BungRieu
05-22-2003, 11:19 AM
Văn-chương truyền khẩu
Tục-ngữ , Ca-dao , Cổ-tích
Trich trong " Ðại-cương về dòng Văn-học Dân-gian "
===========================================================================
Mục Lục:
1. VĂN CHƯƠNG TRUYỀN KHẨU
2. TỤC-NGỮ
.... Định nghĩa và biệt loại
...........Tục ngữ
........... Phương ngôn
........... Cách ngôn
........... Châm ngôn
........... Thành ngữ
.... Nguồn gốc của tục ngữ
.... Hình thức của tục ngữ
........... Không vần, chỉ có ý đối:
........... Không vần, không đối, chỉ cốt ý đúng, lời gọn
........... Yêu vận
........... Cước vận
3. CA-DAO
.... Định nghĩa và biệt loại
........... Ca dao
........... Đồng dao
........... Ca dao khác tục ngữ thế nào ?
.... Cách kết cấu của ca dao
........... Phú
........... Tỉ
........... Hứng
........... Kết hợp giữa Tỉ và Phú
........... Kết hợp giữa Phú và Hứng
........... Kết hợp giữa Tỉ và Hứng
........... Kết hợp giữa Tỉ , Phú và Hứng
.... Hình thức của ca dao:
........... Số câu trong bài
........... Số chữ trong câu:
.... Các thể của ca dao
........... Nói lối
........... Lục bát chính thức
........... Lục bát biến thể
........... Song thất lục bát chính thức
........... Song thất lục bát biến thể
........... Phối hợp nhiều thể khác nhau
4. TRUYỆN CỔ TÍCH
5. GIÁ TRỊ VĂN CHƯƠNG.
..... Hình ảnh
............ Nhiều hình ảnh đẹp:
............ Truyền cảm:
..... Ngữ vựng thật phong phú, thanh nhã và bóng bảy
............ Cụ thể, sống động:
............ Linh hoạt, sắc bén:
............ Mộc mạc ,giản dị, tự nhiên:
..... Cách phô diễn ý tưởng:
............ Tự nhiên, lưu loát:
............ Dí dỏm:
..... Khéo dùng mỹ từ pháp:
............ Phép trùng điệp (điệp ngữ):
............ Phép lộng ngữ (chơi chữ, bỡn chữ):
............ Phép cân đối:
............ Nhân cách hóa (lời lẽ bóng bảy, kín đáo, súc tích):
............ Khéo mượn hình ảnh để so sánh:
............ Khéo dùng sự tích, điển cố:
............ Ngoa ngữ và thậm xưng (để nhấn mạnh hay lố bịch hóa, điểm đặc sắc của văn học dân gian):
6. MỘT SỐ CÂU CA DAO ĐẸP:
..... Tình nghĩa, nhiều câu thật cảm động:
..... Trong sáng, tràn đầy thi vị:
..... Truyền cảm, ý tưởng súc tích:
..... Cảm khái với những ý tưởng đặc sắc:
7. GIÁ TRỊ NHÂN VĂN CỦA CA DAO, TỤC NGỮ
..... Lịch sử đất nước
..... Hình thể đất nước
..... Kinh nghiệm của dân tộc về một số vấn đề thường thưc:
............ Thời tiết:
............ Canh nông:
............ Ứng dụng thực tiễn:
............ Đặc điểm, thổ sản địa phương:
............ Tướng mạo:
............ Tâm lý:
..... Một số đặc điểm đáng quý hoặc đáng lưu ý của dân Việt
..... Một số lời khuyên thực tiễn và hữu ích của tiền nhân
..... Một số đặc điểm đáng quý hoặc đáng lưu ý của dân tộc:
..... Tinh thần hi sinh và công lao khó nhọc của người đàn bà Việt Nam:
..... Hi sinh:
............ Đảm đang, nuôi chồng học:
............ Chăm sóc gia đình khi chồng đi làm ăn nơi xa:
............ Chăm sóc gia đình khi chồng đi lính:
Đặc tính coi trọng nội dung hơn hình thức:
............ Hiếu thảo với cha mẹ:
............ Khi chữ hiếu mâu thuẫn với chữ tình:
............ Nhận thức khác biệt :
............ Yêu thương
............ Tình và Hiếu:
..... Một số lời khuyên thực tiễn và hữu ích của tiền nhân:
............ Về cách xử thế:
............ Có ý nghĩa luân lý:
===========================================================================
1. VĂN CHƯƠNG TRUYỀN KHẨU:
Người là sinh vật biết nhận thức, có ý nghĩ, tình cảm, và khả năng diễn đạt những ý nghĩ, tình cảm ấy. Trong lịch sử văn học của các dân tộc, trước khi tiến tới giai đoạn có chữ viết với những sáng tác được ghi chép thành văn, trong dân gian đã có:
những câu nói ngắn, gọn có ý nghĩa;
những câu hát theo giọng điệu tự nhiên để biểu lộ, gửi gấm tình cảm;
những mẩu chuyện để cắt nghĩa các hiện tượng thiên nhiên hay các tập tục, tín ngưỡng.
Văn học dân gian truyền khẩu (với những tục ngữ, ca dao, truyện cổ tích... ) xuất hiện trong rất nhiều xã hội trước khi con người tìm ra chữ viết. Trong văn học sử Trung hoa, khởi đầu cho thơ ca chính là những câu hát dân gian mà về sau Khổng tử đã sưu tập lại trong Kinh Thi. Tục ngữ, ca dao và truyện cổ tích (proverbs, folk songs, folk poetry, folk tales, hay nói chung, folk literature) là tài liệu văn học quan trọng của nhiều dân tộc trên thế giôùi, không riêng gì dân tộc Việt Nam.
Đối với dân tộc ta, dòng văn học dân gian có một địa vị đáng kể hơn thế nữa. Suốt trên 1000 năm Bắc thuộc, văn tự chính thức được công nhận là chữ Hán, thứ chữ không diễn đạt được tiếng nói của dân Việt. Sau khi lấy lại được chủ quyền, tuy tiền nhân ta có thêm chữ Nôm, nhưng chữ này khó học, khó nhớ vì lại do chữ Hán ghép thành (muốn biết chữ nôm phải thông thạo chữ Hán trước). Vì thế trong xã hội ta xưa, số người biết đọc, biết viết để có thể diễn đạt ý tưởng, tình cảm bằng chữ (bất kể chữ nôm hay chữ Hán) rất ít. Đại đa số dân chúng đã sáng tác và lưu giữ các tác phẩm dưới dạng truyền khẩu. Chính vì thế, dòng văn học dân gian truyền khẩu rất phong phú và quan trọng trong kho tàng văn học Việt Nam.
Văn học truyền khẩu không hoàn toàn là sáng tác của người bình dân ít học. Trước khi thành đạt, đa số nho sĩ sinh sống, học hành ở thôn quê. Nhiều ẩn sĩ, hàn nho ở với nông thôn suốt đời. Trong những dịp hội hè, trong các cuộc gặp gỡ, hát xướng, nhiều câu nói, câu hát của các vị đã được người bình dân ít học ghi nhớ rồi từ đó, gia nhập dòng văn học dân gian. Theo nhiều tài liệu, Trạng nguyên Lương Thế Vinh (ông Trạng Lường), thi hào Nguyễn Du (cậu Chiêu Bảy), nhà cách mạng Phan Bội Châu (ông Giải San), nhà thơ Nguyễn Bính... đều đã từng tham dự các sinh hoạt ca hát ở thôn quê và có tác phẩm để lại, làm giàu thêm cho kho tàng văn học dân gian. Ta có thể tin nhiều nho sĩ, trí thức khác cũng đã có những hành động tương tự.
2. TỤC-NGỮ:
Định nghĩa và biệt loại:
Tục ngữ (tục: thói quen có đã lâu đời; ngữ: lời nói) là những câu nói ngắn, gọn, giàu ý nghĩa, được dùng trong lời nói hàng ngày và lưu truyền từ đời nọ qua đời kia. Tục ngữ còn được gọi là ngạn ngữ (lời người xưa truyền lại).
Có ý nghĩa hẹp hơn tục ngữ là:
Phương ngôn: Những câu tục ngữ được dùng trong một vùng, một địa phương chứ không phổ biến khắp nước.
Cách ngôn, Châm ngôn: Những câu tục ngữ có ý khuyên dạy luân lý ("cách" là phương thức, "châm" là lời răn bảo).
Thành ngữ: Một loại tục ngữ đặc biệt, tự nó chưa có ý nghĩa đầy đủ. Thành ngữ chỉ là những cách nói đã định sẵn (set expressions) để mô tả sự vật chứ không biểu thị một ý phán đoán hay khuyên răn nào. Chẳng hạn:
Đàn gảy tai trâu
Đáy bể mò kim
Nói hươu nói vượn
Gần đất xa trời
Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa
Ngậm bồ hòn làm ngọt
Cảnh trứng chọi với đá
Chốn miệng hùm nọc rắn
Xứ tiền rừng bạc biển...
Trong các thành ngữ, có những câu diễn ý so sánh hai sự vật để làm nổi bật việc mô tả, được gọi là những Câu ví. Chẳng hạn:
Lạnh như tiền
Thẳng như ruột ngựa
Chắc như đinh đóng cột
Dốt đặc cán mai
Lúng túng như thợ vụng mất kim...
Nguồn gốc của tục ngữ:
Phần lớn các tục ngữ nảy sinh trong đời sống hàng ngày. Ban đầu, có khi chỉ là một câu nói thường nhưng nhờ có ý nghĩa xác đáng, lời lẽ cô đọng, dễ nhớ, được người khác thích thú, nhắc đi nhắc lại. Dần dần, câu nói được trau chuốt và phổ biến rộng hơn.
Có những câu vốn là thơ ca có tác giả nhưng nhờ ý đúng, lời hay, được nhiều người lưu tâm một cách đặc biệt rồi tách riêng để truyền tụng. Những câu như Thương người như thể thương thân trong Gia huấn ca (tương truyền của Nguyễn Trãi), Khi nên trời cũng chiều người, hay Chữ "tài" liền với chữ "tai" một vần trong Truyện Kiều của Nguyễn Du... có thể xếp vào loại này.
Có những câu tục ngữ được dịch từ ngạn ngữ nước ngoài như:
Ở hiền gặp lành (Tích thiện phùng thiện - Trung hoa)
Có công mài sắt, có ngày nên kim (Ma chử thành châm - Trung hoa)
Lửa cháy đổ dầu thêm (Hỏa thượng thiêm du - Trung hoa)
Thời giờ là tiền bạc (Time is money - Anh)
Muốn là được (Vouloir, c'est pouvoir - Pháp)
Hình thức của tục ngữ:
Trong tục ngữ có những câu:
Không vần, chỉ có ý đối:
Giơ cao, đánh sẽ
Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài
No nên bụt, đói ra ma
Không vần, không đối, chỉ cốt ý đúng, lời gọn:
Mật ngọt chết ruồi
Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Nhưng phần lớn tục ngữ là những câu có vần, thường là vần lưng (yêu vận):
Ăn cây nào rào cây ấy
Phép vua thua lệ làng
Con có cha như nhà có nóc
Một giọt máu đào hơn ao nước lã
Cơn đằng đông vừa trông vừa chạy
Đôi khi có những câu thêm cả vần chân (cước vận):
Khôn cho người rái,
Dại cho người thương,
Dở dở ương ương,
Tổ cho người ghét.
3. CA-DAO
Định nghĩa và biệt loại:
Ca dao (ca: bài hát thành chương khúc; dao: bài hát ngắn, không thành chương khúc) là những câu hát theo giọng điệu tự nhiên lưu hành trong dân gian, thường diễn tả ý nghĩ, tình cảm, nếp sinh hoạt của đại chúng bình dân. Ca dao còn được gọi là phong dao ("phong" là phong tục). Người xưa cho rằng qua ca dao có thể nhận biết phong tục tốt, xấu của một xứ, một vùng.
Một biệt loại khá quan trọng của ca dao là đồng dao ("đồng": trẻ con). Đồng dao là những bài hát dành cho trẻ con, toàn bài nhiều khi chỉ là một số câu có vần ghép lại với nhau, không có ý nghĩa rõ rệt. Tuy nhiên, đồng dao có thể giúp trẻ học một số danh từ về các vật thường gặp. Chẳng hạn:
Dung dăng dung dẻ
Dắt trẻ đi chơi
Đến cửa nhà trời
Lạy cậu lạy mợ
Cho cháu về quê
Cho dê đi học
Cho cóc ở nhà
Cho gà bới bếp...
hay:
Cái bống đi chợ cầu Canh
Cái tôm đi trước, củ hành đi sau
Con cua lật đật theo hầu
Cái chày rơi xuống vỡ đầu con cua.
Một số biệt loại nữa của ca dao là các bài hát ru em, các bài vè, và các câu đố.
Vè là một loại ca dao có tính cách thời sự và địa phương, làm ra nhân một việc xảy ra tại địa phương khiến dư luận xôn xao. Vè thường nhằm mục đích chỉ trích, chế giễu.
Không có ranh giới rõ rệt giữa ca dao và dân ca. Có thể coi ca dao là phần lời thơ của các bài dân ca.
Ca dao khác tục ngữ thế nào ?:- theo định nghĩa - ca dao có thể hát lên được (tục ngữ: câu nói; ca dao: câu hát). Trong ca dao, vần điệu rõ rệt và âm hưởng êm ái hơn. Nói chung, câu ca dao dài hơn câu tục ngữ, và thường có nhiều câu hợp lại thành bài.
Xét theo nội dung, tục ngữ thường là những nhận xét thuộc phạm vi lý trí trong khi ca dao là tiếng nói của tình cảm. Tuy nhiên, sự phân biệt này cũng không được chặt chẽ cho lắm: nhiều câu ca dao cũng thuộc phạm vi lý trí.
Cách kết cấu của ca dao:
Các học giả lớp trước thường theo Kinh Thi của Trung hoa mà phân biệt ba lối kết cấu (lập ý, dàn ý) của ca dao là: phú, tỉ, và hứng.
Phú: là phô bày, mô tả, nói thẳng vào sự việc. Chẳng hạn:
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
Ai vô xứ Nghệ thì vô!
hay:
Ngang lưng thì thắt bao vàng
Đầu đội nón dấu, vai mang súng dài
Một tay thì cắp hỏa mai
Một tay cắp dáo quan sai xuống thuyền
Thùng thùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa...
Tỉ: là ví, so sánh, mượn một sự vật khác để ngụ điều mình muốn nói. Chẳng hạn:
Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn
hay:
Nực cười châu chấu đá xe
Tưởng rằng chấu nát, ai dè xe nghiêng.
Hứng: là nổi lên, trổi dậy, nhân một sự vật bên ngoài mà ý tưởng, tình cảm chính bộc lộ ra. Chẳng hạn:
Quả cau nho nhỏ
Cái vỏ vân vân
Nay anh học gần
Mai anh học xa
Tiền gạo là của mẹ cha
Cái nghiên, cái bút thực là của em
hay:
Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng
Ước gì anh lấy được nàng
Thì anh mua gạch Bát Tràng về xây
Xây dọc rồi lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.
Cũng có bài ca dao kết cấu theo nhiều lối khác nhau như:
Vưà phú vưà tỉ:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh, bông trắng, lại chen nhị vàng
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn
Ba câu trên tả hoa sen (phú), câu cuối ví hoa sen với người quân tử (tỉ).
Vừa phú vừa hứng:
Rủ nhau xuống bể mò cua
Đem về nấu quả mơ chua trên rừng
Ai ơi chua ngọt đã từng
Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau!
Ba câu trên nói những nỗi gian nan, từng trải qua cảnh sướng khổ cùng nhau của hai vợ chồng (phú), nhân đó đưa tới ý chính trong câu cuối cùng (hứng).
Vừa tỉ vừa hứng
Dao vàng bỏ đãy kim nhung
Biết người quân tử có dùng ta chăng?
Ý chung cả hai câu là nhân chuyện dao vàng mà nghĩ đến mình (hứng).
Riêng câu trên ví mình với con dao vàng (tỉ).
Kiêm cả ba lối:
Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
-Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay!
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh không hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng
- Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ!
Chim vào lồng biết thuở nào ra!
Ba câu đầu là "phú", chuyển sang câu thứ 4 thành "hứng", ba câu cuối là "tỉ"
hay:
Sơn bình, Kẻ Gốm không xa
Cách một cái quán với ba quãng đồng
Bên dưới có sông,
Bên trên có chợ
- Ta lấy mình làm vợ nên chăng?
Tre già để gốc cho măng.
Bốn câu đầu là "phú", chuyển sang câu thứ 5 thành "hứng", riêng câu cuối là "tỉ".
Hình thức của ca dao:
Số câu trong bài:
Số câu trong một bài ca dao không nhất định. Ca dao có ít nhất hai câu, thông thường từ 4, 5 đến 9, 10 câu. Tuy nhiên, trong những lối hát đối đáp (giao ca), một bài có thể kéo dài vô hạn định tùy khả năng nối tiếp và bắt vần của những người tham dự cuộc hát.
Số chữ trong câu:
Số chữ trong câu ca dao cũng không nhất định. Đại để ca dao thường làm theo các thể sau đây:
Nói lối (mỗi câu 4 chữ):
Lạy trời mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày
Lấy đầy bát cơm
Lấy rơm đun bếp
Lục bát chính thức:
Trúc xinh trúc mọc bờ ao
Em xinh em đứng chỗ nào cũng xinh
Trúc xinh trúc mọc đầu đình
Em xinh em đứng một mình cũng xinh.
Lục bát biến thể:
Công anh đắp nấm trồng chanh
Chẳng được ăn quả, vin cành cho cam
Xin đừng ra dạ bắc nam
"Nhất nhật bất kiến như tam thu hề"
Huống "tam thu nhi bất kiến hề"
Đường kia nỗi nọ như chia mối sầu
Chắc về đâu đã hẳn hơn đâu
Cầu tre vững nhịp hơn cầu thượng gia
(Các câu 5 và 7 có 7 chữ trong khi đáng lẽ chỉ có 6)
Song thất lục bát chính thức:
Bác mẹ già phơ phơ đầu bạc
Con chàng còn trứng nước thơ ngây
Có hay chàng ở đâu đây
Thiếp xin mượn cánh chắp bay theo chàng.
Song thất lục bát biến thể:
Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay!
(Câu 4 có 8 chữ trong khi đáng lẽ chỉ có 7)
Phối hợp nhiều thể khác nhau:
Các bài "Quả cau nho nhỏ..." và "Sơn bình, Kẻ Gốm không xa..." nhắc đến ở trên. Ta cũng có thể kể thêm bài sau đây:
Từ khi gặp mặt giữa đàng
Thiếp quyết thương chàng cha mẹ nào hay
Có hay thì nhất đánh nhì đày
Hai lẽ mà thôi
Thủy chung em giữ trọn mấy lời
Chết em chịu chết, lìa đôi em không lìa.
4. TRUYỆN CỔ TÍCH :
Hầu hết các dân tộc thiểu số trên đất nước Việt Nam đều có những thần thoại về nguồn gốc vũ trụ và nguồn gốc loài người. Chẳng hạn truyện ỏ Đẻ đất, đẻ nước õ của người Mường, các truyện về cơn đại hồng thủy vaụ quả bầu khổng lồ, nơi phát xuất những con người đầu tiên trên đất Việt cổ và các vùng lân cận, trong hầu hết các sưu tập cổ tích của người Thái, Lolo, Hmong, Bana, Raglai, Sedang, Vân kiều...
Những chuyện Lạc Long quân trừ Ngư tinh, Hồ tinh, Mộc tinh; Thánh Tản viên (Sơn tinh) ngăn nước lụt... của người Việt có thể xếp vào loại thần thoại về sự chinh phục thiên nhiên và kỳ tích của anh hùng.
Những truyện "Cóc kiện trời", "Tại sao hổ có vằn", "Sự tích loài khỉ", "Sự tích con tu hú", "Sự tích con dã tràng"... trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam có thể xếp vào loại cổ tích về loài vật.
Những truyện về Thánh Gióng, Chử Đồng tử, Bánh dầy bánh chưng, Quả dưa đỏ, Sơn tinh Thủy tinh, Thần Kim quy và nỏ thần, Tô thị vọng phu, Thiếu phụ Nam xương... có thể xếp vào loại cổ tích lịch sử.
Những truyện Trầu cau, Tấm Cám, Ba vị đầu rau, Túi ba gang (hai anh em và cây khế), Cây tre trăm đốt, Lưu Bình Dương Lễ, Cái cân thủy ngân, Giết chó dạy chồng... có thể xếp vào loại truyện luân lý.
Những chuyện về sự dối trá của thằng Cuội, Trạng Quỳnh lỡm chúa Trịnh, Trạng Lợn gặp may, cũng như những giai thoại về Ba Giai, Tú Xuất... có thể xếp vào loại truyện hài hước.
Thêm vào đó, dân ta còn có những truyện thần kỳ, thoát tục như Tú Uyên gặp tiên, Từ Thức lên tiên... (truyện Chử Đồng tử đã nhắc đến ở trên cũng có thể xếp vào loại này), và những truyện thần quái như Người lấy cóc, Sọ Dừa, Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Ma xó... Chúng ta cũng có một số truyện ái tình thuần túy như Trưong Chi - Mỵ nương.
Một số truyện cổ tích của dân tộc Việt (như các truyện Trăm trứng trăm trai, Tấm Cám, Thạch Sanh, Sọ Dừa...) cũng là truyện cổ tích của nhiều sắc dân thiểu số trên đất nước Việt Nam. Một số truyện Việt Nam cũng có thể tìm thấy trong kho tàng cổ tích của một vài dân tộc khác ở Đông Nam Á.
Một đặc điểm đáng lưu ý của các truyện cổ tích là không có văn bản nhất định. Mỗi người kể lại đều có thể thêm bớt, thay đổi đôi chút cho hợp với khung cảnh và trình độ, thành phần thính giả.
Tục-ngữ , Ca-dao , Cổ-tích
Trich trong " Ðại-cương về dòng Văn-học Dân-gian "
===========================================================================
Mục Lục:
1. VĂN CHƯƠNG TRUYỀN KHẨU
2. TỤC-NGỮ
.... Định nghĩa và biệt loại
...........Tục ngữ
........... Phương ngôn
........... Cách ngôn
........... Châm ngôn
........... Thành ngữ
.... Nguồn gốc của tục ngữ
.... Hình thức của tục ngữ
........... Không vần, chỉ có ý đối:
........... Không vần, không đối, chỉ cốt ý đúng, lời gọn
........... Yêu vận
........... Cước vận
3. CA-DAO
.... Định nghĩa và biệt loại
........... Ca dao
........... Đồng dao
........... Ca dao khác tục ngữ thế nào ?
.... Cách kết cấu của ca dao
........... Phú
........... Tỉ
........... Hứng
........... Kết hợp giữa Tỉ và Phú
........... Kết hợp giữa Phú và Hứng
........... Kết hợp giữa Tỉ và Hứng
........... Kết hợp giữa Tỉ , Phú và Hứng
.... Hình thức của ca dao:
........... Số câu trong bài
........... Số chữ trong câu:
.... Các thể của ca dao
........... Nói lối
........... Lục bát chính thức
........... Lục bát biến thể
........... Song thất lục bát chính thức
........... Song thất lục bát biến thể
........... Phối hợp nhiều thể khác nhau
4. TRUYỆN CỔ TÍCH
5. GIÁ TRỊ VĂN CHƯƠNG.
..... Hình ảnh
............ Nhiều hình ảnh đẹp:
............ Truyền cảm:
..... Ngữ vựng thật phong phú, thanh nhã và bóng bảy
............ Cụ thể, sống động:
............ Linh hoạt, sắc bén:
............ Mộc mạc ,giản dị, tự nhiên:
..... Cách phô diễn ý tưởng:
............ Tự nhiên, lưu loát:
............ Dí dỏm:
..... Khéo dùng mỹ từ pháp:
............ Phép trùng điệp (điệp ngữ):
............ Phép lộng ngữ (chơi chữ, bỡn chữ):
............ Phép cân đối:
............ Nhân cách hóa (lời lẽ bóng bảy, kín đáo, súc tích):
............ Khéo mượn hình ảnh để so sánh:
............ Khéo dùng sự tích, điển cố:
............ Ngoa ngữ và thậm xưng (để nhấn mạnh hay lố bịch hóa, điểm đặc sắc của văn học dân gian):
6. MỘT SỐ CÂU CA DAO ĐẸP:
..... Tình nghĩa, nhiều câu thật cảm động:
..... Trong sáng, tràn đầy thi vị:
..... Truyền cảm, ý tưởng súc tích:
..... Cảm khái với những ý tưởng đặc sắc:
7. GIÁ TRỊ NHÂN VĂN CỦA CA DAO, TỤC NGỮ
..... Lịch sử đất nước
..... Hình thể đất nước
..... Kinh nghiệm của dân tộc về một số vấn đề thường thưc:
............ Thời tiết:
............ Canh nông:
............ Ứng dụng thực tiễn:
............ Đặc điểm, thổ sản địa phương:
............ Tướng mạo:
............ Tâm lý:
..... Một số đặc điểm đáng quý hoặc đáng lưu ý của dân Việt
..... Một số lời khuyên thực tiễn và hữu ích của tiền nhân
..... Một số đặc điểm đáng quý hoặc đáng lưu ý của dân tộc:
..... Tinh thần hi sinh và công lao khó nhọc của người đàn bà Việt Nam:
..... Hi sinh:
............ Đảm đang, nuôi chồng học:
............ Chăm sóc gia đình khi chồng đi làm ăn nơi xa:
............ Chăm sóc gia đình khi chồng đi lính:
Đặc tính coi trọng nội dung hơn hình thức:
............ Hiếu thảo với cha mẹ:
............ Khi chữ hiếu mâu thuẫn với chữ tình:
............ Nhận thức khác biệt :
............ Yêu thương
............ Tình và Hiếu:
..... Một số lời khuyên thực tiễn và hữu ích của tiền nhân:
............ Về cách xử thế:
............ Có ý nghĩa luân lý:
===========================================================================
1. VĂN CHƯƠNG TRUYỀN KHẨU:
Người là sinh vật biết nhận thức, có ý nghĩ, tình cảm, và khả năng diễn đạt những ý nghĩ, tình cảm ấy. Trong lịch sử văn học của các dân tộc, trước khi tiến tới giai đoạn có chữ viết với những sáng tác được ghi chép thành văn, trong dân gian đã có:
những câu nói ngắn, gọn có ý nghĩa;
những câu hát theo giọng điệu tự nhiên để biểu lộ, gửi gấm tình cảm;
những mẩu chuyện để cắt nghĩa các hiện tượng thiên nhiên hay các tập tục, tín ngưỡng.
Văn học dân gian truyền khẩu (với những tục ngữ, ca dao, truyện cổ tích... ) xuất hiện trong rất nhiều xã hội trước khi con người tìm ra chữ viết. Trong văn học sử Trung hoa, khởi đầu cho thơ ca chính là những câu hát dân gian mà về sau Khổng tử đã sưu tập lại trong Kinh Thi. Tục ngữ, ca dao và truyện cổ tích (proverbs, folk songs, folk poetry, folk tales, hay nói chung, folk literature) là tài liệu văn học quan trọng của nhiều dân tộc trên thế giôùi, không riêng gì dân tộc Việt Nam.
Đối với dân tộc ta, dòng văn học dân gian có một địa vị đáng kể hơn thế nữa. Suốt trên 1000 năm Bắc thuộc, văn tự chính thức được công nhận là chữ Hán, thứ chữ không diễn đạt được tiếng nói của dân Việt. Sau khi lấy lại được chủ quyền, tuy tiền nhân ta có thêm chữ Nôm, nhưng chữ này khó học, khó nhớ vì lại do chữ Hán ghép thành (muốn biết chữ nôm phải thông thạo chữ Hán trước). Vì thế trong xã hội ta xưa, số người biết đọc, biết viết để có thể diễn đạt ý tưởng, tình cảm bằng chữ (bất kể chữ nôm hay chữ Hán) rất ít. Đại đa số dân chúng đã sáng tác và lưu giữ các tác phẩm dưới dạng truyền khẩu. Chính vì thế, dòng văn học dân gian truyền khẩu rất phong phú và quan trọng trong kho tàng văn học Việt Nam.
Văn học truyền khẩu không hoàn toàn là sáng tác của người bình dân ít học. Trước khi thành đạt, đa số nho sĩ sinh sống, học hành ở thôn quê. Nhiều ẩn sĩ, hàn nho ở với nông thôn suốt đời. Trong những dịp hội hè, trong các cuộc gặp gỡ, hát xướng, nhiều câu nói, câu hát của các vị đã được người bình dân ít học ghi nhớ rồi từ đó, gia nhập dòng văn học dân gian. Theo nhiều tài liệu, Trạng nguyên Lương Thế Vinh (ông Trạng Lường), thi hào Nguyễn Du (cậu Chiêu Bảy), nhà cách mạng Phan Bội Châu (ông Giải San), nhà thơ Nguyễn Bính... đều đã từng tham dự các sinh hoạt ca hát ở thôn quê và có tác phẩm để lại, làm giàu thêm cho kho tàng văn học dân gian. Ta có thể tin nhiều nho sĩ, trí thức khác cũng đã có những hành động tương tự.
2. TỤC-NGỮ:
Định nghĩa và biệt loại:
Tục ngữ (tục: thói quen có đã lâu đời; ngữ: lời nói) là những câu nói ngắn, gọn, giàu ý nghĩa, được dùng trong lời nói hàng ngày và lưu truyền từ đời nọ qua đời kia. Tục ngữ còn được gọi là ngạn ngữ (lời người xưa truyền lại).
Có ý nghĩa hẹp hơn tục ngữ là:
Phương ngôn: Những câu tục ngữ được dùng trong một vùng, một địa phương chứ không phổ biến khắp nước.
Cách ngôn, Châm ngôn: Những câu tục ngữ có ý khuyên dạy luân lý ("cách" là phương thức, "châm" là lời răn bảo).
Thành ngữ: Một loại tục ngữ đặc biệt, tự nó chưa có ý nghĩa đầy đủ. Thành ngữ chỉ là những cách nói đã định sẵn (set expressions) để mô tả sự vật chứ không biểu thị một ý phán đoán hay khuyên răn nào. Chẳng hạn:
Đàn gảy tai trâu
Đáy bể mò kim
Nói hươu nói vượn
Gần đất xa trời
Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa
Ngậm bồ hòn làm ngọt
Cảnh trứng chọi với đá
Chốn miệng hùm nọc rắn
Xứ tiền rừng bạc biển...
Trong các thành ngữ, có những câu diễn ý so sánh hai sự vật để làm nổi bật việc mô tả, được gọi là những Câu ví. Chẳng hạn:
Lạnh như tiền
Thẳng như ruột ngựa
Chắc như đinh đóng cột
Dốt đặc cán mai
Lúng túng như thợ vụng mất kim...
Nguồn gốc của tục ngữ:
Phần lớn các tục ngữ nảy sinh trong đời sống hàng ngày. Ban đầu, có khi chỉ là một câu nói thường nhưng nhờ có ý nghĩa xác đáng, lời lẽ cô đọng, dễ nhớ, được người khác thích thú, nhắc đi nhắc lại. Dần dần, câu nói được trau chuốt và phổ biến rộng hơn.
Có những câu vốn là thơ ca có tác giả nhưng nhờ ý đúng, lời hay, được nhiều người lưu tâm một cách đặc biệt rồi tách riêng để truyền tụng. Những câu như Thương người như thể thương thân trong Gia huấn ca (tương truyền của Nguyễn Trãi), Khi nên trời cũng chiều người, hay Chữ "tài" liền với chữ "tai" một vần trong Truyện Kiều của Nguyễn Du... có thể xếp vào loại này.
Có những câu tục ngữ được dịch từ ngạn ngữ nước ngoài như:
Ở hiền gặp lành (Tích thiện phùng thiện - Trung hoa)
Có công mài sắt, có ngày nên kim (Ma chử thành châm - Trung hoa)
Lửa cháy đổ dầu thêm (Hỏa thượng thiêm du - Trung hoa)
Thời giờ là tiền bạc (Time is money - Anh)
Muốn là được (Vouloir, c'est pouvoir - Pháp)
Hình thức của tục ngữ:
Trong tục ngữ có những câu:
Không vần, chỉ có ý đối:
Giơ cao, đánh sẽ
Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài
No nên bụt, đói ra ma
Không vần, không đối, chỉ cốt ý đúng, lời gọn:
Mật ngọt chết ruồi
Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Nhưng phần lớn tục ngữ là những câu có vần, thường là vần lưng (yêu vận):
Ăn cây nào rào cây ấy
Phép vua thua lệ làng
Con có cha như nhà có nóc
Một giọt máu đào hơn ao nước lã
Cơn đằng đông vừa trông vừa chạy
Đôi khi có những câu thêm cả vần chân (cước vận):
Khôn cho người rái,
Dại cho người thương,
Dở dở ương ương,
Tổ cho người ghét.
3. CA-DAO
Định nghĩa và biệt loại:
Ca dao (ca: bài hát thành chương khúc; dao: bài hát ngắn, không thành chương khúc) là những câu hát theo giọng điệu tự nhiên lưu hành trong dân gian, thường diễn tả ý nghĩ, tình cảm, nếp sinh hoạt của đại chúng bình dân. Ca dao còn được gọi là phong dao ("phong" là phong tục). Người xưa cho rằng qua ca dao có thể nhận biết phong tục tốt, xấu của một xứ, một vùng.
Một biệt loại khá quan trọng của ca dao là đồng dao ("đồng": trẻ con). Đồng dao là những bài hát dành cho trẻ con, toàn bài nhiều khi chỉ là một số câu có vần ghép lại với nhau, không có ý nghĩa rõ rệt. Tuy nhiên, đồng dao có thể giúp trẻ học một số danh từ về các vật thường gặp. Chẳng hạn:
Dung dăng dung dẻ
Dắt trẻ đi chơi
Đến cửa nhà trời
Lạy cậu lạy mợ
Cho cháu về quê
Cho dê đi học
Cho cóc ở nhà
Cho gà bới bếp...
hay:
Cái bống đi chợ cầu Canh
Cái tôm đi trước, củ hành đi sau
Con cua lật đật theo hầu
Cái chày rơi xuống vỡ đầu con cua.
Một số biệt loại nữa của ca dao là các bài hát ru em, các bài vè, và các câu đố.
Vè là một loại ca dao có tính cách thời sự và địa phương, làm ra nhân một việc xảy ra tại địa phương khiến dư luận xôn xao. Vè thường nhằm mục đích chỉ trích, chế giễu.
Không có ranh giới rõ rệt giữa ca dao và dân ca. Có thể coi ca dao là phần lời thơ của các bài dân ca.
Ca dao khác tục ngữ thế nào ?:- theo định nghĩa - ca dao có thể hát lên được (tục ngữ: câu nói; ca dao: câu hát). Trong ca dao, vần điệu rõ rệt và âm hưởng êm ái hơn. Nói chung, câu ca dao dài hơn câu tục ngữ, và thường có nhiều câu hợp lại thành bài.
Xét theo nội dung, tục ngữ thường là những nhận xét thuộc phạm vi lý trí trong khi ca dao là tiếng nói của tình cảm. Tuy nhiên, sự phân biệt này cũng không được chặt chẽ cho lắm: nhiều câu ca dao cũng thuộc phạm vi lý trí.
Cách kết cấu của ca dao:
Các học giả lớp trước thường theo Kinh Thi của Trung hoa mà phân biệt ba lối kết cấu (lập ý, dàn ý) của ca dao là: phú, tỉ, và hứng.
Phú: là phô bày, mô tả, nói thẳng vào sự việc. Chẳng hạn:
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
Ai vô xứ Nghệ thì vô!
hay:
Ngang lưng thì thắt bao vàng
Đầu đội nón dấu, vai mang súng dài
Một tay thì cắp hỏa mai
Một tay cắp dáo quan sai xuống thuyền
Thùng thùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa...
Tỉ: là ví, so sánh, mượn một sự vật khác để ngụ điều mình muốn nói. Chẳng hạn:
Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn
hay:
Nực cười châu chấu đá xe
Tưởng rằng chấu nát, ai dè xe nghiêng.
Hứng: là nổi lên, trổi dậy, nhân một sự vật bên ngoài mà ý tưởng, tình cảm chính bộc lộ ra. Chẳng hạn:
Quả cau nho nhỏ
Cái vỏ vân vân
Nay anh học gần
Mai anh học xa
Tiền gạo là của mẹ cha
Cái nghiên, cái bút thực là của em
hay:
Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng
Ước gì anh lấy được nàng
Thì anh mua gạch Bát Tràng về xây
Xây dọc rồi lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.
Cũng có bài ca dao kết cấu theo nhiều lối khác nhau như:
Vưà phú vưà tỉ:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh, bông trắng, lại chen nhị vàng
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn
Ba câu trên tả hoa sen (phú), câu cuối ví hoa sen với người quân tử (tỉ).
Vừa phú vừa hứng:
Rủ nhau xuống bể mò cua
Đem về nấu quả mơ chua trên rừng
Ai ơi chua ngọt đã từng
Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau!
Ba câu trên nói những nỗi gian nan, từng trải qua cảnh sướng khổ cùng nhau của hai vợ chồng (phú), nhân đó đưa tới ý chính trong câu cuối cùng (hứng).
Vừa tỉ vừa hứng
Dao vàng bỏ đãy kim nhung
Biết người quân tử có dùng ta chăng?
Ý chung cả hai câu là nhân chuyện dao vàng mà nghĩ đến mình (hứng).
Riêng câu trên ví mình với con dao vàng (tỉ).
Kiêm cả ba lối:
Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
-Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay!
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh không hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng
- Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ!
Chim vào lồng biết thuở nào ra!
Ba câu đầu là "phú", chuyển sang câu thứ 4 thành "hứng", ba câu cuối là "tỉ"
hay:
Sơn bình, Kẻ Gốm không xa
Cách một cái quán với ba quãng đồng
Bên dưới có sông,
Bên trên có chợ
- Ta lấy mình làm vợ nên chăng?
Tre già để gốc cho măng.
Bốn câu đầu là "phú", chuyển sang câu thứ 5 thành "hứng", riêng câu cuối là "tỉ".
Hình thức của ca dao:
Số câu trong bài:
Số câu trong một bài ca dao không nhất định. Ca dao có ít nhất hai câu, thông thường từ 4, 5 đến 9, 10 câu. Tuy nhiên, trong những lối hát đối đáp (giao ca), một bài có thể kéo dài vô hạn định tùy khả năng nối tiếp và bắt vần của những người tham dự cuộc hát.
Số chữ trong câu:
Số chữ trong câu ca dao cũng không nhất định. Đại để ca dao thường làm theo các thể sau đây:
Nói lối (mỗi câu 4 chữ):
Lạy trời mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày
Lấy đầy bát cơm
Lấy rơm đun bếp
Lục bát chính thức:
Trúc xinh trúc mọc bờ ao
Em xinh em đứng chỗ nào cũng xinh
Trúc xinh trúc mọc đầu đình
Em xinh em đứng một mình cũng xinh.
Lục bát biến thể:
Công anh đắp nấm trồng chanh
Chẳng được ăn quả, vin cành cho cam
Xin đừng ra dạ bắc nam
"Nhất nhật bất kiến như tam thu hề"
Huống "tam thu nhi bất kiến hề"
Đường kia nỗi nọ như chia mối sầu
Chắc về đâu đã hẳn hơn đâu
Cầu tre vững nhịp hơn cầu thượng gia
(Các câu 5 và 7 có 7 chữ trong khi đáng lẽ chỉ có 6)
Song thất lục bát chính thức:
Bác mẹ già phơ phơ đầu bạc
Con chàng còn trứng nước thơ ngây
Có hay chàng ở đâu đây
Thiếp xin mượn cánh chắp bay theo chàng.
Song thất lục bát biến thể:
Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay!
(Câu 4 có 8 chữ trong khi đáng lẽ chỉ có 7)
Phối hợp nhiều thể khác nhau:
Các bài "Quả cau nho nhỏ..." và "Sơn bình, Kẻ Gốm không xa..." nhắc đến ở trên. Ta cũng có thể kể thêm bài sau đây:
Từ khi gặp mặt giữa đàng
Thiếp quyết thương chàng cha mẹ nào hay
Có hay thì nhất đánh nhì đày
Hai lẽ mà thôi
Thủy chung em giữ trọn mấy lời
Chết em chịu chết, lìa đôi em không lìa.
4. TRUYỆN CỔ TÍCH :
Hầu hết các dân tộc thiểu số trên đất nước Việt Nam đều có những thần thoại về nguồn gốc vũ trụ và nguồn gốc loài người. Chẳng hạn truyện ỏ Đẻ đất, đẻ nước õ của người Mường, các truyện về cơn đại hồng thủy vaụ quả bầu khổng lồ, nơi phát xuất những con người đầu tiên trên đất Việt cổ và các vùng lân cận, trong hầu hết các sưu tập cổ tích của người Thái, Lolo, Hmong, Bana, Raglai, Sedang, Vân kiều...
Những chuyện Lạc Long quân trừ Ngư tinh, Hồ tinh, Mộc tinh; Thánh Tản viên (Sơn tinh) ngăn nước lụt... của người Việt có thể xếp vào loại thần thoại về sự chinh phục thiên nhiên và kỳ tích của anh hùng.
Những truyện "Cóc kiện trời", "Tại sao hổ có vằn", "Sự tích loài khỉ", "Sự tích con tu hú", "Sự tích con dã tràng"... trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam có thể xếp vào loại cổ tích về loài vật.
Những truyện về Thánh Gióng, Chử Đồng tử, Bánh dầy bánh chưng, Quả dưa đỏ, Sơn tinh Thủy tinh, Thần Kim quy và nỏ thần, Tô thị vọng phu, Thiếu phụ Nam xương... có thể xếp vào loại cổ tích lịch sử.
Những truyện Trầu cau, Tấm Cám, Ba vị đầu rau, Túi ba gang (hai anh em và cây khế), Cây tre trăm đốt, Lưu Bình Dương Lễ, Cái cân thủy ngân, Giết chó dạy chồng... có thể xếp vào loại truyện luân lý.
Những chuyện về sự dối trá của thằng Cuội, Trạng Quỳnh lỡm chúa Trịnh, Trạng Lợn gặp may, cũng như những giai thoại về Ba Giai, Tú Xuất... có thể xếp vào loại truyện hài hước.
Thêm vào đó, dân ta còn có những truyện thần kỳ, thoát tục như Tú Uyên gặp tiên, Từ Thức lên tiên... (truyện Chử Đồng tử đã nhắc đến ở trên cũng có thể xếp vào loại này), và những truyện thần quái như Người lấy cóc, Sọ Dừa, Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Ma xó... Chúng ta cũng có một số truyện ái tình thuần túy như Trưong Chi - Mỵ nương.
Một số truyện cổ tích của dân tộc Việt (như các truyện Trăm trứng trăm trai, Tấm Cám, Thạch Sanh, Sọ Dừa...) cũng là truyện cổ tích của nhiều sắc dân thiểu số trên đất nước Việt Nam. Một số truyện Việt Nam cũng có thể tìm thấy trong kho tàng cổ tích của một vài dân tộc khác ở Đông Nam Á.
Một đặc điểm đáng lưu ý của các truyện cổ tích là không có văn bản nhất định. Mỗi người kể lại đều có thể thêm bớt, thay đổi đôi chút cho hợp với khung cảnh và trình độ, thành phần thính giả.