PDA

View Full Version : Văn-chương truyền khẩu - Tục-ngữ , Ca-dao , Cổ-tích


BungRieu
05-22-2003, 11:19 AM
Văn-chương truyền khẩu
Tục-ngữ , Ca-dao , Cổ-tích
Trich trong " Ðại-cương về dòng Văn-học Dân-gian "
===========================================================================
Mục Lục:

1. VĂN CHƯƠNG TRUYỀN KHẨU

2. TỤC-NGỮ
.... Định nghĩa và biệt loại
...........Tục ngữ
........... Phương ngôn
........... Cách ngôn
........... Châm ngôn
........... Thành ngữ
.... Nguồn gốc của tục ngữ
.... Hình thức của tục ngữ
........... Không vần, chỉ có ý đối:
........... Không vần, không đối, chỉ cốt ý đúng, lời gọn
........... Yêu vận
........... Cước vận

3. CA-DAO
.... Định nghĩa và biệt loại
........... Ca dao
........... Đồng dao
........... Ca dao khác tục ngữ thế nào ?
.... Cách kết cấu của ca dao
........... Phú
........... Tỉ
........... Hứng
........... Kết hợp giữa Tỉ và Phú
........... Kết hợp giữa Phú và Hứng
........... Kết hợp giữa Tỉ và Hứng
........... Kết hợp giữa Tỉ , Phú và Hứng
.... Hình thức của ca dao:
........... Số câu trong bài
........... Số chữ trong câu:
.... Các thể của ca dao
........... Nói lối
........... Lục bát chính thức
........... Lục bát biến thể
........... Song thất lục bát chính thức
........... Song thất lục bát biến thể
........... Phối hợp nhiều thể khác nhau

4. TRUYỆN CỔ TÍCH

5. GIÁ TRỊ VĂN CHƯƠNG.
..... Hình ảnh
............ Nhiều hình ảnh đẹp:
............ Truyền cảm:
..... Ngữ vựng thật phong phú, thanh nhã và bóng bảy
............ Cụ thể, sống động:
............ Linh hoạt, sắc bén:
............ Mộc mạc ,giản dị, tự nhiên:
..... Cách phô diễn ý tưởng:
............ Tự nhiên, lưu loát:
............ Dí dỏm:
..... Khéo dùng mỹ từ pháp:
............ Phép trùng điệp (điệp ngữ):
............ Phép lộng ngữ (chơi chữ, bỡn chữ):
............ Phép cân đối:
............ Nhân cách hóa (lời lẽ bóng bảy, kín đáo, súc tích):
............ Khéo mượn hình ảnh để so sánh:
............ Khéo dùng sự tích, điển cố:
............ Ngoa ngữ và thậm xưng (để nhấn mạnh hay lố bịch hóa, điểm đặc sắc của văn học dân gian):

6. MỘT SỐ CÂU CA DAO ĐẸP:
..... Tình nghĩa, nhiều câu thật cảm động:
..... Trong sáng, tràn đầy thi vị:
..... Truyền cảm, ý tưởng súc tích:
..... Cảm khái với những ý tưởng đặc sắc:

7. GIÁ TRỊ NHÂN VĂN CỦA CA DAO, TỤC NGỮ
..... Lịch sử đất nước
..... Hình thể đất nước
..... Kinh nghiệm của dân tộc về một số vấn đề thường thưc:
............ Thời tiết:
............ Canh nông:
............ Ứng dụng thực tiễn:
............ Đặc điểm, thổ sản địa phương:
............ Tướng mạo:
............ Tâm lý:
..... Một số đặc điểm đáng quý hoặc đáng lưu ý của dân Việt
..... Một số lời khuyên thực tiễn và hữu ích của tiền nhân
..... Một số đặc điểm đáng quý hoặc đáng lưu ý của dân tộc:
..... Tinh thần hi sinh và công lao khó nhọc của người đàn bà Việt Nam:
..... Hi sinh:
............ Đảm đang, nuôi chồng học:
............ Chăm sóc gia đình khi chồng đi làm ăn nơi xa:
............ Chăm sóc gia đình khi chồng đi lính:
Đặc tính coi trọng nội dung hơn hình thức:
............ Hiếu thảo với cha mẹ:
............ Khi chữ hiếu mâu thuẫn với chữ tình:
............ Nhận thức khác biệt :
............ Yêu thương
............ Tình và Hiếu:
..... Một số lời khuyên thực tiễn và hữu ích của tiền nhân:
............ Về cách xử thế:
............ Có ý nghĩa luân lý:

===========================================================================

1. VĂN CHƯƠNG TRUYỀN KHẨU:

Người là sinh vật biết nhận thức, có ý nghĩ, tình cảm, và khả năng diễn đạt những ý nghĩ, tình cảm ấy. Trong lịch sử văn học của các dân tộc, trước khi tiến tới giai đoạn có chữ viết với những sáng tác được ghi chép thành văn, trong dân gian đã có:

những câu nói ngắn, gọn có ý nghĩa;

những câu hát theo giọng điệu tự nhiên để biểu lộ, gửi gấm tình cảm;

những mẩu chuyện để cắt nghĩa các hiện tượng thiên nhiên hay các tập tục, tín ngưỡng.
Văn học dân gian truyền khẩu (với những tục ngữ, ca dao, truyện cổ tích... ) xuất hiện trong rất nhiều xã hội trước khi con người tìm ra chữ viết. Trong văn học sử Trung hoa, khởi đầu cho thơ ca chính là những câu hát dân gian mà về sau Khổng tử đã sưu tập lại trong Kinh Thi. Tục ngữ, ca dao và truyện cổ tích (proverbs, folk songs, folk poetry, folk tales, hay nói chung, folk literature) là tài liệu văn học quan trọng của nhiều dân tộc trên thế giôùi, không riêng gì dân tộc Việt Nam.


Đối với dân tộc ta, dòng văn học dân gian có một địa vị đáng kể hơn thế nữa. Suốt trên 1000 năm Bắc thuộc, văn tự chính thức được công nhận là chữ Hán, thứ chữ không diễn đạt được tiếng nói của dân Việt. Sau khi lấy lại được chủ quyền, tuy tiền nhân ta có thêm chữ Nôm, nhưng chữ này khó học, khó nhớ vì lại do chữ Hán ghép thành (muốn biết chữ nôm phải thông thạo chữ Hán trước). Vì thế trong xã hội ta xưa, số người biết đọc, biết viết để có thể diễn đạt ý tưởng, tình cảm bằng chữ (bất kể chữ nôm hay chữ Hán) rất ít. Đại đa số dân chúng đã sáng tác và lưu giữ các tác phẩm dưới dạng truyền khẩu. Chính vì thế, dòng văn học dân gian truyền khẩu rất phong phú và quan trọng trong kho tàng văn học Việt Nam.

Văn học truyền khẩu không hoàn toàn là sáng tác của người bình dân ít học. Trước khi thành đạt, đa số nho sĩ sinh sống, học hành ở thôn quê. Nhiều ẩn sĩ, hàn nho ở với nông thôn suốt đời. Trong những dịp hội hè, trong các cuộc gặp gỡ, hát xướng, nhiều câu nói, câu hát của các vị đã được người bình dân ít học ghi nhớ rồi từ đó, gia nhập dòng văn học dân gian. Theo nhiều tài liệu, Trạng nguyên Lương Thế Vinh (ông Trạng Lường), thi hào Nguyễn Du (cậu Chiêu Bảy), nhà cách mạng Phan Bội Châu (ông Giải San), nhà thơ Nguyễn Bính... đều đã từng tham dự các sinh hoạt ca hát ở thôn quê và có tác phẩm để lại, làm giàu thêm cho kho tàng văn học dân gian. Ta có thể tin nhiều nho sĩ, trí thức khác cũng đã có những hành động tương tự.

2. TỤC-NGỮ:

Định nghĩa và biệt loại:

Tục ngữ (tục: thói quen có đã lâu đời; ngữ: lời nói) là những câu nói ngắn, gọn, giàu ý nghĩa, được dùng trong lời nói hàng ngày và lưu truyền từ đời nọ qua đời kia. Tục ngữ còn được gọi là ngạn ngữ (lời người xưa truyền lại).

Có ý nghĩa hẹp hơn tục ngữ là:

Phương ngôn: Những câu tục ngữ được dùng trong một vùng, một địa phương chứ không phổ biến khắp nước.

Cách ngôn, Châm ngôn: Những câu tục ngữ có ý khuyên dạy luân lý ("cách" là phương thức, "châm" là lời răn bảo).

Thành ngữ: Một loại tục ngữ đặc biệt, tự nó chưa có ý nghĩa đầy đủ. Thành ngữ chỉ là những cách nói đã định sẵn (set expressions) để mô tả sự vật chứ không biểu thị một ý phán đoán hay khuyên răn nào. Chẳng hạn:

Đàn gảy tai trâu

Đáy bể mò kim

Nói hươu nói vượn

Gần đất xa trời

Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa

Ngậm bồ hòn làm ngọt

Cảnh trứng chọi với đá

Chốn miệng hùm nọc rắn

Xứ tiền rừng bạc biển...


Trong các thành ngữ, có những câu diễn ý so sánh hai sự vật để làm nổi bật việc mô tả, được gọi là những Câu ví. Chẳng hạn:

Lạnh như tiền

Thẳng như ruột ngựa

Chắc như đinh đóng cột

Dốt đặc cán mai

Lúng túng như thợ vụng mất kim...


Nguồn gốc của tục ngữ:

Phần lớn các tục ngữ nảy sinh trong đời sống hàng ngày. Ban đầu, có khi chỉ là một câu nói thường nhưng nhờ có ý nghĩa xác đáng, lời lẽ cô đọng, dễ nhớ, được người khác thích thú, nhắc đi nhắc lại. Dần dần, câu nói được trau chuốt và phổ biến rộng hơn.

Có những câu vốn là thơ ca có tác giả nhưng nhờ ý đúng, lời hay, được nhiều người lưu tâm một cách đặc biệt rồi tách riêng để truyền tụng. Những câu như Thương người như thể thương thân trong Gia huấn ca (tương truyền của Nguyễn Trãi), Khi nên trời cũng chiều người, hay Chữ "tài" liền với chữ "tai" một vần trong Truyện Kiều của Nguyễn Du... có thể xếp vào loại này.

Có những câu tục ngữ được dịch từ ngạn ngữ nước ngoài như:

Ở hiền gặp lành (Tích thiện phùng thiện - Trung hoa)

Có công mài sắt, có ngày nên kim (Ma chử thành châm - Trung hoa)

Lửa cháy đổ dầu thêm (Hỏa thượng thiêm du - Trung hoa)

Thời giờ là tiền bạc (Time is money - Anh)

Muốn là được (Vouloir, c'est pouvoir - Pháp)


Hình thức của tục ngữ:

Trong tục ngữ có những câu:

Không vần, chỉ có ý đối:

Giơ cao, đánh sẽ

Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài

No nên bụt, đói ra ma


Không vần, không đối, chỉ cốt ý đúng, lời gọn:

Mật ngọt chết ruồi

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây


Nhưng phần lớn tục ngữ là những câu có vần, thường là vần lưng (yêu vận):

Ăn cây nào rào cây ấy

Phép vua thua lệ làng

Con có cha như nhà có nóc

Một giọt máu đào hơn ao nước lã

Cơn đằng đông vừa trông vừa chạy


Đôi khi có những câu thêm cả vần chân (cước vận):

Khôn cho người rái,
Dại cho người thương,
Dở dở ương ương,
Tổ cho người ghét.


3. CA-DAO


Định nghĩa và biệt loại:

Ca dao (ca: bài hát thành chương khúc; dao: bài hát ngắn, không thành chương khúc) là những câu hát theo giọng điệu tự nhiên lưu hành trong dân gian, thường diễn tả ý nghĩ, tình cảm, nếp sinh hoạt của đại chúng bình dân. Ca dao còn được gọi là phong dao ("phong" là phong tục). Người xưa cho rằng qua ca dao có thể nhận biết phong tục tốt, xấu của một xứ, một vùng.

Một biệt loại khá quan trọng của ca dao là đồng dao ("đồng": trẻ con). Đồng dao là những bài hát dành cho trẻ con, toàn bài nhiều khi chỉ là một số câu có vần ghép lại với nhau, không có ý nghĩa rõ rệt. Tuy nhiên, đồng dao có thể giúp trẻ học một số danh từ về các vật thường gặp. Chẳng hạn:

Dung dăng dung dẻ
Dắt trẻ đi chơi
Đến cửa nhà trời
Lạy cậu lạy mợ
Cho cháu về quê
Cho dê đi học
Cho cóc ở nhà
Cho gà bới bếp...

hay:

Cái bống đi chợ cầu Canh
Cái tôm đi trước, củ hành đi sau
Con cua lật đật theo hầu
Cái chày rơi xuống vỡ đầu con cua.

Một số biệt loại nữa của ca dao là các bài hát ru em, các bài vè, và các câu đố.

Vè là một loại ca dao có tính cách thời sự và địa phương, làm ra nhân một việc xảy ra tại địa phương khiến dư luận xôn xao. Vè thường nhằm mục đích chỉ trích, chế giễu.

Không có ranh giới rõ rệt giữa ca dao và dân ca. Có thể coi ca dao là phần lời thơ của các bài dân ca.

Ca dao khác tục ngữ thế nào ?:- theo định nghĩa - ca dao có thể hát lên được (tục ngữ: câu nói; ca dao: câu hát). Trong ca dao, vần điệu rõ rệt và âm hưởng êm ái hơn. Nói chung, câu ca dao dài hơn câu tục ngữ, và thường có nhiều câu hợp lại thành bài.

Xét theo nội dung, tục ngữ thường là những nhận xét thuộc phạm vi lý trí trong khi ca dao là tiếng nói của tình cảm. Tuy nhiên, sự phân biệt này cũng không được chặt chẽ cho lắm: nhiều câu ca dao cũng thuộc phạm vi lý trí.


Cách kết cấu của ca dao:

Các học giả lớp trước thường theo Kinh Thi của Trung hoa mà phân biệt ba lối kết cấu (lập ý, dàn ý) của ca dao là: phú, tỉ, và hứng.

Phú: là phô bày, mô tả, nói thẳng vào sự việc. Chẳng hạn:

Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
Ai vô xứ Nghệ thì vô!

hay:

Ngang lưng thì thắt bao vàng
Đầu đội nón dấu, vai mang súng dài
Một tay thì cắp hỏa mai
Một tay cắp dáo quan sai xuống thuyền
Thùng thùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa...

Tỉ: là ví, so sánh, mượn một sự vật khác để ngụ điều mình muốn nói. Chẳng hạn:

Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn

hay:

Nực cười châu chấu đá xe
Tưởng rằng chấu nát, ai dè xe nghiêng.

Hứng: là nổi lên, trổi dậy, nhân một sự vật bên ngoài mà ý tưởng, tình cảm chính bộc lộ ra. Chẳng hạn:

Quả cau nho nhỏ
Cái vỏ vân vân
Nay anh học gần
Mai anh học xa
Tiền gạo là của mẹ cha
Cái nghiên, cái bút thực là của em

hay:

Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng
Ước gì anh lấy được nàng
Thì anh mua gạch Bát Tràng về xây
Xây dọc rồi lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.


Cũng có bài ca dao kết cấu theo nhiều lối khác nhau như:

Vưà phú vưà tỉ:

Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh, bông trắng, lại chen nhị vàng
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn


Ba câu trên tả hoa sen (phú), câu cuối ví hoa sen với người quân tử (tỉ).

Vừa phú vừa hứng:

Rủ nhau xuống bể mò cua
Đem về nấu quả mơ chua trên rừng
Ai ơi chua ngọt đã từng
Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau!

Ba câu trên nói những nỗi gian nan, từng trải qua cảnh sướng khổ cùng nhau của hai vợ chồng (phú), nhân đó đưa tới ý chính trong câu cuối cùng (hứng).

Vừa tỉ vừa hứng

Dao vàng bỏ đãy kim nhung
Biết người quân tử có dùng ta chăng?

Ý chung cả hai câu là nhân chuyện dao vàng mà nghĩ đến mình (hứng).

Riêng câu trên ví mình với con dao vàng (tỉ).

Kiêm cả ba lối:

Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
-Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay!
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh không hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng
- Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ!
Chim vào lồng biết thuở nào ra!

Ba câu đầu là "phú", chuyển sang câu thứ 4 thành "hứng", ba câu cuối là "tỉ"

hay:

Sơn bình, Kẻ Gốm không xa
Cách một cái quán với ba quãng đồng
Bên dưới có sông,
Bên trên có chợ
- Ta lấy mình làm vợ nên chăng?
Tre già để gốc cho măng.

Bốn câu đầu là "phú", chuyển sang câu thứ 5 thành "hứng", riêng câu cuối là "tỉ".


Hình thức của ca dao:

Số câu trong bài:

Số câu trong một bài ca dao không nhất định. Ca dao có ít nhất hai câu, thông thường từ 4, 5 đến 9, 10 câu. Tuy nhiên, trong những lối hát đối đáp (giao ca), một bài có thể kéo dài vô hạn định tùy khả năng nối tiếp và bắt vần của những người tham dự cuộc hát.

Số chữ trong câu:

Số chữ trong câu ca dao cũng không nhất định. Đại để ca dao thường làm theo các thể sau đây:

Nói lối (mỗi câu 4 chữ):

Lạy trời mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày
Lấy đầy bát cơm
Lấy rơm đun bếp

Lục bát chính thức:

Trúc xinh trúc mọc bờ ao
Em xinh em đứng chỗ nào cũng xinh
Trúc xinh trúc mọc đầu đình
Em xinh em đứng một mình cũng xinh.

Lục bát biến thể:

Công anh đắp nấm trồng chanh
Chẳng được ăn quả, vin cành cho cam
Xin đừng ra dạ bắc nam
"Nhất nhật bất kiến như tam thu hề"
Huống "tam thu nhi bất kiến hề"
Đường kia nỗi nọ như chia mối sầu
Chắc về đâu đã hẳn hơn đâu
Cầu tre vững nhịp hơn cầu thượng gia
(Các câu 5 và 7 có 7 chữ trong khi đáng lẽ chỉ có 6)

Song thất lục bát chính thức:

Bác mẹ già phơ phơ đầu bạc
Con chàng còn trứng nước thơ ngây
Có hay chàng ở đâu đây
Thiếp xin mượn cánh chắp bay theo chàng.

Song thất lục bát biến thể:

Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay!
(Câu 4 có 8 chữ trong khi đáng lẽ chỉ có 7)

Phối hợp nhiều thể khác nhau:

Các bài "Quả cau nho nhỏ..." và "Sơn bình, Kẻ Gốm không xa..." nhắc đến ở trên. Ta cũng có thể kể thêm bài sau đây:

Từ khi gặp mặt giữa đàng
Thiếp quyết thương chàng cha mẹ nào hay
Có hay thì nhất đánh nhì đày
Hai lẽ mà thôi
Thủy chung em giữ trọn mấy lời
Chết em chịu chết, lìa đôi em không lìa.

4. TRUYỆN CỔ TÍCH :

Hầu hết các dân tộc thiểu số trên đất nước Việt Nam đều có những thần thoại về nguồn gốc vũ trụ và nguồn gốc loài người. Chẳng hạn truyện ỏ Đẻ đất, đẻ nước õ của người Mường, các truyện về cơn đại hồng thủy vaụ quả bầu khổng lồ, nơi phát xuất những con người đầu tiên trên đất Việt cổ và các vùng lân cận, trong hầu hết các sưu tập cổ tích của người Thái, Lolo, Hmong, Bana, Raglai, Sedang, Vân kiều...
Những chuyện Lạc Long quân trừ Ngư tinh, Hồ tinh, Mộc tinh; Thánh Tản viên (Sơn tinh) ngăn nước lụt... của người Việt có thể xếp vào loại thần thoại về sự chinh phục thiên nhiên và kỳ tích của anh hùng.

Những truyện "Cóc kiện trời", "Tại sao hổ có vằn", "Sự tích loài khỉ", "Sự tích con tu hú", "Sự tích con dã tràng"... trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam có thể xếp vào loại cổ tích về loài vật.

Những truyện về Thánh Gióng, Chử Đồng tử, Bánh dầy bánh chưng, Quả dưa đỏ, Sơn tinh Thủy tinh, Thần Kim quy và nỏ thần, Tô thị vọng phu, Thiếu phụ Nam xương... có thể xếp vào loại cổ tích lịch sử.

Những truyện Trầu cau, Tấm Cám, Ba vị đầu rau, Túi ba gang (hai anh em và cây khế), Cây tre trăm đốt, Lưu Bình Dương Lễ, Cái cân thủy ngân, Giết chó dạy chồng... có thể xếp vào loại truyện luân lý.

Những chuyện về sự dối trá của thằng Cuội, Trạng Quỳnh lỡm chúa Trịnh, Trạng Lợn gặp may, cũng như những giai thoại về Ba Giai, Tú Xuất... có thể xếp vào loại truyện hài hước.

Thêm vào đó, dân ta còn có những truyện thần kỳ, thoát tục như Tú Uyên gặp tiên, Từ Thức lên tiên... (truyện Chử Đồng tử đã nhắc đến ở trên cũng có thể xếp vào loại này), và những truyện thần quái như Người lấy cóc, Sọ Dừa, Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Ma xó... Chúng ta cũng có một số truyện ái tình thuần túy như Trưong Chi - Mỵ nương.
Một số truyện cổ tích của dân tộc Việt (như các truyện Trăm trứng trăm trai, Tấm Cám, Thạch Sanh, Sọ Dừa...) cũng là truyện cổ tích của nhiều sắc dân thiểu số trên đất nước Việt Nam. Một số truyện Việt Nam cũng có thể tìm thấy trong kho tàng cổ tích của một vài dân tộc khác ở Đông Nam Á.
Một đặc điểm đáng lưu ý của các truyện cổ tích là không có văn bản nhất định. Mỗi người kể lại đều có thể thêm bớt, thay đổi đôi chút cho hợp với khung cảnh và trình độ, thành phần thính giả.

BungRieu
05-22-2003, 11:21 AM
Trong bài II bao gồm các Tiết mục sau
=================================================================

5. GIÁ TRỊ VĂN CHƯƠNG.
..... Hình ảnh
............ Nhiều hình ảnh đẹp:
............ Truyền cảm:
..... Ngữ vựng thật phong phú, thanh nhã và bóng bảy
............ Cụ thể, sống động:
............ Linh hoạt, sắc bén:
............ Mộc mạc ,giản dị, tự nhiên:
..... Cách phô diễn ý tưởng:
............ Tự nhiên, lưu loát:
............ Dí dỏm:
..... Khéo dùng mỹ từ pháp:
............ Phép trùng điệp (điệp ngữ):
............ Phép lộng ngữ (chơi chữ, bỡn chữ):
............ Phép cân đối:
............ Nhân cách hóa (lời lẽ bóng bảy, kín đáo, súc tích):
............ Khéo mượn hình ảnh để so sánh:
............ Khéo dùng sự tích, điển cố:
............ Ngoa ngữ và thậm xưng (để nhấn mạnh hay lố bịch hóa, điểm đặc sắc của văn học dân gian):

6. MỘT SỐ CÂU CA DAO ĐẸP:
..... Tình nghĩa, nhiều câu thật cảm động:
..... Trong sáng, tràn đầy thi vị:
..... Truyền cảm, ý tưởng súc tích:
..... Cảm khái với những ý tưởng đặc sắc:

7. GIÁ TRỊ NHÂN VĂN CỦA CA DAO, TỤC NGỮ
..... Lịch sử đất nước
..... Hình thể đất nước
..... Kinh nghiệm của dân tộc về một số vấn đề thường thưc:
............ Thời tiết:
............ Canh nông:
............ Ứng dụng thực tiễn:
............ Đặc điểm, thổ sản địa phương:
............ Tướng mạo:
............ Tâm lý:
..... Một số đặc điểm đáng quý hoặc đáng lưu ý của dân Việt
..... Một số lời khuyên thực tiễn và hữu ích của tiền nhân
..... Một số đặc điểm đáng quý hoặc đáng lưu ý của dân tộc:
..... Tinh thần hi sinh và công lao khó nhọc của người đàn bà Việt Nam:
..... Hi sinh:
............ Đảm đang, nuôi chồng học:
............ Chăm sóc gia đình khi chồng đi làm ăn nơi xa:
............ Chăm sóc gia đình khi chồng đi lính:
Đặc tính coi trọng nội dung hơn hình thức:
............ Hiếu thảo với cha mẹ:
............ Khi chữ hiếu mâu thuẫn với chữ tình:
............ Nhận thức khác biệt :
............ Yêu thương
............ Tình và Hiếu:
..... Một số lời khuyên thực tiễn và hữu ích của tiền nhân:
............ Về cách xử thế:
............ Có ý nghĩa luân lý:
=================================================================

5. GIÁ TRỊ VĂN CHƯƠNG
Nói chung, ca dao và tục ngữ có giá trị văn chương khá cao.

Hình ảnh:

Nhiều hình ảnh đẹp:

-Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?

-Chờ em biết đến bao giờ
Vạc kêu khe núi, trăng mờ sườn non

-Vì mây cho núi lên trời
Vì cơn gió thoảng hoa cười với trăng

Truyền cảm:
Khéo dùng những hình ảnh thân mật, gần với cuộc sống (tác dụng truyền cảm mạnh)

-Qua đình ngả nón trông đình
Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu

-Trăm năm đành lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ, con đò khác đưa

-Tóc mai sợi vắn sợi dài
Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm

Sống động
Dùng hình ảnh để so sánh thật sống động

-Mặt rỗ như tổ ong bầu
Cái răng khấp khểnh như cầu rửa chân

-Đêm qua mới thật là đêm
Ruột xót như muối, dạ mềm như dưa

-Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?


Ngữ vựng thật phong phú. thanh nhã và bóng bảy:

-Ai đi đâu đấy hỡi ai?
Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm

-Tìm em như thể tìm chim
Chim ăn biển bắc đi tìm biển đông

Cụ thể, sống động :

-Anh đi đường ấy xa xa
Để em ôm bóng trăng tà năm canh

Có khi linh hoạt, sắc bén:

-Đối địch thì dịch lại đây
Bên thừng bên chão xem dây nào bền

-Em ơi chị bảo em này
Nhất mặn là muối, nhất cay là gừng

-Nhất cao là núi Tam từng
Chị còn đạp đổ nữa vừng cỏ may!

-Em ơi chị bảo em này
Trứng chọi với đá có ngày trứng tan!

Mộc mạc, gián dị , tự nhiên:
Nhiều khi dùng ngôn ngữ mộc mạc của người bình dân (giản dị, tự nhiên)

Chim lạc bày xa cây nhớ cội
Người xa người tội lắm người ơi!
Chẳng thà chẳng biết thì thôi
Biết nhau mỗi đứa một nơi cũng phiền.

Cách phô diễn ý tưởng:

Tự nhiên, lưu loát:

-Buồn trông chênh chếch sao mai
Sao ơi sao hỡi, nhớ ai sao mờ?

Trời ơi có thấu chăng trời?
Lụa đào mà vá áo tơi cho đành!

Dí dỏm:

Đường xa thì thật là xa
Mượn mình làm mối cho ta một người
Một người mười tám đôi mươi
Một người vừa đẹp vừa tươi như mình

Nghịch ngợm, bỡn cợt, khéo tạo ngạc nhiên:

Tôi mà có nói dối ai
Thì trời đánh ngã cây khoai giữa đồng
Tôi mà có nói dối chồng
Thì trời đánh ngã cây hồng bờ ao

Khéo dùng mỹ từ pháp:

Phép trùng điệp (điệp ngữ):

Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ
Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai?

Ngày ngày em đứng em trông
Trông non non ngất, trông sông sông dài
Trông mây mây kéo ngang trời
Trông trăng trăng khuyết, trông người người xa

Khăn thương nhớ ai?
Khăn rơi xuống đất
Khăn thương nhớ ai?
Khăn vắt lên vai
Khăn thương nhớ ai?
Khăn chùi nước mắt
Đèn thương nhớ ai?
Mà đèn không tắt
Mắt thương nhớ ai?
Mắt ngủ không yên.

Phép lộng ngữ (chơi chữ, bỡn chữ):

...Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn

Ba năm ăn ở trên thuyền
Vì anh hàng muối cho nên mặn mà
Xuống thuyền nhịp bảy nhịp ba
Trách anh hàng trứng ở ra đôi lòng

Sông Bờ, sông Mã, sông Thao
Ba ngọn sông ấy đổ vào sông Thương
(đây không phải sông Thương trong địa dư vì trên thực tế, ba con sông nhắc đến trong câu trên không chảy vào sông Thương địa dư)

Phép cân đối:

Đói cho sạch, rách cho thơm

Miếng khi đói, gói khi no

Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng

Hòn đất ném đi, hòn chì ném lại.

Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng

Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần

Dầu hao thiếp rót, đèn mờ thiếp khêu

Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam

Thành xây xương lính, hào đào máu dân

Gái có chồng như gông đeo cổ

Trai có vợ như rợ buộc chân

Nhân cách hóa (lời lẽ bóng bảy, kín đáo, súc tích):

Ai đi đâu đấy hỡi ai
Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm?

Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?

Thuyền ơi có nhớ bến chăng?
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

Tằm ơi say đắm nơi đâu?
Mà tằm bỏ nghĩa cành dâu chẳng nhìn.

Khéo mượn hình ảnh để so sánh:

Chim ham trái chín ăn xa
Buồn tình lại nhớ gốc đa muốn về
Có quán tình phụ cây đa
Ba năm quán đổ, cây đa vẫn còn

Có bát sứ tình phụ bát đàn
Nâng niu bát sứ, vỡ tan có ngày!

Tiếc thay cái tấm lụa đào
Áo rách chẳng vá, vá vào áo tơi.
Trời ơi có thấu chăng trời?
Lụa đào mà vá áo tơi cho đành!

Tiếc thay cây quế châu Thường
Để cho thằng mán, thằng mường nó leo

Khéo dùng sự tích, điển cố:

... Đêm đêm tưởng dải Ngân hà
Chuôi sao tinh đẩu đã ba năm tròn
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn
Tào khê nước chảy vẫn còn trơ trơ.

Ngoa ngữ và thậm xưng
để nhấn mạnh hay lố bịch hóa, điểm đặc sắc của văn học dân gian

Bao giờ trạch đẻ ngọn đa
Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình
Bao giờ rau cải làm đình
Gỗ lim thái ghém thì mình lấy ta.

Cưới em trăm tấm gấm đào
Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời
... Cưới em tám vạn trâu bò
Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm

Lá đa mặt nguyệt hôm rằm
Răng nanh thằng Cuội, râu cằm thiên lôi
Gan ruồi mỡ muỗi cho tươi
Xin chàng chín chục con dơi goá chồng

... Xay thóc cả ngày được một đấu ba
Đêm nằm nghĩ ngợi gần xa
Giở mình một cái gãy ba thang giường

6. MỘT SỐ CÂU CA DAO ĐẸP

Trong loại ca dao về tình nghĩa, nhiều câu thật cảm động:

Đi đâu cho thiếp đi cùng
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam.
Tay bưng đĩa muối, chén gừng
Gừng cay, muối mặn, xin đừng phụ nhau
Tay cầm đĩa muối, chén rau
Thủy chung như nhất, sang giàu mặc ai
Bao giờ cạn lạch Đồng nai
Nát chùa Thiên mụ mới phai lời nguyền.

Yêu nhau giàu khó chớ lo
Một mai thiên địa lại cho xoay vần
Yêu nhau xa cũng như gần
Tham bên phú quý, phụ bần khó coi
Yêu nhau duyên phận thì thôi
Của thì như nước hồ vơi lại đầy.

Nhiều câu ca dao đẹp một cách trong sáng, tràn đầy thi vị:

Đố ai biết lúa mấy cây
Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng
Đố ai quét sạch lá rừng
Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây...

Sáng trăng giải chiếu hai hàng
Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ.
Xin chàng đọc sách, ngâm thơ
Dầu hao thiếp rót, đèn mờ thiếp khêu.

Nhiều câu thật truyền cảm, ý tưởng súc tích:

Đêm qua ra đứng bờ ao
Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ
Buồn trông con nhện chăng tơ
Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai?
Buồn trông chênh chếch sao mai
Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ?
Đêm đêm tưởng dải Ngân hà
Chuôi sao tinh đẩu đã ba năm tròn
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn
Tào khê nước chảy vẫn còn trơ trơ.

Nhiều câu có giọng cảm khái với những ý tưởng đặc sắc:

Đêm qua chớp bể mưa nguồn
Hỏi người tri thức có buồn chăng ai?
Tưởng rằng đá nát thì thôi
Ai ngờ đá nát nung vôi lại nồng.

Tay cầm bán nguyệt xênh xang
Một trăm thức cỏ lai hàng tay ta
Quên mình giữa đám cỏ hoa
Buồn tênh những lúc trăng tà, sao thưa.

5. GIÁ TRỊ NHÂN VĂN CỦA CA DAO, TỤC NGỮ

Phản ảnh trình độ nhận thức và nếp suy nghĩ của người bình dân, giá trị của tục ngữ, ca dao Việt Nam về phương diện tư tưởng có phần giới hạn. Đôi khi ta gặp một vài ý nghĩ không hợp với đạo lý hay có vẻ hẹp hòi. Đôi khi ta cũng thấy một số nhận xét thiếu sâu sắc hoặc mâu thuẫn với nhau. Tuy nhiên xét chung, tục ngữ và ca dao cho ta biết nhiều điều hữu ích về:

- Lịch sử đất nước

- Hình thể đất nước

- Kinh nghiệm của dân tộc về một số vấn đề thường thức

- Một số đặc điểm đáng quý hoặc đáng lưu ý của dân Việt

- Một số lời khuyên thực tiễn và hữu ích của tiền nhân

Lịch sử đất nước:

Con ơi con ngủ cho muồi (cho lành)
Để mẹ gánh nước đổ vòi (rửa bành) con voi

Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà quản tượng cưỡi voi đánh cồng.

Nực cười châu chấu đá xe
Tưởng rằng chấu nát, ai dè xe nghiêng

Đánh giặc thì đánh giữa sông
Chớ đánh chỗ cạn vướng chông mà chìm

Tiếc thay cây quế châu Thường (giữa rừng)
Để cho thằng mán, thằng mường nó leo

Tiếc thay hạt gạo trắng ngần
Đã vo nước đục lại vần than rơm

Đời vua Thái tổ, Thái tông
Con bế, con giắt, con bồng, con mang

Bò đen húc lẫn bò vàng
Húc quýnh húc quáng đâm quàng xuống sông

Đời vua Vĩnh tộ lên ngôi
Cơm trắng đầy nồi trẻ chẳng buồn ăn

Đục cùn thì giữa lấy tông
Đục long, cán gãy, còn mong nỗi gì!

Khôn ngoan qua cửa sông La
Dễ ai có cánh bay qua lũy Thầy

Anh về Bình định thăm cha
Phú yên thăm mẹ, Khánh hòa thăm em

Làm trai cho đáng nên trai
Phú xuân đã trải, Đồng nai cũng từng

Con mèo mày trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đàng xa
Mua mắm mua muối giỗ cha con mèo

Ngó lên hòn tháp Cánh Tiên
Cảm thương quan Hậu thủ thiềng ba năm

Lạy trời cho cả gió nồm
Cho thuyền chúa Nguyễn dong buồm thẳng ra

Vạn niên là Vạn niên nào
Thành xây xương lính, hào đào máu dân

Giặc Sài gòn đánh xuống
Binh ngoài Huế không vô
Anh biểu em đừng đợi đừng chờ
Để anh đi lấy đầu thằng mọi trắng tế cờ nghĩa quân
Giặc Tây đánh đến Cần giờ
Bậu đừng mong nhớ, đợi chờ uổng công

Chẻ tre bện sáo cho dày
Ngăn ngang sông Mỹ có ngày gặp em

Gáo vàng đi múc giếng Tây
Khôn ngoan cho lắm, tớ thầy người ta

Nghĩ ra nông nỗi thêm rầu
Ở giữa Đồng khánh, hai đầu Hàm nghi

Tướng Võ không còn Nguyên Giáp nữa
"Bác Hồ" cũng chẳng "Chí Minh" đâu.

Hình thể và đặc điểm của đất nước:

Đồng đăng có phố Kỳ lừa
Có nàng Tô thị, có chùa Tam thanh

Ai lên xứ Lạng cùng anh
Bõ công bác mẹ sinh thành ra em...

Sông Gầm, sông Chảy, sông Lô
Sông Đà, sông Đáy chảy vô Hồng hà
Thái bình chi nhánh có ba
Sông Cầu, sông Lục cùng là sông Thương
Làm trai chí ở bốn phương
Kỳ cùng cũng tới, Bằng giang cũng tường...

Sông Lô một dải trong ngần
Thảnh thơi ta rũ bụi trần cũng nên
Sông Lô nước đục, bụi đen
Ai lên phố Ẻn cũng quên đường về

Đường lên Mường Lễ bao xa
Trăm bảy mươi thác, trăm ba mươi ghềnh

Thành Hà nội năm cửa nàng ơi
Sông Lục đầu sáu khúc, nước chảy xuôi một dòng
Nước sông Thương bên đục bên trong
Núi đức Thánh Tản thắt cổ bồng mà có thánh sinh
Đền Sòng thiêng nhất tỉnh Thanh
Ở trên tỉnh Lạng có thành tiên xây...

Rủ nhau xem cảnh Kiếm hồ
Xem cầu Thê húc, xem chùa Ngọc sơn
Đài Nghiên, tháp Bút chưa mòn
Hỏi ai gây dựng nên non nước này.

Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn võ, canh gà Thọ xương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Nhịp chày Yên thái, mặt gương Tây hồ.

Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
Ai vô xứ Nghệ thì vô!
Thương anh em cũng muốn vô
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam giang

Lênh đênh qua cửa Thần phù
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm

Đi bộ thì khiếp Hải vân
Đi thủy thì sợ sóng thần hang Dơi

Đông ba, Gia hội hai cầu
Trông lên Diệu đế bốn lầu, hai chuông

Núi Ngự bình trước tròn, sau méo
Sông An cựu nắng đục, mưa trong

Chiều chiều mây phủ Hải vân
Chim kêu ghềnh đá ngẫm thân em buồn
Tiếng ai than khóc nỉ non
Là vợ chú lính trèo hòn Cù mông.

Ai về Bình định mà coi
Con gái Bình định múa roi đi quyền

Nhà Bè nước chảy chia hai
Ai về Gia định, Đồng nai thì về!

Tỉnh Cần thơ nam thanh nữ tú
Xứ Rạch giá vượn hú chim kêu

Bạc liêu đi dễ, khó về
Trai đi có vợ, gái về có con.

Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh
Nước Tháp Mười lấp lánh cá tôm

Đèn nào cao cho bằng đèn Châu đốc
Gió nào độc cho bằng gió Gò công

Trông lên chín chín ngọn Hồng
Ngó về chín khúc Cửu long dạt dào
Non kia ai đắp mà cao?
Sông kia ai bới, ai đào mà sâu?

Kinh nghiệm của dân tộc về một số vấn đề thường thức:

Thời tiết:

Én bay thấp, mưa ngập bờ ao
Én bay cao, mưa rào lại tạnh

Chuồn chuồn bay thấp thì mưa
Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm

Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa
Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão

Cơn đằng đông vừa trông vừa chạy
Cơn đằng nam vừa làm vừa chơi
Cơn đằng tây mưa dây gió giật.

Thâm đông, hồng tây, dựng may
Ai ơi ở lại ba ngày hãy đi.

Canh nông:

Trời nắng tốt dưa, trời mưa tốt lúa

Được mùa cau, đau mùa lúa
Được mùa lúa, úa mùa cau

Lúa chiêm nép ở đầu bờ
Bỗng nghe tiếng sấm phất cờ mà lên

Mồng tám tháng tư không mưa
Mẹ con bán cả cày bừa mà ăn

Ứng dụng thực tiễn:

Trăm hay không bằng tay quen

Học thầy không thầy học bạn

Tốt gỗ hơn tốt nước sơn

Phép vua thua lệ làng

Cờ bạc là bác thằng bần
Cửa nhà bán hết, tra chân vào cùm

Trai khôn tìm vợ chợ đông
Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân.

Đặc điểm, thổ sản địa phương:

Ăn Bắc, mặc Kinh

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Chẳng thanh chẳng lịch cũng người Trường an

Thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến

Trai Cầu Vồng, Yên thế, gái Nội duệ, Cầu Lim

Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần
Nước mắm Vạn Vân, cá rô đầm Sét.

Muốn ăn bánh ít lá gai
Lấy chồng Bình định, sợ dài đường đi

Tệ đoan, bất công xã hội:

Cá lớn nuốt cá bé

Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ

Tiền vào quan như than vào lò

Muốn nói oan, làm quan mà nói

Con ơi ghi lấy câu này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan

Tuần hà là cha kẻ cướp

Bố chồng như lông con phượng
Mẹ chồng như tượng mới tô
Nàng dâu là bồ đựng chửi.

Tướng mạo:

Những người thắt đáy lưng ong
Vừa khéo chiều chồng lại khéo nuôi con
Những người béo trục béo tròn
Ăn vụng như chớp, đánh con cả ngày.
Những người ti hí mắt lươn
Trai thì trộm cướp, gái buôn chồng người

Tâm lý:

Yêu nên tốt, ghét nên xấu

Yêu ai yêu cả đường đi
Ghét ai ghét cả tông chi họ hàng

Mấy đời bánh đúc có xương
Mấy đời dì ghẻ có thương con chồng

Khó khăn giữa chợ leo teo
Ông cô bà cậu chẳng điều hỏi sao

Giàu sang ở bên nước Lào
Hùm tha, rắn cắn, tìm vào cho mau.

Gái thương chồng đương đông buổi chợ
Trai thương vợ nắng quái chiều hôm

Một số đặc điểm đáng quý hoặc đáng lưu ý của dân tộc:

Tinh thần hi sinh và công lao khó nhọc của người đàn bà Việt Nam:

Hi sinh:

Có con phải khổ vì con
Có chồng phải gánh giang sơn cho chồng
Có con phải khổ vì con
Có chồng phải ngậm bồ hòn đắng cay

Canh một dọn cửa dọn nhà
Canh hai dệt cửi, canh ba đi nằm
Canh tư buớc sang canh năm
Trình anh dạy học chớ nằm làm chi...

Những ngày em ở cùng cha
Cái nón tiền rưỡi, quai ba mươi đồng
Đến khi em về cùng chồng
Cái nón sáu đồng mà buộc quai mo

Xưa kia nón thúng quai thao
Bây giờ nón rách, quai nào thì quai
Vì chàng thiếp phải mò cua
Những như thân thiếp thì mua mấy đồng
Vì chàng nên phải mua mâm
Những như thân thiếp bốc ngầm cho xong
Vì chàng thiếp phải long đong
Những như thân thiếp cũng xong một bề
Thương chồng nên phải gắng công
Nào ai xương sắt, da đồng chi đây!

Một ngày mấy bận trèo non
Lấy gì mà đẹp mà dòn hỡi anh
Một ngày mấy bận trèo đèo
Lấy đâu má phấn lưng eo hỡi chàng

Đảm đang, nuôi chồng học:

... Nay anh học gần
Mai anh học xa
Tiền gạo thì của mẹ cha
Cái nghiên, cái bút thật là của em
Em thì canh cửi trong nhà
Nuôi anh đi học đặng khoa bảng vàng

Em là con gái Phụng thiên
Bán rau mua bút mua nghiên cho chồng
Nữa mai chồng chiếm bảng rồng
Bõ công bón tưới vun trồng cho rau

Mùa hè cho chí mùa đông
Mùa nào thức nấy cho chồng đi thi
Hết gạo thiếp lại gánh đi
Hỏi thăm chàng học ở thì nơi nao

Chăm sóc gia đình khi chồng đi làm ăn nơi xa:

Nhà anh chỉ có một gian
Nửa thì làm bếp, nửa toan làm buồng
Anh cậy em coi sóc trăm đường
Để anh buôn bán trẩy trương thông hành
Còn chút mẹ già nuôi lấy cho anh
Để anh buôn bán thông hành đường xa.
Em ơi, thuận với mẹ già
Đừng tiếng nặng nhẹ người ta chê cười
Dù no dù đói cho tươi
Khoan ăn bớt ngủ liệu bài lo toan
Đói no có thiếp có chàng
Còn hơn chung đỉnh, giàu sang một mình

Bác mẹ già phơ phơ đầu bạc
Con chàng còn trứng nước thơ ngây
Có hay chàng ở đâu đây
Thiếp xin mượn cánh chắp bay theo chàng.

Chăm sóc gia đình khi chồng đi lính:

Trời ơi, sinh giặc làm chi?
Cho chồng tôi phải ra đi chiến trường.

- Thương nàng đã đến tháng sinh
Ăn ở một mình, nương cậy vào ai?
Rồi ra sinh gái sinh trai
Sớm khuya mưa nắng lấy ai bạn cùng?
- Sinh gái thì em gả chồng
Sinh trai lấy vợ mặc lòng thiếp lo.

Anh ơi, phải lính thì đi
Cửa nhà đơn chiếc đã thì có tôi
Anh ơi, giữ lấy việc công
Để em cày cấy mặc lòng em đây

Khuyên anh đi lính cho ngoan
Cho dân được cậy, cho quan được nhờ
Bao giờ lên đội, lên cơ
Thì em sẽ quyết đợi chờ cùng anh.

Lính vua, lính chúa, lính làng
Nhà vua bắt lính cho chàng phải ra
Giá vua bắt lính đàn bà
Để em đi đỡ anh và bốn năm
Bởi vua bắt lính đàn ông
Tiền lưng gạo bị sắm trong nhà này.

- Khen ai khéo tiện ngù cờ
Khéo xây bàn án, khéo thờ tổ tiên.
- Tổ tiên để lại em thờ
Anh ra ngoài ải cầm cờ theo vua
Chàng ơi, trẩy sớm hay trưa?
Để em gánh gạo tiễn đưa hành trình

Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
Nàng về nuôi cái cùng con
Để anh đi trẩy nước non Cao bằng...

Anh đi, em ở lại nhà
Hai vai gánh vác mẹ già con thơ
Lầm than bao quản muối dưa
Anh đi, anh liệu chen đua với đời.

Đặc tính coi trọng nội dung hơn hình thức:

Dân Việt Nam, nhất là ở phía Nam của đất nước, với ảnh hưởng văn hóa Đông nam Á đậm hơn ảnh hưởng Trung hoa, có khuynh hướng thiên về nội dung hơn hình thức khi ứng dụng các nguyên tắc luân lý. Thái độ của người con trước hôn nhân khi quan niệm của họ về người phối ngẫu không phù hợp với quan niệm của cha mẹ là một trường hợp điển hình.

Hiếu thảo:
Nói chung, người thanh niên, thiếu nữ Việt Nam rất hiếu thảo với cha mẹ

Má ơi, đừng đánh con hoài
Để con bắt cá, nấu xoài má ăn.

Bao giờ cho lý hóa long
Đền ơn cha mẹ ẵm bồng ngày xưa

Ngó lên nuộc lạt trên nhà
Đếm bao nhiêu nuộc lạt, thương cha mẹ già bấy nhiêu

Gió đưa cây cửu lý hương
Xa cha xa mẹ, thất thường bữa ăn
Sầu riêng cơm chẳng muốn ăn
Đã bưng lấy bát lại dằn xuống mâm

Ba tiền một khúc cá buôi
Cũng mua cho được mà nuôi mẹ già

Chẳng lo thân bậu với qua
Lo chút mẹ già đầu bạc tuổi cao
Đêm đêm mỗi thắp đèn trời
Cầu cho cha mẹ sống đời với con

Ngó lên ngó xuống thì khuây
Ngó về quê mẹ tràn đầy nhớ thương

Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chìu
Chiều chiều ra đứng bờ sông
Muốn về quê mẹ mà không có đò.

Khi chữ hiếu mâu thuẫn với chữ tình:

Nơi thương, cha mẹ biểu không
Nơi chẳng bằng lòng, cha mẹ biểu ưng.
Chiều chiều ra đứng bờ mương
Bên tình, bên hiếu, biết thương bên nào?

Thẳng thắn:
Người thanh niên, thiếu nữ Việt Nam cũng dám có ý kiến khác cha mẹ. Tuy hiểu rằng cha mẹ muốn gả con vào chỗ giàu có là để con có cuộc sống vật chất đầy đủ, họ thẳng thắn trình bày nhận thức khác biệt của họ

Chẳng tham nhà ngói bức bàn
Trái duyên, coi bẵng một gian chuồng gà
Ba gian nhà rạ lòa xòa
Phải duyên, coi tựa chín tòa nhà lim

Số em giàu, lấy khó cũng giàu
Số em nghèo, chín đụn mười trâu cũng nghèo
Phải duyên, phải kiếp thì theo
Thân em đâu quản khó nghèo làm chi
Chữ nhân duyên thiên tải nhất thì
Giàu ăn, khó nhịn, lo gì mà lo?

Thương nhau giàu khó chớ lo
Một mai thiên địa lại cho xoay vần...

Thuận vợ thuận chồng, tát bể đông cũng cạn

Chồng em áo rách em thương
Chồng người áo gấm xông hương mặc người.

Họ mạnh dạn nói lên một sự thật:
vì muốn gả con vào chỗ giàu có, cha mẹ nhiều khi có những lựa chọn không thích hợp

Đường đi những lách cùng lau
Cha mẹ tham giàu, ép uổng duyên con

Cha mẹ đòi ăn cá thu
Gả con xuống biển mù mù tăm tăm.

Mẹ em tham thúng xôi dền
Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh hưng
Em đã bảo mẹ rằng đừng
Mẹ hấm mẹ hứ, mẹ bưng ngay vào.
Bây giờ chồng thấp, vợ cao
Như đôi đũa lệch, so sao cho đều?

Chồng lên tám, vợ mười ba
Cả ngày nu nống nu na đỡ buồn
Mười tám vợ đã lớn khôn
Nu na nu nống, chồng còn mười ba
Mẹ ơi, con phải gỡ ra
Chồng con nu nống nu na suốt ngày!

Vô duyên vô phúc, múc phải anh chồng già
Ra đường người hỏi rằng cha hay chồng?
Nói ra đau đớn trong lòng
Ấy cái nợ truyền kiếp chứ có phải chồng em đâu!

Cổ tay em vừa trắng vừa tròn
Răng đen nhưng nhức, chồng con kém người
Đáng thương thay nhạn ở với ruồi,
Tiên ở với cú, người cười với ma,
Con công ăn lẫn với gà
Rồng kia rắn nọ, coi đà sao nên?

Tha thiết:
Trong buồn lo, sợ hãi, người thanh niên, thiếu nữ Việt Nam dám cưỡng ý cha mẹ để bảo vệ mối tình của mình. Họ tha thiết xin cha mẹ nhìn nhận mối tình của họ. Trong trường hợp cha mẹ vẫn không chấp nhận, họ sẵn sàng chịu đựng mọi hình phạt nhưng cương quyết không rời bỏ nhau

Mình ơi, tôi nhớ thương mình
Mẹ cha chửi mắng, chữ tình nặng thêm.

Em thương anh, phụ mẫu đánh mấy em cũng không lo
Nặng đòn em ráng chịu, em nằm co em khóc thầm.

Dù cha có đánh mõ đình
Mẹ ngăn ngõ chợ, đôi đứa mình đừng xa.

Mặc dù cha đánh, mẹ treo,
Đứt dây té xuống cũng theo chung tình.

Dao phay chín ngọn, em bắt trọn có một mình
Chết em chịu chết, biểu buông mình em không buông

Dao phay kề cổ, máu đổ không màng
Chết tôi tôi chịu, buông nàng tôi không buông.

... Thủy chung em giữ trọn mấy lời
Chết em chịu chết, lìa đôi em không lìa.

Họ có thể không vâng ý cha mẹ tuy vẫn tôn trọng và kính yêu cha mẹ:

Mẹ cha tuy chẳng bằng lòng
Đôi ta cố gắng chữ đồng trăm năm

Hai đứa mình đành, phụ mẫu cũng đành
Đấng làm cha mẹ đâu nỡ dứt duyên lành của con!

Dầu cho phụ mẫu rày la
Đôi ta thủng thẳng dắt ra lạy chào

Bấy lâu nay em còn nghi còn ngại
Bữa nay em kêu đại bằng mình
Phụ mẫu hay đặng, không lẽ đánh mình, giết em?

Chẳng thà dắt thẳng nhau vô
Phụ mẫu có giết, thác một mồ cũng ưng!

Em đành, phụ mẫu không đành
Hai đứa mình trải chiếu ngoài thành lạy vô.

Một số lời khuyên thực tiễn và hữu ích của tiền nhân:

Về cách xử thế:

Ăn có nhai, nói có nghĩ

Ăn trông nồi, ngồi trông hướng

Ăn miếng chả, trả miếng nem

Một sự nhịn, chín sự lành

Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.

Gửi lời thì nói, gửi gói thì mở

Cười người chớ vội cười lâu
Cười người hôm trước, hôm sau người cười.

Lời nói chẳng mất tiền mua
Liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau

Giàu ba mươi tuổi chớ mừng
Khó ba mươi tuổi em đừng vội lo

Có ý nghĩa luân lý:

Ăn cây nào, rào cây ấy

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

Ăn mặn nói ngay còn hơn ăn chay nói dối

Chị ngã, em nâng

Đói cho sạch, rách cho thơm

Thà ăn cáy, ngáy o o
Còn hơn ăn bò mà lo ngay ngáy

Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người

Ai mà phụ nghĩa, quên công
Thì đeo muôn cánh hoa hồng chẳng thơm.

Trăm năm bia đá thì mòn
Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ
Những người gian ác thuở xưa
Tiếng nhơ gột rửa bao giở cho phai.

Tranh quyền cướp nước gì đây
Coi nhau như bát nước đầy là hơn.

Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng.

lost-dude
05-25-2003, 06:30 PM
Great works, BúngRiêu! I'm so proud of you. Keep up the good work, I really enjoy reading them. :) :) :) <-- Thưởng BR ba nụ cười, bằng ba mươi viên thuốc bổ, để có sức mà write/type hay copy-and-paste. (Hehehe, nhiều chuyện quá, dzọt mau chớ không bị đá đích.)

danden
06-19-2003, 12:58 AM
Ca ngợi công đức !
Chắc khi nào có dịp cũng sẻ đóng góp với Bún Riêu đây một chân !
Lão Già Nhà Quê !

BungRieu
06-19-2003, 03:26 AM
Chào Bác danden ...

Cám ơn Bác quá khen ...
Không phải là công đức đâu Bác ơi ! ...
BR là người ăn trộm và type lại mà thôi ..
Ăn trộm thì là tội lỗi chớ sao mà công đức được ..:) :D :D ..

Nếu được Bác đóng ghóp thì còn gì quí hơn ...
BR đang tập học chữ Nho ... nhiều khi thấy cái kho chữ Nho
của bác hay quá .. chỉ muốn ăn trộm và khiêng về ... nhưng chưa dám đó ...:) ...:D ...

Chúc Bác Vui Mạnh sống lâu ... và đế lại cho bọn nhỏ tụi cháu những gì mà bác đã có nha ...

danden
06-22-2003, 02:16 PM
Bạn Bún Riêu !
Hai Chữ Công Đức - Đúng ra là ngôn ngữ của Nhà Phật , nhưng Tui lại thấy trên giới Forum ngày nay đôi khi hay xài cho nên Tui lại quen miệng !
* Phàm hể ai làm việc gì cho Bá Tánh , cho Tha Nhân gọi là công đức
* Quá thật - Đếm ra chỉ trên đầu ngón tay
* Tui đâu có kho chữ Nho gì đâu ?
* Bạn muốn học thì vào Viện Phật Học , có cả Tự Điển Hán Việt
Lão Già Nhà Quê !

convitcon
06-22-2003, 04:18 PM
thanks Bún Riêu,

lâu quá hổng phá Bún Riêu :D:D:D mong BR Luôn mạnh khoẻ, trẻ mãi hỏng già :D:D:D

BungRieu
06-24-2003, 09:37 AM
Hi Anh CVC
Cám ơn Anh đã hỏi thăm ..
BR khỏe lắm ...
Đang mùa Thi .. nên bận bù đầu luôn ...
... không dám vô VCB lâu
hy vọng sau mùa thi này .. thì sẽ rảnh hơn ...
Chúc Anh vui,

BungRieu
06-24-2003, 09:49 AM
Originally posted by danden
Bạn Bún Riêu !
* Tui đâu có kho chữ Nho gì đâu ?
* Bạn muốn học thì vào Viện Phật Học , có cả Tự Điển Hán Việt
Lão Già Nhà Quê !
Có mà Bác ... BR có đọc thấy trong web site của Bác đó ..

Cám ơn bác đã cho biết là trong viên Phật học có Tự Điển ... BR sẽ chạy đi coi ...

BR thích học chữ Nho lắm ...rất tiếc ..là BR không có nhiều thời
gian ... năm ngoái cho đến nay BR đã học được khoảng 100 chữ rồi .. nhưng vì bận học thi ..nên phải tạm ngưng ... bi giờ thì quên
hết sạch rồi ... chắc phải học lại từ đầu ...

Chắc bác rành chữ Nho lắm ... trong mục Ca dao Tục ngữ từ A đến Y ... bác có viết hai chữ "Văn hoá" ....

Cái hình Ông già râu dài bạc phơ trong web site của bác đó ...
có phải là hình cúa Bác không ạ ... BR hơi tò mò ... :) ...

danden
06-24-2003, 11:48 PM
Sức sống mãnh liệt của con người Việt Nam qua văn học

--- Nguyễn Văn Hiệp ---

Không hiểu vì sao mỗi lần nghĩ đến đất nước và con người Việt nam, mỗi chúng ta lại nghe vang vọng trong tâm chí những câu thơ của Huy Cận:

Sống vững chãi bốn ngàn năm sừng sững,
Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa
Trong và thực, sáng hai bờ suy tưởng
Sống hiên ngang mà nhân ái, chan hoà.

Sảng khoái biết bao ! Tự hào biết bao! Trong tâm trí ta bỗng cuồn cuộn đổ về dòng lịch sử bốn ngàn năm của dân tộc. Bừng sáng trong tâm hồn ta bốn ngàn năm của cha ông với những chiến công dựng nước và giữ nước, với trời bể ân tình thuỷ chung như nhất, yêu thương đùm bọc nhau của những con người quen đứng đầu sóng gió, chống lại mọi thế lực thù địch để giành lấy quyền sống, quyền được làm người.

Qua bao phong ba của lịch sử, dân tộc ta đã thể hiện một sức sống mãnh liệt: "Lưng đeo gươm, tay mềm mại bút hoa". Bên cạnh ý chí độc lập dân tộc, bao giờ cũng sẵn sàng giáng sấm sét vào đầu kẻ thù, chúng ta còn có một tấm lòng yêu - tấm lòng yêu này tiếp thêm sức mạnh cho cái ý chí ấy và là khởi nguồn cho chúng ta tạo nên một nền văn học tuyệt vời. Văn học dân tộc ta là một thứ máu của Tổ quốc. Dòng máu văn học ấy đã chảy trong lòng dân tộc ta suốt chiều dài lịch sử, qua biết bao thác ghềnh và thấm vào tâm hồn chúng ta hôm nay với một sức sống rạo rực mãnh liệt. Yêu biết bao nền văn học ấy, nền văn học mà nội dung cũng như hình thức đều chứng tỏ sức sống, sự vươn lên của con người Việt Nam.

Sức sống ấy bắt đầu bằng tình yêu đất nước, yêu thiên nhiên vô cùng tha thiết và trong sáng. Mỗi mảnh đất quê hương chúng ta đều mang hơi thở cuộc sống của những ngày cha ông gian khổ khẩn hoang vỡ đất. Con người Việt Nam đổ mồ hôi, xương máu gắn chặt tâm hồn mình với mảnh đất thiêng liêng ấy. Thiên nhiên đất nước giàu đẹp nhưng cũng lắm thử thách, hăm doạ rập rình theo mỗi bước đi lên của con người Việt Nam. Mặc dù vậy, cái tình ta yêu đời, cái tình ta yêu cuộc sống vẫn là âm hưởng chủ đạo ngày ngày vang lên trong cuộc sống. Gian khổ mấy cũng vui được, cái vui vừa ngời chói, vừa trong sáng lạ lùng:

Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.

Vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp của lòng người quyện vào nhau trong câu ca dao mượt mà, khơi lên và chảy đằm thắm trong lòng ta một sức sống vừa dịu dàng, vừa rạo rực, mãnh liệt. Con người Việt Nam yêu lao động, biết quý vô cùng những giọt mồ hôi mình đổ ra để chắt chiu xây dựng cuộc sống. Tình yêu lớn đối với đất nước, những đồng cam cộng khổ vất vả hằng ngày đã sớm gắn bó con người Việt Nam thành một khối thươg yêu đùm bọc lẫn nhau. Cha ông ta đã tự dặn mình và dạy con cháu:

Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước thì thương nhau cùng.

Tình thương ấy là một trong những cội nguồn của sức sống con người Việt Nam. Tình thương giản dị nhưng mang sức mạnh vô cùng. Tình thương ấy tạo nên sức mạnh đoàn kết giúp con người Việt Nam chiến thắng thiên nhiên hung dữ. Truyền thuyết Sơn Tinh thắng Thuỷ Tinh hàng ngàn năm rồi vẫn còn sống trong lòng dân tộc, âm vang một cách dữ dội sức mạnh của những con người đội đá lấp sông, chặn lũ. Đoàn kết là sức mạnh, là sức sống không có một thế lực nào có thể tiêu diệt được của nhân dân ta.

Vừa chống thiên nhiên hung dữ, cha ông ta lại phải không ngừng chống giặc ngoại xâm. Lịch sử dân tộc là lịch sử của những năm tháng con ngườiViệt Nam đem máu xương của mình bảo vệ độc lập dân tộc. Con ngườiViệt Nam được tôi luyện và lớn lên không ngừng với những cuộc chiến đấu chống ngoại xâm dai dẳng và quyết liệt. Buổi cha ông dựng nước, cũng chính là buổi cha ông giữ nước. Những bàn tay biết cầm cái cuốc, cái cày vỡ đất ấy cũng chính là những bàn tay vô cùng kiên quyết, dữ dội biết cầm vũ khí đánh giặc để bảo vệ vững chắc thành quả lao động của mình. Câu chuyện Thánh Gióng làm sống mãi trong tâm trí mỗi ngườiViệt Nam ý chí quyết chiến, quyết thắng quan xâm lược . Từ lòng yêu nước, con người Việt Nam nảy sinh lòng căm thù giặc cướp nước. Đến một ngày nào đó lòng căm thù ấy bùng lên, con người Việt Nam vụt trở mình, lớn dậy cùng với hình tượng Thánh Gióng , cùng cây tre quê hương xung phong diệt giặc. Sức mạnh của lòng yêu nước, của chí căm thù là sức mạnh vô địch. Sức mạnh ấy bắt nguồn từ Thánh Gióng xa xưa và đã cuồn cuộn chảy trong mạch nguồn dân tộc, làm nên một sức mạnh nội tại mãnh liệt không ngừng tăng lên, lớn lên mãi. Mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, bị uy hiếp, sức mạnh của tình yêu và lòng căm thù ấy lại bùng lên, và mỗi lần bùng lên như vậy, trang sử dân tộc lại thắm đỏ ngời chói những chiến công. Lịch sử những cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc đã sớm hình thành trong tâm chí con người Việt nam một sự thống nhất tuyệt đẹp. Thống nhất là sự sống, là sức sống của Tổ quốc ta. Truyền thuyết đẹp về chín mươi chín con voi quay đầu về chầu mộ tổ vua Hùng, một con không chịu chầu liền bị chém cụt đầu đã chứng minh hùng hồn chân lí đó, thống nhất, đoàn kết đối với dân tộc ta không những là quy luật mà còn là kỉ luật nũa. Sự thống nhất vững bền ấy mang sức sống mãnh liệt của con người Việt Nam.

Văn học dân gian chúng ta có một ngạn ngữ được coi như một phương châm sống: "Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh". Ý chí đánh giặc đã sớm nhập tâm và dường như đã trở thành cái phần bẩm sinh trong mỗi con người Việt Nam. Cha ông chúng ta mỗi khi thấy vó ngựa của quân thù khua ngoài biên ải thì "tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mát đầm đìa, chỉ căm tức rằng chưa xả thịt, lột da, nuốt gan, uống máu quân thù..." (Hịch tướng sĩ - Trần Quốc Tuấn); ngày đêm canh cánh ý chí giết giặc cứu nước

Thù nước chưa xong, đầu đã bạc
Bao độ mài gươm bóng nguyệt tà.

Núi sông ta đã từng rung chuyển bởi tiếng hô "Quyết đánh!" của các bô lão tại điện Diên Hồng. Và ý chí "Sát Thát", hào khí Đông Á đã như một dòng máu, một sức sống chuyển lên suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Kì diệu thay sức sống, sức vươn tới của con người Việt Nam. Những nghĩa quân Lam Sơn ngày nào đã tiến hành một cuộc kháng chiến vô cùng gian khổ vì độc lập, vì sự sống còn của Tổ quốc. Cha ông ta đã mang dũng khí của cả dân tộc đạp bằng mọi gian nguy:

Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
Khi Khôi Huyện quân không một đội

để đi đến ngày toàn thắng, giang sơn gấm vóc thu về một mối.

[...]