PDA

View Full Version : Người Việt


Nick
05-22-2003, 03:19 PM
1. TỤC NGỮ, CA DAO
NƠI TÂM TÌNH NGƯỜI VIỆT



Ai cũng thường mơ ước hay cố gắng thực hiện để đạt được những gì mình thích, hoặc muốn vì chưa có mặc dầu chưa biết chắc điều mơ ước có đem lại lợi ích hay không, ngược lại, coi thường những gì mình có và đang được thụ hưởng. Chẳng hạn, dùng chiếc xe cũ, chúng ta muốn có chiếc xe mới, tiện nghi hơn, đẹp hơn và coi bộ oai hơn... nên đâu để ý hoặc nhận ra chiếc xe cũ đã và đang giúp chúng ta rất nhiều về phương tiện di chuyển. Chiếc xe của tôi đã bước vào tuổi "lão thành," sơn tróc nham nhở, kiếng trước rạn nứt hai đường ngoằn ngoèo; mỗi khi đóng cửa xe, tôi lại có cơ hội tập thể thao cho đôi cánh taỵ Nhưng khi chở gỗ sửa nhà trên mui, ý nghĩ so sánh giữa công dụng xe cũ và mới chợt đến bởi nếu nó là chiếc xe mới có lẽ không bao giờ tôi dám chở trên mui như thế mà lại phải tốn tiền mướn chở. Thực tế hơn, có lẽ ít khi chúng ta nghĩ đến giá trị của không khí trong cuộc sống, coi sự thở hít khí trời là chuyện bình thường, không có chi đáng nóị Đôi khi nghẹt mũi cũng chỉ lo giải quyết sao cho mũi thông chứ ít người đặt vấn đề giả sử không có không khí. Có phải sự thở hít không khí là một sự tự nhiên của mọi sinh vật nên vì thế hiếm ai để ý đến?

Cũng vậy, là người Việt Nam, được nuôi dưỡng trong gia đình Việt, lớn lên trong ý thức người Việt, được hun đúc, dạy dỗ từ nơi gia đình, xã hội, môi trường sống với tâm tình Việt nên có thể chúng ta không để ý đến giá trị của mình. Thử đặt câu hỏi, giá trị của gia đình Việt Nam gồm có những điểm nào và ảnh hưởng thế nào đối với cuộc đời của một người Việt? Dù cố gắng cách mấy, tôi cảm thấy, chúng ta chỉ có thể nghĩ tới được vài phần trăm là cùng.

Có điều hay mà không biết thì làm sao biết được điều dở của mình? Không biết điều hay của mình làm sao nhận định được điều hay của người khác để học theọ Viết về Hương Hoa Dân Việt, tôi muốn dùng Tục Ngữ, Ca Dao để nêu lên những điểm cao đẹp sẵn có nơi văn hóa dân Việt cùng với hệ thống gia đình mà chúng ta đang thừa hưởng và bảo vệ hầu mong truyền thống tốt lành này được nhận ra rõ hơn đồng thời nâng cao niềm hãnh diện về giá trị dân tộc; giá trị đang chất chứa trong từng lớp xương, từng thớ thịt nơi mỗi người mang dòng máu đỏ da vàng dân Việt.

Cắp sách đến trường lúc còn nhỏ, không ai có thể quên những tấm bảng bìa cứng xinh xắn dán nơi lớp học. Đại khái những bảng hiệu này được ghi lên những câu Tục Ngữ, Ca Dao về luân lý; chẳng hạn: TIÊN HỌC LỄ, HẬU HỌC VĂN; KHÔNG THÀY ĐỐ MÀY LÀM NÊN; UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN, v.v... Những bảng cách ngôn luân lý ghi lại những châm ngôn cao đẹp về giá trị đặc tính người Việt với mục đích giúp cho học sinh ghi nhớ nằm lòng tâm tình luân lý sống mà một người Việt Nam "đúng nghĩa" nên noi theo và thực hiện trong cuộc đời của mình. Đây chính là một phần văn hóa tinh thần mọi người thường nói đến nhưng ít khi để ý vì đã quá quen thuộc nằm lòng và bởi hay lộn nghĩa chữ văn hóa và văn minh. Văn hóa bao gồm văn minh. Văn hóa là lối sống biểu hiệu tâm tư luân lý. Văn hóa bao gồm phong tục tập quán, ngôn ngữ và những sản phẩm cao đẹp của cuộc sống luân lý nơi con ngườị Cuộc sống con người được uốn nắn bởi văn hóa dầu văn hóa do chính cuộc sống nội tâm và thực tại tạo thành.

Những dân tộc Á Đông nói chung và người Việt nói riêng, tư tưởng và cuộc sống đi đôi với nhaụ Mình trọng cuộc sống minh chứng quan niệm, chiều hướng, tư tưởng chứ không tách rời tư tưởng khỏi cuộc sống như Tây Âụ Điều này được nhận thấy rõ ràng nơi chính cuộc sống thường ngàỵ Chúng ta không cần giấy tờ, chỉ một lời nói đơn sơ, người khác có thể tin mình hay không tùy thuộc vào xưa nay mình đã sống thế nàọ Do đó, người Việt không có sách dạy sống mà chỉ có Tục Ngữ, Ca Daọ Chẳng hạn: "Có đi có lại mới toại lòng nhau," "Yêu nhau trái ấu cũng tròn, ghét nhau bồ hòn cũng méo," hay "Gắp lửa bỏ bàn tay," hoặc "Một câu nhịn bằng chín câu lành." v.v... Những sách mệnh danh "học làm người" sau này, xét ra mang đặc tính quá hạn hẹp nếu không muốn nói là đã coi con người như những bộ máy rập khuôn các công thức theo lối nhìn, quan niệm một chiềụ Tâm tình con người đâu phải như những bộ máy được chế sẵn theo một khuôn mẫu thì làm sao có thể rập vào những công thức như một cộng với một là hai của Đắc Nhân Tâm, của Làm Thế Nào Để Trở Thành Người Đàn Bà Tuyệt Vời, v.v... Cuộc sống không phải chỉ có những mẫu mực đúng và sai đối nghịch như trắng với đen, mà thường thì trong cái đúng bao hàm cái không hợp lý. Nguyên nhân của một sự việc đem đến sự sai lầm lại cũng chứa đựng những yếu tố đúng. Sự sai lầm có thể là kết quả của sự thiếu hòa hợp của các phần tử, yếu tố mà thôị Kinh nghiệm sống cho chúng ta biết, những sự việc chúng ta phải đương đầu giải quyết, cũng như cách đối xử giữa người với người chẳng hoàn toàn trắng mà cũng không hoàn toàn đen; chúng nửa nọ, nửa kia, hoặc già bên này, non bên kiạ Như thế, một cộng với một đối với cuộc sống có thể không phải là hai mà là ba hay bốn hoặc hơn kém. Lấy một thí dụ điển hình về giáo dục con cáị Cha mẹ tùy từng lúc, tùy nơi chốn hay môi trường mà nghiêm ngặt hay khoan hòa đối với con cái chứ không phải lúc nào cũng khó khăn, hùng hổ như quân hằn quân thù hoặc ngược lại lúc nào cũng nhẹ nhàng dễ chịu làm lơ cho con cái hư đị Cha mẹ nào không thương con; thế tại sao phải sửa phạt? Không có lý thuyết nào coi bộ nghịch lý, nghịch tình như câu: "Thuốc đắng đã tật" hay "Thương con cho roi cho vọt, ghét con cho ngọt cho bùị" Thế tại sao những câu coi bộ bất thường này lại là mẫu mực bất hủ cho giáo dục gia đình Việt Nam. Không một người ngoại quốc nào có thể am hiểu được giá trị của câu tục ngữ nghịch thường này vì họ không là người Việt, không mang dòng máu và không được hấp thụ văn hóa Việt. Câu nói tuy nghịch thường nhưng bao hàm súc tích những chân lý giáo dục cho bất cứ dân tộc nàọ Hơn nữa, lối sống, tư cách con người có thể phần nào so sánh với nghệ thuật trang điểm hay ăn mặc..., đâu phải bất cứ ai nếu khoác lên chiếc áo màu vàng rực rỡ của Đắc Nhân Tâm hay hở nách của Làm Thế Nào Để Trở Thành Người Đàn Bà Tuyệt Vời đều trở nên duyên dáng hấp dẫn...! Chúng chỉ là những đồ trang sức cần phải được lựa chọn cho tùy người, tùy trường hợp để phù hợp với cuộc đời sống động.

Từ kinh nghiệm sống; chúng ta suy ra triết lý sống, và triết lý sống lại hội nhập rồi ảnh hưởng chính cuộc sống thường ngày và những thế hệ tiếp nốị Sản phẩm của triết lý thực dụng này nơi dân tộc Việt Nam là Tục Ngữ, Ca Dao, Phong Dao... Chúng ta biết nằm lòng khá nhiều Tục Ngữ, Ca Daọ Nói đúng hơn, những câu nói thường tình hằng ngày, chúng ta đang lặp lại Tục Ngữ, Ca Dao mà không để ý. Như thế, dùng Tục Ngữ, Ca Dao để minh chứng giá trị người Việt không có gì hợp tình và hợp lý hơn.

Minh Hương trong cuốn Hoa Đồng Cỏ Nội dùng Tục Ngữ, Ca Dao với mục đích "tìm về nguồn cội" (tr. 9) "Giới thiệu... cái độc đáo, cái cao đẹp, cái thâm thúy và cả muôn vàn kinh nghiệm xác thực quí báu chứa đựng trong những bài thơ nhỏ một bộ phận của nền văn chương truyền miệng" (tr. 7). Minh Hương cho rằng Tục Ngữ, Ca Dao, nền thi ca truyền miệng đã có từ thời lập quốc: "Như chúng ta đã biết, văn chương truyền khẩu đã xuất hiện rất sớm, vào cái thuở bình minh của dân tộc mới thành hình..." (tr. 8). Tác giả cuốn Hoa Đồng Cỏ Nội đưa ra nhận xét Tục Ngữ, Ca Dao là một phần văn chương bình dân (tr. 9) hay văn chương đại chúng (tr. 8) "do tập thể sáng tác, bổ xung, sửa chữa và phổ biến liên tục." Nền văn chương này "đã góp phần đánh ngã được chánh sách đồng hóa thâm độc của người ngoài và đã kiên quyết bảo tồn được nền văn hóa dân tộc" (tr. 9). Mặc dầu tên gọi "văn chương dân gian," tác giả nhận xét Tục Ngữ, Ca Dao "là bộ bách khoa bình dân truyền miệng. Trong khi góp nhặt, phân tích, xếp loại và tìm hiểu những câu thơ truyền miệng ấy, chúng tôi vô cùng ngạc nhiên mà nhận thấy nền Văn chương dân gian đã đề cập gần đủ các ngành, các khoa: Y Dược, Sinh lý, Canh nông, Nghề nghiệp, Thiên văn, Vạn vật, Kinh tế, Di truyền, Tâm lý, Phân tâm v.v..." Theo Minh Hương, Tục Ngữ, Ca Dao phát xuất từ giới bình dân: "Người bình dân thường gần gũi với thiên nhiên, tháo vát với công việc lao động hằng ngày, không bị tiêm nhiễm sâu sắc một giáo lý, một tư tưởng nào trong sách vở nên họ rất đổi thực tế trong tư tưởng và trong cả hành động nữạ Sống thì đơn sơ, nói năng thì bình dị nên văn chương đối với họ cũng phải 'Văn hay chẳng lọ đặt dài, vừa mở đầu bài đã biết văn haỵ' Thật thế, họ có thì giờ đâu mà 'con cà, con kê, con dê, con ngỗng' họ chỉ 'ăn một đọi, nói một lờị' Nói như thế, văn của họ đâu có phải cộc cằn, lúng túng, trái lại họ rất sành sỏi trong việc lựa chọn chi tiết thích thú để lôi cuốn người nghẹ Nhiều khi họ lại táo bạo dùng nhiều hình thức mỹ từ để câu thơ trôi chảy một cách duyên dáng ý nhị hơn" (tr. 253).

Bảo Vân quan niệm Tục Ngữ, Ca Dao có trước thời kỳ Trung Hoa đô hộ và do những người bình dân diễn tả tư tưởng, tâm tình bằng những câu văn truyền miệng: "Riêng về mặt Văn học, Tổ tiên chúng ta đã học chữ Nho, viết chữ Nho, hấp thụ tư tưởng và học thuật của bọn người thống trị. Mãi tới đầu Thế kỷ thứ 13 (đời nhà Trần) mới có một số Nho sỹ Việt Nam, mô phỏng theo văn thơ chữ Hán mà sáng tác ra một số thi ca bằng chữ Nôm. Tuy vậy trước đó, những người bình dân đã đem tư tưởng, tâm tình của mình ra mà diễn tả bằng những câu văn vần rồi truyền miệng đi với nhaụ Đó chính là hình thức đầu tiên của Tục Ngữ và Ca Daọ Trải qua năm, tháng, các câu đó được thêm bớt, sửa chữa, gọt giũa để rồi tới ngày nay, chúng ta đã có một kho tàng vô cùng quý giá trong nền Văn học Bình dân..." (Tục Ngữ Ca Dao và Dân Ca; tr. 3).

Nơi phần "Nhận Xét Chung về Ca Dao," Đào Vân Hội cũng cho rằng Ca Dao là sản phẩm của dân quê: "Ca dao tức là những câu hát thông thường của dân gian, là sản phẩm chung của dân tộc, truyền tụng từ thế hệ này sang thế hệ kia, là tiếng nói của tâm hồn nam nữ ở những nơi đồng lúa, rừng rú, núi đồi" (Phong Tục Miền Nam qua Mấy Vần Ca Dao; tr. 7). Nguyễn Tấn Long và Phan Canh có đồng quan điểm về văn học bình dân như tiếng nói phản ảnh của giới bình dân: "Trái ngược với văn học bác học, nền văn học bình dân phản ảnh tâm tư đại đa số quần chúng nghèo khổ, dốt nát, tiếng nói của họ là tiếng nói chung của lớp người cùng sống trong một hoàn cảnh, mà cũng là tiếng nói chân thành nhất của mỗi dân tộc trong sinh hoạt xã hội" (Thi Ca Bình Dân Việt Nam; tập 1; tr. 12).

Nguyễn Hữu Nghĩa, Diệu Tần, Minh Đạo, và Triều Khê trong những bài viết nơi Nguyệt San Làng Văn số 102 tháng 2 năm 1993; Toronto, Canada có những quan điểm hơi khác về Tục Ngữ, Ca Daọ Theo Nguyễn Hữu Nghĩa, "...bên cạnh đó, văn chương truyền khẩu lại rất phong phú, và là phương tiện phổ biến một phần các sáng tác của nhà nho..." (Làng Văn; số 102; "Sơ Thảo về Tục Ngữ, Ca Dao;" tr. 12). Diệu Tần cho rằng: "Không như văn chương bác học, văn thi sĩ thường chọn câu lựa chữ đẽo gọt lời ý rất chau chuốt; văn chương bình dân đơn giản, mộc mạc nhưng không thô tục." (Làng Văn; số 102; tr. 41). Nơi phần cuối bài viết khi đưa lên "cái khôn, cái nghịch ngợm dí dỏm của phái nam," Diệu Tần viết tiếp: "Tuy là tưởng tượng nhưng anh nông dân đã khéo dùng ngoa ngữ để biểu lộ tình thương yêu..." (Làng Văn; số 102; 1993; "Những Chữ Tài Tình Trong Ca Dao;" tr. 43). Có thể nói Diệu Tần cũng đồng ý kiến Ca Dao phát xuất từ giới bình dân mặc dầu quan niệm "Ca dao là thơ là nhạc của đại chúng được gạn lọc qua nhiều văn thi nhạc sĩ khuyết danh" (tr. 41). So sánh một số câu Tục Ngữ, Phong Dao được phổ biến nơi miền Nam và miền Bắc Việt Nam, Minh Đạo xác quyết văn chương bình dân do người bình dân sáng tác: "Người bình dân miền Nam dùng nhiều câu, nhiều tiếng gốc Hán hơn người bình dân miền Bắc..." (Làng Văn; số 102; 1993; "Vai Trò của các Tiếng, các Câu Gốc Hán trong Văn Chương Bình Dân VN;" tr. 45). Minh Đạo đưa ra nhận xét văn chương bình dân là thành lũy ngăn chận văn hóa Hán cho nên ngày nay chúng ta có ngôn ngữ Việt mà không phải học tiếng Tàu: "Trong gần 1000 năm đô hộ người Việt, văn hóa Trung Hoa đã ảnh hưởng rất sâu đậm nơi triều đình và các tầng lớp sĩ phu, nhưng lại không thấm nổi xuống tầng lớp quần chúng. Cuối cùng người Trung Hoa bại cả về quân sự lẫn văn hóạ Nhờ thế ngày nay chúng ta mới có ngôn ngữ văn tự mà nói, mà viết, không cần phải học tiếng Tàụ" (tr. 47-48). Trong khi Triều Khê lại quan niệm hơi khác qua bài viết "Cụ-Thể-Hóa và Kịch-Tính Trong CaĐao": "Trái với văn chương bác học, văn chương quần chúng là ca dao, không đủ từ ngữ trừu tượng để diễn tả ý tình, cho nên các tác giả khuyết danh của ca dao đã lấy những gì tả thực, có đủ kích thước ba chiều, để đưa vào những câu thơ bình dị." (Làng Văn; số 102; tr. 48). Tuy thế, qua bài viết, Triều Khê cho rằng hai đặc tính cụ thể hóa và kịch tính của Ca Dao có thể đã là nguồn phát xuất cho các bộ môn khác: "Thế mới biết, người Việt chẳng những đã giàu hồn thơ, mà cađao còn có kịch tính. Có lẽ chính vì hai đặc-tính này mà sau cađao, các bộ môn ca nhạc kịch bình dân như tuồng, chèo, hát bộ, cải-lương,... đã phát-triển mạnh và phổ-biến rất nhanh" (tr. 51).

Xét về nguồn gốc Tục Ngữ, Ca Dao, không ai có thể xác quyết rõ ràng từ đâu rạ Nói rằng từ giới dân quê "chân lấm tay bùn" nơi miền đồng ruộng hay nương rẫy có cuộc sống nghèo nàn, suốt ngày vất vả vật lộn với miếng cơm manh áo và không bao giờ có cơ hội đặt chân tới lớp học, chỉ qua lời nói đối đáp tự nhiên nẩy sinh từ tâm hồn chất phác mộc mạc khi đối diện với cảnh vật thiên nhiên mà phát sinh ra được những câu nói có vần điệu, mang ý nghĩa sâu sắc là một điều phản tự nhiên, không hợp lý luận, suy nghĩ. Hơn nữa, chữ "dân gian" hay "bình dân" được dùng ghép chung với hai tiếng "văn học" không thể được hiểu theo nghĩa chỉ riêng cho lớp người quê mùa mộc mạc mà bao gồm tất cả dân chúng từ giới dân quê chất phác tới những thành phần học thức khoa bảng bởi chữ "văn học" tự nó đã mang ý nghĩa nhận thức văn chương. Thử xét hai câu tiếng lóng "Bỏ đi Tám" và "Cho cái búa" được dùng rất thịnh hành vào đầu thập niên bẩy mươi của thế kỷ hai mươi, mang cả một giai thoại xuất xứ nhưng đã không được xếp vào văn chương bình dân do tính chất thiếu phổ quát của chúng. "Bỏ đi Tám" bắt nguồn từ chương trình truyền thanh mang ý nghĩa "chuyện không ra gì chẳng nên để ý tớị" "Cho cái búa" nẩy sinh từ nhóm lính gác đánh phé (xì tố) bắt đầu từ lối nói diễn tả hơn kém con tẩy: "thua tí li tây (già), tí li đầm (đĩ)" trong trường hợp hai người chơi bài có hai đôi giống nhau (chẳng hạn hai đôi xì) trên mặt bài được lật ngửạ Với tính chất lỳ lợm của những tay thua bạc lúc cùng, cho dù hơn tí li tây hay tí li đầm thì cũng thua "tí li vồ" (chộp tiền rồi chạy). Vồ (danh từ) là dụng cụ dùng để đập chân cột bằng gỗ có cán cho dễ cầm. Vồ và chộp (động từ) dùng trong câu nói có nghĩa tương đồng chỉ hành động trong khi cái vồ và cái búa là hai vật có cùng công dụng để đập. Lối diễn tả "Cho cái vồ" hay "Cho cái búa" nơi kiểu nói thông thường mang ý nghĩa không đồng ý tùy theo từng trường hợp... Đã được xử dụng một cách quảng bá nơi dân gian miền Nam Việt Nam thời đó nhưng vì không mang đặc tính phổ quát của câu nói nên "Cho cái búa," "Bỏ đi Tám" bị chìm vào lãng quên, không thể so sánh với những câu mộc mạc chẳng hạn: "Ăn như hổ," "Mèo cậy chó xơi," "Râu ông cắm cằm bà," hay "Ao sâu tốt cá" v.v... Đặt vấn đề như thế, những câu Tục Ngữ, Ca Dao có thể có xuất xứ đặc biệt nào đó để được truyền tụng rộng rãi nhưng những giai thoại xuất xứ này không được ghi chép lạị Tục Ngữ, Ca Dao có thể là những câu nói gọn gàng thuận vần luật thi phú, trích từ truyện hay văn thơ. Chẳng hạn câu: "Chưa đỗ ông nghè, đã đe hàng tổng" được cho rằng phát xuất từ truyện ngụ ngôn "Chó Đá Vẫy Đuôi," hoặc câu "Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài" là câu trong Đoạn Trường Tân Thanh. Những câu này được dân gian dùng nhiều, diễn tả ngắn gọn nhưng hàm chứa khá đầy đủ ý nghĩa đồng thời đó cũng là một điều đúng phổ quát. Hơn nữa, có thể so sánh Tục Ngữ, Ca Dao với lối nói điển tích; điển tích nhắc lại ý câu truyện áp dụng trong trường hợp nói đến tương đương với ý nghĩa ám chỉ chất chứa nơi câu truyện; Tục Ngữ, Ca Dao nói lên điều chung ai cũng có thể nhận thấỵ

Xét về nguồn gốc Tục Ngữ, Ca Dao lại cần đặt vấn đề tại sao câu nói được quảng bá rộng rãi trong dân gian. Một điều nào đó muốn cho nhiều người biết tới đòi hỏi không những vị thế nguồn gốc phổ biến mà môi trường phổ biến đóng vai trò quan trọng không kém. Nếu câu nói phát xuất từ trường hợp đối đáp giữa hai người, làm sao kẻ khác có thể nhận ra và ai để ý rồi đem phổ biến? Do đó, một điều chắc chắn, Tục Ngữ, Ca Dao thoạt đầu được phổ biến bắt nguồn từ những vị thế có tầm ảnh hưởng đại chúng. Đồng thời điều kiện cho một câu nói được dân gian hấp thụ rồi đem ra xử dụng cần có đặc tính phổ quát ai cũng có thể nhận ra giá trị qua kinh nghiệm sống. Bao nhiêu vần thơ ý nhị, bao nhiêu bài hát xuất sắc chỉ được nhận ra sau cả một thời gian dài trước khi được đem lên báo chí hay những chương trình văn nghệ hoặc các phương tiện truyền thông đại chúng... Một bác nông dân có ý nghĩ tuyệt vời muốn đem ra phổ biến phỏng đã được ai để ý? Rồi cơ hội nào cho bác phổ biến tư tưởng mình? Kiến thức phổ quát đâu cho bác có tư tưởng phù hợp đại chúng để xếp thành câu nói cho có vần điệu dễ nghe, dễ nhớ...?

Tục Ngữ, Ca Dao thường dùng ngôn từ đơn giản mộc mạc diễn tả những hình ảnh ai cũng có thể nhìn thấy nơi miền thôn quê để đưa lên tiếng nói tâm tình của dân Việt nên đã bị cho rằng đó là sản phẩm của giới bình dân. Trái lại, đọc những câu Tục Ngữ, những vần Ca Dao, dẫu được dùng bối cảnh và sự việc xảy ra chốn dân quê, những câu này vẫn hàm chứa sắc thái luân lý sâu đậm có thể nói đó là túi khôn vô tận của một dân tộc; bởi vậy chẳng lạ gì Tục Ngữ, Ca Dao đã được nâng lên hàng "Kinh Việt Nam." Xét như thế, Tục Ngữ, Ca Dao dưới hình thức thơ văn hoặc vè v.v... phải là sản phẩm của giới thức giả, tức cảnh sinh tình trong nhận thức luân lý. Thử hỏi làm sao giới bình dân không học hành có cơ hội nói lên được cảm nhận "Làm giàu có số, ăn cỗ có phần"? Dẫu tin vào Trời, dẫu kinh nghiệm "Số khó làm chẳng nên giầu," nhưng dựa vào đâu làm gốc gác cho câu nói hoàn chỉnh gọn gàng đến độ dù thêm vô bất cứ chữ nào cũng thừa hoặc bỏ bớt chỉ dấu phẩy đã là một sự thiếu sót không thể chấp nhận. Hơn nữa, xét tính chất câu tục ngữ "Làm giàu có số, ăn cỗ có phần," giới bình dân sao có thể đặt vấn đề ăn cỗ có phần nơi hệ thống làng xã ngày xưạ Mới chỉ thoáng qua nhận xét đơn giản này đã có thể nói Tục Ngữ, Ca Dao là sản phẩm của ý thức luân lý cao độ được phát xuất từ tâm hồn văn chương thi phú lồng trong bối cảnh sống dân quê giúp cho người bình dân dễ nhớ để truyền đạt... hay nói cách khác, một thứ văn chương truyền khẩu, một loại kinh đi sâu tận lòng dân tộc... nói lên tâm tình, luân lý, triết lý sống, cách xử thế mà dân Việt nên theo cũng như trình bày thực trạng tâm lý con người và cuộc sống.

Được gọi là văn chương bình dân bởi dùng bối cảnh miền dân quê, Tục Ngữ, Ca Dao không mang tính chất bình dân chút nào; có chăng cách dùng chữ chính xác lại phù hợp với luật bằng trắc của thơ khiến cho vần điệu đối ứng hòa hợp đồng thời hàm chứa nhận thức sâu xa nên có thể dùng trong nhiều trường hợp. Chẳng hạn câu ca dao: "Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn." Hai chữ "bầu" và "bí" mang tính cách đại diện phổ quát cho nhiều phe phái đối nghịch. Tiếng "ơi" nhân cách hóa giới "bầu, bí," và nếu không có tầm nhìn bao quát dựa trên lòng nhân hậu, thương yêu pha đặc nét gần gũi nhưng xót xa vì thực trạng xã hội sao có thể đặt vào miệng tiếng "ơi" sinh động hóa, than thở, nhưng nhẹ nhàng trìu mến nàỷ Hơn nữa, đối với giới bình dân trong một cơ cấu xã hội được đặt dưới quan niệm sống hòa hợp theo thứ tự lớp lang của "Tam Cương, Ngũ Thường và Tam Tòng, Tứ Đức," lối đối xử, sinh hoạt được khuôn mẫu hóa theo những tập tục xã hội cũng như giáo điều luân lý, con dân chỉ có thể nghĩ tới những gì phải theo, những lệ phải giữ do đó bị ảnh hưởng nơi cách phát biểụ Câu ca dao, "Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn" không đượm dù chỉ phảng phất tính chất giáo điều phải theo mà ngược lại nói lên sự đề nghị gợi ý. Lẽ tất nhiên, xét theo tâm lý chung, không ai muốn "bị" hoặc "phải" làm theo một điều gì, hay trong trường hợp chẳng đặng đừng phải theo một khuôn mẫu nào đó thì cũng chỉ là miễn cưỡng. Câu ca dao thoạt nghe mang tính chất mơ màng của lẽ "nên" lại bao dung không bắt buộc để người nghe tự hướng lòng chấp nhận. Bình thường trong khuôn mẫu luân lý, hai chữ "thương lấy" hay được dùng theo lối bình dân "phải thương" hoặc là "nên thương." Thoạt nghe "Bầu ơi thương lấy bí cùng" ai không cảm thấy câu nói đơn sơ có giọng điệu a á phát xuất tự lối nói dân quê như "Ông phải, ông nên mua lấy, giành lấy, đòi lấy..." Đàng này động từ "thương lấy" được đi liền theo lời mời gọi "bầu ơi" mang tính chất thôi thúc đánh động tâm hồn chứ không bó buộc, bắt làm theo khiến người nghe có khuynh hướng chiều theo mà không có ý nghĩ phản kháng vô tình thường có nơi lối nói bình dân luôn luôn kèm theo tiếng "phải" hoặc để ý cho lịch sự hơn thì tiếng "nên" hay "cần".

Như thế, dẫu câu lục bát "Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn" tuy dùng những chữ bình dị, được phát sinh từ cảm ứng tức cảnh nơi một giàn bầu bí cùng leo nhưng mang đầy hùng khí của một sĩ phu tâm can nặng nợ với tình tự quê hương. Bình thường, khi nói đến hai tiếng quê hương, người ta chỉ có thể nghĩ tới nơi "chôn nhau cắt rốn" được gọi là làng, xã, hay cùng lắm là miền, vùng mình ở. Đàng này, tác giả câu ca dao đã có cái nhìn vượt hẳn quan niệm bình thường mà đồng hóa chiếc giàn với một quốc gia trong đó bầu và bí tượng trưng cho những nhóm đối nghịch tranh giành để rồi từ đó vô tình hay hữu ý mang ẩn ý thêm nghĩa xây dựng nơi động tự "thương" cho đất nước được ám chỉ bởi chiếc giàn. Giới nào có thể nhìn chiếc giàn bầu, giàn bí liên tưởng tới giải sơn hà? Giới nào mới có thể cảm nhận được niềm đau tranh giành của các phe phái trong một quốc gia...?

Thử xét thêm câu: "Đầu ngòi có con ba ba, kẻ gọi con trạnh, người la con rùạ" Mới thoạt nghe, câu lục bát có vẻ rất tầm thường và hiển nhiên theo kinh nghiệm sống hằng ngàỵ Nhưng nếu đặt vấn đề tại sao lại đưa lên sự nhận định khác biệt về một con ba ba qua những tên gọi không giống nhau, câu ca dao mang ý nghĩa rộng lớn hơn. Sống trong vùng gần đầu ngòi, người dân tất nhiên rất quen thuộc với những lời nói thường dùng hoặc tên các con vật, cây cỏ, địa danh hay tiếng lóng; như vậy con ba ba và con rùa chẳng có gì lạ lùng đối với dân chthử bất cứ người bình dân nào sống nơi miệt đồng ruộng, họ sẽ nói cho biết nếu con ba ba đã cắn thì dù có sấm sét nổi lên cũng không nhả hoặc muốn "thịt" ba ba phải làm sao, nấu ba ba cần những gì, ăn được những phần nào, hay mu con rùa khác mu con ba ba thế nàọ Như thế, nơi miền quê, nếu có con ba ba ở đầu ngòi chưa chắc đã có tiếng đồn cho người khác biết mà ngược lại chỉ có tiếng đồn ai đã bắt được con ba ba ấy về làm thịt.

Vậy tại sao lại đặt vấn đề "kẻ gọi con trạnh, người la con rùả" Và dù cho nó là con ba ba hay là con gì đi nữa thì có chi đáng nóị Thế nên câu ca dao nhấn mạnh nơi phần tám chữ kẻ nói là con này và người tuyên bố con kia, tỏ ra mình biết nhưng biết trật bởi nó chẳng phải là con trạnh cũng không phải là con rùạ Tất nhiên, điều ám chỉ của câu ca dao "Đầu ngòi có con ba ba, kẻ gọi con trạnh, người la con rùa" không được dùng cho giới dân quê mộc mạc mà mang tính chất diễu cợt nhạo cười những người cổ võ cho điều mình không biết... Xét về lối dùng chữ, hai cặp "kẻ gọi, người la," không mang tính chất bình dân của người miệt vườn tược, đồng ruộng chút nàọ "Kẻ gọi" và "người la" mang cùng một ý nghĩa nhưng đối nhau chỉnh vận như hai thành phần chẳng đội trời chung, không phải là lối nói thông thường lại ngược cách phát biểu của người dân quê. Câu ca dao lục bát được bậc thức giả dùng bối cảnh nơi miền quê để diễu cợt về điều chướng tai gai mắt nơi những người miệng hô hào, tuyên bố một cách đao to búa lớn, hay lạm dụng chuyện gì với mưu đồ thầm kín nào đó. Thế mới biết, người xưa nói vậy, nhưng mang ý tứ bao hàm chưa chắc đã vậy... Cách dùng chữ đơn sơ ghép ý nhẹ nhàng lại thâm thúy đi sâu vào tâm lý con người mọi thời mọi nơi phải là sản phẩm từ những bộ óc tuyệt vời của giới sĩ phu thức thời lăn lóc kinh nghiệm đờị

Xét về đặc tính của thơ văn hay giảng thuyết, chỉ những người thực sự am tường một vấn đề nào đó mới có thể diễn tả bằng những lời nói đơn giản, bình dị ai cũng có thể hiểu được. Người nào càng dùng những lời đao to búa lớn hoặc sáo ngữ bao nhiêu càng không hiểu rõ điều mình nói bấy nhiêụ Hơn nữa, sự cảm nhận trạng thái luân lý hay tư tưởng qua dữ kiện thực tại được phát xuất từ tâm hồn chứ không do mức độ thăng hoa hoặc uốn nắn dữ kiện. Đưa lên hình ảnh tự nhiên một cách đơn sơ "Tung tăng như cá trong lờ" ai cũng có thể nhận thấy để rồi nói lên nhận thức về hoàn cảnh nào đó nơi cuộc đời "Trong không ra được ngoài ngờ rằng vui" không thể được cho là đơn sơ, chất phác, mộc mạc, đơn giản, bình dân, bình dị, v.v... Dùng dữ kiện đơn sơ nói lên qua lời mộc mạc, bình dị để diễn giải nhận thức luân lý, tâm lý... cuộc đời như thế mới thực sự chứng tỏ tài năng văn chương tuyệt vời của hàng thức giả. Không dễ gì hiểu nổi hai chữ "bình dân" hoặc "dân gian."

LÃ MỘNG THƯỜNG

BungRieu
05-22-2003, 03:21 PM
Hay quá ... cám ơn Anh Nick nha ... :)
Có lẽ BR phải đọc hai ba lần nữa mới hiểu rõ nổi bài này ..
Càng đọc càng thấy thấm ..

Nick
05-22-2003, 03:24 PM
Originally posted by BungRieu
Hay quá ... cám ơn Anh Nick nha ... :)
Có lẽ BR phải đọc hai ba lần nữa mới hiểu rõ nổi bài này ..
Càng đọc càng thấy thấm ..

Không có gì BR, bài hơi dài nhưng rất hay and I like it :)

Nick
05-22-2003, 03:27 PM
2. ĐỨC ĐỘ

NỀN TẢNG GIÁ TRỊ CON NGƯỜI


Bình thường, chúng ta chỉ cảm thấy mình mang một giá trị nhưng khi hỏi rằng giá trị đó thế nào thật khó mà trả lời. Giá trị của một người không lệ thuộc vào cái nhà hay những đồ vật người ấy có; do đó, không ai có thể nói tôi có giá trị bởi tôi có cái nhà to hoặc chiếc xe đẹp. Giá trị con người cũng không tùy thuộc vào bằng cấp hay địa vị vì đã biết bao người có bằng cấp cao, địa vị quan trọng trong một thời và có thể ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống chúng ta thời đó mà vẫn bị khinh rẻ. Giá trị của mình cũng không tùy thuộc vào tiền tài nên dù người nào đó có tiền cách mấy mà sống không ra gì thì cũng bị mọi người khinh chê. Như vậy, giá trị của mình do lối sống và cách cư xử mà ra. Chính lối sống chứng tỏ mình là người thế nào và nói lên giá trị của mình. Dù một người nghèo cách mấy mà sống có tư cách, đức độ, đều được mọi người kính nể. Tôi nói kính nể chứ không phải trọng vọng vì sự trọng vọng chỉ có tính cách bên ngoài; còn sự kính nể phát xuất từ nơi tâm hồn con người; giá trị này được gọi là lối sống đức độ.

Đức độ là gì qua Tục Ngữ, Ca Dao? Nó được thể hiện thế nào trong đời sống và sự ảnh hưởng của đức độ tới con người theo quan niệm của ông cha chúng ta ra sao?

Người xưa không định nghĩa những đức tính của một người thế nào mà chỉ nói cách sống của người đó nên ra sao. Đức độ bao gồm tất cả những đức hạnh mà một người nên theo. Người đức độ là người tuân giữ đạo trời: "Dù ai nói ngược nói xuôi, ta đây vẫn giữ đạo trời khăng khăng." Đạo trời là tiếng chung mà tất cả những lối sống tốt lành đều phát xuất từ đó. Đạo trời bao gồm Khổng, Lão, Phật, thờ kính ông bà... Đức độ còn được dùng như chữ nết. Chúng ta thường áp dụng chữ nết cho đàn bà, nhưng thật ra ai cũng cần có nết: "Tốt gỗ hơn tốt nước sơn, xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người," hay "Cái nết đánh chết cái đẹp." Đức độ trong Ca Dao tương tự như "Tâm" trong Kiều "Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài," hoặc trong tướng học: "Tướng tự tâm sinh." Trong tướng học, đức độ của một người còn cải đổi số phận không may của họ: "Đức năng thắng số." Vì thế, không lạ gì câu tướng học này được ghép vào hàng tục ngữ. Con người đức độ lấy lòng nhân đặt lên hàng đầu. Giúp đỡ những kẻ khốn cùng, biết thương xót người đau khổ. Có thể nói, đức độ tương tự với "Bác Ái" và "Thương Xót" trong Công Giáo, "Nhân" trong Khổng, và "Bi" trong Phật học: "Thí một chén nước, phước chất bằng non."

Người đức độ coi trọng tha nhân, lấy việc giúp đỡ, "làm phúc" cho người khác vượt hẳn lên các việc công ích. Không có gì có thể so sánh được với lòng nhân và dù cho bất cứ những việc công ích lớn lao nào chăng nữa cũng thua sự giúp đỡ những người khốn cùng, cần nhờ vả đến mình hoặc không nhờ vả đến mình. Một người biết thương xót kẻ thế cô mà yên ủi giúp đỡ, biết chia sẻ với kẻ bần hàn hơn mình, hoặc khi gặp ai hoạn nạn, tai bay vạ gió, cố gắng hết sức để tìm mọi cách trợ giúp thì công đức này dầu không ai biết cũng có giá trị không sao so sánh: "Dẫu xây chín bực phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người."

Trong cuộc sống, người thì khó nghèo về vật chất, lại cũng có người nghèo nàn về tinh thần. Ngày xưa trong những câu chúc, ông bà ta hay dùng chữ phú quí. Phú quí mang ý nghĩa giầu có và đức độ. Câu chúc này bao hàm một giá trị luân lý ít ai để ý tới. Thực ra, hai chữ phú quí đi đôi với nhau ẩn chứa giá trị đạo đức và sự tin tưởng kết quả của cuộc sống đạo đức thể hiện đức độ. Nếu người nào có cuộc sống đức độ, trời sẽ ban cho giầu có. Nói cách khác, sự giầu có là phần thưởng cho người đức độ. Dần dần cuộc sống thay đổi, con người đua đòi chạy theo giá trị vật chất; quan niệm của con người cũng đổi theo ảnh hưởng cuộc sống và chúng ta thấy ngày nay, đã phú chưa hẳn là quí hoặc ngược lại. Như vậy người không quí mà giầu có vật chất thì lại nghèo nàn về tinh thần, chỉ biết đến mình và lạm dụng người khác; "Của người bồ tát, của mình lạt buộc." Người đức độ biết thương xót người cơ hàn bao nhiêu thì cũng thương xót người nghèo nàn về tinh thần bấy nhiêu. Do đó, người đức độ cần có thêm đức nhẫn nhịn vì "Một sự nhịn, chín sự lành." Chính bởi sống đức độ không phải dễ dàng nên được gọi là quí do đó có câu: "Người ta ba thứ người ta, kẻ thì tiền rưỡi người ba mươi đồng." Đức nhẫn nhịn nơi con người đức độ không mang nghĩa chờ thời để trả thù mà bao gồm khoan dong, tha thứ. Bởi vậy, người đức độ còn được gọi là trượng phu: "Đấng trượng phu đừng thù mới đáng," hoặc anh hùng, "Đấng anh hùng đừng oán mới hay." Theo nghĩa này, người đức độ còn được gọi là người hiền; "Người hiền khác thể chi lan, gần hơi cho lắm lại càng thơm lây."

Quí cụ học Nho ngày xưa thường hay dùng tiếng "Người Quân Tử" để chỉ người đức độ. Thắng không kiêu, bại không nản; không ba hoa, không hàm hồ; "Người quân tử đắc chí rung đùi, kẻ tiểu nhân đắc chí gẩy đàn môi." Gặp những lúc "Cái khó bó cái khôn," người đức độ biết chấp nhận cuộc đời, không than trời cũng chẳng trách người vì dẫu sao, "Nhân vô thập toàn." Chính vì thế, người đức độ luôn luôn lấy câu: "Trách người một, trách ta mười" làm phương châm. Chẳng lạ gì bởi chính lối đối xử của người khác đối với mình có thể là sự phản ảnh của sự đối xử lầm lỗi của mình đối với họ trước. Hơn nữa, "Việc người thì sáng, việc mình thì tối." Nhận thấy điều lầm lỗi của kẻ khác thì dễ, còn xét điều sai quấy của mình thì khó. Lại cũng có lẽ khác, vì mình đã có kinh nghiệm lầm lỗi trước nên mới nhìn thấy sự không hay của người khác chăng. Người đức độ không trách người mà xét mình, khoan dung và thứ tha; người đức độ khó với mình nhưng dễ với người khác.

Qua những kinh nghiệm cuộc đời, ông cha ta nhận ra ảnh hưởng của cuộc sống đức độ bao trùm cuộc sống con người. Người sống đức độ, hiền lành thì được chúc phúc: "Ở hiền thì lại gặp lành, những người nhân đức trời dành phúc cho." Trời dành phúc cho tức là nói về số phận của con người; số phận này tùy thuộc cuộc sống đức độ của họ. Ngay cả về vật chất, người đức độ cũng được khấm khá: "Thiên cao đã có thánh tri, người nhân nghĩa chẳng hàn vi bao giờ." Dù cho có gặp tai bay vạ gió, đức độ của một người cũng trở thành lá bài che chở tai ách: "Ăn ngay ở thật, mọi tật mọi lành;" hoặc, "Ở hiền thì lại gặp lành, ở ác gặp dữ tan tành ra tro." Đức độ bao gồm nhẫn nhục, người đức độ được trời ban cho sống lâu: "Chữ nhẫn là chữ tương vàng, ai mà nhẫn được thì càng sống lâu." Lòng nhân của người Đức độ còn bao gồm chữ nhẫn.

Đức độ của một người không những có ảnh hưởng ngay lành đến chính cuộc đời họ mà còn ảnh hưởng tới con cái: "Cha mẹ hiền lành để đức cho con." Ngày xưa cũng như thời nay mọi người tin rằng cuộc đời mình được thừa hưởng đức độ của cha mẹ mình. Địa vị mình có trong xã hội không phải chỉ do chính khả năng, đức độ của mình mà thôi, mà còn do công lao tích đức của ông bà cha mẹ mình ảnh hưởng tới: "Ông cha kiếp trước khéo tu, nên sanh con cháu võng dù nghênh ngang." Bởi thế, một người muốn cho con cháu mình sau này làm ăn nên, phải lo sống đức độ: "Người trồng cây hạnh người chơi, ta trồng cây đức để đời về sau." Trong cuộc sống, ai cũng trọng người nhân nghĩa. Nhưng nếu muốn trở thành người nhân nghĩa, phải trau dồi đức độ trước hết vì không có đức độ sao có được nhân nghĩa; "Có tiên thì hậu mới hay, có trồng cây đức mới dầy nền nhân."

Sống đức độ là sống theo đạo trời. Sống theo đạo trời là biết sự trời. Biết sự Trời hoặc sống đức độ không thể nào nghèo khổ để rồi lúc "bần cùng sinh đạo tặc". Cho nên người sống đức độ không sợ nghèo khổ: "Biết sự trời, mười đời chẳng khó." Chính vì cuộc sống đức độ bao hàm nhân nghĩa nên "Cây ngay chẳng sợ chết đứng." Người đức độ sống không những cho mình bây giờ, cho con cái cháu chắt mình mai sau.

Sưu tầm

TuViLang
05-22-2003, 03:31 PM
thank you Nick cho mâ'y bai viê't râ't hay, do.c xong mâ'y ca'i này mo*'i biê't ng` ta no'i câu no'i dê? làm kho' là râ't du'ng :p

BungRieu
05-22-2003, 03:36 PM
Bài này cũng chết người luôn ... hay wá ...
Cám ơn Anh nha ...
BR khỏi phải mất công chạy lòng dòng đi kiếm nữa ...
Kỳ này BR đọc đã luôn ...

Nick
05-22-2003, 03:40 PM
Originally posted by TuViLang
thank you Nick cho mâ'y bai viê't râ't hay, do.c xong mâ'y ca'i này mo*'i biê't ng` ta no'i câu no'i dê? làm kho' là râ't du'ng :p

Không có chi Miu, Làm được hay không không quan trọng . Quan trọng là mình có làm hay không. Chưa gì hết Nick thấy Miu đọc chưa kỹ bài này mà đã nói rồi đó "Yêu nhau trái ấu cũng tròn, ghét nhau bồ hòn cũng méo" :p

Nick
05-22-2003, 03:42 PM
3.NHÂN NGHĨA

Nhân nghĩa là tâm tính của con người đức độ. Người nhân nghĩa sống có lòng nhân đồng thời có nghĩa với người khác "Từ rày khuyên kẻ có con, lựa người nhân nghĩa gả còn nhờ sau." Người có lòng nhân chưa chắc sống đã có nghĩa, và người sống có nghĩa chưa chắc đã có lòng nhân. Lòng nhân thường được hiểu là "Lòng thương người, thương vật, có tánh tốt đối với người và vật" (Lê văn Đức; Việt Nam Tự Điển, Quyển Hạ; Khai Trí; tr. 1082). Nghĩa là "Lối xử sự phải đường, hào hiệp" (Lê văn Đức, tr. 1060). Nếu nhân nghĩa tách riêng, chúng là hai "thường" trong ngũ thường theo luân lý Á Đông: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Chữ nhân mang ý nghĩa lòng thương tổng quát tới mọi người; chữ nghĩa tùy theo môi trường, hoàn cảnh được hiểu sao cho phù hợp chẳng hạn: chánh nghĩa, đạo nghĩa, hiếu nghĩa, tín nghĩa, tình nghĩa, tiết nghĩa, trung nghĩa, nghĩa cha con, nghĩa vợ chồng, thầy trò...

Nhân nghĩa là căn bản tạo thành thái độ, cách đối xử giữa người với người. Hơn nữa, chính thái độ và cách sống nói lên phẩm giá con người; do đó một người được mến chuộng hay không tùy thuộc vào nhân nghĩa. Người nhân nghĩa luôn cho rằng "Ơn ai một chút khó quên, phiền ai một chút để bên dạ này." Không vồn vã hình thức mà điềm đạm mặn mà: "Càng thắm thì càng mau phai, thoang thoảng hoa nhài mà lại thơm lâu." Nhân nghĩa đã tạo không bao giờ mất "Đường mòn, nhân nghĩa không mòn;" có mất chăng bởi chính tự mình làm mất do sự thay dạ đổi lòng ảnh hưởng đến nhân cách và thái độ. Sự khôn ngoan Á Đông trong Tam Tự Kinh theo Khổng học cho rằng con người được sinh ra với tâm tình hướng thiện "Nhân chi sơ, tính bản thiện," nên dù cho có ai chẳng ra gì đến cách mấy thì tự đáy tâm hồn đã được trời phú cho lòng nhân: "Thức lâu mới biết đêm dài, ở lâu mới biết lòng người có nhân." Nét đẹp tâm hồn này nếu được bồi dưỡng sẽ phát triển và tạo cho con người có "đức nhân."

Người có lòng nhân nhận biết "Làm phúc như làm giàu." Do đó họ biết "Lá lành đùm lá rách;" đồng thời vì hiểu "Nhân tâm tùy ý thích," và "Nhân vô thập toàn," nên thông cảm được với người khác tùy theo hoàn cảnh, vị thế của họ bởi "Khôn đâu đến trẻ, khỏe đâu đến già." Thế nên đôi khi dưới con mắt người thường, người có lòng nhân được nhận ra như "Hiền quá hoá ngu." Tuy nhiên, "Hoa thơm ai chẳng muốn đeo, người khôn ai chẳng nâng niu bên mình," người nhân nghĩa được mọi người kính trọng, nể vì và thương mến bởi "Yêu trẻ, trẻ đến nhà; kính già, già để tuổi cho."

Người nhân nghĩa biết "Trọng nghĩa khinh tài;" lấy việc nghĩa làm nặng và coi tài lợi là nhẹ vì nhận ra "Người là vàng, của là ngãi;" nên tôn trọng các bậc thày dạy "Một chữ nên thày, một ngày nên nghĩa;" do đó nhận thức giá trị lòng tốt của người khác: "Một đêm nằm, một năm ở." Vì "Vị tình vị nghĩa, không ai vị đĩa xôi đầy," người nhân nghĩa "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, ăn gạo nhớ kẻ đâm, xay, giần, sàng." Cho nên tâm hồn họ, "Trăm năm lòng nhớ dạ ghi, dù ai đen bạc đổi chì mặc ai." Dĩ nhiên cuộc đời "Sông có khúc, người ta có lúc," người nhân nghĩa sống "Ở cho có nghĩa có nhân, cây đa cậy thần, thần cậy cây đa;" cho nên họ nhún nhường, biết nể nang người khác: "Ai nhất thì tôi thứ nhì, ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba." Trong đời một người, không ai có công lao với mình bằng cha mẹ do đó hiếu đễ đối với một số người đã trở thành đạo tu. Người nhân nghĩa trước hết hiếu thảo với cha mẹ vì "Tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ mới là chân tu." Do đó, chẳng có lạ gì, bất cứ lối giáo dục nào cũng lấy nhân nghĩa đặt lên hàng đầu vì người không có nhân nghĩa thì dù tài giỏi cách mấy cũng chỉ trở thành băng hoại không những cho gia đình mà cả xã hội. Chính vì thế người nhân nghĩa lại càng được đề cao và tôn trọng.

Dĩ nhiên, cuộc đời thay đổi và do đó con người bị ảnh hưởng cũng đổi thay, "Ai ơi phải nghĩ trước sau, đất liền cũng lở huống cầu bắc ngang," và dù muốn dù không, chẳng ai có được cuộc sống hoàn toàn theo ý mình, "Người có lúc vinh cũng có lúc nhục, nước có lúc đục cũng có lúc trong;" mà bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh và nơi mình sống: "Măng cua nấu cá ngạnh nguồn, sự đời đắp đổi khi buồn khi vui." Hơn nữa, thế gian thường hay phũ phàng đôi khi đến độ nghịch ngạo: "Nước giữa dòng chê trong chê đục, vũng trâu đầm hì hục khen ngon," và thế thái nhân tình còn bị ảnh hưởng bởi những tham vọng con người hoặc bị chi phối bởi lợi danh: "Đồng tiền không phấn không hồ, mà sao khéo điểm khéo tô mặt người." Cảnh phũ phàng gây nên bởi thói đời đen bạc luôn luôn là bài học cho mọi người sống sao cho có nhân nghĩa: "Nên ra trên kính dưới nhường, chẳng nên đạp hất bên đường mà đi." Tuy nhiên, người nhân nghĩa không phải chỉ tử tế với người tử tế mà khoan dong, độ lượng với mọi người vì "Lên non mới biết non cao, lội sông mới biết sông nào cạn sâu." Mặc dầu không ai có thể sống vừa lòng hết mọi người "Đố ai lặn xuống vực sâu, mà đo miệng cá uốn câu cho vừa" hoặc "Lòng sông lòng biển dễ dò, nào ai bẻ thước mà đo lòng người," hay "Sông sâu còn có thể dò, lòng người nham hiểm ai đo cho cùng." Người nhân nghĩa tuy sống tự tại trên dư luận nhưng đồng thời lại để ý dư luận vì "Chỉ đâu mà buộc ngang trời, tay đâu mà bịt miệng người thế gian," hay "Lấp sông lấp biển ai lấp được miệng người." Dư luận có thể "Đổi trắng thay đen" hoặc "Giết người không dao," và thường thì "Dậu đổ bìm leo," nên người nhân nghĩa lại càng nên tránh bị rơi vào cảnh "Ăn sóng nói gió" để bảo tồn tâm đức và kiên trì với thiện tâm.

Người nhân nghĩa không chấp nhận "Giàu làm chị, khó lụy làm em," mà khinh chê cảnh "Giây máu ăn phần," hoặc "Đục nước béo cò," và tránh cận thân với loại "Được chim bẻ ná, được cá quên nơm," nhưng có lỡ dại thì "Một lần nói dối, sám hối bảy ngày" chứ đừng nói đến chuyện "Ăn cây táo mà rào cây sung." Thực tế chứng minh, dân Việt đau khổ cũng chỉ vì những kẻ khi gặp thời, có quyền hành, tâm dạ thay đổi đến độ đốn mạt để rồi "Nối giáo cho giặc." Tuy nhiên, mặc dầu "Ở đời ai có dại gì, khúc sông eo hẹp phải tùy khúc sông," người nhân nghĩa trong trường hợp "Rút dây động rừng" vẫn tâm niệm "Tốt danh hơn lành áo" và đồng thời nhận biết "Màn hoa lại phải chiếu hoa, bát ngọc lại phải đũa ngà mâm son;" hoặc "Sao cho sau trước một bề mới nên." Vì thế họ chỉ lo "Ai ơi giữ chí cho bền, dù ai xoay hướng đổi nền mặc ai" bởi "Cây cao chẳng quản gió rung, đê cao chẳng quản nước sông tràn vào." Sống nhân nghĩa giữa cuộc đời đổi thay đen bạc; một tâm tính kiên trì, nhận thức giá trị lối sống của mình chưa đủ mà cần định lực soi dẫn đường hướng tâm tư, "Ta đây như cây giữa rừng; ai lay chẳng chuyển ai rung chẳng rời."

Cho nên, có những điều người thường quen thói tánh mà người nhân nghĩa không thể chấp nhận. Người nhân nghĩa không tán tận lương tâm "Mất tiền mua mâm thì đâm cho thủng," không "Lấy tiền làm láo," không "Miệng thơn thớt, dạ ớt ngâm," không coi "Của trọng hơn người," hoặc "Người dưng có của thì đãi người dưng, anh em vô ngãi thì đừng anh em," không "Hay khen, hèn chê" mà luôn khuyến khích người khác sống sao cho tốt lành hơn. Chính vì nhận thức được lối sống, sự đối xử chứng minh tâm hồn và giá trị con người mình "Trăm nhát cuốc giật cả vào lòng," người nhân nghĩa biết kính trên nhường dưới bởi: "Vàng thì thử lửa thử than, chuông kêu thử tiếng người ngoan thử lời." Tuy nhiên sống trong sự đời tráo trở, người nhân nghĩa nhiều khi cần thêm năng lực để biết kiềm chế lòng mình "Vàng tâm xuống nước vẫn tươi, anh hùng gặp nạn vẫn cười như không." Bởi kinh nghiệm như thế, họ không "Suy bụng ta ra bụng người" mà kiếm tìm nguyên nhân những chuyện xảy đến liên hệ tới những người khác. Cuộc đời càng ngày càng phức tạp, đôi khi "Con sâu bỏ rầu nồi canh" cũng không thể được chấp nhận bởi "Ai làm người nấy chịu." Thiên hạ thiếu gì kẻ "Mượn đầu heo nấu cháo," lạm dụng người khác để kiếm danh lợi cho chính mình. Với lòng nhân biết thông cảm với người khác tùy trường hợp hay hoàn cảnh, người nhân nghĩa đôi khi lại bị "Ách giữa đàng mang vào cổ" để giúp người hàm oan. Thế nên không thể có phương châm "Ngu si hưởng thái bình" đối với người nghĩa mà biết "Sợ người nói phải, hãi người cho ăn." Dĩ nhiên, "người làm sao chiêm bao làm vậy," người nhân nghĩa nhìn người khác với lòng nhân và đối xử với họ trong cái nghĩa chứ không "Người một quan khinh kẻ chín tiền" theo thói thường.
Ông cha ta có câu "Ở hiền gặp lành." Tự tâm hồn người nhân nghĩa đã được an bình với tâm đức nhân hậu; sống cho có nghĩa tất nhiên được nhiều người mến thương; do đó cuộc đời cũng được an lành sung túc "Kẻ có nhân mười phần chẳng khó." Hơn nữa cây ngọt có bao giờ sinh trái đắng, sống nhân nghĩa còn để lại phúc đức cho con cháu: "Đời trước đắp nấm, đời sau ấm mồ." Theo số học, "Tướng tự tâm sinh, tướng tùy tâm diệt," cuộc đời một người từ nhỏ tới 25 tuổi, sống nhờ đức cha mẹ, và từ 25 tuổi trở đi, sống bởi đức do chính mình tạo nên. Cứ xem cách xử của những người chung quanh thế nào đối với mình, sẽ biết mình có sống nhân nghĩa hay không vì kết quả của sống nhân nghĩa bao trùm cuộc đời một người "Đã mang lấy kiếp thân tằm, không vương tơ nữa cũng nằm trong tơ." Người sống nhân nghĩa vương tơ thương mến.

Sưu Tầm

allena
05-22-2003, 04:21 PM
Cám ơn Nick :)

Chị A đọc bài nào thấy cũng hay , nhưng đặc biệt thích bài nầy và câu kết luận của nó " Người sống nhân nghĩa vương tơ thương mến "

Tặng em cái bông nè :flower:

Nick
05-22-2003, 05:49 PM
Thanks chị Allena, thêm 1 bài nữa nè

4. DANH DỰ CON NGƯỜI


Đành rằng "Hơn nhau tấm áo manh quần, thả ra ở trần ai cũng như ai," nhưng người ta cũng có người ốm, người mập; kẻ thì như cây tăm, người lại "Hùm ăn bẩy ngày không hết thịt." Do đó, may ra chỉ có được một điểm chung "ở trần" nghĩa là "ai cũng như ai" nơi điểm trong da là thịt hay ngoài thịt là da chứ không thể nào ai cũng như ai theo nghĩa rộng hơn. Chả thế mà có câu "Người ta dăm bẩy người ta, kẻ thì tiền rưỡi người ba mươi đồng." Ngày xưa, tiền hay quan tiền giá trị rất cao so với đồng, "Một quan là sáu trăm đồng, chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi..." Giá trị con người chênh lệch khác nhau bởi "Ở đời muôn sự của chung, hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi." Hai chữ "anh hùng" chỉ về danh dự của một người vì "Hữu xạ tự nhiên hương." Danh dự là hương hoa cuộc sống, "Chữ rằng hổ tử lưu bì, làm người phải để danh gì hậu lai," là danh tiếng cá nhân, "Trâu chết để da, người ta chết để tiếng;" là tiếng thơm người khác nhận thấy hoặc suy tụng mình, "Người ta hữu tử hữu sanh, sống lo xứng phận thác dành tiếng thơm." Danh dự được tạo nên bởi "Sống lo xứng phận" sao cho "Người chết nết còn." Chính vì tiếng thơm, cái nết xứng đáng được ca tụng nên được người khác nhắc nhở tới mãi mãi về sau "Trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ." Tuy nhiên, danh dự không phải là danh lợi. Chữ lợi mang theo nghĩa xấu, có tính chất giả tạo làm hại con người, "Cái vòng danh lợi cong cong, kẻ hòng ra khỏi người mong chui vào;" hoặc "Chưa được nay ước mai ao, được rồi trắng mắt như tao mới chừa." Chữ "tao" được than lên một cách cay cú, tầm thường đáng bị coi khinh. Danh dự khuyến khích con người sống cao thượng hơn, ý thức hơn và hoàn hảo hơn, "Tốt gỗ hơn tốt nước sơn, xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người;" trong khi danh lợi lại là trường lừa bịp những ai chỉ muốn có tiếng tăm hão huyền: "Cá trong lờ đỏ hoe con mắt, cá ngoài lờ ngúc ngoắc muốn vô."

Xét ra, "Ở trần ai cũng như ai," người nào cũng là người nên sự khác biệt về sự tôn trọng của những người chung quanh đối với cá nhân nói lên giá trị và danh dự khác nhau nơi từng người. Sự khác biệt này tùy thuộc sự tạo dựng danh dự cho chính mình. Lẽ đương nhiên, tạo dựng danh dự không phải dễ; đó là lý do tại sao người có danh dự được mọi người kính nể. Sự tạo dựng danh dự là chính lối sống sao cho vượt hẳn khỏi sự tầm thường của kiếp người: "Làm trai quyết chí tu thân, công danh chớ vội nợ nần chớ lo, khi nên trời cũng giúp cho; làm trai năm liệu bảy lo mới hào. Trời sinh trời chẳng phụ nào; phong vân gặp hội anh hào ra tay. Trí khôn rắp để dạ này; có công mài sắt có ngày nên kim." Hơn nữa, cứ sự thường tình, con người được sinh ra với hai bàn tay trắng; ra đời lập nghiệp, tạo dựng ý chí cũng vào thời trắng tay; thế cho nên tạo dựng danh dự lại càng khó bởi nếu đã có chốn nương tựa, "Sẵn cỗ ngồi vào" thì có chi đáng nói mà "Nước lã mà vã nên hồ, tay không mà nổi cơ đồ mới ngoan."

Tạo dựng danh dự bao gồm nhiều chi tiết nên theo và cũng lắm điều cấm kỵ không được phạm tới. Trước hết, muốn có danh dự, một người cần hiểu đạo xử thế: "Đòng đong chơi đạo đòng đong, trẻ vui đạo trẻ già rong đạo già." "Đàn ông như con dao pha," thái thịt cũng được mà chặt xương cũng được; tập luyện sao cho lúc cần cương thì cương, khi cần nhu thì nhu, biết "Kính trên nhường dưới," biết "Kim chỉ phải có đầu" chứ không phải coi mọi người như "Cá mè một lứa." Trọng người chưa đủ mà còn luôn luôn cần học hỏi để thăng tiến cuộc đời "Ông bảy mươi học ông bảy mươi mốt;" hơn nữa, không phải chỉ những người lớn tuổi hơn mình mới học nơi họ mà bất cứ những gì người khác hơn mình cũng cần học thêm bởi "Ra đàng lắm kẻ còn giòn hơn ta." Khả năng cầu tiến không biết thế nào cho đủ cũng như sự học, chẳng biết bao nhiêu cho vừa. Tuy nhiên, muốn nhìn được điều hay lẽ phải nơi người khác để học hỏi trau dồi cho chính mình lại cần một điều kiện tối ư quan trọng: đó là dám chấp nhận thực sự mình là người thế nào. Điều này nói lên cần biết mình, biết người do đó "Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe;" ngược hẳn với thói thường vì ai cũng đều cảm thấy mình là đúng, ít để ý nghe người khác, hoặc bởi sự thiếu sót kinh nghiệm, chưa kịp suy nghĩ chín chắn điều người khác nói mình đã vội cho là không hợp. Đôi khi theo tâm lý bình thường, có những người mặc dầu chỉ mới gặp lần đầu, tự nhiên mình không thích, không có dù một chút cảm tình, hoặc đối với người khác vì nghe những điều không ra gì về họ, mình không ưa hoặc không cần để ý xem họ thực sự như thế nào. Người có danh dự là người tìm hiểu và nhận chân giá trị kẻ khác không tùy thuộc lời đàm tiếu mình nghe được về họ. Hay, công nhận rằng hay; dở, tránh không bước theo vết xe đổ chứ không phải "Chẳng ưa thì dưa có dòi" hoặc "Không ưa đổ thừa cho xấu." Không coi thường những người bề ngoài kém mình "Chớ thấy áo rách mà cười" vì "Những giống gà nòi lông nó lơ thơ." Nhận biết điều hay lẽ phải và ý thức được trong cuộc sống, "Muốn ăn hét phải đào giun," đồng thời chính những khó khăn trong cuộc sống lại là môi trường đào luyện tâm hồn mình thanh cao hơn, ý chí kiên trì hơn, lý trí sáng suốt hơn, danh dự vững bền hơn "Lửa thử vàng, gian nan thử đức." Dầu người có danh dự không những sẵn sàng nhận lỗi khi mình sơ sót, lại còn sống sao cho đứng đắn ngay thẳng, có trước có sau, tránh khỏi những kinh nghiệm mắc mỏ tàn hại cuộc đời: "Ăn cơm mắm ngắm về sau, ăn cơm rau nhớ sau nhớ trước." Chính vì vậy tâm hồn được thanh thản, không ganh đua mà biết chấp nhận cuộc đời: "Ai nhất thì tôi thứ nhì, ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba." Dĩ nhiên sống sao cho hợp thời hợp cảnh "Đi nước Lào, ăn mắm ngóe" tránh bon chen làm tiêu hao giá trị, nhưng không phải người khác làm những điều chẳng ra gì mà mình nhắm mắt làm theo. Người có danh dự dù chỉ làm bạn, cũng không bạn bè với những người xằng bậy. Tuy nhiên, biết dung hòa để tránh thái quá cũng như biết tiến thoái để tránh bất cập "Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy;" không kênh kiệu mà hòa hợp - hòa hợp chứ không hòa đồng.

Tạo danh dự đã khó, bảo vệ danh dự lại càng gian nan hơn vì "Khôn ba năm dại một giờ," hoặc "Cái sẩy nẩy cái ung." Bảo vệ danh dự đòi hỏi một người tuân giữ những điều cấm kỵ một cách tuyệt đối, nếu có thể nói, bởi "Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng." Hơn nữa, những điều không nên thường hấp dẫn con người hơn những điều hướng thượng do bản tính tự nhiên yếu hèn nơi bất cứ ai. Bảo vệ danh dự không phải là "Đẹp tốt phô ra, xấu xa đậy điệm" mà cần chân thành nhận thực con người mình thế nào; điều gì hay, điều gì dở nơi chính mình để thăng tiến hay sửa đổi. Sống sao cho tốt lành hơn vì càng tốt lành, danh dự càng cao; cũng như "Ao sâu tốt cá." Khi có những chuyện không hay xảy đến, người có danh dự tự kiểm điểm chính mình và biết mở rộng tâm hồn đặt vấn đề "Trách người một trách ta mười, bởi ta tệ trước nên người bạc sau."

Điều hiển nhiên, cuộc đời đôi lúc "Khôn như tiên, không tiền cũng dại;" tuy nhiên, "Khi nắng còn có khi mưa." Người trọng danh dự thà "Làm tôi thằng hủi hơn chịu tủi anh em;" vì họ quan niệm chỉ có "Gà què ăn quẩn cối xay." Họ chấp nhận "Chết trong hơn sống đục," và khi "Cái khó bó cái khôn," họ ý thức thân phận mình để rèn luyện kiên nhẫn, ý chí chứ không "Chó cùng bứt dậu," hoặc "Đói ăn vụng túng làm liều," mà "Đói cho sạch, rách cho thơm." Người trọng danh dự không bao giờ đối xử với kẻ khác "Chú khi ni, mi khi khác," nhưng lại nhận thức được "Măng mọc có lứa, người ta có thời." Hơn nữa, "Thời buổi nào, kỷ cương ấy," và họ hàng anh em thì "Vị tình vị nghĩa không ai vị đĩa xôi đầy;" gặp những khi chẳng đặng đừng họ "vuốt mặt" biết "nể mũi." Dĩ nhiên, người đời thường "Hay khen, hèn chê." Người có danh dự cần để ý dư luận mặc dầu dư luận nhiều khi bất công "Khôn ngoan thì bảo rằng ngoa, vụng dại thì bảo người ta rằng đần." Mọi người đều biết không ai có thể "Đo miệng cá uốn câu," cũng như không ai có thế làm vừa lòng hết mọi người vì người mà không ai thấy có nhược điểm, không ai có thể chê, lại coi chừng là tên đại bịp bởi đã là người, lầm lỗi là chuyện thường tình. Tuy thế, người trọng danh dự luôn luôn cho rằng "Tay đâu mà bịt miệng người thế gian," nhưng vẫn không coi thường dư luận bởi "Thấp cao mới biết tuổi vàng, gặp cơn lửa đỏ màu càng thắm tươi." Dư luận vừa là lò đào tạo danh dự lại cũng là nơi phá nát tiếng tăm một người vì đôi khi chỉ vô ý: "Sa chân bước xuống ruộng dưa, Dẫu ngay cho chết cũng ngờ rằng gian."

Mặc dầu "Tốt danh hơn lành áo" nhưng danh dự phải được đào tạo bởi chính cuộc sống mình chứ không phải "Bán gia tài mua danh diện," để rồi "Được tiếng khen, ho hen chẳng còn," hoặc vì "Con gà tức nhau tiếng gáy," hay "Có ăn có chọi mới gọi là trâu." Người có danh dự không "Đứng núi này trông núi nọ," không "Thấy sang bắt quàng làm họ" vì "Hèn mà làm bạn với sang, chỗ ngồi chỗ đứng có ngang bao giờ," không "Ra luồn vào cúi" hoặc "Bới lông tìm vết" bất cứ ai; không xét người một cách hời hợt vì có thể "Áo dài chớ tưởng là sang, bởi không áo ngắn phải mang áo dài," không "Được thể dễ nói khoác" hoặc "Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng," không "Huýt chó bụi rậm" mà cũng không "Đòn xóc xọc hai đầu" hoặc "Đâm bị thóc, thọc bị gạo." Mình phải là chính mình chứ không phải "Ai nói làm sao, bào hao làm vậy."

Lẽ đương nhiên, "Ai đội mũ lệch thì xấu mặt người ấy," mà ảnh hưởng tăm tiếng của một người không phải chỉ vỏn vẹn nơi cá nhân và cuộc đời họ mà chính cuộc sống còn có sự liên đới nên danh dự của một người ảnh hưởng tới gia đình và họ hàng nữa, bởi trước tiên, gia đình là môi trường giáo dục căn bản về đức hạnh một người. Cứ xem con người đó ra sao có thể biết được giáo dục gia đình họ thế nào vì "Cha nào con nấy." Hơn nữa, mỗi người Việt có bổn phận xây dựng và bảo vệ danh dự gia đình họ hàng mình; chẳng thế mà có câu "Xem quả biết cây." Làm sao có thể cây đắng sinh trái ngọt vì "Nòi nào giống ấy." Do đó gặp trường hợp "Con sâu làm rầu nồi canh," thì người sống không ra gì trước tiên mất hết anh em họ hàng, lần lần đến bạn bè, rồi người thân quen, làng nước. Người sống tệ hại sẽ bị "Anh em khinh trước, làng nước khinh sau."

Tóm lại, danh dự ảnh hưởng toàn bộ cuộc sống của con người.

Sưu Tầm

qcluu
05-22-2003, 07:16 PM
Wow!!! Mấy bài viết rất hay đó bro Nick... Cám ơn bro đã chia xẻ nghen!!! Q. kết nhất mấy câu sau và còn rất nhiều câu khác nữa ...


Mình phải là chính mình chứ không phải "Ai nói làm sao, bào hao làm vậỵ"


Người nhân nghĩa tuy sống tự tại trên dư luận nhưng đồng thời lại để ý dư luận vì "Chỉ đâu mà buộc ngang trời, tay đâu mà bịt miệng người thế gian," hay "Lấp sông lấp biển ai lấp được miệng ngườị" Dư luận có thể "Đổi trắng thay đen" hoặc "Giết người không dao," và thường thì "Dậu đổ bìm leo," nên người nhân nghĩa lại càng nên tránh bị rơi vào cảnh "Ăn sóng nói gió" để bảo tồn tâm đức và kiên trì với thiện tâm.


Người có danh dự không "Đứng núi này trông núi nọ," không "Thấy sang bắt quàng làm họ" vì "Hèn mà làm bạn với sang, chỗ ngồi chỗ đứng có ngang bao giờ," không "Ra luồn vào cúi" hoặc "Bới lông tìm vết" bất cứ ai; không xét người một cách hời hợt vì có thể "Áo dài chớ tưởng là sang, bởi không áo ngắn phải mang áo dài,"

Dundy
05-23-2003, 07:46 AM
Thế gian biến đổi vũng nên đồi
Mặn nhạt, chua cay lẫn ngọt bùi
Còn bạc, còn tiền còn đệ tử
Hết cơm, hết rượu hết ông tôi
Xưa nay đều trọng người chân thực
Ai nấy nào ưa kẻ đãi bôi
Ở thế mới hay người bạc ác
Giàu thì tìm đến khó tìm lui.

Nguyễn Bỉnh Khiêm

allena
05-23-2003, 08:38 AM
Originally posted by Dundy
Thế gian biến đổi vũng nên đồi
Mặn nhạt, chua cay lẫn ngọt bùi
Còn bạc, còn tiền còn đệ tử
Hết cơm, hết rượu hết ông tôi
Xưa nay đều trọng người chân thực
Ai nấy nào ưa kẻ đãi bôi
Ở thế mới hay người bạc ác
Giàu thì tìm đến khó tìm lui.

Nguyễn Bỉnh Khiêm


Lâu lắm mới đọc lại bài nầy ...ngẫm nghĩ đúng thì thôi :mad:

Thanks...anh Hai .

PHU` DU
05-23-2003, 09:04 AM
Cám ơn Nick, bài đọc hay quá . Càng ngẫm nghĩ, càng thấy đúng .
Tặng Nick chùm bông nè :flower: :flower: :flower: :flower: :flower:
Tồi về nhà chị đọc kỹ hơn để mà học hỏi và hiểu hơn về thói đời :)

Dundy
05-23-2003, 09:17 AM
Chữ Nhân
Nói đến Khổng Tử trước hết là nói đến nhà đạo đức, nhà luân lý. Hạt nhân cơ bản của đạo đức Khổng Tử là chữ Nhân và chữ Lễ.

Nhân là gì? Trong luận ngữ có 105 chỗ nói đến nhân, nhưng không chỗ nào giống chỗ nào. Ví dụ Phan Trì hỏi nhân là gì? Phu Tử nói "Yêu người" (Nhan Uyên); Trọng Cung hỏi nhân là gì? Phu Tử nói "Cái gì mình không muốn thì không làm cho người ta; ở trong nước không có điều oán, ở trong nhà không có điều oán" (Nhan Uyên). "Nhân là làm cái khó trước mà để cái được lại sau" (Ung dã). "Người quân tử bỏ cái nhân thì làm sao thành danh được?" (Lý nhân); "Chí sĩ, nhân nhân không cầu sống mà hại cái nhân, sát nhân để thành nhân" (Vệ Linh Công); "Kẻ nhân ắt có dũng, kẻ dũng chưa chắc có nhân" (Hiến vấn)...

Tóm lại chữ nhân của Khổng Tử có nội dung phức tạp. Mặc dù vậy có thể hiểu nhân là một khái niệm đạo đức chỉ phẩm chất cần có của người quân tử. Phẩm chất đó được nhìn nhận từ hai mặt: đối với mình và đối với người. Đối với mình phải trong sạch, không nghĩ và không làm điều xấu, điều ác, phải giữ đúng lễ và vươn lên không ngừng. Theo cách nói của các nhà nho là phải "tu thân" theo các tiêu chuẩn nhân, nghĩa, lễ, trí, tín để có thể "tề gia, trị quốc, bình thiên hạ". Đối với người, phải thương yêu người (Phàn Trù vấn nhân, Tử viết: "ái nhân" - Nhan Uyên); phải giúp người thành đạt như chính mình (Phù nhân giảm kỉ dục lập nhi lập thân, kỉ dục đạt nhi đạt nhân - Ung dã), phải tránh cho người khác những điều chính mình cũng không muốn (Kỉ sở bất dục vật thi ư nhân - Nhan Uyên). Mình muốn thì cũng giúp người khác thông đạt, đó là trung; mình không muốn thì cũng tránh cho người khác, đó là thứ; "trung thứ" chính là nhân vậy.

Đương nhiên, không nên quá nhấn mạnh một chiều giá trị siêu việt của chữ nhân như Phơ-bách đã làm khi mượn chữ "nhân" của Khổng Tử để minh họa cho chủ nghĩa nhân đạo của giai cấp tư sản. Chủ ngĩa nhân đạo của Phương Tây nghiêng về quyền lợi con người, chữ nhân phương Đông nghiêng về trách nhiệm con người. Nói đến chữ nhân, Khổng Tử đặc biệt nhấn mạnh đến sự an phận mà không oán trách, đặc biệt ở người dân (tại bang vô oán, tại gia vô oán - Nhan Uyên), phải chống lại sự hiếu thắng, khoe khoan, oán giận, ham muốn (khắc phạt, oán, dục, bất hành yên, khả dĩ vi nhân hĩ - Hiến vấn). Ông nói đến chữ nhân là nhằm vào người quân tử; bên cạnh chữ nhân còn có chữ dân giành cho người nô lệ. "Người quân tử học đạo thì biết thương người, kẻ tiểu nhân học đạo thì dễ sai khiến" (quân tử học đạo tất ái nhân, tiểu nhân học đạo tất dị sử - Dương Hóa). "Dân có thể làm cho họ theo con đường của ta, không thể làm cho họ biết đó là gì" (dân khả sử do chi, bất khả sử tri chi - Thái Bá). Khổng Tử nói đến nhân là nói đến nhân phẩm cơ bản để có thể thực hành Lễ....


Chữ Lễ
Lễ là lễ nghi thể hiện các quy phạm đạo đức. Lễ mà Khổng Tử nói là lễ nhà Chu, tức là những quy tắc, lễ nghi thể hiện quan hệ tốt đẹp giữa người với người. Nước Lỗ, quê Khổng Tử thuộc giòng dõi thiên tử nhà Chu. Khổng Tử muốn khôi phục lễ nhà Chu để thực hiện Nhân. Như vậy lễ là hình thức của nội dung nhân. Ông nói: "Một ngày biết nén mình theo lễ thì thiên hạ sẽ quy về nhân vậy" (Nhất nhật khắc kĩ phục lễ thiên hạ quy nhân yên - Nhan Uyên). Khổng Tử đề xướng việc khôi phục lễ nhạc nhà Chu vì cuối Chu, lễ nhạc bị xem thường, thậm chí bị phá bỏ. Ví dụ các chư hầu tiếm ngôi vượt vị của thiên tử; tôi giết vua, con giết cha, anh giết em (xem Tả truyện, Xuân Thu). Hay như vua nước Lỗ làm lễ Cốc Sóc chiếu lệ cho qua chuyện (Luận ngữ). Hay như việc tể Ngã phàn nàn về lễ để tang cha mẹ ba năm là quá dài, xin cho để tang một năm. Khổng Tử nói: "Trò Dư thật là kẻ bất nhân. Trẻ con sinh ra sau 3 năm mới thoát khỏi sự bồng bế của cha mẹ, cho nên để tang cha mẹ 3 năm, thiên hạ đều làm thế. Vậy trò Dư không biết có thương nhớ sự bồng bế 3 năm của cha mẹ hay không?" (Dư chi bất nhân dã. Tử sinh tam niên, nhiên hậu miễn ư phụ mẫu chi hoài, phù tam niên chi tang, thiên hạ chi thông tang dã. Dư hữu tam niên chi ái ư kì phụ mẫu hồ? Dương Hóa).

Chung quy, lễ mà Khổng Tử nói đến là lễ nghi và các quy tắc đạo đức có từ đời nhà Chu, ông đề xướng việc phục hồi lễ là để thi hành đạo nhân...

Lương Duy Thứ
(trích Đại cương văn hóa phương Đông)

Dundy
05-23-2003, 09:34 AM
Should one a man of wisdom meet who points out faults and gives reproof, who lays a hidden treasure bare, with such a sage should one consort. Consorting so is one enriched and never in decline.
Nếu thấy bậc hiền trí, chỉ lỗi và khiển trách, như chỉ chỗ chôn vàng. Hãy thân cận người trí ! Thân cận người như vậy, chỉ tốt hơn, không xấu.

Let him exhort, let him instruct, and check one from abasement. Dear indeed is he to the true, not dear is he to the false.
Những người hay khuyên dạy, ngăn người khác làm ác. Được người hiền kính yêu, bị người ác không thích.

Don't go around with evil friends, with rogues do not resort. Spend your time with noble friends, and worthy ones consort.
Chớ thân với bạn ác, chớ thân kẻ tiểu nhân. Hãy thân người bạn lành, hãy thân bậc thượng nhân.

Just as a mighty boulder stirs not with the wind, so the wise are never moved either by praise or blame.
Như đá tảng kiên cố, không gió nào lay động. Cũng vậy, giữa khen chê, người trí không giao động.

PHU` DU
05-23-2003, 09:42 AM
Wow ! Hay quá, thank you anh Dundy :dance: :dance: :dance:

Nick
05-23-2003, 09:50 AM
Bro qcluu, Mấy bài đó hay và thấm lắm nhất là mấy câu bro pointed out :)

Cám ơn anh Dundy về bài Thói Đời nha, đọc xong thấy đời thói thì sao đó :)
Còn bạc, còn tiền còn đệ tử
Hết cơm, hết rượu hết ông tôi

Thanks chị PHù Du và Allena hén, em còn nhiều bài hay lắm :flower: :flower:

thuanhhoang
07-10-2003, 12:07 PM
Hello cac ban ,
Toi muon tim vai loai hot giong nhu: rau dut (water mimosa),rau muong (water spinach),rau can nuoc (water dropwort),la dua (padaus),rau ma (centella or pennywort).Neu ban nao lam on cho xin it hat giong.
Cam on rat nhieu
Thuan

WLP
01-31-2008, 11:42 AM
bump