫn là sự thật, không ai có thể chối cãi được. Mặc dù gia đình Vương Viên Ngoại sống trong một đất nước đang trong thời buổi thanh bình, thịnh trị:
Rằng năm Gia Tĩnh, triều Minh
Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng
nhưng xã hội đầy dẫy những tệ đoan, phong kiến, thối nát, lừa đảo, vu oan giá họa. Trường hợp Vương gia bị thằng bán tơ vu oan mà không có luật pháp nào che chở hoặc minh oan là một bằng chứng của một xã hội mà luật pháp đã bị đồng tiền mua đứt:
Một ngày là thói sai nha
Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.
Trường hợp nàng Kiều bán mình chuộc cha là trường hợp đạo đức, luân lý bị suy đồi, có nhiều cách để kiếm ra tiền chuộc cha, mà cách bán mình chỉ là.. hạ sách! Trong một xã hội văn minh, hay một xã hội mà những quyền căn bản của người dân được tôn trọng, những tệ đoan như mê tín, trộm cắp, mãi dâm, cửa quyền, hối lộ, cờ bạc, rượu chè .. phải được trừ khử, phải được đặt ra ngoài vòng pháp luật, không thể đâu đâu cũng nhan nhản những ổ điếm, những băng đảng trộm cắp, những tên giặc bể hoành hành, quấy nhiễu dân chúng như .. Từ Hải! Nếu cụ Nguyễn Du thực sự muốn tìm một cái cớ để cho nàng Kiều đi lưu lạc trong mười lăm năm, nếu cụ chỉ muốn tìm một cái "cớ" để chứng minh thuyết tài mệnh tương đố thì còn nhiều "cớ" khác hay hơn là "cớ" bán mình! Chỉ làm gương xấu cho các thiếu nữ thời sau, nhất là những thiếu nữ con nhà nghèo gặp lúc túng quẩn:
- Đấy Vương Thúy Kiều đẹp tuyệt trần như vậy, con nhà trâm anh thế phiệt như vậy, tài hoa như vậy, mà khi cần tiền còn "dám" bán mình, thì tại sao mình không làm được!
Có nhiều nhà phê bình còn bênh vực cho hành động bán mình của nàng Kiều để lấy tiền chuộc cha là một sự "hy sinh cao cả" thì thật sự ngoài sự hiểu biết và phán đoán của tôi, tôi xin.. miễn bàn! Nếu Kiều đã bán mình được thì chắc chắn đây không phải là trường hợp đầu tiên và duy nhất trong xã hội triều Minh lúc bấy giờ (hoặc xã hội Việt Nam ngày nay), trước Kiều và sau Kiều đã có và sẽ có hàng ngàn nàng Kiều khác đang ngụp lặn trong giới giang hồ, mỗi người đều có một cái "cớ" khác nhau để bào chữa, để che đậy cho chính mình: "Tại vì thế này, tại vì thế kia" mà tôi phải bán mình, nếu không bây giờ tôi đã học hành xong xuôi, lấy được tấm chồng đàng hoàng làm bà này, bà no.. Viện cớ rằng tuy Kiều là một gái làng chơi nhưng luôn luôn lúc nào nàng cũng nhớ tới cha mẹ, em trai, em gái và nhất là mối tình đầu với chàng Kim Trọng (chứng tỏ Kiều chung tình) , thì thật ra Kiều cũng chỉ là con người đa sầu đa cảm như bao nhiêu người con gái thường tình khác khi đi xa thì nhớ gia đình, nhớ người tình, đó là một chuyện… bình thường, không thể vịn vào điểm đó để luận về sự "chung thủy" của Kiều. Có nhiều người vì say mê truyện Kiều còn bàn rằng tuy về thể xác Kiều thực sự dơ bẩn nhưng chữ "trinh" về tinh thần nàng vẫn vẹn toàn. Trường phái này quá… tự do, ngoài sự hiểu biết của tôi, tôi cũng xin... miễn bàn!
2. Truyện Kiều đi trái ngược với phong tục tập quán của người Việt.
Khi xét một tác phẩm ta phải tự đặt ta vào không gian và thời gian mà tác giả sống và viết tác phẩm đó. Cụ Nguyễn Du sinh năm 1765 tức là năm thứ 28 niên hiệu Cảnh Hưng tại làng Tiên Điền tỉnh Hà Tĩnh đời nhà Lê, và cụ mất năm 1820 đời Minh Mạng, hưởng thọ 55 tuổi. Kim Vân Kiều sống vào năm Gia Tĩnh triều Minh tức là năm 1522. Phong tục tập quán của ta (hay của Tầu) thời ấy rất cổ hủ, con gái phải nghe theo lời cha mẹ, trong tình yêu cũng như trong việc cưới hỏi, cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, con gái không thể tự ý muốn yêu ai thì yêu, lấy ai thì lấy, nửa đêm không thể tự ý sang nhà con trai tình tứ, đàn địch, ca hát. Vậy mà Kim Vân Kiều sang nhà Kim Trọng trong lúc cha mẹ vắng nhà:
Lần theo núi giả đi vòng
Cuối tường dường có nẻo thông mới rào
Xắn tay mở khóa động Đào
Rẽ mây trông tỏ lối vào Thiên Thai.
Đây là một trường hợp bại hoại gia phong không thể nào tha thứ được từ xã hội ngày xưa cho đến xã hội ngày naỵ Có nhiều người phóng khoáng hơn, "tân học" hơn cho rằng xã hội ngày nay có thể chấp nhận được, điều đó chưa chắc đã đúng cho lắm, còn tùy nền tảng giáo dục và quan niệm của từng cá nhân.
3. Trong truyện Kiều có nhiều cảnh quá "ngoạn mục":
Cho dù bào chữa, bênh vực bằng cách nào đi chăng nữa, dù cho cụ Tiên Điền có cố gắng dùng lời thơ nhẹ nhàng, bóng bẩy, thanh thoát, tao nhã cách nào đi chăng nữa, những pha "cụp lạc", "ngoạn mục" cũng vẫn quá.. lồ lộ, không thể không chê trách cho được.
a) Cảnh thương lượng giá cả để bán Kiều:
Cò kè bớt một thêm hai
Giờ lâu ngã giá, vàng ngoài bốn trăm
Nếu dùng ngôn từ của ngày hôm nay thì đây thực sự là vấn đề nhân quyền và nhân phẩm, con người không thể là con vật, hoặc đồ vật để có thể mang ra mặc cả, định giá, "cò kè bớt một thêm hai" như vậỵ Trong một xã hội văn minh nhân phẩm con người hay nói một cách khác nhân phẩm phụ nữ phải được tôn trọng, không thể vì cần tiền thì đem rao bán như một .. con vật!
b) Cảnh động phòng hoa chúc giữa Kim Vân Kiều và Mã Giám Sinh:
Tiếc thay một đóa trà mi
Con ong đã tỏ đường đi lối về
Một cơn mưa gió nặng nề
Thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương
Đêm xuân một giấc mơ màng
Đuốc hoa để đó mặc nàng nằm trơ
Nỗi riêng tầm tã tuôn mưa
Phần căm nỗi khách, phần dơ nỗi mình.
Tám câu trên mặc dù đã được cụ Tiên Điền diễn tả một cách khéo léo, kín đáo, nhưng không giấu được sự thật phũ phàng của một người con gái tuyết sạch giá trong bị kẻ phàm phu dày vò "dập liễu, vùi hoa" để chính nàng Kiều cũng cảm thấy đã sa lầy vào vũng bùn nhơ nhuốc, căm thù kẻ vũ phu. Một khi "con ong đã tỏ đường đi lối về" thì còn gì để tiếc thương nữa. Sau khi họ Mã đã thỏa mãn thú tính để "... mặc nàng nằm trơ" giữa những ê chề, đớn đau, tủi hận, tiếc thương của đời người con gái.
c) Đoạn tả Thúy Kiều tắm quá gợi cảm:
Buồng the phải buổi thong dong
Thang lan rủ bức trướng hồng tắm hoa
Rõ ràng trong ngọc trắng ngà
Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên.
Tả một người con gái đang tắm như vậy, cụ Tiên Điền đã đạt được mức độ ... tuyệt luân, nếu không muốn nói là quá .. khiêu gợi! Hơn nữa, cụ Tiên Điền còn cho Thúc Sinh đứng ngay đó để chứng kiến thân hình ngọc ngà, trần truồng, quyến rũ của Nàng Kiều:
Sinh càng tỏ nét, càng khen
Ngụ tình tay thảo một thiên luật Đường.
Lần đầu tiên tôi thấy trong văn học một người con trai làm thơ tả cảnh người yêu đang.. tắm! Bài thơ Đường luật tả cảnh người yêu đang tắm của Thúc Sinh có một không hai trong văn học sử, tôi may mắn được đọc nhiều bài thơ Đường luật nổi tiếng của các cụ ta cũng như của các nhà thơ nổi tiếng đời Đường bên Trung Hoa nhưng chưa hề có bài nào .. lạ lùng đến như vậy, đã thế chàng còn đưa cho Kiều để xin nàng họa lại:
Lòng còn gởi áng mây Hàng
Họa vần xin hãy chịu chàng hôm naỵ
Nàng còn bao nhiêu nỗi vấn vương trong lòng, nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ mối tình đầu, thì còn tâm hồn đâu để họa lại cái bài thơ ... phải gió đó! May quá bài thơ bất hủ này không được cụ Tiên Điền chép ra, nếu có, không thể xếp vào loại PG, R, mà phải là .. XXX, và nếu bị đọc tôi cũng xin ... miễn bàn!
4. Truyện Kiều vinh danh một tên hảo hán giang hồ thành một anh hùng:
Đường đường một đấng anh hào
Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài
Đội trời, đạp đất, ở đời
Họ Từ, tên Hải, vốn người Việt Đông
Giang hồ quen thói vẫy vùng
Luận bàn về hai chữ anh hùng thật là khó khăn và nhiêu khê, nhưng chắc chắn người anh hùng không thể là một tên .. giặc bể như Từ Hải, đã gọi là "giặc" thì không thể nào là "Anh Hùng" theo đúng nghĩa viết hoa của nó, như vậy những tên hải tặc nào có một chút võ nghệ, làm được dăm ba bài thơ con cóc, mưu mẹo, khuấy động biển đông, cướp của, giết người, hãm hiếp đàn bà, con gái cũng là "Anh Hùng" được sao???
Đâu có thể nào một tên giặc bể:
Huyện thành đạp đổ năm thành cõi Nam
Binh uy từ đấy sấm ran trong ngoài
Được vinh danh là .. Anh Hùng! Mặc dù hắn được ca tụng là người hào hoa phong nhã, văn hay chữ tốt, oai phong lẫm liệt, gì gì đi chăng nữa giặc bể vẫn là .. Giặc Bể!!!
5. Giai cấp sĩ phu là những bọn giả đạo đức:
Hồ Tôn Hiến chỉ là một trường hợp điển hình của một giai cấp quan lại đạo đức giả, bầy mưu nghĩ kế để dụ Từ Hải ra hàng rồi không giữ lời hứa đem Từ Hải giết. Họ Hồ thành công phần lớn nhờ Kiều, thế mà sau khi Từ Hải chết họ Hồ không cho Kiều về quê như đã hứa mà còn bắt Kiều hầu rượu, đánh đàn, vui chơi thỏa thích, sau đó đem gả Kiều cho thổ quan làm Kiều cay đắng nhẩy xuống sông Tiền Đường tự tử:
Thôi thì một thác cho rồi
Tấm lòng phó mặc trên trời, dưới sông
Trông vời con nước mênh mông
Đem mình gieo xuống giữa giòng tràng giang
Làm quan là thay mặt triều đình đem tài đức ra trị vì thiên hạ, không thể chỉ vì những thứ vui chơi nhục dục mà quên đi đạo đức làm người, phép trị dân chúng!
6. Truyện Kiều đưa một mẫu Thúc Sinh có học nhưng hiếu sắc, sợ vợ:
Thúc Sinh một mẫu người trai có ăn học:
Khách du bỗng có một người
Kỳ Tâm họ Thúc, cũng nòi thư hương
Nhưng rất hiếu sắc, gặĩp gái đẹp như Kiều, chàng bị chết mê, chết mệt, không còn biết trời đất là gì, say mê gái đẹp quên cả trở về nhà với gia đình:
Sinh càng một tỉnh mười mê
Ngày xuân lắm lúc quên về với xuân
Đã mê gái lại còn sợ vợ là nỗi khổ suốt đời của chàng trai họ Thúc, để rồi Kiều cũng như Thúc sinh đều rơi vào cạm bẫy của Hoạn Thư, trong hoàn cảnh éo le, bất lực, yếu đuối, chàng khuyên Kiều đi trốn:
Liệu mà xa chạy cao bay
Ái ân ta có ngần này ấy thôi
Nghe qua đau đớn, não nùng làm sao! Thúc Sinh mặc dù có học nhưng chẳng qua cũng là kẻ .. bạc tình!
7. Kim Trọng một người tình lý tưởng, nhưng không phải là một thanh niên lý tưởng của xã hội.
Xã hội Việt Nam cũng như xã hội Trung Hoa thời xưa trọng Nho giáo, Khổng giáo, làm trai phải có đạo đức, sống có lý tưởng trong khuôn khổ luân thường, đạo lý. Làm trai không thể mềm yếu vì tình cảm, rên siết, ủy mị như Lương sinh trong truyện "Hoa Tiên" hoặc Phan sinh trong truyện " Phan Trần", mẫu người lý tưởng của xã hội phải là:
Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt
Xếp bút nghiên theo việc kiếm cung
Không thể là một người mới gặp Kiều lần đầu đã si mê, vương vấn, tương tư, ốm o gầy mòn :
Bâng khuâng nhớ cảnh nhớ người
Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân di
8. Vương Thúy Kiều một mẫu người tài hoa, đa tình, đa cảm, yếu đuối, đôi khi có những tư tưởng, hành động không phù hợp với luân lý, đạo đức, để khổ lụy suốt mười lăm năm. Nhân vật chính trong Đoạn Trường Tân Thanh là người đẹp Vương Thúy Kiều, nàng là nguồn gốc của những lời khen tiếng chê làm tốn biết bao giấy mực từ xưa đến nay.
a) Vương Thúy Kiều là kẻ không chung tình.
Nhiều nhà phê bình cho rằng Kiều là một kẻ chung tình, suốt mười lăm năm lưu lạc lúc nào cũng nhớ tới mối tình đầu với Kim Trọng. Thực sự không đúng như vậy, là một gái giang hồ trong suốt mười lăm năm ngoài những cuộc vui chơi thâu đêm suốt sáng do "nghề nghiệp" bắt buộc với hàng trăm, hàng ngàn người đàn ông khác nhau ta không thể trách nàng được, nhưng sự dính líu, gắn bó, ước hẹn về tình cảm của nàng với Thúc Sinh rồi Từ Hải trong lúc vắng mặt Kim Trọng là điều không thể chấp nhận, không thể nói nàng là người chung tình được, đâu đó mầm mống phản bội đã có trong đầu óc nàng để chờ cơ hội thực hiện! Ta hãy xem sự mong mỏi của nàng khi ước ao ngày sum họp lâu dài, bền vững với Thúc Sinh:
Sắn bìm chút phận con con
Khuôn duyên biết có vuông tròn cho chăng?
Hoặc trong khi Từ Hải vùng vẫy ở phương xa, Kiều ở nhà phòng không gối chiếc muôn vàn mong đợi tên giặc bể trở về:
Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm
Mầm mống phản bội cũng có ở trong Kim Trọng, sau mười lăm năm lưu lạc, khi Kiều trở về, Kim Trọng đã có ý định ruồng bỏ cô em (Thúy Vân) để trở về với cô chị (Thúy Kiều). May mà Kiều không bằng lòng, nếu giả sử Kiều bằng lòng thì chắc chắn sẽ có thảm kịch cho mối tình tay ba (Thúy Kiều, Kim Trọng, Thúy Vân) .
Theo cụ Ngô Đức Kế và cụ Huỳnh Thúc Kháng: "Nàng Kiều chỉ là một "con đĩ", nàng Kiều không chung tình với Kim Trọng, câu nói "chữ trinh còn một chút này" của nàng đối với chàng, rốt cục chỉ là một sự mỉa mai, một điều vô liêm sỉ", họ không nhìn nhận cho nàng một chữ trinh nào dù là "trinh tinh thần" cũng vậy! (Xem Nguyễn Du và Truyện Kiều - nhà xuất bản Thế Giới 1951 trang 179-186)
b) Kiều nói dối và "cầm nhầm" chuông khánh:
Tiểu thiền quê ở Bắc Kinh
Qui sư, qui Phật, tu hành bấy lâu
Bởi vì Hoạn Thư quá ghen nên Kiều phải bỏ Thúc Sinh đi trốn, khi gặp vãi Giác Duyên nàng không những nói dối về thân phận mình mà còn:
Rày vâng diện kiến rành rành
Chuông vàng, khánh bạc bên mình giở ra
Để rồi bị khám phá là đồ ăn cắp:
Giở đồ chuông khánh xem qua
Khen rằng: " khéo giống của nhà Hoạn nương"
Cho dù bào chữa cách nào đi chăng nữa, chuyện ăn cắp chuông khánh cũng không thể tha thứ được!
C. Kiều trả thù Hoạn Thư khi đắc thế:
Nàng rằng: "Xin hãy rốn ngồi
Xem cho rõ mặt biết tôi báo thù".
Khi Kiều lấy được Từ Hải, nàng dựa vào uy danh lừng lẫy của tên giặc bể để báo thù xưa thì nàng chẳng qua cũng là người.. thường như biết bao nhiêu người khác, vả lại chuyện yêu đương, ghen tuông chỉ là chuyện .. đàn bà:
Rằng: " Tôi chút phận đàn bà
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình"
Thưởng thức cái hay, cái đẹp của truyện Kiều là cả một nghệ thuật của các cụ trong những lúc nhàn rỗi trà dư tửu hậu, lâu lâu cùng vài người bạn tri kỷ mang Kiều ra bình phẩm, bàn luận là cái thú thanh tao của các nhà Nho thời xưa, không ai có thể chối cãi được giá trị nghệ thuật siêu đẳng của Đoạn Trường Tân Thanh, nhưng mà:
Rằng: "hay thì thật là hay
Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào!
Tôi không phải là nhà phê bình văn học, và cũng không bao giờ mang cái mộng ước đó, chỉ trong một buổi sáng mùa xuân, gió lạnh hiu hiu thổi về, bên tách trà nóng, rảnh rỗi mang truyện Kiều ra đọc chợt thấy lòng se thắt lại, bỗng dưng có một vài ý tưởng ngộ nghĩnh xuất hiện trong đầu đem ghi lại, hy vọng:
Lời quê chắp nhặt dông dài
Mua vui cũng được một vài trống canh.
(Bắc Giang)
qcluu
06-05-2003, 08:50 PM
Cảm ơn anh DTB đã chia sẽ bài sưu tầm trên!!! :p Tuy Q. chưa đọc hết, nhưng cũng thấy một cái nhìn khác (nhưng ý cũng không lạ lắm!) của tác giả về giá trị của truyện Kiều.... Đúng là "9 người 10 ý" !!! :D Chính vì vậy mà cái thread này chỉ "cố ý" bàn về những "điển tích" chứ không dám đi sâu vào phần phân tích giá trị của Truyện Kiều, cũng chính vì muốn tránh tình trạng "9 người 10 ý", sẽ dẫn đến bàn luận, và hậu quả sẽ không biết về đâu!!! :p
Để khi rảnh, Q. đọc tiếp!
hihi.... ý anh muốn bỏ vào đây để cho cái thread của bro thêm phần "phong phú", để cho người đọc trong đây thêm phần..... để suy nghĩ :D :smoking: chỉ thế thôi bro :)
qcluu
06-06-2003, 11:31 AM
Originally posted by DTB
hihi.... ý anh muốn bỏ vào đây để cho cái thread của bro thêm phần "phong phú", để cho người đọc trong đây thêm phần..... để suy nghĩ :D :smoking: chỉ thế thôi bro :)
Anh DTB :), hong sao mà anh ... Mình cùng chia xẽ để học hỏi thêm mà hén :)... Bài viết trên hay! Cám ơn anh!!!
qcluu
06-21-2003, 12:38 PM
Nàng rằng: "Gió bắt mưa cầm
Đã cam tệ với TRI ÂM bấy chầy"
(Câu 385, 386. Kiều tâm sự với Kim Trọng)
Rằng nghe: "Nổi tiếng cầm đài
Nước non luống những lắng tai CHUNG KỲ
(Câu 463, 464. Kim Trọng yêu cầu Kiều đánh đàn)
Vui là vui gượng kẻo là
Ai TRI ÂM đó, mặn mà với ai
(Câu 1247, 1248. Kiều ở thanh lâu lần thứ nhất)
TRI ÂM: (TRI: biết; ÂM: tiếng)
CHUNG KỲ: Chung Tử Kỳ, người nghe Bá Nha đà mà biết được ý Bá Nha đang nghĩ gì.
CẦM ĐÀI: Cái đài để Tư Mã Tương Như ngồi gảy đàn.
Chữ TRI ÂM dùng để chỉ những tình bạn thân thiết hiểu được ý của nhau như câu chuyện Bá Nha và Chung Tử Kỳ đời Chiến quốc:
Bá Nha, người nước Sở, nhưng làm Thượng ĐẠi phu nước Tấn. Bá Nha nổi tiếng là một khách phong lưu văn mặc, lại có ngón đàn tinh thông, tuyệt diệu nhất trong đờị Cây Dao ca6`m là vật bất ly thân của vị Thượng Đại phu tài hoa ấỵ
Năm nọ, sau khi hoàn thành chuyến đi sứ nước Sở và trên đường trở lại Tấn quốc, Bá Nha cho thuyền đỗ lại bến Hàm Dương vào một đêm trăng thanh gió mát để thưởng lãm cảnh đẹp của thiên nhiên. Trư*'c cảnh nên thơ của bến Hàm Dương đang độ vào thu, Bá Nha cho đồng tử đốt lư trầm ở trưỚc thuyền, rồi ông đem cây Dao câm ra so phi;'m thử dâỵ Thế rồi tiếng đàn réo rắt tuyệt vời của ông vang lên, quyện theo hương trầm cất vút lên cao trong đêm thu tĩnh mịch của bến Tầm Dương dưới ánh trăng trong.
Đang lúc Bá Nha hứng thú thả lòng bay bổng theo tiếng nhac. thì tơ đồng bỗn đứt một dâỵ
Bá Nha cau mày nghĩ ngợi một lúc rồi sang sảng cất tiếng một mình:
- Có cao nhân nào trên bờ rình nghe tie6'ng đàn của tại hạ, xin vui lòng ra mặt.
Từ trên tirền núi có tie6'ng đáp vọng xuống:
- Xin đại nhân thứ lỗi cho, kẻ tiểu nhân đi kiếm củi về muộn, nghe tiếng đàn của đại nhân quá tuyệt diệu nên câ;t bưỚc không đành.
Bá Nha cưỜi lớn, hỏi:
- Người tiều phu nào mà lại dám nói chuyện nghe đàn trưỢc mặt ta ?
Tiếng nói từ trên triền núi lại vọng xuống:
- Đại nhân nói thế, kẻ h`n này trộm nghĩ là lầm lắm đó. Há đại nhân không nhớ ngưỜi xưa đã từng bảo "Thập thất chi ấp tất hữu trung tín" (Trong một ấp có mười nhà ắt có người trung tín). Hễ trong nhà có bậc quân tử thì ngoài cửa cũng có bậc quân tử đến. Còn nếu như đại nhân khinh nơi chốn núi non quê mùa này không có người biết nghe đàn, thì thiết tưởng đại nhân cũng không nên thi thố ngón đàn tuyệt diệu nơi đây làm gì.
Bá Nha có vẻ ngưỢng khi nghe câu nói ấy của người lạ trên núị Ông biết mình đã lỡ lời bèn bước đến sát mũi thuyền hỏi lớn:
- Nếu quả người trên bờ biết nghe đàn, thì xin cho biết lúc nãy tại hà đã đàn khúc gì?
- Thưa đại nhân, đó là khúc Khổng Vọng Vi tức Đức Khổng Tử thương tiếc thầy Nha Hồị Đàn bị đứt dây nên đại nhân đã đãn thiếu câu chót. Kẻ hèn này xin mạn phép hát nguyên khúc ấy hầu đại nhân:
"Khá tích Nha Hồi mạng táo vong
Giáo nhân tư tương mã như sương
Chí nhơn lậu hạng đơn biều lạc
Lưu đắc hiền nhân vạn cố dương".
(Khá tiếc Nhan Uyên ngắn ngủi đời
Dạy người tóc đã trắng như vôi
Đai cơm, bầu nước vui ngỏ hẹp
Lưu tiếng hiền nhân với cuộc đời).
Bá Nha nghe xong cảm thấy lòng phơi phới, vội sai đám tùy tùng bắt cầu lên bờ để rước người lạ xuống thuyền.
Người tiều phu xuống thuyền xá Bá Nha một cáị Bá Nha chỉ ghế mời khách ngồi và nói:
- Xin người xá cho lời nói trịch thượng của tại hạ lúc nãỵ
Người tiều phu điềm nhiên đáp:
- Đại nhân quá lời, kẻ hèn này không dám.
Bá Nha sai tả hữu pha trà. Trong khi chờ đợi trà, Bá Nha hỏi khách:
- Quý hữu biết nghe đàn, có lẽ cũng hiểu được cây Dao cầm do ai chế tạo rả
Tiều phu cười nhẹ, đáp:
- Đại nhân đã hỏi thì tiểu nhân xin thưa chứ thật ra không dám múa rìu qua mắt thợ Thưở xưa, vua Phục Hy thấy có năm sắc sao rơi xuống cụm ngô đồng, và chim phượng hoàng đến đó đậu nên nhà vua biết cây ngô đồng là một loại cây quý, hấp thục tinh hoa của trời đất, có thể dùng để chế tạo nhạc khí được. Nha vua cho hạ cây ngô đồng xuống và dạy cắt ra làm ba đoạn. Khi gõ vào ba đoạn cây,m đoạn ngọn vang lên tiếng trong và nhẹ; đoạn gốc vang lên tiếng đục và nặng; chỉ có đoạn giữa có tiếng vừa trong vừa đục là có thể dùng được. Nhà vua cho ngâm đoạn giữa thân cây ở giữa dòng nước đúng bảy mươi hai ngày đêm rồi vớt lên phơi trong mát cho thật khô mới khiến thợ khéo chế thành cây Dao cầm. Cây Dao cầm dài ba thước sáu tấc, một phần án theo ba trăm sáu mươi mốt độ chu thiên. Mặt trước của đàn rộng tám tấc,án theo tám tiết. Mặt sau rộng bốn tấc án theo bốn mùạ Bề dầy hai tất áng theo lưỡng nhị Đàn gồm mười hai phím tượng trưng mười hai tháng trong năm; lại có thêm một phím phụ tượng trưng cho tháng nhuận. Đàn có năm dây án theo ngũ hành tượng trưng năm âm: cung, thương, giốc, trủy và vũ.
Tiều phu ngừng lời nhìn qua Bá Nha một cái, rồi tiếp:
- Xưa kia, vua Thuấn gảy đàn Ngũ huyền, thiên hạ thái bình . Khi vua Văn Vương ngồi tù nơi Dũ Lý, Bá Ấp Khảo thêm một dây oán gọi là văn huyền (dây văn). Về sau Vũ Vương đánh Trụ, thêm mộ,t dây có tính cách phấn khích gọi là vũ huyền (dây vũ). Do đó, Dao cầm trưỚc có năm dây mà sau lại thành bảy dâỵ Cây Dao cầm có bốn điều kỵ và bảy điều không nên. Bốn điều kỵ là: rét lớn, nắng lớn, gió lớn và tuyết rơi lớn. Bảy điều không là: không đàn ở đám tang, không đàn lúc lòng bấn loạn, không đàn lúc lòng chẳng được thanh sạch, không đàn lúc người bận rộn việc khác, không đàn lúc y trang chẳng chỉnh tề, không đàn lúc chẳng có lò hương và không đàn lúc chẳng có bạn tri âm.
Tiều phu dứt lời, nhình Bá Nha đăm đăm. Kẻ tả hữu của quan Thương Đại phu bưng trà nóng rạ Bá Nha nghe tiều phu diễn giải về cây Dao cầm biết người ấy là bậc kỳ tài trong thiên hạ, lấy làm mến lắm. Ông rót trà ra hai chén, trân trọng nâng chén mời khách:
- Xin mời hiều hữu một chén trà nhạt. Hiền hữu quả là người tinh thông về nhạc lý . Xưa kia Khổng Tử đang gảy đàn, thầy Nhan Uyên bước vào nghe tiếng đàn u trầm biết Khổng Tử có ý tham sát. Thầy Nhan hỏi ra mới biết lúc Đức phu tử đàn có trông thấy con mèo bắt chuột nên ý niệm xấu xuất ra tiếng tơ đồng. Ngày xưa thầy Nhan Uyên nghe tiếng đàn mà biết được lòng Đức phu tử; còn bây giờ hiền hữu nghe ta đàn mà có biết đưỢc lòng ta nghĩ gì chăng ?
Tiều phu ân cần đáp:
- Xin đại nhân gảy lại cho tôi nghe một khúc, xem may ra tôi có thông cảm với đại nhân được chăng.
Bá Nha thay dây đàn và bắt đầu gảy khúc Ý tại non caọ
Tiều phu vừa nghe vừa mỉm cưỜi nói:
- Tuyệt thaỵ Ý chí cao vút. Ý tại non caọ
BÁ Nha giật mình ngưng đàn, chấn chỉnh lại tâm thần rồi gảy thêm khúc Ý tại lưu thủỵ
Tiều phu cưỜi nói:
- Thật tuyệt thay cảnh bao la trời nước. Ý tại lưu thủỵ
Bá Nha thất kinh, buong đàn nhìn tiều phu trân trốị Đoạn ông sai tả hữu dẹp trà, bày tiệc rượụ Đoạn, ông đứng lên trước mặt tiều phu, kính cẩi hỏi:
- Dám hỏi tiên sinh qúy tính cao danh và quê quán ?
Tiều phu cũng đứng lên, chấp tay đáp lễ:
- Tiện dân họ Chung, tên tử Kỳ, người thôn Tập Hiền gần núi Mã Yên nàỵ Còn đại nhân, chẳng hay cao danh qúy tính là chi, hiện đi trấn nhậm nơi đâu mà ghé thuyền lại đây vãng cảnh.
Hai người cùng ngồi xuống. Bá Nha thong thả đáp:
- Tại hạ họ Du tên Thụy, là Đại phu nước Tấn, nhân đi sứ Sở quốc về thấy cảnh Hàm Dương trăng thanh gió mát nên ghé thuyền thưởng lãm. Tại hạ chỉ là một kẻ tài hèn đức bạc mà thôị Còn như tiên sinh đây học thức uyên thâm có sao không xuất lập công danh để phò vua giúp nước mà lại cam tâm ẩn dật chốn núi non hẻo lánh này ?
Chung Tử Kỳ đáp:
- Tại hạ không có anh em mà lại còn cha mẹ già. Phụ mẫu tồn bất khả viễn du (1). Dù cho công hầu khanh tướng cũng không thể đổi được một ngày báo hiếu cha mẹ của tại hạ
Giọng Bá Nha đầy phấn khích:
- Hay a, trong đời được mấy ai là người con chí hiếu như tiên sinh. Chẳng hay tiên sinh năm nay đưỢc bao nhiêu tuổi ?
Tử Kỳ đáp:
- Bẩm quan Đại phu, tiểu dân năm nay được hai mươi bảy tuổị
Bá Nha cười tươi nói:
- Tiện chức hơn tiên sinh những mười tuổị Nếu tiên sinh không chê tiện chức là kẻ thô lậu, xin được cùng kết nghĩ đệ huynh cho thoải tình tri âm mà trong đời tiện chức chỉ mới được gặp
Chung Tử Kỳ khiêm nhượng đáp:
- Đại nhân là bậc công khanh chốn triều đình, còn tại hạ chỉ là kẻ áo vải chốn sơn lâm thì làm sao kết bạn với nhau đưỢc, xin đại nhân miễn chọ
Bá Nha cả cười nói:
- Giá trị con người không ở chỗ sang hèn quý tiện, mà cốt ở đức hạnh tài năng. Nay tiệc chức thực lòng muốn kết nghĩa đệ huynh, nếu tiên sinh không khước từ thì thật là vạn hạnh cho kẻ thô lậu nàỵ
Chung Tử Kỳ làm thin h không từ chối nữạ Bá Nha có vẻ mừng, sai quân hầu đốt lại lò hương mới, lập hương án trước thuyền, rót ba chén rượu rồi cùng Tử Kỳ lạy trời đất tám lạy nhận nhau làm anh em khác họ: Bá Nha lớn tuổi hơn, làm anh Tử Kỳ Rồi hai ngưỜi cùng đối ẩm chuyện trò với nhau ra rất tương đắc.
Khi tiếng gà eo óc vang lên trong thôn và ngàn sao trên bầu trời khuya nhạt dần, hai người mới nghĩ đến chuyên chia taỵ Bá Nha xúc động nói:
- Lòng huynh quá cảm mộ hiền đệ nên chưa muốn rời xa, vậy mời hiền đệ cùng đi với ngu huynh một đoạn đường, cùng nhau du sơn du thủy và cùng nhau trút cạn mối tâm tình.
Chung Tử Kỳ ngậm ngùi:
- Theo lễ thì đệ phải tiễn huynh mấy dặm đưỜng, hiềm vì song thân của tiểu đệ ở nhà đang trông ngóng, dám xin hiền huynh thứ lỗi chọ
Bá Nha hỏi:
- Hiền đệ có thể xin phép bá phụ bá mẫu để sang chơi kinh đô Tấn quốc chứ ?
- Tiểu đệ không dám phụ lòng ái một của hiền huynh, song lại cũng không dám hứa chắc với hiền huynh được. Nhỡ tiểu đệ không đưỢc song đường cho phép thì hoá ra thất tín với hiền huynh.
Bá Nha rất đổi ngậm ngùi:
- Lòng hiếu thảo của hiền đệ thật đáng kính trọng biết baọ Vậy thì sau này huynh sẽ tìm cách đến đây thăm đệ
- Bao giờ thì hiền huynh sẽ trở lại đây ?
Bá Nha nắm tay Tử Kỳ, giọng khẩn thiết:
- Sang năm, cũng vào ngày giờ nàỵ
Tử Kỳ cười:
- Sang năm, cũng vào ngày giờ này tiểu đệ xin đón hiền huynh nơi đâỵ
Bá Nha sai quân lấy ra hai nén vàng, hai tay nâng cao ngang mặt, nói với Tử Kỳ:
- Ngu huynh có chút lễ mọn xin kính dân lên bá phụ và bá mẫu, hiền đệ chớ từ chối mà phụ tấm lòng thành của tạ
Cảm tình tri ngộ, Tử Kỳ không từ chốị Hai người bịn rịn chia tay nhau...
Thời gian lặng lẽ trôi, và thấm thoát một năm đã quan. Trời đất lại vào thụ Bá Nha nhớ lời ước hẹn với Tử Keỳ năm xưa nên xin với Tấn Vương cho mình về thăm quê nhà. Tấn vương chấp thuận. Thế là Bá Nha cùng với các người tùy tùng xuống thuyền, trực chỉ Hàm Dương; không quên mang theo cây Dao Cầm.
Đến bến Hàm Dương, Bá Nha ra lệnh cho trạo phu dừng thuyền dưới núi Mã Yên. Khi thuye6`n đã cắm sào yên vị, ông ra trưỚc mũi thuyền nhìn ngắm lại cảnh cũ, nơi mà mình đã kết giao được một người bạn tri âm. Chiều dần dần đậu màụ Bá Nha trông ngóng mãi mà sao chẳng thấy bóng dáng Tử Kỳ xuất hiện như lời hứa năm xưạ Quá sốt ruột, ông sai quân hầu đốt lò hương rồi lấy cây Dao cầm ra đàn một khúc, hy vọng Tử Kỳ lẫn quất đâu đó, nghe tiếng đàn sẽ đến.
Trong cơn gio nhẹ đa6u thu, Bá Nha bỗng nghe tiếng đàn của mình có giọng ai oán não nùng nên thất kinh, ngưng đàn suy nghĩ : "Cung thương bỗng nhiên nghe ai oán như thế này, hẳn Chung Tử Kỳ đã bị nạn rồị Sáng mai ta phải lên bờ dò xét mới đưỢc".
Đêm hôm ấy Bá Nha trăn trở suốt đêm không làm sao chợp mắt đưỢc. Lòng ông nóng như lửa đốt lại lẫn một nỗi trầm uất rất khó tả.
Tờ mờ sáng hôm sau, Bá Nha khoác cây Dao cầm lên lưng, bỏ vào túi mười nén vàng ròng rồi dắt vài tên quân hầu lên bờ, nhắm hướng thôn trang sau chân núi Mã Yên tiến bước. Ra khỏi trie6`n núi, gặp một con đường khá lớn băng ngang lối đi, Bá Nha không biết nên đi đường nào nên ngồi xuống vệ đường nghỉ chân, định bụng chờ người qua lại để hỏi thăm đường về thôn Tập Hiền. Một lúc sau, Bá Nha trông thấy trước mặt mình có một ông lão tay xách bị, tay chống gậy trúc đang đi tớị Bá Nha đứng cúi mình thi lễ. Ông lão lên tiếng trưỚc:
- Quý nhân có điều chi cần hỏi lão phu phải không?
Bá Nha kính cẩn đáp:
- Thưa lão trượng, xin lã trượng vui lòng chỉ cho tiểu sinh con đường nào về Tập Hiền thôn ?
Ông lão nhìn Bá Nha một lúc rồi đáp:
- Cả hai con đường đều dẫn về Tập Hiền thôn. Đường bên phải về thôn Tập Hiền thượng, còn đường bên trái về thôn Tập Hiền hạ Tiên sinh cần đến thôn nào ?
Bá Nha lại hỏi:
- Thưa lão trượng, người Tử Kỳ học Chung ở thôn nào ạ ?
Vừa nghe Bá Nha nhắc đến Chung Tử Kỳ, ông lão sa sầm nét mặt ngaỵ Ông nhìn thẳng vào mặt Bá Nha một lúc lâu rồi rung rung giọng nói:
- Chung Tử Kỳ là con trai của lão phụ Năm ngoái cũng vào ngày này tháng này, nó đi đốn củi về có gặp một vị quan nước Tấn tên là Bá Nha và kết nghĩ đệ huynh với vị quan ấy vì chỗ đồng thanh tương ứng đồng khí tươNg cầụ Lúc chia tay, Bá Nha có tặng cho con trai lão hai nén vàng. Về nhà, con trai lão dùng số vàng ấy đi mua sách đọc, bất kể ngày đêm, giờ giấc ngoài việc đốn củi mưu sinh. Vì quá lao nhọc như thế nên chẳng bao lâu con lão lâm bệnh mà qua đời rồị
Nghe ông lão nói thế, Bá Nha không cầm được nước mắt và cảm thấy nghẹ cổ chẳng thốt được nên lờị Ông lão thấy thế bèn hỏi tên quân hầu của Bá Nha:
- Tiên sinh đây là ai vậy ?
Tên quân hầu đáp:
- Thưa lão trượng, đây là quan Thượng Đại phu nước Tấn, Du Bá Nhạ
Ông lão giật mình kêu lên thảng thốt "Trời ơi", rồi nghẹn ngào không nói thêm gì được. Bấy giờ, một già một trẻ đều im lặng nhìn nhau mà khóc. Một lúc sau, Chung lão gạt nước mắt nói:
- Mang ơn Du Đại phu không chê cảnh ba6`n tiện mà kết giao cùng con trai lãọ Lúc sắp lâm chung, Chung Tử Kỳ có trối trăn với lão rằng "Sống không trọn đạo làm con, chết xin được chôn dưới chân núi Mã Yên để được trọn nghĩ bạn bè cùng quan đại phu nước Tấn". Theo lời trối của con, lão phu đã chôn Tử Kỳ ở ven đường dưới chân núị Con đường mà đại nhân vừa đi qua, phía bên phải có nấm đất nhỏ là ngôi mộ của Tử Kỳ đấỵ Tử Kỳ chết đến nay đã được một trăm ngày, lão vừa đi viếng mộ nó trở về thì gặp đại nhân.
Bá Nha ngậm ngùi:
- Ôi sư.đời may rủi khó lường... Xin lão bá cho tiểu sinh viếng mộ Chung hiền đệ cho vơi bớt nỗi đau thương trong lòng.
Mọi người quay trở lại chân núị Đến trước nấm mộ của Tử Kỳ, Bá Nha thắp hương rồi vừa lạy vừa khoc'; tuy ông không nói được lời nào nhưng lòng của ông đã nói lên tất cả tấm tình dành cho người bạn tri âm. Lạy mộ Tử Kỳ xong, Bá Nha ngồi lên một tảng đá, mở đàn ra trân trọng gảy lên khúc "Thien thu trường hận". Tiếng đàn đang réo rắt bỗng trầm thì mọi người bỗng nghe tiếng gió ngàn rít mạnh, và thấy ánh sáng trong ba6`u trời đổi màu u ám, rồi có tiếng chim vọng lại từ xa nghe u uất não nùng...
Bá Nha ngưng đàn. Gió ngừng rít. Trời trong sáng trở lạị Tiếng chim ai oán ngừng kêụ Bá Nha nhình Chung lão, nói:
- Có lẽ hồn Tử Kỳ đã hiện về chứng giám cho tấm lòng thành của tiểu sinh. Tiểu sinh vừ đàn một khúc đoản ca để viếng người bạn tri âm tài hoa bạc mê.nh. Bài đó như thế này:
"Ức tính khí niên xuân
Giang thượng tàng hội quân
Kim nhật trùn lai phóng
Bất kiến tri ân nhân
Đán kiến nhất phân thố
Ân nhiên thương ngã tâm
Bất giác lệ phân phân
Lai hoan khứ hà khố
Giang ban khơi sầu xuân
Tử Kỳ, Tử Kỳ hề
Nghĩ, ngã thiên kim nghĩa
Lịch tận thiên nhai vô túc ngữ
Thứ khúc chung hề bất phụ đàn
Tam xích Dao cầm vị quân tứ
(Từ nhớ thưở mùa thu năm trước
Bến trường giang gặp bạn cố nhân
Nam nay lại đến giang tân
Dòng sông lạnh ngắt, cố nhân đâu rồi ?
Buồn chi mấy nấm mồ bên núi
Cõi ngàn năm sao khỏi đau lòng
Ôi thương tâm, ôi thương tâm
Sụt sùi lai láng bao dòng lệ rơi
Mây sầu loang loáng chân trời
Đêm vui đổi lấy một đời khổ đau
Tử Kỳ đâu, Tử Kỳ đâu ?
Ngàn vàng khôn chuộc được bầu tâm can
Thôi từ nay, với phím đàn
Ngàn thu thôi hết mơ màng cố nhân ...)
Đọc xong bài ca, Bá Nha giơ cao cây Dao cầm lên và đập mạnh xuống tảng đá. Cây đàn qúy vỡ tung ra từng mảnh nhỏ, rơi vãi khắp nơị
Chung lão hoảng hốt, hỏi:
- Ô kìa, đại nhân bất bình điều chi mà lại đập vỡ cây đàn quý như thế ?
Bá Nha ứng khẩu đọc tiếp một bài thơ tứ tuyệt để đáp lời Chung lão:
"Thối đoái Dao cầm phượng vĩ hàn
Tử Kỳ bất tại, hướng thùy đàn ?
Xuân phong mãn diện gia bằng hữu
Dục mịch tri âm, nan thượng nan".
(Dao cầm đập vỡ đau lòng phượng
Đã mất Tử Kỳ, đàn với aỉ
Gió xuân bốn mặt bao bè bạn
Muốn kiếm tri âm, thật khó thay)."
Chung lão nghe thế, ngậm ngùi than:
- Ôi, chỉ vì không có người biết nghe đàn mà kẻ đánh đàn thất vọng đến thế ư ...
Giọng Bá Nha đầy u buồn:
- Thưa bá phụ, lẽ ra tiểu sinh phải theo bá phụ đến quý thất để vấn an bá mẫu, nhưng nghĩ rằng về đấy cũng chỉ chuốc thêm sầu khổ vào lòng người mà thôi; dám xin bá phụ miễn chọ Nay tiểu sinh có đem theo mười nén vàng, xin thành thâm dâng lên bá phục cùng bá mẫu dùng trong việc cung dưỡng tuổi già, đồng thời tạo mươi mẫu ruộng để làm tự cho Tử Kỳ. Tiểu sinh và Tử Kỳ đã xem nhau như ruột thịt, co;' lẽ vài bốn năm sau tiểu sinh sẽ từ quan và trở về đây chung sống với bá phụ và bá mẫụ
Nói xong, Bá Nha quỳ xuống dâng cho Chung lão mưỜi nén vàng. Trước tấm chân tình của Bá Nha, Chung lão không từ chốị Bá Nha lạy Chung lão mấy lạy rồi từ giã trở xuống thuyền. Chung lão nhìn theo, lòng đầy ngậm ngùi thương cảm ...
====
(1) Cha mẹ còn sống, làm con không nên đi xạ
qcluu
07-15-2003, 12:21 PM
Khen: "Tài nhả ngọc phun châu
NÀNG BAN, Ả TẠ cũng đâu thế này".
(Câu 405, 406. Kim Trọng khen tài thơ của Kiều)
NÀNG BAN: Ban Chiêu, một người đàn bà hay chữ đờ Đông Hán.
Ả TẠ: Tạ Đạo Uẩn, một người con gái giỏi thơ đời Tấn.
BAN CHIÊU, tự Huệ cơ, con gái Ban Bưu, em Ban Cố và Ban Siêu; người đời Đông Hán. Ban Chiêu sinh trưởng trong một gia đình thuộc dòng dõi văn học . Cha và người anh lớn là Ban Cố là nhà viết sử của triều đình. Riêng Ban Siêu làm tướng, được phong định viễn hầụ
Năm mười lăm tuổi, Ban Chiêu đã biết làm thơ và làu thông Tứ thư, Ngũ kinh. Lớn lên sánh duyên cùng Tào Thết Thức, một danh Nho của Đông Hán. Lấy chồng được mười năm thì Tào Thế Thức qua đời vì bệnh, Ban Chiêu thủ tiết thờ chồng.
Đến đời vua Hoà đế, Ban Chiêu đưỢc triệu vào cung để dạy học cho các Hoàng Tử và các Phi tần. Bà nổi tiếng là một người thầy nghiêm minh. Lúc bấy giờ cha bà là Ban Bưu đang tại chứ Đông các đại học sĩ, chịu trách nhiệm soạn thảo bộ Hán thự Công việc chưa xong thì ông qua đờị Ban Cố, anh của Ban Chiêu được nhà vua giao tiếp tục công trình của chạ Nhưng chẳng bao lâu Ban Cố cũng qua đời vì bạo bệnh mà bộ Hán thư chưa được hoàn tất.
Thấy cha và anh bỏ dở công trình, Ban Chiêu tâu xin với nhà vua cho bà được tiếp tục. Thế là bà đưỢc vua Hoà đế chấp thận và đưỢ,c sung vào Đông các tàng thư, Ban Chiêu đã trước tác được lập Nữ Giới gồm bảy thiên. Kể từ đó tiếng tăm Ban Chiêu lừng lẫy khắp trong nước.
Điển tích thứ hai về NÀNG BAN là Ban Tiệp dư, một cung nhân của vua Hán Thành Đế. (Tiệp dư là chức của vua ban cho cung nhân).
Ban Tiệp dư chẳng những đẹp mà con giỏi văn thơ nên rất được Hán Thành đế sủng áị Một hôm, Hán Thành đế vi hành ra ngoài kinh thành, gọi Ban Tiệp dư cùng ngồi chung xẹ Nàng e bên ngoài dị nghị, bên trong ganh ghét nên từ chối lời nhà vua, khiến Thành đế không khỏi phiền lòng. Chẳng ngờ lòng tự trọng ấy lại đem hại cho nàng. Thứ phi Triệu Phi Yến vốn từ lâu ganh với tài sắc của Ban Tiệp dư, nhân cơ hội ấy đem lời xúc xiểm nàng với Thành đế rằng:
- Ban Tiệp dư cậy có tài sắc nên khi quân, không tuân mệnh nhà vuạ
Hán Thành đế vốn đã phiền muộn Ban Tiệp dư không chịu xuất thành cùng mình, nghe Triệu Phi Yến tố thêm như thế nên nhà vua chẳng cần nghĩ suy, giáng chiếu đày Ban Tiệp dư ra cung Thường Tín hầu hạ Hoàng Thái Hậụ
Dù bị hàm oan, Ban Tiệp dư vẫn không đem lòng oán hận quân vương hay Triệu Phi Yến, mà vẫn giữ một lòng trinh thuận với các đấng bề trên, giữ tròn đạo thần tử. Ở cung Thường Tín, Ban Tiệp dư có làm bài Thu Phiến (Cái quạt muà thu) để tự ví đời mình. Bài thơ nổi tiếng là hay và được truyền tụng rộng rãi:
"Tân chết Tề hoàn tố
Hạo khiết như sương tuyết
Tài thành hợp hoan phiến
Đoán đoán tự minh nguyệt.
Xuất nhập quân hoài tụ
Động dao vi phong phát
Thường khúng thu tiết chi
Lương viêm đoạt viêm nhiệt.
Khí quyển giáp tư trung.
Ân tình trung đạo tuyệt".
(Mới chế lụa Tề trắng
Trong sạch như sương tuyết
ĐEm làm quạt hợp hoan
Tròn hình giống mặt nguyệt.
Ra vào trong tay vua
Lay động sinh gió mát.
Thường sợ tiết thu đến
Gió mát cướp nồng nhiệt.
Nên cất vào xó rương,
Nửa đường ân ái tuyệt).
TẠ ĐẠO UẨN, con gái quan Thái Úy Tạ Công đời nhà Tấn. Thuở nhỏ, Tạ Đạo Uẩn thông minh, học rộng đối đáp nhanh và biện bác rất giỏị
Một hôm vào tiết mạnh đông, tuyết rơi lã chã, Tạ Đạo Uẩn cùng anh là Tạ Lăng và chú ruột là Tạ An ngồi xem tuyết rơị Tạ Anh hỏi hai cháu:
- Tuyết rơi trông giống cái gì nhỉ ?
Tạ Lăng đáp:
- Giống "Muối trắng ném giữa trời".
Tạ Đạo Uẩn lắc đầu, cãi:
- Ý ấy không haỵ Tuyết rơi giống "Gió thổi tung tơ liễu".
Tạ An khen cháu gái là người tài hoa xuất chúng. Tạ Anh cũng là một tay văn mặc có hạng thời bấy giờ. Ôn đã từng được triều đình triệu dụng nhưng từ chối quan trường. Mãi đến năm bốn mươi tuổi mới chịu xuất chính, làm chức Tư Mã, cùng cháu là Tạ Huyền cầm quân dẹp giặc khắp nơi, đạt nhiều thắng lơị Về sau được phong Thái Phó. Khi về hưu, Tạ Anh lãnh phần dạy dỗ các cháu trong việc học hành.
Tạ Đạo Uẩn là cháu và cũng là học trò của Tạ An, từng được ông đem ra làm gương cho con cháu rằng:
- Ta Đạo Uẩn nếu là con trai sẽ nổi danh về tại biện bác không thua Trương Nghi, Tô Tần thời chiến quốc đâụ
Lớn lên, Tạ Đạo Uẩn sánh duyên cùng Vương Ngưng Chi, một chàng trai nổi tiếng văn chương thời bấy giờ. Về nhà chồng, Tạ Đạo Uẩn thường thay chồng tiếp khách văn mặc, đàm luận văn chương thi phú; không chịu thua kém aị
Vương Ngưng Chi có người em trai là Vương Hiến Chi tuy học giỏi nhưng lại kém tài biện bác, thường nói chuyện thua sút bạn bè. Tạ Đạo Uẩn sợ em chồng làm mất danh tiếng gia đình chồng, nên mỗi lần Vương Hiển Chi đàm đạo, tranh luận với ai thì nàng thường đứng sau màn nhắc nhở, chỉ đạo cho em chồng. Nhờ thế mà Vương Hiển Chi dần dần trở nên người có trình độ biện luận vững chải khiến mọi người không còn dám coi thường.
Tạ Đạo Uẩn có làm bài thơ "Bạch Tuyết", được cả thiên hạ thời bấy giờ khen là một kiệt tác văn chương. Về sau một thi sĩ đời Đường làm thơ có câu "Đông ngâm Bạch Tuyết thi" là ý nhắc đến bài thơ của Tạ Đạo Uẩn vậỵ
qcluu
07-16-2003, 11:12 AM
Nàng rằng: "Trộm liếc dung quang
Chẳng sân BỘI NGỌC thời phường KIM MÔN"
(Câu 309, 410. Kiều khen Kim Trọng)
BỘI NGỌC: Sách Lễ ký viết: "Quân tử bội ngọc" là nói bậc quân tử đeo ngọc để ví cái đức hạnh của bậc quân tử sáng đẹp như viên ngọc vậỵ Về sau người ta dùng tiếng Bội Ngọc để chỉ những người làm quan tọ
KIM MÔN hay KIM MÃ MÔN: do câu "Hán Vũ Đế sử học sĩ đãi chiếu Kim mã môn": nghĩ là vua Vũ đế nhà Hán cho những người có văn học chực ở cửa Kim Mã để nhà vua có chuyện gì cần thì hỏi đến.
Về sau trong giới quyền quý thường dùng chữ Kim Mã để chỉ những nơi dành tiếp các bậc có văn học.
xphidonx
07-29-2003, 02:21 PM
Ca'm o*n ca'c anh chi. dda~ chia se? Truye^.n Kie^`u ...ra^'t hay va` ra^'t co' ly' thu'.
Nho*' la.i nga`y na`o, mi`nh cu*' coi ddi coi la.i tuo^`ng ca?i lu*o*ng ho^` qua?ng Vu*o*ng Thuy' Kie^`u to*'i ca? tra(m la^`n va` sau ddo'...mi`nh bie^'t la`m ddu*o*.c tho* con co'c luo^n. :p
Co^ng nha^.n, ta'c pha^?m ddo' dda~ a?nh hu*o*?ng to*'i ca'ch nhi`n cu?a mi`nh va` dda~ giu'p cho mi`nh giu*? ddu*o*.c kho^ng it' ca'i hu*o*ng ca'i sa('c cu?a ngu*o*`i vie^.t nam.
qcluu
07-31-2003, 08:43 PM
Originally posted by xphidonx
Cám ơn các anh chị đã chia sẻ Truyện Kiều ...rất hay và rất có lý thú.
Nhớ lại ngày nào, mình cứ coi đi coi lại tuồng cải lương hồ quảng Vương Thuý Kiều tới cả trăm lần và sau đó...mình biết làm được thơ con cóc luôn. :p
Công nhận, tác phẩm đó đã ảnh hưởng tới cách nhìn của mình và đã giúp cho mình giử được không it' cái hương cái sắc của người việt nam.
Cám ơn xphidonx đã ghé qua thăm cùng với những mỹ ý trên. Q sẽ cố gắng tranh thủ thời gian để viết thêm nhiều điển tích nữa hầu được chia xẽ phần nào đến với bạn và quí ACẸ
Tudoi
08-02-2003, 01:34 AM
Cám ơn qcluu đã bỏ công sức và thời giờ để sưu tầm điển tích trong Truyện Kiều để ACE Vietcyber có nơi học hỏi
qcluu
08-02-2003, 06:29 AM
Originally posted by Tudoi
Cám ơn qcluu đã bỏ công sức và thời giờ để sưu tầm điển tích trong Truyện Kiều để ACE Vietcyber có nơi học hỏi
Anh TTTTTUUUUUDDDDDDOOOIIIIII,
Dạo này fẻ hôn anh ? Thấy anh đi vacation "Hiking" là biết chắc anh fẻ lắm hén! Anh đã ghé qua thăm là Q. mừng, và xem đó là một danh dự rùi . Q. dạo này hơi bận, nhưng cũng ráng tranh thủ thời gian để viết tiếp đó anh.
Nếu có gì thiếu sót, Q. xin anh dòm ngó, chỉ dạy dùm hén ! Cám ơn anh cũng như đa tạ những lời khích lệ tinh thần trên của anh!
Kính,
Q.
TimCT
08-03-2003, 01:28 PM
Originally posted by Tudoi
Cám ơn qcluu đã bỏ công sức và thời giờ để sưu tầm điển tích trong Truyện Kiều để ACE Vietcyber có nơi học hỏi
Anh TuDoi ơi,
"Tìm anh như thể tìm chim".... Welcome back anh :)
TimCT
08-03-2003, 01:33 PM
Các bạn ơi!
Thấy anh qcluu đã bỏ quá nhiều công sức để sưu tầm các tài liệu quý giá nầy, nên tôi sợ mất - có lẽ sắp chống gậy rồi nên thấy cái gì quý cũng sợ mất hết :) :) :)
Các bạn nghĩ mình nên save cái tài liệu nầy trong sticky không ?
qcluu
08-03-2003, 01:47 PM
"Ví dù GIẢI KẾT đến điều
Thì đem vàng đá mà liều với thân"
(Câu 420, 421. Kim Trọng nói với Kiều)
GIẢI KẾT: chữ lấy từ trong sách nhà Phật, có nghĩa là "Giải oan kết tục"; hay cũng cóthể nói là "kết giải đồng tâm"
Truyện Lư Sinh đời đường kể rằng:
Từ Minh, một vị viên ngoại đời Đường có cô con gái đẹp gả cho Lư Sinh, một nho sĩ ở kinh thành.
Đúng ngày vu quy của con gái, viên ngoại phu nhân cho mời một "nữ vu" (bà đồng bói toán) tới và hỏi:
- Vậy chiều nay tiểu nữ có lên kiệu hoa chăng ?
- Có . Tiểu thư sẽ lên kiệu hoa chiều naỵ
Từ Minh phu nhân lại càng ngạc nhiên hơn :
- Tiểu nữ có lên kiệu hoa, thì tại sao nghĩa tế của tôi không lại là Lư Sinh ?
Nữ vu cười đáp:
- Điều đó thì không hiểu được. Tôi chỉ biết rằng rể của phu nhân không phải là chàng Lư Sinh.
Một lúc sau, họ nhà trai đến với đầy đủ lễ vật. Từ Minh phu nhân nổi giận với Nữ Vu nên đuổi bà ta ra khỏi nhà. Ra tới cửa, Nữ vu còn ngoáy đầu lại nói thêm:
- Buổi chiều chuyện mới xảy ra, tôi không nói dối đâụ
Buổi chiều, Lư Sinh đến. Chàng vào nhà thi lễ với ông bà nhạc rất đúng phép tắc. Hai họ phân ngôi chủ khách để chuẩn bị làm lễ. Bỗng nhiên Lư Sinh chạy vụt ra cửa, mở dây cột ngựa rôi lên ngựa phóng như bay; chẳng nói với ai một tiếng nàọ Ai nấy trong nhà đều ngạc nhiên, trố mắt nhìn nhau vì chẳng một ai biết lý do gì khiến Lư Sinh bỏ đi đột ngột như thế. Phần viên ngoại Từ Minh, dĩ nhiên ông giận đến tái mặt . Bầu không khí vui vẻ trưỚc đó mấy phút đã trở nên nặng nề vô cùng. ... Mọi ngu8O8`i chưa có ai mở lời gì thì Từ Minh lên tiếng trước:
- Tôi sẽ cho con gái tôi ra đây trình diện quý khách.
Đoạn ông quay vào trong gọi con gáị Từ buồng trong, cô dâu vén màn bước ra, nhan sắc lộng lẫỵ Mọi người nhìn rõ mặt cô dâu , đều trầm trồ khen ngợi và tỏ ý tiếc cho Lư Sinh.
Từ Minh lên tiếng tiếp:
- Con gái tôi đã trình diện quý khách. Vậy bây giờ trong số thanh niên có mặt ở đây, ai bằng lòn g làm rể tôi thì tôi sẽ gả ngay tiện nữ.
Từ viên ngoại vừa dứt lời thì chú phù rể tiến lên một bước, cung kinh thưa :
- Kính thưa viên ngoại và quý khách, tôi xin được cưới cô dâụ
Từ viên ngoại cả cười, cho tổ chức tiệc cưới ngaỵ Chú phù rể trở thành chú rể chánh thức, người họ Tri.nh.
Một thời gian sau, Trịnh làm quan trong kinh độ Có lần gặp Lư Sinh, Trịnh nói nguyên do nào khiến Lư bỏ chạy thục mạng trong buổi chiều đi cưới vợ năm xưa thì được Lư Sinh đáp:
- Trời ơi, con bé đó hai mắt đỏ rực như hai cục than và lồi ra như hai cái chén, răng thì nhọn như lưỡi dao trông thấy phát khiếp nên tôi phải bỏ chạỵ
Trịnh gọi vợ đến chào bạn và kể cho Lư Sinh nghe mọi diễn tiến trong buổi chiều hôm ấy sau khi Lư Sinh bỏ chạỵ Lư Sinh thẹn quá nên cáo từ vợ chồng Tri.nh.
Thế mới biết "việc kết giải đồng tâm vốn do tiền định bất khả cầu".
qcluu
08-03-2003, 01:58 PM
Originally posted by TimCT
Các bạn ơi!
Thấy anh qcluu đã bỏ quá nhiều công sức để sưu tầm các tài liệu quý giá nầy, nên tôi sợ mất - có lẽ sắp chống gậy rồi nên thấy cái gì quý cũng sợ mất hết :) :) :)
Cám ơn anh TimCT! :) Thật là một hân hạnh cho Q. được "anh chủ cái forum này" ghé thăm với những mỹ cảm trên! Q. cũng giống như quý ACE trong gia đình VCB ... hy vọng được hân hạnh chia xẽ phần nào đến với quý ACẸ Q. xem đây là cơ hội cho mình học hỏi thêm đó anh. Có gì thiếu sót, mong anh cứ tự nhiên chỉ dạỵ
Các bạn nghĩ mình nên save cái tài liệu nầy trong sticky không ?
Q. đi vote "yes" cho thread của mình thì kỳ quá! :) Dù kết quả ra sao đi chăng nữa, Q. cám ơn anh đã có nhã ý trên nghen!
Chúc anh vui,
Q.
TimCT
08-03-2003, 08:31 PM
Originally posted by qcluu
Q. đi vote "yes" cho thread của mình thì kỳ quá! :) Dù kết quả ra sao đi chăng nữa, Q. cám ơn anh đã có nhã ý trên nghen!
Chúc anh vui,
Q.
Anh Q. ơi,
Theo tôi nghĩ là mình sẽ chờ 1 tuần (đến next Sunday 8/10) nếu mình có phiếu "Yes" thì quá tốt . Nếu không có phiếu nào cả, nghĩa là không có phiếu "No" thì tôi cũng đưa vào Sticky . Chắc bà con cũng thông cảm là mình không đi quá giới hạn .:)
Tudoi
08-04-2003, 12:28 PM
Originally posted by TimCT
Anh TuDoi oi,
"Tìm anh như thể tìm chim "...Welcome back anh :)
Cám ơn anh TimCT đã có lòng hỏi thăm và chào đón.
Tudoi cũng thấy thế đó anh. Cho cái Thread này vào Sticky là đúng rồi. Vì truyện Kiều là Việt Nam mà Việt Nam là truyện Kiều :)
Hi qcLuu
Anh bỏ phiếu trước đấy nhe :) :p
qcluu
08-05-2003, 06:00 PM
Originally posted by Tudoi
Originally posted by TimCT
Cám ơn anh TimCT đã có lòng hỏi thăm và chào đón.
Tudoi cũng thấy thế đó anh. Cho cái Thread này vào Sticky là đúng rồị Vì truyện Kiều là Việt Nam mà Việt Nam là truyện Kiều :)
Hi qcLuu
Anh bỏ phiếu trước đấy nhe :) :p
Cám ơn anh Tudoi! Q. sẽ hong quên ơn anh mà ! :)
qcluu
08-05-2003, 07:11 PM
Nhặt thưa, gương giọi đầu cành
Ngọn đèn trông lọt TRƯỚNG HUỲNH hắt hiu"
(Câu 433, 434. Kiều sang nhà Kim Trọng ban đêm)
TRƯỚNG HUỲNH, cũng có thể gọi là Huỳnh song là bức màn hay song cửa có chói ánh sáng con đom đóm.
Trác Dận tự Võ Sơ, người Đông thành thời Hán, thưở nhỏ là một đứa trẻ thông minh đĩnh ngộ Trác Dận nhà nghèo nhưng rất ham đọc sách. Vì nhà quá nghèo không có tiền mua dầu, đèn nên Trác Dận phải bắt đom đóm bỏ vào một cái đải để lấy ánh sáng mà đọc sách.
Lớn lên, thi cử đỗ đạt làm quan đến Thượng Thợ
qcluu
08-07-2003, 09:31 PM
Tiếng sen sẽ động GIẤC HÒE
Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần
(Câu 437, 438. Kim Trọng mơ màng thấy Kiều đến)
GIẤC HOÈ là giấc mơ bên gốc cây hòẹ Giấc hòe còn được gọi là giấc Nam Kha bởi hai câu chuyện như sau:
1. Lý Công Tá, người đời Đường, nằm mơ thấy mình lấy được con gái vu nước Hòe An và được bổ nhậm làm Thái thú đất Nam Khạ Tỉnh dậy mới biết đó chỉ là một giấc chiêm baọ Về sau Lý Công Tá có làm một bài Nam Kha ký, thuật lại giấc mơ của ông.
2. Thuần Vu Phần lại cũng nằm mơ thấy mình đi đến nước Hòe An, được nhà vu gả Công chúa cho và cũng được làm Thái Thú đất Nam Kha; phú quý vinh hiển suốt hai mươi năm. Về sau cầm quân đi đánh giặc bị bại trận, vợ lại chết, nhà vua đem lòng nghi ngờ nên bãi quan chàng. Khi tỉnh dậy thì đó chỉ là một giấc mơ, Thuần Vu Phần thấy mình còn nằm bên gốc cây hòe, phía sau chỗ mình nằm lại có một ổ kiến lớn.
"Giấc Nam Kha khéo bất bình
Bừng con mắt dậy thấy mình tay không"
giatugiatu
08-09-2003, 06:08 PM
Originally posted by TimCT
Các bạn ơi!
Thấy anh qcluu đã bỏ quá nhiều công sức để sưu tầm các tài liệu quý giá nầy, nên tôi sợ mất - có lẽ sắp chống gậy rồi nên thấy cái gì quý cũng sợ mất hết :) :) :)
Các bạn nghĩ mình nên save cái tài liệu nầy trong sticky không ?
Yes
qcluu
08-12-2003, 09:28 PM
Originally posted by giatugiatu
Yes
Cám ơn anh giatugiatu! :) Và cám ơn anh TimCT đã "đóng cây đinh" dzùm. Q. khỏi phải chạy tới chạy lui tìm ! :)
qcluu
08-12-2003, 09:30 PM
Bâng Khuâng ĐỈNH GIÁP, NON THẦN
Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng
(Câu 439, 440. Tâm trạng Kim Trọng)
"MÂY MƯA đánh đổ đá vàng
Quá chiều nên đã chán chường yến anh".
(Câu 513, 514. Kiều nói với Kim Trọng)
"Cũng là lỡ một lầm hai
Đá vàng sao nở ép nài MÂY MƯA"
(Câu 1007, 1008. Tú Bà dỗ dành Kiều)
ĐỈNH GIÁP: Núi Vu Giáp
NON THẦN: Núi Thần Châu
MÂY MƯA: Chỉ sự trai gái giao hoan với nhaụ Ngoài ra, còn hai từ nữa là Cao Đường và Dương đàị Tất cả những từ ngữ trên đều có cùng một ý nghĩạ
Thời chiến quốc, vua Sở Tương Vương một hôm cùng với Tống Ngọc đến chơi ở đầm Vân Mộng dưới núi Vu Giáp. Nhà vua nhìn lên quán Cao Đường thấy khí mây ngùn ngụt, lúc dồn dập, lúc tan loãng luôn thay đổi hình dạnh không ngừng. Nhà vu a hỏi Tống Ngọc:
- Khí gì vậy ?
Tống Ngọc thưa:
- Tâu Chúa công, đó là mây sớm. Xưa tiên vương đến chơi quán Cao Đường ngủ lại đêm, nằm mơ thấy có một người đàn bà tuyệt đẹp đến xưng là thần núi Vu Giáp; rồi bày cuộc ái ân với tiên vương. Đến khi từ biệt, nàng ấy nói rằng: "Thiếp ở trên núi Vu Giáp, chốn gò cao, sớm lày mây, tối làm mưa; sớm ở Vu sơn, tối ở Dương đài".
Sở Tương Vương nghe thế bèn cho lập miếu thờ ở Dương đài dưới chân núi Vu Giáp, đặt tên là miếu "Thiên Vân" (Mây sớm).
GIẤC MỘNG ĐÊM XUÂN hay là Một giấc mộng xuân (Nhất trường Xuân mộng), ý để chỉ việc đời biến ảo vô thường.
Triệu Kim Thời, một học giả thời nhà Tống có viết một bộ sách tên là "Hầu Chính Lục", ghi sự tích của các văn nhân tiền bốị Trong sách Hầu Chính Lục có một câu chuyện kể rằng:
Đông Pha lão nhân người ở huyện XươNg Hóa, một hôm nhàn rỗi mang trên lưng một chiếc bầu lớn thong thả dạo chơi trên một cánh đồng. Đi chưa được bao lâu thì Đông Pha lão nhân gặp một bà cụ tuổi ngoài bảy mươị Bà cụ già trông thấy Đông Pha lão nhân thong dong nhàn hạ, bèn thở dài nói với ông rằng:
- Những phồn hoa phú quý trong Hàn lâm viện ngày xưa chẳng qua như một giấc mộng xuân mà thôị
Những người ở trong vùng ấy biết chuyện, bèn gọi bà cụ già ấy là Xuân Mộng bà bà ...
TimCT
08-13-2003, 07:47 AM
Originally posted by qcluu
Cám ơn anh giatugiatu! :) Và cám ơn anh TimCT đã "đóng cây đinh" dzùm. Q. khỏi phải chạy tới chạy lui tìm ! :)
Tui không dám nhận tiếng "cám ơn" bây giờ đâu . Mai mốt nếu anh có in lại và mang sang nhà xuất bản "Đại Ngã" hay "Đại Nam" gì đó thì đừng quên anh em trong đây là đủ rồi .:)
qcluu
08-13-2003, 08:40 AM
Originally posted by TimCT
Tui không dám nhận tiếng "cám ơn" bây giờ đâu .
Anh từ chối cũng hỏng sao! :)
Mai mốt nếu anh có in lại và mang sang nhà xuất bản "Đại Ngã" hay "Đại Nam" gì đó thì đừng quên anh em trong đây là đủ rồi .:)
:p Q. chưa bao giờ biết tới vụ "in lại và mang sang nhà xuất bản "Đại Ngã", "Đại Nam" " này !!! Cám ơn anh đã chỉ đường làm ăn nghen! :)
Nói chớ, chủ yếu là chia xẽ ACE trong đây thui anh TimCT ui!!! Hơn nữa, "Tề gia" còn chưa xong mà đâu có thời gian đâu mà nghĩ tới chuyện khác chớ ! :)
Nếu Q. mà làm được thì dzĩ nhiên làm sao quên ACE được !!! :) ... Chỉ ngại là hỏng phải Q. in làm thì Q. hỏng làm sao giúp được. Vì đã post lên đây rồi, thì ai cũng có thể copy & paste được mà! :) Chỉ khác là Q. gõ từng chữ lên (tại Q. thích gõ!), còn sau đó thì cut & paste được mà!
qcluu
08-13-2003, 10:04 AM
"Bây giờ rõ mặt đôi ta
Biết đâu rồi nữa chẳng là CHIÊM BAO"
(Câu 443, 444. Kiều tâm tình với Kim Trọng)
Hai câu thơ này Nguyễn Du ở tích tuồng "Tây Sương Ký", cảnh thứ hai, hồi thứ nhất phần thứ tự Cảnh nàng Thôi Oanh Oanh cùng con hầu là Hồng nương sang thăm Trương Quân Thụy ở phòng trọ của chàng. Trong cuộc thăm viếng bất ngờ này, Thôi Oanh Oanh đã dâng hiến cho Trương Quân Thụỵ Hai người đã chìm đắm trong cuộc mây mưa trong khi con hầu đứng gác ngoài cửạ
Xong cuộc ái ân, Trương Quân Thụy nói với Thôi Oanh Oanh:
- Dữ ngã thực thị minh bạch, an tri bất thị mộng trung lai (Bây giờ gặp nhau là sự thật, chắc đâu không phải là ở trong chiêm bao).
Đoạn tuồng ấy được tả như sau:
([i]... Then mây mở cửa động Đào
Đào tiên hớn hở đón chào tin xuan
Những là tê tái tần ngần
Lã dần vóc liễu, mở dần lòng hoa
Rồng mây, cá nước mặn mà
Nụ đơn nở, giọt sương sa đầm đìạ
Nhị non, hương sớm bốn bề
Tha hồ con bướm đi về thong dong.
Em dùng dằng nửa thuận nửa không
Tôi khắp người bủn rủn, trong lòng mê tơị
Má hồng thơm ngát dưới môi,
Tôi coi em như trái tim tôi từ ngàỵ
Trắng ngà trong ngọc giá này,
Quấy hôi, bôi lọ lỗi này tự tôị
Không bền lòng chờ đợ hôm mai,
Dễ đâu khổ tận, cam lai có rày ?
Cùng nhau ân ái đêm nay,
Thần hồn bay chín từng mây ngoài trờị
Này vì em tôi thân thể gày vơi
Thế này em mới biết cho người tình sị
Đêm nay má tựa vai kề,
Mà lòng còn vẫn hồ nghi với lòng.
Sương sa, gió lặng, sân không
Trăng soi viện sách, mây lồng đài Dương.
Lẽ nào nhìn thấy rõ ràng,
Lại là trong giấc mơ màng gặp nhau ? [/b]
(Nhượng Tống dịch)
TimCT
08-13-2003, 01:34 PM
Originally posted by qcluu
Vì đã post lên đây rồi, thì ai cũng có thể copy & paste được mà! :) Chỉ khác là Q. gõ từng chữ lên (tại Q. thích gõ!), còn sau đó thì cut & paste được mà!
Anh Q. ơi,
Hy vọng rằng khi họ copy & paste thì cũng đừng quên tên người đã gieo cái hột cho cái cây ngày hôm nay .
qcluu
08-13-2003, 03:47 PM
Originally posted by TimCT
Anh Q. ơi,
Hy vọng rằng khi họ copy & paste thì cũng đừng quên tên người đã gieo cái hột cho cái cây ngày hôm nay .
"Thi ân bất cầu báo" mà anh TimCT. Có nhớ cũng tốt, mà hong nhớ cũng hong saọ Có giúp được phần nào là Q. vui và xem đó là một hân hạnh đó anh :)
qcluu
08-17-2003, 03:51 PM
Hiên sau treo sẵn cầm trăng
Vội vàng sinh đã TAY NÂNG NGANG MÀY
(Câu 467, 468. Kim Trọng trao đàn cho Kiều)
"Đã cho vào bậc BỐ KINH
Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu".
(Câu 505, 506. Kiều nói với Kim Trọng)
"Nghĩ mình, chẳng hổ mình sao
Dám đem trần cấu dự vào BỐ KINH".
(Câu 3103, 3104. Kiều đáp lời Kim Trọng)
TAY NÂNG NGANG MÀY (Cử án tề mi): hai tay nâng đồ vật ngang trán để dâng cho người đối diện; tỏ ý kính tro.ng.
BỐ KINH (Bố quần kinh thoa): quần vải thoa cỏ
Hai sự việc trên đều xuất phát từ điển tích nàng Mạnh Quang như sau:
- Nàng Mạnh Quan, người đời Hậu Hán, tánh nết đoan trang hiền thục, đến ba mươi tuổi vẫn chưa có chồng. Bà con họ hàng thấy vậy đều khuyên nàng nên nghĩ đến chuyện lập gia thất thì Mạnh Quang đáp:
- Nếu lấy được Lương Hồng làm chồng thì mới thuận, còn bằng không thì cứ ở vậy suốt đờị
Lương Hồng tự là Bá Loan cũng là người cùng huyện với Mạnh Quang, tuy nhà nghèo nhưng là một con người đức hạnh rất mực. Nghe Mạnh Quang tuyên bố như the6't, Lương Hồng bèn cậy mai mốt đến hỏi cưới nàng làm vợ .
Khi về nhà chồng, nàng Mạnh Quang trang điểm lộng lẫy dùng phấn sáp và đeo vòng vàng thường xuyên. Lương Hồng thấy vậy, suốt bảy ngày liền không đụng đến vợ và cũng không nói với nàng lấy một lờị Mạnh Quang lo sợ lắm, quỳ xuống trước mặt Lương Hồng xin chồng cho biết mình phạm tội gì. Bấy giờ Lương mới lên tiếng:
- Tôi sở nguyện lấy một người vợ áo vải quần gai để cùng nhau chịu cực khổ lo làm ăn chân chính. Nay tôi thấy nàng môi son má phấn nên không bằng lòng.
Mạnh Quan cung kính đáp:
- Thiếp xin vâng nghe ý chàng.
Từ đó Mạnh Quan không chưng diện nữa, mặc quần vải áo thô, vấn tóc trần, xắn tay áo ra sức làm lụng rất siêng năng. Lương Hồng cả đẹp lòng khen:
- Thế mới xứng đáng là vợ của Lương Hồng nàỵ
Sau đó ít lâu, Lương Hồng bàn với vợ nên dời nhà vào núi Sương Lăng tự cày ruộng lấy mà ăn, tự dệt vải lấy mà mặc. Mạnh Quang vui vẻ tùng phục ý chồng không một lời phải đốị Lúc đầu hai vợ chồng đi qua đất Thương Ngô, vào ở nhờ nhà Cao Bá Thông, làm nghề giã gạo thuệ Cao Bá Thông cho vợ chồng Lương Hồng trọ trong một chái nhỏ bên hè. Hàng ngày khi đến bữa ăn, Mạnh Quang đều cung kính dâng mâm cơm lên ngang mày để trao cho chồng. Cao Bá Thông thấy vậy cảm thán rằng:
- Vợ chồng nhà ấy chỉ là kẻ đi làm thuê làm mướn mà còn có lễ nghĩa, vợ biết tôn kính chồng như thế thật là đáng kính phục.
Rồi Cao Bá Thông thu xếp cho vợ chồng Lương Hồng được chỗ cư ngụ đàng hoàng, rộng rãi trong nhà.
=====
Tích thứ hai về BỐ KINH là chuyện Hoàng Thiếu Quân.
Hoàng Thiếu Quân là con gái nhà giàu có nhưng tánh tình rất hiền thục. Thiếu Quân lấy chồng là Bảo Tuyên, nhà nghèo khó.
Khi về nhà chồng, Thiếu Quân tự trút bỏ hết xiêm y lụa là, mặc quần vải áo thô, cài trâm và chịu khó làm lụng vất vả. Nàng lại thành kính thờ chồng một mực, không bao giờ dám làm điều gì trái ý với Bảo Tuyên. Người đời còn ca tụng nàng rằng:
"Thiếu Quân, gái ấy tuyệt hay
Thay quần vái, đổi trâm cây, thờ chồng"
qcluu
08-23-2003, 10:53 PM
Khúc đâu TƯ MÃ PHƯỢNG CẦU
Nghe ra như oán, như sầu phải chăng
(Câu 475, 476. Kiều gãy đàn cho Kim Trọng nghe)
TƯ MÃ PHƯỢNG CẦU là khúc đàn "Phượng cầu kỳ hoàng" của Tư Mã Tương Như đã làm say mê nàng Trác Văn Quân.
Tư Mã Tương Như tự là Tràng Khanh, người Thành đô đời Hán Ca/nh Đế. Trường Khanh là người giỏi thi phú và có ngón đàn tuyện diệu, trẻ tuổi đã được phong làm Quan Lang.
Tình cờ một hôm Tương Như Gặp Lương Hiếu vương vào chầu Cảnh đế và những người đi theo vương như bọn Châu Dương, Mai Thặng đều là những người từng nổi danh một thời nên lấy làm ái mộ lắm. Tương Như bèn cáo bệnh từ quan để sang chơi nước Lương.
Sang nước Lương, Tràng Khanh làm bài phú "Ngọc như ý" dâng cho Hiếu vương. Hiếu vương lấy làm vừa ý nên ban cho chàng cây đàn Ngọc ỷ .
Mấy năm sau Hiếu vương mất, Tràng Khanh trở về quê nhà. Gia cảnh ngày càng túng bấn, khó sống nên Tràng Khanh đến huyện Lâm Cùng để nương nhờ bạn là Vương Cát đang làm Huyện lệnh ở đấỵ
Trong huyện Lâm Cùng có gia đình Trác Vương Tôn giàu có mà Trác lại là một kẻ hiếu danh. Trác có người con gái mới mười bảy tuổi đã goá chồng, tên Trác Văn Quân, tuyệt đẹp. Trác Văn Quân lại là một người có tính tình văn nghệ, rất thích nghe đàn. Nhân thế, Vương Cát muốn lập kế cho bạn mình là Trường Khanh sánh duyên cùng Trác Văn Quân để nương nhờ, nên ông ta để Trường Khanh trọ ở Đô đình, hàng ngày đích thân sang hầu bạn ra vẻ tôn kính lắm.
Quả nhiên, Vương Tôn tưởng quan huyện có khách quý nên thiết tiệc long trọng mời quan huyện và Trường Khanh đến du8., mục đíc là để cầu thân. Vương Cát đến dự nhưng Tràng Khanh cáo ốm không đến. Không có mặt Tràng Khanh, Vương Cát giả vờ không dám ngồi ăn; rồi đích thân đánh xe đi đón Tràng Khanh lần nữạ Bấy giờ Tràng Khanh mới mang cây đàn Ngọc Ỷ đến nhà Trác Vương Tôn dự tiệc.
Rược được nửa chừng, Vương Cát đứng lên lễ phép thưa:
- Nghe nói Tràng Khanh thích đàn, vậy tỵ chức xin được phép dạo một khúc làm vuị
Tràng Khanh gật đầụ Vương Cát nắn phím so dâỵ Dạo hết một khúc đàn, Vương Cát cung kính trao đàn cho Tràng Khanh. Hiểu ý bạn, Tràng Khanh nhận đàn và chuyển bị trổ tàị Chàng cũng thừa biết chắc chắn nàng Trác Văn Quân sẽ đứng nghe trộm bên trong màn, bèn đánh khúc "Phượng cầu kỳ hoàng để khêu gợi tình cảm nàng. Khúc ấy như sau:
"Thẩn thơ con phương về làng,
Long đong tìm kiếm chim hoàng (1) bấy lâụ
Lỗi thời, nào được chi đâu,
Vẩn vơ nay bỗng gặp nhau chốn này,
Phòng loan ai hỡi có hay,
Gần nhà xa mặt, đắng cay dạ vàng.
Ước gì hoá cặp uyên ương,
Bay la bay bổng chung đường vui chơi"
Lúc Tràng Khanh đàn, Trác Văn Quân đứng trong màn lén nhìn rạ Thấy phong tư tài mạo của chàng, nàng Trác đã đem lòng say mê ngaỵ Tan tiệc, Tràng Khanh còn tỏ ra mình là người hào phóng bằng cách ban thưởng cho những ai hoàn hầu hạ Trác Văn Quân khiến người đẹp lấy làm cảm động lắm.
Vài ba hôm sau, vào đêm, Văn Quân trốn nhà đến Đô đình với Tràng Khanh. Rồi hôm sau, Tràng Khanh đưa Văn Quân về quê mình. Trác Vương Tôn biết được giận lắm, quyết ý từ con gáị
Có người thân biết chuyện, đến khuyên Trác Vương Tôn chớ từ con mà nên chia gia tài cho Trác Văn Quân. Vương Tôn nói:
- Con gái làm điếm nhục gia phong như thế, không giết chết đã là may, cớ sao lại phải chia gia tài cho nó.
Trác Văn Quân sống với Tương Như trong cảnh nghèo túng và ngày càng thêm túng quẩn. TưƠng Như có tấm áo cừu tú sương là loại quý hiếm, định đem cầm cho hàng rượu, Văn Quân ứa mắt nói rằng:
- Thiếp tôi từ thưở nhỏ sống trong cảnh giàu sang, bây giờ đến nỗi chàng phải cầm áo cừu thì thiếp tôi làm sao chịu được.
Rồi nàng khuyên chàng nên trở lại huyện Lâm Cùng. Tương Như nghe theo, hai vợ chồng trở lại Lâm Cùng, bán xe ngựa lấy tiền tạo một lò nấu rượu ở tại chợ Hàng ngày, Văn Quân nấu rượu, còn Tương Như thì mặc quần ngắn, ra chợ cùng bọn làm thuê rử ráy chén bát cho người tạ Trác Vương Tôn biết chuyện lấy làm xấu hổ lắm, suốt ngày đóng cửa ở trong nhà, không dám bước chân ra ngoàị Họ hàng của ông lại đến khuyên lơn:
- Này ông, ông chỉ sinh được một trai, hai gái mà. Vả, cái ông thiếu thốn không phải là tiền tàị Nay Văn Quân trót đã i mà Tràng Khanh vốn là một kẻ từng trải giang hồ, tuy còn nghèo nhưng cái tài của chàng ta thì cũng có thể nương tựa sau nàỵ Hơn nữa, Tràng Khanh vốn là khác quý của quan huyện chúng ta, lẽ nào ông nỡ làm nhục nhau đến thế.
Trác Vương Tôn nghe họ hàng khuyên như thế, hồi tâm. Ông bèn cho Trác Văn Quân một trăm đứa đày tớ, một trăm quan tiền và tất cả quần áo của nàng khi nàng có chồng trước kiạ
Nhận được tiền và của cha cho, Trác Văn Quân cùng Tràng Khanh trở về Thành đô mua nhà tạo ruộng, trở thành một gia đình giàu có.
Cách ít lâu sau, nhà vu xem được bài phú Tử Hư của Tương Như lấy làm thích lắm, bèn cho chàng phục chức Quan Lang. Vài năm sau Tương Như lại được thăng Trung lang tướng. Khi cờ mao búa tiếc của nhà vua đưa ra đất Thục để phong cho Tương Như, từ Thế tử ở Thục trở xuống đều phải ra đồng đón tiếp hết sức long tro.ng. Riêng quan huyện lện sở tại phải đội cung cấp tên đi ở tiền quân đám rước. Người dân đất Thục lấy làm vẻ vang vô cùng. Bấy giờ Trác Vương Tôn mới lấy làm toại ý.
====
(1) Chim phượng mai
qcluu
09-02-2003, 08:13 PM
KÊ KHANG này khúc QUẢNG LĂNG
Một rằng: Lưu thủy, hai rằng Hành vân
(Câu 477, 478. Kiều đàn cho Kim Trọng nghe)
KÊ KHANG: một trong Trúc lâm thất hiền đời Tấn
QUẢNG LĂNG: tên khúc đàng của Kê Khang, nội dung tỏ ý thương tiếc nhà Ngụỵ
"Trúc lâm thất hiền" (bảy người hiền trong rừng trúc) gồm có: Kê Khang, Nguyễn Tịch, Lưu Linh, Nguyễn Đàm, Vương Mậu, Sơn Đào và Hướng Tú.
Bảnh nhân vật trên đây nguyên là người thời Ngụỵ Khi Tư Mã Viêm diệt nhà Ngụy lập lên nhà Tấn thì bảy người nói trên không hợp tác với "tân triều", bỏ thị thành vào rừng trúc ở nên được người đương thời truyền tụng là Trúc lâm thất hiền. Mỗi người đều có cá tính và nét độc đáo riêng của mình, nhưng nổi bật hơn là Kê Khang và Nguyễn Ti.ch.
Tấn sử chép rằng Kê Khang là một con người phong nhã, giỏi cầm kỳ thi họạ Sáng tác bất hủ của ông là khúc đàn Quẳng Lăng tán, bày tỏ lòng thương tiếc nha Ngụỵ Kê Khang cũng có một giai thoại kỳ thú vô cùng. Một lần ông đến thăm bạn thân là Lữ An ở đất Đông Thành. Chẳng may, hôm ấy Lữ An đi vắng. Người anh của Lữ An ra tiếp Kê Khang nhưng Kê Khang không chịu vào nhà; ông chỉ đề một chữ "phụng" trên cửa rồi lẳng lặng đi về. Ý Kê Khang chê người anh của Lữ An là một kẻ phàm phu tục tử, không đáng cho ông tiếp chuyện.
qcluu
09-02-2003, 08:17 PM
"Vẻ chi một đóa YÊU ĐÀO
Vườn hồng, chi dám ngăn rào chim xanh."
(Câu 503, 504. Kiều nói với Kim Trọng)
"Quả mai ba bảy đương vừa,
ĐÀO NON sớm liệu se tơ kịp thì".
(Câu 3075, 3076. Thúy Vân nói với Kiều khi sum họp)
YÊU ĐÀO hay ĐÀO NON cùng là một nghĩa, để chỉ cây đào còn non ví với người con gái còn ít tuổi hay người con gái tới tuổi đi lấy chồng, yêu đào hay đào non trong truyện Kiều do chữ Kinh Thi "Đào Chi yêu yêu" như sau:
1. Đào chi yêu yêu
Thước thước kỳ hoạ
Chi tư vu qui
Nghi kỳ thất giạ
2. Đào chi yêu yêu
Hữu phần kỳ thật.
Chi tư vui qui
Nghi kỳ gia thất.
3. Đào chi yêu yêu
Kỳ diệp trân trân.
Chi tư vui qui
Nghi kỳ gia nhân
(1. Mơn mởn đào non
Rực rỡ nở hoạ
Cô ấy lấy chồng
Êm ấm cửa nhà.
2. Mơn mởn đào non
Lúc trĩu quá sai
Cô ấy lấy chồng
Êm ấm nhà aị
3. Mơn mởn đào non
Lá xanh rườu rà
Cô ấy lấy chồng
Thuận với người nhà.)
qcluu
09-09-2003, 07:35 PM
"Ra tuồng TRÊN BỘC, TRONG DÂU
Thì con người ấy ai cầu làm chi
(Câu 507, 508. Kiều nói với Kim Trọng)
TRÊN BỘC, TRONG DÂU: do chữ Kinh Thi: "tang trung bộc thượng" là trong ruộng dâu và trên bờ sông Bộc, là nơi mà trai gái hẹn hò nhau để tình tự hay bày chuyện mây mưạ
Đời Xuân Thu, có một lần vua nước Vệ đi qua sông Bộc nghe một khúc đàn không rõ do ai đánh mà âm thanh đầy vẻ dâm dật. Nhà vua hỏi ra thì biết trước đây có quan Thái Sử của vua Trụ đã trầm mình tại khúc sông ấỵ Quan Thái sử lúc còn sinh tiền, thường đàn những bảnh có tính cách dâm ô cho vua Trụ nghẹ Những bản đàn ấy được lưu truyền trên sông Bộc mãi về saụ
Và sau đó, những trai gái của nước Trịnh và nước Vệ cũng thường hẹn hò nhau ở trên bờ sông Bộc hay trong ruộng dâu gần sông đê? tình tự với nhaụ
qcluu
09-13-2003, 10:29 AM
Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay
Lứa đôi ai lại đẹp tày THÔI, TRƯƠNG"
(Câu 511, 512. Kiều nói với Kim Trọng)
"MÁI TÂY để lạnh hương nguyền
Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng".
(Câu 617, 618. Kiều nói với Kim Trọng)
THÔI, TRƯƠNG: Thôi Oanh Oanh và Trương Quân Thụy, hai nhân vật chính trong tuồng "Tây Sương ký" của Vương Thực Phủ (1)
MÁI TÂY: Bản dịch Tây Sương Ký của Nhượng Tống. Mái Tây là mái phía Tây chùa Phổ Cứụ
Nội dung tuồng "Tây Sương Ký" như sau:
Goá phụ Thôi Tướng quốc cùng cô con gái đẹp tên Thôi Oanh Oanh ngụ ở mái Tây chuà Phổ Cứu để cư tang Thôi Tướng quốc.
Trương Quân Thụy là một thư sinh trên đường đến kinh đô thi Hội, ghé tham quan cảnh chuà và gặp Thôi Oanh Oanh. Thấy nàng Thôi đẹp quá, chàng Trương đâm mê nên xin trọ lại chùa Phổ Cứu để tìm cách gần gũi giai nhân.
Vào lúc ấy, tướng giặc Tôn Phi Hổ vây chùa toan bắt Thôi Oanh Oanh. Bà mẹ của nàng hứa hễ ai cứu được gia đình thì bà gả Oanh Oanh chọ Trương Quân Thụy viết thư cho một người bạn học cũ là tướng quân Đỗ Quân Thực đem binh đuổi giặc, cứu nạn gia đình Thôi Oanh Oanh.
Tai quan nạn khỏi, bà mẹ Thôi Oanh nuốt lời hứa, chỉ cho nàng Thôi kết nghĩa anh em với Trương Quân Thụy mà thôị Trương tức bực, buồn rầu sinh ra ốm nă.ng. Đứa tớ gái của nàng Thôi là Hồng nương đem tin tức về Trương Quân Thụy cho Thôị Bấy giờ Thôi Oanh Oanh đã yêu Trương Quân Thụy rồị Đang đêm, nàng lẻ sang thăm chàng. Rồi hai người tình tự, ân ái với nhaụ
Việc "vụng trộm" của Thôi bị đổ bể. Để giữ danh giá gia môn, mẹ Thôi Oanh Oanh đành chấp nhận cho hai người thành hôn với nhau, nhưng bà buộc Trương Quân Thụy phải tiến kinh ngay để thi Hội, khi thi đỗ hãy trở về kết duyên với nàng Thôị Thết là Thôi, Trương đành phải chia tay nhaụ
Trên đường tiến kinh, Trương Quân Thụy ngủ lại quán trọ và nằm mơ thấy Thôi Oanh Oanh.
====
(1) Vương Thực Phủ, một nhà văn đời Nguyên của thời kỳ phát triển về tuồng tích. Ông để lại cho đời mười bốn vở tuồng mà "Tây Sương Ký" là một tác phẩm bất hủ, phỏng theo truyện "Hội Chân Ký" đời Đường.
Theo Hội Chân Ký thì mối tình của Thôi Oanh Oanh và Trương Quân Thụy tan vỡ ở hồi Trương Quân Thụy tiến kinh; nghĩ là về sau hai người không thành vợ chồng. Nhưng trong "Tây Sương Ký" thì Trương Quân Thụy thi đỗ Thám Hoa, trở về cưới Thôi Oanh Oanh. Người đời sau (trong đó có nhà phê bình văn học Kim Thánh Thán) cho rằng bốn hồi sau của "Tây Sương Ký" không do Vương Thực Phủ viết; mà chừng đâu là do Quan Hán Khanh, một nhà văn đồng thời với Vương Thực Phủ viết tiếp. Giả thuyết này không lấy gì làm chắc chắn. Khi Nhượng Tống dịch "Tây Sương Ký' cũng chỉ dịch mười sáu hồi để kết thúc ở cảnh tan vỡ của Thôi và Trương.
Theo Kim Thánh Thán, một nhà phê bình văn học nổi tiếng cuối đời Minh đầu đời Thanh thì "Tây Sương Ký" là một trong "Lục tài tử thư" của Trung Quốc. Lục tài tử thư gồm:
1. Nam Hoa Kinh của Trang Tử
2. Sử Ký của Tư Mã Thiên
3. Thơ Đổ Phủ đời Ddường
4. Ly Tao của Khuất Nguyên
5. Thủy Hử của Thi Nại Am
6. Tây Sương Ký của Vương Thực Phủ
qcluu
09-27-2003, 09:04 AM
"Trong khi CHẮP CÁNH, LIỀN CÀNH
Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên"
(Câu 515, 516. Kiều nói với Kim Trọng)
CHẤP CÁNH, LIỀN CÀNH nghĩ là chim liền cánh, cây liền cành. Trong bài "Trường Hận ca" của nhà thơ Bạch Cư Dị đời Đường, vua Đường Huyền Tông và DươNg Quý Phi có lời nguyên với nhau rằng : "Tại thiên nguyện tác tị dực điểu, tại điạ nguyên vi liên lý chi" (Ở trên trời thì làm chim liền cánh, ở dưới đất thì làm cây liền cành).
Cây liền cành còn có hai điển tích như sau:
1. Thời Chiến quốc, xá nhân của Khang Vương nước Tống là Hàn Bằng có người vợ họ Hà rất nhan sắc; khiến Khang Vương trông thấy bèn động lòng tà.
Khang Vương cho xây một ngôi đền trong cung để ngồi nhìn sang nhà Hàng Bằng, chiêm ngưỡng dung nhan vợ Hàn. Sau đó , để chiế;m đoạt vợ Hàn Bằng, Khang Vương ra lệnh bắt Hàn giam vào ngục, dù Hàn vô tộị
Vợ Hàn Bằng thừa biết Khang Vương hại chồng mình là để chiếm đoạt, mình bèn làm bài ca Điểu thước để bày tỏ ý mình. Bài ca như sau:
"Con chim đậu trái non Nam
Khen ai lưới Bắc, lưới dàm uống công
Trời cao, chim cứ vẫy vùng
Dàm kia, lưới ấy dễ hòng làm chị
Con chim bay lượn hững hờ
Máy may nó chẳng ước mơ phượng hoàng
Phân em là kẻ tầm thường
Lòng em chẳng muốn quân vương gần kề"
Bài ca đến tai Khang Vương nhưng ông ta vẫn không tha Hàn Bằng. Hàn Bằng tự tử trong ngục. Được tin chồng chết, họ Hà biết mình khó thoát khỏi tay Khang Vương, liền làm cho quần áo của mình đang mặc trở thành bở mục cả.
Quả nhiên Khang Vương cho người đến bắt nàng sang hầu ông tạ Khi bị đưa lên đền của Khang Vương, họ Hà chạy nhanh ra bao lơn với ý định nhảy xuống lầu tự tử. Kẻ tả hữu của Khang Vương chạy theo nắm áo nàng kéo lại, nhưng quần áo nàng đã mục nên rách toạc ra và nàng rơi xuống chân đền, chết ngaỵ
Trong người họ Hà có một bức thư xin được đưa thi thể về nhà họ Hàn để được chôn chung với chồng. Khang Vương giận lắm, không cho chôn chung với Hàn Bằng, chỉ cho chôn gần mả Hàn nhưng cách một quãng.
Đêm sau, ở hai ngôi mộ của Hàn Bằng và vợ tự nhiên mọc lên hai cây tử, dưới thì rễn quấn với nhau, trên thì cành liền với nhaụ Rồi có đôi chim uyên ương chẳng biết từ đâu bay đến đậu song song nhau trên cây, sớm tối cất tiếng kêu rất thảm thiết. Người đời cho rằng linh hồn vợ chồng Hàn Bằng hoá ra hai cây tử và đôi chim uyên ương ấỵ
2. Thủ Ngu,người Dương Châu đời Minh, giữ chức Thụ kinh lang trong Khuê Chương các ở kinh độ Nhà ông ở liền nhà viên Sử quan tên Giả Hư Trung. Nhà ông Giả có ba cây đàn cổ rất quý tên là Quỳnh Dao, Bội Hoàn và Bồng Laị Thủ Ngu là một người sành âm nhạc và thích ngậm vịnh nên giao du với Giả Hư Trung rất thân thiết.
Giả Hư Trung không có con trai, chỉ có ba cô con gái, rất yêu quý nên lấy tên ba cây đàn đặt tên cho ba nàng. còn Thủ Ngu chỉ có một mụn con trai rất khôi ngô, tuấn tú, tên là Túỵ Năm lên mười tuổi, Túy đượ cha cho sang nhà Giả Hư Trung cùng học tập với ba cô con gái của Giả. Túy và con gái út của ông Giả là Bồng Lai cùng trang lứa nên rất khắng khít với nhaụ Giả phu nhân thường nói đùa rằng:
- SAu này lớn lên, Bồng Lai sánh duyên cùng Túy thì đẹp đôi lắm.
Túy nghe kể lại về nhà thuật lại với cha, Thủ Ngu cười bảo:
- Chính ta cũng muốn như thế đấỵ
Rồi Thủ Ngu nhờ mai mối sang đính hôn trước. Giả Hư Trung thuận gả.
Sau đó không lâu, Giả Hư Trung bị bãi quan, đưa gia đình về quệ Thế là đôi trẻ bị dang dở hôn sự . Ba năm sau, Thủ Ngu chuyển ra làm quan ở PHúc Châụ Lại may mắn ở đối diện với nhà Giả Hư Trung. Bấy giờ thì hai cô gái lớn của Giả Hư Trung là Quỳnh Dao và Bội Hoàn đã lấy chồng, trong nhà chỉ còn lại Bồng Lai nhưng ông Giả cũng đã hứa hôn với họ Lâm rồị Túy biết được chuyện ấy lấy làm đau khổ lắm. Phần Bồng Lai, việc hứa hôn với họ Lâm hoàn toàn do cha mẹ nàng quyết đi.nh. Nàng muốn gặp Túy để bày tỏ nỗi lòng mình. Ngày ngày đôi trẻ chỉ đứng trên bao lơn nhà mình nhìn nhau mà chưa nói với nhau được lời nàọ Rồi một hôm, Bồng Lai lấy chiếc khăn lụa trắng bọc một con cờ tướng ném sang cho Túỵ Túy nhặt lên mở ra thì thấy trên khăn có vẽ một nhánh đào phai và một bài thơ:
"Cành đào phai ánh đôi lầu
Mắt xanh để lọt chàng Lưu thưở nào
Đài mây đã nguyện gởi trao
Nhành tơ chớ để bứng vào tay ai"
Túy mừng lắm, cũng lấy khăn vẽ một nhành mai và đề thơ ném gởi lại cho người yêu:
"Nhụy phong át lụa trắng ngần
Ngỡ đâu sương tuyết, gió hàn chẳng phai
Mà nay mai bén tay người
Cho non còm cõi, cho ai bẽ bàng"
Không bao lâu sau đết tiết Thượng nguyên, trai thanh gái lịch trong vùng đua nhau đi dự hộị Biết thế nào gia đình học Giả cũng đi xem hội nên Túy nấp đợi ngoài cổng. Quả nhiên đến khuya có mấy cổ kiệu trong nhà học Giả đi rạ Túy lẽo đẽo theo sau nhưng không cách gì nhìn thấy mặt Bồng Lai được. Chàng bèn ngâm lớn một bài tứ tuyệt:
"Rực rỡ đèn khuya ánh chập chùng
Phố đông thấp thoáng bóng quần hồng
Kiệu hoa gần bấy, non Bồng cách
Loan vút về tây, hạc ruỗi đông."
Bồng Lai ngồi trong kiệu nghe biết là Túy, bèn ngâm đáp lại rằng:
"Nỡ oán hoa mai chóng bạc tình
Thề xưa băng tuyết vẫn đinh ninh
Tin xưa áy náy ai dò hỏi
Ôm trọn tình chung, giữ ngọc lành"
Mấy hôm sau, Giả Hư Trung cho con hầu gái đem biếu gia đình Thủ Ngu một mâm trái vảị Túy nhân cơ hội nói dối với con hầu rằng:
- Trước đây ta cùng học chung với tiểu thư Bồng Lai trong kinh, có cho tiểu thư mượn mấy quyển sách chưa kịp lấy về. Nay nhờ người đưa giúp tấm thiệp này để tiểu thư cho xin lại sách.
Rồi chàng gởi cho Bồng Lai một bài phú hàm ý trách móc nàng. Bồng Lai nhận được bài phú của Túy, cũng làm một bài phú viết vào giấy Ngư tiên, đóng thêm mấy bài cổ văn nữa cho dày lên giống như một quyển sách, rồi sai con hầu đem sang cho Túỵ
Bấy giờ Túy nổi tiếng là một người tài danh, được người tiến cử với triều đình để làm quan nhưng chàng từ chối, viện cớ phải phụng dưỡng cha mẹ già. Ít lâu sau Thủ Ngu qua đời khi còn tại chức. ĐẾn năm Nhâm Tuất (1352) đầu đời Chi Chính, vùng Túy cư ngụ bị giặc quấy nhiễụ Các nhà gia thế đều đưa nhau vào núi láng nạn. Gia đình Túy cũng thế, song giặc dò được tung tích nên giết hại cả gia đình chàng. Riêng Bồng Lai không bị sát hại vì tướng giặc muốn lấy nàng làm vợ Liệu khó thoát được tay giặc, Bồng Lai lập kế bảo tướng giặc rằng:
- Thiếp không xin về nhà mà ơ/ lại để hầu hạ tướng quân. Tuy nhiên, xin tướng quân cho phép thiếp được chôn cất chồng cũ đã, rồi thiếp hầu hạ tướng quân cũng không muộn.
Tướng giặc tưởng thật cùng đi với Bồng Lai đến nơi Túy bị giết và cùng Bồng Lai phụ đào huyệt chôn cất Túỵ Khi chôn cất Túy xong, Bồng Lai lấy dao tự đâm vào cổ, nói:
- Được chết cùng một chổ với chàng là thoả rồị
TưỚng giặc tức giận lắm, cho chôn Bồng Lai cách xa mả Túy một quãng để hai người mãi mãi cách nhaụ
Gần cuối năm ấy, viên Bình Chương tỉnh Phúc Kiến đuổi được giặc, ổn định tình hình. Dân chúng lại lục tục trở về. Có người cùng chạy giặc chung với gia đình Túy trước kia, kể lại câu chuyện đáng thương của Bồng Lai, viên Bình Chương cho người đi thăm dò và có ý định cải táng cho Túy và Bồng Laị
Người của Bình Chương sai đi, đến nơi nhìn thấy ở hai ngôi mộ có hai cây, cành lá vươn về nhau và quấn chặt lấy nhau không thể nào tách ra được. Viên Bình Chương được báo cáo và đích thân đến nơi xem xét, thấy quả thật như thế. Ông ta không dám cải táng mà cho đắp liền hai ngôi mộ thành một.
qcluu
09-29-2003, 08:57 PM
"GIEO THOI trước chẳng giữ giàng
Để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai"?
(Câu 519, 520. Kiều nói với Kim Trọng)
GIEO THOI: Ném con thoi của khung dệt; chỉ người con gái biết giữ mình để bảo toàn tiết ha.nh.
Theo Tấn thư, Tạ Côn người đời Tấn, ở hàng xóm có người con gái họ Cao nhan sắc xinh đẹp, chuyên nghề dệt cửị
Tạ Côn thường hay sang trêu ghẹo cô tạ Có lần cô gái ngưng dệt lấy con thoi ném vào mặt Tạ Côn, làm chàng trai bị gãy hết hai cái răng. Từ đó, Tạ Côn không còn dám trêu ghẹo nàng ấy nữạ
qcluu
10-01-2003, 09:16 PM
"Sự đâu chưa kịp đôi hồi
Duyên đâu chưa kịp một lời TRAO TƠ
(Câu 539, 540. Kim Trọng than thở với Kiều)
"Nuôi con những ước về sau
TRAO TƠ phải lứa, GIEO CẦU đúng nơi".
(Câu 657, 658. Vương viên ngoại than thở)
TRAO TƠ, GIEO CẦU ngụ ý nói đến sự kén chọn kết hôn giữa trai gáị
Theo sách "Thiên Bảo dị sử", Ông Trương Gia Trinh đời Đường có năm người con gái đẹp, tuổi tác xấp xỉ nhau; mỗi người một vẻ mười phân vẹn mườị Rất nhiều vương tôn công tử xa gần đều gấm ghé, rấp ranh bắn sẻ.
Trong số vương tôn công tử, có chàng nho sĩ tài danh tên Quách Nguyên Chấn thường lui tới Trương gia trang. Chàng Quách muốn xin làm rể Trương Gia Trinh nhưng khổ nỗi chàng chẳng biết phải chọn cô nào trong năm cộ
Trương Gia Trinh biết rằng Quách Nguyên Chấn có thể lấy cô nào cũng được trong năm đứa con gái của mình, nên ông nghĩ ra một kế. Ông cho năm cô con gái của mình ngồi bên trong một bức màn, mồi cô cầm một đầu sợi tợ Năm sợi tơ đều khác màu và năm đầu còn lại thì treo lủng lẳng ngoài màn cửạ Ở ngoài nhìn vào, không trông thấy cô gái nào cầm sợi tơ nàọ Rồi ông bảo Quách Nguyên Chấn đi từ ngoài vào, hễ rút được sợ tơ của cô nào thì cưới cô ấy làm vợ . Và Quách Nguyên Chấn rút sợi tơ màu hồng (Hồng tơ) của người con gái thứ bạ Thế là Quách Nguyên Chấn cưới cô con gái thứ ba của Trương Gia Trinh.
Theo sách "Tam Hợp Bảo Kiếm" đời Hán thì Hán Vũ Đế có một cô Công chúa tuyệt sắc đã đến tuổi lấy chồng nhưng nhà vua chưa quyết định kén chọn ai làm Phò mã.
Trong triều ngoài nội, rất nhiều tay quyền quý mong được cầu thân cùng công chúạ Hán Vũ Đế không biết chọn ai, bèn truyền cho các vương tôn công tử, các bậc danh nhân tài tử trong nước tập trung lại hoàng cung. Rồi nhà vua cho lập một cái đài cao để Công chuá ngồi trên đó, cầm một quả "thanh cầu" bằng vải ném xuống. Hễ chàng trai nào bắt được quả cầu ấy, bất luận là sang hèn quý tiện đều được chọn làm Phò mã.
Sách Thần Tiên truyện lại chép truyện tích Gieo Cầu khác như nhau:
Nho sĩ Thôi Sanh đi chơi núi được kết duyên cùng Trác Tiên cộ Trác Tiên cô cho chồng một lá bùa "ẩn thân". Hễ đeo lá bùa ấy vào thì không ai trông thấy mình nữạ
Thôi Sanh lợi dụng lá bùa ấy để làm chuyện bất chính. Cứ hàng đêjm, chàng đeo bùa vào mình rồi lén vào cung cấm để rình mò xem chuyện ái ân của bọn cung tần phi nữ.
Dần dần Thôi Sanh đâm bạo dạn, xâm nhập vào các phòng cung nhân không được vua "lâm hạnh" để gây chuyện mây mưa với các nàng. Các nàng cung nữ không được hưởng ơn mưa móc đã lâu, lòng luôn rạo rực thèm khác chuyện gối chăn nên không ngần ngại cùng Thôi Sanh giao hoan. Thế là chàng nho sinh Thôi Sanh có một nguồn vui phong phú không bao giờ cạn và luôn đổi mớị
Một thời gian sau việc gian dâm của Thôi Sanh với các cung nhân bị đổ bể vì các nàng có thai trong khi sổ của Thái giám không có ghi chuyện "lâm hạnh" của quân vương. Các cung nhân có thai bị tra xét và khai ra Thôi Sanh là kẻ phạm thượng khi quân.
Rồi một đêm kia, Thôi Sanh đang giao hoan cùng cung nữ thì bị phát hiện vì bùa ẩn thân không còn linh nghiệm nữạ Thôi Sanh bị cấm vệ quân vây bắt. Chàng chạy thoát thân ra ngoài thành và đến một bờ sông. Không biết làm sao thoát thân, Thôi Sanh bèn gọi lớn:
- Trác Tiên cô cứu tạ Trác Tiên cô cứu tạ
Bấy giờ Trác Tiên cô đang ở trên mây nghe tiếng chồng kêu và nhìn thấy chồng đang lâm nạn, thương tình rút chiếc thắt lưng màu xanh quăng xuống mặt sông. Chiếc thắt lưng liền hoá thành chiế cầu và Thôi Sanh chạy lên chiếc cầu ấy sang bờ sông bên kia, thoát nạn.
qcluu
10-02-2003, 07:27 PM
"ÔNG TƠ gàn quải chi nhau
Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi"
(Câu 547, 547. Kiều than với Kim Trọng)
ÔNG TƠ thực nhé đa đoan
Se tơ sao khéo vơ càn, vơ xiên
(Câu 2599, 2600. Kiều bị ép gã cho Thổ quan)
ÔNG TƠ do tích ông Tơ, bà Nguyệt mà rạ Sách "Thần Tiên truyện" kể rằng:
Đời Nguyên Hoà nhà Đường, quan đại thần Chung Thôi tự Hy Minh có người con trai tên Chung Hạo rất thông minh đĩnh ngộ . Mười hai tuổi, Chung Haq.o đã làu thông kinh sử và nổi tiếng văn hay chữ tốt.
Chung Thôi rất lấy làm tự hào về cậu con trai của mình và tỏ ra yêu quý lắm. Mỗi lần đi săn bắn, ông thươn`g hay dắt Chung Hạo theọ
Một lần kia theo cha đi săn, Chung Hạo mải mê đuổi theo một con thỏ nên bị lạc vào rừng sâụ Trời tối dần, Chung Hạo sợ quá nên chạy tứ tung tìm đường ra, nhưng càng chạy cậu càng bị lạc sâu vào chốn hoang vu, tĩnh mi.ch. Cũng may là đêm ấy co trăng. Trăng lên cao, ánh trăng bàng bạc đổ xuống khắp khu rừng. Nhờ có ánh trăng nên Chung Hạo cũng đỡ sợ phần nào...
Chung Hạo nghe có tiếng suối chảy róc rách gần đâu đó. Cậu lắng tai định hướng rồi bước lần đến nơi có tiếng suối kêu để tìm nước uống. Bỗng Chung Hạo nhìn thấy ở phiá trước mặt mình, không xa lắm có một bà lão ngồi bên một hòn đá to và đang se chỉ. Chung Hạo bước đến gần, trông rõ bà lão tóc trắng như tuyết đang chăm chú se những sợi chỉ đỏ .
Chung Hạo kính cẩn thưa:
- Kính thưa lão bà, tiểu sinh đi săn chẳng may bị lạc vào rừng sâu không biết đường về. Dám xin lão bà cho tiểu sinh biết đây là đâu và tại sao lão bà ngồi se chỉ dưới trăng ?
Bà lão ngừng tay ngước lên nhình Chung Hạo , ro6`i cúiu xuống vừa tiếp tục se chỉ vừa đáp:
- Đây là động tiên. Còn tao là nguyệt lão, ta đang se duyên cho những đôi trai gái yêu nha dưới trần gian.
Chung Hạo lấy làm lạ nên hỏi tiếp:
- Lão bà se như thế mà ở trần gian người ta yêu nhau được à ?
Nguyệt lão gật đầu đáp:
- Được chứ. Đây la dây tơ hồng, hễ ta se nhiều thì trai gái thương nhau nhiều, se ít thì trai gái thương nhau ít. Việc yêu đương của người trần gian do quyền của tạ Hễ ta đã se cho đôi trai gái nào thành vợ chồng thì đôi ấy phải kết duyên nhau và không xa lìa nhaụ
- Lão bà có thể vui lòng cho tiểu sinh biết là sau này tiểu sinh sẽ kết duyên cùng ai không ?
Nguyệt lão xoay mặt nhìn vào cửa đô.ng. Ở cửa động có một ông lão cũng đầu râu tóc bạc đang ngồi chăm chú xem sách. Nguyệt lão quay nhìn Chung Hạo, đáp:
- Việc ấy của ông tợ Công tử hảy vô hỏi ông tơ ngồi ngay cửa động ấỵ
Chung Hạo bước đến cửa động cúi chào ông lão và lên tiếng:
- Thưa lão trượng, xin lão trượng cho tiểu tử biết sau này tiểu tử sẽ được kết duyên với ai ạ ?
Ông lão nhìn Chung Hạo, hỏi:
- Công tử tên họ là chi và con cái nhà ai ?
Chung Hạo lễ phép thưa:
- Thưa lão trượng, tiểu sinh tên là Chung Hạo, con quan đại thần Chung Thôi ở kinh đô Tràng An.
Ông lão nhìn vào sổ, dùng ngón tay dò một lúc rồi ngước lên nói:
- Sau này công tử sẽ kết duyên với con gái của một mụa ăn mày ở chợ Đông gần kinh thành. Cô gái tên là Tố Lan.
Chung Hạo sững sờ nhìn ông lão và nói:
- Tiểu sinh là con quan đại thần của triều đình mà lại kết duy^n cùng con gái của mụ ăn mày sao ?
Ông lão cười đáp:
- Công tử chớ nổi nóng giận, đấy là duyên trời định đấy mà.
Quá thất vo.ng. Chung Hạo vội vã ra đi không kịp chào ông tơ và bà nguyệt Chàng ta đi lang thang suốt đêm không cần định hướng gì cả . Đến tờ mờ sáng thì Chung Hạo gặp được một quân lính do triều đình phái đi tìm chàng.
Về nhà, Chung Hạo buồn bã biếng ăn biếng nói nhưng tuyệt nhiên chàng không hé môi cho ai biết chuyện chàng gặp ông tơ bà nguyệt ở động tiên trong rừng sâụ Một ngày nọ Chung Hạo rủ một tên gia đồng cùng chàng đến chợ Đông với mục đích tìm xem có mụ ăn mày ở đó không. Đến chợ, sau một lúc dạo tới lui, Chung Hao trông thấy một mụ ăn mày mù, rách rưới được một con bé gáio dắt đi ăn xin. Sau giây phút bàng hoàng, Chung Hạo bảo đứa gia đi hỏi xem con bé dắt mụ ăn mày tên là gì. Ngươi kẻ chợ cho thầy trò Chung Hạo biết con bé tên là Tố Lan.
Chung Hạo thở dàị Như thế là đúng theo lo8`i ông tơ bà nguyệt ở động tiên trong rừng đã bảo với chàng. Chàng mon men đi theo con bé Tố Lan để xem mặt nó. Tố Lan khoảng tám, chín tuổị Vi mặt mày Tố Lan dơ bẩn quá nên Chung Hạo không nhìn được là da của nó, chàng chỉ nhận thấy đôi mắt của con bé đen láy mà thôị Lòng quá buồn phiền, Chung Hạo trở về dinh.
Từ đó Chung Hạo không thiết đến chuyện ra khỏi dinh nữạ Ngày đêm chàng luôn nghĩ cách làm thết nào thoát khỏi "cái định mệnh" mà ông tơ bà nguyêt đã dành sẵn cho chàng. Thế rồi một hôm Chung Hạo một mình đến chợ Đông rất sớm. Chàng thủ sẵn một hòn đá và đứng chờ mẹ con mụ ăn mày ở cổng chơ.. Khi mẹ con mụ ăn mày vưa đến cổng chợ, Chung Hạo ném mạnh hòn đá vào đầu Tố Lan rồi bỏ chạỵ Những người kẻ chợ lo cứu chữa cho con bé ăn mày nên chẳng ai để ý đến Chung Hạo đã chạy xạ
Sau đó mấy hôm, Chung Hạo cho bọn gia đồng đi dò la ngoài chợ Bọn gia đồng trở về báo là không còn trông thấy mẹ con mụ ăn mày ngoài chợ Đông nữạ Chung Hạo tạm nguôi ngoai về chuyện lương duyên sau này của mình.
Bảy năm sau ...
Ở huyện Trúc Giang có người con gái của quan Tháy úy nổi tiếng là nhan sắc bá mị thiên kiều, tên là Tố Lan. Chẳng những có nhan sắc, Tố Lan giỏi cả cầm kỳ thi hoạ nữa . Rất nhiều bậc cao sang quyền quý thường đến cầu thân với Tố Lan, nhưng chua*a có ai lọt vào mắt xanh của nàng. Bấy giờ Chung Hạo cũng chưa có gia thất, chàng nghe tiếng đồn về giai nhân Tố Lan nên quyết đến huyện Truc' Giang xem thực hư thế nàọ Đến nơi, Chung Hạo tìm cách cầu thân cùng người đẹp. Vì từ lâu Chung Hạo cũng là một người nổi danh trong làng văn mặc mà Tố Lan từng nghe nên nàng chịu tiếp chàng. Cuộc diện kiến người đẹp đã khiến Chung Hạo me mẩn tâm thần. Sau đó chàng trở về kinh đô và thố lộ tâm sự của mình cho phụ thân biết. Thế là Chun Thôi cậy mai vọng đến hỏi Tố Lan cho con trai mình. Quan Thái úy huyện Trúc Giang nhận thấy hai trẻ rất xứng đôi và hai gia đình cùng môn đăng hộ đối nên chấp thuận lời cầu hôn của Chung Thôị Thế là Chung Hạo và Tố Lan thành vợ chồng.
Một ngày nọ Chung Hạo phát hiện được trên đầu vợ mình có sẹo, bèn hỏi:
- Người đẹp thế này , cớ sao trên đầu có sẹo ?
Tố Lan cười và kể cho chồng nghe về thân phận của mình trước kia là con của một mụ ăn mày ngoài chợ, đã bị một thanh niên lạ mặt ném đá vào đa6`ụ Sau đó mẹ gần chết nên đem nàng cho quan Thái úy làm con nuôị
Chung Hạo nghe vợ kể, giật mình nhớ lại chuyện bảy năm xưạ Thì ra Tố Lan vợ chàng hôm nay chính là con bé Tố Lan con mụ ăn mày mà loà trướ[c kia ở chợ Đông ga6`n kinh thành. Chung Hạo càng cảm thấy thương yêu vợ nhiều hơn và chàng cũng tin rằng chuyện vợ chồng là điều tiền định . Chàng cầm bút thảo ngay một bài thơ tứ tuyệt tặng vợ :
"Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ
Vô duyên đối diện bất tương phùng
Ấm ngã trà hê hoàn ngã tráng
Đô thành hoa cố dĩ chinh đông"
(Ngàn dặm, có duyên thì vẫn gặp
Đối mặt, không duyên cũng cách lòng
Uống trà xin trả ly không
Đô thành trống đã thì thùng về trưa).
qcluu
10-30-2003, 07:43 PM
Sự lòng ngỏ với BĂNG NHÂN
Tin sương đồn đãi, xa gần xôn xao
(Câu 261, 262. Kiều định việc bán mình chuộc cha)
Trước thầy, sau tớ xôn xao
NHÀ BĂNG đưa mối rước vào lầu trang.
(Câu 629, 630. Người mối đưa Mã Giám Sinh đến)
Ngỏ lời nói với BĂNG NHÂN
Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn.
(Câu 2207, 2208. Từ Hải chuộc Kiều khỏi Thanh lâu)
BĂNG NHÂN: người mối lái chuyện cưới hỏi, gả bán, do câu chuyện sau đây:
Linh Hồ Sách, người đời Tấn, một hôm nằm mơ thấy mình đứng trên băng tuyết nói chuyện với một người lạ nằm dưới băng tuyết. Linh Hồ Sách đem chuyện nằm mơ của mình thuật lại cho Sách Thẩm là một người giỏi về thuật số.
Sách Thẫm nói:
- Băng thương nhân ngữ băng hạ nhân, tức là dương nói chuyện với âm. Điềm này tất sẽ có duyên mai mối đâỵ Vậy nếu có ai nhờ tiên sinh xe duyên thì tiên sinh cứ nhận lời cho, khi tuyết tan ắt lương duyên sẽ thành.
Mấy hôm sau, Linh Hồ Sách được Điền Báo nhờ làm mối lái hỏi cưới con gái của Trương Công Vị Nhớ lời Sách Thẫm dặn, Linh Hồ Sách nhận lời làm mai mối cho Điền Báo và được Trương Công Vi nhận lờị
Sang mùa xuân năm sau, khi tuyết tan hết thì đám cưới của Điền Báo và con gái Trương Công Vi được cử hành.
qcluu
11-06-2003, 05:44 PM
Dâng thư đã thẹn NÀNG OANH,
Lai thua Ả LÝ bán mình hay sao ?
CÕI XUÂN, TUỔI HẠC càng cao,
Một cây gánh vác biết bao nhiêu cành".
(Câu 671-674. Kiều nan nỉ Vương ông)
NÀNG OANH: Nàng Đề Oanh, con gái của Thuần Vu Ý đời nhà Hán. Thuần Vu Ý làm quan đất Tền, mắc tội phải thọ hình. Thuần Vu Ý không có con trai, chỉ sinh được năm người con gái, mà Đề Oanh là con gái út.
Đề Oanh theo cha lên kinh đô, dâng thư lên Hán Văn Đế đại ý nói rằng kẻ thác rồi không thể nào sống lại đư*.c ; nàng tình nguyện vào cung làm tôi để chuộc tội cho cha già.
Hán Văn Đế xem thư của nàng Oanh, cảm động vì lòng hiếu hạnh của nàng nên tha tội cho Thuần Vu Ý.
Ả LÝ: Nàng Lý Ký. Sách "Sưu Thần Ký" kể rằng:
Thời Hán Vũ Đế, ở quận Mân Trung đất Đông Việt có một cái hang núi có con rắn to; dân chúng trong vùng kính sợ gọi là thần rắn. Hàng năm, dân chúng phải cúng cho thần rắn một thiếu nữa đồng trinh.
Năm nọ viên quan lện sở tại tìm mãi mà không có con gái đồng trinh. Bấy giờ ở huyện Tương Lạc có người con gái tên là Lý Ký, con nhà nghèo, muốn nhân cơ hội này tự bán mình để lấy tiền giúp cha mẹ Nàng Lý trốn cha mẹ đến cửa quan tự nguyện bán mình nộp cho thần rắn. Nàng xin quan ra lệnh ban cho một cây gươm tốt và một con chó dữ.
Đến ngày tế thần rắn, Lý Ký cầm gươm và dắt chó đến ngồi trong một ngôi cổ miếu gần hang thần rắn. Rắn lớn từ trong hang núi bò ra, Lý Ký thả chó ra cắn, còng nàng cầm gươm đuổi theo chém rắn. Cuối cùng con rắn to bị nàng Lý Ký chém chết trước cửa ngôi miếu cổ.
Đông Việt Vương (1) nghe biết chuyện ấy, bèn đón nàng Lý Ký về làm vợ
CÕI XUÂN: Gốc cây Xuân. Sách Trang tử chép: Trên núi có cây Xuân, tám ngàn năm một mùa xuân, tám ngàn năm một mùa thụ Ta gọi Xuân là cha, có ý cầu cho cha sống lâu vậỵ
TUỔI HẠC: Tuổi của loài chim hạc. Chim hạc là một loài chim quý, mình cao ba thước, mỏ, chân, cổ đều dàị Mình hạc toàn một màu trắng. Loài chim này bay lượn nhanh và cao, tiếng kêu rất lớn và trong. Tương truyền chim hạc sống đến một nghìn năm nên người đời thường dùng chữ "tuổi hạc" để chúc và ước cho nhau sống lâụ
(1) Đông Việt vương: tước phong của Dư Thiện Dư Thiện là con cháu lâu đời của Việt Vương Câu Tiễn, được Hán Vũ Đế phong Vương ở đất Đông Việt. Có sách ghi lầm rằng Đông Việt Vương là vua của nước Đông Việt. Trong lịch sử Trung Quốc chỉ có nước Việt của Câu Tiễn thời Xuân Thu, chớ không có nước Đông Việt. Đông Việt Vương làtước Vương trấn giữ đất Đông Việt, cũng như tước Đông Bình vương, Nhữ Nam vương vậy (Ghi chú của TPH).
qcluu
11-10-2003, 04:38 PM
"Tái sinh chưa dứt hương thề
Làm thân trâu ngựa đền nghì TRÚC MAI"
(Câu 707, 708. Kiều than thở một mình)
"Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu đền nghì TRÚC MAI"
(Câu 745, 746. Kiều nói với Thúy Vân)
"Muôn ngàn người thấy cũng yêu
Xôn xao anh yến, dập dìu TRÚC MAI"
(Câu 943, 944. Tú Bà khấn vái)
"Thờ ơ gió TRÚC mưa MAI
Ngẩn ngơ trăm nỗi, dùi mài một thân"
(Câu 1249, 1250. Kiều ở thanh lâu lần thứ nhất)
"Một nhà sum họp TRÚC MAI
Càng sâu nghĩa bể, càng dài tình sông."
(Câu 1381, 1382. Thúc sinh chuộc Kiều)
"Chắc rằng MAI TRÚC lại vầy
Ai hay vĩnh quyết là ngày đưa nhau"
(Câu 1679, 1680. Thúc Sinh than khóc)
TRÚC, MAI: là hai loại cây mà mùa đông vẫn xanh tốt như mùa xuân. Trúc và Mai tượng trưng cho tình yêu gắn bó của trai gáị
Gió TRÚC mưa MAI: do câu "Trúc phong mai vũ" nghĩ là Trúc gặp gió, Mai gặp mưa; ý nói sự hợp thời tiết rất tốt.
Sách "Lương ban thu vũ tuỳ bút" chép:
Ở Huyện Long Môn tỉnh Quảng Đông có một cái đầm rất đẹp. Hàng năm vào cuối thu, trai tài gái sắc thường đến du ngoạn đầm ấỵ Vào cuối thu sang đông, thông thường các cây đều rụng lá trơ cành, chỉ riêng hai loại cây Trúc và Mai cành lá vẫn xanh tốt.
Thưở ấy trong số khách tài hoa nhàn du ở đầm, có nàng Hoàng Kỳ Mai và chàng Lâm Bá Trúc là đôi trai gái con nhà phong lưu đài các, rất khắng khít với nhaụ Qua đôi ba lần tri ngộ nơi cảnh đầm thanh lịch ấy, Hoàng Kỳ Mai và Lâm Bá Trúc đã yêu nhau tha thiết.
Cuộc vui nào rồi cũng có lúc phải chấm dứt, cuộc du ngoạn nào dù thích thú đến mấy cũng phải đến lúc chia taỵ Năm ấy trước khi chia tay, Hoàn Kỳ Mai và Lâm Bá Trúc còn nắm tay nhau du thuyền một lần chót trên mặt đầm; trong tay còn lại của ho, Kỳ Mai cầm một cành trúc và Bá Trúc cầm một nhành maị Trên mặt đầm nhấp nhô sóng lượn, con thuyền thong thả trôi theo làn gió. Lâm Bá Trúc nói với người yêu:
- Mai và Trúc là tên của đôi tạ Bây giờ chúng ta hãy ném hai cành mai và trúc này ở hai hướng khác nhau, nếu chúng được nước đưa gió đẩy hợp lại với nhau thì quả là chúng ta có duyên tiền đi.nh. Chừng đó chúng ta sẽ về thưa lại song đường cho chúng ta được kết tóc se tơ với nhaụ
Hoàng Kỳ Mai đồng ý. Thế là hai người cùng ném hai cành cây trong tay mình về hai hướng khác nhaụ Một lúc lâu sau, gió đưa sóng đẩy hai cành mai và trúc lại hiệp nhau làm một.
Hoàng Kỳ Mai và Lâm Bá Trúc cho rằng lời ước nguyện của họ đã ứng nghiệm nên vui vẻ chia tay nhaụ Cả hai về với gia đình và thuật lại chuyện ấy cho cha mẹ nghẹ Cả hai gia đình đều cho rằng con cái họ quả là có duyên tiền định nên cùng thuận tác hợp cho Hoàng Kỳ Mai và Lâm Bá Trúc nên duyên vợ chồng.
Về sau người ta đặt cho cái đầm ấy tên là "Đỗ phụ đầm" có nghĩa là "cái đầm đánh cá được vợ".
qcluu
11-15-2003, 11:51 AM
"Nợ tình chưa trả cho ai
KHỐI TÌNH mang xuống TUYỀN ĐÀI chưa tan"
(Câu 709, 710. Kiều than thở một mình)
KHỐI TÌNH: Tình yêu sâu nặng đúc kết lại thành một khốị
Sách Tình Sử Trung Quốc chép rằng:
Ngày xưa có một chàng lái buôn hình dung tuấn tú, thường đỗ thuyền ở sông Tây Hà để buôn bán. Chàng ta lại hay neo thuyền trước một căn lầu trên bờ sông.
Trên căn lầu ấy, có một người con gái đẹp ngày ngày đứng ở bao lơn nhìn xuống chàng lái buôn. Thời gian trôi khoảng một tháng, hai bên phả>i lòng nhaụ Tuy nhiên chàng và nàng vẫn chưa chuyện vãn hay trao đổi tâm tình gì với nhau được, vì nơi ấy là chỗ đông người lui tới bán buôn nên không tiện
It' lâu sau, chàng lái buôn bán hết hàng nên cho thuyền rời bến về quệ Người con gái trên lầu kia ngày ngày vẫn hằng mong chàng lái buôn trở lại . Nhưng tháng ngày qua mà bóng chàn vẫn bặt tin nhàn cá. Quá nhớ nhung đau đớ, nàng tương tư rồi chết.
Xác người con gái được gia đình đem hoả táng theo phong tục thời bấy giờ ở vùng ấỵ Thịt xương nàng bị cháy hết nhưng trong trái tim nàng còn lại một khối cứng rắng. Người cha lấy làm lạ, đem khối ấy mài vào đá thì thấy có bón g lấp lánh ẩn hiện . Nhìn kỹ là bóng một chiết thuyền và một căn lầu đối nhaụ Bên trong thuyền và lầu đều có bóng người lờ mờ. Cha cô gái càng lấy làm lạ hơn nữa, bèn cất kỹ một nơị
Một thời gian sau, chàng lái buôn ấy lại chở hàng đến và neo thuyền chỗ cũ để bán. Chàng không còn thấy nàng ngồi trên lầu nhìn xuống thuyền mình nữa nên hỏI thăm mọi người chung quanh xem nàng đã đi đâụ Người ta cho chàng biết là người con gái ấy đã chết. Chàng lái buôn ấy làm đau xót lắm. Chàng lại nghe mọi người đồn rằng nàng chết đi còn để lại một vật lạ Chàng bèn lên bờ tìm người cha của cô gái, dâng lên ông một số tiền để được xem vật lạ của cô gái để lạị
Người cha của cô gái đã chết trao cho chàng lái buôn khối đá lạ . Cầm khối đá ấy trong tay , lòng chàng lái buồn bổng nhiên xúc động mạnh . Rồi nước mắt chàng rơi lã chã trên khối đá ấy và biến thành máụ Và lạ lùng thay, khi những giọt nước mắt máu của chàng lái buôn thấm ướt khối đá ấy, thì lập tức khối đá tan ra thành trọ
=====
Câu chuyện tứ hai về Khối Tình cũng xuất phát từ sách Tình Sử Trung Quốc:
Trong một triều đại của thời nhà Đường, có vị cao quan kia chán cảnh quan trường cương toả nên cáo lão qui điền. Ông đưa gia quyến đến một vùng ngoại vi vắng vẻ của kinh thành, cư ngụ trên bờ một dòng sông.
Ông chỉ có một người con gái duy nhất, năm ấy guổi vừa cập kê, nhan sắc tuyệt vời, tên là Mỵ Nương. Tiểu thư Mỵ Nương suốt ngày nhà nhã, chỉ lấy thú đọc sách, đánh đàn làm vuị
Một đêm trăng nọ, Mỵ Nương tiểu thư đứng trên bao lơn vọng lầu ngắm ánh trăng vàng lung linh trên mặt sông rô.ng. Bỗng nàng nghe có tiếng sáo du dương, trầm bổng từ đâu vẳng đến trong làn gió nhẹ của đêm thụ Tiếng sáo như có một ma lực huyện diệu xoáy sâu vào tâm hồn nàng tiểu thư khuê các đang độ tuổi xuân xanh. Nàng say mê lắng nghe với nỗi xúc cảm mãnh liệt của tâm hồn...
Liên tiếp nhiều đêm như thế, Mỵ Nương tiê>u thư cứ đứng lặng trên vọng lâu để thưởng thức tiếng sáo tuyệt vời ấy mà chẳng biết nó xuất phát từ đâụ Lòng xuân của cô tiểu thư đài các ấy vẩn vơ nghĩ ngợi . Nàng mường tượng ra người thổi sáoi phải là một trang thanh niên tài tuấn, nếu không phải là một công tử kim mã ngọc đưo8`ng thì cũng phải là một khách văn mặc phong lưu . Lòng nàng đã thêu dệt nhiều mơ ước ...
Mấy đêm sau, Mỵ Nương không còn nghe tiếng sáo tuyệt vời ấy nữạ Đêm nào nàng cũng đứng chờ đợi và lắng tai ... Nhưng tiếng sáo tuyệt vời kia đã bay đến phương trời nào xa mà không đến với nàng. Thế là tâm hồn người con gái đang vào xuân ấy vường nồi nhớ nhung sầu nãọ Rồi nàng ngã bê.nh. Bệnh tình của Mỵ Nương tiểu thư càng ngày càng nặng thêm dù nàng đã đu8Ợc vị lương y trong vùng tận tình thang thuốc.
Rồi một đêm kia, tiếng sáo huyền hoặc nọ bỗn vẳng đến, Mỵ NưƠng tiểu thư đang nằm bệnh, nghe tiếng sáo vụt bừng tỉnh. Đôi môi xinh hé một nụ cười héo hắt và nàng thì thầm:
- Ôi, tiếng sáo huyền diệu kia đã đến với ta...
Người jẹ thấy thế lấy làm lạ, liền đi báo cho chồng:
- Thưa tướng công, con gái nhà ta nghe tiếng sáo thì có vẻ tiảnh táo và vui thích nữa ...
Vị cao quan trí sĩ cau mày nghĩ ngợi một lúc rồi gật gù bảo:
- Thì ra nó tương tư tiếng sáo của kẻ nào đó . Biết rõ căn nguyên thì việc chữa trị chẳng khó khăng gì.
Phu nhân thở dài:
- Nhưng biết người thổi sáo là ai và ở đâu mà mời đến ?
- Phu nhân cứ yên lòng, chuyện ấy không khó đối với tạ
Hôm sau, ông cho gia nhân tuá ra khắp vùng để tìm tông tích người thổi sáo trên sông về đêm. Gia nhân về bẩm lại rằng người thổi sáo kia là một tên đánh cá nghèo hèn, không nhà cửa, sống lên đên trên chiếc thuyền nhỏ làm bạn với sông nước gió trăng. Chàng ta tên là Trương Chị Vị cao quan bèn sai hai gia nhân tâm phúc đem vàng bạc tìm gặp TrưƠng Chi và mnời chàng về đinh cho ông gặp.
Khi Trương Chi đến, vi cao quan nhận thấy chàng "nghệ sĩ" ấy là một kẻ ngheò hèn, lại xấu xí nữ. Nhưng ông cần gì chuyện xấu đẹp, giàu sang. Ông chỉ cần tiếng sáo của chàng để cứu mạng con gái của ông mà thôị Ông bảo Trương Chi:
- Ta được biết nhà ngươi là một nghệ sĩ có tiếng sáo thần tuyệt diệu . Hiện nay con gái ta đang lâm bệnh, thuốc thang không chữa khỏị NhU8ng khi nghe được tiếng sáo của nhà ngươi thì tinh thần tiểu thư sảng khoáị Ta nghĩ rằng tiếng sáo của ngươi sẽ là phương thần dược chữa khỏi bệnh tình của con tạ Vậy ngươi hã khá trổ tài rồi ta sẽ trọng thưởng chọ
Trương Chi tuân lời , lấy sáo trúc ra thổị Tiếng sáo của chàng cất lên khi du dương, khi trầm bổng, khi dịu dàng; khi réo rắt khiến vị cao quan cũng phải phục tàị Trương Chi thổi sáo chưa đầy một khắc thì trong phòng bệnh, Mỵ Nương tiểu thư bừng tỉnh cơn mệ Nàng mở mắt ra và có vẻ chú tâm lắng nghe tiếng sáọ Dần dần, Mỵ Nương cảm thấy tâm hồn mình khoan khoái lạ lùng. Nàng ngồi phắt dậy một cách gọn gàng như chưa hề nằm bê.nh. Mẹ nàng hốt hoảng ngăn lại:
- Kià con, con đang bện phả>i nằm yêu dưỡng.
Mỵ Nương cớp đôi mi cong, tiếng oanh thỏ thẻ:
- Thưa mẫu nhân, ai thổi sáo trong dinh ta thế? Con muốn gặp người ấỵ
Bà mẹ đõ nàng nằm xuống và nói:
- Người thổi sáo tên là TrưƠng Chi, một anh chài lưới trên sông. Vì biết con thích nghe tiếng sáo của Trương Chi nên phụ thân con cho đòi gã đến thổi sáo đấỵ
- Hãy cho con gặp mặt ngưòi thổi sáo kia đi mẹ
- Được thôi, con cứ nằm yên đây, để mẹ ra ngoài trình với thân phục con cho Trương Chi vàọ
Nói xong, bà bước ra ngoài trinh lại chồng ý muống của con gáị Vị cao quan bằng lòng và đích thân dắt Trương Chi vào phòng Mỵ Nương tiểu thự
Bức tường liêm được vén lên và hình bóng Trương Chi hiện ra: My Nương trông thấy anh chàng thổi sáo bỗng thét lên một tiếng thất thanh và quát lớn:
- Hãy đuổi nó ra lập tức.
Bọn a hoàn vội vã đưa Trương Chi ra khỏi phòng. Mỵ Nương quay mặt vào tường và ... thổn thức ...
Thì ra, TrưƠng Chi không phải là một chàng trai tài tuấn phong nhã như Mỵ Nương tửơng tượng bấy lâu naỵ Trước mắt nàng một Trương Chi bằng xương bằng thịt hoàn toàn trái ngược lại hình ảnh mà nàng đã tưởng bấy lâu naỵ Chàng lùn tịt, mặt mày xấu xí với chiếc mũi to và cái miệng rộng; lại là một kẻ bần hàn ăn mặc lôi thôi lếch thếch nữạ Bao nhiêu mộng ước trong lòng Mỵ Nương lâu nay đã sụp đổ. Nàng thất vọng hoàn toàn. Nhưng cũng chích nhờ va chạm một sự thật phũ phàng như thết, Mỵ Nương tiểu thư dứt hẳn chứng bệnh tương tư ...
Trương Chi được vị cao quan tặng một số vàng bạc nhưng chàng từ chốị Lòng đớn đau âm thầm, chàng lặg lẽ xuống thuyền rời khỏi dinh thự của Mỵ Nương tiểu thư...
Mỵ Nương đã hết bệnh nhưng từ đó nàng không còn hồn nhiêu vui vẻ nữạ Nàng ít nói và trầm mặc hơn xưạ Có lẽ vết thương lòng vừa qua không còn làm cho nàng mộng mơ gì được nữa ...
Phần Trương Chi, từ khi nhìn thấy mặt Mỵ Nương tiểu thư thì tâm ho6`n chàng hoàn toàn bị nhan sắc ấy chinh phục. Dù là một kẻ mang nhân diện xấu xí nhưng Trương Chi lại có tâm hồn một nghệ sĩ thì chàng cũng biết cảm, biết yêu như bao nhiêu con tim người bình thường khác. Thế là Trương Chi tương tư Mỵ Nương và không còn thiết gì đến chuyện thổi sáo nữạ
Rồi đến một đêm kia Trương Chi từ giã cõi đời trong chiếc thuyền con lên đên trên mặt nước. Vài bạn đồng nghiệp thương tình đắp cho chàng một nấm mộ ven sông.
Thời gian trôi qua, không còn ai nhớ đến chuyện chàng đánh cá xấu xí Trương Chi tương tư một tiểu thư khuê các đến bỏ mình. NhƯng rồi có một năm nọ, nước lũ dâng cao xoáy trốc ngôi mộ của chàng nghệ sĩ đáng thương. Khi nước rút, ,người ta không tìm thấy hài cốt của Trương Chi, mà chỉ thấy trong đáy ngôi một chàng có một viên đá trong vắt như pha lê, bằng nắm taỵ Bấy giờ người ta mới nhớ lại câu chuyện chàng tương tư tuyệt vọng nàng Mỵ NưƠng trước kiạ Người ta đem viên đá ấy dâng cho vị cao quan cha của Mỵ NưƠng.
Ông nhận thấy viên đá đẹp nên nhận lấy và để trên án thự Lòng ông cũng nghe một chúc xót xa khi nghĩ đến người nghệ sĩ tài hoa nhưng mệnh bạc.
Một buổi chiều, tiểu thư Mỵ Nương đi ngang qua án thư của thân phụ, vô tình trông thấy viên đá lạ ấỵ Nàng đứng lại và tò mò cầm viên đá lên ngắm nghíạ Ban đầu Mỵ Nương chỉ thấy viên đá trong suốt như pha lê, nhưng nhìn một lúc lâu thì nàng thấy ẩn hiện trong viên đá ấy hình dáng chàng Trương Chi đang thổi sáo trên chiếc thuyền con. My Nương lại nhớ ra rằng Trương Chi chết đi cũng vì tương tư nàng. Lòng nàng bỗng nghe xúc động mạnh và hai giọt nước mắt từ từ lăn trên đôi má mịn màng. Rồi những giọt nước mắt của Mỵ Nương rơi lã chã xuống viên đá nàng đang cầm trên taỵ Lạ thay, viên đá pha lê ấy từ từ tan ra trong tay nàng ...
qcluu
11-16-2003, 04:21 PM
"Giữa đừng đứt gánh tương tư
GIAO LOAN chấp mối tơ thừa mặc em"
(Câu 725, 726. Kiều cậy Thúy Vân gá nghĩa với Kim Trọng)
GIAO LOAN là một loại keo chế tạo bằng máu con chim loan. Loại keo này nối dây rất chắc; tương truyền nối được cả dây cung . Sách "Bác Vật chí" chép rằng:
Thời Hán Vũ Đế, có sứ nưới Tây Hải đem dâng vua năm lạng rưỜi keo, bảo là loại keo quý hiếm. Vũ Đế cho cất vào kho năm lạng chẵn. Còn nữa lạng, nhà vua bảo sứ thần cứ giữ trong người vì nhà vua có ý cho sứ thần tháp tùng cuộc săn bắn của mình.
Rồi Hán Vũ Đế tổ chứ đi săn bắn ở cung Cam Tuyền, cho sứ thần nước Tây Hải theọ Trong cuộc săn, dây cung của nhà vua bị đứt, cá quan định thay dây cung khác cho nha vua thì sứ thần Tây Hải ngăn lạị Ông ta dùng nửa lạng keo còn giữ trong ngưỜi để nối dây cung cho nhà vua và bảo rằng có thể bắn suốt ngày nhưng dây cung vẫn không đứt. Hán vũ Đế cho hai lực sĩ mỗi người một đầu dây kéo thử, quả nhiên không đứt. Nhà vua lấy làm lạ lắm, bèn đặt tên là "tục huyền giao" có nghĩ là keo nối dây cung.
qcluu
11-22-2003, 09:13 AM
Vì ai rụng CẢI rơi KIM
Để con bèo nổi mây chìm vì ai"
(Câu 769, 770. Vương ông than thở)
KIM CẢI: Cây kim và hạt cải, chỉ tính tình hoà hợp nhau mà tìm đến nhau như tình vợ chồng vậỵ Sách Kinh Dịch chép: "Không phải chỉ có những vật đồng loại mới có sự tương cảm, mà cũng có sự tương cảm đối với nhhững vật khác loại, như từ thạch hút kim, hổ phách hút lại cải"
Câu thơ trên nói "rụng cải rơi kim" tức ý nói tình duyên tốt đẹp của Kiều và Kim Trọng bị tan vỡ. Ở Phần Kim Kiều sum họp Thúy Vân cũng trần tình rằng:
"Cũng là phận Cải duyên Kim" (Câu 3067)
qcluu
11-24-2003, 03:25 PM
"Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân BỒ LIỄU, đền nghì trúc mai"
(Câu 745, 746. Kiềm tâm sự với Thúy Vân)
Dạy rằng: "May rủi đã đành
LIỄU BỒ mình giữ lấy mình cho hay".
(Câu 1751, 1752. Mụ Hoạn gia căn dặn Kiều)
BỒ LIỄU hay LIỄU BỒ là một loại cây thùy dương, yếu ớt nhất trong các loại cây lá.
Cô Duyệt và Giản Văn cùng tuổi với nhau, Duyệt thì râu tóc đều bạc trắng cả, còn Văn thì không. Giản Văn lấy làm lạ mới hỏi Cô Duyệt tại sao lại thế. Cô Duyệt đáp:
- Thể chất của bồ liễu yếu đuối, thấy mùa thu tới là đã đủ héo úa rồi; còn tùng bá thì dầu có trải qua sương tuyết cũng vẫn tốt tươị
Chữ bồ liễu dùng để chỉ người phụ nữ vì từ xưa, phụ nữ vốn là những người có thể thái yếu đuối, mảnh maị
Trúc Mai: Xem điển tích Trúc Mai (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=767827#post767827).
qcluu
11-26-2003, 12:42 PM
Kẻ thang người thuốc bời bời
Mới giầu con vựng, chưa phai GIỌT HỒNG
(Câu 761, 762. Kiều được cứu tỉnh)
Nhìn càng lã chã GIỌT HỒNG
Rỉ tai, nàng mới giải lòng trước sau
(Câu 875, 876. Kiều trước khi theo Mã Giám Sinh).
GIỌT HỒNG là giọt nước mắt có màu hòng như máu, để diễn tả sự đau khổ cùng cực của những ai lâm vào hoàn cảnh éo le, bất đắc chí thái quá.
Tích Giọt Hồng hay Hồng Lệ được sách Tình sử kể như sau:
Tiết Linh Vân sinh vào lúc Ngụy Tấn giao thời, quê ở Thường Sơn tỉnh Hà Nam.
Càng lớn lên, Tiết Linh Vân càng đẹp. Nhất là đôi mắt của nàng trong trẻo lóng lánh như mặt nước hồ thụ Kèm thêm đôi lông mày phơn phớt càng làm tăng giá trị của đôi mắt. Có nhan sắc nhưng lại là con nhà nghèo nên tháng ngày nàng phải phụ với mẹ làm lụng vất vả để mưu sinh. Tuy nhiên, Tiết Linh Vân cũng có một nỗi đam mê là ham thích học thêu thùa, may vá. Ban ngày ph?i phụ giúp mẹ, chỉ có buổi tối Tiết Linh Vân mới dành ra được thì giờ để tập tành theo sở thích.
Nhà nghèo quá, nhiều khi không có tiền để mua dầu thắp về đêm. Dù vậy, nàng họ Tiết vẫn không đầu hàng số mê.nh. Nàng quyết tâm khắc phục khó khăn của hoàn cảnh để đạt cho kỳ được ý muốn của mình. Nàng quyết tâm tập tành trong bóng đêm thiếu ánh sáng. Sự bền tâm quyết chí ấy đã giúp Tiết Linh Vân thành công. Trong bóng đêm, mười ngón tay búp măng của Tiết Linh Vân thoăn thoắt đưa đường kim mũi chỉ qua lại thêu nên những đóa hoa tuyệt đẹp.
Chẳng bao lâu Tiết Linh Vân nổi tiếng với tài thêu trác tuyệt ấỵ Khắp trong hương lý, ai nấy đều gọi nàng bằng hai tiếng "Trâm thần". Tiếng đồn đến tai quan Thái Thú Thường Sơn nên ngài đết đặt Tiết Linh Vân thêu lên những tấm vóc cho quan gởi về kinh dâng lên cho Yên hoàng hậu, vợ ngụy đế Tào Phị
Cả triều đình nhà Ngụy đều phục tài thêu của Tiết Linh Vân. Đến đời Ngụy Nguyên đế tức Tào Hoán, ông càng tỏ ra mê tài thêu của Tiết Linh Vân gấp bộị Và ông vua trẻ tuổi này quyết định triệu nàng vào cung.
Ngày Tiết Linh Vân lên đường tiến cung, triều đình ra lệnh cho mười phủ, huyện trên dọc đường đi phải thắp đèn đuốc về đêm cho sáng như ban ngàỵ Dĩ nhiên, gia đình Tiết Linh Vân được nhà vua thưởng ban rất nhiều vàng bạc, gấm vóc. Riêng nàng được Ng.y Nguyên đế ban tặng cho một cái bình bằng Hồng ngọc cực quý.
Suốt quãng đường từ nhà đến kinh đô , Tiết Linh Vân khóc như mưa trúc không ngừng. Truyền thuyết dân gian kể rằng nàng Tiết Linh Vân đã để cho nước mắt của mình tuôn rơi vào chiếc bình Hồng ngọc vua ban mà nàng cầm trên taỵ Chiếc bình màu hồng nên những giọt nước mắt của nàng trở thành màu hồng, gọi là "hồng lệ"
Vào cung, Tiết Linh Vân rất được Tào Hoán thương yêu chiều chuô.ng. Nhà vua yêu nàng đến nỗi chỉ chịu mặc những chiếc áo do chính tay nàng thêu và may; ngoài ra không mặc áo nào khác ấỵ Ấy thế mà Tiết Linh Vân vẫn không lấy làm hạnh phúc. Nàng vẫn âm thầm đau khổ vì thương nhớ gia đình, làng xóm quê hương. Chẳng bao lâu, Tiết Linh Vân lâm bệnh rồi mất ...
qcluu
12-03-2003, 06:39 PM
LẦU XANH có mụ tú bà
Làng chơi đã trở về già hết duyên.
(Câu 809, 810. "Bạn đời" của Mã Giám Sinh)
LẦU XANH quen lối xưa nay
Nghề này thì lấy ông này tiên sự
(Câu 931, 932. Thần Bạch mi của gái lầu xanh)
"Bạc tình nổi tiếng LẦU XANH
Một tay chôn biết mấy cành phù dung".
(Câu 1159, 1160. Mã Kiều nói với Thúy Kiều)
LẦU XANH mới rũ trướng đào
Càng treo giá ngọc, càng cao phẩm ngườị
(Câu 1227, 1228. Kiều ở thanh lâu lần thứ nhất)
"Sá chi liễu ngõ hoa tường
LẦU XANH lại bỏ ra phường LẦU XANH".
(Câu 1355, 1356. Kiều nói với Thúc Sinh)
"Một là cứ phép gia hình
Một là lại cứ LẦU XANH phó về"
(Câu 1419, 1420. Quan phủ Lâm truy phán)
Đêm ngày lòng những giận lòng
Sinh đà về đến LẦU HỒNG, xuống yên.
(Câu 1567, 1568. Thúc Sinh về thăm vợ)
Đưa nàng vào lạy gia đường
Cũng thần mày trắng, cũng phường LẦU XANH.
(Câu 2147, 2148. Bạch Hạnh bán Kiều vào thanh lâu)
"Hết nạn ấy, đến nạn kia
THANH LÂU hai lượt, thanh y hai lần".
(Câu 2667, 2668. Tam hợp đạo cô nói với Giác Duyên).
LẦU XANH, LẦU HỒNG (Thanh lâu, Hồng lâu): Cả hai đều để chỉ nơi hành viện của gái làng chơị
Thực ra, xưa kia Thanh lâu và Hồng lâu không phải là nơi chứa gái giang hồi, kỹ nữ; mà là chốn cư ngụ của vua chúa hay các bậc công khanh quyền quý. Vào thời Hán Vũ Đế, nhà vua cho xây một cái lầu cao cửa trước sơn màu xanh để ngài ở. Vì thế nên người thời bấy giờ gọi chốn vua là Thanh lâụ Nha thơ Tào Tử Kiến (Tào Thực) đời nhà Nguỵ làm thơ tả chốn vua ở có câu:
"Thanh lâu lầm đại lộ
Cao môn kết trùng quan"
(Lầu xanh cách đường cái
Cửa cao lại tầng then).
Còn Hồng lâu tức là lầu hồng, là nhà sơn cửa trước màu hồng. Nơi các bậc quyền quý cao sang ở. Riêng trong hậu cung của nhà vua, các phòng dành cho Công chúa hay cung tần ở thì cửa sơn màu đỏ. Nhà văn Tào Tuyết Cần của Trung Quốc viết bộ tiểu thuyết "Hồng lâu mộng" tả sinh hoạt hằng ngày của con cái nhà quan lớn cao sang quyền quý. Điều đó chứng tỏ Hồng lâu không phải là nơi để chứa gái làng chơị Ngay trong truyện Kiều, câu: "Sinh đà về đến LẦU HỒNG, xuống yên" thì lầu hồng là nơi Hoạn Thư ở, chứ nào phải là nơi chứa gái làng chơị
Đến đời nhà Đường, bỗng nhiên các văn gia thi sĩ "biến" thanh lâu và hồng lâu thành nơi chứa gái giang hồ, ca nhi kỹ nữ. Nhà thơ Bạch Cư Dị viết:
"Đáo nhất hồng lâu gia
Ái chi khan bất túc"
(Đến một nhà hồng lâu
Lòng yêu em không chán).
Nhà thơ Đỗ Mục cũng viết:
"Thập niên nhất giác Dương châu mộng,
Doanh đắc thanh lâu lạc hạnh danh".
(Dương châu giất mộng mười năm
Bạc đen mang tiếng chẳng lầm lầu xanh).
========
BẠC TÌNH: Cách cư xử bạc bẽo với tình yêu, hoặc giả để chỉ kẻ vong phụ tình yêụ
Truyện "Thiệu Hưng sĩ nhân" trong sách tình sử chép:
Năm Thiệu Hưng đời Tống Cao Tông, có anh hàn sĩ không tiền cươi vợ, phải gởi thân ở rể nhà một "Trưởng lão cái bang". Tuy nhiên, cô vợ của anh ta lại là một người có nhan sắc và tánh tình rất thanh nhã. Hai vợ chồng chung sống với nhau rất tâm đồng ý hợp.
Vài năm sau, anh hàn sĩ thi đỗ nên danh nên phận thì cảm thấy xấu hổ vì sự hèn hạ của gia đình vợ Được triều đình bổ dụng làm quan đất Hoài Thượng, anh chàng đem vợ đi theọ Trên đường đáo nhậm nhiệm sở vào một đêm sáng trăng hai vợ chồng ngồi trước thuyền thưởng lãm cảnh vật sông nước. Bất thần, anh chàng xô vợ xuống sông rồi dong buồm chạy thẳng.
Chị vợ rơi xuống dòng nước, bám được vào một khúc gỗ trôi nên thoát chết. Chị trồi bập bền trên dòng sông một lúc thì gặp được thuyền của quan Chuyển Vận Sứ đất Hoài Tây, nên được cứu vớt. Người đàn bà bất hạnh ấy kể khúc nôi cho quan Chuyển Vận Sứ nghẹ Ông ta động lòng thương cảm nên nhận nàng làm dưỡng nữ và dặn gia nhân không được tiết lộ câu chuyện của nàng ra ngoàị
Một thời gian ngắn sau, anh hàn sĩ làm quan ở Hoài Thượng có dịp yết kiến quan Chuyển Vận Sứ. Trong lúc đàm đạo, quan Chuyển Vận Sứ hỏi:
- Chẳng hay quan nhân đã nên gia thất chưa ?
Anh chàng bạc tình đáp:
- Bẩm thượng quan, ty chức đã có vợ rồi nhưng chẳng may tiện nội té xuống sông chết, đến nay tỵ chức vẫn còn ở vậỵ
Quan Chuyển Vận Sứ giả bộ mừng rỡ nói:
- Vậy thì hay quá, ta có một đứa con gái cũng khá nhan sắc và rất hiền thục, chẳng hay quan nhân có muốn làm rể đông sàng của ta không ?
Anh chàng bạc tình nọ vốn có ý muốn kết thân với những gia đình quyền quý cao sang, nay được lời như cởi tấc lòng nên ưng thuận ngaỵ Quan Chuyển Vận Sứ bèn nhờ một bạn đồng liêu đứng ra làm mối và buộc anh chàng kia phải ở rể.
Sau khi hôn lễ cử hành, anh chàng hớn hở vào phòng để gặp cô dâụ Bỗng có hàng chục người già trẻ không biết từ đâu xuất hiện, roi trong tay, đổ xô đến đánh túi bụi vào anh chàng. Anh chàng hoảng kinh chạy thụt trở ra thì nghe có tiếng hô lớn từ trong phòng:
- Hãy tóm cổ anh chàng bạc tình ấy giúp tôị
Anh chàng bị mọi người giữ lạị Từ trong phòng, người vợ cũ của anh ta khoan thai bước ra, vạch tội anh ta cho mọi người nghẹ Anh chàng chỉ còn biết cúi gầm mặt nhận tội . Ngay lúc ấy, quan Chuyển Vận Sứ đến hoà giải hai vợ chồng. Kể từ đó anh chàng luôn tỏ ra kính yêu vợ Hai người ăn ở hoà mục với nhau suốt đờị
qcluu
01-04-2004, 08:22 PM
"Đã nên quốc sắc, thiên hương
MỘT CƯỜI NÀY HẲN NGHÌN VÀNG CHẲNG NGOA"
(Câu 825, 826. Mã Giám Sinh tự nhủ khi mua Kiều)
Một nụ cười đáng giá nghìn nén vàng. Truyện "Đông Chu Liệt Quốc" kể:
Vua U Vương nhà Châu đắm say nàng Bao Tự bèn phế bỏ Thân Hậu để lập Bao Tự lên ngôi chán h cung. Thế mà Bao Tự vẫn luôn u trầm, không hề hé nở một nụ cườị
U Vương lấy làm lo lắng, triệu tập tất cả nhạc công , ca nhi, vũ nữ trong triều lại bày cuộc vui cho Bao Tự thưởng thức. Thế nhưng Bao Tự vẫn không hề hé một nụ cườị Nhà vua hỏi:
- Đờn ca xướng hát như thế, sao ái Khanh lại không vui ?
Bao Tự đáp:
- Tâu bệ hạ, thần thiếp thích nghe tiếng xé lụa hơn là nghe âm nhạc.
U Vương liền truyền lện cho quan giữ kho mỗi ngày phải đem vào cung một trăm tấm lụa và khiến các cung nữ thay phiên nhau xé để làm vui cho Bao Tự .
Lụa bị xé nhiều vô kể nhưng Bao Tự chẳng vui và cũng chẳng nở được một nụ cười nàọ Bấy giờ U Vương lấy làm lo lắm, mới tuyên bố với đám quần thần rằng:
- Các khanh ai có cách gì khiến Chánh hậu cược được một nụ thì trẫm sẽ thưởng cho ngàn chén vàng.
Thái giám Quách Thạch Phủ tân:
- Trước kia tiên vương có lập mười cái phong hoả đài ở núi Ly Sơn và tạo mấy chục cỗ trốn g lớn, phòng khi có giặc Tây Nhung quấy nhiễu thì đốt lửa gióng trống gọi các Chư hầu đem qua6n về cứụ Lâu nay trong nước thái bình, phong hoả đài không dùng đến. Nay nếu bệ hạ muốn Chánh hậu cười thì hãy cùng Chánh hậu du ngoạn đến Ly Sơn, rồi nửa đêm cho đốt phong hoả đài và đánh trống lớn, các chư hầu tưởng có giặc sẽ kéo binh đến. Khi đến nơi thấy không có giặc, tất cả chư hầu phải bẽn lẽn kéo quân về. Nhìn cảnh ấy, thế nào Chánh hậu cũng phải tức cườị
U Vương cho là kế hay nên ngày hôm sau ra lệnh cho xa giá chở mình cùng Bao Tự đến núi Ly Sơn. Quan Tư Đồ Trịnh Bá Hữu hay tin bèn theo ra Ly Sơn can vua rằng;
- PHong hoả đài của tiên vương lập nên là để thông tin tức với các chư hầu khi trong nước có biến. Nay vô cớ bệ hạ đốt lửa gạt chư hầu để làm trò vui thì thử hỏi về sau nếu có binh biến thật, bệ hả đốt phong hoả đài nữa, phỏng có ai tin chăng. Xin bệ hạ xét lại, chớ nên làm như thế.
U Vương cả giận, mắng:
- Nay thiên hạ thái bình cầng gì đến binh cứu viện. Trẫn cùng Chánh hậu du ngoạn đếy Ly Sơn không có trò gì vui nên phải mượn kế ấỵ Nếu sau này có giặt thì cũng chẳng can hệ gì đến nhà ngươi mà lọ
Trịnh Bá Hữu thở dài lui rạ Đêm hôm ấy U Vương ra lện đốt các phong hoả đài và đánh mấy chục cỗ trống lớn. Chư hầu các nơi tưởng nhà Chu có biến loạn, vội điều binh khiển tướng suốt đêm kéo về Kiều Kinh (kinh đô nhà Chu). Khi quân chư hầu kéo sang Ly Sơn, nghe tiếng đàn ca xướng hát và nhìn thấy U Vương cùng Bao Tự ngất ngưởng trên đài cao chè chén mới biết mình bị gạt. Họ nhìn nhau bẽn lẽn rôi cuốn cờ xếp giáo, mạnh ai nấy dẫn quân trở về nước mình.
Bao Tự ngồi trên đài cao trông thấy cảnh quân chư hầu rầm rầm rộ rộ kéo đến nơi rồi ngơ ngác và uể oải kéo quân về thích chí vỗ tay cười lớn. U Vương cũng thích chí, ôm Bao Tự vào lòng nói:
- Ôi, tiếng cười của ái khanh chẳng những làm vui lòng trẫm mà con làm tươi thắm thêm cho vũ trụ Ấy là nhờ công lao của Quách Thạch Phủ vậỵ
Rồi U vương sai lấy một ngàn nén vàng thưởng cho Quách Thạch Phủ.
U Vương ngày càng đắm say Bao Tự, làm nhiều điều bạo ngược. Thân hầu (cha của Thân Hậu bị U Vương phế) họp quân với rợ Tây Nhung kéo binh về Kiều Kinh vấn tội U Vương. U Vương cả sợ bèn vấn kế Quách Thạc Phủ. Thạch Phủ lại tâu:
- Bệ hạ kíp cho người đến phong hoả đài nổi lửa gọi chưa hầụ Quân chư hầu ngoài đánh vào, ta ở trong đánh ra thì lo gì không dẹp được bọn rợ Tây Nhung.
U Vương y lời, cho người đến Ly Sơn đốt phong hoả đài và đánh trống lớn. Lửa cháy ngất trời, tiếng trống rền vang muốn vỡ núi sập non thế mà chẳng có quân của một nước chư hầu nào kéo đến cứu viện.
qcluu
01-09-2004, 04:58 PM
"NƯỚC VỎ LỰU, MÁU MÀO GÀ
Mượn màu chiêu tập lại là còn nguyên"
(Câu 837, 838. Tính toán của Mã Giám Sinh)
Sách Bắc Chí Lý nói rằng, gái thanh lâu sau khi tiếp khách, dùng vỏ trái lựu lấy nước rồi pha với máu mào gà để rửa thì xem như vẫn "còn nguyên".
Sách tình sử chép điển tích "Nước vỏ lựu, máu mào gà" như sau:
Trương Trú Trú là con gái của một gia đình không mấy khá ở Nam Khúc. Tuy nhiên, cô bé rất thông minh và linh lợị
Gần xóm, có cậu Bàng Phật Nô cũng thuộc vào loại thông minh đĩnh ngộ, đã kết bạn với Trú Trú từ tấm bé. Phật Nô được đi học nhưng Trú Trú thì không. HỌc được những gì ở nhà trường, về nhà Phật Nô đều chỉ lại cho Trú Trú cả. Theo thời gian, hai đứa trẻ cùng lớn và tình cảm của chúng càng sâu đậm nên chúng ngầm hẹn ước chuyện lứa đôi với nhau .
Lúc Trú Trú đến tuổi cài trâm thì bị gia đình kềm giữ chặt chẽ lắm khiến nàng và Phật Nô không mấy khi được gặp nhaụ Phần Phật Nô, gia cảnh quẩn bách quá nên không làm sao có tiền để cước Trú Trú.
Về phía Nam làng có chàng Lý Tiểu Phượng, con cái nhà khá giả, gia đình ở lẫn trong xóm lầu xanh. Chàng Lý muốn chiếm lấy nhan sắc của Trú Trú nên đem đến đặt cho gia đình nàng một ít của và hẹn đế ngày mồng năm tháng ba năm ấy sẽ tính chuyện
Bấy giờ anh chàng Bàng Phật Nô đang ở viết thuê con cho nhà PHú hộ họ Từ. Chàng nghe tin ấy thì lấy làm chin nghi mười ngờ. Một buổi chiều chàng đến nhà Trú Trú xô vào cửa sổ để xem bên trong động tĩnh ra saọ Cũng may cho chàng là lúc ấy có Trú Trú ở nơi đó, nên nàng nói vọng ra:
- Chàng Từ Châu (1), hã để ý ngày nhật trung (2) nhé.
Phật Nô nghe thế mừng lắm, biết rằng Trú Trú vẫn còn nặng lòng với mình. Trú Trú lại thấp giọng nói tiếp ra:
- Ngày tết Hàn thực (3) tới, cả nhà em đều đi hội, riêng em ở nhà. Chàng hãy đến, chúng ta tính chuyện đưỢc đấỵ
Đến ngày Hàn thực, quả nhiên cả nhà họ TrưƠng đi dự hội cả . Trú Trú bèn khoá chặt cổng rồi đứng đợi Phật Nô bên tươn`g đông. Khi Phật Nô đến Trú Trú thả thang cho anh ta trèo vàọ Phật Nô đến có đem rượu thịt, chàng và nàng vào nhà bày tiệc ăn uống, xong lại cùng nhau ân ái thoả tình. Lúc hai người sắp chia tay Trú Trú nói:
- Anh chẳng có tiền cưới em đến nay đã muộn một nước rồị Nay nếu em bỏ nhà trốn theo anh thì quả là bất tiện cho cả hai tạ Ôi, lời thề trăm năm của đôi ta kể như bất thành rồi; nhưng còn ngày mồng năm tới đây em phải thu xếp thế nào để khỏi rắc rối với Lý Tiểu Phượng ?
Phật Nô biết Trú Trú có ý muốn nói đến sự trinh trắng của nàng không còn nữa vì mới vừa giao hoan với chàng xong. Phật Nô ấm ứ trong miệng những lời tạ lỗi với Trú Trú. Trương Trú Trú lại nói:
- Em vốn biết rõ gã Tiểu Phượng cũng chẳng cưới em đâu mà chỉ muốn thoả cái tính trăng hoa của nó thôị Bởi vậy nay em dâng hiếng cho anh là em không phụ anh. Vậy xin anh trù tính cách nào cho em không bị lộ là em yên lòng.
Bàng Phật Nô gật đầu nói:
- Em cứ yên tâm, để anh lọ
Đến ngày mồng năm, Bàng Phật Nô gởi đến cho Trú Trú một cái mào gà trống tiá, mấy cái vỏ trái thừu lựu, tất cả còn tươi cả để Trú Trú dùng làm "đồ chiêu tập" cho cô tạ
Đêm hôm ấy Ly Tiểu Phượng đến với Trú Trú. Anh chàng này thấy Trú Trú vẫn còn nguyên trinh thì hí hửng biện thêm ba quan tiền nữa để có cớ đi lại luôn. Rồi sau đó Lý Tiểu Phượng có ý muốn mua hẳn Trú Trú nhưng nàng không thuận. Mặc dù Lý Tiểu Phượng là kẻ giàu sang trọng nhưng Trương Trú Trú vẫn không màng, nàng quyết chung tình với Bàng Phật Nô là một anh viêt thuê nghèo hèn. Cha mẹ nàng dỗ dành không được có khi phải nặng lời thì Trương Trú Trú chỉ tay xuống giếng nói rằng:
- Nếu bức bách tôi quá, thì tôi sẽ nhảy xuống cái giếng này là xong.
Không hiểu tại làm sao mà chuyện Trương Trú Trú dùng "nước vỏ lựu, máu mào gà" đánh lừa Lý Tiểu Phượng lại lọt ra ngoài khiến cho người ta bàn tán với nhau, cười cợt không ngớt.
Bấy giờ trong làng lại có một chuyện nữa không kém oái oăm. Nàng Vương Doãn Nhi vốn đã được cha nuôi là Tiểu Phúc bán cho Trịnh Cữu nhưng nàng ta lại tư thông với Thịnh Lục và sinh con. Trinh Cữu không hề biết, cứ tưởng con mình nên cưng lắm.
Người làng đem hai câu chuyện trên gộp lại mà đặt thành vè rằng:
Ông Trương uống rượu, Lý ngã nghiêng
Thịnh Lục đúc con, Trịnh đón liền
Gà trống mất đi một tí "đức"
Để cho Tiểu Phượng toi ba "thiên"
Tiểu Phượng thường đêm hôm đi lại nhà Trú Trú, nghe loáng thoáng bài vè nên lấy làm nghi nghi hoặc hoặc. Khi gần Trú Trú, để dò la hư thực, Lý Tiểu Phượng nhắc lại bài vè và kể chuyện xảy ra trong xóm rằng:
- Hôm trước con gà trống của Bàng Phật Nô không chịu chọi mà bay lên nóc nhà nên bị gãy một chân. Ông bố của Phật Nô lại nghi Tiểu Phúc đập gà gãy chân, nên khi ông gặp Tiểu Phúc ngoài đầu đưỜng thì xảy ra ấu đả.
Trú Trú vốn là một cô gái lanh lợi, nghe hết câu chuyện liền vỗ tay cười nói:
- Vậy thì hai câu vè ấy phải như thế này mới đúng:
"Gà trống mất đi một tí túc
Để cho Tiểu Phúc nếm ba quyền"
Tiểu Phượng nghe xuôi tay nên không thắc mắc gì nữạ
Nhưng rồi một đêm kia, khi ở nhà Trú Trú ra, Tiểu Phượng lại nghe có tiếng hát vè ngoài đường:
"Chớ nghĩ Bàng là giun, dế thường
Bàng đâu phải hạng kém can trường
Phượng con cứ việc xù lông cánh
Liệu đó, gân gà sẽ trói phăng"
Lý Tiểu Phượng nghe bài hát ấy, từ đó không dám bén mảng đến nhà Trú Trú nữạ Còn Bàng Phật Nô tuy viết thuê trong phủ họ Từ nhưng được chủ thương, dần dần chủ giúp cho có chút ít vốn liếng nên chàng cũng đủ tiền sắm sính lễ cưới Trú Trú làm vợ
===
(1) Chàng Từ Châu: Vì Bàng Phật Nô viết thuê trong phủ họ Từ nên Trương Trú Trú gọi chàng là Từ Châụ
(2) Nhật trung: Ngày mồng năm tháng 3.
(3) Tết Hàn thực: ngày mồng 3 tháng 3 hàng năm, ăn nguội, không đốt lửa để tưởng nhớ Giới Tử Thôi (bề tôi của Tấn Văn Công Trùng Nhĩ) chịu tuẫn tiết trong rừng.
qcluu
01-12-2004, 07:27 PM
"Giữa thì hương lửa hẳn hoi
Trên treo một tượng TRẮNG ĐÔI LÔNG MÀY"
(Câu 929, 930. Cảnh ở thanh lâu)
Đưa nàng vào lại gia đường
Cũng THẦN MÀY TRẮNG, cũng phường lầu xanh"
(Câu 2147, 2148. Bạc Hạnh bán Kiều vào thanh lâu)
THẦN MÀY TRẮNG tức BẠCH MI THẦN là vị thần phù hộ cho các gái làng chơi mà các thanh lâu ngày xưa hay thờ.
Theo truyền thuyết Trung Quốc, thì thần Bạch Mi tức là Quản Trọng tức Quản Di Ngô, Tướng quốc của Tề Hoàn Công thời Chiến quốc. Từ thời xa xưa ấy, Quản Trọng đã chủ trương xây cất hành viện chứa gái làng chơi cho các khách thương mua vui, nhà nước lấy thuế. Đó là một trong kế sách làm cho dân giàu nước mạnh của Quản Tro.ng. Truyện kể rằng:
Tề Hoàn Công hỏi Quản Trọng:
- Nước Tề ta vốn là một nước lớn từng được chư hầu kính nể. Đến đời Tương Công chính lện bất thường nên xảy ra tai biến. Nay quả nhân vừa mới lên ngôi, lòng dân chưa định, thế nước chưa yên, muốn cho nước mạnh dân an thì phải làm gì trước ?
Quản Trọng đáp:
- Lễ, nghĩa, liêm, sĩ là bốn điều cốt yếu để trị nước. Thiếu một trong bốn điều ấy thì tai biến xảy rạ Cả bốn đều ấy không có thì nước mất.
- Nếu đã có đủ bốn điều ấy thì làm cách nào trị dân ?
- Muốn trị dân trước hết phải yêu dân.
- Muốn yêu dân thì làm cách nào ?
- Lấy đạo thân ái chăm sóc đời sống hàng ngày của dân. Bớt xâu giảm thuế làm cho dân giàụ Hễ dân giàu tức nhiên nước ma.nh.
Tề Hoàn Công lại hỏi:
- Dân giàu rồi nhưng trong nước còn thiếu binh khí, quân cụ thì làm sao ?
Quản Trọng đáp:
- Muốn đủ binh khí, quân cụ thì binh pháp trong nước phải định lệ cho chuộc tội . Tội nặng cho chuộc bằng cái giáp, tội nhẹ cho chuộc bằng một cái qui thuẫn, tội nhỏ cho nạp kim khí, tội còn nghi thì tha hẳn. Kẻ nào tụng lý tương đối thì bắt nạp một bó tên, rồi giải hoà. Làm thế ắt quân dụng không thiếụ
- Đã làm như thế mà vẫn không đủ dùng thì làm sao ?
Quản Trọng dẫn giải tiếp:
- Khai mỏ đúc tiền, nấu nước bể làm muối, trữ hàng hoá lấy lãi, cất ba trăm nhà nữ lưu cho các khách buôn bán tới lui tụ họp giải trí và ta thu thuế. Như vậy công quỹ tất phải đủ dùng.
Tề Hoàn Công đã nghe theo lời Quản Tro.ng. Thế là các nhà chứa gái làng chơi đã có ở nước Tề từ thời ấỵ Và về sau, Quản Trọng được tôn là thần Bạch Mi.
qcluu
01-16-2004, 09:50 AM
"Cửa hàng buôn bán cho may
Đêm đêm HÀN THỰC, ngày ngày NGUYÊN TIÊU"
(Câu 941, 942. Lời khấn vái của Tú Bà)
HÀN THỰC: ngày mồng ba tháng ba là ngày mọi người ăn nguội, không đốt lửa để tưởng nhớ đến Giới Tử Thôị
Chuyện ăn nguội liên hệ đến Giới Tử Thôi như sau:
Thời Chiến quốc, Công tử Trùng Nhì bị cha là Tấn Hiến Công và mẹ ghẻ là Ly Cơ mưu hại, phải trốn lánh lưu vong ra nước ngoàị
Trong những năm lưu vong đây đó, Trùng Nhĩ và bọn tôi thần theo hầu phải trải qua nhiều gian lao khổ sở; có khi phải đi ăn xin. Một lần ở nước Vệ, cả bọn đều đói lả cơ hồ không còn lê bước được nữạ Dước bóng mát của một cây to bên đưỜng, Trùng Nhĩ nằm gối đầu lên đùi Hồ Mao nghỉ, chờ bọn tôi thần đi kiếm rau củ về đỡ dạ . Bỗng Giới Tử Thôi đem đến dâng cho một tô thịt nóng. Trùng Nhĩ ăn ngon lành và ăn xong cảm thấy khoẻ ngaỵ Ông ho>i Giới Tử Thôi:
- Nhà ngươi tìm đâu ra thịt ngon như thết ?
Giới Tử Thôi thưa:
- Tôi thường nghe raZ(`ng đứa con hiếu phải biết bỏ thân vì cha mẹ, người tôi trung phải biết bỏ thân để thờ vuạ Nay công tử đói không có gì ăn, tôi cắt thịt đùi mình nấu cho Công tử ăn.
Trùng Nhĩ ứa nước mắ nói:
- Ôi, ân này biết đến bao giờ ta báo đáp được.
Sau mười chín năm lưu vong đây đó, Trùng Nhĩ trở về Tấn phục quốc được và lên ngôi, hiệu là Tấn Văn Công. Tấn Văn Công ban thươ/ng cho tất cả những người đã từng gian khổ theo mình. Riêng Giới Tử Thôi, khi Tấn Văn Công lên ngôi chỉ đến chúc mừng một lần rồi về nhà cho nên Tấn Văn Công cũng quên, không ban thưởng.
Giới Tử Thôi về nhà, ngày ngày làm nghề vá thuê giày dép nuôi mẹ Có người láng giềng là Giả Trương thấy vậy, đến nói với Giới Tử Thôi rằng:
- Ngài cũng có công theo hầu Chúa công trong suốt mười chín năm trời, nay Chúc công đã phục nghiệp lẽ nào Chúa công không chịu hưởng chút công lao ?
Mẹ Giới Tử Thôi nghe thế cũng nói:
- Nhà mình nghèo khó, trước kia con đã cắt thịt đùi nuôi Chúc công trong lúc đói sao bây giờ không nói ra ?
Giới Tử Thôi đáp:
- Tấn Hiến Công xưa có chín người con, chỉ có Chúa công là hiền hơn cả . Nay Chúa công phục nghiệp được là do mệnh trời . Những kẻ theo hầu không biết, tự nhận là công lao của mình để xin ban thưởng. Con tự cho điều đó là xấu hổ lắm.
Người mẹ nghe thế, vội cười tươi nói:
- Con đã là người liêm sỉ, vậy mẹ đây há không biết làm mẹ của một người liêm sỉ sao ? Vậy thì mẹ con ta nên tìm chốn rừng núi vắng vẻ mà ẩn thân, chơ nên sống nơi thị thành nàỵ
Giới Tử Thôi mừng rỡ nói:
- Con vẫn thích đất Miên Thượng là nơi có núi cao, hang sâu, vậy mẹ con ta nên đén đó cư ngụ
Sau đó Giới Tử Thôi bỏ nhà cửa, cõng mẹ vào vùng rừng núi Miên Thượng ẩn cự Láng giềng không biết Giới Tử Thôi đi đâu, chỉ riêng Giải Trương biết mà thôị Nghĩ đến tình cảnh của mẹ con Giới Tử Thôi, Giải Trương không cầm lòng được. Đêm, ông ta viết giấy đem treo trước của thành. Sáng ra, quân canh trông thấy đem vào trình Tấn Văn Công. Mảnh giấy viết: "có một con rồng khi thất thế được một đàn rắn theo hộ tống chu du thiên hạ Một lần rồng đói, có một con rắn xẻo thì.t đùi nuôị Nay rồng mây gặp hội, đàn rắn hưởng cảnh sung sướng, chỉ riêng một con rắn kia chẳng ai hỏi đến". Tấn Văn Công xem xong giật mình, nói:
- Chắc là Giới Tử Thôi trách ta đây thôị Xưa lúc qua nước Vệ, Giới Tử Thôi đã cắt thịt đùi nấu cho ta ăn, thế mà nay ta ban thưởng cho công thần lại quên mất Giới Tử Thôị Thật ta có lỗi lớn vô cùng.
Nhà vua liền sai người đến triệu Giới Tử Thôi, nhưng học Giới đã bỏ nhà đi mất rôị Nhà vua truyền rằng: "Hể ai biết Giới Tử Thôi đi đâu và chỉ ra, thì sẽ được phong làm quan". Giả Trương ra mắt Tấn Văn Công, tâu:
- Mảnh giấy mà Chúa công được xem là do tôi viết chớ không phải cuả Giới Tử Thôị Giới Tử Thôi không muốn cầu thưởng nên đã cõng mẹ vào vùng rừng núi Miên Thượng rồị Tôi viết mảnh giấy ấy là cốt nhăc' nhở Chúa công nhớ đến công lao của ngườị
Tấn Văn Công có vẻ buồn, nói:
- Nếu không có bức thư của nhà ngươi thì ta đã thành kẻ bội nghĩa rồị
Đoạn, nhà vua phong Giải Trương làm Hạ Đại phu, rồi khiến Giả Trương dẫn mình và quân sĩ đến vùng Miên Thượng để tìm Giới Tử Thôị Đến nơi, chỉ thấy núi cao rừng rậm, tìm hoài chẳng thấy Giới Tử Thôi đâụ Tấn Văn Công lại truyền rằng: "Ai thấy Giới Tử Thôi trốn nơi nào, chỉ ra thì được thưởng". Một nông phu tâu:
- Mấy hôm trước tôi có thấy một người đàn ông cõng một bà cụ già đến đây, ngồi nghỉ nơi chân núị Sau đó thì không biết họ đi về đâụ
Tấn Văn Công truyền đỗ xe ở chân núi va ra lệnh cho quân lính đi lục tìm. Mấy ngày trôi qua, quân lính vẫn không tìm được bóng dáng Giới Tử Thôi ở đâụ Tấn Văn Công nói với tả hữu rằng:
- Ta nghe nói Giới Tử Thôi là một người con chí hiếu, nay cõng mẹ vào rừng lại giận ta không chịu ra yết kiến. Vậy ta phóng hoả đốt rừng, thế nào Giới Tử Thôi cũng cõng mẹ chạy rạ
NÓi xong, nhà vua ra lệnh phóng hoả đốt rừng. Gió to lửa mạnh nên lan rất nhanh. Toàn thể khu rừng cháy suốt ba ngày mới tắt, thế mà không ai trông thấy Giới Tử Thôi cõng mẹ chạy rạ Quân lính lại được lệnh đi lục tìm nữạ Họ tìm thấy xác của hai mẹ con Giới Tử Thôi bên một gốc liễu vào báo lại cho nhà vuạ
Tấn Văn Công cho chôn cất mẹ con Giới Tử Thôi tử tế, lấy ruộng chung quanh núi đặt làm "tế điền" cho họ Giớị Nhà vua ra lệnh đốt rừng vào ngày mùng ba tháng ba, nên ra lệnh cho dân chúng hàng năm vào ngày ấy tháng ấy phải ăn đồ nguội, không được đốt lửa nấu nướng gì cả; để tưởng niệm Giới Tử Thôị Cho nên ngày mùng ba tháng ba hàng năm gọi là ngày "hàn thực".
NGUYÊN TIÊU: đêm rằm tháng giêng. Theo phong tục của người Trung Hoa, đêm rằm tháng giêng dân chúng đi lễ chùa, hội hè vui lắm.
Lễ hội này bắt đầu từ thời nhà Hán để thực hiện chính sách "Quân dân cộng lạc" (vua và dân cùng vui) sau khi Hán Văn Đế bịnh định được "chư lữ chi loạn" và lên ngôị
Việc bình loạn hoàn tất vào ngày Rằm tháng Giêng âm lịch nên nhà vua quyết định hàng năm cứ tới đêm Rằng tháng Giêng là tổ chức đi du ngoạn bên ngoài để cùng dân chúng vui chơi đêm trăng sáng. TIÊU có nghĩ là đêm (cũng như Dạ), còng NGUYÊN là vì tháng đầu năm. Hán Văn Đế hạ chiếu cho nhân dân lấy ngày Rằm tháng Giêng là ngày Tết Tiêu để kỷ niệm "ngày khai sáng đất nước thanh bình".
Vào đêm Rằm tháng Giêng ấy, thành nội cung điện được trang hoàng rực rỡ. Tư vua, các quan văn võ cho đến dân chúng đe6`u vui vẻ ăn uống, ca múa suốt đêm dưới ánh trăng sáng.
Đến đời nhà Tống thì có thêm bữa ăn Rằm Nguyên Tiêụ Trong quyển "Bình Viên", ông Châu Tất Đại viết: "Ngày Nguyên Tiêu phải nấu món bánh trôi viên (1) mà người tiền bối chưa từng làm, để trả nợ ông bà". Sách "Võ lâm cựu sự" của Châu Mật cũng viết: "Tháng Giêng mừng đầu xuân cầu phúc an dân thái bình, ai cai cũng phải làm một loại bánh bằng bột nếp với nhân bằng các thứ trái cây, các thứ đậu: trộn đường vo thành viên bỏ vào nước sôi luộc chín, sau đó nấu nước đường thả bánh vàọ Chiếc bánh vừa nổi vừa chìm nên gọi là "phù nguyên tử"; về sau còn gọi là 'bánh Nguyên tiêu". Lễ Nguyên Tiêu ăn "phù nguyên tử" lấy đó làm điều tốt cho gia đình và cũng biểu thị ý nguyện của mọi người dân một năm mới khang lạc thuận hoà ...".
Lý Diệu Nguyen, một nhà thơ đời Thanh đã viết:
"Tết Nguyên Tiêuy xem thuyền rồng rực rỡ
Ngựa quý, xe hương lộng lẫy khắp miền
Mưa gió đêm xuân, người tan hết,
Còn ngọn đèn leo lét, bánh canh viên"
Đối với dân tộc Trung Hoa, ngày lễ Nguyên Tiêu truyền thống ấy vẫn còn duy trì cho đến ngày nay; dù cư ngụ trong nước hay ở hải ngoạị Ban ngày của lễ Nguyên Tiêu dân chúng thường đi chùa hái lộc, cầu phước với hy vọng điều may mắn, tốt lành cho cả một năm
===
(1) Ở việt Nam ta gọi là "bánh trôi nước"
qcluu
01-18-2004, 08:40 PM
Xót người TỰA CỬA hôm mai
QUẠT NỒNG ẤP LẠNH những ai đó giờ
SÂN LAI cách mấy nắng mưa
Có khi GỐC TỬ đã vừa người ôm.
(Câu 1043 đến 1046. Kiều ở lầu Ngưng Bích)
TỰA CỬA: đứng tựa cửa trong ngóng, chờ đợi người đi chưa về.
QUẠT NỒNG ẤP LẠNH: quạt màn chiếu cho bớt nóng nực vào những đêm hè; ấp ủ cho chăn gối bớt giá lạnh vào những đêm đông.
SÂN LAI: cái sân mà ông Lão Lai múa may làm vui cho cha mẹ
GỐC TỬ: gốc cây Tử phần là chỗ quê hương, nhà cửa cũ mà mình từng ở . Ở đây gốc tử được chỉ người chạ
1. TỰA CỬA là tích mẹ Vương Tôn Giả chờ con. Vương Tôn Giả, người thời Chiến quốc, mồ côi cha sớm chỉ còn có mẹ già. Giả làm quan dưới triều vua Tề Mân Vương. Gặp lúc chinh chiến, Tề Mân Vương thua trận chạy đến nước Vệ thì Vương Tôn Giả lạc mất vua nên ông chạy về nhà.
Bà mẹ Vương Tôn Giả thấy con về bèn hỏi:
- Sao con không theo phò chúa công mà lại về đây ?
Vương Tôn Giả đáp:
- Thất trận, vua tôi cùng chạy đến nước Vệ thì con lạc mất vua rồị
Bà mẹ nghe nói thế, nổi giận mắng:
- Mày sớm đi chiều về thì ta tựa cửa mà trông, mày chiều đi mà tối không về thì ta cũng tựa cửa mà ngóng. Vua trông bề tôi có khác nào mẹ trông con. Mày làm tôi, mà vua đi đâu mất mày không biết, lại bỏ về nhà ư ?
Vương Tôn Giả nghe mẹ mắng cả thẹn nên quay bước ra khỏi nhà để đi tìm vua ngaỵ Khi biết tin Tề Mân Công đã bị giết chết, Vương Tôn Giả hô hào, tụ họp dân chúng lại tìm giết kẻ thù để báo thù cho Tề Mân Công.
2. Tích QUẠT NỒnG ẤP LẠNH là chuyện "Hoàng Hương phiến chẩm ôm khâm" (Hoàng Hương quạt gối ấp chăn) trong sách "Nhị thập tứ hiếu" (Hai mươi bốn gương hiếu thảo) của học giả Quách Cự Nghiệp đời nhà Nguyên.
Đời Hậu Hán, có đứa trẻ chín tuổi tên là Hoàng Hương, tự Văn Cương, sớm mồ côi mẹ . Tuy còn nhỏ tuổi nhưng Hoàng Hương đã có tình yêu thương mẹ rất tha thiết, đêm ngày tưởng nhớ từ thân không vơi nước mắt. Người trong lân lý thấy thế, thảy đều thương cảm và không hết lời khen Hoàng Hưo8Ng là đứa con chí hiếụ
Mẹ mất rồi, Hoàng Hương thờ cha cũng rất tận tình hiếu đễ. Vào muà hạ thời tiết về đêm nóng nực oi ả, Hoàng Hương thường xuyên quạt màn chiếu, chăn đệm cho bớt nóng bức trước khi cha đi ngủ. Còn về mùa đông tiết trời lạnh lẽo, đêm đêm trước khi cha đi ngủ, Hoàng Hương vào gường nằm lăn lộn qua lại rất lâu, đe6? cho mền chiếu được ấm hơi người hầu cha già được ngon giấc.
Lòng hiếu thảo của Hoàng Hương thấu đến tai Thái Thú Lưu Hộ, nên ngài kông tiếc lời khen và đem Hoàng Hương ra làm gương cho thiên hạ
Nhà thơ Lý Văn Phúc (1) của nước ta có làm thơ vịnh rằng:
"Tự gia nhựt noãn, tự gia phong
Bất hứa nhân gian hữ hạ, đông
Quận thú đương niên tinh biểu hiển
Gia tằng cửu tuế ta chân dung"
(Máy xây nóng, lạnh tự trong lòng
Chẳng để đời người có hạ, đông
Thưở ấy quan từng nên biểu rõ
Đem người chín tuổi vẽ hình dong)
3. Tích SÂN LAI là chuyện "Lão Lai Tử hý thái ngu thân" (Lão Lai Tử mặc áo màu giỡn đùa làm vui cha mẹ) cũng trong sách Nhị Thập Tứ Hiếu:
- Lão Lai Tử người nước Sở thời Đông Châu Liệt Quốc, là một bậc cao sĩ trong đời; bảy mươi tuổi vẫn còn mặc áo ngũ sắc sặc sỡ giả làm trẻ nhỏ, múa may đùa giỡn gần cha mẹ để làm vui cho hai thân. Lại những khi bưng nước hầu cha mẹ, làm bột vấp bực thềm té lăn ra đất rồi nhại tiếng con nít khóc ré lên cho cha mẹ cườị
Nhà thơ Lý Văn Phúc cũng có vịnh Lão Lai Tử như sau:
"Chân vị cao đường đề một tuyết
Cố tương ban thái vũ xuân phong
Bạch đầu đáo để tâm nhưng xích
Nhứt cá hai nhi khước thị ông"
(Vì e bóng tuyết loà gương thọ
Vậy mượn chiều xuân múa áo là
Đầu đã bạc rồi, lòng vẫn đỏ
Ai hay trẻ nít ấy ông già)
======
(1) Lý Văn PHúc (1785 - 1849); tự Lân Chi, người làng HỒi Khẩu, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Hà Đông. Ông đậu cử nhân năm Gia Long thứ mười tám (1819), làm quan đến Tham Tri; nhưng sau đó không lâu bị cách chức.
Đến năm Minh Mệnh thứ mười một (1830) ông được phục chức cũ. Từ năm 1834 đến năm 1841, Lý Văn Phúc được triều đình cử đi sứ sang Tân Gia Ba và Lữ Tống.
Tác phẩm của Lý Văn Phúc gồm có một tập Sử trình bằng quốc âm, Nhị thập tứ hiếu và Phụ châm tiện lãm bằng Hán văn.
qcluu
01-21-2004, 09:12 AM
Ngậm ngùi rũ bức RÈM CHÂU
CÁCH TƯỜNG, NGHE CÓ TIẾNG ĐÂU HỌA VẦN
(Câu 1057, 1058. Kiều ở lầu Ngưng Bích)
RÈM CHÂU: do chữ Châu Liêm, là tấm rèm được kết bằng hạt châụ
Thời Đông Châu liệt quốc, năm thứ 26 đời Châu Kính Vương vua Ngô là PHù Sai xua quân theo đường thủy qua Thái hồ đánh nước Việt . Quân Việt thua trận ở Cối Kệ Vợ chồng Việt vương Câu Tiễn và tôi thần Phạm Lãi bị vua Ngô cầm tù ở nhà thạch thất bên Hạo Lư suốt ba năm mới tha cho về.
Để rửa nhục, Việt vương chủ trương làm cho nước Ngô suy yếu để phục thù. Việt vương chọn gỗ quý dân cho Ngô vương xây Cô Tô đài và tuyển gái đẹp trong nước đem cống cho vua Ngộ Hai gia nhân được tuyển chọn là Tây Thi và Trịnh Đán.
Ngô Vương Phù Sai được hai giai nhân tuyệt sắc thì yêu quý lắm, nhất là Tây Thị Nhà vua cùng Tây Thi ngày đêm ở Cô Tô đài vui thú trăng hoạ Ngô vương lại sai Vương Tôn Hùng lập ra quá Khuê Cung ở Linh Nhạn sơn để làm nơi du ngoạn cho Tây Thị Ở đó, những tấm rèm che nắng được kết toàn bằng hạt châu nên gọi là rèm châụ
Câu "Cách tường, nghe có tiếng đâu họa vần" lấy điển ở tuồng Tây Sương Ký : "Cách tường nhi thu họa đáo thiên minh" (Hai người ngồi cách bức tường và xướng họa với nhau từ tối đến sáng).
Thật ra thì trong đoạn tuồng này, Trương Quân Thụy và Thôi Oanh Oanh không xướng họa với nhau suốt đêm. Hai người chỉ xướng họa vài đoạn thơ rồi Thôi Oanh Oanh vào nhà. Đọan tuồng này là hồi thứ 3 của phần thứ nhất: Trương Quân Thụy tương tư Thôi Oanh Oanh, đêm lò dò ra hướng vách tường của Mái Tâỵ Bên này tường, Thôi Oanh Oanh và con hầu là Hồng nương cũng ra sân thắp hương. Đoạn tuồng ấy như sau:
Quân Thụy (nói một mình): Thưa cô, có điều chi bận nghĩ mà cô đứng tựa bao lơn thở dài như thế ?
Khói trầm toả khắp sân không,
Đêm khuya vắng cả gió đông lay mành.
Lạy xong, đứng tựa một mình,
Thở dài mấy tiếng trăm tình đầy vơị
Trăng tròn như mảnh gương soi,
Khắp trời sương nhạt, suốt trời mây quang.
Hơi người đổ lộn khói hương,
Cả hai cùng thấy mơ màng, say sưạ
Cứ như ý tôi nghĩ thì cô em thở dài như thết, trong lòng có cảm điều gì ? Ma thưa cô, có lẽ cô cũng là Văn Quân thưở trước đó chăng ? Tôi đây tuy không là Tư Mã Tương Như, cũng thử ngâm chơi một bài, xem cô em nói ra thế nào đã:
Vằng vặc đêm trong nguyệt
Âm thầm cánh dưới hoạ
Cớ sao kề bóng dáng.
Chăng thấy mặt Hằng Nga ?
Oanh Oanh: Có ai ngâm thơ ở góc tường ?
Hồng Nương: Nghe rõ tiếng cái anh chàng ngốc hai mươi ba tuổi tịnh chưa có vợ lần nào.
Oanh Oanh:Lời thơ mới thanh lịch làm saọ Hồng ơi, theo vần ta hoạ một bài chơị
Hồng Nương: Vâng, cô thử hoạ một bài, đọc con nghe.
Oanh Oanh:
Vắng vẻ nơi buồng gấm
Sầu xuân thẹn với hoạ
Xót tình ai bạo tực,
Họa có khách ngâm nga.
Quân Thụy (mừng rỡ): Họa đáp lại mới mau làm saọ
Mặt đà đúc sẵn khuôn xinh.
Tim còn vùi sẵn thông minh hơn ngườị
Thơ ta họa lại như chơi,
Mà văn bay bướm, mà lời thiết thạ
Khen tài dệt liễu, thêu hoa,
Tên mình thực đáng gọi là Oanh Oanh.
Phải chăng tình lại gặp tình
Thơ ta cũng đã được mình khen haỵ
Thì cách tường, mình đấy ta đây,
Cùng nhau xướng họa đến sáng ngày mà chơị
Ta thử trèo tường sang, xem cô em làm ra làm sao ?
Vén áo là ta thử sang chơi,
Biết rằng mình có tươi cười đón nhaụ
Hồng ơi, xin em chớ cơ cầu,
Báo sao cũng cứ gầ.t đầu cho tôị
Ôi thôi xong, cửa đóng mất rồị
Hồng Nương: Thưa cô, ta vào trong nhà, kẻo sợ bà quở.
(Cùng Oanh Oanh đóng cửa mạnh, vào).
qcluu
01-22-2004, 12:11 PM
"Thuyền quyên ví biết anh hùng
Ra tay THÁO CỦI, SỔ LỒNG như chơi"
(câu 1071, 1072. Sở Khanh đánh tiếng với Kiều)
THÁO CỦI, SỔ LÒNG là giải thoát cho người bị giam cầm hay bị ràng buộc, gò bó.
Sách Tình Sử chép chuyện "Tháo củi, sổ lồng" như sau:
Thôi Sinh là một võ quan trong đội cấm vệ quân của vua Đường Đại Tông. Cha chàng cũng là một vị quan có tiếng trong triều và kết thân với một vị nhất phẩm nhân thần.
Một ngày nọ, cha Thôi Sinh sai chàng đến thăm vị nhất phẩm nhân thần kia đang bị ốm. Thôi Sinh là một chàng trai mặt đẹp không kém Phan An, Tống Ngọc nên vị quan nhất phẩm kia tỏ ra yêu mến chàng lắm. Lúc Thôi Sinh vào, chàng trông thấy trước giường người bệnh có ba cô gái tuyệt sắc mà chàng biết là người hầu quan lớn, đang dầm trái đào trong âu vàng lấy nước cho người bệnh uống.
Quan lớn sai cô mặc áo hồng bưng một âu đào đến mời Thôị Thôi htẹn đỏ mặt, không nhận Thấy Thôi không dám nhận, quan lớn bảo cô áo hồng lấy muỗng múc đào đưa lên tận miệng Thôị Chàng đành phải ăn. Cô gái nhìn chàng mỉm cườị
Khi Thôi từ giã người bệnh ra về, cô gái áo hồng đưa chàng ra tận cổng. Nàng đưa ba ngón tay lên, lật bàn tay ba lượt rồi chỉ vào tấm gương tròn đang đeo trên ngực, nói với Thôi Sinh:
- Chàng nhớ nhé.
Thôi Sinh về nhà, lòng cứ nghĩ đến cô gái áo hồng luôn. Suốt ngày ngơ ngơ ngẩn ngẩn như kẻ thần hồn nát thần tính, không thiết gì đến ăn uống. Rồi chàng làm một bài thơ tứ tuyệt để trút tâm sự:
"Trót lạc Bồng lai một buổi nào
Vòng châu tiên nữ ánh rung sao
Cánh song đã khép sâu cung quế
Nỡ để lòng ai nặng mối sầu"
Người trong nhà thấy Thôi Sinh như thế, không hiểu ra làm sao cả . Nhưng hỏi, chàng lại không nóị Riêng lão nô bộc thân tính của chàng tên Ma Lặc thì được chàng thố lộ tâm sư . Ma Lặc nghe xong , cười nói:
- Chuyện nhỏ như thế có đáng gì mà cậu phải khổ tâm. Đây này, cô ta ra hiệu như thế có nghĩ là : cô ta ở nhà thứ ba trong số mười nhà của các nàng hầu quan lớn. Còn lật bàn tay ba lượt có nghĩa là mười lăm, vì mỗi bàn tay có năm ngón; và cái gương tròn trước ngực tượng trưng cho mặt trăng. Tóm lại, cô ta hẹn với cậu vào đêm rằm ấỵ
Thôi Sinh mừng rỡ hỏi:
- Vậy lão có cách nào đưa ta đến đó không ?
Ma Lặc nói:
- ĐÊm mai là rằm rồị Cậu hãy cho may ngay hai cái áo ch~n màu xanh thẳm cho cậu và tôị Đêm mai tôi đưa cậu đi .
Đêm sau, Ma Lặc nói với Thôi Sinh:
- Khu nhà của các hầu thiếp quan lớn nhất phẩm được canh gác nghiêm ngặt lắm, lại có một con chó giống Tao Châu khoẻ và dữ như hổ . Người lạ ló mặt vào là nó cắn chết ngaỵ Ngoài tôi ra, chẳng còn ai trị được nó đậ Bây giờ tôi phải đi thanh toán nó trước đã.
Nói xong, Ma Lặc xách quả chuỳ ra đi liền. Một lát sau ông ta trơ/ về bảo với Thôi Sinh.
- Lão đã đập chết con chó rồị
ĐẾn canh ba, lão Ma Lặc cùng Thôi Sinh thay áo chẽn màu xanh rồi đi đến dinh quan nhứt phẩm. Đến nơi, Ma Lặc cặp Thôi Sinh nhảy qua mười vòng tường, đột nhập vào khu nhà các hầu thiếp của quan lớn. Lúc bấy giờ lính tráng canh gác đều ngủ cả . Bốn bề im vắng bẳn bặt . Hai người đến căn nhà thứ ba, Thôi Sinh thấy cửa còn hé mở nên đâ/y nhẹ bước vào . Cô gái áo hồng đang ngồi trên giường, nhận ra Thôi sinh bèn bước xuống cầm tay chàng nói:
- Hôm trước, nhìn vẻ mặt khôi ngô tuấn tu/ của chàng, em biết chắc thế nào chàng cũng đoán ra nên mới làm hiệụ Chàng có tài xuất quỷ nhật thần gì mà vào được đến đây vậy ?
Thôi Sinh cứ tình thực nói là mình nhờ người lão bộc trung thàn h giúp sức. Và ông ta hiện đang đứng ở ngoài . Cô gái áo hồng bảo Thôi mời Ma Lặc vào rồi lấy rượu khoản đãi ông tạ Đoàng nàng nói với Thôi :
- Gia đình em ở tận trên miền Bắc. Quan lớn nhất phẩm đây cậy thế bắt em về làm hầu thiếp . Chàng có người thân tín tài ba như lão trượng đây, xin ra tay tháo củi sổ lồng giúp em. Ước nguyện được thành, em dù chết cũng không hối hận .
Thôi Sinh còng đang phân vân thì Ma Lặc đã lên tiếng:
- Nếu chi cô đã quyết thế thì có khó gì .
Cô gái áo hồng tỏ ý mừng. Ma Lặc giục cô ta thu xếp quần áo, của cải vào hòm rương . ma Lặc vác liền một lúc ba cái rương đưa ra ngoài Rồi ông ta trở vào cắp cảThôi Sinh và cô gái áo hồng vượt ra khỏi mười vòng tường chẳng hề gây nên một tiếng động .
Về nhà, Thôi Sinh giấu cô gái áo hồng trong phòng học của mình . ĐẾn sáng hôm sau thì ở dinh quan lớn nhất phẩm mới hay ra cô gái áo hồng đã bị mất tích trong đêm . Quan lớn nhất phẩm cả kinh, cứ nghĩ rằng việc ấy phải do một tay võ nghệ siêu quần bạt chúng mới thực hiện được .
Cô gái áo hồng ở trong nhà Thôi Sinh suốt hai năm . Môt. sáng mùa xuân nhân mùa hoa nở rộ khắp nơi, nàng ngồi xe ra chơi đất Khúc Giang để thưởng hoa, bị người nhà quan lớn nhất phảm trông thấỵ Quan lớn, nhất phâ/m được báo tin, liền cho mời Thôi Sinh đến cật vấn. Thôi sợ, khai tất cả. Quan lớn vốn đã yêu mên Thôi Sinh từ lâu nên nói :
- Thôi được , mọi chuyện ta đều cho qua hết, kể cả con bé áo hồng ấy ta cũng tặng cho công tử . Nhưng ta phải vì sự an nguy của thiên hạ mà ra tay trừng trị tên Ma Lặc ấy mới được .
Liền sau đó, quan lớn nhất phẩm sai năm mươi giáp sĩ mang gươm giáo đến vây nhà Thôi Sinh để bắt Ma Lặc . Ma Lặc tay cầm đoản kiếm, phi thân qua tường cao thoát thân . Bọn giáp sĩ bắn tên theo như mưa vẫn không trúng . Chỉ trong khoảnh khắc, bóng dáng Ma Lặc đã mất hút.
Hơn mười năm sau, người nhà Thôi Sinh còng trông thấy Ma Lặc bán thuốc cao đơn hoàn tán ở chợ Lạc Dương, hình dong vần không thay đổi chút nào .
qcluu
01-28-2004, 12:11 PM
TƯỜNG ĐÔNG LAY ĐỘNG BÓNG CÀNH
Rẽ song, đã thấy Sở Khanh lẻn vào
(Câu 1093, 1094. Sở Khanh đến với Kiều)
Câu "Tường Đông lay động bóng cành". Nguyễn Du dịch câu "Cách tường hoa ảnh động" (Cách tường bên kia có bóng hoa lung lay) trong vở tuồng "Tây Sương Ký". Đoạn này mô tả cảnh Trương Quân Thụy nhận được thơ của Thôi Oanh Oanh và đêm tối chàng lần sang phòng nàng.
Nội dung đoạn ấy có thể tóm tắt như sau:
- Chiều hôm ấy, Hồng nương lại đến, cầm tờ hoa tiên đưa cho chàng mà rằng: "Của cô Thôi sai đưa sang đây". Đầu đề là:
Trăng sáng đêm rằm
Thơ rằng:
"Cửa hé theo luồng gió
Trăng chờ người Mái Tây
Chạm tường, hoa động bóng
Người ngọc đến đâu đâỵ"
Trương hơi hiểu ý thợ Đêm ấy là đêm mười bốn tháng hai Tường phía Đông nhà họ Thôi có một gốc hoa hạnh có thể vịn để trèo sang được
Sang đêm rằm, Trương Quân Thụy trèo cây ấy qua tường, lần đến Mái Tây, thấy cửa đã hé mở và Hồng nương đang na9`m ở giường. Chàng liền đánh thức Hồng nương dậỵ Hồng nương giật mình nói:
- Sao cậu lại đến đây ?
Trương nói dối Hồng nương:
- Cô Thôi iết giấy mời tôi đấỵ Chị vào nói với cô giúp.
Hồng nương quay vào, một lát quay ra và nói:
- Ra đây rồị Ra đây rồị
Trương vừa mừng vừa sợ, nhưng nghiệm rằng việc tất xong.
Thôi Oanh Oanh xuất hiện, ăn mặc chỉnh tề, lớn tiếng mắng Trương rằng:
- Anh cứu sống nhà tôi, ơn ấy to lắm; cho nên mẹ tôi mới đem trai thơ gái dại mà ủy thác cho anh. Cớ sao anh lại nhờ đứa con hầu không ra gì đưa thơ nhảm nhỉ Ban đầu thì lấy việc cứu người khỏi nạn làm tốt, rốt lại nhân việc người ta khỏi nạn mà đòi sự nọ sự kia . Lấy loạn thay loạn thì anh có hơn bọn giặc là mấy . Đã toan dấp những thơ từ ấy đi , thì là dung túng mưu gian, không phải nghĩa . Thưa thực với mẹ, phụ bạc ơn trước, trời nào chứng chọ Gởi lời nhờ con hầu nói hộ, lại sợ không hết được chân thành; cho nên phải mượn mảnh tờ tìm đường bày tỏ . Nhưng còn lo anh sinh lòng khó dễ, cho nên dùng lời lẳng lơ để mong anh thế nào cũng sang. Việc làm trái lẽ, sao khỏi thẹn lòng. Chỉ xin anh lấy lễ giữ mình, chớ dúng mình vào chuyện bậỵ
Nói xong, Thôi Oanh Oanh nguây nguẩy đi vàọ Trương ngẩn người một lúc rồi vượt tường trở về. Từ đó tuyệt vọng ...
qcluu
01-30-2004, 11:12 PM
"Dám nhờ cốt nhục tử sinh
Còn nhiều KẾT CỎ, NGẬM VÀNH về sau"
(Câu 1099, 1100. Kiều nói với Sở Khanh)
KẾT CỎ, NGẬM VÀNH do chữ "Kết thảo làm hoàn" để chỉ sự báo đền ơn nghĩạ
Thời Chiến quốc, Tấn Cảnh Công Sai Tuần Lâm Phủ làm đại tướng. Ngụy KHoả làm phó tướng đem quân đánh nước Lỗ.
Tướng nhà Tấn đánh được Lỗ, bắt vuạ Đại tướng Tuần Lâm rút quân, Phó tướng Ngụy Khoả ở lại giữ thành trì nước Lỗ.
Tần Hoàn Công hay tinh Tấn đánh Lỗ, lấy làm lo lắm, liền sai Đại tướng Đỗ Hồi đem binh cứu Lỗ. Đỗ Hồi người Bạch Định vùng Thanh Mi sơn, là một tướng quân có sức mạnh hơn người; thường dùng cây "khai sơn đại phú" (búa lớn) nặng một trăm hai mươi cản làm vũ khí.
Đỗ Hồ kéo quân đến nước Lỗ. Ngụy Khoả không địch lại phải đóng cửa thành cố thủ chờ viện binh. Tấn Cảnh Công tiếp được th* cầu viện của Nguỵ Khoả, bèn sai Nguỵ Ý là em ruột Ngụy Khoả đang trấn giữ nơi biên đầu, đem quân cứu trợ . Ngụy Ý đến hợp binh cùng Ngụy Khoả nhưng cũng không lui được quân của Đỗ Hồị Hai anh em lại đóng cửa thành cố thủ .
Đêm hôm ấy, trong giất ngủ thiếp, Ngụy KHoả trông thấy một ông lão đầu râu tóc bạc đến nói rằng : " Thanh thảo pha, Thanh thảo pha". Ngụy Khoả giật mình thức giấc, không thấy ông lão đâu nhưng bên tai còn văng vẳng ba tiếng Thanh thảo pha" . Ngụy Khoả bèn đem giấc mơ ấy nói cho Ngụy Ý nghẹ Ngụy Ý mừng rỡ bảo :
- Ở đất Phu Thi cách đây năm mươi dặm có một chỗ tên là Thanh thảo phạ Có lẽ thần linh mách bảo cho anh em chúng ta đánh ta quân Tần ở nơi ấy .
Hai anh em tương kế tựu kết để ngày mai xuất binh.
Hôm sau, Ngụy Ý đem quân phục kích ở vùng Thanh thảo phạ
Ngụy Khoả kéo quân ra khỏi thành khiêu chiến và dụ dỗ Đỗ Hồi đến chỗ có phục binh. Mặc dù lọt vào ổ phục binh của Ngụy Ý và bị quân Ngụy KHoả vây vòng ngoài, nhưng Đỗ Hồi vẫn tả xông hữu đột rất dũng mãnh. Bỗng nhiên cả ngưỜi lẫn ngựa bị té nhào xuống đất . Quân lính của Ngụy KHoả và Ngụy Ý áp lại bắt trói Đỗ Hồi . Sau đó Ngụy KHoả truyền chém đầu Đỗ Hồi trừ hậu hoạn .
Đêm hôm sau, trong lúc đang mơ màng thì Ngụy Khoả lại thấy ông lão hôm trước hiện ra, nói:
- Lão chúc mừng tướng quân thắng trận .
Ngụy KHoả bình tĩnh hỏi:
- Có phải lão trượng đã giúp cho anh em mạt tướng bắt được Đỗ Hồi ở Thanh thảo pha chăng ?
Ông lão gật đầu, đáp:
- Phảị Chính lão đã kết những cọng cỏ dài lại để quấn vào chân ngựa của Đỗ Hồi cho cả ngựa và người tướng giặc bị té.
Ngụy KHoả chấp tay bái tạ ông lão và hỏi :
- Lâu nay mạt tướng chưa hề được hân hạnh biết lão trượng sao lão trượng có lòng giúp mạt tướng như thế ?
Ông lão thong thả nói:
- Lão đây là cha của Tố Cơ, cảm ơn tướng quân ngày trước đã không chôn sống con gái lão mà đem gả cho người tử tế . Dù ở suối vàng , lão vẫn không bao giờ quên ơn ấy .
Nói xong, ông lão biết mất .
Ngụy KHoả bồi hồi nhớ lại chuyện cũ đã qua từ lâu . Cha chàng là Ngụy Thù, một tướng giỏi của nhà Tấn, có nàng tiểu thiếp trẻ đẹp tên là Tố Cơ và lấy làm yêu lắm . Bình thời khi còn cầm quân đánh dẹp đó đây, Ngụy Thù thường dặn Ngụy KHoả rằng :
- Nếu chẳng may cha có da ngựa bọc thây nơi chiến trường, thì con nên tìm nơi tử tế mà gả nàng Tố Cơ cho nàng được nương nhờ tấm thân bồ liễụ Có như thế thì vong hồn cha mới được ngậm cười nơi chín suốị Về sau, Ngụy Thù không chết trận mà chết già ở nhà. Lúc sắp lâm chung, ông bảo với Ngụy Khoả rằng :
- Ta sắp chết. Ta chỉ có nàng Tố Cơ là người ta yêu qúy nhất. Vậy hi ta chết con hãy chôn sống nàng theo tạ
Ngụy Thù chết nhưng Ngụy Khoả không theo lời dặn của cha , nghĩ là không chôn nàng Tố Cơ . Ngụy Ý hỏi :
- Sao anh không chôn Tố Cơ theo di mệnh của phụ thân ?
Ngụy KHoả đáp :
- Thưở sinh tiền và còn mạnh khoẻ cầm binh tranh hơn thua với các nước, phụ thân có dặn rằng nếu rủi ro có mệnh hệ nào thì ta nên tìm nơi tử tế mà gả Tố Cơ . Đó là lời "chân mệnh" của phụ thân . Còn vừa rồi phụ thân lâm trận bệnh, tâm thần không sáng suốt và lại mê sảng thì lời trăn trối không phải là lời "chân mệnh" mà là "loạn mệnh" . Bổn phận làm con , chúng ta phải xét đâu là "chân mệnh", đâu là "loạn mệnh" mà thi hành .
Ba năm sau khi đã mãn tang Ngụy Thù, Ngụy KHoả bèn gả Tố Cơ cho một danh sĩ . Và cuộc đời nàng được an nhàn, hạnh phúc.
Vì chịu ơn trọng ấy nên linh hồn cha Tố Cơ mới kết cỏ ở Thanh thảo pha khiến tướng giặc bị té để đền ơn đáp nghĩ Ngụy Khoả .
NGẬM VÀNH do hai điển tích sau :
1. Thời Thượng cổ, vua Thái Mậu nhà Thương một hôm được ngoài biên ải tiến cống một con chim Hoàng tước rất đẹp .
Nhà vua vốn rất thích chim Hoàng tước nên cho chim ở lồng son, giao hẳn một vị hoạn quan đặc trách chăm sóc . Hàng ngày, mỗi khi tan chầu, nhà vua đích thân cho chim ăn .
Chim Hoàng tước bị nhốt vào lòng son, lẽ đôi bạn nên càng ngày càng biếng ăn, biếng hót . Nhà vua ra lệnh đem lồng chim treo ngoài vườn Ngự Uyển với hy vọng chim sẽ tươi tắn trở lại trong cảnh hoa cỏ, trời mây . Từ khi con Hoàng tước của nhà vua được treo ngoài vườn Ngự Uyển thì hàng ngày có một con Hoàng tước mái từ đâu bay đến, đậu trên cành cao gần lồng chim cất tiếng kêu thảm thiết . Con Hoàng tước trống trong lòng son lại càn ủ rũ hơn nữa .
Nhà vua trông thấy chim trống ủ rũ, bèn hạ lệnh cho viên hoạn quan thả chim đi . Hoạn quan tâu :
- Muôn tâu bệ hạ , Hoàng tước là một giống chim quý, xin bệ hạ đừng thả .
Nhà vua phán :
- Ta rất quý chim nhưng cũng xót xa vô cùng khi thấy chim ủ rũ. Ta nuôi chim là để làm vui, nay lòng không vui thì còn nuôi mà làm gì .
Được xổ lòng, chim Hoàng tước trống cất mình lên cành cao đậu bên con chim mái, cả hai cất tiếng hót líu lo ra chiều vui sướng lắm . Rồi chúng bay lượn chung quanh nhà vua mấy lượt trước khi rời khỏi hoàng cung .
Nhà vua nhìn theo đôi chim Hoàng tước và nói :
- Ta mất chim quý, nhưng chim lại được cái quý lớn lao là trở lại với bầu trời xanh bao la và đôi chim trống mái ấy sẽ không bao giờ còn đau khổ nữa .
Ít lâu sau, khi vua Thái Mậu đang xem hoa trong vườn Ngự uyển thì có con Hoàng tước trống bay đến đáp xuống trước mặt nhà vua, miệng nó ngậm một chiếc vòng ngọc . Nó xoè cánh múa may trước mặt nhà vua rồi dâng cho ngài chiếc vòng ngọc và bay đi ...
===================
2. Dương Bảo, một cậu bé tám tuổi người Tứ Xuyên thời Hậu Hán, một hôm đang ngồi chơi bên gốc cây thì nghe có tiếng chim kêu thảm thiết gần đấy .
Dương Bảo tìm kiếm chung quanh thì phát hiện ra một con chim sẻ lông vàng ánh, bị thương gãy cánh không sao bay được . Dương Bảo nhặt chim lên, đem về nhà cột thuốc vào cánh gãy và nuôi chim tử tế .
Một thời gian sau, cánh chim lành lặn và lông cánh cũng đã mọc dài ra . Dương Bảo trông thấy chim có thể bay được nên cậu thả chim trở về với cảnh trời rộng bao la . Lạ thay, ngay sau khi Dương Bảo thả chim thì có một chàng trai xuất hiện, vẻ mặt rất khôi ngô, tuấn tú . Chàng trai lạ ấy mình mặc áo lụa vàng mướt như lông chim, chân đi hài cỏ và có tướng mạo rất thanh quý . Trên tay chàng trai lạ có cầm bốn chiếc vòng ngọc . Chàng trai tiến đến trước mặt Dương Bảo nói :
- Tôi chịu ơn cứu tử và ơn nuôi dưỡng của cậu từ lâu, nay xin dâng cậu bốn vật quý này để đền ơn .
Dương Bảo lấy làm lạ, hỏi :
- Anh chính là con chim vàng đấy ư ?
Chàng trai không trả lời nhưng lại nói tiếp :
- Bốn chiếc vòng ngọc này về sau sẽ giúp cho con cháu cậu bốn đời làm đến Tam Công, giữ được phẩm giá trong sạch, tiếng tăm lừng lẫy trong thiên hạ .
Dương Bảo nhận lấy bốn chiếc vòng ngọc, chưa kịp nói lời cảm tạ thì chàng trai áo vàng đã biến mất .
Quả nhiên về sau, con cháu Dương Bảo bốn đời làm đến chức Tam Công, quyền uy và tiếng thơm vang khắp trong thiên hạ .
qcluu
01-31-2004, 05:51 AM
Này con thuộc lấy làm lòng
VÀNH NGOÀI BẢY CHỮ, VÀNH TRONG TÁM NGHỀ"
(Câu 1209, 1210. Tú Bà dạy Kiều nghề chơi)
Đây là những mánh khoé của gái làng chơi cư xử với khách, bề ngoài cũng như trong lúc hành lạc.
Theo truyện Kim vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) thì "bảy chữ" là:
1. Khấp: tức là khóc giả bộ thương yêu, quyến luyến khách không muốn rời .
2. Tiện: cắt của mình một ít tóc và của khách một ít, trộn chung lại rồi chia hai; mỗi người buộc vào cánh tay để tỏ ý muốn kết tóc se tơ .
3. Thích: dùng mực xạ xâm tên người khách vào bắp tay hoặc bắp đùi mình để khách trông thấy cho là mình chung tình .
4. Thiêu: đốt hương giả bộ thề nguyền rồi chích vào tay mình và tay khách để tỏ dạ chung tình . Có sáu vị trí để thiêu :
a) Bụng kề bụng gọi là "chính nguyện đồng tâm"
b) Đầu chụm đầu gọi la "chính nguyện kết tóc"
c) Tay tả mình khít với tay tả khách gọi là "hứa nguyện liên tình bên tả"
d) Tay hữu mình liền với tay hữu khách gọi là "hứa nguyện liên tình bên hữu"
e) Đùi tả mình khít với đùi hữu khách gọi là "hứa nguyện giao đùi bên tả"
f) Đùi hữu mình khít với đùi tả khách gọi là "hứa nguyện giao đùi bên hữu"
5. Giá: hứa lấy khách làm chồng, giả đò thề hẹn, bàn cách lấy nhau .
6. Tẩu: rủ khách cùng đi trốn . Khi khách chơi đã hết tiền nhưng còn quyến luyến mình không nỡ rời, phải giả cách rủ khách cùng đi trốn; đó là một cách "tống cổ" khách êm thắm .
7. Tử: đòi chết để tỏ ra chung tình với khách .
Bảy chữ trên đây chỉ là mánh khoé cư xử bên ngoài, còn "tám nghề" là cách hành lạc như sau:
- Đối với người có ... bé, ngắn thì dùng phép "đánh trống giục hoa"
- Đối với người có ... to, dài thì dùng phép "sen vàng khóa xiết"
- Đối với người tính nhanh thì dùng phép "mở cờ đánh trống"
- Đối với người tính khoan thì dùng phép "đánh chậm gõ sẽ"
- Đối với người mới "vỡ lòng" thì dùng phép "ba bậc đổi thế"
- Đối với người không dai sức thì dùng phép "đỡ dần buộc chặt"
- Đối với người dai sức thì dùng phép "gắn bó truy hồn"
- Đối với người mê sắc thì dùng phép "dềnh dàng cướp vía"
danden
04-01-2004, 06:21 PM
Bàn về chữ dâm trong truyện Kiều và luân lý của người Việt
Tuệ Chương
Phê bình tổng quát nhứt có lẽ là linh mục Sảng Đình Nguyễ-n Văn Thích. Ông dẫn chứng ngay trong câu mở đầu của truyện Kiều, và cho rằng đó là truyện phong tình (Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh) thì không nên cho học trò học (1). Đi sâu hơn thì có nhiều ý kiến trái ngược nhau. Kẻ thì cho truyện Kiều là dâm thư, kẻ thì cho truyện Kiều là hay, có đủ triết lý Nho, Phật, Lão thâm sâu mà Kiều là người hiếu nghĩa đủ đường, (Người sao hiếu nghĩa đủ đường -Kiều), vậy phải nên dạy cho học trò học. Về phần văn chương bình dân, ta thấy có câu:Đàn ông chớ kể Phan Trần,Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều. (2)Điều rõ ràng nhứt thì Kiều là người đa tình, ít ai nói nàng Kiều là người đa dâm. Trong Bài Tựa Truyện Kiều Chu Mạnh Trinh (3) viết: Ta cũng nòi tình, thương người đồng điệu, mượn chùm phương thảo, hú vía thuyền quyên (4). Nòi tình Chu Mạnh Trinh nói ở đây là nòi đa tình vậy.Nói Kiều đa dâm thì nhiều người không đồng ý, nhưng nói Kiều đa tình thì khó ai phủ nhận. Bàn về vấn đề nầy, trong Truyện Thúy Kiều, Trần Trọng Kim viết: Nàng có nặng về đường tình ái thật, nhưng cái tình ấy mà trong sạch thì có điều gì là dở. Những việc Kiều làm khi yêu Kim Trọng như hẹn hò vườn Thúy, cắt tóc thề bồi hay Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình, đối với xã hội cũ việc làm ấy của Kiều thì quá quắt lắm nhưng so với ngày nay thì cũng thường tình. Phê bình việc nầy, Dương Quảng Hàm trong cuốn Việt Nam Văn Học Sử Yếu cho rằng: Theo lễ- tục xưa, con gái phải đợi mệnh của cha mẹ đặt đâu ngồi đấy, để quyền cho cha mẹ kén chọn gã bán. Thế mà Thúy Kiều tự ý sang nhà Kim Trọng trước khi nói với cha mẹ, đó là một điều các cụ cho là trái với l-ễ tục cổ... ...... .... việc làm của Thúy Kiều kể cũng không đáng trách, vì tuy nàng có thề thốt với Kim Trọng nhưng vẫn giữ được sự trong sạch và vẫn đinh ninh dành quyền quyết định cho cha mẹ:Thói nhà băng tuyết chất hằng phỉ phongDù khi lá thắm chỉ hồngNên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha(Câu 332-334)Dù đa tình nhưng trong khi yêu đương thì Kiều rất đứng đắn. Chẳng hạn như khi Kim Trọng tỏ vẻ sàm xở thì Kiều sửa lưng ngay:Ra tuồng trên Bộc trong dâuThì con người ấy ai cầu làm chi.Việc trai gái hẹn hò nhau bên bờ sông Bộc là việc dâm bôn, Kiều cũng biết ngăn ngừa giảng giải cho Kim Trọng rõ, Kiều biết gìn giữ cho bản thân thì ai gọi Kiều là người hư.Ngày xưa cũng như ngày nay, người xưa thì nói chung chung, người nay thì phân tích theo tâm lý học. Xưa, Nguyễn Công Trứ thì cho rằng Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm,Đố đem chữ hiếu mà lầm được ai,Ngày nay, có người quả quyết rằng Kiều mượn cớ bán mình chuộc cha để theo Mã Giám Sinh cho thỏa cái tính dâm của nàng. Thật sự đó là một nhận xét không những phiến diện mà còn hồ đồ. Ngoại trừ việc yêu Kim Trọng mà qua mặt cha mẹ thề non hẹn biển, từ đó về sau, chẳng có thể trách cứ việc làm nào của Kiều được. Ngay như việc khuyên Từ Hải ra hàng, Kiều tự chê mình Giết chồng mà lại lấy chồng (Kiều) nhưng thật ra vì lòng thương cha nhớ mẹ nên Kiều xui Từ Hải ra hàng, theo ông Doãn Quốc Sĩ (5), người ta nên thông cảm cho Kiều làm việc nông nỗi ấy. Dương Quảng Hàm cho đó là hành động vì lòng nhân.Trách cứ Kiều, có lẽ bài thơ sau đây phê phán một cách đau đớn nhứt:Tiếng sấm ân tình bốn mặt ranTướng quân chi tiếc cánh hoa tànĐôi làn nước mắt đôi làn sóngNửa đám ma chồng, nửa tiệc quanTổng đốc ví thương người bạc mệnhTiền Đường chưa chắc mã hồng nhanTrơ trơ nắm đất bờ sông nọHồn có nghe chăng mấy giọng đàn.Hồ Tôn Hiến mở tiệc khao quân, bắt Kiều đàn cho Hồ nghe. Kiều đau đớn lắm. Dù tiếng đàn của Kiều như tiếng khóc:Ve ngâm vượn hót nào tàyKhiến cho Hồ cũng nhăn mày rơi châuthì cũng khó biện minh cho Kiều hành động ôm cầm nầy. Việc chê trách ấy không phải là cổ hủ đâu. Ngày nay, dù có văn minh đến thế nào đi nữa, một người đàn bà có chồng, nhân khi chồng đi vắng (trường hợp Kiều thì chồng mới chết, cỏ chưa xanh mồ) mà ôm đàn liên hoan với một người đàn ông khác, kẻ thù của chồng, cũng như người kỹ nữ già đàn ca với Bạch Cư Dị, (6) một đêm thu trên bến Tầm Dương cũng khó có ai chấp thuận được. Người xưa thề bồi Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai thì ngày nay, há không giữ lòng chung thủy, giữ cho nhau chút nghĩa tình chồng vợ hay sao? Tuy nhiên, việc làm nầy của Kiều không phải là dâm. Dâm là chuyện ăn nằm trai gái. Suốt trong cả truyện Kiều chẳng tìm ra được câu nào nói rằng Kiều ưa chuyện ăn nằm với đàn ông cả. Điều nầy rất dễ hiểu vì khi viết truyện Kiều, chủ ý của Nguyễn Du không phải là viết truyện khiêu dâm để câu độc giả, hoặc viết có tính dâm theo thời thượng như các nhà văn ngày nay. Chủ yếu Nguyễn Du khi viết truyện Kiều là muốn dựa vào câu chuyện của Thanh Tâm Tài Nhân để gởi gắm tâm sự đớn đau của mình. Bàn về điểm nầy, cũng trong cuốn sách nói trên, Trần Trọng Kim viết: Bạch diện với hồng nhan đã chịu chung một số kiếp, thì quyển truyện Kiều có phải là chỉ để than người bạc mệnh mà thôi, hay là để cho tác giả nhân đó mà tự than mình nữa? Tưởng tiên sinh cũng nghĩ:Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chungCho nên than người bạc mệnh, tức là than thân mình. Vậy lấy Kiều mà xét tâm sự Tố Như tiên sinh thì tưởng không lầm được.Không lý Nguyễn Du là người có tư tưởng tam giáo sâu xa, một người có lòng nhân hậu, biết đau xót trước cảnh đời đổi thay ly loạn, vật đổi sao dời mà lại đi ca ngợi một kẻ tà dâm. Nàng Kiều dù là người phải chịu cảnh thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần thì cũng chỉ vì thân phận của người đàn bà trong cảnh giặc giã chứ đâu phải nàng Kiều muốn như vậy. Kiều không phải là người tà dâm và chắc chắn Nguyền Du không muốn vẽ nên một nàng Kiều tà dâm để gởi tâm sự vào mình vào nhân vật ấy. Nguyễn Công Trứ dù có viết Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm thì như đã nói, chỉ là một sự phán xét hồ đồ.Vả lại, dâm hay không dâm, điều ấy là sai chăng? Người xưa cũng cho rằng dâm là không có gì sai quấy:Ai dám nói chữ dâm là chữ bậyNếu không dâm sao nảy ra hiền.Dâm là việc tạo hóa thường tình. Loài vật đã vậy mà loài người cũng vậy. Dâm là ưa sự khoái lạc giữa hai người khác phái mà mục đích của tạo hóa là để lưu truyền giống nòi. Nếu không có cái dâm đó thì thiên nhiên vũ trụ ngày nay chắc đã tiêu ma tất cả rồi. Ngay như nàng Kiều, lấy chồng, ăn ngủ với chồng thì đó là lẽ tự nhiên của tạo hóa. Dù trong lòng có đau đớn như thế nào đi nữa, Kiều tin là Mã Giám Sinh mua Kiều về làm vợ thì Kiều chịu thất thân với Mã là làm cái công việc, cái bổn phận của người vợ đối với chồng, đâu có gì là sai. Vậy mà Nguyễn Bách Khoa, rồi sau nầy có nhiều nhà văn Cộng sản hùa theo, cũng như Hoàng Phủ Ngọc Tường khi dạy ở Quốc Học và vài giáo sư Việt Văn ở Huế trước 1975 muốn chứng tỏ ta đây là người tiến bộ, đứng trên quan điểm duy vật biện chứng cho rằng Kiều vì là con nhà giàu có, ăn không ngồi rồi lại đọc sách truyện nhảm nhí sinh ra có tánh dâm mà chịu (hay ưa) bán mình cho Mã Giám Sinh thì đó là một nhận xét hết sức sai lạc, dù có ngụy trang bằng thuyết tính dục của Freud hay bất cứ thuyết nào. Nhận xét của những người nầy đúng ra chỉ là nhận xét của Tú Bà Gái tơ mà đã ngứa nghề sớm sao? Tú Bà sai Mã Giám Sinh đi mua gái về để Giả danh hầu hạ, dạy nghề ăn chơi. Chính Mã là tay gạt tình, cũng như Sở Khanh sau nầy vậy. Kẻ trước người sau cùng một lũ lưu manh như nhau. Còn khi Kiều lấy Thúc Sinh, làm vợ Từ Hải thì Kiều nhận đó là vai trò người vợ. Việc ăn chơi trong thanh lâu là việc Kiều không những bị ép mà còn bị Sở Khanh lường gạt, bị Tú Bà đánh đập buộc Kiều phải làm. Kiều đã từng tự vẫn vì điều nhục nhã nầy. Thậm chí, sau 15 năm lưu lạc, Kiều sum họp với gia đình, mặc dù mối tình của chàng Kim đối với Kiều vẫn còn mặn nồng, mặc dù Thúy Vân muốn nhượng chồng lại cho chị, thì Kiều vẫn gìn giữ Chữ trinh còn một chút nầy. Nói chung, Kiều là... ... thục nữ chí caoPhải người tối mận sớm đào như aiDương Quảng Hàm cũng không nhứt trí cho rằng Kiều là người tà dâm. Ông viết: Xem thế thì biết Thúy Kiều là một người giàu về tình ái nhưng không phải là con người đam mê tình dục, thực đúng như lời vãi Giác Duyên đã phán đoán trong câu 2682:Mắc điều tình ái, khỏi điều tà dâm Phương chi khi Thúy Kiều, sau mười lăm năm lưu lạc, lại gặp tình nhân, nàng tự cho thân mình ô uế, không còn xứng đáng với người yêu xưa, nên dù Kim Trọng nài ép cũng nhứt định xin đổi tình vợ chồng thành tình bè bạn để giữ lấy tấm lòng trong sạch, lấy chữ trinh trong tâm hồn thay cho chữ trinh về thân thể đã mất. Xem thế thì biết Thúy Kiều là một người đàn bà có tính tình cao thượng. (VNVHSY trang 383)Bàn về chữ dâm trong Kiều, Trần Trọng Kim viết: Cứ như thiển kiến của chúng tôi, thì nàng Kiều không phải là người tà dâm; xem như khi tái hồi với Kim Trọng mà khăng khăng giữ một niềm không chịu đem cánh hoa tàn mà đãi người tình chung thì thật là nàng biết trọng sự trinh tiết lắm.Then chốt vấn đề là Chính Dâm hay Tà Dâm.Như tôi đưa ra những ví dụ như trên, việc vợ chồng ăn nằm với nhau là chuyện thường tình, là một phần tự nhiên trong cuộc sống lứa đôi. Việc đó, trước hết là để sinh con đẻ cái, như hầu hết mọi người khi lấy nhau ai cũng muốn có con, -ngoại trừ những trường hợp đặc biệt- thì hành động ân ái với nhau đó gọi là chính dâm. Việc nầy phù hợp với lẽ tạo hóa, đạo vợ chồng, không có gì sai trái cả. Trong luật pháp cũng vậy, nếu người chồng muốn ân ái mà người vợ không muốn thì kết tội chồng về việc khác chứ không thể kết tội hiếp dâm được.Ngoại trừ trường hợp nầy, tất cả những trường hợp khác thì dù ít dù nhiều cũng bị đánh giá là bậy, là tà dâm. Về khoản nầy, người ta dùng nhiều chữ lắm: dâm tặc, dâm bôn, dâm đãng, dâm dục, tà dâm, hiếp dâm, bạo dâm, khẩu dâm, ý dâm, v.v... tất cả đều là sai cả, dù luật pháp không bỏ tù thì cũng bị người đời chê cười, dư luận lên án.Truyện Kiều trong chương trình giáo dụcTrước 1945, từ khi có chương trình trung học Pháp Việt, (dành cho Trung kỳ và Bắc kỳ- Nam Kỳ thuộc địa học chương trình Pháp) thì truyện Kiều được đưa vào giáo khoa ở năm thứ nhì ban Trung học Việt Nam (theo Dương Quảng Hàm -Sách nói trên). Việc dạy truyện Kiều ở cấp trung học kéo dài cho tới khi miền Nam sụp đổ (1975).Khi dạy truyện Kiều, có ba vấn đề then chốt thầy giáo cần giảng giải cho học sinh: Một là Triết lý (Tam giáo), Hai là Luân lý (Trung hiếu tiết nghĩa, v.v... ) và Ba là Văn chương truyện Kiều.Từ khi có chủ nghĩa Cộng sản truyền bá vào nước ta thì bỗng có nhiều tác giả đứng trên lập trường Duy vật biện chứng mà phê phán. Đứng đầu là Trương Tửu (Đệ Tứ Cộng Sản, sau theo Việt Minh). Ông nầy lấy bút hiệu khác nữa là Nguyễn Bách Khoa (NBK) viết hai cuốn sách: Thứ nhất là cuốn Nguyễn Du và Truyện Kiều, cuốn thứ hai là Văn Chương Truyện Kiều. Luận điệu duy vật của NBK bị giáo sư Tử Vi Lang đã kích phê bình trên Văn Nghệ Tiền Phong (những số đầu tiên -1956, rất tiếc là không thấy in lại thành sách. Sau khi Cộng sản cai trị miền Bắc (1954) và toàn cõi Việt Nam (1975), truyện Kiều không còn được dạy ở trung học mà đưa lên đại học. Ngoài lập trường duy vật biện chứng, họ còn đứng trên lập trường đấu tranh giai cấp để phê phán truyện Kiều và Nguyễn Du. Gia đình Viên ngoại gia tư nghỉ cũng thường thường bậc trung, sống bằng sự bóc lột giai cấp lao động, tức không phải là bần nông hay cố nông, không phải là giai cấp cơ bản của chủ nghĩa Cộng sản. Dĩ nhiên, Cộng sản không đánh giá gia đình Viên ngoại là tốt. Con trai như Vương Quan có học hành, thi đậu và ra làm quan, tức là thuộc từng lớp phong kiến quan liêu. Con gái như hai chị em Kiều thì êm đềm trướng rủ màn che, tức là không lao động, lại còn biết đánh đàn, do ảnh hưởng sách vở phong kiến ủy mị, bóc lột hưởng thụ nên mới soạn ra Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân, có nghĩa là Kiều cũng thuộc loại nghệ sĩ nhạc vàng là một thứ âm nhạc Cộng sản cấm ngặt. Do đó, về mặt tâm lý xã hội, truyện Kiều chỉ là một thứ để nghiên cứu, phê phán con người, xã hội, chẳng có giá trị gì để học tập cả.Vậy thì về mặt luân lý của Kiều có cái gì hay?Người ta khen Kiều là khen ở luân lý mà luân lý đó là gì?Nếu cho rằng Kiều là kẻ tà dâm thì nàng Kiều không có luân lý. Về vấn đề nầy, Trần Trọng Kim nhận định: Có nhiều người chê là truyện (Kiều) tà dâm, nhảm nhí. Những người ấy, một là hạng tính nông nổi, không chịu mất công mà suy nghĩ cho ra lẽ phải trái, một hạng là kẻ giả đạo đức, chỉ ưa luân lý ở cửa miệng. Hạng nầy có lẽ nhiều lắm mà lại hay chê bai hơn cả... ... .... nàng Kiều trước sau biết nặng về lời nước non, biết lấy hiếu làm trinh, biết nhân, biết nghĩa thì tại sao lại cho là không có luân lý được?Trong truyện Kiều, Nguyễn Du mượn lời Tam Hợp Đạo Cô để khen Kiều: Người sao hiếu nghĩa đủ đường. Dương Quảng Hàm trong sách đã dẫn ở trên nhận định rằng... nàng bán mình chuộc tội cho cha, hy sinh chữ tình để theo trọn chữ hiếu... Thúy Kiều treo cho ta cái gương một người biết trọng phẩm giá (Đến điều sống nhục sao bằng thác trong), biết giữ thủy chung (trung).... Việc Kiều khuyên Từ Hải ra hàng để cứu nhân dân, là một việc nhân.Nhìn chung, theo các nhận định trên thì Kiều là người có Hiếu, Trung, Nhân, Nghĩa.Cộng sản phủ nhận tất cả những điểm nầy!Chỉ ngay trên quan điểm duy vật biện chứng thôi, Cộng sản cho rằng Kiều là người Ăn xổi ở thì (Phải điều ăn xổi ở thì -Kiều), ăn không ngồi rồi, sống sung sướng, hưởng thụ trên sự bóc lột người khác thì sinh ra cái tính dâm. Do đó, việc Kiều bán mình chuộc cha, tuyệt tình với Kim Trọng bắt nguồn sâu xa từ trong cái tính dâm đó. Hiếu hay trung chỉ là cái cớ để Kiều che đậy tính dâm của nàng, cội rễ là từ tính dâm đó cả. Đó là kết quả tất nhiên của những người ngồi mát ăn bát vàng, những người thuộc gia cấp thống trị, sống bằng sự bóc lột nhân dân lao động.Hơn thế nữa, từ khi Trung Cộng cai trị lục địa Trung Hoa, viện trợ lớn lao cho Cộng sản Bắc Việt như súng đạn, lương thực, kinh tế và tài chánh, đưa cố vấn qua nắm giữ những chức vụ then chốt, đưa binh lính qua Việt Nam chiến đấu, theo Nayan Chanda trong Brother Enemy có khi tổng số cố vấn và binh lính Tàu đỏ, kể cả nhân công xây dựng đường sá, lên tới hơn nửa triệu thì Hồ Chí Minh phải thực hiện ý muốn của Mao Tạch Đông. Theo Vũ Thư Hiên trong Đêm giữa ban ngày, mặc dù Hồ Chí Minh chưa muốn nhưng do yêu cầu của Mao, Hồ đã phải phát động cải cách ruộng đất từ 1953. Sau đó, cũng do tư tưởng Mao chỉ đạo, Hồ Chí Minh phát động đấu tranh giai cấp trong mọi ngành nghề ở miền Bắc,khiến hàng vạn người bị giết và tù đày. Đến khi Mao phát động cái gọi là Cách Mạng Văn Hóa, thì miền Bắc Cộng sản cũng không thể đi chệch đường.Việt Nam, ngay từ thời Triệu Đà đã là một phần lãnh thổ của Trung Hoa. Sau đó, trong suốt một ngàn năm Bắc thuộc, học thuật, tư tưởng, tôn giáo và nông nghiệp cũng theo đường lối của Tàu cả. Thậm chí sau khi giành được độc lập rồi (939), thì tổ chức cai trị, quan chế, thi cử, giáo dục cũng theo đường lối của Tàu. Do đó, luân lý của Kiều cũng là luân lý của xã hội ta, lấy Nho giáo của Khổng Tử làm căn bản. Tam cương, ngũ thường, hiếu trung nhân nghĩa cũng từ đạo Nho mà ra. Điều đó không có gì lạ và cũng không có gì đáng trách bởi vì đạo Nho chính là tinh hoa của văn hóa Trung Hoa. Những tư tưởng của Khổng Tử cũng như những trước tác của ông như Tứ Thư, Ngũ Kinh, v.v... hay đẹp đến nỗi ngày nay, người Tây phương đang nghiên cứu và áp dụng trong phương pháp giáo dục mới của họ. Người Trung Hoa và Việt Nam cũng như dân tộc ở các nước chịu ảnh hưởng văn minh Trung Hoa kính cẩn gọi Khổng Tử là bậc Vạn thế Sư biểu (Vị thầy của mười ngàn đời). Với người Tây phương,.... theo sử gia lừng danh của Hoa Kỳ Will Durant (1885-1981) trong cuốn The Age of Voltaire của ông thì triết gia Franẫois Marie Arouet Voltaire (1694-1778) của nước Pháp đã vô cùng ngưỡng mộ hiền triết họ Khổng và đã có công truyền bá nền văn minh Khổng học vào giới trí thức Pháp quốc thời đó. (Khổng Phu Tử dưới nhãn quan Âu Mỹ -giáo sư Đàm Trung Pháp)... Leibniz cũng nhận xét thêm rằng về khoa học thì Trung Hoa thua Âu Châu, nhưng Trung Hoa đã vượt hẳn mọi nơi về phương diện an dân do vườn hoa Khổng giáo đem lại. (sách trên đd)... Trong lịch sử cận đại Hoa Kỳ, có lẽ cố Ngoại trưởng John Foster Dulles (1888-1959) là người Mỹ đầu tiên chính thức tỏ lòng ái mộ Khổng Phu Tử. Ông Dulles giữa thập niên 1950 đã khẳng định rằng một trong những mục tiêu ngoại giao của Hoa Kỳ là phải bảo toàn nền văn hóa Trung Hoa mà tinh túy là Khổng giáo. Lúc đó, ông cũng nói lên manh tâm của chế độ Cộng sản Mao Trạch Đông muốn hủy diệt Khổng giáo và thay vào đó bằng giáo điều Mác-Lê (Sđd).Cách đây 2 ngàn 5 trăm năm, Khổng Tử đã dạy một câu hết sức thâm thúy: Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân mà ngày nay, các nhà hoạt động trong ngành giáo dục Mỹ vừa khâm phục, vừa kinh ngạc. Mãi đến thế kỷ thứ 18, nước Pháp mới bừng lên sáng chói (French Enlightment) với những tư tưởng tiến bộ như bình đẳng, bác ái, tự do thì ngay hồi sinh thời, Khổng Tử dạy rằng hễ điều gì mình không muốn người khác làm cho mình thì mình đừng làm cho người khác (Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân). Nhân ái là từ trong tư tưởng nầy đấy: Ví dụ nếu ta không muốn ai gây đau khổ cho ta thì có thể nào ta lại gây đau khổ cho người khác? Bình đẳng cũng từ trong câu ấy: Ta không gây phiền lụy đau khổ cho người khác tức là tôn trọng người khác. Đó không phải là coi họ cũng như mình hay sao?Tự do cũng là đây: Không gây khó khăn cho người khác, không gây phiền lụy, đau khổ cho người khác có phải là không xúc phạm đến tự do của họ hay sao?Từ những nhận định như trên, các nhà thông thái Âu Mỹ không khỏi giật mình vì chính tư tưởng trên của Khổng Phu Tử đã góp phần làm cho xã hội an lạc.Trong cách mạng văn hóa Trung Hoa, Khổng Tử là đối tượng bị đánh đổ. Am miếu, đền thờ của Khổng Phu Tử bị đập phá, triệt hạ, tượng Khổng Phu Tử bị quẳng ra đường và sách vở Khổng Tử bị đem đốt. Ở miền Bắc Việt Nam chẳng còn đền miếu, văn thánh nào tồn tại. Tất cả đều bị Cộng sản phá hủy, san bằng vì cho đó là tàn tích phong kiến.Ngày nay, người ta không cần phải hiếu với cha mẹ, vợ chồng không cần phải trung nghĩa, anh em không cần phải thuận thảo. Câu nằm lòng nhan nhản trong trường học bây giờ là Trung với đảng, Hiếu với dân. Theo Cộng sản thì trung với đảng vì đảng đem lại ấm no hạnh phúc cho nhân dân (!), (Thật ra, dạy trung với đảng vì sợ bị chống đối, lật đổ), hiếu với dân vì dân làm ra sản phẩm, làm nên cơm gạo cho ta ăn, mặc. Không cần phải hiếu với cha mẹ vì nếu không có nhân dân thì cha mẹ lấy đâu cơm gạo nuôi ta?Vấn đề không chỉ là cha mẹ. Nếu muốn tiến lên xã hội xã hội chủ nghĩa, tiến lên thế giới đại đồng thì phải đánh đổ tất cả những gì còn là cục bộ. Gia đình là cục bộ, tổ quốc là cục bộ mà gia đình là cục bộ cản trở lớn nhất của con đường tiến lên Cộng sản. Cho nên gia đình là mục tiêu cần đánh phá trước nhứt. Chưa đánh đổ dân tộc vì còn cần chiêu bài dân tộc để chống tư bản đế quốc. Một khi đã chiến thắng đế quốc tư bản rồi thì cái vỏ bọc ấy cũng bị tiêu diệt nốt, chỉ là Cộng sản, là thế giới đại đồng mà thôi.Nếu nàng Kiều có lòng nhân thì Kiều nên góp phần với Từ Hải để đánh phá chế độ phong kiến bóc lột, cớ sao lại khuyên Từ Hải ra hàng. Khuyên Từ Hải ra hàng tức Kiều là công cụ phục vụ cho chế độ bóc lột đó, cái chế độ gia đình Kiều hưởng nhiều đặc lợi. Bản chất bóc lột của Kiều vẫn không thay đổi dù Kiều đã phải trải qua nhiều gian khổ. Chữ nhân của Kiều như Dương Quảng Hàm nhận xét chỉ là sản phẩm của giai cấp phong kiến thống trị bóc lột, nó không có tính tích cực và triệt để của chủ nghĩa Mác-Lênin. Xây dựng một xã hội Cộng sản không có người bóc lột người là chế độ nhân đạo nhứt!Tất cả những lý luận như trên rõ ràng vừa là không tưởng vừa là ngụy biện. Hậu quả của những tư tưởng rồ dại đó là những cuộc chiến tranh triền miên giữa dân tộc nầy và dân tộc khác hay cuộc nội chiến ở nước ta kéo dài 30 năm vậy, với hàng triệu người bị chết oan, văn hóa đạo đức suy đồi trầm trọng.Cũng nên nhắc lại rằng nhà cầm quyền Việt Nam Cọng Hòa có nhiều sơ hở trong việc giáo dục rất đáng trách. Những lập luận không tưởng và ngụy biện như tôi nói ở trên được rao giảng một cách tự do trong vùng quốc gia hay miền Nam Việt Nam sau hiệp định Genève 1954. Tôn Thất Dương Kỵ khi dạy sử ở trường Khải Định (sau nầy là trường Quốc học) đã sử dụng rặt một lối ngụy biện như thế, một lập trường duy vật khi dạy học trò cũng như viết sách, như trong cuốn Việt Nam Sử Lược của ông. Nối gót y có Hoàng Phủ Ngọc Tường khi làm giáo sư ở trường nầy, cũng như nhiều giáo sư khác tự cho mình là tiến bộ, là có tư tưởng cao xa, phóng khoáng, sử dụng ngụy biện và đứng trên lập trường duy vật biện chứng, tưởng rằng làm như thế là khác người, hơn người. Nguy hiểm hơn, lối giáo dục như thế đã đẻ một đám học trò mù mà cứ tưởng mình là tiến bộ, không ít bọn chúng hiện ở trong nước cũng như hải ngoại đang làm văn, làm thơ, làm nhạc, viết báo, quay lưng phản phúc, chủ trương hợp lưu, trao đổi văn hóa mà thực chất là làm tay sai cho Cộng sản để kiếm chút hư danh./hoànglonghải/tuệchươngWorcester/Mass Chú thích:(1) Năm 1956, nhân dịp kỷ niệm ngày sinh Nguyễn Du, hội Văn hóa thành phố Huế tổ chức một buổi diễn thuyết. Trong dịp nầy, linh mục Sảng Đình Nguyễn Văn Thích nêu ý kiến cho rằng không nên cho học sinh học truyện Kiều. Ông không gọi Kiều là dâm thư nhưng cho rằng đó là truyện phong tình, dẫn chứng bằng câu thơ trong đoạn mở đầu truyện Kiều Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh. (2) Kiều bị chê như đã nói ở trên còn truyện Phan Trần (Họ Phan và họ Trần) thì trong truyện nầy có đoạn Phan sinh tưởng nhớ người yêu sinh ra bệnh tương tư, si tình đến nỗi toan tự vẫn. Đàn ông như thế là nhu nhược, chẳng ra khí phách anh hùng gì cả.(3) Các nhà phê bình văn học đánh giá Chu Mạnh Trinh là ông tổ của văn chương lãng mạn Việt Nam.(4) Giả thử ngay khi trước Liêu Dương cách trở, duyên chàng Kim đừng dở việc ma chay, quan lại công bằng, án Viên ngoại tỏ ngay tình oan uổng; thì đâu đến nỗi son phấn mấy năm lưu lạc, đem thân cho thiên hạ mua cười; mà chắc rằng biên thùy một cõi nghênh ngang, ai xui được anh hùng cởi giáp. Thì sao còn tỏ được là người thục nữ mà đủ đường hiếu nghĩa, tay đàn bà mà lại có cơ quyền. Thế mới biết người khôn thì hay gặp gian truân, chuyện đời khéo lắm trò quanh quẩn.(Phần đầu Bài Tựa Truyện Kiều do Chu Mạnh Trinh viết bằng Hán văn, Đoàn Quỳ dịch ra văn Nôm)(5) Bài của ông Doãn Quốc Sĩ đăng trên Bách Khoa (không nhớ số)(6) Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị. Bạch Cư Dị làm quan bị biếm ra đất Tầm Dương. Một đêm thu ti-n bạn ra bến sông, gặp một kỹ nữ tuổi đã già, người chồng buôn bán đường xa, để nàng cô quạnh trên bến sông. Người kỹ nữ đàn cho BCD nghe và hai người cùng khóc cho số phận hẩm hiu của mình. Tác phẩm nầy có ảnh hưởng lớn trong Văn chương Việt Nam, cổ cũng như hiện đại. Ữ
qcluu
04-03-2004, 06:51 AM
"Chơi cho liễu chán, hoa chê
Cho LĂN LÓC ĐÁ, cho mê mẫn đời"
(Câu 1211, 1212. Tú Bà dạy Kiều nghề chơi)
"Lăn lóc đá", ba từ này có ý chỉ sự ăn chơi cho thoả thuê, mê mệt đến độ chán ngán không con muốn ăn chơi nữạ
Truyền thuyết dân gian kể một câu chuyện rằng:
Xưa kia có một chàng thanh niên con nhà giàu, sau khi cha mẹ qua đời , anh ta không lo làm ăn mà chỉ lo đắm say tửu sắc đến nỗi khuynh gia bại sản. Bấy giờ anh ta mới hối hận, tìm đến người thân thích nhờ vả giúp đỡ để tu chỉnh làm ăn.
Một ngày nọ, anh ta ghé vào một cái quán bên đười nghỉ chân, gặp một cụ già đầu râu đều bạc trắng đang ngồi ung dung uống rượu . Nhận thấy dáng mạo anh chàng nho nhã nhưng có vẻ nghèo túng, ông già mời anh ta cùng ngồi uống với mình. Nhân dịp ấy, anh chàng kể lể hoàn cảnh cho cụ già nghẹ Cụ già nói:
- Chớ lo, lão sẽ có cách giúp anh làm lại cuộc đờị Nhưng trước hết , tối nay chúng ta hãy đến xóm bình khang chơi một bữa cho thoã thích rồi ngày mai hẳn haỵ
Chàng trai từ chối nhưng cụi già lại nói :
- Ấy, vì trước kia anh chưa bao giờ được ăn chơi chán chê nên cứ miệt mài ngày naọ sang ngày kia mà khuynh gia bại sản đấỵ Tối nay anh cứ tha hồ ăn chơi một phen cho thật thoả thuê đi , cho thật mê mệt đi . Có như thế thì anh mới chán ngấy cái thú yên hoa, và có chán ngấy nó thì anh mới không nghĩ đến nó nữa để mà yên tâm làm ăn lập nghiệp .
Tối hôm ấy, hai người tìm đến một xóm bình khang, cùng nhau ăn nhậu vui say thoả thích. Đến nửa dêm, cụ già cáo say đi ngủ, để cho chàng trai tha hồ đùa bỡn, bày chuyện mây mưa với hàng chục kỹ nữ đẹp như tiên. Đến khuya, quá mệt mỏi, chàng trai lăn khềnh ra ngủ.
Sáng ra tỉnh dậy, anh chàng thấy mình nằm trên một đỉnh núi toàn là đá, hòn to hòn nhỏ lăn lóc chung quanh anh ta .
qcluu
04-12-2004, 06:01 PM
"Dập diều LÁ GIÓ, CÀNH CHIM
Sớm đưa TỐNG NGỌC, tối tìm TRÀNG KHANH"
(Câu 1231, 1232. Kiều ở Thanh Lâu lần 1)
LÁ GIÓ, CÀNH CHIM do hai câu thơ "Chi nghinh Nam Bắc điểu, Diệp tống vãng lai phong" của nàng Tiết Đào đời Đường.
Tiết Đào là con gái Tiết Trịnh, người huyện Trường An, tỉnh Thiểm Tây; tư chất thông minh từ nhỏ, học giỏi và biết làm thơ từ năm lên sáụ
Năm Tiết Đào lên tám tuổi thì cha nàng đang làm quan ở Thành Đô thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Một hôm hai cha con đứng chơi ngoài sân, cạnh một cây ngô đồng già, Tiết Trịnh cảm hứng ứng khẩu hai câu thơ vịnh cây ngô đồng:
"Đình tiền nhất ngô đồng
Túng cán nhập vân trung"
thì Tiết Đào ứng khẩu nối đuôi liền:
"Chi nghinh Nam Bắc điểu
Diệp tống vãng lai phong".
(Ngô đồng đứng trước sân
Thân cây cao vút mây
Cành đón chim Nam, Bắc
Lá đưa gió đi lại)
Nghe thơ của con gái, Tiết Trịnh thở dài nhủ thầm: "Thôi rồi nghiệp chướng. Lời thơ như thế thì tất sau này nó sẽ là một đứa lãng mạn, lẳng lơ".
Hai năm sau Tiết Trịnh qua đời . Gia đình gặp khó khăn nên Tiết Đào làm ca kỹ kiếm tiền nuôi mẹ .
Vừa làm ca kỹ, Tiết Đào vừa sáng tác nhiều ca khúc rồi phổ nhạc dạy cho các ca nữa hát . Những bài ca do nàng sáng tác rất tuyệt diệu nên được truyền đi khắp phường ca kỹ và nàng được nổi tiếng . Nhiều bậc tao nhân mặc khách chốn kinh thành đổ xô tìm đến nàng để xướng hoạ, ngâm vịnh với hy vọng chiếm lấy trái tim nàng . Nhưng đôi mắt xanh của Tiết Đào chẳng để ai lọt vào cả .
Sau một thời gian dành dụm vốn liếng, Tiết Đào tạo được một ngôi nhà bên cầu Vạn Lý . Nàng sáng tạo ra một loại giấy có vẽ cỏ hoa rất đẹp dùng để làm thơ; được người đương thời đặt tên là "Hoa tiên tùng giang".
Bấy giờ có quan Tư Mã đất Thiểm Châu là Vương Kiến mết tài Tiết Đào nên tìm đến thăm và tặng nàng một bài tứ tuyệt như sau:
"Vạn lý kiều biên nữ Hiệu thư
Tỳ bà hoa hạ bế môn cư .
Tảo my tài tử tri đa thiếu
Quân lĩnh đông phong tối bất như".
(Nàng Hiệu thư lang ở bến sông
Tỳ bà tươi thắm rũ bên song
Ngày xuân của đóng hoa ngăn gió
Bao kẻ tối mày đã uổng công)(1)
Đến đời vua Đường Hiến Tông, quan Tả Thập Di Nguyên Chẩn là bậc danh sĩ đương thời đi công cán ở đất Ba Thục có tìm gặp Tiết Đào . Hai người đối ẩm và cùng nhau xướng họa ra vẻ đương đắc lắm . Thết là cả hai bỗng trở nên quyến luyến nhau . Nhưng rồi Nguyên Chẩn phải trở lại Tràng An, nàng Tiết Đào đành rơi lệ ngậm ngùi tiễn biệt .
Chẳng bao lâu sau, tướng trấn thủ Tây Xuyên là Lưu Tích tạo phản, đột phá Thành Đô . Nguyên Chẩn lấy làm lo lắng thuê người vào đất Thục tìm Tiếc Đào, nhưng nhiều lần như thế mà vẫn không đi được vì đường xá bị gián đoạn. Từ đó, hai người bặt tin nhau .
Ngày tháng dần qua, tuổi đời chồng chất, Tiết Đào buồn duyên tủi phận nên lui về đầm Bạch Hoa khoác áo cà sa tu niệm . Đến năm Thái Hòa thứ năm triều Đường Văn Tông, Tiết Đào qua đời vì bệnh .
TỐNG NGỌC: người nước Sở . Xem điển tích TƯỜNG ĐÔNG (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=543028#post543028)
TRÀNG KHANH: tức Tư Mã Tương Như, người đời Hán. Xem điển tích TƯ MÃ PHƯỢNG CẦU (http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&postid=701185#post701185).
(1) Bùi Khánh Đàn dịch
qcluu
08-05-2004, 08:48 PM
SÂN HÒE đôi chút thơ ngây
Trân cam ai kẻ đỡ thay việc mình
(Câu 1257, 1258. Kiều nhớ nhà khi ở thanh lâu)
Thừa gia chẳng hết nàng Vân
Một cây CÙ MỘC, một sân QUẾ HÒE.
(Câu 3237, 3238. Kiều sum họp với gia đình)
SÂN HÒE: Sân trồng cây Hòe . Hòe là một thứ cây trồng ở ngọai triều (Nhà vua có tam triều là Yến triều, Nội triều và Ngọai triều). Theo sách Châu lễ, trước mặt vị Tam công (Thái Sư, Thái Phó và Thái Bảo) đứng được trồng ba cây Hòe .
Vương Hựu, người đời Tống, tự tay trồng ba cây Hòe trong sân nhà ông và nói rằng :
- Conb cháu ta sau này sẽ có đứa làm đến chức Tam công .
Quả nhiên vều sau, con Vương Hựu là Vương Đán làm đến Tam công .
CÙ MỘC: Cây to lớn có cành lá sum xuê rũ xuống để cho dây bìm, dây sắn leo lên được . Nghĩ bóng của chữ Cù Mộc là chỉ người vợ cả hiền đức, che chở cho người vợ lẻ của chồng .
SÂN QUẾ: Sân trồng cây Quế . Quế cũng là một lọai cây quý như cây Hòe . Đời Ngũ Đại, Võ Quân làm quan Gián Nghị Đại phu, rước danh nho về nhà để dạy cho những học trò nghèo .
Đậu làm quan rất nhân hậu, nổi tiếng gần xa nên kẻ sĩ bốn phương hay đến nhờ vả ông . Ai có thực tài đều được ông tiếng cử với triều đình . Ông ở tại Yên Sơn nên người đương thời cũng thường gọi ông là Đậu Yên Sơn, không gọi tên thật để tỏ ý kính trọng .
Đậu Quân có năm người con trai kế tiếp nhau đỗ đạt cao, bước đường công danh hiển hách; được người đời xưng tụng là “Yên Sơn Đậu thị ngũ Long” (Năm con Rồng họ Đậu ở Yên Sơn).
Phùng Đạo nói: “Đậu Quân biết dạy đạo đức cho năm đứa con nên chúng giống như năm cành quế vậy .
qcluu
11-04-2004, 08:53 AM
Khi về hỏi LIỄU CHƯƠNG ĐÀI
Cành XUÂN đã bẻ cho người chuyên tay
(Câu 1261, 1262. Kiều ở lầu xanh)
Hai câu này, Nguyễn Du dịch từ bốn câu thơ của Hàn Hủ đời Đường gởi cho vợ là Liễu thị :
“Chương Đài Liễu, Chương Đài Liễu
Tích n hật thanh thanh kim tại phủ
Túng sứ trường điều tự cựu thùy
Dã ưng phan chiết tha nhân thú” ?
(Liễu Chương Đài, Liễu Chương Đài
Còn chăng thưở trước vẻ xanh tươi
Thướt tha vẫn giống như năm nọ
Vin bé đành tay kẻ khác rồi ?)
Hàn Hủ, người đời Đường, tuy chỉ là một chânTú tài nhưng đã nổi tiếng là danh sĩ . Cuối đời Thiên Bảo triều vua Đường Huyền Tông, Hàn đến kinh đô Trường An để chuẩn bị thi Tiến sĩ; trọ ở phố Chương Đài phía Tây kinh thành .
Bên cạnh nhà Hàn có Liễu thị là một danh kỹ đương thời ; con hán riêng (1) của một vị tướng quân họ Lý . Mỗi khi Lý đến nhà Liễu thị, thường mời Hàn sang uống rượu, lâu ngày thành ra thân quen .
Phần Liễu thị, những lúc thư nhàn vẫn thường nhìn qua kẽ vách dòm sang nhà Hàn . Liễu thị thấy Hàn Hủ tuy đang cảnh nghèo khó nhưng tánh tình lại phóng kóang và rất hiếu khách, mỗi khi có khách đến đều tiếp đón ân cần . Nhân ngày nọ Lý tướng quân đến, Liễu thị nói với ông ta rằng :
- Hàn Tú Tài tuy ngày nay đang cảnh cùng quẫn nhưng lại giao thiệp tòan là những kẻ có tiếng tăm, chắc cũng chẳng nghèo hèn mãi đâu . Đã nhận nhau là bạn thân, thiếp thiết nghĩ ngài cũng nên giúp đỡ ông ấy .
Lý tướng quân gật đầu cho lời Liễu thị là phải .
Mấy hôm sau Lý tướng quân cho Liễu thị bày tiệc, rồi mời Hàn sang dự . Giữa tiệc, Lý nói với Hàn :
- Hàn Tú là bậc tài danh sĩ hiện nay mà Liễu thị cũng là một danh sắc . Lấy danh sắc mà sánh duyên cùng danh sĩ thì chẳng đáng lắm sao ?
Nghe thế, Hàn Hủ hết sức ngỡ ngàng nên khăng khăng từ chối . Lý tướng quân lại nói :
- Đấng trượng phu than nhau trong chén rượu, nếu được một lời nói hợp ý thì người ta cũng có thể lấy cái chết mà hứa với nhau . Nay tôi chỉ tặng Hàn Tú tài một người đàn bà, có gì thái quá đâu mà ông lại từ chối, chẳng hóa ra phụ long tôi hay sao ?
Rồi Lý nhất định ép Hàn và Liễu phải thuận tình nhau . Ông ta lại nói riêng với Hàn Hủ :
- Ông cứ chịu nghèo mãi thế này thì làm sao mà bay nhảy được . Liễu thị có vốn riêng độ vài trăm vạn, ông cứ lấy ra mà tiêu dùng . Nàng là một người đàn bà hiền thục, tôi chắc rằng nàng sẽ hết lòng với ông .
Rồi Lý tướng quân từ biệt hai người . Từ đó Lý không lui tới nhà Liễu thị nữa … Còn Hàn Hủ thì dọn sang nhà Liễu thị ở . Hai người chính thức sống với nhau trong tình nghĩa vợ chồng . Tình yêu của họ ngày càng thắm thiết .
Tuy là một danh sĩ có tài văn mặc nhưng Hàn Hủ vẫn không đỗ được Tiến Sĩ . Chàng cũng không lấy thế làm buồn phiền . Vài bốn năm sau, quan Tiết độ sứ Thanh Châu là Hầu Hi Dật, vốn ái mộ văn tài của Hàn Hủ đã lâu, tâu với nhà vua xin chàng về làm tòng sự . Nhà vua thuận .
Đường từ kinh đô đến Thanh Châu xa xôi muôn dặm, Liễu thị không tiện theo chồng nên Hàn Hủ đi nhậm chứ một mình , hẹn khi ổn định sẽ cho người về đón .
Chẳng ngờ Hàn Hủ ở Thanh Châu đằng đẳng ba năm mà vần không đón Liễu thị được . Nhân một ngày kia có người từ triều đình đến, Hàn Hủ gởi thơ về cho vợ , trong thư có bốn câu thơ nêu trên .
Liễu thị nhận được thư Hàn, xem mấy câu thơ ấy biết chồng có ý lo sợ mình phụ bạc chàng nên viết thư hồi âm , có mấy câu :
“Dương liễu chi, phương chi tiết
Khá hận niên niên tặng ly biệt
Nhất diệp tùy phong hốt báo thu,
Túng sứ quân lai khởi kham chiết”.
(Nhành dương liễu, trạc xuân xanh
Đeo đẵng bao năm mối biệt tình .
Chiếc lá gió đưa, thu đã tới
Chàng về chưa chắc được vin cành).
Sau đó, Liễu thị xuống tóc xin vào chùa nương than để tránh lũ bướm chòm ong . Thế mà nàng vẫng không thóat khỏi tay Sa Tra Lợi, một Phiên tướng đang giữ chức Xa Kỵ Tướng quân của vua Đường Huyền Tông . Sa Tra Lợi bắt Liễu làm thị thiếp, cho ở phủ riêng .
Mấy năm sau, Tiết độ sứ Hầu Hi Dật có dịp về kinh, Hàn Hủ cũng tháp tùng cùng về . Về tới kinh đô Trường An, Hàn Hủ mới biết vợ mình đã sa vào tay kẻ khác . Vì thế cô, phận nhỏ , Hàn Hủ chỉ biết âm thầm đau khổ chớ chẳng biết làm sao hơn .
Một buổi nọ Hàn vào tòa Trung thử của triều đình, khi đi tới góc đông nam kinh thành thì trông thấy một chiếc xe ngựa đi thong thả . Bỗng trong xe có tiếng người hỏi :
- Có phải Hàn viên ngọai ở Thanh Châu đó không ?
Hàn Hủ đáp :
- Phải, chính tôi .
Rèm xe được vén lên và vẫn giọng nói ấy :
- Thiếp là Liễu thị đây . Nay thiếp đã bị sa vào tay Sa Tra Lợi , không thể nào thóat ra được . Ngay mai thiếp sẽ trở về qua đường này, xin chàng hãy đến đây để được gặp nhau lần cuối .
Rồi xe chạy đi . Hôm sau, vào đúng giờ hẹn, Hàn Hủ đến ngay chỗ cũ thì bắt gặp một chiếc xe cũng vừa tới . Trong xe ném ra một chiếc khăn hồng bọc hộp sáp thơm và có giọng nói thổn thức vang lên :
- Thôi, từ nay tax a nhau suốt đời …
Rồi xe vụt chạy nhanh . Hàn đứng lặng nhìn theo mà rơi nước mắt . Tối hôm ấy Hàn đi dự một yến tiệc tại một tửu lâu lớn giữa kinh thành, do một viên Đại hiệu ở đất Lâm Truy khỏan đãi . Trong tiệc, ai nấy đều vui vẻ nói cười , chỉ có riêng Hàn mặt ủ mày ê . Có người hỏi :
- Xưa nay trong mọi cuộc yến ẩm, Hàn viên ngọai đều tỏ ra họat bát vui vẻ lắm kia mà . Có sao hôm nay trông ngài buồn bã làm vậy ?
Không dằn được ngọn trao lòng, Hàn Hủ đem chuyện mình kể cho cử tọa cùng nghe . Khi Hàn vừa dứt lời, cử tọa nghe có tiếng “xỏang” vang lên và một giọng nói oang oang :
- Ở giữa chốn kinh đô phồn hoa mà cũng có chuyện bất bình ấy hay sao ? Tiểu nhân vốn tài hèn sức mọn nhưng cũng xin được ra tay đem phụ nhân về cho Hàn viên ngọai, xin ngài hãy viết cho tôi mấy chữ để làm tin với phu nhân . Nếu việc không thành, tôi nguyện nát than như chiếc chén ấy .
Mọi người nhìn kỹ thì chàng trai vừa đập chén rượu nói lời khẳng khái ấy là Hứa Tuấn, một viên tướng trẻ của Ngu hầu . Mọi người cùng khen phải , đốc thúc Hàn Hủ viết thư .
Hứa Tuấn nhận thư của Hàn, ngựa phóng nhanh đến tư dinh của Sa Tra Lợi . Cũng may là lúc ấy Sa Tra Lợi vắng nhà , Hứa Tuấn nói dối với đám gia nhân rằng :
- Tướng quân bị ngã ngựa nặng lắm e khó qua . Ngài bảo tôi về rước phu nhân cho ngài gặp mặt .
Giọng Hứa Tuấn sang sảng nên Liễu thị ở trong phòng nghe rất rõ . Nàng vội vàng chạy ra thì Hứa Tuấn trao cho nàng bức thư của Hàn Hủ . Liễu thị xem xong thư thì Hứa Tuấn đỡ lên ngựa và ra khỏi dinh . Hứa ra roi cho tuấn mã phóng như bay trở về lại tửu lâu, nơi mọi người đang chờ đợi .
Mọi người trông thấy Hứa Tuấn đem Liễu Thị đến như lời chàng hứa, đều nức nở khen chàng là người nghĩa khí và dũng lược . Riêng Hàn Hủ và Liễu thị ôm nhau mừng mừng tủi tủi .
Hôm sau, tất cả mọi người đều đưa nhau đến nhà Hầu Hi Dật trình bày câu chuyện và xin ông can thiệp giúp . Nghe việc làm nghĩa khí của viên tướng trẻ Hứa Tuấn, Hầu Hi Dật cả cười nói :
- Đó là việc mà thưở còn trai trẻ ta vẫn thường làm . Nay Hứa Tuấn cũng được như thết nữa ư ?
Rồi Hầu Hi Dật làm biểu dâng lên nhà vua, bắt tội Sa Tra Lợi cướp đọat vợ người . Nhà vua xem biểu, châu phê :
“Ban cho Xạ kỵ tướng quân Xa Tra Lợi hai mươi tấm lụa quý . Hòan trả Liễu thị về cho Hàn viên ngọai đất Thanh Châu”.
(1) như “gái bao” ngay nay .
qcluu
11-18-2004, 02:43 PM
HOA KHÔI mộ tiếng Kiều nhi
Thiếp hồng tìm đến hương khuê gởi vào
(Câu 1279, 1280 . Thúc Sinh tìm đến Kiều)
Nàng đà GIEO NGỌC, TRẦM CHÂU
Sông Tiền Đường đó, ấy mồ hồng nhan .
(Câu 2963, 2964 . Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường)
HOA KHÔI: Đứng đầu các lọai hoa, nghĩ là người đẹp nhất trong đám gái thanh lâu, hồng lâu . Vào đời vua Vạn Lịch nhà Minh, kỹ nữ Đỗ Thập Nương ở Bắc Kinh được xưng tụnh là “Hoa Khôi vương tử”.
GIEO NGỌC, TRẦM CHÂU: Nghĩa đen là ném ngọc quý, châu báu xuống sông . Nghĩa bóng để chỉ người đẹp gieo thân xuống sông tự tử . Tích “gieo ngọc trầm châu” để chỉ vào Hoa khôi vương tử Đỗ Thập Nương như sau:
Đỗ Thập Nương, một danh kỹ đất Bắc Kinh vào đời vua Vạn Lịch nhà Minh . Nàng tên thật là Đỗ Mỹ, thứ mười nên trong kỹ viện gọi nàng là Đỗ Thập Nương . Nàng sa chân vào kỹ viện từ năm lên mười ba tuổi, đến năm thứ 20 đời vua Vạn Lịch thì Đỗ Thập Nương đã được mười chin tuổi . Tài sắc Đỗ Thập Nương đứng vào bậc nhất đám kỹ nữ ở kinh đô nên nàng được mọi người xưng bậnc nhất đám kỹ nữ ở kinh đô nên nàng được mọi ngừời xưng tụng là Hoa khôi vương tử . Bao nhiêu vương tôn, công tử, bao nhiêu đạt quan quý nhân đều chết mê chết mệt với nàng .
Trong số khách làng chơi bấy giờ có Lý Giáp tự Cam Tiến là học trò trường Quốc tử giám Bắc Ung (tức trường Giám ở Bắc Kinh) cũng đem long đắm say Đỗ Thập Nương . Lý Giáp vốn người phủ Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang và là con trai lớn của quan Bố Chính tỉnh ấy .
Đỗ Thập Nương thấy Lý công tử là người thật thà trung hậu nên cũng dành cho chàng cảm tình đặc biệt . Đỗ thị một phần cũng chán ngán cuộc đời “đưa người cửa trước, rước người cửa sau” nên muốn nhân cơ hội này kết nghĩa với Lý Giáp để hòan lương . Nàng đem ý mình bàn với Lý Giáp nhưng chàng công tử còn ngán sợ phụ than không bằng long nên chưa dám nhận lời . Tuy nhiên, hai người rất là gắn bó với nhau suốt ngày đêm; đến nỗi Đỗ Thập Nương không còn thiết đến việc tiếp khách khác nữa .
Ngày qua tháng lại, Lý Giáp quấn quít với Đỗ Thập Nương đã hơn một năm . Tiền bạc cạn dần nên chàng không còn hào phóng như lúc đầu được nữa . Bấy giờ thì mụ tú bà ra mặt coi thường chàng công tử họ lý . Mặt khác , cụ Bố Chính ở Triết Giang nghe tin con trai ở kinh dô ăn chơi trác tang thì giận lắm, viết thư gọi Lý phải trở về . Thư đến đã mấy lần nhưng Lý quá say mê Đỗ Thập Nương nên không đành rứt áo ra đi .
Một ngày nọ, mụ tú bà trách móc thẳng Đỗ Thập Nương về việc đeo mang Lý công tử . Đỗ Thập Nương nói :
- Lý Công Tử có phải tay không vào đây đâu ?
Mụ tú sẳng giọng :
- Trước khác nay khác . Này, mày hãy bảo thằng khốn ấy còn lưng tiền vốn bao nhiêu thì đưa cho tao rồi chúng mày dắt nhau mà cút xéo khỏi nơi đây . Tao mua đứa khác về để còn kiếm đồng lời mà sống . Như vậy thì tiện cả cho đôi bên .
Đỗ Thập Nương hỏi lại :
- Mẹ bảo thật hay đùa đấy ?
Mẹ tú vốn biết Lý Giáp đã cạn túi , áo quần đẹp cũng đã đem cầm cố hết rồi, nên mụ nói mạnh :
- Mụ già này xưa nay chưa từng nói sai bao giờ .
- Vậy thì mẹ đòi bao nhiêu tiền ?
- Đối với người khác muốn chuộc mày thì tao phải lấy ngàn vàng đậy Nhưng Lý công tử bây giờ đã cạn lưng rồi, tao thông cảm chỉ lấy ba trăm lạng bạc thôi, nhưng với điều kiện là nội trong ba ngày phải có đủ . Nếu không thì tao tống cỗ ngay , chẳng vị nể công tử công tôn gì cả .
Đỗ Thập Nương nói :
- Lý công tử đất khách kẹt tiền, nhưng ba trăm lạng thì có lẽ chàng sẽ lo đưỢc, cố điều ba ngày thì ít thời gian quá, xin mẹ gia hạn cho mười ngày vậy .
Mụ tú lại nghĩ răng không thể nào Lý Giáp lo được ba trăm lạng bạc dù cho một trăm ngày chớ không chỉ mười ngày . Mà nếu không lo được bạc thì phải xấu hổ tự lánh đi mà thôi . Vì nghĩ thết nên mụ gật đầu nói :
- Thôi được, tao cũng thương tình mày mà gia hạn cho mười ngày đấy .
Đêm ấy , Đỗ Thập Nương và Lý Giáp bàn tính chuyện trăm năm . Lý Giáp nói :
- Vậy để ta đến những nơi bạn bè quen biết xưa nay, bảo với họ là ta cần lộ phí để về quê, may ra thì mươn được mỗi người một ít và gom lại chắc cũng đủ ba trăm lạng nộp cho mụ ấy .
Hôm sau Lý Giáp rời khỏi hành viện , đến nhà các bạn bè quen thuộc giả cách chào từ biệt để lên đường về quê . Sau cùng chàng hỏi mượn tiền để làm lộ phí . Nhưng đi đến đâu cũng bị từ chối cả , chẳng mượn ai được đồng nào .
Đã ba ngày trôi qua mà Lý Giáp không xoay xở được tiền lấy làmm xấu hổ không dám nói thật với Đỗ Thập Nương . Ngày thứ tư, chàng đến nhà Liễu Ngộ Xuân là ngừơi bạn than nhất và cũng là người đồng hương để tá túc . Liễu Ngộ Xuân cũng là học trò trường Giám như Lý . Thấy Lý mặt ủ mày ê, Liễu Ngộ Xuân hỏi nguyên do . Lý bèn đem chuyện mình và Đỗ Thập Nương toan tính nói cho bạn nghe, không giấu diếm điều gì cả . Liễu Ngộ Xuân nghe chuyện, nhưng cũng chẳng giúp Lý được gì .
Ba ngày nữa trôi qua, Lý Giáp buồn bã đi ra phố giải khuây, vô tình gặp Tứ Nhi là con hầu của Đỗ Thập Nương . Tứ Nhi nói :
- Thưa Lý công tử, công tử đi đâu ba ngày nay chẳng về ? Đỗ cô nương sai con đi tìm công tử đây .
Lý Giáp thấy ngượng, đáp :
- Ta bận việc lắm , người về nói với Đỗ cô nương là ngày mai ta sẽ về .
Tứ Nhi túm chắt lấy tay áo Lý Giáp, nói :
- Công tử phải về ngay bây giờ . Đỗ cô nương dặn con phải tìm cho bằng đưỢc công tử về .
Không thể nào từ chối được , phần cũng nhớ Đỗ Thập Nương quá nên Lý Giáp đành phải theo Tứ Nhi trở về hành viện . Thấy Lý Giáp trở về, Đỗ Thập Nương hỏi :
- Công tử lo việc đến đâu rồi ?
Lý Giáp không trả lời nhưng nước mắt ròng ròng . Đỗ Thập Nương nói :
- Nhân tình bạc bẽo, không chạy nỗi ba trăm lạng phải không . Này, chuyện này chớ để mụ tú biết nhé . Đêm nay chàng cứ ở lại đây, thiếp có chuyện bàn với chàng .
Rồi Thập Nương bày rượu và thức nhắm ra, hai người chuốc chén . Nàng nói :
- Trong chiếc chăn bong của thiếp có một trăm năm mươi lạng bạc vụn thiếp dành dụm bấy lâu nay . Vậy thiếp xin đóng góp với chàng một nửa, còn một nửa chàng hãy rang chay cho ra, chỉ còn có bốn ngày nữa là hết hạn đấy .
Lý mừng vô hạn . Hôm sau chàng đem chiếc chăn bông của Đỗ thị đến nhà Liễu Ngộ Xuân mở ra, quả thật có một số bạc vụn, đem cân thì đủ số một trăn năm mươi lạng . Lý thuật lại lời của Đỗ Thập Nương cho Liễu nghe . Ngộ Xuân lấy làm cảm động , nói :
- Vậy là Thập nương thật lòng với huynh đấy . Thôi cứ yên tâm, để đệ lo toan cho .
Lý Giáp nói :
- Nếu nhân huynh giúp cho đệ được người ngọc, quyết không dám phụ ơn .
Liễu Ngộ Xuân tự mình đi đến nhưng chỗ quen biết vay mươn . Chỉ hai ngày là góp được một trăm năm mươi lượng, giao cho Lý Giáp, nói :
- Tôi vay tiền cho anh không phải vì anh, mà vì cảm cái tình của Đỗ Thập Nương đối với anh đó .
Lý Giáp đem đủ ba trăm lạng bạc về hành viện giao cho Đỗ Thập Nương . Nàng hỏi :
- Sao lần này chàng chạy ở đâu mà nhanh thế ?
Lý Giáp kể cho nàng nghe long nhiệt than của Liễu Ngộ Xuân .
Đỗ Thập Nương nói :
- Số bạc này giao xong là chàng và thiếp ra đi ngay .
Rồi nàng đưa cho Lý hai mưoi lạng bạc, nói tiếp :
- Hôm qua thiếp mượn của chị em trong viện đươc hai mươi lạng đây, chàng giữ lấy để chi dụng trong lúc đi đường .
Ngay lúc ấy thì mụ tú bà đến gọi ngòai cửa . Lý công tử mở cửa, nói :
- Thể theo hậu ý của bà , tôi đã lo đủ ba trăm lạng, định đi mời bà thì bà lại đến .
Lý Giáp nói xong, lấy ba trăm lạng bày ra trên bàn . Mụ tú không ngờ Lý Giáp có tiền, mặt mày biến sắc . Đỗ Thập Nương nói :
- Con ở trong hành viện này đã nhiều năm, làm ra cho mẹ có đến mấy nghìn lượng . Hôm nay con quyết ý tòng lương , nếu mẹ không giữ đúng lời hứa thì Lý công tử cứ giữ số bạc , còn con thì quyên sinh cho xong .
Mụ tú bà đành phải chấp nhận , cân lại bạc và nói :
- Đã đến lúc ta không giữ được con rồi . Vậy thì con muốn ra đi lúc nào tùy ý, nhưng của cải quần áo ta sắm cho con thì con không được lấy đi thứ gì .
Đỗ Thập Nương bèn dắt Lý Giáp đi vào từ giả các chị em trong viện . Trong số các chị em, hai nàng Tạ Nguyệt Lãng và Từ Tố Tố là hai người thương Đỗ Thập Nương nhiều nhất . Hai nàng thấy Đỗ Thập Nương mặc quần áo cũ lại không có đeo đồ trang sức bèn đi chọn xiêm y mới và lấy đồ nữ trang cho Thập Nương thay đổi . Rồi nàng Tạ Nguyệt Lãng bày tiệc thết đãi Đỗ thị và Lý công tử .
Hôm sau, Đỗ Thập Nương và Lý Giáp lên đường . Từ Tố Tố báo tin cho đông đủ chị em trong hành viện đến tiễn đưa . Tạ Nguyệt Lãng nói :
- Thập Nương cùng chồng ra đi muôn dặm, trong túi nhẹ tênh . Chúng em không quên tình nghĩa, nên cùng góp lại một chút quà mọn, xin chị và Lý công tử nhận để làm lộ phí trên bước đường xa …
Nói xong, Tạ Nguyệt Lãng cho người mang ra một chiếc rương có khóa cẩn thận, giao cho Đỗ Thập Nương . Thập Nương không từ chối, cũng không mở ra xem, chỉ bày tỏ lòng cảm tạ mà thôi . Xe ngựa đã đến, chị em đồng nghiệp tiễn đưa đông đủ; có cả Liễu Ngộ Xuân đến tiễn nữa . Hai vợ chồng Đỗ Thập Nương bịn rịn từ giã mọi người, lên đường .
Hai người đi đường bộ đến Lộ Hà thì chuyểng sang đường thủy đến Qua Châu rồi chuyển sang một chiếc thuyền nhỏ khác để xuôi về Giang Nam . Một đêm trăng trong gió mát, hai vợ chồng ra trước mũi thuyền ngồi đối ẩm thưởng trăng trong khi neo thuyền ngơi nghỉ . Đỗ Thập Nương lòng đầy hưng phấn nên cất tiếng hát một khúc “Tiểu đào hồng” .
Đêm ấy cũng có một chiết thuyền buôn muối đậu gần đó . Chủ chiếc thuyền buôn muối là một chàng trai trẻ tên Tôn Phú tự Thiện Bôn, người ở Tân An thuộc Huy Châu, vốn là một kẻ ăn chơi sành sõi . Tôn Phú nghe được tiếng hát của Đỗ Thập Nương chẳng khác nào tiếng phượng hót loan ngâm, bèn nghĩ rằng : “Người đang hát kia chắc chắn không phải là con nhà lành, thế nào ta cũng phải tìm cách gặp mặt được này ấy” .
Sáng sớm hôm sau, vì trời nổi gió tuyết nên các thuyền bè không thể lên đường được . Tôn Phú cho thuyền mình đến gần thuyền của Lý Gíap và ngẫu nhiên trông thấy Đỗ Thập Nương chàng ta ngây ngất trước nhan sắc của Đỗ Thị, bèn cất tiếng ngâm thơ :
”Tuyết ngập sườn non, cao sĩ mộng
Trăng soi rừng vắng, mỹ nhân sàng”
Lý Giáp nghe có tiếng ngâm thơ ở thuyền bên cạnh bèn ló đầu ra ngòai quan sát . Tôn Phú chụp ngay cơ hôi lên tiếng làm quen :
- Chào tôn huynh, xin tôn huynh cho biết qúy tính phương danh .
Lý công tử thấy khách có vẻ lịch sự nên vui vẻ khai quê quán, tánh danh mình . Tôn Phú nói :
- Gió tuyết trăn trở Lộ trình, vậy xin mạo muội kính mời tôn huynh cùng đệ lên bời tìm chén rượu nhạt để tỏ tình tri ngộ
Lý Giáp đáp :
- Bình thủy tương phùng, tôn huynh đã có nhã ý thì đệ xin vâng lời .
Hai người cho thuyền cặp bến rồi cùng lên bờ tìm một tửu lâu, đối ẩm . Rượu được vài tuần, Tôn Phú hỏi :
- Người ca trên thuyền của tôn huynh đêm hôm qua là ai thế ?
Lý Giáp cũng muốn khoe mình là một trang phong lưu công cử, nên đem hết chuyện của mình và Đỗ Thập Nương nói cho Tôn Phú nghe . Nghe xong chuyện, Tôn Phú nói :
- Huynh đưa người đẹp hồi gia, quả là một chuyện lý thú của huynh, nhưng không biết nghiêm đường có vui lòng thuận tình chăng ?
Lý Giáp thật tình nói :
- Phụ than của đệ xưa nay vốn tính nghiêm khắc, đệ đang lo điều ấy đấy .
Tôn Phú chộp lấy cơ hội , hỏi tiếp :
- Giả như nghiêm đường không chấp thuận, thì tôn huynh sẽ đưa người đẹp đi đâu ?
- Đệ đã bàn với Đỗ Thập Nương, định để nàng ở lại Tô Hàng dạo chơi non nước một thời gian . Đệ về nhà nhờ người than năn nỉ phụ thân chấp thuận rồi cho rước nàng về sau . Ý huynh thế nào ?
Tô Phú nói :
- Tiểu đệ mới gặp nhân huynh, giao tình chưa thắm thiết, lạm bàn đến chuyện riêng của tôn huynh e không tiện .
Lý Giáp cười nói :
- Đệ đang muốn nghe cao ý của tôn huynh, hà tất phải giữ kẽ .
Tôn Phú nói :
- Gia nghiêm của huynh là phương diện quốc gia, tất cụ phải nghiêm khắc trong chuyện tề gia . Thời thường huynh đã bị cụ khiển trách về tội chơi bời phóng túng, nay huynh lại lấy gái bất