PDA

View Full Version : Người Phụ Nữ Việt Nam Trong Cuộc Đời và Trong Văn Chương


BungRieu
04-23-2003, 11:29 AM
Người PhụNữ Việt Nam Trong Cuộc Đời
Và TrongVăn Chương
Phương Nghi
---------------------------------
BR bớt buồn rôì ... lang thang trong net ... thấy baì viết hay ... lại mang về để các Anh Chị Đọc ...
---------------------------------
Thời chiến cũng như thời bình, người phụ nữ Việt Nam, hiện diện ở nhiều vị trí trong cuộc đời và để lại nhiều hình ảnh, bóng sắc trong văn chương. Không tuổi trẻ nào ở Việt Nam ngày trước không nhớ bài học lịch sử nhắc nhở đến võ công oanh liệt của Hai Bà Trưng, nổi dậy chống quân xâm lược Đông Hán, qua những câu thơ trong cuốn Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái:

Bà Trưng quê ở Châu Phong
Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên
Chị em nặng một lời nguyền
Phất cờ nương tử thay quyền tướng công
Ngàn tây nổi áng phong trần
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên
Hồng quần nhẹ gót chinh yên
Đuổi ngay Tô Định, dẹp yên Biên Thành
Đô kỳ đóng cõi Mê Linh
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta ...

Triệu Nữ Vương cũng được sử gia mô tả:

Đầu voi phất ngọn cờ vàng

khi bà xông trận đánh quân Đông Ngô. Chí khí của bà thường bộc lộ trong câu nói bất hủ: " Tôi muốn cỡi cơn gió mạnh, đạp làn sóng dữ, chém cá tràng kình ở biển Đông, quét sạch bờ cõi để cứu dân ra khỏi nơi đắm đuối, chứ không thèm bắt chước người đời cúi đầu cong lưng làm tì thiếp cho người ta..."
Thời vua Lý Thánh Tông mang quân đi đánh Chiêm, ở triều đình Ỷ Lan Thái Phi làm giám quốc với sự phụ chính của đại thần Lý Đạo Thành. Ỷ Lan vốn là một thôn nữ ở Bắc Ninh, vua Lý Thánh Tông gặp được nhân dịp tuần du, bèn tuyển vào cung. Sau một thời gian được trau dồi văn hóa, với trí thông minh thiên phú, đã tỏ ra là một phụ nữ có khả năng tham chính đắc lực, giúp điều hành việc nước, trong lúc vua Lý Thánh Tông bận chinh chiến phương xạ Ỷ Lan có thể xem là một phụ nữ đầu tiên làm chính trị trong lịch sử nước ta, kể cả lúc vua Lý Thánh Tông còn trị vì, cho đến khi vua Lý Nhân Tông ( con của Ỷ Lan ) lên ngôị Trong việc phá Tống bình Chiêm dưới triều Nhân Tông, do Lý Thường Kiệt và các đại thần chủ trương, cũng có sự góp ývà quyết định của Ỷ Lan Thái Phi, tham chính bên cạnh ấu quân.
Người con gái đất Việt có lúc gặp phải số phận bi đát khi sinh vào thời buổi nhiễu nhương, ly loạn và bị áp đặt bởi mưu đồ chính trị như trường hợp Huyền Trân Công Chúa mà vua Trần Anh Tông đem gả cho vua Chiêm. Sự gả bán này cũng là một công lao đóng góp cho đất nước của công chúa với hai vùng đất Ô, Lý, mở rộng bờ cõi, nhưng cũng là niềm đau khổ về mặt tình cảm của người con gái ở thời phong kiến, không được tự do chọn ý trung nhân cho mình. Hoàng Cao Khải trong bài" Vịnh Huyền Trân " có ý thiên về lợi quyền chính trị:

Đổi chác xưa nay khéo nực cười
Vốn đã không mất lại thêm lời
Hai châu Ô Lý vuông nghìn dặm
Một gái Huyền Trân đáng mấy mươi ...

Nhưng thời trước, Ngô Thời Nhiệm, một danh sĩ Bắc Hà, lại có cảm nghĩ khác về thân phận của vị công chúa " cành vàng lá ngọc ", qua bài " Tích Vũ Huyền Trân " ( Mưa Lệ Huyền Trân ):

Huyền Trân sái tận u sầu lệ
Hóa tác xuân mai dạ vũ thanh ...
Nhị châu sính vật cung thiên cổ
Vạn lý giai nhân ngộ nhất sinh ...
Dịch:

Cành mai xuân vắng tiếng mưa đêm
Ấy lệ Huyền Trân trĩu muộn phiền ...
Hai châu lễ vật công muôn thuở
Muôn dặm đời hoa lỡ phận riêng ...

Trong cuộc chiến tranh Nguyễn - Tây Sơn, vua Quang Trung có một số tướng lãnh trung thành, dù sau khi vua mất, họ vẫn hết lòng phò tá vua con là Cảnh Thịnh ( Nguyễn Quang Toản ). Trong số đó có Trần Quang Diệu và vợ là Bùi Thị Xuân. Tháng giêng năm Nhâm Tuất ( 1802 ), vua Cảnh Thịnh đem quân vào Nam đánh nhà Nguyễn, tấn công lũy Trấn Ninh, nhưng thất bạị Vua định triệt thoái quân, nhưng nữ tướng Bùi Thị Xuân vẫn thúc voi tiến đánh, gan dạ phi thường, nhưng rồi cũng rút lui theo chiến cuộc bất thành của quân Tây Sơn ở các nơi khác.
Khi vua Quang Trung ra Bắc diệt Trịnh phù Lê, được vua Lê Hiển Tông gả con gái là Ngọc Hân Công Chúạ Ngọc Hân có tài thi văn, khi vua Quang Trung mất đã sáng tác bài " Ai Tử Vãn " để khóc vua, lời văn rất thống thiết, mô tả thân thế và sự nghiệp của vua, có thể tóm gọn trong câu thơ:

Mà nay áo vải cờ đào
Giúp dân dựng nước biết bao công trình

Suốt hơn bốn ngàn năm lịch sử, không thời nào mà không có các vị anh thư nữ kiệt, hữu danh hoặc vô danh, có lẽ không nhiều, đóng góp vào công cuộc cứu nước, có tầm vóc hào hùng như các bậc nam tử.
Thời Pháp ra Bắc đánh dẹp quân Văn Thân, Đề Thám ( tức Hoàng Hoa Thám ) lập chiến khu ở vùng Yên Thế, xưng hùng một phương, được dân gian mệnh danh là " Hùm Thiêng Yên Thế ". Người Pháp phải trải nhiều năm gian lao mới dẹp được. Trong số tướng tá tùy tùng, Đề Thám có một nữ kiệt, tức là bà vợ ba của ông, đã nhiều phen " phất cờ nương tử " làm cho các võ tướng Pháp phải khiếp phục.
Dù người Pháp đã hoàn tất việc xâm chiếm, tổ chức việc cai trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam, nhưng người Việt vẫn liên tục nổi dậy đấu tranh giải phóng ách nô lệ cho nhân dân.
Trong các tổ chức phục quốc, nổi tiếng có Việt Nam Quốc Dân Đảng do Nguyễn Thái Học cầm đầụ Trong đảng có một số nữ đồng chí từng sát cánh với lãnh tụ Nguyễn Thái Học, đáng kể nhất là hai chị em Nguyễn Thị Bắc và Nguyễn Thị Giang. Cô Giang về sau được đảng tác thành làm vị hôn thê của Nguyễn Thái Học. Cô Giang vốn là một giáo viên đã giúp Nguyễn Thái Học trong nhiều công tác hoạt động cách mạng chống Pháp. Khi Nguyễn Thái Học bị xử tử hình, cô đã dùng súng tự vẫn theo sau đó. Trước khi chết, cô đã để lại hai bức thư tuyệt mệnh. Một bức gởi cho cha mẹ để vĩnh biệt, bức kia gởi cho Nguyễn Thái Học, có những câu:

" Anh là người yêu nước !Không làm tròn được nghĩa vụ cứu nước ! Anh giữ lấy linh hồn cao cả để về chiêu binh rèn lính ở dưới suối vàng ! Phải chịu đựng được nhục nhã mới có ngày mong được vẻ vang ! Các bạn đồng chí phải sống lại sau anh để đánh đổ cường quyền mà cứu lấy đồng bào đau khổ ! "

Kèm hai bức thư, còn có một bài thơ với những câu đầy xúc cảm, nhưng không kém vẻ kiêu hùng:

Thân không giúp ích cho đời
Thù không trả được cho người tình chung
Dẫu rằng đương độ trẻ trung
Quyết vì dân chúng thể lòng hy sinh ...
Bây giờ hết kiếp thơ đào
Gian nan bỏ mặc đồng bào từ đây ...
Đảng kỳ phất phới trên thành
Tủi thân không được chết vinh dưới cờ ...

Cũng như một số dân tộc Á Đông khác là Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, người Việt vốn yêu chuộng văn chương, thi phú. Thời Nho học toàn thịnh, chịu ảnh hưởng Trung Hoa, nhiều nho sĩ trước tác các tác phẩm văn xuôi cũng như văn vần bằng chữ Hán. Qua đến đời Trần, có ông Hàn Thuyên đặt ra Hàn Luật ( dựa theo Đường Luật ), khởi đầu sáng tác thơ Nôm. Dưới triều Hồ, được Hồ Quý Ly khuyến khích, cũng như triều vua Quang Trung trọng dụng chữ Nôm, phong trào sáng tác văn, thơ Nôm phát triển. Làm giàu kho tàng văn học chữ Nôm, người phụ nữ Việt đã đóng góp không ít công trình có giá trị.
Dưới đời Trịnh, Hồng Hà Nữ Sĩ ( tức là Đoàn Thị Điểm ) đã chuyển tác phẩm " Chinh Phụ Ngâm Khúc " bằng Hán Văn của Đặng Trần Côn thành một áng thơ Nôm tuyệt tác. Thời đó, Đặng Trần Côn đã cảm thông thân phận người phụ nữ trong thời loạn:

Thiên địa phong trần
Hồng nhan đa truân
Du du bỉ thương hề
Thùy tạo nhân ?

( Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm từng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này ? )

Và mô tả hoàn cảnh bi thương của họ trong thời loạn, với những cảm xúc chân thành, nên tác phẩm này được lưu truyền lâu dài về saụ
Tương truyền khi bà Đoàn Thị Điểm nổi tiếng là một phụ nữ có tài văn thơ, ông Đặng Trần Côn có đưa tặng bài thơ. Bà xem xong cười nói: " Trẻ con mới cắp sách đi học, đã biết gì ! " Ông Côn nghe vậy tức mình, quyết học thành tài để có dịp rửa hận. Mấy năm đèn sách, ông trở nên một tay học vấn uyên bác, sáng tác tập " Chinh Phụ Ngâm Khúc " bằng Hán Văn và tìm đến trao cho bà Điểm xem. Bà Điểm khen hay, phục tài ông Côn, rồi dụng công dịch ra quốc âm và bản dịch này cũng được truyền tụngđến ngày naỵ

Thời Trịnh Mạc, với cuộc chiến tranh trường kỳ đã tạo nên một xã hội rối loạn, phức tạp. Con người chỉ biết vui chơi, đùa cợt, để quên cuộc sống bấp bênh, vô thường. Hoàn cảnh này đã tạo nên một hiện tượng văn học kỳ lạ: nữ sĩ Hồ Xuân Hương, thường được mệnh danh là Bà Chúa thơ Nôm. Thơ của bà hầu hết đều mang tính chất tục, nhưng nền văn học Việt Nam không chối bỏ các tác phẩm có giá trị nàỵ Thật vậy, trong văn học nước ta chưa có một thi nhân thứ hai nào làm được những bài thơ độc đáo như vậỵ Dù thơ Hồ Xuân Hương diễn tả những đề tài tục, nhưng có một kỹ thuật cấu tạo thơ tài tình, cả hình thức lẫn nội dung, nên đọc lên người ta cảm nhận tính chất văn chương hơn là phàm tục. Thơ nữ sĩ họ Hồ đáp ứng nhu cầu giải tỏa những ẩn ức dục tính của nhân gian, cả giới bình dân lẫn giới bác học, mà vì luân lý đạo đức người ta không dám nói ra, nên thơ của bà vẫn được người đời ưa chuộng. Một số thơ Hồ Xuân Hương mang tính chất đả kích những tật hư, thói xấu của các hạng người trong xã hội ( như bài đề Đền Sầm Nghi Đống, Sư bị Ong Châm, Đề Đền Trấn Võ, Bỡn Học Trò, Mắng Chiêu Hổ ...) Một số bài khác là tiếng than thân trách phận giùm cho người phụ nữ trong nhiều hoàn cảnh ( các bài Làm Lẽ, Quả Mít, Bánh Trôi Nước, Con Ốc, Bỡn Bà Lang Khóc Chồng... ) Quả thật, các tác phẩm của nữ sĩ Hồ Xuân Hương là một sự nghiệp văn học " không tiền khoáng hậu ", một phần do tài năng sáng tác của nhà thơ, một phần do cấu trúc đặc biệt của ngôn ngữ Việt Nam ( về lối ẩn dụ, nói lái, lời thanh ý tục hoặc ngược lại v..v... )
Cùng thời, dưới triều Nguyễn, một nữ sĩ khác, Bà Huyện Thanh Quan, hầu như đối lập với với nữ sĩ Hồ Xuân Hương, qua những tác phẩm thi ca có tính nghiêm cẩn, đoan trang. Thơ bà không nhiều, chỉ có một số bài, nhưng bài nào cũng có giá trị, với tinh thần hoài cổ và tràn đầy cảm xúc. Học sinh bậc trung học nào ở Việt Nam ngày trước lại không nhớ đến bài thơ " Thăng Long Thành Hoài Cổ " đã học trong giờ Việt văn:

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa: hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài: bóng tịch dương
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương
Ngàn năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.

hoặc không quên những vần thơ đầy tính chất yêu nước trong bài " Qua đèo Ngang tức cảnh ":

... Nhớ nước đau lòng con quốc quốc (chim cuốc)
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia (chim đa đa)
Dừng chân đứng lại: trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta

Bà Thanh Quan, đến nay chưa rõ tên thật, có tài liệu ghi là Nguyễn Thị Hinh, hiệu Nhàn Khanh, là vợ của ông Lưu Nguyên Uẩn ( có bản ghi là Lưu Nghị ), từng làm tri huyện ở huyện Thanh Quan ( tỉnh Thái Bình, Bắc Việt ) nên người ta thường gọi bà là Bà Huyện Thanh Quan. Bà vốn hay chữ, có thời kỳ được vời vào cung nhà Nguyễn ( hình như triều Minh Mạng ) làm Cung Trung Giáo Tập để dạy cho các công chúa và các cung phị
Tương truyền có lần ông huyện đi vắng, bà Thanh Quan lên ngồi ở công đường xem giấy tờ, chiếu biểu hộ chồng cùng xét những việc có liên quan đến dân chúng trong huyện. Dịp này, thư lại đưa đến một quả phụ với đơn xin cải giá. Với tấm lòng rộng lượng, thông cảm người cùng giới, bà phê ngay vào đơn:

Phó cho con Nguyễn Thị Đào
Nước trong leo lẻo cắm sào đợi ai
Chữ rằng xuân bất tái lai
Cho về kiếm chút kẻo mai nữa già.

Cùng trường hợp bà Thanh Quan, có bà Nguyễn Nhược Thị là một phụ nữ có học thức rộng, dưới triều vua Tự Đức được tuyển vào cung và từng dạy học trong nội đình. Nhân mục kích việc thất thủ kinh đô Huế năm Ất Dậu ( 1885 ), vua Hàm Nghi phải bôn tẩu, bà soạn tập " Hạnh Thục Ca " ( Bài ca vào đất Thục ), mô tả việc lánh chạy của vua ra khỏi kinh thành và tình trạng khốn khổ của dân chúng lúc bấy giờ, cùng chỉ trích các quyền thần đã gây nên tình trạng đó.
Thời kỳ Pháp thuộc, Việt ngữ thông dụng, các nữ sĩ đóng góp công trình thi ca cho văn học Việt Nam khá nhiềụ Ở Bắc, có bà Cao Ngọc Anh, bà Tương Phố, bà này từng nổi tiếng với tập " Giọt Lệ Thu ". Ở Nam, có bà Sương Nguyệt Ánh (con ông Nguyễn Đình Chiểu), từng làm chủ báo " Nữ Giới Chung ".
Trong nền văn học lãng mạn vào thập niên 1930, có những nhà thơ nữ nổi tiếng như Vân Đài, Hằng Phương, Mộng Tuyết, Anh Thơ, Thu Hồng, Ngân Giang, T.T. Kh một thời gây tiéng tăm trong làng văn với bài thơ " Hai Sắc Hoa Ti-Gôn "; Quỳnh Dao có mấy vần thơ duyên dáng mô tả các nàng thôn nữ ở Huế:

Một hàng tôn nữ cười trong nón
Sông mở lòng ra đón bóng yêu

Người phụ nữ Việt Nam từng lưu lại những tấm gương cao đẹp trong lịch sử với các hoạt động cứu quốc, trong văn học với những trước tác tuyệt vờị Đó là những phụ nữ hữu danh.
Thời xưa, trong cuộc sống hằng ngày ở gia đình, người phụ nữ Việt Nam bình thường có những đức tính tiêu biểu cho truyền thống dân tộc: tam tùng ( tại gia tùng phụ, xuất giá tùng phu, phu tử tùng tử ) và tứ đức ( công, dung, ngôn, hạnh ). Dù các đức tính này chịu ảnh hưởng của lễ giáo Trung Hoa, nhưng khi thâm nhập vào đất Việt lâu đời cũng trở thành những thuần phong mỹ tục của người Việt. Thời nay, các đức tính trên không tồn tại ở đa số phụ nữ, nhất là tam tùng, nhưng tứ đức vẫn còn nét tô điểm cho cái đẹp vừa tinh thần vừa thể chất, nói cách khác đó là cái duyên dáng của người phụ nữ Việt Nam. Từ xưa, dân gian Việt vốn yêu thích mẫu người con gái:

Một thương tóc bỏ đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Ba thương má lúm đồng tiền
Bốn thương răng lánh hạt huyền kém thua
Năm thương cổ yếm đeo bùa
Sáu thương nón Thượng quai tua dịu dàng
Bảy thương nết ở khôn ngoan
Tám thương ăn mặc lại càng thêm xinh
Chín thương cô ngủ một mình
Mười thương con mắt hữu tình với ai (Ca Dao)

Trải qua thời đại, mẫu người này không hoàn toàn thích hợp, nhưng cũng còn biểu lộ ít nhiều vẻ đẹp đa diện của người phụ nữ Việt Nam. Trong văn chương, ta còn có thể thấy vẻ đẹp thể chất của người phụ nữ. Từ làn môi, khoé mắt cho đến hình dung, cốt cách.
Yên Thao, nhiều năm sống đời chiến binh vẫn không quên được đôi mắt đen của người yêu, vốn là nữ sinh thường đi guốc mộc theo thời trang thuở đó:

Năm xưa em nữ sinh
Mắt huyền lung linh
Đu đưa mái tóc
Tiếng guốc thanh bình

Hay Quang Dũng, lúc hành quân cũng nhớ đến đôi mắt, có lẽ cũng đen, của người con gái Sơn Tây, chứa nhiều u uẩn mà đượm nét buồn:

Đôi mắt người Sơn Tây
U uẩn chiều lưu lạc ...
Mắt em dìu dịu buồn Tây phương.

hoặc mơ về vóc dáng của người thiếu nữ Hà Nội, với vẻ kiều diễm tự nhiên, không nhờ hương phấn:

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Người thiếu nữ Việt Nam đẹp ở mái tóc thề ( Tóc thề vừa chấm ngang vai - Kiều ), hoặc đen mướt sắc mun, buông dài xuống tận lưng, khi ngồi hong tóc vừa gội xong:

Trời đẹp như trời mới tráng gương
Chim ca tiếng sáng rộn ven tường
Có ai bên cửa ngồi hong tóc
Cho chảy lan thành một suối hương
(Hồ Dzếnh)

Mái tóc đen huyền gợi nên hình ảnh đầy thơ mộng cùng với làn môi không tô son:

Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc
Vài chút trăng say đọng ở làn môi
(Bích Khê)

Cái tơ cái tóc là góc con người, như tục ngữ thường nói, cho nên người phụ nữ Việt luôn chăm sóc mái tóc, chải chuốc kỹ lưỡng hàng ngày như chị Hoài, một nhân vật nữ đặc biệt của Huế, trong tác phẩm " Tóc Chị Hoài " của Nguyễn Tuân.
Tóc mây với dáng bồng bềnh của người con gái Việt cũng được yêu chuộng:

Tóc mây một món chiếc dao vàng
Ngàn trùng e lệ phụng quân vương
(Đoàn Phú Tứ)

Mây chẳng khi nào chẳng có nhiều
Trên trời cao bay những sớm chiều
Nhưng trong đời tôi nào thấy nữ
Mây bồng trên mái tóc tôi yêu
(Huyền Lang)
Người phụ nữ Việt còn có dáng vóc đẹp với lưng thon, bờ vai mềm:

Phong thư tình ngây dại
Nhưng vai mềm môi ngoan
(Hoàng Hy Thanh)

với đôi bàn tay có ngón thuôn búp măng:

Em đẹp bàn tay ngón ngón thon
Em duyên đôi má nắng hoe tròn
(Huy Cận)

Và bước đi tự nhiên mà ẩn nhiều vẻ đẹp rạng rỡ:

Em bước điềm nhiên không vướng chân
Anh đi lững đững chẳng theo gần
(Xuân Diệu)

Nở bừng ánh sáng anh đi đến
Gót ngọc dồn hương bước tỏa hồng
(Huy Cận)

Thời hiện đại, dù người ta chuộng phụ nữ có vẻ đẹp thể chất mạnh khỏe do luyện tập thể dục, như Hiền, một nhân vật nữ trong truyện " Trống Mái " của Khái Hưng, nhưng cốt cách hình dung yểu điệu:

Nét buồn như cúc điệu gầy như mai
(Kiều)

vẫn là đối tượng thẩm mỹ của thi ca, bởi vì thể chất này có vẻ thích hợp với chiếc áo dài Việt Nam.
Thật vậy, trang phục gợi nhiều đến sự chú ý về nét duyên dáng của người phụ nữ. Và phần chính của trang phục phụ nữ Việt là chiếc áo dàị Và chiếc áo dài này đang có nhiều hình thức qua không gian và thời gian. Ngày xưa, đàn bà nông thôn lẫn thành thị mặc áo tứ thân:

Nào đâu cái yếm lụa sồi
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân
Nào đâu cái áo tứ thân
Cái khăn mỏ quạ cái quần nái đen
(Nguyễn Bính)

Qua thời thuộc Pháp, có loại áo dài cải cách " Lemur ", theo mẫu của họa sĩ Cát Tường, dành cho phụ nữ tân thờị Áo này khá hấp dẫn với các thiếu nữ theo mới thời ấỵ Dần dần xuất hiện loại áo dài cao cổ, thấp cổ, không cổ, cho đến ngày nay thì rất nhiều kiểu áo dài khác lạ được giới thiệu ở các buổi trình diễn thời trang của người Việt ở nhiều nơi trên thế giớị Đặc biệt, chiếc áo dài Việt Nam có vẻ duyên dáng, nên thơ khi tà áo phất phơ trong gió:

Em đi trong bóng chiều sa
Hay trong nắng sớm cho tà áo bay
Phất phơ cuối nẻo trời mây
Trời xanh mây trắng cho đầy mộng mơ
(Mây Tần)

Một hôm trận gió tình yêu lại
Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ
(Huy Cận)

Phụ nữ miền Bắc và Trung thường mặc áo dài, phụ nữ miền Nam đến nay còn chuộng áo ngắn, tức là " áo bà ba ", cũng có vẻ đẹp riêng. Về giới nữ sinh, thì các trường nữ học thường buộc họ mặc đồng phục với chiếc áo dài xanh, tím hoặc trắng. Ngày trước, nữ sinh trường Đồng Khánh, Huế có thời kỳ mặc áo dài tím, xanh, trắng, trường Trưng Vương, Gia Long Sài Gòn cũng vậy, tùy theo qui định của nhà trường. Tà áo dài nữ sinh còn để lại nhiều vang bóng trong thơ:

Áo trắng đơn sơ mộng trắng tron
Hôm xưa em đến mắt như lòng
Nở bừng ánh sáng em đi đến
Gót ngọc dồn hương bước tỏa hồng
(Huy Cận)

Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc
Áo nàng xanh anh mến lá sân trường
Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương
Anh pha mực cho vừa màu áo tím
(Nguyên Sa)

Màu áo tím chính là màu của tình thơ mộng:

Tôi cài trên áo nàng
Màu hoa như màu áo
Thi vị hóa cuộc đời
Làm tình yêu diễm ảo
(Huyền Lang)

Và đặc biệt, một chiếc áo phụ nữ khác không kém vẻ quyến rũ với chất, màu:

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
(Nguyên Sa)

Người phụ nữ Huế, nhất là nữ sinh, còn được điểm thêm vẻ duyên dáng với tà áo trắng và chiếc nón bài thơ:

Chiếc nón bài thơ sáng ánh chiều tà
Vẽ lên không dáng người thơ khép nép
Và hình dung cả một miền Huế đẹp
Mà thời gian đã khép một thời xưa
(Thùy Việt Lân)

Hình ảnh người phụ nữ còn để lại nhiều nét đáng yêu trong ca dao ở đồng nội, nơi họ từng vất vả với công việc đồng áng, nhưng vẫn biểu lộ một đời sống tình cảm dồi dào:

Thương nhau cởi áo cho nhau
Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay

Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Ngó về quê mẹ ruột đau chín chìu

Rồi mùa tót rạ rơm khô
Bạn về quê bạn biết mô mà tìm

Thuyền về Đại Lược duyên ngược Kim Long
Đến đây là chỗ rẽ của đôi lòng
Gặp nhau còn biết trên sông bến nào

Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo
Thập bát giang cũng lội tam thập lục đèo cũng qua

... Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra

Người phụ nữ Việt ngày xưa, nông thôn cũng như thành thị, có nhiều đức tính cao quí. Ngoài việc chăm lo ruộng nương, đảm trách nội trợ, họ còn có bổn phận thờ chồng, nuôi dạy con:

Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai
(Chinh phụ Ngâm)

Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam
Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân
(Chinh Phụ Ngâm)

Cái cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
Em về nuôi cái cùng con
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng
(Ca Dao)

Nick
04-23-2003, 11:37 AM
Hi, BungRieu! Dạo này em khoẻ không? Em bớt buồn thì ACE ở đây vui rồi, tưởng đâu em bỏ mấy ACE đi luôn chứ :) Anh Nick là người đầu tiên trong này welcome em back :) :flower: :flower: Vậy là em phải có thưởng gì cho anh đó nha. Những bài viết của em đều rất có giá trị giúp đở ACE trong VCB, Anh chúc em luôn vui vẻ và trẻ đẹp hén :)

ShyGirl
04-23-2003, 11:40 AM
Welcome bé Bún back, muahhhhhhhhhhhhhhhh nè, ui ui, bài viết dài quá, từ từ SG rảnh SG đọc . :D . Sis cũng giỏi ghê, đi sưu tầm nhiều bài viết về văn học VN, hihihihihi . Muah sis nè :kissing::kissing::kissing::kissing:

TimCT
04-23-2003, 12:14 PM
Welcome back BR:) :) :)

Take a great care, BR.

Dundy
04-23-2003, 12:27 PM
Bé BR à!
Em có biết là em làm ngập VCB hết 2 ngày đó không? :)
Bây giờ đi ra, đi vào cũng còn ... ướt chân. :D
Mai mốt đừng ... nhè như vậy nữa nghen! :flower:

BungRieu
04-23-2003, 12:33 PM
Anh Nick : hông có quà cho Anh đâu , .... dzẫn còn hơi buồn buồn ... cám ơn Anh đã là the first one welcomed BR ...
------------------------------
Chi MC ,
Cám Ơn chị nha ... hông có gì đâu Chị ơi ....
BR đi lang thang ... thấy hay .. tiê.n thì mang về để moị ngươì cùng coi ... đỡ mất công moị ngươì phải đi lang thang như BR .... ;)
-----------------------------
Anh TimCT chúc mừng Anh nha ....
Cám ơn Anh đã welcomed BR ....

--------------------------------

Anh Dundy : tự BR lây chị PD đó ...
mà thôi ... con gaí mà ... khóc một chúc là sẽ quên ... và không có để bụng đâu ..

PHU` DU
04-23-2003, 12:47 PM
Chị PD chạy ra hun má bé BR 1 cái chụt :kissing:
Đợi chiều chị về nhà sẽ nấu cho bé 1 tô Bún Riêu thiệt ngon nhe :p

XiMuiCaNaMeChua
04-23-2003, 12:49 PM
very good info sis thanks sis :)

BungRieu
04-23-2003, 12:50 PM
Hi chị PD ...:wave:
lần này em cũng cho chị hun nữa cái thui ...
Y như một năm về trước vậy đó ....
Cám ơn Chị nha .... bớt rùi ....:flower:

qcluu
04-23-2003, 12:54 PM
Chào mừng BungRieu trở lại VCB. Riêng anh rất mừng khi thấy em đỡ buồn đi, và không những đã trở lại VCB mà còn đóng góp thêm bài vở liền. Cám ơn em!!! Giấy ngắn tình dài.... Mong em hiểu!!!

Chúc em luôn vui và luôn tìm được sự thoải mái trong gia đình VCB.
Anh qcluu

DTB
04-23-2003, 02:05 PM
Woooo....Hooooo...... Wẹo cằm bé Búng riêu đã trở lại với ACE VCB và đã bớt buồn ba cái chuyện........ ảo. :D

Chúc em vui vẽ hoài hoài.

:dance: :dance: :dance:

allena
04-23-2003, 02:06 PM
Giỏi lắm BR...chị A chào mừng em :) :flower:

BungRieu
04-23-2003, 03:20 PM
Chào Anh QCluu ...
-------------------------------
Chào Anh DTB .....
---------------------------
chào chị XiMuiCaNaMeChua
------------------------------------
Chào chị A ....

Cám ơn các Anh Chị nhiều ...

boteo
04-23-2003, 03:38 PM
Hổng biết Bungreu buồn buồn chuyện gì. Bt góp 1 bài thơ cảm tạ phụ nữ của nhà văn, thơ 2 dòng máu (cha Tàu, mẹ Việt) Hồ Dzếnh:

Cảm xúc

cô gái Việt Nam ơi!
từ thuở sơ sinh lận đận rồi
tôi biết tình cô u uất lắm
xa nhau đành chỉ nhớ nhau thôi

cô chẳng bao giờ biết bướm hoa
má hồng mỗi tiết mỗi phôi pha
khi cô vui thú là khi đã
bồng bế con thơ đón tuổi già

cô gái Việt Nam ơi!
ngọn gió thời gian đổi hướng rồi
thế hệ huy hoàng không đủ xóa
nghìn năm vằng vặc ánh trắng soi

tôi đến đây tìm lại bóng cô
trở về đường cũ hái mơ xưa
rau sam vẫn mọc chân rào trước
son sắc lòng cô vẫn đợi chờ

dãi lúa cô trồng nay đã tươi
gió xuân ý nhị vít bông cười
ai hay lòng kẻ từng chăm lúa
trong một làng con đã héo rồi

cô gái Việt Nam ơi!
nếu chữ "hy sinh" có ở đời
tôi muốn nạm vàng muôn cực khổ
cho lòng cô gái Việt Nam tươi

PHU` DU
04-23-2003, 04:06 PM
Chị có tô Bún riêu mang tới cho em nè :kissing:
Ăn cho ghiền... để mai mốt không đòi đi "bụi đời"nữa nghe chưa? (J/K) :p

Dundy
04-23-2003, 04:48 PM
Ngon quá! Ðể anh ăn trước cho BR ... nhè chơi ! :) :p
Sao tự nhiên anh lại muốn chọc cho BR ... nhè nữa! :D

BungRieu
04-24-2003, 01:37 AM
Ca'm ơn Anh bồ tèo ... Anh chọn bài thơ này hay lắm đó
... càng đọc càng thấy hay ... Anh rất có ý khi chọn bài thơ này để cho BR ... BR biết mà ...
_____________________________

Cám ơn chị PD nha ... sáng sớm mà đưọc 1 tô bún nhỏ ngon lành vậy là nhứt trên đời ...
chúc Chị vui ...
-----------------------------------------------
Anh DD ...

BR chỉ buồn và nhè vì tự buồn với chính mình vì đã ngây thơ ... thế thôi .

Anh không có khả năng để có thể làm cho BR nhè được đâu ...

Muốn thử nữa hông ? ... Anh chọn 1 đề tài văn học VN nào đi rồi Anh và BR cãi tiếp ... coi thắng bại ra sao ...

Mà khoan đã khoảng 6 tuần nữa hãy post rồi tranh luận ... BR bận học thi lắm (BR đang ở năm chót trung học ) ...
BR lúc này không rảnh nhiều bằng Anh đâu .

Chúc Anh vui ...

CAptain DaLaZBoi
04-24-2003, 01:58 AM
Originally posted by BungRieu
mà thôi ... con gaí mà ... khóc một chúc là sẽ quên ... và không có để bụng đâu ..

Nho*' ddu*`ng que^n cap nhe :D :) :)

boteo
04-24-2003, 08:35 AM
Originally posted by BungRieu
Ca'm ơn Anh bồ tèo ... Anh chọn bài thơ này hay lắm đó
... càng đọc càng thấy hay ... Anh rất có ý khi chọn bài thơ này để cho BR ... BR biết mà ...
Cái ý ... ẹ của bt mần răng dzị :rolleyes: nói nhỏ cho bt nghe với .... xem có đúng không:newwink: j/k.

Đùa đùa với Bungreu hy vọng không quá lố. Không có chi hết Bungreu, hy vọng Bungreu hết buồn rồi viết nhiều nhiều cho ACE cưng như bt đọc ké.

BungRieu
04-24-2003, 02:46 PM
Originally posted by boteo
Cái ý ... ẹ của bt mần răng dzị :rolleyes: nói nhỏ cho bt nghe với .... xem có đúng không:newwink: j/k.

Không oánh mà tự khai .... Anh đã thú nhận là Anh có ý (BR đã để chữ đậm đó) ...dzị cái "ý ... ẹ " mà Anh đã thú nhận đó ... là gì dzị hủh Anh .??? . BR hỏi ngược lại Anh đó ...

Khỏi trả lời BR hiểu ý là được rùi ... đâu cần fải diễn tả ra mần chi ...
BR người VN right ? (khổ 1) .. BR sinh ở bên này ( khổ 2) ... BR là con gái (khổ 3) ... còn nhiều nữa . Cứ' đọc bài thơ đó rồi tự suy nghĩ thì sao thấy nó đúng wá . Thêm cái khố lớn nhất là kô có ai thương thiệt hết á ....(kô thuơhg =KHỔ ...)

boteo
04-25-2003, 03:00 PM
Hihi cái ý của bt đúng là ẹ thiệt há. Bt đâu có ngờ bài mượn hoa cúng phật của bt lại hợp ý Bungreu dzữ dzị. Topic này về phụ nữ Việt Nam nên bt góp thêm 1 bài thơ ca tụng đức tính tam tòng cao cả của người đàn bà Việt Nam. Chỉ đơn giản như đang giỡn thế thôi. Ai ngờ, lờ khờ có qúi nhân phù trợ, nhờ vậy mà biết Bungreu sinh ra nơi xứ người. Đọc những bài viết của Bungreu khó ai mà tin được diều này. Dễ nể thiệt. Bt cởi dày, ngã mũ, nghiêng người chào Bungreu 1 cái.

Xém quên, "chưa" đâu có nghĩa là "không" há.

TruSiNang
05-02-2003, 12:51 PM
Thơ Phan Bội Châu viết cho con:

Nầy con,

Các con ơi ! Cha mầy e chết rầy mai, có lẽ với mẹ mầy không được gặp mặt nhau nữa ! Nhưng nếu trời thương ta, cho hai ta đồng thời gặp nhau ở suối vàng cũng vui thú biết chừng nào .

Nhưng đau đớn quá ! Mẹ mày e chết trước ta. Ta hiện giờ nếu không chép sơ những việc đời Mẹ mày cho các con nghe, thời các con rồi đây không biết rõ Mẹ mày là người thế nào, có lẽ bảo Mẹ ta cũng như người thường thả cả .

Than ôi ! Ta với Mẹ mày, vợ chồng “thật” gần năm mươi năm, mà quan quả “giả” gần bốn mươi năm (quan:vợ chết, quả:chồng chết). Khi sống chẳng mấy hồi tương tụ; mà đến khi chết lại chỉ tin tức nghe hơi ! Chúng mày làm con người, đã biết nỗi đau đớn của Cha mày với Mẹ mày, chắc lòng mấy đứa con thế nào cũng an thích được .

Bây giờ ta nhơn lúc sắp sửa chết, mà chưa chết, đem lịch sử Mẹ mày nói với mày .

Mầy nên biết, nếu không có Mẹ mày, thời chí của Cha mày đã hư hỏng những bao giờ kia .

Cha ta với Tiên nghiêm (cha) của Mẹ mày xưa, đều là nho cũ rất nghiêm giữ đạo đức xưa . Mẹ mày lớn hơn ta một tuổi. Hai ông đính thông gia với nhau từ khi con còn nên một . Tới năm Mẹ mày hai mươi ba tuổi, về làm dâu nhà ta . Lúc ấy, Mẹ ta bỏ ta đã tám năm, trong nhà tuy có cha già với em gái bé . Ta vì sinh nhai bằng nghề dạy trẻ, luôn năm ngồi ở quán phương xa, cái gánh sớm chiều gạo nước gởi vào trên vai Mẹ mày. Cha ta đối với dâu con rất nghiêm thiết, nhưng chẳng bao giờ có sắc giận với Mẹ mày. Cha ta hưởng thọ được bẩy mươi tuổi, nhưng bệnh nặng từ ngày sáu mươi. Liên miên trong khoảng mười năm. Những công việc thuốc thang hầu hạ bên giường bệnh, cho đến các việc khó nhọc nặng nề mà người ta không thể làm, thảy thảy một tay Mẹ mày gánh cả . Kể việc hiếu thờ ông gia, như Mẹ mày là một việc hiếm có vậy .

Trước lúc cha ta lâm chung, ước một phút đồng hồ, gọi Mẹ mày bồng mày tới cạnh giường nằm, chúc ta rằng: “Ta chết rồi, mày phải hết sức dạy cháu ta, và hết sức thương vợ mày . Vợ mày thờ ta rất có hiếu, chắc trời cũng làm phúc cho nó.” Xem lời nói lâm chung của cha ta như thế, cũng đủ biết nhân cách của Mẹ mày rồi .

Năm cha ta sáu mươi sáu tuổi, còn hiếm cháu trai, vì ta là con độc đinh (con trai duy nhất), nên cha ta cũng khát cháu lắm. Mẹ mày muốn được chóng sinh trai cho vừa lòng cha, nên gấp vì ta cưới thứ mẫu mày, chẳng bao lâu thì em mầy sinh. Trong lúc thằng cu mới ra đời, Mẹ mày gánh vác việc ôm ấp đùm bọc hơn một tháng. Cha ta được thấy cháu đầu hoan hỉ quá chừng. Thường nói với ta rằng: “Ta chỉ còn một việc chết chưa nhắm mắt, là mầy chưa trả nợ khoa danh mà thôi”. Mẹ mày nhân đó càng ân đức thứ mẫu mày, thân yêu hơn chị em ruột .

Kể đức nhân về ân ái với người phận em như Mẹ mày cũng ít có .

Cứ hai chuyện như trên, bảo Mẹ mày là Mẹ hiền về thời cựu chắc không quá đáng . Nhưng mà bắt buộc cho ta phải trọn đời nhớ luôn, thời lại vì có một việc: Nguyên lai nhà ta chỉ có bốn tấm phên tre suông, chẳng bao giờ chứa gạo tới hai ngày. Nhưng vì trời cho tính quái đặc: thích khoản khuếch (khoản dãi rộng rãi), hay làm ân. Hễ trong túi được đồng tiền, thấy khách hỏi tức khắc cho ngay. Thường tới khi từ trường quán về, ta tất mang luôn khách về nhà, khách hoặc năm sáu người, có khi mười người chẳng hạn, nhưng chiều hôm sớm mai, thiếu những gì tất hỏi Mẹ mày. Mẹ mày có gì đâu ! Chỉ dựa vào một triêng (gánh) hai thúng, từ mai tới hôm , mà hễ nghe chồng hỏi gì thời có nấy. Bổng dậy học của ta tuy có nhiều, nhưng chưa một đồng xu nào là tay Mẹ mày được xài phí. Khổ cực mấy cũng không sắc buồn; khó nhọc mấy cũng không tiếng giận. Từ năm ta ba mươi sáu tuổi, cho tới ngày xuất dương, những công cuộc kinh dinh việc nước, Mẹ mày ngầm biết thẩy, nhưng chưa hề hé răng một lời. Duy có một ngày kia, ta tình cờ ngồi một mình, Mẹ mày ngồi dựa cột, kế bên ta nói: “Thầy chắc toan bắt cọp đó mà ? Cọp chưa thấy bắt mà người ta đã biết nhiều sao thế ?” Mẹ mày tuy nói câu ấy, mà lúc đó ta làm ngơ, ta thiệt dở quá !

Bây giờ nhắc lại trước khi xuất dương, khoảng hơn mười năm. Nghèo đói mà bạn bè nhiều; cùng khốn mà ý chí vững, thiệt một phần nửa là nhờ ân Mẹ mày .

Tới ngày ta bị bắt về nước, Mẹ mày được gặp ta một lần ở thành tỉnh Nghệ, hơn nửa tiếng đồng hồ chỉ có một câu nói rằng: “Vợ chồng ly biệt nhau hơn hai mươi năm, nay được một lần giáp mặt thầy, trong lòng tôi đã mãn túc rồi, từ đây trở về sau, chỉ trông mong Thầy giữ được lòng Thầy như xưa, Thầy làm những việc gì mặc Thầy, Thầy không phiền nghĩ tới vợ con.”

Hỡi ơi ! Câu nói ấy ấy bây giờ còn phảng phất bên tai ta, mà té ra ủ dài năm tháng, chẳng một việc gì làm, chốc chẵn mười năm .

Phỏng khiến Mẹ mày mà chết trước ta, thời trách nghiệm của ta e còn nặng mãi mãi. Suối vàng quạnh cánh, biết lối nào thăm; đầu bạc trăm năm, còn lời thề cũ. Mẹ mày thật chẳng phụ ta, ta phụ Mẹ mày !

“Công nhi vong tư” chắc Mẹ mày cũng lượng thứ cho ta chứ .

Phan Bội Châu Kính Bút (1936)


Hình ảnh bà Thái Thị Huyên, qua lời kể chuyện của Phan Bội Châu, có thể được xem là biểu tượng của thế hệ phụ nữ Việt Nam theo truyền thống Nho phong ngày xưa, âm thầm gian khổ gánh vác toàn bộ công việc gia đình, để chồng có thể dồn mọi nổ lực lo việc đất nước. Ðúng như lời Phan Bội Châu đã viết: “Nghèo đói mà bạn bè nhiều, cùng khốn mà ý chí vững, thiệt một phần nửa là nhờ ơn Mẹ mầy” . Một nửa sự nghiệp của Phan Bội Châu là nhờ bà Thái Thị Huyên vững tay lo việc gia đình . Chẳng những riêng Phan Bội Châu, mà hầu như một nửa thành công của nhiều danh nhân Việt Nam và trên thế giới đều nhờ ơn các bậc hiền phụ .

Trần Gia Phụng

danden
11-18-2003, 12:17 AM
PHỤ NỮ VÙNG LÊN


Hà Nhân

Ngày 8 tháng 3 từ hơn 90 năm qua đã được chọn làm Ngày Phụ Nữ Quốc Tế để vinh danh vai trò của người đàn bà trong xã hội loài người.

Nhân dịp này xin có vài lời lạm bàn chia sẻ một số vấn đề về phụ nữ với quí độc giả.

Vấn đề quyền bình đẳng và các quyền lợi khác của người phụ nữ đã được đặt ra từ khá lâu trong lịch sử. Có lẽ từ khi loài người bắt đầu sống hợp đoàn thành từng gia đình và từng bộ lạc là đã có tình trạng áp bức, kỳ thị phụ nữ.

Bản chất nam giới là mạnh khỏe về thể xác, chủ động trong đời sống vợ chồng. Hầu hết giống đực các loài đều lãnh nhiệm vụ bảo vệ giống cái và ấu nhi tuy rằng con đầu đàn có khi là con cái. Sự phân biệt nam nữ, đi đến chỗ kỳ thị và áp bức là hậu quả dĩ nhiên trong đời sống hợp quần. Trong hàng trăm ngàn năm lịch sử của loài người, người phụ nữ chịu thiệt thòi nhiều trong thiên chức làm vợ và làm mẹ. Và những thiệt thòi này chỉ trở thành vấn đề tranh cãi khi loài người văn minh thêm trong khi phụ nữ ngày càng đóng vai trò tích cực hơn trong xã hội.

Ngay từ thời thượng cổ, phụ nữ không hẳn luôn luôn là phái yếu. Trái lại, chính cái yếu mềm của phụ nữ lại là vũ khí chinh phục nam giới, có khi chinh phục cả một triều đại và nắm quyền hành sinh sát một xã hội. Hiền hậu có Hai Bà Trưng, dữ dằn thì như Nữ Hoàng Võ Tắc Thiên, Cleopatre, Catherine, Từ Hy Thái Hậu... Vì thế nhiều người cho rằng vấn đề ai áp bức ai cần phải đặt lại trong một số trường hợp. Ở một mặt khác, vấn đề quyền lợi của phụ nữ cũng phải được xem xét thêm.

Phụ nữ Trung Ðông bị chèn ép nhất vì tôn giáo và tục lệ. Nhiều người có của lập a phòng nuôi hàng chục bà vợ, còn bình thường thì đàn ông được quyền lấy 4 vợ. Tại Á Châu, người phụ nữ bị coi như công dân hạng nhì. Ðến năm 1945 mà nhiều nhà giầu ở vùng xa xôi tại Hoa Lục vẫn nuôi hầu thiếp để hầu hạ việc nhà và làm nô lệ tình dục.

Ở Việt Nam tuy bị ảnh hưởng văn hóa và tục lệ của Hán Tộc, phụ nữ bị coi nhẹ. Nhưng có lẽ truyền thống hiền hòa của dân tộc đã sàng lọc những ảnh hưởng nói ở đây, khiến cho người đàn bà không bị đày đọa quá đáng như tại nhiều vùng của Trung Hoa.

Tại các nước Tây Phương, phụ nữ đã tranh đấu đòi nữ quyền rất sớm nhưng cho đến đầu thế kỷ 20, phụ nữ ở các nước này vẫn chưa dành được mục tiêu "nam nữ bình quyền." Ðiều khôi hài là đàn ông ở các xứ Tây Phương vốn có máu nịnh đầm di truyền nhưng vấn đề nữ quyền lại gặp không ít khó khăn. Ngay như nước Mỹ mà đến sau Thế Chiến I, phụ nữ ở đây mới được quyền bầu cử. Mãi đến năm 1920, Tu Chính Án thứ 19 của Hiến Pháp Mỹ mới xác nhận quyền này.

Trường hợp Hoa Kỳ có sắc thái khá độc đáo. Từ ngày di dân da trắng bắt đầu từ Âu Châu kéo nhau sang lục địa Bắc Mỹ định cư ở Virginia và Massachusetts vào thế kỷ thứ 17, đàn ông Mỹ đã tỏ ra là lớp đàn ông sợ vợ (và sợ đàn bà nói chung) thuộc hạng nhất nhì thế giới.

Người đàn bà Mỹ vào 150 năm đầu tiên tính từ ngày tầu Mayflower đổ hơn 100 người lên vùng đất mới, người đàn bà Mỹ đã chịu bao nhiêu vất vả gian khổ. Cộng với tình trạng trai thừa gái thiếu, ông nào có vợ được coi là trúng số, và người vợ là một bảo vật cao quý. Vì vậy đàn ông Mỹ có máu "thờ bà" cũng là điều dĩ nhiên.

Vào thập niên 1960, phong trào đòi tự do cá nhân ở Mỹ lên cao một cách bệnh hoạn giữa lúc xảy ra Chiến Tranh Việt Nam, cũng là lúc quyền phụ nữ được nêu lên mạnh mẽ, đặc biệt là quyền phá thai. Và dường như sau những đợt tranh đấu quá hăng hái này, một số khá nhiều phụ nữ Mỹ bớt dần nữ tính.

Hiện tượng này đem lại một hệ quả ít được chú trọng. Có lẽ con số binh sĩ Mỹ lấy vợ người Việt Nam nhiều hơn cả so với số binh sĩ Mỹ lấy vợ người châu Âu, Nhật hay Ðại Hàn vào lúc số binh sĩ Mỹ đến các nước này trong cùng chiều dài thời gian. Ðặc biệt là số phụ nữ Việt có học cao lấy chồng là những viên chức cao cấp trong chính phủ Mỹ (nhất là ngành ngoại giao) nhiều hơn hẳn.

Một số chồng Mỹ của các bà vợ Việt này cho biết người phụ nữ Việt thùy mị hơn, ít lấn át chồng, mau giỏi tiếng Anh và thu nhận kiến thức nhanh, có thể vì đa số phụ nữ này xuất thân ở các gia đình tử tế. Có người chồng Mỹ nhận định rằng "tuy nhiều bà người Việt khi sang đến Mỹ là học ngay các bà người Mỹ "vợ chúa chồng tôi" nhưng ít ra các bà ấy còn lo cho chồng con miếng ăn uống đàng hoàng, chu toàn việc nội trợ, cư xử có tình cảm hơn..."

Tại Việt Nam ở Miền Nam trước năm 1975 tuy đàn ông vẫn giữ ngôi vị "lãnh đạo" gia đình nhưng những cảnh hành hạ áp bức vợ không quá nhiều. Các bà thuộc giai cấp trung lưu trở lên có ít người phải đi làm kiếm tiền. Do đó tỷ lệ phụ nữ tham gia lực lượng lao động khá thấp. Tuy thế số phụ nữ tham gia kinh doanh, hoạt động chính trị và xã hội ngày càng nhiều.

Ngoài Bắc, sức lao động của phụ nữ bị khai thác tối đa với những khẩu hiệu hô hào vận động kêu như chuông : Ba Ðảm Ðang, Ba Sẵn Sàng... Phụ nữ phải làm nhiều việc đáng lẽ chỉ dành cho nam giới.

Vì nhu cầu tận dụng sức dân vào chiến tranh, hàng triệu phụ nữ bị sung vào các đội dân công khuân vác tiếp liệu quân sự, túc trực sửa cầu cống đường sá. Con số phụ nữ dân công tử thương vì bom đạn không được thống kê nhưng chắc chắn là phải ở mức nhiều chục ngàn.

Miệng lưỡi chế độ CSVN luôn khoe khoang bình đẳng, bình quyền, nhưng thực tế cho thấy số những vụ đánh đập, hành hung vợ, những trường hợp hai ba vợ còn nhan nhản ở thôn quê xa xôi nhất là ở Miền Bắc. Trước năm 1985, chế độ CSVN chỉ có một đạo luật gọi là Luật Hôn Nhân và Gia Ðình do ông Hồ ký, công bố ngày 30/12/1959 với vỏn vẹn 35 điều, ngắn gọn như một công điện quân sự.

Tuy nhiên chế độ CSVN vì mục tiêu khai thác sức lao động và sự ủng hộ chính trị của đông đảo phụ nữ trẻ, đã triệt để bênh vực và nâng đỡ phụ nữ. Phụ nữ được giữ những chức vụ quan trọng ngày càng nhiều. Nhưng đồng thời tỷ lệ ly hôn lên cao từ khi có luật nói trên vẫn chưa có dấu hiệu giảm sút.

Hiện nay số phụ nữ phải "tha phương xuất giá" vẫn lên cao trong đó các cô lấy chồng Ðài Loan là nhiều hơn hết dù biết tương lai ở xứ người rất bấp bênh. Chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam có xẩy ra chuyện "buôn bán vợ" như thế này. Ấy là chưa kể đến những vụ mua bán các em nhỏ dưới 16 tuổi để đưa sang Cam Bốt, Thái và cả Trung Hoa làm gái mãi dâm vẫn diễn tiến không ngăn chặn nổi.

Nói chuyện về nữ quyền thì rất dài dòng, năm bẩy trăm trang giấy mới tạm đủ. Tuy nhiên có một nhận định sau đây nhân ngày Phụ Nữ Quốc Tế.

Giới phụ nữ Việt Nam thường chỉ tôn thờ Bà Trưng, Bà Triệu... Cũng như khi nói đến lịch sử Việt Nam, hầu hết chỉ ca tụng Lê Lợi, Quang Trung, Trần Hưng Ðạo... về những chiến công vĩ đại của các vị này. Nhưng ít ai nói đến một vị vua anh minh, đánh giặc giỏi mà lại là vị vua thương dân nhiều nhất, và là người bênh vực nữ quyền tích cực nhất so với tất cả các vị vua từ cổ chí kim.

Ðó là vua Lê Thánh Tôn (1460-1497), vị vua thứ tư của nhà Hậu Lê. Trong thời gian trị vì, ông đã hoàn thành được nhiều công trình trọng đại thuộc hạng nhất nhì trong lịch sử Việt Nam. Chính ông đã ban hành Bộ Luật Hồng Ðức trong đó lần đầu tiên trên thế giới quyền lợi của người đàn bà có chồng được minh định vào lúc ngay ở Âu Châu phụ nữ cũng chưa có những quyền lợi như vậy.

Luật Hồng Ðức, gọi theo đế hiệu của ngài, bảo đảm quyền sở hữu tài sản hồi môn do người phụ nữ mang về nhà chồng và tài sản chung của hai vợ chồng sau khi một trong hai người qua đời. Cũng quan trọng tương tự là luật này bảo đảm quyền lợi của các con chung sau khi một trong hai vợ chồng ly hôn hoặc mệnh một. Ðây là một tiến bộ kỳ diệu tuy rằng về các mặt khác như phạm vi và mức độ hình phạt tội phạm của Luật Hồng Ðức còn quá nặng tay vì ảnh hưởng của luật của Trung Hoa.

Xin nhớ rằng ngoài ra, vua Lê Thánh Tôn còn có công lớn về tổ chức hành chánh, kinh tế, tài chánh, thương mại. Vua Lê Thánh Tôn còn thân chinh đánh thắng Chiêm Thành, chiếm vùng đất nay là Quảng Nam và Quảng Ngãi cũng như dẹp yên xứ Lào.

Tại sao phụ nữ Việt Nam không tuyên dương công trạng bảo vệ phụ nữ của vua Lê Thánh Tôn mỗi năm vào ngày Phụ Nữ Việt Nam cùng với những nghi lễ vinh danh Hai Bà Trưng. Và tại sao chúng ta không quảng bá sự nghiệp độc nhất vô nhị này cho phụ nữ khắp thế giới biết và tôn vinh ông vua tài ba vô song của Việt Nam?