BungRieu
04-25-2003, 01:18 PM
Những Nét Trữ Tình Lãng Mạn Trong Ca Dao
Thu Thảo
--------------------------------------------------------------------------------
Ca dao là loại văn chương truyền khẩu đa diện của dân gian Việt, nhưng phong phú nhất là mặt trữ tình lãng mạn. Ca dao trữ tình hầu hết là sáng tác của người dân ở nông thôn. Đó là những câu hò, tiếng hát của những thanh niên nam nữ đối đáp nhau khi họ ra đồng làm việc, hay trong những buổi hội hè đình đám. Chính những câu hò, tiếng hát nầy một phần làm nhẹ công việc lao động vất vả của họ, làm tươi vui cuộc sống, một phần thổ lộ tâm tình giữa đôi lứa khi mới gặp gỡ, làm quen nhau, hoặc tự than thân, tủi phận, hay oán trách nhau khi không cùng đi trọn đường tình.
Trong xã hội ngày xưa, với cái nhìn theo phong tục tập quán của người Việt, đối tượng của người nam là người con gái có mười đặc điểm gây tình luyến cảm, như bài " Mười thương " đã mô tả: tóc bỏ đuôi gà, má lúm đồng tiền, răng lánh hạt huyền, cổ yếm đeo bùa, nón Thượng quai tua, cách ăn nói, ăn mặc, nết ăn ở, sống độc thân và nhất là biểu lộ tình tứ với đối tượng.
Ca dao xuất hiện nhiều ở miền Bắc. Ở Trung, Nam phần nhiều là hò vè. Từ Nghệ, Tĩnh ra Bắc, hàng năm thường có lễ hội, như hội Lim ở Bắc Ninh vào ngày rằm tháng giêng, có tổ chức hát Quan Họ, rằm tháng 8 hát Trống Quân, hội Trường Lưu ở Nghệ An có hát Phường Vải, Hát Ví, Hát Dặm. Ở các hội nầy, các thanh niên nam nữ có cơ hội gặp nhau, tìm cách làm quen nhau, rồi bắt tình để kết thành lứa đôi, hoặc kết bạn để lưu lại ít nhiều kỷ niệm trong đời.
Ngày xưa, thi hào Nguyễn Du lúc còn trẻ, ở Tiên Điền qua làng Trường Lưu, đi hát Phường Vải đã nhóm lên một cuộc tình lãng mạn và để lại một áng thơ nôm còn truyền tụng là " Văn tế sống Trường Lưu nhị nữ ". Vua Lý Thánh Tông thời trước cũng từng mê một cô gái hái dâu ở vùng quê, nhân dịp vua đi kinh lý, khi nghe cô cất tiếng hát bài ca: "Tay cầm bán nguyệt xênh xang", rồi đưa về hoàng cung, tức là Ỷ Lan Thái phi.
Hội Lim ở Bắc Ninh là hội lớn, nổi tiếng nhất ở miền Bắc, bởi vì trong ngày hội có tổ chức hát Quan Họ là dịp tập trung các trai tài gái sắc, tranh nhau hát đối, cũng để trổ tài chinh phục tình cảm lẫn nhau. Con gái Bắc Ninh vẫn có tiếng về tài sắc mà cũng rất đa tình nên các chàng trai từ khắp nơi đua nhau tìm đến, và hội Lim rất đông đảo người tham dự, vừa là người địa phương vừa là khách viễn phương. Trên đường đến dự hội, còn xa, các nàng con gái ( ở quanh vùng ) ngồi nghỉ chân bên đường. Một cô cao hứng hát: Trèo lên quãng dốc, Ngồi gốc cây đa... Một chàng trai nghe hát đến bên cô, giả vờ níu áo trêu ghẹo. Cô gái nhẹ nhàng buông lời:
Chàng buông vạt áo em ra
Để em đi chợ kẻo mà chợ trưa
Chợ trưa rau sẽ héo đi
Lấy gì nuôi mẹ lấy gì nuôi em
Nghĩa là cô gái không giận gì chàng trai, nàng biết rồi họ sẽ gặp nhau trong buổi hát hội. Mới gặp nhau họ chỉ đùa cợt tí thôi.
Cuộc vui chính của ngày hội là hát Quan Họ, trong đêm rằm tháng giêng, tức là hát đối đáp nhau giữa hai hàng nam nữ, họ gọi nhau bằng Cả, chị Hai như người có quan hệ họ hàng ( nên gọi là hát Quan Họ ). Khi hát, hoặc người con trai hay người con gái lên tiếng trước, rồi họ thay nhau đối đáp cho đến khi mãn cuộc, thường là về khuya. Những câu hát trong dịp nầy chỉ là những câu đối đáp tranh tài mua vui trong ngày hội, nhưng cũng là một dịp thăm dò tình ý của đối tượng:
Gặp đây mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa ?
Nếu người con gái thấy chàng trai có vẻ phong lưu tuấn tú thì nàng đáp lại:
Mận hỏi thì đào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào
Rồi thì bên phía gái có thể lên tiếng hát thách đố bên phía trai, và người nầy thay phiên người kia, liên tục hát không ngừng. Gặp trường hợp người hát đối không xứng với mình về hình dung, cốt cách hoặc đối đáp không trôi chảy, người con gái có thể mỉa mai:
Áo rách vai quần hai ống ướt
Chữ nghĩa chừng nào lấn lướt vô thi
Lẽ tất nhiên đây không phải là vô thi cử để đỗ đạt làm quan mà là thi hát. Hát thi cũng phải có chữ nghĩa, có tài ứng đối. Đến lúc ngày hội chấm dứt, có những cuộc tình duyên được kết hợp, để gây tình lưu luyến, trước lúc chia tay, người con gái không nén lòng cảm xúc đã hát mấy câu:
Mình về ta chẳng cho về
Ta níu vạt áo ta đề câu thơ
Câu thơ ba chữ rành rành
Chữ trung chữ hiếu chữ tình là ba
Chữ trung thì để phần cha
Chữ hiếu phần mẹ đôi ta chữ tình
Khi đi dự hội Lim, các thanh niên thiếu nữ hết sức phấn khởi, vui tươi trong cuộc hát đối vì có cuộc hát nầy họ mới có dịp buông lòng tỏ tình với nhau, kết bạn kết đôi, làm cho đời họ được lên hương, sau những ngày vất vả với công việc trồng trọt, chăn nuôi ở thôn dã. Bởi vậy họ đua nhau hát sôi nổi trong ngày hội
Hát cho lở đất long trời
Cho đời biết mặt cho người biết tên
Hát từ chợ Phủ hát lên
Từ miền tỉnh Bắc qua miền tỉnh Đông
Hát sao cho cạn dòng sông
Cho non phải lở cho lòng phải say
Hội mãn, họ trở về nhà với công việc đồng áng thường ngày. Một ngày tươi sáng, giữa buổi làm đồng, sau một hồi khá nhọc mệt, họ ngồi nghỉ bên đường ruộng. Thấy một chàng trai đi ngang qua trên đường, nàng con gái cất tiếng:
Hỡi anh đi đường cái quan
Dừng chân đứng lại cho em than vài lời
Đi đâu vội mấy anh ơi
Công việc đã có chị tôi ở nhà...
Giọng hát có tính cách đùa cợt, vui vui, đượm chút tình tứ. Bất ngờ lại gặp một chàng trai khá lém lỉnh, lợi khẩu. Anh chàng lên giọng đáp lời ngay:
Chị nhà chưa có cô ơi
Anh đây đang chọn kiếm người nâng khăn
Lại đây cho anh hỏi thăm
Hoa đà có chủ hay còn phòng không đợi chờ ?
Những câu hát đối đáp như vậy thường được cất lên trong cảnh bát ngát của đồng nội, vào những cơ hội dễ gây hứng cảm giữa những đôi trai đơn gái chiếc, ăn nói hoạt bát. Có khi người con trai ngỏ lời thăm dò tình ý trước:
Cô kia cắt cỏ một mình
Cho anh cắt với chung tình làm đôi
Cô còn cắt nữa hay thôi
Cho anh cắt với làm đôi vợ chồng
Hoặc có lúc người con gái ngỏ ý:
Dao vàng bỏ đãy kim nhung
Biết rằng quân tử có dùng ta chăng ?
Nhưng bạo dạn hơn, người con trai luôn tìm cách tỏ tình với người mà họ có dịp gần gũi:
Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen
Em được thì cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Áo anh sứt chỉ đã lâu
Mai mượn cô ấy vào khâu cho cùng
Khâu rồi anh sẽ trả công
Ít nữa lấy chồng anh lại giúp cho
Giúp em một thúng xôi vò
Một con lợn béo một vò rượu tăm
Giúp em đôi chiếu em nằm
Đôi chăn em đắp đôi tằm em đeo
Giúp em quan tám tiền cheo
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau
Hoặc chàng bày giải tất cả nỗi lòng thiết tha đối với nàng:
Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng
Ước gì anh lấy được nàng
Thì anh mua gạch Bát Tràng về xây
Xây dọc rồi lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng chao chân
Từ những câu hát đưa tình làm duyên đến mối tình gắn bó, họ đi lại với nhau trong những tháng ngày đầy thơ mộng. Và cuộc tình mỗi lúc một khắng khít. Khi không có dịp đến với nhau, mỗi người một nơi, họ đem lòng thương nhớ. Người con gái nhớ người con trai:
Năm canh thơ thẩn một mình
Ở đây thức đã năm canh rõ ràng
Đêm kia tạc đá ghi vàng
Ngày nào em chẳng nhớ chàng chàng ơi
Người con trai cũng nhớ người con gái:
Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ
Đêm quên giấc ngủ ngày mơ tiếng cười
Lòng thương nhớ của họ rất thiết tha, đến lúc gặp nhau họ không khỏi có hành vi lãng mạn:
Thương nhau cởi áo cho nhau
Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay
Rồi họ cùng thề thốt với nhau:
Tay bưng dĩa muối chấm gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau
Nhưng không phải những cuộc gặp gỡ nào giữa đôi nam nữ cũng đưa đến cuộc trao duyên gởi phận. Có khi chàng trai chậm bước:
Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay
Vì người con gái đã có đôi rồi:
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết bao giờ gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra
Có trường hợp họ đã cùng nhau đi vào cuộc tình, bỗng trở nên lỡ làng duyên phận:
Ai đem trầu cau đến đó
Xin chịu khó mang về
Bởi theo lời người con gái có sự ngăn trở của mẹ cha, vì lý do nào đó, hoặc không hợp tuổi, hoặc thiếu môn đăng hộ đối ...
Người con trai than thở:
Chim xa bầy còn thương cây nhớ cội
Người xa người tội lắm người ơi
Chẳng thà không biết thì thôi
Biết rồi nỡ để lìa đôi sao đành
Ngoài những cuộc trao duyên tốt đẹp, đáng chê cười là những lời đưa tình thiếu đứng đắn của chàng trai nọ:
Thạch xoa một vốn bốn lời
Anh về để vợ lấy người thạch xoa
Bị nàng trả miếng:
Thạch xoa ế lắm anh ơi
Anh đừng để vợ thiệt đời của anh
Hay đáng trách là sự dối trá của người phụ nữ:
Mình dối ta mình hãy còn son
Ta đi qua ngõ thấy con mình bò
Con mình những trấu cùng tro
Ta đi xách nước tắm cho con mình
Vượt qua khỏi phá Tam Giang, đến Huế là đất kinh thành ngày trước, người ta nghe giọng hò lanh lãnh cất lên trên dòng Hương giang:
Thuyền về Đại Lược
Duyên ngược Kim Long
Đến nơi đây là chỗ rẽ của đôi lòng
Gặp nhau còn biết trên sông bến nào ?
Giọng hò đầy tình cảm lưu luyến của chàng trai ở miền Đại Lược chèo con đò dọc vẫn thường đi lại trên khúc sông nầy, làm quen một cô gái vùng Kim Long, trong phút chốc lại chia tay, nên chàng cất lời than không biết còn duyên tái ngộ với nàng không ?
Ở đất đế đô, người nông thôn không dám bày tỏ tấm tình mộc mạc của mình với người tỉnh thành:
Cầu trường Tiền sáu vài mười hai nhịp
Anh qua không kịp tội lắm người ơi !
Mà người con gái cũng không trèo cao:
Ngọ Môn năm cửa chín lầu
Một lầu vàng tám lầu xanh
Ba cửa thẳng hai cửa quanh
Sinh ra em phận gái
Không hỏi chốn kinh thành làm chi !
Cho nên ở đây thường chỉ có những mối tình vương giả:
Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Nhớ người đãy gấm khăn điều vắt vai
Kim Long có gái mỹ miều
Trẫm thương trẫm nhớ trẩm liều trẫm đi
Muốn biết đến những mối tình ở nơi thôn dã, người ta có thể về thăm các làng quê, trong những đêm trăng sáng, nghe những câu hò giã gạo, hay sau những mùa gặt nghe lời đôi bạn sắp chia tay:
Rồi mùa tót rã rơm khô
Bạn về quê bạn biết nơi mô mà tìm
Hoặc qua lại các chuyến đò ngang để nghe những câu hát đò đưa, hay đi trên các chuyến đò dọc để nghe câu hò mái nhì, mái đẩy:
Thuyền ai thấp thoáng trên sông
Nghe câu mái đẩy chạnh lòng nước non
Và những câu hò tình tứ:
Thuyền về đến ngã ba Sình
Biết ai duyên nợ với mình hay không ?
Chợ Đông Ba đem ra ngoài giại
Cầu Trường Tiền đúc lại xi - mon
Ơi người lỡ hội chồng con
Đến đây gá nghĩa vuông tròn hay không ?
Ở vùng Thừa Thiên Huế còn truyền câu chuyện tình dang dở của một chàng trai với cô lái đò mà vang bóng còn để lại trong câu ca bất hủ:
Trăm năm dù lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ con đò khác đưa
Con đò sớm thác năm xưa
Cây đa bến cũ còn lưa đến chừ.
Có người cho rằng " cây đa bến cũ " là " cây Đa, bến Cọ " những địa danh có thật trên bờ sông Cô Lâu, tức là hai bến đò Cây Đa và Bến Cọ ( ở vùng Thừa Thiên ).
Câu ca tiếng hát miền Trung có lẽ tiến xa nhất cũng chỉ đến vùng Bình Định:
Gió đưa mười tám lá xoài
Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi
Người miền Nam ít khi tỏ bày tâm tình mình qua những câu hát như người miền Bắc. Sở trường của họ là những câu hò, vè hoặc câu ca vọng cổ. Thỉnh thoảng người ta có nghe đôi câu hát đậm màu sắc địa phương:
Chim chuyền bụi ớt líu lo
Lòng qua thương bậu ốm o gầy mòn
Chim quyên ăn trái nhãn lồng
Người dưng khác họ đem lòng nhớ thương
Khổ qua xanh khổ qua trắng
Mắc nắng khổ qua đèo
Anh thương em không kể giàu nghèo
Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua
Ca dao với những nét trữ tình lãng mạn chiếm phần lớn nhất trong kho táng văn học dân gian, biểu hiện tâm hồn giàu tình cảm của người dân quê Việt. Cái tình cảm ở đây là một thứ tình cảm bình dị, mộc mạc, trong sáng như cuộc đời chất phác, đôn hậu của người ở nông thôn. Nhưng dù bộc lộ tình cảm hay tình yêu bằng một đôi lời ca tiếng hát đơn giản vẫn có khả năng truyền cảm với những ý tưởng thật bóng bẩy, sâu sắc và tính chất trữ tình lãng mạn trong câu ca của họ thật hiền lành, dễ thương như tâm hồn của họ, mà nhà thơ Nguyễn Bính từng yêu mến và cố gắng học theo cách nói của họ:
Hoa chanh nở ở vườn chanh
Thầy u mình với chúng mình chân quê
Thu Thảo
--------------------------------------------------------------------------------
Ca dao là loại văn chương truyền khẩu đa diện của dân gian Việt, nhưng phong phú nhất là mặt trữ tình lãng mạn. Ca dao trữ tình hầu hết là sáng tác của người dân ở nông thôn. Đó là những câu hò, tiếng hát của những thanh niên nam nữ đối đáp nhau khi họ ra đồng làm việc, hay trong những buổi hội hè đình đám. Chính những câu hò, tiếng hát nầy một phần làm nhẹ công việc lao động vất vả của họ, làm tươi vui cuộc sống, một phần thổ lộ tâm tình giữa đôi lứa khi mới gặp gỡ, làm quen nhau, hoặc tự than thân, tủi phận, hay oán trách nhau khi không cùng đi trọn đường tình.
Trong xã hội ngày xưa, với cái nhìn theo phong tục tập quán của người Việt, đối tượng của người nam là người con gái có mười đặc điểm gây tình luyến cảm, như bài " Mười thương " đã mô tả: tóc bỏ đuôi gà, má lúm đồng tiền, răng lánh hạt huyền, cổ yếm đeo bùa, nón Thượng quai tua, cách ăn nói, ăn mặc, nết ăn ở, sống độc thân và nhất là biểu lộ tình tứ với đối tượng.
Ca dao xuất hiện nhiều ở miền Bắc. Ở Trung, Nam phần nhiều là hò vè. Từ Nghệ, Tĩnh ra Bắc, hàng năm thường có lễ hội, như hội Lim ở Bắc Ninh vào ngày rằm tháng giêng, có tổ chức hát Quan Họ, rằm tháng 8 hát Trống Quân, hội Trường Lưu ở Nghệ An có hát Phường Vải, Hát Ví, Hát Dặm. Ở các hội nầy, các thanh niên nam nữ có cơ hội gặp nhau, tìm cách làm quen nhau, rồi bắt tình để kết thành lứa đôi, hoặc kết bạn để lưu lại ít nhiều kỷ niệm trong đời.
Ngày xưa, thi hào Nguyễn Du lúc còn trẻ, ở Tiên Điền qua làng Trường Lưu, đi hát Phường Vải đã nhóm lên một cuộc tình lãng mạn và để lại một áng thơ nôm còn truyền tụng là " Văn tế sống Trường Lưu nhị nữ ". Vua Lý Thánh Tông thời trước cũng từng mê một cô gái hái dâu ở vùng quê, nhân dịp vua đi kinh lý, khi nghe cô cất tiếng hát bài ca: "Tay cầm bán nguyệt xênh xang", rồi đưa về hoàng cung, tức là Ỷ Lan Thái phi.
Hội Lim ở Bắc Ninh là hội lớn, nổi tiếng nhất ở miền Bắc, bởi vì trong ngày hội có tổ chức hát Quan Họ là dịp tập trung các trai tài gái sắc, tranh nhau hát đối, cũng để trổ tài chinh phục tình cảm lẫn nhau. Con gái Bắc Ninh vẫn có tiếng về tài sắc mà cũng rất đa tình nên các chàng trai từ khắp nơi đua nhau tìm đến, và hội Lim rất đông đảo người tham dự, vừa là người địa phương vừa là khách viễn phương. Trên đường đến dự hội, còn xa, các nàng con gái ( ở quanh vùng ) ngồi nghỉ chân bên đường. Một cô cao hứng hát: Trèo lên quãng dốc, Ngồi gốc cây đa... Một chàng trai nghe hát đến bên cô, giả vờ níu áo trêu ghẹo. Cô gái nhẹ nhàng buông lời:
Chàng buông vạt áo em ra
Để em đi chợ kẻo mà chợ trưa
Chợ trưa rau sẽ héo đi
Lấy gì nuôi mẹ lấy gì nuôi em
Nghĩa là cô gái không giận gì chàng trai, nàng biết rồi họ sẽ gặp nhau trong buổi hát hội. Mới gặp nhau họ chỉ đùa cợt tí thôi.
Cuộc vui chính của ngày hội là hát Quan Họ, trong đêm rằm tháng giêng, tức là hát đối đáp nhau giữa hai hàng nam nữ, họ gọi nhau bằng Cả, chị Hai như người có quan hệ họ hàng ( nên gọi là hát Quan Họ ). Khi hát, hoặc người con trai hay người con gái lên tiếng trước, rồi họ thay nhau đối đáp cho đến khi mãn cuộc, thường là về khuya. Những câu hát trong dịp nầy chỉ là những câu đối đáp tranh tài mua vui trong ngày hội, nhưng cũng là một dịp thăm dò tình ý của đối tượng:
Gặp đây mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa ?
Nếu người con gái thấy chàng trai có vẻ phong lưu tuấn tú thì nàng đáp lại:
Mận hỏi thì đào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào
Rồi thì bên phía gái có thể lên tiếng hát thách đố bên phía trai, và người nầy thay phiên người kia, liên tục hát không ngừng. Gặp trường hợp người hát đối không xứng với mình về hình dung, cốt cách hoặc đối đáp không trôi chảy, người con gái có thể mỉa mai:
Áo rách vai quần hai ống ướt
Chữ nghĩa chừng nào lấn lướt vô thi
Lẽ tất nhiên đây không phải là vô thi cử để đỗ đạt làm quan mà là thi hát. Hát thi cũng phải có chữ nghĩa, có tài ứng đối. Đến lúc ngày hội chấm dứt, có những cuộc tình duyên được kết hợp, để gây tình lưu luyến, trước lúc chia tay, người con gái không nén lòng cảm xúc đã hát mấy câu:
Mình về ta chẳng cho về
Ta níu vạt áo ta đề câu thơ
Câu thơ ba chữ rành rành
Chữ trung chữ hiếu chữ tình là ba
Chữ trung thì để phần cha
Chữ hiếu phần mẹ đôi ta chữ tình
Khi đi dự hội Lim, các thanh niên thiếu nữ hết sức phấn khởi, vui tươi trong cuộc hát đối vì có cuộc hát nầy họ mới có dịp buông lòng tỏ tình với nhau, kết bạn kết đôi, làm cho đời họ được lên hương, sau những ngày vất vả với công việc trồng trọt, chăn nuôi ở thôn dã. Bởi vậy họ đua nhau hát sôi nổi trong ngày hội
Hát cho lở đất long trời
Cho đời biết mặt cho người biết tên
Hát từ chợ Phủ hát lên
Từ miền tỉnh Bắc qua miền tỉnh Đông
Hát sao cho cạn dòng sông
Cho non phải lở cho lòng phải say
Hội mãn, họ trở về nhà với công việc đồng áng thường ngày. Một ngày tươi sáng, giữa buổi làm đồng, sau một hồi khá nhọc mệt, họ ngồi nghỉ bên đường ruộng. Thấy một chàng trai đi ngang qua trên đường, nàng con gái cất tiếng:
Hỡi anh đi đường cái quan
Dừng chân đứng lại cho em than vài lời
Đi đâu vội mấy anh ơi
Công việc đã có chị tôi ở nhà...
Giọng hát có tính cách đùa cợt, vui vui, đượm chút tình tứ. Bất ngờ lại gặp một chàng trai khá lém lỉnh, lợi khẩu. Anh chàng lên giọng đáp lời ngay:
Chị nhà chưa có cô ơi
Anh đây đang chọn kiếm người nâng khăn
Lại đây cho anh hỏi thăm
Hoa đà có chủ hay còn phòng không đợi chờ ?
Những câu hát đối đáp như vậy thường được cất lên trong cảnh bát ngát của đồng nội, vào những cơ hội dễ gây hứng cảm giữa những đôi trai đơn gái chiếc, ăn nói hoạt bát. Có khi người con trai ngỏ lời thăm dò tình ý trước:
Cô kia cắt cỏ một mình
Cho anh cắt với chung tình làm đôi
Cô còn cắt nữa hay thôi
Cho anh cắt với làm đôi vợ chồng
Hoặc có lúc người con gái ngỏ ý:
Dao vàng bỏ đãy kim nhung
Biết rằng quân tử có dùng ta chăng ?
Nhưng bạo dạn hơn, người con trai luôn tìm cách tỏ tình với người mà họ có dịp gần gũi:
Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen
Em được thì cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Áo anh sứt chỉ đã lâu
Mai mượn cô ấy vào khâu cho cùng
Khâu rồi anh sẽ trả công
Ít nữa lấy chồng anh lại giúp cho
Giúp em một thúng xôi vò
Một con lợn béo một vò rượu tăm
Giúp em đôi chiếu em nằm
Đôi chăn em đắp đôi tằm em đeo
Giúp em quan tám tiền cheo
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau
Hoặc chàng bày giải tất cả nỗi lòng thiết tha đối với nàng:
Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng
Ước gì anh lấy được nàng
Thì anh mua gạch Bát Tràng về xây
Xây dọc rồi lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng chao chân
Từ những câu hát đưa tình làm duyên đến mối tình gắn bó, họ đi lại với nhau trong những tháng ngày đầy thơ mộng. Và cuộc tình mỗi lúc một khắng khít. Khi không có dịp đến với nhau, mỗi người một nơi, họ đem lòng thương nhớ. Người con gái nhớ người con trai:
Năm canh thơ thẩn một mình
Ở đây thức đã năm canh rõ ràng
Đêm kia tạc đá ghi vàng
Ngày nào em chẳng nhớ chàng chàng ơi
Người con trai cũng nhớ người con gái:
Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ
Đêm quên giấc ngủ ngày mơ tiếng cười
Lòng thương nhớ của họ rất thiết tha, đến lúc gặp nhau họ không khỏi có hành vi lãng mạn:
Thương nhau cởi áo cho nhau
Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay
Rồi họ cùng thề thốt với nhau:
Tay bưng dĩa muối chấm gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau
Nhưng không phải những cuộc gặp gỡ nào giữa đôi nam nữ cũng đưa đến cuộc trao duyên gởi phận. Có khi chàng trai chậm bước:
Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay
Vì người con gái đã có đôi rồi:
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết bao giờ gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra
Có trường hợp họ đã cùng nhau đi vào cuộc tình, bỗng trở nên lỡ làng duyên phận:
Ai đem trầu cau đến đó
Xin chịu khó mang về
Bởi theo lời người con gái có sự ngăn trở của mẹ cha, vì lý do nào đó, hoặc không hợp tuổi, hoặc thiếu môn đăng hộ đối ...
Người con trai than thở:
Chim xa bầy còn thương cây nhớ cội
Người xa người tội lắm người ơi
Chẳng thà không biết thì thôi
Biết rồi nỡ để lìa đôi sao đành
Ngoài những cuộc trao duyên tốt đẹp, đáng chê cười là những lời đưa tình thiếu đứng đắn của chàng trai nọ:
Thạch xoa một vốn bốn lời
Anh về để vợ lấy người thạch xoa
Bị nàng trả miếng:
Thạch xoa ế lắm anh ơi
Anh đừng để vợ thiệt đời của anh
Hay đáng trách là sự dối trá của người phụ nữ:
Mình dối ta mình hãy còn son
Ta đi qua ngõ thấy con mình bò
Con mình những trấu cùng tro
Ta đi xách nước tắm cho con mình
Vượt qua khỏi phá Tam Giang, đến Huế là đất kinh thành ngày trước, người ta nghe giọng hò lanh lãnh cất lên trên dòng Hương giang:
Thuyền về Đại Lược
Duyên ngược Kim Long
Đến nơi đây là chỗ rẽ của đôi lòng
Gặp nhau còn biết trên sông bến nào ?
Giọng hò đầy tình cảm lưu luyến của chàng trai ở miền Đại Lược chèo con đò dọc vẫn thường đi lại trên khúc sông nầy, làm quen một cô gái vùng Kim Long, trong phút chốc lại chia tay, nên chàng cất lời than không biết còn duyên tái ngộ với nàng không ?
Ở đất đế đô, người nông thôn không dám bày tỏ tấm tình mộc mạc của mình với người tỉnh thành:
Cầu trường Tiền sáu vài mười hai nhịp
Anh qua không kịp tội lắm người ơi !
Mà người con gái cũng không trèo cao:
Ngọ Môn năm cửa chín lầu
Một lầu vàng tám lầu xanh
Ba cửa thẳng hai cửa quanh
Sinh ra em phận gái
Không hỏi chốn kinh thành làm chi !
Cho nên ở đây thường chỉ có những mối tình vương giả:
Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Nhớ người đãy gấm khăn điều vắt vai
Kim Long có gái mỹ miều
Trẫm thương trẫm nhớ trẩm liều trẫm đi
Muốn biết đến những mối tình ở nơi thôn dã, người ta có thể về thăm các làng quê, trong những đêm trăng sáng, nghe những câu hò giã gạo, hay sau những mùa gặt nghe lời đôi bạn sắp chia tay:
Rồi mùa tót rã rơm khô
Bạn về quê bạn biết nơi mô mà tìm
Hoặc qua lại các chuyến đò ngang để nghe những câu hát đò đưa, hay đi trên các chuyến đò dọc để nghe câu hò mái nhì, mái đẩy:
Thuyền ai thấp thoáng trên sông
Nghe câu mái đẩy chạnh lòng nước non
Và những câu hò tình tứ:
Thuyền về đến ngã ba Sình
Biết ai duyên nợ với mình hay không ?
Chợ Đông Ba đem ra ngoài giại
Cầu Trường Tiền đúc lại xi - mon
Ơi người lỡ hội chồng con
Đến đây gá nghĩa vuông tròn hay không ?
Ở vùng Thừa Thiên Huế còn truyền câu chuyện tình dang dở của một chàng trai với cô lái đò mà vang bóng còn để lại trong câu ca bất hủ:
Trăm năm dù lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ con đò khác đưa
Con đò sớm thác năm xưa
Cây đa bến cũ còn lưa đến chừ.
Có người cho rằng " cây đa bến cũ " là " cây Đa, bến Cọ " những địa danh có thật trên bờ sông Cô Lâu, tức là hai bến đò Cây Đa và Bến Cọ ( ở vùng Thừa Thiên ).
Câu ca tiếng hát miền Trung có lẽ tiến xa nhất cũng chỉ đến vùng Bình Định:
Gió đưa mười tám lá xoài
Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi
Người miền Nam ít khi tỏ bày tâm tình mình qua những câu hát như người miền Bắc. Sở trường của họ là những câu hò, vè hoặc câu ca vọng cổ. Thỉnh thoảng người ta có nghe đôi câu hát đậm màu sắc địa phương:
Chim chuyền bụi ớt líu lo
Lòng qua thương bậu ốm o gầy mòn
Chim quyên ăn trái nhãn lồng
Người dưng khác họ đem lòng nhớ thương
Khổ qua xanh khổ qua trắng
Mắc nắng khổ qua đèo
Anh thương em không kể giàu nghèo
Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua
Ca dao với những nét trữ tình lãng mạn chiếm phần lớn nhất trong kho táng văn học dân gian, biểu hiện tâm hồn giàu tình cảm của người dân quê Việt. Cái tình cảm ở đây là một thứ tình cảm bình dị, mộc mạc, trong sáng như cuộc đời chất phác, đôn hậu của người ở nông thôn. Nhưng dù bộc lộ tình cảm hay tình yêu bằng một đôi lời ca tiếng hát đơn giản vẫn có khả năng truyền cảm với những ý tưởng thật bóng bẩy, sâu sắc và tính chất trữ tình lãng mạn trong câu ca của họ thật hiền lành, dễ thương như tâm hồn của họ, mà nhà thơ Nguyễn Bính từng yêu mến và cố gắng học theo cách nói của họ:
Hoa chanh nở ở vườn chanh
Thầy u mình với chúng mình chân quê