View Full Version : Em muo^'n ho.c ho?i ve^` li.ch su*? Vie^.t Nam, hihihi
ShyGirl
05-11-2003, 03:07 PM
Dạ xin chào các các bác, các chú, các cô, và các anh chị . Em qua Mỹ từ nhỏ vì vậy không có biết nhiều lịch sử VN, actually, lịch sử VN em chẳng biết gì thì đúng hơn . Em chỉ nghe nói sơ sơ về vua Hùng Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ, rồi 2 bà Trưng, rồi nghe nói gì về Trần Hưng Đạo gì đó, other than that, em điếc ! :D .
Vậy nếu các bác, các chú, các cô, và các anh chị nào biết nhiều lịch sử VN, như là các thời đại, các triều vua chúa của VN, và những người tài giỏi trong lịch sử, thì có thể nào post lên cho em học hỏi với được không ?
Em rất là muốn biết để học hỏi . Để khi nói chuyện với ai, em biết đường trả lời là mình dù qua Mỹ từ nhỏ, nhưng cũng biết mình từ đâu, và biết được lịch sử của nước mình . Khi mà em biết về lịch sử VN đó hả, em sẽ kể cho em gái em nghe, và kể cho những bạn trẻ khác, hoặc các người lớn khác (nếu lúc nào nói chuyện bàn về lịch sử ) và rồi họ sẽ khen là em giỏi, em còn nhỏ mà biết chuyện, hihihihihi :D . Em cũng có âm mưu kìa, hihihi, nói giỡn :D
Vì vậy em muốn học hỏi thêm về nước VN, các anh chị hoặc cô, bác giúp em với nhé . Cám ơn các bác, các chú, và các anh chị trước nhé, muahhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhh mọi người nè, :kissing::kissing::kissing: . Í í, đáng lẽ em phải khoăn tay cúi đầu chào mới đúng ha, hihihihihi :kissing:
allena
05-11-2003, 03:18 PM
Bé Shy giỏi nghe ...tính làm chuyện gì đây vậy ??? ngạc nhiên , ngạc nhiên nghe...:) :D
Tặng cho em mấy cái bông nè :flower: :flower: :flower: :flower: :flower:
boteo
05-11-2003, 03:24 PM
Shygirl vào đây nhe http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?s=&threadid=41138, Lost-dude có list 1 đống sách sử Việt. Shygirl mà đọc hết chắc sẽ giỏi sử Việt hơn sử Mỹ đó :cool:
ShyGirl
05-11-2003, 03:41 PM
Oh, thank you anh BoTeo nhiều nhé, em click vào link đó và có quá chừng sách luôn, yay, Hè này đọc mệt nghỉ luôn, hihihihi :flower: :flower: :flower:
Chị Allena yêu quý của em, em muốn học hỏi về lịch sử VN tại vì, shhhh... chị đừng nói ai nheng, chị lại gần đây em nói nhỏ vào tai chị nè, shhhhhh... Âm mưu của em, em đã nói trên cái topic em đó, mà em giả vờ nói là giỡn chơi để cho mọi người không có tin là thiệt, nhưng mà là thiệt á, hihihihihi :D :D :D :D Chị thấy em ngầu hông, chơi cái kiểu mà 1 trong 36 kế mà nói là không phải cho người ta tin là không phải nhưng thực sự là phải á, hihihhi . Em cũng quên cái kế đó tên gì rồi, chắc hỏi lại anh BangHuu hoặc anh Nick quá, hihihihihi :cigar:
allena
05-11-2003, 03:49 PM
Bé Shy nè ...em có đủ thì giờ , đủ kiên nhẩn để đọc cho hết mấy cuốn sách đó hông dzị ??? có cần chị A đưa đi mua ...kiếng mới hông ??? :)
lost-dude
05-11-2003, 05:52 PM
ShyGirl,
Thật ra mấy quyển sách đó cũng dựa vào nhau mà viết, nên cũng không cần đọc hết đâu. Lost-dude rất thích bộ Việt Nam Sử Lược của Lệ thẩn Trần Trọng Kim vì quyển đó nói sơ lược qua, không có đi vào chi tiết lắm mà cũng không nói thiếu các biến cố sự kiện. Tiếc là bộ sử ấy chỉ có hai quyển [trong cái ebook thì góp lại thành một] và chỉ nói tới cuối đời vua Tự Đức.
The link underneath gives a brief description about the books:
http://www.shcd.de/lichsu%20vn/lichsuvn.htm
Lost-dude qua đây cũng nhỏ nhưng cũng ham học sử nước nhà lắm. Nếu Shygirl muốn disucss về lịch sử VN với Lost-dude, Shygirl có thể liên lạc mình qua:
AIM screen name: Dong Vinh Ly
MSN Instant messenger: DongVinhLy@hotmail.com
YIM username: DongVinhLy
My ICQ number: 250631596
Email address: dong.vinh.ly@verizon.net
Some historical pixtures:
http://nguyentl.free.fr/html/sommaire_photo_ancienne_vn.htm
Hoài Nam
05-12-2003, 11:26 AM
Chào ShyGirl và các bạn,
Ðọc qua những ước muốn tìm hiểu về lịch sử Việt Nam của ShyGirl, HN cảm thấy thật ấm lòng khi biết được những người trẻ như ShyGirl dù lớn lên tại hải ngoại vẫn luôn có mơ ước tìm hiểu về cội nguồn của dân tộc.
HN nghĩ rằng khi chúng ta tìm hiểu về lịch sử nước nhà là chúng ta đã tỏ lòng biết ơn tiền nhân của chúng ta trong công cuộc chống ngoại xâm, bảo vệ tổ quốc. Vì thế cá nhân HN dù có những hạn chế về thời gian trong sinh hoạt hàng ngày, nhưng HN hy vọng có thể đóng góp phần nào vào việc tìm hiểu về lịch sử nước Việt Nam của các bạn trẻ. HN mong mỏi các anh chị em có điều kiện và khả năng cùng tham gia vì đây là dịp để mọi người chúng ta cùng ôn lại lịch sử oai hùng của dân tộc Việt Nam trong chiều hướng bảo vệ và phát huy văn hóa Việt Nam tại hải ngoại.
Mến
Hoài Nam
Hoài Nam
05-12-2003, 11:30 AM
Theo truyền thuyết thì thủy tổ dân tộc Việt Nam là Kinh Dương Vương, hiện còn có mộ tại làng An Lữ, Thuận Thành, Bắc Ninh.
Kinh Dương Vương làm Vua vào khoảng năm Nhâm Tuất (hơn 2000 năm trước Công Nguyên ). Kinh Dương Vương lấy con gái Thần Long là Vua Hồ Động Đình sinh một con trai đặt tên là Sùng Lãm, sau nối ngôi Vua cha niên hiệu là Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng, một trăm trứng nở ra một trăm người con trai là tổ tiên của người Bách Việt.
Một hôm nhà Vua bảo bà âu Cơ: "Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó ". Bèn từ biệt , chia năm chục người con theo mẹ lên núi, năm chục người con theo cha về phía nam miền biển, phong cho con trưởng làm Hùng Vương nối ngôi.
Hùng Vương lên ngôi Vua, đặt quốc hiệu là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu (Bạch Hạc, Vĩnh Phú ), chia nước ra làm 15 bộ:
Văn Lang (Bạch Hạc, Vĩnh Phú).
Châu Diên (Sơn Tây).
Phúc Lộc (Sơn Tây).
Tân Hưng (Hưng Hoá- Tuyên Quang).
Vũ Định (TháI Nguyên- Cao Bằng).
Vũ Ninh (Bắc Ninh).
Lục Hải (Lạng Sơn).
Ninh Hải (Quảng Yên).
Dương Tuyền (Hải Dương).
Giao chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình).
Cửu Chân (Thanh Hoá).
Hoài Hoan (Nghệ An).
Cửu Đức (Hà Tĩnh).
Việt Thường (Quảng Bình- Quảng Trị).
Bình Văn ( ? )
Các đời Vua sau đều gọi là Hùng Vương, có 18 đời Vua Hùng Vương. Đặt các tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng, con trai Vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương, các quan nhỏ gọi là Bồ Chính.
Nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng là nhà nước phôi thai đầu tiên của Việt Nam.
Tác gỉa: Sử Việt
ShyGirl
05-12-2003, 01:19 PM
Oooooh, thì ra là vậy, wow, cám ơn chú HN so muchhhhhhhhhhhhhh :kissing::kissing::kissing: . Cháu cứ tưởng Lạc Long Quân và bà Âu Cơ là người founders của VN mà là Kinh Dương Vương, cháu chưa từng nghe tới ông đó, hihihihi . Tên Sùng Lãm nghe ngầu quá, mà Lạc Long Quân nghe ngầu bạo, hihihihi :D .
Mà ủa, sao con trai đi theo Lạc Long Quân thì được làm vua mà chỉ tới 18 đời, nghĩa là 32 người con trai kia không được làm vua, mà bị người khác dành ngôi hả . Và còn 50 con trai đi theo bà Âu Cơ thì làm gì ? What happened to those guys ????? Chắc họ làm tiên hết quá, hihihihi :flower:
Oh, thì ra các con gái vua đều gọi là Mỵ Nương, tại cháu có đọc truyện Sơn Tinh Thủy Tinh á, có nhắc tới Mỵ Nương, rồi hình như truyện An Dương Vương và cái gì mà cung thần đó, cũng có Mỵ Nương hay Mỵ Châu gì đó . Ui, lịch sự VN cháu dổm quá . Cháu có nghe nói (lúc cháu ở trong Thiếu Nhi Thánh Thể có học qua, mà giờ quên hết) là nước VN mình hồi xưa có nhiều tên lắm, mà cháu quên hết rồi . Đổi tên nhiều lần thì finally có ông vua nào đó quyết định một tên là Việt Nam, hihihihihi :flower: .
Cám ơn chú HN nhiều nhé, cháu chúc chú sức khỏe dồi dào, lúc nào cũng ngầu, và help cháu học hỏi thêm về lịch sử VN, hihihihihi :flower:
allena
05-12-2003, 02:27 PM
Shy ơi...từ từ đã nào :) Em hỏi một lúc bao nhiêu câu làm sao ai mà trả lời cho nổi:D
allena
05-12-2003, 02:33 PM
Cám ơn anh HN đã giúp cho bé Shy bài học sử đầu tiên , Allena nghĩ rằng có thể chúng ta sử dụng thread nầy để cùng ôn lại Sử Việt thì rất là hay...vì các sách sử trong các link mà chúng ta có tuy rất nhiều , nhưng nói thật rất là khô khan và chắc là không nhiều người đủ kiên nhẩn để đọc dài ngày .
Ở đây chúng ta , những anh chị em trong VCB có thể cùng nhau trao đổi , chia sẽ những hiểu biết của chúng ta về lịch sử , những giai thoại , cổ tích ...từ đó dù là người có tuổi hay những em nhỏ cũng có thể học hỏi một cách dễ dàng ...các anh chị em nghĩ có đúng không ??? ai đồng ý thì cho cái thread nầy vài bông hoa nhé :flower: :flower: :flower: :flower: :flower:
Dundy
05-12-2003, 02:53 PM
Ý kiến của Allena rất hay! Dundy xin tặng vài bông hoa cho thread này nữa nè! :flower: :flower: :flower: :flower: :flower:
Và Dundy cũng xin đóng góp bản tiếng Anh về nguồn gốc dân tộc Việt - Con Rồng, cháu Tiên.
Thousands of years ago, Kinh Dương Vương, King of Xích Qủy, married Long Nữ, a princess from Ðộng Ðình Hồ lake. Because of Long Nữ’s origin, their son Sùng Lãm, popularly known as Lạc Long Quân, was believed to be descended from the line of the Dragons. Lạc Long Quân had superhuman strength, and he liked to stay near water. He succeeded to the throne of his father, and governed the Lạc-Việt tribe.
Ðế Lai, king of a northern tribe, with his daughter Âu Cơ made a trip to visit the south. Admiring Lạc Long Quân’s talent, Ðế Lai married Âu Cơ to Lạc Long Quân. Âu Cơ became pregnant and gave birth to a membraneous sac. The sac kept getting larger and larger, and burst on the seventh day. There were one hundred eggs in the sac, and they hatched into one hundred beautiful children.
Even though Lạc Long Quân now had a family of his own, he often missed the coast and visited his mother Long Nữ frequently. Âu Cơ was unhappy with his absence.
Lạc Long Quân told Âu Cơ: "I am from the Dragon line. I like to dwell on the Coast. You are from the Fairy line, you like to be on highlands. Therefore, we can no longer live together. It is better that we separate now. You take fifty children to the highlands, and I will take fifty children down the coast..."
So, Lạc Long Quân took fifty children to the coast and divided the areas to govern. He taught his people the skills of fishing and the art of tattoos so that when they dove into the water, the tattoos would scare off other marine animals.
He also educated the people about agriculture -- how to sow rice seeds and harvest rice. He showed them how rice can be cooked in a bamboo tube with some water and broiled over an open fire. When done, the bamboo tube is split and delicious cooked rice is inside.
Âu Cơ took fifty children to the highlands, and also divided the areas to govern. The people who went to live in the jungle or the mountainous regions learned to breed animals, and worked the land to grow fruit trees for food. They lived above the ground in houses built on stilts made of bamboo trees, to avoid wild animals.
Ever since, the Bách-Việt race has scattered throughout SouthEast Asia. The children of Lạc Long Quân and Âu Cơ are the ancestors of Vietnam, and so the Vietnamese are known as "Dragon and Fairy descendants."
lost-dude
05-12-2003, 03:03 PM
ShyGirl,
Quốc hiệu (hay tên của một nước) của mình vào thời khai quốc (2879 BC) đời Lộc Tục Kinh Dương Vương là Xích Quỷ, con của Lạc Long Quân là Hùng Lân Vương đổi thành Văn Lang. Đến đời nhà Thục 257-207 BC An Dương Vương đổi là Âu Việt. Nhà Triệu 207-111 BC, Triệu Đà đặc là Nam Việt. Cuối đời nhà Trệu thì mình bị nhà Tần (Ch'in dynasty) bên Trung Quốc đô hộ, Việt Nam thành châu quận của Trung Quốc, tên đầu là Giao Chỉ. Năm 40 AD, Hai Bà Trưng đứng lên chống quân cai trị, xưng độc lập, đặc tên nước là Triệu; nhưng ba năm sau thì bị người Tàu diệt. Năm 203, Sĩ Nhiếp xin đổi lại là Giao Châu. Năm 544, Lý Bổn (tức là Tiền Lý Nam Đế) dành lại độc lập, đặc quốc hiệu là Vạn Xuân. Năm 603 thì mình bị nhà Đường đô hộ, gọi là An Nam. Năm 939 Ngô Quyền đứng lên đánh đuổi quân Nam Hán, mở trang sử độc lập; (nhưng) đến đời nhà Đinh (968), Đinh Tiên Hoàng (tức Đinh Bộ Lĩnh) đặc tên nước là Đại Cồ Việt. Đến đời Thánh Tông nhà Lý (1054) thì quốc hiệu được đổi thành Đại Việt. Năm 1400 Hồ Quí Ly cướp ngôi của cháu ngoại là Trần Phế Đế, lập ra nhà Hồ và đặc tên nước lại là Đại Ngu (Ngu=Nghiêu). Năm 1427 Bình Định Vương Lê Lợi (tức vua Lê Thái Tổ) đuổi được quân Tàu (Ngô/Minh=Zhu/Minh dynasty), lập ra nhà Hậu Lê và đổi tên nước lại Đại Việt. Năm 1802, Nguyễn Vương Nguyễn Phước Ánh (tức vua Gia Long Nguyễn Thế Tổ) đánh bại nhà Nguyễn Tây Sơn, thống nhất đất nước và đổi quốc hiệu là Việt Nam. Năm 1832 là năm Minh Mạng thứ 12, vua Nguyễn Thánh Tổ đổi quốc hiệu sang Đại Nam. Dưới thời Pháp thuộc (1883-1945) thì miền Bắc có tên gọi là Tonkin (I think Tonkin is Cantonese for Đông Kinh or the East Capital, which was the unofficial name of Hà Nội, given by King Lê Lợi), miền Trung thì gọi là An Nam và miền Nam thì gọi là Cochinchine. Đến tháng tư năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim (tác giả bộ Việt Nam Sử Lược) dưới quyền vua Bảo Đại, dùng lại cái tên Việt Nam. Cũng năm đó, vua Bảo Đại nhượng quyền cho Việt Minh, do Hồ Chí Minh đứng đầu; chính quyền Cộng Sản xưng là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Ngày 26/10/1955 ông Ngô Đình Diệm sáng lập chế độ Miền Nam Việt Nam, gọi là Việt Nam Cộng Hoà. Sau khi Việt Cộng tiếm lấn miền Nam và đến bây giời thì chúng gọi là Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (Socialist Republic of Vietnam).
Thiết nghĩ Việt Nam mình có rất nhiều tên. Nhưng qua các thời đại, thì người mình cũng vẫn xưng là Việt; còn nước mình thì xưng là Nam. Mình xưng là người Việt vì mình là dòng giống Lạc Việt. Còn gọi nước là Nam vì nước mình nằm về phía nam của Trung Quốc (Trung Quốc=Zhongguo=China; the Central Nation for once the Chinese believed that they are the center of the Earth). Về tên Việt Nam, tuy nó là tên chính thức của nước mình vào năm 1802, nhưng trước đó đã có nhiều người viết sách gọi là Việt Nam rồi. Cũng nên nhắc đến việc Vua Gia Long muốn chọn cái quốc hiệu Nam Việt, nhưng không được vua nhà Thanh/Jing thuận nguyên nó nhắc đến cái tên của nước mình vào đời nhà Triệu (một việc đau lòng cho người Tàu).
Một việc mà cá nhân Lost-dude thấy đau buồn là các quốc hiệu đó đều là từ Nho (Hán-Việt/Sino-Vietnamese), tức là tiếng mình mượn của tiếng Trung Quốc. Mình là người Việt, đáng lẽ mình phải lấy cái tên Nôm mà đặc cho nước mình mới phải. Người Nhật phải viết tên nước của họ bằng chữ Tàu cũng lấy làm nhục. Mình tuy đã dùng chữ Quốc ngữ, nhưng cái từ "Việt Nam" đó vẫn là từ Hán-Việt.
Vài hàng viết về tên nước Việt sang xẻ với ShyGirl.
:)
lost-dude
05-12-2003, 04:41 PM
Since we are talking about Vietnam history, it's not off topic to discuss about the origin of our people. Unfortunately, it is a topic that is still being debated since the Vietnamese people started to live in that land prior to recorded history. The first trace of people living in Northern Vietnam was from 20,000-12,000 BC - which is before the Mesolithic Age - under the Sơn Vi Culture. To give you a sense of how long ago that is, it was after the era when we turned into Homo Sapiens. The people that first ocupied Vietnam aren't necessarily Vietnamese, however. According to some archeaologists and anthropologists, northern Vietnam was once the center of migration of people to southern Vietnam and to the Pacific islands in Southeast Asia. What that means is that there could have been people living in northern Vietnam and migrated to other countries. This theory, if is an actual fact, would make it more difficult to determine when the Viet people really start living in northern Vietnam.
With the modern understanding of the past and with the advance technology, we still have not deternined where the Vietnamese came from and since when did they start living there. (Obviously, the Vietnamese people wouldn't just originate from Vietnam; unless the Evolution theory by Charles Darwin is proven wrong.) There are archeaologists in Vietnam, as well as oversea, that are working to find out the answers about our past. Some of them even use DNA and other scientific methods to find out our origin. Nonetheless, we haven't heard any annoucement from those people, I guess it means that we still haven't got the answer. Of course, there are plenty of theories out there, trying to explain where we came from.
The French, since the time they colonized us, have been studying about origin as well. Some of them theorized that we came from Tibet (which is now southwestern part of China). Our ancestors, they believed, followed the Mekong River and then traveled along the Red River to reach Northern Vietnam. This theory does sound logical, because base on the Evolution theory, the first human came from mainland Africa.
There are many other theories saying that we came from southern part of the Yangtze River in central China. Our ancestors annually migrated along the East China Sea to Northern Vietnam to avoid the bitter cold of winter. When spring approached, they traveled back to their territory. There was a type bird that made the same movements as those people. They called those birds "lạc" and then adopted them as their totem. Thus the name Lạc Việt came from that phenomenon. When their territory was invaded by the Han peole from the North, they fled to the South and remained in Northern Vietnam.
There were other theories that also said we came from southern China. Such as the one saying that our ancestors belong to the Bách Việt or Bai Yue or a group of Viet people occupied all over southern China. Our ancestors, the Lạc Việt, were probably lived in southernmost part of that group. Later, when the Chinese expanded their territory southward, most of the Viet group were conquered, except for the Lạc Việt.
There are many other theories trying to explain where our people came from. I just list a few that most people accepted. There were nationalistic theories, such as the "Con Rồng Cháu Tiên" theory. There were theories that are on the other end of the spectrum, such as the one that the Chinese called our ancestors as Man Di or subhuman organisms. There are numerous others that aren't so well-known to most of us.
You can download the Việt Sử Toàn Thư by Phạm Văn Sơn and read about them from the link boteo posted above. I apology for writing this in English. I feel more comfortable and less time consuming to write in English than to write in Vietnamese. I did write something similar to this in Vietnamese a while ago. Although it's not exact the same, I think you can get the idea.
Theo thuyết tiến hóa (evolution theory) thì con người chúng ta, homo sapiens, xuất hiện trên mặt đất ở lục địa Phi châu cách đây sáu triệu năm. Qua hàng ngàn đời di chuyển của con người thì một số người mới đạt tới Việt Nam ta. Dựa vào thuyết này, thì ngoài niềm đoán rằng người Việt nam ta có nguồn gốc từ Trung Hoa, tiên tổ của chúng ta vẫn có một con đường khác để đến đất Việt Nam. Đó là con đường từ những vùng A Phú Hãn và Tây Tạng xuống sông Mekong rồi sang sông Hồng. Nếu như vậy thì những dân tộc Thái và Campuchia chắc cũng xuất nguồn cùng dân tộc Việt ta. Nếu chúng ta lấy người Tàu, người Việt và người Campuchia ra so sánh, thì chắc người Việt ta nhìn giống nữa người Tàu và nữa người Miên. Phải chăng chúng ta phát xuất cùng một nguồn với người Miên nhưng vì một nghìn năm đồng hóa cho nên ta lại nhìn giống người Tàu?
Cũng có thuyết cho rằng tiên tổ ta vốn ở lưu vựt sông Dương tử, tiến đến vùng biển Phúc kiến rồi đi thuyền tre có buồm dọc theo ven duyên hải Trung quốc để đến Bắc kỳ. Cũng tương tự như thuyết này, thì vùng đất từ phía nam Dương tử đều là của người Việt, nói đúng hơn là người Bách Việt. Sau này người Hán xuống xâm lắng nên họ phải lánh xuống phương nam, nơi đương thời là miền bắc Việt nam. Phải chăng người Kinh mình là dân tộc nổi bật nhất trong nhóm Bách Việt đó nên bay giờ vẫn tồn tại?
Một thuyết khác cho rằng người Việt mình vốn là giống Tam Miêu bên Tàu (dựa theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim). Rồi nào là việc người Việt mình có hai ngón chân cái xéo với nhau nên gọi là giống Giao chỉ.
Nếu tìm về nguồn gốc dân tộc qua huyền sử thì chúng ta thấy những sử gia đầu tiên của nước Việt vào đời nhà Trần phải lận lội đến ba bốn nghìn năm mới tới cái năm 2879 tr. Công Nguyên. Những huyền sử ấy chỉ dựa vào truyền tục và sử Tàu mà thôi, nên không có một địa vị khoa học nào cả. Vả lại, những đại danh từ trong huyền sử toàn mang tên Tàu, đúng hơn là mang tên chữ Hán Việt. Nếu có và tên Nôm thì cũng có thể tin được. Trong một quốc ngữ 100% là Nôm (bây giờ là 35%) lại sao Hùng Vương, Lộc Tục, Sùng Lãm, Âu Cơ, Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Vụ Tiên... đều là từ Hán Việt? Không thể nào là từ Hán Việt trùng âm với từ Nôm được. Vậy nên huyền sử về nguồn gốc dân tộc Việt có một phần nào hơi phản Việt.
Nghe nói ở California, Hoa kỳ có một nhóm người nghiên cứu về nguồn gốc Việt qua deoxyribonucleic acid (DNA) nhưng nghe nói họ không biết tìm đâu ra một người Việt tinh tuyết thuần túy. Nếu có vị nào biết nhều về thành tích của nhóm này, thì xin cho cháu được biết.
One correction I want to make is that the Vietnamese don't look really similar to the Laotians and Cambodians. Also, Nôm are words in Vietnamese that existed in our language since the beginning (which was around 65,000 BC) and Nho are Chinese-derived.
PHU` DU
05-13-2003, 04:14 AM
Phù Đổng Thiên Vương
Vào đời Hùng Vương thứ sáu, thiên hạ bình yên; dân gian sống trong cảnh thái bình. Vua Hùng không triều cống nhà Ân bên Tàu. Thấy vậy, vua nhà Ân sai người giả di tuần thú, tìm cách xâm chiếm nước Nam.
Hùng Vương lo sợ, cho vời quần thần vào để hỏi mưu mẹo đánh giặc ngoại xâm và giữ yên bờ cõi. Có người thưa với vua rằng:
- Bệ hạ nên kêu khấn với Long Quân để Ngài sai thiên tướng xuống giúp thì mới xong.
Vua nghe lời, lập đàn chay trong ba ngày cầu khấn. Bỗng trời nổi cơn giông, sấm sét ầm ầm, mưa như trút nước. Rồi sau đó, một cụ già cao lớn, tóc trắng râu bạc, ngồi ở một ngã đường, vừa cười vừa nói, ca hát múa may. Ai trông thấy cũng cho là la Có người tâu lên vua. Vua thân hành đến mời ông cụ đến nơi làm đàn chay, đem cơm rượu ra thiết đãi. Ông cụ không ăn và cũng không nói câu nào.
Vua hỏi:
- Sắp có giặc phương Bắc xâm lăng nước Nam, xin cụ mách bảo sự thể thua được như thế nào?
Một hồi lâu, ông cụ mới nói:
- Ba năm nữa, giặc Bắc sẽ kéo đến đây. Nhà vua nên tìm trong thiên hạ, cầu người kỳ tài, thì mới phá được giặc. Khi phá được giặc thì vua nên chia đất, phong tước cho người ta. Ðược vậy thì việc phá giặc không khó gị
Nói xong, cụ già bay vụt lên Trời, biến mất.
Vua tuân lời, sai sứ đi khắp trong nước để tìm người tài ra giúp nước. Bấy giờ, ở làng Phù Ðổng, huyện Võ Ninh (bây giờ là Võ Giàng), có một gia đình nhà giàu, hai vợ chồng tuổi ngoài 60, sinh được một cậu con trai, đã 3 tuổi mà chưa biết nói, chỉ nằm ngữa và không ngồi dậy được. Khi nghe sứ giả đến làng truyền rao lời kêu gọi của nhà vua, tìm người tài ra cứu nước, bà mẹ đã nói giỡn với con rằng:
- Ðẻ được một chút con trai chỉ biết ăn uống, đứng ngồi không được thì nói gì đến đánh giặc, để mà lãnh thưởng của nhà vua, đền công cha mẹ nuôi dưỡng.
Sau khi nghe nói vậy, cậu con bật nói với mẹ gọi sứ giả đến đây. Bà mẹ lấy làm lạ, đem chuyện kể cho những người láng giềng. Láng giềng thấy lạ bèn khuyên cha mẹ cậu bé thử gọi sứ giả đến xem sao.
Sứ giả đến và thấy cậu bé mới hỏi:
- Tiểu nhi kia, gọi ta đến để làm gỉ
Tiểu nhi ngồi dậy, bảo với sứ giả:
- Sử giả hay mau trở về tâu với nhà vua hãy đúc cho ta một con ngựa sắt cao 18 thước; một thanh kiếm dài 7 thước; và một cái nón sắt rồi đem đến cho ta. Ta sẽ ra trận, giặc thấy ta tự nhiên phải sợ mà chạy. Có gì mà phải lo\?
Sứ giả mừng rỡ, trở về tâu với vua. Nhà vua tỏ ra vui mừng bảo với quần thần rằng:
- Năm ngoái ông cụ già đã nói, quả nhiên là đã có Long Vương giúp ta, không còn hồ nghi gì nữa!
Vua lập tức sai thợ rèn đúc ngựa, kiếm, mũ sắt để đưa cho tiểu nhi. Cha mẹ cậu bé lấy làm lo lắng, sợ con nói xằng rồi mang vạ cho cả nhạ
Tiểu nhi cười lớn và nói:
- Cha mẹ cứ yên tâm và hãy kiếm rượu thịt thật nhiều để con ăn. Chuyện đánh giặc thì cha mẹ chớ lo.
Tiểu nhi mỗi ngày một lớn nhanh, ăn nhiều. Gia đình cậu tuy giàu có nhưng không đủ gạo cho cậu ăn no, không đủ vải để may áo quần. Xóm làng phải chung góp gạo vải với gia đình để nuôi cậu. Bấy giờ cậu bé đã trở thành to lớn, không thể nào ở trong nhà được nữa, bèn phải cất một ngôi nhà to để cho Ngài ợ
Khi giặc Ân kéo đến núi Châu Sơn (thuộc huyện Tên Du), thì sứ giả đem ngựa, kiếm và mũ sắt đến trao cho Ngài. Ngài vươn vai đứng lên, cao hơn hai trượng, ngẩn mặt lên trời gầm lớn, rồi vung thanh kiếm quát lớn rằng:
- Ta là thiên tướng nhà Trời đây!
Lập tức đội mũ, nhảy lên ngựa phóng đi. Ngựa hét ra lửa và chạy như bay, chỉ chớp mắt đã đến chỗ đóng quân của giặc. Theo sau là các quan quân tiến theo ra trận. Ngài xông vào trận đánh giết một hồi gẫy mất kiếm. Ngài với lấy bụi tre bên vệ đường để làm vũ khị Ðám giặc Ân bị đánh tan tác. Bọn giặc tranh nhau lạy phục xuống đất, kêu rằng:
- Lạy Ngài, Ngài là thần tướng trên Trời, chúng tôi xin hàng.
Khi đánh đến núi Ninh Sóc thì giặc tan hết. Ngài cởi áo bào để lại và cưỡi ngựa bay lên Trời. Ðến bây giờ vẫn còn lại dấu người và ngựa ở trên núi.
Vua Hùng nhớ ơn, phong làm Phù Ðổng Thiên Vương và cho lập miếu thợ Sau đó vua cũng ban cho dân làng Phù Ðổng một trăm mẫu ruộng tự điền. Vua cũng ra lệnh bốn mùa phải cúng tế Thiên Vương.
Giặc phương Bắc một phen kinh vía, không còn xâm phạm nước Nam nữa. Khắp nơi nghe chuyện cũng sợ và tỏ ra hòa hiếu với nước Nam.
Ðến đời nhà Lý, vua gia phong làm Sung Thiên Thần Vương. Bây giờ người ta vẫn còn thờ Sung Thiên Thần Vương ở làng Gióng, và tượng được tạc trên núi Vệ Linh. Mỗi năm, dân chúng ở làng mở hội rất lớn. Những bụi tre Ngài nhổ lên đánh giặc bây giờ thành rừng ở huyện Gia Bình, gọi là tre Ðằng Ngạ Chỗ con ngựa sắt thét ra lửa đốt cháy một làng, bây giờ gọi là làng Cháy.
PHU` DU
05-13-2003, 04:20 AM
Ngày xưa, vào đời Vua Hùng Vương thứ 6, sau khi đánh dẹp xong giặc Ân, vua muốn truyền ngôi cho con. Nhân dịp đầu Xuân, vua mới họp 20 quan lang (hoàng tử) lại, bảo rằng: "Con nào tìm được thức ăn ngon lành, để bày cỗ cho có ý nghĩa hay, thì ta sẽ truyền ngôi vua cho".
Các hoàng tử đua nhau tìm kiếm của ngon vật lạ dâng lên cho vua cha, với hy vọng mình lấy được ngai vàng. Người con trai thứ 18 của Hùng Vương, là Tiết Liêu (còn gọi là Lang Lèo) có tính tình hiền hậu, lối sống đạo đức, hiếu thảo với cha me Vì mẹ mất sớm, thiếu người chỉ vẽ, nên ông lo lắng không biết làm thế nào\.
Một hôm, Tiết Liêu nằm mộng thấy có vị Thần đến bảo: "Này con, vật trong Trời Ðất không có gì quý bằng gạo, vì gạo là thức ăn nuôi sống con người\. Con hãy nên lấy gạo nếp làm bánh hình tròn và hình vuông, để tượng hình Trời và Ðất. Hãy lấy lá bọc ngoài, đặt nhân trong ruột bánh, để tượng hình Cha Mẹ sinh thành"
Tiết Liêu tỉnh dậy, vô cùng mừng rợ Ông làm theo lời Thần dặn, chọn gạo nếp thật tốt làm bánh vuông để tượng hình Ðất, bỏ vào chõ chưng chín gọi là Bánh Chưng. Và ông giã xôi làm bánh tròn, để tượng hình Trời, gọi là Bánh Dầy\. Còn lá xanh bọc ở ngoài và nhân ở trong ruột bánh là tượng hình cha mẹ yêu thương đùm bọc con cái\.
Ðến ngày hẹn, các hoàng tử đều đem thức ăn đến bày trên mâm cộ Ôi thôi, đủ cả sơn hào hải vị, nhiều món ngon lành. Hoàng tử Tiết Liêu thì chỉ có Bánh Dầy và Bánh Chưng. Vua Hùng Vương lấy làm lạ hỏi, thì Tiết Liêu đem chuyện Thần báo mộng kể, giải thích ý nghĩa của Bánh Dầy Bánh Chưng. Vua cha nếm thử, thấy bánh ngon, khen có ý nghĩa, bèn truyền ngôi Vua lại cho Tiết Liêu con trai thứ 18.
Kể từ đó, mỗi khi đến Tết Nguyên Ðán, thì dân chúng làm bánh Chưng và bánh Dầy để dâng cúng Tổ Tiên và Trời Ðất. Về sau, trở thành tục lệ ở Việt Nam, đâu đâu cũng làm bánh Chưng bánh Dầy trong dịp Tết, kể cả các lễ cưới và đám tang.
TruSiNang
05-13-2003, 04:50 AM
Thân chào các bạn,
Xin được vô ôn học lại sử và góp thơ cho vui
Trở Về Nguồn
Ta vẫn là ta của cội nguồn
Của tình dân tộc, của quê hương
Của non nước Việt tràn đau khổ
Của giống Lạc Hồng ngập nhớ thương .
Ta vẫn là ta của cội nguồn
Của tình viển xứ của tang thương
Của em bé nhỏ sầu ly tán
Của Mẹ già nua khổ vấn vương .
Ta vẫn là ta của cội nguồn
Của Trần Hưng Ðạo, của Trưng Vương
Của trai trung kiệt thề sát đát
Của gái hiên ngang diệt bạo cường .
Ta nhớ người xưa nhớ cội nguồn
Nhớ nhiều nhớ lắm nhớ quê hương
Nhớ Cha già yếu còn hay mất ?
Nhớ Mẹ trong con đã mỏi mòn .
Ta nhớ người xưa nhớ cội nguồn
Nhớ tình huynh đệ lúc ly hương
Nhớ ngôi trường cũ buồn man mác
Nhớ mái nhà xưa nhớ ruộng vườn.
Ta nhớ người xưa nhớ cội nguồn
Nhớ rừng xanh thẳm, nhớ Trường Sơn
Nhớ chùa Thiên Mụ chuông ngừng đổ
Nhớ mái tóc thề gội gió sương .
Ta đã lê chân khắp nẻo đường
Cố tìm hình bóng của quê hương
Lắng nghe tiếng gọi hồn sông núi
Ta thấy lòng ta ngập nhớ thương .
Ta vẫn cô đơn giữa phố phường
Giữa người qua lại thiếu tình thương
Nắng lên thiên hạ cười trong nắng
Nắng tắt trong lòng khách viễn phương .
Một sáng mùa xuân đến Phật đường
Mái chùa tắm nắng tỏa tình thương
Tiếng chuông tĩnh lặng ngân trong gió
Trải rộng từ bi khắp bốn phương .
Ta hết cô đơn hết khổ buồn
Với lòng thanh tịnh với tình thương
Áo Lam bất khuất cài sen trắng
Thúc dục ta về với cố hương .
Ta quyết cùng nhau trở lại nguồn
Trở về với Mẹ, với tình thương
Trở về chùa cũ, thăm thầy cũ
Thắp nén trầm hương giữ lấy nguồn .
Minh Ðăng
:flower: :flower: :flower:
allena
05-13-2003, 07:24 AM
Chị PD ui...còn chuyện Sơn Tinh Thuỷ Tinh nửa đó ...kể nửa đi muh :) :p :D
Thanks...:flower:
PHU` DU
05-13-2003, 07:31 AM
Ngày xưa, vào đời Vua Hùng Vương thứ 18, vua có nuôi một đứa trẻ thông minh khôi ngô, đặt tên là Mai Yển, hiệu
là An Tiêm. Lớn lên, vua cưới vợ cho An Tiêm, và tin dùng ở triều đình. Cậy nhờ ơn Vua cha, nhưng An Tiêm lại kiêu căng cho rằng tự sức mình tài giỏi mới gây dựng được sự nghiệp, chứ chẳng nhờ ai. Lời nói này đến tai vua. Vua cho là An Tiêm là kẻ kiêu bạc vô ơn, bèn đầy An Tiêm cùng vợ con ra một hòn đảo xa, ở ngoài biển Nga Sơn (Thanh Hoá, Bắc Việt).
Người vợ là nàng Ba lo sợ sẽ phải chết ở ngoài cù lao cô quạnh. Nhưng An Tiêm thì bình thản nói: "Trời đã sinh ra ta, sống chết là ở Trời và ở ta, việc gì phải lo". Hai vợ chồng An Tiêm cùng đứa con đã sống hiu quạnh ở một bãi cát, trên hoang đảo. Họ ra sức khai khẩn, trồng trọt để kiếm sống. Một ngày kia, vào mùa hạ, có một con chim lạ từ phương tây bay đến đậu trên một gò cát. Chim nhả mấy hạt gì xuống đất. Ðược ít lâu, thì hạt nẩy mầm, mọc dây lá cây lan rộng.
Cây nở hoa, kết thành trái to. Rất nhiều trái vỏ xanh, ruột đọ An Tiêm bảo vợ: "Giống cây này tự nhiên không trồng mà cọ Tức là vật của Trời nuôi ta đó". Rồi An Tiêm hái nếm thử, thấy vỏ xanh, ruột đỏ, hột đen, mùi vị thơm và ngon ngọt, mát dịu. An Tiêm bèn lấy hột gieo trồng khắp nơi, sau đó mọc lan ra rất nhiều.
Một ngày kia, có một chiếc tầu bị bão dạt vào cù lao. Mọi người lên bãi cát, thấy có nhiều quả lạ, ngon. Họ đua nhau đổi thực phẩm cho gia đình An Tiêm. Rồi từ đó, tiếng đồn đi xa là có một giống dưa rất ngon ở trên đảo. Các tầu buôn tấp nập ghé đến đổi chác đủ thứ vật dụng và thực phẩm cho gia đình An Tiêm. Nhờ đó mà gia đình bé nhỏ của An Tiêm trở nên đầy đủ, cuộc sống phong lưu.
Vì chim đã mang hột dưa đến từ phương Tây, nên An Tiêm đặt tên cho thứ trái cây này là Tây Qua. Người Tầu ăn thấy ngon, khen là "hẩu", nên về sau người ta gọi trại đi là Dưa Hấu.
Ít lâu sau, Vua Hùng Vương thứ 18 sai người ra cù lao ngoài biển Nga Sơn dò xét xem gia đình An Tiêm ra làm sao, sống hay chết. Sứ thần về kể lại cảnh sống sung túc và nhàn nhã của vợ chồng An Tiêm, nhà vua ngẫm nghĩ thấy thầm phục đứa con nuôi, bèn cho triệu An Tiêm về phục lại chức vị cũ trong triều đình.
An Tiêm đem về dâng cho Vua giống dưa hấu mà mình may mắn có được. Rồi phân phát hột dưa cho dân chúng trồng ở những chỗ đất cát, làm giầu thêm cho xứ Việt một thứ trái cây danh tiếng. Hòn đảo mà An Tiêm ở, được gọi là Châu An Tiêm
PHU` DU
05-13-2003, 08:05 AM
Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái tên gọi là Mỵ Nương, sắc đẹp tuyệt trần. Mỵ Nương được vua cha yêu thương rất mực. Nhà vua muốn kén cho nàng một người chồng thật xứng đáng.
Một hôm có hai chàng trai đến, xin ra mắt nhà vua để cầu hôn. Một người ở vùng núi Ba Vì, tuấn tú và tài giỏi khác thường: chỉ tay về phía đông, phía đông biến thành đồng lúa xanh, chỉ tay về phía tây, phía tây mọc lên hàng dãy núi. Nhân dân trong vùng gọi chàng là Sơn Tinh. Còn một người ở mãi tận miền biển Đông tài giỏi cũng không kém: gọi gió, gió đến, hò mưa, mưa tới - Chàng này tên gọi là Thủy Tinh.
Một người là chúa của miền non cao, một người là chúa của vùng nước thẳm, cả hai đều xứng đáng làm rể vua Hùng cả.
Hùng Vương băn khoăn không biết nhận lời ai, từ chối ai. Nhà vua cho mời các quan lạc hầu vào bàn mà vẫn không tìm được kế hay. Cuối cùng, Hùng Vương phán rằng:
- Hai người đều vừa ý ta cả, nhưng ta chỉ có một người con gái, biết gả cho người nào? Ngày mai, nếu ai đem đồ sính lễ đến đây trước: một trăm ván cơm nếp, hai trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, thì được rước dâu về.
Sáng sớm hôm sau, Sơn Tinh đã đem đầy đủ lễ vật đến trước và được phép đưa dâu về núi. Thủy Tinh đến sau, không lấy được vợ, đùng đùng nổi giận, đem quân đuổi theo, một hai đòi cướp lại Mỵ Nương.
Thủy Tinh hô mưa, gọi gió, làm thành dông bão đùng đùng rung chuyển cả đất trời, dâng nước sông lên cuồn cuộn tiến đánh Sơn Tinh. Nước ngập lúa, ngập đồng rồi ngập nhà, ngập cửa.
Sơn Tinh không hề nao núng, dùng phép màu bốc từng quả đồi, di từng dãy núi chặn đứng dòng nước lũ. Nước dâng lên cao bao nhiêu, Sơn Tinh lại làm cho đồi, núi mọc cao lên bấy nhiêu. Hai bên đánh nhau ròng rã mấy tháng trời liền, cuối cùng Thủy Tinh đuối sức phải rút quân về.
Từ đó, oán ngày càng thêm nặng, thù ngày càng thêm sâu, không năm nào Thủy Tinh không làm mưa làm bão, dâng nước lên đánh Sơn Tinh và lần nào Thủy Tinh cũng thua, phải bỏ chạy.
allena
05-13-2003, 08:48 AM
Tài liệu nầy Allena trích trong VNHLS của Cao Thế Dung ..mời các anh chị và các em tham khảo .
NƯỚC VIỆT NAM
Diện tích rộng 331.689 km2 . đồng bằng và châu thổ rộng hơn 9M hecta , có 41000 km sông ngòi kênh rạch , có thể cung cấp 80tỷ kw giờ điện .
Rừng VN : có vào khoãng 9M5 hecta , có 12.2% rừng tre , 3,7% rừng thông , 2.5% đước , tràm 2.1% . Còn lại 78.2% là rừng gỗ với hơn 20 loại gỗ quí như : lim , mun , vàng tâm , trắc , gụ , cẩm lai, giáng hương , gụ mật , kim giao , hoàng đàn....gỗ đóng tàu thuyền 15%, xây cất 50%,làm giấy và sợi 11% . Rừng Vn có vào khoãng 75-80% cây thuốc và dược liệu của Đông Y , với các loại quý như :nhân sâm , đẳng sâm ,hà thủ ô , quế, trầm , bạch đậu khấu , tô mộc...Không kể hơn 14 loài Rắn sử dụng làm dược liệu. Các loài thú quý như : hươu sao,heo vòi ( gần tuyệt chủng ) cà đác (loài vượn đuôi dài , mũi hếch ngược ) trĩ mặt nguyệt ( trĩ sao , lông đuôi dài 2m ở rừng Bình Trị Thiên ) tê giác , bó tót , min , cầy voi ,cầy hương , hoẵng , sơn dương , cà tong ...với các loại chim quý như : Công , phượng hoàng , sâm cầm ,trĩ đỏ , gà gô...
Tài Ngyên Biển :Bờ biển VN dài 3200km , có 1200loài cá. 100loài có giá trị lớn. Vình Bắc Bộ , có 900 loài cá , mỗi năm có thể thu hoạch 200000 tấn , Vùng biển miền Trung với khu vực cá rộng 1350 hải lý vuông , có thể thu hoạch 400000 tấn mỗi năm , biển miền nam có 807 loài cá ,.Bãi cá Côn Sơn , Vũng Tàu , Cà Mau trữ lượng 450000 tấn . Cá nổi vùng cửa sông 350000 tấn . Vùng vịnh Thái Lan có thể khai thác 375000 tấn / năm . , cá nổi 200000 tấn .
Vùng biển miền Bắc có 40 loại tôm , biển miền Nam có 47 loại tôm , mỗi năm khoãng 50000 tấn tôm rồng , hùm , he...cua biển 50 loại . Các loại hải sản khác như : sò huyết , bào ngư, điệp hầu , xà cừ , đồi mồi, trai tai tượng , sứa , hải sâm ,trai ngọc , mực ,ốc anh vũ...Riêng yến , một năm thu hoạch khoãng 1500kg, có vào khoạng 100000 tấn rau câu biển .
Khoáng Sản : Có trên 300mỏ , 50 loại khoáng sản . Kim loại quý như : Hồng ngọc , huyền ngọc , vàng .Kim loại đen : sắt , manggan .titan ,chromit . Kim loại màu :đồng , kẽm , chì , boxit ,niken ,thiếc ...các loại khoáng sản không kim loại ,,,Đất sét gốm , cao lanh , cát trắng ...đá lợp .
VN có 150 suối nước khoáng.
Về Hoàng Sa hay còn gọi là Tây sa quần đảo , nằm ở đông kinh tuyến 120 độ , Bắc vỹ tuyến 16 độ , cách Đà Nẵng 120 hải lý , gồm 130 đảo nhỏ , 15 bãi đá ngầm ,thêm một số triền cát và đảo san hô , thuộc chủ quyền VN từ đời Trần , sử sách đã ghi rỏ xem bản đồ Việt Nam vẽ năm 1490 đời vua Lê Thánh Tôn đã vẽ đảo Hoàng Sa .
Về Trường Sa : còn gọi là Nam Sa quần đảo , gồm 100đảo lớn nhỏ ,trong đó có khoãng 30 bãi đá ngầm , với một hãi vực rất rộng ,hơn 500 hãi lý từ bắc chí nam ,tính theo cự ly , cách bờ biển Sabah mã Lai 100hãi lý , cách VN 350 hãi lý , cách Hoàng Sa 400 hãi lý .
Hoài Nam
05-13-2003, 10:12 AM
Thiên địa trường tồn, ức vạn niên do truyền quốc tổ,
Tinh thần bất hủ, thập bát thế giai điệu Hùng Vương
Trời đất còn dài, ức muôn năm vẫn truyền là quốc tổ,
Tinh thần không diệt, mười tám đời đều mang hiệu Hùng Vương
Tổ tiên dân tộc Việt Nam, họ Hồng Bàng dựng nước, 18 đời đều xưng hiệu Hùng Vương (theo Hùng triều ngọc phả và Thiên Nam bảo lục diễn ca).
1. Kinh Dương Vương Lộc Tục (X. Lộc Tục), tôn dâng miếu hiệu Hùng Dương.
2. Lạc Long Quân Sùng Lãm (X. Sùng Lãm) thụy hiệu Hùng Hiền.
3. Hùng Lân
4. Hùng Việp
5. Hùng Hi
6. Hùng Huy
7. Hùng Chiêu
8. Hùng Vĩ
9. Hùng Ðịnh
10. Hùng Hi
11. Hùng Trinh
12. Hùng Võ
13. Hùng Việt
14. Hùng Anh
16. Hùng Tạo
17. Hùng Nghị
18. Hùng Duệ
Hiệu nước khi ấy là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu (thuộc huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Phú ngày nay). Toàn lãnh thổ chia làm 15 bộ: Văn Lang, Châu Diên, Phúc Lộc, Tân Hưng, Võ Ðịnh, Võ Ninh, Lục Khải, Ninh Hải, Dương Tuyền, Giao Chỉ, Cửu Chân, Hoài Nam, Cửu Ðức, Việt Thường và Bình Văn.
Tại địa phận phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ có đền thờ các vua Hùng Vương. Hàng năm, đến ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch có lễ giỗ các vua Hùng, còn gọi là ngày giỗ Tổ.
allena
05-13-2003, 10:18 AM
*Hùng Vương - Họ Hồng Bàng :
Quốc hiệu : Văn Lang .
2879 trước Công Nguyên - > 258 trước Công Nguyên
* Nhà Thục - An Dương Vương :
Quốc hiệu : Âu Lạc
257 trưóc Công Nguyên -> 208 trước Công Nguyên
Cao Lỗ chế tạo được nỏ liên thanh , Triệu Đà gọi là Nỏ thần .
* Nhà Triệu :
Quốc hiệu : Nam Việt
207 trước Công Nguyên -> 111 trước Công Nguyên
Từ Triệu Đà đến Triệu Việt Vương
* Bắc thuộc lần thứ Nhất :
111 trước Công Nguyên -> 39 sau Công Nguyên
* Triều đại Trưng Nữ Vương :
40 -> 43 sau CN
Mùa xuân năm 40 , Hai Bà Trưng khởi nghĩa
* Bắc thuộc lần thứ Hai ( 43 - 544 )
_ 157 : Chu Đạt khởi nghĩa
_ 178 : Lương Long nỗi dậy ,cướp được chính quyền , làm chủ được 4 năm ( 178 - 181 )
_ 248 : Bà Triệu Thị Trinh khỡi nghĩa
*Đạo Phật truyền vào Giao Châu , theo Giáo Tông Agana xây chùa Tứ Pháp ở Luy Lâu , dựng 20 ngọn tháp
_ 271 : khởi nghĩa ở Thái Nguyên
_ 299 : Cửu Chân nổi dậy
_ 319 : Lương Thạc dành quyền Thứ Sử Giao Châu
__ 468 : Lý Trường Nhân dành quyền Thứ Sử Giao Châu
* Chử Nôm xuất hiện trên một số bài minh trên chuông đồng
* Nhà Tiền Lý ( 544 - 602 )
Lý Nam Đế tức Lý Bôn khỡi nghĩa năm 541 , năm 544 dựng nước Vạn Xuân , niên hiệu Thiên Đức .
Triệu Việt Vương ( 549 - 571 )
Hậu Lý Nam Đế ( 571 - 602 ) tức Lý Phật Tử
* Bắc thuộc lần thứ ba : ( 603 - 939 )
_679 : Vua Đường cao Tôn lập An Nam đô hộ phủ . Nước ta bị gọi là An Nam khởi đầu từ năm nầy
_ 722 : Mai Thúc Loan tức Mai hắc Đế khỡi nghĩa
_767 - 791 : Phùng Hưng khỡi nghĩa năm 791 , dân tôn là Bố Cái Đại Vương
lost-dude
05-13-2003, 10:18 AM
Như chúng ta đều biết, Phủ Đổng Thiên Vương là một nhân vật thần thoại, huyền sử. Nguyên vì nước ta được khai sáng cả ba thiên niên kỷ (3000+ năm) trước khi có quốc sử, nên những sử gia đầu tiên vào đời nhà Trần phải dùng qua hai tài liệu: Một là lịch sử Trung Quốc, mà các sử gia họ luôn con dân tộc mình là gióng man di, mọi rợ; và hai là những truyện tích truyền khẩu trong dân gian, trong đình miếu. Như hai nguồn sử liệu này tự dẫn chứng, các sự tích vào thời lập quốc không thể xem là chính sử, vì thế mà nó được gọi là huyền sử. Nhưng, dĩ nhiên, có lửa thì mới có khói, những nhân vật và các biến cố ấy tất nhiên đã xảy ra. Như nói trên, phần chính, những tác giả ấy phải dựa vào lời truyền khẩu của người dân. Thêm vào đó, chúng ta thấy tâm lý của con người không thể không có thiêng vị, nhất là về những vị anh hùng dân tộc của mình; nên khi kể lại cho con cháu, các bà, các cụ vẫn cho thêm một chút đường chút mật. (Khi thương trái ấu cũng tròn.) Kể đến chúng ta, mà nói đúng hơn là tới đời của các tác giả (của quyển Lĩnh Nam Thích Quái chẳng hạn), thì cái thật vị của các biến cố sự kiện ấy đã “quá ngọt” rồi. Nên chúng ta đành phải xem nó như là huyền thoại vậy.
Qua câu truyện về Tháng Gióng, ta có thể rút ra những bài học giá đáng về xuất nguồn của chúng ta, cũng như những bài học về triết thuyết sống còn của gióng nồi mình. Về phần sử học, ta thấy, tuy dẫn Việt Nam ta qua bao nhiêu thời đại vẫn nằm dưới guồng máy quân chủ phụ quyền, nhưng cái định mệnh sinh tồn tiến hóa của dân tộc, thực ra là nằm trong tay của người dân. Đến khi quốc biến, Vua Hùng cũng chỉ biết đành dựa vào sức mạnh của nhân dân, để mà giữ nước khỏi tay địch thù. Nhà vua đã sai người lận lội trong khắp nước để tìm người có tài ra bảo vệ đất nước. Cũng như vào thời kháng Nguyên, vua nhà Trần cũng theo chiến lược trên qua Hội Nghị Diêm Hồng. Và như lịch sử đã dẫn, các vị minh đế biết dựa vào sức dân để cai trị, thì luôn luôn thành công rực rỡ; khiến cho dân tộc ta có thể đứng lên đối chọi với quân bách chiến bách thắng Mông Cổ, một thành tích rạng ngời trên vòm trời Âu-Á.
Truyền thuyết về Tháng Gióng cũng chứng minh cho chúng ta, và cho kẻ thù dân tộc ta biết rằng nước Nam ta không thiếu chi các bậc anh hùng hào kiệt, như cụ Nguyễn Trãi đã tự hào trong bài “Bình Ngô Đại Cáo”. Sự tích Phù Đổng cảnh cáo cho những phường ngoại tặc rằng không những, “giặc đến nhà đàn bà phải đánh” mà cái tinh thần quyết chiến tự tồn ấy còn mãnh liệt hơn nữa, đến nổi những cậu bé thiếu thời cũng vươn vai mà gách vác sơn hà khi lâm vào cảnh cùng khốn. Cái tinh thần của Phù Đổng là cái tấm gương sáng ngời, để bao nhiêu thanh thiếu niên trong những niên đại dĩ hạ đã noi theo mà đứng lên “đáp lời sông núi” như những cậu thanh niên yêu nước vào thời kháng Pháp, hay cậu bé 16 tuổi Trần Quốc Toản ngày xưa. Cái tinh thần Phù Đổng Thiên Vương là cái sức mạnh tiềm năng mạnh nhất của dân tộc Việt Nam ta. Cái tinh thần ấy, đã thúc dưỡng dân tộc ta qua bao cuộc chống ngoại xâm cường hùng, chứng minh qua các cuộc đánh Bắc, diệt Tây, bình Nam của dân tộc mình. Khi quân Tống sĩ mắng các vị nguyên thủ của mình, đe dọa đến quyền tự trị của ta, thì sức mạnh Phù Đổng đã khiến dân tộc ta vươn lên để ra oai thần võ với nòi Hán, kết quả là Lưỡng Quảng đều ngã ngữa trước thế lực quân Nam. Khi bọn hùng bá quân Nguyên lăm le ngan tàn, thì toàn dân đã nổi dậy, ba lần đánh đuổi chúng khuất biên cương, để cho chúng phả ê mặt khi ngước về phương Nam. Khi quân Minh thừa cơ tứ ngược, thì ngọn lửa Lam Sơn của ta, cái tinh thần Phù Đổng, đã nổi lên; quân giặc phải bỏ giáo bỏ tính và vong giọt. Cái oai vệ của tinh thần Phù Đổng của dân tộc ta, còn được minh trưng qua các cuộc sát phạt quân Thanh, bãi tha ma quân Tàu chất thành Đống Đa còn ghi tích. Quân Pháp từ phương Tây đã không biết được cái sức mạnh của tinh thần Phù Đổng Thiên Vương, nên phải e thẹn rút lui khỏi Đông Nam Á sau cuộc tổng nổi dậy của dân ta.*
Còn một bài học mà ta luôn rút nguồn từ sử tích Tháng Gióng, là cái tinh thần trách nhiệm của ta. Đọc qua cái chiến tính oai nghi của Ngài, và các trang sử oai hùng của dân tộc, nhắc chúng ta nhớ đến cái nợ mà ta mang của các ngài. Những sự hy sinh cao cả của bao nhiêu người qua các thế hệ, khiến ngày hôm nay mới có ta, cái mảnh đất cong cong hình chữ “S” nay mới vẫn còn. Cái tinh thần quật khởi của Thánh Gióng nay hãy còn rạng chói; ta hãy theo gương sáng ấy mà đứng lên xây dựng và bảo vệ non nước, vì nay lãnh thổ, lãnh hải ta đang mọt mòn, quốc sĩ, thể diện của dân tộc ta đang bị nhục. Cậu bé phế tàn không biết nói ba tuổi kia còn có thể đứng lên giữ nước, cậu thanh niên Quốc Toản đã bóp nát quả cam vì nổi thống khổ của nhân dân, còn về phần ta, ta phải làm gì để chứng minh cho thế giới biết rằng:
Gióng Hồng Lạc Hoàng Thiên đã định,
Mấy nghìn năm suy thịnh đổi thay,
Trời Nam riêng một cõi này,
Anh hùng hào kiệt, xưa nay kém gì.**
Lost-Dude N.T.V.
______________________________________
* Ta thấy Việt Minh, trong cuộc Tổng Khởi Dậy vào năm 1945 đã thành công rực rỡ vì họ có cái sức mạnh Phù Đổng, sự phấn đấu của toàn dân. Còn cuộc Tổng Nổi Dậy, Tổng Tấn Công để tiếm đoạt miền Nam lại không có sức mạnh Phù Đổng và đã bại nhục trước sự kháng cự của quân dân Nam Kỳ.
** Bài “Hai Chữ Nước Nhà” của thi sĩ Á Nam Trần Tuấn Khải viết về lời ông Nguyễn Phi Khanh dận dò con mình là Nguyễn Trãi.
Lost-dude có biên tiểu sử của Tháng Gióng trong mục Danh Nhân Sưu Tầm của BúngRiêu.
lost-dude
05-13-2003, 10:50 AM
First time in the history of mankind that so many women stood up for their liberation and even took governmental and military positions to secure their freedom, the Two Empresses of the Trieu Kingdom and their followers made the Viet people really stands out in the international community:
1. Thánh Thiên Nữ Tướng Anh Hùng: Khởi nghĩa ở Yên Dũng, Bắc Ðái - Bắc Giang. Ðược Trưng Vương phong làm Thánh Thiên Công Chúa. Hiện có đền thờ ở Ngọc Lâm, Yên Dũng, Bắc Giang.
2. Lê Chân - Nữ Tướng Miền Biển: Khởi nghĩa ở An Biên, Hải Phòng, được Trưng Vương phong là Nữ tướng quân miền Biển. Hiện có đền Nghè, ở An Biên, Hải Phòng thờ.
3. Bát Nạn Ðại Tướng: Tên là Thục Nương, khởi nghĩa ở Tiên La (Thái Bình), được Trưng Vương phong là Bát Nạn Ðại tướng, Trinh Thục công chúa. Hiện có đền thờ ở Phượng Lâu (Phù Ninh, Phú Thọ) và Tiên La (Quỳnh Phụ, Thái Bình).
4. Nàng Nội - Nữ Tướng Vùng Bạch Hạc: Khởi nghĩa ở Bạch Hạc (Phú Thọ) được Trưng Vương phong là Nhập Nội Bạch Hạc Thủy công chúa. Hiện TP Việt Trì có đền thờ.
5. Lê Thị Hoa - Nữ Tướng Anh Hùng: Khởi nghĩa ở La Sơn (Thanh Hóa) được Trưng Vương phong là Nữ tướng quân. Hiện ở Nga Sơn - Thanh Hóa có đền thờ.
6. Hồ Ðề - Phó Nguyên Soái: Khởi nghĩa ở Ðộng Lão Mai (Thái Nguyên) được Trưng Vương phong là Ðề Nương công chúa, lãnh chức Phó Nguyên soái. Ðình Ðông Cao, Yên Lãng (Phú Thọ) thờ Hồ Ðề.
7. Xuân Nương, Trưởng Quản Quân Cơ: Khởi nghĩa ở Tam Nông (Phú Thọ), được Trưng Vương phong là Ðông Cung công chúa chức Nhập nội trưởng quẩn quân cơ nội các. Hiện có đền thờ ở Chương Nha (Tam Nông), Phú Thọ.
8. Nàng Quỳnh - Nàng Quế - Tiên Phong Phó Tướng: Khởi nghĩa ở Châu Ðại Man (Tuyên Quang) được Trưng Vương phong làm Tiên phong phó tướng. Hiện ở Tuyên Quang còn có miếu thờ hai vị nữ anh hùng.
9. Ðàm Ngọc Nga - Tiền Ðại Tả Tướng: Khởi nghĩa ở Thanh Thủy, Thanh Sơn - Phú Thọ. Ðược Trưng Vương phong làm Nguyệt Ðiện Tế Thế công chúa giữ chức Tiền đạo tả tướng quân.
10. Thiều Hoa - Tiên Phong Hữu Tướng: Khởi nghĩa ở Tam Thanh - Phú Thọ. Ðược Trưng Vương phong là Ðông Cung công chúa giữ chức Tiên phong hữu tướng. Hiện ở xã Hiền Quan, Tam Nông, Phú Thọ có miếu thờ.
11. Quách A - Tiên Phong Tả Tướng: Khởi nghĩa ở Bạch Hạc, Phú Thọ. Ðược Trưng Vương phong là Khâu Ni công chúa giữ chức Tả tướng tiên phong. Hiện có đền thờ ở trang Nhật Chiêu (Phú Thọ).
12. Vĩnh Hoa - Nội Thị Tướng Quân: Khởi nghĩa ở Tiên Nha (Vĩnh Phúc). Ðược trưng Vương phong là Vĩnh Hoa công chúa giữ chúc Nội thị tướng quân. Ðình Nghênh Tiên, xã Nguyệt Ðức, huyện Yên Lạc Vĩnh Phúc thờ Vĩnh Hoa.
13. Lê Ngọc Trinh - Ðại Tướng: Khởi nghĩa ở Lũng Ngòi, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc. Ðược Trưng Vương phong là Ngọc Phượng công chúa giữ chức Ðại tướng quân. Hiện có miếu thờ ở Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc.
14. Lê Thị Lan - Tướng Quân: Khởi nghĩa ở Ðường Lâm - Sơn Tây. Ðược Trưng Vương phong là Nữ tướng quân. Hiện ở Hạ Hòa, Phú Thọ có miếu thờ.
15. Phật Nguyệt - Tả Tướng Thủy Quân: Khởi nghĩa ở Thanh Ba, Phú Thọ. Ðược Trưng Vương phong làm Phật Nguyệt công chúa giữ chức Thao Giang thượng Tả tướng thủy quân.
16. PChương Dung - Nữ Tướng: Khởi nghĩa ở Lang Tài (Bắc Ninh). Ðược Trưng Vương phong là PChương Dung công chúa giữ chức Nữ tướng quân.
17. Trần Nang - Trưởng Lĩnh Trung Quân: Khởi nghĩa ở Thượng Hồng (Hải Dương). Ðược Trưng Vương phong là Hoàng công chúa giữ chức Trưởng lĩnh trung quân. Hiện ở Yên Lãng, Phú Thọ có đền thờ.
18. Nàng Quốc - Trung Dũng Ðại Tướng Quân: Khởi nghĩa ở Gia Lâm, Hà Nội. Ðược Trưng Vương phong làTrung Dũng đại tướng quân. Hiện ở Hoàng Xá, Kiêu Kỵ, Gia Lâm thờ Nàng Quốc.<br>
19. Tam Nương - Tả Ðạo Tướng Quân: Ba chị em Ðạm Nương, Hồng Nương và Thanh Nương khởi nghĩa ở Quất Lưu, Bình Xuyên, Vĩnh Phúc. Trưng Vương phong Ðạm Nương làm Tả đạo tướng quân, Hồng Nương và Thanh Nương làm phó tướng. Ðình Quất Lưu, Vĩnh Phúc thờ Tam Nương
20. Quý Lan - Nội Thị Tướng Quân: Khởi nghĩa ở Lũng Ðộng, Chí Linh (Hải Dương). Ðược Trưng Vương phong là An Bình công chúa giữ chức Nội thị tướng quân. Hiện ở Liu sơn, Lập Thạch, Vĩnh Phúc có đền thờ.
Click on the link below to read more:
http://www.vietcadak.host.sk/literature/ttnblsvn05.htm
TruSiNang
05-13-2003, 11:57 AM
Mai Anh Về Cho Em Theo Với
Mai anh về cho em theo với nhé
Để em nhìn quê mẹ thủa xa xưa
Theo mẹ cha ra đi từ thủa bé
Cảnh quê hương trong trí quá lờ mờ .
Được biết quê hương qua giờ địa sử
Thầy giảng bài bằng ngôn ngữ lạ xa
Thầy chỉ hiểu quê mình qua sách vở
Không có tình quê tha thiết như ta .
Em cũng biết quê hương mình nhỏ bé
Nhưng máu hùng ngạo nghễ khắp năm châu
Đánh Xiêm La, đập Tống, đuổi Pháp, Tầu
Chí bất khuất nghìn sau ghi trang sử .
Nhưng có một điều làm em đau khổ
Nam Bắc anh em sao nở giết nhau
Hơn hai mươi năm xương máu chất cao
Mà chẳng thấy bên nào im tiếng súng .
Rồi bây giờ quê hương thêm điêu đứng
Không phải do kẻ xâm lược bạo tàn
Mà do người cùng dòng máu anh em
Gây khốn khổ triền miên trên quê mẹ .
Mai anh về cho em theo với nhé
Góp bàn tay gây dựng lại quê hương
Xoa vết thương, đắp đổ vỡ hoang tàn
Cho quê mẹ ngàn năm luôn tươi đẹp .
Hoa Lục Bình
:flower: :flower: :flower:
lost-dude
05-13-2003, 12:55 PM
Nhà Hồng Bàng là triều đại đầu tiên của nước Việt ta. Tính từ đời Kinh Dương Vương đến đời Hùng Vương thứ mười tám, từ năm nhâm tuất đến năm quí mão, cả thảy là 2622 năm. Kinh Dương Vương với Lạc Long Quân và mười tám vị Hùng Vương, tính ra được hai mươi vị nguyên thủ. Cứ tính theo bù kém thì mỗi vị trị vì gần 150 năm. Nhưng xét vào thời thượng cổ thì loài người chưa được văn minh như con người thời đại chúng ta. Một người sống được trên một trăm năm thật là hiếm. Cổ sử lại chép rằng các vị vua nhà Hồng Bàng, trị vị ngắn nhất là 81 năm và bền nhất là trên 300 năm. Suy ra thì không theo lẻ thường tình chút nào. Ðúng hơn thì mỗi vị vua chắc là một chi họ, và mỗi chi có nhiều người làm vua. Hiềm vì một nỗi ta không có tài liệu nào để kê cứu cho tường tận hơn. Vả lại các vua Hùng là thủy tổ của giống Lạc Hồng ta, và khi ghi chép về nguồn ngốc người mình, các sử gia ngày xưa có phần thiêng vị và thần hoá những nhân vật và biến cố là sự thường tình. Các dân tộc khác cũng làm như thế mà thôi. Nên ta nay chỉ cho những việc thời ấy là huyền thoại để dựa vào mà viết lên huyền sử của nước ta vậy.
Theo các nhà cổ học, khảo cổ cũng như qua những di tích còn để lại, ta có thể quả quyết rằng thời khai sơ của nhà Hồng Bàng là có thật. Trong chuyện thần thoại về Lạc Long Quân nhân vật chính là người đã ra tay giúp cho tiên tổ ta trong việc sinh tồn tiến hoá; luận theo việc đó thì Lạc Long Quân đây là người vĩ đại đã dùng tài trí mưu duệ mà giúp đời, như vẽ cho người mình cách chống lại các thú dữ, cách thờ phượng cho chính chắn, ăn ở cho đúng lẻ tự nhiên, cày lưới có cách hữu hiệu hơn... Về sau dân chúng ai ai cũng cảm kích ghi ân và tỏ tấm chân tình, họ đã truyền kẻ lại cho con cháu từ đời nọ đến đời kia. Vì là câu chuyện truyền khẩu về vị anh hùng của dân tộc, người kể có lúc thêm bớt trong cốt chuyện và khi đến đời của chúng ta thì chuyện tích về Lạc Long Quân đã trở nên thần thoại vậy.
Qua các minh triết trông đồng còn để lại và một số di vật khác, tiên tổ ta vốn rất kính trọng cái loại chim trời. Cái từ “ăn long mặc lổ” cũng từ đó mà có. Cộng thêm vào, tên gọi của những nhân vật trong thời đại này đều có phần hoà đồng cùng chim. Từ Lạc trong Lạc Long Quân là tên của loài chim lạc; Hùng trong Hùng Vương lại là tên của loài chim minh mẩn cường cáng. Như chim hồng, chim bàng, chim âu, chim cơ, và chim kinh cũng được đặt cho các nhân vận cổ điển trên.
lost-dude
05-13-2003, 01:09 PM
Lost-dude có đọc về sự tích củ kiệu và cô mỵ nương tên Kiệu, không biết có anh chị chú bác nào còn nhớ, xin kể lại cho cháu và ShyGirl nghe. :) Xin cám ơn trước.
Sơn Tinh - Thủy Tinh
http://www.geocities.com/vannang125/hinhanh/truyenco/sontinhthuytinh-2.jpg http://www.geocities.com/vannang125/hinhanh/truyenco/sontinhthuytinh-1.jpg
Dundy
05-13-2003, 01:32 PM
(Translated and adapted from Trinh Van Thanh, Thanh Ngu Dien Tich Danh Nhan Tu Dien, Xuan Thu)
During the sixth Hung Vuong Dynasty, our country, then called Van Lang was under the menace of the Ân's, situated in the North of Vietnam's borders.
Hung Vuong King was very worried and assembled his court to prepare a plan of defense for the country. A mandarin of the civil service reminded the King that the original founding King of the country, Lạc Long Quân (the Dragon King of the Lac Tribes), had instructed that if the country were ever to face danger, it should pray for his help.
The King then invoked the spirit of the founding King. Three days later, a very old man appeared in the midst of a storm and said that he was Lạc Long Quân himself. He prophesized that in three years the Ân from the North would try to invade the country; he advised that the King should send messengers all over the country to seek help from talented people, thereafter a general sent from heaven would come to save the country.
Three years later, indeed came the tempestuous foreign armies trying to take over the Southern Kingdom. At the capital city of Phong Châu, King Hùng Vương still remembered the instruction from Lạc Long Quân.
A few years earlier, at the village of Phù Ðổng, County of Võ Ninh, Province of Bắc Ninh, a woman in her sixties reported she had seen footprints of a giant in the field. Amazed, she tried to fit her feet in the footprints and suddenly felt that she was overcome by an unusual feeling. Thereafter she became pregnant and delivered a boy whom she named Gióng. Even at the age of three, Gióng was not able to crawl, to roll over, or to say a single word.
Surprisingly, at the news of the messenger from the King, Gióng suddenly sat up and spoke to his mother, asking her to invite the messenger over to their home. He then instructed the messenger to request the King to build a horse and a sword of iron for him so that he could go and chase the invaders away.
When the horse and sword were eventually brought to his home, Gióng stood up on his feet, stretched his shoulders, became a giant of colossal proportions, and asked his mother for food and new clothing. She cooked many pots of rice for him but it was not enough for his appetite. The whole village brought over their whole supply of fabric and it was still not enough for his size.
Gióng put his helmet on, carried his sword, jumped on the back of his horse and rode away, as fast as a hurricane. The iron horse suddenly spit fire, and brought Gióng to the front line at the speed of lightning. The invaders saw Gióng like a punishing angel overwhelming them. Their armies were incinerated by the flame thrown from the horse's mouth. Their generals were decapitated by Giong's sword. When it finally broke because of so much use, Gióng used the bamboo trees that he pulled up from the sides of the road and wiped away the enemies.
Afterwards, he left his armor on the mountain Sóc (Sóc Sơn) and both man and horse flew into the sky.
Legend holds that lakes in the area of mountain Sóc were created from the footprints of Giong's horse. At the site of the forest where he incinerated the enemy armies is now the Cháy Village ("Cháy" meaning burned).
In recognition of Gióng's achievement, King Hùng Vương proclaimed him Phù Ðổng Thiên Vương (The Heaven Sent King of Phù Ðổng Village). For the people of his country, he is better known as Thánh Gióng ("Saint" Gióng).:
"The village of Phù Ðổng had a person who was born there,
Who didn't say a word, didn't laugh, as if he were inanimate.
But it was something predestined from nobody knows where,
Who could guess he was a general from heaven, who was waiting for the right moment to accomplish his great feasts among winds and clouds?"
Dundy
05-13-2003, 01:48 PM
The 18th King of the Hùng Dynasty had a very beautiful daughter and he was searching for a handsome and talented consort for the royal bride.
Among the applicants from the capital city of Mê Linh, were Sơn Tinh, the Mountain Spirit, and Thủy Tinh, the Water Spirit. Because they were comparable in prestige, power, wealth and talent, it was difficult for the King to choose between them. He then declared that, on a certain propitious day, the one who would arrive the earliest at the palace would win the honor of his daughter’s hand.
The Mountain Spirit won the contest and brought his new bride to Mount Tản Viên. The Water Spirit was very angry and refused to accept defeat. He mobilized sea waves and high tides to assault the mountain but it was in vain. The higher the waters raised, the taller the mountain became by the power of the Mountain Spirit.
The Water Spirit never gave up his battle against the Mountain Spirit. Therefore, every year, around June or July, the lowlands adjacent to Ba Vì Mountain still suffer devastating floods as a consequence of his eternal bitterness and vengefulness.
ShyGirl
05-13-2003, 01:48 PM
Wow wow wow, nhiều information quá, em sẽ ráng đọc cho hết . Em đọc gần hết trang 1 rồi, hihihii, cám ơn chị Allena, chú HN, bạn lost-dude, anh Dundy, chị PD, anh TSN, và còn ai nữa em cám ơn hết luôn, muahhhhhhhhhhhhhhhh :kissing::kissing: .
Bạn lost dude ơi, SG có click vào cái link mấy quyển sách á, và có giữ cái link đó để chừng 2 tuần nữa SG có dịp đến trường rồi in hết mấy quyển sách đó ra, akakakkakaka . In ra free :D :D , để đọc từ từ :flower: . Một lần nữa, cám ơn các anh chị và chú HN nhiều nhé :kissing::flower::kissing: , hihihihihi :ole:
PHU` DU
05-13-2003, 03:43 PM
Trầu Cau
Ngày xưa, vào đời vua Hùng Vương thứ tư, có nhà họ Cao sinh hai người con trai giống nhau như hai giọt nước, đặt tên Tân và Lang. Hai anh em đều khôi ngô và trìu mến ít khi rời nhaụ Bà mẹ nhiều khi cũng không phân biệt được đứa nào là anh, đứa nào là em. Khi hai anh em mới được mười lăm, mười sáu tuổi thì cha mẹ đều chết vì một trận hỏa hoạn thiêu rụi hết nhà cửa và của cảị Đôi trẻ mồ côi được ông quan họ Lưu nghĩ tình bạn đồng liêu với họ Cao thân sinh ra hai anh em, bèn đưa về nhà nuôị
Họ Lưu có một cô con gái, tên là Xuân Phù đang tuổi dậy thì, định bụng gả cho một trong hai anh em. Nàng Xuân Phù không làm sao phân biệt được hai anh em giống nhau từ nét mặt đến tính tình, tài học. Hai anh em lại tranh nhau nhường nhịn, người này muốn cho người kia được lòng cô gái đáng yêụ
Một hôm, ông quan họ Lưu sai con gái dọn ra một mâm cơm để chọn rể, bày đầy thức ăn, hai cái bát, nhưng chỉ có một đôi đũạ Người em liền cấm lấy đôi đũa đưa mời anh ăn trước. Ông quan họ Lưu nhìn nhận người anh làm rể.
Vì tình thương anh, Lang cũng dễ dàng thắng được mối tình đối với người con gái đã trở nên chị dâu mình.
Còn Tân thì mải mê theo tình duyên mới, hóa ra lơ là đối với em traị Lang âm thầm đau khổ, xót xa anh vì tình vợ chồng mà quên tình ruột thịt, rồi đến một hôm không còn chịu đựng được nữa, Lang bỏ nhà anh chị ra đị
Người em cứ thẳng trước mặt mà đi, đi mãi không kể mệt nhọc, cho đến khi tới một con sông lớn. Không vượt qua sông được, người em đành ngồi lại bên bờ, nghĩ đến số phận mình mà chết mòn trong đau đớn. Rồi người em hóa thành một hòn đá.
Người anh ở nhà lâu không thấy em về, đoán hiểu duyên cớ, lấy làm hối hận, vội vàng đi tìm. Đi được mấy ngày, người anh đến bờ sông, mệt nhọc ngồi xuống cạnh hòn đá, tựa đầu lên nghĩ nhớ thương em mà chết. Rồi người anh hóa thành một cây cao thẳng tắp có trái và lá ở ngọn.
Người vợ ở nhà, mòn mỏi trông chồng mỗi ngày mỗi biệt, cũng lên đường đi tìm. Nàng lê bước tới bờ sông, mệt nhoài ôm lấy thân cây cho khỏi ngã, rồi khóc lóc nghĩ nhớ thương chồng cho tới chết. Rồi người vợ hóa thành một thứ dây leo quấn lấy thân cây cao thẳng.
Dân chúng ở trong vùng được báo mộng, bèn dựng đền thờ vong linh ba ngườị Sau đó, gặp năm đại hạn, cây cỏ khắp nơi đều khô héo, chỉ riêng cây kia và dây leo quấn quanh là vẫn xanh tươị Tin lạ đồn đi, khách thập phương kéo đến lễ rất đông.
Vua Hùng Vương cũng ngự tới nơi, nghe các bậc bô lão trong làng kể lại câu chuyện hóa thân của ba người, lấy làm cảm động bèn cho hỏi các quan theo hầu về việc lạ lùng kiạ Một vị lão thần tâu:
"Tâu bệ hạ, lệ thường muốn biết sự liên quan máu mủ ruột thịt của hai người, thì chích lấy hai giọt máu của đôi bên mà hòa với nhaụ Hễ hai giọt máu hòa trộn lại với nhau thì đúng là cùng một giòng huyết cha mẹ mà rạ Bệ hạ cho trộn lẫn lá dây leo kia với trái cây nọ dùng bột đá này để thử xem sao".
Vua nghe theo, ra lệnh nung đá thành vôi rồi tán nhỏ quệt trên lá dây leo nhai lẫn với trái cây kia thì thấy hóa thành một màu đỏ thắm như máụ Cho rằng đây là tình nghĩa của hai anh em và người vợ đã chết kết tinh lại, vua Hùng Vương truyền cho dân chúng đem hai thứ cây kia về trồng gọi tên là cau và trầụ Từ đó nước ta có tục lệ dùng trầu cau trong lễ cưới hỏi để nhắc nhở đến sự tích trên đâỵ Trầu cau tượng trưng cho tình nghĩa thắm thiết giữa anh em, vợ chồng.
allena
05-14-2003, 10:00 AM
* Họ Khúc ( 906 -> 923 )
_ Năm 906 : Khúc Thừa Dụ dựng quyền tự chủ , truyền cho con là Khúc Hạo và cháu là Khúc Thừa Mỹ .
* Dương Diên Nghệ ( 931 - > 938 )
_ Năm 938 : Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng .
* Nhà Ngô ( 939 - > 965 )
Ngô Quyền xưng Vương , đóng đô ở Cổ Loa , mất năm 944.
_ Năm 967 : Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên loạn 12 Sứ Quân .
* Nhà Đinh ( 968 - > 980 )
Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi , đặt tên nước là Đại Cồ Việt , đóng đô ở Hoa Lư .
_ Năm 979 : Vua Đinh Tiên Hoàng và con là Nam Việt Vương Đinh Liễn bị Đỗ Thích giết chết .
* Nhà Tiền Lê ( 980 - > 1009 )
Lê Hoàn lên ngôi tức Lê Đại hành ( 980 -1005 )
_ Năm 981 : đại thắng quân Tống , chém Thống soái giặc là Hầu Nhân Bảo .
Hoài Nam
05-14-2003, 10:36 AM
(trích Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim)
1. Gốc tích Nhà Thục
Nhà Thục chép trong sử nước ta không phải là nước Thục bên Tàu, vì rằng cứ theo sử nước Tàu thì đời bấy giờ đất Ba Thục (Tứ Xuyên) đã thuộc về nhà Tần cai trị rồi, thì còn có vua nào nữa. Vả, sử lại chép rằng khi Thục Vương Phán lấy lấy được nước Văn Lang thì đổi quốc hiệu là Âu Lạc, tức là nước Âu Lạc gồm cả nước Thục và nước Văn Lang. Song xét trong lịch sử không thấy đâu nói đất Ba Thục thuộc về Âu Lạc. Huống chi lấy địa lý mà xét thì từ đất Ba Thục (Tứ Xuyên) sang đến Văn Lang (Bắc Việt), cách bao nhiêu đường đất và có bao nhiêu núi sông ngăn trở, làm thế nào mà quân nhà Thục sang lấy nước Văn Lang dễ dàng như vậy ? Sử cũ lại có chỗ chép rằng An Dương Vương, họ là Thục tên là Phán. Như vậy chắc hẳn Thục tức là một họ nào độc lập ở gần nước Văn Lang, chứ không phải là Thục bên Tàu. Sách "Khâm Định Việt Sử" cũng bàn như thế.
2. Nước Âu Lạc
Sử chép rằng Thục Vương hỏi con gái của Hùng Vương thư 18, là Mỵ Nương không được, trong bụng lấy làm tức giận, dặn con cháu ngày sau đánh báo thù lấy nước Văn Lang. Hùng Vương bấy giờ cậy mình có binh cường tướng dũng, bỏ trễ việc nước, chỉ lấy rượu chè làm vui thú. Người cháu Thục Vương tên là Phán, biết tình thế ấy, mới đem quân sang đánh lấy nước Văn Lang. Hùng Vương thua chạy, nhảy xuống giếng mà tự tử.
Năm Giáp Thìn (275 trước Tây lịch), Thục Vương dẹp yên mọi nơi rồi, xưng là An Dương Vương, cải quốc hiệu là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê (nay thuộc huyện Đông Anh, tỉnh Phúc An). Hai năm sau là năm Bính Ngọ (255 trước Tây Lịch), An Dương Vương xây Loa Thành. Thành ấy cao và từ ngoài vào thì xoáy trôn ốc, cho nên mới gọi là Loa Thành. Hiện nay còn dấu tích ở làng Cổ Loa, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc An.
3. Nhà Tần đánh Bách Việt
Khi An Dương Vương làm vua nước Âu Lạc ở bên này, thì ở bên Tàu vua Thủy Hoàng nhà Tần, đã nhất thống thiên hạ. Đến năm Ðinh Hợi (214 trước Tây lịch). Thủy Hoàng sai tướng là Đồ Thư đem quân đi đánh lấy đất Bách Việt (vào khoảng tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông và Quảng Tây bây giờ). An Dương Vương cũng xin thần phục nhà Tần. Nhà Tần mới chia đất Bách Việt và đất Âu Lạc ra làm ba quận, gọi là: Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (Quảng Tây) và Tượng Quận (Bách Việt).
Người bản xứ ở đất Bách Việt không chịu để người Tàu cai trị, trốn vào rừng ở. Được ít lâu quân của Đồ Thư, vốn là người ở phương bắc, không chịu được thủy thổ, phải bệnh rất nhiều. Bấy giờ người Bách Việt thừa thế nổi lên giết được Đồ Thư.
4. Nhà Thục mất nước
Chẳng được bao lâu thì nhà Tần suy, nước Tàu có nhiều giặc giã, ở quận Nam Hải có quan úy là Nhâm Ngao thấy có cơ hội, muốn mưu đánh lấy Âu Lạc để lập một nước tự chủ ở phương nam. Nhưng công việc chưa thành, thì Nhâm Ngao mất. Khi sắp mất, Nhâm Ngao giao binh quyền lại cho Triệu Đà để thay mình làm quan úy quận Nam Hải.
Năm quý tị (208 trước Tây lịch) là năm thứ 50 đời vua An Dương Vương. Triệu Đà đem quân sang đánh lấy nước Âu Lạc, lập ra nước Nam Việt.
PHU` DU
05-14-2003, 11:22 AM
Sự Tích Thành Cổ Loa
Khi đã chiếm được đất Văn Lang, An Dương Vương đổi tên nước là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê.
Khu đất chọn để đắp thành là một quả đồi đất rắn như đá. Ðám đông người hì hục đào đất, khuân đất hết ngày nọ sang ngày kia, tòa thành cao dần. An Dương Vương cùng đoàn tùy tùng đến xem rất lấy làm hài lòng, cho là một tòa thành có thể đứng vững muôn đời, sấm sét không lay chuyển, mưa bão không làm sạt được, và quân giặc cũng không thể phá nổi.
Nhưng một đêm cả bức tường thành quanh co đều đổ sập xuống như đất bằng. Vua An Dương Vương đến xem rất lấy làm tức giận. Ngài hỏi dò dân chúng gần đó, họ kể lại: Ban đêm họ nghe thấy những bước chân rầm rập ở các khắp ngã kéo đến với những tiếng xì xào có thể là ma quỉ. Người đâu mà lại đông đến thế ! Họ sợ quá nên không dám nhìn ra. Rồi họ lại nghe những tiếng đổ ầm ầm như sấm dậy.
An Dương Vương sai các tướng lãnh đốc thúc đắp lại thành cho kỳ được. Ðám người hăng hái đắp lại không ngừng. Tường thành mỗi ngày một cao dần và lại cao như tường thành cũ. Nhưng rồi một đêm cả dãy tường thành lại sập xuống như đất bằng. An Dương Vương sai người đi hỏi dân chúng ở gần đó thì họ lại nói như trước. Ban đêm họ cũng nghe thấy những bước chân rầm rập như thiên binh vạn mã trẩy qua rồi lại những tiềng huỳnh huỵch tiếp đến những tiếng ầm ầm như sấm động.
An Dương Vương lại xem chỗ địa thành để cầu trời phù hộ mình đắp cho xong tòa thành. Vua đi vòng quanh chân tường vừa đi vừa suy nghĩ. Ðột nhiên vua thấy một ông già râu tóc bạc từ phía xa đi lại. Ðến gần An Dương Vương ông tự xưng mình là thổ thần của vùng đất này, nói với vua rằng:
- Nhà vua đừng lo, sáng mai nhà vua ra đợi ở bờ sông sẽ có sứ giả Thanh Giang đến giúp nhà vua đắp thành.
Nói xong ông già biến mất.
Hôm sau mới tờ mờ sáng, An Dương Vương đã ra tận bờ sông để đợi Giang sứ. Vừa bắt đầu tan sương thì có một con rùa vàng rất lớn nổi lên mặt sông từ phía Ðông bơi vào bờ đến gần nhà vua, rùa tự xưng mình là thần Kim Quy sứ giả của vua Thủy Tề. An Dương Vương sai đặt Giang sứ lên một chiếc mâm vàng và khiêng vào cung.
Vua hỏi kế đắp thành, thần Kim Quy bảo rằng:
- ở núi Thất Diệu có một con gà trắng sống lâu năm thành tinh có phép biến hoá khôn lường. Nó thường hãm hại khách qua đường và khách ngủ ở quán trọ trong vùng này. Các vua thời trước cùng bọn nhạc công chết đi đều chôn ở núi Thất Diệu, những u hồn ấy từ lâu không tan lẩn khuất trong khe đá ở hang sâu. Những u hồn ấy có thù với nhà vua nên đêm thanh vắng họp thành từng đàn từng lũ đến xúi dục con tinh gà trắng phá thành đang xây của nhà vua. Con tinh gà trắng đã dẫn những u hồn ấy đến chân thành dùng phép ma phá đổ tường thành rồi gần sáng lại bay về núi. Con tinh gà trắng có tiền duyên với con gái lão chủ quán gần chân núi nên hay hiện hình làm khách bộ hành ghé vào nhà lão khi thì nhập vào con gái lão khi thì nhập vào con gà trắng của lão. Muốn đắp cho được thành, trước hết phải trừ cho tiệt giống yêu ma và giết đứa con gái cùng con gà trắng của lão chủ quán kia đi.
Nghe lời thần mách bảo, Vua sai mấy viên tướng đem quân vào rừng mai phục rồi vua cải trang cùng thần Kim Quy giả làm khách bộ hành đến quán xin ngủ trọ. Chủ quán từ chối lấy cớ là trong núi có nhiều yêu quái hay làm hại khách đi đường. Nhưng An Dương Vương và thần Kim Quy nhất định xin ở. Chủ quán phải chiều theo ý hai người.
Ðêm đêm An Dương Vương nghe thấy những bước chân rầm rập ở ngoài. Những bước chân từ khắp các ngả đi lại rộn ràng rồi thốt nhiên có bàn tay rất mạnh đập vào cái phên nhà lão chủ quán tiếp đến tiếng gọi người con gái lão. Thần Kim Quy lên tiếng nạt nộ, tiếng ngoài im ngay. Những tiếng chân bước cũng xa dần.
Gần sáng lại có những tiếng chân rầm rập ở ngoài, thần Kim Quy bảo An Dương Vương mở cửa phên ra gọi quân mai phuc đuổi theo đám yêu tinh đang rút lui về Thất Diệu, quân lính vừa đuổi vừa giương nỏ bắn theo. Cứ một loạt tên bay đi là lại nổi lên những tiếng ma kêu quỷ khóc rùng rợn. Tiếng rên rỉ khóc than mỗi lúc một thưa dần. Ðến khi mặt trời mọc thì yêu khí tan. Quân lính của An Dương Vương đào được rất nhiều hài cốt và nhạc khí cổ trong các hang núi, họ chất thành từng đống cao đốt đi rồi tro than đổ xuống suối cho tan hẳn oan hồn.
An Dương Vương và thần Kim Quy trở về quán trọ bảo chủ quán hiến cho mình con gà trắng để tạ trời đất. Gà vừa bị cắt tiết thì con gái chủ quán cũng lăn ra chết. Giữa lúc ấy có một con chim tứ trong nhà bay vụt ra, thần Kim Quy biết đó là con yêu tinh đã tìm đường chạy trốn, liền tung phép giết chết.
Yêu ma đã trừ xong, thần Kim Quy lại hiện nguyên hình là con rùa vàng rất lớn. Thần rút một cái móng của mình trao cho An Dương Vương, dặn rằng :
- Nhà vua giữ lấy móng chân này để làm lẫy nỏ. Khi có giặc thì đem ra bắn, một phát có thể giết được hàng ngìn quân giặc.
Nói xong, thần biến mất, nhờ có thần Kim Quy trừ hết yêu ma. An Dương Vương ra lệnh cho quân lính và nhân dân xây lại thành. Chẳng bao lâu tòa thành đắp xong, rộng tới ngàn trượng, vừa dầy vừa cao xoáy vòng như hình con ốc, nên gọi là Loa thành.
PHU` DU
05-14-2003, 11:27 AM
Mỵ Châu Trọng Thủy
Thần Kim Quy giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa xong, nghĩ đến chuyện bảo vệ kẻ thù bên ngoài, thần cho An Dương Vương cái móng của mình để làm nỏ giữ thành. Theo lời thần dặn, nỏ có được cái lẫy làm bằng móng chân thần sẽ là chiếc nỏ bắn trăm phát trăm trúng cả trăm và chỉ một phát có thể giết hàng nghìn quân giặc.
An Dương Vương chọn trong nhóm gia thần được một người làm nỏ rất khéo tên là Cao Lỗ giao cho làm chiếc nỏ thần. Cao Lỗ gắng sức làm trong nhiều ngày mới xong. Chiếc nỏ rất lớn và rất cứng, khác hẳn những nỏ thường, phải tay lực sĩ mới gương nổi. An Dương Vương quý chiếc nỏ vô cùng, lúc nào cũng treo gần chỗ nằm.
Lúc bấy giờ Triệu Ðà làm chúa đất Nam Hải, mấy lần Triệu Ðà đem quân sang cướp đất Âu Lạc, nhưng vì An Dương Vương có nỏ thần, quân Nam Hải bị giết hại rất nhiều, nên Triệu Ðà đành cố thủ đợi cơ hội khác. Triệu Ðà thấy dùng binh không lợi, bèn xin giảng hoà với An Dương Vương, và sai con là Trọng Thủy sang cầu thân nhưng chủ ý tìm cách phá chiếc nỏ thần.
Trong những ngày đi lại để kết tình hoà hiếu. Trong Thủy được gặp Mỵ Châu, một thiếu nữ mày ngài mắt phượng, nhan sắc tuyệt trần, con gái yêu của An Dương Vương, Trọng thủy đem lòng yêu Mỵ Châu, Mỵ Châu dần dần cũng xiêu lòng. Hai người trở nên thân thiết, không còn chỗ nào trong Loa thành là Mỵ Châu không dẫn người yêu mình đến xem. An Dương Vương không nghi ngờ gì cả. Thấy đôi trẻ thương yêu nhau, vua liền gả Mỵ Châu cho Trọng Thủy.
Một đêm trăng sao vằng vặc, Mỵ Châu cùng Trọng Thủy ngồi trên phiến đá trắng giữa vườn, cùng nhau nhìn dẫy tường thành cao ngất, gió lạnh thổi, mây ngàn xa bay, đêm mỗi lúc một khuya. . . Trong câu truyện tỉ tê, Trọng Thủy hỏi vợ rằng:
- Nàng ơi! Bên Âu Lạc có bí quyết gì mà không đánh được?
Mỵ Châu đáp:
- Có bí quyết gì đâu chàng! Âu Lạc đã có thành cao, hào sâu, lại có nỏ thần, lại bắn một phát chết hàng ngàn quân địch như thế còn ai đánh nổi được.
Trọng Thủy làm bộ ngạc nhiên, vờ như mới nghe nói đến nỏ thần lần đầu, chàng ngỏ ý muốn xem chiếc nỏ. Mỵ Châu không ngần ngại, chạy ngay vào chỗ cha nằm, lấy nỏ đem ra cho chồng xem. Nàng lại chỉ cho chàng biết cái lẫy vốn là chiếc móng chân thần Kim Quy và giảng cho Trọng Thuỷ nghe biết cách bắn. Trọng Thủy chăm chú nghe, chăm chú nhìn cái lẫy, nhìn khuôn khổ cái nỏ hồi lâu rồi đưa cho vợ cất đi.
Hôm sau, Trọng Thủy xin phép vua về thăm cha và thuật lại cho Triệu Ðà biết về chiếc nỏ thần.Triệu Ðà sai một gia nhân chuyên làm nỏ chế một cái lẫy giống như hệt cái lẫy của An Dương Vương. Lẫy giả làm xong, Trọng Thủy giấu vào trong áo trở lại sang Âu Lạc.
An Dương Vương vốn chiều con gái, thấy con mỗi khi gặp chồng thì vui vẻ sung sướng, liền sai gia nhân bầy tiệc rượu, để ba cha con cùng vui. Trọng Thủy uống cầm chừng, còn An Dương Vương và Mỵ Châu say tuý luý. Trọng Thủy thừa lúc bố vợ và vợ say. Lẻn ngay vào phòng tháo lẫy bằng móng chân Thần Kim Quy và thay vào cài lẫy giả bằng móng rùa.
Hôm sau, thấy chồng có vẻ bồn chồn, hết đứng lại ngồi không yên, Mỵ Châu hỏi chồng rằng:
- Hình như chàng đang có điều lo nghĩ gì , phải không?
Trọng Thủy đáp:
- Tôi sắp phải xa nàng bây giờ. Phụ vương dặn phải về ngay để còn lên miền Bắc, miền Bắc xa mãi trên kia
Mỵ Châu buồn rầu, lặng thinh, Trọng Thủy nói tiếp:
- Bây giờ đôi ta sắp phải xa nhau, không biết đến bao giờ gặp lại! Nếu chẳng may giặc giã, có khi nàng sẽ không còn ở chốn này nữa, tôi biết đâu mà tìm ?
Mỵ Châu nói:
- Thiếp có áo lông ngỗng, hễ thiếp chạy về phương nào thiếp sẽ giắc lông ngỗng dọc đường, chàng cứ theo dấu lông ngỗng mà tìm.
Nói xong Mỵ Châu nức nở khóc.
Về đến đất Nam Hải, Trọng Thủy đưa cái móng rùa vàng cho cha. Triệu Ðà mừng rỡ vô cùng, reo lên rằng : "Phen này đất Âu Lạc sẽ về tay ta! " ít lâu sau Triệu Ðà ra lệnh cất quân sang đánh Âu Lạc..
Nghe tin báo, An Dương Vương cậy có nỏ thần, không phòng bị gì cả. Ðến khi quân giặc đã đến sát chân thành, An Dương Vương mới sai đem nỏ thần ra bắn thì thấy không hiệu nghiệm nữa.
Quân Nam Hải phá cửa thành, kéo ùa vào. An Dương Vương vội lên ngựa, để Mỵ Châu sau lưng, phi ngựa thoát ra cửa sau. Ngồi sau lưng cha, Mỹ Châu bứt lông ngỗng ở áo rắc khắp dọc đường.
Ðường núi gập ghềng hiểm trở, ngựa chạy luôn mấy ngày đêm, mới đến núi Dạ Sơn gần bờ biển. Hai cha con định xuống ngựa ngồi nghỉ thì quân giặc đã đuổi gần đến. Thấy đường núi quanh co dốc ngược, bóng chiều đã xuống, không còn nối nào chạy, An Dương Vương hướng ra biển khấn thần Kim Quy phù hộ cho mình. Vua vừa khấn xong thì một cơn gió lốc bốc cát bụi lên mịt mù làm rung chuyển cả núi rừng. Thần Kim Quy hiện lên, bảo An Dương Vương rằng "Giặc ở đằng sau lưng nhà vua đấy! "
An Dương Vương tỉnh ngộ, liền rút gươm chém Mỵ Châu, rồi nhẩy xuống biển. Rùa Thần rẽ nước đưa nhà vua đi. Quân của Triệu Ðà kéo vào chiếm đóng Loa thành. Còn Trọng Thuỷ một mình một ngựa theo dấu lông ngỗng đi tìm Mỵ Châu. Ðến gần bờ biển thấy xác vợ nằm trên đám cỏ, tuy chết mà nhan sắc không phai mờ. Trọng Thuỷ khóc oà lên,thu nhặt thi hài đem về chôn trong Loa thành, rồi đâm đầu xuống giếng trong thành mà chết.
Ngày nay ở làng Cổ Loa, trước đền thờ An Dương Vương còn cái giếng Trọng Thuỷ. Tục truyền khi Mỵ Châu đã bị cha giết rồi, máu nàng chảy xuống biển, trai ăn được nên mới có ngọc châu. Lấy được ngọc trai đó đem rửa nước giếng trong thành Cổ Loa thì ngọc trong sáng vô cùng
Dundy
05-14-2003, 03:46 PM
Adapted by An Dinh Ton
After ending the Hung Vuong dynasty, King An Duong Vuong unified the two countries of Au Viet and Lac Viet (some books have said Ba Thuc and Van Lang. Van Lang is Lac Viet. Ba Thuc is probably incorrect because it too far north! An Duong Vuong is probably a descendant of the Ba Thuc royal family and was known as Thuc Phan An Duong Vuong) into a single country that he named Au Lac. An Duong Vuong settled in Phong Khe (now in the district of Dong Anh, province of Phuc Yen). In 225 BC he decided to build the spiral-shaped fortress of Co Loa.
However each time they were just about to complete the walls of the fortress, they crumble. The King set up an altar, fasted (an chay - went on a vegetarian diet to purify oneself) for three months to appeal to the Heavens. On the 7th of March, an old man appeared at the Western gate and commented:
"The fortress will never be finished!"
The King invited him to his court, bowed himself and in tears asked:
"Each time I almost finish this fortress it falls down. This is proving very costly to my people. Can you give me an explanation?"
The old man replied:
"You will need the help of the Thanh Giang (Blue River) angel. Only he can help you finish this fortress."
Then the old man bid his good-byes.
The next morning the King went to the East gate. Suddenly he saw a golden turtle emerge from the water in the sunrise direction. The turtle said:
"I am the Thanh Giang angel. I am all knowing."
The King was very happy because this fulfilled the prophecy of the old man yesterday. He had a golden chariot transport this honored guest to his court. He asked him about the reason for the fortress falling down. The turtle replied:
"The spirits of the mountain and the river in this area have been subverted by the departed spirits of the Hung Vuong descendants to take revenge on their loss of their kingdom. There is also a thousand year old white rooster that has been transformed into an evil spirit that now inhibits the That Dieu mountain. The ghost of a musician that was buried in these mountains, is also haunting it. By the side of the mountain, there is a small inn, whose owner, Ngo Khong, has a daughter and a white rooster. They are the evil spirits haunting these mountains. Each night they will reveal themselves under their evil forms and kill travelers. You need to catch the white rooster and the daughter of the inn owner, kill them both. Only then will the evil spirits be done with.
However, before these evil spirits disappear, they will draft a petition to the Heavens to destroy the fortress. An owl will be used to transmit the petition. I will bite the owl and it will drop the petition for you to catch. Then that will be the end of these spirits and you can finish your fortress."
The turtle then instructed the King to disguise himself as a traveler and go to the inn and ask to stay the night. The King followed the instruction and came to the door of the inn. He put the turtle on top of the entrance. The inn owner Ngo Khong told him:
"These parts are haunted. These evil spirits kill travelers. So, please move on while the sun is still up."
The King smiled and replied:
"Life and death are one's destiny. Ghosts cannot change my destiny. I am not afraid."
Then he spent the night there. The night came and the evil spirits came to the door of his cabin and called out:
"Whoever is in there, open the door immediately!"
The golden turtle shouted back:
"The door is locked. I dare you to come in!"
The evil spirits used fires and other means to try to break down the door but they were unsuccessful thanks to the magic of the golden turtle. When the rooster crowed, the spirits retreated. In the morning the inn owner brought an undertaker with him. He was very surprised to find his guest alive and laughing. He prostrated himself and said:
"You must be an angel. Please use your magic to deliver us from these evil spirits."
The King said:
"You must kill the white rooster to destroy the evil spirits."
As Ngo Khong killed the white rooster, his daughter also fell dead. The King had his people dig up Mount That Dieu. They found an old music instrument and a skeleton. They incinerated everything and threw the ashes in the river.
At sunset, the King and the turtle went up Mount Viet Thuong. They saw the evil spirits transforming themselves into an owl up the big teak tree with a petition in its beak. The turtle transformed itself into a mouse and rushed after the owl up in the tree. The mouse bit the owl, which dropped the petition. The King picked up the petition and ripped it to shreds.
From then on the evil spirits were finished. The fortress was finished in less than a month. Its perimeter was over ten thousand feet, in the shape of a snail, thus its name Loa Thanh.
After three years, the golden turtle bid his farewell. The King asked:
"Thanks to you I have been able to complete my fortress. Do you have any strategy for dealing with foreign invaders ?"
The turtle replied:
"The fate of a nation is in the hands of Heaven. Only the virtuous can hold onto his kingdom for long. But since you asked, let me give you this to help you."
The turtle then gave the King one of his claws and said:
"Use this claw in a crossbow. You will have nothing to fear from any invader."
The King had Cao Lo build a crossbow with the claw as the trigger.
A few years passed. Trieu Da (a general of Tan Thuy Hoang who decided to move south to strike out on his own) decided to invade. The King took out his magic crossbow and took a shot at the enemy. In one shot he killed thousands of the enemy. Trieu Da retreated to the Trau Son mountain range. He learned about the magic crossbow of An Duong Vuong. So, he had his ambassadors sue for peace. The King was very happy to let Trieu Da govern the land to the north of the Tieu Giang (small river).
Shortly after, Trieu Da sent his son, Trong Thuy, to the King's court to ask for the hand of Princess Me ChAu. The King approved and Trong Thuy came to live at the King's court.
Trong Thuy asked My Chau to let him have a look at the magic crossbow. He substituted the magic trigger with a fake one. After this devious trick, Trong Thuy asked for permission to go back and visit his parents. Before he left, he told My Chau:
"Our love is immense but I cannot forget my duties with my father. As I am about to go back to my father I am worried that should there be a conflict between our parents, we will be separated, me in the North and you in the South. When I am able to come back and look for you, how can I find you?"
She replied:
"I am only a helpless woman. However I have this goose down blanket that I keep with me all the time. In the unlikely event I have to leave the palace, I will drop goose feathers at crossroads so you can follow me."
Trong Thuy bid his farewells and took the magic claw with him back to his father. Trieu Da was very happy and raised his army for a sudden attack.
When he heard the news, the King calmly continued his chess game and said:
"Didn't Trieu Da learned his lesson from my magic crossbow?"
When Trieu Da's army arrived at the gate of his fortress, the King took out his magic crossbow and fired at the invader. But nothing happened! The unprepared army and the court just fled in panic.
The King had to flee on a horse in the southern direction. When he reached the seashore, there was no ship in sight. In desperation he cried out:
"The gods cannot let me die. River angel, where are you! Please come to my rescue!"
The golden turtle emerged out of the water and shouted to the King: "The person on the back of your horse is your enemy. You must kill her before I would rescue you."
The King pulled out his sword and beheaded My Chau. Before she died she vowed:
"I am a female. If I have been unfaithful to you then let me turn into dust. If my faith has been constant and I have only been tricked then let me turn into a pearl so that this humiliation can be washed."
Her blood flowed down the ocean floor where oysters swallowed it and the blood transformed itself into pearls.
The golden turtle took the King below the waters and disappeared.
Trong Thuy with his pursuing troops following the goose feather trail arrived at the seashore shortly after. He only found the body of My Chau. In grief he took it back to Loa Thanh where he buried her. The grave became a deep well with crystal clear water. Trong Thuy fell sick from grief and in a moment of despair he jumped down the well to kill himself.
Legend has it that if one were to wash a pearl from the eastern sea (South China Sea) with water from this well, its brilliance will increase tenfold.
Hoài Nam
05-16-2003, 06:31 AM
Quốc Hiệu: Nam Việt
Kinh Ðô: Phiên Ngung (gần Quảng Châu, Trung Quốc)
Triệu Ðà người Hán, huyện Chân Ðịnh, nhân lúc nhà Tần suy loạn giết Trưởng Lại của nhà Tần, chiếm giữ đất Lĩnh Nam, xưng đế đòi ngang với nhà Hán, hưởng nước truyền ngôi được năm đời gần một trăm năm.
Triệu Ðà đánh mãi Âu Lạc không được, vì nước ta có thành Cổ Loa kiên cố, có nỏ thần tuyệt diệu. Sau Triệu Ðà dùng mưu hòa hoãn, rồi sai con trai là Trọng Thủy sang ở rể lấy Mỵ Châu, con gái An Dương Vương. Trọng Thủy lấy cắp lẫy nỏ thần Kim Quy trốn về nước, rồi đưa quân sang xâm lược nước ta.
Triệu Ðà cướp được nước ta, lập thành nước Nam Việt đóng đô ở Phiên Ngung (nay là tỉnh Quảng Ðông) từ đó nước ta thuộc Triệu.
1. Triệu Vũ Vương (Triệu Ðà 207 - 136 TCN): Triệu Ðà sinh năm 256 TCN, lên ngôi vua năm 207 TCN đến năm 136 TCN thì mất, ở ngôi vua bảy mươi mốt năm, thọ một trăm hai mươi mốt tuổi.
2. Triệu Văn Vương (Triệu Hồ 136 - 124 TCN): Triệu Hồ là con trai Trọng Thủy, cháu nội của Triệu Ðà ở ngôi được mười hai năm, thọ 52 tuổi.
3. Triệu Minh Vương (Triệu Anh Tề 124 - 112 TCN): Triệu Anh Tề ở ngôi được mười hai năm.
4. Triệu Ai Vương (Triệu Hưng 112 TCN): Triệu Hưng ở ngôi chưa được một năm.
5. Triệu Dương Vương (Triệu Kiến Ðức 112 - 111 TCN): Triệu Kiến Ðức ở ngôi được gần một năm. Năm 113 TCN nội tình nhà Triệu rất rối ren. Vua Hán sai An Quốc Thiếu Quý sang dụ Nam Việt về hàng. Thiếu Quý nguyên là tình nhân của Cù Thị (mẹ của Ai Vương) nên tư thông với nhau và dụ dỗ Ai Vương dâng nước Nam Việt cho nhà Hán.
Tể tướng Lữ Gia đã cùng với một số đại thần đem quân cấm binh vào giết chết sứ nhà Hán, Cù Thị và Ai Vương tôn Kiến Ðức là con trưởng của Minh Vương lên làm vua. Vũ Ðế nhà Hán sai Phục Ba tướng quân Lộ Bác Ðức và Dương Bộc đem năm đạo quân sang xâm lưỡc Nam Việt. Tể tướng Lữ Gia chống không nổi bèn đưa Dương Vương chạy trốn. Quân Hán đuổi theo bắt đưỡc, vua tôi đều bị hại.
Nhà Hán diệt được họ Triệu, chiếm nước Nam Việt, đặt nền đô hộ đầu tiên ở xứ ta. Nước Nam Việt bị cải thành một bộ của Trung Hoa, gọi là Giao Chỉ bộ, chia ra làm chín quận. Việc cai trị ở mỗi quận giao cho một viên Thái Thú. Các Thái Thú đặt dưới quyền kiểm soát của một viên Thứ Sử, đứng đầu Giao Chỉ bộ.
Thứ Sử, Thái Thú đều là người Tàu, đa số sang cai trị nước ta đều là những kẻ tham lam, tàn ác. Họ chỉ lo vơ vét của dân cho đầy túi riêng làm cho dân khổ sở vô cùng.
ShyGirl
05-16-2003, 09:59 AM
Wow, hôm nay em lại có dịp đọc topic này, nhiều tài liệu hữu ích á . Cám ơn các anh chị thật là nhiều, thương các anh chị quá đi, muahhhhhhhhhhhhhhhhhh :loveya: :kissing: :loveya:
Chú HN ơi, khi nào mới có Trần Hưng Đạo, rồi vua Quang Trung, rồi Lý Thánh Tôn hả chú, cháu nghe nói mấy người đó ngầu lắm, chắc là còn lâu nữa mới tới họ hả, hihihihihihihi :flower: . Em cám ơn chú HN, anh Dundy, chị Phù Du, chị Allena, anh TruSiNang (mấy bài thơ hay quá :flower: ) và bạn Lost Dude nhiều nheng :flower: :flower: . Và còn ai nữa cho em cám ơn luôn :ole: Đọc mấy lịch sử này đã quá chừng, hihihi, nhất là khi đọc tiếng Việt còn được đọc the English version nữa, hihihihihi :loveya:
TruSiNang
05-16-2003, 12:32 PM
Em bé Việt Nam và Viên Sỏi
Bé thơ ơi cuộc đời em viên sỏi
Khóc một lần nước mắt chảy thiên thu
- Viên kẹo tròn này để dành cho Mẹ
Viên kẹo vuông này để lại cho Ba
Viên kẹo nhỏ này để qua cho chị
Viên kẹo lớn này để lại cho em
Còn viên kẹo thật to này ...là phần Bé đấy
Bên bờ biển Palawan
Có một em bé gái
Tuổi mới chừng lên sáu lên năm
Đang ngồi đếm từng viên sỏi nhỏ
Và nói chuyện môt. mình
Như nói với xa xăm
- Em đến từ Việt Nam
Câu trả lời thường xuyên và duy nhất
Hai tiếng rất đơn sơ mà nhiều người quên mất
Chỉ hai tiếng này thôi
Em nhớ kỹ trong lòng
Em chỉ ra ngoài Đông Hải mênh mông
Cho tất cả những câu hỏi khác
Mẹ em đâu ?
- Ngủ ngoài biển cả
Em của em đâu ?
- Sóng cuốn đi rồi
Chị của em đâu ?
- Nghe chị thét trên mui
Ba em đâu ?
Em lắc đầu không nói
- Bé thức dậy thì chẳng còn ai nữa
Chiếc ghe nhỏ vớt vào đây mấy bữa
Trên ghe sót lại chỉ dăm người
Lạ lùng thay một em bé mồ côi
Đã sống sót sau sáu tuần trên biển
Họ kể lại em từ đâu không biết
Cha mẹ em đã chết đói trên tàu
Chị của em hải tặc bắt đi đâu
Sóng cuốn mất người em trai một tuổi
Kẻ sống sót trong sáu tuần trôi nổi
Đã cắt thịt mình lấy máu thắm môi em
Ôi những giọt máu Việt Nam
Linh diệu vô cùng
Nuôi sống em
Một người con gái Việt
Mai em lớn dù phương nào cách biệt
Nhớ đừng bao giờ đổi máu Việt Nam
Máu thương yêu đã chẳy bốn ngàn năm
Và sẽ chảy cho muôn đời còn lại
- Viên kẹo tròn này để dành cho Mẹ
Viên kẹo vuông này để lại cho Ba
Viên kẹo nhỏ này để qua cho chị
Viên kẹo lớn này để lại cho em
Còn viên kẹo thật to này ... là phần Bé đấy
Suốt tuần nay em vẫn ngồi
Một mình lẩm bẩm
Ngơ ngác nhìn ra phía biển xa xôi
Như thuở chờ Mẹ đi chợ về
- Thật trễ làm sao
Em tiếp tục thì thầm
Những câu nói vẩn vơ
Mẹ ngày xưa vẫn thường hay trách móc
Em cúi đầu nhưng không ai vuốt tóc
Biển ngậm ngùi mang thương nhớ ra đi
Mai này ai hỏi Bé yêu chi
Em sẽ nói là em yêu biển
Nơi cha chết không trống kèn đưa tiễn
Nơi tiếng chị rên
Nghe buốt cả thịt da
Nơi Mẹ chẳng về dù đêm tối đi qua
Nơi em trai ở lại
Với muôn trùng sóng vỗ
Bé thơ ơi cuộc đời em viên sỏi
Khóc một lần nước mắt chảy thiên thu
Trần Trung Đạo
:( :(
lost-dude
05-16-2003, 04:12 PM
Thượng Cổ Thời Đại
• 2879-257 BC: Họ Hồng Bàng gồm 18 đời vua Hùng. Từ Hùng Vương thứ nhất đến Hùng Vương thứ 18, đặt quốc hiệu là Văn Lang.
• 257-208 BC: Thục Phán An Dương Vương đánh nước Văn Lang, đổi tên nước Âu Lạc.
• 207-137 BC: Triệu Đà, tướng nhà Tần, chiếm nước Âu Lạc, lập nên nhà Triệu.
• 136-125 BC: Triệu Văn Vương, cháu Triệu đà.
• 124-113 BC: Triệu Minh Vương, con Văn Vương.
• 112 BC: Triệu Ai Vương, con thứ của Minh Vương. Vua và Thái hậu muốn hàng nhà Hán nên bị tướng Lữ Gia giết.
• 111 BC: Triệu Dương Vương, con trưởng của Minh Vương, được Lữ Gia tôn lên làm vua rồi bị nhà Hán giết.
Bắc Thuộc Thời Đại
• 110 BC-39 AD: Nội thuộc Trung Quốc lần thứ nhất.
• 40-43: Trưng Nữ Vương khởi nghĩa.
• 43-540: Nội thuộc Trung Quốc lần thứ hai.
• 248: Bà Triệu khởi nghĩa.
• 541-548: Lý Nam Đế đánh đuổi nhà Lương rồi xưng đế.
• 549-570: Sau khi Lý Nam Đế mất, tướng là Triệu Quang Thục xưng vương, hiệu là Triệu Việt Vương (còn hiệu khác nữa là Dạ Trạch Vương).
• 571-602: Lý Hậu Đế, dành ngôi Triệu Việt Vương rồi cuối cùng hàng nhà Tùy.
• 603-938: Nội thuộc Trung Quốc lần thứ ba.
• 722: Mai Hắc Đế (Mai Thúc Loan) khởi nghĩa.
• 791: Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng khởi nghĩa.
• 906-907: Khúc Thừa Dụ tự xưng là Tiệt Độ Sứ.
• 907-916: Khúc Thừa Hạo, con Thừa Dụ, nối chức Tiệt Độ Sứ.
• 917-922: Khúc Thừa Mỹ, con Thừa Hạo, nối chức Tiệt Độ Sứ.
• 923-936: Dương Đình Nghệ đánh đuổi quân Nam Hán tự xưng là là Tiết Độ Sứ.
• 937-938: Kiểu Công Tiễn, nha tướng của Đình Nghệ, giết chủ rồi cướp ngôi.
Tự Chủ Thời Đại
• 939-944: Ngô Quyền, con rể của Dương Đình Nghệ, giết Kiểu Công Tiễn, đánh tan quân Nam Hán, rồi lên làm vua hiệu là Ngô Vương Quyền.
• 945-950: Ngô Vương Quyền mất, Dương Tam Kha giành ngôi của cháu.
• 951-965: Ngô Xương Văn, con thứ Ngô Quyền, đuổi Dương Tam Kha rồi cùng anh là Ngô Xương Xí làm vua.
• 966-967: Loạn 12 Sứ Quân.
• 968-979: Đinh Bộ Lĩnh dẹp sứ quân lên làm vua hiệu là Đinh Tiên Hoàng, cuối cùng bị thức khách giết, triều đình lập con là Đinh Duệ lên làm vua.
• 980-1005: Thập Đạo Tướng quân Lê Hoàn phế Đinh Duệ lên làm vua hiệu là Lê Đại Hành; rồi đánh tan quân Tống và Chiêm thành.
• 1006-1009: Lê Long Đĩnh, con vua Lê Đại Hành giết anh rềi lên ngôi.
• 1010-1027: Lý Công Uẩn được tôn lên làm vua hiệu là Lý Thái Tổ.
• 1028-1053: Lý Thái Tông, con Lý Thái Tổ, thân chinh đánh Chiêm Thành chém đầu Chiên chúa Sạ Đẩu.
• 1054-1071: Lý Thánh Tông, đánh Trung Quốc đến Khâm Châu, đánh Chiêm Thành bắt Chiêm chúa Chế Củ.
• 1072-1127: Lý Nhân Tông, đánh các châu Ung, Khâm, Liêm của Trung Quốc.
• 1128-1137: Lý Thần Tông, con Sùng Hiền Hầu, được lập lên làm vua.
• 1138-1175: Lý Anh Tông, con của Thần Tông.
• 1176-1210: Lý Cao Tông.
• 1211-1223: Lý Huệ Tông, truyền ngôi cho con gái thứ hai là Lý Chiêu Hoàng.
• 1224: Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, chấm dứt triều nhà Lý.
• 1225-1257: Trần Cảnh lên ngôi vua hiệu là Trần Thái Tông, thân chinh đánh Chiêm Thành, đánh luôi quân Mông Cổ, nhường ngôi cho con.
• 1258-1278: Trần Thánh Tông, sai Lê Văn Hưu soạn bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư; nhường ngôi rồi cùng con lãnh đạo kháng Nguyên.
• 1279-1292: Trần Nhân Tông, hai lần đánh tan giặc Nguyên, nhường ngôi cho con.
• 1293-1313: Trần Anh Tông gả Công Chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành, nhường ngôi cho con.
• 1314-1328: Trần Minh Tông, đánh Chiêm Thành, nhường ngôi cho con.
• 1329-1340: Trần Hiến Tông.
• 1341-1369: Trần Dụ Tông, em Trần Hiến Tông, đánh Chiêm Thành nhưng không thắng.
• 1370-1372: Trần Nghệ Tông, con Trần Minh Tông, dẹp Dương Nhật Lễ lên làm vua 3 năm, làm Thái Thượng Hoàng 27 năm.
• 1373-1376: Trần Duệ Tông, em Trần Nghệ Tông, đánh Chiêm Thành bị giết tại trận.
• 1377-1387: Trần Đế Nghiễn, con Trần Duệ Tông, bị phế.
• 1388-1397: Trần Thuận Đế, con Nghệ Tông. Vua Chiêm Thành là Chố Bồng Nga đem quân ra Bắc đánh phá, rồi bị giết tại trận.
• 1398-1399: Trần Phế Đế bị Lê Quí Ly phế rồi cướp ngôi.
• 1400: Lê Quí Ly xưng đế, đổi sang họ Hồ, đặt quốc hiệu Đại Ngu, rồi nhường ngôi cho con.
• 1401-1406: Hồ Hán Thương, con thứ hai của Quí Ly. Nhà Minh đánh nước ta, bắt cha con Quí Ly về Trung Quốc.
• 1407-1427: Nhà Minh đô hộ.
• 1407-1408: Giản Định Đế, con Trần Nghệ Tông, khởi nghĩa chống quân Minh bị bắt.
• 1409-1413: Trần Quí Khoách, cháu Nghệ Tông, khởi nghĩa chống quân Minh bị bắt bèn nhảy xuống sông tự tử.
• 1418-1427: Lê Lợi khởi nghĩa chống quân Minh.
• 1428:1433: Lê Lợi lên ngôi hiệu là Lê Thái Tổ.
• 1434-1442: Lê Thái Tông, chết tại vườn vải gây nên vụ án Thị Lê, khiến quan Hành Khiển Nguyễn Trãi bị án giết 3 họ.
• 1443-1459: Lê Nhân Tông lên ngôi được 17 năm rồi bị Lạng Sơn Vương Nghi Dân giết. Sau đó Nghi Dân bị quần thần giết chết.
• 1460-1497: Lê Thánh Tông, con Thái Tông, được quần thần tôn làm vua. Có công dẹp Chiêm Thành và chăm lo việc nội trị.
• 1498-1503: Lê Hiến Tông.
• 1504: Lê Túc Tông, làm vua được 1 năm thì mất.
• 1505-1508: Lê Uy Mục, con Túc Tông, làm vua được 4 năm thì bị người trong họ là Giản Tu Công Oanh giết.
• 1509-1515: Lê Tương Dực, tức Giản Tu Công, con của Kiến Vương, làm vua được 7 năm thì bị quyền thần Trịnh Sản giết.
• 1516-1526: Lê Chiêu Tông, cháu Thánh Tông, làm vua được 11 năm thì bị Mạc Đăng Dung giết và cướp ngôi.
Nam-Bắc Phân Tranh Thời Đại
• 1527-2529: Mạc Đăng Dung làm vua được 3 năm thì nhường ngôi cho con.
• 1530-1532: Mạc Đăng Doanh làm vua đến năm thứ 3 thì nhà Lê dấy lên, do đó trong nước có hai thế lực Mạc và Lê (Bắc Triều và Nam Triều).
• 1533-1548: Lê Trang Tông, con Chiêu Tông, do Nguyễn Kim khởi nghĩa rước lên làm vua. Trong thời gian trị vì thì phe nhà Mạc có các vua Mạc Đăng Doanh, Mạc Phúc Hải, Mạc Phúc Nguyên.
• 1549-1556: Lê Trung Tông. Trong thời gian trị vì thì phe nhà Mạc có vua Mạc Phúc Nguyên.
• 1557-1572: Lê Anh Tông làm vua được 16 năm thì bị quyền thần Trịnh Tùng giết. Trong thời gian trị vì thì phe nhà Mạc có các vua: Mạc Phúc Nguyên, Mạc Mậu Hợp.
• 1573-1599: Lê Thế Tông. Phía Mạc, Mạc Mậu Hợp làm vua đến năm 1592 thì bị Trịnh Tùng giết.
• 1600-1618: Lê Kính Tông làm vua 19 năm thì bị quyền thần Trịnh Tùng giết. Kể từ thời gian này, tuy dưới danh nghĩa vua Lê nhưng đất nước do hai thế lực thực sự kiểm soát. Miền Bắc thuộc chú Trịnh Tùng, miền Nam thuộc các chúa Nguyễn Hoàng, Nguyên Phúc Nguyên.
• 1619-1643: Lê Thần Tông làm vua lần thứ nhất 25 năm rồi truyền ngôi cho con. Trong thời gian này, phe Trịnh (Đàng Ngoài) có chúa Trịnh Tùng, Trịnh Tráng; phe Nguyễn (Đàng Trong) có Nguyễn Phúc Nguyên, Phúc Lan.
• 1643-1648: Lê Chân Tông. Đàng Ngoài: Trịnh Tráng; Đàng Trong: Nguyễn Phúc Lan, Phúc Tần.
• 1649-1662: Lê Thần Tông, sau khi Chân Tông mất Thần Tông lên làm vua lần thứ hai. Đàng Ngoài: Trịnh Tráng, Trịnh Tạc; Đàng Trong: Nguyễn Phúc Tần.
• 1663-1671: Lê Huyền Tông. Đàng Ngoài: Trịnh Tạc; Đàng Trong: Nguyễn Phúc Tần.
• 1672-1675: Lê Gia Tông, con Thần Tông. Đàng Ngoài: Trịnh Tạc, Trịnh Cán; Đàng Trong: Nguyễn Phúc Tần.
• 1676-1704: Lê Hy Tông, con Lê Thần Tông. Đàng Ngoài: Trịnh Tạc, Trịnh Cán; Đàng Trong: Nguyễn Phúc Tần, Phúc Trăn, Phúc Chu. Tại miền Nam chúa Nguyễn Phúc Chu lấy hết đất Chiêm Thành cùng đất Gia Định, Hà Tiên của Cambodia.
• 1705-1728: Lê Dụ Tông. Đàng Ngoài: Trịnh Căn, Trịnh Cương; Đàng Trong: Nguyễn Phúc Chu, Phúc Trú.
• 1729-1731: Lê Duy Phương làm vua được 3 năm thì bị Trịnh Giang giáng xuống rồi bị giết. Đàng Ngoài: Trịnh Giang; Đàng Trong: Nguyễn Phúc Trú.
• 1732-1734: Lê Thuần Tông. Đàng Ngoài: Trịnh Giang; Đàng Trong: Phúc Trú.
• 1735-1739: Lê Ý Tông, em Thuần Tông, làm vua 5 năm thì Trịnh Giang bắt nhường ngôi cho Lê Hiển Tông. Đàng Ngoài: Trịnh Giang, Trịnh Doanh; Đàng Trong: Nguyễn Phúc Trú, Phúc Khoát.
• 1740-1786: Lê Hiển Tông, con Thuần Tông. Đàng Ngoài: Trịnh Doanh, Trịnh Sâm, Trịnh Cán, Trịnh Khải; Đàng Trong: Nguyễn Phúc Khoát, Phúc Thuần, Phúc Ánh. Gian đoạn này, tại miền Nam nhà Tây Sơn nổi lên ở Qui Nhơn, chiếm Thuận Hóa rồi mang quân ra Bắc với danh nghĩa phò Lê diệt Trịnh.
• 1787-1788: Lê Chiêu Thống, cháu đích tôn của Hiển Tông, cầu cứu nhà Thanh đưa quân sang Việt Nam, bị Quang Trung đánh bại. Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc rồi mất.
• 1788-1792: Nghe tin quân Thanh sang xâm lăng, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế tại Phú Xuân (Huế ngày nay) hiệu là Quang Trung, rồi mang quân đi đánh giặc.
• 1792-1802: Nguyễn Quang Toản, con Quang Trung, lên ngôi sau khi vua Quang Trung mất, cuối cùng bị Nguyễn Phúc Ánh bắt rồi xử tử.
Cận Kim Thời Đại
• 1802-1819: Nguyễn Phúc Ánh sau khi chiến thắng Tây Sơn, thống nhất đất nước, lên ngôi Hoàng đế hiệu Gia Long.
• 1820-1840: Minh Mạng, con thứ vua Gia Long, mở mang bờ cõi tại Laos và Cambodia, đổi quốc hiệu là Đại Nam.
• 1841-1847: Thiệu Trị, miếu hiệu Hiến Tổ Chương Hoàng.
• 1848-1883: Tự Đức, con thứ Thiệu Trị. Dưới thời Tự Đức, Pháp xâm lăng Việt Nam.
• 1884: Hiệp Hoà, em Tự Đức. Làm vua được 4 tháng thì bị quyền thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết bắt uống thuốc độc chết.
• 1844: Kiến Phúc, con nuôi Tự Đức, lân ngôi hơn 6 tháng thì mất.
• 1884-1886: Hàm Nghi, con nuôi Tự Đức, cùng nghĩa quân lập chiến khu chống Pháp tại Quảng Bình. Năm 1888 bị giặc bắt đưa đi đày tại Algérie (Algeria).
• 1886-1888: Đồng Khánh, con nuôi Tự Đức. Trong khi Hàm Nghi tại chiến khu, Pháp lập Đồng Khánh làm bù nhìn.
• 1889-1907: Thành Thái, con Dục Đực (con nuôi Tự Đức), làm vua được 19 năm, rồi bị Pháp phế chức, bắt đày sang đảo Réunion (Tây Phi).
• 1907-1916: Duy Tân, con Thành Thái, làm vua được 10 năm thì bị Pháp phế chức, bắt đày sang đảo Réunion.
• 1916-1925: Khải Định, con Đồng Khánh.
• 1926-1945: Bảo Đại, con Khải Định, thực sự về nước nhậm chức năm 1932; thoái vị, trao quyền cho Việt Minh vào năm 1945.
• 1945-1954: Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (Việt Minh). Trong khi đánh nhau với Việt Minh, Pháp cho lập chính phủ bù nhìn tại miền Nam do Nguyễn Văn Xuân nắm đầu năm 1948; sau đó Bảo Đại chấp chính với danh nghĩa quốc trưởng lập các chính phủ sau đây: Bảo Đại năm 1949, Nguyễn Phan Long năm 1950, Trần Văn Hữu năm 1952, Nguyễn Văn Tâm năm 1953, và Bửu Lộc năm 1954.
• 1954-1975: Sau hiệp định Genève 1954, nước Việt Nam bị chia làm hai tại vĩ tuyến 17 (Quảng Trị). Danh xưng chính quyền miền Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà; chính quyền miền Nam là Việt Nam Cộng Hoà với các chính phủ sau đây: Ngô Đình Diệm (1954-1963), Dương Văn Minh (1963-1964), Nguyễn Khánh (1964-1965), Nguyễn Văn Thiệu (1965-1975), và Dương Văn Minh (1975).
• 1975-Ngày nay: Tháng 4 năm 1975, chính quyền miền Bắc chiếm trọn lãnh thổ và đổi quốc hiệu là Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Tài liệu: Hồ Bạch Thảo. Những Nét Đặc Trưng Về Lịch Sử Việt Nam, trang 379-393.
PHU` DU
05-16-2003, 06:37 PM
:cry: :cry: :cry: :cry: :cry: :cry:
Originally posted by TruSiNang
Em bé Việt Nam và Viên Sỏi
Bé thơ ơi cuộc đời em viên sỏi
Khóc một lần nước mắt chảy thiên thu
- Viên kẹo tròn này để dành cho Mẹ
Viên kẹo vuông này để lại cho Ba
Viên kẹo nhỏ này để qua cho chị
Viên kẹo lớn này để lại cho em
Còn viên kẹo thật to này ...là phần Bé đấy
Bên bờ biển Palawan
Có một em bé gái
Tuổi mới chừng lên sáu lên năm
Đang ngồi đếm từng viên sỏi nhỏ
Và nói chuyện môt. mình
Như nói với xa xăm
- Em đến từ Việt Nam
Câu trả lời thường xuyên và duy nhất
Hai tiếng rất đơn sơ mà nhiều người quên mất
Chỉ hai tiếng này thôi
Em nhớ kỹ trong lòng
Em chỉ ra ngoài Đông Hải mênh mông
Cho tất cả những câu hỏi khác
Mẹ em đâu ?
- Ngủ ngoài biển cả
Em của em đâu ?
- Sóng cuốn đi rồi
Chị của em đâu ?
- Nghe chị thét trên mui
Ba em đâu ?
Em lắc đầu không nói
- Bé thức dậy thì chẳng còn ai nữa
Chiếc ghe nhỏ vớt vào đây mấy bữa
Trên ghe sót lại chỉ dăm người
Lạ lùng thay một em bé mồ côi
Đã sống sót sau sáu tuần trên biển
Họ kể lại em từ đâu không biết
Cha mẹ em đã chết đói trên tàu
Chị của em hải tặc bắt đi đâu
Sóng cuốn mất người em trai một tuổi
Kẻ sống sót trong sáu tuần trôi nổi
Đã cắt thịt mình lấy máu thắm môi em
Ôi những giọt máu Việt Nam
Linh diệu vô cùng
Nuôi sống em
Một người con gái Việt
Mai em lớn dù phương nào cách biệt
Nhớ đừng bao giờ đổi máu Việt Nam
Máu thương yêu đã chẳy bốn ngàn năm
Và sẽ chảy cho muôn đời còn lại
- Viên kẹo tròn này để dành cho Mẹ
Viên kẹo vuông này để lại cho Ba
Viên kẹo nhỏ này để qua cho chị
Viên kẹo lớn này để lại cho em
Còn viên kẹo thật to này ... là phần Bé đấy
Suốt tuần nay em vẫn ngồi
Một mình lẩm bẩm
Ngơ ngác nhìn ra phía biển xa xôi
Như thuở chờ Mẹ đi chợ về
- Thật trễ làm sao
Em tiếp tục thì thầm
Những câu nói vẩn vơ
Mẹ ngày xưa vẫn thường hay trách móc
Em cúi đầu nhưng không ai vuốt tóc
Biển ngậm ngùi mang thương nhớ ra đi
Mai này ai hỏi Bé yêu chi
Em sẽ nói là em yêu biển
Nơi cha chết không trống kèn đưa tiễn
Nơi tiếng chị rên
Nghe buốt cả thịt da
Nơi Mẹ chẳng về dù đêm tối đi qua
Nơi em trai ở lại
Với muôn trùng sóng vỗ
Bé thơ ơi cuộc đời em viên sỏi
Khóc một lần nước mắt chảy thiên thu
Trần Trung Đạo
PHU` DU
05-16-2003, 06:38 PM
Hùng Vương thứ ba có một cô công chúa rất đẹp tên là Tiên Dung. Nàng chỉ thích dùng thuyền buồm đi chơi trên sông biển. Lúc bấy giờ ở ven sông kia, có hai cha con Chử Vy Vân và Chử Ðồng Tử sinh sống. Họ rất nghèo nên chỉ có năm vuông vải để thay nhau đóng khố, khi đi ra chợ mua bán.
Trước khi chết, Chử Vy Vân dặn con giữ lại cái khố để che thân. Chử Ðồng Tử thương cha, không nỡ giữ khố lại mà đem chôn theo cha. Từ đó chàng sống trần truồng, thường ngâm mình dưới nước để câu cá hoặc đổi cá lấy gạo ở các thuyền buôn qua lại trên sông.
Ðến khi thấy thuyền công chúa Tiên Dung sắp tới, Chử Ðồng Tử liền chạy vào cạnh bụi cây, lấy cát phủ lên, che kín người để trốn. Nào ngờ Tiên Dung thấy phong cảnh nơi này đẹp, liền cho thuyền đậu lại. Rồi nàng truyền lệnh vây màn chung quanh để tắm mát.
Nào ngờ khi dội nước tắm, Tiên Dung thấy thân hình Chử Ðồng Tử lộ ra. Chàng sợ hãi toan chạy thì Tiên Dung gọi lại, cho là do số trời mà ra. Nàng bảo chàng mặc áo quần và lấy làm chồng. Hùng Vương biết tin, giận lắm, truyền lệnh cấm cửa, không cho công chúa vào cung nữa.
Tiên Dung và Chử Ðồng Tử đi khắp đó đây và được nhà sư Pháp Quang tặng cho một cây gậy và một cái nón. Tối đến nơi nào, cắm gậy và che nón lên, là có thành quách, cung điện hiện ra để ở. Sáng dậy, nhổ gậy lên thì nhà cửa đều bay lên trời, đem theo cả Tiên Dung và Chử Ðồng Tử.
Lý Ông Trọng
Cuối đời Hùng Vương, ở huyện Từ Liêm, quận Giao Chỉ có một người tên là Lý Thân, thân hình to lớn và khỏe mạnh khác thường. Có lần thấy hai con trâu đực đang húc nhau, Lý Thân nhảy vào giữa. Chàng dùng hai tay, mỗi tay nắm sừng một con trâu mà kéo ra thật xa...
Ðến đời An Dương Vương, Tần Thủy Hoàng muốn xâm chiếm nước Âu Lạc. An Dương Vương phải cho Lý Thân sang Tàu cầu hòa. Thấy Lý Thân to lớn, khỏe mạnh, lại giỏi võ, Vua Tần cho đấu với các vệ sĩ thì Lý Thân đã lần lượt vật ngã mọi người...
Tần Thủy Hoàng mừng lắm, giữ Lý Thân đã khiến cho bọn Hung Nô phương Bắc khiếp sợ không dám quấy nhiễu. Vua Tần phong cho Lý Thân làm Vạn Tín Hầu.
Sau đó Lý Thân nhớ nhà nên xin trở về nước Âu Lạc. Vắng bóng Lý Thân, Hung Nô lại kéo đến quấy nhiễu bờ cõi nhà Tần. Tần Thủy Hoàng liền cho người sang mời Lý Thân nhưng kỳ này Lý Thân không muôn sang Tàu nữa. An Dương Vương phải trả lời là Lý Thân đã chết.
Vua Tần thương tiếc, cho đúc tượng Lý Thân bằng đồng và ban hiệu là Lý Ông Trọng. Khi đẩy tượng này ra biên ải, Hung Nô trông thấy tượng, cho là Lý Thân còn sống nên rút quân về... Thế là tượng của Lý Ông Trọng đã giúp Vua Tần đuổi được Hung Nô cho tới khi nhà Tần bị nhà Hán chấm dứt...
Hoài Nam
05-17-2003, 10:39 AM
1. Chính-Trị nhà Tây-Hán Năm Canh Ngọ (111 TCN) vua Vũ-Ðế nhà Hán sai Lộ-Bác-Đức và Dương Bộc sang đánh nhà Triệu, lấy nước Nam-Việt rồi cải là Giao-chỉ-bộ, và chia ra làm 9 quận, là những quận sau:
a. Nam-hải ( Quảng-đông)
b. Thương-ngô ( Quảng-tây)
c. Uất-lâm ( Quảng-tây)
d. Hợp-phố ( Bắc Việt và mấy tỉnh ở phía Bắc Trung-Việt)
e. Giao-chỉ ( Bắc Việt và mấy tỉnh ở phía Bắc Trung-Việt)
f. Cửu-chân ( Bắc Việt và mấy tỉnh ở phía Bắc Trung-Việt)
g. Nhật-nam ( Bắc Việt và mấy tỉnh ở phía Bắc Trung-Việt)
h. Châu-nhai ( đảo Hải-nam)
i. Đạm-nhĩ ( đảo Hải-nam)
Mỗi quận có quan thái-thú coi việc cai trị trong quận và lại có quan thứ-sử để giám sát các quận. Ở trong quận Giao-chỉ thì có những lạc tướng hay lạc hầu vẫn được thế tập giữ-quyền cai trị các bộ lạc tựa hồ như các quan lang ở mạn thượng-du đất Bắc-Việt bây giờ. Quan thứ-sử trước tiên là Thạch Đái , đóng phủ cai trị ở Long-uyên. Có sách chép là phủ trị thủơ ấy đóng ở Lũng-khê, thuộc phủ Thuận-thành bây giờ.
Từ đời vua Vũ-Ðế cho đến hết đời nhà Tây-Hán không thấy sử nói gì đến đất Giao-chỉ nữa. Mãi đến năm Kỷ Sửu (năm 29) là năm Kiến-Võ thứ 5 đời vua Quang-vũ nhà Đông Hán thì mới thấy chép rằng thứ-sử Giao chỉ là Đặng Nhượng sai sứ về cống nhà Hán. Bởi vì khi Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, bọn Đặng-Nhượng, Tích Quang và Đỗ Mục ở Giao chỉ giữ châu quận, không chịu phục Vương Mãn. Đến khi vua Quang-Vũ trung hưng lên, bọn Đặng Nhượng mới sai sứ về triều cống.
2. Tích Quang và Nhâm Diên Về đầu thế-kỷ đệ nhất có hai người sang làm thái-thú trị dân có nhân-chính. Một người tên là Tích Quang làm thái-thú Giao-chỉ, một người tên là Nhâm Diên làm thái thú quận Cửu-chân. Tích Quang sang làm thái-thú quận Giao-chỉ từ đời vua Bình-đế nhà Tây Hán, vào khoảng năm thứ hai, thứ ba về thế kỷ đệ nhất. Người hết lòng lo việc khai-hóa, dạy dân lấy điều lễ-nghĩa, cho nên dân trong quận có nhiều người kính phục. Nhâm Diên ở Cửu-chân được 4 năm thì được thăng chức về Tàu đi làm quan chỗ khác. Dân-sự quận ấy ái-mộ Nhâm Diên, làm đền thờ. Có người vì được nhờ quan thái-thú cho nên sau sinh con ra, lấy tên Nhâm mà đặt tên cho con để tỏ lòng biết ơn.
Hoài Nam
05-18-2003, 07:14 AM
Vào đầu thế kỷ thứ I, nước ta còn bị lệ thuộc nhà Đông Hán (25-220) bên Trung Hoa, Thái thú Giao Chỉ là Tô Định vô cùng bạo ngược, làm lắm điều tàn ác, người người oán hận. Chính sách ngoại biên của nhà Hán với nhiều luật lệ ngặt nghèo, khắt khe đã khơi dậy ngọn lửa oán hờn trong lòng dân nước Việt.
Trưng Trắc sinh năm Giáp Tuất (năm 14 sau Tây Lịch), quê ở Mê Linh (Yên Lãng, Phúc Yên nay thuộc vùng Hạ Lôi, Yên Lãng, Vĩnh Phú). Cha là Trưng Định, làm quan Lạc Tướng ở huyện Mê Linh. Mẹ là bà Man Thiên, tức Trần Thị Đoan, dòng dõi Hùng Vương.
Gia đình ông Đặng Tập ở Chu Diên thuộc dòng dõi Lạc Tướng, con trai ông là Đặng Thi Sách, khôi ngô, giỏi võ nghệ, có tinh thần yêu nước. Được tin ở Mê Linh có hai nữ lưu có ý chí kiên cường, dám chém đầu Tích Lâm khi buông lời khả ố, chọc ghẹo nên tìm đến kết thân.
Thi Sách và Trưng Trắc cùng chung chí hướng, tài giỏi võ nghệ, tâm đầu ý hợp nên kết nghĩa phu thê.
Năm 39, Tô Định giết Thi Sách. Vừa giận thù nhà, vừa hận nợ nước, nên Trưng Trắc cùng với em là Trưng Nhị chiêu binh mãi mã phất cờ khởi nghĩa đánh quân nhà Hán. Sau khi làm lễ để tang chồng, Trưng Trắc thảo tờ hịch kể tội ác của quân nhà Hán và kêu gọi dân chúng đứng dậy chống giặc thù để phổ biến khắp nơi. Dưới bóng cờ nương tử, nghĩa binh Mê Linh phá quận trị Giao Chỉ của nhà Hán, ngày càng có thêm nhiều đoàn quân từ các nơi đổ về dưới bóng cờ khởi nghĩa nhằm tiêu diệt quân xâm lăng. Chẳng bao lâu, quân của Hai Bà Trưng đã đánh hạ được tất cả 65 thành, Tô Định khiếp sợ, chạy về Nam Hải chịu tội với vua Hán.
Tin thắng trận bay đi, nhân dân các quận Hợp Phố (Quảng Đông ngày nay), Cửu Chân và Nhật Nam (Bắc Việt và Bắc Trung Việt ngày nay) hưởng ứng rất đông theo tiếng gọi của hai vị nữ anh thư. Thanh thế của lực lượng khởi nghĩa thật lừng lẫy.
Trưng Trắc lên ngôi vua, tự xưng là Trưng Nữ Vương, đóng đô ở Mê Linh chấm dứt 150 năm Bắc thuộc lần thứ nhất (111 trước Tây Lịch đến 39 sau Tây Lịch). Trưng Trắc lên ngôi vua, phong cho Trưng Nhị làm Bình Khôi Tướng Quân, nắm giữ toàn thể quân lực.
Tháng Chạp, năm 41, vua Hán Quang Võ phong Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, mang 20 vạn quân sang đánh. Trận kịch chiến dữ dội giữa đại quân của Mã Viện với dân binh do Trưng Nữ Vương thống lĩnh đã diễn ra ở Lăng Bạc (Đông Triều - Yên Phong, Hà Bắc). Quân Mã Viện mai phục trên các triền đất cao giữa vùng Lăng Bạc bị Trưng Nữ Vương đem quân tới chận đánh. Trận chiến đầu tiên với đạo quân của Mã Viện đã mang lại thắng lợi nhưng quân sĩ đã hy sinh quá nhiều; trước tình thế đó, Trưng Nữ Vương thu quân về giữ Cấm Khê (Hà Nội - Quốc Oai - Hà Tây).
Mã Viện xin tăng cường thêm quân rồi tiếp tục kéo binh xâm lược, trận huyết chiến lại xảy ra, máu chảy đỏ sông Hồng, sông Đáy. Qua bốn trận thư hùng với quân địch, hàng vạn quân dân Việt đã bị giết và bị bắt. Quyết chống trả với quân giặc đến cùng, Trưng Nữ Vương phải bỏ Cấm Khê lui quân về đến Hát Giang, nơi đây vì quân ít, thế cô và cùng đường, hai vị anh thư không muốn rơi vào tay quân địch bèn gieo mình xuống sông tự vận để bảo toàn danh tiết. Đó là ngày 6 tháng 2 năm Quý Mão (năm 43). Theo Nam Sử, Trưng Trắc hưởng dương 29 tuổi.
Mã Viện đem phủ trị về đóng ở Mê Linh, dựng trụ đồng nơi phân chia địa giới, khắc sáu chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” nhằm đe dọa, người dân cam phận sống trong cảnh lầm than!
Ngày nay, ngoài quê hương Mê Linh, tại bãi Đồng Nhân ở vùng ngoại ô thành phố Hà Nội có ngôi đền cất từ năm Nhâm Tuất (1142) thờ Hai Bà Trưng rất lớn. Tại Hát Môn, Sơn Tây có Miếu Hát thờ Hai Bà Trưng, theo dân gian, nơi nầy rất linh thiêng. Để tỏ lòng tôn kính, hàng năm vẫn tổ chức lễ kỷ niệm hai vị anh thư Trưng Trắc và Trưng Nhị vào ngày mùng 6 tháng 2 Âm lịch.
Trong “Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca” có bốn câu:
“Bà Trưng quê ở Châu Phong
Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên
Chị em nặng một lời nguyền
Phất cờ nương tử, thay quyền tướng quân...”
Sách “Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập” có những vần thơ vịnh Hai Bà Trưng:
“Giúp dân dẹp loạn trả thù mình
Chị rủ cùng em kết nghĩa binh
Tô Định bay hồn vang một trận
Lĩnh Nam mở cõi vững trăm thành.
Mới dày bảo vị gia ơn trọng
Đã đội hoa quan xuống phúc lành
Còn nước, còn non, còn miếu mạo
Nữ trung đệ nhất đấng tài danh”.
Vua Tự Đức đã đề cập về hai vị nữ anh thư: “Hai Bà Trưng là khách quần thoa, thế mà lòng hăng việc nghĩa, còn làm rung động được triều đình nhà Hán! Dẫu thế lực yếu, thời vận ngửa nghiêng, cũng đủ dấy động lòng người, rỡ ràng sử sách...”
Đây là hai vị nữ lưu đầu tiên trong lịch sử nước nhà đã dấy lên ngọn cờ khởi nghĩa, chống trả ách xâm lược của Bắc Phương.
Sau ngọn cờ khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, đất nước lại rơi vào thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai kéo dài đến 5 thế kỷ (43-544).
Vương Trùng Dương
Hoài Nam
05-19-2003, 03:56 PM
1. Chính trị nhà Đông-Hán
Mã Viện đánh được Trưngvương đem đất Giao-chỉ về thuộc nhà Hán như củ, rồi chỉnh đốn binh lương, đem quân đi đánh dẹp các nơi, đi đến đâu xây thành đắp lũy đến đấy và biến cải mọi cách chính trị trong các châu quận. Đem phủ-trị về đóng Mê-linh và dựng cây đồng trụ ở chỗ phân địa giới, khắc sáu chữ: " Đồng trụ chiết, Giao-chỉ diệt." Nghĩa là cây đồng trụ mà đổ thì người Giao-chỉ mất nòi.
Sử chép rằng người Giao-chỉ đi qua lại chỗ ấy, ai cũng bỏ vào chân cột đồng-trụ một hòn đá, cho nên về sau chỗ ấy thành ra núi, phủ mất cả, đến bây giờ không biết cột ấy ở chỗ nào.
Từ đó chính-trị nhà Đông Hán càng ngày càng ngặt thêm, mà những quan-lại sang cai-trị Giao-chỉ thường có lắm người tàn-ác, tham nhũng, bắt dân lên rừng xuống bể để tìm những châu-báu. Dân ở quận Hợp-phố cứ phải xuống bể mò ngọc trai khổ quá, đến nổi phải bỏ xứ mà đi. Triều đình thì xa, quan-lại ra cai-trị thì tha hồ mà tung-hoành, tiếng oan-ức kêu không thấu vào đâu, cho nên thường hay có sự loạn-lạc, làm cho dân-gian phải nhiều sự khổ-sở.
2. Lý Tiến và Lý Cầm
Quan cai-trị đã tàn-ác, nhà vua lại bạc đãi người bản xứ. Đời bấy giờ người mình dẫu có học hành thông thái cũng không được giữ việc chính-trị. Mãi đến đời vua Linh-đế(168-189) cuối nhà Đông-Hán mới có một người bản xứ là Lý Tiến được cất lên làm Thứ - sử ở Giao-chỉ. Lý Tiến dâng sớ xin cho người Giao chỉ được bổ đi làm quan như ở Trung-châu bên Tàu. Nhưng Hán-đế chỉ cho những người đỗ mậu tài hoặc hiếu-liêm được làm lại-thuộc ở trong xứ mà thôi, chứ không được đi làm quan ở châu khác. Bấy giờ có người Giao-chỉ tên là Lý Cầm làm lính túc-vệ hầu vua ở trong điện, rủ mấy người bản xứ ra phục xuống sân mà kêu cầu thảm thiết. Hán-đế mới cho một người Giao-chỉ đỗ mậu-tài đi làm quan-lệnh ở Hạ dương và một người đỗ hiếu-liêm làm quan-lệnh ở Lục-hợp. Về sau Lý Cầm làm đến quan Tư-lệ Hiệu - úy và lại có Trương Trọng cũng là người Giao-chỉ làm thái thú ở Kim-thành. Người Giao-chỉ ta được làm quan như người bên Tàu, khởi đầu từ Lý Tiến và Lý Cầm vậy.
3. Cuộc khởi nghĩa của Chu Ðạt (156 - 160)
Năm 156, Chu Ðạt, người huyện Cự Phong (nay là Phú Hào, xã Thọ Phú, huyện Triệu Sơn) chiêu mộ dân binh vây đánh huyện sở Cự Phong (vùng đất các huyện Nông Cống, Quảng Xương, Tĩnh Gia và Như Xuân, Như Thanh ngày nay) giết chết huyện lệnh rồi tiến công Tư Phố, giết chết thái thú nhà Ðông Hán, lực lượng có đến 5.000 người, quản trị Cửu Chân được 4 năm từ năm 156 đến năm 160.
4. Cuộc khởi nghĩa của Lương Long (178 - 181)
Năm 178 các quận Giao chỉ, Hợp phố và Mán Ô Hử nổi dậy làm phản, nhân đó người Giao Châu là Lương Long khởi lên làm loạn, đánh phá và vây hãm các thành ấp. Mục thú là Chu Ngung không chống nổi, nhà Hán phải sai huyện lệnh huyện Lan Lăng là Chu Tuấn sang cứu viện, nhân tiện đường đi qua quận nhà (Cối Kê), Chu Tuấn mộ thêm gia binh hợp với quân của mình mang đi tất cả được 5000 người chia làm hai đạo kéo vào Giao Châu. Khi đến địa giới Giao châu, đóng quân lại không tiến, trước hết sai người đi dò xem hư thực và tỏ bày uy đức để làm nao núng quân địch rồi hợp cùng quân bảy quận kéo sát đến đánh và giết được Lương Long, số người ra hàng có đến mấy vạn.
5. Sĩ Nhiếp (187-226)
Về cuối đời nhà Đông-Hán, giặc cướp nổi lên khắp cả bốn phương, triều-đình không có uy-quyền ra đến ngoài, thiên-hạ chỗ nào cũng có loạn. Đất Giao-chỉ bấy giờ nhờ có quan tháithú là Sĩ Nhiếp cùng với anh em chia nhau giữ các quận huyện, cho nên mới được yên.
Tiên-tổ nhà ông Sĩ Nhiếp là người nước Lỗ, vì lúc Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, mới tránh loạn sang ở đất Quảng-Tín, quận Thương-ngô, đến đời ông thân sinh ra Sĩ Nhiếp là sáu đời. Ông thân sinh tên là Sĩ Tứ làm thái thú quận Nhật-nam, cho Sĩ Nhiếp về du học ở đất Kinh-sư, đỗ hiếu liêm được bổ Thượng-thư-lang, vì việc quan phải cách, rồi về chịu tang cha. Sau lại đỗ mẫu-tài được bổ sang làm Thái-thú ở quận Giao-chỉ.
Năm quí-mùi ( 203) là năm thứ 3 đời vua Hiến-đế quan Thứ-sử là Trương Tân cùng với quan Thái-thú Sĩ Nhiếp dâng sớ xin cải Giao-chỉ làm Giao-Châu. Vua nhà Hán Thuận cho. Sau vì trong châu có lắm giặc-giã, Sĩ Nhiếp mới tâu xin vua nhà Hán cho mấy anh em làm Thái-thú quận Cửuchân, quận Hợp phố và quận Nam-Hải. Sĩ Nhiếp giữ được đất Giao-châu khỏi loạn và vẫn giữ lệ triều cống như cũ, cho nên vua Hiến-đế lại phong cho chức An-viễn tướng quân Long-độ đình-hầu Sĩ Nhiếp trị dân có phép tắc, và lại chăm sự dạy bảo dân cho nên lòng người cảm-mộ công-đức, mới gọi tôn lên là Sĩ-vương.
Nhà làm sử thường cho nước ta có văn học là khởi đầu từ Sĩ Nhiếp. Cái ý kiến đó có lẽ không phải. Vì rằng từ khi nhà Hán cai trị đất Giao-chỉ đến đời Sĩ Nhiếp đã được hơn 300 năm, người Giao-chỉ đã có người học hành thi đỗ hiếu liêm, mậu tài. Vậy nói rằng đến ông Sĩ Nhiếp mới có nhohọc thì chẳng sai lắm ru. Hoặc giả ông ấy là một người có văn học trong khi làm quan, lo mở-mang sự học-hành, hay giúp đỡ những kẻ có chữ-nghĩa, cho nên về sau mới được, cái tiếng làm học tổ ở nước Nam tưởng như thế thì có thể hợp lẽ hơn.
Hoài Nam
05-20-2003, 01:40 PM
Sau ngọn cờ khởi nghĩa của Trưng Nữ Vương (40-43), trải qua hai thế kỷ nước ta bị chìm đắm trong thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai, từ Đông Hán đến thời kỳ Tam Quốc ở Trung Hoa có Ngụy (220-265), Thục Hán (221-263) và Đông Ngô (222-280). Nước ta lệ thuộc dưới sự thống trị của Đông Ngô, dân tình vô cùng khổ sở, lầm than.
Về quốc hiệu, theo dòng thời gian, nước ta về đời Hồng Bàng gọi là Văn Lang, đời Thục An Dương Vương gọi là Âu Lạc. Vào giai đoạn Tiền Hán và Hậu Hán ở Trung Hoa thì đời Triệu Vũ Vương (207-137 trước Tây Lịch) đến năm 111 trước Tây Lịch gọi là Nam Việt, năm 111 trước Tây Lịch đến năm 203 sau Tây Lịch gọi là Giao Chỉ.
Năm Quý Mùi (203) Thái Thú Sỹ Nhiếp và Thứ Sử Trương Tân dâng sớ xin vua Hiến Đế đổi tên Giao Chỉ thành Giao Châu và kéo dài cho đến đời Lý Nam Đế (544—548). Về đất đai, bởi sự thay đổi liên tục do việc phân chia và sát nhập của Trung Hoa. Khi Triệu Đà được Lưu Bang (Hán Cao Tổ 206-194 trước Tây Lịch) phong làm Nam Việt Vương, đóng đô ở Phiên Ngung (Quảng Đông), chia nước Âu Lạc ra làm hai quận: Giao Chỉ và Cửu Chân. Vào thời Hán Vũ Đế (140-87 trước Tây Lịch), Nam Việt bị nhà Hán chiếm luôn, đổi thành Giao Chỉ bộ. Giao Chỉ bộ gồm chín quận, có sáu quận thuộc vùng Quảng Đông, Quảng Tây và ba quận thuộc về nước ta hiện nay là quận Giao Chỉ (Bắc Việt), quận Cửu Chân (Thanh hóa, Nghệ An) và quận Nhật Nam (từ Hoành Sơn đến đèo Hải Vân). Giao Chỉ bộ đặt dưới quyền cai trị của quan Thứ Sử, mỗi quận dưới quyền cai trị của quan Thái Thú. Tất cả đều do triều đình ở Trung Hoa bổ nhiệm.
Năm 226 Sỹ Nhiếp qua đời, lợi dụng thời kỳ còn tranh giành quyền thế ở Trung Hoa, con trai Sỹ Nhiếp là Sỹ Huy lộng hành, tự động lên thay quyền Thái Thú. Ngô Đại Đế ổn định xong tình thế, chia đất Giao Châu từ Hợp Phố về Bắc đặt tên là Quảng Châu, cử Lữ Đại làm Thứ Sử; từ Hợp Phố vào Nam gọi là Giao Châu, cử Đái Lương làm Thứ Sử. Riêng đất Giao Chỉ về miền Bắc Việt bấy giờ cử Trần Thì thay Sỹ Huy làm Thái Thú. Trong giai đoạn đó còn có sự sát nhập, thay đổi đất đai nên danh xưng dễ bị nhầm lẫn.
Sỹ Huy chống lại việc bổ nhiệm của triều đình Đông Ngô nhưng trước thế mạnh của binh lực nên quy thuận, Sỹ Huy bị bắt và chém đầu với tội nghịch thần. Đông Ngô áp dụng chế độ trực trị như Đông Hán nên quan quân ác độc hoành hành. Dưới chính sách cai trị thật hà khắc, người dân phải gánh chịu bao cảnh điêu linh, khốn khổ.
Bấy giờ, ở quận Cửu Chân (vùng Nông Cống, Thanh Hóa ngày nay) có vị nữ lưu tên là Triệu Thị Trinh, còn gọi là Triệu Nguyên, sinh ngày 2 tháng 10 năm Ất Tỵ (225), cha mẹ mất sớm nên ở với người anh là Triệu Quốc Đạt, một hào trưởng ở miền núi Quảng Yên, Cửu Chân. Dù mồ côi cha mẹ nhưng ảnh hưởng hình ảnh vị hào trưởng tiếng tăm lừng lẫy trong vùng nên anh em được luyện tập các môn võ nghệ của nhiều võ sư chân truyền.
Triệu Thị Trinh thể hiện thiên tướng con nhà võ, tinh thông cách bày binh bố trận và tài sử dụng cung kiếm, làm cho đấng mày râu cũng phải kính nể. Vào tuổi đôi mươi, Triệu Thị Trinh là người có sức khỏe, giỏi võ nghệ, tính cương cường, gan dạ và mưu trí. Triệu Quốc Đạt rất hào khí, có đức độ và có tài thao lược, được mọi người nể trọng. Ông có tinh thần yêu nước và có ý chí khôi phục giang sơn, được bốn người bạn tâm phúc là Vương Thiện, Lãnh Long, Bao Thúc và Tốn Thận, có tài đức vẹn toàn nên muốn phất cờ chống trả ngoại xâm. Triệu Quốc Đạt bất mãn chính sách cai trị bạo tàn của nhà Đông Ngô nên âm thầm tập hợp nghĩa quân, lập căn cứ Phú Điền (Hậu Lộc - Thanh Hóa). Đấy là một thung lũng giữa hai núi đá vôi, vừa gần biển lại vừa là cửa ngõ từ đồng bằng phía bắc vào.
Triệu Thị Trinh muốn tham gia dưới bóng cờ của anh nhưng người anh có ý can ngăn, lo phận gái khó đảm đương trọng trách. Thời gian anh em ở với nhau, gặp người chị dâu là Giang Thị vô cùng cay nghiệt, luôn luôn bất hòa với Triệu Thị Trinh. Thấy em gái đã trưởng thành, người anh muốn cho em lập gia đình để có đời sống riêng tư nhưng bà không muốn bị ràng buộc trong cuộc sống khi mọi người trong nỗi thống khổ. Bà trả lời:
"Tôi muốn cỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá tràng kình ở biển Đông, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, cứu dân ra khỏi nơi đắm đuối, chứ không thèm cúi đầu, còng lưng để làm tì thiếp người ta."
Khi Triệu Thị Trinh phát hiện được Giang Thị gởi thư cho Thứ Sử Cửu Chân báo rằng anh em Triệu Quốc Đạt có âm mưu triệu tập lực lượng khởi loạn. Giang Thị muốn lập công và xin tha thứ cho chồng. Triệu Thị Trinh giết người chị dâu nối giáo cho giặc, phản chồng, hại em rồi vào ở trong núi, chiêu mộ hơn một nghìn nghĩa binh, tạo được uy danh, lấy đồi An Phổ để phất cờ khởi binh.
Năm Mậu Thìn (248), Triệu Quốc Đạt cùng Triệu Thị Trinh, mỗi người một nơi, đồng lúc khởi binh đánh quân Đông Ngô. Thể hiện tính quật cường của bậc nữ lưu, bà tỏ ra can đảm phi thường, cầm quân thật tài giỏi nên tôn bà làm chủ tướng. Bà xuất quân đánh thành Nông Cống, hình ảnh Triệu Thị Trinh "Đầu chít khăn lam, mình mặc áo võ trang màu biếc, tay cầm bảo kiếm, tay cầm cờ lệnh, hùng dũng lạ thường..." ngồi trên mình voi, xưng là Nhụy Kiều Tướng Quân, thống lĩnh quân sĩ xông pha chiến trận.
Trong thời điểm chiến trận sôi sục, Triệu Quốc Đạt hy sinh đền nợ nước. Thay Triệu Quốc Đạt, bà tập hợp quần hùng, tiếp tục chiến đấu với quân Đông Ngô. Từ đó, đánh tới đâu quân giặc tan tành tới đó, nhiều thành trì bị hạ. Trong thời gian ngắn đã chiếm giữ được quận Cửu Chân, quân Đông Ngô khiếp sợ, tôn xưng là Lệ Hải Bà Vương. Thứ Sử Châu Giao hoảng sợ bỏ chạy mất tích. Sử sách của nhà Ngô phải thú nhận: "Toàn thể Châu Giao chấn động".
Quân Đông Ngô kiếp đởm, kinh hồn, bạt vía đã phải thốt lên:
Hoành qua đương hổ dị
Đối diện Bà Vương nan
Nghĩa là:
Vung giáo chống hổ dễ
Giáp mặt Bà Vua khó
Truyền thuyết cho rằng Bà Triệu thu phục con voi trắng một ngà với lời rao truyền trên núi Quan Yên để thu phục mọi người:
"Có Bà Triệu tướng
Vâng lệnh trời ra
Trị voi một ngà
Dựng cờ mở nước
Lệnh truyền sau trước
Theo gót Trưng Vương...."
Hay tin cuộc khởi nghĩa ở Cửu Chân và Thứ Sử Châu Giao mất tích, vua Đông Ngô tức giận phái ngay Lục Dận, Đốc quân Đô úy Hành Dương là sang làm Thứ Sử Giao Châu, kiêm chức Hiệu Úy. Tăng cường binh mã tiếp viện ùn ùn kéo sang. Một tướng từng trải với trận mạc, lại rất quỷ quyệt sang làm Thứ Sử. Lục Dận đem 8.000 quân tinh nhuệ sang đàn áp. Lục Dận vừa đánh vừa đem của cải, chức tước ra dụ dỗ mua chuộc phần tử ham danh, ham lợi. Triệu Thị Trinh vẫn kiên cường đánh nhau với giặc không hề nao núng.
Sau 6 tháng chống chọi, vì quân ít thế cô, có kẻ phản bội thông báo tin tức cho quân Ngô, Triệu Nữ Vương đem quân về Bồ Điền (nay là Mỹ Điền, Mỹ Hóa, Thanh Hóa) rồi tự sát trên núi Tùng ở Hậu Lộc, Thanh Hóa. Bấy giờ bà mới 23 tuổi. Bậc Nữ Vương hy sinh lúc còn trinh trắng nên còn gọi là Triệu Trinh Vương.
Sau khi Triệu Nữ Vương mất, năm Giáp Thân (264) vua nhà Ngô lấy đất Hợp Phố, Cửu Chân và Nhật Nam làm Giao Châu, đóng đô ở Long Biên.
Triệu Nữ Vương mất đi, để lại tấm gương rạng rỡ bậc anh thư kiệt liệt, tiếng thơm còn mãi muôn đời.
Về sau, vua Lý Nam Đế khen ngợi bà là ngời trung dũng, sai lập miếu thờ, phong là: "Bậc chính anh liệt hùng tài trinh nhất phu nhân". Trong "Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập" có bài thơ ca ngợi công lao của Triệu Nữ Vương:
"Cao một trượng, cả mười vừng
Bỏ tóc ngang lưng, vú chấm sừng
Họp chúng rừng xanh, oai náo nức
Cưỡi đầu voi trắng, tiếng vang lừng
Mác dài trỏ vãy, tan tành giặc
Ngôi cả lăm le, học họ Trưng.
Ví có anh duyên định mấy
Thời chi Đông Hán dám hung hăng".
Trong "Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca" có những dòng thơ đề cập đến hình ảnh của bà:
"Đầu voi phất ngọn cờ vàng
Sơn thôn mấy cõi, chiến trường xông pha
Chông gai một cuộc quan hà
Dù khi chiến tử còn là hiển linh"
Nay ở Phú Điền còn có đền thờ bà.
Cũng như Mã Viện áp dụng chính sách bạo tàn sau cuộc khởi nghĩa của Trưng Nữ Vương, lập trụ đồng để đe dọa. Lục Dận nham hiểm, sai người trừ yểm để tránh hậu họa xảy ra. Người Tàu căm giận nên đặt tên là Triệu Ẩu, chữ Ẩu có nghĩa là mụ nhưng sử sách vẫn đề câp tính gan lì của bậc nữ lưu. Hình ảnh bậc nữ lưu "vú dài ba thước" đều do sử sách Trung Hoa dựng nên để phác họa chân dung dị tướng và hoang đường... vô hình chung lại ghi vào trang sử nước ta.
Nhìn lại trang sử nước nhà, từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ ba, đất nước có các bậc nữ lưu nổi dậy, phất cao ngọn cờ chính nghĩa, xưng Vương, kiên cường chống trả quân xâm lược đang thống trị với chính sách bạo tàn. Khởi đầu cho kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam với hình ảnh bậc anh thư liệt nữ phất cờ khởi nghĩa, cầm gươm xông pha nơi chiến trận, tuy ngắn ngủi nhưng để lại trang sử hào hùng cho dân tộc.
Vương Trùng Dương
allena
05-20-2003, 02:07 PM
Anh Hoài Nam ...
Có tài liệu nào nói về quốc hiệu của nước ta vào thời Trưng Nữ Vương không nhỉ ???
Dundy
05-21-2003, 03:19 AM
Allena hỏi chi khó vậy! :(
Truyện đã cách nay ... vài ngàn năm, ai mà nhớ cho được chứ !:D
Ðể anh Hai tài lanh trả lời thử xem sao nghen! (xin anh Hoài Nam đừng cười !)
Niên kỷ.........................Quốc Hiệu..............Ðời Vua
257 (TCN)*...................Văn Lang................Hùng Vương............*trước Công Nguyên
257 - 207 (TCN)............Âu Lạc...................Thục An Dương Vương
207 -111 (TCN).............Nam Việt................Triệu Ðà
111 (TCN) - 39.............Giao Chỉ..................Nhà Hán đổi Nam Việt thành Giao Chỉ bộ
40 - 43....................... ?.?.?.?....................Hai bà Trưng giành chính quyền từ nhà Hán
Hồi đó học sử anh chỉ thấy nói hai bà sau khi đuổi được quân Hán đã xưng Vương và đóng đô ở Mê Linh, chứ không nghe nói đến quốc hiệu, có lẽ vì thời đó mình vẫn là Giao Chỉ bộ của nhà Hán (?) :(
Sẵn nói về Giao Chỉ, Allena có nhớ tại sao người mình được/bị gọi là người Giao Chỉ không ? :)
allena
05-21-2003, 07:32 AM
Anh Hai Dundy uiùi ...
A chỉ nhớ ngày đó học sử và Cổ văn , về Hai bà Trưng khởi nghĩa , dành được chủ quyền trong 3 năm , có câu nầy A nhớ hoài nè :
.......
Lĩnh nam riêng một triều đình nước ta
Ba thu rạch một sơn hà
Một là báo phục , hai là báo quân ( ân ? )
A thấy trong tài liệu về Sử mà A được đọc , không có tài liệu nào nói về quốc hiệu của nước ta thời Hai bà Trưng , kể cả cụ Trần Trọng Kim vì vậy A mới dám thắc mắc , hy vọng trong ni có anh chị nào " bụng chứa một bồ..kinh thư " thì làm ơn chỉ dùm :p
Về từ Giao Chỉ , cũng theo cụ Trần Trọng Kim, người Việt lúc bấy giờ có hai ngón chân cái giao lại với nhau nên người Tàu gọi chúng ta là Giao Chỉ . Anh chị nào có tài liệu khác về từ Giao Chỉ thì xin vui lòng bổ túc thêm dùm A nhé :)
allena
05-21-2003, 09:06 AM
* Đồng dao :
_ Này có này cấu
Này đấu này thưng
Lưng sào cánh ná
Này là này lao
Nghe cồng bà rao
Nghe lệnh ông gióng
Nghe voi rông rống
Chong chóng chạy về...
_ Ru con con ngủ cho lành
Để mẹ gánh nước rửa bành con voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi Bà Triệu tướng cởi voi đánh cồng...
* Bồ Điền :
Quê ngoại của Bà Triệu , vùng nầy ngày nay vẫn còn nhiều dấu tích và truyền thuyết liên quan đến hành doanh nầy của Bà Triệu : núi Chung Chinh có 7 đồn luỹ , đống Vườn Hoa , đồng Xoắn Ốc , đồng Lăng Chúa là dấu vết thành quách xưa .
*Lục Dận :
Nhà Ngô chọn Lục Dận là cháu của danh tướng Lục Tốn , phong làm Thứ Sử Giao Châu , An Nam hiệu uý , đem 8000 quân sang đánh Bà Triệu .
Lục Dận là người quỷ quyệt , giao chiến mãi không thắng bèn phủ dụ mua chuộc , nhưng Bà Triệu không nhận lời . Nát óc tính toán , cuối cùng tên Lục Dận phải bày trò ô nhục kế : Bà Triệu là nữ tưóng , quân cũng có nhiều nữ binh , Lục Dận cho quân sỹ nhất loạt trần truồng tới đánh . Trước cảnh tượng đó ..quân ta tan rả !!! Bà Triệu lánh lên núi Tùng và mất ở đó.
* Con voi trắng một ngà của Bà Triệu thì sau đó cứ phủ phục gần núi Tùng , hướng về nơi Bà Triệu mất , không chịu ăn và chết .
Ngày nay đối diện với búi Tùng là một trái núi nhỏ hình con voi nằm . Truyền thuyết vùng Triệu Lộc nói rằng đó chính là con voi của Bà Triệu .
*Truyền thuyết nói rằng trước khi mất , Bà Triệu cho người đem thanh đoản kiếm của mình và chiếc Cồng về núi Nưa cất giấu , chờ ngày lại đem dùng đánh giặc .
Người vùng núi Nưa ngày nay vẫn tin rằng có thể sẽ tìm lại được chiếc Cồng của Bà Triệu , được giấu trong một hốc cây của ngàn Nưa . Vào năm 1962 , công nhân mỏ Crôm Cổ Định đã đào được trên núi Nưa một thanh đoản kiếm cổ bằng đồng thau , hai lưỡi và có chuôi là tượng của một phụ nữ .
Hoài Nam
05-21-2003, 01:01 PM
Originally posted by allena
Anh Hai Dundy uiùi ...
A chỉ nhớ ngày đó học sử và Cổ văn , về Hai bà Trưng khởi nghĩa , dành được chủ quyền trong 3 năm , có câu nầy A nhớ hoài nè :
.......
Lĩnh nam riêng một triều đình nước ta
Ba thu rạch một sơn hà
Một là báo phục , hai là báo quân ( ân ? )
A thấy trong tài liệu về Sử mà A được đọc , không có tài liệu nào nói về quốc hiệu của nước ta thời Hai bà Trưng , kể cả cụ Trần Trọng Kim vì vậy A mới dám thắc mắc , hy vọng trong ni có anh chị nào " bụng chứa một bồ..kinh thư " thì làm ơn chỉ dùm :p
Về từ Giao Chỉ , cũng theo cụ Trần Trọng Kim, người Việt lúc bấy giờ có hai ngón chân cái giao lại với nhau nên người Tàu gọi chúng ta là Giao Chỉ . Anh chị nào có tài liệu khác về từ Giao Chỉ thì xin vui lòng bổ túc thêm dùm A nhé :)
Theo HN, Lĩnh Nam là vùng đất thuộc nước ta có từ hồi lập quốc:
Vua Thần Nông vốn giòng Lạc Việt
Cháu: Đế Minh, nối nghiệp vua ban (2879 TCN)
Rừng xanh, Ngũ Lĩnh chiêm quan
Phương Nam chọn đất, cưới nàng Vụ Tiên
Khi nhà Hán chiếm nước ta:
Đất Lĩnh Nam từ thời lập quốc
Đến bây giờ lại mất vào tay
Nước ta Bắc thuộc từ rày (110 TCN)
Giặc gây thảm cảnh đọa đày nhân dân
Ðến khi hai bà Trưng đánh bại quân Tô Ðịnh và xưng Vương, đóng đô ở Mê Linh:
Ở Mê Linh, cùng dân cả nước
Để sẵn sàng chặn bước xâm lăng
Cửu Châu, Hợp Phố, Nhật Nam
Thanh Trì, Nam Hải, Lĩnh Nam theo về
HN cũng ngạc nhiên vì không thấy tài liệu lịch sử nào nói về quốc hiệu nước ta thời hai bà Trưng cả (?)
Dundy
05-21-2003, 01:48 PM
Trong lịch sử Việt Nam và lịch sử các dân tộc trên thế giới đã xảy ra một sự kiện lịch sử thật kỳ lạ (và chỉ xảy ra có một lần). Ðó là ngay thế kỷ đầu Công nguyên (39-40) dân tộc ta đã theo lời kêu gọi của hai người phụ nữ trẻ tuổi (Trưng Trắc, Trưng Nhị) và đã tôn nhiều phụ nữ lên nắm quyền lãnh đạo khởi nghĩa vũ trang để giải phóng dân tộc, giảu phóng đất nước.
Có lẽ do khí thiêng sông núi, do truyền thống bất khuất và tinh thần thượng võ của dân tộc ta mới hun đúc và sản sinh ra hai vị nữ anh hùng kiệt xuất và hàng chục nữ tướng tài ba như vậy.
Hai Bà Trưng đã được sử sách đời đời ghi chép công ơn, còn hơn hai mươi nữ tướng của Hai Bà Trưng tài ba lỗi lạc tuy chưa được ghi trong chính sử, song sự tích kỳ tài của các nữ tướng anh hùng đó đã được tạc trên bia đá, ghi vào thần phả và được nhân dân ta đời đời truyền tụng.
Chúng tôi xin giới thiệu danh sách các vị nữ anh hùng đó để minh họa cho sự kiện lịch sử đặc biệt oanh liệt dưới thời Hai Bà Trưng.
1. Thánh Thiên Nữ Tướng Anh Hùng: Khởi nghĩa ở Yên Dũng, Bắc Ðái - Bắc Giang. Ðược Trưng Vương phong làm Thánh Thiên Công Chúa. Hiện có đền thờ ở Ngọc Lâm, Yên Dũng, Bắc Giang.
2. Lê Chân - Nữ Tướng Miền Biển: Khởi nghĩa ở An Biên, Hải Phòng, được Trưng Vương phong là Nữ tướng quân miền Biển. Hiện có đền Nghè, ở An Biên, Hải Phòng thờ.
3. Bát Nạn Ðại Tướng: Tên là Thục Nương, khởi nghĩa ở Tiên La (Thái Bình), được Trưng Vương phong là Bát Nạn Ðại tướng, Trinh Thục công chúa. Hiện có đền thờ ở Phượng Lâu (Phù Ninh, Phú Thọ) và Tiên La (Quỳnh Phụ, Thái Bình).
4. Nàng Nội - Nữ Tướng Vùng Bạch Hạc: Khởi nghĩa ở Bạch Hạc (Phú Thọ) được Trưng Vương phong là Nhập Nội Bạch Hạc Thủy công chúa. Hiện có đền thờ tại Việt Trì.
5. Lê Thị Hoa - Nữ Tướng Anh Hùng: Khởi nghĩa ở La Sơn (Thanh Hóa) được Trưng Vương phong là Nữ tướng quân. Hiện ở Nga Sơn - Thanh Hóa có đền thờ.
6. Hồ Ðề - Phó Nguyên Soái: Khởi nghĩa ở Ðộng Lão Mai (Thái Nguyên) được Trưng Vương phong là Ðề Nương công chúa, lãnh chức Phó Nguyên soái. Ðình Ðông Cao, Yên Lãng (Phú Thọ) thờ Hồ Ðề.
7. Xuân Nương, Trưởng Quản Quân Cơ: Khởi nghĩa ở Tam Nông (Phú Thọ), được Trưng Vương phong là Ðông Cung công chúa chức Nhập nội trưởng quẩn quân cơ nội các. Hiện có đền thờ ở Chương Nha (Tam Nông), Phú Thọ.
8. Nàng Quỳnh - Nàng Quế - Tiên Phong Phó Tướng: Khởi nghĩa ở Châu Ðại Man (Tuyên Quang) được Trưng Vương phong làm Tiên phong phó tướng. Hiện ở Tuyên Quang còn có miếu thờ hai vị nữ anh hùng.
9. Ðàm Ngọc Nga - Tiền Ðại Tả Tướng: Khởi nghĩa ở Thanh Thủy, Thanh Sơn - Phú Thọ. Ðược Trưng Vương phong làm Nguyệt Ðiện Tế Thế công chúa giữ chức Tiền đạo tả tướng quân.
10. Thiều Hoa - Tiên Phong Hữu Tướng: Khởi nghĩa ở Tam Thanh - Phú Thọ. Ðược Trưng Vương phong là Ðông Cung công chúa giữ chức Tiên phong hữu tướng. Hiện ở xã Hiền Quan, Tam Nông, Phú Thọ có miếu thờ.
11. Quách A - Tiên Phong Tả Tướng: Khởi nghĩa ở Bạch Hạc, Phú Thọ. Ðược Trưng Vương phong là Khâu Ni công chúa giữ chức Tả tướng tiên phong. Hiện có đền thờ ở trang Nhật Chiêu (Phú Thọ).
12. Vĩnh Hoa - Nội Thị Tướng Quân: Khởi nghĩa ở Tiên Nha (Vĩnh Phúc). Ðược trưng Vương phong là Vĩnh Hoa công chúa giữ chúc Nội thị tướng quân. Ðình Nghênh Tiên, xã Nguyệt Ðức, huyện Yên Lạc Vĩnh Phúc thờ Vĩnh Hoa.
13. Lê Ngọc Trinh - Ðại Tướng: Khởi nghĩa ở Lũng Ngòi, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc. Ðược Trưng Vương phong là Ngọc Phượng công chúa giữ chức Ðại tướng quân. Hiện có miếu thờ ở Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc.
14. Lê Thị Lan - Tướng Quân: Khởi nghĩa ở Ðường Lâm - Sơn Tây. Ðược Trưng Vương phong là Nữ tướng quân. Hiện ở Hạ Hòa, Phú Thọ có miếu thờ.
15. Phật Nguyệt - Tả Tướng Thủy Quân: Khởi nghĩa ở Thanh Ba, Phú Thọ. Ðược Trưng Vương phong làm Phật Nguyệt công chúa giữ chức Thao Giang thượng Tả tướng thủy quân.
16. Phương Dung - Nữ Tướng: Khởi nghĩa ở Lang Tài (Bắc Ninh). Ðược Trưng Vương phong là Phương Dung công chúa giữ chức Nữ tướng quân.
17. Trần Nang - Trưởng Lĩnh Trung Quân: Khởi nghĩa ở Thượng Hồng (Hải Dương). Ðược Trưng Vương phong là Hoàng công chúa giữ chức Trưởng lĩnh trung quân. Hiện ở Yên Lãng, Phú Thọ có đền thờ.
18. Nàng Quốc - Trung Dũng Ðại Tướng Quân: Khởi nghĩa ở Gia Lâm, Hà Nội. Ðược Trưng Vương phong làTrung Dũng đại tướng quân. Hiện ở Hoàng Xá, Kiêu Kỵ, Gia Lâm thờ Nàng Quốc.
19. Tam Nương - Tả Ðạo Tướng Quân: Ba chị em Ðạm Nương, Hồng Nương và Thanh Nương khởi nghĩa ở Quất Lưu, Bình Xuyên, Vĩnh Phúc. Trưng Vương phong Ðạm Nương làm Tả đạo tướng quân, Hồng Nương và Thanh Nương làm phó tướng. Ðình Quất Lưu, Vĩnh Phúc thờ Tam Nương.
20. Quý Lan - Nội Thị Tướng Quân: Khởi nghĩa ở Lũng Ðộng, Chí Linh (Hải Dương). Ðược Trưng Vương phong là An Bình công chúa giữ chức Nội thị tướng quân. Hiện ở Liu sơn, Lập Thạch, Vĩnh Phúc có đền thờ.
PHU` DU
05-21-2003, 03:20 PM
--- không rõ tác giả ---
Lê Chân quê ở An Biên (nay thuộc huyện Đông Triểu tỉnh Quảng Ninh). Cha là Lê Đạo, một người tài đức và có thế lực ở địa phương, được nhân dân khắp vùng kính phục.
Biết thái thú Tô Định làm nhiều điều bạo ngược, muôn dân rên xiết trong cảnh nước sôi lửa bỏng, Lê Đạo đau lòng, căm giận quân giặc nước. Hiềm vì tuổi già sức yếu, ông đành dồn hết tâm sức dạy dỗ người con gái yêu và đám học trò có chí khí, những mong họ thay mình cứu dân cứu nước.
Không phụ lòng mong mỏi của cha, Lê Chân càng lớn càng tỏ ra thông minh, có chí khác người. Hai mươi tuổi nàng đã giỏi mưu lược quân cơ và nổi danh tài sắc. Nhiều người đến hỏi nhưng Lê Đạo và nàng đều gạt đi, vì thấy họ đều là người tầm thường, chỉ chăm việc nhà mà quên việc nước.
Tiếng tăm đồn đại về cô gái Lê Chân tài sắc bay đến tai Tô Định. Phần vì hiếu sắc, phần cũng muốn cầu thân mua chuộc người tài giỏi, Tô Định bắn tin cho Lê Đạo ngỏ ý muốn lấy Lê Chân làm vợ. Y sai sứ đem lễ vật đến dạm hỏi, đi lại ba, bốn lần song Lê Đạo và nàng đều một mực từ chối. Trở mặt, Tô Định khép Lê Đạo vào tội làm phản để giết ông rồi cho quân về vây bắt Lê Chân. Nợ nước thù nhà đè nặng trên vai, người con gái họ Lê bèn thu nhặt của cải từ giã quê hương xuống thuyền, xuôi vùng ven biển tới miền huyện An Dương ( nay thuộc thành phố Hải Phòng). Bà đã thấy ngay miền biển này chính là nơi dụng võ được: địa hình hiểm yếu, đường thuỷ liền thông, rất tiện lập một căn cứ chống giặc. Bà bắn tin cho bạn bè, họ hàng nơi quê cũ, gọi họ đến để cùng với dân địa phương khai phá xây dựng quê hương mới.
Sau ba năm, vùng biển hoang vu đã trở thành một trại ấp lớn. Nhớ miền đất cũ, bà đặt tên quê hương mới là Trang An Biên (nay thuộc khu phố Lê Chân, Hải Phòng).
Lê Chân còn mở chợ ven sông, để dân chúng và thuyền buôn nước ngoài đến buôn bán, trao đổi hàng hoá; nhân đó bà tích trữ lương thực, mua sắm vũ khí chờ dịp trả thù nhà đền nợ nước. Để dân chúng chăm việc quân và cũng là dịp chiêu nạp những người hiền tài, bà mở đài thi võ, mở lò đấu vật. Người các nơi nô nức tìm về hưởng ứng. Cả vùng An Biên thành một thao trường rộng lớn, nghĩa binh đêm ngày luyện tập.
Khi Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa, Lê Chân lãnh đạo nhân dân địa phương nổi dậy, quét sạch bọn đô hộ nhà Hán, làm chủ cả một vùng ven biển Đông Nam.
Từ miền biển, bà chỉ huy nghĩa binh đánh vào xứ Bắc, sào huyệt của bọn thái thú, thứ sử Châu Giao (Thuận Thành, Bắc Ninh) và tìm đến hội quân dưới cờ của Trưng Trắc, Trưng Nhị. Nữ tướng Lê Chân đã lập được nhiều công lớn. Khi Trưng Trắc lên làm vua, bà giao cho Lê Chân trọng trách "Trưởng quản binh quyền nội bộ".
Sau đó, để đề phòng quân giặc quay lại, Trưng vương cử bà về vùng biển đông, để phòng giữ mạn biển. Bà bỏ thêm tiền bạc, của cải cấp cho dân nghèo, khuyến khích họ khai hoang lập làng, dựng đồn luỹ phòng ngự.
Năm 42, Mã Viện chia quân làm hai đường thủy bộ ồ ạt kéo vào xâm lược. Lê Chân cùng nhân dân An Biên ngăn sông lấp suối, chặn đánh thuỷ binh hùng mạnh của giặc.
Vì lực lượng quá chênh lệch, sau gần một năm chống trả quyết liệt, quân ta suy yếu dần và tan vỡ. Lê Chân đã tự vẫn theo Hai Bà Trưng, nhưng khí phách trung kiên bất khuất của người liệt nữ ấy còn vang mãi:
"Thù nhà nợ nước hai vai
Một gương liệt nữ muôn đời soi chung"
nguồn: Vân Hà (sưu tầm)
boteo
05-21-2003, 04:43 PM
Bụng bt không có bồ kinh thư gì hết, chỉ có mấy bồ cơm với nước mắm thôi :), nhưng vào đây góp ý cò 1 chút, nha chị Allena.
Trong "Việt Sử Toàn Thư" của sử gia Phạm Văn Sơn có 1 đoạn như sau:
Dẹp yên quân Hán thâu được 56 thành hai Bà xưng vương đóng đô tại quê nhà là Mê Linh. Các quy mô lập quốc chưa kịp thành hình và có điều đáng kể, hiệu lệnh cũng chưa thấu được các châu, quận xa vì đường giao thông khó khăn. Trên thực tế uy quyền của hai bà chỉ thi thố được trong nội địa Mê Linh và Chu Diên, nhiều nhất là trong thành ấp, quận Giao Chỉ và Cửu Chân mà thôi.
Đọc đoạn này rõ ràng sử nước ta -theo hiểu biết hạn hẹp của bt-về cuộc khởi nghĩa của bà cũng rất mù mờ. Cuốn sử này, cũng như cuốn sử của cụ Trần Trọng Kim (hihi bt chỉ đọc sơ sơ 2 cuốn này thôi) chỉ nói sơ qua 2 Bà khởi nghĩa đánh chiếm 65 thành (56 trên đây chắc là đánh máy lầm). Sử nước mình có sách hình như vào đời Trần thế kỷ XIII, do vậy Bt đoán sử sách lúc đó ghi lại chắc
do truyền miệng, khi 2 Bà khởi quân đánh Hán là năm 40, khi 2 bà tuẩn tiết ở sông Hát Giang (theo sử của TTK) vào ngày 6 tháng 2 năm 43 vậy thời gian trị vì của 2 Bà rất ngắn ngủi ngoài trừ việc đuổi quân Tàu, xưng vương chứng tỏ nướC nhà độc lập, 2 Bà chưa có những công cuộc cả tiến canh tân nào đột phá nên không được nhắc nhở, người ta chỉ truyền miệng 2 Bà đã lảnh đạo cuộc khởi nghĩa thành công đuổi bọn đô hộ về nước. Ngay cả về cái chết của Bà cũng không thống nhất, cuốn sử của TTK thì 2 Bà tự trầm, cuốn sử của PVS thì theo sử Tàu nói Mã Viện chém 2 Bà, có cuốn sử Tàu lại nói chỉ có Trưng Nhị bị chém, có tích của sử ta thì cho rằng chỉ có Trưng Nhị chết, còn Trưng Chắt thì lên núi Hi Sơn rồi hóa (như 1 Phù Đổng Thiên Vương ???)
Gần đây có Bác sĩ Trần Đại Sỹ cho rằng không hẳn chỉ riêng 2 Bà là người đứng ra khởi nghĩa chống đô hộ, 2 Bà chỉ là người tiên phong, sau đó như 1 dây chuyền, khấp nơi noi gương Bà nổi lên đuổi quân đô hộ, ông lý luận chỉ có như vậy thì ta mới trong 1 thời gian ngắn lấy được 65 thành trì trên 1 lảnh thổ rộng lớn, thời đó nước ta -theo ông- kéo dài đến tận Động Đình Hồ 2 Bà không thể nào trong thời gian ngắn đánh đuổi quân Hán ra khỏi lảnh thổ (hihi em theo 1 chút 2 Bà lại cởi voi ra trận, chứ không phải phi ngựa[/i] :D)
Tóm lại bt nghĩ lại 2 bà chỉ xưng vương để tự khẳng định nước ta là 1 nước độc lập để nhấn mạnh Sơn hà cương vực đã chia, phong tục bắc nam đã khác (Bình Ngô Đại Cáo), và nước ta thời ấy vẫn còn sống theo Bộ Lạc quây quần ( mỗi vùng do 1 Lạc Tướng, Lạc Quân cai trị riêng biệt) nhiều hơn là thành 1 chính thể quốc gia rạch ngòi. Có lẽ vì thế nên khi truyền miệng về thời 2 Bà, người ta không nhắc đến quốc hiệu, nên sử ta đời sau .. lờ luôn, còn sử Tàu có lẽ có ghi, nhưng các sử gia nhà ta chưa tìm ra tài liệu (Việc sử Tàu ghi tên quốc hiệu nước ta cũng không chắc chắn, vì Tàu vốn coi ta là Man Di thì đâu khi nào ghi 1 vết nhơ như thế trong sử họ, đám con của trời !)
allena
05-21-2003, 05:29 PM
Wow...boteo trong bụng chỉ có " mấy bồ cơm với nước mắm " thôi mà sao rành rẽ quá vậy , phân tích rạch ròi dũ ha...
Tặng cho boteo cái bông nè :flower:
boteo
05-21-2003, 11:36 PM
Cái bông của chị đẹp quá. Thanx.
Ới mà chị ơi, mấy bà phi dạo này đi đâu rồi, bt nhớ mấy bả quá :D
allena
05-22-2003, 08:59 AM
Mấy hôm nay chị A bận một tí nên các bà phi về ...vườn chơi rồi :) đợi chị A đi mời về rồi boteo qua bên kia xem há ...
Chúc bt vui :)
BungRieu
05-22-2003, 12:26 PM
Cám ơn các Anh Chị nhiều nha ... BR được đọc ké cúa Chị SG .. hì hì ...
Ai cũng viết bài tăng chị chị hết rùi ...
BR không biết viết gì nữa hết á
Để BR Tặng chị tấm hình hai Bà nha
http://www.vietcyber.net/fgallery/data/media/4/trungvuong.jpg
Hoài Nam
05-24-2003, 08:07 AM
1. Lý Nam Đế (544-548)
Năm Tân Dậu (541) là năm Đại Đồng thứ 7 đời vua Vũ Đế nhà Lương, ở huyện Thái Bình có một người tên là Lý Bôn, tài kiêm văn võ, thấy nước mình, trong thì quan lại Tàu làm khổ, ngoài thì người Lâm Ấp cướp phá, bèn cùng với những người nghĩa dũng nổi lên, đánh đuổi Tiêu Tư về Tàu, rồi chiếm giữ lấy thành Long Biên.
Lý Bôn, có người gọi là Lý Bí, vốn dòng dõi người Tàu. Tổ tiên ở đời Tây Hán phải tránh loạn chạy sang Giao Châu, đến lúc bấy giờ là bảy đời, thành ra người bản xứ. Khi chiếm giữ được đất Giao Châu rồi, ông sửa sang mọi việc, định lập nghiệp lâu dài. Qua năm Quí Hợi (543) quân Lâm Ấp lại sang phá quận Nhật Nam, Lý Bôn sai tướng là Phạm Tu vào đánh ở Cửu Đức (Hà Tĩnh), người Lâm Ấp thua chạy về nước.
Năm Giáp Tí (544) đời nhà Lương bên Tàu, ông Lý Bôn tự xưng là Nam Việt Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, niên hiệu là Thiên Đức, rồi phong cho Triệu Túc làm thái phó, Tinh Thiều làm tướng văn, và Phạm Tu là tướng võ.
Năm Ất Sửu (545) vua nhà Lương sai Dương Phiêu sang làm thứ sử Giao Châu, và sai Trần Bá Tiên đem quân sang đánh Nam Việt. Lý Nam Đế thua phải bỏ thành Long Biên chạy về giữ thành Gia Ninh (huyện Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên). Trần Bá Tiên đem quân lên vây thành Gia Ninh, Lý Nam Đế chạy về giữ thành Tân Xương, tức là đất Phong Châu cũ thuộc tĩnh Vĩnh Yên bây giờ.
Nhà Lương lại tiến lên đuổi đánh, Lý Nam Đế thấy thế mình yếu, chống không nổi, mới rút quân lên đóng ở động Khuất Liêu (thuộc đất Hưng Hóa), để đợi thu xếp được quân sĩ lại ra đánh. Được non một năm, Lý Nam Đế đem hai vạn quân ra đánh nhau với Trần Bá Tiên ở hồ Điển Triệt (?), lại thua. Lý Nam Đế bèn giao binh quyền lại cho tả tướng quân Triệu Quang Phục chống nhau với quân nhà Lương rồi trở về Khuất Liêu.
Triệu Quang Phục là con quan thái phó Triệu Túc người ở Châu Diên (Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên) theo cha giúp Lý Nam Đế lập được nhiều công, nay đem quân chống cự với nhà Lương được ít lâu, rồi sau thấy thế quân Tàu còn mạnh, địch không nổi, bèn rút quân về Dạ Trạch17. Dạ Trạch là chỗ đồng lầy, chung quanh cỏ mọc như rừng, ở giữa có bãi cát làm nhà ở được. Triệu Quang Phục vào ở đấy, ngày nấp ẩn, tối thì cho lính chở thuyền độc mộc ra đánh quân của Trần Bá Tiên, cướp lấy lương thực về nuôi quân sĩ. Trần Bá Tiên đánh mãi không được. Người thời bấy giờ gọi Triệu Quang Phục là Dạ Trạch Vương.
2. Triệu Việt Vương (549-571)
Năm Mậu Thìn (548) Lý Nam Đế ở trong Khuất Liêu phải bệnh mất, sang năm sau Triệu Quang Phục ở Dạ Trạch được tin ấy bèn xưng là Việt Vương. Bấy giờ quân của Việt Vương đã sắp hết lương, mà mãi không phá được quân Tàu. May nhờ gặp lúc bên Tàu có loạn Hầu Cảnh, vua nhà Lương phải triệu Trần Bá Tiên về để người tì tướng là Dương Sân ở lại chống cự với Triệu Quang Phục. Quang Phục mới thừa thế đem quân ra đánh phá quân Tàu, rồi về lấy lại thành Long Biên.
Khi Lý Nam Đế thất thế chạy về Khuất Liêu thì người anh họ là Lý Thiên Bảo cùng với người họ là Lý Phật Tử đem quân chạy vào quận Cửu Chân, rồi bị quân nhà Lương đuổi đánh chạy sang Lào, đến đóng ở động Dã Năng, xưng là Đào Lang Vương, quốc hiệu là Dã Năng.
Năm Ất Hợi (555) là năm thứ 7 đời Triệu Việt Vương, Lý Thiên Bảo mất, không có con, binh quyền về cả Lý Phật Tử. Đến năm Đinh Sửu (557) Lý Phật Tử đem quân về chống với Triệu Việt Vương. Đánh nhau mấy trận không được, Phật Tử mới xin chia đất giảng hòa. Triệu Việt Vương nghĩ tình họ Lý, cũng thuận chia đất cho Lý Phật Tử.
Lý Phật Tử đóng ở Ô Diên (nay ở vào làng Đại Mỗ, thuộc huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông). Triệu Việt Vương đóng ở Long Biên, lấy bãi Quân Thần làm giới hạn (bãi ấy thuộc làng Thượng Các, huyện Từ Liêm). Triệu Việt
Vương lại gả con gái cho Phật Tử để tỏ tình hòa hiếu với nhau. Nhưng Phật Tử vẫn có ý muốn thôn tính, bởi vậy bề ngoài tuy hòa hiếu, nhưng bề trong vẫn sửa soạn để đánh lấy Long Biên.
Năm Tân Mão (571), Phật Tử bất thình lình đem quân đánh Triệu Việt Vương. Triệu Việt Vương thua chạy đến sông Đại Nha (nay ở huyện Đại An, tỉnh Nam Định), nhảy xuống sông tự tận. Người ở đấy cảm nhớ Triệu Việt Vương, mới lập đền thờ ở chỗ sông Đại Nha. Nay còn có đền thờ ở làng Đại Bộ, gần huyện Đại An.
3. Hậu Lý Nam Đế (571-602)
Lý Phật Tử lấy được thành Long Biên rồi, xưng đế hiệu, đóng đô ở Phong Châu (thuộc huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên), sai Lý Đại Quyền giữ Long Biên và Lý Phổ Đỉnh giữ Ô Diên.
Trong khi Lý Phật Tử làm vua ở Nam Việt thì vua Văn Đế nhà Tùy đã gôm cả Nam Bắc, nhất thống nước Tàu. Đến năm Nhâm Tuất (602) vua nhà Tùy sai tướng là Lưu Phương đem quân 27 doanh sang đánh Nam Việt.
Lưu Phương sai người lấy lẽ họa phúc để dụ Lý Phật Tử về hàng. Hậu Lý Nam Đế sợ thế không địch nổi bèn xin về hàng.
Từ đấy đất Giao Châu lại bị nước Tàu cai trị 336 năm nữa.
allena
05-24-2003, 08:01 PM
* Nhà Tuỳ :
Nắm quyền được 28 năm thì mất.
* Nhà Đường : ( 618 _ 907 )
Năm 618 , nhà Tuỳ mất nước , Nhà Đường làm vua nước Tàu. Đến năm 621 , Vua Đường Cao Tổ sai Khâu Hoà làm Đại tổng quản sang cai trị Giao Châu .
Năm 679 , vua Cao Tông nhà Đường chia Giao Châu làm 12 châu , 59 huyện , và đặt An Nam đô hộ phủ . Nước ta bị gọi là An Nam từ đó.
12 châu :
1- Giao Châu có 8 huyện : Hà Nội , Nam Định...
2- Lục Châu có 3 huyện : Quãng yên , lạng Sơn ...
3- Phúc Lộc Châu có 3 huyện : Sơn Tây
4- Phong Châu có 3 huyện : Sơn Tây
5-Thang Châu có 3 huyện : ?
6- Trường Châu có 4 huyện : ?
7- Chi Châu có 7 huyện : ?
8- Võ Nga Châu có 7 huyện : ?
9- Võ An Châu có 2 huyện : ?
10- Ái Châu có 6 huyện : Thanh Hoá
11- Hoan Châu có 4 huyện : Nghệ An
12- Diễn Châu có 7 huyện : Nghệ An
Ở phía tây Bắc đất Giao Châu có thêm một châu gọi là Man Châu, bao gồm những Mường ở mạn ấy , lệ hàng năm phải triều cống cho vua Đường .
* MAI HẮC ĐẾ ( 722 )
Năm 722 , năm Khai Nguyên thứ 10 đời vua Đường Huyền Tông , Mai Thúc Loan ở Hoan Châu nổi lên chống nhau với quân Đường.
Mai Thúc Loan là người huyện Thiên Lộc , nay là huyện Can Lộc , tỉnh Hà Tĩnh , ông mặt mũi đen sì , sức vóc mạnh mẽ , thấy quan nhà Đướng làm nhiều điều càn bậy , tàn bạo , làm cho dân gian khổ sở, lại nhân lúc ấy lắm giặc giã , ông chiêu mộ những người nghĩa dũng , chiếm giữ một phần đất Hoan Châu , nay thuộc huyện Nam Đường tỉnh Nghệ an , rồi xây thành đắp luỹ , tự xưng Hoàng đế , tục gọi là Hắc Đế .
Mai Hắc Đế liên kết với Lâm Ấp và Chân Lạp để làm ngoại viện .
Vua nhà Đường sai Dương Tư Húc đem quân sang cùng với quan đô hộ là Quang Sở Khách đi đánh Mai Hắc Đế . Mai Hắc Đế thế yều chống không lại , thua chạy , được ít lâu thì mất .
Nay ở núi Vệ Sơn ,huyện Nam Đường , tỉnh Nghệ An còn có di tích thành cũ của vua Hắc Đế ,và còn có đền thờ ở xã Hương Lãm , huyện Nam Đường .
* BỐ CÁI ĐẠI VƯƠNG ( 791 )
Năm 791 , quan đô hộ là Cao Chính Bình bắt dân đóng sưu thuế quá nặng , lòng dân oán hận . Khi ấy ở quận Đường Lâm , nay là làng Cam Lâm ,huyện Phúc Thọ , tỉnh Sơn Tây , có người tên là Phùng Hưng nội lên , đem quân đánh phá phủ đô hộ , Cao Chính Bình lo sợ thành bệnh mà chết . Phùng Hưng chiềm giữ thành được mấy tháng thì chết . Quân sỹ lập con của Phùng Hưng là Phùng An lên nồi nghiệp . Dân ái mộ Phùng Hưng nên lập đền thờ , tôn gọi là Bố Cái Đại Vương, nghĩa là tôn Phùng Hưng lên làm cha mẹ .
Tháng 7 năm ấy , vua nhà Đường sai Triệu Xương sang làm Đô hộ . Phùng An liệu thế chống không nổi phải xin ra hàng .
ShyGirl
05-25-2003, 01:30 PM
Yay yay yay, nhiều tài liệu lịch sử quá . Sorry nhé, mấy ngày qua em ở ngoài đường hơi nhiều nên không đọc được những information mà các anh chị post, nay đọc đã luôn :flower::loveya::flower: . Em cám ơn chú HN, anh Dundy, chị Allena, chị Phù Du và các anh chị em nhiều nhé, chương các các ACE quá đi, muah chụt chụt các anh chị nè :kissing::kissing::kissing: hihihihi .
Oh, thank you bé BR đã post hình 2 bà Trưng lên nhé, phụ nữ VN mình ngầu thiệt, hihihihihi :ole:
lost-dude
05-25-2003, 06:39 PM
Feeling so bad. Nobody read my posts. I posted them and some people posted them again or ask questions that are answered in my posts. Hic hic hic. :cry:
Hoài Nam
05-27-2003, 02:38 PM
1. Tình Thế Nước Tàu Năm Đinh Mão (907) nhà Đường mất ngôi, nhà Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu, tranh nhau làm vua. Mỗi nhà được mấy năm, gồm tất cả là 52 năm, gọi là đời Ngũ Quí hay là Ngũ Đại.
2. Họ Khúc Dấy Nghiệp Khúc Thừa Dụ (906 - 907). Trước khi nhà Đường sắp mất ngôi độ mấy năm, thì bên Tàu loạn, giặc cướp nổi lên khắp cả mọi nơi. Uy quyền nhà vua không ra đến bên ngoài, thế lực ai mạnh thì người ấy xưng đế, xưng vương. Ở Giao Châu, lúc bấy giờ có một người họ Khúc tên là Thừa Dụ, quê ở Hồng Châu (thuộc địa hạt Bàng Giang và Ninh Giang ở Hải Dương). Khúc Thừa Dụ vốn là một người hào phú trong xứ, mà tính lại khoan hòa, hay thương người, cho nên có nhiều người kính phục. Năm Bính Dần (906) đời vua Chiêu Tuyên nhà Đường, nhân khi trong châu có loạn, chúng cử ông ấy lên làm Tiết Độ Sứ để cai trị Giao Châu. Nhà Đường lúc bấy giờ suy nhược, thế không ngăn cấm được, cũng thuận cho ông ấy làm Tĩnh Hải Tiết Độ Sứ và gia phong Đồng Bình Chương Sự.
Năm sau nhà Đường mất ngôi, nhà Hậu Lương phong cho Lưu Ẩn làm Nam Bình Vương, kiêm chức Tiết Độ Sứ Quảng Châu và Tĩnh Hải, có ý để lấy lại Giao Châu. Khúc Thừa Dụ làm Tiết Độ Sứ được non một năm thì mất, giao quyền lại cho con là Khúc Hạo.
3. Khúc Hạo (907 - 917) Khúc Hạo lên thay cha làm Tiết Độ Sứ, lập ra lộ, phủ, châu, xã ở các nơi, đặt quan lại, sửa sang việc thuế má, việc sưu dịch và lại cho con là Khúc Thừa Mỹ sang sứ bên Quảng Châu, tiếng là kết hiếu với nhau, nhưng cốt để dò thăm mọi việc hư thực. Lưu Ẩn ở Quảng Châu đóng phủ trị ở Phiên Ngung được 4 năm thì mất. Em là Lưu Cung (trước gọi là Lưu Nham) lên thay. Được ít lâu nhân có việc bất bình với nhà Hậu Lương, Lưu Cung tự xưng đế, quốc hiệu là Đại Việt. Đến năm Đinh Sửu (947) cải quốc hiệu là Nam Hán.
4. Khúc Thừa Mỹ (917 - 923) Năm Đinh Sửu (917) Khúc Hạo mất, truyền nghiệp lại cho con là Khúc Thừa Mỹ. Khúc Thừa Mỹ nhận chức Tiết Độ Sứ của nhà Lương, chứ không thần phục nhà Nam Hán. Vua nước Nam Hán lấy sự ấy làm hiềm, đến năm Quí Mùi (923) sai tướng là Lý Khắc Chính đem quân sang đánh bắt được Khúc Thừa Mỹ, rồi sai Lý Tiến sang làm thứ sử cùng với Lý Khắc Chính giữ Giao Châu.
5. Ngô Quyền (897-944)
Năm Quý Mùi (923) Vua Nam Hán đem quân sáng đánh thành Đại La, bắt được Khúc Thừa Mỹ rồi cử Lý Tiến làm Thứ Sử và Lý Khắc Chính làm Tiết Độ Sứ đất Giao Châu, áp dụng chính sách đàn áp, cuộc sống người dân trở lại thời kỳ đen tối.
Năm Tân Mão (931) vị tướng của Khúc Hạo ở đất Ái Châu (Thanh Hóa) là Dương Diên Nghệ, còn gọi là Dương Đình Nghệ, chiêu mộ nghĩa binh, đánh dẹp được quân Nam Hán, chiếm được Đại La, làm Tiết Độ Sứ. Dưới quyền của Dương Diên Nghệ có hai vị tướng tài là Ngô Quyền, trung hậu, thẳng thắn và Kiều Công Tiễn, mưu mô, gian ác. Dương Diên Nghệ có người con gái là Dương Như Ngọc, tuổi vừa đôi mươi, tài sắc vẹn toàn, Ngô Quyền và Kiều Công Tiễn đều yêu thương Như Ngọc. Để tỏ sự công bằng và chọn người tài ba nhằm gả chồng cho con gái, Dương Diên Nghệ tổ chức cuộc thi tuyển cho nha tướng có cơ hội thi thố tài năng. Cuối cùng chỉ còn Ngô Quyền và Kiều Công Tiễn được lọt vào vòng chung kết. Cuộc thi phi ngựa và phóng lao đến lúc kết thúc, con bạch mã của Ngô Quyền lao về phía trước bỏ rơi con hắc mã của Kiều Công Tiễn, tức giận trước đối thủ, Kiều Công Tiễn rút cung bắn vào chân ngựa bạch mã cũng là lúc ngọn đao của Ngô Quyền cắm vào mục tiêu hình nộm.
Tài ba và dũng khí của Ngô Quyền làm mọi người thán phục, Ngô Quyền chiếm được trái tim Như Ngọc giữa ba quân.
Cùng quê cha đất tổ với Bố Cái Đại Vương, Ngô Quyền sinh ngày 12 tháng 3 năm Đinh Tỵ (897) ở Đường Lâm. Thân phụ là Ngô Mân, vị hào trưởng đức độ và khí khái, luôn luôn tự hào trên mảnh đất quê hương đã sinh sản ra vị anh hùng đầy nghĩa khí phất cao ngọn cờ, chống trả ngoại xâm.
Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Lê Văn Hưu ((1230-1322, bản khắc năm 1697) hình ảnh Ngô Quyền “Khôi ngô, mắt sáng như chớp, dáng đi như cọp, có trí dũng, sức có thể nhấc vạc giơ cao”, được trau dồi võ nghệ và cung tên rất thuần thục nên tuy còn trẻ đã nổi tiếng trong vùng.
Khi Dương Diên Nghệ nuôi ba nghìn giả tử (con nuôi) nhằm ý định khôi phục thế lực nhằm tạo thơi cơ chống cự với quân Nam Hán. Trong số giả tử đó, Ngô Quyền được coi là người tin yêu nhất trong gia đình họ Dương. Và, thời gian sau, Ngô Quyền trở thành rể quý của Dương Diên Nghệ.
Dương Diên Nghệ cử Ngô Quyền cai quản xứ Thanh (Châu Ái) và Đinh Công Trứ (thân phụ Đinh Bộ Lĩnh) cai quản xứ Nghệ (Châu Hoan).
Năm Mậu Tuất (938), Dương Diên Nghệ trong chuyến đi săn ở ngoài thành bị Kiều Công Tiễn rình rập, dùng tên độc bắn chết. Loạn tướng Kiều Công Tiễn chiếm được Đại La, nhiều công thần của Dương Diên Nghệ lên án hành động gian manh bị Kiều Công Tiễn giết hại. Để đối phó với tình thế, lo sợ sự phản công, Kiều Công Tiễn cho người sang cầu cứu vua Nam Hán, nắm được cơ hội vua Nam Hán phong tước cho thái tử Hoằng Thao, đem đại quân sang đất Giao Châu.
Nhận được hung tin, Ngô Quyền sau khi làm lễ phát tang, cùng em vợ là Dương Tam Kha kêu gọi binh sĩ, được sự hưởng ứng của tất cả mọi người, Ngô Quyền thống lĩnh đạo quân kéo ra Bắc trị tôi kẻ phản phúc đang nối giáo cho quân Nam Hán. Khi kéo quân tới gần thành Đại La, Ngô Quyền phải phân vân trước hai thế lực: thù trong và giặc ngoài. Vốn dòng võ quan, Như Ngọc am tường binh thư. sách lược, phụ giúp cho chồng thu phục nhân tâm.
Sách Thiên Nam Ngữ Lục ghi lời rao tác động tâm lý được phổ biến:
“Bảo nhau dắt trẻ, phù già
Bỏ chưng Công Tiễn, về nhà Ngô Vương”
Mùa Đông năm 938, khi đại quân của Ngô Quyền vây thành Đại La, cho người dùng loa kêu gọi Kiều Công Tiễn đầu hàng, nhận được tin tức tiếp ứng, nhiều võ quan và binh sĩ nổi loạn, nội tình rrối loạn, Ngô Quyền đột phá cổng thành, bắt Kiều Công Tiễn, lên án kẻ phản bội rồi chém đầu.
Trong khi đó vua Nam Hán bàn thảo kế hoạch tiến công, Tiêu Ích cho rằng “Đường bể hiểm và xa, Ngô Quyền là người kiệt liệt, không nên khinh thường” (Việt Sử Tiêu Án), nhà vua không nghe, cho đạo quân xuôi Nam bằng đường thủy.
Tháng 12 năm 938, Ngô Quyền áp dụng chiến thuật vừa đánh vừa nhử, một mặt cho quân sĩ cắm cọc nhọn bịt sắt dưới lòng sông Bạch Đằng, một mặt cho thủy quân dùng thuyền nhẹ ra vịnh Hạ Long khiêu chiến rồi rút dần vào cửa sông Bạch Đằng. Hoằng Thao cho chiến thuyền đuổi theo, đợi khi thủy triều xuống, quân sĩ của Ngô Quyền mai phục hai bên bờ sông tung ra xông trận, thủy quân Nam Hán hoảng hốt quay thuyền tháo lui, bị cọc sát đâm thủng, quan quân rối loạn, hàng ngũ tan rã, Hoằng Thao bị giết, máu quân Nam Hán loang đỏ dòng sông.
Chiến thắng lẫy lừng của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng với quân ngoại xâm ghi lại chiến tích hào hùng cho trang sử, đem lại quyền tự chủ của dân tộc sau 11 thế kỷ bị nội thuộc.
Năm Kỷ Hợi (939) Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội), nhà vua đặt lại triều chính, chỉnh đốn cơ nghiệp cho triều đại dành được quyền tự chủ nhưng rất tiếc, Ngô Quyền làm vua được 6 năm, quan đời ngày 18 tháng Giêng năm Giáp Thìn (944) , thọ 47 tuổi. Đền thờ Ngô Vương được lập ở Đướng Lâm
Sau nầy Hưng Đạo Vương đại phá quân Nguyên cũng trên dòng sông Bạch Đằng ghi lại chiến công hào hùng nhất trong lịch sử nước nhà làm vẻ vang dân Việt.
Vào thế kỷ XIII, bài thơ Hành Dịch Đăng Gia Sơn của danh sĩ Phạm Sư Mạnh, học trò xuất sắc của Chu Văn An được lưu truyền cho hậu thế hình ảnh thật hào hùng:
Hành dịch đăng gia sơn,
Kiều thủ vạn lý thiên.
Đổ bằng nam minh ngoại,
Tân nhật đông nhạc tiền.
Yên Phụ thiên nhất ác,
Tượng Đầu nhẫn cửu thiên.
Tằng tằng Tử Tiêu vân,
Hội phỏng An Kỳ tiên.
Húng húng Bạch Đằng đào,
Tưởng tượng Ngô Vương thuyền.
Ức tích Trùng Hưng Đế,
Khắc chuyển khôn oát kiền.
Hải phố thiên mông đồng,
Hiệp môn vạn tinh chiên.
Phản chưởng điện ngao cực,
Vãn Hà tẩy tinh chiên.
Chí kim tứ hải dân,
Trường thuyết cầm Hồ niên.”
Dịch Nghĩa
Nhân Đi Việc Quan, Lên Chơi Núi Quê Nhà
Nhân đi việc quan, thăm núi quê nhà,
Ngẩng đầu nhìn giữa trời cao muôn dặm.
Thấy chim bằng tận ngoài biển Nam,
Đón mặt trời trước dãy núi phía Đông.
Núi Yên Phụ cách trời trong khoảng tất,
Núi Tượng Đầu cao chín nghìn mẫu .
Lớp lớp trời mây phủ trên đỉnh Tử Tiêu,
Nhân dịp hỏi thăm tiên An Kỳ.
Sóng Bạch Đằng cuồn cuộn.
Tưởng tượng tới thuyền của Ngô Vương.
Tưởng nhớ hình ảnh vua Trùng Hưng xưa,
Khoảnh khắc làm xoay chuyển đất trời.
Hàng nghìn chiến thuyền ngoài cửa biển,
Muôn vạn lá cờ lệnh trên cửa ải.
Trở bàn tay tạo bờ cõi bình yên
Kéo nước sông Ngân rửa sạch vết tanh hôi.
Mãi đến hôm nay lòng dân cả nước,
Nhắc mãi năm xưa đuổi bắt giặc Hồ.
Sách Đai Nam Quốc Sử Diễn Ca lược ghi:
“Bạch Đằng một trận giao phong
Hoằng Thao lạc vía, Kiều Công nộp đầu
Quân thân đã chính cương trù
Giang sơn rấy có vương hầu chủ trương
Về Loa Thành mới đăng quang
Quang danh cải định, triều cương đặt bày...”
Bài phú Bạch Đàn Giang Phú của Trương Hán Siêu vào thế kỷ XIV đời nhà Trần nói lên hình ảnh trong chiến trận Bạch Đằng:
Bát ngát sóng kình muôn dặm
Thướt tha đuôi trĩ một màu...
... Sông chìm giao ngã, gò đầy xương khô...
Đến nay nước sông tuy chảy hoài
Mà nhục quân thù không rửa nổi!”
Sau khi Ngô Vương mất đi, nội tình rơi vào tình trạng phân hóa trầm trọng bởi việc tranh quyền trong gia đình, mang lại hậu quả thảm thương ở vương triều và đất nước.
Ngô Vương lập Dương Như Ngọc làm vương hậu, có hai người con là Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn; khi Ngô Vương qua đời, để di chúc lại cho Ngô Xương Ngập nhưng Dương Tam Kha, cướp lấy quyền cháu, tự xưng là Bình Vương (945-950). Ngô Xương Ngập thấy nguy nên trốn sang Nam Sách rồi vào núi ẩn náu.
Dương Tam Kha bắt Ngô Xương Văn làm con nuôi, thới gian nầy có nhiều loạn nổi lên vì bất đồng với Dương Tam Kha. Năm Canh Tuất (950) có loạn ở Sơn Tây, Dương Tam Kha sai Ngô Xương Văn và hai tướng Dương Cát Lợi và Đỗ Cảnh Thạc đem quân dẹp loạn. Vừa mới động binh di chuyển đến từ Liêm thì Ngô Xương Văn bàn mưu cùng hai tướng quay trở lại bắt Dương Tam Kha; nghĩ tình cậu cháu nên giáng cấp Dương Tam Kha xuống làm Chương Dương Công (nay là bến Chương Dương Độ) để thu thuế nơi đó mà sinh sống.
Ngô Xương Văn lên làm vua xưng là Nam Tấn Vương, cho người mời Ngô Xương Ngập về chia ngôi vị, xưng là Thiên Sách Vương vì vậy sử gọi là Hậu Ngô Vương.
Bấy giờ nhà Nam Hán rất mạnh nên Nam Tấn Vương xin thần phục Trung Hoa do đó Hán Ẩn Đế phong cho Ngô Xương Văn làm Tĩnh Hải Tiết Độ Sứ. Giữ ngôi vị được 15 năm (950-965) thì bị bắn chết trong trận giao chiến ở Thái Bình, không có con kế tự nên con của Ngô Xương Ngập là Ngô Xương Xí lên thay, đóng ở đất Bình Kiều. Bấy giờ trong nước rơi vào tình trạng loạn lạc, Ngô Xương Xí xưng là Ngô Sứ Quân, sử ghi đó là thời kỳ Thập Nhị Sứ Quân.
Ngô Quyền có công gầy dựng nên nhà Tiền Ngô với hình ảnh cao đẹp, mở ra thời đại tự chủ, tiếc rằng con cháu không tiếp nối ngọn cờ chính nghĩa để cơ nghiệp Ngô Vương được trường tồn.
allena
05-28-2003, 09:38 AM
( 945 - 967 )
Sau khi Dương Tam Kha chiếm quyền , những người thổ hào các nơi như Trần Lãm , Kiều Công Hãn...đều đứng lên xưng là Sứ Quân . Về sau , khi Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn đã khôi phục lại cơ nghiệp , nhưng các Sứ Quân vẫn không chịu về thần phục . Nam Tấn Vương phải đi đánh dẹp mãi mà vẫn không yên . Đến khi Nam Tấn Vương bị giặc bắn chết , con của Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập là Ngô Xương Xí về đóng giữ đất Bình Kiều . Tướng nhà ngô là Đỗ Cảnh Thạc cũng chiếm giữ một chổ , xưng là Sứ Quân .
Lúc bấy giờ trong nước có 12 Sứ Quân ., cảnh nội loạn kéo dài hơn 20 năm . Mười hai Sứ Quân đó là :
1- Ngô Xương Xí : giữ Bình Kiều , nay là làng Bình Kiều , phủ Khoái Châu , tỉnh Hưng Yên .
2- Đỗ Cảnh Thạc : giữ Đỗ động giang thuộc huyện Thanh Oai
3- Trần Lãm : xưng là Trần Minh Công : giữ Bố hải Khẩu ( Kỳ Bố , tỉnh Thái Bình )
4- Kiều Côn Hãn : xưng là Kiều Tam Chế , giữ Phong Châu ( huyện Bạch Hạc )
5- Nguyễn Khoan : xưng là Nguyễn Thái Bình giữ Tam Đái ( phủ Vĩnh Tường )
6-Ngô Nhật Khánh : xưng là Ngô Lãm Công , giữ Đường Lâm , Phúc Thọ , Sơn Tây
7- Lý Khuê : xưng là Lý Lang Công , giữ Siêu Loại , Thuận Thành .
8- Nguyễn Thủ Tiệp : xưng là Nguyễn Lịnh Công . giữ Tiên Du , Bắc Ninh
9- Lữ Đường : xưng là Lữ tá Công , giữ Tế Giang , Văn Giang , Bắc Ninh .
10- Nguyễn Siêu : xưng là Nguyễn Hữu Công , giữ Tây Phù Liệt , Thanh Trì , Hà Đông .
11- Kiều Thuận : xưng là Kiều Lịnh Công , giữ Hồi Hồ , Cẩm Khê , Sơn Tây .
12- Phạm Bạch Hổ : xưng là Phạm Phòng Át , giữ Đằng Châu , Hưng Yên .
Những sứ quân nầy cứ đánh lẫn nhau ,làm cho dân gian khổ sở . Cho đến khi Đinh Bộ Lĩnh ở Hoa Lư đem quân đi đánh mới dẹp xong , đem giang sơn về một mối , và lập nên cơ nghiệp nhà Đinh
Hoài Nam
05-28-2003, 02:43 PM
Đinh Bộ Lĩnh người động Hoa Lư, Châu Đại Hoàng (Hoa Lư, Ninh Bình), con Đinh Công Trứ, một nha tướng của Dương Đình nghệ giữ chức Thứ sử Châu Hoan. Đinh Công Trứ mất sớm, Bộ Lĩnh theo mẹ về quê ở, thường đi chơi với kẻ chăn trâu, bắt chúng khoanh tay làm kiệu để ngồi cho chúng rước và lấy bông lau làm cờ bày trận đánh nhau.
Lớn lên, nhờ thông minh, có khí phách lại có tài thao lược nên khi Bộ Lĩnh dựng cờ dấy nghĩa mong lập nghiệp lớn, dân làng theo ông rất đông. Nhưng vì bất hòa với chú, Bộ Lĩnh cùng với con là Đinh Liễn sang ở với sứ quân Trần Minh Công ở Bồ Hải Khẩu (Kiến Xương, Thái Bình). Thấy Bộ Lĩnh là người khôi ngô, có chí khí, Minh Công trao cho Bộ Lĩnh giữ binh quyền. Khi Trần Minh Công qua đời, Bộ Lĩnh đem quân về giữ Hoa Lư, chiêu mộ hào kiệt, hùng cứ một phương. Năm Tân Hợi (951) đời hậu Ngô vương, Nam Tấn vương cùng Thiên Sách vương đem quân đến đánh nhưng cả hai đều đại bại phải rút quân về. Đến khi nhà Ngô mất, Đinh Bộ Lĩnh dụ hàng được Đỗ Động của Nguyễn Cảnh Thạc. Từ đó, Đinh Bộ Lĩnh đánh đâu được đấy, được tôn là Vạn Thắng vương. Chỉ trong một năm, Đinh Bộ Lĩnh đã bình được các sứ quân, lập thành nghiệp đế.
Năm Mậu Thìn (968) Vạn Thắng vương lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu là Tiên Hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Đinh Tiên Hoàng xây cung điện, chế triều nghi, định phẩm hàm quan văn, quan võ, phong cho Nguyễn Bặc là Đinh Quốc công, Lê Hoàn làm Thập Đạo tướng quân (Tổng chỉ huy quân đội) và phong cho con là Đinh Liễn là Nam Việt vương.
Về ngoại giao, để tránh cuộc đụng độ với nhà Tống năm Nhâm Thân (972), Đinh Tiên Hoàng sai con là Đinh Liễn mang đồ vật sang cống. Vua nhà Tống sai sứ sang phong cho Tiên Hoàng làm Giao Chỉ quận vương và phong cho Nam Việt vương Đinh Liễn làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ An Nam đô hộ.
Từ đó nước ta giữ lệ sang triều cống phương Bắc. Đinh Tiên Hoàng đã dẹp xong loạn sứ quân. Nhưng nhìn chung nhiều nơi vẫn chưa tuân theo luật lệ của triều đình. Bởi vậy để răn đe kẻ phản loạn, Đinh Tiên Hoàng đặt vạc đầu ở trước điện, nuôi hổ báo ở trong vườn, tuyên cáo rằng ai phạm tội thì bỏ vạc dầu hoặc cho hổ báo ăn thịt. Dù chưa phải dùng hình phạt ấy nhưng mọi người sợ oai, phép nước được tuân thủ.
Nhưng rồi Đinh Tiên Hoàng phạm sai lầm bỏ trưởng lập ấu, cho con út là Hạng Lang làm Thái tử. Con trưởng là Nam Việt vương Đinh Liễn đã theo Tiên Hoàng đi trận mạc từ thuở hàn vi, không được kế vị, tức giận, sai người giết Hạng Lang đi. Hoạ loạn gây nên ngay trong hoàng tộc.
Năm Kỷ Mão (979) Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vương Đinh Liễn bị tên Đỗ Thích giết chết. Đỗ Thích trước làm lại, đêm nằm mơ thấy sao rơi vào mồm, tưởng là điềm báo được làm Vua bèn định bụng sát hại minh chủ. Một hôm Đỗ Thích thấy vua Đinh say rượu nằm trong cung bè lẻn vào sát hại rồi tìm giết nốt con cả là Đinh Liễn. Triều thần tìm bắt được Đỗ Thích đem xử tội và tôn Vệ vương Đinh Toàn lên làm vua.
Đinh Tiên Hoàng làm vua được 12 năm, thọ 56 tuổi.
I3luerain
05-28-2003, 02:57 PM
Wow...very interesting...:D
allena
05-29-2003, 10:16 AM
* NHÀ LÝ ( 1010 - 1225 )
- 1010 : Dời đô về thành Đại La tức là thành Thăng Long , ban hành bộ Hình Thư , bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta .
- 1054 : Đặt tên nước là Đại Việt ( Quốc hiệu Đại Việt tồn tại cho đến năm 1803 )
-1070 : Dựng Văn Miếu Thăng Long , 1075 : Mở khoa thi đầu tiên , 1076 :Lập Quốc Tử Giám .
-1075 : Chống quân Tống lần thứ 2 : tháng 10 năm 1075 - > tháng 4 năm 1076 : Tấn công vào nội địa tàu , chiếm Châu Ung , Châu Khâm , Châu Liêm . Tháng 3 năm 1077 : Đánh bại quân Tống trên phòng tuyến sông Cầu .
- 1077 : Bản Tuyên Ngôn Độc Lập đầu tiên của nước ta " Nam Quốc Sơn Hà , Nam Đế Cư ..." thơ Lý Thường Kiệt
* Ban hành phép " Thanh Miêu " hình thức NÔNG TÍN đầu tiên tại nước ta . Khi lúa còn xanh , triều đình cho dân vay tiền làm mùa , chi dụng . Đến khi lúa chín thì dân trả lại , tính theo tỷ lệ mà trả tiền lãi .
- 1108 : Đắp đê Cơ Xá ( đê Sông Hồng ) ở Thăng Long .
* NHÀ TRẦN ( 1225 - 1400 )
- 1232 : Mở khoa thi Thái Học Sinh ( thi Tiến Sĩ ) . Năm 1247 : Đặt Tam Khôi : Trạng Nguyên , Bãng Nhãn , Thám Hoa . Năm 1253 : Lập Quốc Học Viện . Năm 1244 : Ban hành bộ Hình Luật .
-1258 : Kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ 1 , chiến thắng Đông Bộ Đầu .
- 1272 : Sử gia Lê Văn Hưu hoàn thành bộ Đại Việt Sử Ký 30 quyển , Trần Quốc Tuấn viết bộ Binh Thư yếu Lược , Vạn Kiếp Bí Truyền .
-1285 : Triệu tập Hội Nghị Diên Hồng . Kháng chiến chống quân nguyên lần thứ 2 , Tháng 5 : chiến thắng Tây Kết - Hàm Tử - Chương Dương .
-1287 - 1288 : Kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ 3 : Ngày 9-4-1288 : Chiến thắng bạch Đằng Giang .
-1289 : Vua Trần Nhân Tôn hoàn thành bộ Trung Hưng Thực lục , 2 quyến , ghi chép việc bình định giặc Mông Cổ .
-1299 : Trần Nhân Tôn xuất gia ,tu ở núi Yên Tử , pháp danh : " Hương Lâm Đại Đầu Đà Trúc Lâm Đại Sĩ " lập ra Thiền Tông Việt nam tiên khởi , " Trúc Lâm Yên Tử "
- Danh nhân Chu Văn An ra đời , tạ thế năm 1370 , viết bộ Tứ Thư Thuyết Ước , 10 quyển , đưa ông lên hàng đại Nho Thần , thờ ở Văn Miếu Thăng Long .
- 1394 - 1398 : Lê Quý Ly sửa đổi chính sách , xét lại Khổng Giáo , mở rộng Quốc học , cải cách ruộng đất .
- Danh nhân Nguyễn bá Tĩnh ra đời , tức Thiền Sư Tuệ Tĩnh , Tiến Sĩ , tác giả Hồng Lĩnh Giác Tư Y Thư - Nam Dược Thần Hiệu ( bằng thơ Nôm )
* NHÀ HỒ ( 1400 - 1407 )
Tướng quốc Hồ Nguyên Trừng chế tạo súng trường và đại pháo Thần sang , sau Trung Hoa bắt chước . Pháo binh Tàu từ đó tôn Hồ Nguyên Trừng làm Thánh Tổ Pháo Binh .
Hoài Nam
05-29-2003, 02:35 PM
1. Lê Đại Hành (980 – 1005) Lê Hoàn sinh năm (941) ở Xuân Lập, Thọ Xuân, Thanh Hoá trong một gia đình nghèo khổ "bố dỡ đó, mẹ xó chùa". Cha là Lê Mịch, mẹ là Đặng Thị Sen đều lần lượt qua đời khi Lê Hoàn còn nhỏ tuổi. Bởi vậy, cũng ngay từ bé, Lê Hoàn phải làm con nuôi cho một vị quan nhỏ, người cùng họ. Lớn lên, Lê Hoàn đi theo Nam Việt vương Đinh Liễn. Dù chỉ là lính thường nhưng trí dũng khác thường tính tình phóng khoáng nên được cha con Đinh Bộ Lĩnh yêu mến. Trong công cuộc đánh dẹp các sứ quân, Lê Hoàn tỏ rõ là người có tài nên được Đinh Bộ Lĩnh giao cho trông coi 2000 binh sĩ. Đến khi dẹp yên các sứ quân, thống nhất đất nước, lập nên cơ nghiệp nhà Đinh, Lê Hoàn được phong chức Thập đạo tướng quân, Điện tiền đô chỉ huy sứ (tỗng chỉ huy quân đội kiêm chỉ huy đội quân cấm vệ) của triều đình Hoa Lư. Lúc này Lê Hoàn vừa tròn 30 tuổi.
Tháng 10 năm Kỹ Mão (979), cha con Đinh Tiên Hoàng bị Đỗ Thích giết hại. Đinh Toàn 6 tuổi lên ngôi vua, Lê Hoàn làm nhiếp chính, trong một tình thế đầy khó khăn. Các đại thần Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp nổi loại nhưng bị Lê Hoàn dẹp tan. Ngô Nhật Khánh, phò mã nhà Đinh, bỏ vào Nam rước vua Cham pa cùng hơn nghìn chiến thuyền toan cướp kinh đô Hoa Lư nhưng bị bão đắm hết. Tháng 7 năm Canh Thìn (980), đại quân Tống theo hai đường thủy, bộ xâm lược Đại Cồ Việt. Lê Hoàn lúc này đã lên ngôi hoàng đế tức Lê Đại Hành vừa triển khai lực lượng sẵn sàng chiến đấu vừa sai sứ đưa thư cầu hòa. Vua Tống đòi Dương Vân Nga và con là Đinh Toàn sang chầu. Tình thế bức bách, Lê Hoàn buộc phải cho quân đánh giặc quyết bảo vệ đất nước. Ông đã tái tạo một Bạch Đằng, sáng tạo một Chi Lăng, thắng lợi lớn trên cả hai mặt thủy bộ, giết được tướng giặc Hầu Nhân Bảo, diệt quá nửa quân Tống, buộc vua Tống phải xuống chiếu lui quân.
Đại thắng năm Tân Tị (981) đã mở đầu kỷ nguyên Đại Việt bách thắng bọn phong kiến phương Bắc.
Không chậm trễ, Lê Hoàn dốc sức chăm lo xây dựng và bảo vệ đất nước. Bên trong, Lê Hoàn chống cát cứ, xây dựng cơ sở của nền kinh tế. Đối với bên ngoài thì Ông thi hành chính sách ngoại giao mềm dẻo khôn khéo nhưng cương quyết bảo vệ nền độc lập của đất nước. Ông là vị vua nội trị, ngoại giao đều xuất sắc. Chuyện rằng:
Năm Canh Dần (990), vua Tống sai Tống Cảo dẫn đầu đoàn sứ mang chiếu thư sang phong cho Lê Hoàn hai chữ "Đặc Tiến". Vốn biết nhà Tống hống hách, ngạo mạn, Lê Hoàn thay đổi cách đón tiếp. Ông sai Đinh Thừa Chính mang chín chiến thuyền và 300 quân sang tận Liên Châu (Quảng Đông, Trung Quốc), để đón sứ rồi bảo vệ đoàn sứ đến Đại cồ Việt. Tháng 10 năm đó, đoàn sứ Tống tới kinh đô Hoa Lư trong cảnh tưng bừng khác lạ: dưới sông, chiến thuyền tinh kỳ san sát; bên các sườn núi, quân lính võ phục chỉnh tề, gươm giáo sánh lòa; trên các cánh đồng, hàng trăm hàng ngàn trâu bò rong ruổi đen đặc, bụi bay mù mịt. Sứ Tống không thể không thấy sự hùng mạnh, giàu mạnh của nước Việt.
Theo nghi lễ của Tống triều, khi nhận chiếu thư của "Thiên Triều", vua các nước chư hầu phải "lạy". Nhưng Lê Hoàn lấy cớ ngã ngựa, bị đau chân, không chịu "lạy". Tống Cảo đành chấp nhận.
Sau bữa tiệc vui, Lê Hoàn cho người khiêng một con trăn lớn, dài vài trượng đến quán dịch nói với sứ Tống:
- Nếu sứ thần ăn được thịt trăn thì vua tôi sẽ cho người làm cỗ để mời.
Sứ Tống khiếp đảm từ chối.
Lần khác, Lê Hoàn cho dắt tới hai con hổ dữ để sứ thần thưởng ngoạn. Sứ thần lại một phen sợ toát mồ hôi.
Trước khi bọn Tống Cảo về nước, Lê Hoàn bảo họ:
- Sau này, nếu có quốc thư thì nên giao nhận ngay đầu địa giới, không phiền sứ thần đến đây nữa.
Năm Quý Tị, nhà Tống sắc phong cho vua Đại Hành làm Giao Chỉ quận vương rồi năm Đinh Dậu (977) là Nam Bình Vương.
Năm Ất Tị (1005) vua Lê Đại Hành mất, thọ 65 tuổi, làm vua được 24 năm
2. Lê Trung Tông (1005) Vua Đại Hành đã định cho người con thứ ba là Long Việt làm thái tử, nhưng đến lúc vua Đại Hành mất, các hoàng tử tranh ngôi đánh nhau trong bảy tháng. Đến khi Long Việt vừa mới lên ngôi được 3 ngày thì bị em là Long Đĩnh sai người vào cung giết đi, thọ 23 tuổi. Sử gọi là Lê Trung Tông.
3. Lê Long Đĩnh (1005 – 1009) Long Đĩnh là người bạo ngược, tính hay chém giết, ác bằng Kiệt, Trụ ngày xưa. Khi đã giết anh rồi, lên làm vua thường cứ lấy sự giết người làm trò chơi: có khi những tù phạm phải hình, thì bắt lấy rơm tẩm dầu quấn vào người rồi đốt sống; có khi bắt tù trèo lên cây rồi ở dưới sai người chặt gốc cho cây đổ; có khi bỏ người vào sọt rồi đem thả xuống sông. Làm những điều ác như thế thì lấy làm thích chí. Một hôm lấy mía để lên đầu nhà sư mà róc vỏ, rồi thỉnh thoảng giả tảng nhỡ tay bổ dao vào đầu sư chảy máu ra, trông thấy thế lấy làm vui cười. Còn khi ra buổi chầu, có ai tấu sớ điều gì thì cho những thằng hề nói khôi hài hay là nhại tiếng làm trò.
Long Đĩnh làm vua được 2 năm đổi niên hiệu là Cảnh Thụy (1008 – 1009). Sang năm sau là năm Kỷ Dậu (1009) thì mất, làm vua được 4 năm, thọ 24 tuổi.
Vì lúc sống dâm dục quá độ, mắc bệnh không ngồi được, đến buổi chầu thì cứ nằm mà thị triều, cho nên tục gọi là Ngọa triều.
Long Đĩnh mất rồi, con thì bé, đình thần nhân dịp tôn Lý Công Uẩn lên làm vua, khai sáng nên cơ nghiệp nhà Lý.
Nhà Tiền Lê làm vua được 3 đời, cả thảy được 29 năm.
Vài links về tiếng Việt và Lịch Sử:
http://www.omniglot.com/writing/chunom.htm
http://www.wikipedia.org/wiki/Vietnamese_language
http://ethnomed.org/ethnomed/cultures/vietnamese/vietnamese_cp.html#vietnam
Hoài Nam
05-30-2003, 02:42 PM
1. Lý Thái Tổ (1010 – 1028)
Người khởi dựng triều Lý là Lý Công Uẩn người làng Cổ Pháp (Từ Sơn, Hà Bắc). Công Uẩn sinh năm Giáp Tuất (974), là con nuôi của thiền sư Lý Khánh Vân từ năm ba tuổi và truyền thuyết vẫn cho rằng ông là con của Vạn Hạnh, anh ruột Khánh Vân.
Cũng theo truyền thuyết ông thân sinh ra Lý Công Uẩn nhà nghèo đi làm ruộng thêu ở chùa Tiên Sơn (An Phong, Bắc Ninh) phải lòng một tiểu nữ và làm nàng có mang. Nhà chùa thấy thế đuổi đi nơi khác. Hai vợ chồng dẫn nhau đến khu rừng Báng mệt mỏi, dừng lại nghỉ. Chồng khát nước đến chỗ giếng nước giữa rừng uống, chẳng may sẩy chân chết đuối. Vợ chờ lâu không thấy, đến xem thì đất đã đùn lấp giếng. Ngưòi phụ nữ bất hạnh than khóc một hồi rồi xin vào ngủ nhờ ở chùa Ứng Tâm gần đó. Sư trụ trì chùa này đêm trước nằm mơ thấy Long thần báo mộng rằng: "Ngày mai dọn chùa cho sạch để đón hoàng đế đến". Tỉnh dậy, nhà sư sai chú tiểu quét dọn sạch sẽ, túc trực từ sáng tới chiều chỉ thấy một người đàn bà có mang đến chùa xin ngủ nhờ. Được vài tháng sau bỗng có chuyện lạ:
Một đêm, khu tam quan của chùa sáng rực lên, hương thơm ngào ngạt lan tỏa. Nhà sư cùng bà hộ chùa ra xem thì thấy người đàn bà ấy đã sinh một con trai, hai bàn tay có bốn chữ son "sơn hà xã tắc". Sau đó, trời bỗng nổi trận mưa to gió lớn, mẹ chú bé chết ngay sau khi sinh con và chú bé được nhà chùa nuôi nấng. Khi 8, 9 tuổi nhà sư cho chú bé theo học sư Vạn Hạnh ở chùa Tiên Sơn. Chú bé đó là Lý Công Uẩn.
Công Uẩn lớn lên tỏ rõ chí khí lớn khác thường. Ông đến Hoa Lư làm quan cho nhà Tiền Lê đến chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ. Khi vua Thiếu Đế bị giết, ông ôm thây vua khóc. Vua Ngọa Triều khen là trung, cử ông làm Tư tướng quân chế chỉ huy sứ, thống lĩnh hết quân túc vệ.
Theo truyền thuyết, làng Cổ Pháp hồi ấy có cây gạo cổ thụ bị sét đánh tước vỏ ngoài lộ ra mấy câu sấm. Sư Vạn Hạnh xem câu sấm ấy biết điềm nhà Lê đổ nhà Lý sắp lên bèn bảo Lý Công Uẩn rằng:
-Mới rồi tôi thấy lời sấm kỳ dị, biết rằng họ Lý cường thịnh, tất dấy cơ nghiệp. Nay xem trong thiên hạ người họ Lý rất nhiều nhưng không ai bằng ông là người khoan từ nhân thứ, được lòng dân chúng mà binh quyền nắm trong tay. Người đứng đầu muôn dân chẳng phải ông thì còn ai?
- Sợ câu nói ấy tiết lộ, Lý Công Uẩn phải nhờ người đem dấu Vạn Hạnh ở chùa Tiên Sơn.
Khi Lê Long Đĩnh mất, Lý Công Uẩn đã ngoài 35 tuổi. Vua kế tục Long Đĩnh còn nhỏ, Lý Công Uẩn chỉ huy quân túc vệ trong chốn cung cấm. Bấy giờ lòng người đã oán giận nhà Tiền Lê nên quan Chi hậu là Đào Cam Mộc cùng các quan trong triều tôn Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế tức Thái Tổ nhà Lý. Vua Thái Tổ thấy Hoa Lư hẹp liền dời đô về La Thành. Thái Tổ lấy cớ có điềm trông thấy rồng vàng bay lên liền đổi Đại La thành Thăng Long thành (tức Hà Nội bây giờ), đổi Hoa Lư thành phủ Tràng An và Cổ Pháp thành phủ Thiên Đức. Vua Thái Tổ chỉnh đốn việc cai trị, chia nước ra làm 24 lộ, gọi Hoan Châu và Ái Châu là trại.
Vốn thông minh bẩm sinh, lại được nhập thân văn hóa một vùng đất văn minh, văn hiến, là con đẻ con nuôi của những vị cao tăng xuất chúng, Lý Công Uẩn thực sự là người con ưu tú của dân tộc. Ông đã cùng triều Lý làm rạng danh nước Đại Việt, viết nên những trang sử oanh liệt dựng nước và giữ nước.
Chùa Ứng Tâm nơi ông sinh ra bây giờ có tên là chùa Dặn. Ngôi huyệt chỗ giếng nước ở rừng Báng năm xưa, những gò ở xung quanh trông giống như hoa sen nở 8 cánh nên nhà Lý truyền ngôi được 8 đời. Vua Lý Thái Tổ trị vì 19 năm thì mất, thọ 55 tuổi.
2. Lý Thái Tông (1028 – 1054)
Thái Tử Phật Mã lên ngôi, xưng là Lý Thái Tông niên hiệu Thiên Thành. Thái Tông cũng rất sùng mộ Phật pháp nên nhà vua thường hội quần thần, bô lão các Tăng sĩ bàn luận về Phật đạo.
Nhà vua thường đến hỏi đạo nơi Ngài Thiền Lão Thiền Sư và được nhà sư nhận làm đệ tử. Nhà vua chính là vị Tổ thứ 7 trong phái Vô Ngôn Thông vậy.
Trong các vị vua thời Lý, Vua Thái Tông là vị vua sùng bái Phật Giáo bậc nhất. Năm Thiên Thành thứ 4 (1031) sau khi dẹp loạn Chiêm Thành ở Hoan Châu (Nghệ An) nhà vua cho xây dựng 95 ngôi chùa và miễn thuế 1 năm để dân chúng được an vui.
3. Lý Thánh Tông (1054 – 1072)
Năm 1054 Thái Tông mất Thánh Tông lên ngôi đổi Quốc Hiệu là Đại Việt niên hiệu Long Thụy Thái Bình. Vua Thánh Tông cũng rất sùng kính Phật Giáo thực hiện đức nhân từ của Phật Giáo một cách tích cực. Vào mùa lạnh nhà vua thường nghĩ đến tù nhân và kẻ nghèo khó. Gặp năm trời giá lạnh ở trong cung cấm đầy đủ tiện nghi Vua đã phán với các cận thần rằng : "Trẫm ở trong cung ăn mặc như thế nầy mà còn rét, những phạm nhân bị giam trong tù ngục tay chân bị trói buộc, cơm không đủ ăn, chăn áo không đủ ấm, có người chưa qua thủ tục xét hỏi, gian ngay chưa rõ, nếu bị đói lạnh mà chết thì thật là đáng thương xót biết chừng nào !"
Một hôm trước điện Thiên Khánh nhìn các tội nhân, rồi nhìn Công chúa Vua phán với các quan : "Lòng Trẫm yêu dân như yêu con Trẫm hiềm vị họ làm càng mà phải tội Trẫm lấy làm thương lắm. Kể từ nay về sau mong mọi người đều sống có đạo đức để khỏi có hình phạt".
Năm 1069 Vua Thánh Tông phong Thiền Sư Thảo Đường làm Quốc Sư.
4. Lý Nhân Tông (1072 – 1127)
Thái Tử Càng Đức lên ngôi hiệu là Nhân Tông. Nhà Vua này còn nhỏ nhưng rất thông minh. Để chọn nhân tài nhà Vua cho lập trường Quốc Tử Giám, mở khoa thi tam trường, lập Viện Hàn Lâm. Năm 1088 Vua Nhân Tông phong Thiền Sư Khô Đầu làm Quốc sư cố vấn việc triều chánh. Dưới thời Lý Nhân Tông có nhiều Thiền sư lỗi lạc, biên soạn nhiều sách vở làm vẻ vang cho nền Văn học Phật Giáo Việt Nam như : Viên Chiếu ngộ ấn Thiền sư .
5. Lý Thần Tông (1128 – 1138)
Con của Sùng Hiền Hầu lên ngôi lấy hiệu là Thần Tông. Vị Vua này đã phong Minh Không Thiền sư làm Quốc sư. Thời bấy giờ có Ni sư Diệu Nhơn con nuôi Lý Thánh Tông là Lý Phụng Nghi cùng với các Thiền sư như Thông Biện đều là bậc anh tài lỗi lạc.
6. Lý Anh Tông (1138 – 1175)
Năm 1138 Thần Tông mất. Thái Tử Thiên Tộ lên ngôi hiệu là Anh Tông. Vị Vua nầy là đệ tử của ngài Không Lộ Thiền sư thuộc phái Thảo Đường. Cùng thời nầy có Ngài Trí Thuyền, An Trí, Bảo Giám, Viên Thông đều là những bậc danh tăng lỗi lạc.
7. Lý Cao Tông (1176 – 1210)
Năm 1176 Anh Tông mất Thái Tử Long Cán hiệu là Cao Tông vị Vua nầy mới có 3 tuổi. Tô Hiến Thành làm phụ chánh. Cao Tông thọ giáo Thiền sư Trương Tam Tạng phái Thảo Đường. Cùng thời nầy có các vị Cao tăng danh tiếng như Thường Chiếu Thiền sư, Quảng Nghiêm Thiền sư ...
8. Lý Huệ Tông (1211 – 1225)
Năm 1211 Thái tử Sam lên ngôi hiệu là Huệ Tông. Nhà Lý đã bắt đầu suy sụp, nhân dân chẳng được yên trong triều nội loạn. Năm 1224 Huệ Tông chán ngôi Hoàng Đế truyền ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng rồi xuất gia hiệu là Huệ Quang Đại Sư, Lý Chiêu Hoàng truyền ngôi cho Trần Cảnh.
Hoài Nam
05-30-2003, 02:43 PM
Lý Thường Kiệt tên thật là Ngô Tuấn, tự Thường Kiệt, quê ở làng An Xá, huyện Quảng Đức (Cơ Xá, Gia Lâm ngày nay). Do có công trấn an phương nam, ông được vua Lý Thánh Tông phong tới chức Phụ Quốc Thái úy và ban Quốc tính (họ Vua). Trước âm mưu xâm lược của nhà Tống, năm 1075, Lý Thường Kiệt chủ trương "tiêu phát chế nhân" (ra tay trước chế ngự địch) tấn công thành Ung Châu, Khâm Châu, bàn đạp xâm lược quan trọng của địch rồi tiếp đó đập tan 30 vạn quân Tống chia 2 đường thủy - bộ xâm lược Đại Việt tại phòng tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu) năm 1077. Sau chiến thắng vang dội, ông chấn chỉnh ngoại giao, nội trị, xây dựng quốc gia Đại Việt ngày một thêm hùng mạnh.
Ông vốn họ Ngô, tên là Tuấn, người ở làng An Xá, huyện Quảng Đức (Cơ Xá, Gia Lâm - Hà Nội), con của Sùng Tiết Tướng Ngô An Ngữ. Về sau, ông theo gia đình sang ngụ ở phường Thái Hòa (Hà Nội).
Bình sinh là người khôi ngô tuấn tú, thông minh, nhanh nhẹn. Người có chí khí, thích nghề võ.
Hàng ngày, Ngô Tuấn thường luyện cung kiếm bày trận đồ, đêm chong đèn đọc binh pháp. Ông chóng thành tài và liên tiếp được thăng chức.
Năm 20 tuổi, Ngô Tuấn được đưa vào làm hoạn quan trong cung vua, 22 tuổi giữ chức "Hoàng môn chi hậu" trong quân túc vệ. Khi vua Lý Thánh Tông lên ngôi, Ngô Tuấn được rời khỏi những chức vụ trong nội cung và đưa ra giúp việc nhà vua tại triều đình. Ông được phong là Thái bảo, cầm "tiết việt", đi thanh tra các quan ở vùng Thanh - Nghệ.
Năm 1069 Thánh Tông đi đánh Champa để yên mặt phía nam. Ông được cử làm tướng tiên phong, lập công lớn, vua phong Phụ quốc Thái úy, tước Khai quốc công và ban cho họ Lý (do đó có tên Lý Thường Kiệt).
Lúc bấy giờ ở Trung Hoa, nhà Tống gặp nhiều rối ren, Tể tướng Vương An Thạch đưa ra nhiều cải cách nhưng không có kết quả. Vua tôi nhà Tống mong tìm lối thoát bằng cách xâm lược Đại Việt. Khi nhà Tống chuẩn bị xâm lược nước Việt, lúc hội đàm với các đại thần, ông là người đầu tiên trong lịch sử dân tộc dám đề ra: "Ngồi yên đợi giặc sao bằng đem quân đánh trước để chặn các mũi nhọn của giặc". Đó là cơ sở của chiến lược "Tiên phát chế nhân" (ra tay trước, chế ngự địch). Ông nhìn xa trông rộng, lập lại khối đoàn kết trong triều, đề nghị Linh Nhân Thái hậu cho gọi Lý Đạo Thành về trao chức Thái phó, cùng bàn việc giữ nước. Bên trong giữ yên nội trị chuẩn bị kháng chiến chống ngoại bang.
Năm 1075 ông đem 10 vạn quân chia làm hai đạo đánh sang đất nhà Tống. Đạo quân thứ nhất do phó tướng Tôn Đản chỉ huy, gồm quân của các vùng dân tộc do Thân Cảnh Phúc, Vi Thư An, Hoàng Kim Mãn... dẫn đầu, đánh thẳng vào thành Ung Châu (Nam Ninh - Trung Quốc) theo đường bộ. Đạo quân thứ hai do ông trực tiếp chỉ huy, theo đường biển đổ bộ vào Châu Khâm, Châu Liêm (Quảng Đông). Vào đất Tống, ông viết "Phạt Tống lộ bố văn" nói rõ lý do cuộc hành quân của mình là đập tan sự chuẩn bị xâm lược của nhà Tống và giúp nhân dân Hoa Nam thoát khỏi cảnh lầm than do Vương An Thạch cùng triều đình nhà Tống gây ra. Ông cũng ra lệnh cho quân không được động tới "cái kim sợi chỉ" của dân. Nhờ đó, quân ông đi đến đâu, quân Tống bị đánh tan đến đấy. Nhân dân Hoa Nam gọi ông là "cha họ Lý". Quân Việt tiến vào thành Ung Châu và sau một thời gian vây hãm đã hạ được thành. Thấy cuộc hành quân đã đạt kết quả, ông hạ lệnh rút quân về, chuẩn bị chống giặc.
Năm 1077, 30 vạn quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy tràn sang Việt Nam ta. Ông cho lập phòng tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu) để chặn giặc rồi cho thủy quân đánh bại giặc ở vùng biển Quảng Ninh. Quân bộ của Quách Quỳ đánh đến sông Như Nguyệt bị chặn đứng. Nhiều trận chiến đấu quyết liệt xảy ra. Giặc Tống không sao vượt được phòng tuyến Như Nguyệt, đành đóng trại chờ viện binh. Đang đêm, Lý Thường Kiệt cho người vào đền thờ Trương Hống, Trương Hát ở phía nam bờ sông Như Nguyệt, giả làm thần đọc vang bài thơ, sau này được coi như "Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên" của Việt Nam:
南 國 山 河
南 國 山 河 南 帝 居
截 然 定 分 在 天 書
如 何 逆 虜 來 侵 犯
汝 等 行 看 取 敗 虛
李 常 杰
Nam quốc sơn hà
Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!
Sông núi nước nam
Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm ?
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời!
Nhờ thế tinh thần binh sĩ thêm hăng hái.
Thời cơ đến, ông tổ chức một trận quyết chiến, vượt sông đánh vào trại của giặc. Hơn một nửa số quân giặc bị tiêu diệt. Tiếp đó, ông cho người sang nghị hòa, mở đường thoát cho giặc: Quách Quỳ đồng ý và vội vã rút quân về. Quân Việt bám sát giặc và chiếm lại những vùng đất đã mất. Sau chiến thắng, Lý Thường Kiệt lo việc nội trị, tu bổ đê điều, đường sá, sửa đổi bộ máy hành chính trong cả nước. Vua Lý nhận ông làm em nuôi và cử ông trông coi châu ái.
Những năm cuối đời, ông còn cầm quân đi đánh Lý Giác ở Diễn Châu (1103), dẹp giặc Chiêm quấy nhiễu ở Bố Chính (1104), tổ chức lại bộ máy quân đội, duyệt đổi các đơn vị từ cấm binh đến dân binh.
Với công lao hiển hách của mình, Lý Thường Kiệt từng được cả triều đình nhà Lý quý trọng. Ngay lúc ông còn sống, Lý Nhân Tông đã cho làm bài hát để tán dương công trạng. Ông được lịch sử ghi nhận là anh hùng kiệt xuất, một con người hiến dâng cả tâm hồn sức lực cho sự nghiệp độc lập của Tổ quốc ở buổi đầu thời tự chủ. Tài năng quân sự kiệt xuất của ông làm kẻ thù khiếp phục.
Theo Lê Quý Đôn, chính sử Tống phải thừa nhận: binh pháp "đánh đâu thắng đấy" của nhà Lý đã được Sái Diên Khánh nhà Tống mô phỏng và được Tống Thần Tông "cho là phải".
Văn Khuê
PHU` DU
05-30-2003, 06:12 PM
Ngày xưa, vào thời nhà Lý, thế kỷ thứ 13, ở thành Ðại La (Hà Nội) có một nhà sư pháp thuật cao cường. Sư có tên là Không Lô Tục truyền rằng nhà sư Không Lộ là một vị Thần của nhà trời giáng xuống đất nước Việt Nam, để cứu đân độ thệ
Thuở bấy giờ, nước Việt đang thiếu thốn đồng và sắt. Bao nhiêu quý kim, vàng bạc, châu báu đã bị người Tầu vơ vét chở về phương Bắc, sau bao nhiêu thế kỷ người Tầu đô hộ nước Việt Nam. Một ngày kia, sư Không Lộ lên đường sang Trung Quốc, mang theo một cái túi nhọ Ngài định dùng phép thuật để lấy lại một ít của cải quý thuộc về dân tộc phương Nam bị người phương Bắc đánh cướp. Nhà sư xin yết kiến vua nhà Tống, để quyên một ít kim khí, đựng trong một túi vải nhỏ đem về đúc thành tượng Phật.
Thấy cái túi vải bé nhỏ của nhà sư, vua Tống không ngần ngại sai bảo quan hãy đưa sư Không Lộ vào tận kho, chọn lựa tuỳ thích vàng hay đồng, miễn là chỉ đựng đầy túi thôi. Vừa bước vào cửa kho, sư Không Lộ trông thấy một con trâu to lớn, đúc toàn bằng vàng ròng. Trâu vàng lớn hơn cả con trâu thật ngoài đời. Trâu vàng đứng nghênh ngang, như muốn canh giữ kho vua. Ở gian chính giữa, có cất giữ một số kim khí hiếm quý hơn vàng, gọi là đồng đen.
Sư Không Lộ bèn giở phép thuật thần thông, mở cái túi vải nhỏ ra, thâu tóm quá phân nữa số đồng đen trong kho vàng bạc cuả vua Tống. Viên quan giữ kho hốt hoảng trước hành vi thần bí kỳ lạ của nhà sư, bèn bắt nhà sư phải trả lại số đồng đen quý giá, trả về chỗ cụ Sư Không Lộ nhắc lại cho viên quan Tầu nhớ rằng chính nhà vua đã cho phép ngài được chọn lấy bất cứ thứ kim loại nào, miễn là không chứa đầy quá cái túi vải nhỏ bé của ngài.
Viên quan Tầu này quýnh quáng, chẳng biết làm sao, bèn chạy đi báo tin cho Vua Tống hay biết tự sư Vua Tống nổi giận, ra lệnh chém đầu nhà sư nước Nam nhỏ bé, dám xấc láo với thiên triều. Nhà sư Không Lộ có phép mầu, có thể nghe được tiếng nói từ xa, xuyên qua vách tường. Khi biết đựơc quyết định của Vua Tống, sư Không Lộ vội vàng thoát ra khỏi kho báu vật, nhanh nhẹn vượt qua hoàng thành.
Số đồng đen mang theo quá nặng, nhà sư không thể đi mau. Ðược mấy dặm đường, đã nghe tiếng người ngựa đuổi theo. Sư bèn ra sức phi hành, được một quãng dài thì gặp một giòng sông rộng chắn ngang, không thấy bóng dáng thuyền bẹ Sư Không Lộ bèn tháo chiếc nón tu, thả xuống nước, hoá phép thành ghe. Trong chớp mắt, sư đã mang được túi đồng đen vượt thẳng qua bờ sông bên kia. Ðám quân Tầu đuổi theo, nhìn thấy pháp thuật phi thường của nhà sư, trở về tâu vua. Vua đành chịu, không biết làm sao.
Trở về nước, Sư Không Lộ tập hợp những tay thợ rèn trứ danh của Việt Nam, nhờ đúc một cái chuông bằng đồng đen lấy ở Tầu vệ Sư muốn đúc chuông theo hình hoa sen hé nở, và tiếng chuông phải thanh, vang xa. Nhưng thời đó, đúc chuông khá khó, vì dụng cụ thô sơ. Sư bèn nghĩ ra cách nấu chảy đồng đen, đổ vào một cái khuôn hình chuông, bằng đất sét. Phương pháp đúc đồng mới này thành công.
Vào ngày lễ khánh thành chuông đồng đen, sư Không Lộ cầm chày đánh lên tiếng chuông đầu tiên. Tiếng chuông vang xa, rung động đến ngàn vạn dặm. Con trâu vàng ở kho tàng vua Tống nghe tiếng chuông đồng, bỗng phóng chạy về phương Nam. Thấy con trâu vàng chạy đến, nhà sư ngừng đánh chuông, e rằng vàng bạc đất Trung Quốc sẽ theo nhau về Việt Nam, sẽ gây bất hoà trầm trọng giữa 2 nước, khiến Trung Quốc lại có cớ xâm lăng đánh chiếm phương Nam.
Sư Không Lộ bèn lăn chuông xuống Hồ Tây. Chuông đen rung vang một lần cuối cùng, trước khi rơi xuống nước. Con trâu vàng, theo đó, cũng nhảy xuống Hồ Tây biến mất theo chuông đáy hộ
Sau đó, Sư Không Lộ trở về trời. Những người thợ rèn nước Việt đã dựng nên một ngôi đền thờ bên cạnh Hồ Tây, để nhớ ơn nhà sư Không Lộ đã dạy cho họ phương pháp đúc đồng. Vua nhà Lý đã ban sắc phong tặng sư Không Lộ biệt danh là Thần Thợ Ðúc.
PHU` DU
05-30-2003, 06:14 PM
Chùa Một Cột
Ngày xưa, vào đời Lý, vua Lý Thái Tôn là một tín đồ nhiệt thành của Ðạo Phật, theo phái gọi là Vô Ngôn Thông. Thời bấy giờ, đạo Phật đang bành trướng, ảnh hưởng nhiều đến văn hoá Việt. Riêng ở triều đại này, nhà vua truyền lệnh xây 95 ngôi chùa mới, trùng tu tất cả các tượng Phật. Trong các dịp lễ lớn, vua đều ban lệnh tha thuế cho dân.
Vào năm 1049, một hôm, vua Lý Thái Tôn nằm mộng thấy Phật Bà Quan Âm hiện ra, đưa nhà vua đến một toà sen rạng ngời ánh sáng. Sau khi tỉnh dậy, vua thuật lại giấc chiêm bao cho triều thần hay. Vị sư đã hướng dẫn nhà vua trên đường tu đạo hạnh, là thiền tăng Thuyền Lão đã bàn cùng vua dựng nên một ngôi chùa để nhớ ơn Ðức Phật Bà Quan Âm.
Ðó là chùa Diên Hựu. Chùa đã được dựng lên theo hình hoa sen, đặt trên một cái cột lớn độc nhất. Chùa được đặt giữa một cái ao trồng toàn là hoa sen đào, ở gần kinh đô nhà Lỵ Ðây là một kiến trúc đặc biệt, có một không hai, xây theo mỹ thuật Ðại La thời Nhà Lý, tục gọi là Chùa Một Cột.
Ngày nay, chùa vẫn còn hiện hữu ở đất cố đô Thăng Long, ghi nhớ cuộc gặp gỡ chiêm bao kỳ ảo giữa vị vua Lý Thái Tôn mộ đạo với Phật Bà Quan Âm.
Hoài Nam
06-01-2003, 08:13 AM
Niên-hiệu: Thiên-chương-hữu-đạo (1224-1225)
Chiêu-thánh công-chúa lên ngôi, tức là vua Chiêu-hoàng. Bấy giờ quyền-chính ở cả Trần thủ Độ. Thủ Độ lại tư thông với Trần Thái hậu, đêm ngày mưu lấy cơ-nghiệp nhà Lý, bèn đòi các con quan vào trong cung để hầu Chiêu-hoàng, và lại cho cháu là Trần Cảnh vào làm chức Chính-thủ. Đến tháng chạp thì Chiêu-hoàng lấy Trần Cảnh và truyền ngôi cho chồng.
Nhà Lý đến đấy là hết, cả thảy làm vua được 216 năm.
Nhà Lý có công làm cho nước Nam ta nên được một nước cường-thịnh: ngoài thì đánh nước Tàu, bình nước Chiêm, trong thì chỉnh-đốn việc võ-bị, sửa-sang pháp-luật, xây vững cái nền tự-chủ. Vì vua Cao-tông hoang chơi, làm mất lòng người, cho nên giặc-giã nổi lên, loạn thần nhiễu sự. Vua Huệ-tông lại nhu-nhược bỏ việc chính-trị, đem giang-sơn phó-thác cho người con gái còn đang thơ-dại, khiến cho kẻ gian-hùng được nhân dịp mà lấy giang-sơn nhà Lý và lập ra cơ-nghiệp nhà Trần vậy.
Hoài Nam
06-01-2003, 08:14 AM
Trần Thủ Độ là nhân vật trụ cột của triều Trần. Ông là công thần sáng lập triều Trần và là người thực tế nắm quyền lãnh đạo đất nước những năm đầu triều Trần, khoảng gần 40 năm (1226-1264). Sử chép: "Thái Tôn lấy được thiên hạ đều là mưu sức của Thủ Độ cả, cho nên nhà nước phải nhờ cậy, quyền hơn cả vua".
Trần Thủ Độ cũng là nhân vật bị các sử thần thời phong kiến chê trách nhiều. Dưới ngòi bút của họ, Trần Thủ Độ hiện ra như một quyền thần vô học, có tài mà không có đức, có công với nhà Trần, lại có tội với nhà Lý. Nhưng khi chép về việc "Trần Thủ Độ giết hết tôn thất nhà Lý" trong Đại Việt sử ký toàn thư; Ngô Sĩ Liên cũng chú trong ngoặc đơn là "việc này chưa chắc đã có thực".
Nhân dân lại đánh giá ông với cách nhìn khác quan điểm Nho giáo. Trong đền thờ ông trên đồi Lim (Tiên Sơn, Hà Bắc) có hai câu đối treo ở trước bàn thờ như sau:
Công đáo vu kim, bất đán Trần gia nhị bách tải.
Luận định thiên cổ, kỳ tại Nam thiên đệ nhất lưu.
(Công đức của ông để mãi đến ngày nay, không chỉ bó hẹp trong hai trăm năm đời nhà Trần.
Sau nghìn đời, công luận đã định, ông đáng liệt vào bậc thứ nhất dưới trời Nam).
Trần Thủ Độ sinh năm Giáp Dần (1194) ở làng Lưu Xá, huyện Ngự Thiên, lộ Long Hưng, nay là xã Canh Tân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Tổ tiên ông vốn nối đời làm nghề đánh cá, từ Yên Sinh (Đông Triều, Quảng Ninh) về vùng sông nước Hiển Khánh, Tức Mặc ven bờ sông Hồng (thuộc tỉnh Nam Định ngày nay), rồi sang ở vùng Bát Xá - Tam Nông (tám làng Xá, ba làng Nông) cạnh dòng sông Luộc. Đến đời thân phụ của Trần Thủ Độ và nguyên tổ Trần Lý của nhà Trần thì họ Trần trở nên giàu có, người ở quanh vùng quy phụ, "...nhân có nhiều người cũng nổi lên làm giặc". Nhất là từ khi Trần Lý có người con gái là Trần Thị Dung lấy Hoàng Thái tử Sảm (sau là vua Lý Huệ Tông) thì thanh thế càng lớn. Trần Thủ Độ cùng với những người con ưu tú khác của họ Trần sớm tham gia lập các đội hương binh đi đánh dẹp các thế lực cát cứ khác, lúc đầu nhằm khôi phục cơ nghiệp cho nhà Lý. Năm 1224, ông được nhà Lý phong làm Điện tiền chỉ huy sứ, quản lý các đạo quân bảo vệ kinh thành. "Thủ Độ tuy không có học vấn, nhưng tài lược hơn người, làm quan triều Lý được mọi người suy tôn".
Ông mất tháng Giêng năm Giáp Tý (1264), thọ 71 tuổi. Lê Quý Đôn chép trong Kiến văn tiểu lục: "Trần Thủ Độ sau khi chết, chôn ở địa phận xã Phù Ngự, huỵện Ngự Thiên, nơi để mả có hồ đá, dơi đá, chim đá và bình phong bằng đá, chỗ đất ấy rộng đến hai mẫu, cây cối um tùm. Về tư điền, trước vẫn liệt vào hạng thượng đẳng, các quan phủ, huyện, huấn, giáo đến kính tế".
Trần Thủ Độ là người có bản lĩnh và cá tính khác thường. Ông xử lý việc gì cũng thẳng thắn, thường quyết đoán theo ý chí của mình, ít chịu để cho tình cảm sai khiến. Cuộc đời và sự nghiệp của Trần Thủ Độ gắn liền với nghiệp đế của họ Trần. Nhưng hiệu quả lịch sử những việc ông làm đã đưa nước nhà qua khỏi cuộc suy vong cuối triều Lý và khởi dựng nên thời đại Đông A rực rỡ những chiến công oanh liệt chống ngoại xâm và những thành tựu xây dựng đất nước.
Cuối triều Lý, chính quyền trung ương bất lực trước cuộc suy thoái về kinh tế và hỗn loạn về chính trị. Thiên tai, mất mùa, đói kém xảy ra liên tiếp. Các thế lực cát cứ nổi lên khắp nơi đánh giết lẫn nhau, cướp bóc bừa bãi. Ngoài biên thùy, Chiêm Thành và Chân Lạp thường xuyên quấy phá. Đế quốc Mông Cổ cũng đã tung vó ngựa sang phía Đông đánh Kim, diệt Tây Hạ, chiếm Triều Tiên, chuẩn bị xâm lược Tống và các nước phía Nam.
Trong lúc ấy, vua Lý Cao Tông vẫn mải mê rong chơi, say đắm thanh sắc, thích xây dựng cung điện, đền miếu, không thiết gì đến chính sự. Vua Lý Huệ Tông thì nhu nhược, bệnh hoạn, năm Giáp Thân (1224) truyền ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng mới 6 tuổi rồi đi tu ở chùa Chân giáo.
Trần Thủ Độ đạo diễn cuộc chính biến tháng Chạp năm ất Dậu (tức tháng 1-1226), xếp đặt việc Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh với lời lẽ trong chiếu nhường ngôi rằng: "...Trẫm là nữ chúa, tài đức đều thiếu, không có người giúp đỡ, giặc cướp nổi lên như ong, giữ thế nào nổi ngôi báu nặng nề".
Làm cuộc đảo chính thay đổi triều đại mà không xảy ra đổ máu và đảo lộn lớn trong nước, Trần Thủ Độ tỏ ra là một nhà chính trị sáng suốt, khôn khéo.
Ngay sau khi lên làm vua, Trần Thái Tông phong Trần Thủ Độ làm Quốc thượng phụ nắm giữ mọi việc cai trị thiên hạ. Năm sau lại phong Trần Thủ Độ làm thái sư giữ tất cả việc hành quân, đánh dẹp trong nước. Ông là một nhà lãnh đạo tài giỏi và tận tụy chăm lo việc nước. Phàm công việc gì làm cho đế nghiệp Đông A vững mạnh, ông đều cương quyết làm bằng được. Năm 70 tuổi, trước lúc chết 5 tháng, sử còn chép việc ông đi tuần ở vùng biên giới Lạng Sơn. "Thủ Độ tuy làm tể tướng mà phàm công việc, không việc gì không để ý. Vì thế đã giúp nên vương nghiệp, giữ được tiếng tốt cho đến lúc mất".
Ngay từ những năm đầu triều Trần, ông đã đánh dẹp được các thế lực cát cứ ở các địa phương và tổ chức lại bộ máy hành chính từ trung ương đến cấp xã. Ông đặt ra sổ trướng tịch ghi chép danh sách dân gian trong xã, thôn, từ quan văn, quan võ, binh lính, hoàng nam, trung lão, tàn tật, người ngụ cư... để nắm chắc hộ khẩu trong nước. Có lần duyệt định hộ khẩu, bà Linh Từ quốc mẫu muốn xin riêng cho một người làm câu đương (một chức dịch trong xã). Ông gật đầu, rồi ghi tên họ, tên quê quán. Khi xét đến xã ấy, hỏi tên ấy đâu, người ấy mừng rỡ chạy đến. Trần Thủ Độ nói: "Ngươi vì có công chúa xin cho được làm câu đương, không thể ví như những câu đương khác được, phải chặt một ngón chân để phân biệt". Người ấy kêu van xin thôi, hồi lâu mới tha cho. Từ đấy không ai dám đến thăm vì việc riêng nữa.
Ông đề cao tư tưởng pháp trị, định ra luật lệ, quy chế hành chính và gương mẫu thực hiện. Sử còn chép chuyện Linh Từ quốc mẫu có lần ngồi kiệu đi qua chỗ thềm cấm bị người quân hiệu ngăn lại. Về nhà bà khóc bảo với Trần Thủ Độ rằng: "Mụ này làm vợ ông mà bọn quân hiệu ấy khinh nhờn như thế". Thủ Độ giận sai đi bắt. Người quân hiệu ấy chắc là phải chết. Khi đến nơi, Thủ Độ vặn hỏi trước mặt, người quân hiệu đem sự thực trả lời. Thủ Độ nói: "Ngươi ở chức thấp mà biết giữ phép nước như thế, ta còn trách gì nữa". Rồi lấy vàng lụa thưởng cho người ấy.
Là người có công dựng nước, có tài trị nước, vua cũng ít khi dám trái ý. Bấy giờ có người đàn hặc ông, vào gặp Thái Tông, khóc mà nói rằng: "Bệ hạ trẻ thơ mà Thủ Độ quyền hơn cả vua, đối với xã tắc sẽ ra sao?". Vua lập tức cùng người ấy đến nhà Trần Thủ Độ và nói lại chuyện đó. Trần Thủ Độ trả lời: "Đúng như lời người ấy đã nói", rồi lấy tiền lụa thưởng cho người ấy.
Trần Thái Tông vì quý trọng Thủ Độ nên muốn dùng anh ruột ông là An Quốc làm tể tướng. Ông thẳng thắn nói với vua: "An Quốc là anh thần, nếu là người hiền thì thần nên nghỉ việc, nếu cho thần là hiền hơn An Quốc thì không nên cử An Quốc. Nếu anh em cùng là tể tướng thì việc trong triều đình sẽ ra sao". Vua bèn thôi.
Trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân xâm lược Mông Cổ, Trần Thủ Độ có vai trò hết sức quan trọng. Tháng 12 năm Đinh Tỵ (tức tháng 1-1258), quân Mông Cổ, sau khi tiêu diệt nước Đại Lý (Vân Nam), đã tiến vào lưu vực sông Hồng. Thế giặc rất mạnh. Quân Đại Việt bị đánh lui, vua Thái Tông phải bỏ Thăng Long rút xuống phía nam. Vua ngự thuyền nhỏ đến thuyền em ruột là Thái úy Trần Nhật Hạo hỏi kế. Nhật Hạo lấy ngón tay chấm nước viết hai chữ "Nhập Tống" ở mạn thuyền, ý khuyên vua nên chạy sang nhờ vả nước Tống. Vua bèn rời thuyền đến hỏi Thái sư Trần Thủ Độ, Trần Thủ Độ trả lời:
- Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo!
Vào lúc gay go nhất của cuộc kháng chiến, câu trả lời đanh thép ấy của ông đã giữ vững được tinh thần dám đánh và quyết thắng của quân dân Đại Việt trong cuộc phản công quyết liệt đánh vào Đông Bộ Đầu ngày 29-1-1258, buộc địch phải rút chạy về nước.
Trần Thủ Độ xứng đáng được xếp vào hàng những nhân vật kiệt xuất, đi đầu trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước trong lịch sử dân tộc.
Hoài Nam
06-01-2003, 08:16 AM
1. Trần Thái Tông (1225-1258) tức Trần Cảnh, vua thứ nhất của nhà Trần, sinh ngày 17-7-1218, mất ngày 4-5-1277, làm vua 33 năm, nhường ngôi 19 năm, thọ 59 tuổi.
Trần Cảnh là con thứ Trần Thừa, một người nhiều mưu lược, dưới triều Lý từng giữ chức Nội thị khán thủ (đứng đầu các quan hầu cận vua Lý trong cung). Nhờ có Trần Thủ Độ là chú họ khi ấy làm Điện tiền chỉ huy sứ, Trần Cảnh thường xuyên được ra vào cung, sau lấy Lý Chiêu Hoàng. Năm 1226, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh và vương triều Trần được thành lập từ đấy.
Lên làm vua, Trần Cảnh đổi niên hiệu là Kiến Trung; năm 1232, đổi là Thiên ứng Chính bình; năm 1251, lại đổi là Nguyên Phong và niên hiệu Nguyên Phong đã đi vào lịch sử như cái mốc lớn ghi chiến công đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông hồi thế kỷ 13 mà thơ Trần Nhân Tông ca ngợi:
Bạch đầu quân sĩ tại,
Vãng vãng thuyết Nguyên Phong.
(Lính bạc đầu còn đó,
Kể mãi chuyện Nguyên Phong).
Ngày 17-1-1258, (niên hiệu Nguyên Phong thứ 7) quân Nguyên tràn tới cánh đồng Bình Lệ (phía nam Bạch Hạc, Việt Trì, Phú Thọ), Trần Thái Tông chỉ huy cuộc chiến đấu chống giặc. Theo Đại Việt sử ký toàn thư tả: "Vua tự làm tướng đốc chiến đi trước, xông pha tên đạn"...
Ngày 29-1-1258, Trần Thái Tông cùng thái tử Hoàng (sau là vua Trần Thánh Tông) đã phá tan quân Nguyên ở Đông Bộ Đầu, giải phóng Thăng Long, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ nhất. Trần Thái Tông đã trở thành ông vua anh hùng cứu nước.
Nhưng tên tuổi Trần Thái Tông được sử sách lưu truyền còn vì ông là một nhà Thiền học, một triết gia có những tư tưởng sâu sắc, độc đáo và một tính cách khá lạ lùng, tác giả sách Khóa hư lục, một tác phẩm cổ nhất, quan trọng nhất về phương diện triết học Thiền của thời Trần.
Khóa hư lục nghĩa là ghi chép về phép tu dưỡng đạo hư tịch. Trần Thái Tông viết sách này vào quãng từ năm 1258 đến trước lúc mất (1277), tức là sau khi ông đã nhường ngôi cho Lê Thánh Tông rồi vào núi tu hành. Xét về niên đại, Khóa hư lục là cuốn sách xưa nhất hiện còn giữ được trong kho thư tịch cổ Việt Nam. Xét về nội dung, Khóa hư lục vừa có giá trị triết học, vừa có giá trị văn học, bởi Trần Thái Tông mượn để biểu đạt tư tưởng, cảm xúc của mình là hình thức văn, luận, thể biền ngẫu và kệ, thể thơ thất ngôn, ngũ ngôn... Tất cả đều giàu hình tượng, giàu chất trữ tình.
Trong một văn bản Khóa hư lục có bài Tựa Thiền tông chỉ nam của Trần Thái Tông viết, ông đã kể lại sự việc năm 1236 đang đêm ông bỏ cung điện vào núi, định ở đó tu hành, nhưng Trần Thủ Độ đến nơi, cương quyết mời ông trở lại ngôi vua, và câu chuyện này gắn liền với tiểu sử đời ông, với đặc điểm của Phật giáo Việt Nam thời Trần: "Năm thứ 5, niên hiệu Thiên ứng Chính bình, đúng đêm mồng ba tháng tư năm Bính Thân (1236), nhân vi hành ra cửa cung, bảo người tả hữu rằng: Trẫm muốn ra chơi để ngầm nghe lời dân, xem ý dân tình như thế nào... Giờ hợi đêm ấy, một ngựa lẻn ra, qua sông mà đi về phía Đông... Giờ mão ngày hôm sau thì đến bến đò Phả Lại sông Đại Than, sợ người ta biết, lấy vạt áo che mặt qua sông... Gập ghềnh, núi thẳm khe sâu, ngựa mỏi không tiến được, trẫm bỏ ngựa leo dốc mà đi, giờ mùi tới đầu núi Yên Tử. Sớm mai lên thẳng đỉnh núi, thăm quốc sư Trúc Lâm đạo sa môn... Bấy giờ Thúc phụ Trần Công (tức Thủ Độ)... nghe tin trẫm bỏ đi, sai tả, hữu tìm kiếm khắp nơi, bèn cùng với các vị quốc lão tìm đến núi này. Gặp trẫm, Thái sư nói thống thiết rằng: "Bệ hạ vì mục đích tu cho riêng mình mà làm thế thì được, nhưng còn quốc gia xã tắc thì sao? Ví để lời nói suông mà báo đời sau thì sao bằng lấy chính thân mình làm người dẫn đạo cho thiên hạ?"... Do đấy, trẫm cùng các vị quốc lão về kinh, gắng lại lên ngôi...".
Có lẽ ít thấy trong lịch sử Phật giáo nước nào lại nêu vấn đề "quốc gia xã tắc" ra và giải quyết theo hướng đặt "quốc gia xã tắc" lên trên hết, trước hết như thế. ở Việt Nam, "quốc gia xã tắc" bao giờ cũng là vấn đề trọng đại nhất. Thái độ đối với "quốc gia xã tắc" chính là thước đo giá trị của mỗi người, bất kể họ ở cương vị nào. Nghe theo tiếng gọi của "quốc gia xã tắc", Trần Thái Tông trở về triều và 22 năm sau, Trần Thái Tông đã phá tan quân xâm lược Nguyên Mông, giữ vững "quốc gia xã tắc".
Trần Thái Tông quả là người có một tính cách đặc biệt. Lúc làm tướng, đánh giặc thì anh dũng "xông vào mũi tên hòn đạn", khi làm vua, thì "phú quý không đủ làm trọng", có thể sẵn sàng từ bỏ ngai vàng không chút luyến tiếc.
Ngô Thì Sĩ, sử gia thế kỷ 18 đã nhận xét về Trần Thái Tông: "Trần Thái Tông tuy ý từ gần với đạo không tịch mà chí thì rộng xa, cao siêu cho nên bỏ ngôi báu như trút đôi dép rách vậy".
Lời nhận xét này tưởng như một nét khắc thần thái Trần Thái Tông, bó đuốc của Thiền học Việt Nam, gương mặt văn hóa đẹp và lạ đến khác thường trong lịch sử Việt Nam.
Hoài Nam
06-03-2003, 02:59 PM
2. Trần Thánh Tông (1258 - 1278)
Vua Trần Thái Tông có 6 người con: Thái tử Hoảng, Chiêu Minh vương Trần Quang Khải, Chiêu Quốc vương Trần ích Tắc, Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật và các công chúa Thiều Dương và Thụy Bảo.
Mùa xuân năm Mậu Ngọ (1258), Thái tử Hoảng nên nối ngôi lấy hiệu là Thánh Tông.
Thánh Tông là vị vua nhân từ, trung hậu. Vua hay nói với tả hữu:
Thiên hạ là của cha ông để lại nên để cho anh em cùng hưởng phú quý.
Bởi vậy trừ các buổi thiết triều vua mới phân biệt trên dưới, còn thường ngày vua cho các hoàng thân vào điện ăn cùng mâm, nằm cùng chiếu, thật hòa hợp thân ái.
Đối nội, vua dốc lòng xây dựng đất nước thái bình, thịnh trị. Vua quan tâm đến việc giáo hóa dân, khuyến khích việc học hành, mở những khoa thi chọn người tài và trọng dụng họ. Do vậy dưới triều vua Thánh Tông, không chỉ có các ông hoàng hay chữ mà còn có những trạng nguyên tài giỏi như Mạc Đĩnh Chi. Bộ Đại Việt sử bộ quốc sử đầu tiên của ta được Lê Văn Hưu hoàn thành năm Nhâm Thân (1272).
Vua còn quan tâm đến dân nghèo bằng việc ra lệnh cho các vương hầu phò mã chiêu tập những người nghèo đói lưu lạc để khai khẩn ruộng hoang, lập trang bộ. Trang điền có từ đấy. Vì vậy, 21 năm làm vua đất nước không có giặc giã. Nơi nơi dân chúng yên ổn làm ăn.
Đối ngoại, lúc này nhà Nguyên đã thôn tính xong nước Tống rộng lớn nhưng chưa đủ sức đánh Đại Việt. Khi vua Thái Tông, vua Mông Cổ sai sứ sang phong vương cho Thánh Tông. Nhà Nguyên không còn bắt Đại Việt thay đổi sắc phục và rập theo thể chế nhà nước chúng, nhưng lại bắt vua ta cứ 3 năm phải một lần cống nạp nho sĩ, thầy thuốc, thầy bói, thầy tướng số và những nghệ nhân giỏi mỗi loại 3 người cùng các sản vật: sừng tê, ngà voi, đồi mồi, châu báu vật lạ khác. Vua Nguyên còn đòi đặt quan Chưởng ấp để đi lại, giám sát các châu quận Đại Việt, thật ra là để nắm tình hình mọi mặt, toan đặt cương thường cho các nước láng giềng. Vua Trần Thánh Tông thừa biết dã tâm xâm lược của nhà Nguyên, nên tuy bề ngoài thần phục nhưng vẫn tích cực chuẩn bị binh lương, luyện quân sĩ sẵn sàng đối phó. Năm Bính Dần (1266), vua Nguyên cho sứ sang giục cống nạp. Vua Thánh Tông sai sứ sang xin miễn việc cống người và bãi bỏ việc đặt quan giám trị. Vua Nguyên bằng lòng việc cống người nhưng lại bắt tuân thủ 6 điều khác: vua phải thân vào chầu, phải đưa con em sang làm con tin, nộp sổ hộ khẩu, phải chịu việc binh dịch, phải nộp thuế má và cứ giữ lệ đặt quan giám trị.
Vua Đại Việt lần nữa thoái thác không chịu. Năm Tân Mùi (1271), vua Mông Cổ là Hốt Tất Liệt nhân đổi quốc hiệu Đại Nguyên đòi vua Thánh Tông vào chầu. Vua Thánh Tông cáo bệnh không đi. Chúng cho sứ sang tìm cột đồng trụ mà Mã Viện dựng ngày trước, vua Thánh Tông trả lời rằng: "Cột ấy lâu ngày đã mất".
Nhìn chung, vua Trần Thánh Tông thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo nhưng rất kiên quyết, nhằm bảo vệ danh dự của Tổ quốc, ngăn chặn từ xa mọi sự dòm ngó, tạo sự xâm lược của nhà Nguyên.
Năm Đinh Sửu (1277), Thái thượng hoàng Trần Thái Tông mất ở phủ Thiên Trường (Tức Mạc). Năm sau, vua Thánh Tông nhường ngôi cho con là Thái tử Khâm rồi về ở phủ Thiên Trường làm Thái thượng hoàng.
Vua Thánh Tông trị vì được 21 năm, làm Thái thượng hoàng được 3 năm, thọ 51 tuổi.
3. Trần Nhân Tông (1279 - 1293)
Vua Thánh Tông có 3 người con: Thiên Thụy công chúa, Thái tử Khâm và Tả Thiên vương Đức Việp. Năm Kỷ Mão (1279), Thái tử Khâm kế vị ngôi vua, hiệu là Nhân Tông.
Trần Nhân Tông là vị vua anh minh, quyết đoán, được sử sách ngợi ca là vị anh hùng cứu nước. Thời gian Nhân Tông trị vì, nước Đại Việt đã trải qua những thử thách ghê gớm.
Ngay sau khi Nhân Tông lên ngôi vua, nhà Nguyên liền sai Lễ bộ thượng thư sang sứ Đại Việt. Sài Thung đến kinh thành, lên mặt kiêu ngạo, cưỡi ngựa đi thẳng vào cửa Dương Minh rồi cho người đưa thư trách vua Nhân Tông tự lập ngôi vua và đòi sang chầu thiên triều.
Vua sai đại thần ra tiếp, Thung không thèm đáp lễ, vua mời yến, hắn không thèm đến.
Năm Nhâm Ngọ (1282), vua Nguyên lại cho sứ sang dụ:
Nếu vua nước Nam không sang chầu được thì phải đưa vàng ngọc sang thay và phải nộp hiền sĩ, thầy âm dương bói toán, thợ khéo tay , mỗi hạng 2 người.
Nhân Tông đành cho chú họ là Trần Di ái và bọn Lê Tuân, Lê Mục sang thay mình. Vua Nguyên bèn lập Trần Di ái làm An Nam quốc vương, Lê Mục làm làm Hàn lâm học sĩ, Lê Tuân làm Thượng thư lệnh và Sài Thung dẫn 1000 quân đưa bọn ấy về nước. Hay tin, Nhân Tông sai tướng đem quân lên đón đường đánh lũ nghịch thần. Sài Thung bị tên bắn mù một mắt, trốn chạy về nước, còn lũ Trần Di ái bị bắt, phải tội đồ làm lính. Thấy không thể thu phục được vua Trần, nhà Nguyên phải liên tiếp phát động 2 cuộc chiến tranh xâm lược vào các năm 1285 và 1287, toan làm cỏ nước Nam. Trong hai lần kháng chiến này, Nhân Tông đã trở thành ngọn cờ kết chặt lòng dân, lãnh đạo nhân dân Đại Việt vượt qua bao khó khăn, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi huy hoàng.
Sau 14 năm làm vua, Nhân Tông nhường ngôi cho con là Anh Tông rồi làm Thái thượng hoàng và đi tu, trở thành thủy tổ phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, một phái thiền để lại dấu ấn đặc sắc trong lịch sử tư tưởng Việt nam. Nhân Tông thực sự là một triết gia lớn của Phật học, giúp triết học Phật giáo Việt Nam phát triển rực rỡ thể hiện được đầy đủ trí tuệ, bản lĩnh Việt Nam. Tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông là tinh thần thực tiễn, chiến đấu và táo bạo.
Theo sách Tam Tổ thực lục, một học trò hỏi NhânTông: "Như thế nào là Phật ?"
Nhân Tông đáp: "Như cám ở đáy cối"
Lần khác, một học trò hỏi: "Lúc giết người không để mất thì như thế nào ?"
"Khắp toàn thân là can đảm": Nhân Tông đáp.
Anh hùng cứu nước, triết nhân, thi sĩ là phẩm chất kết hợp hài hòa trong con người Trần Nhân Tông. Về phương diện thi sĩ, Nhân Tông có tâm hồn thanh cao, phóng khoáng, một cái nhìn tinh tế, tao nhã. Vua từng viết:
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu
(Xã tắc hai lần mệt ngựa đá
Non sông nghìn thuở vững âu vàng)
Trần Nhân Tông qua đời năm Mậu Thân (1308) tại am Ngọa Vân, núi Yên Tử (Đông triều, Quảng Ninh).
ShyGirl
06-03-2003, 07:26 PM
Dạ xin cám ơn các anh chị thiệt là nhiều, có nhiều information quá em đọc đã luôn . Dạo này em đi học Hè, cho nên sẽ có ít dịp để đọc lịch sử VN, vì vậy em sẽ lên trường in topic này ra và đọc dần dần . Chân thành cám ơn các anh chị đã bỏ nhiều thời gian viết lại những trang lịch sử VN nhé . Muahhhhhhhhhhhhhhh :kissing::kissing::kissing:
dragonfly69uk
06-04-2003, 05:09 PM
vow, even i learnt vn history to lo*'p 12 ma` cu~ng kho^ng chi tie^'t as HoaiNam
allena
06-05-2003, 10:18 AM
Hoàng đế Minh Thái Tổ Trung Hoa từng nói " An Nam là một nước Văn hiến " ( Nam giao ký : Lưu Đại Hạ truyện ghi lại lời tổ huấn , Minh thái tổ nói : Văn hiến chi phiên thuộc . ) Toàn quyền Pièrre Pasquier sống lâu năm ở VN , thông thạo Việt , Hán , phong tục tập quán người Việt đã nhận xét như sau : " Ở xứ An Nam , có rất ít người thất học , ngay trong lớp dân quê dốt nát nhất ngưòi ta cũng thấy luôn luôn có những người biết được mấy trăm chử . Học đối với người Việt là một ước vọng , niềm tự hào và là quốc thống ."
Văn hoá VN lại là một tổng thể của những quan hệ nối kết gắn bó với nhau, không quan hệ nào tách biệt , riêng lẽ . Văn hoá gắn bó với chính trị , là lãnh vực rộng lớn bao trùm của chính trị . Văn hoá lại quan hệ chặt chẻ với kinh tế , không thể tách rời giửa kiến trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng . Nói theo Nho nghĩa là giữa " hình nhi thượng với hình nhi hạ " Văn hoá với giáo dục đối với dân Việt lại là tương quan tim và máu , qua lại lẫn nhau , không phân ranh giới . Văn hoá và xã hội với sinh thái nhân văn , tức cảnh quan và môi trường của nhân sinh đời sống lại là quan hệ như hai là một , quan hệ giữa miền cao và đồng bằng , giữa thành thị với nông thôn , giữa làng và nước , giữa họ và làng , giữa cá nhân với họ hàng làng nước . Văn hoá VN còn là quan hệ không tách rời hay phân cách giữa các thế hệ già trẻ , đó là sợi chỉ vàng cột buộc , nối kết xuyên suốt với nhau để thành Văn Hoá Truyền Thống , hôm qua , hôm nay và ngày mai . Điểm độc đáo khác nửa , Văn hoá Việt là một hội tụ giữa dân tộc và quốc tế , giữa ngưòi và ta . Biết bao đau thương tủi hờn , uất hận mà dân tộc ta đạ trãi qua : trên 1000 năm đô hộ phương Bắc , 80 năm dưới thời Pháp thuộc ..đàng đẵng khốn khó , triền miên đau thương . Dân Việt vẫn tồn tại và tồn tại anh hùng với đầy khí phách và đảm lược .
Ngay dưới thời đô hộ Hán , người Việt đã không ngừng vừa tiếp thu , vừa giải thể Hoa hoá . Giành độc lập chưa được bao lâu , ta đã phát triển và định chế hoá giáo dục . Năm 1075 , mở khoa thi Tam trường . Năm 1165 mở kỳ thi Thái học sinh , học vị cao nhất . Năm 1374 đổi thành Tiến Sỹ . Thi Tam Giáo ( Phật , Lão , Nho ) tổ chức năm 1195 , người đậu khoa nầy gọi là Tam Giáo xuất thân , người đậu đầu là Thiền Sư Huyền Quang , được gọi là Trạng Nguyên Tam Giáo . Từ 1374 , khoa cử đã tổ chức đến cấp trấn , địa phương nào đi thi địa phương ấy , gọi là thi Hương lấy Cống Sinh tức Cử Nhân và Sinh Đồ tức là Tú Tài . Các kỳ thi tổ chức long trọng và nghiêm nghị như kỳ thi Đình tổ chức năm 1467 , lầy lấy Tiến Sỹ do vua Lê Thánh Tôn chủ khảo ở điện Kính Thiên . Vua tự ra đầu bài , thí sinh phải trả lời nagy, đây là một luận án Tiến sỹ . Ngoìa vinh dự được khắc tên vào bia đá ở Văn Miếu Hà Nội ( Triều Nguyễn ở Văn Miếu Huế ) Tân khoa Tiến sỹ được hàng huyện võng lọng về làng vinh quy bái tổ . Xuất chính làm quan hay ở làng mở trường dạy học đều là quan Nghè . Theo lệ hàng năm ,quan đầu Tỉnh hay Trấn phải mở yến tiệc , mời các bậc danh khoa về tỉnh để xin ý kiến và sự phê bình về cách cai trị và dân tình trong tỉnh hạt . Các bậc đại khoa khi thấy quan trong tỉnh hà lạm , tham nhũng hại dân ...có quyền dâng sớ lên vua hạch tội , gởi về bộ Lễ .
Thi cử có thời kỳ sa sút như năm 1725 ở Đàng Ngoài , ký thi Hương có tới 1732 người được chấm đậu , khoa 1747 số Cử Nhân và Tú Tài lên đến 1416 người . Dú vậy lúc nào Nho Phong Sỹ Khí vẫn là khuôn vàng thước ngọc để xử sự . Năm 1261 , vua Trần Anh Tôn cho mở kỳ thi Y Khoa , gọi là Thái Y . Từ đó các triều đại đều mở các kỳ thi Y Khoa .
Cao Thế Dung
Dundy
06-05-2003, 10:32 AM
Vị đệ nhất anh hùng trong Sử Việt
Một trong mười vị Nguyên Soái vĩ đại của thế giới
Vào những năm 1200, Đế Quốc Mông Cổ được thành lập tại Trung Á, bao trùm Âu và Á, từ biển Trung Quốc tới Sông Danube. Quân Mông Cổ đã ba lần đem đại quân xâm lấn Đại Việt thời vua Trần Thái Tông vào những năm:1258, 1285 và 1288; nhưng đều bị quân Nam đánh bại. Những chiến thắng hiển hách đó là đại công của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, tác giả của hai bộ sách quý giá: Binh Thư Yếu Lược và Vạn Kiếp Bí Truyền Thư. Năm 1984, các nhà bác học và quân sự gia thế giới họp tại Luân Đôn (Anh) đã ghi Trần Hưng Đạo vào danh sách mười nhà quân sự tài ba nhất thế giới.
Sơ lược tiểu sử Đức Trần Hưng Đạo
Trần Quốc Tuấn sinh năm 1228 và là con của Trần Liễu, anh ruột của Trần Cảnh tức vua Trần Thái Tông, vị vua đầu tiên của triều đại họ Trần. Ngài thông minh đĩnh ngộ, văn võ song toàn; chí biết dẹp thù nhà, thân biết đoàn kết anh em dòng họ cùng lo toan việc nước. Ngài nghiên cứu binh thư, biết dùng người hiền tài như Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng; coi binh sĩ như chân với tay. Ở nơi Ngài thể hiện các đức tính: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, và Tín. Cả ba lần chống quân Nguyên, ngài đã lập nhiều công lớn. Ngài mất vào ngày 20 tháng Tám năm Canh Tý (1300). Thi hài được hỏa táng theo ý nguyện của ngài: tro thu vào một bình đồng và chôn trong vườn An Lạc, giữa rừng An Sinh miền Đông Bắc, không xây lăng mộ. Có đền thờ tại Vạn Kiếp, Chí Linh.
Sơ lược các trận chiến chống quân Nguyên
1. Cuộc xâm lăng lần thứ nhất:
Vào tháng Giêng năm 1258, một đạo quân Mông Cổ khoảng 40 ngàn quân do tướng Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy tràn vào Đại Việt từ ngã Vân Nam. Thế giặc rất mạnh nên quân Nam phải rút bỏ Thăng Long với thành không, nhà trống. Chờ khi quân Mông cạn lương thực, ngày 29 tháng 1 năm 1258, quân Nam đã thần tốc vượt sông Hồng phản công, đánh địch quân tan tác bỏ chạy về Vân Nam.
2. Cuộc xâm lăng lần thứ nhì:
Hai mươi sáu năm sau cuộc thảm bại lần thứ nhất, vào cuối năm 1284, lúc đó đã chiếm xong nhà Tống ở Trung Quốc (1279), vua Nguyên là Hốt Tất Liệt cử con trai là Thoát Hoan đem đại quân xâm lấn Đại Việt từ ba mặt: một đạo quân do Thoát Hoan chỉ huy từ Lạng Sơn đánh xuống; một đạo quân do Nạp Tốc Lạt Đinh từ Vân Nam tràn vào Tuyên Quang; và đạo quân thứ ba do Toa Đô đánh từ Bắc Champa và sườn Nam của Đại Việt. Cũng như lần trước, đại quân Nam cố gắng làm chậm bước tiến của địch bằng các lực lượng dân quân địa phương, bảo toàn chủ lực quân, rút lui và bỏ trống kinh thành Thăng Long. Quân Mông bị phân tán mỏng, lương thực khan hiếm, thời tiết nóng nực, bệnh dịch lan tràn. Chờ thời cơ đã chín mùi, tháng 5 năm 1285, Hưng Đạo Vương tức tốc dẫn đại quân đầy nhuệ khí tiến ra Bắc phản công quyết liệt: đạo quân của Trần Quang Khải tấn công địch trên mạn sông Hồng vào giải tỏa Thăng Long; Trần Hưng Đạo chặn đường rút của địch tại Vạn Kiếp. Quân địch bị thua to tại các mặt trận:
Hàm Tử (Hưng Yên): Trần Nhật Duật đánh tan chiến thuyền của Toa Đô.
Chương Dương: Trần Quang Khải và Trần Quốc Toản tấn công đại quân Nguyên khôi phục thành Thăng Long. Trong bữa tiệc khao quân mừng chiến thắng, Trần Quang Khải ngâm bài thơ "Tòng Giá Hoàn Kinh":
Đoạt giáo Chương Dương độ
Cầm Hồ Hàm Tử Quan
Thái Bình ta nỗ lực
Vạn cổ thử giang san
Có thơ dịch là:
Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân hồ
Thái Bình nên gắng sức
Non nước ấy muôn thu
Tây Kết: quân ta đánh tan và chém chết Toa Đô. Ô Mã Nhi xuống thuyền nhỏ chạy về Tầu.
Vạn Kiếp: Nguyễn Khoái và Phạm Ngũ Lão được điều động phục binh tại bên sông Vạn Kiếp chặn tàn quân của Thoát Hoan sau khi bị quân của Hưng Đạo Vương đánh tan tại Bắc Giang.
3. Cuộc xâm lăng lần thứ ba:
Hai năm sau lần thảm bại thứ nhì, tháng 12 năm 1287, đại quân Nguyên lại chia làm nhiều ngả qua xâm chiếm Đại Việt. Đoàn chiến thuyền do Ô Mã Nhi chỉ huy hung hăng tiến vào vùng biển Quảng Ninh nhắm hướng cửa sông Bạch Đằng không hay biết đoàn thuyền lương ở phía sau đã bị Trần Khánh Dư phục đánh tan tại vùng đảo Vân Đồn. Lúc đó Thoát Hoan đã tiến vào Lạng Sơn hội với cánh quân của Ô Mã Nhi và cùng tiến về Thăng Long vào cuối tháng 1 năm 1288. Thành Thăng Long lại bỏ trống. Tại đây, đại quân Mông lại lâm vào tình trạng thiếu lương thực nên lại phải rút về Vạn Kiếp và bị chặn đánh tại cửa sông vùng Phả Lại. Biết quân địch sẽ rút đại quân về ngả sông Bạch Đằng, Hưng Đạo Vương đã chuẩn bị cho đóng cọc đẽo mũi nhọn tại lòng sông. Sáng ngày 9/4/1288, Ô mã Nhi dẫn đoàn chiến thuyền vào sông Bạch Đằng. Đoàn chiến thuyền của quân Nam ào ra tấn công. Gặp lúc thủy triều xuống, thuyền giặc nghiêng đổ, thế giặc tan vỡ, quân sĩ tử trận vô vàn, Ô Mã Nhi bị bắt sống. Đạo quân của Thoát Hoan rút theo đường bộ thì bị bị phục kích tại cửa ải Nội Bàng. Mãi tới ngày 19/4/1288, Thoát Hoan và tàn quân mới chạy thoát về tới Tư Minh. Mộng xâm lược của Quân Nguyên hoàn toàn tan vỡ.
Trong cuộc chiến chống quân Nguyên, có những sự kiện nổi bật là:
Hội Nghị Bình Than: các tướng sĩ trao đổi ý kiến và bày tỏ quyết tâm liều thân cứu nước.
Hội Nghị Diên Hồng: các bô lão được triệu tập để cho ý kiến và mọi người đều tỏ một lòng quyết chiến đã thể hiện qua hai câu thơ:
Họp Bình Than: tướng, quân bàn mưu phá giặc
Hội Diên Hồng: Bô lão quyết chống xâm lăng
Trần Bình Trọng bị quân Nguyên bắt và Thoát Hoan dụ hàng, đã khẳng khái trả lời:
"Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm Vương đất Bắc."
Hịch Tướng Sĩ của Đại Nguyên Súy Trần Hưng Đạo: "... Nay các ngươi trông thấy chủ nhục mà không biết nghẹn; trông thấy quốc sỉ mà không biết thẹn; thân làm tướng, phải hầu giặc mà không biết uất; tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ mà không biết căm; hoặc lấy việc chọi gà làm tiêu khiển; ... Nay ta bảo thật các ngươi nên cẩn thận nơi củi lửa, giữ gìn như kẻ húp canh, dạy bảo quân sĩ, luyện tập cung tên, khiến người nào cũng có sức khỏe như Bàng Mông và Hậu Nghệ, thì mới có thể dẹp tan được giặc mà lập nên được công danh ..."
Kết luận: Một câu hỏi đặt ra là "Làm thế nào mà một nước nhỏ như nước ta lại có thể, trong vòng 30 năm, ba lần đánh bại đạo kỵ binh bách chiến bách thắng của Mông Cổ đã từng chiếm gần hết cả Âu lẫn Á? Các nhà nghiên cứu sử học đã nêu ra những yếu tố chính sau đây, không kể đến yếu tố ngạo mạn, khinh địch của quân Nguyên.
Ý chí đấu tranh kiên cường của nòi Việt thể hiện qua các cuộc chiến đấu liên tục chống xâm lăng của Hai Bà Trưng (năm 40); Bà Triệu (249); Lý Bí (542); Mai Thúc Loan (722); Phùng Hưng (791); Dương Diên Nghệ (931); Ngô Quyền (938); và Lý Thường Kiệt (1077).
Chính sách "Dân (chủ) làm Gốc" của Vua Trần Thái Tông (1218- 1277), tức Trần Cảnh [một nhà Thiền Học, tác giả sách Khóa Hư Lục, một tài liệu cổ nhất ghi chép phép tu dưỡng đạo hư tịch (Thiền), trong đó có bài Tựa Thiền Tông Chỉ Nam của chính vua Thái Tông viết kể lại câu chuyện nhà vua lẳng lặng bỏ ngôi báu lên núi Yên Tử tu; sau vì lời mời thống thiết của Thái Sư Trần Thủ Độ "Bệ Hạ vì mục đích tu cho riêng mình mà làm như thế thì được, nhưng còn quốc gia, xã tắc thì sao? Ví để lời nói suông mà răn bảo đời sau thì sao bằng lấy chính thân mình làm người dẫn đạo cho thiên hạ?" Sau đó nhà vua lại gắng quay về cung.] Chính sách lấy dân làm gốc đã được Trần Hưng Đạo thể hiện trong câu nói "Thời bình phải khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc, bền rễ. Đó là thượng sách giữ nước."
Chính sách đoàn kết: toàn dân hợp lực. Trong tinh thần đó, Đức Trần Hưng Đạo kêu gọi: "Vua tôi một lòng, anh em hòa thuận, nước nhà chung sức, trăm họ là binh."
Các yếu tố trên đã nói lên sự ưu việt của nghệ thuật lãnh đạo chỉ huy của Bình Bắc Đại Nguyên Soái
Hưng Đạo Đại Vương thể hiện ở:
1. Sử dụng những người tài giỏi, biết địch, biết ta, khai thác thiên thời, địa lợi, và nhân hòa: đó là Trí.
2. Kích động tinh thần quyết tâm hy sinh cho tổ quốc: đó là Dũng.
3. Yêu thương quân dân như người trong nhà: đó là Nhân.
Với những nét ấy Ngài quả là một thiên tài về lãnh đạo chỉ huy cổ kim hiếm thấy.
Công đức của nhà Trần nói chung và của Đức Thánh Trần Hưng Đạo nói riêng thật là vô cùng to lớn, đời trước và đời sau, ít có người sánh kịp
Tóm lại chiến công hiển hách nhất trong sử Việt phải là chiến công của vị tướng tài đức vẹn toàn là Đức Thánh Trần Hưng Đạo. Nêu lên công đức của Ngài không phải chỉ là để hãnh diện mà là để tỏ lòng biết ơn và tôn kính. Ước mong những công đức của Ngài soi rọi con đường sáng cho con cháu Lạc Hồng noi theo trên con đường phục vụ dân tộc và nhân loại.
Hải Bằng
Hoài Nam
06-07-2003, 05:51 PM
1. Ðoàn quân Mông Cổ
Thời Trung cổ, nước Mông Cổ, xét về dân số, chỉ là một nước nhỏ, nhưng họ đã làm rung chuyển thế giới thời đó vì họ có những thủ lãnh xuất chúng với một đạo kỵ binh thiện chiến giỏi cỡi ngựa, giỏi cung tên và vô cùng tàn ác, "nơi nào ngựa Mông Cổ đi qua, cây cỏ cũng hết sống". Bão táp bắt đầu nổi lên cùng với sự xuất hiện của Thiết Mộc Chân (Temujin 1162-1227), sau này lấy danh hiệu là Thành Cát Tư Hãn, tức Genghis Khan. Vừa nắm được quyền hành, Thành Cát Tư Hãn đã khởi sự chiến tranh,
theo đuổi mộng bá chủ.
- 1205-1209: chinh phục nước Tây Hạ (Hsi-Hsia), tức vùng đất Tây Thục sau này.
- 1211-1215: chinh phục nước Kim (Chin), vượt Vạn Lý Trường Thành, chiếm thủ đô Bắc Kinh của người Kim. Sau này, nước Kim sát nhập vào nước Tầu.
- 1218-1219: chinh phục đế quốc Ba Tư (thời đó là Khwarezmian empire của Mohammed Shah), gồm đất Ba Tư, Khorassan, Transoxonia, Samarkand và Afghanistan.
- 1222: Tuân lệnh của Thành Cát Tư Hãn quân Mông tiến sang Âu châu, chiếm toàn vùng Caucasus, vượt sông Don, tràn vào Crimea rồi Ukraine, hạ trại bên bờ sông Dnieper. Ông hoàng thành Kiev đưa 80 ngàn quân đánh quân Mông, nhưng đã bị Subotai và danh tướng Chepe nghiền nát. Năm 1224 danh tướng Chepe bị bệnh chết, Subotai triệt thoái trên con đường dài 4000 dặm để bắt tay với đoàn quân trung ương.
- 1226: Thành Cát Tư Hãn chọn con trai là Ogatai làm người nối nghiệp, rồi chuẩn bị đưa 180 ngàn quân đi trừng phạt quân Hạ và Kim là hai nước đã bị quân Mông Cổ đánh bại, nay liên kết với nhau chống lại quân Mông Cổ.
- 1227: Thành Cát Tư Hãn chết. Ogatai và con là Kuyuk tiếp tục mộng bá chủ của cha.
- 1231: Xâm lăng Cao ly (Korea).
- 1235-1239: Con Ogatai là Godan đánh chiếm Tây Tạng.
- 1237-1238: Subotai xua 150 ngàn quân trở lại Âu châu, gieo tàn phá, chết chóc khắp vùng phía Bắc nước Nga .
- 1240: Chiếm Kiev, rồi Lithuania và Ba lan.
- Tháng 4, 1240: Subotai hạ thành Pest, tiêu diệt đạo quân của vua Bela IV nước Hung.
- Tháng 9, 1240 ; Ðánh tan liên minh quân Ðức, Ba lan và dòng tu Hiệp sĩ Ðức (Teutonic Knights). Thủ lãnh của liên minh là hoàng tử xứ Silesia bị giết cùng với hầu hết hiệp sĩ của ông.
- Cuối năm 1241, quân Mông tiến vào nước Ý, vượt qua thành Venice và Treviso, đồng thời ngược lên sông Danube, áp sát thành Viennạ Giữa lúc ấy, Ogatai chết. Theo luật, các anh em của vị đại hãn quá cố phải trở về Mông Cổ để bầu chọn vị đại hãn mới. Nhờ thế mà Âu châu thoát được họa diệt vong. Vậy mà trên đường triệt thoái, quân Mông Cổ còn đủ thì giờ để làm cỏ hai nước Bulgaria và Serbia.
- Năm 1246, con của Ogatai là Kuyuk được chọn làm đại hãn. Dưới thời ông, Ðức giáo chủ Innocent IV gửi đặc phái viên là thầy John di Piano Carpini, dòng Phanxicô, tới các thủ lãnh Mông Cổ để tìm hiểu ý đồ của họ ở Âu châu. Mới nắm quyền được ít lâu, còn đang lưỡng lự nên trở lại chinh phục Âu châu trước hay tiến xuống phía Nam để chiếm trọn nước Trung hoa trước, thì Kuyuk chết vào năm 1248.
Mangu,tức Mông Kha đại hãn và em là Kublai,tức Hôt Tât Liệt đại hãn
- 1251: Một người cháu nội khác của Thành Cát Tư Hãn là Mangu (còn viết là Mengke, ta gọi là Mông Kha) lên ngôi đại hãn. Mông Kha quyết định thôn tính Á châu, đặc biệt là nước Trung Hoa trước. Nước Trung Hoa thời đó chia làm Bắc Tống và Nam Tống. Mông Kha nắm quyền thống soái nhưng lại giao trọng trách cho người em kiệt xuất, đó là Hốt Tất Liệt (Kublai).
- Mông Kha sai một người em khác là Hulagu trở lại thôn tính Ba Tư bao trùm khắp miền Ðông Nam Á châu. Ðồng thời khuyến khích người em họ là Batu khống chế khắp vùng Ðông Âu, toả lên Ba lan, Lithuania và Esthonia, rồi xuống Serbia và Bulgaria một lần nữa.
- 1252-1253: Hốt Tất Liệt chinh phục Vân Nam, từ đó phái một đạo quân mở cuộc xâm lăng bờ cõi nước ta lần thứ nhất vào năm 1257.
- 1259: Mông Kha chết, Hốt Tất Liệt (Kublai) lên ngôi đại hãn vào năm 1260. Lúc ấy đế quốc Mông Cổ trải rộng từ toàn vùng Hoa Bắc sang vùng Tiểu Á, từ vùng thủ đô Moscow của nước Nga xuống biển Ðen, xuống Baghdad (Iraq) và Iran ngày nay.
- Nhận được tin Mông Kha chết, người em là Mangu đang chiếm đóng vùng Mesopotamia và Syria phải về Mông Cổ để bầu đại hãn mới. Trong khi ông vắng mặt thì, năm 1260, đạo quân của ông đã bị tướng Baibars (thuộc triều đại Mameluk cai trị Ai Cập và Syria) đánh bại trong trận Aint Jalut, gần thành Nazareth. Chiến công của Baibars có ý nghĩa hết sức quan trọng. Chứng minh đoàn quân bách chiến bách thắng Mông Cổ suốt 70 năm không phải là không thể đánh bại,dấu hiệu suy thoái đã biểu hiện và toàn Âu châu sẽ thoát nạn Mông Cổ.
- 1268-1279: Hốt Tất Liệt không nuôi ý chí chinh phục thế giới như các đại hãn tiền nhiệm, ông dốc hết khả năng để chinh phục toàn cõi Trung Hoa trong một chiến dịch dài ngót mười năm. Năm 1263, ông rời kinh đô từ Karakorum về Bắc Kinh. Trong trận hải chiến cuối cùng vào năm 1279 tại vịnh Quảng Ðông, Hốt Tất Liệt đã đánh bại nhà Nam Tống. Thừa tướng nhà Tống là Lục Tú Phu phải cõng vua nhảy xuống biển để cùng tử tiết, từ đó Hốt Tất Liệt cai trị toàn cõi Trung Hoa, xưng là hoàng đế, lập ra nhà Nguyên (Yuan Dynasty). Từ đây ta gọi họ là quân Nguyên Mông.
- Dòm ngó Nhật Bản: Hai lần vào các năm 1274 và 1281 quân Nguyên Mông sang đánh nước Nhật. Nhưng "nhờ Trời ", cả hai lần chiến thuyền của quân Nguyên Mông đều bị bão táp đánh chìm vô số, phải quay về.
- 1292-1293: Với tay xuống mãi đảo Java (Nam Dương), nhưng không ở lại được.
- Ðặc biệt nhất là ba lần quân Nguyên Mông xâm phạm bờ cõi nước ta vào các năm 1257,1284 và 1287. Cả ba lần xâm lăng đều chuốc lấy thảm bại.
2. Ba lần đại phá quân Nguyên Mông
Quân Nguyên Mông hai lần đánh sang Nhật, cả hai lần đều bị bão táp cản trở Trời đã cứu nước Nhật thoát nạn Nguyên Mông. Trường hợp nước ta không được may mắn như thế, bởi ta liền sông liền núi với Bắc phương, thuận lợi bội phần cho kẻ xâm lược.
a. Chiến thắng lần thứ nhất
Năm 1257, Hốt Tất Liệt chinh phục xong vùng Vân Nam, đã sai sứ giả sang ra lệnh cho vua nước ta phải thần phục. Vua Trần Thái Tông chẳng những đã không thần phục lại còn bắt giam sứ giả, rồi lệnh cho tướng trẻ Trần Quốc Tuấn đưa quân lên trấn thủ phía Bắc. Hốt Tất Liệt liền sai tướng Ngột Lương Hợp Thai (Wouleangotai), từ Vân Nam, đem quân đánh xuống nước ta.
Khí thế của giặc quá mạnh, Trần Quốc Tuấn lui về Sơn Tây. Vua Thái Tông thân chinh, cũng địch không nổi, phải di tản chiến thuật để bảo toàn lực lượng. Quân Mông Cổ thừa thắng tiến thẳng xuống tới Ðông Bộ Ðầu (huyện Thượng Phúc, phía Ðông sông Nhị). Bà Linh Từ quốc mẫu, phu nhân của Thái sư Trần Thủ Ðộ đã chỉ huy toàn thể triều đình rút lui thàng công về vùng Thiên Mạc (huyện Ðông An, Hưng Yên).
Ðịch vào thành Thăng Long, thấy ba sứ giả của họ còn bị giam, mà một người đã chết, Ngột Lương Hợp Thai nổi giận, cho quân Mông Cổ mặc sức cướp phá, giết người, bất kể già trẻ lớn bé. Trong tình thế đen tối ấy, vua dò ý quan Thái Úy Trần Nhật Hiệu, ông này muốn đầu hàng. Nhưng khi hỏi quan Thái sư Trần Thủ Ðộ thì ông khảng khái thưa: "Ðầu tôi chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo". Thái độ cương quyết của quan Thái sư đã làm cho vua an tâm.
Thời gian là đồng minh tốt của quân ta. Quân Mông Cổ chiếm đóng càng lâu càng gặp nhiều khó khăn và để lộ nhiều sơ hở. Cho tới khi thời cơ chín mùi, vua Thái Tông ra lệnh tổng phản công quân địch ở Ðông Bộ Ðầu. Ðịch thua dần, cuối cùng phải rút về Vân Nam. Trong chiến thắng quân Mông Cổ lần thứ nhất, tướng Trần Quôc Tuấn, lúc ấy mới 29 tuổi, đã góp công lớn trong nhiệm vụ là tướng của đội quân tiên phong.
b. Chiến thắng lần thứ hai
Trận thắng lần đầu năm 1257 là ta thắng quân Mông Cổ, vì lúc ấy Hốt Tất Liệt tuy đã chiếm được Vân Nam, nhưng mãi tới năm 1279 mới dứt điểm được nhà Nam Tống lập ra nhà Nguyên, cho nên lần thứ hai và thứ ba là ta thắng quân Nguyên Mông.
Sau khi đã an vị, Nguyên Thế Tổ, tức Hốt Tất Liệt, liền sai Lễ bộ thượng thư Sài Thung sang nước ta, bắt vua ta sang chầu và nộp cống phẩm. Vua Trần Nhân Tông không chịu, cho chú họ là Trần Di Ái đi thay mình. Nguyên Thế Tổ phật ý, phong cho Trần Di Ái làm An Nam quốc vương, và sai Sài Thung đưa Di Ái về nước. Hay tin, vua Trần Nhân Tông sai tướng lên chặn đánh, bắn mù mắt Sài Thung và bắt sống lũ phản bội Trần Di Ái. Thấy sứ giả bị bắn mù mắt chạy về, Nguyên Thế Tổ nổi giận, liền phong cho con là Thoát Hoan làm Trấn Nam vương, cùng bọn Toa Ðô, Ô Mã Nhi, A Bát Xích,v.v., đem 50 vạn quân tiến vào nước ta, lấy cớ mượn đường sang đánh Chiêm Thành! Ðạo quân Thoát Hoan tiến vào qua ngả Lạng Sơn, còn đạo quân Toa Ðô đi đường biển đánh vòng xuống Chiêm Thành. Ðược cấp báo quân Nguyên Mông động binh, vua Trần Nhân tông phong cho Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn làm Tiết chế thống lãnh toàn thể lực lượng quân ta để chống giặc (1283), và triệu tập các bô lão khắp nơi về điện Diên Hồng để hỏi ý kiến nên hoà hay nên chiến. Tất cả các bô lão đồng thanh xin quyết chiến!
Ban đầu thế địch quá mạnh (1284). Cánh quân Thoát Hoan thắng trận Ải Chi Lăng (Lạng Sơn), trận Vạn Kiếp, rồi đoạt thành Thăng Long. Thấy thế, nhà vua lo âu cho sinh mạng của dân nên tỏ ý muốn hàng, nhưng Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn tâu: "Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu tôi trước đã". Vương soạn ra quyển Binh Thư Yếu Lược, rồi truyền Hịch để khuyên răn các tướng lãnh. Các tướng sĩ nức lòng, quyết chí đánh giặc, ai cũng xâm vào tay hai chữ "Sát Ðát" (giết quân Mông Cổ).
Ðang khi đó, cánh quân do Toa Ðô chỉ huy, với sự trợ giúp của đạo quân Ô Mã Nhi, lại đánh từ phía Nam, Thượng tướng Trần Quang Khải không chặn nổi sức tiến của địch, phải rút lùi ra phía ngoài. Trấn thủ Nghệ An là Trần Kiện ra hàng giặc. Tại mặt trận Thiên trường (khúc sông Thiên Mạc, huyện Ðông An, Hưng Yên), tướng Trần Bình Trọng của ta cũng thua, bị giặc bắt. Chính Thoát Hoan chiêu dụ ông:"Có muốn làm vương đất Bắc không?".
Ông quát lên:"Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc".
Không chiêu hàng nổi một vị tướng can trường như thế, Thoát Hoan ra lệnh chém đầu ông. Tình thế hết sức nguy cấp, quân địch thắng khắp các mặt trận. Bọn hoàng tộc như Trần Ích Tắc, Trần Tú Viên ra hàng Thoát Hoan. Giữa cơn sóng gió tứ bề, nổi bật lên dáng đứng anh hùng của Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn, vị Tiết chế thống lãnh. Ngài vẫn bền lòng chỉ huy cuộc kháng chiến. Một mặt Ngài phụng giá đưa vua vào Thanh Hóa, mặt khác Ngài bình tĩnh điều binh khiển tướng quyết chiến thắng quân thù.
Chiến thắng đầu tiên: Hàm Tử Quan: tướng Trần Nhật Duật đánh tan quân Toa Ðô: Toa Ðô chỉ lấy được Nghệ An mà không tiến ra phía ngoài thêm được vì bị Thượng tướng Trần Quang Khải án ngữ vững chắc, nên mới cùng Ô Mã Nhi kéo quân theo đường biển ra Bắc mong bắt tay với Thoát Hoan. Ðược tin, Hưng đạo vương tâu vua cử Chiêu văn vương Trần Nhật Duật và các tướng Trần Quốc Toản, Nguyễn Khoái đem quân ra đón đánh quân Toa Ðô tại bến Hàm Tử (huyện Ðông An, Hưng Yên). Toa
Ðô thua to, phải lùi ra cửa Thiên Trường. Chiêu văn vương Trần Nhật Duật là chú của vua Nhân tông, có biệt tài ngoại giao và nói được nhiều thứ tiếng.
Chiến thắng Chương Dương Ðộ (giữa năm 1285): Vừa được tin tướng Trần Nhật Duật Thắng trận đầu, Hưng đạo vương tâu vua xin lợi dụng khí thế, mở mặt trận tái chiếm kinh thành Thăng Long. Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải xin đánh trận này. Thượng tướng Trần Quang Khải cùng các tướng Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão đưa quân đi đường biển vào tới bến Chương Dương thì ra lệnh tấn công chiến thuyền địch. Quân ta dũng mãnh, địch bị đánh tan. Thừa thắng, quân ta truy kích địch tới chân thành Thăng Long thì đụng đại binh của Thoát Hoan. Bị Thượng tướng Trần Quang Khải dùng phục binh đánh úp, Thoát Hoan bỏ kinh thành chạy qua sông Hồng,chiếm giữ Kinh Bắc (Bắc Ninh). Trần Quang Khải dâng biểu báo tin chiến thắng và vào thành Thăng Long mở tiệc khao quân. Thượng tướng Thái sư Chiêu minh vương Trần Quang Khải cũng là chú của vua Nhân tông.
Chiến thắng Tây Kết - tướng giặc Toa Ðô tử trận: Toa Ðô đóng quân ở Thiên Trường, cách xa Thoát Hoan cả 200 cây số chưa bắt tay đuợc với chủ tướng Thoát Hoan, nên về đóng tại Tây Kết (Khoái Châu, Hưng Yên). Hưng đạo vương tâu với vua sai Thượng tướng Trần Quang Khải và Chiêu văn vương Trần Nhật Duật ngăn cản, không cho hai đạo quân Nguyên Mông liên lạc được với nhau, rồi đích thân Ngài đem quân ra đánh Toa Ðô trước, đánh Thoát Hoan sau. Tới nơi, quân của Ngài tiến công mạnh mẽ, quân địch thua. Toa Ðô và Ô Mã Nhi lên bộ chạy ra bể, nhưng Toa Ðô bị trúng tên bắn chết, còn Ô Mã Nhi lẻn xuống thuyền chạy thoát về Tầu.
Chiến thắng Vạn Kiếp (tháng sáu năm Ất dậu,1285): Thời cơ đã tới giai đoạn quyết định. Hưng đạo vương sai các tướng Nguyễn Khoái, Phạm Ngũ Lão đưa quân mai phục ở rừng sậy bên bờ sông Vạn Kiếp, rồi sai hai con của Ðại vương là Hưng Võ vương Nghiễn và Hưng Hiếu vương Úy chặn đường địch sẽ rút về châu Tư Minh. Ðích thân vương chỉ huy tấn công bản doanh Thoát Hoan ở Bắc Giang.
Bị quân ta giáng cho những đòn sấm sét, quân địch nao núng, Thoát Hoan dẫn đại binh rút chạy, tới bến Vạn Kiếp, quân mai phục của Nguyễn Khoái và Phạm Ngũ Lão đổ ra đánh, tiêu diệt phân nửa số quân địch, tướng địch là Lý Hằng tử trận. Thoát Hoan phải chui vào ống đồng để tránh tên bắn và được các bộ tướng Phàn Tiếp, A Bát Xích, Lí Quán cố sức đánh mở đường thoát thân. Tàn quân của địch chạy về gần châu Tư Minh, bất thần bị phục binh của Hưng Võ vương Nghiễn và Hưng Hiếu vương Úy đổ ra đánh. Tướng giặc Lý Quán tử trận, Thoát Hoan và bọn Phàn Tiếp, A Bát Xích thoát về Tầu được.
Thế là sau nửa năm xâm lược nước ta, 50 vạn quân Nguyên Mông đã bị quân ta quét sạch khỏi bờ cõi. Chiến thắng vệ quốc lẫy lừng ấy là nhờ ta có tình đoàn kết vua tôi một lòng quyết chiến quyết thắng, nhờ vào tài điều binh khiển tướng và lòng trung quân ái quốc cao cả của Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn.
c. Chiến thắng lần thứ ba
Bọn Thoát Hoan chiến bại trở về, khiến Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt nổi giận, ra lệnh chém đầu, nhờ quần thần xin cho mới được tha. Lúc ấy nhà Nguyên đang chuẩn bị xâm lăng nước Nhật, nhưng vì muốn phục hận, nên đã đình chỉ việc đánh Nhật để dốc toàn lực vào việc chuẩn bị trả thù. Lần xâm lăng này, Thoát Hoan lại được cử làm đại nguyên soái, có bọn A Bát Xích, Áo Lỗ Xích, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, v. v., làm phụ tá. Mùa Xuân năm 1287, Thoát Hoan kéo 30 vạn quân tái xâm lăng nước ta, viện cớ đưa tên phản bội Trần Ích Tắc về làm An Nam quốc vương.
Bên ta, nhà vua lại cử Hưng đạo vương thống lãnh toàn quân chống giặc. Vương bố trí các tướng trấn đóng các yếu điểm và chỉ thị các tướng áp dụng chiến thuật: khi địch mạnh thì tạm lui để bảo tồn lực lượng, đợi khi thời cơ tới thì xua quân tốc chiến tốc thắng.
Quân Nguyên Mông tiến vào nước ta theo hai ngả: Thoát Hoan theo đường bộ, Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp theo đường thủy. Ban đầu thế giặc quá mạnh, quân ta chấp hành lệnh tạm lui. Vua Nhân tông và thượng hoàng Thánh tông rời về Thanh Hoá, tuy nhiên lần này địch chỉ tiến được tới Vạn Kiếp, Chí Linh và Phả Lại chứ chưa đặt được chân vào kinh thành Thăng Long.
Chiến thắng Vân Ðồn: Thoát Hoan đóng ở Vạn Kiếp sắp cạn lương, sai Ô Mã Nhi đem quân ra cửa Ðại Bàng (Hải Dương) để áp tải đoàn thuyền chở lương do tướng giặc Trương Văn Hổ chỉ huy. Trên đường ra cửa bể, Ô Mã Nhi đã đánh thắng quân chặn đường của ta do Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư chỉ huy tại ải Vân Ðồn (Quảng Yên). Nghĩ rằng đường vận lương đã được khai thông, nên Ô Mã Nhi trở về trước. Không ngờ Trần Khánh Dư, vì quyết chí phục hận, nên đã nhanh chóng bổ sung lực lượng và phục binh chờ đoàn thuyền của Trương Văn Hổ. Quả nhiên, đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ đã trúng phục binh của Trần Khánh Dư và bị đánh cướp hết cả. Trương Văn Hổ chạy thoát về Quỳnh Châu.
Chiến thắng Bạch Ðằng Giang: Tháng 3, 1288, vì mất hết lương thực trong trận Vân Ðồn, địch cạn lương, lại thêm khí hậu khắc nghiệt, nhất là vì thấy thế của quân ta đã vững vàng khó phá nổi, nên Thoát Hoan quyết định lui binh. Thoát Hoan lệnh cho Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp rút về theo đường biển, Thoát Hoan sẽ rút theo đường bộ. Hưng đạo vương biết được kế hoạch lui binh của địch, nên đã sai tướng Phạm Ngũ Lão dẫn quân lên Lạng Sơn mai phục sẵn, rồi sai tướng Nguyễn Khoái bí mật cho quân đóng cọc nhọn bịt sắt khắp lòng sông Bạch Ðằng. Khi nước thuỷ triều lên, giả đò ra khiêu chiến và thua chạy, dụ cho địch vượt qua khá xa vùng đóng cọc. Khi nước rút thì lập tức đốc quân phản công đẩy chiến thuyền địch lui vào vùng cọc nhọn. Mọi diễn tiến đã xẩy ra đúng kế hoạch của Ðại vương. Ðúng vào lúc Nguyễn Khoái dồn được chiến thuyền địch vào vùng tử địa thì đại quân của Hưng đạo đại vương cũng kịp thời kéo tới tiến công như vũ bão. Nhiều chiến thuyền địch vướng cọc nhọn bị chìm. Quân Nam lợi dụng thời cơ, đã tiêu diệt gọn địch quân. Các tướng địch Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp bị bắt. Hưng đạo vương toàn thắng.
Thoát Hoan được tin thất trận Bạch Ðằng, liền kéo quân rút chạy. Về tới ải Nội Bàng bị phục binh của Phạm Ngũ Lão đổ ra đánh, tướng giặc Trương Quân bị Phạm Ngũ Lão chém chết. Quân Nam tiếp tục truy kích, thêm hai tướng giặc là A Bát Xích và Trương Ngọc bị tử trận. Riêng Thoát Hoan được tùy tướng Trình Bằng Phi hết lòng phò nguy, mới chạy thoát được về Tầu.
Thế là sau ba lần xâm lăng nước ta, đạo quân Nguyên Mông hùng mạnh nhất thế kỷ 13 đã chuốc lấy thảm bại và chịu từ bỏ hẳn mộng xâm lăng nước ta. Những chiến công hiển hách ấy là thuộc về các vua, quan và dân nước ta đời nhà Trần, song sáng chói nhất là vị thống soái Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn. Chiến thắng của nước ta chẳng những đã bảo vệ được bờ cõi giang sơn nước nhà mà còn giúp làm tiêu tan tham vọng của Hốt Tất Liệt muốn xâm lăng nước Nhật cho bằng được.
Nhìn rộng hơn, chiến thắng của nước ta, của Hưng Đạo Đại Vương, cũng làm suy yếu dần dần thế lực của Nguyên Mông trên phạm vi toàn thế giới và ngay tại Trung Hoa đang bị người Mông Cổ cai trị.
3. Hưng Đạo Vương đặt nợ nước lên trên thù nhà
Chúng ta đã thấy Hưng đạo vương nổi bật với tài ba của một vị tướng kiệt xuất. Nhưng không phải chỉ có thế. Ngài còn lưu tiếng thơm muôn đời sau vì đã nêu gương trung trinh ái quốc, biết đặt nợ nước lên trên thù nhà.
Thời nhà Lý suy vi, vua Lý Huệ Tông (1211-1225) ươn hèn,vô trách nhiệm. Vua sinh hai công chúa: Thuận Thiên và Chiêu Thánh. Năm 1224, Huệ Tông truyền ngôi cho Chiêu Thánh công chúa, tức Lý Chiêu Hoàng mới lên 8 tuổi, rồi vua cha lên tu ở chùa Chân Giáo. Chiêu hoàng là vua nữ duy nhất trong lịch sử nước ta. Trong tình hình ấy, quan Thái sư Trần Thủ Ðộ nhận định vận nước nguy nan, chỉ có nhà Trần ra tay mới cứu được. Cho nên Trần Thủ Ðộ đã dàn dựng cuộc hôn nhân vương giả Lý Chiêu Hoàng lấy cháu của ông là Trần Cảnh, rồi lại thu xếp Lý Chiêu Hoàng truyền ngôi cho chồng, tức là vua Trần Thái Tông.
Lấy nhau lâu, hoàng hậu Chiêu Thánh đã 19 tuổi vẫn chưa sinh con nối dõi. Ðó là một mối nguy cho triều đại mới. Trần Thủ Ðộ liền ra tay một lần nữa, bắt Thuận Thiên (chị ruột của Chiêu Thánh) là vợ của Trần Liễu (anh ruột của Trần Cảnh, tức vua Thái Tông) đang có bầu gả cho Trần Cảnh; bắt vua phế Chiêu Thánh hoàng hậu xuống làm công chúa, nâng Thuận Thiên lên chức hoàng hậu.
Bị mất vợ, Trần Liễu tức giận, làm loạn. Vua Thái Tông cũng buồn lòng, bỏ lên chùa Phù Vân trên núi Yên Tử (Quảng Ninh). Trần Thủ Ðộ dẫn quần thần lên chùa đón vua. Vua nói dỗi: "Trẫm còn nhỏ dại, không kham nổi việc to lớn, các quan nên chọn người khác để cho khỏi nhục xã tắc". Nài mãi không được, Trần Thủ Ðộ bảo các quan: "Hoàng thượng ở đâu, tức triều đình ở đấy".
Nói xong, Thủ Ðộ truyền xây cung điện tại chùa Phù Vân. Nhà sư trụ trì vội van lậy vua hồi triều. Vua Thái Tông bất đắc dĩ phải nghe theo. Ðược ít lâu, Trần Liễu nhắm không thành công, đang đêm cải trang, lẻn lên thuyền vua, xin hàng. Hai anh em ôm nhau khóc. Trần Thủ Ðộ biết chuyện, tuốt gươm toan chém Trần Liễu. Vua Thái Tông lấy thân mình che cho anh và xin chú tha cho Trần Liễu. Vua còn cắt đất An Sinh cấp cho anh và phong cho ông là An Sinh vương.
An Sinh vương Trần Liễu chính là cha của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Còn vua Thái Tông (tức Trần Cảnh) lại là cha của vua Thánh Tông và các ông Chiêu minh vương Trần Quang Khải, Chiêu quốc vương Trần Ích Tắc (tức kẻ phản bội, đầu hàng quân Mông Cổ), và Chiêu văn vương Trần Nhật Duật.
Trần Liễu được tha tội làm loạn, được cấp đất và phong vương, nhưng không thể quên được mối thù hận mất vợ, cho nên đã răn dậy Trần Quốc Tuấn phải chăm chỉ học tập, văn ôn võ luyện kiêm toàn , để sau này có dịp rửa mối nhục cho ông. Trần Liễu trăn trối: "Sau này, nếu con không vì ta mà đoạt thiên hạ thì ta nằm dưới lòng đất sẽ không nhắm mắt được".
Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn nhớ lời cha trăn trối, nhưng Ngài không bao giờ thực hiện, bởi vì Ngài biết đặt nợ nước lên trên thù nhà. Trước cường địch, Ngài biết chủ động giải mối thù hận giữa hai gia đình để cùng nhau chung sức cứu nguy đất nước.
Chuyện kể một lần Quốc Tuấn mời Thái sư Trần Quang Khải lên thuyền mình trò truyện, đánh cờ và sai nấu nước thơm để đích tay lau rửa cho Trần Quang Khải. Làm thế để muốn vĩnh viễn xoá bỏ hận thù giữa hai gia đình Trần Liễu và Trần Cảnh.
Chuyện khác kể, có lần Ngài đem chuyện thù oán giữa hai gia đình ra hỏi dò các con. Một người con tên Trần Quốc Tảng khích Ngài nên cướp ngôi, vương nổi giận, toan chém. Các con và bọn tâm phúc van xin vương mới tha cho Tảng, nhưng nghiêm khắc mắng :"Từ nay cho tới khi nhắm mắt, ta sẽ không nhìn mặt thằng nghịch tử, phản thần này nữa".
Ðối với vua, với nước thì như thế, còn với những kẻ lầm đường lạc lối thì sao? Sau chiến tranh vệ quốc toàn thắng, triều đình dâng sớ tâu vua về những kẻ phản nghịch, đầu hàng giặc. Vua hỏi ý Ngài về cách xử trị Vương đã xin đốt bỏ hồ sơ để xoá hết hận thù, tránh cho kẻ lầm đường phải mang mặc cảm tội lỗi, hoặc là vì bị cùng đường sẽ sinh loạn. Ðó là tấm lòng khoan dung, đại lượng của bậc anh hùng.
Tóm lại, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là vị anh hùng dân tộc kiệt xuất văn võ song toàn, tài đức siêu quần bạt chúng. Toàn dân Việt Nam muôn đời nhớ ơn Ngài, noi gương Ngài. Chẳng những thế, dân còn tôn Ngài lên bậc hiển thánh và thờ phụng Ngài tại Ðền Ðức Thánh Trần ở Kiếp Bạc (Bắc Việt), tại Ðền Ðức Thánh Trần đường Hiền Vương, Sài Gòn,v.v..
Hai tháng trước khi Ngài qua đời, vua Trần Anh Tông đến thăm và hỏi Ngài:"Thượng phụ một mai khuất núi, nếu giặc phương Bắc lại sang xâm lấn thì kế sách làm sao?"
Ðại vương tâu vua nhiều điều tâm huyết, xin trích một ý:"Thời bình phải khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc, bền rể. Ðó là thượng sách giữ nước". Vua Thánh Tông đã tưởng thưởng sự nghiệp vĩ đại của Ngài bằng cách vua đích thân làm bài văn kể hết công lao của Ngài, cho khắc vào bia đặt vào đền sinh từ để thờ sống Ngài.
Ngày 20 tháng 8 năm Canh Tí (1300), vừa nghe tin Ngài qua đời, vua Trần Anh Tông khóc to lên:" Thượng phụ là trụ thạch của nước nhà, mặc áo giáp, cầm mũi nhọn, quét sạch bụi Hồ, lấy lại thần kinh, vỗ yên muôn họ, nay bỏ trẫm mà đi, tìm đâu được người lo cho dân, yêu nước như Thượng phụ".
Sau đó thượng hoàng Trần Nhân Tông và vua Anh Tông truyền chỉ các quan mặc áo đại tang, vua đi xe mộc, ngựa trắng, thân hành tới tận nơi chủ trì tang lễ. Theo lời di chúc, thi hài Ngài được hỏa táng, chôn trong vườn, đất san bằng và trồng cây lên như cũ, không xây lăng mộ. Vua phong cho Ngài là Thượng Quốc Công Bình Bắc Ðại Nguyên Súy Long Công Thịnh Ðức Vĩ Liệt Hồng Huân Nhân Vũ Hưng Ðạo Ðại Vương, cho lập đền thờ ở Thiên Trường và Vạn Kiếp.
Mặc dù còn hận chiến bại, nhưng sử sách nhà Nguyên vẫn tỏ ra kính trọng Ngài bằng cách không dùng tên húy của Ngài mà gọi là Hưng Đạo Vương. Trong giới dân giả người Trung Hoa vẫn thường doạ con nít:"Hình tầu tài voòng" (Hưng đạo đại vương). Có nơi còn viết 4 chữ đại tự này dán lên đầu giường để trấn áp ma quỷ!
4. Ðệ nhất danh tướng thời trung cổ
Nói chung, trước đây thế giới coi nước ta chỉ là một nước "nhược tiểu" so với những nước vùng Ðông Á như Nhật và Trung Hoa. Nhiều "sử gia" Âu Mỹ thường viết rất thiên lệch và thiếu sót về Việt Nam. Xin lấy ngay một thí dụ trong cuốn Viet Nam của tác giả David K. Wright, xuất bản ở Chicago, năm 1989. Khi viết cuốn này, tác giả đề ở trang đầu là đã tham vấn với hai giáo sư tiến sĩ Clark D. Neher,Ph.D. và Robert L. Hillerich, Ph.D.. Vậy mà ở chương nói về các danh nhân của nước ta xưa nay, tác giả đã lần lượt nêu tên: Hồ Chí Minh, Lê Lợi, Hai Bà Trưng, Nguyễn Cao Kỳ, Võ Nguyên Giáp! Như thế đó và chỉ có bấy nhiêu thôi! Thật đáng mắc cở cho một người đã mất công viết cả một cuốn sách!
Riêng về những cuộc xâm lăng nước ta của quân Mông Cổ do chính Hốt Tất Liệt (Kublai) ra lệnh thì các sách Âu Mỹ không nói tới, nếu có nói cũng chỉ nói sơ sài và bao giờ cũng ngưng lại ở chỗ quân Mông Cổ tiến vào nước ta cách dễ dàng, không thấy tường thuật là họ ở lại được bao lâu và tại sao họ lại rút về, rút về có "ôm đầu máu" không, hay là ra về được bình an thơ thới !
Lấy thí dụ trong cuốn Area Handbook For Mongolia của 13 đồng tác giả viết làm tài liệu cho các Ðại học Mỹ, do Hội Ðánh Giá và Nghiên Cứu Sử thực hiện (Historical Evaluation and Research Organization), ấn bản đầu ra năm 1970.
Sách này viết:"In 1252 and 1253 Kublai conquered Yunnan&..Tonking was then invaded and pacified, the conquest ending with the fall of Hanoi in 1257".
Sự thật thì khi chinh phục xong Vân Nam, đúng là Hốt Tất Liệt đã sai tướng Ngột Lương Hợp Thai (Wouleangotai) sang đánh nước ta và có hạ được thành Thăng Long vào năm 1257. Nhưng cuộc chinh phục không chấm dứt ở việc "ổn định"(pacified) gì cả, trái lại, chỉ sau một thời gian ngắn, đoàn quân xâm lăng của Ngột Lương Hợp Thai đã bị quân ta đánh bại tại Ðông Bộ Ðầu và phải rút chạy về Vân Nam. Các "sử gia" người Mỹ không biết gì về cuộc tháo chạy "té khói" ấy và đọc tiếp cũng không thấy nói chi đến hai cuộc xâm lăng nước ta tiếp theo vào các năm 1284 và 1287. Trong hai lần xâm lược sau, khi tháo chạy về Tầu, nhiều danh tướng của đoàn quân Nguyên Mông đã phải bỏ xác tại trận như đã tường thuật trên đây.
Thân phận "nhược tiểu" thường chịu nhiều thiệt thòi. Chuyện tầm vóc quốc gia mà còn như thế, huống chi là chuyện của những cá nhân, dù cá nhân có là bậc anh hùng hào kiệt như Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Thế nhưng mới đây, may mắn sao, bên Anh Quốc, lần đầu tiên, những cuộc chiến thắng quân xâm lược Mông Cổ của dân nước ta đã được biết đến và danh tiếng lẫy lừng của vị chỉ huy thống soái Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã được công nhận. Theo tác giả Trọng Minh trong cuốn Vẻ Vang Dân Việt, tuyển tập 3, thì ông đã căn cứ vào tài liệu của Viện Khoa Học Hoàng Gia Anh để tường thuật về sự việc này như sau:
"Tháng 2 năm 1984, Hội Hoàng Gia Anh, tức viện Khoa Học Hoàng Gia (Royal Society) đã triệu tập một phiên họp, gồm 478 nhà khoa học về lịch sử quân sự của các nước, phần đông cũng là các nhà quân sự có vai vế của thế kỷ, để bầu ra 10 vị tướng soái kiệt xuất nhất trong lịch sử nhân loại, qua các thời đại: thượng cổ, trung cổ, cận và hiện đại. Mục đích là để chuẩn bị cho việc xuất bản cuốn Bách Khoa Toàn Thư nước Anh.
Sau khi liệt kê 98 thống soái tài ba nhất của các nước trên thế giới, phiên họp đã bầu ra 10 tướng soái cho cả 4 thời đại. Thời thượng cổ 3 vị; cận đại 4 vị; và hiện đại 2 vị, trong số này có nhiều vị chỉ được 70% số phiếu. Riêng thời trung cổ, Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn là vị tướng soái duy nhất được chọn với tuyệt đại đa số phiếu 100%. Ðiểm đáng chú ý là trong số phiếu còn ghi rõ Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn là người đã đánh thắng kẻ thù mạnh nhất thế giới là quân Nguyên Mông" (Sd. trang 26). Mặc dù chúng tôi chưa có trong tay tài liệu mà tác giả Trọng Minh đã thủ đắc, song chúng tôi cho sự việc này là đáng tin. Bởi vì nếu mở bộ Bách Khoa Toàn Thư nước Anh năm 1991 (The New Encyclopaedia Britannica, volume 11, 15th edition, trang 892 và 893), ta thấy đã nói tới 35 dòng về Nhà Trần ở nước ta, trong đó công nhận 3 lần Nhà Trần đánh đuổi quân xâm lược Mông Cổ, và dành riêng 31 hàng để nói về Trần Hưng Ðạo, đã mô tả Ngài là một chiến lược gia sáng chói, ba lần đánh bại những đoàn quân của Hốt Tất Liệt (a brilliant military strategist who defeated Kublai Khan's Mongol hordes).
Chúng tôi còn tin là từ việc làm tốt đẹp của Viện Khoa Học Hoàng Gia Anh nêu trên, đã gây ảnh hưởng trong một số cuốn sách xuất bản những năm gần đây ở Hoa Kỳ. Chẳng hạn như trong cuốn Viet Nam Rebuilding A Nation của Sherry Garland, Dillon Press, Inc. xuất bản tại Chicago năm 1990, đã viết như sau :"The Mongol emperor Kublai Khan attacked Dai Viet. Khan's great army outnumbered the Vietnamese more than two to one, but the VN general was a master of guerrilla warfarẹ VN became one of the few countries in the world to drive off the famous Mongol invaders." Sd. trang 37. (Hoàng đế Mông Cổ Hốt Tất Liệt Ðại Hãn đã tấn công Ðại Việt. Ðại binh của Ðại Hãn đông gấp đôi quân nước Việt, nhưng vị thống soái VN là bậc thầy về chiến tranh du kích. Vì thế, VN trở thành một trong ít nước trên thế giới đã đánh đuổi được quân xâm lược Mông Cổ).
Và trong cuốn Vietnam của Karen Wills, do Lucent Books xuất bản tại San Diego năm 2000, đã viết: "Three hundred thousand Mongols proved no match for the guerrilla battle tactics of the Vietnamese" . Sd. trang 30. (Ba trăm ngàn quân Mông Cổ đã không thắng nổi thuật du kích chiến của người Việt".
Như thế, ngày nay, một số tác giả Âu Mỹ đã bắt đầu nói đúng, mặc dù vẫn chưa nói đủ, chưa nói hết sự thật như tính khách quan của môn sử đòi hỏi. Nhưng ít ra có vẫn hơn không. Chúng ta hoàn toàn có hi vọng, một mai khi đất nước thoát khỏi đại họa mafia Cộng Sản, và tiến lên thành một đất nước hùng cường thịnh vượng thì thế giới sẽ phải nói về lịch sử nước ta một cách công bằng như đang nói về nước Nhật, nước Tầu, và chắc chắn lịch sử sẽ ghi nhận Việt Nam nước ta đời nhà Trần, thế kỷ thứ 13, đã 3 lần đánh thắng đạo quân Mông Cổ hung hãn nhất thời Trung cổ. Ðó là một nhân tố hết sức quan trọng làm cho hùng khí ngất trời của đạo quân Mông Cổ bắt đầu suy tàn dần. Có thể nói Việt Nam ta thời đó đã đóng góp đáng kể vào nền hoà bình của thế giới, mà vị thống soái kiệt xuất của đạo quân vệ quốc anh hùng ấy chính là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn vậy.
Trần Vinh
Tài Liệu Tham khảo:
-Will Durand,Nguyễn Hiến Lê dịch: Văn Minh Ả Rập. Xuân Thu xuất bản.
-Trần Trọng Kim: Việt Nam Sử Lược. Văn Hóa Thông Tin xuất bản,1999.
-Ðào Duy Anh: Trung Hoa Sử Cương. Xuân Thu xuất bản.
-Nguyễn Ðăng Thục: Quốc Học Việt Nam.Kinh Thi xuất bản.
-Trọng Minh: Vẻ Vang Dân Việt, tuyển tập 3.
-Trevor N. Dupuy, Wendell Blanchard và 11 đồng tác giả: Area Handbook for Mongoliạ 1970.
-Hungary. Nelles. Second Revised Edition, 1995.
-R. Worden and Andrea Savada: Mongolia, A Country Studỵ 1989.
-Ronald Dolan and Robert Worden: Japan, A Country Studỵ 1990.
-Anne Commire and Deborah Klermer: Historic World Leaders,Ð Gale Research, Inc., 1994.
-John Larner: Marco Polo and Discovery Of The World.Yale Univ. Press. New Haven and London, 1999.
TruSiNang
06-07-2003, 09:21 PM
Kinh Nghiệm Của Một Vị Tướng
Lời thề bên giòng sông Hóa: “ Trận này nếu không phá xong giặc Nguyên thì thề sẽ không về đến sông này nữa”.
Vị tướng này đã giúp dân tộc Việt đoàn kết lại để đánh đuổi giặc nguyên ba lần trong thế kỷ thứ 13.
Không giống như người Hoa ở phương bắc, khi họ muốn chặn quân xâm lăng, họ xây Vạn Lý Trường Thành. Dân tộc Việt đã dùng kinh nghiệm 5000 năm để hiểu rằng lòng dân và tình đoàn kết là bức trường thành vững bền nhất. Bởi thế đời Hùng Vương dài lâu nhưng không xây thành quách mà giữ được cho dân an lành hạnh phúc. Khi thành Cổ Loa và cung nỏ thần được thành hình thì dân tộc Việt đã mất nước cho người Bắc phương cả ngàn năm . Sau này những triều đại nào xây thành cao hào sâu như Hồ Quý Ly, như Nhà Nguyễn xây lăng tẩm mà không lo an dân thịnh nước đều đi đến kết quả làm mất nước.
Khi nói đến Trường Thành thì người Việt Nam có thể liên tưởng đến một nhân vật lịch sử quan trọng. Ngài đã được ví như một trường thành đã che chở cho dân Việt thoát ra khỏi ách xâm lăng của đoàn quân Hung Nô bạo ác. Sau đó đất nước được thịnh vượng cả hai trăm năm . Và sau này khi ảnh hưởng của ngài yếu dần thì sức chiến đấu của dân Việt cứ yếu dần. Những lần mất nước sau này dân Việt phải tốn nhiều tâm huyết mới dành lại độc lập. Ðể đánh đuổi quân Minh dân ta phải mất hai mươi năm . Ðể đánh đuổi quân Pháp dân ta phải mất cả trăm năm . Còn chính trị trong nước thì Vua không đủ uy quyền nên chỉ làm bù nhìn, hết nhà Lê làm bù nhìn cho Trịnh Mạc, lại đến nhà nguyễn làm bù nhìn cho Tây . Trong nước thì anh em chia phe đánh nhaụ Suốt từ thời Nội chiến Trịnh Nguyễn Phân tranh đến thời Quốc Cộng Chia Rẽ dân Việt đã phải chịu loạn lạc 400 trăm năm . Mỗi lần một phe chiến thắng là phe thua phải chịu biết bao cảnh lạm sát tù đầy .
Dân chúng cứ mãi lầm than . Cảnh vợ chồng cứ mãi ly biệt. Trai lớn lên không còn tình nguyện đứng lên chiến đấu vì lý tưởng chống giặc. Vợ mất chồng. Con mất cha . Anh em chia phe tiêu diệt nhau . Gia đình tan nát. làng mạc vỡ nát. Dân chúng mất nhà mất ruộng. Nghèo khó luôn vậy quanh . Trai giang hồ gái gió sương . Tất cả thảm cảnh này xảy đến cũng vì dân Việt đã làm mất Trường Thành của mình .
Thơ Khóc Hưng Ðạo Vương
Trường Lạc chung thanh hưởng nhất trùy
Thu phong tiêu tán bất thăng bi
Cửu trùng minh giám kim dĩ hĩ
Vạn lý trường thành thục hoại chi
Vũ ám trường giang không lệ huyết
Vân đê phức đạo tỏa sầu mi
Ngưỡng quan khuê tảo tứ phi dật
Ngư thủy tình thâm kiến vịnh thi
(Phạm Ngũ Lão)
Dịch thơ:
Trên cung Trường Lạc tiếng chuông hồi
Hiu hắt mây thu luống ngậm ngùi
Gương sáng chín lần đà vắng hẳn
Thành dài muôn dặm bỗng đâu rồi
Lệ sa mưa máu sông xuôi chẩy
Mây nhíu mày sầu lối đứng coi
Thơ ngư rành rành ghi chuyện thực
Tình sâu cá nước đúng như lời .
(Thi Nham)
Kinh nghiệm giữ nước an dân của Ngài đã được lưu lại trong dân chúng bằng hai Kinh Thư: Binh Thư Yếu Lược và Vạn Kiếp Bí Truyền (được gọi chung là Hưng Ðạo Binh Pháp)
Trong Danh Tướng Trần Hưng Ðạo có kể rằng:
Khi Hưng Ðạo Vương trở bệnh nặng ...
Vua Anh Tông rầu rầu hỏi:
- Nếu sau này, Quốc công không cưỡng được số trời, mà giặc phương Bắc lại xâm lấn, thì kế sách phải ra sao ?
Hưng Ðạo Vương nhìn ra ngoài núi rừng Vạn Kiếp đương trút lá vàng la lả bay theo ngọn heo may . Ông ngẫm nghĩ giây lát, rồi chậm rãi nói hết những điều mà ông đã nghiền ngẫm gần ba chục năm, đúc kết qua ba cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của vua tôi và quân dân cả nước:
-Tâu bệ hạ, đại lược có mấy điều là: đợi thời, tạo thế, dùng người hiền, đãi kẻ sĩ, anh em hòa mục, vua tôi nhất trí, dân chúng đồng lòng ...
Vua lại hỏi:
- Còn chiến thuật, chiến lược phải thế nào ?
- Dùng tướng giỏi, tinh binh pháp, chăm luyện quân, nuôi chí bền khi yên, kiên quyết linh hoạt, biến báo khi có giặc, thực hiện triệt để kế “thanh dã”, lấy cái sở trường của mình thắng cái sở đoản của địch .
Cuối cùng ông gom lại một phương châm cơ bản:
- Khoan sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách để giữ nước .
Danh Tướng Trần Hưng Ðạo
Hoàng Công Khanh
allena
06-08-2003, 03:42 AM
Ta thường nghe chuyện Kỷ Tín liều thân chiọu chết thay cho vua Cao Đế , Do Vu lấy thân mình đỡ ngọn giáo cho vua Chiêu Vương , nuốt than để báo thù cho chủ , Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước . Kính Đức là một chức quan nhỏ mà liều thân cứu vua THái Tông thoát khỏi vòng vây . Kiểu Khanh là một bầy tôi ở xa mà kể tội mắng thằng Lộc Sơn là nghịch tặc . Các bậc trung thần nghĩa sỹ ngày xưa bỏ mình vì nước , đời nào không có ? Giả sử mấy người ấy cũng bo bo theo lối thường tình , chết già ở xó nhà , thì sao cho lưu danh sử sách đến nghìn muôn đời như thế được ?
Nay các ngưoi vốn dòng vũ tướng ,không hiểu văn nghĩa ,nghe những chuyện cổ tích ấy ,nửa tin nửa ngờ , ta không nói làm gì nửa , ta hãy đem chuyện đời Tống , Nguyên mới rồi mà nói :Vương Công Kiên là người thế nào ? Tý tướng của Vương công Kiên là Nguyễn văn Lập lại là người như thế nào ? mà giữ một thành Điếu ngư nhỏ mọn chống với quân Mông kha , kể hàng trăm vạn , khiến cho dân sự nhà Tồng đến nay còn đội ơn sâu . Đường ngột Ngại là ngưòi thế nào ?Tỳ tưóng của Đường ngột Ngại là Xích Tu Tư lại là ngưòi như thế nào ?.mà xông vào chổ lam chướng xa xôi , đánh được quân Nam Chiếu trong vài ba tuần , khiến cho quân Trướng đời Nguyên đến nay còn lưu tiếng tốt . Huống chi ta cùng các ngươi sinh vào thời nhiễu nhương, gặp phải buổi gian nan nầy , trông thấy những nguỵ sừ đi lại rầm rầm ngoài đường , ,uốn lưỡi cú diều mà sỹ mắng triều đình , đem thân dê chó mà bắt nạt tổ phụ , lại cậy thế Hốt tất Liệt mà đòi vàng lụa , ỷ thế Vân nam Vương để vát bạc vàng . Của kho có hạn , lòng tham không cùng , khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói , giữ sao cho khỏi tai vạ về sau !
Ta đây , ngày thì quên ăn , đêm thì quên ngủ ,ruột đau như cắt , nước mắt đầm đìa ,chỉ căm tức rằng chưa được sả thịt lột da của quân giặc , dãu thân nầy phơi ngoài nội cỏ , xác nầy gói trong da ngựa thì cũng đành lòng . Các ngưoi ở cùng ta coi giữ binh quyền cũng đã lâu ngày , không có áo thì ta cho áo , không có ăn thì ta cho ăn , quan còn nhỏ thì ta thăng thưởng , lương có ít thì ta tăng cấp , đi thuỷ thì ta cho thuyền , đi bộ thì ta cho ngựa .lúc hoạn nạn thì cùng nhau sống chết ,lúc nhàn hạ thì cùng nhau vui cười .những cách cư xử so với Vưong công Kiển , Đu7òng ngột Ngạt ngày xưa cũng không kém gì .
Nay các ngươi thấy chủ nhục mà không biết lo, trông thấy quốc sỹ mà không biết thẹn , thân làm tướng phải hầu giặc mà không biết tức , tai nghe nhạc để hiến nguỵ sứ mà không biết căm . hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa , hoặc lấy việc đánh bâc làm tiêu khiển , hoặc vui thú về vườn ruộng , hoặc quyến luyến về vợ con , hơạc nghĩ về lợi riêng mà quên việc nước , hoặc ham về săn bắn mà quên việc binh , hoặc thích rưuọ ngon , hoặc mê tiếng hát . Nếu có giặc đến thì cựa gà trống sao cho đâm thủng được áo giáp , mẹo cờ bạc sao cho dùng nổi được quân mưu , dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều , thân ấy ngìn vàng khôn chuộc , vả alị vợ bìu con đíu , nước nầy trăm sự nghĩ sao , tiền của đâu mà mua cho được đầu giặc , chó săn ấy thì địch sao nổi quân thù , chén rượu ngon không làm được cho giặc say chết , tiếng hát hay không làm đuợc cho giặc điếc tai. khi bấy giờ chẵng những là thái ấp của ta không còn , mà bổng lộc của các ngươi cũng hết , chẳng những là gia quyến của ta bị đuổi , mà vợ con của các ngươi cũng nguy, chẳng những là ta chĩu nhục bây giờ , mà trăm năm về sau tiếng xấu hãy còn mãi mãi , mà gia thanh của các ngươi cũng chẳng khỏi mang tiếng nhục , đến lúc bấy giờ , dẫu các ngu7oi muốn vui vẽ , phỏng có được hay không ?
Nay ta bảo thật các ngươi : Nên cẩn thận như nơi củi lửa , nên giữ gìn như kẻ húp canh ,dạy bảo quân sỹ , luyện tập cung tên, khiến cho ngưòi nào cũng có sức khoẻ như Bàng Mông và Hậu Nghệ , thì mới có thể dẹp tan đưọc quân giặc mà lập nên được công danh . Chẳng những là thái ấp của ta được vững bền , mà các ngươi cũng đều được hưỡng bổng lộc , chẳng những là gia quyến của ta được yên ổn , mà các ngưoi cũng đều được vui với vợ con, chẳng những là tiên nhân ta được vẽ vang , mà các ngươi cũng được phụng thờ tổ phụ , trăm năm vinh hiển , chẳng những là một mình ta được sung sướng , mà các ngưoi cũng được lưu truyền sừ sách , nghìn đời thơm tho , đến bấy giờ các ngươi dầu không vui vẽ cũng tự khắc được vui vẽ .
Nay ta soạn hết các binh pháp của các nhà danh gia hợp lại thành một quyển gọi là " BINH THƯ YẾU LƯỢC " nếu các ngưoi biết chuyên tập sách nầy ,theo lờ dạy bảo, thì mới phải đạo thần tử , nhưọc bằng khinh bỏ sách nầy , trái lời dạy bảo thì tức là kẻ nghịch thù
Bởi cớ sao ? Bởi giặc Nguyên cùng ta , là kẻ thù không đội trời chung , thế mà các ngươi cứ điềm nhiên không nghĩ đến việc báo thù , lại không biết dạy quân sỹ , khác nào như quay ngọn giáo mà đi theo kẻ thù, giơ tay không mà chịu thua quân giặc , khiến cho sau trận Bình Lỗ mà ta phải chịu tiếng xấu muôn đời , thì còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nửa . Vậy nên ta phải làm ra bài hích nầy để các ngưoi biết bụng ta .
Trần Hưng Đạo.
Hoài Nam
06-08-2003, 04:19 PM
Đất Vạn Kiếp uy linh một thủa
Hưng Đạo Vương lừng lẫy ngàn thu
Ba phen đại phá giặc thù
Phò vua giúp nước cõi bờ yên vui
Chiến thắng quân Nguyên lần thứ hai
Quân Nguyên bạo ngược
Nhòm ngó phương Nam
Nay đòi cống người
Mai sang sách nhiễu
Sứ Sài Thung hống hách luống căm gan
Trần Di Ái nghịch thần thêm ngứa mắt
Năm Giáp Thân tháng Chạp
Giặc xâm lăng hai đạo tràn sang
Thoát Hoan, đại quân xuyên ải Bắc
Toa Đô, thủy lộ bọc Nghệ An
Năm mươi vạn quân cướp hung tàn
Cốt giày xéo non sông đất Việt
Hưng Đạo Vương đóng quân Vạn Kiếp
Trần Khánh Dư giữ mặt Vân Đồn
Trần Bình Trọng cố thủ Bình Than
Quân thủy bộ vừa hai mươi vạn
Thế giặc tựa chẻ tre
Đoàn kỵ mã hung hăng chém giết
Quân biên ải lui về Vạn Kiếp
Mất kinh thành vua chạy vào Thanh
"Thế giặc to như vậy
Hay trẫm hàng để cứu muôn dân?"
Ngài dâng lời quyết liệt
"Bệ hạ muốn hàng
Hãy chém đầu thần trước đã"
Câu khẳng khái nung lòng tướng sĩ
Lời hịch truyền khích động muôn binh
Hàm Tử Quan
Trần Nhật Duật đại thắng Toa Đô
Chương Dương Độ
Trần Quang Khải đánh tan giặc dữ
Thăng Long thành cờ bay phất phới
Quân Nam vào nô nức lòng dân
Thoát Hoan rút quân
Qua sông Hồng hạ trại
Toa Đô đóng Tây Kết
Thế ỷ giốc liên hoàn
Trận Tây Kết
Năm Ất Dậu tháng năm
Lòng quân phấn chấn
Hưng Đạo Vương thừa cơ quyết thắng
Tự đem quân vây đánh Toa Đô
Dụng mưu thần binh phục nằm chờ
Đạo tiền quân kéo như gió lốc
Hai gọng kìm đánh thốc hai bên
Tả hữu giáp công
Thây phơi máu chẩy đầy đồng
Chốn loạn quân Toa Đô chết chém
Ô Mã Nhi cướp thuyền ra bể
Sợ cúp tai chạy thoát về Tầu
Trận Vạn Kiếp
Đất thảm trời sầu
Xác giặc chết chất chồng như núi
Lý Hằng tử trận
Lý Quán phải tên
A Bát Xích, Phàn Tiếp sợ xanh máu mặt
Bến sông Sách phục binh tên bắn như mưa
Thoát Hoan chui ống đồng mới mong thoát chết
Trong sáu tháng
Ngài phá tan năm mươi vạn quân giặc
Lừng danh đại tướng
Thất bại không nao
Bền gan sắt đá
Mưu lược như thần
Võ văn đầy đủ
Lời cương nghị như dao chém sắt
Hịch quan quân rung chuyển non sông
Chiến thắng quân Nguyên lần thứ ba
Năm Đinh Hợi tháng hai
Thoát Hoan căm thù
Quyết sang rửa hận
Ba mươi vạn quân
Năm trăm thuyền chiến
Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp thống lãnh thủy binh
Áo Lỗ Xích, Trịnh Bằng Phi chỉ huy quân bộ
Trương Văn Hổ tải lương
Thoát Hoan đại nguyên súy
Quân giặc hung hăng
Nhà vua e sợ
"Giặc quyết tâm rửa nhục
Phen này thế giặc càng to"
"Xin bệ hạ đừng lo
Giặc vừa thua hãy còn khiếp sợ
Quân binh ta tinh nhuệ
Ăt giặc phải qui hàng"
Nào ngờ đâu quân giặc bạo tàn
Sức quân đi trúc chẻ ngói tan
Gieo tàn ác giết người cướp vật
Quân ta lui dùng mưu dụ giặc
Chờ thời cơ dĩ dật đãi lao
Ải Vân Đồn
Trần Khánh Dư đánh úp
Thuyền tải lương cửa bể Đại Bàng
Sóng nước reo vang
Đỏ ngầu máu giặc
Thuyền lương tan tác
Xác chết đầy sông
Trương Văn Hổ sợ trốn về Tầu
Ô Mã Nhi uất vì thua trí
Quân Thoát Hoan mất dần nhuệ khí
Lương thực không, tính chuyện rút về
Sơn lam chướng khí nặng nề
Mười phần còn bẩy hết bề hung hăng
Tháng ba năm Mậu Tí
Ngài chỉ dòng sông Hoá
"Giặc không tan ta quyết không về"
Quân sĩ cùng thề
"Quyết tâm Sát Đát"
Tiếng hò reo ầm vang như sấm sét
Sông Bạch Đằng
Quân Nam trồng cọc sắt
Khiêu chiến thủy triều lên
Ô Mã Nhi mắc mẹo
Giục trống xua quân theo
Phục binh tràn ra đánh
Nước rút giặc phơi thây
Thuyền ngả nghiêng cọc nhọn
Bạch Đằng Giang sóng cuộn
Máu đỏ xác nghẽn giòng
Quân ta reo đại thắng
Đập nát mộng cuồng ngông
Tích Lệ, Cơ Ngọc sợ thôi vỡ mật
Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp bắt sống trận tiền
Tiêu hủy bốn trăm chiến thuyền
Tù binh hàng vạn quân sĩ
Ải Nội Bàng, Phạm Ngũ Lão chém Trương Quân
Núi Kỳ Cấp, A Bát Xích, Trương Ngọc chết vì tên độc
Thoát Hoan, Trịnh Bằng Phi thoát hiểm về Tầu
Đêm khuya ngủ giật mình thon thót
Ba mươi vạn hùng binh
Không còn manh giáp
Anh hùng thay Hưng Đạo Vưong
Ngàn thu sử Việt treo gương
Lòng trung cứu dân giữ nước
Lược thao chí cả can trường
Trần Quán Niệm
lost-dude
06-08-2003, 05:18 PM
:) :) :) Hoai Nam!
TruSiNang
06-08-2003, 07:39 PM
Anh Hoài Nam mến,
Bài thơ trên đã được tôi đánh máy từ một tờ báo có ấn hành đều đặn và đăng lên trên DN cách đây chừng 9 tháng trước . Sau đó tôi có đăng lại trên VM cách đây chừng 4 tháng trước . Bài thơ được ký dưới bút hiệu tác giả là Trần Văn Tâm . Nay thấy anh đăng lại với bút hiệu là Trần Quán Niệm. Anh có thể vui lòng cho tôi biết xuất xứ của bài trên được hay không . Có phải Trần Văn Tâm và Trần Quán Niệm là một người ?
Hỏi chỉ để thỏa lòng tò mò thôi .
mến,
TSN
:)
Hoài Nam
06-10-2003, 03:22 PM
Chào anh TruSiNang,
Bài thơ ca ngợi chiến thắng của Đức Trần Hưng Đạo tôi đã đọc được trên site danchu.net. Tôi không được hân hạnh biết hai ông Trần Quán Niệm và Trần Văn Tâm, nhưng cũng có thể hai người này là một (?).
Rất tiếc tôi không thể trả lời chính xác câu hỏi của anh.
Mến
HN
I có 1 ý kiến nhỏ là sỡ dĩ thế giới không biết đến công trạng của các bậc ông cha mình trong những lần kháng xâm lăng Tàu, là vì ngay chính cả Tàu cũng chẳng dám công nhận những lần xâm lăng thất bại này trong sử sách của họ vì đây là 1 điều sĩ nhục đ/v Tàu. Đừng nói chi đến lịch sử xa xôi, lần chiến tranh Việt Hoa năm 1979 hay 1980, I có hỏi người bạn Tàu làm chung nhưng she nói là chưa bao giờ nghe nói tới hoặc nghe sử nhắc qua. I cũng có hỏi về những trận chiến Việt & Tàu trong lịch sữ, she cũng nói là chưa bao giờ nghe sử của Tàu nhắc qua.
vBulletin® v3.8.4, Copyright ©2000-2009, Jelsoft Enterprises Ltd.