PDA

View Full Version : Vinh danh chiến sĩ VNCH - Sinh vi tướng, tử vi thần


Hoài Nam
04-30-2003, 03:55 PM
Nguyễn Khoa Nam (1927 - 1975)

http://www.vietroom.com/D1/Pic17/hoainam_ngkhoanam2.gif

Là người Việt Nam hải ngoại, chắc có ít ai chưa nghe đến tên Nguyễn Khoa Nam. Nếu bạn là một người quân nhân cũ, hẳn đã nghe nhiều về người anh hùng đã hiến dâng cuộc đời cho Tổ Quốc. Nếu bạn chưa từng nghe, nhất là các bạn trẻ, thì tôi hy vọng bạn sẽ dừng lại đây trong giây lát để chúng ta có thể tìm hiểu thêm về thân thế và sự nghiệp của người dũng tướng này.

Nói về Nguyễn Khoa Nam, chúng ta không thể không nhắc đến sự khác biệt giữa ông và những kẻ cùng thời. Binh sĩ kính trọng ông, đồng bào quý mến ông, và ngay cả báo chí thiên tả thời bấy giờ cũng phải công nhận Nguyễn Khoa Nam là một vị tướng thanh liêm, có đức có tài. Sống được như vậy không phải là dễ trong cái thời mua quan bán tước của chính quyền Thiệu - Khiêm. Theo các anh em của Gia Đình Mũ Đỏ, ông là người rất điềm đạm, ít nói. Ông không có gia đình; tình cảm của ông là tình cảm đã dành cho quê hương, quân đội và anh em chiến sĩ. Đó là một người quân nhân thuần túy.

Tôi sẽ không nhắc đến các chiến công của Nguyễn Khoa Nam ở đây, vì trong gần 20 năm dài, chiến trường nào mà không có hình dáng người lính nhảy dù Việt Nam.

Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, gốc Làng An Cựu Tây, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, sinh tại thành phố Đà Nẵng, ngày 23 tháng 9 năm 1927.

Thân sinh của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam là Thanh Tra Học Chánh Đà Nẵng Thái Thường Nguyễn Khoa Túc, về hưu năm 1941, và bà Công Tôn Nữ Mộc Cẩn, thuộc dòng Tuy Lúy Vương. Nội tổ của ông là Nội Tán Nguyễn Khoa Đăng, người đã có công mở mang bờ cõi cho chúa Nguyễn trong những ngày Nam Tiến.

Ông học Tiểu Học tại trường École des Garcons Đà Nẵng (1933 - 1939), sau ra Huế tiếp tục học ở Lycee Khải Định. Ông đậu bằng Thành Chung năm 1943 và tiếp tục học lên đến Nhị Cấp. Đến năm 1947, Nguyễn Khoa Nam tiếp tục học lớp Đệ Nhị Toán, rồi theo học lớp Hành Chánh tại Huế. Vốn dòng võ tướng nhưng ông không tình nguyện theo con đường quân bị.

Đến năm 1953, ông nhập ngũ theo lệnh động viên, vào Khóa III tại Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Tháng 10 năm 1953, Nguyễn Khoa Nam ra trường và tình nguyện vào binh chủng Nhảy Dù rồi được điều động ra Bắc.

Tháng 8 năm 1954, sau hội nghị Geneve, Trung Úy Nguyễn Khoa Nam theo đơn vị trở về Saigon.

Năm 1955, Trung Úy Nguyễn Khoa Nam làm Đại Đội Trưởng, thuộc Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù trong cuộc hành quân đánh Bình Xuyên tại Saigon. Sau đó ông được thăng Đại Úy và được cử đi học kỹ thuật ở Pháp trong 8 tháng.

Năm 1956, Đại Úy Nguyễn Khoa Nam ở Pháp về làm Đại Đội Trưởng Đại Đội Kỹ Thuật Dù tại trại Hoàng Hoa Thám.

Tháng 1 năm 1957, sau một khóa tu nghiệp ở Hoa Kỳ, ông trở về phục vụ tại Phòng 3 (Kế Hoạch Hành Quân) Lữ Đoàn Nhảy Dù.

Năm 1960, ông được chuyển về làm Trưởng Ban 3 Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù.

Năm 1963, ông được bổ nhiệm Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù.

Năm 1964, Thiếu Tá Nguyễn Khoa Nam được bổ nhiệm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù.

Năm 1965, ông được bổ nhiệm Chiến Đoàn Trưởng Chiến Đoàn 3 Nhảy Dù. Đến cuối năm này, vì nhu cầu chiến trường, Lữ Đoàn Nhảy Dù được tổ chức lại thành Sư Đoàn Nhảy Dù.

Năm 1967, Trung Tá Nguyễn Khoa Nam được bổ nhiệm Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù, nổi danh với trận đánh tại đồi 1418, Kontum. Đến cuối năm 1967, ông được thăng cấp Đại Tá và trao tặng Đệ Tam Đẳng Bảo Quốc Huân Chương (VNCH) và Silver Star (chính phủ Hoa Kỳ trao tặng).

Năm 1969, Đại Tá Nguyễn Khoa Nam được Bộ Quốc Phòng thuyên chuyển ra khỏi Sư Đoàn Nhảy Dù, để giữ chức Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh, kiêm Tư Lệnh Khu Chiến Thuật Tiền Giang. Tháng 11 năm 1969, ông được vinh thăng Chuẩn Tướng nhiệm chức tại Mặt Trận.

Đến tháng 10 năm 1971, Đại Tá Nguyễn Khoa Nam được thăng hàm Chuẩn Tướng.

Tháng 10 năm 1973, ông được thăng cấp Thiếu Tướng.

Tháng 11 năm 1974, là một vị sĩ quan có khả năng và uy tín hàng đầu trong quân lực, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Quân Đoàn IV Vùng IV Chiến Thuật.

Tháng 4 năm 1975, khi miền Nam đang trong cơn rối loạn trước đà tiến công ồ ạt của Cộng Sản, các đại đơn vị truyến trước bị tan hàng hay trở nên vô hiệu. Các tướng lãnh thì lo chạy giữ thân, bỏ mặc binh sĩ và đồng bào mà họ có trách nhiệm bảo vệ. Trong khi đó tất cả các lực lượng Cộng quân tại vùng IV đều bị khống chế không giở trò gì được. Tình hình ở miền Tây thật yên tĩnh, như không có chuyện gì xảy ra trong khi Vùng I, II, III đều bị xích xe tăng Cộng Sản tràn ngập.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền Saigon đầu hàng quân Cộng Sản Bắc Việt. Sau khi để cho các sĩ quan và binh sĩ thuộc quyền giải tán theo lệnh của chính phủ, khoảng nửa đêm 30 tháng 4 rạng ngày 1 tháng 5 năm 1975, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam dùng súng tự sát. Bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng và một số chiến hữu đã tẩm liệm và đưa di hài Thiếu Tướng ra an táng tại Nghĩa Trang Quân Đội Cần Thơ ngày 1 tháng 5 năm 1975.

Tháng 3 năm 1994, người em dâu là bà Nguyễn Khoa Phước đến Cần Thơ mang di hài Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam về hỏa táng. Hiện nay tro cốt của Thiếu Tướng dược lưu tại chùa Già Lam, đường Lê Quang Định, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định.

Hoài Nam
04-30-2003, 03:56 PM
http://www.vietroom.com/D1/Pic17/hoainam_phamvanphu.gif

Thiếu Tướng Phạm Văn Phú sinh năm 1929 tại Hà Đông. Sau khi học tốt nghiệp khóa 8 trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt vào giữa năm 1953, ông tình nguyện phục vụ trong binh chủng Nhảy Dù.

Ngày 14 tháng 3 năm 1954, trong tình hình chiến trường Điện Biên Phủ vô cùng sôi động, ông đã chỉ huy một đại đội của Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù, nhảy xuống Natasha, một vị trí gần phi trường Mường Thanh. Ngày 7 tháng 5 năm 1954, Điện Biên Phủ thất thủ, ông bị Việt Minh bắt giam. Sau Hiệp định Geneve, ông được trao trả và trở lại phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).

Năm 1960, ông được tuyển sang phục vụ cho binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt. Cuối năm 1962, thăng cấp Thiếu Tá và giữ chức vụ Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn Quan Sát 77 Lực Lượng Đặc Biệt.

Giữa tháng 5 năm 1964, ông đã chỉ huy liên đoàn đánh tan Trung Đoàn 765 Cộng Sản Bắc Việt tại Suối Đá, Tây Ninh. Gần cuối năm 1964, ông được thăng Trung Tá và giữ chức Tham Mưu Trưởng Lực Lượng Đặc Biệt.

Đầu năm 1966, ông bị thâu hồi nhiệm chức và chuyển ra miền Trung, giữ chức Phụ Tá Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh. Đến giữa năm 1966, ông được thăng cấp Đại Tá, giữ chức Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 2 Bộ Binh, xử lý thường vụ. Cuối năm 1966, ông được điều động sang Sư Đoàn 1 Bộ Binh làm Tư Lệnh Phó Sư Đoàn.

Giữa năm 1968, Đại Tá Phạm Văn Phú được cử giữ chức vụ Tư Lệnh Biệt Khu 44 (bao gồm các tỉnh biên giới ở miền Tây Nam Phần).

Năm 1969, ông được thăng cấp Chuẩn Tướng tại mặt trận.

Đầu năm 1970, Chuẩn Tướng Phú được cử thay thế Thiếu Tướng Đoàn Văn Quảng trong chức vụ Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt. Cuối tháng 8 năm 1970, ông được bổ nhiệm giữ chức Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh thay thế Thiếu Tướng Ngô Quang Trưởng.

Tháng 3 năm 1971, ông được thăng Thiếu Tướng tại mặt trận sau cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở Hạ Lào.

Trong cuộc chiến mùa Hè 1972, Sư Đoàn 1 Bộ Binh do Thiếu Tướng Phạm Văn Phú chỉ huy đã giữ vững phòng tuyến Tây Nam Huế. Do điều kiện sức khoẻ, đến tháng 9 năm 1972, ông bàn giao Sư Đoàn 1 Bộ Binh cho Đại Tá Nguyễn Văn Điềm, Tư Lệnh Phó, trông coi.

Từ 1973 đến tháng 10 năm 1974, ông trở về giữ chức chỉ huy trưởng Trung Tâm Huấn luyện Quang Trung. Tháng 11 năm 1974, thể theo đề nghị của thủ tướng Trần Thiện Khiêm và Phó Tổng thống Trần Văn Hương, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã cử ông giữ chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn II Vùng II Chiến Thuật, thay thế "Quế Tướng Công" Nguyễn Văn Toàn.

Khi nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn II, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú đã gặp nhiều khó khăn trong việc sắp xếp nhân sự để điều hành bộ Tư Lệnh Quân Đoàn. Trận chiến Ban Mê Thuột đã bùng nổ vào rạng sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975. Bốn ngày sau, vào trưa ngày 14 tháng 3, trong một cuộc họp đặc biệt tại Cam Ranh, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh cho Thiếu Tướng Phạm Văn Phú triệt thoái toàn bộ Quân Đoàn II khỏi Cao Nguyên.

Giữa tháng 4 năm 1975, ông lâm bệnh, vào điều trị tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Trong khi người sĩ quan cả đời bôn ba vì nước đang lo chống đỡ với căn bệnh hiểm nghèo trên giường bệnh (ông mắc bệnh lao - Tuberculosis khi ở trong tù của Việt Minh), Tổng Thống Thiệu trước toàn dân đổ hết trách nhiệm về việc thất thủ ở Cao Nguyên lên vai tướng Phú.

Sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, tại tư gia ở Saigon, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú đã uống một liều thuốc cực mạnh để quyên sinh, nhưng được các bác sĩ đưa vào bệnh viện cấp cứu. Đến trưa ngày 30 tháng 4, sau khi Tổng Thống VNCH đầu hàng Việt Cộng, ông đã nhắm mắt và mãi mãi ra đi.

Hoài Nam
04-30-2003, 03:58 PM
http://www.vietroom.com/D1/Pic17/hoainam_lvh.jpg

Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, người hùng tử thủ An Lộc mùa Hè năm 1972, quê ở Gia Định. Năm 1955, ông ra trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức và gia nhập binh chủng bộ binh, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Hè năm 1971, Đại Tá Lê Văn Hưng được trao quyền Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh, và vinh thăng cấp Chuẩn Tướng ngày 1 tháng 3 năm 1972.

Ngày 5 tháng 4 năm 1972, Cộng Sản Bắc Việt xua bốn sư đoàn quân chủ lực (5, 7, 9, và Bình Long), hai trung đoàn xe tăng (202, 203) cùng nhiều đơn vị yểm trợ tấn công thị xã An Lộc và Bộc Chỉ Huy Tiền Phương của Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Sau 68 ngày tử thủ dưới những trận đánh phá điên cuồng của quân Cộng, tướng Hưng và các chiến sĩ Cộng Hoà đã giữ vững An Lộc. Cộng quân đã bị thảm bại trận này.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Quân Đoàn IV dưới sự chỉ huy của Tư Lệnh Nguyễn Khoa Nam và Phó Tư Lệnh Lê Văn Hưng vẫn khống chế hoàn toàn các đơn vị địch quân ở miền Tây. Nhưng những mũi tiến công của Cộng Sản Bắc Việt đã vào đến Saigon, Tổng Thống Dương Văn Minh đầu hàng và ra lệnh binh sĩ Cộng Hòa buông súng. Tối hôm đó, sau khi từ biệt mọi người, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng vào phòng làm việc và dùng súng tự vẫn.

Hoài Nam
04-30-2003, 03:59 PM
http://www.vietroom.com/D1/Pic17/hoainam_hai_2.jpg

Chuẩn Tướng Trần Văn Hai là người gốc Cần Thơ, ra trường Võ Bị Quốc Gia Ðà lạt, khóa 7 (1951). Ông là một vị sĩ quan trong sạch và dũng cảm, đúng như tư cách của một người quân nhân.

Trong đời binh ngiệp của ông, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai đã gánh vác những vai trò trọng yếu trong công cuộc "Bảo Quốc, An Dân" như Tư Lệnh binh chủng Biệt Động Quân, Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia, Tư Lệnh Biệt Khu 44. Và cuối cùng là Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh kiêm Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Đồng Tâm (Mỹ Tho).

Chiều ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau khi cho binh sĩ rời quân ngũ theo lệnh của Tổng Thống, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai đã dùng thuốc độc tự vẫn trong phòng làm việc của ông.

Hoài Nam
04-30-2003, 04:01 PM
http://www.vietroom.com/D1/Pic17/hoainam_lenguyenvy.gif

Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ về đảm nhiệm chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh vào khoảng giữa năm 1973, khi ông vẫn còn mang cấp bậc Đại Tá. Ông nổi tiếng về tinh thần dũng cảm và chống cộng cương quyết, cũng như tính tình nóng như lửa cuả ông.

Vào mùa Hè năm 1972, Đại Tá Lê Nguyên Vỹ, Phó Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh đã có mặt ở Bộ Chỉ Huy Tiền Phương của Sư Đoàn tại An Lộc cùng Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Sư Đoàn. Họ đâu biết rằng họ sẽ là chứng nhân cho một biến cố lịch sử.

Rạng sáng ngày 5 tháng 4 năm 1972, Cộng Sản Bắc Việt xua bốn sư đoàn (5, 7, 9 và Bình Long) và hai trung đoàn xe tăng 202, 203 nhiều đơn vị yểm trợ tấn công thị xã An Lộc. Cộng quân đã dùng những trận mưa pháo để chà nát và san bằng thị xã nhỏ bé này. Hàng ngàn đồng bào vô tội đã bỏ mình dưới hỏa lực của Cộng quân.

Nhiều lần, Cộng Sản Bắc Việt dùng chiến xa T-54 tấn công thẳng vào nơi Chỉ Huy Tiền Phương của Sư Đoàn 5 đang đóng. Lần đầu tiên người lính VNCH gặp phải chiến xa địch, lại không tin tưởng vào khả năng của vũ khí của mình, nên đã hoảng hốt tìm nơi ẩn tránh. Không thể trách họ, vì hoả tiễn M72 không đủ sức xuyên phá nếu bắn vào đằng "mũi" của xe T-54. Khi ấy tướng Hưng đã cầm sẵn một trái lựu đạn nơi tay, với ý định nếu Việt Cộng tràn vào, ông tung ra, tất cả cùng chết. Chiếc chiến xa đi đầu đã tiến gần, quay ngang quay dọc để tìm kiếm trung tâm chỉ huy. Đại Tá Vỹ thừa cơ đứng lên, bắn một quả đạn M72 vào hông xe làm chiếc xe tăng bốc cháy. Binh sĩ lên tinh thần theo phương pháp diệt xe của Đại Tá Vỹ, bò theo nhũng vách tường, bờ giậu để bắn xe địch. Kết quả là đoàn xe bị tiêu diệt.

Sau 68 ngày tử thủ, Cộng quân bị đánh lui và An Lộc được giải toả. Đại Tá Lê Nguyên Vỹ được thăng cấp Chuẩn Tướng và về chỉ huy Sư Đoàn 5 Bộ Binh tại căn cứ Lai Khê (Bình Dương) khi Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng đi nhận nhiệm vụ mới ở Quân Khu IV.

Tại Lai Khê, ông làm việc không kể giờ giấc, ngày đêm, trong việc xây dựng và tu bổ hệ thống phòng thủ, cũng như huấn luyện binh sĩ. Ông cũng rất nhiệt tình trong việc bài trừ tệ nạn và tham nhũng trong hàng ngũ quân đội. Vì thế, ông đã mang lại niềm tin tưởng cho mọi người.

Cuối tháng 4 năm 1975, quân Cộng Sản Bắc Việt từ nhiều ngả tiến về Saigon. Nhưng cánh quân phía Đông Bắc của chúng không thể vượt qua căn cứ Lai Khê, mặc dù có lực lượng đông gấp nhiều lần. Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ đã làm tròn nhiệm vụ.

Sáng ngày 30 tháng 4, Tổng thống VNCH ra lệnh cho quân đội buông súng đầu hàng. Tướng Vỹ triệu tập sĩ quan và binh sĩ dưới quyền lần cuối. Ông tuyên bố: Vì tôi là tướng chỉ huy mặt trận, tôi không thể thi hành được lệnh này. Tôi nghĩ thân làm tướng, phần nào đã hưởng vinh dự và ân huệ của quốc gia hơn các anh em, nên tôi phải chọn lấy con đường đi cho riêng tôi." Đoạn ông bình tĩnh bước ra sân, nghiêm trang đứng dưới cột cờ của Bộ Tư Lệnh, và rút súng ra tự sát. Lúc đó là 11 giờ sáng 30 tháng 4 năm 1975.

Con đường Lê Nguyên Vỹ chọn đã có Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Lâm và nhiều vị anh hùng khác lựa chọn ngày trước. Ông không đi đơn độc một mình, vì khắp nơi trên đất nước, các đồng đội của ông, nhiều người cũng đang đi trên con đường đó...

Xin được một giây phút để nhớ đến Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam, và những người con đã hiến dâng đời mình cho Đất Mẹ thân yêu...

(Trích lược "Tưởng Nhớ Đến Anh Hùng" của Thanh Sơn)

thekeyboard
04-30-2003, 04:16 PM
cám ơn

As of 4/30/2003. There is no D1, Pic17 dir. Không thấy hình!!!

convitcha
05-01-2003, 12:24 AM
Amen!
Thank you!