PDA

View Full Version : Đôi Guốc Của Bà Út


Huynh Hoa
05-29-2002, 09:38 PM
Thằng Lai buớc vô phòng với một thân xác bèo nhèo, rũ riệt. Nó nghe nhức buốt ở sóng lưng. Nó có cảm tưởng như cái xương sống của nó đã bi gãy gập làm hai. Tay chưn nó cũng bã rã bời rời. Hơn tám tiếng đồng hồ,khòm lưng giữa những luống dâu, cúi nhặt từng trái dâu, làm cho nó thở muốn không ra hơi.
Thằng Lai lột cái nón đang đội trên đầu, quăng mạnh vô một góc phòng. Nó ngồi phịch xuống mặt giường, Nó uể oải cởi giảy cởi vớ. Mặt nó nhăn riết lại khi nó đưa đôi vớ lên mũi. Nó là thằng kỳ cục, lần nào cởi vớ cũng đưa đôi vớ lên tận mũi để ngưởi và lần nào mặt cũng nhăn quéo vì mùi hôi rình, chua lét bốc ra từ đôi vớ. nó vo tròn đôi vớ trong tay. Hình như nó định ném đôi vớ vô góc phòng,chỗ nó vừa ném cái nón. nhưng không biết nghĩ sao, nó đứng dậy, đi từng bước đến cái tủ, bỏ đôi vớ vô trong cái giỏ đựng quần áo dơ, nó lại đi từng bước tới góc phòng, lượm cái nón, móc lên một cái đinh trên vách.
Nó ngó qua giường của thằng Xỉu Hắc Quảy. Thằng nầy đúng là một đứa bầy hầy bê bối. Trên mặt giường, ngổn ngang nào áo, nào quần lót, rồi lại có cả sách vở, hộp quẹt, thuốc lá, tứ tung lung tàng.
Thằng Lai cau mày. Cái phòng chỉ có hai thằng. Nó và thằng Xỉu Hắc Quảy. Nó trật tự ngăn nắp bao nhiêu thì thằng Tiểu Quỷ Đen Đúa nầy buông thùa chừng nấy. Nó nói miết, thiếu điều muốn đập lộn, mà thằng nầy vẫn chứng nào tật nấy.
Đôi mắt của thằng Lai dừng lại ở cái khung hình treo trên đầu giường của thằng Xỉu Hắc Quảy. Trên đó, có hình của mẹ thằng Tiểu Quỷ Đen Đúa nầy. Hình chụp hồi nào không biết, vì người đàn bà trong hình coi bộ trẻ măng, yêu ời, đang hả họng cười một cách thoải mái, tới nỗi hai con mắt híp lại còn bằng hai sợi chỉ. Trên mặt kiếng của khung hình, ở góc phía dưới bên trái, thằng Xỉu Hắc Quảy có dán một miếng giấy nhỏ, trên có ghi một dòng chữ " Xa quê hương - Nhớ mẹ hiền. " Chữ "Mẹ" được viết hoa thật lớn.
Thằng Lai hơi mỉm cười khi nhớ lại những lần mà thằng Xỉu Hắc Quảy nói về "Mẹ hiền" của nó. Theo thằng nầy mô tả thì mẹ nó là một người đàn bà hung hăng, dữ dằn có tiếng ỏ xóm Sáu Lèo. Tóc bà không uốn quăn mà quăn riết một cách tự nhiên. Người bà phốp pháp, to lớn, dình dàng như đờn ông. Hai cánh tay bà tròn lẳn, chắc nịch như hai ống tre đằng ngà. Bốn bên hàng xóm sợ bà một nước. Mỗi khi bà ra miệng, không ai dám trả treo với bà một tiếng nào. Thằng Xỉu Hắc Quảy có vẻ thích thú và hãnh diện vì thành tích hung dữ của mẹ nó. Nó nói, xóm Sáu Lèo là một xóm nổi tiếng ở Sài Gòn. Dân ở xóm đó đâu có hiền lành, vừa vỏi gì. Vậy mà, má nò làm xếp sòng xóm đó, chứng tỏ bản lãnh của bà đau phải dở.
Còn riêng đối với nó, thằng Xỉu Hắc Quảy nói rằng mẹ nó tốc kê, ba trợn. Lúc nào vui thì bà "mẹ mẹ, con con" ngọt xớt, nó muốn ăn cái gì cũng được, nó đòi cái gì bà cũng cho. Còn lúc nào xẩu mình xẩu mẩy, sần sẩn trong bụng, thì bà lôi nó ra mà chửi bới tới "tiên nhơn tổ đại từ đường" bên nội của nó. Thậm chí, bà còn chụp cái đầu tóc quăn tít như chùm lò xo của nó mà giựt tới giựt lui cho đã tay.
Theo thằng Xỉu Hắc Quảy, mấy người hàng xóm nói lén rằng: "Mẹ gì mà đánh con như mấy thằng Tây Săng Đá Mặt Gạch tra tấn tù quốc sự." Thằng Xỉu Hắc Quảy tâm sự rằng, mẹ nó có chửi rủa thế mấy đi nữa, nó cũng không buồn, không giận. Bởi vì nó có biết tên bên nội nó là ai đâu. Nó chỉ biết ba nó là Mỹ đen, cặp bồ cặp bịch với mẹ nó một thời gian, quất cho mẹ nó một bụng bầu, rồi biệt tích, quất ngựa truy phong hay chết mất xác ở mặt trận nào đó, cũng không ai biết. Nó biết được thêm rằng, mẹ nó kêu tên cha nó là thằng Xà-Mít. Cái tên nầy rất quen thuộc vì mỗi lần chửi nó, thế nào mẹ nó cũng "giáo đầu tuồng,"" Tiên nhơn tổ đại từ đường thằng Xà-Mít da đen mắt trắng chơi cho sướng, để khổ cho tao..."
Thằng Xỉu Hắc Quảy thường tỉ tê với thằng Lai là nó thương mẹ nó, nó nhớ mẹ nó thấu trời.
Thằng Lai ngó vô tấm hình mẹ thằng Xỉu Hắc Quảy một lần nữa. Nó thở dài nhè nhẹ. Mẹ thằng Xỉu Hắc Quảy xấu hoắc. Mẹ thằng Xỉu Hắc Quảy dữ dằn hổn ẩu. Mẹ thằng Xỉu Hắc Quảy hay đánh con một cách vô cớ. Nhưng, thằng Xỉu Hắc Quảy còn có một người mẹ để thương để nhớ, đôi khi sự thương nhớ biến thành những giọt nước mắt chảy dài. Đối với thằng Lai, đó là những giọt nước mắt hạnh phúc...
Thằng Lai bước tới cái kệ kê ở đầu giường của nó. Nó hơi tần ngần một chút. Mặt nó hiu hắt thê lương. Trên kệ, nó bầy biện lủ khủ tam thứ thập vật. Một lá cờ Việt Nam, màu vàng ba sọc đỏ, cắm bên cạnh một lá cờ Mỹ, cái nào cũng chỉ lớn hơn bàn tay một chút. Hai lá cờ nầy, nó mua ở tiệm sách, ngay sau khi nó nhận được số tiền trợ cấp xã hội đẩu tiên. Bên cạnh hai lá cờ là một cái tượng Phật Di Lặc bằng sứ, đưa cái bụng chang bang và cười toe toét.
Thằng Lai quý hai lá cờ và tượng Di Lặc nầy lắm. Hai lá cờ, dường như, để xác định hai dòng máu đang luân lưu trong huyết quản của nó. Còn tượng Phật Di Lặc, nó biết có một người thích lắm và nó mơ có một ngày, khi có đủ tiền, nó sẽ bọc ông Phật Di Lặc lại, bỏ vào thùng quà, gởi về cho người đó.
Thằng Lai vói tay lấy một cái hộp giấy kê ở góc kệ. Nó cẩn thận mở hộp giấy ra. Trong ấy là đôi guốc, loại guốc sơn, quai ny lông ở Việt Nam. Đôi guốc đã mòn hơn phân nửa, nước sơn đã bị tróc nhiều chỗ, nhưng sạch sẽ, láng lẫy.
Thằng Lai kéo vạt áo, nâng niu cẩn thận chùi từng chiếc guốc, mặc dù đôi guốc sạch trơn, có tìm tòi tỉ mỉ tới đâu cũng không thể tìm được một vết dơ nào.
Đôi mắt thằng Lai chớp mau. Nó thì thầm:
- Bà Út....


Còn tiếp....

Huynh Hoa
05-31-2002, 10:09 PM
Kể từ ngày bắt đầu lớn lên và bắt đẩu nhận thức được, thằng Lai không hề biết mẹ nó mặt tròn mặt méo mặt xéo mặt vuông ra sao cả. Nó chỉ biết bên cạnh nó có một người đờn bà, à không, một bà già mà nó kêu bằng bà Út.
- Má mầy giao mầy cho tao hồi mầy còn bằng bắp cẳng. Má mầy đưa cho tao có hai ngàn đồng bạc để mua sửa nuôi mày, rồi bỏ đi biệt tích tới ngày nay.

Những lời nầy của bà Út, thằng Lai nghe đi nghe lại không biết bao nhiêu lần, từ khi nó còn nhỏ xíu cho tới khi nó lớn khôn. Nó nghe riết tới thuộc lòng. Và cái thời gian từ ngảy mẹ nó bỏ biệt tích "cho tới ngày nay", theo năm tháng trưởng thành của nó trở nên dài thêm, dài thêm.

- Má mầy khóc dữ lắm. Má mầy nói không thể nào ẳm một thằng con tóc vàng mắt xanh về quê được hết. Nội cái chuyện hàng xóm bỉ thử không thôi cũng đã chịu đời không thấu, chớ đừng nói chi tới chuyện cha mẹ, họ hàng cằn nhằn cửi nhửi thấu xương. Má mầy nói từ từ rồi sẽ tính kế, gởi tiền lên mỗi tháng đặng tao nuôi mầy, nhưng má mầy đi mất óng, mịt mù san dã, hổng để lại hơi tăm...

Có một lần bà Út nói như vậy với vẻ mặt buồn thiu. Còn thằng Lai nghe xong thì chảy nước mắt.
Thằng Lai biết bà Út thương nó lắm, bà xưng "tao", bà kêu nó bằng "mầy", bà bắt nó kêu bà bằng "bà Út". Thằng Lai chưa một ngày được sống với mẹ, nó không biết mẹ nó thưông nó như thế nào. Nhưng, nó thấy bà Út săn sóc cho nó, để ý tới nó từ ly từ tí, còn hơn mấy người đờn bà lối xóm chăm nom con cái.
Bà Út già đã quá già, mà nghèo cũng quá nghèo. Mặt bà nhăn nheo như nùi giẻ. Tóc của bà, lớp thì rụng, lớp thì bà bắt thằng Lai nhổ những sợi quăn quăn làm cho đầu bà bị ngứa, mỗi trưa, nên đã gần muốn trọc. Bà mà có cố gắng chải gỡ cho vén khéo, thì cái búi tóc, giỏi lắm, cũng chỉ lớn bằng cái củ hành hương. Tay chưn bà khẳng khiu và da tay da chưn đã bắt đầu "trổ đồi mồi", chỗ trắng chỗ nâu. Chỉ có đôi mắt của bà là còn tinh anh. Vá áo, bà không cần đeo mắt kiếng. Xỏ kim, bà không cần nhờ người khác xỏ giùm. Bà nói, bà đã "quá loà" rồi, mắt càng ngày càng sáng lại.
Theo bà Út nói lại, thằng Lai, hồi nhỏ có cái bụng bình rỉnh, bận quần xà tửng bằng vải ú đen, trật bù lương, cái áo ngắn quẳn, khoe lỗ rún, thường lúp xúp chạy theo bà, mỗi khi bà rao bán mía ghim cho hành khách xe đò ở bắc Chợ Gạo.
Cái khoảng thời gian nẩy, thằng Lai không tài nào mà nhớ dược.
Cũng theo bà Út nói lại, có buổi trời mưa, hai bà cháu nhịn đói từ sáng tới xế chiều, thằng Lai được ai đó cho một cái bánh tét nhưn chuối, cỡ bằng cườm tay. Nó không ăn. Nó xấp xải chạy đi tìm bà, đưa đòn bánh tét cho bà, khiến nước mắt bà rớt xuống hồi nào hổng hay.
Cái chuyện nầy thằng Lai cũng không tài nào nhớ được.
Thằng Lai chỉ nhớ, rõ ràng như hai với hai là bốn, có một lần, đâu vào hồi nó được bẩy, tám tuổi gì đó, lúc đó, "mấy ổng" đã vô tới rồi, bà Út dắt nó ra trụ sở ấp để "đăng ký hộ khẩu". Nhiều người đã chỉ vào nó, đã kéo tay nó, hỏi cái gì nhiều lắm, nói cái gì cũng nhiều lắm, về mẹ nó, về cha nó. Bộ mặt của mầy người nầy dữ dằn, thái độ của mấy người nẩy hung hãn, làm cho nó phải sợ hãi, phải ôm chặt, phải nép sát vào ống quần của bà Út.
Giọng bà Út cứng cỏi:
-Tui hổng biết cha mẹ nó là ai hết. Tui lượm được nó ở ngả ba đường, gần trại Đồng Tâm.
Bà ôm chầm lấy nó, làm như người ta sắp sửa giựt nó ra khỏi tay bà. Mắt bà long lanh, bà rít lên:
- Mấy chú đừng có nói như vậy. Tới con chó bị liệng ra đường cũng có người thương. Hà huống là con người. Ai có tội,tui không biết, chớ nó không có tội tình gì hết á.
tui nuôi nó từ hồi đó tới bây giờ được mà, tui đâu có bắt mấy chú phải nuôi phụ với tui...
Lần đó,thằng Lai, vừa tủi thân vừa sợ sệt, khóc tấm ta tấm tức, nước mắt nước mũi choàm ngoàm. Bà Út vừa kéo vạt áo lên lau mặt cho nó, vừa khóc theo.
Bà dắt nó ra về, sau khi rán nói một câu:
-Nó hổng có cha, có mẹ mược dầu, nhưng nó có tui.... Cứ kể như tui là má nó đi....
Trên đường về, bà Út thở dài liền miệng. Bà vuốt đầu nó, thì thầm bên tai nó trong khi mắt bà nhìn xa xôi:
-Bắt đầu khổ rồi đó, mầy ơi.
Cái "sự khổ bắt đầu" ra sao, thằng Lai không hình dung ra được. Nó chỉ biết bà Út luôn luôn giữ rịt nó sát bên bà. Những lúc nó rỗi rãnh, bà cũng không cho nó tụng tam tụ ngũ với bạn bè lối xóm. Bà bắt nó lúc thúc ở trong nhà.
Cứ phải ru rú trong nhà, hoặc cứ phải ngồi ở ngạch cửa, ngó đám con nít hàng xóm chơi đánh trổng, chơi u mọi, chơi tạt lon, thằng Lai không thấy khổ. Nó chỉ cảm thấy bực bực, buồn buồn.
Nó chỉ bắt đầu thấy khổ khi bà Út, vào một buổi sáng bị đám công an gác ở bến bắc, rượt chạy tới nỗi vấp té. rổ mía ghim bị đổ văng tùm lum trên mặt đường. Nó vừa ré lên khóc, vừa đỡ bà dậy. Bà Út không khóc, bà bóp bóp chung quanh chỗ đầu gối, bị lác một miếng bằng cái miệng chén chung, rướm máu. Bà ngó những xâu mía vung vãi trên mặt đất. Mắt bà sáng rực, ráo hoảnh....
Có một lần, thằng Lai bị bịnh nặng. Chú Bảy y tá nói nó bị "ban cua lưỡi trẵng". Chú dặn nó không được ăn cơm, chỉ được húp nước cháo lỏng. Thằng Lai thức giấc sau một cơn sốt mê man. Nó thấy bà Út ngồi sát bên nó. Nước mắt bà chảy dài trên đôi gò má xếp nếp. Nó nhớ hoài đôi mắt bà lúc đó: đôi mắt của Phật Quan Âm trong bức tranh treo trên chùa....
Chú Bảy Y tá nói với bà Út:
- Nhà nước đang nhận đơn cho diện con lai xuất ngoại đi Mỹ rần rần, sao thím không kiếm thế cho thằng Lai đi cho rồi?
Thằng Lai thấy bà Út ngó nó chăm chăm. Bà không trả lời câu hỏi của chú Bảy y tá. Bà đảo mắt một vòng chung quanh phòng, bà ngó ra sân. Ở mỗi góc, nơi chiếc giường của thằng Lai, nơi mấy cái đinh máng áo quần, nơi đám mía trước nhà, đôi mắt bà đều dừng lại một lúc lâu. Sau cùng bà nói nhỏ:
-"Bổn phận" tui nghèo quá, chữ nghĩa lại không rành. Chú làm ơn làm phước dò hỏi dùm tui.
Thằng Lai thảng thốt trước quyết định mau lẹ dứt vạt của bà Út. Nó nghe như toàn thân bị chấn động. Bà Út nói thêm, giọng nhỏ rức, đứt khoảng:
- Tui còn sống đâu được bao lâu. Nó còn trẻ quá mà. Đời nó mà đỡ khổ tui chết cũng nhắm mắt.
Bà Út bán đôi bông tai đinh, món nữ trang duy nhất của bà, đưa hết cho chú Bảy y tá, đặng chú dắt thằng Lai đi lo giấy lo tờ.
Thằng Lai không có giấy khai sinh, không biết tên cha, nhưng chú Bảy nói chắc nịch:
- Đây là "người ta" muốn đổi chác cái gì đó. Tóc mầy vàng khè, mắt mầy xanh lét, mẩy đích thị là con lai. Mầy không có giấy tờ gì thì "người ta" cũng phải làm đủ giấy tờ cho mầy. Đừng có lo gì hết.
Chú Bảy hỏi bà Út có muốn ghép tên để đi chung với thằng Lai không, đi qua Mỹ sướng dàng trời.
Bà Út lắc đẩu, giọng chắc nịch:
- Tui sanh ra ở đây. Tui chết ở đây.
Thằng Lai lửng đửng lơ đơ như cái xác không hồn. Đôi bông tai đinh của bà Út, bà đã cắc củm để dành suốt mấy chục năm. Bà nói đó là cái quan tài của bà. Bà nói, bà nghèo quá lẽ, tiền đâu mà mua hòm mua bộng, chỉ còn một đôi bông tai phòng khi hữu sự. Vậy mà, bà đem đi bán một cách gọn bâng.
Đơn từ nạp xong, thằng Lai xuống sắc thấy rõ. Mặt mũi nó chao vao. Mình mẩy nó ốm nhom ốm nhách như con khô hố. Không cần bà Út ước thúc, tối ngày nó cũng luẩn quẩn bên bà.....
Năm năm chờ đợi. Năm năm hồi hộp. Năm năm thằng Lai trở thành một thanh niên. Năm năm bà Út già thảm già thiết.
Thằng Lai khóc ròng khi "người ta" tới tận nhà nó, đưa giấy tờ cho nó, nói với nó là nó đã có tên trong danh sách những người xuất ngoại theo diện con lai.
Bà Út cũng khóc, nhưng nước mắt bà chỉ rân rấn ở chung quanh mi. Bà khóc mà cái miệng móm xọm của bà lại cười.
Bà Út thức gấn suốt đêm để nói chuyện với thằng Lai. Bà không kêu nó là "mầy" và cũng không xưng là "tao" với nó nữa. Bà nói:
- Vậy là bà đã yên lòng. Con đi là phải. Bà thương con, nhưng đâu có phải ai cũng giống như bà. "Người ta" thấy con, "người ta" nhớ tới lính Mỹ. Con làm sao sống cho đặng.
Bà dặn dò nó:
-Con nhớ phải sống cho đàng hoàng. Bà tập cho con ngăn nắp thứ tự đã quen. Con nhớ phải giữ cái tính đó. Con người ta mà bầy hầy thì hổng làm nên được cái tích sự gì đâu. Con nhớ gởi thơ cho bà. Bà hổng đọc được, nhưng bà sẽ nhờ chú Bảy Y Tá đọc dùm. Con cũng phải nhớ gởi thơ thăm nom chú Bảy, nhờ chú mà con mới đi được.....
Bà không hề dặn nó gởi quà cáp, gởi tiền, gởi bạc gì về cho bà hết.
Gần sáng, bà Út mệt mỏi, chun vô mùng nằm yên rồi, mà thằng Lai vẫn còn ngồi chống tay vô cằm, hai mắt mở trừng trừng.
Ngày mai nó sẽ ra đi. Ngày mai nó sẽ xa rời bà Út mãi mãi. Nó muốn có một vật kỹ niệm của bà Út. Nó muốn giữ trong tay một cái gì, để mỗi khi nhìn lại, nó thấy bà Út hiện diện trước mặt. Nhưng, bà Út không có cái gì hết. Chiến tranh triền miên, bom nổ nhà cháy, khiến cho ba không còn tấm hình nào hết. Bà có cái khăn rằn đội đầu, mang hơi hướm của cà, nhưng làm sao có thể xin bà cái khăn nầy để cầm đi, lấy gì cho bà che nắng, lấy gì cho bà kau nước mắt mỗi khi nhớ tới nó.
Thằng Lai chợt nhớ tới đôi guốc sơn, gói trong lá chuối mà bà Út giấu kỹ sau lưng cái khạp gạo.
Đôi guốc sơn nầy, bà Út quý lắm. Thường ngày, bà đi chưn không. Lâu lâu, có việc phải đi ra chợ Mới hay có đi ăn đám giỗ đám quải, bà mới xỏ chưn vô đôi guốc. Đôi bàn chưn của bà nhỏ xíu, đôi guốc cũng nhỏ chút chun.
Thằng Lai rón rén đứng dậy. Nó nhẹ nhàng đi từng bước một tới chỗ khạp gạo. Nó ngồi thụp xuống. Nó lòn tay ra phía sau. Hơi thở nó trở nên gấp gáp khi những ngón tay của nó đụng phải lớp chuối khô......

Sáng hôm sau, Bà Út cằn nhằn là có đôi guốc mòn giấu kỹ mà vẫn bị mất cắp, khiến bà phải đi chưn không ra tận bến xe đò để đưa thằng Lai lên Sài Gòn.
Thằng Lai ôm chặt bọc ny-lông đựng áo quần. Cái bọc ny-lông thì vàng ệch, bộ quần áo thì cũ rích, mà sao coi bộ nó nâng niu kỹ lưỡng quá chừng.......
Đôi guốc của bà Út giúp cho thằng Lai nhiều lắm. Nó giúp thằng Lai "thấy" được đôi mắt sáng rực, ráo hoảnh của bà Út, khi bà bị công an rượt chạy, đổ tháo ở bến bắc. Nó giúp cho thằng Lai "thấy" được đôi mắt trong tượng Quan Âm, cúi xuống nhìn nó, lúc nó bị ban cua lưỡi trắng.
Mỗi lần có chuyện gì buổn, có chuyện gì không được bằng bụng, thằng Lai đều mở cái hộp giấy ra, nhìn vào đôi guốc. Hình ảnh bà Út lại hiện ra trước mắt nó. Có lúc thì bà đang ngồi trên sàn nước, cắt mấy nhánh bù ngót, hay rau dền bó lại từng bó, để sáng mai nó đem ra chợ bán cho bạn hàng. Có lúc thì bà chỉ cho nó cây mía nào chặt được, rồi bà chỉ cho nó dùng những lá mía khô, cột những cây mía lại với nhau. Mỗi lần "thấy lại" bó mía, thằng Lai muốn khóc. Bà Út già quá rồi. Tay chưn bà run qua rồi. Một, hai cây mía bà vác còn không nỗi. Nó đã đi xa rồi, chẳng biết có ai giúp cho bà, vác bó mía ra giao cho xe nước mía hay không? có lúc, hình ảnh bà lại hiện ra bên bếp lửa. Nồi rau dền luộc sôi sùng sục. Chén nước mắm kho quẹt bốc khói thơm ngào ngạt. Món ăn nghèo nhưng bà trân trọng, nâng niu. Hình ảnh nầy hiện ra rõ nhứt khi thằng Xỉu Hắc Quảy cầm cả nửa ổ bánh mì nhồi thịt liệng vô thùng rác, hoặc khi thằng nẩy đổ cả ly sữa tươi xuống bồn rửa chén.
Đôi guốc của bà Út luôn luôn nhắc nhở cho thằng Lai những lời dạy dỗ, dặn dò của bà. Cùng ở chung phòng, thằng Xỉu Hắc Quảy chửi thề như máy, hỗn ẩu không ai bằng, nhưng chớ hề ai nghe đặng, ở cửa miệng của thằng Lai phát ra một tiếng chửi thề. Giường của thằng Xỉu Hắc Quảy thì bừa bộn, bầy hầy, còn giường thằng Lai lúc nào cũng sạch sẽ, phẳng phiu. Tủ áo quần của thằng Lai lúc nào cũng ngăn nắp, thứ tự.
Mỗi khi quyết địinh làm một chuyện gì, thằng Lai thường tự hỏi rằng bà Út sẽ vui hay buồn khi biết được nó làm chuyện đó. Bởi vậy, nó kịp ngừng laki khi vì mệt mỏi, nó định ném đôi vớ dơ xuống sàn. Nó kịp thời nhớ lại, lượm cái nón treo lên đinh cẩn thận....
Thằng Xỉu Hắc Quảy bước vô phòng, ngã một cái ịch xuống giường, nằm sải tay sải chưn, nói như than:
-Tao chịu hết nỗi rồi. Mai tao nghĩ.
Rồi nó hỏi thằng Lai:
-Mầy có đi làm nữa không?
Tay chưn thằng Lai mỏi rã rời. Cái lưng thằng Lai tê buốt. Thằng Lai nghe nhức nhối ở từng khớp xương. Nó tính trả lời "không"
Thằng Xiu Hắc Quảy cằn nhằn:
- Ai cũng nói qua tới Mỹ sướng như lên trời. Đ.....má, mới có mấy tuần mà tao chịu đà hết muốn thấu. Thằng cha Xà-Mít của tao biết tìm ở đâu bây giờ....

Thằng Lai mân mê đôi guốc. Nó nhìn tượng Di Lặc mà nó định gởi về cho bà Út. Nó nhớ tới đôi chưn không của bà Út lúc đưa nó ra bến xe. Nó nhớ tới thùng quà đẩu tiên đang luẩn quẩn trong đầu và nhớ tới số tiền còn ít ỏi trong túi.
Nó quả quyết:
- Đi chớ. Mai tao đi chớ

Nguyễn đức Lập

ChuChiNhuoc
05-31-2002, 11:37 PM
:(

sleepless
06-01-2002, 02:54 AM
ca?m ddo^.ng