PDA

View Full Version : Đạo Khổng: "Chính Danh"



TimCT
05-21-2003, 01:06 PM
Ngày trước lúc đọc các sách về "Triết Lý Đông Phương", nếu tôi nhớ không lầm là trong học thuyết "Khổng Giáo" có học thuyết "Chính Danh". Sau khi dọn nhà nhiều lần, tôi đã đánh mất các tài liệu quý báu đó .

Nay nếu có quý vị nào còn nhớ hoặc còn tài liệu và hơn nữa có thì giờ, xin post thì tôi muôn vàn cảm tạ .

PS: Hổng hiểu sao, mà sau khi "chứng kiến" qua các cơn bão táp trong đây, lòng tôi lại muốn đọc lại các tài liệu trên . Nếu đề tài nầy đặt nơi đây là sai chỗ, thì xin các bạn chỉ dùm . Tôi sẽ tự delete lập tức .

"Quân Pháp Bất Vị Thân":) :) :)

TruSiNang
05-21-2003, 02:20 PM
Anh TimCT mến,

Ở nhà tôi có một vài cuốn nói về Ðức Khổng Tử. Học thuyết của ông thì rộng mà nhiều. Tôi có đọc và thấy hình như khúc nào cũng hay, và cũng chẳng còn phân biệt ra khúc nào hay hơn khúc nào nữa. Thôi thì có thấy được cái nào liên hệ đến Khổng cứ đăng lên. Còn anh đọc được khúc nào thì cứ đọc. Nếu có thì giờ anh phân tích thêm cho chúng tôi được hiểu với .

mến,
TSN


Chính Danh

Vua Cảnh công nước Tề hỏi Ðức Khổng Tử về việc chính sự .

Ðức Khổng Tử thưa rằng: Cội rễ việc chính sự là cốt nhất phải làm cho sáng rõ luân thường đạo lý. Ở chốn triều đình, vua hết đạo làm vua, tôi hết đạo làm tôi; ở trong gia đình, cha hết đạo làm cha, con hết đạo làm con. Vua tôi, cha con ai nấy đều hết đạo của mình, thì chính sự mới có thể làm hay được .

- Vua Cảnh công nói: Phải lắm ! Câu nói ấy thật là thiết yếu. Mà quả như thế, nếu vua chẳng ra vua, tôi chẳng ra tôi, cha chẳng ra cha, con chẳng ra con, thì cương kỷ rối loạn mà nước phải diệt vong. Thóc gạo tuy nhiều, liệu có yên mà ăn được chăng .

Luận Ngữ

Lời bàn:

Vua Cảnh công hỏi về chính sự mà Ðức Khổng Tử đáp là chính danh là ngài nói đúng ngay vào cái bệnh của vua đối với quốc gia, làm mất chủ quyền. Ðối với gia đình dong túng con cái, mà lại giảng được cái học thuyết chính danh của ngài. Tiếc thay vua Cảnh Công biết là phải mà không liệu cách mau mau thực hành sửa đổi ngay để đến nỗi về sau nước Tề quả có tai vạ, vua thì bị giết, đất thì mất về tay người.

Như nói đến chính sự thời nay, thì chắc còn bao nhiêu sự khó khăn, phiền phức có phải là dễ đâu. Song sự cốt yếu cũng không ra được ngoài câu nói rất giản dị của Ðức Khổng phu tử . Ta thử ngẫm mà xem suốt xưa nay, khắp đông tây có nước nào vua (hoặc người cầm quyền, hay lĩnh đạo mà gọi tên khác) kém sáng suốt, thần hạ gian nịnh mà nước không nguy vong, có nhà nào cha mẹ bạc ác, bất nhân, con cái ngỗ nghịch bất hiếu mà nhà không bại không ?

Cổ Học Tinh Hoa
Nguyễn Văn Ngọc

TimCT
05-21-2003, 02:38 PM
Cám ơn anh TSN thật nhiều:) Anh tìm nhanh quá ....

Quả thật tình, thì tôi chẳng dám "Múa rìu qua mắt thợ", chỉ nghĩ rằng những lời Đức Khổng Tử chí lý quá dù đã trãi qua mấy ngàn năm . Càng đọc, càng nghĩ, và càng nhìn xung quanh mình càng thấy đúng quá, phải không anh ?

Hoài Nam
05-21-2003, 04:03 PM
(Trích từ Triết Lý Quốc Trị Ðông Phương của Dương Thành Lợi)

Ðối diện với tình trạng loạn ly do chiến tranh triền miên, tấm lòng nhân ái thương dân của Khổng Tử khiến ông phải gầy dựng sách lược quốc trị cấp tiến với mục đích cải tạo xã hội nhằm đạt được quốc thái dân an. Theo Khổng Tử, 'nhân đạo chính vi đại' (đạo người thì chính trị là lớn); vì vậy cho nên chính trường trở thành nơi bậc quân tử áp dụng phương pháp canh tân con người và xã hội theo Khổng giáo để an định quốc gia. Mặc dầu là thời thế loạn lạc không cho người yêu nước nhiều cơ hội an dân định quốc nhưng bậc quân tử vẫn phải cố gắng hành động, thay vì ngồi chờ đợi thời cơ đến tay rồi mới làm; người quân tử biết không thể làm được mà vẫn cứ làm. Chỉ khi loạn lạc mới cần đến sự hy sinh bởi vì khi thiên hạ đã đạt được đạo (an bình) rồi thì bậc quân tử đâu còn cần nỗ lực cải cách (định quốc) làm gì.

'Cái nhanh thành hiệu của đạo người là việc chính trị, cái nhanh thành hiệu của đạo đất là sự nẩy nở cây cối. Ấy là việc chính trị cũng như cây lau cây sậy vậy.' Theo sách lược nhân trị thì hai yếu tố nhân ái và tôn kính là nền tảng của chính trị. Khổng Tử trưởng thành trong xã hội phong kiến (quốc gia hoàn toàn bị các ông hoàng chi phối), và có lẽ vì vậy mà ông không thoát khỏi chiều hướng tôn quân đương thời. Bởi vì xã hội phong kiến chấp nhận tình trạng một người (lãnh tụ) có thể nắm trọn vận mạng quốc gia cho nên Khổng Tử chú trọng vào việc 'trồng người' và sách lược quốc trị của ông nhắm vào việc đào tạo 'con người chính trị' hơn là xây dựng 'hệ thống chính trị' (nhưng ngay cả khi chú trọng vào cơ chế chính trị như nhiều triết gia Tây phương từng cổ xúy, quốc gia vẫn phải tốn rất nhiều công sức để tiêu diệt xu hướng tập trung quyền hành trong tay cá nhân lãnh đạo).

Như đã bàn ở phần trên, Khổng Tử quan tâm đến việc hướng dẫn giai cấp lãnh đạo quốc gia tu thân để biết thương dân và trị nước một cách anh minh. Muốn được quốc thái dân an, lãnh tụ quốc gia phải thi hành đạo Nhân, luôn luôn tu thân và xử sự như bậc quân tử. Khi tham chánh, nhà lãnh đạo trước hết phải có 'chính danh.'

Chủ nghĩa Chính Danh là chánh lộ của sách lược Nhân Trị. Vào thời đại đen tối của Khổng Tử, người dân Trung Hoa đã phải chịu đựng quá nhiều đau khổ bởi loại [bất-] chính trị tàn bạo được bọc bởi lớp bình phong đạo đức giả với cảnh bạo quân được ca ngợi như minh quân, nhà nước phi nhân được tôn xưng là chính quyền. Khổng Tử đưa ra thuyết Chính Danh với hoài bão cải chánh lại tất cả các tiêu chuẩn tốt xấu nhằm hướng dẫn thành phần tham chánh chấm dứt việc sử dụng chính từ hay mỹ ngữ để ngụy biện cho các hành động bất chính.

Lãnh tụ quốc gia phải 'xưng danh đúng với phận (với nghĩa), và khi đã xưng (danh) thì phải làm đúng theo như vậy.' Sau khi đã minh định chính danh thì hành động của lãnh tụ quốc gia phải phản ảnh đúng tinh thần chính danh tiên định, hay các lời tuyên bố ban đầu. 'Nói một đường mà làm một nẻo' là đi sai với chính danh và có thể làm tiêu tan chính danh; do đó bậc quân tử cẩn thận cân nhắc từng lời trong việc xưng danh định phận và cố gắng hành động đúng với chính danh tiên định.

Nhà lãnh đạo phải có chính danh thì mới kêu gọi được sự đáp ứng của mọi người; nếu không có chính danh hay đánh mất đi chính danh vì các hành động sai trái thì khó mà được lòng dân. Khi có chính danh thì mới đạt được 'ngôn thuận' để hành sự, khi không có chính danh thì ngôn từ chỉ là lời ngụy biện không thể tâm phục nhân dân. 'Danh không chính thì nói không xuôi, nói không xuôi thì việc không thành.'

Học giả Hồ Thích tin tưởng rằng chủ nghĩa chính danh là 'điểm quan trọng nhất trong triết học họ Khổng' và suy luận rằng 'chủ nghĩa chính danh của Khổng Tử chỉ muốn ngụ ý phải trái, phân biệt thiện ác, khiến cho mọi người khi thấy 'tên' (danh) thiện tự nhiên sinh lòng yêu thích, thấy 'tên' (danh) ác tự nhiên ghét bỏ.' Lý luận này tương đối chính xác bởi vì phù hợp với chủ trương 'chính giả chính giã' (chấp chánh hay việc chính trị thì phải minh chánh, ngay thẳng) của Khổng Tử. Quân tử phải biết phân biệt phải trái khi định danh hay xưng danh. Kẻ xấu không thể được gọi là người tốt, và bạo quân không thể được tôn trọng như minh quân bởi vì làm như vậy không khác gì ngụy biện làm ố danh, tức là 'danh bất chính.'

Khi quản thống chính sự, nhà trị quốc phải cẩn thận lo trước tính sau, biết dùng người tài giỏi đúng theo sở trường riêng của họ, bỏ qua các lỗi lầm sơ sót nhưng không đáng kể chứ không phải chỉ đòi hỏi những người hoàn bị trước khi giao trách nhiệm. Nhà trị quốc phải định tâm để chế ngự lòng ham muốn thành công nhanh, lòng tham lợi nhỏ bởi vì lòng ham muốn thành công mau sẽ đem đến thất bại, và lòng tham lợi nhỏ sẽ khiến đại sự không thành. Nghệ thuật dùng người của bậc quân tử còn đòi hỏi lãnh đạo quốc gia phải thận trọng suy xét khả năng tài đức của quần thần và bỏ qua sự dèm pha hay lời ca tụng của kẻ khác. 'Nhân dân ghét người nào thì ta phải xét; nhân dân mến người nào thì ta cũng phải xét,' chớ dựa vào sự ghét hay lời khen ngợi của họ mà cho một cá nhân là kém tài hay có đức độ cao bởi vì hiền nhân nhiều khi bị hiểu lầm hoặc thường bị kẻ ác dèm pha.

''Tử Lộ hỏi: 'Thầy sai khiến ba quân thì chọn ai giúp?'
Khổng Tử trả lời: 'Kẻ bắt hổ, lội qua sông lớn, chết không tiếc thân thì ta không chọn theo giúp. Ta chọn người biết đắn đo dè dặt, thích dùng mưu cơ để đạt thành công.''

Lãnh tụ có tài đức thì quốc gia mới được hùng cường, nhân dân mới được ấm no. Tương tự như triết gia Hy Lạp cùng thời là Aristotle hay chính trị gia Burke sau này (Burke xướng ra chủ nghĩa Bảo Thủ ở Âu Châu với ý tưởng chính kinh nghiệm quý báu được tích trữ đã giúp cho nhân loại gầy dựng nên một tổ chức xã hội phức tạp và hoàn mỹ), Khổng Tử đánh giá kinh nghiệm lịch sử rất cao. Theo ông, các thành đạt của tiền nhân trong quá khứ cho nhân loại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Giới hậu sinh phải nghiên cứu kỹ lưỡng hầu rút tỉa kinh nghiệm để áp dụng một cách uyển chuyển trong xã hội đương thời. Do đó trong lãnh vực quốc trị, thuật trị nước của cổ nhân phải được tôn trọng bởi vì thế hệ hậu sinh có thể rút tỉa được từ đó nhiều bài học quý giá.

Theo Khổng Tử, trật tự quốc gia đòi hỏi toàn thể nhân dân đặt thiên tử vào vai trò lãnh đạo tối cao. Nhu cầu đoàn kết quốc gia để tránh thảm trạng chư hầu thôn tính lẫn nhau đem đến vô vàn đau khổ cho nhân dân khiến Khổng Tử chủ trương tôn quân một cách tuyệt đối - thần phục Chu triều. Giống như Machiavelli ở Tây phương - người đưa ra sách lược Ông Hoàng với các thủ đoạn chính trị quỷ quyệt nhằm giúp nhà cầm quyền đạt được mục tiêu thống nhất Ý quốc bằng hành động cụ thể - để hy vọng đạt được quốc thái dân an, Khổng Tử trao trọn quyền hành quốc gia vào trong tay của lãnh tụ (tôn quân quyền); nhưng khác với Machiavelli, ông trao quyền này cho một bậc quân tử thấu hiểu được nghệ thuật nhân trị. Ông Hoàng của Machiavelli là một nhân vật nham hiểm, nhà lãnh đạo của Khổng Tử là bậc anh minh có tài trị nước, có đạo đức, biết tôn trọng lời hứa, biết dùng hiền sĩ, thương dân, can đảm, khiêm tốn, là một thánh nhân không hơn không kém.

Chính trị là làm mọi việc cho minh chánh, lấy minh chánh mà trị người thì ai dám không minh chánh? Làm vua thì phải ra làm vua tức là vua phải xử sự như nhà lãnh đạo quốc gia (quân quân, thần thần). Khi vua, quan, dân không làm tròn trách nhiệm của mình thì quốc gia sẽ bị đại loạn. Khi giới lãnh đạo kém anh minh, quần thần sẽ trở nên quan liêu, bòn rút của dân khiến xã hội trở nên bất an; nhân dân sẽ bị lầm than và bất phục chính quyền khiến quốc gia trở nên xáo trộn. Ðối với thần dân mà dùng công minh để trị thì hiếm ai có thể bất nghĩa với mình; nhưng nếu bất chính với họ thì không thể bắt buộc họ trung chính với mình. Nếu nhà lãnh đạo anh minh thì không ra lệnh người ta cũng làm, nhưng nếu không anh minh thì dẫu có ra lệnh thì cũng không ai theo.

'Vua đối xử với thần đúng lễ, thần đối xử với vua thì giữ lòng trung.' Khi vua xử sự đúng đạo lý, quan tướng phải trung thành với vua, và nhân dân phải thần phục vua. Trong gia đình thì con cái phải nghe lời cha mẹ, khi ra đường thì dân phải tôn trọng phép nước. Vua nhận lãnh quyền lãnh đạo đất nước từ trời (vua là thiên tử hay con trời) cho nên thần dân phải tuân phục vua. Tuy vậy vua cũng không thể ỷ thế thiên tử mà làm điều thất đức bởi vì trời không thân riêng ai mà chỉ giúp người có đức; lòng dân cũng không tầm thường cho nên họ chỉ mến ơn lành. Các hành động lương thiện mặc dầu không giống nhau nhưng sẽ đưa đến bình trị; các hành vi tàn ác mặc dầu không giống nhau nhưng đều khiến loạn quốc.

Trời chỉ giúp cho bậc quân tử có tài đức trị quốc. Thiên mệnh không phải trời trao cho ai thì nhất định là người ấy sẽ giữ được mãi mãi; ai làm điều đạo đức thì giữ được thiên mệnh, còn ai tác quái gây ra tang thương cho dân thì sẽ mất vương quyền. Kẻ vô tài vô đức không thể trường tồn trong vai trò lãnh đạo vì không làm đúng ý trời. Nhưng làm sao biết được ý trời? Ý trời là ý dân cho nên muốn làm vừa ý trời thì phải quản trị quốc sự theo chiều hướng an dân. Vua thay trời hành đạo nhưng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước quốc dân nếu làm phật ý trời, tức là ý dân.

Trời thương dân cho nên dân muốn việc gì trời cũng theo. Vì thế cho nên muốn biết ý trời thì phải tìm hiểu ý của dân vì cái sáng suốt của trời là cái sáng suốt của dân, sự quang minh về việc thiện tránh ác của trời là sự quang minh về việc thiện tránh ác của dân, trời và dân trên dưới thông đạt với nhau; do đó lãnh tụ quốc gia (được xem như là phụ mẫu của dân) phải biết tôn trọng ý dân, tức ý trời.

Nhà trị quốc phải cố gắng bình định đất nước để cho nhân dân được an cư lạc nghiệp nhằm góp phần xây dựng quốc gia phú cường. Trong một đất nước thái hòa, vua và dân tôn trọng lẫn nhau thì dân lấy vua làm tâm, vua lấy dân làm thân thể; tâm mà trung chính thì thân thể thư thái, tâm mà nghiêm túc thì dung mạo cung kính; tâm thích cái gì thì thân thể yên vui cái đó; vua thích việc gì thì dân mến chuộng việc đó; vua sống nhờ dân mà mất cũng vì dân. Vua với dân trên thân dưới như tay chân với ruột lòng, dưới thân trên như con nhỏ đối với mẹ; trên dưới thân nhau như thế cho nên trên có lệnh thì dưới theo, trên thi thố điều gì thì dưới tuân hành; dân mến đức của người trên, kẻ gần thì vui lòng mà phục tùng, người xa thì đến quy phục, đó mới là thế chính trị tài giỏi đúng mức.

Khi nhà trị quốc tài đức quản thống quốc sự một cách anh minh công bằng thì dân sẽ học theo gương sáng của người ấy. Người trên thích điều nhân thì người dưới tranh nhau làm điều nhân; vì thế, lãnh tụ quốc gia phải quang minh, lập chính đạo để dạy dân biết tôn trọng điều nhân, yêu dân như con, và được như vậy thì dân sẽ hết sức làm điều thiện để người trên hài lòng. Người lãnh đạo tự giữ chính đạo thì không ra lệnh mà dân cũng làm theo; nhưng nếu bất chính thì, dẫu có ra lệnh, dân cũng không tuân theo. Chính sách quốc gia không những phải công bằng, có lợi cho dân mà còn cần phải giản dị để dân không bị phiền hà, quan tướng không lợi dụng vào sự thiếu minh bạch để bòn rút của dân; do đó người lãnh đạo quốc gia nên luôn luôn kính cẩn chăm lo quốc sự một cách bình dị và đơn giản, và nếu muốn khiến dân làm việc gì thì phải làm trước, bắt dân khó nhọc việc gì thì phải chịu khó nhọc trước. 'Làm sao để dân trung kính và làm lành?.. Giữ tư cách nghiêm chỉnh thì (dân) tất kính phục, hiếu từ thì (dân) tất trung thành, dùng hiền nhân, giáo dục kẻ vô năng thì (dân) tất làm lành.'
Nếu nhà trị quốc có tà ý, ban hành chính sách hà khắc, không biết thương dân thì nhân dân tất loạn. Dân chúng sẽ xa lìa quốc gia nếu điều kiện cho phép để chạy trốn các chính sách hà khắc. Sách Lễ Ký ở phiên Ðàn Cung Hạ II có ghi là khi thầy trò Khổng Tử đi ngang qua núi Thái Sơn thì gặp một người đàn bà đang khóc lóc thảm thiết bên mộ con. Họ đến hỏi lý do tại sao bà ta khóc thì được cho biết là bà khóc cho con, chồng và cha chồng đã bị cọp núi Thái Sơn bắt ăn thịt. Khổng Tử bèn hỏi tại sao gia đình không dọn đi nơi khác thì được bà thố lộ là: 'Ở đây không có hà chính' (hà chính: sách lược quốc trị hà khắc). Khổng Tử quay sang học trò và nói: 'Hà chính mãnh ư hổ giã' (sách lược quốc trị hà khắc còn ghê gớm hơn cọp).

Khổng Tử không chú trọng nhiều về chiều hướng pháp chế. Ông suy luận rằng chủ trương pháp chế chỉ là hạ sách để trị quốc. Quốc gia không thể không có luật pháp và hình phạt, nhưng bậc lãnh đạo trước hết phải áp dụng phương pháp nhân trị để quản thống quốc sự thì mới mong đạt được an bang tế thế. Theo ông, việc sử dụng luật pháp để trị quốc chỉ có thể làm dân sợ nhưng không thể khiến họ kính nể mà tuân phục một cách tự nhiên; ngược lại, nếu sử dụng nhân đức để trị nước thì sẽ được dân nể phục mà theo. Việc chính trị mà dùng đến hình pháp thì dân có thể tránh được tội nhưng không tự cảm thấy hổ thẹn (để sửa mình tu thân), nhưng nếu biết dùng đến đức mà dạy dân, dùng lễ mà trị dân thì dân không những tự biết sỉ nhục mà còn cố làm điều tốt. 'Muốn cai trị dân thì cần gì dùng đến cách sát nhân? Nếu tự chuộng thiện thì dân sẽ trở nên thiện.' Nếu người cầm quyền không tham dục thì, dẫu có thưởng, dân cũng không trộm cắp.

Về lãnh vực dân sinh, nhà trị quốc phải luôn luôn lưu tâm hai vấn đề quan trọng: (i) giúp cho dân giàu; và (ii) khi dân giàu thì phải giáo dục dân về đạo đức lễ nghĩa. Khi mà dân ít thì ráng làm cho dân số tăng lên nhưng lúc đã có nhiều dân thì phải giúp cho dân giàu bởi vì có thực mới vực được đạo; và khi dân đã no ấm thì phải dạy cho dân luân thường đạo lý. 'Nếu không dạy dân mà đem ra giết thì điều ác đó gọi là ngược, nếu không chăm sóc nhắc nhở mà bắt dân phải thành nhân thì điều ác đó gọi là bạo.' Dân mà không giàu thì quốc gia không hùng cường; dân mà không biết luân lý lễ nghĩa thì quốc gia tất loạn.

Chính sách quốc gia phải chú trọng ba lãnh vực: (i) lo cho dân no ấm; (ii) xây dựng lực lượng quốc phòng vững mạnh; và (iii) làm cho dân tin tưởng nơi chính quyền. Khi lo cho dân ấm no thì phải chủ trương lo cho đồng đều để tránh cảnh có người quá nghèo và kẻ giàu xụ. 'Nếu được đồng đều thì không có sự nghèo, đã hòa thuận là không có ít người, đã an thì không có sự khuynh nguy.'
Tuy phải lo cho dân ấm no, chính sách quốc gia phải đặt mục tiêu 'tạo niềm tin nơi dân' trên hết, trên cả việc quốc phòng và sự no ấm của dân. Khi dân đã tin tưởng vào chính quyền thì đó là sức mạnh vô biên giúp cho việc xây dựng quốc gia thành công tương đối dễ dàng; nhưng khi dân không tin vào chính quyền thì dẫu có được no ấm thì họ cũng không phục nhà lãnh đạo, và sức mạnh muôn binh cũng không khiến họ sợ. Nếu tiềm lực quốc gia không cho phép chính quyền thực hiện cả ba mục tiêu trên thì phải bỏ việc quốc phòng để lo cho dân no ấm và 'tạo niềm tin nơi dân;' và nếu cần thì bỏ luôn cả mục tiêu lo cho dân no ấm để giữ vững niềm tin của dân bởi vì 'bỏ' ăn thì chết nhưng xưa nay người ta vẫn chết (có ăn no thì cũng phải chết khi về già), nhưng nếu dân mà không tin thì (chính quyền) không sao đứng vững được'.

Vũ trụ chính trị của Khổng Tử xoay quanh nhà lãnh đạo tài đức biết tu thân, thương dân, và hiểu cả cái đạo của trời đất để biết khi tiến, khi thủ, khi lùi. Nhưng trong xã hội thực tế của nhân loại khó kiếm ra được mẫu người quân tử như vậy. Thực tế cho thấy người cầm quyền dẫu có anh minh bao nhiêu, nếu không bị kiểm soát, dễ sa ngã vào hắc lộ lạm quyền. Khác với triết gia Hy Lạp cùng thời là Plato vốn đã nghĩ tới lưỡi gươm luật pháp kiềm chế lãnh tụ bất tài, Khổng Tử không đưa ra phương pháp kiểm soát quyền lực lãnh tụ mà chỉ mong muốn lãnh tụ quốc gia phải quản thống quốc sự theo ý dân và làm vua thì phải ra làm vua (quân quân, thần thần). 'Trời thương dân cho nên dân muốn việc gì trời cũng theo;' vì vậy, 'vua sống nhờ dân mà mất cũng vì dân.'

Nếu vua vô đạo đức mà không bị luật pháp kiềm chế thì dân có quyền nổi dậy làm cách mạng để lật đổ hay không? Khổng Tử không bàn về vấn đề này rõ ràng. Nhưng có một điều chắn chắn là ông chủ trương tôn vương (tái lập Chu triều mặc dầu Chu vương thực vô tài bất lực trong việc quản trị quốc sự); tuy vậy, vào thời điểm của Khổng Tử, nếu các chư hầu đều thực lòng tôn Chu thì ai cũng lo bình trị trong phạm vi tiểu quốc của họ theo sự sắp xếp từ trước của nhà Chu mà không gây chiến nhằm tranh giành thêm đất đai. Theo Khổng Tử, chủ trương tôn quân sẽ giúp an gia định quốc và nhân dân có thể tránh được được cảnh chiến tranh tương tàn. Nhân loại phải đợi đến sự chào đời của Mạnh Tử với chủ trương Dân Vi Quý thì câu hỏi nêu trên mới được trả lời minh bạch.

TimCT
05-22-2003, 08:51 AM
Cám ơn anh Hoài Nam thật nhiều .

Càng đọc càng thấm ... :)

TruSiNang
05-22-2003, 03:29 PM
Thân chào TimCT, Hoài Nam và các bạn,

Xin góp thêm bài cho vui

28. Trí, Trung, Dũng

Nước Trần bị nước Sở đánh, phá tan mất cửa thành bên Tây . Sau người Sở bắt dân nước Trần ra tu bổ lại cửa thành ấy .

Một hôm Ðức Khổng Tử đi xe qua đấy không cúi đầu vào miếng gỗ trước xe. Thầy Tử Cống dừng cương lại hỏi:

- Cứ theo lễ đi xe qua chỗ ba người, thì phải xuống, qua chỗ hai người thì phải cúi đầu vào miếng gỗ trước xe để tỏ lòng kính trọng . Nay quân, dân nước Trần sửa sang cửa thành biết bao nhiêu là người, thế mà thầy đi qua, không có lòng kính trọng, là cớ làm sao ?

Ðức Khổng Tử nói:

- Nước mất, mà không biết, là bất tri; biết, mà không lo liệu, là bất trung; lo liệu, mà không liều chết là bất dũng . Số người nước Trần, tuy đông, mà ba điều ấy không biết được một, thì bảo ta kính làm sao được !

Hàn phi Tử

Lời bàn

Cứ theo cổ lễ rất phiền (ba người xuống xe) nhưng Ðức Khổng Tử vốn là người hay giữ lễ, nên thầy Tử Cống mới hỏi, Ðức Khổng Tử đáp thế ý hẳn quan dân nước Trần bấy giờ ai nấy đều ra dáng vui vẻ, hình như không cò ai biết đến nước là gì . Nếu quả vậy thì có người cũng như không, ngài không kính rất là phải, vì rằng: “Ngu dân bách vạn vị chi vô dân” nghĩa là nhân dân ngu dại thì tuy dân số nhiều đến trăm vạn, cũng đáng bảo là không có người dân nào.

Cổ Học Tinh Hoa
Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc

JH
05-22-2003, 03:48 PM
wow ta`i lie^.u good wa' .. thanks for sharing all :)

BungRieu
05-22-2003, 04:00 PM
Những đề tài dưới đây :

1.Khổng Tử với Quan Niệm Nhân Trị

2.Ðại Học và Trung Dung

3.Mạnh Tử và Tư Tưởng Dân Vi Quý

4.Tuân Tử và Hàn Phi với Tư Tưởng Pháp Chế

5.Lão Tử với Quan Niệm Vô Vi

6.Trang Tử với Chủ Trương Vô Vi Xuất Thế

7.Mặc Tử và Quan Niệm Bác Ái

8.Tôn Dật Tiên với Chủ Nghĩa Tam Dân

9.Chính thư Huyết Hoa của nhà cách mạng Lý Ðông A


Được bàn và viết rất hay , nếu Anh Chị muốn coi xin theo link dưới đây
Triết Lý Đông Phương (http://www.danchu.net/TuTuongTLDT/TLQTDP/TLQTDP.HTM)

TimCT
05-22-2003, 04:19 PM
Anh TSN ơi,

Nói đến góp ý cho vui, thì tôi không đành được mà thêm ý tưởng nầy, nhưng lại bị lạc đề ....

Đọc các tài liệu về các học thuyết của Đức Khổng, ngoài "Chính Danh", tôi lại còn thích về "Kinh Dịch" của Ngài, nhưng vì lâu quá mà sách vỡ lại thất lạc nên tôi chỉ nhớ lõm bõm thôi .... Tôi chẳng tin nhiều về "Bói Dịch" chỉ thích cái ý tưởng thâm thúy trong Kinh Dịch của Ngài . Có người viết rằng: "Một hôm Đức Khổng Tử đứng trên bờ sông Dịch (hỗng hiểu nước Tàu có sông Dịch không ?) nhìn giòng sông chảy và Ngài thốt lên:

-Nước chảy mãi thế ư, ngày đêm không nghỉ ?

Từ đó cái tư tưởng về sự thay đổi của vạn vật, sự tuần hoàn của vũ trụ đã nãy sanh .

Tuyệt vời!:)

To BR

Cái gì cô cũng biết hết trơn . Cám ơn BR. Sao, kỳ thi ra sao rồi ?:)

TruSiNang
05-23-2003, 01:09 PM
Bạn TimCT mến,

Tôi có nghe nói là đến cuối cuộc đời Ðức Khổng Tử có ước mơ là sống được thêm mười năm để nghiên cứu thêm về dịch học. Với sự thông thái của ngài mà còn chưa hiểu được dịch, thì tôi đoán là môn học đó rất là khó. Tôi có đọc được một bài báo nói là có nhà nghiên cứu của Mỹ đã nghiên cứu và tìm cách ứng dụng cả những lý thuyết của Kinh Dịch vào vấn đề kinh tế và thị trường trái phiếu.

:) :)

Hang Ngu Công

Vua Hoàn Công nước Tề đi săn, đuổi con hươu chạy vào trong một cái hang, thấy có một ông lão, bèn hỏi rằng:
- Hang này tên gọi là hang gì ?
Ông lão thưa :
- Tên là hang Ngu Công .
- Tại làm sao mà đặt tên như thế ?
- Tại kẻ hạ thần đây mới thành có tên ấy .
- Coi hình dáng lão, không phải là người ngu, cớ gì lại đặt cái tên như thế ?
- Để hạ thần xin nói : Nguyên hạ thần có con bò cái đẻ được một con . Khi bò con đã lớn, hạ thần đem đi bán, rồi lấy tiền mua một con ngựa con đem về cùng nuôi với bò cái . Một hôm, có một người
thiếu niên đến lấy lý " bò không đẻ ra được ngựa " bèn bắt con ngựa con đem đi . Tôi chịu mất, không cãi được . Vì thế xa gần đâu cũng cho tôi là ngu, mới gọi hang tôi ở đây là hang ngu công .

Hoàn Công nói: Lão thế thì ngu thật !

Buổi chiều hôm sau, Hoàn Công đem câu chuyện kể lại cho Quản Trọng nghe .

Quản Trọng nói : Đó chính là cái ngu của Di Ngô nầy . Nếu được vua giỏi như vua Nghiêu, bầy tôi minh như Cao Dao, thì khi nào lại có kẻ dám ngỗ ngược, lấy không ngựa của người ta như vậy . Ngu Công mà đành để mất ngựa, chắc là biết rõ hình pháp ngày nay không ra gì . Xin nhà vua kịp chỉnh đốn các chính sự lại .

Đức Khổng Tử nghe thấy, nói :

Đệ tử đâu, ghi lấy việc ấy ! Hoàn Công là bá quân . Quản trọng là hiền thần . Tuy đã vào bậc khôn ngoan, mà còn tự cho là ngu dại .

Khổng Tử Tập Ngữ

Lời Bàn:

Ông lão can tâm mất ngựa, lại chịu cả tiếng ngu là ý lão nghĩ gặp phải thời buổi người trên tham nhũng, kẻ dưới hung nghịch, đành chịu để êm chuyện đi, còn hơn dở khôn đi kiện, chẳng những mất ngựa, mà có khi lại mất cả bò và bao nhiêu tiền của, thời gian vào đấy nữa . Hoàn công thấy chuyện mà lưu tâm đến, thế là ông vua có bụng với dân . Quản Trọng nghe chuyện mà biết nhận ngay cái lỗi ấy tại mình, thế cũng là hai bậc minh quân, lương tướng hiểu rõ cái trách nhiệm chăn dân của mình, nên Ðức Khổng Tử có lời khen thực là đáng lắm. Vì rằng giữ mệnh một dân tộc mà không hiểu thấu ẩn tình của dân, thì tuy có lòng thương dân, dân vẫn khổ và nước vẫn không yên được .

Cổ Học Tinh Hoa
Nguyễn Văn Ngọc

WLP
10-14-2007, 03:08 AM
Lời Người Viết: "Thử Bàn Lại Vấn Đề Khổng Giáo" là nhận định và ý kiến cá nhân của người viết mà thôi. Đúng hay sai còn tùy kinh nghiệm và sự thẩm định của mỗi độc gỉa. Ngòai ra, Khổng Giáo là một đề tài rất lớn. Bài viết này chỉ như hòn sạn nhỏ rơi vào một hồ nước bao la! Mọi ý kiến phê bình xin gửi thẳng về địa chỉ của tác giả.

* * *

Khổng Tử và đạo lý nho giáo (Khổng Giáo), đã cũ trên 2500 năm, đã được bàn đi bàn lại quá nhiều qua lịch sử và sách vở trong vấn đề giáo hóa từ vua tới dân. Bây giờ lại đem ra bàn thêm, có thể là việc chẳng ích lợi gì giữa thời buổi này.

Ngay sau khi liệt cường vào xâu xé Trung Hoa bắt đầu từ 1899, (từ loạn Thái Bình Thiên Quốc – “Boxer’s Rebellion”), họ ra vào Trung Hoa dễ dàng như lấy món đồ trong túi ra. Người Trung Hoa với vài ngàn năm văn hiến và lịch sử bị chế riễu khắp thế giới về cách “sống thiếu vệ sinh” và hình ảnh “đầu cạo trọc” với cái “đuôi sam dài.” Cũng vào khỏang thời điểm này (giai đọan thuộc địa), ở ngoài Trung Hoa, người Trung Hoa (cũng tương tự như người Việt) được cư xử như đồng hạng với xúc vật (!)

Người dân Trung Hoa và các dân tộc chịu ảnh hưởng của Trung Hoa bắt đầu nhận thấy rằng Khổng Tử và triết lý của ông đã là nguyên nhân chính biến phần lớn dân Á châu thành nạn nhân của chế độ thuộc địa.

Trung Hoa đã là một con bệnh ốm qúa lâu sắp chết, bây giờ bắt đầu biết dùng thuốc uống để tỉnh táo và khỏe mạnh lại từ từ. Việt Nam cũng theo gót Trung Hoa (từ cái xấu đến cái tốt!)



Nhìn vào văn hóa tây phương, nó cũng không hẳn là hoàn hảo:

“Coi quá trọng vật chất, cá nhân chủ nghĩa, gía trị gia đình lỏng lẻo, thiếu khái niệm về thiên nhiên và vấn để bảo tồn thiên nhiên, dửng dưng trước những tệ nạn của xã hội mà chính mình đang sống.”

Tuy nhiên, triết lý của Khổng Tử cũng có nhiều khuyết điểm cần được xem lại:

“Hệ thống giáo dục theo ảnh hưởng Khổng học chỉ theo một khuôn khổ cũ đã có sẵn. Những ý kiến muốn thay đổi cái khuôn khổ này chẳng những đã không được chấp nhận mà còn bị xem là một “tội phạm” nữa (?) Khổng học không để cho tự do cá nhận được cơ hội phát triển, không thể mở đường cho sự thành đạt của các khoa học gia lỗi lạc, người có thể phát minh, bày ra những phương cách thực tế phụng sự đời sống, hạnh phúc của nhân loại.”



Sự tiến hoá, sự sinh tồn và vinh quang của dân tộc Việt hoàn toàn tùy thuộc vào sự can đảm của người lãnh đạo mạnh dạn, biết làm giảm thiểu sự xiết chặt của tinh thần nho giáo trong sống của dân Việt.

Một dân tộc sinh tồn được sau những chịu đựng triền miên của lãnh đạo ngu xuẩn, chiến tranh vô nghĩa, thời tiết khắc nghiệt, thiên tai, đói khát… bởi vì dân tộc đó có một “khả năng” chịu đựng đặc biệt mà ngay chính dân tộc đó cũng không hiểu là cái gì? tại sao? Tuy nhiên phải hiểu hai vấn đề của sự sinh tồn: “sống sót một cách mạnh giỏi” và “sống sót một cách tàn tật” hòan tòan khác hẳn nhau. Phải nhìn nhận, Khổng học đã giúp cho dân Trung Hoa (và dân Việt Nam) có cái khả năng “sinh tồn một cách tàn tật” này!



Khổng học đặt ra vấn đề hệ thống hóa chặt chẽ các kỷ luật (đạo lý) trong đời sống. Phim “Cái Lồng Đèn Màu Đỏ” (The Red Lanterns) là một trong những thí dụ điển hình của sự sắp đặt này. Những người đàn bà (vợ) toa rập với đàn ông (chồng) để hành hạ, và có lúc giết, những người đàn bà khác trong cái bối cảnh “chồng chúa vợ tôi.” Một nàng hầu đã kết luận việc làm xấu xa của mình là “việc gì phải làm sẽ phải được làm…”



Cái ghê sợ nhất của vấn đề kỷ luật này là con người đối xử với nhau một cách tàn nhẫn là vì con người “được phép” làm những điều xấu mà Khổng học đã làm thành khuôn thước. Đó là chuyện “phải đạo!” Những con người ngu muội được dậy dỗ để hiểu như vậy!



Những nàng hầu (trong phim “Cái Lồng Đèn Màu Đỏ”) hiểu sự dậy dỗ của Khổng học là “xã hội có tôn ti trật tự.” “Tôn ti trật tự” nghĩa là xã hội đã được Khổng giáo chia ra thành nhiều giai cấp. Mỗi người một khi đã được xếp hạng ở giai cấp nào rồi, thì họ “được phép” hành hạ, hoặc nếu cần, tiêu diệt những cá nhân ở cái giai cấp thấp hơn! Thật ghê tợn! Sự ghê tợn này cũng xẩy ra trong nhiều xã hội quân chủ khác ở tây phương. Tuy nhiên, ớ Á châu, nhất là Trung Hoa và Việt Nam, Khổng Tử hợp thức hóa và rộng rãi truyền bá cái sự “ghê tợn” này.

Khổng giáo cho nhân vật “đàn ông” trong gia đình và xã hội cái quyền tối thượng. Thật là vô duyên vô lý! (Nên biết Việt Nam thu nhập Khổng giáo chứ không bị bắt buộc phải theo Khổng giáo!)



Sự khôn ngoan đáng lẽ phải là sự thu góp và xử dụng đúng lúc, đúng cách các tâm lý thông thường, các khoa học thiết thực! Không phải là sự lập lại cho đúng các bài vở (Khổng học) cũ!

(Nên biết, một phần không nhỏ liên quan đến đặc thù văn hóa của một dân tộc dẫn từ tôn giáo của dân tộc đó! Chứ không riêng gì các học thuyết hay tư tưởng đưa nhập vào từ bên ngòai)



Chính trị gia ở các nước tân tiến, muốn thành công, phải được sự ủng hộ của đa số (50% cộng 1 phiếu thật sự dân chủ) chứ không phải vì sự đề cử hay chiếm đoạt bằng vũ lực. Vấn đề này cũng cần được thấy ở Việt Nam (và Trung Hoa) nếu sự tiến bộ của quốc gia, chứ không phải sự phù vinh của một nhóm người, là quốc sách!

Loại lãnh đạo tồi tệ nhất là “lãnh đạo làm dân sợ.” Loại lãnh đao tồi tệ thứ nhì là “lãnh đạo bị dân ghét.” “Lãnh đạo tốt” phải là loại “lãnh đạo được dân thương mến.”

Lãnh đạo bất chính (chính quyền dã man) con nguy hiểm hơn là sát nhân. Một hôm Khổng Tử và một đám để tử đi qua đường ở một xứ nọ, thấy một người đàn bà ngồi khóc bên những ngôi mộ mới đắp. Khổng Tử cho học trò đến hỏi thăm.



Người đàn bà nói:

“Chồng, rồi đến bố chồng, rồi đến con của tôi đã lần lượt bị cọp giết.”



Khổng Tử hỏi:

“Lý do tại sao chị lại không dời đến vùng khác làm ăn sinh sống mà chịu ở mãi đây để chồng, cha và con phải bị cọp giết? “



Người đàn bà trả lời:

“Ở đây quan lại không hà hiếp dân chúng!”



Khổng Tử quay lại nói với đám đệ tử:

“Các còn nhớ điều này. Chính quyền hà khắc còn đáng sợ hơn là cọp dữ!”



Bài học nho nhỏ này có thể dùng làm một tấm gương thật lớn để quan lại (hay người đang cầm vận mạng của dân) tự soi và xem xét lại sự trị dân, chính sách của mình như thế quái nào mà thay vì dân thà chịu chết bám với đất nước đến cùng chứ không chịu bỏ đi; ngược lại, người dân lại phải chấp nhận cả sự chết để bỏ quê cha đất tổ ra đi hàng lọat? Người tây phương gọi vấn đề “ra đi” này là “bỏ phiếu bằng chân” là vậy.



Như thế, về chính trị Khổng học ít ra cũng có nhiều cái rất tốt nên giữ lại. Khổng Tử đã dạy người cai trị một cách thật đơn giản:

“Vua và quan lại phải trị dân với lòng nhân và lễ không phải bằng bạo lực. Có như thế thì vua và quan sẽ không phải sợ gì cả! Công vụ của lãnh đạo là dẫn dắt dẫn, không phải để hành hạ, để giết dân!”



Lịch sử Trung Hoa và Việt Nam đã nhiều lần chứng minh rằng sự “lãnh đạo tàn nhẫn” với dân không thể nào kéo dài lâu và sẽ bị “kết thúc một cách tàn nhẫn” không kém!



Về đạo lý, Khổng Tử dạy dân:

“Thờ phụng cha mẹ. Làm việc phải chứ không vì lợi. Đừng làm cho người khác cái gì mà mình không muốn người khác làm cho mình.”



Còn chân lý nào sáng tỏ hơn lời dậy đạo lý này?

Tuy nhiên cần sửa lại quan điểm chính trị và hành động chính trị của Khổng Tử là lãnh đạo không phải vì thiên mệnh (số trời) mà là vì sự anh minh sáng suốt!

Lãnh đạo anh minh là lãnh đạo tất thắng.

Xin góp vài lời thô thiển, múa rìu qua mắt thợ!

Trần Văn Giang: Ý kiến, phê bình xin gửi về: tranvangiang@khoahoc.net